|
Ngày 30 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo Ủy ban nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, tình trạng lấn chiếm đất, chặt phá, đốt cây rừng trên đảo Nhím (thuộc Rừng phòng hộ hồ Dầu Tiếng) thuộc xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu đã diễn ra từ nhiều năm, đến nay vẫn tồn tại và đang có chiều hướng gia tăng, nhất là vào thời điểm hồ Dầu Tiếng vào mùa nước rút.
Người dân nơi đây đang ồ ạt phá rừng, lấy đất xuống giống trồng sắn cho kịp mùa vụ. Lợi dụng ranh giới đất không có cắm mốc phân định rõ ràng giữa đất rừng phòng hộ và đất bán ngập, người dân đã bao đất, lấn chiếm liền ranh, liền thửa khoảng 87/370ha đất rừng để làm nương sắn.
Cụ thể, ở tổ 1 gồm 69 hộ lấn chiếm khoảng 24ha; tổ 2 gồm 27 hộ lấn chiếm khoảng 10ha; tổ 3 gồm 62 hộ lấn chiếm khoảng 44ha và tổ 4 gồm 15 hộ lấn chiếm khoảng 9ha.
Ông Hà Thanh Tùng, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Dương Minh Châu cho biết, để giải quyết tình trạng trên, Ủy ban nhân dân huyện Dương Minh Châu đã có kế hoạch tăng cường quản lý, bảo vệ toàn bộ diện tích đất rừng tại đảo Nhím.
Những hộ dân vi phạm lấn chiếm đất, đốt, chặt phá cây rừng được yêu cầu lập biên bản vi phạm và có kế hoạch cưỡng chế, phun thuốc diệt cỏ những diện tích đất rừng cố tình trồng sắn lấn chiếm.... để xử lý theo quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất công, chặt phá cây rừng, cất nhà trái phép.
Đảo Nhím có diện tích đất tự nhiên rộng khoảng 1.000ha, nằm giữa hồ Dầu Tiếng. Mọi sinh hoạt, đi lại thông thương với đất liền chủ yếu bằng tàu, thuyền nên gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, kiểm soát.
Trước đó, một số hộ dân đã được Nhà nước di dời ra khỏi đất rừng do điều kiện sống khó khăn nên đã tự ý quay trở lại tái lấn chiếm đất rừng để cất nhà, canh tác, nuôi trâu bò... tham gia vào việc phá rừng ngày càng nhiều hơn. (Vietnam + 28/11) đầu trang(
Có mặt tại KBTTN Sơn Trà, chúng tôi ghi nhận con đường này được nhóm người lạ mặt mang dụng cụ đến mở từ những ngày đầu tháng 11-2015. Con đường được mở nối từ đường bê tông trên triền núi (tại vị trí cách cảng Tiên Sa khoảng 1,5 km) xuống sát mép biển, có độ dài gần 1 km.
Do KBTTN Sơn Trà được bảo vệ theo chế độ rừng cấm quốc gia nên sự xuất hiện công khai của nhóm người lạ cùng với lương thực, phương tiện chặt cây, mở đường tại vị trí này khiến nhiều khách du lịch nhầm tưởng nhóm người lạ nói trên được cơ quan có trách nhiệm cho phép.
Quá trình mở đường cũng xuất hiện một số người lạ đi xe ô tô đến quan sát, chỉ trỏ khiến ngay cả chúng tôi cũng lầm tưởng đây là một dự án được cấp phép. Việc mở đường đã bị một số nhiếp ảnh gia yêu thích thiên nhiên, động vật hoang dã ở Sơn Trà đặt dấu hỏi và cảnh báo ngay từ khi xuất hiện nhóm người lạ.
Theo chỉ dẫn của các nhiếp ảnh gia, chiều ngày 22/11, chúng tôi đã theo con đường được mở trái phép (nhưng công khai) này từ vị trí đường bê tông cách cảng Tiên Sa khoảng 1,5 km xuống sát mép biển. Đoạn clip dài trên 30 phút mà chúng tôi quay được, thể hiện con đường được mở rộng từ 2 mét đến gần 4 mét – đủ để một chiếc xe Jeep đi lọt.
Dọc con đường là cây rừng bị chặt ngổn ngang, lá xanh rụng đầy mặt đất. Mép biển, cuối con đường có một căn chòi bằng tôn cất tạm. Căn chòi có thể là nơi cung cấp dịch vụ cho hoạt động lặn biển vì theo ghi nhận của chúng tôi vào thời điểm chiều 22/11 đang có một nhóm khách du lịch lặn biển.
Có thể nói, đây là con đường được mở trái phép khá quy mô tại một nơi được bảo vệ theo chế độ rừng cấm quốc gia như KBTTN như Sơn Trà. Tuy nhiên, phải rất nhiều ngày - khi toàn bộ con đường hoàn thành, lực lượng của Hạt KLLQ Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn mới có mặt lập biên bản vào lúc 10h ngày 13/11/2015.
Theo biên bản do đại diện Hạt KLLQ Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn và đại diện UBND phường Thọ Quang lập vào lúc 14h30 cùng ngày, vị trí mở đường thuộc tiểu khu 62, khu vực Bãi Đá Đen.
4 đối tượng trực tiếp mở đường trái phép đến từ Nghệ An khai nhận, được ông Nguyễn Văn Tâm (thường trú tại tổ 23 D, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà) thuê mở đường. Đường được mở dài 400 mét, ngang 2 mét. Biên bản có chữ ký của ông Nguyễn Văn Tâm (người thuê nhân công nơi khác đến mở đường) nhưng không thể hiện đường được mở nhằm mục đích gì.
Đối chiếu với bản đồ, phần đất mở đường thuộc Tiểu khu 62 do UBND phường Thọ Quang quản lý nên 2 bên (đại diện Hạt KLLQ Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn và đại diện UBND phường Thọ Quang), thống nhất bàn giao người, tang vật cho UBND phường Thọ Quang.
Không chỉ mở đường trái phép, tại vị trí nằm trên lối rẽ xuống ngọn hải đăng Bãi Bắc của KBTTN Sơn Trà còn có 2 cảnh cổng bằng sắt kiên cố chắn ngang tuyến đường bê tông ở lưng chừng núi. Cánh cổng sắt khóa chặt không chỉ thể hiện “uy quyền” của tổ chức, cá nhân nào đó ở KBTTN Sơn Trà mà trên thực tế, đang nằm ngoài tầm kiểm soát của KLLQ Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn.
Chiều ngày 24/11, khi được chúng tôi cung cấp hình ảnh 2 cánh cổng này, ông Trần Văn Thanh, Hạt trưởng Hạt KLLQ Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn đã tỏ ra khá bất ngờ vì sự hiện diện của nó dù việc tuần tra, kiểm soát của KLLQ Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn, như ông Thanh cho biết, là được duy trì thường xuyên.
Thấy chúng tôi còn băn khoăn về cánh cổng ngạo ngược chắn đường đi, cản trở cứu hộ, cứu nạn khẩn cấp – nhất là khi xảy ra hỏa hoạn, cháy rừng, ông Thanh xem lại các bức ảnh và cho biết nó (2 cánh cổng sắt) nằm ở vị trí thuộc quyền quản lý của UBND phường Thọ Quang!
Trao đổi với chúng tôi vào sáng 24/11, ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng cho biết ông chưa nghe KLLQ Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn báo cáo về 2 vụ việc nêu trên. Ông Lê Văn Lương nói rằng sẽ cho kiểm tra và có câu trả lời sớm nhất. Tuy nhiên cho đến ngày 27/11 chúng tôi vẫn chưa nhận được ý kiến chính thức từ người lãnh đạo cao nhất lực lượng kiểm lâm TP Đà Nẵng. (Đại Đoàn Kết 28/11) đầu trang(
Theo dự báo của Trung tâm khí tượng Thủy văn Quốc gia, tình hình thời tiết trong mùa khô năm 2015-2016 sẽ diễn biến phức tạp, hiện tượng El Nino hoạt động mạnh vào những tháng cuối năm 2015 và đầu năm 2016 làm cho nhiệt độ ở mức cao, mưa ít, khô hanh làm cho nguy cơ xảy ra cháy rừng và cháy lớn trên diện rộng là rất cao trên phạm vi cả nước, trọng điểm nhiều vùng của khu vực Tây bắc, Đông bắc, Duyên hải miền Trung, Tây nguyên và khu vực Tây nam bộ.
Để chủ động ứng phó, ngăn chặn kịp thời và kiểm soát được tình hình khi cháy rừng, Tổng cục Lâm nghiệp đề nghị sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND tỉnh, thành phố chỉ đạo, triển khai quyết liệt thực hiện các giải pháp phòng, chống khô hạn, xâm nhập mặn năm 2016, đối phó với ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, đồng thời xem công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp các ngành ở địa phương.
Trong đó, tập trung rà soát, xác định cụ thể khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng và cháy lớn theo mức độ kiểm soát của chủ rừng; thôn, xã, huyện và tỉnh. Chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện phù hợp với từng khu vực trọng điểm, để chủ động kiểm soát tình hình, kịp thời khống chế nhanh nhất khi cháy rừng xảy ra, kiên quyết không để xảy ra cháy lớn.
Đồng thời kiểm soát việc sử dụng lửa trong và gần rừng bằng các biện pháp cụ thể như quy định cụ thể khu vực cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác, có phương án kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng tại những khu rừng phòng hộ, đặc dụng trong thời kỳ cao điểm về cháy rừng. Tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Trong trường hợp cần thiết (nguy cơ xảy ra cháy rừng ở mức cực kỳ nguy hiểm và trên diện rộng), các địa phương phải bố trí các chốt, trạm chỉ huy tiền phương để chỉ đạo, đôn đốc công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Cùng với đó, chủ động rà soát lại kế hoạch chuẩn bị cây giống, xử lý thực bì và trồng rừng kịp thời vụ phù hợp với diễn biến thời tiết khô hạn đảm bảo hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016. (Chính Phủ 27/11) đầu trang(
Hơn 100 năm qua không có ghi nhận nào về linh trưởng bị tuyệt chủng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam đang có nguy cơ nhận “danh hiệu” là “quốc gia đầu tiên có linh trưởng bị tuyệt chủng”, Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) - Chương trình Việt Nam vừa cảnh báo.
Thep FFI, các chuyên gia về linh trưởng đã thảo luận tại Singapore tuần trước và liệt kê 11 loài ở Việt Nam xếp vào mức “Cực kỳ nguy cấp toàn cầu”, gồm: vượn đen tuyền Tây Bắc còn dưới 60 con; voọc Cát Bà, hiện còn dưới 70 con; vượn Cao Vít khoảng 130 con; voọc mông trắng dưới 200 con; voọc mũi hếch dưới 200 con; chà vá chân xám không đến 1.500 con.
Những loài như chà vá chân nâu, chà vá chân đen, vượn đen má trắng, vượn đen má trắng siki, khỉ đuôi dài Côn Đảo chưa rõ số lượng.
Trong đó, ba loài voọc Cát Bà, voọc mông trắng và voọc mũi hếch xếp hàng đầu trong danh sách 25 loài nguy cấp nhất thế giới.
Tình trạng này được các chuyên gia đánh giá là “đặc biệt nghiêm trọng”, bởi lẽ năm 2008, Việt Nam chỉ có bảy loài cực kỳ nguy cấp nhưng đến nay do bị săn bắn và mất sinh cảnh, số loài đã tăng đến 11.
Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) - Chương trình Việt Nam đang thực hiện các hoạt động bảo tồn đối với năm loài: voọc Cát Bà, voọc mũi hếch, vượn Cao Vít, chà vá chân xám, vượn đen tuyền. Tuy nhiên, công tác bảo tồn chắc chắn sẽ cần thêm nhiều nỗ lực hơn nữa.
TS Lê Khắc Quyết, một trong những nhà linh trưởng học hàng đầu của Việt Nam, cho rằng phải tăng cường bảo vệ các quần thể, phục hồi rừng, thu hút sự tham gia của người dân vào bảo tồn động vật hoang dã... (Pháp Luật TP.HCM 28/11) đầu trang(
Chỉ trong vòng hơn một tháng qua, hàng chục hécta rừng nguyên sinh bên lòng hồ thủy điện Đa Mi nằm trong ranh giới của 2 huyện Hàm Thuận Bắc và Tánh Linh (tỉnh Bình Thuận) bị phá tan nát. Theo người dân địa phương, việc phá rừng diễn ra một cách rầm rộ và công khai nhưng chính quyền và các đơn vị quản lý rừng nơi đây đều cho rằng không hay biết và phủ nhận trách nhiệm.
Từ xã Đa Mi (huyện Hàm Thuận Nam), chúng tôi đi ghe trên hồ Đa Minh để vào khu vực rừng nguyên sinh. Đến khu vực rừng đầu nguồn xung quanh lòng hồ thủy điện, chúng tôi bắt gặp cảnh tượng hàng loạt khoảnh rừng nguyên sinh đã bị chặt hạ nham nhở. Ông N.K.H (người dân sống gần lòng hồ Đa Mi) cho biết: “Cách đây khoảng hơn một tháng, khi tôi đi dọc hồ Đa Mi thì thấy một nhóm khoảng 20-30 người ngang nhiên dùng cưa máy triệt hạ hàng loạt những cánh rừng bên lòng hồ thủy điện. Hàng ngày, họ bắt đầu tổ chức phá rừng thường từ 4-7 giờ sáng, buổi chiều từ 4-7 giờ tối thì nghỉ”.
Còn ông K.A (ngụ xã Đa Mi, huyện Hàm Thuận Bắc) bức xúc: “Theo quan sát của chúng tôi, nhóm đối tượng phá rừng này đến từ địa phương khác. Họ thường dùng ghe di chuyển qua khu vực rừng Đa Mi tổ chức triệt hạ cây trong khoảng 2-3 ngày rồi rút đi, sau đó vài ngày lại quay làm tiếp”. Theo ước tính của người dân địa phương, ít nhất đã có khoảng 40-50ha rừng nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý như pơ-mu, cẩm lai… bị chặt hạ.
Người dân trong khu vực cho biết, các đối tượng phá rừng nhằm mục đích làm rẫy trồng cà phê và trong tương lai khu vực lòng hồ Đa Mi sẽ phát triển du lịch, có thể họ tìm cách chiếm đất rừng để sau này chờ tiền đền bù của Nhà nước. Sau khi những cánh rừng trên bị triệt phá, các đối tượng này sẽ tiến hành sang nhượng lại cho người khác với giá 100 triệu đồng/ha. Điều làm cho những người dân địa phương khu vực quanh lòng hồ Đa Mi bức xúc chính là việc khu vực rừng bị phá chỉ cách quốc lộ 55 và Trạm Quản lý bảo vệ rừng Đa Mi - Hàm Thuận chừng 500m nhưng cơ quan chức năng cho rằng không hề hay biết, cũng như không có bất kỳ một động thái nào để bảo vệ.
“Chắc chắn họ phải có một thế lực nào đó bảo kê, tiếp tay để phá rừng chứ người dân nơi đây ai cũng biết, mà chỉ có cơ quan quản lý rừng là không biết”, ông N.K.H. chia sẻ.
Trong khi những cánh rừng nguyên sinh bị tàn phá thì lực lượng chức năng lại đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Ông Văn Thành Kỹ Sang, Phó trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Hàm Thuận - Đa Mi (huyện Hàm Thuận Bắc), cho biết: “Khu vực rừng bị phá không thuộc địa phận chúng tôi quản lý mà thuộc xã Đa Mi quản lý”. Tuy nhiên, ông Huỳnh Anh Vũ, Chủ tịch UBND xã Đa Mi cho rằng, chuyện phá rừng xảy ra trên địa bàn xã là có, nhưng khu vực rừng nói trên thì xã không biết nằm ở chỗ nào.
“Nếu muốn biết phải đi hỏi kiểm lâm mới xác định được. Còn chúng tôi nói chưa nắm vụ việc là không đúng, mà nói đã nắm thì cũng không biết chỗ nào mà nắm!”, ông Vũ nói. (Sài Gòn Giải Phóng 28/11) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Thuận vừa có công văn hỏa tốc yêu cầu ngành chức năng của tỉnh kiểm tra, xử lý nhằm ngăn chặn tình trạng này.
Sau khi VOV đăng tải và phát sóng phóng sự “Rừng bị tàn phá nhưng không ai nhận trách nhiệm!” phản ánh tình trạng rừng phòng hộ quanh lòng hồ thủy điện Đa Mi đang bị tàn phá nghiêm trọng, UBND tỉnh Bình Thuận vừa có công văn hỏa tốc yêu cầu ngành chức năng của tỉnh kiểm tra, xử lý nhằm ngăn chặn tình trạng này.
Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận giao cho Sở NN-PTNT chủ trì, phối hợp với UBND huyện Tánh Linh và huyện Hàm Thuận Bắc tổ chức kiểm tra, xác minh thông tin mà Đài TNVN phản ánh; đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
Sở NN-PTNT có trách nhiệm báo cáo kết quả cho UBND tỉnh Bình Thuận chậm nhất trong ngày 30/11/2015. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 29/11) đầu trang(
Mấy năm trở lại đây, trên địa bàn tỉnh Nghệ An, các loài động vật rừng quý hiếm đang bị săn bắn ráo riết để làm mồi nhậu, nấu cao, làm cảnh… Nạn săn bắn động vật hoang dã đã đến mức báo động khi mỗi ngày có hàng trăm tay bẫy, tay súng lén lút vào rừng để tận diệt thú rừng.
Sáng sớm, sương mù dày đặc, nhóm thợ săn ở Quỳ Hợp với súng Hăm-let, đèn pin đặc chủng, vô số bẫy bật, bẫy kẹp và 2 con chó săn dẫn đường bí mật luồn sâu vào cánh rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống. Nhóm này gồm 3 người, do Tường, một tay có thâm niên trong nghề săn thú rừng dẫn đầu.
