Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 06 năm 2016
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
THAM NHŨNG- LÃNG PHÍ
NHÂN SỰ
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
PHÁP LUẬT
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Bộ Tài chính đề xuất Chính phủ xem xét sửa đổi Nghị định 83/2014 về kinh doanh xăng, dầu, vì về cơ bản xăng, dầu trong nước sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ nội địa, nên giá cơ sở bán lẻ xăng dầu căn cứ vào giá xăng dầu nhập khẩu không còn phù hợp.
Liên quan tới cách tính thuế nhập khẩu làm cơ sở tính giá bán lẻ xăng, dầu, Bộ Tài chính vừa có văn bản gửi Văn phòng Chính phủ trả lời các kiến nghị của Bộ Công Thương.
Trước đó, quy định dùng mức thuế ưu đãi (MFN) để tính giá cơ sở xăng, dầu đã gây thiệt hại cho người tiêu dùng, khi xăng, dầu nhập về từ một số nước, Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) có mức thuế thấp hơn thuế MFN. Để giải quyết vấn đề trên, Chính phủ đã đồng ý dùng mức thuế bình quân gia quyền (mức thuế bình quân thuế ưu đãi - MFN và thuế suất ưu đãi đặc biệt - các FTA) để tính giá cơ sở xăng dầu.
Bộ Tài chính cho rằng, về lâu dài, xăng dầu trong nước đã sản xuất được (đã có Nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất, và năm 2017 là Nghi Sơn, kho quan ngoại Vân Phong cũng đã pha chế được). Vì vậy, về cơ bản xăng, dầu trong nước sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ nội địa, nên giá cơ sở bán lẻ xăng dầu căn cứ vào giá xăng dầu nhập khẩu không còn phù hợp.
Đồng thời, nhóm các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá cũng không có mặt hàng nào điều hành theo giá cơ sở như giá xăng dầu, trong khi giá xăng, dầu đã có giá tham chiếu được công khai tại thị trường thế giới.
Bộ Tài chính cho rằng, giá cơ sở xăng, dầu nhằm bình ổn giá bán lẻ trong nước, nhưng ngoài ra còn các công cụ khác như chi phí, lợi nhuận định mức… nên nhiều khi giá bán xăng, dầu tại Việt Nam thấp hơn các nước lân cận, tạo ra tình trạng buôn lậu, nhà nước lại phải tìm biện pháp phòng chống. Ngoài ra, thời gian tới sẽ có một số doanh nghiệp nước ngoài vào phân phối xăng, dầu tại Việt Nam.
Bộ Tài chính thấy rằng, việc điều chỉnh các mức thuế nhập khẩu xăng, dầu sẽ không giải quyết được gốc vấn đề. Đồng thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của Việt Nam, cũng như các bên đã ký kết Hiệp định FTA với Việt Nam.
Vì vậy, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Công Thương (cơ quan xây dựng Nghị định 83) chủ trì, chủ động nghiên cứu kinh nghiệm về kinh doanh xăng, dầu của các nước trên thế giới. Đồng thời tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị định 83 thời gian qua và thực tế sản xuất, cung ứng xăng, dầu trong nước. Từ đó, Bộ Công Thương đề xuất phương án sửa đổi Nghị định 83 cho phù hợp.
Trước đó, ngày 29/4, Bộ Công Thương đã có văn bản gửi Chính phủ về cách tính thuế nhập khẩu xăng, dầu. Bộ Công Thương cho rằng, phương pháp tính thuế nhập khẩu bình quân gia quyền chưa phản ánh đúng tinh thần điều hành giá xăng, dầu, chưa đúng diễn biến giá thế giới, có thời điểm giá xăng dầu trong nước ngược chiều thế giới.
Nhưng theo Bộ Tài chính, hiện Việt Nam có 3 loại thuế với xăng dầu nhập khẩu, gồm: Thuế suất ưu đãi (MFN), thuế suất ưu đãi đặc biệt theo các FTA và thuế suất thông thường. Vì vậy, việc dùng 1 trong 3 loại thuế suất này, hoặc thuế bình quân để tính giá cơ sở xăng dầu đều phù hợp quy định.
Ngoài ra, hiện nay các mức thuế nhập khẩu xăng dầu khác nhau giữa các thị trường, có nước ký FTA với Việt Nam, có nước không ký, và các FTA cũng có mức thuế khác nhau.
Theo Bộ Tài chính, mặt hàng xăng dầu luôn được đưa vào danh mục loại trừ hoặc nhạy cảm cao. Để đạt được các mức thuế suất ưu đãi đặc biệt trong các cam kết FTA rất khó khăn, phải có sự đánh đổi về lợi ích từ các ngành khác.
Vì vậy, việc đồng nhất ngay các mức thuế suất ưu đãi MFN của xăng dầu theo mức thấp nhất trong các cam kết FTA, Bộ Tài chính cho là không hợp lý, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, các cam kết với nhà máy trong nước.
Theo Bộ Công Thương, tính thuế bình quân gia quyền có thể ảnh hưởng tới tiêu thụ xăng dầu của các nhà máy trong nước. Nhưng theo Bộ Tài chính, để tháo gỡ khó khăn cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, bộ này đang phối hợp với các bộ ngành báo cáo Thủ tướng sửa đổi cơ chế ưu đãi tài chính cho nhà máy. Theo đó, hướng sửa là cho nhà máy Dung Quất được quyền quyết định giá bán để cạnh tranh với hàng nhập khẩu. (Tiền Phong 24/6) đầu trang(
Phát biểu tại phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật sáng 23/6, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, kiên quyết không để tình trạng lợi ích nhóm chi phối chính sách.
Phiên họp diễn ra một ngày, với sự tham dự của các Phó Thủ tướng và các thành viên Chính phủ; Lãnh đạo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các cơ quan hữu quan.
Theo tổng hợp của Văn phòng Chính phủ về tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành các Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 và các văn bản thi hành Luật Đầu tư sửa đổi và Luật Doanh nghiệp sửa đổi thì tổng số văn bản cần ban hành là 51 văn bản, số văn bản đã ban hành là 31, số văn bản còn phải ban hành là 30 văn bản.
Trong 30 văn bản này thì 26 văn bản đã trình Thủ tướng Chính phủ. Về cơ bản các bộ, ngành đã đẩy nhanh tiến độ xây dựng văn bản theo chỉ đạo của Chính phủ.
Về công tác chuẩn bị dự thảo các nghị định quy định điều kiện đầu tư kinh doanh, quy định chi tiết Luật Doanh nghiệp sửa đổi và Luật Đầu tư sửa đổi , số văn bản cần ban hành là 50 Nghị định, đã có 49 dự thảo Nghị định đang trình Chính phủ.
Các dự thảo đa số đã lấy ý kiến các thành viên Chính phủ. Văn phòng Chính phủ đã phối hợp với Bộ Tư Pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức nhiều cuộc họp và nhiều buổi lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp trên cơ sở ý kiến góp ý của VCCI và Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.
Tại buổi làm việc, Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc đề nghị cần xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành các luật theo hướng: Những vấn đề còn băn khoăn giữa tiền kiểm với hậu kiểm, giữa việc nên để Nhà nước quy định hay các tổ chức xã hội quy định thì nên theo hướng để các tổ chức xã hội nghề nghiệp quy định để giảm tải cho hoạt động quản lý Nhà nước.
Trong quá trình xây dựng các văn bản cần tham khảo mô hình của các nước trong khu vực có điều kiện kinh tế-xã hội tương tự như Việt Nam để trên cơ sở đó có thể chế phù hợp với đặc thù của đất nước.
Theo quy định, kể từ ngày 1/7/2016 khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực, cần phải ban hành kịp thời tất cả các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh. Bởi lẽ theo quy định của luật này, các văn bản quy định chi tiết thi hành sẽ hết hiệu lực cùng với luật, pháp lệnh hết hiệu lực.
Nếu không ban hành kịp thời sẽ tạo “khoảng trống pháp lý” tác động rất lớn đến công tác quản lý điều hành và thực hiện các quyền con người, quyền công dân và môi trường đầu tư kinh doanh.
