Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 08 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Ngày 23/8, thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký Công điện số 1262/CĐ-TTg yêu cầu các đơn vị chủ động triển khai ứng phó bão, mưa lũ do ảnh hưởng của bão số 6.
Công điện gửi tới Ủy ban nhân dân các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Phú Thọ, Hòa Bình; Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn; Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai; các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Quốc phòng, Công an.
Nội dung công điện như sau:
Bão số 6 (tên quốc tế là HATO) là cơn bão rất mạnh, đã đổ bộ vào tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Tuy nhiên, dự báo bão có thể gây gió mạnh cấp 6-7, giật cấp 10 trên Vịnh Bắc Bộ, gió cấp 6, giật cấp 8 trên đất liền các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng; hoàn lưu bão có thể gây mưa vừa, mưa to tại Bắc Bộ, đặc biệt tại các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu có mưa to đến rất to, nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất.
Để chủ động ứng phó với mưa lũ, hạn chế thiệt hại, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
1. Ủy ban nhân dân các tỉnh tiếp tục chỉ đạo triển khai các biện pháp chủ động ứng phó với bão và mưa lũ do ảnh hưởng của bão số 6, trong đó tập trung một số nhiệm vụ sau: kiểm tra, rà soát, chủ động sơ tán khẩn cấp các hộ dân ra khỏi các khu vực nguy hiểm, nhất là tại các khu vực hầm lò, khai thác khoáng sản, khu vực có nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất, lũ ống, lũ quét hoặc bị ngập sâu khi mưa lớn để bảo bảo an toàn tính mạng cho người dân; triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn đê điều, hồ đập, nhà cửa, kho tàng, công trình xây dựng trên địa bàn; kiểm soát, hướng dẫn giao thông tại các khu vực nước ngập sâu, chảy xiết, nhất là qua các ngầm, tràn để bảo đảm an toàn; chủ động tiêu thoát nước chống ngập úng các đô thị, khu dân cư và bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Sẵn sàng lực lượng, phương tiện để cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả bão, lũ.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các cơ quan chức năng và các địa phương triển khai các biện pháp bảo vệ đê điều, hồ đập và công trình thủy lợi, giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp, hoạt động thủy sản.
3. Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị quản lý hồ đập thủy điện triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn đối với hầm lò, khu vực khai thác khoáng sản, hồ đập thủy điện và hệ thống điện.
4. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo khắc phục nhanh sự cố trong các đợt mưa lũ vừa qua; chủ động bố trí lực lượng, vật tư, phương tiện tại các khu vực trọng điểm, xung yếu có nguy cơ sạt lở để sẵn sàng khắc phục ngay khi xảy ra sự cố; chỉ đạo bảo đảm an toàn giao thông vận tải thủy.
5. Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng hỗ trợ địa phương tổ chức sơ tán, cứu hộ, cứu nạn khi có yêu cầu.
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo theo dõi chặt chẽ diễn biến của bão, mưa lũ, tổ chức dự báo, cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tin đại chúng và các cơ quan có liên quan để kịp thời thông tin đến người dân và phục vụ công tác chỉ đạo, ứng phó với bão, mưa lũ.
7. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tăng tần suất, thời lượng phát sóng, đưa tin kịp thời về diễn biến bão, lũ, dự báo, chỉ đạo ứng phó với bão, lũ để các cơ quan và người dân biết, chủ động ứng phó, tránh tư tưởng chủ quan.
8. Các bộ, ngành khác theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp với các địa phương sẵn sàng triển khai phương án ứng phó với bão theo quy định.
9. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai tổ chức thường trực, theo dõi chặt chẽ diễn biến của bão, mưa lũ; quyết định ban hành lệnh vận hành các hồ chứa thủy điện lớn theo Quy trình vận hành liên hồ chứa đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình đầu mối, an toàn vùng hạ du, nâng cao hiệu quả phát điện; kịp thời chỉ đạo, đôn đốc của các bộ, ngành và địa phương triển khai các biện pháp ứng phó; báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo kịp thời những vấn đề vượt thẩm quyền. (Công Thương 23/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 1234/QĐ-TTg ngày 18/8/2017 điều chỉnh phân loại đơn vị hành chính tỉnh Quảng Nam.
Theo Quyết định, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt việc điều chỉnh phân loại đơn vị hành chính tỉnh Quảng Nam từ loại II lên loại I.
Sau 20 năm nhìn lại, Quảng Nam đã đạt được những thành tựu phát triển khá toàn diện, bền vững. Một mặt, tỉnh tập trung phát triển công nghiệp-du lịch-dịch vụ. Mặt khác vẫn chăm lo phát triển sản xuất nông nghiệp, quản lý bảo vệ rừng, phát triển chăn nuôi và xem đây là một trong những điều kiện tiên quyết tạo ra sự ổn định chung của xã hội. Yếu tố phát triển bền vững cũng được thể hiện ở các lĩnh vực khác liên quan đến văn hóa, đời sống, xây dựng nông thôn mới...
Năm 2016, tỉnh Quảng Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách đạt kết quả cao nhất trong nhiều năm qua. Trong đó, tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 14,73% (theo cách tính mới), vượt kế hoạch đề ra. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm gần đây. Điều này cho thấy kinh tế Quảng Nam đã vượt qua giai đoạn khó khăn và đang bước vào thời kỳ tăng trưởng ổn định. Mục tiêu Quảng Nam đề ra là trở thành tỉnh khá của cả nước vào năm 2020. (Cafef 23/8) đầu trang(
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang dự thảo Nghị định quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Bộ đề xuất tăng mức lương tối thiểu vùng từ 180.000 - 230.000 đồng so với hiện nay. Theo đề xuất của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, quy định mức lương tối thiểu vùng áp 4 mức như sau: mức 3,98 triệu đồng/tháng, áp dụng đối với vùng I; mức 3,53 triệu đồng/tháng, áp dụng đối với vùng II; mức 3,09 triệu đồng/tháng, áp dụng đối với vùng III và mức 2,76 triệu đồng/tháng áp dụng đối với vùng IV.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất quy định này được thực hiện từ ngày 1/1/2018. (Đài Truyền Hình Việt Nam 23/8) đầu trang(
Bộ Giao thông vận tải đang dự thảo Thông tư quy định về tiêu chí xác định và xử lý điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông đường sắt.
Theo đó, tiêu chí để xác định điểm đen tai nạn giao thông đường sắt (điểm đen) là tình hình tai nạn giao thông đường sắt xảy ra trong một năm (12 tháng), thuộc một trong các trường hợp sau: i) 2 vụ tai nạn có người chết trở lên; ii) 3 vụ tai nạn trở lên, trong đó có 1 vụ có người chết; iii) 4 vụ tai nạn trở lên, nhưng chỉ có người bị thương phải nhập viện.
Tiêu chí xác định điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông đường sắt (điểm tiềm ẩn) là hiện trạng công trình đường sắt, hiện trạng hành lang an toàn giao thông đường sắt, tình hình tai nạn giao thông xảy ra trong một năm (12 tháng), thuộc một trong các trường hợp sau: i) Hiện trạng công trình đường sắt; hành lang an toàn giao thông đường sắt; hiện trạng khu vực, công tác tổ chức giao thông tiềm ẩn các yếu tố xảy ra tai nạn như: Tầm nhìn lái tàu, lái xe; mật độ giao cắt đồng mức lớn; giao cắt dốc, giao cắt chéo, giao cắt không được êm thuận; giao cắt trong ga; đường sắt, đường bộ song song liền kề; ii) Xảy ra ít nhất 2 vụ tai nạn nhưng chỉ có người bị thương phải nhập viện.
Theo dự thảo, trình tự xử lý điểm đen, điểm tiềm ẩn gồm 8 bước sau: Bước 1: Xác định và xếp thứ tự ưu tiên xử lý; Bước 2: Khảo sát hiện trường lần đầu; Bước 3: Phân tích và sơ bộ xác định nguyên nhân; Bước 4: Khảo sát hiện trường lần 2; Bước 5: Lựa chọn biện pháp khắc phục; Bước 6: Xác định cơ quan chịu trách nhiệm xử lý; Bước 7: Thực hiện xử lý điểm đen, điểm tiềm ẩn; Bước 8: Theo dõi và đánh giá kết quả.
Trong thời gian chờ xử lý các yếu tố gây mất an toàn tại các điểm đen, điểm tiềm ẩn thì các đơn vị liên quan có trách nhiệm tổ chức quản lý điểm đen, điểm tiềm ẩn đảm bảo không xảy ra tai nạn theo quy định sau: Điểm đen, điểm tiềm ẩn là các đường ngang được thành lập theo quy định của pháp luật do Doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt chịu trách nhiệm tổ chức quản lý. Điểm đen, điểm tiềm ẩn là các lối đi tự mở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức quản lý.
Bộ Giao thông vận tải đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 23/8) đầu trang(
Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đã đề xuất quy định về điều kiện khó khăn về tài chính của người được trợ giúp pháp lý.
Bộ Tư pháp cho biết, quy định điều kiện có khó khăn về tài chính là một vấn đề mới trong pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu và để áp dụng trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đưa ra căn cứ dựa trên thu nhập hàng tháng là "địa vị", tình trạng thường xuyên, lâu dài và không có cơ chế khác để được bảo vệ mình trước pháp luật của 8 nhóm người được quy định tại khoản 7 Điều 7 của Luật Trợ giúp pháp lý nhằm xác định điều kiện có khó khăn về tài chính. Mặt khác, việc quy định chi tiết về điều kiện có khó khăn về tài chính được đặt trong bối cảnh Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định 14 nhóm người thuộc diện được trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp ước tính có khoảng 40 triệu người).
Do đó, để bảo đảm tính khả thi quyền được trợ giúp pháp lý của người dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, dự thảo Nghị định đã đưa ra 2 điều kiện được coi là có khó khăn về tài chính như sau: Là người thuộc hộ cận nghèo hoặc là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.
Người thuộc hộ cận nghèo: Đây là điều kiện theo phương diện tiếp cận về thu nhập của người được trợ giúp pháp lý. Ước tính số lượng người thuộc hộ cận nghèo trong 8 nhóm theo quy định tại khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý có khoảng 1,1 triệu người.
Các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng: Đây là điều kiện theo phương diện tiếp cận chính sách an sinh xã hội cho một trong những nhóm người được hưởng chế độ bảo trợ xã hội. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì số lượng người này khoảng 1,6 triệu người.
Như vậy, 8 nhóm người được quy định tại khoản 7 Điều 7 của Luật trợ giúp pháp lý phải đáp ứng 2 yêu cầu để được trợ giúp pháp lý: (1) Thuộc một trong tám nhóm người được quy định tại khoản 7 Điều 7 của Luật trợ giúp pháp lý; (2) Thuộc một trong hai điều kiện nêu trên. Dự kiến số lượng của 8 nhóm người có khó khăn về tài chính là khoảng 2,7 triệu người.
