Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 06 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Bước vào mùa hanh khô năm 2016, để đảm bảo cho 1.384 ha rừng trên địa bàn sinh trưởng và phát triển tốt, xã Gia Hòa, huyện Gia Viễn đã triển khai nhiều giải pháp trồng, chăm sóc, quản lý, đặc biệt là các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Để phòng chống cháy rừng hiệu quả, UBND xã Gia Hòa đã xây dựng cụ thể phương án bảo vệ rừng trong đó đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền.
Thông qua hệ thống truyền thông 3 cấp kết hợp với các cuộc họp ở thôn xóm, Ban Lâm nghiệp của địa phương đã tích cực phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức cho bà con nhân dân ở 16 thôn, trong đó có 7 thôn liền kề với đất rừng về tầm quan trọng của rừng đối với đời sống. Qua đó làm cho người dân, nhất là các chủ rừng xây dựng được ý thức tự chủ, ý thức tự giác chấp hành và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trách nhiệm về trồng, bảo vệ  rừng.
Cùng với công tác tuyên truyền, xã cũng tập trung kiểm tra và đầu tư các dụng cụ cho các lực lượng chữa cháy nhằm ứng phó kịp thời với mọi tình huống có thể xảy ra.
Đặc biệt trong thời điểm nắng nóng như hiện nay, xã Gia Hòa đã tích cực chỉ đạo các thôn, xóm tăng cường kiểm tra công tác phòng chống cháy rừng, phương án chữa cháy của các chủ rừng; hướng dẫn các chủ rừng phát, dọn thực bì theo đúng quy trình, xây dựng các chòi canh lửa, đường băng cản lửa, chuẩn bị đầy đủ phương tiện và công cụ phục vụ tốt công tác phòng chống cháy rừng, hạn chế thấp nhất thiệt hại xảy ra. (Báo Ninh Bình 29/6) đầu trang(
Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HU, ngày 15/5/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tuần Giáo về “Một số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2013 – 2015”, không chỉ hoàn thành mục tiêu bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, huyện Tuần Giáo đã trồng, phát triển rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 35%.
Nghị quyết 03-NQ/HU đã góp phần tăng cường khả năng lãnh đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước và nâng cao ý thức, trách nhiệm của nhân dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HU, huyện Tuần Giáo đã tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát trong việc thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đến các cơ quan, đoàn thể và các xã, thị trấn trên địa bàn. Xác định quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách và thường xuyên, hàng năm, huyện Tuần Giáo tổ chức kiểm tra, đánh giá vai trò trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Huyện đã thành lập, kiện toàn và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách về quản lý bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) cấp huyện và ban chỉ huy PCCCR của 19/19 xã, thị trấn. Toàn huyện đã thành lập 223 tổ, đội xung kích PCCCR ở các khối, bản với 2.223 thành viên. Song song với công tác bảo vệ và PCCCR, huyện Tuần Giáo chủ động xây dựng kế hoạch, phương án để hoàn thành kế hoạch chăm sóc, phát triển và trồng rừng hàng năm.
Bà Phạm Thị Tuyên, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuần Giáo cho biết: Nghị quyết số 03-NQ/HU của Huyện uỷ đã tác động mạnh mẽ đến từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng.
Các điểm “nóng” về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện từng bước được đẩy lùi, ngăn chặn hiệu quả; bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có, trồng và phát triển nhiều diện tích rừng mới, tăng tỷ lệ che phủ, duy trì môi trường sinh thái, nguồn nước phục vụ nông nghiệp, thủy điện góp phần giảm nhẹ thiên tai, lũ lụt, ổn định đời sống nhân dân, từng bước xã hội hóa nghề rừng, chủ rừng gắn bó với rừng.
Tại buổi tổng kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 03-NQ/HU vào ngày 23/6 vừa qua, một trong những kết quả xuất sắc nhất được nêu rõ, đó là: Sau 3 năm, huyện Tuần Giáo không chỉ quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng mà còn phát triển thêm nhiều diện tích rừng mới, góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng và giúp người dân gắn bó với rừng. Từ năm 2013 đến nay, toàn huyện đã hoàn thành việc giao khoán, bảo vệ 581,5ha rừng trồng; khoanh nuôi tái sinh, phục hồi 2.540,5ha rừng.
Ngoài công tác quản lý, bảo vệ rừng, huyện Tuần Giáo luôn hoàn thành và vượt kế hoạch trồng rừng, trồng cây phân tán hàng năm. Trong 3 năm (2013 – 2015), toàn huyện đã thực hiện trồng 3.409.330 cây; đạt 378,8%, vượt 278,8% Nghị quyết đề ra. Cụ thể: Năm 2013, trồng được 629.110 cây; năm 2014 trồng 1.065.650 cây và năm 2015 trồng 1.714.570 cây các loại. Ngoài ra, huyện Tuần Giáo đã thực hiện tốt “Dự án trồng cây lâm nghiệp phân tán giai đoạn 2011 – 2020 trên địa bàn tỉnh”.