Phát biểu tại buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, việc chuẩn bị cho một loạt luật có hiệu lực từ 1/7 là khối lượng công việc rất lớn.
Nhắc lại chủ trương xây dựng Chính phủ kiến tạo, Thủ tướng cho rằng, nhiệm vụ xây dựng thể chế là rất quan trọng, với mục tiêu phải tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Thể chế đó cũng phải gỡ bỏ rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kiên quyết không để tình trạng lợi ích nhóm chi phối chính sách. Việc xây dựng cơ chế chính sách, ngoài việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân, thì cũng cần chú ý đến hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường.
B iểu dương các Bộ thời gian qua đã có nhiều cố gắng xây dựng thể chế, nhất là các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành các Luật có hiệu lực từ ngày 1/7 tới, Thủ tướng yêu cầu các Bộ rà soát, cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh, các giấy phép con bất hợp lý; đặc biệt không đặt ra các quy định mới gây khó khăn đối với đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thủ tướng cũng yêu cầu các Bộ ban hành các điều kiện kinh doanh đúng luật, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Tinh thần là đảm bảo chất lượng các văn bản luật, không chạy theo số lượng.
“Thời điểm này vẫn còn thời gian, nên các Bộ phải tiếp tục cập nhật, công khai các dự thảo trên các phương tiện truyền thông, các cổng thông tin điện tử để các đối tượng chịu sự điều chỉnh góp ý.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan thường trực thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp phải tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành rà soát, tiếp thu các góp ý để chất lượng của luật được thể hiện ở các văn bản sắp ban hành”, Thủ tướng chỉ đạo.
Thủ tướng nhấn mạnh, tinh thần là không được “sao chép nguyên xi” những quy định cũ cho vào nghị định mới, mà cần có giải pháp tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp một cách thực chất.
Hoan nghênh các cơ quan liên quan, nhà đầu tư, doanh nghiệp đã quan tâm, góp ý vào quá trình xây dựng các nghị định hướng dẫn quan trọng này, Thủ tướng yêu cầu các cơ quan liên quan tiếp tục tổng hợp, tiếp thu để hoàn thiện các dự thảo.
“Văn bản nào sau này ban hành mà có sai sót, phải sửa đổi thì Bộ trưởng chủ trì phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh.
Khẳng định đây là trách nhiệm nặng nề của các thành viên Chính phủ, Thủ tướng đề nghị, sau cuộc họp này, nếu còn ý kiến góp ý, các Bộ ngành tiếp tục nghiên cứu tiếp thu, nhất là các ý kiến từ phía các tổ chức xã hội, các hiệp hội, ngành nghề để hoàn thiện dự thảo, đảm bảo tính thực thi cao của văn bản sau khi được ban hành. (Thanh Niên 24/6; Sài Gòn Giải Phóng 24/6; Chính Phủ 24/6) đầu trang(
Cộng đồng doanh nghiệp (DN) đang nóng lòng chờ đợi đến ngày 1/7 Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành quyết định bãi bỏ tất cả các điều kiện kinh doanh (ĐKKD) trong các thông tư trái với quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Đây là bước đi đầu tiên thực hiện Nghị quyết 35 ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020.
Tính đến nay có 4.000 điều kiện kinh doanh trái luật. Một DN bị “trói” bởi nhiều loại dây: Điều kiện kinh doanh do các thông tư ban hành trái luật, nghị định hướng dẫn trái luật…
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ĐKKD”.
Một số nghị định của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp cũng đã nêu rõ: Các văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành hoặc các cấp chính quyền địa phương ban hành mà không căn cứ vào luật, pháp lệnh, nghị định quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ĐKKD các ngành, nghề đó đều không có hiệu lực thi hành”.
Vậy mà hơn 10 năm qua, ĐKKD do các bộ, ngành và chính quyền địa phương ban hành trái luật chẳng những không giảm mà còn tăng đến mức không ngờ. Tính đến thời điểm này, đã có 4.000 ĐKKD trái luật. Số lượng rào cản lớn như thế, dây trói nhiều vòng như thế thì DN Việt “chết” yểu với tỷ lệ cao so với tỷ lệ đăng ký mới là điều không có gì ngạc nhiên cả!
Đại hội Đảng lần thứ 12 đề ra mục tiêu: Đến năm 2020, Việt Nam phải  có 1 triệu DN hoạt động. Vì thế, khoảng thời gian còn lại hơn 3 năm, chúng ta phải phấn đấu thêm trên 50 vạn DN hoạt động vào đích 2020. Hiện tại, mới có khoảng gần 50 vạn DN đang chống chèo vượt khó. Nghị quyết 35 là cú hích để hướng tới mục đích này.
Với phương châm, giải pháp gỡ khó nhanh cho DN, thời gian qua đã có rất nhiều hội nghị, hội thảo với sự có mặt của nhiều nhà quản lý, nhà luật, nhà DN… Một tiếng nói chung đã đạt được: Nếu không thực hiện đúng các quy định đã nêu trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư… thì năng lực cạnh tranh của DN Việt chắc chắn không được nâng lên. Đặc biệt môi trường kinh doanh ở Việt Nam sẽ không cải thiện được để tạo nên sức thu hút đầu tư lớn.
Bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế giàu kinh nghiệm cảnh báo: “Các bộ, ngành đang chuyển các điều kiện kinh doanh từ thông tư lên nghị định, có nghĩa một nghị định sẽ bao hàm nội dung của nhiều thông tư trước đây.
Như vậy, các ĐKKD có cơ hội biến tướng ở văn bản cấp cao hơn”. Luật pháp quy định các thông tư chỉ có quyền hướng dẫn chứ không được “lấn sân” đưa ra điều kiện thêm cho các luật.
Được biết, trên cơ sở chuẩn bị của các bộ, hiện nay đã có 51 nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết 2 Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp. Trong đó, Bộ Tư pháp đã thẩm định 49 Nghị định.
Tại cuộc họp về xây dựng các Nghị định thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư hôm 22/6, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng nhấn mạnh, nghị định ban hành ra phải đi vào thực tiễn cuộc sống với tinh thần là cởi trói, tháo gỡ những khó khăn của doanh nghiệp để đầu tư phát triển, bỏ giấy phép con.
Những quy định nếu thấy không phải là những điều kiện kinh doanh thì đều phải gạt bỏ trước khi trình Thủ tướng ký ban hành. “Chúng ta bảo đảm về tiến độ nhưng cũng bảo đảm về chất lượng. Ranh giới giữa điều kiện kinh doanh với quy chuẩn kỹ thuật thì quan điểm là thà bỏ sót còn hơn đưa vào nghị định để trói buộc”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nêu quan điểm.
Tạo cú hích đầu tiên, Bộ Tài chính chuẩn bị trình Chính phủ việc triển khai thực hiện Nghị quyết 35. Theo đó, Bộ dự kiến trình 2 phương án xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2016). Phương án 1: Áp dụng thuế suất phổ thông 17% từ 1/1/2016 đến hết năm 2020 cho DN vừa và nhỏ. Phương án 2: Áp dụng thuế phổ thông 15% từ 1/1/2016 đến 2020 (mức thuế phổ thông hiện nay đang áp dụng là 20%).
Từ trước đến nay, cộng đồng DN là đội ngũ tạo ra được nhiều việc làm cho xã hội, đó là cơ sở để đảm bảo an sinh, đời sống xã hội. Đồng thời, đội ngũ này cũng chính là lực lượng lao động cơ bản đóng góp nhiều cho ngân sách xã hội.
Thời gian qua, chúng ta đã nhìn nhận đầy đủ, chính xác vai trò, vị trí của cộng đồng DN trong sự phát triển kinh tế đất nước. Tiếc là các giải pháp, chính sách khích lệ, động viên tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cho DN vẫn chưa được thực thi đúng mực, cho nên đóng góp của cộng đồng DN chưa tương xứng với tiềm năng. Chúng ta hy vọng sự đổi thay lớn từ Nghị quyết 35. (Thanh Tra 24/6) đầu trang(
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Công Thương cùng các Bộ, ngành liên quan và các địa phương có hoạt động khai thác và kinh doanh than tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác, kinh doanh than, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hoạt động kinh doanh than trái phép theo quy định của pháp luật.
