|
Ngày 24 tháng 01 năm 2014
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - QUẢN LÝ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
NHÂN SỰ
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
KINH TẾ
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
PHÁP LUẬT
THỐNG KÊ
THỜI SỰ
Sáng 23/1, làm việc với Ban Nội chính Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN) đã nhấn mạnh việc tái lập Ban Nội chính Trung ương là một chủ trương đúng đắn, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong công tác PCTN.
Tổng Bí thư khẳng định Ban Nội chính Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực nội chính và PCTN đồng thời thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN.
Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận, biểu dương sự nỗ lực, cố gắng và những kết quả đã đạt được của Ban Nội chính Trung ương trong năm 2013.
Cơ bản đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ đề ra trong năm 2014, Tổng Bí thư đề nghị cần nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của Ban Nội chính Trung ương, cơ quan tham mưu của Đảng về công tác nội chính, công tác PCTN; Ban Nội chính Trung ương là tai mắt, là bộ óc của Đảng về lĩnh vực này.
Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2014 và những năm tiếp theo, Tổng Bí thư lưu ý Ban Nội chính Trung ương với tư cách là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, cần chú ý cả phòng và chống, cả ở Trung ương và địa phương; tiếp tục xem xét, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng phức tạp, trọng điểm; nghiên cứu, đề xuất, chủ trì và phối hợp xây dựng pháp luật liên quan đến lĩnh vực nội chính và công tác PCTN. (Tiền Phong 24/1) đầu trang(
Sau buổi gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với nhóm chuyên gia tư vấn, trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 23-1, một số vị chuyên gia cho biết đã đề xuất phải cải thiện nền quản trị quốc gia, hay cải tiến cuộc họp Chính phủ...
Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống động lực nhằm thúc đẩy và tăng chất lượng phục vụ dân. Một số ý kiến đã được Thủ tướng tiếp thu và sẽ thực hiện ngay trong thời gian tới...
Theo ông Nguyễn Quang Thái - phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế VN, trong cuộc gặp với Thủ tướng, ông đã nêu ba vấn đề chính.
Thứ nhất là tình hình thế giới đã có phục hồi nhẹ, nhưng ông nhấn mạnh dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) về kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản vài năm tới chưa hẳn đã tốt lên. Do vậy, những khó khăn này vẫn tác động đến tình hình VN.
Tuy nhiên, ông Thái cho rằng VN có thể sẽ không khó khăn như các nước hoặc như dự báo nếu thật sự tập trung vào cải cách. Đặc biệt, VN không thể phục hồi tăng trưởng GDP theo cách cũ nữa, bởi như thế có thể sẽ lặp lại những khó khăn như từng xảy ra. Ông kiến nghị muốn phục hồi tăng trưởng cần xác định phải đi liền với cải cách.
Về thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng, ông Nguyễn Quang Thái cũng cho rằng đó là một thông điệp đáng hoan nghênh, nhưng vấn đề là làm sao tổ chức thực hiện.
Việc Chính phủ xác định sẽ đẩy mạnh cổ phần hóa, từ nay đến năm 2015 sẽ cổ phần hóa 500 doanh nghiệp trong tổng số hơn 1.100 doanh nghiệp nhà nước, theo ông Thái, cần tiến hành nghiêm túc nhưng thận trọng, có sức ép hành chính... để làm sao doanh nghiệp mạnh lên.
Ông Nguyễn Quang Thái cho biết đã thẳng thắn đề nghị cải tiến các phiên họp của Chính phủ. Thay vì Chính phủ họp vào mỗi cuối tháng, bàn và quyết những vấn đề thường xuyên, ông Thái nhắc lại đề nghị cuộc họp chỉ nên dành 50% thời gian giải quyết vấn đề thường xuyên, thời gian còn lại cần dành cho các chuyên đề.
Thủ tướng đã đồng ý và cho biết trong cuộc họp Chính phủ vào thứ bảy (ngày 25-1), Chính phủ sẽ dành một nửa thời gian bàn chuyên đề về nâng cao sức cạnh tranh.
TS Nguyễn Sỹ Dũng, phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho biết ông cũng đã chia sẻ một số quan điểm trong thông điệp của Thủ tướng. Theo đó, VN cần xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp hơn, xây dựng hệ thống động lực để thúc đẩy và tăng chất lượng phục vụ dân của công chức.
Trong đó, bên cạnh cơ chế bầu cử, trước mắt có thể triển khai việc đo đếm sự hài lòng của người dân và cần lấy sự hài lòng này làm thước đo khi thăng chức, tăng lương, tặng thưởng huân huy chương... cho cán bộ, công chức.
Nếu việc này được thực thi, ông Nguyễn Sỹ Dũng cho rằng sẽ tạo được sự thay đổi trong chất lượng phục vụ dân, từ đó tăng chất lượng bộ máy...
Ông Nguyễn Sỹ Dũng cũng kiến nghị Chính phủ cần có kế hoạch để triển khai Hiến pháp mới. Với quy định của Hiến pháp mới, theo ông Dũng, có thể tạo đột phá trong nền quản trị quốc gia mà đầu tiên có thể đặt trọng tâm vào chính quyền địa phương.
Đặc biệt, nếu phân định rõ chức năng của địa phương thì sẽ tránh được trùng lặp trong quản trị. Ví dụ, nên theo hướng việc gì địa phương làm được thì trung ương sẽ không làm, cái gì cấp dưới không làm được cấp trên mới làm.
Trung ương sẽ chỉ tập trung vào làm những việc lớn như an ninh quốc gia, quốc phòng... Còn ngay như việc trật tự an toàn xã hội có thể phân cho địa phương... (Tuổi Trẻ 24/1) đầu trang(
CHÍNH SÁCH - QUẢN LÝ
Thủ tướng vừa có chỉ thị yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố tổ chức triển khai thi hành Luật Đất đai.
Trong đó, Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo thực hiện chặt chẽ quy trình giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất tùy tiện, gây lãng phí nguồn lực đất đai.
Thủ tướng giao Bộ TN&MT phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về đất đai, đo đạc lập bản đồ địa chính và đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất...
Trước năm 2016, cơ bản hoàn thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) theo bản đồ địa chính, trích đo địa chính, trích đo địa chính có tọa độ. (Tiền Phong 2/1) đầu trang(
Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 5.494 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để hỗ trợ cứu đói cho 6 địa phương: Sơn La, Hà Nam, Đắk Lắk, Ninh Bình, Kon Tum, Thanh Hóa dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2014.