Vượt qua không biết bao nhiêu con suối và vách đá dựng đứng, nhóm thợ săn dừng chân trước khu rừng rậm trông rất hoang sơ và huyền bí. Tại đây, họ mò mẫm tìm những dấu chân thú rừng thường hay qua lại; phát hiện ra dấu vết, họ dừng lại đặt bẫy. Với những loại bẫy bật, kẹp đó, những con thú như hổ, báo, lợn rừng... đều không thể thoát.
Đặt hết số bẫy, Tường ra lệnh đi tiếp vào rừng sâu. Thấy người lạ, từng đoàn vượn chuyền cành chạy tán loạn trên cây. Ba gã thợ săn cầm súng lần theo dấu thú hoang bắt đầu cuộc thảm sát. Hơn 4 giờ đồng hồ truy sát, nhóm thợ săn đã bắn hạ được 6 con vượn và hơn 10 con gà rừng. Chiều buông, đám thợ săn lấy bánh chưng ra ăn rồi mắc võng trên cây nằm ngủ. Các thợ săn thỉnh thoảng lại giật mình bởi tiếng súng nổ của những phường săn khác. Tầm 22 giờ đêm, cả nhóm lại đội đèn pin lên đầu, khoác súng mò vào rừng.
Bên một bụi cây, một con mèo rừng quay đầu về hướng đèn pin tò mò. Một tiếng súng chát chúa vang lên. Con thú kêu lên thảm thiết, giãy giụa rồi nằm im. Tường bảo: “Đi săn ban đêm phải có kinh nghiệm, không thì dễ bắn phải nhau lắm. Từ trước đến nay, có cả chục vụ săn thú bắn nhầm người rồi”.
Tầm 5 giờ sáng, khi đã săn được kha khá “hàng”, đám thợ chia nhau buộc thú để cõng trên lưng đi về nơi đặt bẫy. Khi đến nơi, Tường reo lên: “Dính rồi”. Nơi cái bẫy được đặt đầu tiên, một con mang bị treo lủng lẳng nơi ngọn cây rừng. Cách đó một đoạn, 1 con chồn bị bẫy kẹp vào chân, máu chảy đỏ cả lùm cây, nó giãy giụa tìm đường thoát nhưng vô vọng…
Sau hơn một ngày đêm, nhóm của Tường săn được hơn 17 con thú các loại và 12 con gà rừng. Theo Tường thì 1kg cầy hương có giá 700.000 đồng, khỉ giá 500.000 đồng, mang, cheo giá 400.000 đồng, gà rừng 200.000 đồng. Như vậy, số động vật rừng đã săn được bán với giá bèo nhất cũng được gần 10 triệu đồng. Tường cho biết, mỗi ngày có hàng chục tốp thợ săn, thậm chí có cả người ở dưới xuôi lên trang bị các loại bẫy và súng để vào rừng cấm săn thú.
Nhiều năm trở lại đây, không chỉ riêng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Pù Hoạt, Pù Mát mà ở tất cả các khu rừng trên địa bàn Nghệ An đều có người săn bắn và bẫy thú rừng.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, thú rừng săn được, các tay súng, tay bẫy đưa về nhập cho các nhà hàng đặc sản ở địa phương và bán cho các tay buôn “hàng con”... Đường dây tiêu thụ thú rừng này hoạt động như những chân rết, có mặt hầu khắp các địa phương.
Nam, một tay buôn “hàng con” có thâm niên ở Diễn Châu, cho biết, anh ta đã đặt các “cộng tác viên” (CTV) ở các bản làng. Những CTV này có nhiệm vụ thu gom thú rừng rồi điện thoại cho anh ta đến lấy. Nam đưa hàng về nhà, phân lô để đem nhập. Các loại động vật rừng như chồn, cheo, sơn dương, mang, cáo... bán cho các nhà hàng đặc sản ở các thành phố lớn. Các loại quý hiếm như báo gấm, chồn bạc má, khỉ mặt đỏ, rắn hổ chúa được mang lên Lạng Sơn nhập cho đại lý lớn để họ đưa sang Trung Quốc. “Đây là “hàng” cấm, bị bắt là mất hết vốn và bị xử lý trước pháp luật nhưng vì nó mang lại siêu lợi nhuận nên nhiều người theo”, Nam cho biết.
Theo “chỉ điểm” của Nam, chúng tôi đã “đột nhập” một số nhà hàng ở Quỳ Hợp, Tương Dương, Con Cuông, Quỳ Châu, Quế Phong,... Những nhà hàng này đều bán thịt thú rừng. Có nhà hàng là “vựa” thú rừng, chuyên cung cấp hàng cho các đầu nậu đưa về xuôi tiêu thụ. Qua khảo sát, chúng tôi thấy, có đến 95% nhóm đối tượng “thưởng thức” thịt rừng là chủ doanh nghiệp, cán bộ công nhân viên chức Nhà nước. Chính đối tượng tiêu thụ sản phẩm thú rừng này là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng một số loài động vật hoang dã quý hiếm.
Ngoài thu mua hàng tươi sống để chế biến làm món ăn, ngâm rượu, động vật hoang dã đang được dân buôn tích cực tìm kiếm để “xẻ thịt, lóc xương” nấu cao. Trên địa bàn Nghệ An hiện có nhiều đại lý công khai bán nguyên liệu nấu cao như khỉ, voọc, trăn, mèo rừng.... bất chấp các quy định của pháp luật. Được biết, các đại lý nguyên liệu nấu cao này đều lấy “hàng” từ khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An. Điều lạ là, những đại lý này trưng biển hiệu “làm ăn” công khai mà cơ quan chức năng không hề kiểm tra, xử lý?
Hiện, động vật hoang dã ở rừng xứ Nghệ đang bị “thảm sát” đến mức đáng báo động. Các khu rừng cấm như Pù Mát, Pù Hoạt, Pù Huống tưởng chừng là nơi ẩn náu cuối cùng của thú hoang, vậy mà từng ngày, từng giờ sự sống của chúng bị tước đoạt bởi nhu cầu kỳ quái của con người.
Một cán bộ kiểm lâm thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống cho hay: “Vẫn biết hành vi của bọn lâm tặc ngày càng tinh vi trong việc tàn sát động vật hoang dã, nhưng do lực lượng bảo vệ mỏng nên rất khó phát hiện và bắt giữ. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, số bẫy mà nhân viên bảo vệ rừng thu được lên đến hàng ngàn chiếc. Đấy là con số thống kê được, còn số bẫy thực tế được đặt trong rừng lớn hơn rất nhiều. Chúng đặt bẫy xong thì đều tản đi nơi khác, khi chúng tôi phát hiện cũng chỉ biết thu giữ và phá hủy, còn không thể bắt được đối tượng đặt bẫy”.
Nếu các ngành chức năng ở Nghệ An không có những biện pháp kiên quyết và mạnh tay hơn thì không lâu nữa, nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm sẽ chỉ còn trong sách vở. (Kinh Tế Nông Thôn 27/11) đầu trang(
Ngay từ đầu năm 2015, Hạt Kiểm lâm Như Thanh đã tham mưu cho UBND huyện ban hành phương án, kế hoạch và triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp BVR; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả công tác PCCCR, hướng dẫn và kiểm tra, giám sát các chủ rừng làm tốt công tác trồng, bảo vệ và PCCCR; khai thác, sử dụng rừng đúng theo quy định của pháp luật.
Hạt kiểm lâm đã khảo sát, khoanh vùng 12.100 ha rừng ở khu vực có nguy cơ cháy cao, xây dựng phương án PCCCR chi tiết, cụ thể, phù hợp thực tế. Nhờ vậy, trong gần 11 tháng năm 2015, trên địa bàn huyện không có vụ cháy nào xảy ra. Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng (33.000 ha) đã được quản lý, bảo vệ an toàn, độ che phủ của rừng đến hết năm 2014 là 57,1%.
Để thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả, UBND huyện đã cơ bản hoàn thành giao đất, giao rừng đến các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình quản lý, sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Để người dân quản lý và phát triển tốt diện tích đất rừng được giao, cùng với công tác bảo vệ, công tác khuyến lâm được chú trọng, các mô hình phát triển kinh tế lâm nghiệp hiệu quả đã được phổ biến, triển khai rộng rãi đến các hộ dân.
Hiện tại, phần lớn đất rừng giao cho người dân đã được trồng kín, với loài cây trồng chủ lực là keo Úc, bảo đảm nguồn thu nhập từ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
UBND huyện Như Thanh đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Như Thanh phối hợp với các ngành chức năng, các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội thường xuyên tuyên truyền, vận động, giải quyết khó khăn cho nhân dân trồng rừng và BVR đạt hiệu quả cao; mở nhiều lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng; phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, nghĩa vụ, quyền lợi của chủ rừng và lợi ích từ rừng mang lại, qua đó, nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng của mỗi người dân.
Từ đầu năm đến nay toàn huyện đã trồng mới 1.118 ha rừng tập trung, đạt 100% kế hoạch giao. Hàng năm, tổng thu nhập bình quân từ ngành lâm nghiệp trên toàn huyện đạt 160 tỷ đồng (không kể giá trị bảo vệ, khoanh nuôi và chăm sóc rừng). Huyện Như Thanh đã và đang tích cực kêu gọi các doanh nghiệp vào đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến gỗ nhằm tiêu thụ và tăng giá trị sản phẩm từ rừng của người dân. (Báo Thanh Hóa 28/11) đầu trang(
Trong số báo 24, ra ngày 13/6/2015, Báo Kinh tế nông thôn có bài “Chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Tánh Linh: Lập khống danh sách hộ dân nhận khoán để trục lợi?”, phản ánh nhiều vấn đề có dấu hiệu tiêu cực trong việc thực hiện chủ trương chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà.
Cụ thể, Ban quản lý đã lập danh sách hàng trăm hộ nhận khoán nhưng hầu hết người có tên trong danh sách không được nhận tiền, thậm chí nhiều người còn không biết mình có tên trong danh sách. Trong khi đó, tiền nhà nước giao ra vẫn trả đủ.
Sau khi báo phát hành, ngày 25/6/2015, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Thuận đã ban hành Quyết định số 541/QĐ-SNN về việc tổ chức xác minh nội dung thông tin bài báo phản ánh về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà.
Mới đây, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Thuận đã ban hành Kết luận số 07/KL-SNN khẳng định nội dung bài báo “Lập khống danh sách hộ dân khoán bảo vệ rừng trong lưu vực cung ứng dịch vụ môi trường để trục lợi” là đúng. Ngoài ra, kết luận cũng chỉ ra hàng loạt sai phạm khác của Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà như: Không làm hết trách nhiệm, thiếu chặt chẽ, sâu sát dẫn đến việc ông Phạm Minh Hoa lập khống danh sách 11 hộ đăng ký nhận khoán.
Việc triển khai ký kết hợp đồng, bàn giao rừng cho các hộ chậm thời hạn hợp đồng làm cơ sở thanh toán là không đúng thực tế. Việc giao khoán tiến hành đến nhóm hộ, nhưng trong quá trình thực hiện Ban quản lý rừng phòng hộ La Ngà thiếu chặt chẽ, chưa làm hết trách nhiệm của bên giao.
Thiếu kiểm tra, theo dõi, giám sát các hộ dân nên không kịp thời phát hiện 11 hộ không thực hiện việc tuần tra, bảo vệ rừng đầy đủ, không đúng theo danh sách đăng ký và hợp đồng đã ký kết để có biện pháp chấn chỉnh, thanh lý mà vẫn nghiệm thu đạt 100%...
Báo Kinh tế nông thôn hoan nghênh sự vào cuộc xử lý thông tin báo nêu của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Thuận, đề nghị Sở sớm có biện pháp xử lý thỏa đáng, đúng pháp luật với các hành vi sai phạm theo đúng quy định của pháp luật. (Kinh Tế Nông Thôn 27/11) đầu trang(
Các cơ sở nuôi, nhốt ở Pác Nặm chủ yếu là nuôi nhím với gần 140 cá thể, tập trung ở một số xã như Bộc Bố, Giáo Hiệu, Xuân La. Việc nuôi động vật hoang dã tại Pác Nặm mới được người dân thực hiện trong khoảng 3 – 4 năm trở lại đây với quy mô nhỏ lẻ, số lượng còn ít. Mặt khác, thị trường tiêu thụ không ổn định, giá bán bấp bênh cũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển của các cơ sở nuôi động vật hoang dã.
Ngành chức năng của huyện Pác Nặm cũng đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện tốt các qui định về điều kiện nuôi, nhốt động vật hoang dã, cấp giấy chứng nhận đăng ký và lập sổ theo dõi đối với các cơ sở có đủ điều kiện.
Ngoài ra, việc kiểm tra, quản lý nuôi nhốt động vật hoang dã cũng đã được thực hiện thường xuyên, từ đó nắm rõ tình hình, số lượng vật nuôi, đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm về các qui định đối với điều kiện gây nuôi động vật hoang dã từng bước đưa hoạt động này vào nề nếp, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 29/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều loài động vật hoang dã quí hiếm được phát hiện ở rừng U Minh Hạ (tỉnh Cà Mau), trong đó có một số loài rất hiếm như heo rừng, mễn, cà khu, nai… vốn rất ít xuất hiện trong rừng U Minh Hạ thời gian trước đây.
Nơi có heo rừng, nai xuất hiện nhiều nhất là ở rừng quốc gia Dồ Vơi U Minh Hạ, vì đây là khu rừng nguyên sinh rộng lớn với diện tích trên 8.000 ha được bảo vệ nghiêm nhặt.
Theo nhân viên kiểm lâm, trong khi đi kiểm tra rừng vào ban đêm, họ đã tận mắt nhìn thấy từng đoàn heo rừng tìm thức ăn ngay trên đường. Đây là tín hiệu vui, cho thấy công tác quản lý rừng gắn với bảo tồn động vật hoang dã quí hiếm ở Cà Mau có bước chuyển biến tích cực.
Để có thêm nhiều loài động vật hoang dã quí hiếm tồn tại và phát triển trong rừng tràm, tỉnh Cà Mau đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Ông Nguyễn Văn Của, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết, từ năm 2000 ngành lâm nghiệp đã có kế hoạch bảo tồn động vật hoang dã quí hiếm.
Do lâm phần rừng U Minh Hạ quá rộng nên tập trung ưu tiên bảo tồn vườn quốc gia; phương án bảo tồn được thực hiện chia thành 3 khâu là tạo môi trường cho động vật hoang dã cư trú, sinh đẻ, thả động vật hoang dã về rừng và công tác quản lý bảo vệ. Nhờ quản lý tốt, rừng quốc gia Vồ Dơi U Minh Hạ tỉnh Cà Mau đã trở thành môi trường lý tưởng cho nhiều loại động vật hoang dã cư trú, phát triển.
Từ năm 2005, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra Chỉ thị nghiêm cấm các hình thức như săn bắt, vận chuyển, mua bán động vật hoang dã quí hiếm, đồng thời tăng cường kiểm tra xử lý vi phạm. Hàng năm, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với chính quyền cơ sở thả hàng tấn động vật hoang dã quí hiếm về rừng.
Với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ý thức bảo vệ động vật hoang dã của người dân không ngừng được nâng cao. Nếu như trước đây, tình trạng săn bắt, ăn thịt động vật hoang dã, tình trạng các nhà hàng, quán nhậu bày bán công khai động vật hoang dã, thì nay hầu như không còn.
Ông Huỳnh Biên Cương, một chủ cơ sở chuyên cung cấp động vật hoang dã quí hiếm cho nhà hàng ở thành phố Cà Mau cho biết, mua bán động vật hoang dã lãi lớn nhưng ông quyết định bỏ nghề vì bản thân ông ý thức được làm như vậy là tiếp tay tiêu diệt động vật hoang dã quí hiếm. (Tin Môi Trường 29/11) đầu trang(
Khoảng 8g sáng 29-11, tại km23 trên truyến đường quốc lộ 1, TP Huế, cảnh sát giao thông Thừa Thiên - Huế phát hiện xe khách của nhà xe Tú Tài chạy hướng Nam - Bắc có nhiều dấu hiệu nghi vấn nên ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra.
Cảnh sát giao thông phát hiện ở khoang chở hàng hóa có nhiều gỗ quý gồm: 265kg gốc cây gỗ hương (nhóm 1), 8 lọ độc bình lớn đã được tiện thành phẩm cùng hai khúc gỗ tròn (chưa tiện), hàng chục cây gỗ dỗi (nhóm 3), cùng 0,124m3 gỗ cà chắc.
Tài xế Đỗ Văn Sinh (34 tuổi, quê ở Thái Thụy, Thái Bình, hộ khẩu Đrông Pắk, Đắk Lắk) không xuất trình được giấy tờ chứng minh xuất xứ lô hàng trên và khai nhận chở thuê cho một lái buôn đưa từ Đắk Lắk ra các tỉnh phía Bắc tiêu thụ.
Cảnh sát giao thông đã bàn giao toàn bộ số gỗ trên cho kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên - Huế để xử lý theo thẩm quyền.
Điều đáng nói, chiếc xe này đi từ Đắk Lắk đã lọt qua cả chục trạm kiểm soát, ra đến Thừa Thiên - Huế mới bị phát hiện bắt giữ. (Tuổi Trẻ 29/11; Tầm Nhìn 29/11; Pháp Luật Việt Nam 29/11) đầu trang(
Ngày 27/11, tin từ Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn Hồ (Đắk Lắk) cho biết đang tiến hành điều tra và truy bắt đối tượng trộm tượng gỗ quý trên địa bàn.
Trước đó, vào khoảng 18h30, ngày 26/11 chị Võ Thị Đàm (42 tuổi, ngụ phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ) đang cùng con gái của mình làm việc vặt ở phía sau nhà, lúc này cổng ngoài nhà chị khóa nhưng cửa trước nhà chị vẫn mở. Lợi dụng sơ hở này, một đối tượng đã trèo cổng, lẻn vào nhà bê trộm tượng phật làm bằng gỗ đổi màu, trị giá của bức tượng khoảng trên 40 triệu đồng.