Ngoài ra, trong quá trình soạn thảo, cũng có một số ý kiến đề xuất bổ sung những người không thể tiếp cận được tài sản của mình hoặc của gia đình, người có khó khăn đột xuất... cũng thuộc trường hợp có điều kiện khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, theo Bộ Tư pháp, việc xác định điều kiện có khó khăn về tài chính để được hưởng trợ giúp pháp lý cần phải dựa trên các căn cứ về thu nhập và "địa vị", tình trạng như đã nêu trên, nhất là đặt trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn như hiện nay, số lượng người được trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã tăng lên rất nhiều so với hiện hành thì quy định như dự thảo Nghị định là phù hợp.
Việc một số trường hợp rơi vào tình trạng có khó khăn nhưng chỉ mang tính chất ngắn hạn hoặc tạm thời sẽ được tiếp tục nghiên cứu mở rộng khi điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước phát triển hơn. Bên cạnh đó, việc đưa ra điều kiện có khó khăn về tài chính cũng nghiên cứu trên cơ sở có sự liên kết với các pháp luật có liên quan để việc tạo thuận lợi cho việc xác nhận các giấy tờ chứng minh tình trạng có khó khăn về tài chính theo các quy định của pháp luật đó. (Báo Chính Phủ 23/8) đầu trang(

TIÊU ĐIỂM
Theo đặc phái viên TTXVN, nhận lời mời của Tổng thống Indonesia Joko Widodo, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức Cộng hòa Indonesia từ ngày 22-24/8.
Rời Jakarta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi điện cảm ơn Tổng thống Cộng hòa Indonesia Joko Widodo.
Toàn văn bức điện như sau:
“Rời đất nước Indonesia tươi đẹp và giàu lòng mến khách, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Cộng hòa Indonesia, tôi và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam xin gửi lời chào thân thiết và lời cảm ơn chân thành đến Ngài Tổng thống, các vị Lãnh đạo và nhân dân Indonesia đã dành cho chúng tôi sự đón tiếp nồng nhiệt, trọng thị, chu đáo, thân tình, thể hiện sâu sắc mối quan hệ hữu nghị và Đối tác chiến lược Việt Nam-Indonesia.
Chuyến thăm để lại cho chúng tôi những ấn tượng về đất nước Indonesia tươi đẹp, năng động, người dân Indonesia cần cù, sáng tạo, giàu lòng mến khách và tôi mang theo niềm tin vững chắc về tương lai tốt đẹp của quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước chúng ta cũng như về một ASEAN đoàn kết, thống nhất và vững mạnh.
Tôi tin tưởng rằng kết quả tốt đẹp của chuyến thăm sẽ góp phần quan trọng làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược, tăng cường tin cậy chính trị, củng cố quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác thực chất và tạo lập bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước chúng ta, vì sự thịnh vượng chung của hai dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.
Tôi chân thành chúc đất nước và nhân dân Indonesia, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ngài và Chính phủ Indonesia, tiếp tục phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa, phát huy vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Một lần nữa, xin chúc Ngài Tổng thống và các vị Lãnh đạo Indonesia sức khỏe, hạnh phúc và thành công.
Chúc quan hệ hữu nghị, đối tác chiến lược giữa hai nước Việt Nam – Indonesia không ngừng phát triển tốt đẹp". (Vietnam + 24/8) đầu trang(

QUẢN LÝ
Thủ tướng Chính phủ đồng ý về nguyên tắc việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch tuyến đường 9 thuộc Khu công nghệ cao Hòa Lạc.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Xây dựng khẩn trương thực hiện việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch tuyến đường 9 Khu công nghệ cao Hòa Lạc theo quy định tại Nghị định 74/2017/NĐ-CP ngày 20/6/2017 và theo các quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng làm cơ sở triển khai dự án phát triển cơ sở hạ tầng Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, bảo đảm tiến độ của dự án theo cam kết với Chính phủ Nhật Bản. (Báo Chính Phủ 23/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo.
Đề án được xây dựng với mục tiêu nghiên cứu, nhận diện đầy đủ, chính xác bản chất của tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo theo kinh nghiệm nước ngoài và thực tiễn Việt Nam; Mối quan hệ với tài sản thực, tiền thực; Vai trò của tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo và tác động của tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo tới pháp luật.
Rà soát, đánh giá thực trạng khung pháp lý về tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo của Việt Nam, kinh nghiệm điều chỉnh của nước ngoài và tác động tới hệ thống pháp luật liên quan của Việt Nam nhằm nhận diện và xác định thái độ của cơ quan Nhà nước đối với các vấn đề pháp lý liên quan; Đề xuất các nhiệm vụ, công việc cụ thể và những định hướng để xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo nhằm đảm bảo tương ứng và các rủi ro liên quan để kiểm soát, giảm thiểu các rủi ro này nhưng không được ảnh hưởng đến sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, đảm bảo bảo tính linh hoạt để phù hợp với sự thay đổi trong sự phát triển không ngừng của CNTT, thương mại điện tử.
Theo đề án, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì rà soát, đánh giá thực trạng pháp luật về tài sản ảo, tiền ảo ở Việt Nam và nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm quốc tế liên quan, trong đó, khảo sát, tập hợp các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn đối với các vấn đề liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo; nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm quốc tế tại một số nước (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản...) về pháp luật và thực tiễn liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp chủ trì nghiên cứu, lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về tài sản ảo, tiền ảo; nghiên cứu, lập đề nghị xây dựng luật (các luật) sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo.
Thủ tướng Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong tháng 8/2018 hoàn thành rà soát, nghiên cứu, đề nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật về tiền điện tử trình Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Tài chính chủ trì nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật về thuế đối với tài sản ảo, tiền ảo. Nhiệm vụ này phải hoàn thành vào tháng 6/2019.
Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Công an chủ trì nghiên cứu, đề xuất biện pháp phòng, chống, xử lý các vi phạm hình sự liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất biện pháp phòng, chống, xử lý các vi phạm hình sự về gian lận, rửa tiền, tài trợ khủng bố và các tội phạm khác liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo vào tháng 9/2019. (Cafef 23/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Hà Nội chuyển giao quyền đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa về SCIC theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Trường hợp có đặc thù, UBND thành phố Hà Nội chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và cơ quan liên quan đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cụ thể.
Về quản lý, sử dụng số tiền thu từ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn UBND thành phố Hà Nội thực hiện tương tự như trường hợp Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo đối với thành phố Hồ Chí Minh tại công văn số 2479/VPCP-KTTH ngày 18/8/2017 của Văn phòng Chính phủ. (Đấu Thầu 23/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án "Hỗ trợ Bộ Y tế nâng cao tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và kế hoạch hóa gia đình.
Đồng thời, tăng cường đáp ứng y tế cho các vấn đề mới nổi thông qua việc xây dựng và giám sát thực hiện các luật và chính sách dựa trên bằng chứng và quyền con người" do Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ.
Dự án trên được thực hiện từ năm 2017 - 2021 tại Hà Nội với nguồn vốn ODA không hoàn lại 5.528.648 USD.
Mục tiêu của Dự án nhằm hỗ trợ Bộ Y tế tăng cường tiếp cận phổ cập và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), sức khỏe tình dục và KHHGĐ; tăng cường đáp ứng y tế với các vấn đề mới nổi thông qua việc xây dựng và giám sát thực hiện các luật và chính sách dựa trên bằng chứng và đảm bảo quyền con người.
Cụ thể, Dự án sẽ hỗ trợ Bộ Y tế dự thảo, xây dựng và giám sát triển khai thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Dân số, Luật Dân số và các luật liên quan tới y tế dựa trên bằng chứng và đảm bảo quyền con người.
Dự án cũng hỗ trợ tuyên truyền vận động, xây dựng và giám sát triển khai thực hiện cung cấp dịch vụ SKSS-KHHGĐ thân thiện bao gồm cả các biện pháp tránh thai hiện đại cho vị thành niên, thanh niên, đặc biệt là đối tượng chịu thiệt thòi như người di cư chưa kết hôn; tuyên truyền vận động, hỗ trợ xây dựng và giám sát triển khai thực hiện các chính sách và chương trình giải quyết bất bình đẳng về chăm sóc sức khỏe bà mẹ tại các cộng đồng dân tộc thiểu số và tăng cường đáp ứng y tế với các vấn đề mới nổi, trong điều kiện thiên tai và biến đổi khí hậu.
Hỗ trợ xây dựng các bằng chứng và tuyên truyền vận động nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng vắc xin HPV (Vi rút gây u nhú ở người), sàng lọc và điều trị sớm ung thư cổ tử cung; hỗ trợ xây dựng và giám sát triển khai các chính sách và chương trình về đáp ứng của ngành y tế đối với bạo lực giới và mất cân bằng giới tính khi sinh; quản lý và giám sát công tác triển khai hoạt động Dự án, đảm bảo hiệu quả đầu tư. (Kinh Tế Và Đô Thị 23/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch rà soát, tích hợp chính sách giảm nghèo giai đoạn 2017-2018. Mục tiêu của kế hoạch là 100% các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được phân công tiếp tục rà soát, đánh giá tác động việc thực hiện chính sách, đề xuất các nội dung chính sách cần tích hợp, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ theo hướng tập trung, gọn đầu mối, giảm bớt số lượng văn bản, tránh trùng chéo, không dàn trải.
Cụ thể, sẽ tiến hành rà soát chính sách thuộc các lĩnh vực: Giáo dục - Đào tạo, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ về lao động - việc làm, hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách cán bộ, hỗ trợ tiền điện, hỗ trợ về thông tin và truyền thông và chính sách giảm nghèo nói chung.
Kiến nghị tích hợp, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ chính sách theo hướng: Xác định rõ vai trò chủ trì và các bên tham gia, có cơ chế phối kết hợp cụ thể ngay từ khâu lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện đối với các chính sách được tích hợp và lồng ghép nguồn lực; giảm chính sách hỗ trợ cho không, tăng chính sách hỗ trợ có điều kiện gắn với đối tượng, địa bàn và thời hạn thụ hưởng nhằm tăng cơ hội tiếp cận chính sách và khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo...
Đồng thời, ưu tiên nguồn lực đầu tư cho hỗ trợ tạo sinh kế và phát triển vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, huyện nghèo, xã nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo... (Hà Nội Mới 24/8) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bến Tre.
Thông báo kết luận nêu rõ, trong 6 tháng đầu năm 2017, kinh tế - xã hội của Tỉnh tiếp tục phát triển: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 5,94%, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 6,9%; sản lượng khai thác thủy sản đạt trên 93 nghìn tấn (đứng thứ 3 vùng Đồng bằng sông Cửu Long)...
