|
Ngày 31 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Thời tiết nắng nóng kéo dài những ngày qua khiến nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói chung và huyện miền núi Đakrông nói riêng rất dễ xảy ra.
Để chủ động ứng phó với cháy rừng, thời gian qua các cấp chính quyền ở Đakrông đã phối hợp đồng bộ, triển khai nhiều kế hoạch, biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) nhằm hạn chế thấp nhất số vụ và thiệt hại do cháy rừng gây ra. Tuy nhiên, để công tác PCCCR ở Đakrông được bền vững còn có nhiều vấn đề quan trọng đặt ra cần giải quyết.
Với đặc điểm là huyện miền núi, có địa hình phức tạp nên công tác PCCCR ở Đakrông gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Bên cạnh các “rào cản” khiến việc PCCCR gặp khó khăn như ý thức bảo vệ rừng của một bộ phận người dân còn kém, phương tiện chữa cháy chưa đảm bảo, lực lượng kiểm lâm địa bàn mỏng… chúng tôi muốn đề cập đến 2 vấn đề gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác PCCCR ở huyện Đakrông.
Thứ nhất là hệ thống đường giao thông nội vùng, các tuyến đường dẫn vào rừng hiện nay chưa được chú trọng xây dựng để xe cơ giới vận chuyển các thiết bị chữa cháy kịp thời khi có cháy rừng xảy ra. Thứ hai là những điểm tiếp nước chưa được xây dựng cố định, quản lý hiệu quả để đảm bảo cho việc cung cấp nước đều đặn ngay cả trong mùa khô.
Thực tế thấy rằng, việc xây dựng các tuyến đường nội rừng không những có tác dụng nhiều mặt với việc phát triển lâm nghiệp, phục vụ dân sinh, sản xuất mà còn phục vụ tốt cho công tác PCCCR, đồng thời cũng có tính năng như đường ranh cản lửa khi xảy ra cháy rừng. Đối với các điểm tiếp nước nếu nguồn nước được đảm bảo ổn định thì công tác chữa cháy sẽ được chủ động, hiệu quả hơn trong việc khống chế, dập tắt đám cháy.
Nói về thực trạng PCCCR trên địa bàn, ông Tống Phước Châu, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đakrông cho biết: “Huyện Đakrông có tổng diện tích tự nhiên 122.444,6 ha, diện tích đất có rừng là 77.838,98 ha (trong đó rừng tự nhiên có 72.264,24 ha; rừng trồng 5.581 ha). Tuy từ năm 2009 đến nay, trên địa bàn huyện Đakrông chưa xảy ra vụ cháy rừng nào, nhưng nguy cơ cháy rừng vẫn tiềm ẩn, nhất là trong thời tiết khô nóng như hiện nay. Hiện tại, nếu có cháy rừng xảy ra thì công tác chữa cháy chỉ có hiệu quả với các cánh rừng nằm sát với các tuyến đường như: Đường Hồ Chí Minh, đường quốc phòng, liên xã, thôn… Còn đối với các khu rừng nằm cách biệt, không có tuyến đường dẫn vào rừng thì rất khó khống chế, dập tắt khi có cháy rừng xảy ra”.
Ông Châu cho biết thêm, hầu hết các khu rừng trên địa bàn huyện Đakrông đều nằm xa các tuyến đường giao thông nội vùng nên gây khó khăn trong việc tuần tra, theo dõi. Việc xây dựng các tuyến đường dẫn vào rừng không thực hiện được bởi không có nguồn kinh phí, trong khi đó các khu rừng thường nằm ở vị trí núi đồi dốc, có sườn núi cao chứ không thoải như các địa phương khác.
“Một số ít các khu rừng có độ dốc thoải, khá bằng phẳng chúng tôi đã phát quang, hình thành nên các tuyến đường nhỏ vừa để xe cơ giới chở thiết bị chữa cháy, vừa có chức năng làm đường ranh cản lửa khi có cháy rừng. Còn những khu vực có rừng khác, để công tác PCCCR được hiệu quả hơn, thời gian qua chúng tôi đã kiến nghị cấp trên đầu tư, xây dựng các tuyến đường dẫn vào nội rừng nhưng đến nay vẫn chưa thấy hồi âm.”, ông Châu chia sẻ.
Bên cạnh việc hình thành nên các tuyến đường dẫn vào nội rừng, thì việc xác định, xây dựng các điểm tiếp nước cho công tác chữa cháy rừng cũng cần được quan tâm, coi trọng. Theo ông Châu thì hiện tại, ở mỗi xã có rừng trên địa bàn huyện Đakrông đều hình thành nên một vài điểm cung cấp nước cho thiết bị chữa cháy hoạt động. Nguồn nước chủ yếu từ hệ thống các sông, suối, khe nhỏ trên địa bàn.
Nhưng có thực trạng đáng lo ngại là những năm lại đây mực nước ở các khe suối trên địa bàn thất thường và thường khô hạn trong mùa hè, bồi lấp trong mùa mưa. Chính vì vậy, để chủ động PCCCR cần phải xây dựng các điểm tiếp nước cố định, đảm bảo cung cấp nguồn nước đầy đủ khi có sự cố cháy rừng xảy ra.
Ông Tống Phước Châu cho hay: “Hiện tại, Hạt kiểm lâm huyện Đakrông đã xác định được trên địa bàn có khoảng 15 hệ thống sông, suối, khe nhỏ có thể tiếp nước khi có cháy rừng xảy ra. Tuy nhiên, các khu vực tiếp nước lâu nay đều nằm trong tình trạng bị bồi lấp hoặc không đảm bảo nguồn nước khi đến mùa khô. Để các điểm tiếp nước này được ổn định lâu dài, thì cần phải hình thành nên những đập chắn nhỏ tích nước và thường xuyên nạo vét lòng đập, có như vậy mới chủ động được nguồn nước ”.
Để công tác PCCCR ở huyện Đakrông được bền vững, cùng với việc xây dựng các tuyến đường dẫn vào rừng, các điểm tiếp nước ổn định thì khâu tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng cũng cần được coi trọng và thực hiện tích cực theo phương châm “mưa dầm thấm đất”. Các cấp chính quyền cần phải có trách nhiệm trong việc tham gia bảo vệ rừng, PCCCR theo nguyên tắc “phòng là chính, chữa cháy phải kịp thời, triệt để” và áp dụng phương châm “lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ”. (Báo Quảng Trị 31/8) đầu trang(
Chưa bao giờ rừng ở Nam Hải Vân xơ xác như hiện nay. Đứng ở đường Nguyễn Tất Thành, đoạn thuộc địa phận quận Liên Chiểu, nhìn lên dãy Hải Vân hùng vĩ, rất dễ nhận thấy hàng nghìn ha chỉ là đất trống, núi trọc, trơ trọi đất đá.
Các vụ cháy lớn liên tiếp xảy ra, làm cho thảm thực vật vùng này nham nhở chẳng khác nào tấm áo vá. Hơn 410 ha thông Caribe loại trên dưới 30 năm tuổi, một thời là niềm tự hào của người dân Đà Nẵng nay xơ xác đến thảm hại.
Không ít diện tích rừng ở bình độ thấp, vốn là rừng đặc dụng đã thành rừng trồng của hàng trăm hộ dân. Khu vực duy nhất còn rừng tự nhiên có tài nguyên lâm sản ở tiểu khu 11, cũng bị tàn phá không thương tiếc.
Hoàn toàn khác hẳn với phía Nam, ở phía Bắc dãy Hải Vân hùng vĩ, khu vực do tỉnh Thừa Thiên- Huế quản lý, rừng tự nhiên, rừng trồng bạt ngàn từ chân lên đỉnh núi. Tại khu vực này, không hề xảy ra tình trạng rừng bị tàn phá đến nghèo kiệt như khu vực do Đà Nẵng quản lý.
Ông Nguyễn Như Tiến, cư dân phường Hòa Hiệp Bắc cho rằng là người Đà Nẵng, chắc chắn ai cũng cảm thấy chạnh lòng và xẩu hổ khi chứng kiến những cánh rừng bạt ngàn ở phía Bắc dãy Hải Vân. Suốt tuyến đường đèo ở phía Bắc không hề có trạm kiểm lâm nào, thế mà rừng vùng này an toàn tuyệt đối.
Cùng một dãy núi, cùng tầng địa chất, thổ nhưỡng, thế mà ở phía Bắc rừng tươi tốt bao nhiêu, ở phía Nam nghèo kiệt bấy nhiêu. Âu cũng do con người gây nên cả.
Thực ra, hơn chục năm trước, rừng ở phía Nam Hải Vân cũng giàu và đẹp lắm. Những cánh rừng thông Caribe với vô vàn cây thẳng tắp cao vút, nối nhau trùng điệp, như bức tranh tuyệt đẹp đã từng níu chân du khách mỗi khi qua đây. Thế mà nay, tất cả chỉ còn trong ký ức. Bên cạnh thiên tai, người dân địa phương chính là thủ phạm tàn phá rừng thông quý giá này.
Quả đúng vậy, không ai khác mà chính người dân địa phương, nói đúng hơn là người Đà Nẵng đã tàn phá rừng Nam Hải Vân đến nghèo kiệt như hiện nay. Không chỉ rừng thông, nơi hơn 30 năm trước, Nhà nước đầu tư không ít tiền của, công sức trồng mà các khu rừng tự nhiên ít ỏi cũng bị tàn phá. Lần nào ngược núi tuần tra, kiểm lâm cũng tịch thu được một vài phách gỗ.
Điều đó cho thấy công tác quản lý bảo vệ rừng tại đây không mấy hiệu quả. Trong khi, diện tích rừng không lớn chỉ hơn 3.000 ha, trong số 1.820 ha do Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu quản lý chủ yếu là đất trống đồi trọc, hạt kiểm lâm 12 cán bộ nhân viên, trang thiết bị, phương tiện, kinh phí không thiếu, thế mà rừng không khi nào bình yên. Kể cũng lạ.