Thấy có tiếng động, chị Đàm nhanh chóng chạy lên nhà thì phát hiện đối tượng đang bê tượng chạy ra sân. Hoảng hốt chị Đàm bèn tri hô nhưng đối tượng này đã nhanh chóng lên xe máy, chị Đàm cố gắng giằng co tượng phật lại và giữ tay kéo xe máy của đối tượng nhưng người này đã rồ ga và kéo lê chị Đàm một đoạn dài trên đường khiến chị bị trầy xước khắp cơ thể rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Sau vụ việc, gia đình chị Đàm nhanh chóng báo cáo vụ việc lên Cơ quan chức năng thị xã Buôn Hồ để sớm truy bắt được đối tượng trộm cắp tài sản. (Tiền Phong 27/11) đầu trang(
Ông Đỗ Quang Tùng - giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn (Buôn Đôn, Đắk Lắk) - đã mua hai con ngựa để chuẩn bị cho công tác tuần tra trong rừng.
Theo ông Tùng, rất nhiều vụ phá rừng khi lực lượng kiểm lâm tiếp cận hiện trường chỉ thu được tang vật, còn người vi phạm đã chạy trốn.
Việc dùng ngựa để tuần tra sẽ đảm bảo tiếp cận hiện trường nhanh chóng ở mọi địa hình, đỡ tốn sức kiểm lâm và đảm bảo bí mật công tác. Hiện đề xuất này chưa được Tổng cục Lâm nghiệp thông qua vì “chưa có kinh phí” nên ông Tùng đã bỏ tiền túi ra mua hai con ngựa, giá 40 triệu đồng/con.
“Hai con ngựa này tôi đã gửi xuống thảo nguyên M’Đrắk (huyện M’Đrắk, Đắk Lắk) và cử hai cán bộ kiểm lâm xuống đó tập luyện cưỡi ngựa để sau này đưa về vườn thí điểm tuần tra” - ông Tùng thông tin.
Ông Tùng cho biết thêm Vườn quốc gia Yok Đôn có địa hình khá bằng phẳng và có trữ lượng gỗ lớn nên là “miếng mồi ngon” cho lâm tặc, đầu nậu. Theo thống kê, có tới 90% vụ phá rừng ở Buôn Đôn và 30% trên toàn tỉnh Đắk Lắk xảy ra trong các lâm phần của Vườn quốc gia Yok Đôn.
Ngoài ra mỗi ngày có 5.000 con trâu, bò được chăn thả và hơn 1.000 người dân ra vào rừng để khai thác lâm sản phụ, phá rừng nên việc tuần tra, kiểm soát hết sức khó khăn, vất vả.
“Chúng tôi gần như không thể ngăn chặn việc người dân ra vào “rừng cấm” như đi chợ vì có 50.000 dân (phần lớn là các hộ nghèo) sống trong các vùng đệm của vườn. Ngoài ra còn có một số băng nhóm, đầu nậu cũng đến kích động, dụ dỗ người dân vào rừng đốn gỗ, săn bắn thú rừng.
Nhiều vụ chúng tôi nghe thông tin có phá rừng ở tiểu khu này, tiểu khu kia nhưng khi đi bộ đến nơi thì chỉ còn lại cây gỗ vừa bị đốn hạ, người và phương tiện đã tẩu thoát. Kiểm lâm lại đưa gỗ tang vật về” - ông Tùng nói.
Cũng theo ông Tùng, diện tích vườn quá lớn mà biên chế kiểm lâm lại quá ít, không đủ mỗi cán bộ kiểm lâm quản lý 500ha theo quy định. Hơn nữa mỗi cán bộ kiểm lâm phải tuần tra nhiều tiểu khu một lúc nên được di chuyển bằng ngựa sẽ đỡ tốn công sức.
Khi cán bộ kiểm lâm ngồi trên ngựa sẽ có độ cao để quan sát xung quanh và dễ phát hiện các vụ vi phạm để nhanh chóng tiếp cận, vây bắt đối tượng.
Trao đổi với phóng viên Tuổi Trẻ về đề xuất này, ông Cao Chí Công - phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp - cho rằng về chủ trương, lãnh đạo ngành lâm nghiệp ủng hộ phương án dùng ngựa tuần tra rừng.
Trước nay kiểm lâm đi tuần thường phải đi bộ, băng rừng rất vất vả, mất thời gian, khó đi hết được từng khu vực. Còn di chuyển bằng phương tiện cơ giới phải đi trên đường tuần tra, dễ bị các “hoa tiêu” của lâm tặc phát hiện.
“Tuy nhiên, Vườn quốc gia Yok Đôn cần tính toán giữa đầu tư và hiệu quả. Nếu đảm bảo việc tuần tra bằng ngựa hiệu quả hơn các phương thức khác thì cần phải có đề xuất cụ thể để cấp có thẩm quyền phê duyệt” - ông Công nói. (Tuổi Trẻ 30/11) đầu trang(
Quỳ Hợp là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Nghệ An, địa hình tương đối phức tạp và tiếp giáp với nhiều huyện miền núi khác trong tỉnh. Trên địa bàn có nhiều tuyến giao thông quan trọng đi qua, như: Quốc lộ 48, Quốc lộ 48C, đường vành đai Châu Thôn - Tân Xuân…
Đây là những điều kiện thuận lợi để giao lưu, phát triển kinh tế, song bên cạnh đó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, diễn biến phức tạp về ANTT. Đặc biệt, các đối tượng chuyên mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép thường lợi dụng những yếu tố trên để tăng cường hoạt động.
Mới đây nhất, khoảng 14 giờ ngày 18/11/2015, trong quá trình tuần tra kiểm soát địa bàn, các trinh sát Công an huyện Quỳ Hợp phát hiện xe ôtô BKS 37N-7760, do Đặng Văn Phúc (SN 1976) trú tại bản Nhạ, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp điều khiển có nhiều biểu hiện nghi vấn.
Tiến hành kiểm tra hành chính, lực lượng Công an phát hiện trên xe chở gần 3 m3 gỗ, tuy nhiên lái xe không xuất trình được các giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của số gỗ nói trên. Tổ công tác đã lập biên bản, đưa phương tiện và tang vật về trụ sở để điều tra, làm rõ.
Trước đó, vào ngày 16/6/2015, tại xã Châu Lý, huyện Quỳ Hợp, tổ công tác Công an huyện đã tạm giữ gần 4 m3 gỗ không có giấy tờ hợp lệ của Chu Văn Thành trú tại xã Nghĩa Yên, huyện Nghĩa Đàn. Tiếp đó, vào ngày 28/7/2015, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp đang xảy ra vụ mua bán lâm sản trái phép, Công an huyện lập tức cử một tổ công tác đến hiện trường.
Tại đây, qua kiểm tra, tổ công tác đã tạm giữ gần 4 m3 gỗ không có giấy tờ hợp lệ của ông Nguyễn Đức Hiển trú tại thị trấn Cầu Giát, huyện Quỳnh Lưu. Đây chỉ là 3 trong hàng chục vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép bị Công an huyện Quỳ Hợp phát hiện, xử lý trong thời gian vừa qua.
Trao đổi với chúng tôi, Thiếu tá Hoàng Nghĩa Tú, Phó trưởng Công an huyện Quỳ Hợp cho biết: Qua công tác nắm tình hình địa bàn, thời gian qua, lãnh đạo Công an huyện đã chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền các văn bản, kế hoạch đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân.
Đồng thời, chỉ đạo các đội nghiệp vụ như Đội Cảnh sát QLHC về TTXH, CSGT, Cảnh sát ĐTTP về Hình sự - Kinh tế - Ma túy… chủ động nắm chắc tình hình địa bàn, tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ. Qua đó, phát hiện và xử lý nghiêm hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, góp phần giữ vững ANTT trên địa bàn.
Từ đầu năm đến nay, Công an huyện đã phát hiện, bắt và xử lý hơn 20 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ hàng chục m3 gỗ và xử phạt hành chính số tiền lên tới hàng trăm triệu đồng.
Trong các tháng cuối năm, dự báo tình hình ANTT sẽ có những diễn biến phức tạp, các loại tội phạm tăng cường hoạt động, trong đó có các đối tượng mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Do đó, Công an huyện Quỳ Hợp đã xây dựng các kế hoạch cụ thể, triển khai đến các đội nghiệp vụ, chủ động tấn công, trấn áp các loại tội phạm nhằm góp phần giữ vững ANTT trên địa bàn dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Thân 2016. (Công An Nghệ An 28/11) đầu trang(
Ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, năm 2016 các vườn quốc gia, khu bảo tồn, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh… cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác quản lý bảo vệ rừng nhằm thực hiện có hiệu quả trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, động vật rừng, bảo vệ rừng một cách toàn diện, bền vững.
Các vườn quốc gia, khu bảo tồn cũng tập trung tuần tra, truy quét những khu vực trọng điểm phá rừng, kiên quyết xử lý nghiêm các vụ vi phạm xâm hại rừng, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật, đồng thời, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về quản lý bảo vệ rừng, nhất là các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn đa dạng sinh học…
Năm 2015, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đã được củng cố và phát huy tốt vai trò bảo vệ đa dạng sinh học, với nhiều công trình nghiên cứu về bảo tồn loài, bảo tồn hệ sinh thái. Đặc biệt, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên trong năm qua cũng đã đón trên 1,2 triệu lượt khách du lịch, tăng 8% so với năm 2014, tổng doanh thu đạt trên 77,3 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014, nộp ngân sách Nhà nước 28 tỷ đồng, góp phần tạo cơ chế tài chính bền vững cho các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Vườn quốc gia Yok Don có diện tích rừng quản lý trên 115.500 ha, nằm trên địa bàn 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Vườn quốc gia Yok Don đã giao trên 22.000 ha rừng cho 19 cộng đồng thôn, buôn, với 2.577 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của 4 xã vùng đệm như Krông Na, Ea Huar, Ea Wer (huyện Buôn Đôn), Cư M’Lan (huyện Ea Súp) của tỉnh Đắk Lắk nhận khoán, bảo vệ rừng. Nhờ vậy tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày càng giảm nhiều. Ngay trong năm 2015, số vụ vi phạm tài nguyên rừng đã giảm xuống gần 75% so với năm 2014…
Tuy nhiên, công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dang sinh học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên vẫn còn nhiều bất cập, tình trạng phá rừng, săn bắn động vật hoang dã, khai thác lâm sản trái phép vẫn còn diễn ra. Theo báo cáo tổng hợp, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên trong cả nước đã phát hiện và xử lý 2.033 vụ vi phạm lâm luật, trong đó, có 1.736 vụ khai thác rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật, số vụ còn lại là vi phạm do săn bắn động vật hoang dã. Các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên cũng đã để xảy ra 66 vụ cháy rừng làm thiệt hại trên 107 ha rừng.
Hiện nay, cả nước có 31 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 10 khu bảo tồn loài, sinh cảnh, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học, với tổng diện tích trên 2,1 triệu ha, là nơi cư trú của trên 7.000 loài thực vật bậc cao, 300 loài thú, 840 loài chim, 380 loài bò sát… có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, các giá trị cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu của vùng… (Tin Môi Trường 27/11) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo (Quan Sơn) được giao quản lý, bảo vệ 6.020 ha rừng, trong đó có gần 4.900 ha rừng phòng hộ, diện tích còn lại là rừng sản xuất.
Nhằm nâng cao vị thế của lâm nghiệp, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn, năm 2015 Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo phối hợp với các đơn vị, địa phương hoàn thành thiết kế kỹ thuật, phát dọn thực bì, đào lấp hố..., cung ứng cây giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên rừng cho các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Tính đến hết tháng 11-2015, Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo đã tổ chức cho các hộ trồng được 10 ha rừng thay thế; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 26 ha rừng; bảo vệ an toàn gần 4.900 ha rừng phòng hộ. Đồng thời, ban đã chủ động triển khai các biện pháp tăng cường bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trong các tháng cuối năm 2015 và đầu năm 2016.
Kết quả nổi bật là tình hình an ninh rừng trên địa bàn cơ bản ổn định; nhận thức về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp của người dân trong vùng được nâng lên. (Báo Thanh Hóa 28/11) đầu trang(
Ngay từ đầu năm 2015, Hạt Kiểm lâm Như Thanh đã tham mưu cho UBND huyện ban hành phương án, kế hoạch và triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp BVR; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả công tác PCCCR, hướng dẫn và kiểm tra, giám sát các chủ rừng làm tốt công tác trồng, bảo vệ và PCCCR; khai thác, sử dụng rừng đúng theo quy định của pháp luật.
Hạt kiểm lâm đã khảo sát, khoanh vùng 12.100 ha rừng ở khu vực có nguy cơ cháy cao, xây dựng phương án PCCCR chi tiết, cụ thể, phù hợp thực tế. Nhờ vậy, trong gần 11 tháng năm 2015, trên địa bàn huyện không có vụ cháy nào xảy ra. Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng (33.000 ha) đã được quản lý, bảo vệ an toàn, độ che phủ của rừng đến hết năm 2014 là 57,1%.
Để thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả, UBND huyện đã cơ bản hoàn thành giao đất, giao rừng đến các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình quản lý, sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Để người dân quản lý và phát triển tốt diện tích đất rừng được giao, cùng với công tác bảo vệ, công tác khuyến lâm được chú trọng, các mô hình phát triển kinh tế lâm nghiệp hiệu quả đã được phổ biến, triển khai rộng rãi đến các hộ dân. Hiện tại, phần lớn đất rừng giao cho người dân đã được trồng kín, với loài cây trồng chủ lực là keo Úc, bảo đảm nguồn thu nhập từ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
UBND huyện Như Thanh đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Như Thanh phối hợp với các ngành chức năng, các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội thường xuyên tuyên truyền, vận động, giải quyết khó khăn cho nhân dân trồng rừng và BVR đạt hiệu quả cao; mở nhiều lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng; phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, nghĩa vụ, quyền lợi của chủ rừng và lợi ích từ rừng mang lại, qua đó, nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng của mỗi người dân.
Từ đầu năm đến nay toàn huyện đã trồng mới 1.118 ha rừng tập trung, đạt 100% kế hoạch giao. Hàng năm, tổng thu nhập bình quân từ ngành lâm nghiệp trên toàn huyện đạt 160 tỷ đồng (không kể giá trị bảo vệ, khoanh nuôi và chăm sóc rừng). Huyện Như Thanh đã và đang tích cực kêu gọi các doanh nghiệp vào đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến gỗ nhằm tiêu thụ và tăng giá trị sản phẩm từ rừng của người dân. (Báo Thanh Hóa 28/11) đầu trang(
Ngày 28/11, tỉnh Sơn La đã tổ chức thành công diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn thành phố Sơn La gắn với phòng, chống cháy nổ kho vũ khí đạn K4 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.
Gần 800 người được huy động tham gia diễn tập. Với tình huống giả định do người dân thiếu cảnh giác, gây cháy trong rừng của hộ gia đình, đám cháy lan rộng ra khu rừng tái sinh của Phường và khu vực kho vũ khí đạn của Bộ CHQS tỉnh.
UBND tỉnh chỉ đạo thành phố Sơn La và Bộ CHQS tỉnh tổ chức lực lượng tại chỗ, kết hợp lực lượng chữa cháy tăng cường của tỉnh tổ chức dập lửa bảo vệ rừng, sơ tán người dân, sơ tán hàng hóa, phòng chống gây nổ kho tàng, bảo đảm an toàn khu dân cư thành phố.
Sau hơn 4 giờ đồng hồ thực hành diễn tập tại hai địa điểm là trường Đại học Tây Bắc và UBND phường Quyết Tâm thành phố Sơn La, cuộc diễn tập đã hoàn thành đấy đủ các nội dung, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và phương tiện, trang bị. (ANTV 29/11) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên của tỉnh, giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015, Vườn Quốc gia Ba Bể đã giao được gần 23.000 ha diện tích rừng đặc dụng cho các thôn, bản, cộng đồng dân cư bảo vệ.
Qua đánh giá, công tác giao khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên đã nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của cộng đồng dân cư sống gần rừng và đây được xem là một trong những giải pháp hiệu quả trong việc khôi phục lại rừng và tạo điều kiện thuận lợi cho rừng tự nhiên phát triển.
Việc thực hiện giao khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên trong thời gian qua không chỉ đã hạn chế được nạn chặt phá rừng trái phép tại các khu rừng đặc dụng của Vườn Quốc gia Ba Bể, góp phần duy trì, ổn định diện tích rừng trên các lâm phần được giao khoán mà còn góp phần nâng cao đời sống của hộ gia đình nhận khoán, tạo động lực khuyến khích họ tích cực tham gia vào công tác bảo vệ rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình 29/11) đầu trang(
Việc trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc là chủ trương đúng đắn, với mục tiêu hàng đầu là nâng độ che phủ, cải thiện môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế.
Tuy nhiên trên thực tế, nhiều năm qua, không ít các tổ chức, cá nhân đã lợi dụng việc trồng rừng, đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu, nhắm vào các khu rừng tự nhiên, triệt hạ những cây gỗ lớn để tận thu, đốt thảm thực vật nhằm giảm chi phí đầu tư.
Thực tế cho thấy, trước đây do các ngành chức năng và chính quyền địa phương quản lý không chặt, để các tổ chức, cá nhân vào rừng khai thác những cây gỗ lớn, làm cho rừng nghèo đi. Qua thời gian, nhiều khu rừng đã và đang tái sinh trở lại, nhưng ngành Lâm nghiệp lại cho phát dọn để tái trồng rừng và khai thác trắng sau khoảng thời gian từ 5 đến 7 năm, rồi tiếp tục trồng lại rừng. Cứ như thế, rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp và có nguy cơ xóa sổ nếu không có giải pháp bảo vệ thiết thực. Điển hình như vụ phát, đốt rừng để trồng rừng thay thế do xây dựng Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ là một ví dụ.