Đồng thời chỉ đạo các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh than thực hiện đúng quy định của pháp luật về đầu tư, khai thác tài nguyên và các quy định liên quan đến thuế, phí tài nguyên.
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính có biện pháp quản lý chặt chẽ việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng liên quan đến việc mua bán than để kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp mua bán hóa đơn không có nguồn gốc hợp pháp.
Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm khoanh định và công bố khu vực khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đối với khoáng sản than để Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, cấp phép hoạt động khoáng sản theo quy định. (Chính Phủ 23/6) đầu trang(
Nghị định 39/2016/NĐ-CP quy định trách nhiệm hỗ trợ của cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề đối với học sinh, sinh viên bị tai nạn lao động trong thời gian thực hành theo Khoản 3 Điều 70 Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Cụ thể, cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề đối với học sinh, sinh viên bị tai nạn lao động trong thời gian thực hành kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho học sinh, sinh viên bị tai nạn.
Bên cạnh đó, thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho học sinh, sinh viên bị tai nạn gồm: Tạm ứng và thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với học sinh, sinh viên tham gia bảo hiểm y tế; thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với học sinh, sinh viên không tham gia bảo hiểm y tế.
Đồng thời, giới thiệu để học sinh, sinh viên bị tai nạn lao động được giám định y khoa xác định mức độ tổn thương cơ thể tại Hội đồng giám định y khoa và thanh toán phí khám, giám định mức độ tổn thương cơ thể.
Hỗ trợ 1 lần bằng tiền cho học sinh, sinh viên bị tai nạn lao động với mức như sau:
- Ít nhất bằng 0,6 lần mức lương cơ sở nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% mức suy giảm khả năng lao động được hỗ trợ thêm 0,16 lần mức lương cơ sở nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
- Ít nhất bằng 12 lần mức lương cơ sở cho học sinh, sinh viên bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân học sinh, sinh viên bị chết do tai nạn lao động.
- Thực hiện hỗ trợ đối với học sinh, sinh viên bị tai nạn lao động trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày có giấy báo tử đối với trường hợp bị chết do tai nạn.
Đối với những trường hợp học sinh, sinh viên là người lao động do người sử dụng lao động cử đi học thì cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề có trách nhiệm: Thực hiện trách nhiệm đối với học sinh, sinh viên quy định nêu trên; phối hợp với người sử dụng lao động để khai báo, điều tra, báo cáo tai nạn lao động theo đúng quy định tại Luật An toàn, vệ sinh lao động và Nghị định này. (Chính Phủ 22/6) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Yêu cầu hàng đầu này được Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng nêu lên tại phiên bế mạc Hội nghị Thành ủy TP.HCM lần thứ 6 diễn ra trong hai ngày 22 và 23-6.
Bí thư Đinh La Thăng đánh giá 6 tháng đầu năm, kinh tế TP tăng trưởng khá nhưng vẫn còn khó khăn. Để giải quyết những vấn đề bức xúc của dân, ông Thăng đưa ra nhiều giải pháp trọng tâm trong 6 tháng cuối năm. Trong đó, ông nhấn mạnh: “Phải công khai, minh bạch, xã hội hóa các dịch vụ công, rút ngắn thời gian 
giải quyết hồ sơ...”.
Theo ông Đinh La Thăng, công khai, minh bạch chính là hướng chủ đạo trong đẩy mạnh và quyết liệt thực hiện cải cách hành chính đồng bộ, chặt chẽ ở các cấp, các ngành. Ông cũng đồng thời yêu cầu tăng cường phân cấp, ủy quyền nhằm nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của thủ trưởng các sở - ngành, quận - huyện. “Phải khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau” - Bí thư Thành 
ủy nhấn mạnh.
Đối với vấn đề quy hoạch đô thị, ông Thăng yêu cầu đẩy nhanh công tác rà soát, điều chỉnh quy hoạch, phát triển không gian đô thị theo hướng Tây Bắc - Củ Chi, Cần Giờ để khai thác tối đa tiềm năng của thành phố.
Tổ chức triển khai bảo đảm chất lượng, tiến độ các công trình giao thông trọng điểm. Huy động nguồn lực trong và ngoài nước, mời gọi đầu tư theo phương thức hợp tác công - tư để triển khai thực hiện 7 chương trình đột phá.
Trong đó, Bí thư Đinh La Thăng nhấn mạnh phải tháo gỡ vướng mắc về thủ tục để đẩy nhanh tiến độ bán đấu giá các mặt bằng nhà đất sử dụng không đúng công năng, bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển của địa phương.
Thực hiện di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, có nguy cơ cháy nổ cao; nhà ở trên và ven kênh rạch; cải tạo, xây dựng mới để thay thế các chung cư cũ, hư hỏng nặng, triển khai các dự án nhà ở xã hội, đáp ứng nhu cầu nhà ở của nhân dân. Và hoàn thành chỉ tiêu cấp nước sạch 100% hộ dân thành phố trong tháng 11-2016...
Về vấn đề liên kết vùng, ông Thăng yêu cầu phải chủ động phối hợp với các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh, Bến Tre, Tiền Giang để thực hiện chỉ đạo của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng về liên kết vùng và những việc liên quan đến thành phố.
Đồng thời phối hợp tốt với các cơ quan trung ương, địa phương liên quan để nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách đột phá, thực hiện thí điểm đối với những vấn đề phát sinh từ thực 
tiễn thành phố.
Nhấn mạnh về tinh thần phục vụ nhân dân, Bí thư Đinh La Thăng nói: “Phải luôn quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân, hợp lòng dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân”. Đây là yêu cầu tiên quyết trong việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần thứ 10 về công tác vận động nhân dân.
Muốn làm được điều đó, theo ông Đinh La Thăng, các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền... phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân.
“Phải tin dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến. Có hình thức, cơ chế, biện pháp cụ thể, thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình. Trân trọng, tôn vinh những đóng góp, hiến kế của nhân dân...” - bí thư 
Thành ủy nhắc nhở.
Ông Đinh La Thăng yêu cầu cần phải thực hiện nghiêm quy chế lấy ý kiến nhân dân về ban hành một số chủ trương, nghị quyết, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và trách nhiệm của nhân dân. “Chúng ta phải phục vụ nhân dân và doanh nghiệp vô điều kiện.
Đảm bảo công khai, minh bạch, chống phiền hà, nhũng nhiễu, tiêu cực; sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân” - ông Thăng nói.
Cuối cùng, Bí thư Đinh La Thăng yêu cầu kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng, hách dịch, cửa quyền và năng lực, phẩm chất kém. Đây là vấn đề mà trong bài phát biểu bế mạc hội nghị, ông Đinh La Thăng đã nhắc đến hai lần.
Trước đó, khi nói về việc nâng cao công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, ủy ban kiểm tra, ông Đinh La Thăng đã thẳng thắn chỉ ra một số ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra còn nể nang, ngại đấu tranh, sợ trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
“Việc kiểm tra, giám sát đối với các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, cấp ủy viên cùng cấp, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền còn ít” - Bí thư Đinh La Thăng đánh giá. (Tuổi Trẻ 24/6) đầu trang(
Thực hiện Nghị quyết 35 của Chính phủ về phát triển doanh nghiệp (DN) đến năm 2020, Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ phương án giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) với doanh nghiệp vừa và nhỏ về mức 15% hoặc 17% (thuế suất phổ thông hiện hành là 20%).
Với một đất nước mà hơn 90% DN là DN vừa và nhỏ và Chính phủ đang khuyến khích các cá nhân tham gia khởi nghiệp, việc ưu đãi thuế là điều cần thiết vì bản chất, đây là những đối tượng gặp nhiều khó khăn, dễ bị tổn thương, còn cá nhân khởi nghiệp thì khả năng thành công vốn bị đánh giá là không chắc chắn.
