|
Ngày 17 tháng 09 năm 2015
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ
KINH TẾ
ĐỊA PHƯƠNG
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
THỜI SỰ
“Qua thảo luận, đa số ý kiến tán thành việc dừng thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại (TPL). Quốc hội (QH) sẽ ban hành nghị quyết để thực hiện chế định TPL với những điều kiện, nội dung, phạm vi, trình tự, thủ tục nhất định, sau đó giao cho Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết. Sau thời gian thực hiện nghị quyết này, cơ quan chức năng sẽ tiến hành tổng kết và trình QH xem xét luật về TPL”.
Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu đã đúc kết như trên tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ QH chiều 16-9.
Trước đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho hay chế định TPL được thực hiện tại 13 địa phương và làm được rất nhiều việc. Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH Nguyễn Văn Hiện cũng đánh giá tuy vẫn còn một số hạn chế nhưng hoạt động của TPL bước đầu đã định vị được vị trí, phát huy tác dụng trong đời sống xã hội.
Cho ý kiến về nội dung này, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng cho rằng nên nghiên cứu để Việt hóa khái niệm TPL để người dân dễ hiểu. Ngoài ra, trong dự thảo nghị quyết cũng cần phải xác định rõ các nguyên tắc, phạm vi, tức là quy định những điều kiện để tổ chức văn phòng TPL… (Pháp Luật TP.HCM 17/9) đầu trang(
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Mục tiêu trên được đặt ra trong dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội XII của Đảng và Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020.
Cụ thể, trong dự thảo hai văn kiện trên, Ban Chấp hành Trung ương đặt mục tiêu phấn đấu trong 5 năm tới, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5-7%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200-3.500 USD. tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP trên 85%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32-34% GDP; bội chi ngân sách nhà nước không quá 4% GDP. Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng khoảng 25-30%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng 4-5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1-1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đến năm 2020 đạt 38-40%.
Về phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, dự thảo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 xác định đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Cụ thể về cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Trung ương xác định nhiệm vụ: Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá lớn; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phát triển bền vững, an ninh lương thực quốc gia và vệ sinh, an toàn thực phẩm. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp bình quân khoảng 3-3,5%/năm...
Đồng thời, tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020 khoảng 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế-xã hội. Có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại và thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tại địa bàn nông thôn…
Về công nghiệp, Trung ương xác định đẩy mạnh cơ cấu lại công nghiệp, tạo nền tảng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp, xây dựng bình quân khoảng 7,5%/năm; đến năm 2020 tỉ trọng công nghiệp, xây dựng trong GDP khoảng 40%; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP khoảng 25%, trong đó công nghiệp chế tạo khoảng 15%.
Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7 - 7,5%/năm.Tỉ trọng khu vực dịch vụ trong GDP khoảng 45% vào năm 2020. Ưu tiên phát triển những ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao…
Đặc biệt, Trung ương xác định phải phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo. Theo đó, Trung ương khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các ngành khai thác, chế biến dầu khí; cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải biển; khai thác và chế biến hải sản, các dịch vụ hậu cần nghề cá; du lịch biển, đảo. Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phục vụ sản xuất và đời sống vùng biển, đảo. Đẩy nhanh điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển, đảo.
Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển. Xây dựng các cơ sở hậu cần nghề cá, tránh trú bão, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ và hoạt động dài ngày trên biển. Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân định cư lâu dài trên các đảo. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an ninh, an toàn trên biển, đảo.
Bên cạnh đó, Trung ương cũng xác định phương hướng, nhiệm vụ trong phát triển các vùng và khu kinh tế; đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp; về doanh nghiệp nhà nước; về doanh nghiệp tư nhân; về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; về kinh tế hợp tác.
Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại. Nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, bảo đảm hiệu quả tổng hợp và tính hệ thống, nhất là mạng lưới giao thông, điện, nước, thuỷ lợi, thông tin truyền thông, giáo dục, y tế.
Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình lớn, quan trọng, thiết yếu, nhất là tại các khu vực có tiềm năng phát triển và giải quyết các ách tắc, quá tải. Bảo đảm kết nối thông suốt giữa các trung tâm kinh tế lớn, các đầu mối giao thông cửa ngõ, các tuyến có nhu cầu vận tải lớn.
Tiếp tục triển khai xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc, tập trung ưu tiên cho các đoạn đường bộ cao tốc Bắc-Nam, đường bộ cao tốc kết nối các trung tâm kinh tế lớn. Đầu tư nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước triển khai xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam. Hoàn thành đầu tư xây dựng các cảng biển cửa ngõ quốc tế khu vực phía Bắc và phía Nam. Cải tạo, nâng cấp các cảng hàng không; phân kỳ đầu tư xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Hoàn thành các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các công trình cấp, thoát nước tại các đô thị lớn. Hoàn thành xây dựng các bệnh viện tuyến cuối. Đồng thời, quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông tại các vùng khó khăn. Ưu tiên đầu tư các dự án hạ tầng đáp ứng yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 16/9) đầu trang(
Bộ Tài chính đề xuất như vậy trong dự thảo thông tư quy định về mức thu, nộp và quản lý lệ phí thẻ căn cước công dân.
Theo đó, công dân từ đủ 14 tuổi trở lên làm thủ tục cấp thẻ căn cước công dân không phải nộp phí. Nhà nước cũng không thu phí đổi thẻ đối với người đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.
Ngoài ra các đối tượng là bố, mẹ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con dưới 18 tuổi của thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; công dân thuộc các xã, thị trấn vùng cao theo quy định của Ủy ban Dân tộc; công dân thuộc hộ nghèo cũng không phải nộp lệ phí đổi thẻ căn cước công dân.
Còn những trường hợp phải mất phí là công dân Việt Nam khi làm thủ tục đổi, cấp lại thẻ. Mức phí đổi thẻ căn cước công dân là 50.000 đồng/thẻ, còn cấp lại là 70.000 đồng/thẻ. Người dân thường trú tại các xã, thị trấn miền núi; các xã biên giới; các huyện đảo nộp lệ phí bằng 50% mức thu quy định.
Thẻ căn cước công dân gồm các thông tin: mặt trước thẻ có hình quốc huy nước VN, dòng chữ “Căn cước công dân”, ảnh, số thẻ, họ và tên khai sinh, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, nơi thường trú; ngày, tháng, năm hết hạn. Mặt sau có thông tin được mã hóa: vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ; ngày, tháng, năm cấp thẻ; họ và tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ và dấu có hình quốc huy.
Thẻ căn cước công dân có thể được sử dụng thay hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu. Thẻ phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.
Trong luật cũng quy định chứng minh nhân dân đã được cấp trước ngày luật này có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ căn cước công dân.
Mặt khác, các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ chứng minh nhân dân vẫn nguyên hiệu lực pháp luật. Các loại biểu mẫu đã phát hành có quy định sử dụng thông tin từ chứng minh nhân dân được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31-12-2019.
Luật căn cước công dân có hiệu lực từ ngày 1-1-2016. Theo quy định của luật này, trẻ từ 14 tuổi trở lên sẽ được cấp thẻ căn cước công dân thay cho chứng minh nhân dân. (Tuổi Trẻ 16/9) đầu trang(
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
Nội dung chính trong buổi làm việc ngày 14/9 giữa đoàn công tác Thanh tra Chính phủ Việt Nam và đại diện Cơ quan chống tham nhũng Italy diễn ra tại Thủ đô Rome là xem xét dự thảo của Bản ghi nhớ hợp tác trong công tác phòng, chống tham nhũng giữa Việt Nam-Italy và tiến tới sớm ký kết vào năm 2016.
Dẫn đầu đoàn công tác Thanh tra Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh, đã cung cấp thông tin tích cực về tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam, về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại hành chính và phòng, chống tham nhũng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại hành chính và phòng chống tham nhũng ở Việt Nam.
Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cũng thông tin và giải đáp nhiều câu hỏi của đại diện Cơ quan chống tham nhũng Italy về hình thức, chức năng, nhiệm vụ phòng chống tham nhũng của cơ quan Thanh tra Chính phủ Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đó, đoàn cán bộ cao cấp của Thanh tra Chính phủ cũng đặt ra nhiều câu hỏi về kinh nghiệm trong công tác tổ chức, triển khai hoạt động và kết quả phòng, chống tham nhũng của Italy.
Về phần mình, Phó Chủ tịch Cơ quan chống tham nhũng Italy, bà Parisi Nicdetta cho biết Cơ quan chống tham nhũng của Italy mới được thành lập từ hơn một năm nay nên những thông tin, kinh nghiệm trong công tác cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng mà đoàn công tác của Thanh tra Việt Nam cung cấp, trao đổi là rất đáng quý, cần thiết cho phía Italy.
Cán bộ của hai bên đã tích cực trình bày và trao đổi kinh nghiệm trong chỉ đạo, điều hành công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; tìm hiểu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng.
Các nội dung trong dự thảo Bản ghi nhớ hợp tác trong công tác phòng, chống tham nhũng giữa hai cơ quan cũng được trao đổi chi tiết trong buổi làm việc với nhiều nội dung quan trọng như tăng cương trao đổi đoàn, trao đổi kinh nghiệm và đào tạo cán bộ.