Ông Đặng Đình Toại, Chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, nói: “Theo hồ sơ thiết kế của các đơn vị liên quan, muốn trồng rừng ở khu vực này, phải phát dọn thực bì. Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế, khu rừng trên rất nhanh phục hồi, tái sinh nên không cần phải trồng lại. Vì vậy, UBND huyện Sông Hinh đã đề nghị Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh xem xét lại hiện trạng rừng thực tế; đồng thời có văn bản báo cáo UBND tỉnh”.
Điều đáng nói là trong khi chính quyền địa phương không đồng tình với cách làm trên và đề nghị Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện dừng việc phát dọn rừng tự nhiên để trồng rừng, nhưng không hiểu sao đơn vị này vẫn tiếp tục triển khai, càng khiến người dân bức xúc.
Ông Nguyễn Văn Hùng ở buôn Thung, xã Sơn Giang, huyện Sông Hinh, nói: “Chủ trương của Nhà nước là tích cực bảo vệ rừng, nhưng ở đây họ lại đi phá rừng. Rừng tự nhiên giữ được nước, chống trôi rửa đất bền vững, còn rừng keo có trồng rồi cũng bị hạ đồng loạt khi đến tuổi khai thác, và đất lại trở thành đồi núi trọc thời gian dài”.
Trước tình hình này, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Lê Văn Trúc yêu cầu Sở NN-PTNT kiểm tra cụ thể hiện trường và chỉ đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh dừng việc phát dọn thực bì để trồng rừng thay thế trên diện tích rừng chuyển sang mục đích thủy điện đối với những diện tích có khả năng phát triển tốt thành rừng tự nhiên, để tiến hành khoanh nuôi bảo vệ, tái sinh. Đồng thời khẩn trương tổ chức trồng rừng đối với những diện tích đã bị phát dọn thực bì, tránh tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trái phép.
Ông Nguyễn Lý Nguyên, Phó giám đốc Sở NN-PTNT, cho biết: “Qua kiểm tra, có 80/100ha rừng sản xuất thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý bị phát dọn để tái trồng rừng. Sở đã chỉ đạo tạm dừng, đồng thời xem xét trách nhiệm của các đơn vị liên quan”.
Ngoài vụ việc trên, UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo UBND huyện Tây Hòa chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện và xã Sơn Thành Tây.
Tiến hành kiểm tra, rà soát, thống kê toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp của xã; xây dựng kế hoạch, có giải pháp tổ chức quản lý, bảo vệ tốt các diện tích rừng thuộc phạm vi quản lý theo đúng quy định pháp luật; triển khai phương án giao rừng, giao đất lâm nghiệp cho nhân dân tại địa phương quản lý, sử dụng đạt hiệu quả.
Tổ chức lực lượng tăng cường tuần tra bảo vệ rừng theo quy định tại Quyết định 07/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng; bảo vệ nguyên hiện trường các khu rừng bị chặt phá; phối hợp với cơ quan chức năng điều tra, truy tìm đối tượng phá rừng để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật; kiểm điểm tập thể, các cá nhân có liên quan vì thiếu trách nhiệm để rừng bị phá trong thời gian dài với diện tích lớn... Trước mắt tập trung điều tra, xử lý những vụ phá rừng với diện tích lớn để giáo dục chung.
Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều rừng tự nhiên tuy không còn nhiều những loài gỗ quý, song có rất nhiều cây gỗ đường kính lớn, khả năng chống chọi với mưa bão tốt; thảm thực vật dày dưới tán rừng tự nhiên có chức năng giữ nước, độ ẩm, thuận lợi cho các loài động vật, côn trùng phát triển và chống xói mòn, lũ quét… Trong khi đó, để trồng một khu rừng keo như lâu nay, các tổ chức, cá nhân cho phát, đốt hoàn toàn, dẫn đến rừng gần như mất khả năng phòng hộ, môi sinh. Mặt khác, rừng trồng lại rất dễ xảy ra cháy do lá rụng và không còn thảm thực vật tự nhiên để giữ độ ẩm.
Một khi rừng tự nhiên ngày càng mất, rừng trồng cũng bị khai thác triệt theo chu kỳ và dễ xảy ra cháy lớn. Hậu quả, lũ lụt, lũ quét xảy ra thường xuyên, nguồn nước sông, suối, ao, hồ bị cạn kiệt, dòng chảy tự nhiên bị biến đổi tiêu cực, cửa sông, cửa biển bị bồi lấp, gây ảnh hưởng đến môi trường và cuộc sống người dân.
Thực trạng phá rừng để trồng rừng nhiều năm qua khiến dư luận lo ngại đặt câu hỏi, liệu có phải là do việc “cưỡi ngựa xem hoa” hay “làm ngơ” của các ngành chức năng trong khâu thẩm định, thiết kế, quy hoạch trồng rừng. Trong quá trình trồng rừng, các ngành liên quan và chính quyền địa phương có thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát thực địa, để cho các tổ chức, cá nhân tự do phát, đốt, “tận thu” gỗ, củi… làm kinh phí tái trồng rừng (?).
Ông Huỳnh Xuân Quang, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, cũng phải thừa nhận rằng, về khả năng môi sinh và chống biến đổi khí hậu, thì rừng keo trồng mới theo kiểu phát, đốt sạch như lâu nay thua xa rừng tự nhiên tái sinh.
Còn ông Nguyễn Lý Nguyên thì cho rằng: “Việc tái trồng rừng dựa trên quy hoạch ba loại rừng từ năm 2007, tuy nhiên đến nay quy hoạch này không còn phù hợp, vì nhiều diện tích đang trong thời kỳ tái sinh. Do vậy, việc kiểm tra hiện trạng rừng tại thời điểm thực tế trước khi triển khai các dự án tái trồng rừng là rất quan trọng. Hiện ngành đang xin UBND tỉnh quy hoạch lại ba loại rừng vào năm 2016 để bảo vệ và phát triển rừng bền vững”.
Thiết nghĩ, việc trồng rừng nâng độ che phủ là vô cùng cần thiết, song phải thực hiện đúng quy định của luật pháp, trong đó xác định chính xác trạng thái rừng tự nhiên trước khi cấp phép trồng mới rừng là yếu tố quan trọng. Trong khi trồng rừng, ngành Kiểm lâm và chính quyền địa phương cần kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt việc các tổ chức, cá nhân chặt hạ cây rừng lớn (có đường kính từ 10cm trở lên) hoặc đốt trắng thảm thực vật.
Chỉ nên cấp phép trồng rừng những khu vực đất trống, đồi núi trọc như chủ trương của Chính phủ. Nếu trồng rừng trên diện tích có cây tự nhiên, thảm thực vật dày, chỉ được phép phát băng trồng bổ sung theo hàng, tránh tác động tiêu cực đến rừng tự nhiên nguyên trạng... Có như vậy rừng mới được bảo tồn, độ che phủ rừng tăng hàng năm mới là con số thật.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, những năm gần đây, tình hình cháy rừng và chặt phá rừng diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Riêng về cháy rừng, năm 2014, toàn tỉnh xảy ra tới 16 vụ, gây thiệt hại hơn 317ha, chủ yếu là rừng trồng, tăng gấp 22 lần so với năm 2013. (Báo Phú Yên 27/11) đầu trang(
Ngày 28-11, Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức thành công diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, tìm kiếm cứu nạn TP Sơn La gắn với phòng, chống cháy nổ kho vũ khí đạn K4 - Kho vũ khí đạn cấp tỉnh. Thao trường diễn tập được tổ chức tại hai địa điểm là Trường Đại học Tây Bắc và UBND phường Quyết Tâm thành phố Sơn La.
Do làm tốt công tác chuẩn bị và bám sát yêu cầu chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo điều hành các tình huống diễn tập, nên các thành phần, lực lượng diễn tập đã thực hiện nhuần nhuyễn, đầy đủ các nội dung theo kịch bản đã xác định, với tình huống: Do người dân thiếu cảnh giác, gây cháy trong rừng của hộ gia đình, đám cháy lan rộng ra khu rừng tái sinh của phường và khu vực kho vũ khí đạn của Bộ CHQS tỉnh.
UBND tỉnh chỉ đạo thành phố Sơn La và Bộ CHQS tỉnh tổ chức lực lượng tại chỗ, kết hợp lực lượng chữa cháy tăng cường của tỉnh tổ chức dập lửa bảo vệ rừng, sơ tán người dân, sơ tán hàng hóa, phòng chống gây nổ kho tàng, bảo đảm an toàn khu dân cư thành phố. Sau hơn 4 giờ đồng hồ, cuộc diễn tập đã hoàn thành đầy đủ các nội dung, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và phương tiện, trang bị.
Qua diễn tập đã nâng cao một bước năng lực của cấp ủy, chính quyền các cấp và nhận thức của người dân trong phát huy sức mạnh tổng hợp để ứng phó với thiên tai, hỏa hoạn; nâng cao khả năng tổ chức hiệp đồng giữa các lực lượng phòng cháy, chữa cháy, vận dụng tốt “4 tại chỗ” trong xử trí các tình huống chữa cháy, khắc phục hậu quả cháy, nổ.
Kết thúc diễn tập, UBND tỉnh và UBND thành phố Sơn La đã tặng 14 Bằng khen, 23 Giấy khen cho các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích tiêu biểu trong chuẩn bị và tham gia thực hành diễn tập. (Quân Đội Nhân Dân 28/11) đầu trang(
Năm 2015, lượng mưa ở tỉnh Gia Lai thấp hơn nhiều và kết thúc sớm hơn so với trung bình nhiều năm trước. Theo nhận định của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, mùa khô năm 2015-2016, hiện tượng khô hạn, nắng nóng sẽ diễn ra gay gắt hơn; do đó nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn tỉnh là rất cao.
Để chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và giảm thiểu thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra trong mùa khô năm 2015-2016; UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu các cấp, các ngành, các cơ quan có liên quan và các đơn vị chủ rừng thực hiện nghiêm túc một số nội dung sau:
Các cấp, ngành, cơ quan liên quan và đơn vị chủ rừng tiếp tục thực hiện nghiêm túc các Nghị định, Chỉ thị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cũng như của Bộ NN&PTNT về PCCCR.
UBND các huyện, thị xã, thành phố chủ động và kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo công tác PCCCR trên địa bàn; chỉ đạo Hạt Kiểm lâm xây dựng phương án chữa cháy rừng mùa khô năm 2015-2016 trên địa bàn theo hướng dẫn của Chi cục Kiểm lâm và tổ chức thẩm định, phê duyệt để thực hiện; chỉ đạo các xã kiểm soát chặt chẽ việc đốt thực bì trong sản xuất nương rẫy trong thời kỳ cao điểm của mùa khô và các đối tượng mang nguồn lửa vào rừng gây cháy rừng. Chủ tịch UBND cấp huyện phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh nếu để xảy ra cháy rừng trên địa bàn.
Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm chủ động nắm bắt tình hình thực hiện công tác PCCCR và tình hình cháy rừng trên địa bàn tỉnh; báo cáo và đề xuất kịp thời các giải pháp PCCCR hiệu quả cho UBND tỉnh để chỉ đạo các cấp, các ngành, các đơn vị chủ rừng triển khai thực hiện.
Chỉ đạo các đơn vị chủ rừng tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR đến cộng đồng dân cư; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn người dân xử lý thực bì trong sản xuất nương rẫy không để xảy ra cháy rừng; xây dựng phương án chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ” đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế, có tính khả thi cao trong việc tổ chức chữa cháy rừng; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị, dụng cụ chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra.
Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu UBND tỉnh cấp kinh phí PCCCR năm 2016 sớm cho Chi cục Kiểm lâm, địa phương và các đơn vị chủ rừng để chcur động thực hiện công tác PCCCR ngay từ đầu mùa khô.
Công an tỉnh, Bộ CHQS tỉnh, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp chặt chẽ với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền các cấp trong việc thực hiện các biện pháp PCCCR và sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện để tham gia chữa cháy rừng khi được yêu cầu.
Đài PT-TH tỉnh, Báo Gia Lai, đài TT-TH các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và UBND tỉnh về công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung và PCCCR nói riêng . (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 27/11) đầu trang(
Lãnh thổ nước ta có sự đa dạng về tự nhiên, hình thành nên nhiều vùng địa lý tự nhiên - sinh thái khác nhau trên đất liền và trên biển.
Cùng với điều kiện khí hậu, thủy văn phong phú đã tạo cho rừng nước ta có mức độ đa dạng sinh học cao với trên 7.000 loài thực vật bậc cao, là nơi trú ngụ của trên 300 loài thú, 840 loài chim, 380 loài bò sát ếch nhái, 120.000 loài côn trùng và 2.000 loài cá nước ngọt đã được xác định.
Đến thời điểm hiện tại, cả nước có 164 khu RĐD với tổng diện tích gần 2,2 triệu héc-ta, trong đó có 31 Vườn quốc gia (VQG), 58 khu dự trữ tự nhiên, 10 khu bảo tồn loài sinh cảnh, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học. Trong hệ thống này, có 9 khu được công nhận dự trữ sinh quyển, 2 khu di sản thiên nhiên thế giới, 5 khu di sản ASEAN và 6 khu đất ngập nước Ramsar được quốc tế công nhận.
Theo quy hoạch hệ thống RĐD cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống RĐD sẽ mở rộng diện tích lên 2,4 triệu héc-ta với 176 khu. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã quy hoạch 16 Khu bảo tồn biển và 45 khu bảo tồn vùng nước nội địa.
Theo Vụ Bảo tồn thiên nhiên (thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT), đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn đã góp giá trị quan trọng cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản. Cả nước hiện có khoảng 20 triệu người có thu nhập (chính hoặc 1 phần) từ tài nguyên thủy sinh và khoảng 25 triệu người sống trong hoặc gần rừng và 20 - 50% thu nhập của họ là từ các sản phẩm lâm sẩn ngoài gỗ như: cây thuốc, cây cho dầu, thuốc nhuộm... Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp giai đoạn 2013 - 2015 tăng trưởng mạnh, đạt bình quân 6,57%/năm.
Các khu RĐD cũng thực hiện tốt hoạt động nghiên cứu khoa học và khai thác có hiệu quả du lịch sinh thái. Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2015, các khu vực này đã đón hơn 1,15 triệu lượt khách (tăng 8% so với năm 2014), đạt tổng doanh thu trên 77,3 tỷ đồng (tăng 12% giá trị so với năm 2014). Từ nguồn kinh phí thu được, các VQG và Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) đã nộp gần 28 tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước và trích cho hoạt động BTTN 12,8 tỷ đồng.
Theo ông Trần Thế Liên - Vụ trưởng Vụ BTTN, hiện hầu hết các khu RĐD đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong việc bảo vệ rừng và bảo vệ đa dạng sinh học. Những năm gần đây, dân số ở “vùng đệm” RĐD đã kéo theo nhu cầu về đất sinh hoạt và sản xuất, gây áp lực lên tài nguyên rừng. Trong khi đó, nhiều diện tích có các hệ sinh thái quan trọng bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng các công trình thủy điện, công trình cơ sở hạ tầng, đường giao thông...
Lực lượng kiểm lâm mỏng, hoạt động bảo tồn ít được quan tâm đầu tư trong khi nạn săn bắn, khai thác trái phép các động vật hoang dã phục vụ nhu cầu sinh sống, giải trí hoặc thương mại vẫn nóng bỏng, đẩy nhiều loài động vật đến bờ vực của tuyệt chủng trong tự nhiên và gây sức ép nghiêm trọng lên các quần thể khác.
Trong 10 tháng đầu năm nay, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 1.736 vụ khai thác rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, giảm 36% so với cùng kỳ năm 2014. Các vụ vi phạm trên xảy ra ở 22VQG, 27 Khu BTTN và tập trung chủ yếu ở VQG Yok-Đôn (323 vụ), Phong Nha - Kẻ Bàng (118 vụ), Tràm Chim (76 vụ), Mũi Cà Mau (77 vụ)...
Tình trạng săn bắt, mua bán, vận chuyển động vật hoang dã trái phép cũng diễn ra phức tạp với 218 vụ, tăng 11 vụ so với cùng kỳ. Các vụ cháy rừng năm nay đã giảm xuống còn 66 vụ (năm 2014 là 70 vụ) nhưng diện tích cháy rừng lại tăng với 107,52ha (tăng 54,44ha so với cùng kỳ năm 2014).
Là VQG có diện tích lớn thứ 2 cả nước nhưng những năm qua, VQG Yok-Đôn luôn có số vụ vi phạm lâm luật đứng đầu, trờ thành “điểm nóng” của phá rừng. Theo ông Đỗ Quang Tùng - Giám đốc VQG Yok-Đôn, trong 9 tháng đầu năm nay, cơ quan chức năng đã phát hện và xử lý 470 vụ vi phạm lâm luật. Mặc dù số vụ vi phạm giảm gần 50% so với cùng kỳ năm 2014 nhưng trung bình mỗi ngày, vườn vẫn mất khoảng 3 cây gỗ. Mặc dù rất quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học nhưng những năm nay, vườn chỉ tập trung vào công tác bảo vệ rừng.
Theo ông Đỗ Quang Tùng, trước mắt VQG Yok-Đôn nói riêng và những khu RĐD khác cần phối hợp với chính quyền địa phương để xử lý dứt điểm các đầu nậu, đồng thời nâng cao năng lực, thường xuyên giáo dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ và xử lý mạnh tay những kiểm lâm “bắt tay” với lâm tặc. Về lâu dài, ngoài việc thường xuyên, kiên trì thực hiện công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, cần đặc biệt quan tâm việc sử dụng hợp lý tài nguyên rừng, chia sẻ lợi ích với người dân bản địa và tạo sự ổn định, bền vững nguồn đầu tư thông qua ưu tiên hoạt động dịch vụ công, du lịch sinh thái... nhằm bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường.