Xu thế biến rừng tự nhiên tại Nam Hải Vân thành rừng trồng ngày càng rõ nét khi người dân cố tình xâm hại diện tích rừng do nhà nước quản lý. Người ta chặt hạ những cây thông hơn 30 năm tuổi, mục đích lấy gỗ thì ít mà dành đất để trồng rừng thì nhiều.
Không loại trừ nguyên nhân các vụ cháy rừng xảy ra trong thời gian qua do người dân đốt để chiếm đất. Không ngăn chặn kịp thời và có giải pháp quyết liệt trong việc tại tạo phục hồi rừng Nam Hải Vân, chắc chắn mãi nhiều năm sau, thảm thực vật ở vùng này sẽ là nỗi buồn và xấu hổ cho người dân Đà Nẵng.
Bởi đã là rừng trồng, ắt phải đến kỳ thu hoạch, hệ quả là năm nào thảm thực vật vùng này cũng nham nhở như tấm áo vá, tương phản với tên gọi rừng cảnh quan Nam Hải Vân hiện nay.
Phục hồi rừng Nam Hải Vân đúng với rừng cảnh quan như tên gọi vốn có là vấn đề vô cùng cấp thiết. Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN- PTNT, kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết đúng ra, rừng đặc dụng là khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt, Nhà nước quản lý mà không giao cho dân.
Khắc phục tình trạng này, chỉ có thể thu hồi toàn bộ diện tích đã giao cho các hộ dân; triển khai trồng thông hoặc cây bản địa để tạo rừng bền vững lâu dài. Việc thu hồi này Đà Nẵng phải có chủ trương ngay từ bây giờ và gia hạn 4-5 năm sau khi người dân đã thu hoạch hết cây.
Đối với khu vực đất trồng đồi trọc tiếp tục trồng thông Caribe, như đã triển khai hơn 100 ha mấy năm gần đây. Còn với khu vực rừng tự nhiên, giải pháp tốt nhất là giao cho người dân khu vực Kim Liên, kể cả những người từng chặt phá rừng tại đây bảo vệ. Khi đó họ tự quản lý bảo vệ dưới sự giám sát kiểm tra của kiểm lâm.
Không thể chậm trễ hơn nữa trong việc tái tạo phục hồi rừng ở Nam Hải Vân, nếu như muốn trả lại màu xanh, tạo cảnh quan hấp dẫn cho khu vực này. Tất nhiên, để có được những cánh rừng bạt ngàn như ở phía Bắc dãy Hải Vân, quả là điều không hề đơn giản, đòi hỏi phải đầu tư nhiều kinh phí và sự nỗ lực của chính quyền, cơ quan kiểm lâm và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân vùng cận rừng… (Nông Nghiệp Việt Nam 31/8) đầu trang(
Ngày 30/8, Tòa án nhân dân (TAND) huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng tiến hành phiên xét xử lại 19 bị cáo liên quan vụ phá rừng "khủng" ở khu vực Bà Nà - Núi Chúa (Đà Nẵng).
Sau khi trả hồ sơ điều tra lại vụ án, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Vũ Văn Tam (SN 1968; quê Nam Định, trú huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) mức án 5 năm tù giam về tội "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng" và 1 năm 3 tháng tù giam về tội "Đưa hối lộ".
Ngoài ra, 2 kiểm lâm khu vực và 5 cán bộ bảo vệ rừng bị truy tố về tội "Nhận hối lộ”, bao gồm: Phạm Phú Cường (nguyên trạm trưởng) lãnh mức án 4 năm tù giam; Hồ Tấn Hai: 2 năm tù giam; Thủy Ngọc Trọng (nguyên trạm phó) 1 năm 6 tháng tù giam; Nguyễn Văn Nhung: 6 tháng tù giam, Đinh Ngọc Bán lĩnh 9 tháng tù giam.
Hai kiểm lâm, nhân viên Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông Nguyễn Văn Ấn lãnh án 1 năm 6 tháng tù và Lý Thanh Tùng lãnh án 1 năm tù giam.
Các bị cáo bị truy tố về tội "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng" gồm: Đỗ Văn Lưu (SN 1967), Đỗ Văn Quý (SN 1979), Nguyễn Văn Vụ (SN 1982) bị tuyên phạt mức án 2 năm tù giam.
Hai bị cáo: Đinh Văn Thuấn (SN 1981) và Phạm Văn Chính (SN 1976) 1 năm 6 tháng tù giam; Vũ Văn Pháp (SN 1981) 16 tháng 10 ngày tù giam; Nguyễn Văn Học (SN 1971, cùng quê huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình) 16 tháng 16 ngày tù giam; Phạm Đinh Lợi (SN 1965, ngụ huyện Hòa Vang) 3 năm tù giam.
Các bị cáo Kiều Ngọc Trung (SN 1980, ngụ huyện Đông Giang) và Kiều Ngọc Quý (SN 1955, ngụ huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) 16 tháng 21 ngày tù giam; Sầm Tố Binh (SN 1988, ngụ huyện Đông Giang) 1 năm tù giam.
Cũng trong phiên xét xử, HĐXX cũng đã tuyên trả tự do cho các bị cáo Vũ Văn Pháp, Nguyễn Văn Học, Kiều Ngọc Trung, Kiều Ngọc Quý, do thời hạn tù bằng với thời hạn tạm giam.
Như PV báo Người Đưa Tin đã đăng tải, phiên xét xử sơ thẩm ngày 30/6, HĐXX ra quyết định, tuyên trả hồ sơ điều tra lại vụ phá rừng “khủng” ở khu vực Bà Nà - Núi Chúa (Đà Nẵng) để tiếp tục mở rộng điều tra.
Vì xuất hiện các tình tiết mới, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, HĐXX ra quyết định trả hồ sơ, điều tra lại vụ phá rừng liên quan 7 cán bộ, kiểm lâm hầu toà.
Theo cáo trạng tại tòa, từ cuối năm 2012, biết được tại khu vực rừng Cà Nhông (do Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa quản lý) có nhiều gỗ kiền kiền, Vũ Văn Tam (SN 1968, quê Nam Định, ngụ huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) nảy sinh ý định thuê người vào rừng Cà Nhông khai thác gỗ trái phép.
Do quen biết với Đỗ Văn Lưu và Đỗ Văn Quý từ trước, Tam liên hệ với 2 người này thuê thêm 5 người nữa trực tiếp chặt 104 cây gỗ kiền kiền với khối lượng hơn 100 m3. Sau đó, Tam liên hệ bán số gỗ khai thác trái phép này cho đối tượng Phạm Đinh Lợi.
Để đưa người vào rừng Cà Nhông khai thác gỗ trái phép, Tam đã gặp Phạm Phú Cường (lúc đó là trạm trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông) để trao đổi và mỗi xe gỗ đưa ra khỏi rừng, Tam trích 5 triệu đồng để đưa cho trạm và kiểm lâm để bồi dưỡng.
Khi nghe Cường về nói lại về việc thương lượng với Tam, cả trạm đồng ý, không ai phản đối việc này. Theo cơ quan điều tra, từ tháng 10/2013 đến tháng 4/2014, tổng số tiền mà Vũ Văn Tam đưa cho 2 kiểm lâm và 5 cán bộ tại trạm là hơn 30 triệu đồng. Số tiền này được 7 bị cáo trên chia nhau tiêu xài.
Đến tháng 10/2014, cán bộ kiểm lâm của trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông (trực thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa; đóng tại xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) đã phát hiện 2 bãi cất giấu gỗ trái phép trong lâm phận quản lý.
Số gỗ trái phép được tập kết tại 2 điểm với 66 phách gỗ xẻ, gồm gỗ gõ và gỗ kiền kiền. Toàn bộ số gỗ trên đều không có dấu búa kiểm lâm, chưa xác định được chủ sở hữu.
Tiếp tục mở rộng điều tra, trong 2 ngày 11 và 12/10/2014, lực lượng chức năng tiếp tục phát hiện thêm 9 điểm cất giấu gỗ trái phép với khoảng 10 m3 gỗ phách nằm ở địa phận Đà Nẵng và 9m 3 gỗ phách nằm ở địa phận tỉnh Quảng Nam. (Nông Nghiệp Việt Nam 31/8) đầu trang(
Ngày 30/8, tại Đà Nẵng, đã diễn ra hội nghị thường niên đánh giá tình hình thực hiện biên bản ghi nhớ giữa Cục Kiểm lâm Việt Nam và Cục thanh tra Lâm nghiệp (Lào).
Ông Đỗ Trọng Kim, Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm Việt Nam cho biết: Sau hội nghị này, hai bên sẽ họp bàn để nâng cao các biện pháp đấu tranh tại hiện trường, kịp thời ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ, không để xảy ra các vụ phá rừng nghiêm trọng như thời gian qua.
Liên quan đến vụ phá rừng pơ mu vừa diễn ra ở khu vực biên giới tỉnh Quảng Nam và huyện Đắc Chưng (Sê Kông, Lào), ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Kiểm lâm Quảng Nam, thừa nhận một phần nguyên nhân là do chủ quan. Theo ông Tuân, khu vực rừng biên giới Việt Nam và Lào từ xưa đến nay tương đối ổn định.
Việc chặt phá rừng cũng ít xảy ra nên việc tuần tra khu vực biên giới không được chú trọng, thường xuyên. Vụ việc tuy phát hiện hơi chậm nhưng sau khi phát hiện chính quyền địa phương hai tỉnh đã có những giải pháp quyết liệt khắc phục hậu quả vụ phá rừng, đồng thời đưa ra các giải pháp để triển khai công tác bảo vệ rừng tốt hơn.
“Sắp tới chúng tôi sẽ tham mưu đề nghị giao lại rừng khu vực biên giới cho lực lượng biên phòng hai nước quản lý. Biên phòng đã được giao quản lý vùng biên nên giao họ quản lý rừng để triển khai đồng bộ việc bảo vệ biên giới và bảo vệ rừng”, ông Tuấn nói.
Đồng quan điểm, ông Đỗ Trọng Kim cho biết: Bộ NN&PTNT và Cục Kiểm lâm rất ủng hộ đề xuất này của địa phương. Cục đã có văn bản chỉ đạo các địa phương tập trung rà soát lại hiện trạng rừng biên giới, trên cơ sở đó đề xuất, tham mưu cấp có thẩm quyền để tiến hành giao rừng cho Bộ đội biên phòng ở tuyến biên giới quản lý.