Tuy nhiên, Bến Tre vẫn còn khó khăn, thách thức. Tiềm lực kinh tế và nguồn lực hạn hẹp, quy mô nền kinh tế còn nhỏ; cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, thu ngân sách còn khó khăn, nguồn thu nội địa chưa đáp ứng được nhu cầu cân đối chi tiêu tại chỗ. Du lịch chưa phát triển tương xứng với thế mạnh của Tỉnh.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bến Tre phấn đấu là tỉnh năng động, đổi mới, giàu có dựa vào lợi thế so sánh tự nhiên, tiềm năng, thế mạnh của mình; phát huy tinh thần Đồng Khởi trong thời kỳ mới để Bến Tre phát triển mạnh mẽ, bền vững; kết nối nhanh, hiệu quả trước hết là với thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Bến Tre xác định mục tiêu chiến lược hàng đầu là thu hút được các nhà đầu tư đẳng cấp trong nước, Châu Á và quốc tế, có nguồn lực tài chính, công nghệ hiện đại, trình độ quản trị và tầm nhìn phát triển mới gắn với các điều kiện độc đáo của Bến Tre.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng Bến Tre trở thành thủ phủ dừa của Việt Nam với công nghiệp chế biến dừa có giá trị gia tăng cao tầm cỡ khu vực Đông Nam Á, Châu Á; vùng nuôi tôm nổi tiếng, trung tâm du lịch của vùng sông nước Cửu Long. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và huy động có hiệu quả các nguồn lực để phát triển mạnh 8 sản phẩm chủ lực, nâng cao chất lượng nuôi trồng, chế biến thủy sản.
Xây dựng chuỗi liên kết ngang theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, đảm bảo nông sản sạch và an toàn; nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp đa chức năng, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp thông minh, thân thiện với môi trường, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, trong đó ưu tiên dành quỹ đất cho các nhà đầu tư nuôi trồng thủy hải sản, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến; ngành công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, cùng với đó là bố trí đủ quỹ đất để phát triển sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Phát triển mô hình đô thị ven sông, ven biển, quy hoạch đất đai, đô thị, môi trường, quy hoạch cơ sở hạ tầng gắn với phát triển các mô hình kinh tế có tiềm năng lớn như dịch vụ du lịch, năng lượng sạch, dịch vụ hậu cần nghề cá, phát triển thị trường bất động sản.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tỉnh Bến Tre cần phát huy thế mạnh du lịch sông nước, miệt vườn của địa phương, sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mạnh của Tỉnh. Tuyên truyền quảng bá về du lịch lễ hội, văn hóa; đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch để Bến Tre đến năm 2020 phấn đấu thu hút 2 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 900 nghìn lượt khách quốc tế.
Tỉnh Bến Tre cần nghiên cứu, định hướng, đề xuất các giải pháp để xây dựng Bến Tre trở thành một trong những trung tâm nông nghiệp công nghệ cao và trung tâm logistic phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; hạ tầng điện, giao thông; hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai các dự án đã được cấp phép trong và ngoài khu công nghiệp; tháo gỡ khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, nhất là đối với các dự án trọng điểm.
Phát triển Trường nghề trọng điểm quốc gia; chủ động phối hợp chặt chẽ với Phân hiệu Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh tại Bến Tre nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô đào tạo nghề để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư không những cho Bến Tre mà cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tiếp tục cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi nhất để thu hút đầu tư. Thực hiện có hiệu quả Chương trình Đồng Khởi Khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp. Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 6.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. (Xây Dựng 23/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” giai đoạn 2016 - 2020.
Mục đích nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, sức mạnh của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và cộng đồng trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tinh thần chủ động sáng tạo của mỗi cá nhân, tập thể, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong toàn xã hội góp phần thực hiện thắng lợi chính sách, chương trình giảm nghèo của Đảng và Nhà nước.
Tổ chức Phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1-1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3-4%/năm) theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016-2020; cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần).
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tùy theo từng nhóm đối tượng, các bộ, ban, ngành, các địa phương đề ra nội dung thi đua phù hợp với thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ giảm nghèo.
Theo tiêu chuẩn thi đua, đối với các Bộ, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể Trung ương phải hoàn thành có chất lượng, đúng thời hạn các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách, chương trình giảm nghèo theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền; chủ động, tích cực nghiên cứu, rà soát, tích hợp, sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách giảm nghèo với lộ trình phù hợp tình hình và yêu cầu thực tế, theo hướng đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho địa phương, cơ sở và cộng đồng, khuyến khích và phát huy vai trò của cộng đồng, đặt người nghèo làm chủ thể, làm trọng tâm trong quá trình thực hiện chương trình giảm nghèo, tập trung ưu tiên cho các địa bàn nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, mở rộng đối tượng hỗ trợ hợp lý, giảm chính sách cho không, tăng chính sách cho vay có điều kiện, có hoàn trả.
Tích cực chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ các địa bàn nghèo thực hiện có hiệu quả chính sách, chương trình giảm nghèo; chủ động, tích cực huy động nguồn lực, có nhiều sáng kiến mô hình giảm nghèo bền vững được nhân rộng, giúp cho người nghèo tham gia phát triển sản xuất kinh doanh, làm kinh tế giỏi, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững, không tái nghèo.
Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2%/năm trở lên
Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải xây dựng và triển khai có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn; đề ra các nội dung, giải pháp thiết thực, phù hợp với tình hình và điều kiện của địa phương; bố trí ngân sách địa phương ưu tiên đầu tư, hỗ trợ cho các xã, thôn, bản nghèo trên địa bàn; phân bổ, sử dụng kinh phí đúng chế độ và quyết toán đúng thời gian quy định. Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên.
Chủ động, tích cực huy động các nguồn lực trong xã hội để thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2%/năm trở lên, trong 5 năm liên tục (đối với các tỉnh tỷ lệ nghèo dưới 10%, trong 5 năm lên tục quy mô hộ nghèo giảm trên 70% so với đầu kỳ).
Đối với cấp huyện, huyện (không là huyện nghèo) giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 5%/năm trở lên, trong 5 năm liên tục; huyện nghèo giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 7%/năm trở lên, trong 5 năm liên tục.
Đối với cấp xã, xã/phường giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 7%/năm trở lên, trong 5 năm liên tục; xã nghèo khu vực III chỉ còn tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo dưới 20%; trong đó tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 10% sau 5 năm; xã nghèo khu vực II chỉ còn tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo dưới 15%; trong đó tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 8% sau 5 năm; xã nghèo khu vực I chỉ còn tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo dưới 10%; trong đó tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 5% sau 5 năm.
Đối với thôn, bản phải hỗ trợ vốn, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật để hộ nghèo phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống và thoát nghèo; xây dựng được quy chế quản lý, duy trì, thu hồi và luân chuyển được phần vốn của ngân sách nhà nước hỗ trợ thực hiện các dự án mô hình giảm nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả và nhân rộng được các mô hình giảm nghèo trên địa bàn và cộng đồng; huy động có hiệu quả nguồn lực từ nhân dân, cộng đồng để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.
Điều kiện sống của người nghèo trên địa bàn được cải thiện rõ rệt, nhất là về thu nhập, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin; được tiếp cận ngày càng thuận lợi với các dịch vụ xã hội cơ bản; giảm tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo từ 7%/năm trở lên, trong 5 năm liên tục. (Báo Chính Phủ 23/8) đầu trang(

NHÂN SỰ MỚI
Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TT&TT), Viện KSNDTC vừa tổ chức công bố các quyết định về công tác cán bộ.
Viện KSNDTC: Ngày 22/8, tại TP Hồ Chí Minh, Phó Viện trưởng VKSND tối cao Lê Hữu Thể đã trao các quyết định bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo các Viện nghiệp vụ thuộc VKSND cấp cao 3.
Cụ thể, lãnh đạo Viện KSNDTC đã trao Quyết định số 05/QĐ-VKSTC ngày 21/8/2017, bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Thái, Kiểm sát viên cao cấp, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính giữ chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính thuộc VKSND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh;
Quyết định số 06/QĐ-VKSTC ngày 21/8/2017 điều động và bổ nhiệm đồng chí Đặng Như Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp, Trưởng phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án kinh tế, tham nhũng và chức vụ thuộc Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự (Viện 1) giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính (Viện 3) thuộc VKSND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh;
Quyết định số 07/QĐ-VKSTC ngày 21/8/2017 điều động và bổ nhiệm bà Huỳnh Thị Ngọc Hoa, Kiểm sát viên cao cấp, Trưởng phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự thuộc Viện  thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự (Viện 1) giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc kinh doanh thương mại (Viện 4) thuộc VKSND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Viện trưởng VKSNDTC Lê Hữu Thể chúc mừng cá nhân các đồng chí được bổ nhiệm cũng như tập thể ban lãnh đạo và cán bộ, công chức của đơn vị. Nhấn mạnh vinh dự luôn đi kèm cùng trách nhiệm, ông Lê Hữu Thể yêu cầu các cán bộ vừa được bổ nhiệm cần ý thức được vai trò của bản thân ở vị trí công tác mới để không ngừng nỗ lực phấn đấu và phát huy đoàn kết nội bộ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
NHNN: Ngày 21/8, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức lễ công bố và trao Quyết định của Thống đốc NHNN bổ nhiệm Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ trưởng Vụ Dự báo thống kê và Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ.
Tại buổi lễ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng đã trao: Quyết định số 1768/QĐ-NHNN điều động và bổ nhiệm ông Tô Huy Vũ, Vụ trưởng Vụ Dự báo Dự báo thống kê giữ chức Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế thuộc NHNN.
Quyết định số 1769/QĐ-NHNN ngày 21/8/2017 điều động và bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Long, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách tiền tệ giữ chức Vụ trưởng Vụ Dự báo Dự báo thống kê thuộc NHNN.
Quyết định số 1766/QĐ-NHNN ngày 21/8/2017 tiếp nhận và bổ nhiệm ông Phạm Thanh Hà, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giữ chức Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc NHNN.
Thời hạn giữ chức vụ của các cán bộ nêu trên là 5 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
Chúc mừng các cán bộ được Ban Cán sự Đảng, Ban Lãnh đạo NHNN tín nhiệm và bổ nhiệm giữ chức vụ mới, Thống đốc Lê Minh Hưng tin tưởng các tân Vụ trưởng cùng với tập thể cán bộ Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Vụ Chính sách tiền tệ (những đơn vị có vai trò tham mưu quan trọng cho Ban Lãnh đạo NHNN trong công tác chỉ đạo điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng) phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao và đạt được nhiều thành tích cao trong thời gian tới.