Thuế suất hợp lý sẽ giúp DN có thêm động lực đầu tư, có thêm lợi nhuận, khi đó DN cũng bớt phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng. Nếu hoạt động hiệu quả, DN cũng sẽ thực hiện tốt nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Việc đề xuất giảm thuế lần này có thể sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách của giai đoạn 2016-2020, nhưng thực tế cho thấy, việc bù đắp hoàn toàn có thể đến từ các loại thuế gián thu và thuế thu nhập cá nhân, vì số tiền thuế được giảm sẽ được sử dụng vào đầu tư, sản xuất kinh doanh. Minh chứng cho điều này là lần sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TNDN năm 2013 (Luật 32/2013/QH13).
Khi đó, để bảo vệ quan điểm giảm thuế suất TNDN (giảm từ 25% xuống còn 22%), Bộ Tài chính dẫn các số liệu cho biết, từ năm 2009 đến năm 2011, mặc dù nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn thách thức, thuế suất TNDN giảm từ 28% xuống còn 25%, nhưng số thu ngân sách về thuế TNDN vẫn bảo đảm tăng trưởng.
Cụ thể, trong giai đoạn 2009-2012, số thu thuế TNDN (không kể thu từ dầu thô) đạt mức bình quân khoảng 90.000 tỷ đồng/năm với mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 25% (năm 2009 đạt 52.191 tỷ đồng, năm 2010 là 82.297 tỷ đồng, năm 2011 là 96.600 tỷ đồng và năm 2012 là 129.391 tỷ đồng). Còn xét về tổng thể, ngay trong năm đầu thực hiện Luật 32/2013/QH13 (bắt đầu từ 1-1-2014), thu ngân sách vẫn tăng hơn 80.000 tỷ đồng so với dự toán.
Cùng với việc giảm thuế, Bộ Tài chính cũng đề xuất, đối với DN khởi nghiệp mới thành lập đáp ứng các điều kiện ưu đãi thuế hiện hành sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo với dự án đầu tư mới của DN khởi nghiệp tại các địa bàn đặc biệt khó khăn, khu vực khuyến khích đầu tư...
Tuy nhiên, tại nhiều hội thảo, các chuyên gia đều cho rằng, ưu đãi thuế không đi kèm với các quy định minh bạch sẽ gây méo mó và dễ dẫn đến lợi dụng.
Trong một kiến nghị gửi đến Thủ tướng Chính phủ mới đây, Hiệp hội Công thương TP Hà Nội cho rằng, ưu đãi về thuế cần rõ ràng. Bởi nhiều khi, để được hưởng các khoản ưu đãi về thuế, DN phải vượt qua các thủ tục và điều kiện rất phức tạp cho nên khó thực thi. Do đó, hiệp hội này kiến nghị cần nghiên cứu đơn giản hóa các thủ tục và điều kiện để các biện pháp ưu đãi cho DN có thể đi vào cuộc sống.
Ngoài ra, giảm thuế cũng phải đi đôi với cải cách chính sách thuế và quản lý thực thi chính sách phải bảo đảm thu đúng, thu đủ thuế cho ngân sách nhà nước. Cần thống nhất nguyên tắc chi phí được trừ vào thu nhập tính thuế TNDN, kèm theo danh mục chi phí không được trừ, nên rõ ràng, minh bạch hơn các khoản chi phí không được trừ.  Nghị quyết 19 (về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh) và Nghị quyết 35 đều có tính đến tháo gỡ khó khăn của DN, hướng tới cải cách hành chính tốt nhất cho DN và việc giảm thuế, ưu đãi thuế là những bước đi quan trọng. Tuy nhiên, chính sách dù tốt cũng phải đi kèm với những biện pháp cải cách, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính để quy định đi vào cuộc sống.
Song thủ tục hành chính của ngành tài chính cũng liên quan đến thủ tục hành chính của các bộ, ngành khác, cho nên phải có sự chủ động, sửa đổi thể chế và cần có thời gian để các thủ tục hành chính chuyển đổi theo, kể cả việc đào tạo lại cán bộ công chức cho phù hợp, nâng cao kỷ cương trong thi hành công vụ thông qua việc giám sát thực thi. (Sài Gòn Giải Phóng 23/6) đầu trang(

THAM NHŨNG- LÃNG PHÍ
Có khoảng 7.000 xe công dôi dư sau khi rà soát tiêu chuẩn, định mức về chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Theo tính toán của Bộ Tài chính, kinh phí ngân sách phải trả để "nuôi" một xe ô tô công lên tới 310 triệu đồng/năm.
Vì vậy, sử dụng xe công đúng tiêu chuẩn định mức, điều chuyển phù hợp số xe dôi dư sau rà soát, tránh lãng phí ngân sách nhà nước (NSNN) là việc cần nhanh chóng triển khai.
Báo cáo kết quả thực hành tiết kiệm chống lãng phí năm 2015, do Bộ Tài chính, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đầu tháng 6 cho thấy, các bộ, ngành, địa phương đã kiểm soát chặt chẽ chi tiêu công liên quan đến mua sắm tài sản nhà nước (TSNN), nhất là mua sắm xe ô tô.
Tuy nhiên, qua triển khai Quyết định 32/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 159/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, về tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, dự kiến dôi ra khoảng 7.000 xe ô tô công.
Con số này cho thấy, còn khá nhiều xe công được trang bị không đúng tiêu chuẩn định mức. Đặc biệt, kinh phí NSNN mỗi năm phải chi để nuôi số xe công dư thừa này không hề nhỏ.
Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về TSNN, chi phí bình quân nuôi một xe công khoảng 310 triệu đồng/năm, bao gồm: Lương, công tác phí cho lái xe khoảng 70 triệu đồng, nhiên liệu 100 triệu đồng, khấu hao xe 80 triệu đồng, bảo hiểm, chi phí sửa chữa… khoảng 60 triệu đồng.
Trong khi, việc sử dụng xe công vào mục đích riêng, sử dụng xe sai đối tượng diễn ra khá phổ biến. Việc tổ chức khoán xe công hầu như "dậm chân tại chỗ", vì chế độ khoán 10 triệu đồng/tháng cho một chức danh đủ tiêu chuẩn, được cho là không hấp dẫn.
Tại cuộc họp báo chuyên đề mới đây của Bộ Tài chính về mua sắm TSNN theo phương thức tập trung, ông Nguyễn Tân Thịnh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính) cho biết, để nâng cao hiệu quả quản lý TSNN, trong đó có xe ô tô công, tới đây sẽ thực hiện mua sắm tập trung (MSTT) tài sản công.
Bên cạnh đó, sẽ công khai nhu cầu mua sắm, kế hoạch lựa chọn nhà thầu, kết quả mua sắm, thậm chí công khai cả khoản hoa hồng, khuyến mãi của nhà cung cấp... nhằm minh bạch hóa quy trình này. Phương thức MSTT, qua thực hiện thí điểm đã giúp khắc phục tình trạng mua sắm TSNN vượt tiêu chuẩn, vượt định mức.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, khi thực hiện Quyết định 32/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, áp dụng định mức mỗi đơn vị chỉ được sử dụng 1-2 xe công và áp dụng phương pháp mua sắm TSNN theo phương thức tập trung, NSNN sẽ cắt giảm được khoảng 15% tổng giá trị mua sắm công mỗi năm.
Với giá trị mua sắm công mỗi năm chiếm khoảng 20% chi NSNN, tương đương khoảng 200.000 tỷ đồng/năm, số tiền tiết kiệm được khi thực hiện phương thức MSTT tương đương 30.000 tỷ đồng/năm.
Theo phương án được Chính phủ nêu trong tờ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 7.000 xe công dôi dư sau khi rà soát tiêu chuẩn định mức sẽ được điều chuyển cho các cơ quan, đơn vị còn thiếu xe. Số còn lại sẽ bán, thanh lý, thu tiền nộp NSNN theo quy định.