Chiều cùng ngày, tại cuộc họp báo thông báo tình hình KTXH 8 tháng đầu năm của UBND tỉnh Quảng Nam, Phó chủ tịch Huỳnh Khánh Toàn cho biết, đã có kết quả bước đầu vụ án phá rừng pơ mu, dự kiến giữa tháng 9/2016 ban chuyên án sẽ hoàn tất điều tra để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Đại tá Nguyễn Đăng Chung, Phó Chỉ huy trưởng BCH Bộ đội biên phòng Quảng Nam cho biết, vụ phá rừng pơ mu diễn ra trong thời gian ngắn nên BĐBP chưa nắm bắt kịp thời. Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh đã nghiêm túc nhận trách nhiệm. Vụ án đang trong quá trình điều tra, kết quả nếu cá nhân nào có sai phạm BĐBP sẽ công khai với báo chí.
Theo Công an tỉnh Quảng Nam, đến nay đã có 14 đối tượng ra đầu thú, hiện còn 1 đối tượng còn đang lẩn trốn, cơ quan điều tra đang tiếp tục vận động đối tượng này. (Tiền Phong 31/8) đầu trang(
Tại hội nghị thường niên đánh giá tình hình thực hiện biên bản ghi nhớ giữa Cục Kiểm lâm Việt Nam và Lào tổ chức tại Đà Nẵng vào ngày 30-8, ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam, cho rằng việc phát hiện chậm vụ phá rừng pơ mu tại vùng biên giới Quảng Nam với Lào một phần do việc tuần tra khu vực biên giới không được thường xuyên và có tư tưởng chủ quan.
“Chúng tôi đã đề xuất giao việc quản lý rừng vùng biên giới cho bộ đội biên phòng quản lý. Biên phòng đã được giao quản lý vùng biên nên giao họ quản lý rừng luôn. Việc này sẽ xác định được nhiệm vụ cụ thể về quản lý, quy chế phối hợp và chịu trách nhiệm khi xảy ra phá rừng” - ông Tuấn nói.
Trước đề xuất này, Pháp Luật TP.HCM đã trao đổi với ông Đỗ Trọng Kim, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Kiểm lâm Việt Nam.
Ông Đỗ Trọng Kim cho hay: “Chúng tôi đồng tình với đề xuất giao lực lượng biên phòng quản lý luôn rừng vùng biên giới. Cục Kiểm lâm Việt Nam đã có văn bản yêu cầu kiểm lâm các địa phương tập trung rà soát, đánh giá lại toàn bộ thực trạng và hiện trạng rừng khu vực tuyến biên giới. Trên cơ sở đó tham mưu, đề xuất để giao rừng ở các khu vực biên giới, tuyến biên giới cho bộ đội biên phòng quản lý, bảo vệ và chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra mất rừng”.
Cục Kiểm lâm Việt Nam đã xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện nghiêm túc chủ trương của Thủ tướng. Theo kế hoạch, phối hợp với các địa phương, các ngành chức năng liên quan để làm giảm thiểu được tình trạng vi phạm đến tài nguyên rừng.
Ông cho biết, mức độ vi phạm trong vụ việc là rất nghiêm trọng. Về phía Cục Kiểm lâm Việt Nam đã làm việc với UBND tỉnh Quảng Nam, phối hợp với các ngành chức năng để tích cực điều tra làm rõ, xử lý nghiêm theo quy định. Vi phạm đến đâu là sẽ xử lý nghiêm nhằm thiết lập lại trật tự, kỷ cương trong công tác quản lý rừng.
Cục Kiểm lâm Việt Nam và Lào đã ký biên bản hợp tác, ghi nhớ từ tháng 5-2012. Việc thực hiện bảy nội dung đã ký kết giữa hai bên nhìn chung được triển khai khá tốt. Đặc biệt là trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống và ngăn ngừa các hành vi khai thác, buôn bán vận chuyển gỗ, lâm sản, động vật trái phép tại các tuyến biên giới tiếp giáp 10 tỉnh Việt Nam-Lào.
Khu vực đường biên nằm xa khu dân cư, cuộc sống bà con khu vực biên giới cũng gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục những hạn chế này, trong thời gian tới chúng tôi sẽ tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ rừng. Mặt khác, sẽ phối hợp với công an, quân đội, hải quan… cùng các bạn Lào thường xuyên tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát nghiêm việc khai thác, buôn bán, vận chuyển gỗ sang tuyến biên giới.
Ngoài ra, sẽ tập trung thực hiện một số chính sách mới về lâm nghiệp để bà con khu vực biên giới cải thiện đời sống nhằm hạn chế phá và tiếp tay cho phá rừng. (Pháp Luật TP.HCM 31/8) đầu trang(
Chiều 30/8, tại cuộc họp định kỳ của UBND tỉnh Quảng Nam, xung quanh vụ phá rừng pơ mu hàng trăm năm tuổi, trả lời câu hỏi của báo chí, đại diện Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam đã nhận trách nhiệm khi để xảy ra vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng tại khu vực biên giới tỉnh Quảng Nam với nước bạn Lào.
Trả lời câu hỏi của các phóng viên về trách nhiệm của lực lượng Bộ đội Biên phòng, Đại tá Nguyễn Đăng Chung - Phó Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Nam cho biết, sau khi xảy ra vụ việc, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã chỉ đạo kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm quản lý bảo vệ biên giới của Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam; đồng thời triệu hồi Chính ủy và Phó Chính ủy, Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh ra Bộ Tư lệnh để kiểm điểm.
Đối với 3 cán bộ Biên phòng đã bị đình chỉ công tác, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã thực hiện nghiêm túc việc đình chỉ các cán bộ này để làm rõ, tuy nhiên vụ việc vẫn đang trong quá trình điều tra.
Đại tá Nguyễn Đăng Chung cũng cho hay: "Quan điểm của Bộ đội Biên phòng tỉnh là cá nhân đồng chí nào vi phạm pháp luật thì sẽ xử lý nghiêm cá nhân đó. Cá nhân đồng chí nào vi phạm thì cá nhân đồng chí đó phải chịu trách nhiệm. Bộ đội Biên phòng sẽ cung cấp cho các cơ quan thông tin sau khi có kết quả điều tra".
Về vụ việc này, ông Huỳnh Khánh Toàn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, vừa qua Công an tỉnh Quảng Nam công bố thông tin chỉ là kết quả điều tra ban đầu, giữa tháng 9 tới sẽ có kết luận điều tra và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Như đã đưa tin trước đó, liên quan đến vụ phá rừng pơ mu xảy ra ở biên giới Việt – Lào, tính đến thời điểm này đã có 14 đối tượng ra đầu thú, 5 đối tượng cộm cán bị bắt tạm giam. (Công Lý 31/8) đầu trang(
Sáng 30-8, trao đổi với phóng viên Báo CAND, Đại tá Dương Hoài Nam, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Nam, khẳng định các cơ quan chức năng đã và đang quyết tâm làm sáng tỏ mọi vấn đề liên quan đến vụ phá rừng pơ mu ở khu vực biên giới thuộc xã La Dêê, huyện Nam Giang để trả lời dư luận.
Đại tá Dương Hoài Nam cũng cho biết về chức trách, nhiệm vụ thì Cơ quan điều tra cũng đã vào làm việc ngay từ giai đoạn đầu tiên, phối hợp với Cơ quan điều tra hình sự của Bộ Tư lệnh BĐBP.
Bộ Tư lệnh đặc biệt quan tâm đến vụ việc, các đồng chí Phó Tư lệnh không phải 1 mà đã nhiều lần vào thực địa hiện trường vụ phá rừng pơ mu.
Liên quan đến 3 cán bộ Biên phòng bị tạm đình chỉ công tác là Đồn trưởng, Đồn phó, Chính trị viên Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Nam Giang, Đại tá Dương Hoài Nam nói rằng quyết định đình chỉ là của Bộ Tư lệnh để tạo điều kiện cho công tác điều tra và triển khai quản lý công việc của đơn vị.
3 cán bộ Biên phòng đó là thành phần có trách nhiệm thì tạm thời dừng công tác chỉ huy để bố trí người khác thực hiện công việc của đơn vị. “Việc kỷ luật thì đến giờ phút này chưa có hình thức rõ ràng. Bởi vì đã có kết luận đâu mà kỷ luật. Bao giờ có kết luận trắng - đen rõ ràng thì hình thức kỷ luật sẽ tương xứng”, Đại tá Dương Hoài Nam khẳng định.
Theo Đại tá Nam, dù có không tiếp tay, không vi phạm về những hoạt động kinh tế thì trách nhiệm của người chỉ huy, trách nhiệm của người quản lý đơn vị, tổ chức triển khai mà không kịp thời nắm bắt tình hình, không kịp thời phát hiện để xảy ra vụ phá rừng pơ mu ngay trong khu vực quản lý thì lực lượng Biên phòng địa bàn đương nhiên phải liên đới trách nhiệm, không bàn luận gì hết.
Tuy nhiên, việc xử lý như thế nào thì phải chờ kết luận của Cơ quan điều tra và phải xem lại toàn bộ quá trình quản lý.
Chỉ huy trưởng Biên phòng Quảng Nam cũng cho rằng sau vụ phá rừng pơ mu ở Nam Giang thì việc củng cố lại đơn vị Biên phòng, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ để làm tốt hơn nữa công tác quản lý địa bàn biên giới sẽ được triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp khác.
Trong một diễn biến khác, như Báo CAND đã đưa tin, trong sáng 30-8, thêm 5 đối tượng tham gia phá rừng pơ mu tại khu vực biên giới xã La Dêê, huyện Nam Giang đã ra đầu thú.