Cụ thể, hỗ trợ tỉnh Sơn La 2.120 tấn gạo; tỉnh Hà Nam 574 tấn; tỉnh Đắk Lắk 886 tấn; tỉnh Ninh Bình 546 tấn; tỉnh Kon Tum 862 tấn; tỉnh Thanh Hóa 506 tấn.
Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh nêu trên sử dụng số gạo được cấp hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng cho nhân dân cứu đói.
Trường hợp tiếp tục khó khăn, các địa phương báo cáo các Bộ: Tài chính, LĐ-TB&XH để đề xuất trình Thủ tướng xem xét tiếp tục hỗ trợ bảo đảm không để dân thiếu đói, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán 2014. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 23/1) đầu trang(
Thủ tướng vừa có quyết định hỗ trợ đột xuất cho người dân di cư tự do từ Campuchia về VN gặp khó khăn về đời sống trong năm 2013.
Các đối tượng được hỗ trợ là người VN di cư tự do từ Campuchia về nước chưa có hộ tịch, hộ khẩu gặp khó khăn về đời sống.
Theo đó, hỗ trợ 405 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho 8.989 người dân với mức hỗ trợ 15kg gạo/người/tháng, thời gian hỗ trợ là ba tháng; hỗ trợ mua lều bạt làm nơi ở tạm cho 1.599 hộ dân với mức 3 triệu đồng/hộ (hỗ trợ một lần); hỗ trợ thuốc khử trùng, phòng dịch cho 1.599 hộ dân với mức 50.000 đồng/hộ/tháng, thời gian hỗ trợ là ba tháng; hỗ trợ thuốc chữa bệnh thông thường cho 9.063 người với mức 50.000 đồng/người/tháng, thời gian hỗ trợ là ba tháng.
Ngoài ra còn có hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh và hỗ trợ tiền ăn Tết Giáp Ngọ 2014. (Tuổi Trẻ 24/1) đầu trang(
Hôm qua, 23/1, Bộ Nội vụ có Chỉ thị số 01 yêu cầu các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Nội vụ thực hiện nghiêm Chỉ thị 21 và Công văn 178 của Ban Bí thư về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, phòng chống lãng phí dịp Tết Giáp Ngọ năm nay.
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ yêu cầu người đứng đầu các đơn vị trên quán triệt toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tổ chức thực hiện đảm bảo an ninh, an toàn công sở, phòng chống cháy nổ;
Nghiêm cấm mọi hình thức tặng quà Tết cho cấp trên, không được sử dụng tiền, phương tiện tài sản công trái quy định vào các hoạt động cá nhân trước, trong và sau dịp Tết… (Tiền Phong 24/1) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành thông tư quy định mức thu phí trông giữ ôtô, xe máy và xe đạp.
Cụ thể, HĐND các địa phương quy định mức thu phí ban ngày đối với xe đạp không quá 2.000 đồng/lượt, đối với xe máy không quá 4.000 đồng/lượt.
Riêng đối với ôtô, tùy theo số ghế hoặc trọng tải của xe, quy định mức phí nhưng cũng không quá 20.000 đồng/lượt. Còn đối với các đô thị loại đặc biệt, mức thu phí trông giữ ôtô có thể áp dụng mức thu cao hơn, nhưng không quá 40.000 đồng/lượt.
Ngoài ra, mức thu phí trông giữ ban đêm có thể cao hơn mức phí ban ngày, nhưng tối đa không quá hai lần mức phí ban ngày.
Đối với các điểm, bãi trông giữ ở các bệnh viện, trường học, chợ... cần áp dụng mức thu phí thấp hơn các nơi khác. (Tuổi Trẻ 24/1) đầu trang(
Hành vi không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho người mua nhà ở mà đã bàn giao nhà ở, sẽ bị phạt từ 500 triệu đến 1 tỉ đồng.
Bộ Tài nguyên - Môi trường đang soạn thảo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Theo đó, Bộ đề xuất mức phạt từ 1-5 triệu đồng (khu vực nông thôn), 2,5-10 triệu đồng (khu vực đô thị) đối với các cá nhân, hộ gia đình không đăng kí quyền sử dụng đất lần đầu. Mức phạt này đối với tổ chức từ 20-50 triệu đồng. Ngoài ra, Bộ cũng đề xuất mức phạt từ 500.000 đồng đến 5 triệu đồng (khu vực nông thôn), 1-10 triệu đồng (khu vực đô thị) đối với cá nhân không đăng kí biến động về quyền sử dụng đất. Đối với tổ chức, mức phạt này là 10-50 triệu (khu vực nông thôn), 20-100 triệu (khu vực đô thị).
Theo dự thảo, hành vi chậm cấp quyền sử dụng đất cũng bị phạt nặng. Cụ thể, tổ chức được Nhà nước giao đất xây dựng nhà ở để bán mà chậm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho người mua nhà sẽ bị phạt từ 200-700 triệu.
Hành vi không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho người mua nhà ở mà đã bàn giao nhà ở, sẽ bị phạt từ 500 triệu đến 1 tỉ đồng. (Công An Nhân Dân 24/1) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 11/2014/TT-BTC hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 86/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài.
Theo đó, các doanh nghiệp (DN) kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài phải bố trí các thiết bị điện tử và hệ thống camera để theo dõi, giám sát thường xuyên toàn bộ hoạt động trong Điểm kinh doanh (24/24h).
DN phải xây dựng quy chế giám sát, theo dõi an ninh đối với Điểm kinh doanh, có trách nhiệm cung cấp quy chế, tài liệu, hồ sơ, hình ảnh cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. DN phải mở Sổ theo dõi để kiểm soát các đối tượng được phép chơi, đối tượng được phép ra, vào Điểm kinh doanh, lưu trữ tối thiểu 2 năm để phục vụ công tác quản lý của cơ quan chức năng.
Nhà sản xuất, cung cấp máy trò chơi điện tử có thưởng và tổ chức kiểm định độc lập máy trò chơi điện tử có thưởng được phép cung cấp máy trò chơi điện tử có thưởng và cung cấp dịch vụ kiểm định máy trò chơi điện tử có thưởng tại Việt Nam, nếu được phép hoạt động tại thị trường Macao và đã được công bố trên trang website: www.dicj.gov.mo. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2014. (Tuổi Trẻ 24/1; Thời báo Tài chính VN 23/1) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Ngày 23.1, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đi thăm, kiểm tra công tác khám chữa bệnh, hoạt động đường dây nóng tại Bệnh viện (BV) Bạch Mai và Việt Đức (Hà Nội).