Một số xã điển hình trong công tác trồng rừng như: Quài Tở, Quài Nưa, Tỏa Tình và thị trấn Tuần Giáo… Cùng với đó, huyện Tuần Giáo đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm, các cơ quan chức năng chủ động phối hợp với UBND các xã thuộc đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng, nghiệm thu diện tích rừng cho 95 cộng đồng và 139 hộ gia đình, đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã chi trả trên 37 tỷ đồng.
Ông Trần Xuân Ban, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo cho biết: Từ năm 2013 đến nay, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm đáng kể, cụ thể: Năm 2013, Hạt Kiểm lâm lập biên bản và xử lý 96 vụ vi phạm; năm 2014, xử lý 60 vụ vi phạm, giảm 32% so với năm 2013; năm 2015, xử lý 30 vụ vi phạm, giảm 50% so với năm 2014.
Nhân dân đã nâng cao ý thức, trách nhiệm và chủ động trong công tác bảo vệ và PCCCR. Mùa khô năm 2016, huyện Tuần Giáo đã xảy ra 5 vụ cháy rừng và đất lâm nghiệp với tổng diện tích cháy là 581ha. Khi xảy ra cháy, ngoài lực lượng của UBND huyện, xã, thị trấn, kiểm lâm, công an, bộ đội còn có sự tham gia tích cực của trên 1.100 người dân trong công tác chữa cháy rừng.
Nhờ đó, thiệt hại do cháy rừng gây ra giảm đáng kể, 100% diện tích rừng bị cháy đều có thể tự phục hồi. Được biết, tại lễ tổng kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HU về “Một số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2013 – 2015”, Huyện ủy Tuần Giáo đã khen thưởng 10 tập thể và 42 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Điện Biên Phủ 29/6) đầu trang(
Với quyết tâm không để mất rừng- nhất là rừng đặc dụng, khu bảo tồn rừng đặc dụng Đắk Uy đã được cấp kinh phí 27,5 tỷ đồng để đầu tư xây dựng 13,5 km hàng rào, 6 trạm dừng nghỉ cùng 2 chòi canh lửa.
Tại văn bản số 456/TTg-KTN ngày 6/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ thì khu bảo tồn rừng đặc dụng Đắk Uy nằm trên địa bàn xã Đắk Mar và xã Đắk Hring, (Đắk Hà, Kon Tum) được đầu tư xây dựng tường rào bảo vệ và các hạng mục khác, từ nguồn kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2011, 2012 còn tồn lại của tỉnh Kon Tum.
Theo ông Đặng Hải Triều,  Giám đốc Ban Quản lý dự án trực thuộc Sở NN&PTNN tỉnh Kon Tum: “UBND tỉnh Kon Tum đã có Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 27/04/2016  phê duyệt dự toán công trình bao gồm tường rào, các công trình bảo vệ, chòi canh lửa với tổng kinh phí đầu tư trên 27,5 tỷ đồng. Trong đó, chi phí xây dựng gần 22,1 tỷ đồng; chi phí quản lý dự án 429,9 triệu đồng; chi phí tư vấn xây dựng hơn 2 tỷ đồng; chi phí dự phòng hơn 2,2 tỷ đồng; chi phí khác 647 triệu đồng. Công trình sẽ được hoàn thành vào tháng 12 năm 2016”.
Ông Triều cũng cho biết thêm: “Việc 546 ha rừng đặc dụng Đắk Uy được xây tường rào xung quanh cũng nhằm bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật quý hiếm, đặc biệt là loài gỗ trắc. Ngoài ra còn để thuận lợi cho việc quản lý bảo vệ có hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất tình hình xâm hại tài nguyên rừng”.
Ông A Riu – Giám đốc khu bảo tồn rừng đặc dụng Đắk Uy cho biết: “Hiện tại tổng diện tích của rừng là 546 ha, bao gồm nhiều loại gỗ như: Trắc, sao, sến, dỗi…nhưng gỗ trắc thì còn rất ít và leò tèo cây nhỏ , có đường kính khoảng15-20cm. Cũng theo ông A Riu, dù "muộn còn hơn" và khi tường rào được xây dựng, việc bảo vệ sẽ che chắn tốt hơn, lâm tặc khi  vượt qua hàng rào vào chặt phá rừng đặc dụng thì hành vi xử lý sẽ khác hơn”.