Lãnh đạo hai cơ quan nhất trí sẽ thúc đẩy để có thể ký kết văn bản hợp tác này vào năm 2016. (Vietnamplus 17/9) đầu trang(
QUẢN LÝ
Ngày 16-9, nguồn tin cho biết Thanh tra VKSND Tối cao vừa có văn bản yêu cầu tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để xem xét xử lý đối với nhiều cá nhân là lãnh đạo, nguyên là lãnh đạo của VKSND TP Cần Thơ.
Cụ thể, Thanh tra VKSND Tối cao kiến nghị kiểm điểm ông Hồ Thanh Long (nguyên viện trưởng), ông Nguyễn Thống Nhất (viện trưởng), bà Trần Thị Tám (phó viện trưởng) và kiểm sát viên Nguyễn Thị Hoàng Mai Lan (nguyên Trưởng phòng 1 - VKSND TP Cần Thơ, hiện là viện trưởng VKSND quận Ninh Kiều).
Nguyên do có đề nghị trên, Thanh tra VKSND Tối cao cho hay do Cần Thơ để vụ án lừa đảo xảy ra tại Công ty An Khang kéo dài thời hạn giải quyết ba năm sáu tháng. Thanh tra VKSND Tối cao cho rằng đây là vụ án lớn, phức tạp, thủ đoạn tinh vi, dính tới nhiều ngân hàng, đơn vị và mới xảy ra lần đầu tại Cần Thơ…
Tuy vậy, việc để vụ án kéo dài là có nguyên nhân chủ quan, trong đó do kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra vụ án luân chuyển công tác, người mới tiếp nhận còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm. Do vậy, việc kiến nghị xử lý trách nhiệm các cán bộ, cá nhân liên quan là nhằm giáo dục, phòng ngừa chung.
Theo hồ sơ, Công ty An Khang (ở Khu công nghiệp Trà Nóc, Cần Thơ) do ông Nguyễn Hồng Quân làm chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc. Con gái ông Quân là Nguyễn Thị Thu Sương làm phó giám đốc.
Bà Sương đã vay tiền bên ngoài với lãi suất cao rồi mất khả năng thanh toán. Sau đó bà Sương chỉ đạo thuộc cấp cung cấp sai lệch tình trạng tài chính, hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty, làm khống hồ sơ, tài liệu để thế chấp vay vốn ngân hàng.
Tổng số tiền mà Sương lừa đảo các ngân hàng là hơn 104 tỉ đồng và 4,4 triệu USD… Giữa tháng 7-2011, Công an TP Cần Thơ khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng đến cuối năm 2013 mới có kết luận điều tra. Sau đó vụ án phải ba lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhiều lần gia hạn thời gian truy tố và đến giữa tháng 1-2015, vụ án mới được đưa ra xét xử sơ thẩm.
Theo đó, bị cáo Sương bị phạt 20 năm tù giam, bị cáo Quân bị phạt hai năm tù treo. Ngoài ra, nhiều cán bộ ngân hàng cũng bị xử phạt tù. (Pháp Luật TP.HCM 17/9) đầu trang(
Công trình A3 khu tập thể số 8 Lý Nam Đế, P.Hàng Mã, Hà Nội do ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó giám đốc Sở GTVT Hà Nội đứng tên sổ đỏ, giấy phép xây dựng đã thi công sai quy định.
Sáng 16-9, công trình nói trên vẫn tiếp tục thi công và đang trong giai đoạn hoàn thiện. Trao đổi về thực trạng công trình xây sai phép của ông Linh, bà Nguyễn Thị Minh Tâm, Phó chủ tịch UBND P.Hàng Mã (Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội) thừa nhận, công trình A3 khu tập thể số 8 Lý Nam Đế xây dựng sai so với giấy phép được cấp.
“Về quản lý nhà nước, đã lập biên bản, đã ban hành quyết định đình chỉ thi công, đã báo cáo chi tiết lên UBND quận Hoàn Kiếm nhưng việc xử lý chưa triệt để” - bà Tâm nói.
Trước câu hỏi có hay không chuyện phường bao che, làm ngơ trước công trình xây sai phép do lãnh đạo Sở là chủ sở hữu, bà Tâm đáp: “Nếu nói làm ngơ thì không có chuyện làm ngơ, cũng không bao che, nhưng việc giám sát của phường chưa chặt chẽ nên công trình có phát sinh sai phạm”.
Trong khi đó, ông Nguyễn Hoàng Linh thừa nhận đứng tên trên lô đất xây dựng công trình. Theo giải thích của ông Linh, diện tích đất dành để xây dựng công trình nói trên là do bố đẻ của ông để lại.
Theo phân công của gia đình, ông Linh được giao nhiệm vụ đứng tên mảnh đất này từ rất nhiều năm nay.
“Cả gia đình tôi có tới tám hộ gia đình với 36 nhân khẩu sống chung trên một mặt bằng này. Hàng chục năm nay sống trong các ngôi nhà cấp 4 cải tạo không đảm bảo điều kiện sống lẫn an toàn. Sau nhiều lần họp gia đình, cả nhà thống nhất nhờ một nhà đầu tư đứng ra xây dựng lại để có không gian sống”, ông Linh cho hay.
Ông Linh cho biết doanh nghiệp nói trên đồng ý bỏ chi phí để xây dựng tòa nhà trên diện tích đất cũ, trong đó có một nửa trên dành cho các anh em của ông Linh sinh sống, nửa còn lại phía dưới họ sẽ sử dụng làm trụ sở doanh nghiệp miễn phí trong vòng 20 năm. Phía doanh nghiệp cũng thống nhất là gia đình tôi không can thiệp vào quá trình đầu tư xây dựng, thi công.
Ông Linh cũng cho hay, sau khi công trình dần hoàn thiện thì thực tế vượt quá diện tích xây dựng so với giấy phép xây dựng được cấp. Theo đó, giấy phép xây dựng cấp là 7 tầng, một tum (lửng), không kể tầng hầm, tuy nhiên thực tế xây dựng là 8 tầng, 1 tum.
“Tôi chỉ là người được gia đình ủy quyền đứng tên, còn sai phạm như thế nào về xây dựng thì chủ đầu tư và bên thi công công trình sẽ chịu trách nhiệm”, ông Linh nói. (Tuổi Trẻ 16/9) đầu trang(
NHÂN SỰ
Sau 3 ngày, từ 14 đến 16/9, làm việc khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2015 - 2020) đã bế mạc.
Đại hội đã thông báo kết quả bầu cử và ra mắt Ban Chấp hành, Ban thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư tỉnh ủy và Ủy Ban kiểm tra Đảng bộ tỉnh Hòa Bình khóa XVI (nhiệm kỳ 2015 - 2020).
Đại hội đã bầu 54 người vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Tại phiên họp lần thứ nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã bầu 15 người vào Ban thường vụ.
Ông Bùi Văn Tỉnh tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Các ông Trần Đăng Ninh, Nguyễn Văn Quang tiếp tục giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy (nhiệm kỳ 2015 - 2020). Ủy Ban kiểm tra gồm 11 người, trong đó ông Hoàng Văn Đức được bầu giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Tỉnh uỷ.
Đại hội đã bầu đoàn đại biểu của tỉnh dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng gồm 18 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết. (TTXVN 16/9) đầu trang(
KINH TẾ
Tập đoàn điện lực VN (EVN) vừa xây dựng xong Đề án cải tiến cơ cấu biểu giá điện để lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia kinh tế và người dân trong 3 hội thảo tổ chức ở 3 vùng, miền trong thời gian tới.
Cụ thể, theo EVN, phương án 1 sẽ giữ nguyên 6 bậc như hiện hành. Phương án 2 được EVN xây dựng một mức đồng giá 1.747 đồng/kWh, đây là mức giá bán điện bình quân của biểu giá điện sinh hoạt bậc thang hiện hành. Theo phương án này, những hộ sử dụng ít điện, trong khoảng 200 kWh/tháng sẽ phải chịu tiền điện cao hơn vì 50 kWh đầu hiện có giá 1.484 đồng/kWh, 100 kWh/tháng có giá 1.533 đồng/kWh và 200 kWh/tháng thì trả mức 1.786 đồng/kWh. Còn những người sử dụng trên.
200 kWh thì được lợi hơn vì giá điện giảm xuống. Theo biểu giá hiện hành, mức giá từ 201 - 300 kWh/tháng có đơn giá là 2.242 đồng/kWh, từ 301 đến 400 kWh có đơn giá là 2.503 đồng/kWh và trên 400 kWh có đơn giá là 1.587 đồng/kWh.
Phương án 3 được EVN rút gọn biểu giá điện sinh hoạt bậc thang từ 6 bậc về 3 hoặc 4 bậc, mức giá bình quân là 1.747 đồng/kWh, trong đó có 5 kịch bản:
Kịch bản 1: Bậc 1 - 50 kWh có giá 1.484 đồng; Bậc 2 - 250 kWh có giá 1.763 đồng/kWh; Bậc 3 trên 300 kWh có giá 2.557 đồng/kWh.
Kịch bản 2: Bậc 1 - 100 kWh có giá 1.501 đồng/kWh; Bậc 2 - 200 kWh có giá 1.907 đồng/kWh; Bậc 3 - trên 300 kWh có giá 2.557 đồng/kWh.