Còn ông Trần Thế Liên - Vụ trưởng Vụ BTTN thẳng thắn: “Trong quá trình vận hành, nhiều NMTĐ cũng không thực hiện đúng cam kết trong đánh giá tác động môi trường (ĐTM), không duy trì dòng chảy tối thiểu tại các con sông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh cảnh tự nhiên. Trước đó, tại thời điểm thành lập hội đồng phê duyệt ĐTM của một số NMTĐ, chúng tôi đã cảnh báo nhưng những báo cáo ĐTM này vẫn được phê duyệt vì chúng tôi chỉ là “thiểu số””.
Về giải pháp, ông Liên cho rằng: “Rừng là nơi sinh sống, trú ngụ của các loài động thực vật nên bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với công tác bảo vệ và phát triển rừng. Trong khi đó, việc trồng rừng thay thế tại những diện tích RĐD đã chuyển đổi mục đích sử dụng, đặc biệt là các dự án thủy điện thực hiện quá ì ạch. Nếu không trồng lại được những diện tích này, đa dạng sinh học sẽ bị suy giảm nghiêm trọng”.
Trên thực tế, phần lớn các nghiên cứu về đa dạng sinh học do Bộ TN&MT thực hiện, trong khi hệ thống RĐD, rừng phòng hộ, tài nguyên rừng lại do ngành nông nghiệp quản lý, bảo vệ. Nhiều chủ rừng không đủ năng lực để bảo vệ rừng, buông lỏng công tác quản lý; các dự án đầu tư sản xuất nông - lâm nghiệp vẫn chưa quan tâm đầu tư kinh phí, nhân lực để bảo vệ rừng. Rừng liên tục bị xâm hại, trong khi đó những diện tích rừng quan trọng đã chuyển đổi mục đích sử dụng vẫn chưa được trồng lại theo đúng kế hoạch, đa dạng sinh học đang đối mặt với nguy cơ bị xâm hại từng ngày. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/11) đầu trang(
Hiện tỉnh Đồng Nai đang là giai đoạn cao điểm của mùa khô, nắng nóng kéo dài nên diện tích rừng ở địa phương này luôn ở vào cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm.
Trước thực trạng này, công tác bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai luôn được ngành chức năng chủ động thực hiện. (Truyền Hình Quốc Hội 29/11) đầu trang(
Chiều 27/11, tại cảng Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Kiểm soát Hải quan khu vực miền Nam (đội 3)- Cục Điều tra chống buôn lậu-Tổng cục Hải quan đã phối hợp Chi cục Hải quan Sóng Thần- Cục Hải quan Bình Dương kiểm tra 6 container hàng xuất khẩu của Doanh nghiệp tư nhân Sản xuất Thương mại Dịch vụ Thanh Phát (Thuận An-Bình Dương).
Theo khai báo trên 2 tờ khai hải quan của Doanh nghiệp tư nhân Sản xuất Thương mại Dịch vụ Thanh Phát, hàng hóa xuất khẩu gồm 59 chiếc giường gỗ thông, được sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu và thu mua trong nước. Toàn bộ số hàng được đóng trong 6 container loại 40 feets xuất khẩu đi Đài Loan(Trung Quốc).
Với thông tin khai báo nêu trên, cả 2 tờ khai xuất khẩu của doanh nghiệp được hệ thống phân luồng Vàng - chỉ kiểm tra hồ sơ, không kiểm tra thực tế hàng hóa.
Phát hiện có dấu hiệu nghi vấn, Đội 3 đã có quyết định dừng thông quan lô hàng để kiểm tra thực tế và phát hiện toàn bộ 6 container đều chất đầy mặt hàng gỗ xẻ, trị giá ước tính ban đầu khoảng 3 tỷ đồng.
Theo cán bộ Đội 3, thủ đoạn của doanh nghiệp trong vụ xuất lậu gỗ này là lợi dụng việc phân luồng để xuất lậu gỗ, trốn thuế của Nhà nước.
Để xác định đúng mặt hàng gỗ xuất lậu, Đội 3 đã lấy mẫu trưng cầu giám định, niêm phong toàn bộ 6 container hàng, chờ xử lý. (VOV Giao Thông 28/11) đầu trang(
Ngày 29/11, Công an tỉnh Nam Định co biết, vừa qua, tại Km 131, Quốc lộ 10 thuộc địa phận xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Phòng CSGT đường bộ, đường sắt Công an tỉnh phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Bộ Công an) đã kiểm tra và bắt giữ một chiếc xe tải BKS Lào UN-3275 chở khối lượng lớn gỗ quý được ngụy trang tinh vi.
Tại thời điểm kiểm tra, trên xe đang chở 20 con bò đi tiêu thụ, ngoài ra tổ kiểm tra còn phát hiện một khối lượng lớn gỗ quý được ngụy trang dưới lớp trấu rải dưới sàn xe.
Chủ xe là Hoàng Hà (trú tại Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị) và lái xe Nguyễn Văn Ty (SN 1988, trú tại thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế) đều không xuất trình được giấy tờ chứng nhận nguồn gốc xuất xứ của số gỗ trên. Theo chủ xe khai nhận, số gỗ trên được người quen thuê chở từ Lao Bảo (Quảng Trị) về Hải Phòng tiêu thụ.
Theo Chi cục Kiểm lâm Nam Định số gỗ trên gồm gỗ trắc, gỗ hương và cẩm lai thuộc danh mục nhóm gỗ quý số 1 với khoảng hơn 2 mét khối có giá trị cao.
Hiện cơ quan Công an tỉnh Nam Định đã tạm giữ phương tiện, giao toàn bộ số gỗ cho Chi cục kiểm lâm tỉnh Nam Định xử lý theo quy định của pháp luật. (Công Lý 30/11) đầu trang(
Nhiều bạn đọc báo Tuổi Trẻ gửi email và hình ảnh đến báo phản ảnh bức xúc rằng cán bộ huyện Tây Giang (Quảng Nam) đã công khai hình ảnh săn bắt động vật hoang dã quý hiếm trên mạng.
Chủ nhân Facebook là ông Thiều Quốc Kỳ (xã A Tiêng, huyện Tây Giang) thừa nhận mình là người trong ảnh. Ông Kỳ là cán bộ ở Trung tâm khuyến nông huyện Tây Giang, chuyên làm công tác khuyến nông trên địa bàn.
Bức ảnh được ông Kỳ đăng tải trên mạng có hình ảnh của ba con chồn bay vừa bị bắt. Ông Kỳ cầm hai chân con chồn kéo căng ngược ra hai bên.
Trong một bức ảnh khác, người đàn ông này cởi trần cầm ba con chồn bay kéo mạnh ra phía sau. Trong hàng comment, nhiều người tỏ vẻ không hài lòng với hành động trên của một cán bộ ở trung tâm khuyến nông huyện.
Có người còn nhắc nhở rằng cẩn thận với công an về vụ việc trên, ông Kỳ trả lời rằng: “Công an cũng bó tay”.
Ông Kỳ cho biết ông thấy người ta bày bán chồn và xen vào chụp hình rồi đưa lên mạng, ông không tham gia giết thịt những con chồn này. Tuy nhiên, những gì trong tấm ảnh thể hiện cảnh các con thú đang ở trong một căn nhà khi chụp ảnh chứ không phải bày bán ngoài đường như ông Kỳ nói. Ông Kỳ nói ông không hay biết loài chồn này nằm trong sách đỏ, quý hiếm nhóm 1.
“Ở huyện, quán nào chẳng có chồn bay. Vào quán hỏi món a pứa (tiếng Cơ Tu chỉ một món ăn được chế biến từ thịt chồn bay) sẽ được phục vụ ngay” - ông Kỳ phân trần.
Nói rồi ông Kỳ chỉ cho chúng tôi ra quán ông Sao trước trụ sở Công an huyện Tây Giang. “Đó là quán chuyên bán chồn bay, mua bao nhiêu con cũng có, ăn món chi cũng có. Ở đây món a pứa nổi tiếng được làm từ chồn bay. Quán ăn nào cũng có hết, bán đầy!” - ông Kỳ nói.
Theo lời chỉ dẫn của ông Kỳ, chúng tôi ra quán ông Sao trước trụ sở công an huyện. Tại đây bà A Rất Thị Cúc, vợ ông Sao, nói: “Anh muốn bao nhiêu con? Chờ chút! Chồn mới làm chiều qua”. Nói xong bà dẫn chúng tôi đến cái tủ lạnh ở nhà dưới, bên trong chứa đầy chồn bay bỏ ngăn cấp đông. Chồn lớn có, nhỏ có, con bằng bắp chân nặng hơn 1kg, con nhỏ bằng bắp tay, đã qua lửa vàng da ngổn ngang trong tủ lạnh.
Bà Cúc cho rằng những con chồn này chỉ cần rã đông thì thịt sẽ tươi trở lại. Theo bà Cúc, bà mua chồn bay của người dân với giá 350.000 đồng/con, giờ bán 450.000 đồng/con, muốn mua thì gọi điện trước.
Ông Phan Tuấn, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, cho biết ông rất bất bình khi nghe thông tin trên và ngay lập tức chỉ đạo cơ quan kiểm lâm địa bàn vào cuộc.
Ông Tuấn cũng khẳng định kiểm lâm tỉnh vừa tổ chức hội nghị cho các huyện trong toàn tỉnh, trong đó có Tây Giang, về việc bảo vệ động vật hoang dã, hội nghị vừa xong thì lại xảy ra sự việc không hay này.
“Chồn bay thuộc nhóm 1, nhóm nguy cấp quý hiếm, cấm khai thác dưới mọi hình thức, trừ việc khai thác để nghiên cứu. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ về các nhân vật liên quan trong vụ việc này” - ông Tuấn nói. (Tuổi Trẻ 30/11) đầu trang(
Tin từ UBND TP.HCM cho biết nơi này vừa ban hành Bảng giá động vật rừng mới. Quyết định này là để thay thế cho phần phụ lục IV trong quyết định số 47/2014/QĐ-UBND được ban hành ngày 11/12/2014.
Theo đó bảng giá này sẽ được dùng làm cơ sở để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính, căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền tịch thu tang vật vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn TP.
Ngoài ra nó còn là cơ sở xác định giá khởi điểm trong bán đấu giá tang vật bị tịch thu sung quỹ nhà nước hay cơ sở để xác định giá bán động vật rừng thông thường còn sống sau khi xử lý tịch thu trên địa bàn TP.
Trong bảng giá mới loài công Ấn Độ là loài được định giá cao nhất (1,5 triệu đồng/con) trong khi bổ củi là loài có giá trị thấp nhất (1 ngàn đồng/con). So với bảng giá năm 2014, bảng giá này đã bỏ đi nhiều loại động vật thuộc nhóm 1B (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) như hổ, báo, gấu, bò tót… do vậy chỉ còn 101 loại so với 157 loại của năm 2014. (Infonet 30/11) đầu trang(
Ngày 28/11, tin từ UBND tỉnh Quảng Ngãi, Chủ tịch UBND tỉnh vừa có quyết định thu hồi 188 lóng gỗ với khối lượng 114,735 m3 gỗ tròn các loại do khai thác trái phép.
Cụ thể số lượng gỗ nói trên do ông Đinh Văn Chung và Đinh Văn Đơ khai thác trái phép tại thôn Nước Biếc, xã Trà Thọ, huyện Tây Trà. Hiện số lượng gỗ trên Phòng PC46 - Công an tỉnh đang tạm giao cho ông Nguyễn Dương, Giám đốc Công ty TNHH Thuận Hòa chịu trách nhiệm coi giữ, bảo quản.
Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Tài chính là đơn vị chủ trì quản lý, xử lý số lâm sản thu hồi trên. (Đại Đoàn Kết 28/11) đầu trang(
Ngày 28/11, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện lệnh bắt tạm giam Nguyễn Văn Hòa về hành vi hủy hoại rừng. Đồng thời bắt Dương Văn Quảng, sinh năm 1977 và 3 đối tượng khác là đồng phạm được Hòa thuê phá rừng.
Được biết từ đầu tháng 10/2015 đến nay, Hòa đã sử sụng thiết bị máy móc và thuê nhân công phá hơn 10 ha tại các tiểu khi 172, 187 rừng phòng hộ, thuộc xã Đạ Sal, Đam Rông để lấy đất làm rẫy.
Mặc dầu trước đó đã được Ban quản lý rừng Sê-rê-pôk phát hiện ngăn chặn nhưng Hòa vẫn ra lệnh cho các đối tượng tiếp tục chặt phá.
Cùng với việc bắt Hòa và các đối tượng, Cơ quan chức năng đã tạm giữ 2 máy đào, 1 máy ủi và một số dụng cụ khác để phục vụ cho công tác điều tra. (ANTV 29/11) đầu trang(
Vùng núi Cà Đam (Trà Bồng) được thiên nhiên ưu đãi về đa dạng sinh học, nơi sinh trưởng của nhiều loại thảo dược quý, trong đó, có cây sâm “bảy lá”. Song, hiện nay loại sâm này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt khi hàng ngày có nhiều người vào tận rừng săn lùng để bán cho thương lái.
Theo người dân địa phương, sâm “bảy lá” chỉ mọc trên núi cao ở những khu rừng rậm rạp, ẩm thấp, có bảy lá, một hoa và có chiều cao khoảng từ 30-35cm. Lá của loại sâm này rất to, giống như lá khoai môn. Hàng năm cứ vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, cây bắt đầu nảy mầm. Tuy nhiên, sau thời gian ngắn ra lá và hoa, cây sẽ trụi lá “nằm lỳ” dưới đất và đợi vào đúng thời điểm năm sau mới lại nảy mầm, phát triển.,
Củ sâm có vỏ màu nâu, có hình dạng xoắn hơi dài, khác với các loại sâm bán trên thị trường hiện nay. Thông thường mỗi củ sâm nặng khoảng 200-500g.
Ông Hồ Quang Đà- người dân ở thôn Quế, xã Trà Bùi- nơi có nhiều dược liệu này cho biết: Sâm “bảy lá” rất bổ dưỡng, từ xưa đến nay, đồng bào Cor ở đây sử dụng loại sâm này ngâm với rượu uống có tác dụng làm mát gan, nhuận tràng… nhưng nếu uống quá thì dễ bị tiêu chảy.
Thời gian gần đây, nhiều thương lái săn lùng mua sâm “bảy lá” nên người dân ở thôn Quế cũng rủ nhau vào rừng để tìm và bán cho thương lái với giá từ 200 - 250 nghìn đồng/kg củ tươi. Mặc dù, người dân trực tiếp đi khai thác cũng như thương lái đều không hiểu người ta thu mua loại dược liệu này với mục đích gì. Chỉ biết chung chung là mua về làm thuốc.
Qua tìm hiểu của chúng tôi, ngày trước, loại sâm “bảy lá” trên khu vực núi Cà Đam rất nhiều, nhưng hiện nay, do giá loại sâm này thương lái thu mua với giá cao nên hàng ngày có hàng chục người dân đi vào rừng sâu để “săn” lùng, khiến cho sâm “bảy lá” cũng ngày càng ít dần.
“Trước đây, mỗi chuyến đi vào rừng từ 2-3 ngày, một người cũng kiếm được 3-4kg sâm, nhưng giờ giỏi lắm cũng chỉ kiếm được hơn 1kg, song phải lặn lội vào tận rừng sâu rất nguy hiểm”- ông Hồ Văn Hùng ở thôn Quế, xã Trà Bùi cho hay.
Trước nguy cơ cạn kiệt nguồn sâm “bảy lá” tự nhiên, để giữ và phát triển nguồn cây dược liệu quý của vùng núi Cà Đam, huyện Trà Bồng đang tiến hành các biện pháp tuyên truyền cho người dân khai thác có ý thức nhằm bảo tồn, nhân giống tiến tới mở rộng, phát triển sâm “bảy lá” nhằm bảo vệ nguồn dược liệu quý; đồng thời tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế dựa vào điều kiện sẵn có của địa phương.
Ông Nguyễn Xuân Bắc- Chủ tịch UBND huyện Trà Bồng cho biết: Sâm “bảy lá” là nguồn dược liệu quý, chính vì vậy, huyện đang khuyến khích người dân tại chỗ trồng, chăm sóc và phát triển loại sâm này để bảo tồn nguồn giống, đảm bảo nguồn giống chất lượng cao. Từ đó, huyện sẽ có hướng hỗ trợ người dân để phát triển mở rộng nhanh diện tích trồng sâm “bảy lá” sớm trở thành vùng chuyên canh cung cấp nguyên, dược liệu nhằm tăng giá trị kinh tế của cây sâm.
Hiện một số dân ở thôn Quế cũng đang tiến hành đem trồng thử nghiệm cây sâm “bảy lá” xung quanh vườn nhà. Trong điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, bước đầu cho thấy, cây sâm có hướng sinh trưởng và phát triển tốt. “Đây là loại cây có giá trị kinh tế, nên chúng tôi rất kỳ vọng, cây sâm sẽ góp phần giúp bà con phát triển kinh tế và xóa nghèo bền vững cho người dân”- ông Hồ Quang Đà ở thôn Quế, xã Trà Bùi hy vọng.
Có thể nói, việc định hướng phát triển và bảo tồn nguồn dược liệu quý tại núi Cà Đam trong đó có cây sâm “bảy lá" là hướng đi phù hợp của chính quyền địa phương huyện Trà Bồng. Bởi, đây không chỉ góp phần bảo tồn, tránh “chảy máu” những loại dược liệu quý mà còn giúp người dân đồng bào vùng cao chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát huy thế mạnh về khí hậu và thổ nhưỡng, nâng cao thu nhập cho người dân, cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược. (Dân Việt 27/11) đầu trang(
Thực hiện quyết định số 2621 của thủ tướng chính phủ, ngoài việc hỗ trợ 200 ngàn đồng/ha cho các hộ khoán bảo rừng như những năm trước đây, năm 2015, toàn huyện Quế Phong có 524 hộ nghèo với 2.364 khẩu nghèo tiếp tục được hỗ trợ gạo.