Bình luận về thực trạng xe ô tô công bị sử dụng sai mục đích, gây bức xúc trong dư luận, ông Đỗ Mạnh Hùng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, vai trò giám sát của người dân rất quan trọng.
Khi dư luận nhân dân có ý kiến, các cơ quan chức năng phải có trách nhiệm xem xét, kiểm tra. Khi có thông tin của người dân, các đại biểu Quốc hội sẽ có cơ sở để yêu cầu làm rõ và trên cơ sở đó xử lý thích đáng theo quy định của pháp luật.
Trước thực tế hằng năm NSNN phải dành một khoản không nhỏ để mua sắm, trang bị thêm xe ô tô công, ông Đỗ Mạnh Hùng cho rằng, cần phải chấn chỉnh bệnh nể nang khi phê duyệt mua sắm xe công.
"Nếu chúng ta cùng nghiêm túc thực hiện và công khai cho nhân dân giám sát, tôi tin rằng sẽ hạn chế được hiện tượng lãng phí xe công. Để việc sử dụng xe công đúng mục đích, nên chú trọng 3 giải pháp. Thứ nhất, phải rà soát tiêu chuẩn được sử dụng xe công. Tiếp đó, tăng cường và làm rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên trách quản lý vấn đề này. Bởi, người "gác cửa" không hoàn thành nhiệm vụ thì vấn đề lãng phí xe công khó được giải quyết.
Đặc biệt, phải xem xét trách nhiệm trực tiếp của người sử dụng xe công, đồng thời công khai, minh bạch các đối tượng, tiêu chuẩn sử dụng xe công để người dân biết việc sử dụng có đúng đối tượng, đúng mục đích hay không. Nếu thực hiện tốt các giải pháp đó sẽ góp phần chấn chỉnh việc quản lý và sử dụng xe công" - ông Hùng nhấn mạnh. (Hà Nội Mới 24/6) đầu trang(
Khi còn là Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hậu Giang, dù không có chế độ xe công nhưng ông Tươi vẫn dùng ôtô cơ quan trong việc đưa rước và vào việc riêng.
Thanh tra tỉnh Hậu Giang ngày 22/6 đã có kết luận, yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh thu hồi gần 30 triệu đồng tiền xăng xe phục vụ đưa rước ông Lê Hoàng Tươi, nguyên giám đốc đơn vị này, vừa về hưu.
Theo đó, khi còn là Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hậu Giang, ông Tươi đã sử dụng xe công không đúng mục đích. Dù không có chế độ nhưng ông Tươi vẫn sử dụng xe công từ nhà đến cơ quan và vào việc riêng.
Kết luận còn nêu việc quản lý, thu chi tài chính của sở chưa chặt chẽ dẫn đến sai sót như lập chứng từ nhưng không có thông báo lịch làm việc, giấy mời và bảng chấm công. Lĩnh vực đầu tư xây dựng và mua trang thiết bị để xảy ra nợ đọng lớn, như công trình trường Cao đẳng Cộng đồng còn nợ gần 15 tỷ đồng. Chủ đầu tư thiếu kiểm tra, đôn đốc nên nhiều công trình cơ bản bị chậm tiến độ…
Trao đổi với VnExpress, ông Lê Hoàng Tươi cho biết, năm 2004, khi chia tách tỉnh Cần Thơ và Hậu Giang, vì đa số cán bộ ở tỉnh mới Hậu Giang là người Cần Thơ nên lãnh đạo tỉnh có thỏa thuận cho phép xe đưa rước những người đứng đầu các sở ngành đi làm việc vào đầu tuần, cuối tuần đưa về.
"Ngặt một nỗi là việc này không có văn bản. Cơ quan thanh tra lấy điển hình một vài lần rồi nhân ra số tuần, số tháng trong hai năm tôi làm giám đốc sở mới ra hơn 29 triệu tiền xăng, chứ ngày nào cũng đưa rước hết thì tiền xăng nào chịu nổi", ông Tươi nói và thừa nhận có những lúc đi công tác gần Cần Thơ vào buổi chiều, khi xong việc, vì tiện đường nên ông bảo tài xế đưa về nhà luôn.
"Còn việc nợ đọng tại công trình trường Cao đẳng Cộng đồng là trách nhiệm của đời giám đốc trước. Khi tôi về thì công trình này đã đưa vào sử dụng", ông Tươi nói và cho biết sẽ có văn bản giải trình rõ ràng đến UBND tỉnh.
Trước đây, thanh tra tỉnh Hậu Giang từng yêu cầu lãnh đạo một số đơn vị cấp sở xuất toán hàng chục triệu đồng tiền xăng vì sử dụng xe công không đúng mục đích và vượt chế độ quy định. "Số tiền không lớn nhưng phải xử lý nghiêm để răn đe, nhắc nhở việc sử dụng xe công đúng mục đích, tiết kiệm ngân sách nhà nước, tránh lãng phí", một cán bộ thanh tra Hậu Giang nói. (Thanh Tra 23/6) đầu trang(

NHÂN SỰ
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình vừa tổ chức công bố các quyết định, thông báo về công tác cán bộ. Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã điều động, bổ nhiệm 6 cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý.
Cụ thể, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình đã bổ nhiệm 4 vị trí gồm giám đốc Sở Ngoại vụ, phó trưởng ban Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, phó trưởng ban Ban Dân tộc Tỉnh ủy, phó chánh văn phòng Văn phòng HĐND; điều động phó giám đốc Sở Tài chính, phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo.
Đồng chí Trần Công Thuật, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Quảng Bình trao quyết định và chúc mừng các đồng chí được điều động, bổ nhiệm, nhận nhiệm vụ, công tác mới lần này.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy tin tưởng giao cho nhiệm vụ, công tác mới cho các đồng chí, hy vọng trên cương vị công tác mới, các đồng chí sẽ cùng với tập thể lãnh đạo cơ quan, địa phương có những cách làm mới, sáng tạo, tạo sức bật để cùng với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020.
Tại buổi công bố các quyết định, thông báo về công tác cán bộ, các đồng chí được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển nhận nhiệm vụ, công tác mới lần này đã bày tỏ sự đồng thuận, nhất trí với phân công công tác của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; cảm ơn Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tin tưởng giao nhiệm vụ, trọng trách mới. Các đồng chí cũng đã ký cam kết trách nhiệm và xử lý trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy. (Xây Dựng Đảng 23/6) đầu trang(
Ngày 23/6, tại kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh Sơn La khóa XIV, nhiệm kỳ 2016 - 2021, ông Hoàng Văn Chất, Bí thư Tỉnh ủy Sơn La đã tái cử chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La với số phiếu tín nhiệm đạt 98,61%.
Ông Hoàng Văn Chất sinh ngày 25/8/1959, quê quán xã Trực Tĩnh, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Trình độ chuyên môn là kỹ sư nông nghiệp, trình độ lý luận chính trị là cử nhân, hiện là Bí thư Tỉnh ủy Sơn La.
Cũng tại kỳ họp này, các đại biểu HĐND tỉnh đã bầu ông Bùi Minh Sơn (Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La khóa XIII) và bà Nhâm Thị Phương (Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh khóa XIII) làm Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La khóa XIV; thông qua Nghị quyết thành lập Ban Dân tộc của HĐND tỉnh và bầu các chức danh khác của HĐND.
Các đại biểu dự kỳ họp cũng bầu Chủ tịch, 5 Phó Chủ tịch và 20 Ủy viên UBND tỉnh; bầu Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tỉnh, nhiệm kỳ 2016-2021. Ông Cầm Ngọc Minh - Phó Bí thư Tỉnh ủy Sơn La tái đắc cử chức danh Chủ tịch UBND tỉnh khóa XIV. Ông Cầm Ngọc Minh, sinh ngày 1/1/1959, dân tộc Thái, quê quán xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Cử nhân Học viện Báo chí và Tuyên truyền; trình độ lý luận chính trị cao cấp.