Quyết tâm bảo vệ là vậy! Tuy nhiên theo chúng tôi việc xây dựng tường rào cùng các hạng mục khác nhằm bảo vệ các loại gỗ quí cũng những động vật quí hiếm trong khu bảo tồn rừng đặc dụng Đắk Uy có thực sự cần thiết và đem lại hiệu quả hay không, khi mà hiện trạng khu rừng này hầu như không còn nhiều loài động vật quý hiếm và lượng gỗ quí cũng chẳng còn được là bao!  (Tầm Nhìn 29/6) đầu trang(
Nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của tài nguyên rừng đối với các hoạt động phát triển KT - XH và bảo vệ môi trường sinh thái, những năm qua, tỉnh ta đã tập trung, chỉ đạo cấp uỷ và chính quyền các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ; đồng thời tích cực phát triển các mô hình kinh tế trang trại lâm nghiệp, trang trại đồi rừng nhằm khai thác tối đa các nguồn lợi từ rừng.
Hiện nay, toàn tỉnh có trên 33.000 ha rừng, trong đó rừng đặc dụng là hơn 15.000 ha; rừng phòng hộ là 4.000 ha; rừng sản xuất là 13.000 ha. Các nguồn lợi thu được từ phát triển kinh tế đồi rừng trong những năm qua đã và đang góp phần nâng cao thu nhập cho người dân tại một số địa phương có rừng trong tỉnh. Do vậy, công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng ngày càng được các ngành chức năng, chính quyền các cấp quan tâm, chú trọng.
Phát huy vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo trực tiếp các Hạt hướng dẫn Kiểm lâm phụ trách địa bàn lập đầy đủ hồ sơ, cải tiến phương pháp ghi chép, cập nhật theo hệ thống mẫu biểu thống nhất trong từng khâu như: Quản lý rừng, đất rừng; phát triển rừng; bảo vệ rừng... Nhờ vậy, công tác bảo vệ và phát triển rừng, phòng chống cháy rừng được thực hiện ngày càng có hiệu quả.
Trong thời gian tới, lực lượng kiểm lâm các cấp trong tỉnh cần tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt; tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi tổ chức, từng cá nhân trong công tác phát triển bền vững và bảo vệ hiệu quả tài nguyên rừng tại địa phương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Vĩnh Phúc 29/6) đầu trang(
Ông Đinh Viết Khánh - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đông Giang cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2016, qua công tác phối hợp tuần tra kiểm soát, các ngành chức năng địa phương đã phát hiện và lập biên bản xử lý 25 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
Trong đó, có 17 vụ khai thác rừng trái phép và vi phạm các quy định về bảo vệ rừng; 1 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; 1 vụ vi phạm bảo vệ động vật rừng; 5 vụ khai thác khoáng sản trái phép và 1 vụ vi phạm do đốt rẫy gây cháy rừng. Qua đó, các ngành chức năng huyện Đông Giang đã khởi tố hình sự 1 vụ với một đối tượng về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật; thu giữ tang vật gồm hơn 10m gỗ tròn, gần 8m3 gỗ xẻ, 15kg động vật rừng, cùng 4 phương tiện ô tô và 3 mô tô. Xử phạt vi phạm hành chính với số tiền hơn 100 triệu đồng.
Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm Đông Giang cũng đã phối hợp với UBND các xã, thị trấn và các ban quản lý rừng phòng hộ tổ chức 16 đợt tuần tra, truy quét tại các địa bàn thường xảy ra tình trạng khai thác lâm khoáng sản trái phép; tổ chức chốt chặn tại các khu vực trọng điểm về khai thác lâm khoáng sản, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật tại địa bàn các xã Ba, xã Tư nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời. Kết quả, đã phá hủy 28 lán trại, 18 máy nổ, 8 máy khoan cầm tay, 4 máy phát điện, 7 bình nén khí và chặt phá 1.400m ống dây dẫn nước, cùng tiêu hủy 430 lít dầu diezen, đẩy đuổi hàng trăm đối tượng ra khỏi rừng. (Báo Quảng Nam 29/6) đầu trang(
Chính phủ đã có có chủ trương đóng cửa tất cả rừng tự nhiên. Đó là mệnh lệnh, không thể chậm trễ thực hiện, cho dù đến bây giờ mệnh lệnh đó mới được ban ra là quá muộn. Trước đây đã từng có chủ trương đóng cửa rừng song chẳng ai nghe theo cả và mức độ tàn phá rừng như thế nào, chẳng cần liệt kê ra thì mọi người đã rõ.
Một trong luật ít đi vào cuộc sống nhất chính là Luật Bảo vệ rừng. Thay thế vào đó là “luật rừng”, biến những người có trách nhiệm bảo vệ rừng thành lâm tặc, họ xử sự theo “luật rừng” và 'kết quả' lớn nhất của họ được ghi nhận là “cơ bản phá xong rừng”!