Tính đến thời điểm này, đã có 14 đối tượng ra đầu thú và 5 đối tượng bị Cơ quan điều tra thực hiện lệnh bắt khẩn cấp vì liên quan đến vụ phá rừng pơ mu tại Nam Giang. (Công An Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Chiều 30-8, Chủ tịch UBND thành phố Bắc Cạn (Bắc Cạn) Đinh Quang Tuyên cho biết, kiểm lâm địa phương vừa phát hiện một gốc cây nghi là gù hương, được cất trữ trong một gia đình mà chưa xuất trình được hồ sơ hợp pháp. Tuy nhiên, việc xử lý vụ việc đang gặp rất nhiều khó khăn.
Nhận tin báo của quần chúng nhân dân, ngày 23-8, Hạt Kiểm lâm TP Bắc Cạn cử cán bộ đến kiểm tra, xác minh tại vườn nhà ông Đỗ Văn Kiên ở thôn Nam Đội Thân, xã Nông Thượng, TP Bắc Cạn cất trữ một gốc cây có hình thù phức tạp, trọng lượng khoảng một tấn, có mùi thơm đặc trưng nghi là gốc cây gù hương (gỗ quý hiếm nhóm IIa).
Kiểm tra, ông Kiên không xuất trình được hồ sơ hợp pháp của gốc cây. Do đó, Hạt Kiểm lâm thành phố đã lập hồ sơ, ban hành quyết định tạm giữ khúc gỗ, chuyển về kho của cơ quan kiểm lâm để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
Tuy nhiên, việc đưa gốc cây về kho của cơ quan kiểm lâm gặp nhiều khó khăn, vì ông Kiên không chấp hành yêu cầu của kiểm lâm. Hạt Kiểm lâm TP Bắc Cạn thuê phương tiện đến để vận chuyển gốc cây về kho cơ quan kiểm lâm nhưng ông Kiên và anh trai ngăn cản, đe doạ người lái ô-tô nên không thực hiện được.
Ngày 25-8, Hạt Kiểm lâm thành phố phối hợp với các cơ quan chức năng di chuyển gốc cây này về kho của kiểm lâm, nhưng vẫn không di chuyển được vì người nhà ông Kiên chống đối quyết liệt. Đến nay, gốc cây này vẫn nằm trong vườn nhà ông Kiên, lực lượng chức năng của thành phố tiếp tục theo dõi, đề phòng việc tẩu tán tang vật.
Trước đó, đêm ngày 20-2, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn bắt giữ vụ khai thác, vận chuyển trái phép một gốc cây gù hương có hình thù phức tạp, đến nay đã xác định được khối lượng hơn mười khối, vượt khung xử phạt hành chính, khai thác ở rừng phòng hộ, nhưng vẫn chưa xử lý được. (Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Công an huyện miền núi Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên vừa tạm giữ sáu xe ô-tô tải chở gỗ, củi cùng nhiều dụng cụ chặt, phá rừng tại các tiểu khu 110, xã Xuân Long và tiểu khu 120, xã Xuân Quang 2. Hạt Kiểm lâm huyện này cũng đã lập biên bản, thu giữ 430 lóng gỗ tròn, đường kính từ bốn đến hơn 10 cm, dài từ 3,5 đến năm m.
Trước đó, các ngành chức năng của huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên kiểm tra, phát hiện một khoảnh rừng với diện tích gần 60 ha bị phát đốt và sáu xe ô-tô tải đang vận chuyển gỗ, củi ra khỏi rừng. Đây là khu rừng tự nhiên đang trong thời kỳ tái sinh, có trữ lượng gỗ trung bình từ 10,8 đến 19 m3/ha.
Qua điều tra ban đầu, các ngành chức năng xác định, các ông Nguyễn Văn Tự, Dương Văn Hiếu (ở thị trấn La Hai) và Nguyễn Chí Công (ở xã Xuân Sơn Nam) đều thuộc huyện miền núi Đồng Xuân, tổ chức mua đất lâm nghiệp được giao người dân ở xã Xuân Long và Xuân Quang 2, rồi thuê nhân công phát đốt gần 60 ha rừng.
Hiện, tổ công tác liên ngành của huyện Đồng Xuân đang phối hợp UBND các xã Xuân Long, Xuân Quang 2 tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng, tính chất, mức độ và nguyên nhân phá rừng để làm cơ sở xử lý nghiêm theo pháp luật. (Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Ngày 31-8, TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Các bị cáo gồm Phạm Đình Vượng (SN 1975), Nguyễn Thanh Lam (SN 1983), Lê Minh Tiến (SN 1970), Nguyễn Hùng Danh (SN 1981) và Đàm Thanh Cưu (SN 1982) cùng ngụ tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, tòa đã hoãn vì vắng nhân chứng, người có nghĩa vụ và quyền lợi liên qua và vắng cả hội thẩm.
Theo cáo trạng, từ 15-5-2013 đến 31-5-2013, Vượng đã được ông Nguyễn Quang Đức, nguyên Tổng giám đốc Công ty CP Thương mai – Du lịch Bản Đôn (huyện Buôn Đôn), thuê thu gom, dọn vệ sinh cây rừng cho công ty. Lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của công ty, Vượng đã thuê các đối tượng trên vừa thu gom vừa khai thác trái gỗ lậu tại khoảnh 6, tiểu khu 469 công ty quản lý. Tổng khối lượng gỗ khai thác trái phép là 37m3. Lam đã bán khoảng 30m3 gỗ tròn thu lợi bất chính 122 triệu đồng, còn 4,1m3 gỗ hộp, Lam cất dấu tại nhà.
Theo cáo trạng, về nội dung đơn tố cáo của Phạm Văn Vượng về việc ông Trương Văn Thêm (nguyên Đội trưởng Đội Kinh tế Công an huyện Buôn Đôn – PV) và Nguyễn Quang Đức bày cho Vượng nhận tôi thay cho Đức, làm sai lệch hồ sơ vụ án và tố cáo các hành vi nhận hối lộ có liên quan đến vụ án thì cơ quan CSĐT Công an huyện Buôn Đôn và Viện KSND huyện Buôn Đôn đã phối hợp xác minh và gửi toàn bộ tài liệu đến Cục điều tra Viện KSND Tối cao thụ lý, xác minh, điều tra theo thẩm quyền.
Đây là lần thứ 13 TAND huyện Buôn Đôn đưa vụ việc ra xét xử nhưng lại bị hoãn. (Người Lao Động 31/8) đầu trang(
Ngày 30/8, cơ quan lâm nghiệp địa phương cho biết, trong vòng 12 năm qua, độ che phủ của rừng Lâm Đồng đã giảm từ 61,4% (601.477 ha) xuống còn 53,1% (532.095 ha).
Nguyên nhân chủ yếu do tình trạng phá rừng xảy ra nhiều, trong đó có những khu vực là điểm nóng kéo dài nhiều năm.
Số vụ vi phạm lâm luật lên tới 28.859 vụ, trong đó chủ yếu là phá rừng với diện tích 2.826 ha; khai thác rừng trái phép 5.641 vụ. Lâm Đồng đã chuyển đổi mục đích sử dụng rừng với hơn 23.200 ha, trong lúc trồng rừng thay thế chỉ đạt 4.445ha, bằng 19% so với diện tích chuyển đổi. (Tiền Phong 31/8) đầu trang(
Ngày 30/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương Khê ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hà Thừa Thìn (SN 1966, trú tại xóm Tân Dừa, xã Hương Trạch, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) về tội hủy hoại rừng theo Điều 189 - Bộ Luật hình sự.
Vào ngày 8/7/2015, Hà Thừa Thìn đã thuê 7 người dân trú tại xã Hương Trạch gồm: Trần Thị Thanh (SN 1972), Đinh Văn Đề (SN 1962), Nguyễn Văn Anh (SN 2000), Nguyễn Anh Tuấn (SN 1997), Nguyễn Hải Vân (SN 1965), Đinh Thị Viện (SN 1968) và Nguyễn Văn Cường (SN 1997) vào chặt cây gỗ trên diện tích rừng phòng hộ thuộc khoảnh 2, tiểu khu 245 (xã Hương Trạch) do BQL RPH sông Ngàn sâu quản lý, với mục đích sau khi chặt xong, chờ cây khô đốt để trồng keo.
Tuy nhiên, khi mới chặt phá được 11.660m2 (1,16 ha) thì bị lực lượng Kiểm lâm huyện Hương Khê và bảo vệ của BQL RPH sông Ngàn Sâu phát hiện, lập biên bản.
Kết quả trưng cầu giám định giá trị thiệt hại về lâm sản là 142.950.000đ, thiệt hại về môi trường là 571.800.000đ. Được biết, số tiền Thìn thuê 7 người là 3 triệu đồng, trong đó đã trả 160.000đ/người. (Báo Hà Tĩnh 30/8) đầu trang(
Ông Hùng thấy con kỳ đà quá "khủng" nên bỏ tiền ra mua. Nhưng sau khi mang kỳ đà về nhà nuôi dưỡng, ông thấy kỳ đà có dấu hiệu suy yếu nên quyết định tặng lại Vườn Quốc gia Tràm Chim.
Ngày 28/8, Trại thực nghiệm Trung tâm Bảo tồn Vườn Quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp đã tiếp nhận một con kỳ đà núi do ông Trương Thanh Hùng, ngụ thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tự nguyện trao tặng.
Con kỳ đà núi này có tên khoa học là Varanidae, nặng trên 14 kg, do ông Hùng mua từ một người dân rồi mang về nhà nuôi. Sau một thời gian được nuôi dưỡng, con kỳ đà có dấu hiệu suy yếu sức khỏe nên ông Hùng mang tặng cho Vườn.
Ông Đinh Hữu Hoà - Phụ trách Trại thực nghiệm Trung tâm Bảo tồn Vườn Quốc gia Tràm Chim cho biết, cán bộ Trại thực nghiệm sẽ chăm sóc, cho kỳ đà ăn đầy đủ, phòng trị bệnh kịp thời… Đến khi kỳ đà khoẻ mạnh sẽ tổ chức thả vào Vườn Quốc gia Tràm Chim theo đúng quy định.
Được biết, trước đó, Trại thực nghiệm Trung tâm Bảo tồn Vườn Quốc gia Tràm Chim cũng đã tiếp nhận và cứu hộ một con kỳ đà nước (có tên khoa học là Varanus salvator) nặng gần 2kg, do một người dân ở thị xã Hồng Ngự trao tặng.