Bộ TT&TT: Cùng ngày 21/8, Thứ trưởng Bộ TT&TT Hoàng Vĩnh Bảo đã trao Quyết định số 1356/QĐ-BTTTT ngày 15/8/2017 của Bộ trưởng Bộ TT&TT bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Văn Tạo, Phó Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở giữ chức Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở, Bộ TT&TT. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Chúc mừng ông Nguyễn Văn Tạo được tập thể Ban cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ tin tưởng bổ nhiệm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở, Thứ trưởng Hoàng Vĩnh Bảo tin tưởng, trên cương vị được giao, ông Nguyễn Văn Tạo tiếp tục phát huy kinh nghiệm, năng lực công tác, đoàn kết nội bộ cùng tập thể Cục Thông tin cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.  Đồng thời, Thứ trưởng đề nghị các đơn vị chức năng thuộc Bộ tiếp tục quan tâm, ủng hộ, tạo điều kiện giúp Cục Thông tin cơ sở sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để Cục hoạt động ổn định trước yêu cầu mới. (Báo Chính Phủ 23/8) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Sau nhiều lần lùi thời hạn công bố kết luận thanh tra tài sản của ông Phạm Sỹ Quý, Thanh tra Chính phủ khẳng định chắc chắn trước nghỉ lễ 2/9.
Sau lần thứ 5 lùi thời hạn công bố kết luận thanh tra tài sản của ông Phạm Sỹ Quý - Giám đốc Sở TN-MT Yên Bái, trao đổi với Đất Việt, ngày 23/8, ông Phạm Trọng Đạt - Cục trưởng Cục chống tham nhũng cho biết: "Đến nay vẫn chưa chốt được ngày công bố kết luận".
Bên cạnh đó, ông Đạt cho biết thêm: "Tôi vẫn chưa đi công tác về, phải 2 tuần nữa mới kết thúc công tác thanh tra ở Thái Bình rồi quay về Nam Định và còn một tỉnh khác nữa, nên có khi phải gần tháng nữa mới về đến Hà Nội.
Còn kết luận thanh tra tài sản của Giám đốc Sở TN-MT hiện nay đã xin ý kiến của đồng chí Tổng Thanh Tra chính phủ, đến giai đoạn cuối cùng, còn đồng chí Phó Tổng thanh tra mới đã đọc xong và ký tên rồi.
Chắc chỉ 1-2 ngày nữa sẽ mời Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái xuống Hà Nội rồi công bố công khai kết luận trên, dù có bận đến mấy thì cũng phải xuống làm việc, để nghe kết luận rồi về thực hiện.
Hiện nay phụ thuộc vào Tổng Thanh tra cho phép công bố vào ngày nào thì sẽ thực hiện vào ngày đó, bản thân tôi cũng muốn công bố sớm vì bản chất không có gì thay đổi, nhưng lãnh đạo có quyền kiểm chứng, xem xét thông tin.
Chúng ta càng giục thì lãnh đạo sẽ càng thận trọng, nhưng 1-2 hôm nữa sẽ phải công bố, vì các cơ quan liên quan cũng đã thẩm định xong, cốt yếu cũng chỉ là đảm bảo tính khách quan chứ không có vấn đề gì.
Nhưng cũng không để qua nghỉ lễ mùng 2/9 được, mong là như thế, nhưng vẫn chưa chắc chắn được ngày công bố, tôi không khẳng định được ngày nào công bố".
Đồng thời, theo ông Đạt cho biết thêm thì Phó Tổng thanh tra Chính phủ Bùi Ngọc Lam cũng chuẩn bị đi công tác, nên cũng cần triển khai sớm, không lại kéo dài thêm.
Nói tóm lại là Thanh tra Chính phủ đang làm theo quy trình đầy đủ, đây là vấn đề thanh tra chứ không phải giấy tờ hành chính, vì có nhiều quy trình, nhiều việc phải hỏi, ký mà không biết cụ thể không ai làm thế.
Nội dung thanh tra theo nội dung, kế hoạch làm sao thay đổi bản chất được, nên không sợ thay đổi nội dung.
Còn nhớ trước đó, nngày 19/8, trao đổi với Đất Việt, ông Đạt cho biết: "Hiện tại, theo dự tính thì sẽ công bố vào cuối tuần này, tuy nhiên, tôi cũng vẫn đang đi công tác tại Thái Bình, chưa hoàn thành xong công việc nên chưa về được Hà Nội.
Lịch trình công tác của tôi là đi 3 tỉnh bao gồm: Thái Bình, Hà Nam và Nam Định, hiện nay vẫn còn đang ở Thái Bình.
Cho nên, công bố kết luận thanh tra lại tiếp tục lùi lại, nhưng chắc chắn đầu tuần tới, vào 21/8 hoặc 22/8 phải công bố, trước thời điểm đồng chí Phó Tổng Thanh tra Chính phủ đi công tác chuyến tiếp theo".
Như vậy tính đến nay, sau 5 lần lùi thời hạn công bố, Thanh tra Chính phủ tới nay vẫn chưa xác định được thời gian cụ thể để công bố.
Riêng về thông tin Yên Bái 7 năm mới phát hiện một cán bộ xã tham nhũng, Bí thư tự nhận phát hiện tham nhũng địa phương còn yếu, ông Đạt cho hay: "Cả nước chỗ nào cũng vậy, nơi nào cũng thế, phát hiện trong tổ chức, cơ quan toàn nhờ tố cáo, cơ quan chức năng, báo chí vào cuộc mới phát hiện ra, chứ có ai chỉ ra điểm xấu của mình?
Tôi đi tỉnh nào cũng thế, cũng nhận định tự phát hiện tham nhũng còn ít, yếu kém, cái này đương nhiên.
Chủ trương là đúng nhưng thực hiện hiệu quả còn kém, tự phát hiện, tự kiểm điểm, làm được thì tốt nhưng vấn đề làm được hay không, làm yếu, do nhiều nguyên nhân.
Nguyên nhân chính là do trách nhiệm người đứng đầu, tổ chức triển khai chỉ đạo, kiểm tra, giám sát chưa sát sao, bệnh thành tích, giấu cái xấu, cơ quan xử lý nội bộ là chính". (Đất Việt 24/8) đầu trang(
Theo Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Đặng Huy Đông, do rủi ro tham nhũng trong BOT là rất lớn nên lẽ ra Nhà nước phải đứng ra thuê 2- 3 đơn vị tư vấn độc lập để tính toán dự án, lưu lượng xe cho khách quan, độc lập… Còn nếu để doanh nghiệp làm hết và cơ quan quản lý chỉ thụ động xem xét rất dễ dẫn đến nguy cơ tù mù, mức phí bị đẩy lên ở mức cao nhất, thời gian thu dài nhất, có lợi nhất cho doanh nghiệp.
Ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT cho biết, từ lâu thế giới đã đưa ra cảnh báo “rủi ro xảy ra tham nhũng trong BOT là lớn nhất”. Do đó, nếu làm đúng, làm tốt, làm chặt chẽ thì BOT sẽ đem lại lợi ích cho mọi quốc gia, ngược lại, nới lỏng sẽ nảy sinh ra tham nhũng rất lớn.
Để ngăn chặn rủi ro trên, theo ông Đông lẽ ra việc thiết kế xây dựng các đề án, dự án BOT, Nhà nước phải bỏ tiền ra để làm. Nhà nước phải đứng ra thuê các chuyên gia, tư vấn hàng đầu, thậm chí là 2- 3 đơn vị tư vấn độc lập để tính toán dự án, lưu lượng phương tiện cho khách quan, độc lập. Khi tất cả các việc trên hoàn thành thì Nhà nước sẽ kêu gọi đầu tư, tổ chức đấu thầu rộng rãi, ai có năng lực, ai có kinh nghiệm, ai “tiền tươi thóc thật” thì mới được làm.
“Có như thế Nhà nước mới chủ động tính toán chi phí, chủ động với con số lưu lượng xe, cũng như đầu vào, đầu ra của dự án để quyết định mức phí hợp lý, hài hoà lợi ích giữa Nhà nước – doanh nghiệp và người dân. Chứ để doanh nghiệp làm hết và nhà nước chỉ đứng ở vị trí thụ động xem xét thì dễ dẫn đến nguy cơ chi phí đầu vào bị đẩy lên tăng gấp đôi, lưu lượng phương tiện bị hạ xuống thấp… Rồi nhiều thứ “tù mù” tính toán khác, cuối cùng phí BOT bị đẩy lên ở mức cao nhất, dài nhất, có lợi nhất cho doanh nghiệp”, ông Đông phân tích.
Vị Thứ trưởng này cũng khẳng định: “ Hiện nay chúng ta làm BOT không theo một quy định nào cả để rồi phí BOT đang trở thành một thứ chi phí không hợp lý mà cả xã hội phải chịu đứng”. Về bản chất, theo ông Đông, phí BOT thực chất cũng là một dạng thu thuế. “Bình thường nếu Nhà nước làm đường thì thu thuế trước của xã hội, của nhân dân để vào ngân sách rồi lấy ngân sách đầu tư. Còn bây giờ ngân sách không đủ, không lấy được trước thì để doanh nghiệp đi làm, người sử dụng giao thông trả tiền. Tuy nhiên cái đấy phải tường minh, chứ không thể “tù mù” được. Người dân đòi hỏi sự công khai, minh bạch ở các dự án BOT là hoàn toàn chính xác”, ông Đông khẳng định.
Để ngăn chặn những bất cập cũng như nguy cơ tham nhũng có thể xảy ra khi thực hiện các dự án BOT, ông Đông cho biết, từ năm 2009 Bộ KH&ĐT đã cảnh báo và điều này nhưng cơ quan quản lý không nghe. “Đến bây giờ những gì chúng tôi chứng minh ở thời điểm đó đã bộc lộ ra hết”, ông Đông nói đồng thời cho hay, khi xây dựng các quy định về PPP có những ý kiến liên tục, thậm chí cho đến bây giờ vẫn đưa ra ý kiến để yêu cầu bỏ đấu thầu.
“Họ bảo mất thời gian cho đấu thầu. Nhưng nếu cứ để tình trạng như thế thì chúng ta sẽ trả giá”, ông Đông nói.
Một bất cập nữa cũng được ông Đông phân tích khá kỹ là: “Khi triển khai các dự án BOT giao thông, cơ quan quản lý thường nói chung chung là hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp? Thế nhưng thế nào là hài hòa? Nếu hài hòa thì tại sao khi triển khai những dự án đầu tư theo hình thức BOT các cơ quan chức năng lại không công khai, minh bạch? Tại sao không tổ chức đấu thầu các dự án BOT? Không công khai số lượng xe, nguồn vốn đầu tư?”, ông Đông nêu câu hỏi và nhấn mạnh rằng, để “tù mù” các dự án BOT như hiện nay là không chấp nhận được.