Các ông, bà: Tráng Thị Xuân, Phạm Văn Thủy, Bùi Đức Hải, Nguyễn Quốc Khánh, Lò Minh Hùng tái đắc cử chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh. HĐND tỉnh Sơn La cũng bầu các ủy viên UBND tỉnh khóa XIV gồm 20 người (khuyết 1 ủy viên là Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông).
Phát biểu tại kỳ họp, Bí thư Tỉnh ủy Sơn La, Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La khóa XIV Hoàng Văn Chất cảm ơn sự tín nhiệm đồng thời đánh giá cao tinh thần dân chủ, trách nhiệm cao của các vị đại biểu HĐND tỉnh. Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Hoàng Văn Chất khẳng định sẽ cùng với các đồng chí vừa được tín nhiệm bầu giữ các chức vụ mới nỗ lực hết mình, không ngừng phấn đấu, rèn luyện, phát huy tinh thần đoàn kết, chịu trách nhiệm trước Đảng, trước cử tri và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XIV; sớm đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng trung du và miền núi phía Bắc. (Đảng Cộng Sản VN 23/6) đầu trang(

KINH TẾ
Hiện Tổng cục Thống kê đang khẩn trương chuẩn bị các điều kiện để từ năm 2017 trở đi chính thức biên soạn và công bố số liệu GRDP. Theo kế hoạch, năm 2016 Tổng cục Thống kê thực hiện “tính thử” số liệu GRDP cho các địa phương để rút kinh nghiệm cho việc tính chính thức vào năm 2017.
TS. Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chia sẻ điều này khi trao đổi với PV Báo điện tử Chính phủ về tình trạng chênh lệch số liệu GDP giữa Trung ương và địa phương.
Theo ông, trong các chỉ tiêu kinh tế thì Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Chỉ tiêu GDP được tính theo 2 loại giá là giá so sánh và giá hiện hành. Mỗi cách tính phục vụ một mục đích nghiên cứu khác nhau. Cụ thể, khi nghiên cứu cơ cấu sản xuất của nền kinh tế, chỉ tiêu GDP được tính theo giá hiện hành; song để đánh giá tốc độ tăng trưởng qua thời gian, chỉ tiêu GDP được tính theo giá so sánh, để loại trừ tác động của sự thay đổi theo giá cả.
Trong những năm gần đây, Cục Thống kê cấp tỉnh tính toán và công bố chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (GRDP) phục vụ cho yêu cầu quản lý, điều hành về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Tuy nhiên, GDP là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và phương pháp luận chỉ phù hợp tính cho toàn bộ nền kinh tế, nên phần lớn các nước chỉ tính GDP cho phạm vi cả nước. Nhưng có một số nước như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… và Việt Nam tính GDP cho phạm vi cấp tỉnh. Chính sự vận dụng “sáng tạo” này đã dẫn đến những con số chênh lệch “dở khóc, dở cười”, TS. Nguyễn Bích Lâm nói.
Ông dẫn chứng, năm 2011, GDP của cả nước do Tổng cục Thống kê công bố, được các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế thống nhất sử dụng chỉ tăng 6,24% so với năm 2010.
Trong khi đó, tốc độ tăng Tổng sản phẩm trên địa bàn của địa phương (GRDP) hầu hết đều cao hơn tốc độ tăng chung của cả nước. Trong số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ 2 địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp hơn cả nước; 61 địa phương khác cao hơn tốc độ tăng 6,24% do Tổng cục Thống kê công bố, trong đó 27 địa phương có tốc độ tăng trên 10%.
Nếu theo số liệu GRDP do địa phương tính toán và công bố thì tốc độ tăng GDP của cả nước năm 2011 lên tới 10,81%, gấp 1,73 lần tốc độ tăng chung do Tổng cục Thống kê biên soạn và công bố.
Tương tự, tốc độ tăng GDP của cả nước tính từ số liệu GRDP của các địa phương năm 2012 là 9,13%, gấp 1,74 lần so với tốc độ tăng 5,25% do Tổng cục Thống kê biên soạn. Đáng chú ý là mặc dù năm 2012 kinh tế thế giới và kinh tế nước ta tiếp tục gặp khó khăn, nhưng không có địa phương nào biên soạn và công bố tăng trưởng GRDP thấp hơn tốc độ tăng 5,25% của cả nước, thậm chí vẫn có 21 địa phương tăng GRDP trên 10%.
TS. Nguyễn Bích Lâm khẳng định: Rõ ràng, số liệu GRDP do hầu hết các địa phương biên soạn và công bố những năm gần đây chưa phản ánh sát thực trạng và sát năng lực sản xuất của các địa phương.
Những số liệu này đã ảnh hưởng đến chất lượng của nhiều chỉ tiêu kinh tế-xã hội khác của địa phương như: Năng suất lao động xã hội, GRDP bình quân đầu người, cân đối thu chi ngân sách và nhiều chỉ tiêu kinh tế-xã hội tổng hợp khác. Do đó, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác xây dựng, chỉ đạo, điều hành các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.
Mặt khác, số liệu GRDP tính toán thiếu chính xác này còn ảnh hưởng đến chất lượng số liệu thống kê tài khoản quốc gia nói riêng và hệ thống thông tin thống kê nói chung của cả nước, làm cho các đối tượng sử dụng thông tin thống kê bị lúng túng, giảm sút lòng tin đối với thông tin thống kê và vai trò, vị thế của ngành thống kê.
TS. Nguyễn Bích Lâm cho biết, để khắc phục hiện tượng nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.
Đề án này được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến theo hướng tích cực, đó là sẽ rút ngắn khoảng cách chênh lệch số liệu GDP giữa Trung ương và địa phương, đem đến số liệu chất lượng cho mọi đối tượng dùng tin. Trong đó, điểm cốt yếu nhất của đề án là Tổng cục Thống kê trực tiếp biên soạn và công bố số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Quyết định phê duyệt đề án của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp và tổ chức thực hiện; tập trung vào ba vấn đề then chốt.
Thứ nhất, xây dựng và chuẩn hóa đồng bộ hệ thống thông tin thống kê phục vụ biên soạn số liệu GRDP, bao gồm: Thông tin từ các cuộc điều tra, tổng điều tra thống kê; từ chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp; đặc biệt chú trọng đến thông tin khai thác từ hồ sơ đăng ký hành chính.
Thứ hai, kỳ biên soạn và thời gian công bố số liệu GRDP phải phù hợp với nhu cầu sử dụng thông tin, nhưng phải trên cơ sở nguồn lực của ngành thống kê.
Thứ ba, phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng và sự phối hợp chặt chẽ của bộ, ngành và UBND cấp tỉnh với Bộ Kế hoạch và Đầu tư; giữa các đơn vị thuộc và trực thuộc Tổng cục Thống kê trong việc triển khai thực hiện đề án. Quyết định đề cập đến việc phối hợp cung cấp, chia sẻ thông tin thống kê giữa các bộ, ngành với Bộ Kế hoạch và Đầu tư; củng cố và tăng cường tổ chức thống kê bộ, ngành và sở, ban, ngành của địa phương.
Thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng giao, Tổng cục Thống kê đang khẩn trương chuẩn bị các điều kiện để từ năm 2017 trở đi chính thức biên soạn và công bố số liệu GRDP. Theo kế hoạch, năm nay, Tổng cục Thống kê thực hiện “tính thử” số liệu GRDP cho các địa phương để rút kinh nghiệm cho việc tính chính thức vào năm 2017.
Đồng thời, Tổng cục cũng tiến hành rà soát, tính lại số liệu GRDP thời kỳ 2011-2015, thông báo cho các địa phương làm căn cứ xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hằng năm giai đoạn 2016-2020; đồng thời làm năm gốc so sánh để tính GRDP cho địa phương.
TS. Nguyễn Bích Lâm cho rằng, để những con số phản ánh đúng bản chất của nó, ngoài nỗ lực của ngành thống kê thì sự chung tay, góp sức cung cấp số liệu đầy đủ, xác thực của các ngành, các cấp là rất cần thiết. (Chính Phủ 23/6) đầu trang(
Báo cáo Doing Bussiness 2016 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố mới đây cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam phải dành gần 40% lợi nhuận để nộp thuế, chưa kể phí và các khoản chi phí “không tên” khác.