Lúc người dân mang đến, con kỳ đà nước cũng đang trong tình trạng suy nhược cơ thể, nhưng sau 4 tuần được chăm sóc, đến nay cá thể này đã phục hồi sức khoẻ tốt.
Vườn Quốc gia Tràm Chim đang chuẩn bị tổ chức thả kỳ đà vào khu Ramsar Tràm Chim để góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và quần thể các loài động vật hoang dã. (Dân Trí 30/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thủ tướng Chính phủ vừa chỉ đạo dừng chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng tại Vườn quốc gia Yok Đôn để xây dựng nhà máy thủy điện Đrăng Phôk (tỉnh Đắk Lắk).
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo việc không xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích 63 ha đất lâm nghiệp tại Vườn quốc gia Yok Đôn.
Việc dừng chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng để xây dựng nhà máy thuỷ điện nhằm thực hiện theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị chuyên đề về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020.
Trước đó, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cũng đã có văn bản số 2169/BTNMT-TCMT báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những tác động tiêu cực của việc đầu tư xây dựng thủy điện Đrăng Phôk tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
Theo hồ sơ thiết kế, Nhà máy thủy điện Đrăng Phôk xây dựng theo kiểu đập dâng trên sông Sêrêpôk (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) với công suất nhà máy dự kiến 26 MW và tổng vốn đầu tư khoảng 850 tỷ đồng.
Khi xây dựng thủy điện Đrăng Phôk, dự án sẽ chiếm 308,7 ha đất, trong đó có 295,4 ha đất Vườn Quốc gia Yok Đôn và 28,88 ha rừng đặc dụng phải chuyển đổi mục đích sử dụng.
Nhà máy do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới TP. Hồ Chí Minh làm chủ đầu tư và hiện đang trong giai đoạn lập hồ sơ báo cáo đánh giá tác động môi trường. (Tạp Chí Tài Chính 31/8) đầu trang(
Chính sách chi trả tiền DVMTR được triển khai đã góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng, đặc biệt ở các vùng nông thôn, các vùng dân tộc thiểu số, khó khăn, xóa đói giảm nghèo.
Theo kết quả tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 -2015 theo Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ vừa được công bố, toàn tỉnh có 523.275 ha diện tích đất lâm nghiệp, chiếm 75,9% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp 479.626 ha (đất có rừng 387.576 ha, chiếm 74,7% diện tích đất lâm nghiệp; đất chưa có rừng 92.050 ha; đất trồng rừng chưa thành rừng 21.881 ha...).
Trong 479.626 ha đất lâm nghiệp thì rừng phòng hộ trên 152.794 ha (bao gồm cả rừng tự nhiên, rừng trồng, đất chưa có rừng), rừng đặc dụng trên 36.147 ha, rừng sản xuất trên 290.684 ha. Diện tích rừng ngoài quy hoạch 43.649 ha chủ yếu là quế tập trung tại các huyện: Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn. Độ che phủ của rừng toàn tỉnh đạt 62,2%.
Qua đó cho thấy, rừng và chất lượng rừng ngày một tốt hơn, cùng với đó là cuộc sống người trồng rừng cũng nâng lên. Ngoài việc giá lâm sản ổn định và khai thác các lâm sản phụ, tiền khoán bảo vệ rừng thì người trồng, bảo vệ rừng nằm trong các lưu vực được chi trả phí DVMTR.
Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2016, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã thực hiện giải ngân tiền DVMTR năm 2015 cho các chủ rừng với tổng số tiền trên 36,4 tỷ đồng. Qua kiểm tra, giám sát cho thấy, việc chi trả tiền DVMTR diễn ra công khai, minh bạch, các chủ rừng thực hiện nghiêm túc việc chi trả tiền DVMTR đến các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng mà mình được thụ hưởng.
“Tác động lớn nhất mà chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) mang lại đó chính là ý thức bảo vệ và phát triển rừng của người dân ngày càng nâng cao, góp phần quan trọng vào việc nâng cao tỷ lệ độ che phủ rừng với mục tiêu giữ vững, duy trì hệ sinh thái rừng đầu nguồn nói riêng và rừng toàn tỉnh nói chung” - ông Kiều Tư Giang - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh khẳng định.
Chính sách chi trả tiền DVMTR được triển khai đã góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng, đặc biệt ở các vùng nông thôn, các vùng dân tộc thiểu số, khó khăn, xóa đói giảm nghèo.
Đơn giá chi trả DVMTR của năm 2015 thuộc lưu vực sông Đà đạt mức 435.600 đồng/ha/năm; trong khi đó, mức khoán bảo vệ rừng tại huyện vùng đặc biệt khó khăn, huyện nghèo là 300.000 đồng/ha/năm. Lưu vực sông Chảy và sông Hồng ngoài ngân sách hỗ trợ giao khoán bảo vệ, các hộ gia đình còn được nhận thêm tiền DVMTR với đơn giá 74.800 đồng/ha (lưu vực sông Chảy) và 163.000 đồng/ha (lưu vực sông Hồng).
Từ kết quả đó cho thấy, cùng với các nguồn thu nhập khác từ rừng, tiền DVMTR đã đóng góp một phần trong tổng thu nhập của người dân, từng bước nâng cao ý thức trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Thực tế cho thấy, hiện nay, người dân các địa phương có rừng trên địa bàn tỉnh đã ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng. Các chủ rừng là tổ chức đã tiến hành giao khoán rừng ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình nên có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ rừng với hộ gia đình và chính quyền địa phương trong công tác tuần tra, quản lý, bảo vệ rừng. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép tại các khu vực rừng được chi trả tiền DVMTR không còn xảy ra. (Báo Yên Bái 30/8) đầu trang(
Ông Phạm Bá Nghị, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thuộc Sở NN&PTNT, cho biết: Vụ Thu Đông năm nay, ngành Nông nghiệp tỉnh có kế hoạch trồng mới 8.500 ha rừng, trong đó, trồng rừng phòng hộ, môi trường cảnh quan 372 ha; trồng rừng sản xuất 8.128 ha.
Để đảm bảo giống cho công tác trồng rừng, đến thời điểm này, các cơ sở, vườn ươm trên địa bàn toàn tỉnh đã gieo, ươm được trên 118,56 triệu cây giống các loại, gồm: keo lai giâm hom 111 triệu cây; keo lai nuôi cấy mô 6,3 triệu cây; sao đen 1 triệu cây; phi lao 90.000 cây; thông Caribe 88.000 cây; bần trắng 55.900 cây; mắm trắng 21.000 cây; bần chua 11.700 cây.
Hiện nay, người trồng rừng trên địa bàn tỉnh đang tích cực xử lý thực bì, đào hố để bắt đầu trồng rừng từ giữa tháng 9 tới. (Báo Bình Định 30/8) đầu trang(
Tính đến cuối tháng 8/2016, trong khi một số huyện còn đang chạy đua với kế hoạch trồng rừng năm 2016 thì huyện Hữu Lũng đã hoàn thành vượt mức kế hoạch trồng rừng cả năm.
Chúng tôi đến xã Minh Hòa những ngày giữa tháng 8/2016. Những quả đồi được phủ một màu xanh của cây bạch đàn. Trên khu rừng mới trồng, ông Nông Văn Hô, thôn Mới cho biết: Gia đình tôi có khoảng 13 ha rừng, chủ yếu là trồng bạch đàn. Những diện tích rừng khai thác đến đâu, gia đình chúng tôi trồng mới ngay đến đó. Từ đầu năm đến nay, gia đình tôi đã trồng mới 2,5 ha rừng (sau khai thác).
Qua trao đổi, thu nhập từ rừng giúp cho gia đình ông Hô có cuộc sống khá và từng bước làm giàu. Vì vậy, việc khai thác, quản lý, bảo vệ, trồng rừng được gia đình ông chú trọng, hằng năm đều chủ động cuốc hố, mua giống cây về trồng. Không chỉ gia đình ông Hô mà giờ đây người Minh Hòa trồng và phát triển vốn rừng “rất nghề”, rừng khai thác đến đâu bà con trồng luân canh đến đó, không cho đất trống, đất nghỉ.
Nghề rừng đã trở thành hướng phát triển kinh tế quan trọng của xã. Những hộ có rừng, hộ ít cũng có gần 1 ha, hộ nhiều có đến hơn chục héc ta. Nhiều hộ có cuộc sống khá giả từ trồng rừng, trong đó có thể kể đến hộ ông Hoàng Văn Luận, Nguyễn Thế Hiếu, thôn Mới; Hoàng Văn Long, thôn Chim… Năm 2016, xã Minh Hòa được huyện giao chỉ tiêu trồng 70 héc ta rừng, từ sự chủ động của cấp ủy, chính quyền và nhân dân trong xã, đến giữa tháng 8 đã hoàn thành kế hoạch giao.
Theo thống kê, Hữu Lũng có gần 36.000 ha đất lâm nghiệp, đây được coi là thế mạnh để kinh tế lâm nghiệp phát triển. Những năm gần đây, để khai thác thế mạnh này, huyện đã hoàn hành việc rà soát, quy hoạch, giao quyền làm chủ cho nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, khuyến khích trồng rừng gắn với công nghệ chế biến. Nhờ đó phong trào trồng rừng diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt, để công tác trồng rừng đạt kết quả cao, huyện làm tốt công tác theo dõi, nắm bắt diễn biến tài nguyên rừng nên hằng năm việc giao kế hoạch trồng rừng sát với thực tế.
Ông Vũ Đình Thứ, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cho biết: Năm 2016, tỉnh giao huyện trồng mới 1.300 ha rừng, huyện phấn đấu trồng mới 1.500 ha.
Để hoàn thành kế hoạch, ngay từ đầu vụ, Phòng Nông nghiệp tham mưu cho UBND huyện xây dựng kế hoạch trồng rừng năm 2016, giao chỉ tiêu cho các xã. Đồng thời, tăng cường cán bộ kỹ thuật xuống địa bàn chỉ đạo các địa phương tập trung hoàn thành công tác thiết kế, chuẩn bị tốt cây giống để phục vụ nhu cầu trồng rừng của nhân dân.