Theo ông Đông, để giải quyết, giảm những chi phí không hợp lý cho doanh nghiệp và người dân, trong đó có phí BOT thì phải làm quyết liệt. Các bộ, ngành và các đơn vị liên quan cần đối thoại trực tiếp với nhau. Đặc biệt cần phải công khai hóa các chi phí đầu vào, đầu ra. “Nếu không bàn và có giải pháp quyết liệt thì cuối cùng đầu năm nói, giữa năm nói và cuối năm vẫn như thế. Đầu nhiệm kỳ nói nhưng cuối nhiệm kỳ rồi vẫn như thế”.
Ông Ngô Văn Điển, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, cũng phàn nàn rằng, doanh nghiệp đang phải “gánh” rất nặng chi phí BOT khi chỉ riêng QL 1A đã tồn tại hàng chục trạm thu phí. “Chủ nghĩa thân hữu đang làm méo mó mọi thứ, khiến doanh nghiệp nặng gánh chi phí chính thức và phi chính thức”, ông Điển nói. (Tiền Phong 24/8) đầu trang(
Đây là một trong những nội dung được Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, Chánh Thanh tra Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) Lê Thanh Hà nhấn mạnh tại Hội nghị quán triệt Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), lãng phí diễn ra ngày 22/8.
Chánh Thanh tra Bộ GTVT đề nghị trên cơ sở nội dung tinh thần Kết luận 10-KL/TW của Bộ Chính trị, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ tiếp tục tuyên truyền sâu rộng tới cán bộ, đảng viên; tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các giải pháp PCTN, lãng phí đã được Bộ Chính trị chỉ đạo nhằm đạt được mục tiêu; kiên quyết khắc phục hạn chế, yếu kém, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong 5 năm tới; ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí.
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Bộ GTVT cũng đề nghị các cơ quan, đơn vị xác định rõ quan điểm phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện xử lý là quan trọng, cấp bách, kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa và phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay tham nhũng, lãng phí, can thiệp, cản trở xử lý tham nhũng, lãng phí; không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai...
Trước đó, Hội nghị đã nghe TS Đinh Văn Minh, Viện trưởng Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ quán triệt những nội dung của Kết luận số 10-KL/TW và Nghị quyết số 03-NQ/TW của Bộ Chính trị. Định hướng các giải pháp trọng tâm để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tạo chuyển biến rõ nét trong thời tới, ngăn chặn từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Nâng cao vai trò, trách nhiệm và tính tiền phong, gương mẫu của cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là của người đứng đầu.
Đồng thời, tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ cán bộ, đảng viên; hoàn thiện, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức cán bộ làm công tác PCTN, lãng phí; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung sửa đổi, xây dựng ban hành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện, xử lý nghiêm, kịp thời các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí...
Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông nhấn mạnh, trong thời gian qua, công tác PCTN, lãng phí của Bộ GTVT đã đạt được những kết quả tích cực; đặc biệt trong nhiệm kỳ 2000 - 2015. Theo Thứ trưởng, thời gian tới, các cơ quan, đơn vị chú trọng cả công tác PCTN, lãng phí; phải rút kinh nghiệm từ những hạn chế; từng cơ quan, đơn vị phải xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, nâng cao vai trò của người đứng đầu; đồng thời rà soát các quy định, chức năng nhiệm vụ của các cục, vụ, gắn với việc thực hiện đạo đức của người thực thi công vụ, người cán bộ, đảng viên; gắn việc quán triệt thực hiện Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị với Nghị quyết T.Ư 4, T.Ư 5 khóa XII. (Thanh Tra 23/8) đầu trang(
Ngoài việc chạy theo thành tích, việc các địa phương tràn lan xây dựng các công trình nông thôn mới còn nằm ở chuyện tham ô, tham nhũng.
Nông thôn mới đã giúp bộ mặt nông thôn thay đổi, đời sống nhân dân khởi sắc từng ngày. Tuy nhiên theo phản ánh của báo chí vẫn có nhiều công trình nông thôn mới được đầu tư cả chục tỷ đồng bị bỏ hoang hoặc hiệu quả sử dụng trong thực tế rất hạn chế.
PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng khẳng định, tình trạng trên không chỉ xuất hiện ở một vài địa phương đơn lẻ mà diễn ra tại nhiều tỉnh, thành phố.
Theo ông Dinh, đây là vấn đề cần phải được nhìn nhận hết sức nghiêm túc và có những chấn chỉnh để chủ trương nông thôn mới thật sự đi vào cuộc sống.
Lý giải hiện tượng trên, PGS.TS Đặng Ngọc Dinh cho rằng có 2 nguyên nhân chủ yếu.
Đầu tiên, đó là tâm lý chạy theo thành tích. Các địa phương tìm mọi cách để huy động người dân cũng như sử dụng nguồn vốn ngân sách của nhà nước để xây dựng các công trình nông thôn mới. Tuy nhiên việc này làm theo số lượng là chính mà không hướng đến nhu cầu cũng như hiệu quả sử dụng.
Một nguyên nhân sâu xa khác được vị Phó Giáo sư chỉ ra đó là tình trạng tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm đằng sau việc xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng.
“Thực tế có hiện tượng địa phương noi gương cấp trên trong việc xây dựng các công trình nông thôn mới.
Trong khi tỉnh, thành phố, trung ương làm theo những công trình trăm tỷ, nghìn tỷ thì địa phương cũng tìm cách triển khai các dự án vài chục tỷ. Đáng chú ý nhiều nơi xuất hiện tư tưởng, cấp trên chi tiêu lãng phí thì cấp dưới cũng học tập theo.
Việc này cũng giống như hiện tượng các cơ quan công quyền tích cực mua sắm thiết bị, sửa chữa nhà. Càng tiến hành đại tu, sắm thiết bị mới thì những người liên quan mới dễ kiếm tiền”, ông Dinh nhấn mạnh.
Một vấn đề khác được vị chuyên gia nhắc đến, đó là việc nhiều địa phương bắt người dân đóng phí xây dựng nông thôn mới quá cao. Theo ông Dinh, người ta cho rằng xây những công trình trên là người dân được thụ hưởng nên họ phải đống góp.
“Việc này phải xuất phát từ tinh thần tự nguyện và đồng thuận cao từ nhân dân chứ không nên có kiểu bổ theo đồng người buộc phải đóng góp”, ông Dinh nêu quan điểm.
Từ những bất cập nêu trên, PGS.TS Đặng Ngọc Dinh đề nghị các cơ quan chức năng cần phải chấn chỉnh hiện tượng xây dựng tràn lan tại nhiều địa phương, xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm theo quy định của pháp luật.
“Nếu chúng ta không thực hiện nghiêm thì nhân dân sẽ mất niềm tin vào chính quyền. Tất nhiên phải có kỷ luật, phệ bình cảnh cáo những người làm sai. Việc này rất cần làm. Nhưng chỉ như vậy thôi là chưa đủ.
Chúng ta cần chấn chỉnh trong hệ thống chạy đua theo thành thích và tìm mọi cách tham ô, tham nhũng tài sản của nhà nước. Bởi lẽ các khoản kinh phí xây dựng trên đều nằm trong tiền chung, tiền ODA hay ngân sách của nhà nước”, ông Dinh kiến nghị.
Bên cạnh đó, PGS.TS Đặng Ngọc Dinh cho rằng, thời gian qua việc xây dựng nông thôn mới có chiều hướng nghiêng về xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, nhà văn hóa.
Tuy nhiên thời điểm này, các địa phương cần phải có sự cân bằng và tập trung vào đầu tư xây dựng hạ tầng mềm như: xử lý môi trường, xây dựng chất lượng trường học, nhà trẻ, các phòng khám chữa bệnh ở nông thôn hay trạm y tế xã.
“Việc xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh cho người dân ở nông thôn cũng phải được chú trọng. Địa phương có đường đẹp, nhà văn hóa to nhưng thanh niên dính vào tệ nạn xã hội, người dân chỉ ham tổ chức ăn uống, rượu chè cũng không giải quyết được vấn đề gì”, ông Dinh nêu quan điểm. (Đất Việt 23/8) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Sau hơn 5 tháng vận hành chính thức, hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Hải quan Hà Tĩnh đã phát huy hiệu quả, góp phần phục vụ cộng đồng doanh nghiệp (DN) và người dân một cách thuận lợi, tiết kiệm chi phí, giảm thời gian đi lại.
Nhanh gọn, thuận tiện, giảm được nhiều chi phí gián tiếp là nhận xét của chị Nguyễn Thị Thủy - đại diện cho Công ty TNHH MTV Dầu Việt Nam khi trao đổi với chúng tôi về dịch vụ công trực tuyến đang được thực hiện trên hệ thống khai hải quan tại Cục Hải quan Hà Tĩnh.
Là DN có hoạt động nhập khẩu xăng dầu qua Cửa khẩu cảng Vũng Áng nhưng chỉ cần ngồi tại công ty và thực hiện vài thao tác nhấp chuột trên máy tính, chị Thủy có thể gửi hồ sơ trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến mà không cần phải đến tận Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Vũng Áng như trước đây.
Tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Vũng Áng - một trong những nơi phát sinh nhiều thủ tục nhất, phần lớn những hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đã được cơ quan hải quan tiếp nhận và xử lý nhanh, gọn, giúp giải quyết công việc thuận tiện, khoa học hơn cũng như giảm thiểu được thời gian, chi phí, giấy tờ, hồ sơ trong quá trình làm thủ tục của DN.
Với sự nhanh chóng, giản tiện và chính xác, bước đầu, dịch vụ công trực tuyến đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ DN, đặc biệt là những DN mới phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn. Ông Trần Đình Nam - Giám đốc Công ty CP Xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh cho biết: “Tham gia dịch vụ công trực tuyến, chúng tôi giảm đến mức thấp nhất thời gian và chi phí vì nộp trực tiếp qua mạng cho cơ quan hải quan. Hơn nữa, hồ sơ có thể nộp ở bất cứ nơi nào, bằng các thiết bị di động hoặc máy tính cá nhân và chúng tôi theo dõi được tình trạng hồ sơ mọi lúc, mọi nơi, nhận được ngay thông báo khi có kết quả”.
Chính thức triển khai hệ thống dịch vụ công trực tuyến từ tháng 3/2017, đến thời điểm này, Cục Hải quan Hà Tĩnh đã triển khai 41 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, hầu hết đều được triển khai tại các chi cục, chủ yếu thuộc các lĩnh vực: Thủ tục hoàn thuế theo Thông tư 38, ô tô xuất nhập cảnh, hủy tờ khai hải quan, khai bổ sung hồ sơ khai thuế...
Theo số liệu đến ngày 15/8/2017, Hải quan Hà Tĩnh đã xử lý 173 hồ sơ qua dịch vụ công trực tuyến với hơn 20 DN. Những DN thường xuyên thực hiện xử lý hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến như: Tập đoàn Formosa, Tập đoàn Hoành Sơn, Công ty TNHH MTV Dầu Việt Nam, Tập đoàn Samsung, Công ty TNHH Luyện kim Trung Quốc, Công ty CP Xuất nhập khẩu thủy sản Nam Hà Tĩnh...