Kịch bản 3: Bậc 1 - 150 kWh có giá 1.559 đồng/kWh; Bậc 2- 150 kWh có giá 2.007 đồng/kWh; Bậc 3 - trên 300 kWh có giá 2.557 đồng/kWh.
Kịch bản 4: Bậc 1 - 200 kWh có giá 1.584 đồng/kWh; Bậc 2 - 200 kWh có giá 2.325 đồng/kWh; Bậc 3 trên 400 kWh có giá 2.587 đồng/kWh.
Kịch bản 5: “Cắt” ngắn 22 ngày thời gian thẩm định DN ưu tiên
Bậc 1 - 50 kWh có giá 1.484 đồng/kWh; Bậc 2 - 150 kWh có giá 1.670 đồng/kWh; Bậc 3 - 200 kWh có giá 2.325 đồng/kWh; Bậc 4 trên 400 kWh có giá 2.587 đồng/kWh.
Theo một chuyên gia ngành điện, nếu theo bảng giá điện này, một hộ gia đình dùng 400 số điện/tháng thì theo phương án thứ 1, tiền điện của gia đình này là 714.490 đồng/tháng; theo phương án thứ 2 là 698.800 đồng/tháng; theo phương án 3, kịch bản 1 là 770.650 đồng/tháng; kịch bản 2 là 787.200 đồng/tháng, kịch bản 3 là 790.150 đồng/tháng; kịch bản 4 là 781.800 đồng/tháng; kịch bản 5 là 789.800 đồng/tháng. Nhưng theo cách hạ bậc thang giá điện thế này, một số chuyên gia ngành điện cho rằng nhiều khả năng tiền điện sẽ tăng chứ không giảm.
Trong 3 phương án, theo nhìn nhận của một số chuyên gia ngành điện, khả năng phương án 3 sẽ được đóng góp ý kiến nhiều và có khả năng thực hiện hơn do phương án 1 là biểu giá hiện hành. Còn phương án 2, lấy một mức giá chung cũng không hợp lý vì không khuyến khích tiết kiệm điện còn phương án 3 nếu được tiếp thu, chỉnh sửa hợp lý hơn sẽ có tính khả thi cao hơn. Tuy nhiên, đây là phương án mở nên qua hội thảo ở 3 miền với nhiều ý kiến góp ý có thể sẽ được chỉnh sửa nhiều, để đảm bảo tính khả thi cao nhất.
Trước đây, vào tháng 6.2015, sau khi có nhiều ý kiến trên báo chí phản ánh biểu giá điện mới không hợp lý, có thể là một nguyên nhân khiến hóa đơn tiền điện của người dân tăng cao, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng và Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng đã chủ trì cuộc họp với Cục Điều tiết điện lực và EVN về việc sửa đổi cơ cấu biểu giá bán lẻ điện của EVN.
Tại cuộc họp này, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho rằng, biểu giá điện là bất hợp lý và hóa đơn tiền điện của người dân tăng cao bất thường là cần xem xét lại nên ông đã yêu cầu EVN hoàn thiện Đề án nghiên cứu cải tiến cơ cấu biểu giá, trước mắt tập trung vào nghiên cứu cơ cấu biểu giá áp dụng cho khách hàng sinh hoạt.
Trong cuộc họp báo mới đây, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải cho biết, trong tháng 9.2015, EVN sẽ tổ chức Hội thảo tại 3 miền về đề án. Trong tháng 10, đề án này sẽ được trình lãnh đạo Bộ Công thương xem xét và tháng 11, sau khi đề án chỉnh lại, sẽ được trình lên Chính phủ xem xét, phê duyệt. (Thanh Niên 17/9) đầu trang(
Việc bỏ tiền ngân sách ra cho cán bộ, doanh nghiệp ra nước ngoài xúc tiến thương mại là cần thiết để mở rộng thị trường xuất khẩu, tuy nhiên, thị trường xúc tiến và thành phần tham gia đoàn đi cho mặt hàng gạo mà Bộ Công thương đề xuất, theo nhiều chuyên gia là chưa hợp lý.
Theo văn bản của Bộ Công thương, các chương trình xúc tiến thương mại nhằm xuất khẩu gạo sang Hồng Kông, Trung Quốc, Philippines, Mỹ, Mexico... sẽ được tổ chức đoàn đi trong năm nay. Tuy nhiên ngay tại vựa lúa ĐBSCL có nhiều doanh nghiệp (DN) không tham gia.
Công ty CP Gentraco (Cần Thơ) là một trong những DN tư nhân hàng đầu VN trong lĩnh vực xuất khẩu gạo nhưng ông Trần Thanh Vân, Phó giám đốc công ty cho biết: “Chúng tôi cũng không tham gia chuyến nào. Vì đi chỉ là cưỡi ngựa xem hoa không, chứ giờ mua bán khó lòng lắm”.
Ông Vân giải thích: “Các nước nhập khẩu gạo VN đã và đang cố gắng tự túc hết, không mua gạo của mình nữa hoặc mua với số lượng hạn chế. Còn các thị trường khó tính như Mỹ thì có hai vấn đề khiến gạo Việt khó chen chân vào. Thứ nhất Mỹ cũng là nước xuất khẩu gạo. Thứ hai, Thái Lan xâm nhập vào thị trường này từ sớm và đưa vào loại gạo chất lượng cao nên khách hàng đã quen rồi. Như vậy thì làm sao mình mang gạo vào bán cho họ được”.
Đồng quan điểm này, TS Nguyễn Văn Ngãi, Trưởng khoa Kinh tế, ĐH Nông Lâm (TP.HCM) nhận định: Mỹ và Mexico không phải là thị trường cho hạt gạo VN vì người gốc Âu và Mỹ La tinh ít ăn gạo. Chỉ có một bộ phận người gốc Á sử dụng nên nhu cầu không lớn. Trong khi gạo của chúng ta là gạo trắng hạt dài phục vụ các thị trường bình dân. Đó là chưa kể, các nước này lại là nước xuất khẩu gạo hàng đầu, nếu chen chân vào thì chúng ta cạnh tranh với họ bằng gì?
Ông Hồ Minh Khải, Giám đốc Công ty TNHH MTV nông nghiệp Cờ Đỏ nói: Tôi cũng không tham gia đoàn nào của Bộ Công thương vì đã đi Trung Quốc mấy lần rồi nhưng đều không hiệu quả, vừa mất công vừa tốn tiền. Thị trường này vướng ở khâu thanh toán. “Họ chỉ muốn mua gối đầu theo đường tiểu ngạch. Mình là DN làm ăn đàng hoàng, số lượng lớn làm theo kiểu đó không được” - ông nói và cho biết thêm, thị trường Philippines, Malaysia thì phải theo hợp đồng tập trung của Chính phủ, có thì DN mới tham gia. Bên cạnh đó, Philippines cũng cấp quota cho DN nhập khẩu nên muốn xuất cũng khó vì không biết đơn vị nào có quota, đơn vị nào không.
Một chuyên gia hàng đầu ở ĐBSCL đề nghị không nêu tên kể: Vừa rồi ông có ngồi với một vị lãnh đạo. Ông ấy nói, số lượng người, đoàn của VN mình đi nước ngoài nhiều quá. Mà có những chỗ đoàn nào của VN cũng đến, tổ chức sự kiện này nọ rồi cũng nói chừng ấy chuyện, hỏi chừng ấy câu. “Chúng ta đang tồn tại cái gọi là đi công tác theo “chế độ” cho cán bộ công chức. Có nhiều người đi qua đó không biết làm gì chỉ là đi tham quan. Cuối cùng ngân sách bỏ tiền ra, tốn kém mà không hiệu quả”, chuyên gia này kết luận.
Minh họa cho câu chuyện trên, TS Lê Văn Bảnh, Phó cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối, nêu ví dụ: “Tôi thấy trên trang mạng của Hiệp hội Lương thực VN có đăng thông báo kêu gọi DN đi xúc tiến thương mại ở Trung Quốc. Trong đó thành phần gồm: Bộ Công thương, Bộ NN-PTNT, UBND một số tỉnh biên giới phía bắc, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) và các DN kinh doanh xuất khẩu gạo, nông sản.
Tôi cũng không rõ vai trò của UBND các tỉnh biên giới phía bắc trong việc này là gì? Số lượng cán bộ sao nhiều thế, đến 12 người? Tôi nghĩ chỉ cần 5 - 3 người có năng lực đi là được rồi, có chức năng nhiệm vụ rõ ràng chứ đi nhiều tốn kém nhiều mà không hiệu quả. Còn nếu nói về vai trò biên giới thì trước nay vẫn buôn bán tiểu ngạch với họ đấy thôi. Cái chúng ta xúc tiến, chúng ta cần là làm ăn đàng hoàng theo đường chính ngạch”.
TS Nguyễn Văn Ngãi cũng đồng tình với nhận xét trên khi đặt vấn đề: Chúng ta phải tính xem các thành viên đó có cần thiết không, có hiệu quả không? Vì xài một đồng tiền từ ngân sách cũng phải tính toán cẩn thận. Chúng ta có thể thấy các đoàn DN xúc tiến thương mại của nước ngoài vào VN chỉ có DN và hiệp hội ngành nghề, không có đoàn nào có quan chức địa phương, chính quyền.