Bình quân mỗi khẩu được hỗ trợ 3,36 tháng, với mức hỗ trợ mỗi tháng là 15kg gạo. Để tiện cho bà con dân bản được nhận gạo kịp thời, cán bộ Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đã cử cán bộ xuống các thôn bản cùng với ban quản lý các thôn, bản kiểm tra danh sách và yêu cầu các chủ hộ trực tiếp ký nhận đầy đủ.
Các xã Đồng Văn, Thông Thụ, Tri Lễ và Nậm Giải là những xã diện tích rừng lớn, cũng là những xã có tỷ lệ hộ nghèo tham gia nhận khoán bảo vệ rừng nhiều nhất. Đối với một số hộ ở một số thôn bản, Như Hiệp Phong, Hủa Na1, Huả Na 2, chưa có điều kiện đến nhận, ban quản lý thôn sẽ chuyển gạo vào kho để tiến hành cấp phát sau. Cùng với việc cấp phát gạo, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù hoạt cũng quán triệt với bà con về chủ trương và trách nhiệm bảo vệ rừng đối với những đối tượng trong diện nhận khoán.
Như vậy, trong đợt này, các hộ nghèo ở huyện Quế Phong được nhận 120 tấn gạo thuộc chương trình khoán bảo vệ rừng, tương đương với 1,9 tỷ đồng đồng. Dự kiến tháng 12/2015, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt tiếp tục chi 3,9 tỷ đồng cho các hộ dân còn lại. Từ đó góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của bà con dân tộc trong việc gìn giữ, bảo vệ rừng đầu nguồn của quốc gia. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Nghệ An 27/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta.
Với tốc độ tăng trưởng bình quân 15%/năm trong suốt 15 năm qua, Việt Nam đã trở thành nước đứng đầu Đông Nam Á, đứng thứ hai Châu Á và đứng thứ tư trên thế giới về giá trị xuất khẩu (sau Trung Quốc, Italia và Đức). Năm 2015, dự kiến doanh thu xuất khẩu từ ngành này sẽ đạt 7 tỷ USD. Những kết quả này là nền tảng cơ bản để ngành chế biến xuất khẩu gỗ phát triển mạnh mẽ hơn, khi Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết.
Hiệp định đối TPP được dự đoán sẽ mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gỗ của Việt Nam, thông qua việc thu hút được nhiều nguồn đầu tư trong và ngoài nước. Hiện nay đã có nhiều tập đoàn kinh doanh gỗ trên thế giới đã đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam, như LKEA (Thụy Điển), HABUFA (Hà Lan), JB GLOBAL và LI&FUNG (Anh Quốc), ACESSWORD (Canada).
Đây là thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm đối tác, tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Ngoài ra với lợi thế nhân công rẻ, nhiều tập đoàn kinh tế trên thế giới đã và đang có sự chuyển hướng đầu tư vào Việt Nam thay vì Trung Quốc, tạo điều kiện cho ngành gỗ Việt Nam mở rộng thị trường, nâng cao năng lực sản xuất.
Chính vì vậy, việc phát triển bền vững và ổn định ngành gỗ có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về mặt kinh tế lẫn xã hội.
Khi các tập đoàn kinh tế nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam, với kinh nghiệm và với nguồn vốn hơn hẳn các doanh nghiệp trong nước là thách thức không nhỏ cho các doanh nội địa. Hiện nay, thị trường Việt Nam với dân số 94 triệu người, một thị trường nội địa rất tiềm năng nhưng đang bị bỏ ngỏ cho các nước như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan… chiếm lĩnh. Đây là một thực tế và là một vấn đề đáng quan tâm đối với những doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ.
Ngoài việc bỏ ngỏ thị trường nội địa cho doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh, trong ngành xuất khẩu gỗ, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, do nguồn vốn hạn chế, nên chưa thể đáp ứng được quy chuẩn gỗ của liên minh Châu Âu, như Hiệp định đối tác tự nguyện về tăng cường thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA / FLEGT) giữa Việt Nam và liên minh Châu Âu.
FLEGT đòi hỏi nhà sản xuất gỗ phải chứng minh nguồn gốc, xuất xứ gỗ hợp pháp. Trong khi đó, gỗ của Việt Nam lại được mua từ nhiều quốc gia trên thế giới và không phải nhà cung cấp nào cũng có được đầy đủ các chứng nhận đảm bảo tất cả các yêu cầu trên.
Việt Nam hiện có hai đối thủ cạnh tranh trong ngành gỗ ngay trong khu vực Asean là Thái Lan và Malaysia. Năng suất lao động của hai nước này cao hơn hẳn Việt Nam, cụ thể cao hơn lần lượt là 1,5 và 1,7 lần.
Về mặt tổ chức, ngành gỗ của Việt Nam còn một số hạn chế, như năng lực tổ chức, khả năng quản trị của một số công ty còn yếu. Số lượng chuyên viên và trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ khoa học trong ngành gỗ thực sự chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Doanh nghiệp còn chưa nắm vững hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu và khả năng tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến còn chậm. Ngành gỗ Việt Nam đang còn thiếu cán bộ cả về chất lượng lẫn số lượng.
Quan trọng hơn, những nút thắt về quản lý Nhà nước cũng đã kìm hãm sự vươn lên của doanh nghiệp. Lãi suất vay ngân hàng, tỷ giá, thủ tục hoàn thuế, cũng như thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan cần tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp hoạt động.
Do vậy, để doanh nghiệp kinh doanh ngành gỗ Việt Nam có thể tận dụng được tối đa lợi thế do TPP đem lại, cần có cái nhìn sâu rộng về thể chế, tháo gỡ những khó khăn, những bất cập cho doanh nghiệp như rút ngắn thời gian nộp thuế, kê khai Hải quan, hoàn thuế cũng như cấp tín dụng kịp thời cho doanh nghiệp.
Tự bản thân mỗi doanh nghiệp cần thường xuyên cập nhật thông tin, tìm hiểu xu hướng phát triển của thị trường để đối phó với nguy cơ cũng như đương đầu với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. (Doanh Nghiệp Việt Nam 30/11) đầu trang(
Trong lúc ở nhiều nơi khác diện tích đất rừng ngày càng bị thu hẹp hoặc người dân bỏ trồng rừng, thì tại vùng đất Thạnh Hóa (Long An) nhiều hộ dân vẫn yên tâm gắn bó với cây tràm. Nhờ biết kết hợp trồng rừng với trồng xen hoa màu, người dân nơi đây có nguồn “lấy ngắn nuôi dài” để trồng rừng.
Những người dân sống lâu năm tại Thạnh Hóa cho biết trước đây vùng đất này là bạt ngàn cỏ dại, hoang hóa. Do đất bị nhiễm phèn nặng nên hầu như không có cây trồng nào sống được. Đến cuối những năm 1990, nhiều diện tích đất hoang hóa ở đây mới được người dân khai phá rộng rãi.
Nhận thấy khu vực này đất trống còn nhiều, trong khi nhiều người dân thiếu đất sản xuất, Viện Khoa học lâm nghiệp Miền Nam đã đề xuất tỉnh thực hiện dự án lâm nghiệp xã hội trong phạm vi 780ha đất (được tỉnh Long An giao). Dự án nhằm hỗ trợ đất sản xuất, tạo công ăn việc làm, tạo sinh kế cho những hộ dân nghèo địa phương, thông qua việc giao đất, hỗ trợ giống, kỹ thuật, kinh phí cho người trồng rừng.
Ông Kiều Tuấn Đạt - Viện trưởng Viện Khoa học lâm nghiệp Nam Bộ cho biết, tại vùng này có tổng cộng 52 hộ nghèo được nhận đất để trồng rừng. Mỗi hộ được giao 5ha, trong đó phần lớn diện tích đất được trồng tràm, còn số ít thì trồng hoa màu để lấy ngắn nuôi dài. Trong thời gian thực hiện dự án (20 năm – PV), người dân không phải đóng một đồng tiền sử dụng đất nào. Thậm chí các hộ còn được hỗ trợ cây tràm giống, kỹ thuật và được vay 8 triệu đồng/hộ để khai phá đất.
Cũng nhờ vậy nhiều người dân nghèo tại đây mới yên tâm khai phá đất hoang để trồng rừng. Chị Hồ Vũ Mộng Điệp (ấp 2, xã Thạnh An, huyện Thạnh Hóa) – một trong những người đầu tiên khai phá đất ở đây cho biết, trước đây nhà chị thiếu đất sản xuất, phải làm thuê, làm mướn. Khi được vận động vào khai hoang chị cũng tham gia, nhưng vào đến nơi thấy khu đất toàn cỏ dại, lau sậy um tùm khiến ai cũng ngán ngẩm. Nhiều người “bỏ của chạy lấy người”, còn vợ chồng chị vẫn quyết bám trụ và quần quật dỡ đất, khai hoang.
Dần dần nhờ có hệ thống kênh mương thủy lợi, nhiều người dân khác cũng yên tâm đến khai phá để có đất sản xuất. Người dân chủ yếu trồng tràm nước và cây khoai mỡ. Đến nay, tại khu vực lâm nghiệp xã hội - được xem là một trong những nơi giữ rừng tốt ở trong khu vực, diện tích rừng tràm nước được trồng tập trung lên đến hàng trăm ha.
Chị Điệp cho biết nhà chị có 5ha đất, trong đó 3ha trồng tràm nước, còn lại trồng khoai mỡ. Cây khoai mỡ hàng năm mang lại thu nhập cho gia đình chị hơn 60 triệu đồng, bên cạnh đó chị cũng có thêm nguồn thu nhập đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày bằng cách chăn nuôi. Theo tính toán của chị Điệp, tại vùng đất nhiễm phèn này, nhiều cây trồng không phát triển được, chỉ có cây tràm và khoai mỡ. Những năm qua tràm có giá, mỗi ha bán được trên 100 triệu đồng nên chị cũng yên tâm sản xuất.
Còn ông Nguyễn Văn Hưởn cho hay, ông gắn bó với rừng tràm nước từ 15 năm nay. Hiện gia đình ông có hơn 4ha rừng tràm. Bên cạnh đó ông còn sang lại 4ha từ các hộ khác để trồng chanh, ổi, chuối và chăn nuôi. Mỗi năm từ các cây trồng ngắn ngày, ông thu được khoảng 300 triệu đồng. Nhờ vậy mà ông có điều kiện bám rừng.
Tương tự, nhiều hộ dân trong khu vực dự án cũng có cuộc sống ổn định nhờ bám rừng và biết lấy ngắn nuôi dài. Ông Kiều Tuấn Đạt cho biết, mặc dù trồng rừng tràm mất nhiều thời gian (khoảng 6 – 7 năm), nhưng với vùng đất nhiễm phèn tại đây, việc trồng tràm là phù hợp nhất. Người dân tại đây cũng biết trồng xen canh để ổn định cuộc sống trong thời gian trồng tràm. Ngoài ra, họ cũng có thêm nguồn thu từ việc nuôi ong, và khai thác một số sản vật từ rừng… Đó còn chưa kể các lợi ích về môi trường từ rừng mang lại cho xã hội. (Dân Việt 29/11) đầu trang(
Hơn một năm nay, triển khai dự án phục hồi rừng ngập mặn ở xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có tác dụng giữ rừng mà còn giúp người dân địa phương phát triển kinh tế, phòng chống sạt lở bờ biển và ngăn cản các cơn gió bão một cách hiệu quả.
Hồi năm 1995, người dân đã chặt bỏ khu rừng ngập mặn hơn 100ha này để làm ao nuôi tôm, nhưng được một thời gian thì ao nuôi tôm bỏ hoang do giá tôm xuống thấp và tình trạng sạt lở diễn ra vào mùa mưa bão.
Để hạn chế tình trạng sạt lở đất và bờ đê sông Trường Giang UBND xã Tam Giang đã cầu cứu đến các cơ quan chức năng huyện Núi Thành có biện pháp hỗ trợ phục hồi lại cánh rừng ngập mặn nhằm bảo vệ đê và xóm làng này.
Đến tháng 6-2014, UBND xã Tam Giang được huyện Núi Thành chọn Trường ĐH Kinh tế Huế hỗ trợ 1ha cây đước, cây bần và cây mắm trồng thử nghiệm tại các thôn ở xã Tam Giang.
Khi trồng thử đạt kết quả cao, cây thích nghi phát triển xanh tốt. Lúc này, dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn do Ban quản lý dự án ứng phó với biến đổi khí hậu huyện Núi Thành triển khai và hoàn thành cuối tháng 8-2015, với tổng diện tích trồng phục hồi rừng ngập mặn là 27,45ha, trong đó trồng rừng 23,90ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung là 3,55ha, với tổng kinh phí hơn 3,1 tỷ đồng. Mục đích của dự án trồng và phục hồi rừng ngập mặn Tam Giang là nhằm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven sông và bảo vệ các bờ đê, gió bão.
Ông Nguyễn Ngọc Chính, trú thôn Đông Xuân, xã Tam Giang tâm sự: “Người dân chúng tôi biết được lợi ích từ việc trồng và bảo vệ rừng ngập mặn này và tôi cũng rất vui mừng khi dự án phục hồi rừng ngập mặn được thực hiện tại địa phương. Chúng tôi sẽ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc rừng trồng không để người dân chặt phá rừng như những năm về trước nữa. Ngoài ra, nếu chúng tôi bảo vệ tốt rừng ngập mặn phát triển trở thành nơi sinh sản và trú ngụ của tôm cá, chim chóc và cho đem lại hiệu quả kinh tế và lá chắn vững chắc của xóm làng trước những đợt sóng triều cường, gió bão”.
Ông Phạm Ngọc Châu, thôn Đông Xuân, xã Tam Giang cho biết: “Việc khôi phục rừng ngập mặn hết sức quan trọng đối với chính quyền và bà con nơi đây. Nên bà con chúng tôi đã cùng nhau ký vào cam kết trong quy chế ban hành quản lý và sử dụng rừng ngập mặn có hiệu quả, ai xâm hại đến rừng bị phát hiện sẽ xử lý nghiêm theo quy định”.
Ông Phạm Hồng Châu, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Giang cho biết: “Toàn xã có hơn 1.849 hộ dân, chủ yếu sinh sống bằng nghề biển và sông nước, ngày trước toàn xã có hơn 100ha rừng ngập mặn, là cây bần, cây đước để chắn sóng bảo vệ làng. Nhưng do người dân thấy nuôi tôm thẻ chân trăng hiệu quả chặt phá hết các cánh rừng ngập mặn này.
Đến năm 2007, con tôm hạ giá kèm với việc thua lỗ nên người dân đành bỏ hoang ao nuôi. Rừng mất, mỗi mùa gió bão xã rất lo sợ khu vực đê chắn sóng bị xói lở, nhất là cơn bão số 9 năm 2009, bờ đê chắn sóng và khu vực rừng miếu bị sóng đánh cuốn phăng, sông ăn sâu vào đất liền và ảnh hưởng đến động, thực vật sinh sống như: tôm, cá, cua, chim và cò dần dần thưa thớt. Trước tình trạng ấy, chính quyền và người dân đã lên kế hoạch khôi phục lại rừng này”. (Công An TP.HCM 29/11; Công Lý 30/11) đầu trang(
Báo Dân trí nhận được đơn của ông Nguyễn Ngọc Sơn (SN 1966), trú tại số 26/3, xã Tân Thắng - Quỳnh Lưu - Nghệ An có nội dung: “Ngày 22/01/1995, gia đình tôi được Nhà nước giao khoán tổng diện tích là 145 ha đất theo “Khế ước giao khoán đất rừng tự nhiên, có thảm thực vật cần bảo vệ thuộc rừng phòng hộ” số 49 KU/UB với thời hạn giao đất là 50 năm để xử dụng vào mục đích xây dựng rừng phòng hộ. Gia đình tôi đã tiến hành trồng rừng trên thửa đất được giao trong suốt mười năm trời.
Tuy nhiên, cuối năm 2003, UBND xã Tân Thắng đã lấy toàn bộ diện tích đất rừng thuộc trong phạm vi chuyển đổi của gia đình tôi đang quản lý, sử dụng (khoảng 20ha) để giao cho 2 xóm (xóm 26/3 và xóm 2/9) thầu khai hoang sản xuất với thời hạn là 05 năm. Đây là việc làm trái với quy định của pháp luật cũng như trái với điều khoản của Hợp đồng khi ngang nhiên lấy đất của gia đình tôi mà không có bất cứ một quyết định thu hồi đất nào cũng như không hề bồi thường cho chúng tôi.
Thế nhưng mãi sau khi bị lấy đất, tôi tìm hiểu thì mới biết UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định 1805 và được biết nội dung quyết định là cho chuyển đổi từ đất rừng kém hiệu quả sang đất sản xuất nông nghiệp chứ không phải thu hồi lại đất của gia đình tôi để cho các hộ khác sản xuất nông nghiệp như cách làm của UBND xã Tân Thắng.
Năm 2009, khi đã hết thời gian thầu sử dụng đất của các hộ được giao đất trái quy định nói trên, gia đình tôi được nhận lại đất để tiếp tục sử dụng. Tuy nhiên, ngày 06/9/2013, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quỳnh Lưu đã ra Quyết định số 57/QĐ-CT theo đó quyết định thanh lý Khế ước giao khoán đất cho gia đình tôi năm 1995 và đề nghị gia đình hoàn trả lại đất. Tuy nhiên, gia đình tôi không đồng ý và vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng đất.