Để dịch vụ công trực tuyến vận hành có hiệu quả và rộng rãi hơn, ngày 9/8/2017, Cục Hải quan Hà Tĩnh đã ban hành Kế hoạch số 1115/KH-HQHT về việc triển khai dịch vụ công trực tuyến năm 2017 với mục tiêu tối thiểu mức 3 cho 42 thủ tục hành chính ban hành kèm theo Quyết định số 2151/QĐ-TCHQ ngày 27/6/2017.
Trong quý IV/2017, Cục Hải quan Hà Tĩnh sẽ thành lập tổ triển khai dịch vụ công trực tuyến cấp cục và cấp chi cục. Đào tạo, tập huấn về kế hoạch dịch vụ công trực tuyến năm 2017 nhằm hướng dẫn tính năng mới của hệ thống, hướng dẫn thao tác trên phần mềm tiếp nhận, xử lý hồ sơ và trả kết quả. Bên cạnh đó, đơn vị sẽ đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều hình thức để cộng đồng DN sử dụng rộng rãi dịch vụ.
Ông Lương Trường Thọ - Cục trưởng Cục Hải quan Hà Tĩnh khẳng định: “Cục Hải quan Hà Tĩnh sẽ đáp ứng mọi nhu cầu của DN và người dân nhằm tạo thuận lợi và tiện ích tối đa trong hoạt động xuất nhập khẩu khi DN sử dụng dịch vụ công trực tuyến”. (Báo Hà Tĩnh 24/8) đầu trang(

KINH TẾ
Số lượng doanh nghiệp thành lập mới thời gian qua được xem là tín hiệu tích cực, tuy nhiên cũng nhiều doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa vì không cáng đáng nổi chi phí đã phải sớm giã từ thị trường, từ bỏ “giấc mơ khởi nghiệp”.
Tại buổi Tọa đàm Giảm gánh nặng chi phí, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân phát triển, ông Ngô Văn Điểm, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam cho biết, chúng ta cần phân định chi phí cho rõ, một là chi phí kinh doanh nói chung, đó là các quy định của nhà nước tác động đến mọi doanh nghiệp như nhau, hai là chi phí của từng doanh nghiệp (DN). Việc các DN khởi nghiệp còn khó khăn thì phải xét trên chi phí của DN.
“Trên thực tế, con số được công bố chính thức thì cứ 3 DN ra đời thì có ít nhất 3 DN giải thể thoặc đóng cửa. Tại sao có con số đó, bởi các DN mới ra đời thì tiếp cận nguồn lực chi phí rất cao bởi hầu hết là DNNVV, khi anh tiếp cận đất đai giá nó lên mà anh lại gặp phải thị trường cạnh tranh không lành mạnh thì anh sẽ thuê đất rất khó, thuê văn phòng rất khó“, ông Điểm cho hay.
Thứ hai là ngân hàng, lãi suất tín chấp cao hơn vài %, cộng với các chi phí khác nữa thì DN càng khổ. Tiếp nữa, DN khảo sát thị trường không chính xác, sức mua chỉ khoảng 2.275 USD/người thì sức mua không thể lớn được. Nên DN khi khảo sát, nghĩ rằng mình làm ra sản phẩm được thị trường chấp nhận nhưng khi bước vào thực tế thì bị vỡ trận nên phải rút lui khỏi thị trường.
Chi phí của DN thì hầu hết các DN đều nhập khẩu nguyên liệu, các thủ tục kiểm soát nhập khẩu nguyên liệu theo con số của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra là 10.000 mặt hàng được kiểm soát về xuất nhập khẩu thì đã mất 14.300 tỷ đồng.
“Tôi nghĩ rằng, không chỉ giảm chi phí mà còn cần giảm cả thời gian giải quyết các thủ tục hành chính (TTHC) đang rất phiền hà, làm nản lòng các DN, nhất là các DN mới ra đời. Bên cạnh nhập khẩu là vận tải, riêng đường QL1 có 40 trạm thu phí. Đối với xe con, đi qua hết 40 trạm này mất 1,3 triệu đồng tiền lệ phí, trong khi xe tải trọng lớn mất 10-20 lần tiền phí như vậy, rồi chi phí logistics nữa”, ông Điểm chia sẻ.
Thêm nữa, theo Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân tư nhân một chi phí DN nào cũng vấp phải là điện năng, chiếm khoàng 10% tổng chi phí của DN, mà tư duy tiết kiệm điện năng lại không có nên càng tốn kém. Chi phí nữa mà các DNNVV mới ra đời đều phải cõng, đặc biệt là các DN làng nghề, hộ kinh doanh cá thể đó là chi phí môi trường. Bởi khi anh độc lập xử lý rác thải thì chi phí sẽ lớn hơn khi anh tập trung sản xuất tại các khu công nghiệp.
“Đó chỉ là những chi phí chính thức. Còn sự góp mặt của các chi phí không chính thức là một loại chi phí ngầm, chi phí ngoài luồng rất rắc rối, ở Việt Nam – từng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi là “tham nhũng vặt” nhưng hậu quả của nó thì cũng không kém tham nhũng lớn thậm chí kinh khủng hơn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Con số này ở Việt Nam không hề thấp, dẫn đến cơ chế thị trường méo mó”, ông Điểm nhận định
Theo ông Phan Đức Hiếu – Phó Viện trưởng CIEM, các giải pháp gần đây Chính phủ tập trung cắt giảm chi phí như chi phí, lệ phí, cắt giảm thời gian cũng như chi phí về các TTHC như Nghị quyết 19, Nghị quyết 35. Rõ ràng, Chính phủ đã nhận diện được những vấn đề và đang thực hiện giải quyết các vấn đề .
“Tác động trên thực tế qua cảm nhận của tôi cũng như qua đối thoại với cộng đồng DN thì tôi cho rằng tác động chưa nhiều, chưa đạt được kỳ vọng cũng như mong muốn của cộng đồng DN và các bên có liên quan. Các giải pháp của Chính phủ hiện nay là đúng nhưng kết quả thực hiện còn khá hạn chế”, ông Hiếu nhấn mạnh.
Theo báo cáo tại cuộc họp về cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành với hàng hoá xuất nhập khẩu ngày 21/8 vừa qua, hiện có 5.917 điều kiện kinh doanh của các bộ tại các cửa khẩu, 100.000 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành, mỗi năm DN phải bỏ ra 28,6 triệu ngày công với chi phí 14.300 tỷ đồng để làm các thủ tục này. Tuy nhiên tình trạng kiểm tra nhiều nhưng phát hiện vi phạm chẳng bao nhiêu.
Về vấn đề này, ông Phan Đức Hiếu cho rằng, hiện nay chúng ta đang giao cho các bộ, ngành tự rà soát toàn bộ lĩnh vực và tự rà soát từng thủ tục. Cách làm này là không hiệu quả, chính các bộ ngành là nơi sản sinh ra các sản phẩm đó, các cơ quan là những người xây dựng chính sách, thực thi chính sách, sau đó lại tự rà soát và cắt bỏ đi cái mà mình vừa ban hành trước đó, điều này là không hiệu quả. (Nhà Báo Và Công Luận 23/8) đầu trang(
Muốn tăng cường hiệu quả các biện pháp phục vụ doanh nghiệp thì phải bảo đảm thực hiện đầy đủ quy định, nội dung cũng như chỉ đạo của Chính phủ và đúng tiến độ đề ra.
Ngày 23/8 đã diễn ra Toạ đàm "Giảm gánh nặng chi phí, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân phát triển" do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức. Tọa đàm ghi nhận các ý kiến và nhận định về tình hình doanh nghiệp, môi trường đầu tư kinh doanh và việc tuân thủ quy định, pháp luật kinh doanh Nhà nước của doanh nghiệp.
Chuyên gia kinh tế Ngô Văn Điểm cho biết, đến nay doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận nhiều loại chi phí, cả về thời gian và vật chất bất hợp lý; riêng chi phí không chính thức là một vấn nạn, khi có tới 9 - 11% doanh nghiệp được hỏi xác nhận từng bỏ ra khoảng 10% doanh thu để đáp ứng loại chi phí này.
Bên cạnh đó, tình trạng dựa vào quan hệ, hình thành “chủ nghĩa thân hữu” để tiếp cận nguồn lực, thu về những lợi ích có tính chất đặc quyền đã làm méo mó thị trường, gây bất bình đẳng trong kinh doanh. Bên cạnh đó, thời gian để tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh vẫn là gánh nặng, vấn đề đối với doanh nghiệp...
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Phan Đức Hiếu cho rằng, thời gian qua Chính phủ luôn tập trung cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp, thể hiện rõ trong nội dung các Nghị quyết 35/NQ-CP và Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ.
Các cơ quan quản lý đã vào cuộc, thực hiện cải cách hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả thu về chưa đạt như kỳ vọng, mong muốn của doanh nghiệp và đến nay chất lượng môi trường kinh doanh vẫn còn khoảng cách so với các nước ASEAN.
Hiện các bộ, cơ quan quản lý đang tiếp tục rà soát, phát hiện những gì bất hợp lý trong quy định về điều kiện kinh doanh, nhằm loại bỏ “giấy phép con”, nhưng tốc độ còn chậm. Các chuyên gia cho rằng, cách làm này khó đạt hiệu quả cao bởi điều đó có nghĩa cơ quan quản lý phải xem lại chính những gì mình đã nghiên cứu, ban hành.
Ngoài ra, không loại trừ tâm lý “tạo thuận lợi cho bên quản lý và đẩy khó khăn cho bên thực hiện” của cơ quan, cá nhân người làm công tác rà soát.
Do đó, theo các chuyên gia cần thành lập cơ quan độc lập, trực thuộc Chính phủ và có đủ quyền hạn để phản biện, đối chiếu, giám sát và đưa ra ý kiến độc lập về chất lượng, sự cần thiết tồn tại hay không cần tồn tại của mỗi quy định, điều kiện kinh doanh cụ thể.
Ông Phan Đức Hiếu cũng nhấn mạnh, muốn tăng cường hiệu quả các biện pháp phục vụ doanh nghiệp thì phải bảo đảm thực hiện đầy đủ quy định, nội dung cũng như chỉ đạo của Chính phủ và đúng tiến độ đề ra. Ước tính sơ bộ, có từ 1/3 đến một nửa số điều kiện kinh doanh hiện có có thể xem xét để tiến tới bãi bỏ trong thời gian tới.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông cho biết, nhìn chung môi trường kinh doanh đã và đang được cải thiện liên tục, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, xác định vai trò là động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân.