Trong văn bản gửi Bộ Tài chính về việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại nhằm xuất khẩu gạo, Bộ Công thương đề xuất, trong chương trình xúc tiến thương mại dự kiến tổ chức tại Hồng Kông vào tháng 9.2015 trong 4 ngày, kinh phí hỗ trợ cho đại diện một số bộ ngành và địa phương (khoảng 10 người) là hơn 34 triệu đồng/người.
Với chương trình xúc tiến thương mại tại Quảng Tây (Trung Quốc) trong 6 ngày, mức hỗ trợ cho các cán bộ (12 người) bình quân hơn 40 triệu đồng/người. Với một số thị trường xa, chi phí hỗ trợ cho cán bộ nhà nước khoảng 96 triệu đồng/người và 126 triệu đồng/người với DN. Riêng với DN, Bộ Công thương đề nghị hỗ trợ 100% theo hình thức chi thực hết bao nhiêu thanh toán bấy nhiêu.
Trong văn bản trả lời, Bộ Tài chính đã chấp thuận một phần các khoản chi mà Bộ Công thương đề xuất, riêng với đoàn xúc tiến thương mại gạo tại Mỹ và Mexico, Bộ Tài chính đề nghị rà soát, nêu rõ sự cần thiết của chuyến đi này trước khi phê duyệt. (Thanh Niên 17/9) đầu trang(
ĐỊA PHƯƠNG
UBND TP.HCM vừa ban hành quyết định quy định về thời gian hoạt động của các đại lý internet và các điểm truy nhập internet công cộng trên địa bàn TP.
Theo quy định này, các đại lý internet và các điểm truy nhập internet công cộng của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet chỉ được phép hoạt động từ 8 giờ sáng đến 22 giờ đêm mỗi ngày. Đồng thời phải niêm yết công khai thời gian hoạt động hàng ngày.
Đối với các điểm truy nhập internet công cộng như khách sạn, nhà hàng, sân bay, bến tàu, bến xe, quán cà phê và các điểm tuy nhập internet công cộng khác không dinh doanh trò chơi điện tử, thời gian hoạt động tuân thủ theo giờ đóng mở cửa của cơ sở kinh doanh.
Quyết định trên chính thức có hiệu lực kể từ ngày 24-9-2015. Sở Thông tin Truyền thông TP.HCM có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các sở ngành liên quan, UBND 24 quyện huyện thực hiện quyết định này. (Pháp Luật TP.HCM 17/9) đầu trang(
Ngày 16.9, Chủ tịch tỉnh Bình Định có văn bản giao Sở TN-MT kiểm tra, rà soát việc sử dụng đất, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định thu hồi đất của 17 đơn vị thuê đất nhưng không sử dụng đúng mục đích hoặc không sử dụng trong thời gian dài.
Hầu hết những lô đất này nằm ở các vị trí đắc địa tại TP.Quy Nhơn như ở các đường Tăng Bạt Hổ, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Tây Sơn hoặc có diện tích rất lớn (từ 2.000 m2 đến trên 22.000 m2).
Ngoài ra, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cũng yêu cầu 12 đơn vị nộp đủ 1,6 tỉ đồng tiền nợ thuê đất cho nhà nước theo kết luận mà Thanh tra tỉnh đã nêu.
Trước đó, Thanh tra tỉnh Bình Định đã thanh tra đột xuất việc cho thuê, sử dụng đất và nộp thuế đất của các đơn vị thuê đất trên địa bàn TP.Quy Nhơn theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh từ tháng 5.2015. (Thanh Niên 17/9) đầu trang(
Ngày 16/9, Thành ủy TPHCM tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện kết luận số 61-KL/TƯ của Ban Bí thư về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020” trên địa bàn TPHCM.
Báo cáo tổng kết cho thấy, qua 5 năm thực hiện đề án, TPHCM đã đạt được những thành quả đáng kể, bộ mặt nông thôn có những chuyển biến tích cực.
Theo đó, 100% xã trên địa bàn TPHCM đều có điện, điện thoại, trạm y tế; 97% hộ nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh; hơn 2.300 căn nhà tạm, dột nát được sửa chữa, xây cất mới; hỗ trợ hơn 14.840 hộ vay tổng số tiền 6.400 tỷ đồng; tạo việc làm ổn định cho khoảng 38.000 lao động nông nghiệp, giá trị sản xuất gần 10.000 tỷ đồng, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo thành phố từ 8,4% xuống còn dưới 1%; tập trung đầu tư nhiều dự án Khu công nghiệp công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học, công trình thủy nông kênh Đông Củ Chi, công trình thủy lợi Hóc Môn – Bắc Bình Chánh… phục vụ phát triển nông nghiệp.
Nhiều cán bộ, nông dân đã được Hội Nông dân TPHCM tổ chức đưa đi nước ngoài và nhiều tỉnh thành trong cả nước để tham quan, học tập các mô hình để phát triển sản xuất, kinh doanh.
Phát biểu tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện kết luận số 61-KL/TƯ, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM đã đánh giá cao những nỗ lực của Hội Nông dân thành phố trong việc thực hiện kết luận số 61-KL/TƯ của Ban Bí thư.
Phó Bí thư Thành ủy yêu cầu trong thời gian tới, Hội Nông dân TPHCM cần tập trung quán triệt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các cấp ủy quan tâm và có chính sách phù hợp, tăng nguồn vốn cho Quỹ hỗ trợ nông dân quận – huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân hoạt động. Những nông dân sản xuất giỏi, nông dân tiêu biểu cần được phát hiện, lựa chọn, giới thiệu cho tổ chức Đảng xem xét, kết nạp vào hàng ngũ của Đảng.
Nhân dịp này, Thành ủy TPHCM đã trao bằng khen tuyên dương 25 tập thể, cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Đề án “nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”.
Trước đó, ngày 9/9, Thành ủy TPHCM cũng đã tổ chức Lễ công bố huyện Củ Chi - huyện đầu tiên của thành phố đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2015.
Qua 5 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, diện mạo Củ Chi đã có nhiều thay đổi vượt bậc. 20 xã của huyện Củ Chi đã đạt 19/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới. Địa phương không còn hộ đói; tiêu chí hộ nghèo dưới 16 triệu đồng/hộ/năm còn 3,75%.
Thu nhập bình quân hộ gia đình tại các xã đạt 40,5 triệu đồng/người/năm, phấn đấu đến năm 2020 tăng lên 60 triệu đồng/người/năm. (Dân Trí 17/9) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Ngày 16-9, phóng viên (PV) đã liên hệ lãnh đạo Công an tỉnh Long An để làm rõ thông tin về việc PV Hoàng Nam của báo Pháp Luật TP.HCM bị cản trở khi tác nghiệp tại TAND huyện Thạnh Hóa.
Tuy nhiên, bộ phận trực tại công an tỉnh cho biết Đại tá Trần Văn Hà, Trưởng phòng Tham mưu kiêm người phát ngôn Công an tỉnh Long An, bận họp nên không thể tiếp.
PV gọi điện thoại cho Đại tá Hà song ông chỉ nói ngắn gọn là chưa nhận được thông tin vụ việc và ông đang bận họp nên cúp máy. Trong khi đó, trả lời báo chí ngày 16-9, Thiếu tướng Phan Chí Thanh, Giám đốc Công an tỉnh Long An, cho biết: “Không phải bắt bớ gì đâu. Là do anh em dân phòng làm hơi mạnh tay chút chứ có gì đâu. Nó (PV) cũng cự cãi gì đó rồi anh em mới nắm tay, nắm chân kéo” - ông Thanh nói.
Trong khi đó, nhiều người dân có mặt tại hiện trường cho biết họ đã chứng kiến việc PV Hoàng Nam bị công an, dân phòng khống chế đưa đi. “Lúc đó ngoài mấy anh mặc đồ dân phòng còn có mấy người mặc sắc phục công an và cả người mặc thường phục.
Tôi thấy anh PV có đứng ngoài đường chụp ảnh, sau đó mấy người kia tới và không lâu sau thì họ khóa tay, đẩy PV này đi. Nếu mời thì không thể cưỡng ép, dùng bạo lực như vậy” - ông T., một người chứng kiến sự việc, nói. (Pháp Luật TP.HCM 17/9) đầu trang(
Sáng 16.8, Phòng CSĐT tội phạm về kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh Hà Tĩnh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam 4 tháng đối với Nguyễn Hồng Quân và Lê Minh Hải (đều là cán bộ của thị xã Kỳ Anh) về hành vi cố ý làm trái, gây thất thoát gần 16 tỉ đồng.
Theo đại tá Phạm Văn An, Trưởng phòng PC46 (Công an tỉnh Hà Tĩnh), ông Quân và ông Hải đều là cán bộ thuộc Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng dự án Phú Vinh (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Liên quan đến vụ án này, PC46 cũng đã khởi tố ông Lê Hữu Diện, Chủ tịch phường Kỳ Long (thị xã Kỳ Anh) về hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo điều tra ban đầu, PC46 Công an tỉnh Hà Tĩnh xác định trong quá trình thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng tại khu vực dự án Phú Vinh (đoạn qua địa bàn phường Kỳ Long và phường Kỳ Liên, cùng thuộc thị xã Kỳ Anh), các bị can Quân, Hải và Diện đã có những sai phạm nghiêm trọng trong công tác lập hồ sơ, kiểm kê, áp giá bồi thường giải phóng mặt bằng, gây thất thoát gần 16 tỉ đồng tiền của Nhà nước.