Ngày 25/11/2013, UBND huyện Quỳnh Lưu đã ban hành Quyết định số 3946/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đầu tư xây dựng công trình bố trí sắp xếp dân cư vùng đặc biệt khó khăn tại xã Tân Thắng, huyện Quỳnh Lưu. Điều bất ngờ nhất là trong Phương án đính kèm quyết định này, gia đình tôi chỉ được bồi thường về hoa màu trên đất.
Tôi nhận thấy rằng việc UBND xã Tân Thắng lấy một phần diện tích đất rừng gia đình tôi đang quản lý, sử dụng để giao cho cá nhân khác sản xuất nông nghiệp và việc UBND huyện Quỳnh Lưu quyết định thu hồi đất của gia đình tôi nhưng không bồi thường về đất là trái với quy định của pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi”. (Dân trí 29/11) đầu trang(
Cty CP Thủy điện Nậm Chiến đã ký hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam. Nhưng từ năm 2013 đến nay Cty vẫn chây ỳ không chịu trả.
Điều đó thể hiện Cty Thủy điện Nậm Chiến không chỉ coi thường người dân bảo vệ rừng cung cấp nguồn nước cho thủy điện mà còn bất chấp các quy định của pháp luật.
Cty CP thủy điện Nậm Chiến xây dựng hai nhà máy thủy điện Nậm Chiến 1, Nậm Chiến 2 tại huyện Mường La (Sơn La). Lưu vực cung cấp nước cho hai nhà máy thủy điện này là diện tích rừng của huyện Mường La và hai huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu thuộc tỉnh Yên Bái.
Tổng diện tích rừng cung cấp nước cho hai nhà máy thủy điện là 33.044 ha. Trong đó diện tích rừng thuộc tỉnh Yên Bái 14.770 ha, Sơn La 18.274 ha.
Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 24/9/2010, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, quy định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, áp dụng đối với các nhà máy thủy điện, cơ sở SX và cung cấp nước sạch, cơ sở công nghiệp sử dụng trực tiếp nguồn nước, tổ chức kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ môi trường rừng.
Tiền các nhà máy thủy điện chi trả DVMTR là 20 đồng/kWh điện thương phẩm. Tại khoản 4, điều 5, Nghị định 99/2010/NĐ-CP quy định: “Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng”. Như vậy, số tiền đó do người sử dụng điện chi trả thông qua Cty cung ứng điện.
Thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP, ngày 30/5/2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã ký hợp đồng 09/2014/HĐUT-DVMTR với Cty CP Thủy điện Nậm Chiến về việc chi trả DVMTR. Mặc dù đã ký hợp đồng, nhưng Cty Thủy điện Nậm Chiến vẫn không tuân thủ các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng.
Ngày 25/9/2015, Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Việt Nam do ông Phạm Hồng Lượng - PGĐ và ông Nguyễn Văn Minh, TGĐ Cty Thủy điện Nậm Chiến ký biên bản làm việc.
Theo biên bản này Cty CP Thủy điện Nậm Chiến còn nợ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam 29.281.060.000 đ (29,281 tỷ). Trong đó, năm 2013 nợ 9,533 tỷ (lấy tròn số), năm 2014 nợ 15,292 tỷ, Quý I, II năm 2015 là 4,455 tỷ. Số tiền nợ này chưa bao gồm tiền trả lãi do chậm trả.
Cty CP Thủy điện Nậm Chiến cam kết trả 25 tỷ thành 5 đợt, mỗi đợt 5 tỷ, trong đó từ tháng 10 đến tháng 12/2015 trả 15 tỷ, tháng 1, 2/2016 trả 10 tỷ, còn lại trả nốt vào tháng 3/2016.
Tuy nhiên cho đến cuối tháng 11/2015 Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Việt Nam chưa nhận được xu nào từ Cty CP Thủy điện Nậm Chiến.
Số tiền 29,281 tỷ mà Cty Thủy điện Nậm Chiến nợ Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Việt Nam thực tế đã thu của người sử dụng điện, nhưng không chịu trả Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, chính xác hơn là không chịu trả cho người bảo vệ rừng hai tỉnh Sơn La và Yên Bái.
Căn cứ tiết b điều 19 của Nghị định thì Cty CP Thủy điện Nậm Chiến có nghĩa vụ thực hiện việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đầy đủ và đúng hạn theo hợp đồng cho chủ rừng.
Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Việt Nam có thể khởi kiện Cty CP Thủy điện Nậm Chiến do vi phạm Nghị định 99/2010 và hợp đồng 09/2014/HĐUT-DVMTR, hoặc người dân các huyện Mường La, Mù Cang Chải và Trạm Tấu buộc phải khởi kiện Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Việt Nam vì không thực hiện cam kết hợp đồng ủy thác theo Nghị định 99/2010.
Ông Kiều Tư Giang, GĐ Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng Yên Bái cho biết, trong số 29,281 tỷ mà Cty CP Thủy điện Nậm Chiến chưa trả cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam có hơn 10 tỷ chi trả cho người dân bảo vệ rừng tỉnh Yên Bái.
Hiện đã cuối năm, đây là thời gian phải thanh toán tiền cho người dân, nhưng Cty chưa trả thì quỹ biết ăn nói với người dân như thế nào đây? (Nông Nghiệp Việt Nam 29/11) đầu trang(
Chiều ngày 27-11, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng với tỷ lệ đồng ý hơn 92%.
Nghị quyết yêu cầu, trong năm 2016, xây dựng và hoàn thiện đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông trường, lâm trường quốc doanh hiện do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp không thuộc diện sắp xếp lại theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ban quản lý rừng và các tổ chức sự nghiệp khác, hộ gia đình, cá nhân sử dụng.
Nghị quyết nêu rõ, Quốc hội tán thành với Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả thực hiện, những hạn chế, nguyên nhân trong tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014 và các kiến nghị, đề xuất.
Quốc hội nhận thấy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các địa phương đã tích cực tổ chức thực hiện Nghị quyết số 28/NQ/TW ngày 16-6-2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và tổ chức thực hiện.
Thực hiện Nghị quyết 28/NQ/TW của Bộ Chính trị, các nông, lâm trường quốc doanh đã có nhiều cố gắng trong đổi mới mô hình tổ chức và cách thức tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh. Đã không ít công ty nông, lâm nghiệp sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao, từng bước thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường.
Hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội thời gian qua là các nông, lâm trường đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp và nông thôn, nhất là trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, góp phần ổn định xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh; từ hạt nhân là các nông, lâm trường quốc doanh đã hình thành nên các thị trấn, thị tứ ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Trải qua giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc quản lý sử dụng đất của các nông, lâm trường quốc doanh cùng lúc vừa phải giải quyết những hạn chế do quá khứ để lại, vừa phải tập trung chuyển đổi cách thức quản lý mới phù hợp với cơ chế, chính sách đất đai mới.
Trong 10 năm qua, việc quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường trong cả nước đã có bước chuyển biến tích cực, nhất là các đơn vị đã cổ phần hóa; tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, cho thuê, cho mượn đất đai trái pháp luật đã giảm; hiệu quả sử dụng đất nâng lên, góp phần nâng cao đời sống người lao động trong các nông, lâm trường.
Đến hết năm 2014, đã có 17,1% diện tích của các công ty nông, lâm nghiệp chuyển sang giao đất có thu tiền và thuê đất theo quy định của pháp luật; 46% diện tích các công ty nông nghiệp; 73% diện tích của các công ty lâm nghiệp và 64% diện tích ban quản lý rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quốc hội thấy rằng, việc quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường còn nhiều tồn tại, hạn chế, như: Tiến độ thực hiện rà soát, sắp xếp, đổi mới về quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường còn chậm; hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất đai còn thấp.
Tình trạng bản đồ và hồ sơ quản lý đất đai thiếu chính xác, không được chỉnh lý kịp thời, không phản ánh đúng thực tế quản lý, sử dụng đất; việc xác định ranh giới, cắm mốc và lập hồ sơ địa chính mới chủ yếu thực hiện trên sổ sách, chưa được xác định, chỉ dẫn, đo đạc trên thực địa đối với hầu hết các nông, lâm trường. Đối với diện tích đất bàn giao cho địa phương, hầu hết chưa được đo vẽ, lập bản đồ địa chính và phương án quản lý, sử dụng. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông, lâm trường còn chậm, không chính xác về ranh giới đất trên thực địa.
Tình trạng tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai, như lấn chiếm, cho thuê, cho mượn, chuyển mục đích, chuyển nhượng trái pháp luật trong các nông, lâm trường còn nhiều. Công tác quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra, xác định và xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân vi phạm còn nhiều hạn chế, chưa thực hiện thường xuyên và nghiêm túc.
Quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức của các nông, lâm trường còn lúng túng; hầu hết các nông, lâm trường mới thực hiện chuyển đổi tên gọi thành công ty hoặc ban quản lý mà chưa có sự thay đổi căn bản về phương thức hoạt động, cơ chế quản lý và điều hành dẫn đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh rất thấp, quản lý và sử dụng đất đai còn lãng phí và kém hiệu quả, chưa tương xứng với nguồn lực tài nguyên được Nhà nước giao quản lý, sử dụng. Còn thất thoát lớn tài nguyên, tài chính quốc gia.
Để tăng cường hiệu lực quản lý, hiệu quả sử dụng đất đai và nguồn tài chính, tài nguyên quốc gia thuộc các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng đất đai có nguồn gốc từ đất nông, lâm trường, Quốc hội yêu cầu Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chỉ đạo các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12-3-2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
Khẩn trương xây dựng, thẩm định và hoàn thành việc phê duyệt đề án sắp xếp, đổi mới của công ty nông, lâm nghiệp để tổ chức thực hiện theo mô hình mới. Thực hiện việc rà soát, xác định ranh giới, cắm mốc giới, đo đạc, lập bản đồ địa chính và hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo đúng quy định của pháp luật đối với các công ty nông, lâm nghiệp.
Đề ra giải pháp, xây dựng lộ trình đến hết năm 2016 có phương án, kế hoạch giải quyết dứt điểm cơ bản tình hình tranh chấp đất đai; xử lý các vi phạm pháp luật, đặc biệt là tình trạng lấn chiếm, chuyển nhượng, chuyển mục đích, cho thuê, cho mượn, giao khoán đất trái pháp luật, không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính. Tập trung chỉ đạo sớm giải quyết dứt điểm các trường hợp tự ý xây dựng công trình, nhà ở, cư trú trái pháp luật trong phạm vi đất, rừng do các công ty nông, lâm nghiệp quản lý. Thu hồi tài sản, đất đai và tài chính cho Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, năm 2016, xây dựng và hoàn thiện đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông trường, lâm trường quốc doanh hiện do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp không thuộc diện sắp xếp lại theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ban quản lý rừng và các tổ chức sự nghiệp khác, hộ gia đình, cá nhân sử dụng.
Tổ chức thực hiện nghiêm túc đề án trong giai đoạn 2016 - 2020. Quy hoạch, sắp xếp các điểm dân cư tập trung, tách ra khỏi diện tích đất đã giao cho các công ty nông, lâm nghiệp quản lý theo quy định của pháp luật. Tiếp tục rà soát, thu hồi diện tích đất sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng mục đích giao lại địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất ở địa phương quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai. Xây dựng, hoàn chỉnh chính sách bảo đảm thực hiện tốt việc giao đất, thu đúng, thu đủ tiền thuê đất, sử dụng đất.
Thứ ba, Ngân sách Nhà nước cân đối, bố trí hỗ trợ đủ cho các địa phương để thực hiện toàn bộ việc rà soát, xác định ranh giới, cắm mốc giới, đo đạc, lập bản đồ địa chính và hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp thuộc diện sắp xếp, đổi mới theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP trong hai năm 2015 - 2016.
Thứ tư, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hình thức phá sản công ty nông, lâm nghiệp, giải thể đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh không hiệu quả, thua lỗ kéo dài; cơ chế giao khoán sử dụng đất nông nghiệp của các tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật. Ban hành cơ chế, chính sách bảo vệ rừng, gắn với giảm nghèo bền vững; hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, người trồng rừng, quản lý, bảo vệ rừng có thu nhập từ rừng để bảo đảm ổn định cuộc sống.
Trên cơ sở rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng, xác định những diện tích đất, rừng phòng hộ xung yếu; quy hoạch, đưa diện tích đất, rừng bỏ hoang chưa sử dụng hợp lý trước đây, chuyển sang rừng sản xuất để phát huy hiệu quả kinh tế. Trên cơ sở đó, Nhà nước bảo đảm lực lượng và kinh phí để quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Thứ năm, tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, cá nhân khác, trong đó tập trung vào các công ty có biểu hiện vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai; xác định rõ trách nhiệm để xử lý nghiêm các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất tại công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, cá nhân khác có nguồn gốc đất đai từ nông, lâm trường quốc doanh; xử lý, thu hồi tài sản, tài chính theo quy định của pháp luật.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết này và những kiến nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Báo cáo số 958/BC-UBTVQH13 ngày 16-10-2015 về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương; xây dựng phương án phát triển công ty nông, lâm nghiệp gắn với đổi mới mô hình quản trị doanh nghiệp, tái cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp, phát triển bền vững, kết hợp với giảm nghèo.
Triển khai các giải pháp cụ thể, phù hợp với địa bàn để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất đai tại các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, cá nhân khác; công khai việc quản lý, sử dụng đất đai ở các công ty nông, lâm nghiệp; phát huy dân chủ, minh bạch trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai tại địa phương.
Hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này. (Nhân Dân 27/11) đầu trang(
Một chuyên gia môi trường của Nhật Bản đã tự nguyện gắn bó với Việt Nam hơn hai thập kỷ để hiện thực hóa ước mơ phủ xanh những vùng đất bị nước biển xâm thực.
Asano Tetsumi, chuyên gia tổ chức Action for Mangrove Reforestation (Hành động tái trồng rừng ngập mặn) từ nhỏ đã xác định sẽ làm nghề gì liên quan đến nông lâm nghiệp. Khi đang là sinh viên Đại học Hokkaido, anh quyết định dừng việc học khi vô tình đọc cuốn sách về việc trồng rừng ngập mặn ở Trung Đông và nộp đơn tham gia.
Dự án thất bại vì công ty này định trồng rừng ven biển và thu tiền của người dân địa phương nhưng không may người dân ở vùng đó lại không sống gần biển. Asano trở lại Nhật Bản và tốt nghiệp ngành nông nghiệp ở Đại học Kyushu.
Cơ duyên lại đến khi đầu những năm 1990, một tổ chức phi chính phủ ở Tokyo đề nghị Asano Tetsumi lựa chọn một trong ba nước Việt Nam, Myanmar hoặc Bangladesh để thực hiện dự án trồng rừng. Sau khi nghiên cứu, anh quyết định chọn Việt Nam. Năm đó, Asano tròn 30 tuổi. Asano lên đường mà không có bạn bè Việt Nam nào, không một chữ tiếng Việt bẻ đôi và khả năng tiếng Anh bập bẹ.
Việc đầu tiên anh làm là đi từ Quảng Ninh đến Cà Mau để tìm hiểu thực tế. Thời điểm đó, không có nhiều chương trình trồng rừng ngập mặn ở Việt Nam nên anh quyết định sẽ ở lại trong một thời gian dài.
"Tôi tiến hành dự án đầu tiên ở Thái Bình. Khi đó, tôi cùng với người dân địa phương tiến hành trồng 100 ha rừng. Rất may, tôi nhận được sự ủng hộ rất nhiệt tình của người dân và chính quyền địa phương. Ở đây ai cũng hiểu rõ vai trò của rừng ngập mặn, nên khi tôi đến đặt vấn đề, họ đồng ý ngay", Asano nhớ lại.
Mỗi lần trở lại nơi này và nhìn cánh rừng bạt ngàn, Asano cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Thậm chí anh không nhận ra đâu là ranh giới giữa cánh rừng của mình trồng và của những tổ chức khác trồng.
Sau 23 năm, cùng với địa phương, anh đã trồng được hơn 3.400 ha rừng ngập mặn ở các tỉnh ven biển từ Bắc đến Nam Việt Nam. Hiện tại anh vẫn làm việc cho Action for Mangrove Reforestation, một tổ chức chỉ có vỏn vẹn năm nhân viên.
Khác biệt về ngôn ngữ là một trong những trở ngại lớn nhất mà anh phải vượt qua trong những ngày đầu đến Việt Nam. Những năm đầu tiên, Asano không thể trò chuyện với người dân địa phương, nói gì đến việc hợp tác trồng rừng. Vốn tiếng Anh ít ỏi của anh trở nên vô dụng vì rất ít người Việt ở đây nói được tiếng Anh.
Giờ đây, Asano tự hào về khả năng nói tiếng Việt lưu loát mà không hề qua bất cứ trường lớp nào. Bên cạnh việc học lỏm tiếng Việt từ những người dân địa phương, anh luôn mang theo cuốn từ điển Nhật - Việt như bùa hộ mệnh. Nếu có ai không hiểu những gì anh muốn nói, anh lật từ điển ra và chỉ cho họ thấy từ ngữ đó.
Đi đâu anh cũng làm quen và trò chuyện với người bản xứ. Đặc biệt, mọi việc trở nên trôi chảy hơn khi anh gặp Giáo sư Sinh học Phan Nguyên Hồng (Đại học Sư phạm Hà Nội) và được sinh viên của thầy hỗ trợ thông dịch.
Người vợ Việt Nam là "từ điển" tiếng Việt quý giá nhất và cũng chính là món quà lớn nhất mà Asano có được khi đến Việt Nam. Anh đã tìm được hạnh phúc riêng ở ngay tại đất nước hình chữ S với người vợ hiền và hai đứa con ngoan.
"Sống ở Việt Nam gần 23 năm nên thỉnh thoảng cùng gia đình về Nhật chơi, tôi có cảm giác như đi nước ngoài," anh tâm sự.