Cụ thể, WB đánh giá, môi trường kinh doanh của Việt Nam được cải thiện 3 bậc, với 5/10 chỉ số được cải thiện. WB cũng ghi nhận những cải cách của Việt Nam về khởi sự kinh doanh, tiếp cận điện năng, chỉ số nộp thuế… Riêng chỉ số nộp thuế và bảo hiểm xã hội đã giảm 102 giờ, cải thiện 4 bậc, song vẫn xếp thứ hạng thấp so với các nước trong khu vực.
Đáng chú ý, tỷ lệ nộp thuế và bảo hiểm xã hội trên lợi nhuận vẫn còn ở mức khá cao, chiếm tới 39,4%. Trong đó, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp chiếm 24,8% và thuế thu nhập doanh nghiệp, chuyển nhượng là 14,5% và thuế khác là 0,1%.
Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hiệp hội tư vấn thuế cho biết thêm, mức bình quân về tỷ suất thuế, bảo hiểm bắt buộc trên lợi nhuận doanh nghiệp của các nước ASEAN 6 (Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Brunei) là 31%, thấp hơn Việt Nam 4,5%.
Trong đó, tỷ lệ đóng góp bảo hiểm bắt buộc ở Việt Nam là 23,7%, cao gấp đôi so với tỷ lệ của các nước ASEAN 6 là 11%. Còn tỷ suất thuế lại thấp hơn nhiều so với ASEAN 6. Mặt khác, do tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp trong năm 2016 giảm nên tỷ suất thuế và bảo hiểm bắt buộc tăng lên 39,34%.
Đánh giá về tỷ lệ nộp thuế và bảo hiểm xã hội trên lợi nhuận của doanh nghiệp, bà Nguyễn Minh Thảo, Phó trưởng Ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, thuế suất vẫn là lực cản với sự phát triển của doanh nghiệp.
Chia sẻ thêm về những khó khăn của doanh nghiệp, ông Phạm Ngọc Thạch, Ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra một kết quả khảo sát do cơ quan này thực hiện. Cụ thể, 49% doanh nghiệp từng gặp phiền hà trong thực hiện thủ tục hành chính thuế. Khảo sát cũng cho thấy, 52% doanh nghiệp bị thanh tra, kiểm tra thuế bởi nhiều cơ quan khác nhau.
Theo các chuyên gia, các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh theo Nghị quyết 19 của Chính phủ đề ra và nhiều bộ, ngành đã thực hiện. Điều này giúp cho năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2015 tăng lên.
Bà Nguyễn Minh Thảo cho hay, bảng xếp hạng 2015 của WB kết thúc vào tháng 12-2014 nên những nỗ lực đáng ghi nhận của ngành thuế trong năm 2015 sẽ được ghi nhận trong xếp hạng năm 2016 của WB sẽ được công bố vào tháng 10 tới đây.
Đối với lĩnh vực thuế, bà Nguyễn Thị Cúc cho biết, nỗ lực của ngành thuế trong những năm qua được nhiều doanh nghiệp đánh giá cao. Nỗ lực được thể hiện rõ trong thực hiện cải cách cả về hệ thống chính sách thuế và quản lý hành chính thuế.
Liên quan tới kế hoạch cải cách các thủ tục thuế, bà Hoàng Thị Lan Anh, Phó Vụ trưởng, Phó trưởng Ban Cải cách và hiện đại hóa, Tổng cục Thuế cho biết, ngành thuế sẽ nghiên cứu, xây dựng lộ trình bỏ hình thức thuế khoán chuyển sang thuế thu nhập doanh nghiệp, xây dựng nghị định về chống chuyển giá, trốn thuế cũng như xây dựng cơ sở pháp lý và hạ tầng kỹ thuật để thực hiện hóa đơn điện tử.
Đại diện Tổng cục Thuế cũng cho biết, kết quả những nỗ lực cho thấy, trong năm 2016, số giờ nộp thuế của doanh nghiệp đã đạt mức bình quân các nước ASEAN 6 sau khi giảm 102 giờ. Trong đó, bảo hiểm xã hội giảm 62 giờ và thuế giảm 40 giờ.
Mục tiêu được Chính phủ đặt ra là đến cuối năm 2020, Việt Nam sẽ là một trong 4 nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á được xếp hạng có mức độ thuận lợi về thời gian thực hiện thủ tục hành chính thuế. Trong đó, chỉ tiêu nộp thuế và bảo hiểm xã hội là 155 giờ.
Đồng thời, tối thiểu 90% doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ thuế điện tử, 65% doanh nghiệp đăng ký thuế, khai thuế qua mạng internet và 80% số người nộp thuế hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp. (An Ninh Thủ Đô 22/6) đầu trang(

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Mới đây, bên lề Khóa họp thường kỳ lần thứ 32 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc tại Geneva, Thụy Sĩ, Phái đoàn Thường trực của Việt Nam tại Geneva đã phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tổ chức tọa đàm quốc tế về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển.
Đại sứ Nguyễn Trung Thành, Đại diện Thường trực của Việt Nam bên cạnh Liên Hợp Quốc cùng với ông Brandt Wagner, Trưởng Bộ phận Hàng hải và Vận tải, Cục Chính sách của ILO đã chủ trì cuộc tọa đàm.
Tham dự tọa đàm còn có ông Lê Phan Linh, Chủ tịch Công đoàn Hàng hải Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cùng đại diện hơn 30 phái đoàn thường trực tại Geneva và các tổ chức quốc tế liên quan.
Trong bài phát biểu khai mạc, Đại sứ Nguyễn Trung Thành nhấn mạnh thực tế những người lao động trên biển nằm trong số những nhóm người dễ bị tổn thương nhất bởi sự gia tăng của thiên tai, cướp biển và nhiều rủi ro khác trong bối cảnh tình hình khu vực hiện nay.
Bên cạnh đó, việc bảo đảm quyền của người lao động trên biển, đặc biệt là tại các nước đang phát triển cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Nhiều thuyền viên và ngư dân phải sinh sống và làm việc trong điều kiện tồi tệ, không được bảo đảm tiếp cận y tế và trả lương đầy đủ.
Trong bối cảnh đó, các nội dung của Công ước Lao động Hàng hải (MLC 2006) lại chỉ áp dụng đối với các thuyền viên làm việc trên tàu trên 500 tấn trọng tải mà không áp dụng bảo vệ quyền lợi của ngư dân. Trên thực tế, chưa có một công ước quốc tế cụ thể về việc bảo đảm quyền lợi của ngư dân.
Tại tọa đàm, ông Lê Phan Linh, Chủ tịch Công đoàn Hàng hải Việt Nam trình bày về chủ trương, chính sách của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trên biển theo khuôn khổ Công ước MLC 2006 và các cam kết quốc tế khác mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời nêu ra những bất cập và thách thức trong cơ chế hiện nay, đặc biệt là những khó khăn về tài chính.
Hơn nữa, Việt Nam chưa phải là thành viên của Liên đoàn Vận tải Hàng hải Quốc tế (ITF); cơ chế bảo vệ ngư dân chưa thực sự hiệu quả, nhất là trong trường hợp cướp biển, bắt cóc con tin, tranh chấp tài phán...
Các đại biểu tham dự tọa đàm đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam và ILO trong việc tổ chức tọa đàm với chủ đề thiết thực này, nhất là trong bối cảnh quyền của người lao động trên biển tại khu vực Đông Nam Á nói riêng và trên thế giới nói chung đang đối mặt với nhiều thách thức. Bên cạnh đó, một số đại biểu cũng chia sẻ kinh nghiệm quốc gia trong vấn đề này.