Ở một vụ án khác, ngày 11.8, ông Diện và 3 cán bộ khác có hành vi “biến” đất công thành đất đền bù, gây thất thoát hơn 30 tỉ đồng tiền của Nhà nước và đã bị PC46 Công an tỉnh Hà Tĩnh khởi tố, bắt tạm giam 4 tháng. (Thanh Niên 17/9) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Ở ở huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội có nhiều người thuộc một họ tộc hoặc quan hệ thông gia cùng có mặt trong bộ máy lãnh đạo địa phương khiến dư luận bức xúc và phẫn nộ.
Thực ra, tình trạng này không mới, chỉ có điều khi báo chí nêu lên sự thật thì câu chuyện mới trở thành đề tài để nói, để quan tâm, để lo âu về tình hình địa phương, rộng ra là cả nước. Bởi lẽ, một trong những nguyên nhân gây cản trở tiến trình phát triển của đất nước là tình trạng cả họ làm quan.
Sử sách chép rằng triều đại nhà Nguyễn quy định rõ: Phàm là một vị quan đầu tỉnh, đầu huyện được triều đình bổ nhiệm thì phải đi nhận nhiệm vụ ở địa phương khác, không được cầm quyền tại quê hương bản quán của mình; không được để vợ con, anh em họ hàng làm trong bộ máy do vị quan ấy lãnh đạo… Vậy là từ xa xưa, nhà lãnh đạo đã nhận diện tình trạng cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích gia tộc đe dọa đến sự phát triển, phồn vinh và ổn định của đất nước như thế nào.
Nay, để ngăn chặn tình trạng này, Quốc hội cần sớm xây dựng dự thảo và tổ chức trưng cầu ý dân để sớm ban hành luật về tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng lãnh đạo trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước.
Về “vụ cả họ làm quan” ở huyện Mỹ Đức, chính quyền TP Hà Nội không nên im lặng. Những người có trách nhiệm cần đối diện với sự thật và đưa ra giải pháp kịp thời; nếu sai nguyên tắc thì cần xử lý kỷ luật, nếu cán bộ đủ tiêu chuẩn thì nên sớm điều động sang địa phương khác, không để như vậy nhằm tránh gây mất niềm tin trong dư luận quần chúng. Và sau khi xử lý xong, cần tổ chức họp báo và cung cấp thông tin công khai cho báo chí, đồng thời đăng thông cáo báo chí lên trang thông tin điện tử của UBND TP Hà Nội để người dân cùng biết.
Hy vọng chính quyền thủ đô đi đầu và làm gương cho các địa phương khác bằng tinh thần hết sức cầu thị vì rất có thể không riêng ở đây mà tại nhiều tỉnh - thành cũng có tình trạng “cả họ làm quan”. (Người Lao Động 17/9) đầu trang(
Cơ chế quản lý của một thành phố trực thuộc trung ương không còn phù hợp với TP HCM nữa, TP cần được tự chủ hơn để phát triển vượt bậc và đóng góp nhiều thêm cho đất nước.
Tại dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ TP HCM lần thứ X, đáng chú ý là toàn bộ đề xuất 7 chương trình đột phá trong nhiệm kỳ 2015-2020 đều ít nhiều liên quan đến công tác quy hoạch và quản lý đô thị, trong đó có 4 chương trình liên quan trực tiếp (giao thông, ngập lụt, ô nhiễm môi trường, chỉnh trang - phát triển đô thị) và 3 chương trình liên quan gián tiếp (nguồn nhân lực, cải cách hành chính, tăng trưởng kinh tế). Bài viết này góp ý cho một số nội dung dưới góc nhìn quy hoạch và quản lý đô thị.
Về tăng trưởng kinh tế, chủ trương đổi mới từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường đã làm nên sự phát triển kinh tế vượt bậc của Việt Nam trong 3 thập niên qua nhưng các đô thị nước ta vẫn còn đang tiếp tục chạy đua để được nâng cấp thành “TP trực thuộc trung ương”. Đây là một nghịch lý, ví như con cái càng trưởng thành lại càng mong bị quản lý chặt hơn và được hưởng lợi nhiều hơn từ cha mẹ, trong khi đúng ra phải làm ngược lại.
Đã đến lúc TP HCM không thể tiếp tục hài lòng với thành quả là một TP có vai trò kinh tế quan trọng nhất trong nước mà phải xác định mục tiêu phát triển TP thành đô thị đáng sống và đô thị quốc tế, hướng đến việc tăng trưởng kinh tế nhanh và cao nhiều hơn nữa để sánh vai với các đô thị quốc tế trong vùng.
Do đó, cần đề xuất trung ương tháo gỡ “chiếc áo cơ chế” đã quá chật so với TP HCM để chuyển hoàn toàn sang cơ chế kinh tế thị trường, tạo tiền đề cho TP có thể tự quản lý và phát triển vượt bậc một cách độc lập hơn, năng động hơn, đóng vai trò chủ đạo hơn về phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế (trong khi Hà Nội vẫn đóng vai trò chủ đạo của cả nước về mặt chính trị và văn hóa, lịch sử truyền thống).
Đó là giải pháp để chuẩn bị cho TP HCM không chỉ cạnh tranh trong Đông Nam Á mà cả với thế giới trong tương lai, được như New York so với Washington D.C., Sydney so với Canberra, Hồng Kông và Thẩm Quyến so với Bắc Kinh.
Với sự quản lý độc lập và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, lãnh đạo TP có thể chủ động tháo gỡ mọi vấn đề. Nhờ đó, có thể giải quyết các vấn đề quy hoạch với hiệu quả kinh tế đô thị cao hơn, xử lý nhanh hơn tình trạng quy hoạch treo (như quy hoạch khu Thanh Đa) và các dự án lớn khó thu hút được đầu tư (như khu đô thị mới Thủ Thiêm và mạng lưới metro)…
Một khi TP có thể đột phá trong phát triển kinh tế thì đóng góp cho ngân sách trung ương trong tương lai có thể sẽ cao hơn gấp rất nhiều lần hiện nay.
Về nguồn nhân lực, cần đặc biệt nâng cao kỹ năng làm việc nhóm đa ngành từ cấp cử nhân. Quản lý đô thị ngày nay là công việc phức tạp, cần sự cộng tác và phối hợp hiệu quả giữa các sở, ban, ngành và với chuyên gia quốc tế. Có thể nói, cơ chế quản lý hiện nay vẫn còn mang nặng tính đơn ngành.
Ví dụ, khi Sở Giao thông Vận tải lo mở rộng đường thì không phối hợp với Sở Xây dựng cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện quy hoạch xây dựng đồng thời các công trình mới 2 bên đường, cho nên ở đa số con đường mới mở - như Võ Văn Kiệt và Phạm Văn Đồng - công trình 2 bên khá lộn xộn, không xứng tầm, làm giảm giá trị kinh tế và cảnh quan.
Về việc giải quyết các vấn đề quy hoạch, đổi mới theo tư duy khoa học phải đóng vai trò chủ đạo, thay thế cho tư duy quan liêu hành chính và các giải pháp cảm tính. Chẳng hạn, trong việc giải quyết ách tắc giao thông và ngập lụt, cần có tư duy khoa học trong việc nghiên cứu hiện trạng và đưa ra những giải pháp bền vững. Việc giải quyết nạn kẹt xe cũng như ngập nước cho đến nay vẫn chưa hiệu quả vì các giải pháp thường mang tính cục bộ hoặc thử nghiệm thiếu tư duy khoa học, thiếu sự phối hợp đa ngành hiệu quả.
Ách tắc giao thông và ngập lụt hoàn toàn là các vấn đề khoa học, có thể đo đếm và tính toán, do đó chắc chắn sẽ giải quyết được theo kinh nghiệm quốc tế nếu các giải pháp đưa ra được xây dựng dựa trên số liệu và nghiên cứu khoa học.
Khi các cơ quan nhà nước có thể phối hợp đa ngành để cùng giải quyết những vấn đề đô thị dựa trên phương pháp nghiên cứu khoa học thì TP HCM sẽ phát triển nhanh và bền vững, giúp tạo nền móng vững chắc cho việc hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho nhiệm kỳ tới. (Người Lao Động 17/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Từ Nhật Bản, GS Trần Văn Thọ, Đại học Waseda gửi đến VietNamNet phân tích của ông về những thành quả cũng như tồn tại của nền kinh tế VN sau 30 năm đổi mới, những thách thức mà Việt Nam phải đối diện, đồng thời nêu ý tưởng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy nghèo và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp. Nhưng so với tiềm năng, kể cả những thời cơ thuận lợi bị bỏ lỡ và so với kinh nghiệm của các nước Đông Á thì tốc độ phát triển của Việt Nam thấp và kém hiệu suất.
Các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã phát triển nhanh đưa nền kinh tế lên giai đoạn cao trong thời gian ngắn nhờ khát vọng của lãnh đạo, của quan chức muốn đưa đất nước theo kịp các nước tiên tiến, từ đó chủ nghĩa phát triển và tinh thần dân tộc được đề cao, người tài được trọng dụng, tinh thần doanh nghiệp (DN) được phát huy. DN tư nhân là động lực đưa nền kinh tế phát triển.