Bộ trưởng đã yêu cầu nhân viên thuộc bộ phận tiếp đón, hướng dẫn của các BV phải có thái độ nhẹ nhàng và tận tình, do có khoảng 40% các cuộc gọi đến đường dây nóng của Bộ Y tế phàn nàn về thái độ ứng xử của nhân viên y tế tại các BV công.
Tại phòng khám chuyên khoa tim mạch của Khoa Khám chữa bệnh (BV Bạch Mai), Bộ trưởng Bộ Y tế đã tiếp nhận thông tin của bệnh nhân Chu Thị Tuyết Nhung (ở Văn Yên, Bắc Giang) phản ánh về thái độ thờ ơ, gắt gỏng của bác sĩ với bệnh nhân tại Khoa Tim mạch - thần kinh của BV Bắc Giang. Chiều 23.1, Cục Quản lý khám chữa bệnh đã điện thoại cho Giám đốc Sở Y tế Bắc Giang đề nghị xác minh sự việc người bệnh phản ánh. (Thanh Niên 24/1) đầu trang(
NHÂN SỰ
Thủ tướng vừa quyết định bổ nhiệm ông Trương Minh Tuấn, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương giữ chức Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
Ông Trương Minh Tuấn sinh năm 1960. Trước khi được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, ông Trương Minh Tuấn đã trải qua các chức vụ: Vụ trưởng, Trưởng cơ quan thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương tại thành phố Đà Nẵng; Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương; Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 23/1) đầu trang(
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
Theo khảo sát của báo cáo “Đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) thực hiện, tham nhũng là cản trở lớn nhất đối với doanh nghiệp vận tải đường bộ.
Báo cáo trên do WB nghiên cứu, khảo sát tại 246 doanh nghiệp (DN) vận tải Việt Nam thực hiện từ năm 2010. Theo báo cáo, tham nhũng là cản trở lớn nhất trong số 19 khó khăn mà các DN vận tải đường bộ Việt Nam phải đối mặt. Tham nhũng trong giao thông vận tải ở miền Nam thể hiện rõ nét hơn so với miền Trung và miền Bắc.
Trung bình các DN vận tải phải chi khoảng 8% cho các khoản “phí bôi trơn”, trong khi đó chi phí nhiên liệu chiếm khoảng 65% chi phí hoạt động và tiền lương chiếm khoảng 16% tổng chi phí của DN. Điều này có nghĩa là phí “bôi trơn” bằng một nửa khoản chi cho tiền lương của DN.
Bên cạnh đó, tham nhũng là nguyên nhân làm cho cơ sở hạ tầng đường bộ kém đi. Vì các DN vận tải đang trả tiền để tránh những mức phạt áp dụng cho vi phạm về giới hạn chiều cao, tải trọng. Tham nhũng cho phép những lái xe tải chở quá giới hạn tải trọng, điều đó có nghĩa là các con đường đang phải chịu tải trọng lớn hơn so với thiết kế, khiến đường nhanh bị hư hỏng.
Đặc biệt, 76% chi phí của các DN này được tính trực tiếp cho khách hàng của họ. Do vậy, hầu hết các khoản chi phí tham nhũng cuối cùng lại do người tiêu dùng phải chịu thông qua các mức giá cao hơn. Đối với những hàng hóa xuất khẩu, các chi phí này vẫn do các DN Việt Nam gánh chịu, điều này gây khó khăn trong việc cạnh tranh với DN nước ngoài.
Một phần nguyên nhân chi phí “bôi trơn” của DN vận tải cao, theo nghiên cứu của WB là do chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông Việt Nam thấp. Nhiều con đường ở Việt Nam không chịu được những chiếc xe tải lớn và nặng, và có những giới hạn về chiều cao, tải trọng. Khi các DN vi phạm những giới hạn này thì họ có thể bị yêu cầu dừng xe và bị phạt.
Mặt khác, các quy định xử phạt thường không được giải thích rõ ràng, công khai, để mở cho việc xử phạt tùy tiện khi các xe tải bị yêu cầu dừng lại. Đây được coi là nguyên nhân tiếp tay cho tham nhũng.
Ông James Anderson - Chuyên gia cao cấp về Quản lý Nhà nước của WB - cho rằng, để giảm tham nhũng trong vận tải đường bộ, Việt Nam cần xây dựng những con đường có khả năng chịu tải tốt hơn, phù hợp với hoạt động kinh tế lớn, khi đó các con đường sẽ có khả năng đáp ứng những xe có trọng tải lớn, và tham những cũng sẽ giảm đi.
Đồng thời, những nỗ lực nhằm trực tiếp giải quyết nạn tham nhũng cũng có thể giúp cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng, giảm chi phí cho các DN và người tiêu dùng Việt Nam. (Công Thương 24/1) đầu trang(
Khi quyền lực được trao vào tay một cá nhân mà thiếu đi một cơ chế giám sát hiệu quả, quyền lực ấy rất dễ bị lạm dụng, dẫn đến những hành vi tham nhũng.
TBKTSG-Online có cuộc trao đổi với ông Phạm Duy Nghĩa, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Trưởng khoa Kinh tế - Luật, Đại học Kinh tế TPHCM, xung quanh câu chuyện giám sát quyền lực này.
Ông Nghĩa nói: “Tham nhũng thì nước nào cũng có, diễn ra ở cả hai khu vực công và tư dù mức độ phát hiện ở các nước rất khác nhau chứ không quốc gia nào có thể tự cho là mình trong sạch hoàn toàn. Đây là hiện tượng lạm dụng quyền lực được trao, hoặc bởi công ty, hoặc bởi quyền lực công cộng. Khi có nhu cầu, hay gặp phải những đối tượng khác đưa hối lộ, kích thích hành vi sai trái và nếu không bị phát hiện hoặc mức độ trừng phạt thấp, không đủ răn đe thì họ sẽ tận dụng khi có cơ hội.
Về luật pháp, chúng ta phải làm sao cho quyền lực được giám sát tốt hơn để cơ hội lạm dụng quyền lực nhỏ đi, cộng với việc gia tăng hệ thống kiểm soát, tăng trách nhiệm giải trình. Nói cách khác, tham nhũng có thể hạn chế được nếu quyền lực bị khống chế”.
Nhưng những câu chuyện đó chúng ta vẫn nói hoài, vấn đề là thực hiện như thế nào? Ông Nghĩa trả lời: “Ở vị thế của tôi khó có thể đánh giá được điều này một cách toàn diện. Tuy nhiên, lấy thí dụ trong một công ty cổ phần, các cổ đông bỏ phiếu bầu ra hội đồng quản trị, trao quyền cho hội đồng đó kèm theo trách nhiệm giải trình, mà một trong số đó là phải giải thích rõ về những lựa chọn, quyết định được đưa ra.