Từ sự chủ động đó, đến cuối tháng 8/2016, toàn huyện đã trồng mới được 1.500 ha rừng, bằng 100% kế hoạch huyện đề ra, vượt 15,38% kế hoạch tỉnh giao. Trong đó, trồng rừng tập trung được 1.190 ha (nhân dân tự mua cây về trồng được gần 1.000 ha; Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đông Bắc trồng được gần 143 ha); trồng phân tán được 310 ha.
Để kinh tế rừng phát triển bền vững, trong thời gian tới, huyện tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp, người dân đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp; phát triển ổn định các doanh nghiệp chế biến, cơ sở sản xuất kinh doanh lâm sản hiện có trên địa bàn; gắn vùng sản xuất nguyên liệu tập trung với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. (Báo Lạng Sơn 30/8) đầu trang(
Nhằm tạo nguồn giống tại chỗ cho việc trồng rừng trên địa bàn huyện, nhiều năm qua, thị trấn Hải Lăng (huyện Hải Lăng) đã vận động và hỗ trợ người dân xây dựng mô hình ươm cây giống lâm nghiệp. Từ mô hình này đã góp phần nâng cao thu nhập đáng kể cho hộ gia đình.
Cứ đến vào đầu tháng 7 hàng năm là bà Lê Thị Tối ở thị trấn Hải Lăng, huyện Hải Lăng lại tất bật làm đất để ươm giống cây lâm nghiệp. Bà Tối cho biết, năm nay do thời tiết nắng hạn kéo dài nên việc ươm cây có ảnh hưởng, tuy nhiên gia đình bà vẫn đầu tư ươm hơn 30 vạn cây giống với các loại tràm hoa vàng, keo tai tượng...
Do nắm bắt kỹ thuật và chăm sóc đúng quy trình nên diện tích cây giống của bà Tối phát triển tốt, cây con lên đều, mang lại cho gia đình bà Tối thu nhập trên 50 triệu đồng/vụ.
Nhằm tạo nguồn giống tại chỗ cho việc trồng rừng trên địa bàn huyện, hiều năm qua, thị trấn Hải Lăng (huyện Hải Lăng) đã vận động và hỗ trợ người dân xây dựng mô hình ươm cây giống lâm nghiệp. Riêng vụ trồng rừng cuối năm 2016 này, thị trấn Hải Lăng đã đầu tư, hỗ trợ tạo điều kiện cho bà con quy hoạch trên 10.000 m2 đất để ươm hơn 250 vạn cây giống.
Với số diện tích ươm giống hiện có sẽ đảm bảo nguồn giống cho vụ trồng rừng cuối năm trên địa bàn toàn huyện. Hiện nay, từ nguồn thu khá cao nên nhiều hộ gia đình đã đầu tư xây dựng vùng chuyên canh ươm cây giống lâm nghiệp với quy mô lớn. Điển hình như hộ ông Võ Văn Chiến. bà Nguyên Thị Bình, Nguyễn Thị Chung...với thu nhập hàng năm từ 100- 150 triệu đồng.
Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng mô hình ươm cây giống của thị trấn Hải Lăng là hướng đi hiệu quả. Ngoài việc nâng cao thu nhập còn tạo được việc làm cho lao động đia phương. Đồng thời, góp phần đưa thị trấn từng bước đa dạng hóa các phương thức sản xuất và phát triển kinh tế trên địa bàn.... (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 30/8) đầu trang(
Thành đoàn Thành phố vừa phối hợp với Đoàn Khối Doanh nghiệp tỉnh tổ chức ra quân tình nguyện trồng cây xanh bảo vệ môi trường chào mừng Quốc khánh 2-9.
Hơn 400 đoàn viên, thanh niên đã trồng 5.000 cây keo tại khai trường Mỏ sắt Nà Rụa, phường Tân Giang (Thành phố), phủ xanh phần lớn khu vực đất trống tại khai trường sau quá trình khai thác.
Qua hoạt động, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm cho đoàn viên, thanh niên, phát huy vai trò xung kích của tuổi trẻ trong việc chung tay bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, từng bước xây dựng cảnh quan xanh - sạch - đẹp tại địa phương. (Báo Cao Bằng 30/8) đầu trang(
“UBND huyện Chư Pứh, tỉnh Gia Lai đang thành lập đoàn công tác xác minh, giải quyết tranh chấp đất giữa Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Trường Thịnh (gọi tắt Công ty Trường Thịnh) và người dân liên quan đến việc người dân chiếm đất dự án để canh tác”.
Ông Nguyễn Văn Dạng, Chủ tịch UBND xã Ia Le, nói về khiếu nại của người dân liên quan đến việc bị Công ty Trường Thịnh cho người phá hoa màu.
Năm 2010, Công ty Trường Thịnh được UBND tỉnh Gia Lai tạm giao 697 ha đất trồng rừng kết hợp chăn nuôi tại xã Ia Le, huyện Chư Pứh. Đến năm 2015, dự án được bổ sung hạng mục trồng hồ tiêu dưới tán rừng. Tuy nhiên, do chậm triển khai, hiện Công ty Trường Thịnh chỉ mới trồng kết hợp chăn nuôi gần 450 ha rừng, còn 247 ha đất trống bị người dân lấn chiếm rồi nảy sinh tranh chấp.
“Có những trường hợp người dân trồng hoa màu, bị Công ty Trường Thịnh cho người đến phá nên họ khiếu nại lên chính quyền xã” - ông Trần Lãnh Mạnh, phó thôn Ia Brel (xã Ia Le), cho biết.
Theo thống kê chưa đầy đủ, khoảng hơn 100 hộ dân lấn chiếm đất dự án, trong đó có cả các hộ dân từ tỉnh Đắk Lắk sang lấn chiếm khoảng 118 ha. Số hộ dân này hiện vẫn chưa chấp nhận trả lại đất cho dự án. “Từ năm 2012 đến tháng 8-2014, công ty khó khăn không sản xuất, không thực hiện dự án nên bà con vào vùng đất dự án để sản xuất” - ông Dạng thông tin.
Ngoài giao đất cho Công ty Trường Thịnh, năm 2006, UBND tỉnh Gia Lai đã tạm giao khoảng 2.093 ha đất để trồng rừng kết hợp chăn nuôi và trồng cây nông sản cho Công ty CP Xuất nhập khẩu Lê Khanh (gọi tắt Công ty Lê Khanh). Đến năm 2010, do chủ đầu tư chậm triển khai dự án, sử dụng lao động tại chỗ quá ít, UBND tỉnh Gia Lai thu hồi hơn 1.680 ha, còn lại hơn 412 ha được Công ty Lê Khanh trồng cây keo. Năm 2010, phần lớn diện tích keo bị cháy nên Công ty Lê Khanh bỏ bê, không tiếp tục triển khai dự án. Từ đó, người dân địa phương vào phát dọn lấy đất sản xuất, canh tác.
Theo bà Phạm Thị Thu, chuyên viên Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chư Pứh, chính quyền địa phương nhiều lần liên lạc với công ty để tìm cách giải quyết nhưng không được. (Người Lao Động 30/8) đầu trang(
Mục thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân cho biết: Một số người tùy tiện lấn chiếm trái phép nhiều diện tích đất lâm nghiệp thuộc khoảnh 3, tiểu khu 181A, xã Mỹ Chánh (Phú Mỹ, Bình Định). (Nhân Dân 31/8) đầu trang(
Lần nào về Hương Cần (Thanh Sơn), chúng tôi cũng đi thăm các mô hình phát triển kinh tế của xã. Với lợi thế giao thông thuận lợi, diện tích đất lâm nghiệp lớn, người dân cần cù chịu khó... nhiều năm nay vùng đất này đã tạo ra những con người năng động, dám nghĩ dám làm, vươn lên làm giàu ngay trên chính quê hương. Anh Bùi Văn Tám ở khu Tân Hương là một trong số những người như vậy.
Hơn 20 năm trước, khi Nhà nước có chủ trương giao đất giao rừng đến hộ dân, việc phát triển rừng trồng xóa đồi núi trọc ở địa phương được chú trọng, tạo nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngành chế biến gỗ, gia đình anh Bùi Văn Tám cũng nhận 30 ha để trồng cây nguyện liệu giấy. Đến chu kỳ khai thác việc bán sản phẩm không phải lúc nào cũng thuận lợi, nhiều khi giá bán quá rẻ so với công sức, chi phí đầu tư, chính điều này đã khiến anh luôn nung nấu làm sao khai thác được tiềm năng, lợi thế sẵn có để chế biến sâu các sản phẩm từ rừng trồng.
Nghĩ là làm, anh vay vốn Ngân hàng và anh em bạn bè đầu tư xây dựng xưởng xẻ, mua máy móc về sản xuất gỗ thanh phục vụ xuất khẩu, băm dăm gỗ cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy giấy Bãi Bằng. Từ chỗ chỉ có 1 xưởng sản xuất với 2 máy cưa, xẻ và 1 dây chuyền băm dăm gỗ, tổng giá trị đầu tư 500 triệu đồng, đến năm 2013 anh mở rộng đầu tư lên 2 xưởng, nâng công suất sản xuất gấp 2 lần so với trước, bổ sung thêm một số máy móc hiện đại như máy cắt, máy nâng... thu hút và tạo việc làm ổn định cho 10 lao động địa phương với thu nhập bình quân 3-4 triệu đồng/người/tháng.
Mỗi năm xưởng chế biến gỗ của anh Bùi Văn Tám cung cấp cho thị trường khoảng 500- 600 tấn gỗ thanh và dăm gỗ, trừ chi phí cho thu nhập 300- 400 triệu đồng/năm.
Không chỉ làm kinh tế giỏi, anh Tám còn hăng hái tham gia các hoạt động của địa phương, tích cực đóng góp làm đường giao thông, xây dựng trạm điện, nhà văn hóa khu dân cư. Hiện nay anh đang đảm nhiệm vai trò trưởng khu Tân Hương, được bà con tín nhiệm, yêu mến.