Hiện nay Việt Nam trực diện ba thách thức lớn. Thứ nhất là nguy cơ chưa giàu đã già. Cơ cấu dân số vàng sắp qua đi, giai đoạn lão hóa dân số sẽ đến gần kề mà thu nhập đầu người còn rất thấp. Thứ hai là nguy cơ có sự phân hóa nền kinh tế thành hai khu vực, FDI và tư bản trong nước. Thứ ba là nguy cơ mắc vào bẫy thu nhập trung bình thấp (bẫy thu nhập trung bình đến sớm khi thu nhập đầu người còn thấp).
Kết quả phân tích ở trên đã gợi nhiều ý khi bàn về phương châm, chiến lược, chính sách cần thiết trong tương lai trung và dài hạn của Việt Nam. Xuất phát quan trọng nhất, có tính cách quyết định là khát vọng, khí khái của những người lãnh đạo trong giai đoạn sắp tới.
Hai giai đoạn quan trọng đã làm thay đổi nước Nhật là thời kỳ Minh Trị duy tân (1868-1911) và thời kỳ phát triển cao độ còn gọi là thời đại phát triển thần kỳ (1955-1973). Hai thời kỳ có những đặc điểm chung là tố chất yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao độ của lãnh đạo chính trị, và năng lực, đạo đức của quan chức nhà nước.
Cuối thập niên 1950, nhà chính trị Ikeda Hayato thai nghén một ý tưởng về việc đưa nước Nhật vào thời đại phát triển mới, đáp ứng nguyện vọng của đại đa số dân chúng. Trong lúc tìm kiếm ý tưởng, ông đọc được bài viết của Giáo sư kinh tế Nakayama Ichiro về khả năng tăng gấp đôi tiền lương thực chất tức mức sống của người dân trong vòng 10 năm. Ông lập nhóm nghiên cứu qui tụ các trí thức, các nhà kinh tế tâm huyết và có năng lực để bàn bạc, nghiên cứu việc triển khai ý tưởng đó. Chính Ikeda trực tiếp tham dự nhiều buổi họp thâu đêm của nhóm này.
Cuối cùng kết luận của nhóm là hiện nay tiết kiệm trong dân đang tăng, đất nước đang mở cửa hội nhập với thế giới nên công nghệ nước ngoài sẽ được du nhập dễ dàng; đó là hai tiền đề để đầu tư tích lũy tư bản. Đầu tư có hai hiệu quả là vừa tăng tổng cầu vừa tăng khả năng cung cấp (sản xuất) của nền kinh tế. Do đó kinh tế Nhật hy vọng sẽ bước vào thời đại bột phát mạnh mẽ.
Được nhóm chuyên viên, trí thức triển khai về mặt lý luận và các chính sách cụ thể, Ikeda tự tin và đã quyết định lấy Chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân làm cam kết chính trị trong cuộc tranh cử vào vị trí chủ tịch đảng. Ikeda thắng cử và trở thành thủ tướng vào tháng 7/1960.
Cốt lõi của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân (từ 1960 đến 1970) là toàn dụng lao động, làm cho dân chúng thấy cuộc sống được cải thiện rõ rệt, và đưa Nhật lên hàng các nước tiến tiến.
Phương châm cơ bản là tạo điều kiện để DN tư nhân tích cực đầu tư. Công việc của chính phủ chỉ là cố gắng tiết kiệm công quỹ để có thể giảm thuế nhằm kích thích đầu tư, đầu tư xây dựng hạ tầng, và bảo đảm an sinh xã hội. Phát triển là công nghiệp hóa, là phát triển ngành dịch vụ nên lao động phải chuyển dần từ nông nghiệp sang các khu vực phi nông. Do đó Ikeda đã nhấn mạnh phải ra sức giáo dục bậc cao đẳng và hướng nghiệp để quá trình chuyển dịch lao động không bị gián đoạn.
Ikeda đã thổi vào xã hội một không khí phấn chấn, tin tưởng vào tương lai. DN tích cực đầu tư, mọi người hăng hái làm việc. Kết quả là kinh tế đã phát triển nhanh, vượt xa kế hoạch rất nhiều. Bình quân kinh tế phát triển trên 10%, thay vì 7% như kế hoạch, chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân đạt được mục tiêu chỉ trong 7 năm, thay vì 10 năm như kế hoạch ban đầu.
Theo giá thực tế năm 2000, tổng thu nhập quốc dân trên đầu người của Nhật vào năm 1960 là 7.700 USD, đến năm 1970 tăng lên 16.600 USD. Mức chi tiêu của một gia đình giới lao động vào năm 1960 trung bình mỗi tháng là 32.000 yen, đến năm 1970 đã tăng lên 83.000 yen. Lương tháng của công nhân trong ngành công nghiệp đã tăng từ 23.000 yen năm 1960 lên 72.000 yen năm 1970.
Trừ đi độ trượt giá mỗi năm vài phần trăm, trên thực chất thu nhập của giới lao động đã tăng gấp đôi hoặc hơn. Ngoài ra, số lao động có việc làm tăng nhiều hơn so với kế hoạch và số giờ làm việc mỗi tháng của giới lao động giảm từ 203 giờ còn 187 giờ. Thập niên 1960 cũng là giai đoạn người Nhật chứng kiến nhà nhà có tủ lạnh, quạt máy, máy giặt, TV...
Tại sao kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân thành công ngoài dự kiến? Một là bản lĩnh, tầm nhìn chiến lược về dân tộc, về đất nước của lãnh đạo, từ đó có khả năng qui tụ người tài chung quanh mình trong việc hoạch định chiến lược, chính sách cụ thể. Hai là đội ngũ quan chức có năng lực và thanh liêm, đầy tinh thần trách nhiệm với đất nước. Do 2 yếu tố cơ bản này, ta thấy họ đã đưa ra nhiều chính sách rất thiết thực và thực hiện các chính sách rất có hiệu quả. Đơn cử vài thí dụ:
Thứ nhất, tạo sân chơi bình đẳng cho mọi DN, yểm trợ DN nhỏ và vừa bằng chính sách tín dụng, thủ tục hành chính đơn giản, hầu như không có tham nhũng nên đầu tư tăng rất nhanh.
Tỉ lệ đầu tư trên GDP tăng từ 20% năm 1955 lên 30% năm 1960 và 35% năm 1970. Trong tổng đầu tư có tới 75% là của DN tư nhân. Những công ty tư nhân nổi tiếng sau này như Honda, Sony, Toyota, v.v. đều lớn mạnh trong giai đoạn này. DN nhỏ và vừa vay vốn đầu tư dễ dàng, thậm chí những DN có số lao động dưới 20 người vẫn dựa chủ yếu vào vốn vay ở các ngân hàng và cơ quan tín dụng hiện đại.
Thứ hai, ngoại tệ được quản lý chặt chẽ và tiết kiệm tối đa, hạn chế việc đi du lịch nước ngoài và kiểm soát gắt gao việc quan chức dùng ngoại tệ đi tham quan nước ngoài.
Thay vào đó, ngoại tệ chủ yếu để nhập thiết bị, nguyên liệu và công nghệ cần thiết cho đầu tư. DN hăng hái cách tân công nghệ, sản xuất sản phẩm đã có với giá thành và phẩm chất tốt hơn hoặc sản xuất những sản phẩm mới, cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới.
Do cách tân công nghệ và do việc quản lý hành chánh, quản trị doanh DN có hiệu suất, nên kinh tế phát triển rất có hiệu suất. Tuy đầu tư nhộn nhịp như vậy nhưng độ cống hiến của tư bản trong tăng trưởng chỉ có độ 25%, trong khi cống hiến của công nghệ, của quản lý tức năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là 65%.
Ngoài ra còn nhiều chính sách khác về giáo dục, khoa học công nghệ, về đẩy mạnh xuất khẩu, về tổ chức thị trường… Nói chung lãnh đạo và quan chức khẩn trương triển khai thực hiện các chính sách để đạt mục tiêu của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân; và DN đã hưởng ứng tạo nên khí thế đầu tư mạnh mẽ.
Nói về tố chất của quan chức Nhật Bản, tôi muốn giới thiệu trí tuệ, hành động và tác phong của các quan chức Bộ Công Thương (MITI) vào giữa thập niên 1950 mà tôi gọi họ là những anh hùng trong thời đại phát triển.
Lúc đó một chiếc xe hơi nhập khẩu từ Mỹ vào giá rất đắt, tương đương 5 năm tiền lương của một quan chức trung cấp. Các quan chức ở Bộ Công Thương lúc đó mơ ước có ngày người dân bình thường cũng sẽ có xe hơi và cho rằng phải phát triển ngành xe hơi mới làm cho Nhật giàu mạnh.
Có nhiều ý kiến khác nhau về điểm này, kể cả một số lãnh đạo trong đảng cầm quyền sợ kế hoạch sản xuất xe hơi sẽ không thành công và có thể gây va chạm trong quan hệ Nhật-Mỹ. Nhưng các quan chức Bộ Công Thương đã tích cực vận động lãnh đạo chính phủ và DN để thực hiện cho được kế hoạch này vì tin sự quan trọng của ngành xe hơi đối với Nhật trong tương lai.