Hội đồng chỉ đưa ra chiến lược, còn thực thi sẽ do ban điều hành, và ngoài ra còn có các bộ phận khác như ban kiểm soát. Nói rộng ra trong bộ máy nhà nước cũng có những nét tương tự.
Về bản chất, giám sát lạm quyền là giám sát hệ thống kiểm soát những người được trao quyền. Với Nhà nước, người giám sát là các cơ quan báo chí, và người dân đánh giá chính phủ thông qua công cụ này. Đành rằng tham nhũng có ở mọi nơi, nhưng khi nào hệ thống giám sát vận hành hiệu quả hơn, thì ở chỗ đấy nguy cơ tham nhũng ít diễn ra. Còn ở đâu thiết chế đó chưa có, hoặc có mà hoạt động hình thức thì nguy cơ cao”.
Trong thông điệp đầu năm của Thủ tướng có nhấn mạnh đến đổi mới thể chế. Vậy cụ thể đổi mới thể chế là gì, và điều đó có chống được lạm quyền dẫn đến tham nhũng hay không? Về vấn đề này, ông Nghĩa cho biết: “Đổi mới thể chế được nhắc đến lần đầu tiên trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI, là một trong ba khâu đột phá chiến lược. Thông điệp của Thủ tướng thực ra là triển khai nghị quyết đấy. Điều này hay vì nói trúng cái người dân đang trông đợi. Tuy nhiên vẫn còn quá nhiều việc cần phải làm.
Tôi nhận thấy Chính phủ cũng đã có lộ trình, chẳng hạn như câu chuyện cải cách doanh nghiệp nhà nước. Luật Đất đai đã được Quốc hội thông qua, và bước kế tiếp là thực hiện luật đó theo hướng một là quy định rõ đất được sử dụng lâu dài là như thế nào, và ràng buộc trách nhiệm nhà nước khi thu hồi đất.
Về dân quyền thì nhắc lại chuyện cho phép người dân bầu trực tiếp chủ tịch cấp phường, xã. Nếu làm được điều đấy cũng có thể nói là đã thực hiện bước đầu tiên gọi là dân chủ cơ sở. Những việc đó phải có hiệu ứng lan tỏa từ từ, chứ không thể có hiệu ứng ngay, nhưng dần dần trở thành thông lệ. Nếu làm được như cam kết, thì đó chính là cải cách thể chế”.
Vậy chúng ta phải chờ những hành động cụ thể từ chính quyền hay chính người dân phải tự thực thi quyền giám sát của mình để tạo sự chuyển biến? Ông Nghĩa cho hay: “Tôi có nghiên cứu về giải quyết tranh chấp đất đai của nông dân và thấy rằng Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành một nước công nghiệp, và vì thế dân số nông thôn và vùng nông nghiệp sẽ bị giảm. Điều này sẽ ảnh hưởng mạnh đến sinh kế của hàng triệu nông dân.
Những năm qua Nhà nước đã thu hồi khoảng 1 triệu héc ta đất của nông dân khu vực nông nghiệp. Mỗi héc ta ảnh hưởng đến 10 người nông dân, 1 triệu héc ta ảnh hưởng đến 10 triệu người, và con số này sẽ còn tăng thêm. Điều đó cho thấy mọi chính sách có hiệu ứng khác nhau với các người dân khác nhau, và những người chịu thiệt thòi phải có tiếng nói. Họ không thể trông chờ bộ máy cải cách thể chế mà phải có cách để tạo nên tiếng nói tập thể để chính sách cải thiện tốt hơn cho họ”.
Còn xây dựng nhà nước pháp quyền, theo ông Nghĩa: “Mỗi quốc gia có tiến đến nhà nước pháp quyền khác nhau. Nhưng đặc trưng phổ quát của nhà nước pháp quyền là thứ nhất, tất cả các tổ chức, người dân đều phải tuân thủ pháp luật, không ai được đứng trên pháp luật.
Thứ hai, nếu một người dân cảm thấy thiệt thòi hay bất công, họ có cơ hội yêu cầu cơ quan tài phán (mang tính độc lập, khách quan) xác lập lại công lý. Dù những điều này ở Việt Nam chưa thật tốt lắm, chẳng hạn vụ án oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang… nhưng cũng đã có những chuyển động.
Chẳng hạn như quyền của luật sư được tham gia vào các giai đoạn điều tra, quyền khiếu nại tố cáo của công dân… Mọi thứ còn khá ngổn ngang, nhưng tôi nghĩ đã đi đúng hướng”. (TBKTSG-Online 24/1) đầu trang(
Tham nhũng tinh thần đã trở thành hiện tượng xã hội “ngầm” ở Việt Nam, hủy hoại nhân cách con người.
Lâu nay khi nhắc tới tham nhũng, người ta sẽ nghĩ ngay tới việc lạm dụng chức quyền lấy của công, của nhân dân (thiên về vật chất). Nhưng có lẽ khi xã hội hiện đại hơn, tham nhũng sẽ “đa phương diện hơn”.
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công. Tham nhũng và tham ô là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế chưa phát triển, quản lý kinh tế, xã hội lỏng lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế.
Tham nhũng và tham ô làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế - xã hội. Tuy hình thức của tham nhũng là khác nhau, nhưng bản chất tham nhũng thì giống nhau.
Ở Việt Nam, theo Giáo sư Hoàng Chí Bảo, tính nan giải, khó trị của tham nhũng được lý giải từ sự yếu kém của thể chế, tính nửa vời trong chỉ đạo thực hiện và sự thoái hóa của không ít quan chức, công chức trong bộ máy, thậm chí tham nhũng có cả trong hoạt động tư pháp, trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tình trạng pháp luật có, pháp chế cũng có nhưng pháp trị thì không hoặc yếu kém và hình thức, là một thực tế phổ biến hiện nay ở Việt Nam.
Tham nhũng trên đây có thể nói đó là hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả các quốc gia, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít.
Tuy nhiên, những năm gần đây, một loại tham nhũng mới xuất hiện, đó là tham nhũng tinh thần. Tham nhũng tinh thần trở thành hiện tượng xã hội “ngầm” không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia khác trên thế giới.
Có thể chia tham nhũng tinh thần thành tham nhũng thế tục và tham nhũng tâm linh. Tham nhũng thế tục là tham nhũng sử dụng những cái không thuộc về mình (giả bằng cấp, đạo văn, ăn cướp ý tưởng…) thành cái của mình. Tham nhũng tâm linh là tham nhũng lợi dụng những yếu tố tâm linh để phục vụ mục đích riêng của mình hay có thể nói đơn giản hơn là “vụ lợi tâm linh”.