Kết thúc tọa đàm, Đại sứ Nguyễn Trung Thành đã nêu ra một số khuyến nghị, đó là: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về chống cướp biển, cứu hộ cứu nạn; Cộng đồng quốc tế tích cực nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện một cơ chế quốc tế khả thi để bảo đảm quyền lợi của ngư dân; Trong bối cảnh tranh chấp, chồng lấn chủ quyền, các bên cần tuân thủ luật pháp quốc tế, các quy tắc ứng xử; Kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế có liên quan cũng như các quốc gia, đặc biệt là về nguồn lực và chuyên môn. (Chính Phủ 23/6) đầu trang(

PHÁP LUẬT
Ngày 23-6, ông Nguyễn Xuân Hà, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Khánh Hòa, thông tin với Pháp Luật TP.HCM.
Theo ông Hà, sự việc đang được UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra. Sau khi UBND tỉnh báo cáo kết quả kiểm tra, Thường trực Tỉnh ủy mới có hướng chỉ đạo xử lý.
Cùng ngày, Pháp Luật TP.HCM đã liên lạc với ông Tuyến và đặt câu hỏi: “Khi để vợ thành lập công ty, con góp vốn kinh doanh trong lĩnh vực do mình quản lý trực tiếp, ông có biết quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng không?”. Ông Tuyến trả lời: “Hồi đó thành lập là công ty thương mại dịch vụ du lịch. Đó là chuyện kinh doanh bình thường, chẳng phải có điều kiện gì, cũng chẳng phải công ty vốn nhà nước. Mình đâu có lấy tiền, lấy vốn nhà nước mua bán đâu. Sao lại nói đó là sân sau của tôi?”.
Chúng tôi hỏi tiếp: “Trước khi trình hồ sơ lên Tổng cục Du lịch, Sở VH-TT&DL tỉnh Khánh Hòa có kiểm tra, phát hiện việc làm giả tài liệu của Công ty Silent Bay không?”.
Ông Tuyến giải thích: “Mấy điều kiện đó có gì đâu! Ví dụ yêu cầu phải có bốn năm kinh nghiệm, chúng tôi tưởng không cần thiết lắm (!?). Vấn đề là mình làm an toàn, không để xảy ra cái gì, khách hài lòng. Vừa qua Tổng cục Du lịch đã vào kiểm tra, giải trình phức tạp lắm. Việc rút giấy phép theo quy định thì họ cứ làm thôi”.
Như đã phản ánh, Công ty Silent Bay bị một lãnh đạo của Công ty Du lịch quốc tế Chengdu (Trung Quốc) tố đã đòi 500.000 USD “phí bảo kê” để đưa khách du lịch Trung Quốc đến Nha Trang.
Sau khi báo chí phản ánh, Tổng cục Du lịch tiến hành kiểm tra, phát hiện nhiều sai phạm trong hoạt động kinh doanh lữ hành của công ty này. Ngoài ra, tại thời điểm kiểm tra, Tổng cục Du lịch còn phát hiện có đến 64 người Trung Quốc đang làm việc trái phép tại công ty này. (Pháp Luật TP.HCM 24/6) đầu trang(
Ngày 21.6, thông tin từ Phòng Cảnh sát truy nã tội phạm (PC52 - Công an TP.Cần Thơ) cho biết nơi đây vừa bắt giữ Lê Văn Biên (50 tuổi, nguyên Trưởng công an xã Đông Hiệp, H.Cờ Đỏ).
Biên bị bắt giữ theo lệnh truy nã của Công an H.Cờ Đỏ về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, khi đang lẩn trốn tại H.Châu Phú (An Giang).
Năm 2014, trên cương vị Trưởng công an xã Đông Hiệp, Biên đã lợi dụng việc được ủy nhiệm thu các khoản lệ phí trước bạ nhà đất, thuế thu nhập cá nhân từ chuyển quyền sử dụng đất trên địa bàn xã, sau đó không nộp vào ngân sách mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.
Đến tháng 7.2014, Chi cục Thuế H.Cờ Đỏ kết hợp UBND xã Đông Hiệp kiểm tra, đối chiếu các biên lai thu thuế thì phát hiện Biên nộp thiếu ngân sách nhà nước số tiền hơn 200 triệu đồng. Sau đó, Biên đã thừa nhận hành vi phạm tội.
Khi gia đình khắc phục được trên 40 triệu đồng thì Biên trốn khỏi địa phương nên Công an H.Cờ Đỏ đã ra quyết định truy nã. (Thanh Niên 22/6) đầu trang(
Ngày 22/6, Chánh Thanh tra tỉnh Hậu Giang Lưu Ngọc Đông cho biết, đã phát hiện nhiều sai sót tại Sở GD&ĐT tỉnh Hậu Giang.
Thanh tra đã kiến nghị UBND tỉnh yêu cầu GĐ Sở GD&ĐT Hậu Giang thu hồi 40,5 triệu đồng. Trong đó, có hơn 29 triệu đồng tiền xăng xe phục vụ đưa rước nguyên GĐ Sở là ông Lê Hoàng Tươi.
Cụ thể, ông Tươi đã sử dụng xe công không đúng mục đích. Mặc dù không có chế độ nhưng ông Tươi vẫn được đưa rước từ nhà đến cơ quan và sử dụng xe công vào việc riêng.
Kết luận của Thanh tra tỉnh còn cho thấy, sau khi kiểm tra 12 công trình do Sở GD&ĐT làm chủ đầu tư còn xảy ra nợ đọng, chậm tiến độ như: Công trình Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Hậu Giang đơn vị đã tính thừa khối lượng với tổng số tiền 35 triệu đồng; Công trình Trường CĐCĐ Hậu Giang còn nợ hơn 14,6 tỷ đồng và triển khai chậm tiến độ... (Tiền Phong23/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tòa án Tối cao Brazil ngày 22/6 đã chính thức buộc tội rửa tiền và giao dịch tiền tệ bất hợp pháp đối với ông Eduardo Cunha.Ông Cunha trước đó đã bị tòa án này đình chỉ chức vụ Chủ tịch Hạ viện Brazil do vướng vào cáo buộc tham nhũng trong vụ bê bối quy mô lớn của Tập đoàn dầu khí Petrobras.
Thẩm phán Tòa án tối cao Teori Zavascki cho hay quyết định trên được đưa ra sau khi có bằng chứng cụ thể về việc ông Eduardo Cunha nhận các khoản tiền bất hợp pháp. Đây là lần thứ hai ông Cunha, người thuộc đảng Phong trào dân chủ (PMDB) cầm quyền, bị buộc tội trong cuộc điều tra vụ bê bối của Petrobras.
Theo giới phân tích, với tình thế hiện nay, nhiều khả năng ông Cunha sẽ chấp nhận thương lượng về biện hộ của bị cáo, động thái sẽ khiến nhiều thành viên đảng PMDB quan ngại, trong đó có Tổng thống lâm thời Michel Têmr. Hồi đầu tuần, ông này vẫn phủ nhận mọi cáo buộc và khẳng định sẽ không từ chức.
Ông Cunha là một trong những thành viên đảng PMDB khởi xướng tiến trình luận tội Tổng thống Dilam Rousseff nhằm phế truất bà. Bê bối tham nhũng tại tập đoàn dầu khí hàng đầu Petrobras bắt đầu “bung ra” từ tháng 3/2014.
Theo cảnh sát, đường dây này đã dùng khoảng 4 tỷ USD hối lộ hàng loạt chính trị gia và quan chức lãnh đạo của Petrobras. Tập đoàn này đã mất khoảng 2 tỷ USD trong vụ tham nhũng nói trên. Vụ bê bối này đã khiến nhiều quan chức của Petrobras cũng như nhiều chính trị gia chủ chốt tại Brazil bị “sờ gáy.”
Hơn 100 cá nhân đã chính thức bị kết tội tham nhũng, rửa tiền và thành lập băng đảng, trong đó có hàng chục lãnh đạo từ các tập đoàn xây dựng và kỹ thuật hàng đầu Brazil. Khoảng 50 chính trị gia, trong đó có các hạ nghị sĩ, thượng nghị sĩ và thống đốc bang, thuộc diện bị điều tra. 23 tập đoàn xây dựng và cơ khí lớn nhất Brazil bị cấm đấu thầu các hợp đồng của Petrobras để phục vụ công tác điều tra. (Thanh Tra 23/6) đầu trang(./.