Nhưng ý chí là một chuyện còn khả năng có thực hiện được không và làm sao để thực hiện có hiệu quả là một chuyện khác. Lợi thế so sánh của Nhật lúc đó là các hàng công nghiệp dùng nhiều lao động giản đơn như vải vóc, giày dép…
Đang phân vân về khả năng sản xuất của nước mình, các quan chức đọc được bài viết của giáo sư Shinohara Miyohei (1919-2013) bàn về lợi thế so sánh động (lợi thế so sánh trong tương lai) và các điều kiện để biến lợi thế so sánh động thành hiện thực. Họ vui mừng và liên lạc ngay với giáo sư Shinohara xin gặp để hỏi chi tiết hơn.
Trong hồi ký viết hồi tháng 6/2009, Shinohara kể như sau: “Hồi đó 4-5 quan chức Bộ Công Thương đến nhà tôi vào buổi tối. Chúng tôi trò chuyện mãi đến khuya vẫn còn muốn tiếp tục, cuối cùng gần 5 giờ sáng họ mới ra về”.
Còn rất nhiều câu chuyện tương tự về sự cầu thị, nhiệt tình lo việc nước của quan chức Nhật thời đó.
Sau đó, Bộ Công Thương tự tin là Nhật có thể sản xuất xe hơi được và đã đặt ra các chính sách yểm trợ DN xúc tiến sản xuất. Những chiếc xe đầu tiên ra đời còn xấu về hình dáng nên một số người Mỹ trong ngành xe hơi có vẻ chế nhạo. Nhưng quan chức Bộ Công Thương kiên quyết với phương châm “Mỹ làm được thì Nhật cũng làm được”. Như ta đã biết, ngành xe hơi Nhật phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1960.
Có thể nói tinh thần dân tộc là động lực đưa đến hành động của quan chức nhà nước và kết quả là nền công nghiệp Nhật đã phát triển mạnh mẽ. (Vietnamnet 16/9) đầu trang(
Hàn Quốc vào đầu thập niên 1960 là nước kém phát triển nhưng sau đó vượt qua giai đoạn phát triển ban đầu và thành công trong giai đoạn phát triển bền vững, trở thành nước tiên tiến trong thời gian rất ngắn.
Thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước này bắt đầu từ khi Park Chung-hee nắm chính quyền (năm 1961), thiết lập thể chế độc tài nhưng với quyết tâm phát triển đất nước.
Năm 1988 Hàn Quốc tổ chức thành công Thế vận hội Seoul và năm 1996 được kết nạp vào khối OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế), một tổ chức của các nước tiên tiến. Từ lúc bắt đầu kế hoạch phát triển đến khi trở thành thành viên của tổ chức các nước tiên tiến, Hàn Quốc chỉ mất có 35 năm!
Tại sao Hàn Quốc thành công trong quá trình phát triển liên tục, chuyển từ giai đoạn đói nghèo sang giai đoạn thu nhập trung bình thấp, rồi trung bình cao, và tiến thẳng lên nước có thu nhập cao trong thời gian ngắn?
Thứ nhất, ngay từ đầu Hàn Quốc đã có ngay sự đồng thuận của xã hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tiên tiến, nhất là theo kịp Nhật (nước láng giềng từng đô hộ mình).
Để có sự đồng thuận, năng lực, ý chí và chính sách của lãnh đạo chính trị là quan trọng nhất. Dù dưới chế độ độc tài, quyết tâm phát triển của lãnh đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược, chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng.
Như nhận xét của nhiều chuyên gia về Đông Á, ở Hàn Quốc, nhà nước có truyền thống chọn được người tài ra làm việc nước từ những người giỏi nhất ở các đại học danh tiếng nhất.
Đặc biệt, Park Chung-hee lập Hội đồng họach định kinh tế (Economic Planning Board) quy tụ những chuyên gia học ở Mỹ về, được giao tòan quyền họach định chiến lược. Khi chiến lược đã được hoạch định, Park trực tiếp chỉ đạo việc động viên các nguồn lực (vốn, ngoại tệ,…) và tạo các cơ chế để chiến lược thành công. Khi cần thiết ông tự mình, một cách rất công tâm và vì đất nước, chọn ra những DN có tiềm năng và tạo điều kiện thuận lợi để họ khởi động quá trình sản xuất những ngành công nghiệp nằm trong chiến lược phát triển.
Thứ hai, Hàn Quốc xây dựng được một cơ chế rất hiệu suất, hiệu quả về quan hệ giữa nhà nước và DN. Trong quá trình đuổi theo các nước tiên tiến, mục tiêu cụ thể là tích cực đầu tư, tích lũy tư bản (nhưng tỉ lệ tiết kiệm ban đầu quá thấp phải vay nợ trong thời gian dài), đồng thời bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ và đẩy mạnh xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu, công nghệ và trả nợ. Như vậy vai trò của nhà nước rất lớn. Trong tình hình đó, ở nhiều nước khác, DN cấu kết với quan chức để được tiếp cận với vốn vay ưu đãi, với ngoại tệ khan hiếm và với các nguồn hỗ trợ cho xuất khẩu. Nạn tham nhũng dễ phát sinh từ đó.
Nhưng Hàn Quốc nhìn chung đã tránh được tệ nạn đó nhờ có cơ chế minh bạch, nhất quán, công minh có tính cách kỷ luật. Cụ thể là DN đuợc nhận ưu đãi phải có nghĩa vụ tăng năng lực cạnh tranh, chẳng hạn phải xuất khẩu nhiều hơn truớc. Nếu không hoàn thành nghĩa vụ sẽ không được hưởng ưu đãi trong giai đoạn sau. Nói chung, các DN phải cạnh tranh nhau, đưa ra mục tiêu phấn đấu khả thi mới nhận được ưu đãi của nhà nước.
Khi đặt xuất khẩu là mục tiêu của quốc gia thì người lãnh đạo cao nhất phải thường xuyên quan tâm và chỉ đạo chính phủ theo dõi diễn tiến thị trường để có những điều chỉnh kịp thời về chính sách. Cơ chế hợp tác, liên kết giữa chính phủ và DN cũng được xúc tiến. Đặc biệt từ năm 1965, hàng tháng chính phủ tiến hành hội nghị thúc đẩy xuất khẩu. Ấn tượng nhất là tổng thống đích thân làm chủ tịch và chủ trì hội nghị này. Mục tiêu xuất khẩu đặt ra rất lớn nhưng hầu như năm nào cũng đạt được là nhờ cơ chế như vậy.
Thứ ba, Hàn Quốc đã thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở của học tập. Tỉ trọng dành cho giáo dục vào cuối thập niên 1950 chỉ có dưới 10% ngân sách nhà nước, nhưng đã tăng liên tục lên 15-18% trong thập niên 1960, và 19-21% trong đầu thập niên 1980. Đây là một trong những nước có tỉ lệ rất cao trong hai chỉ tiêu: tỉ lệ của sinh viên du học trên tổng số sinh viên trong nước và tỉ lệ người du học trở về trên tổng số sinh viên đi du học. Thành quả này nhờ có các cơ chế liên quan đến việc thi tuyển và đãi ngộ người tài.
Trong nỗ lực học tập, một điểm gây ấn tượng nữa là Hàn Quốc không ngừng tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ (R&D). Tỉ lệ của chi tiêu R&D trên GDP đã tăng liên tục từ 1% vào đầu thập niên 1980 lên đến khoảng 2,5% vào năm 2000 và 3,4% năm 2007. Trong nỗ lực này, trong giai đoạn từ thập niên 1980 trở về trước, nhà nước giữ vai trò chủ đạo, sau đó DN tư nhân đóng vai trò chính tuy ngân sách của nhà nước vẫn tăng liên tục.
Trong khoảng 30 năm qua, nhất là từ thập niên 1990, kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1980 đến 2008 bình quân mỗi năm tăng 10%, sau đó giảm nhưng vẫn giữ mức 7%. Trung Quốc đã trở thành công xưởng thế giới và từ năm 2010 là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.
Gần đây nhiều người bắt đầu đặt câu hỏi: Tại sao thành quả phát triển của Trung Quốc hơn hẳn Việt Nam, mặc dù cùng một thể chế chính trị, cùng một mục tiêu cơ bản về phát triển xã hội. Năm 1991, Việt Nam đưa ra mục tiêu xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN, còn Trung Quốc vào năm 1992 cũng phát biểu phương châm cơ bản là xây dựng kinh tế thị trường XHCN hoặc xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.
Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa trước Việt Nam 8 năm. Có thể nói lãnh đạo của Trung Quốc đã dứt khoát theo chủ nghĩa phát triển. Cụ thể là cho kinh tế tư nhân tự do phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài đến đầu tư trực tiếp (FDI).
Trong thập niên 1980, phe bảo thủ còn mạnh nhưng phe cải cách đã theo phương châm “Thực tiễn là thước đo chân lý” lấy thành quả cải cách bước đầu thuyết phục được những người bảo thủ và tiếp tục cải cách. Khi thấy khu vực phi quốc doanh phát triển mạnh, và thành hình một giới lãnh đạo DN mới, thay vì kìm hãm họ để bảo vệ lý tưởng vì giai cấp công nông, Trung Quốc đã đưa ra thuyết Ba đại diện (năm 2002) để tu chỉnh lý tưởng, mục tiêu của đảng Cộng sản.