Ở Việt Nam loại tham nhũng này chưa được gọi là tham nhũng, nhưng trên thực tế nó ăn sâu vào đời sống, tư duy của một số cá nhân, đôi khi nó trở thành phong trào làm biến đổi giá trị truyền thống, tạo ra những thứ vô giá trị nhưng được một số người chấp nhận và đề cao nó. Đây là loại tham nhũng làm hủy hoại dần nhân cách con người, làm mục ruỗng xã hội. Khi nhân cách con người hết, nghĩa là con người đó cũng sẽ chết.
Thật dễ hiểu khi có cả những quan chức cao cấp đại diện cho cả địa phương lớn, một lĩnh vực lớn rất “vô tư” dùng bằng cấp giả, không chỉ bằng đại học mà cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Còn chuyện đạo văn, “vô tình, không cố ý” tham khảo đôi chút về ý tưởng, đoạn văn, thậm chỉ cả luận văn, luận án cũng đã trở thành việc không phải hiếm, nếu như không muốn nói là tràn lan.
Nên thế không phải ngẫu nhiên người ta nói “thạc sĩ, tiến sĩ trở thành mác làm sang, làm đẹp lý lịch khi thăng quan tiến chức”. Với lý do đó, chẳng hơi đâu mà học. Tiền mua được cả bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Những người “chủ” thực sự của những tấm bằng đó mặc dù có đôi chút ngậm ngùi, nhưng cũng tạm vừa lòng với số tiền hoặc được lợi ích nào đó (thăng chức…). Rõ ràng kiểu tham nhũng này được thỏa thuận, luật pháp cũng khó lòng xử lý.
Ở loại tham nhũng này còn được thể hiện ở chỗ đối tượng này không thừa nhận năng lực thật, giá trị thật, thậm chí phủ nhận sạch trơn năng lực và giá trị thật của đối tượng khác. Không ít người đã bị hủy hoại cả cuộc đời, đau đớn hơn là không thể tự hiểu mình là ai, nghi ngờ chính bản thân. Năng lực của họ, giá trị của họ bị những người phủ nhận tùng xẻo mỗi ngày một ít, vừa đau đớn, vừa muốn tồn tại, nhưng không được tồn tại, tồn tại nhưng trở nên vô nghĩa.
Đó có thể tạm gọi là kiểu tham nhũng thế tục. Còn tham nhũng tâm linh có thể nói là loại tham nhũng vô cùng phức tạp, bởi nó động chạm tới tinh thần, sự tự trọng, lương tâm của mỗi cá nhân. Tâm linh có sức ảnh hưởng tự nhiên, nó lan đi rất nhanh chóng.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng tới việc phát triển hệ thống tôn giáo, xây dựng lòng tin lành mạnh cho toàn xã hội. Tuy nhiên, một số quan chức đã lợi dụng việc này, biến nó trở thành cái riêng của mình. Họ dùng tiền “công đức” xây dựng chùa, nhà thờ, làm từ thiện…mong muốn “thế lực vô hình” tạo ra sức mạnh, mang lại may mắn cho họ về công danh và tiền bạc.
Tham nhũng tâm linh thường được dùng đối với những người có chức, quyền, có nhiều tiền lợi dụng tôn giáo, dùng tôn giáo thực hiện mục đích của mình. Mục đích đó có thể là mong muốn thần linh, thế lực siêu nhiên “phù hộ độ trì” để thăng quan tiến chức, kiếm nhiều tiền, mong cho những người mình “ghét” bị “trời tru đất diệt”.
Trên thực tế chúng ta khó có thể định nghĩa rõ thế nào là tham nhũng tâm linh bởi nó là thứ không hiện hữu, mà tồn tại ngay chính trong tư duy của mỗi cá nhân mà chúng ta không kiểm soát được. Chính vì vậy loại tham nhũng này phát triển rất dễ dàng, khó có thể ngăn chặn.
Loại tham nhũng này không chỉ những quan chức có tiền mới tham nhũng mà ngay cả những người “kiết xác”, lợi dụng lòng tin của người khác kiếm tiền rất dễ dàng. Thế mới có chuyện tưởng xương lợn là xương người đem về nhà cúng, một kẻ vô học, nói không ra lời chỉ tay năm ngón xỉa xói những vị quan to, kẻ lắm tiền chê “người trần mắt thịt”. Và thế người ta sợ quá, vái lấy vái để mong “Ngài rủ lòng thương, chỉ lối đưa đường”.
Yếu tố tâm linh rất dễ làm con người ta tin tưởng. Chỉ cần một câu nói liên quan tới thần thánh, linh hồn của những người đã khuất… cũng khiến người ta có thể làm tất cả trong trạng thái tinh thần gần như mất lý trí. Tham nhũng tâm linh sẽ làm xã hội rối loạn, con người trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, tinh thần rệu rã, hành động vô thức, mù quáng.
Thế mới biết tham nhũng tinh thần còn khủng khiếp hơn cả tham nhũng vật chất. Chống tham nhũng về vật chất đã khó, chống tham nhũng tinh thần càng khó hơn. Quả thật sống sao cho đúng, thật là khó. (VOV 24/1) đầu trang(
KINH TẾ
“Hậu quả đương nhiên là tài nguyên khoáng sản bị bán rẻ, bị khai thác một cách tàn bạo và môi trường bị xâm hại...” - TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Ban quản lý các dự án Than Đồng bằng sông Hồn-Vinacomin cho biết.
Mới đây, báo chí đưa tin, Cục địa chất khoáng sản (Bộ TN&MT) cho biết, năm 2010 cả nước có 5000 giấy phép khai khoáng được cấp cho 2.000 doanh nghiệp nhưng nhiều giấy phép khai khoáng đã được bán cho doanh nghiệp Trung Quốc. Về vấn đề này, TS Sơn nói: “Tôi không biết cụ thể những giấy phép nào đã được bán. Nhưng, việc nhiều giấy phép khai khoáng đã được bán cho doanh nghiệp Trung Quốc, như anh Nguyễn Văn Thuấn - Cục trưởng Cục Địa chất Khoáng sản nói, chắc chắn là có thật. Riêng các giấy phép cấp cho Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản VN (TKV), hay cho các doanh nghiệp nhà nước khác thì không thể nào bị bán cả”.