Chính những cố gắng, nỗ lực không ngừng của bản thân, nên anh thời gian qua anh Bùi Văn Tám được vinh dự đại diện cho các hộ nông dân huyện Thanh Sơn đi dự Hội nghị Trung ương về "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". (Báo Phú Thọ 30/8) đầu trang(
Ngày 30-8, Cục Quản lý cạnh tranh dẫn thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ cho biết, Tổng vụ Nhập khẩu – Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đã có kết luận điều tra chống bán phá giá với sợi dún polyester nhập khẩu từ một số nước, trong đó có Việt Nam.
Căn cứ theo kết luận, cơ quan điều tra Thổ Nhĩ Kỳ xác định biên độ bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam là 34,81% - 72,56 %; c4, Thái Lan là 8,48% - 37,69%.
Trước đó ngày 15-5-2015, sản phẩm sợi dún polyester bị khởi xướng điều tra. Giai đoạn điều tra bán phá giá (POI): năm 2014. Giai đoạn điều tra thiệt hại: từ năm 2012 đến 2014. Nguyên đơn là Tập đoàn Korteks Mensucat Sanayi ve Tic. A.S.
Cùng ngày, Cục Quản lý cạnh tranh cho biết, Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đã ra ban hành kết luận cuối cùng vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá với gỗ dán nhập khẩu từ một số nước trong đó có Việt Nam.
Trước đó ngày 27-5-2015, gỗ dán nhập khẩu từ Việt Nam bị khởi xướng điều tra. Giai đoạn điều tra từ năm 2010 đến nay.
Cục Quản lý cạnh tranh cho biết thêm, theo báo cáo điều tra, chỉ có hai doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra sẽ không bị áp dụng biện pháp chống lẩn thuế chống bán phá giá do cung cấp thông tin đầy đủ, đúng thời gian và chứng minh được hàng xuất khẩu được sản xuất tại các công ty này.
Các doanh nghiệp không cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra sẽ bị áp dụng mức thuế là 240 USD/m3 (tương đương với mức thuế chống bán phá giá đã được Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng đối với hàng nhập khẩu của các doanh nghiệp Trung Quốc). Thời gian áp dụng mức thuế được tính ngay khi Bộ Kinh tế đăng nội dung kết luận điều tra trên Công báo của Thổ Nhĩ Kỳ. (Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Dăm gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của ngành chế biến gỗ Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt gần 1,2 tỷ USD, tương đương với trên 17% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng gỗ.
Tuy nhiên, kim ngạch và lượng xuất khẩu dăm của nửa đầu năm 2016 đang cho thấy những tín hiệu rất rõ ràng về sự suy giảm nghiêm trọng trong việc xuất khẩu dăm. Điều này đã làm phát sinh những lo ngại sâu sắc đặc biệt trong khối các doanh nghiệp dăm và các cơ quan quản lý.
Trước bối cảnh ngành chế biến dăm gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang trải qua một giai đoạn vô cùng khó khăn, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định), Hiệp hội Gỗ Dăm xuất khẩu Quảng Ngãi - Quảng Nam và Tổ chức Forest Trends thời gian qua đã đồng phối hợp tổ chức Hội thảo "Việt Nam xuất khẩu dăm gỗ: Những thách thức mới" để doanh nghiệp và đại diện cơ quan quản lý của Nhà nước cùng nhau trao đổi thông tin, tháo gỡ vướng mắc và đưa ra hướng đi cho vấn đề này.
Theo ông Đặng Việt Quang - chuyên gia phân tích chính sách của Tổ chức Forest Trends, dăm gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của ngành chế biến gỗ của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt gần 1,2 tỉ USD, tương đương với trên 17% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng gỗ.
Tuy nhiên, kim ngạch và lượng xuất khẩu dăm của năm 2016 cho thấy những tín hiệu rất rõ ràng về sự suy giảm nghiêm trọng trong việc xuất khẩu dăm, điều này đang làm phát sinh những lo ngại sâu sắc đặc biệt trong khối các doanh nghiệp dăm và các cơ quan quản lý.
Dẫn chứng về điều này, ông Quang cho biết, kim ngạch xuất khẩu dăm 5 tháng đầu năm 2016 đạt 248 triệu USD, chỉ tương đương với 58% kim ngạch 5 tháng cùng kỳ của năm 2015 (430 triệu USD). Lượng dăm xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2016 đạt 1,8 triệu tấn, bằng 61% tổng lượng dăm xuất khẩu trong cùng kỳ của năm 2015.
Theo đó, nếu từ nay đến cuối năm 2016 xu hướng xuất khẩu này không thay đổi, ngành chế biến và xuất khẩu dăm của Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với vô vàn khó khăn và kim ngạch xuất khẩu cả năm 2016 sẽ chỉ đạt ở mức trên dưới 600 triệu USD, chỉ bằng khoảng 1/2 kim ngạch của năm 2015; lượng dăm xuất khẩu cả năm sẽ chỉ đạt trên dưới 7 triệu tấn, tương đương với khoảng 60% tổng lượng xuất khẩu của 2015. Hiện lượng dăm tồn, không xuất khẩu được tại Việt Nam rất lớn.
Phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự tụt giảm lượng dăm xuất khẩu của Việt Nam những tháng đầu năm 2016, Báo cáo của VIFOREST cho biết có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản nhất là do giảm cầu đối với mặt hàng bột giấy trên thế giới đặc biệt tại thị trường Trung Quốc.
Bên cạnh đó, thị trường thế giới về tiêu thụ dăm gỗ bị co hẹp, mức giá xuất khẩu giảm, giá dầu thô trên thế giới giảm kéo theo việc giảm chi phí vận chuyển. Điều này tạo động lực cho việc hình thành và phát triển nguồn cung dăm mới từ một số quốc gia khu vực châu Phi về phía châu Á, đặc biệt về thị trường Trung Quốc. Mặt khác, nguồn cung nguyên liệu từ Thái Lan tăng mạnh do cây đến chu kỳ khai thác. Các yếu tố này tạo ra sự dư thừa trong nguồn cung và điều này dẫn đến hệ lụy giá dăm nhập khẩu giảm.
Cùng với tác động từ tình hình chung của thị trường thế giới, việc áp dụng thuế xuất khẩu 2% đối với dăm gỗ xuất khẩu từ ngày 1/1/2016 theo Thông tư số 182/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính trong bối cảnh suy giảm thị trường tiêu thụ dăm gỗ xuất khẩu đã làm rấy lên những bức xúc và lo ngại của các doanh nghiệp trong ngành.Chia sẻ xoay quanh vấn đề này, Đại diện Công ty TNHH Liên doanh Nguyên liệu giấy Huế cho biết, đơn vị là doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ cũng như người trồng rừng là đối tượng trong chính sách thuế xuất khẩu dăm gỗ 2%.
Tuy nhiên đơn vị rất bất ngờ và lo lắng khi nhận được thông tin phải điều chỉnh mức thuế mặt hàng dăm gỗ xuất khẩu từ 0% lên 2%. Từ ngày Bộ Tài chính ban hành Thông tư đến ngày có hiệu lực là chưa đầy 2 tháng, trong khi đó những DN dăm gỗ thường đàm phán kí kết hợp đồng, thu mua và sản xuất sản phẩm theo chu kỳ 3 – 4 tháng. Như vậy, việc Thông tư ban hành và có hiệu lực trong một khoảng thời gian quá ngắn đã làm cho các doanh nghiệp cũng như người trồng rừng không kịp xử lý gây ra những thiệt hại lớn, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động trồng rừng của người dân.
Trong tình hình khó khăn như hiện tại, vị Đại diện của ty TNHH Liên doanh Nguyên liệu giấy Huế bày tỏ mong muốn các cơ quan chức năng xem xét bỏ thuế xuất khẩu 2%, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dăm gỗ tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dăm gỗ nói riêng và mặt hàng gỗ, các sản phẩm từ gỗ nói chung. Từ đó hỗ trợ cho người dân trồng rừng có nơi tiêu thụ sản phẩm ổn định, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế rừng trên cả nước.
Cùng chung quan điểm trên, ông Nguyễn Nị - Giám đốc Công ty TNHH Nguyên liệu giấy Dung Quất cho biết, hiện nay, 70% gỗ rừng trồng là hộ gia đình mà tập trung là trung du và miền núi. Việc bán sản phẩm nguyên liệu gỗ rừng trồng cho các nhà máy chế biến sản phẩm đồ gỗ, ván ép, ván MDF hoặc chế biến gỗ dăm xuất khẩu là sự lựa chọn của người trồng rừng.
Chính yếu tố này làm động lực cho phát triển gỗ rừng trồng và việc phát triển đều khắp trong cả nước là nhờ gắn kết với chế biến thì người dân mới an tâm trồng rừng bền vững. Vậy là cơ chế thị trường thì nên để thị trường điều tiết và tác động trong chế biến xuất khẩu để người trồng rừng được hưởng lợi cao hơn. Song việc Bộ Tài chính vừa qua áp thuế suất 2% gỗ dăm xuất khẩu làm người trồng rừng bị ảnh hưởng từ 6 – 8%.
Theo ý kiến cá nhân của ông Nị, để phát triển rừng bền vững và chế biến xuất khẩu ổn định theo như Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành, nên tiếp tục ưu đãi thuế, không nên áp thuế gỗ dăm 2% vì người dân mới chỉ trồng rừng trong vòng 10 năm nay là mạnh nhất.
Còn theo ông Nguyễn Như Xuân, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Sản xuất nguyên liệu giấy Việt Nam (Vijachip) kiến nghị, nếu có thể được hoãn hoặc miễn việc áp thuế xuất khẩu, mặc dù giá trị nhỏ nhưng có tác động lớn. Việc áp thuế có lộ trình đủ thời gian nhất định để các nhà sản xuất chuẩn bị nguồn lực sang chế biến sâu và người trồng rừng chuyển sang một bước kinh doanh mới. Như vậy sẽ có được sự phát triển bền vững.