Thứ hai là vai trò của chính quyền địa phương. Tại Trung Quốc, chính quyền địa phương cũng có tinh thần của “chủ nghĩa phát triển”. Các địa phương cạnh tranh nhau trong quá trình phát triển. Địa phương phát triển là điều kiện để lãnh đạo được đề bạt lên các chức vụ ở trung ương.
Thứ ba là năng lực triển khai chiến lược phát triển. Sau khi có chiến lược, phương châm phát triển, khả năng bắt tay ngay vào việc triển khai cụ thể được hay không dĩ nhiên ảnh hưởng đến thành quả phát triển.
Về mặt này thái độ của Trung Quốc rất ấn tượng. Ngay từ khi quyết định cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã nhận thức sức mạnh của công nghệ, của tri thức và có chiến lược tận dụng nguồn lực của Nhật và Mỹ, hai nước được họ xem là mạnh nhất thế giới lúc đó. Họ cũng chọn Quảng Đông và Phúc Kiến để lập đặc khu kinh tế nhắm vào sức mạnh và tâm lý hoài hương của Hoa kiều mà đa số xuất thân từ hai tỉnh này.
Thực tiễn cho thấy chiến lược này rất đúng đắn. Trong thập niên 1980, trong khi hành lang pháp lý chưa được hoàn thiện, DN Âu Mỹ và Nhật Bản còn e ngại, sợ rủi ro, chưa đầu tư bao nhiêu thì Hoa kiều đã tích cực đổ vốn và đưa công nghệ vào 4 đặc khu kinh tế. Sang thập niên 1990, làn sóng FDI từ Đài Loan, Nhật Bản và các nước Âu Mỹ bắt đầu tích cực chảy đến Trung Quốc.
Thứ tư là chất lượng bộ máy nhà nước. Về phí tổn kinh doanh, tình trạng tham nhũng, hiệu suất của bộ máy hành chính, và các chỉ tiêu khác liên quan chất lượng thể chế, Trung Quốc đã cải thiện nhanh. Theo Doing Business 2014, số loại thuế mà DN phải nộp tại Trung Quốc giảm từ 35 loại năm 2005 xuống còn 7 loại vào năm 2012. (Vietnamnet 17/9) đầu trang(
Chính phủ Trung Quốc đã thu hồi 1.000 tỷ nhân dân tệ (157 tỷ USD) ngân sách phân bổ cho chính quyền địa phương các cấp nhưng chưa được giải ngân, trong bối cảnh Bắc Kinh đang nỗ lực tìm các biện pháp giúp nước này thoát khỏi tình trạng giảm tốc của nền kinh tế.
Theo nguồn tin của Reuters, nguồn vốn ngân sách mà các chính quyền địa phương chưa sử dụng đã được Chính phủ Trung Quốc thu hồi và dùng để phân bổ cho các khoản đầu tư khác.
Giới quan sát nhận định việc tồn đọng khoản tiền khổng lồ trên do các quan chức không muốn “vung tiền” vào các dự án lớn trong khi chính phủ mạnh tay trấn áp nạn tham nhũng.
Ngày 14/9, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (NDRC) phê duyệt kế hoạch nghiên cứu khả thi của hai dự án đường sá với tổng trị giá 6,2 tỷ nhân dân tệ (973,65 triệu USD).
Tuần trước, NDRC “bật đèn xanh” cho các dự án đường sắt, đường cao tốc và cầu với tổng giá trị dự án lên tới 23 tỷ USD, cho thấy chính quyền đang tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng thay vì cải cách mạnh mẽ hơn để vực dậy nhịp độ tăng trưởng trong ngắn hạn.
Theo số liệu của Bộ Tài chính Trung Quốc, nguồn thu ngân sách trong tháng Tám của nước này tăng 6,2% so với cùng kỳ năm ngoái lên 967,1 tỷ nhân dân tệ, thấp hơn nhiều so với mức tăng 12,5% của tháng Bảy.
Nguyên nhân chủ yếu là chỉ số giá sản xuất thấp và nhập khẩu yếu đi. Trong khi đó, mức chi tiêu của chính phủ trong tháng qua tăng 25,9% lên 1.280 tỷ nhân dân tệ.
Thị trường chứng khoán Trung Quốc đã trải qua nhiều sóng gió kể từ tháng Sáu, khi mất gần 40% giá trị vốn hóa thị trường buộc Bắc Kinh nhanh chóng thực hiện nhiều biện pháp can thiệp để khôi phục niềm tin của nhà đầu tư.
Động thái bất ngờ giảm giá đồng nhân dân tệ hồi tháng Tám của Trung Quốc được coi là đã “thêm dầu vào lửa,” và nước này phải sử dụng đến kho dự trữ ngoại hối khổng lồ để duy trì sự ổn định của đồng nội tệ.
Hàng loạt số liệu kinh tế yếu kém của Trung Quốc mới công bố đã làm dấy lên nguy cơ nước này không đạt được mục tiêu tăng trưởng khoảng 7% trong năm 2015, làm gia tăng quan ngại về “sức khỏe” của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. (Vietnamplus 16/9) đầu trang(
Khi nền kinh tế bị chững lại, lộ rõ những nhược điểm, Trung Quốc buộc phải đẩy mạnh cải cách khu vực kinh tế nhà nước.
Cuộc cải cách hứa hẹn sẽ tấp nập với hoạt động mua bán-sáp nhập, loại bỏ nhiều doanh nghiệp, vốn được coi là thực thể trụ cột của cả nền kinh tế.
Bắc Kinh vừa công bố những nét chính trong chương trình cải cách khu vực kinh tế nhà nước có tên gọi: Đường lối chỉ đạo cải cách sâu rộng khu vực doanh nghiệp nhà nước. Mục đích như báo chí Trung Quốc nhấn mạnh là nhằm kích thích khả năng cạnh tranh quốc tế cho các doanh nghiệp nhà nước, biến thành những chủ thể độc lập trên thị trường.
Chỉ thị của Chính phủ Trung Quốc về cải cách sâu rộng các doanh nghiệp nhà nước vừa được ban hành liên quan đến 150.000 doanh nghiệp, trong đó có hàng trăm tập đoàn, tổng công ty có vốn 100% nhà nước. Văn bản chưa đưa ra hướng dẫn thi hành cụ thể, chỉ kêu gọi đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc lâu nay vẫn giữ một vai trò chủ đạo, nhận được nhiều ưu đãi hơn so với khu vực kinh tế tư nhân, từ tài chính cho đến chính sách. Tuy nhiên, khi nền kinh tế thứ 2 thế giới bị mất đà, giảm tốc ngoài dự kiến bởi đầu tư cũng như xuất khẩu sụt giảm - 2 lĩnh vực do các doanh nghiệp nhà nước nắm đa phần - Trung Quốc đã nhận thấy sự yếu kém của khu vực này và nhu cầu cấp bách cần phải cải cách, cơ cấu lại nền kinh tế.
Theo giới quan sát, đợt cải cách lần này sẽ là một bước đi quan trọng nhằm loại bỏ dần một số doanh nghiệp nhà nước cũ và có thể tạo thêm hàng trăm công ty hoặc nhà đầu tư thuộc sở hữu nhà nước khác. Bà Claire Huang, nhà kinh tế thuộc Ngân hàng Societe Generale tại Hồng Công (Trung Quốc), nhận định trong đợt cải cách này sẽ có nhiều cuộc sáp nhập, mua lại cổ phần của các công ty nhà nước để hình thành những tập đoàn nhà nước lớn hơn, mạnh hơn.
Tuy nhiên cũng không nên hy vọng chủ trương này sẽ có tác dụng tích cực ngay đến nền kinh tế. Điều căn bản, theo chuyên gia này, làm sao phải cải thiện được hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Điều này còn phải mất nhiều năm nữa.
Nhiều tập đoàn Nhà nước đang rục rịch có những động thái cho cuộc hợp nhất để trở thành “gã khổng lồ” mới trên thế giới. Trong một cuộc họp báo tại Bắc Kinh hôm 14-9, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhà nước về cải cách và phát triển Trung Quốc, ông Liên Duy Lương đã giải thích việc đa dạng hóa nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước có thể hiểu là vốn tư nhân bên cạnh vốn nhà nước.
Nhà nước sẽ giữ đa số cổ phần của các công ty thuộc khu vực “kinh tế an ninh” hay các lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia. Đường hướng cải cách khu vực kinh tế nhà nước đã được thông qua tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trong kỳ họp cuối năm 2013, theo đó phải từng bước tạo điều kiện cho khu vực tư nhân chiếm lĩnh vị trí nhiều hơn trong nền kinh tế nhằm cân bằng tăng trưởng của đất nước.
Cải cách sẽ tạo ra nhiều cơ hội nhưng chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Giáo sư kinh tế Lưu Thụy, thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, nhận định: Doanh nghiệp nhà nước là một ưu thế của chế độ Trung Quốc hiện nay. Tuy nhiên, trong hơn 30 năm cải cách mở cửa cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề trong đó có tệ tham ô, tham nhũng ở lãnh đạo chủ chốt, lợi dụng để mưu lợi cá nhân. Đa phần, giới quan sát đánh giá đợt cải tổ lần này sẽ phải kéo dài và không có được kết quả tức thì giúp Trung Quốc phục hồi kinh tế. (Sài Gòn Đầu tư Tài chính 17/9) đầu trang( ./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||