Việt Nam không chỉ là gia đình mà còn là nơi Asano Tetsumi đã, đang và sẽ tiếp tục gieo ước mơ xanh của mình về những cánh rừng bất tận. (Thế Giới Và Việt Nam 28/11) đầu trang(
Tại Hội thảo với chủ đề: “Hai năm thực thi quy chế gỗ EU (EUTR) - Các nhà nhập khẩu tại EU cần gì từ các công ty Việt Nam”, nhiều ý kiến cho rằng, việc EU áp dụng EUTR kèm với sự phát sinh nhiều thủ tục mới đã trực tiếp tạo ra ảnh hưởng tới từng DN xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam.
Điều này cũng đang đòi hỏi DN cần cải tiến quy trình sản xuất để có thể giải trình một cách khách quan và minh bạch dòng chảy của gỗ hợp pháp trong suốt hành trình từ khai thác, vận chuyển, thương mại, chế biến, và sản xuất để ra được sản phẩm cuối cùng. Có thế mới có thể xuất khẩu đi châu Âu một cách “an toàn”.
Thị trường EU đóng một vai trò rất quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam, đứng thứ tư (sau Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Trung Quốc) với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 703 triệu USD năm 2014, và có khả năng vượt qua mức 800 triệu USD năm 2015.
Vì thế, khi kinh tế EU phục hồi cùng với sự khởi sắc của thị trường bất động sản sẽ làm tăng mạnh nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm đồ gỗ nội thất tại đây. Bộ Công Thương dự báo, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường EU trong năm 2015 tăng 5% so với cùng kỳ năm 2014.
Mặc dù EU là thị trường còn nhiều tiềm năng, nhưng khu vực này cũng được dự báo có nhiều rủi ro với xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam, đặc biệt là khi EU tiên phong trong việc đưa các quy định nghiêm ngặt về nguồn gốc hợp pháp của gỗ đối với tất cả các sản phẩm đồ gỗ nhập khẩu và nội địa. Quy định này được biết tới với cái tên là EUTR, được chính thức áp dụng vào ngày 3/3/2013.
“Tại Việt Nam, sau 2 năm thực thi EUTR, đã có nhiều vấn đề vướng mắc phát sinh. Ví dụ như làm sao giải trình được tính hợp pháp của gỗ tràm và gỗ cao su theo các tiêu chuẩn mà nhà nhập khẩu châu Âu chấp nhận”, ông Đào Tiến Dũng, Chánh văn phòng Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. HCM nói.
Thực tế cho thấy, sau hai năm đầu thực thi EUTR, việc DN đưa ra các chứng từ là không đủ để chứng minh gỗ đã được khai thác hợp pháp, vì vậy các yêu cầu đã dần được nâng lên.
“Các nhà nhập khẩu tại EU đang quay sang yêu cầu các bên trong chuỗi cung ứng của họ phải có các xác minh độc lập từ một bên thứ ba như là một biện pháp nhằm đảm bảo hệ thống trách nhiệm giải trình đủ mạnh và đáng tin cậy”, ông Peter Feilberg – Giám đốc điều hành NEPCon, tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Đan Mạch nhận xét.
Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng tại EU, ông Peter Feilberg cho rằng, đã đến lúc các công ty trong ngành gỗ Việt Nam phải thiết lập hệ thống trách nhiệm giải trình để đảm bảo gỗ nhập khẩu được sử dụng trong các công đoạn chế biến là gỗ có nguồn gốc hợp pháp. Ngoài ra, DN cũng cần xem xét việc được chứng nhận và xác minh tính hợp pháp từ bên thứ ba. (Thời Báo Ngân Hàng 27/11) đầu trang(
Với mục đích chống suy thoái rừng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, vừa qua, tại Đà Nẵng, Tổng cục Lâm nghiệp đã phối hợp với Ban thư ký Hiệp định ASEAN-Hàn Quốc về Lâm nghiệp (gọi tắt là Hiệp định AFoCo), tổ chức cuộc họp Hội đồng AFoCo lần thứ 7.
Tham dự cuộc họp có đại diện 10 nước trong khối ASEAN và Hàn Quốc, Ban thư ký ASEAN, Ban thư ký Hiệp định AFoCo. Thay mặt lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, phát biểu khai mạc cuộc họp, Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Bá Ngãi đánh giá cao sự nỗ lực, hợp tác của các nước thành viên trong khối ASEAN, cũng như sự phối hợp của Hàn Quốc trong vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng…
Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng đã dành nhiều thời gian để thảo luận và quyết định một số nội dung quan trọng trong khuôn khổ Hiệp định như: rà soát một số dự án vùng đang triển khai và sẽ triển khai trong khuôn khổ Hiệp định AFoCo; lựa chọn các cán bộ trẻ từ các nước ASEAN sang làm việc tại Văn phòng Ban thứ ký AFoCo trong năm 2016; xây dựng Chương trình tăng cường năng lực cho các nước ASEAN về hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và vai trò của cộng đồng địa phương trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách cho các hoạt động trong khuôn khổ Hiệp định AFoCo năm 2016; và thủ tục ký kết, phê chuẩn và gia nhập tổ chức AFOCO trong tương lai.
Kết thúc cuộc họp lần thứ 7 của Hội đồng AFoCo, Tổng cục Lâm nghiệp và Ban Thư ký AFoCo đã ký thỏa thuận thực thi dự án “Phục hồi và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ở tỉnh Thái Bình, Việt Nam”. Đây là dự án do AFoCo tài trợ với tổng kinh phí là 1,5 triệu USD và đã được Bộ Nông nghiệp và phát triên nông thôn phê duyệt. Đại diện Ban thư ký và các quốc gia Hiệp định AFoCo đánh giá cao những nỗ lực của Tổng cục Lâm nghiệp trong việc chủ trì, phối hợp tổ chức thành công cuộc họp lần này. (Lao Động Thủ Đô 28/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Người dân số tại một thị trấn nhỏ ở Áo đã tận dụng những chồng gỗ mục, nghiền vụn và tái chế thành năng lượng xanh.
Gỗ mục ở nơi khác có lẽ sẽ kết thúc vòng đời trong một căn bếp nào đó, nhưng ở thị trấn Guessing của nước Áo, nó lại được nghiền vụn và tái chế thành năng lượng xanh.
Từng là một trong những thị trấn nghèo nhất nước Áo, nhưng Guessing đã dần lột xác và trở thành một địa phương không chỉ phát triển kinh tế, mà còn có bầu không khí trong lành. Những chồng gỗ mục đã mang lại thêm công ăn việc làm cho người dân trong nhà máy tái chế năng lượng. Bầu không khí cũng trở nên trong lành hơn khi lượng khí Carbonic được giảm thiểu rõ rệt.
Năm 2001, Guessing trở thành thị trấn đầu tiên tại Liên minh châu Âu sản xuất được toàn bộ điện năng từ năng lượng sạch. Mô hình này đã được các nhà môi trường khuyến khích được nhân rộng tại nhiều nước. (Đài Truyền Hình Việt Nam 28/11) đầu trang(
Điều huyền diệu về một cuộc hành trình vào rừng, cất bước trên con đường mòn dưới tán cây rộng, tiếng chim hót…từ rừng mưa nhiệt đới Amazon hay Borneo đến rừng Sherwood ở Anh.
Rừng mưa Amazon, Brazil: Chúa tể của rừng rậm nhiệt đới, về ao hồ Amazon thuộc Brazil đầy ấn tượng với diện tích khoảng 5,2 triệu km vuông, tán lá rậm rạp trải qua 9 quốc gia thuộc lưu vực Amazon của Nam Mỹ, trong đó khoảng 60% rừng Amazon thuộc Brazil.
Vùng Amazon, Peru: Peru chiếm khoảng 13% diện tích của khu rừng nhiệt đới Amazon, đến đây du khách có thể thực hiện chuyến hành trình đi bộ được hướng dẫn cùng với những nhà thực vật học và có các chuyến xe đạp dọc theo Rio Madre de Dios.
Khu đất của vùng rừng mây Montevede, Costa Rica: Rừng ở Costa Rica dường như ít rậm rạp hơn nhiều so với rừng nhiệt đới Amazon. Khu đất rừng mây Monteverde rộng hơn 10 nghìn km vuông nằm ở phía Tây bắc.
Công viên quốc gia núi Great Smoky, Mỹ: Nằm ở hai phía của dãy núi Blue Ridge và núi Appalachian. Công viên quốc gia được ghé thăm nhiều nhất ở Mỹ với khoảng 10 triệu khách du lịch mỗi năm.
Rừng mưa nhiệt đới Borneo, Malaysia: Đảo rộng lớn nhất của Châu Á hợp nhất 3 quốc gia Malaysia, Brunei và Indonesia và được xem là rừng mưa nhiệt đới xa xưa nhất trên hành tinh với 140 triệu năm tuổi. Hơn 300 loài sống trên cây và 1.500 loài thực vật phát triển nhờ ánh sáng mặt trời.
Rừng mưa nhiệt đới Daintree, Úc: Daintree rộng 1,200 km vuông, là một người bạn đồng hành của Great Barrier Reef, khu vực sinh sống của hơn 90% loài dê và bướm của quốc gia với bộ lá nhiệt đới bao phủ biên giới biển Queensland.
Rừng mưa nhiệt đới Châu Phi, Gabon: Gabon là sự lựa chọn lý tưởng cho du khách muốn có cái nhìn tổng thể với một vùng hỗn độn trong khu rừng rậm nhiệt đới này. Quốc gia được cho là an toàn bởi cơ quan toàn dân, ngoại quốc…sau sự tàn phá rừng, vận chuyển gỗ ở các tiểu bang láng giềng.
Assam, Ấn Độ: Những người đi tham quan hàng cây khổng lồ nên thăm cả phía Đông Bắc nơi có cảng Assam, Nepal and Bangladesh, và bao gồm công viên quốc gia Kaziranga, là nhà của khoảng 2.400 con tê giác một sừng quý hiếm.
Công viên rừng Bratislava, Slovakia: Slovakia có một đường cỏ bị cắt ngang trong rừng ở rìa phía bắc của thủ đô hấp dẫn mỹ lệ. Được cắm chặt trong vòng những đồi thấp dưới chân núi của dãy núi Little Carpathians, công viên rừng Bratislava với 50 loài chim như chim ưng, chim ó... những con hươu, con nai chạy thong thả như là chúng đang ở vùng ngoại ô của thành phố.
Rừng Sherwood, Anh: Khu rừng tự nhiên Sherwood rộng khoảng 1.800 km vuông, những con đường mòn dẫn đến các cây sồi nghìn năm tuổi như là cuộc gọi giữa con cú muỗi và con chim chiền chiện trong rừng. (Lao Động 28/11) đầu trang(
Công chúa nhạc đồng quê đang gấp rút quay những cảnh cuối cùng cho MV mới thuộc album "1989" tại New Zealand. Nhưng bất ngờ, cô bị tổ chức bảo vệ động vật Auckland tuýt còi.
Ê-kíp của giọng ca Blank Space đã bị khiển trách khi gây ra những tổn hại nhất định đến môi trường sống loài choi choi – một giống chim đặc trưng của Auckland nhưng đang trên bờ vực tuyệt chủng. Số lượng loài này hiện chỉ còn rất ít và chúng chủ yếu cư trú tại bờ biển Bethells nơi Taylor Swift đang quay MV mới.
Theo các nhà chức trách, đội ngũ của ca sĩ Mỹ chỉ được phép đem 2 phương tiện giao thông nhỏ và gây ít tiếng ồn vào bãi cát, nhưng thực tế họ lại sử dụng nhiều xe tải lớn ra vào để chuyên chở thiết bị và người.
“Không hiểu nổi tại sao một số lượng lớn phương tiện giao thông lại tự do ra vào và đỗ tại bãi biển như vậy”, giám đốc trạm kiểm lâm địa phương Waitakere chia sẻ với đài Radio New Zealand.
Tuy nhiên, nữ ca sĩ lại được đơn vị quay MV phản pháo hộ. “Không có mất kỳ một con chim choi choi bị hại cả”, Cherokee Films đáp lời trước cáo buộc rằng họ lờ đi các luật lệ về bảo vệ giống chim trong sách đỏ. “Taylor Swift và ê-kíp đã không làm gì vi phạm đến những yêu cầu về bảo vệ tự nhiên. Bản thân chúng tôi luôn là nhà hoạt động năng nổ trong tiến trình bảo tồn giống choi choi. Sắp tới Cherokee Films sẽ có khoản đóng góp cho chương trình nhân giống loài chim quý này”.
Theo Cục bảo tồn động vật New Zealand, quốc gia này chỉ còn 1.700 con chim choi choi còn sót lại – giống chim được yêu quý bởi tiếng kêu đặc trưng. Cơ quan này đã đưa ra lời cảnh báo các cá nhân can thiệp vào môi trường sống của choi choi nên chú ý vì chúng rất nhỏ, tổ của chúng thường ở nơi khuất tầm nhìn nên hay bị con người vô tình xâm hại. (Zing News 27/11) đầu trang(
Mỗi lần “search” - tìm kiếm thông tin trên mạng - bằng công cụ Ecosia, con số ở góc trên, bên phải màn hình tăng thêm một đơn vị = số cây xanh do bạn góp công “trồng” cùng với những người khác trên thế giới.
Báo The Guardian nhận xét: “Lựa chọn sử dụng Ecosia và bạn sẽ thật sự giúp đỡ môi trường này bằng mỗi lần tìm kiếm của mình”.
Ecosia là công cụ tìm kiếm thân hiện với môi trường được hỗ trợ bởi Yahoo, Bing và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF).
Trong năm 2015, Ecosia phối hợp với tổ chức WeForest (Bỉ) và Tổ chức Doanh nhân không biên giới trồng cây ở quốc gia Burkina Faso (châu Phi) với thông điệp rồng cây gây rừng giúp cải thiện khí hậu và đời sống của người dân nơi đây.
Dự án trồng cây này là một phần của Africa's Great Green Wall (Bức tường xanh châu Phi), khởi xướng bởi Liên minh châu Phi và Ngân hàng Thế giới.
Như các công cụ tìm kiếm khác, Ecosia kiếm tiền nhờ vào quảng cáo đặt cạnh kết quả tìm kiếm. Nhưng ít nhất 80% lợi nhuận (sau khi đã trừ các khoản chi phí tiếp thị, cơ sở vật chất, lương bổng, thuế,…) của Ecosia được đóng cho chương trình trồng rừng ở nhiều nơi trên thế giới.
20% còn lại được để dành cho các sản phẩm tương lai của Ecosia. Trong thời điểm hiện tại, họ đang đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo.
Bạn có thể cài đặt tiện ích Ecosia vào trình duyệt web của mình. Điều làm cho Ecosia thu hút chính là ý tưởng: người dùng Internet thoải mái “search” tại nhà mà vẫn có thể góp sức trồng rừng ở một nơi nào đấy trên trái đất.
Trang chủ www.ecosia.org cho biết hiện có gần 2,5 triệu người dùng. Mỗi 1 search, Ecosia kiếm được 0,5 cents quảng cáo. Trung bình cứ mỗi 13 giây, Ecosia đủ tiền trồng một cây mới. Với sự mệnh chống lại nạn phá rừng, Ecosia đặt mục tiêu trồng được một tỷ cây xanh đến năm 2020.
Ecosia hoạt động khá minh bạch do mọi thông tin số liệu, xác nhận sự đóng góp đều có thể tìm thấy trên trang web của họ. (Tuổi Trẻ 27/11) đầu trang(
Trong bối cảnh các vụ cháy rừng, cháy đất trong mùa khô vừa qua đã để lại nhiều hậu quả cho môi trường ở Indonesia, Tổng thống Joko Widodo trong chuyến thăm công viên Sultan Forest Adam ở tỉnh Nam Kalimantan nhân ngày lễ trồng cây 26/11 đã yêu cầu chính quyền địa phương thực hiện những nỗ lực phòng cháy bền vững nhằm ngăn chặn thảm họa cháy trong tương lai.
Tỉnh Nam Kalimantan đã tổ chức ngày lễ trồng cây với kế hoạch trồng 10.000 cây xanh nhằm bù đắp cho môi trường bị tàn phá do cháy rừng. Chính phủ Indonesia cũng đang chuẩn bị cho kế hoạch phục hồi hệ sinh thái than bùn nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên đất than bùn đã bị hư hại nặng nề trong các vụ cháy rừng, cháy đất mùa khô vừa qua.
Sau một cuộc họp hẹp tại Văn phòng Phó Tổng thống, Bộ trưởng Môi trường và Lâm nghiệp Siti Nurbaya Bakar nhấn mạnh sự cần thiết của việc quản lý và sử dụng tốt nhằm khôi phục hệ thống đất than bùn đã bị tổn hại với sự tham gia của các cơ quan chính phủ có liên quan và các chuyên gia.
Vì vậy, Chính phủ Indonesia đang xem xét thành lập một cơ quan chuyên trách, sử dụng các lao động chuyên ngành và được giao nhiệm vụ giám sát, kiểm soát các hoạt động trong lĩnh vực khôi phục hệ sinh thái than bùn; triển khai các biện pháp giúp tăng tốc độ phục hồi của hệ sinh thái than bùn.
Cơ quan này sẽ sử dụng nguồn nhân lực từ Bộ Công trình công cộng và nhà ở, Bộ Nông nghiệp, Cơ quan kế hoạch phát triển quốc gia và cơ quan thông tin địa lý không gian (GIA).
Mặc dù được xếp hạng thứ ba về độ giàu có các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưng Indonesia đã trở thành “nhà sản xuất khí thải” lớn thứ 6 trên thế giới. Chính phủ Indonesia đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm tới 29% lượng khí thải carbon.
Nước này cũng đang hợp tác với Phần Lan trong nỗ lực nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất than bùn, vừa mang lại giá trị kinh tế, vừa hạn chế nạn cháy đất, cháy rừng tồn tại nhiều năm qua, gây nhiều thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân quốc đảo. (Vietnam + 27/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||