Nếu từ nay đến cuối 2016 xu hướng xuất khẩu này không thay đổi, ngành chế biến và xuất khẩu dăm của Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn và kim ngạch xuất khẩu cả năm 2016 sẽ chỉ đạt ở mức trên dưới 600 triệu USD, bằng khoảng 1/2 kim ngạch của năm 2015; lượng dăm xuất khẩu cả năm sẽ chỉ đạt trên dưới 7 triệu tấn, tương đương với khoảng 60% tổng lượng xuất khẩu của 2015.
Để có góc nhìn thực tiễn hơn, Tô Xuân Phúc - Tổ chức Forest Trend cho rằng, trước khi đưa ra những giải pháp can thiệp về thuế cần có những đánh giá sâu về thực trạng của ngành chế biến xuất khẩu dăm hiện nay của Việt Nam.
Trước hết, thuế xuất khẩu dăm được áp dụng trong bối cảnh cung – cầu dăm thế giới có nhiều biến động như việc giá dầu giảm tạo luồng cung dăm mới từ Châu Phi, Mỹ Latin về trung tâm cầu vùng châu Á; nguồn cung từ châu Á tăng; cung tăng, cầu giảm, đặc biệt là tại Trung Quốc đã đẩy giá nguyên liệu giảm; trong khi đó, Việt Nam tuy đứng thứ nhất trên thế giới về lượng dăm xuất khẩu nhưng chưa tạo được thế chủ động trên thị trường.
Theo ông Phúc, không chỉ đơn thuần là về biến động cung - cầu của thị trường tiêu thụ, khó khăn còn nằm ở vấn đề nội tại của ngành dăm. Đó là phát triển chưa đồng bộ, thiếu chiến lược dài hạn, còn mang nặng tính chạy theo phong trào, có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, phát triển mất kiểm soát, đặc biệt là đối với cơ sở chế biến quy mô nhỏ ở vùng Bắc Trung bộ.
Đơn cử, theo Báo cáo của UBND tỉnh Thanh Hóa, trong 42 cơ sở chỉ có 11 cơ sở hợp pháp (26%) và trong 11 cơ sở “hợp pháp” thì công suất lại vượt 2,2 lần. Cùng với đó là sự phát triển tự phát, mất kiểm soát, cạnh tranh không lành mạnh, gây tác động tiêu cực đến toàn ngành. Đặc biệt là khi tình trạng thiếu nguyên liệu đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, tranh mua, tranh bán, gây mất trật tự xã hội… Các cơ sở sản xuất dăm gỗ trái phép nhưng không được xử lý kịp
Một trong những thực tế quan trọng được ông Tô Xuân Phúc đưa ra là sự phát triển nóng, chạy theo thị trường đã giảm chất lượng sản phẩm, từ đó làm giảm lòng tin của người mua, đặc biệt tại các thị trường khó tính, tạo cơ hội cho người mua ép giá. Trong khi hiện chưa có cơ chế kiểm soát chất lượng, chưa có có tiếng nói chung cho ngành, trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngành.
Bởi vậy, việc áp thuế xuất khẩu 2% tuy thực sự đã làm gia tăng khó khăn cho ngành dăm, song, đây không phải là một trong những nguyên nhân chính gây biến động lớn đến ngành xuất khẩu dăm. Ngược lại, việc hạn chế xuất khẩu dăm nhằm tạo nguồn nguyên liệu gỗ lớn cho ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu, tạo giá trị gia tăng cho nguồn gỗ rừng trồng là định hướng hoàn toàn đúng đắn. Điều đó lý giải rằng, thuế xuất khẩu là một trong những công cụ quan trọng của Chính phủ nhằm hạn chế sự phát triển ồ ạt của ngành chế biến dăm. Tuy nhiên chính sách thuế xuất khẩu chỉ là một trong những điều kiện cần, chưa phải là đủ.
Trước thực trạng phát triển nóng của ngành xuất khẩu dăm gỗ hiện nay, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn nhận định, con đường tái cơ cấu để nâng cao giá trị của ngành gỗ là con đường tất yếu. Mặc dù Việt Nam là nước xuất khẩu dăm lớn nhất thế giới nhưng ngành dăm gỗ lại phát triển không bền vững như nhiều ngành hàng khác. Đây là những áp lực đòi hỏi phải có kế hoạch dài hơi hơn, vững chắc hơn và phải bình tĩnh để có những chuyển động thực sự.
Đưa ra phản hồi về những ý kiến và kiến nghị của các doanh nghiệp đối với chính sách áp thuế xuất khẩu 2% cho mặt hàng dăm gỗ, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn cho biết, chiến lược phát triển ngành gỗ đã có quy hoạch rất rõ ràng, chính sách về thuế dăm đã bàn trong 5 năm qua nên việc áp mức thuế xuất khẩu 2% không phải là điều bất ngờ, thậm chí mức thuế ban đầu được đưa ra bàn thảo lần 1 còn ở mức 10%, lần 2 là 5% và cuối cùng dừng lại ở mức 2%. Do đó, doanh nghiệp cần hết sức khách quan để đánh giá, phải có góc nhìn sâu hơn nữa.
Trên quan điểm của Bộ NN&PTNT, Thứ trưởng Tuấn nhấn mạnh, sự phát triển của ngành dăm quan trọng nhưng quan trọng hơn là ngành công nghiệp chế biến gỗ, phải cùng nhau tái cơ cấu. Nếu tiếp tục phát triển dăm nóng thì sẽ đi vào con đường khó khăn, cứ “mệnh ai người nấy làm” thì không thể phát triển bền vững được. Trong khi đó, chủ trương của Nhà nước đưa ra cũng là nhằm mục đích giảm tỷ trọng xuất khẩu dăm trong cơ cấu xuất nhập khẩu gỗ Việt Nam chứ không phải là bóp nghẹt ngành này, cho nên chính sách áp thuế đối với xuất khẩu dăm là cần thiết.
Song, ghi nhận những khó khăn mà các doanh nghiệp xuất khẩu dăm gỗ đang gặp phải, Thứ trưởng Tuấn cũng cho biết sẽ giao Tổng cục Lâm nghiệp tiếp tục nghiên cứu thêm để đưa ra đề xuất, kiến nghị với các cơ quan liên quan. Cùng với đó, các doanh nghiệp cùng Hiệp hội cũng phải tích cực nêu cao hơn nữa vai trò của mình trước sức ép như hiện nay, ngoài những khó khăn cần tháo gỡ thì cần phải nhìn nhận lại để có những bước đi đúng đắn, bền vững hơn, tránh phát triển nóng, tránh tự phát và tính cộng đồng không cao. (Tạp Chí Doanh Nghiệp Và Thương Mại 29/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Indonesia đang đặt trong tình trạng khẩn cấp liên quan đến hiện trạng cũng như dự đoán về nguy cơ cháy và tác động của khói tỏa ra từ các đám cháy rừng và đất.
Theo phóng viên TTXVN tại Jakarta, Bộ trưởng Lâm nghiệp và Môi trường Indonesia Siti Nurbaya đưa ra thông báo trong chuyến thị sát tới khu Tanah Laut ở tỉnh Nam Kalimantan ngày 28/8. Ông Nurbaya cũng khẳng định diễn biến của tình trạng cháy rừng và đất sẽ được theo dõi chặt chẽ.
Bằng cách kiểm soát chặt tình hình và kịp thời xử lý ngay khi phát hiện lửa, số vụ cháy trong đầu năm nay ở các tỉnh Jambi và Tây Kalimantan đã giảm mạnh 70-90%. Tuy nhiên, trong tháng 7 và tháng 8, số điểm nóng lại có xu hướng tăng đột biến, đặc biệt là ở các tỉnh Riau và Tây Kalimantan.
Lực lượng chữa cháy đã sử dụng 45 triệu lít nước để dập tắt đám cháy tại khu vực đảo Riau và 3 triệu lít nước cho khu vực Nam Sumatra. Hoạt động chữa cháy cũng đang được tiếp tục với nỗ lực cao ở Tây Kalimantan và Jambi.
Theo Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa vật lý (BMKG) Indonesia, số điểm nóng tăng lên do mùa khô và hạn hán đã xảy ra ở Sumatra và các khu vực xung quanh. Cơ quan này dự báo mùa khô năm nay sẽ kéo dài đến giữa tháng 9, sau đó mới có thể có mưa, làm ẩm không khí. (Tin Tức 30/8) đầu trang(
Lực lượng biên phòng tại Khu tự trị Dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc vừa tịch thu 940 con cá sấu Siamese (Xiêm), một giống cá sấu cần được bảo vệ tại Trung Quốc.
Trang mạng Sina đưa tin, vào khoảng 1h trưa ngày 28/8, trong lúc đi tuần tra tới gần hồ nước ở thôn Đại Điền, thị xã Đông Hưng, đội biên phòng địa phương đã nghe thấy những âm thanh lạ phát ra từ dưới nước. Tiến lại gần, họ phát hiện hai thùng xốp màu trắng, bên trong đựng những chiếc giỏ nhựa được cài dây cẩn thận.
Đội tuần tra lập tức mở những chiếc giỏ ra xem và phát hiện bên trong chứa đầy cá sấu con. Tuy nhiên, khi hỏi tới người dân xung quanh, không ai biết về số cá sấu này. Sau đó, họ đã liên hệ với phòng lâm nghiệp địa phương.
Qua kiểm tra, những con cá sấu này thuộc giống cá sấu Siamese. Mỗi con dài khoảng 25cm chỉ mới được 15 ngày tuổi.
Theo giới thiệu của nhân viên phụ trách phòng lâm nghiệp địa phương, cá sấu Siamese (còn gọi là cá sấu Thái Lan hay Xiêm) là loài cá sấu nước ngọt có nguồn gốc ở Borneo, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Trong điều kiện tự nhiên chúng thích sống ở các vùng nước chảy chậm như đầm, sông và hồ.
Pháp luật Trung Quốc không cấm nuôi cá sấu Siamese nhưng việc mua bán loài cá sấu này cần phải được các cơ quan có thẩm quyền cho phép. (Vietnamnet 30/8) đầu trang(./.
|
|||