Đặc biệt, Chính phủ xác định rõ mục tiêu kiến tạo, hỗ trợ doanh nghiệp, thật sự bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân với loại hình doanh nghiệp khác, nhất là trong tiếp cận các nguồn lực phát triển.
Thực tế cho thấy, thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng đánh giá về thuận lợi kinh doanh hoặc các điều tra quốc tế thời gian qua cho thấy sự tiến bộ, cải thiện liên tục từ đó củng cố, gia tăng niềm tin của giới doanh nghiệp.
Các chuyên gia cũng nhất trí quan điểm, cần tăng cường hoạt động đối thoại, phản biện chính sách từ phía doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu độc lập với cơ quan hoạch định chính sách để bảo đảm tính logic và sự cần thiết trước khi ban hành quy định, thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, cần tránh tâm lý né tránh hoặc tùy tiện, chủ quan trong nghiên cứu, ban hành chính sách. (Bnews 23/8) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Xác định nguồn lực đầu tư xã hội là động lực cho sự phát triển của Thủ đô, hai năm gần đây, thành phố Hà Nội đã có nhiều cơ chế, chính sách mới nhằm thu hút các nhà đầu tư. Không chỉ tập trung vào các dự án phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, thành phố còn thu hút nhiều dự án về y tế, giáo dục, môi trường...
Gần mười nghìn người đến khám, chữa bệnh tại Trung tâm Kỹ thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội (Bệnh viện Xanh Pôn) trong chín tháng qua đều khá hài lòng, bởi cơ sở y tế tại đây rất hiện đại. Trung tâm được trang bị máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến nhất, mới nhất trên thế giới, đội ngũ y, bác sĩ có trình độ cao, với chi phí khám, chữa bệnh vừa phải. Những kỹ thuật cao trong y học như: phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu điều trị ung thư đại trực tràng, phẫu thuật cắt trực tràng qua đường hậu môn... trước đây, phải ra nước ngoài điều trị với chi phí tốn kém, thì nay đã được thực hiện ngay tại Hà Nội.
Ðiều đáng nói, trong nguồn vốn 400 tỷ đồng đầu tư xây dựng trung tâm, hơn 300 tỷ đồng là từ các doanh nghiệp đóng góp. Trung tâm đi vào hoạt động tự bảo đảm được thu chi, không phải dùng đến ngân sách nhà nước. Lãnh đạo Bộ Y tế đánh giá, Trung tâm Kỹ thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội là một mô hình xã hội hóa thành công trong lĩnh vực y tế, có hướng đầu tư đúng, bền vững, cần nhân rộng trong cả nước.
Hà Nội đang đặt mục tiêu xây dựng thêm những trung tâm, bệnh viện đạt tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân. Không chỉ trong lĩnh vực y tế, với các lĩnh vực khác, thành phố cũng nghiên cứu xem xét nhiều dự án, nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân. Xác định, thu hút vốn đầu tư xã hội là động lực phát triển của Thủ đô, từ đầu năm 2016 tới nay, thành phố đã đổi mới nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, tăng cường đối thoại, trao đổi, tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ tốt nhất cho các nhà đầu tư. Thông điệp "Hà Nội đồng hành cùng doanh nghiệp" được thể hiện khá rõ.
Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Ðức Chung cho biết, từ cuối năm 2015, thành phố đã giao Sở Kế hoạch và Ðầu tư rà soát lại 537 dự án tồn đọng, để tìm giải pháp tháo gỡ. Với các dự án cần giải phóng mặt bằng, hằng tuần UBND thành phố tổ chức họp đôn đốc, giải quyết bất cập để đẩy nhanh tiến độ.
Không đợi đến cuộc họp hay hội nghị, các doanh nghiệp, nhà đầu tư mới có cơ hội đối thoại với lãnh đạo thành phố, mà hiện nay, doanh nghiệp chỉ cần đăng ký, thành phố sẽ bố trí, sắp xếp thời gian để tiếp xúc ngay, kể cả ngoài giờ hành chính. Riêng năm 2016, lãnh đạo TP Hà Nội đã tiếp 260 đoàn doanh nghiệp và 89 tham tán thương mại liên quan công tác xúc tiến đầu tư; sáu tháng đầu năm 2017 đã tiếp 148 cuộc.
Trước đây, với mỗi dự án, doanh nghiệp phải "chạy đi chạy lại" giữa các sở, ngành, rồi các sở, ngành lại họp lấy ý kiến, trình lãnh đạo UBND thành phố... mất rất nhiều thời gian. Công tác cải cách hành chính, phối hợp liên thông đã rút ngắn từ 30% đến 60% thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực: đăng ký kinh doanh, đất đai, đầu tư... Ðồng thời, thành phố hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực, như đất đai, điện năng, thị trường, khoa học công nghệ…, cùng doanh nghiệp chăm lo đời sống của công nhân. Sự thay đổi tích cực của chính quyền đã góp phần thu hút các nhà đầu tư gắn bó với Hà Nội, thể hiện qua những con số ấn tượng.
Năm 2016, thành phố thu hút hơn 3,1 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài (tăng gần ba lần so với năm 2015). Bảy tháng đầu năm 2017, thu hút thêm 1,3 tỷ USD vốn dự án FDI. Từ đầu năm 2016 đến nay, thành phố đã phê duyệt, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án ngoài ngân sách với tổng mức đầu tư 296 nghìn tỷ đồng, gấp 4,43 lần so với nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của thành phố trong hai năm 2016 - 2017 và gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2016 - 2020. Riêng tại hai hội nghị hợp tác đầu tư và phát triển năm 2016 và 2017, Hà Nội đã trao quyết định chủ trương đầu tư cho 71 dự án, với tổng mức đầu tư 113 nghìn tỷ đồng.
Ðiểm đáng ghi nhận trong công tác thu hút đầu tư thời gian qua ở Hà Nội là thành phố đã tạo cơ chế, chính sách mới, thu hút nhiều nhà đầu tư vào các lĩnh vực, như nước sạch nông thôn, xử lý rác thải, cây xanh, cải tạo nhà chung cư cũ... những lĩnh vực trước đây rất ít nhà đầu tư quan tâm vì khó triển khai, lợi nhuận không lớn.
Giám đốc Sở Kế hoạch và Ðầu tư Nguyễn Mạnh Quyền cho biết, thành phố đã xác định, trọng tâm ưu tiên hàng đầu trong công tác chỉ đạo điều hành là thực hiện đồng bộ các giải pháp, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô, hướng tới đạt các tiêu chuẩn, quy chuẩn khu vực và thế giới, tập trung trong năm lĩnh vực: môi trường, nước sạch, y tế - giáo dục, giao thông, công viên - khu vui chơi giải trí. Do vậy, thành phố khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án, như giải phóng mặt bằng, thủ tục về đầu tư, đất đai, phối hợp các bộ, ngành liên quan.
Ðơn cử, trong lĩnh vực nước sạch, Hà Nội đã kêu gọi được 22 doanh nghiệp tư nhân, đầu tư xây dựng toàn bộ hệ thống nước sạch trên địa bàn, dự kiến cuối năm 2019 sẽ hoàn thành, đạt tiêu chí "nước có thể uống tại vòi". Ðể làm được việc này, thành phố không chỉ tăng cường đối thoại, đẩy nhanh thời gian giải quyết thủ tục mà còn đứng ra kết nối doanh nghiệp với các nhà máy nước, nhà cung cấp thiết bị để được hưởng mức chiết khấu cao hơn, kết nối với ngân hàng để hỗ trợ mức lãi suất thấp hơn mặt bằng chung từ 1% đến 2%...
Riêng lĩnh vực nước sạch nông thôn vẫn được cho là "đầu tư tiền tỷ, thu về tiền lẻ", doanh nghiệp chưa mặn mà. Nhưng bằng nhiều cơ chế hỗ trợ, tính đến nay, thành phố đã phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư cho 23 dự án, với tổng mức đầu tư hơn 9.600 tỷ đồng. Các dự án hoàn thành sẽ nâng tỷ lệ người dân khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch lên 86,6%, sẽ có thêm khoảng hai triệu người dân ở 200 xã được dùng nước sạch.
Bằng cơ chế kêu gọi vốn xã hội hóa, thành phố đã khởi công Công viên Kim Quy - khu công viên đẳng cấp quốc tế tại huyện Ðông Anh, công viên và hồ điều hòa CV1 khu đô thị mới Cầu Giấy. Các công trình như Nhà hát Hoa Sen và nhiều công viên khác… đang được triển khai các thủ tục để sớm khởi công. Trong xử lý nước thải, rác thải, cùng với nhà máy xử lý nước thải Yên Xá được đầu tư từ vốn ODA Nhật Bản đang triển khai xây dựng, hai dự án Hệ thống thu gom nước thải tại Yên Sở và Long Biên cũng đang được đẩy nhanh việc hoàn thiện thủ tục đầu tư.
Tuy đã có nhiều nỗ lực để cải thiện, nhưng môi trường đầu tư của Hà Nội vẫn còn một số bất cập. Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam VCCI Vũ Tiến Lộc cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp vẫn kỳ vọng nhiều hơn về một Hà Nội thân thiện, chuyên nghiệp và hiện đại. Dù đã có nhiều cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn về thủ tục đất đai trong quá trình làm thủ tục đầu tư. Chỉ số gia nhập thị trường và thuế cũng là lĩnh vực bị các doanh nghiệp phản ánh còn hiện tượng tiêu cực. Ông Kat-su-ro Na-gai, Công sứ Nhật Bản tại Việt Nam cho rằng, Hà Nội đang gặp vấn đề lớn là ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường sông, hồ khu vực nội đô. Các dự án trong lĩnh vực này còn chưa rõ ràng và chưa đạt hiệu quả.
Trong thời gian tới, TP Hà Nội ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, công nghệ mới, năng lượng sạch, dịch vụ đạt chuẩn quốc tế thông qua nhiều hình thức: FDI, PPP, xã hội hóa,… Ðồng thời, triển khai hiệu quả các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thu hút đầu tư. Trong đó, cần tiếp tục đổi mới công tác xúc tiến đầu tư, tập trung các thị trường trọng điểm, đối tác trọng điểm trong và ngoài nước; rà soát, xây dựng các cơ chế chính sách mới để tăng cường thu hút các nguồn lực.
Ðồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính, quán triệt thái độ, tinh thần phục vụ của đội ngũ cán bộ để giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, người dân. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư triển khai dự án.