Tại sao lại có việc doanh nghiệp Việt đứng tên rồi bán giấy phép khai thác khoáng sản cho doanh nghiệp Trung Quốc như vậy. Theo luật, việc này có được phép không và phải gọi hành vi này là gì? TS Nguyễn Thành Sơn trả lời: “Tất nhiên, việc đứng tên xin cấp giấy phép hoạt động khoáng sản rồi bán giấy phép theo kiểu “lúa non” là vi phạm Luật Khoáng sản. Việc chuyển nhượng giấy phép hoạt động khoáng sản đã được qui định trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản.
Chẳng có luật nào, kể cả Luật doanh nghiệp cho phép hoạt động theo kiểu “ma” như vậy. Tuy nhiên, những qui định về chuyển nhượng giấy phép hoạt động khoáng sản còn nhiều sơ hở và bất cập, dễ bị lợi dụng.
Rất tiếc, những người dự thảo nghị định không am hiểu thực tế, nhưng đã không tham khảo ý kiến của các chuyên gia, chỉ biết đưa ra các qui định chung chung để khẳng định cái “quyền” từ phía quản lý, nhưng lại không có cơ chế giám sát thực hiện. Đặc biệt là hai vấn đề “cấp phép” và “ đấu giá”. Còn nhiều vấn đề cần phải bàn lại về những nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản”.
Một tờ báo lớn dẫn lời lãnh đạo Cục địa chất khoáng sản (Bộ TN&MT) cho biết, có đến 60% doanh nghiệp Việt bán giấy phép cho doanh nghiệp nước ngoài mà các cơ quan chức năng không biết, tại sao lại có chuyện như vậy? Theo TS Sơn: “Cơ quan “chức năng” ở đây trước hết là Bộ TN&MT và các sở TN&MT. Việc có đến 60% doanh nghiệp bán giấy phép mà các cơ quan “chức năng” không biết thực ra thì cũng dễ hiểu.
Trước hết là do buông lỏng quản lý từ khâu “cấp” đến khâu giám sát thực hiện. Những giấy phép được “cấp” một cách minh bạch (tất nhiên là rất khó khăn và kéo dài với đầy đủ mọi “xem xét”, “giải trình”) như những giấy phép cấp cho TKV thì chẳng cần các “cơ quan chức năng” giám sát cũng sẽ được thực hiện nghiêm chỉnh và chắc chắn không có cái nào bị bán cả.
Phần lớn các giấy phép do các địa phương cấp. Vì vậy, con số “60%” giấy phép bị bán là rất khiêm tốn. Con số này chỉ có thể giải thích là các giấy phép được “cấp” theo kiểu không minh bạch cho các đối tượng không có năng lực về kinh tế cũng như chuyên môn, hay cấp theo các đề án được “vẽ” ra cho “phù hợp” với những tiêu chí, tiêu chuẩn của “cơ quan chức năng”.
Sau khi nhận được giấy phép một cách không minh bạch, đương nhiên chủ giấy phép sẽ phải nhanh chóng triển khai và “hoàn vốn” bằng cách dễ nhất là bán cho người ngoài. Các doanh nghiệp (chủ giấy phép) sẽ thu được mức chênh lệch khá lớn (có thể lên tới hàng triệu đô la một giấy phép)”.
Vậy mục đích của các doanh nghiệp Trung Quốc khi mua lại giấy phép này là gì và họ sẽ được lợi gì? Ông Sơn cho rằng: “Các doanh nghiệp, doanh nhân Trung Quốc luôn sẵn sàng mua theo kiểu “chui” (thỏa thuận ngầm) và triển khai giấy phép bằng cách núp danh người bán để qua mặt các “cơ quan chức năng”, vừa trốn được thuế, vừa lách được mọi qui định.Trong khi đó, việc kiểm tra giám sát sau cấp phép thì lại bị coi nhẹ và quá chủ quan giống như “đười ươi giữ ống”.
Hậu quả đối với Việt Nam đương nhiên là tài nguyên khoáng sản bị bán rẻ, bị khai thác một cách vơ vét tàn bạo, và môi trường bị xâm hại (không có ai chịu trách nhiệm)”.
Trên thực tế, vấn nạn xuất khẩu lậu khoáng sản đã được "vạch mặt chỉ tên". Tuy nhiên, sau nhiều năm, tình trạng đó vẫn tiếp diễn. Vậy phải giải thích điều này thế nào? TS Sơn cho rằng: “Tình trạng đó vẫn cứ tiếp diễn vì 3 lý do cơ bản. Trước hết, là do những bất cập ở tầm quản lỹ vĩ mô về tài nguyên khoáng sản. Tư duy dựa vào xuất khẩu tài nguyên khoáng sản (TNKS) để tăng GDP là sai và là con dao hai lưỡi. VN rất nghèo về TNKS, có nhiều chủng loại TNKS, nhưng rất manh mún, khó khai thác, không có công nghệ chế biến hiệu quả (kể cả than và bauxite), và phần lớn TNKS không có nhu cầu sử dụng trong nước (ngoài than, dầu, khí, nước ngọt, cát, đá, sỏi).
Trong khi đó, một số người vẫn đưa ra các thông tin sai lệch (“bốc thơm”) về TNKS ở VN làm cho các nhà quản lý “tưởng bở”.
Thứ hai, về định hướng trong qui hoạch phát triển: đối với TNKS phải trọng “cầu” hơn trọng “cung”, “cầu” phải là cơ sở để qui hoạch phát triển “cung”. Các qui hoạch phát triển về TNKS của VN đều theo hướng “nhiệm kỳ”, có gì thì cứ tranh thủ “bới” lên để “ăn liền” (xuất khẩu).
Thứ ba, tình trạng này còn thể hiện sự bất lực trong quản lý vi mô (liên quan đến các cấp quản lý hành chính). Các “con voi” khoáng sản cứ liên tục “chui lọt” qua rất nhiều “lỗ kim” như: thuế, hải quan, biên phòng, cảng vụ, cảnh sát biển, cảnh sát kinh tế, cảnh sát môi trường…”.
Vậy có mối liên quan gì giữa hai thực trạng xuất lậu khoáng sản (chủ yếu sang Trung Quốc) và việc doanh nghiệp Trung Quốc đứng đằng sau việc khai thác khoáng sản không? Có ý kiến cho rằng, mục đích đằng sau những thương vụ này là nhằm thao túng, kiểm soát ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam, quan điểm của ông như thế nào? TS Nguyễn Thành Sơn trả lời: “Tôi không nghĩ, đằng sau những thương vụ này là nhằm thao túng hay kiểm soát ngành khai khoáng của VN, chưa đến mức độ như vậy.
Nhưng “lợi ích nhóm” và “tư duy nhiệm kỳ” là rõ. Hai thực trạng bán giấy phép và xuất khẩu lậu khoáng sản về bản chất chỉ là một, đều có mẫu số chung giống nhau là do chúng ta hành xử với TNKS theo kiểu “chộp giật”, rất thiếu trách nhiệm với tương lai, rất không bền vững đối với hiện tại.
Còn trả lời cho câu hỏi “chúng ta phải làm gì?” thì rất dễ, ai cũng có thể nói được, nên tôi cũng chẳng cần phải nói. Câu hỏi quan trọng hơn là “chúng ta phải làm như thế nào?”. Lẽ ra, để trả lời cho câu hỏi này thì phải nghiên cứu, phải học, phải tìm hiểu cụ thể, nhưng tôi xin phép trả lời ngắn ngọn dễ hiểu là phải minh bạch về TNKS”. (Đất Việt 24/1) đầu trang(
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Để hạn chế công ty chui, “ma”, Sở VH-TT-DL TP.HCM đề xuất bắt buộc các doanh nghiệp lữ hành phải treo biển hiệu do cơ quan du lịch cấp ở trước cửa.
Theo các chuyên gia, nếu kiến nghị này được chấp nhận, các doanh nghiệp (DN) kinh doanh lữ hành phải treo một biển hiệu, do Sở VH-TT-DL cấp, ở trước cửa giống như các khách sạn gắn sao. Khách mua tour sẽ dựa vào biển hiệu này để nhận biết đâu là công ty có giấy phép, đâu là công ty chui. Những công ty du lịch quốc tế mới thành lập, khi làm hồ sơ xin cấp giấy phép sẽ được cấp biển hiệu. Các công ty du lịch quốc tế đủ điều kiện đang hoạt động sẽ lấy mẫu do Sở VH-TT-DL địa phương cung cấp để làm biển hiệu.
Tuy nhiên, đối với các công ty du lịch nội địa thì lại không đơn giản để xin giấy phép này, do kể từ năm 2001, giấy phép lữ hành nội địa của họ đã bị loại bỏ nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính. Các công ty này sau khi được cấp giấy phép kinh doanh bởi Sở Kế hoạch-Đầu tư (KH-ĐT) sẽ chỉ đăng ký hoạt động lữ hành với Sở VH-TT-DL là đủ điều kiện. Vì thế, khi bắt buộc phải treo biển hiệu, họ phải làm hồ sơ xin phép Sở rồi mới được cấp biển hiệu này.
Như vậy giấy phép con vốn đã bị loại bỏ từ hơn 10 năm trước lại được khôi phục. Không chỉ thế, nếu kiến nghị của Sở VH-TT-DL TP.HCM được chấp thuận thì các DN lữ hành nội địa đang từ kinh doanh không có giấy phép sẽ trở thành kinh doanh có phép và luật Du lịch buộc phải sửa lại để phù hợp với điều này.
Ông T., giám đốc một công ty du lịch lớn ở TP.HCM, phân tích theo quy định hiện hành, kinh doanh lữ hành nội địa chỉ cần có giấy phép của Sở KH-ĐT và đăng ký với Sở VH-TT-DL. Nhưng nếu kiến nghị trên được áp dụng, thì hai điều kiện trên vẫn chưa đủ mà phải có biển hiệu mới được thừa nhận. “Đó chẳng khác nào một loại giấy phép con. Vì bắt buộc phải treo trước cửa, nên chưa có biển hiệu thì không đủ điều kiện kinh doanh, khách hàng không thừa nhận", ông T. nói.
Ông Phan Đình Huê, Giám đốc Công ty du lịch Vòng Tròn Việt, nghi ngờ tính hiệu quả của đề xuất trên, vì nếu họ có thể hoạt động chui thì cũng có thể treo biển chui. “Quan trọng là phải tăng cường công tác thanh kiểm tra để ngăn chặn tình trạng hoạt động lữ hành chui, chứ không phải tăng cường quản lý bằng biện pháp hành chính”, ông Huê phát biểu.
Tương tự, ông Nguyễn Văn Mỹ, Giám đốc Công ty du lịch Lửa Việt, khẳng định kiến nghị của Sở VH-TT-DL TP.HCM là máy móc và không phù hợp thực tế. Quy định bắt buộc treo biển hiệu là phiền phức, vì đa số DN đều ghi số giấy phép hoạt động lữ hành trên bảng hiệu công ty hoặc trưng giấy phép ngay khu vực tiếp khách.
“Việc bắt buộc các DN du lịch treo biển hiệu để tránh tình trạng công ty chui và du khách phải tự kiểm tra công ty nào có biển hiệu thật để mua tour là đẩy khó về cho người dân. Tấm biển hiệu được treo lên, khách khó mà biết được cái nào thật, cái nào giả trong khi nhiệm vụ xử lý các công ty du lịch chui là việc của cơ quan quản lý. Hơn nữa, cấp biển hiệu có thể dẫn đến sự cầu cạnh của DN vào cơ quan quản lý, dễ phát sinh tiêu cực trong cơ chế xin - cho”, ông Mỹ nhấn mạnh.
Theo ông Mỹ, có nhiều cách để giải quyết căn cơ nạn lữ hành chui. Cơ quan quản lý chỉ cần có sự phối hợp với các đơn vị chức năng ở cửa khẩu đường bộ, hàng không kiểm tra đột xuất hướng dẫn viên đưa các đoàn khách đi nước ngoài có giấy phép lữ hành quốc tế hay không.
Ngoài ra, tăng cường kiểm tra hướng dẫn viên ở các tuyến điểm trong nước đưa khách tham quan có hợp pháp. Cùng với thanh kiểm tra là phải có chế tài nghiêm khắc, chứ không buông lỏng như hiện nay. (Thanh Niên 24/1) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Ngày 23-1, TAND TP Phan Thiết đã tuyên hoãn phiên tòa xử bị cáo Lê Duy Khiêm (nguyên trưởng Phòng Đăng ký đất đai, thuộc Sở TN&MT tỉnh Bình Thuận) lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Theo HĐXX, việc hoãn này là do cần triệu tập thêm ông Huỳnh Giác, Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Bình Thuận. Ngoài ra, đại diện Ngân hàng Agribank Chi nhánh 7 TP.HCM và ông Ngô Văn Phưởng (nguyên chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Hawaii, hiện đang bị Công an TP.HCM tạm giam) cũng vắng mặt phiên tòa.