Ðể bảo đảm tiến độ, chất lượng triển khai các dự án, thành phố cần chú trọng lựa chọn các nhà đầu tư đủ năng lực thông qua các hàng rào kỹ thuật, như đánh giá năng lực tài chính, năng lực quản trị (dựa trên các dự án đã triển khai), công nghệ, cam kết thời gian hoàn thành... Sự đồng hành, nỗ lực đổi mới của chính quyền thành phố và cộng đồng doanh nghiệp hứa hẹn sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng sống cho người dân, thay đổi diện mạo Thủ đô, xứng tầm các đô thị phát triển trong khu vực và thế giới. (Nhân Dân 24/8) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ tại phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật ngày 22-8 mới đây, cơ quan này đề xuất loại bỏ 1.930 yêu cầu, điều kiện về kinh doanh được cho là những giấy phép con cản trở doanh nghiệp lâu nay. Trong số này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần 302 điều kiện về tài chính. Ngoài ra, 85 điều kiện kinh doanh về địa điểm và 1.336 điều kiện về năng lực sản xuất, 127 điều kiện về phương thức kinh doanh, 80 điều kiện về quy hoạch... được đề xuất bỏ toàn bộ.
Ngoài ra, các điều kiện kinh doanh khác liên quan đến vấn đề nhân lực (trừ một số nghề thực sự đòi hỏi trình độ, kinh nghiệm, như nghề y, nghề kiểm toán) và một số điều kiện có nội dung không phù hợp khác, Bộ này cũng kiến nghị bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần.
Các điều kiện kinh đoanh được coi là công cụ quản lý của Nhà nước nhằm điều tiết hoạt động của cộng đồng DN, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DN để  làm sao DN đi đúng hướng, hiệu quả và tạo được năng suất cao, tạo sức cạnh tranh lớn. Tuy nhiên, đối với môi trường kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, dường như điều kiện kinh doanh được tạo nên lại đi ngược hoàn toàn với những tiêu chí nói trên.
Một vị chuyên gia kinh tế đã từng thẳng thắn nói ra quan điểm rằng, trong số hàng ngàn điều kiện kinh doanh hiện nay,  phần lớn những cái được gọi là “công cụ quản lý” này được đặt ra dường như chỉ để ngăn cản kinh doanh chứ không thúc đẩy kinh doanh và hoàn toàn  không đạt được mục tiêu quản lý nhà nước.
Chúng ta cần phải trả lời được câu hỏi: “Mục tiêu của điều kiện kinh doanh là để làm gì, việc chúng ta đặt ra hàng loạt điều kiện kinh doanh như vậy có để đạt được mục tiêu đó không , và chi phí để đạt được mục tiêu đó như thế nào?”. Song thực tế là, các DN khi bước vào môi trường kinh doanh đều phải bỏ một chi phí rất lớn. Thậm chí, nhiều DN chỉ vừa nhen nhóm ý tưởng khởi nghiệp đã bị… phá sản chỉ vì các điều kiện ở môi trường kinh doanh quá khắt khe.
“Đáng lẽ Nhà nước phải hỗ trợ và tạo điều kiện để DN dễ dàng bước chân khởi nghiệp, dễ dàng sản xuất, yên tâm hoạt động, thì ngược lại, nhiều điều kiện kinh doanh được đưa ra dập tắt ngay sự sáng tạo của DN, khiến chúng tôi không dám bước chân vào thương trường”- một DN ngành vận tải đã chia sẻ như vậy khi nói về Nghị định 86 liên quan đến điều kiện kinh doanh taxi hiện nay.
Cụ thể, tại Nghị định 86 có quy định DN phải có  tối thiểu 10 xe ô tô mới được phép kinh doanh taxi, còn đối với  các đô thị đặc biệt, tối thiểu phải 50 xe. Những điều kiện kinh doanh kiểu dạng quy định tại Nghị định 86 có thể nói là tồn tại… vô số trong các điệu kiện kinh doanh hiện nay. Và vô hình trung, những điều kiện như vậy đang tạo ra cơ hội cho các DN lớn, loại dần những DN vừa, DN nhỏ và siêu nhỏ.
Trong khi đó, trên 90% DN hiện nay có quy mô nhỏ và vừa, như vậy, chẳng khác nào những điều kiện kinh doanh đặt ra lại trở thành rào cản kìm chân hoạt động của hơn 90% DN ở Việt Nam hiện nay? Sẽ không có gì ngạc nhiên khi con số DN phá sản, ngừng hoạt động mà cơ quan chức năng công bố vẫn tiếp tục gia tăng theo thời gian.
Và để kiềm chế điều này, TS Nguyễn Đình Cung, Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, cần phải loại bỏ đi 2/3 số điều kiện kinh doanh hiện nay.
“Những điều kiện được đặt ra không những không khuyến khích các DN nỗ lực sáng tạo, mà ngược lại dập tắt hàng loạt những ý tưởng khởi nghiệp, nhiều điều kiện tạo chi phí gia nhập thị trường lớn, gây méo mó thị trường. Như vậy chỉ có hại cho nền kinh tế chứ đừng nói đến một công cụ hỗ trợ, tạo động lực cho nền kinh tế”- vị chuyên gia này nhận định.
Có lẽ không riêng vị chuyên gia này, mong muốn loại bỏ bớt đi những rào cản mang tên “điều kiện kinh doanh” để tạo điều kiện hơn cho hoạt động của cộng đồng DN cũng là khát khao của nhiều nhà làm kinh tế, giới chuyên gia, đặc biệt là cộng đồng DN hiện nay.
Chính bởi vậy, thông tin về việc Bộ KHĐT đề xuất loại bỏ gần hơn 1.900 yêu cầu, điều kiện kinh doanh thực sự là một tin vui đối với cộng đồng DN cũng như với bất kỳ ai quan tâm đến môi trường kinh doanh của Việt Nam ở thời điểm này.
Nói về đề xuất loại bỏ hơn 1.900 điều kiện kinh doanh nói trên,  Bộ KHĐT cho rằng, hệ thống các quy định về điều kiện kinh doanh hiện hành còn nhiều bất cập như: các điều kiện tạo ra rào cản bất hợp lý đối với đầu tư, gia nhập thị trường, làm hạn chế số lượng doanh nghiệp đăng ký mới; tạo nhiều rủi ro lớn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động; giảm động lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; giảm năng suất và giảm sức cạnh tranh của DN và nền kinh tế; nhiều điều kiện không rõ ràng, tạo ra cơ hội cho sự tùy tiện và nhũng nhiễu của một số cán bộ thực thi công vụ.
Một cơ quan quản lý còn phải thừa nhận thực tế đó, thiết nghĩ, việc loại bỏ các điều kiện kinh doanh hiện nay chỉ còn là vấn đề thời gian. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với mong muốn của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi đã hơn một lần ông nêu lên quan điểm phải gỡ bỏ rào cản thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của cộng đồng DN. Trước đó, tại phiên họp thường kỳ tháng 7 diễn ra hồi đầu tháng 8, Thủ tướng tiếp tục nêu lên thực trạng, chi phí cấp giấy phép con với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chưa có nhiều bằng chứng cho thấy đã giảm.
“Bộ trưởng thấy DN lên xếp hàng rất lâu thì phải xem lại cung cách làm việc của Bộ. Phải loại bỏ điều kiện kinh doanh mang tính áp đặt không hợp lý”- Thủ tướng nhấn mạnh. (Đại Đoàn Kết 24/8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Cảnh sát Thái Lan cho hay hơn 4.000 cảnh sát sẽ được điều động tới bảo vệ phiên tòa tuyên án cựu Thủ tướng Yingluck Shinawatra tại Tòa án Tối cao hôm 25-8.
Theo The Star, vào ngày 25-8 tới, Tòa án Tối cao Thái Lan sẽ ra phán quyết cuối cùng liên quan tới vụ án trợ giá gạo gây thất thoát hàng tỉ USD cho chính phủ do cựu Thủ tướng Yingluck Shinawatra khởi xướng.
Bà Yingluck bị cáo buộc sao lãng nhiệm vụ trong quản lý, giám sát chương trình trợ giá gạo này dẫn đến thất thoát hàng tỉ USD cho chính phủ. Nếu bị kết án, cựu thủ tướng có thể đối mặt với án tù 10 năm và bị cấm tham gia hoạt động chính trị cả đời theo hiến pháp mới được chính quyền quân đội soạn thảo.
Hàng ngàn người ủng hộ dự kiến sẽ tụ tập bên ngoài tòa án ở phía Bắc Bangkok để nghe phán quyết cuối cùng của tòa, bất chấp chính quyền cấm người dân tụ tập.
Thiếu tá Panurat Lakboon, Phó Cục trưởng Cảnh sát Bangkok, cho biết dự kiến có khoảng 3.000 người biểu tình kéo đến phiên tòa. “Cảnh sát sẽ triển khai lực lượng chống bạo động để đảm bảo an ninh… Con số tổng cộng sẽ là 4.000 người” - ông Panurat khẳng định. Những người ủng hộ sẽ không được phép “tiến vào phiên tòa” và chỉ có thể tụ tập gần đó.
Về  bà Yingluck, ông Norawit Lalaen, một luật sư của cựu thủ tướng, cho hay: “Cựu thủ tướng đã sẵn sàng cho phiên tòa vào ngày 25-8. Các luật sư bào chữa cho bà cũng đã sẵn sàng”.
Khi được hỏi tinh thần của bà Yingluck lúc này thế nào, ông Norawit cho biết tinh thần nữ thủ tướng đầu tiên của Thái Lan rất tốt khi nhận được sự ủng hộ của rất nhiều người, theo Bangkok Post.
Theo vị luật sư, phán quyết đối với bà Yingluck sẽ được tuyên vào chiều 25-8 (giờ địa phương) bởi vào ngày đó, tòa phải tuyên một vụ án khác cũng liên quan tới vụ mua bán gạo liên quan tới chính phủ. Cựu Bộ trưởng Thương mại Boonsong Teriyapirom cùng một số người khác là bị đơn trong vụ án này.
Ông Paul Chambers, một chuyên gia chính trị Thái Lan thuộc ĐH Naresuan, nhận định với AFP rằng: “Mặc dù phán quyết đối với bà Yingluck có thể làm chấm dứt sự tham gia hoạt động chính trị ở Thái Lan của bà, song phán quyết này lại lôi kéo những người ủng hộ nhà Shinawatra cùng nhau chống lại chính quyền quân đội”.
Theo chính sách trợ giá lúa gạo được bà Yingluck thực hiện, chính phủ đã trả giá lúa gạo cho nông dân cao gần gấp đôi giá thị trường. Chính sách này được những người dân ở nông thôn ủng hộ nhưng đồng thời cũng đưa đến những cáo buộc về tình trạng tham nhũng quy mô lớn. Chính sách này cũng khiến Thái Lan bị tồn đọng gạo với số lượng lớn.
Trong những phiên xét xử trước, bà Yingluck nói rằng chương trình được thực hiện với ý tốt nhằm hỗ trợ những người nghèo. Bà cũng nói mình chỉ là nạn nhân của “một trò chơi chính trị tinh vi”. (Pháp Luật TP.HCM 23/8) đầu trang(./.