Theo cáo trạng, năm 2008, Công ty Hawaii ký hợp đồng thuê đất trả tiền hằng năm cho UBND tỉnh Bình Thuận gần 100.000 m2 đất để làm du lịch tại xã Hòa Thắng (Bắc Bình, Bình Thuận). Do đất thuê hằng năm không thể thế chấp giấy đỏ để vay ngân hàng nên Phưởng móc nối với bị cáo Khiêm nhờ “giúp” chuyển từ hợp đồng thuê đất sang giao đất mà không phải nộp vào ngân sách nhà nước hơn 22 tỉ đồng.
Bị cáo Khiêm đồng ý “giúp” và đã đưa hồ sơ trình phó giám đốc Sở TN&MT ký. Có được bốn giấy đỏ miễn phí này, Phưởng đã thế chấp Agribank Chi nhánh 7 TP.HCM vay gần 30 tỉ đồng. Vụ việc bị phát giác khi Agribank có công văn gửi Sở TN&MT tỉnh Bình Thuận để đối chiếu thông tin, hồ sơ tài sản thế chấp của Phưởng.
Bốn giấy đỏ mà Phưởng thế chấp sau đó bị cơ quan điều tra thu hồi và đến nay do không có khả năng hoàn trả nên Phưởng đã bị Công an TP.HCM khởi tố, bắt giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Được biết cơ quan điều tra cũng đã tách vụ án hình sự thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng liên quan đến hành vi của nhiều cán bộ và lãnh đạo Sở TN&MT tỉnh Bình Thuận thành một vụ án khác để điều tra. Hiện hồ sơ vụ án này đã được cơ quan điều tra gửi cho Bộ TN&MT có ý kiến về chuyên môn. (Pháp luật TP.HCM 24/1) đầu trang(
Ngày 23/1, cơ quan CSĐT Công an quận Bình Thạnh, TP.HCM xác nhận vừa triệt phá ổ cờ bạc tại quán cà phê, tạm giữ 22 đối tượng.
Trước đó, vào lúc 16h30 chiều 22/1 trinh sát đội cảnh sát hình sự, Công an quận Bình Thạnh phối hợp cùng công an địa phương bất ngờ đột kích vào quán cà phê V.X trên đường Nguyễn Duy, phường 13, quận Bình Thạnh.
22 con bạc đang say sưa sát phạt tại 4 sòng bạc bị khống chế tại chỗ. Công an thu giữ tang vật gồm: gần 90 triệu đồng, 100 USD, 14 xe gắn máy, 6 bộ bài, 1 bộ cá ngựa, 4 bộ xí ngầu…
Điều tra bước đầu, đối tượng Nguyễn Hữu Dũng (SN 1961, ngụ tỉnh Đắc Lắc) khai nhận mở quán cà phê trên và sử dụng làm nơi tổ chức sòng bạc lôi kéo nhiều đối tượng khác tham gia. Thời điểm công an ập vào bắt giữ có 4 sòng bạc đang hoạt động cùng lúc gồm 2 sòng binh sập xám, 1 sòng cá ngựa và 1 sòng đánh tiến lên. Đáng nói trong số 22 con bạc bị bắt giữ đa phần là cán bộ, công chức.
Công an quận Bình Thạnh đang lập hồ sơ, xử lý các đối tượng trên theo mức độ, hành vi phạm tội. (Infonet 24/1) đầu trang(
THỐNG KÊ
Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trên toàn cầu, tuy nhiên, số lao động trẻ thất nghiệp lại gấp 3 lần so với tỷ lệ thất nghiệp trong nước nói chung.
Thông tin do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra hôm 21/1, cho biết thất nghiệp toàn cầu trong năm 2013 đã gần chạm mốc 202 triệu người, tăng trưởng việc làm còn yếu, thất nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt nhóm lao động trẻ và một lượng lớn người có khả năng lao động vẫn nằm ngoài thị trường lao động.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm không thể cải thiện được thị trường lao động thế giới. Tại Việt Nam, năm 2013 tình trạng thất nghiệp cũng tăng nhẹ, cùng với tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương cao hơn.
Tổng giám đốc ILO Guy Ryder cho biết, qua các cuộc điều tra và thống kê đã cho thấy triển vọng việc làm tại Việt Nam khá khả quan. Cụ thể, đợt điều tra Lao động việc làm Quý 4/ 2013 do Tổng cục Thống kê và ILo thực hiện cho kết quả: số lượng việc làm nhiều hơn trước, tăng 862,000 việc làm - tức 1,7% – trong quý 4/2013 so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng trưởng việc làm nhanh nhất thuộc về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), ở mức 4,8% so với năm 2012. Phần lớn việc làm mới được tạo ra thuộc khối dịch vụ, công nghiệp và xây dựng.
Giữa tháng 12/2013, hãng điện tử Samsung Electronics đã chuyển các nhà máy của mình từ Trung Quốc sang Việt Nam, một trong những lý do Samsung đưa ra là do nhân công Việt Nam chỉ rẻ bằng 1/3 Trung Quốc.
Cụ thể, khảo sát năm 2012 của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), lương trung bình một tháng của công nhân nhà máy tại Bắc Kinh (Trung Quốc) là 466 USD, hơn gấp ba lần tại Hà Nội (145 USD).
Báo cáo cũng chỉ rõ, tỷ lệ lao động trẻ thất nghiệp gấp 3 lần so với tỷ lệ thất nghiệp trong nước nói chung, ở mức 5,95% trong quý 4 năm 2013.
Theo đánh giá của ILO, hiện tình trạng thất nghiệp thanh niên và việc làm phi chính thức vẫn là vấn đề đáng lo ngại trên toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên toàn cầu ở mức hơn 13% – nhiều hơn gấp đôi tỷ lệ thất nghiệp chung trên toàn thế giới.
Báo cáo về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong năm 2013 cho thấy, các doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động trong năm 2013 lên tới 60.737 doanh nghiệp, tiếp tục tăng 11,9% so với năm 2012.
Nói về thực trạng công chức Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.Hà Nội - Trương Trọng Dực đã cho biết "chạy công chức 100 triệu" không hiếm. Điều này khiến cựu Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) ông Alain Cany nhận xét, bộ máy công chức của Việt Nam hiện đang quá cồng kềnh với số lượng công chức, viên chức hơn mức cần thiết.
Theo ông Alain, điều đầu tiên mà các cơ quan Nhà nước phải làm trong tiến trình cải cách tiền lương đó là xác định đúng số lượng nhận sự cần thiết, với khối lượng công việc như vậy thì bộ máy cần bao nhiêu người và thuê tuyển đúng số người cần thiết và có đủ năng lực, phải đáp ứng mức lương đúng với năng lực của họ. (Đất Việt 22/1) đầu trang(./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||