Dẫn chứng mới nhất là phiên tòa xử vụ phá rừng đặc dụng lớn nhất Đà Nẵng đang mở ra trong những ngày này. Cả "bộ sậu" một Trạm bảo vệ rừng đã thành bị cáo vì tội nhận hối lộ để người ta phá rừng. Họ nhất trí cao với lâm tặc nhận tiền triệu cho 1 xe gỗ đi qua.
Thiệt hại vật chất cho việc phá rừng này khoảng 700 triệu đồng, họ nhận được 30 triệu, nhưng thiệt hại môi trường, thiệt hại niềm tin vào pháp luật thì làm sao tính toán được. Ngoài những người bảo vệ rừng này ra, cán bộ Kiểm lâm cũng tiếp tay cùng lâm tặc nhằm giảm tội, rất may và rất tiếc là các quan chức kiểm lâm “nhúng chàm” này chỉ bị xử lý hành chính.
Rừng bị tàn phá một cách có hệ thống và những vụ phá rừng quy mô đều có bàn tay của một số các cán bộ chính quyền, bảo vệ pháp luật và lực lượng bảo vệ rừng.
Có những con đường lâm nghiệp được mở ra bằng tiền thuế của dân chỉ phục vụ mục đích... phá rừng. Không ít cán bộ giàu lên, có khối tài sản bất minh lớn là do "công cuộc" phá rừng mang lại cho họ. Hệ lụy của việc phá rừng ảnh hưởng trực tiếp đến sự công minh, công bằng pháp luật.
Đóng cửa rừng ngay và bằng mọi giá để giữ lại rừng tự nhiên còn sót lại hiện nay. Cứ để rừng tự nhiên phát triển xin đừng phá đi để trồng mới làm gì. Dân đã chịu lũ ống, lũ quét, hạn hán, ngập lụt, lở đất, người chết..., do phá rừng mang lại đã quá nhiều rồi.
Cha ông để lại cho chúng ta rừng vàng, biển bạc và chúng ta đã thừa kế như thế nào, có còn gì để lại cho con cháu mai sau không?! (Pháp Luật Việt Nam 30/6) đầu trang(
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ra lệnh đóng cửa rừng, đây có thể xem là một quyết định quan trọng nhất của chính phủ để cứu lấy môi trường. Nhất là trong bối cảnh xã hội đang “lưu truyền” một câu nói khôi hài nhưng quá đau rằng, “về cơ bản chúng ta đã phá sạch rừng”…
Những năm 1980, 1990, lâm tặc gắn với hình ảnh những người dân, kiếm củi, săn ong, làm nương rẫy, họ xếp hàng ngang chụp ảnh, trước mặt là những đống củi tang vật.
Tôi đã trò chuyện với nhiều người trong số họ, không ai nhận mình là người phá rừng cả.
- Chúng tôi chỉ bẻ nhánh nhặt cành, chứ làm sao phá được rừng, rừng là nguồn sống của chúng tôi mà.
Già làng cũng nói vậy.
- Có những điều luật rất khắt khe để bảo vệ rừng. Như không được chặt cây con, không bắt những con thú nhỏ hoặc đang chửa, vay nợ của rừng phải trả (những người phụ nữ Tây Nguyên sinh con mà không có sữa chẳng hạn, họ sẽ “vay” sữa của những cây sung). Ngay bắt một tổ ong, họ cũng không tận diệt như một số người hiện nay là dùng lửa đốt mà họ chỉ khéo léo lấy mật, còn vẫn bảo vệ đàn ong để chúng tiếp tục sinh sôi nảy nở.
Khoảng năm 2008, 2009, khi cao su Việt Nam có giá trên thị trường thế giới, mà người thu mua trực tiếp là các thương lái Trung Quốc, thì xuất hiện chủ trương đổi rừng nghèo để trồng cao su. Bắt đầu cho cuộc tàn phá rừng lớn nhất trong lịch sử, kéo theo là nạn di dân tự do mà di họa của nó sẽ còn kéo dài hàng thế kỷ nữa.
Ngay từ khi ấy, đã có nhiều ý kiến cho rằng, không thể đổi rừng lấy cao su, dẫu là rừng nghèo. Cũng có ý kiến đối lại, cao su cũng là rừng. Mà rừng này lại sinh lợi, những cái lợi thấy ngay, bà con người dân tộc thiểu số có việc làm, sẽ trở thành công nhân cao su, có thu nhập và tức là sẽ đổi đời. Ý kiến bảo vệ rừng gay gắt hơn: Rừng là môi trường sống của người Tây Nguyên, mất rừng người Tây Nguyên sẽ bơ vơ ngay trên mảnh đất của mình. Rừng làm nên văn hóa Tây Nguyên, bản sắc Tây Nguyên, đời sống Tây Nguyên. Không còn rừng sẽ không còn Tây Nguyên...
Nhưng tiếng nói của lợi nhuận đã thắng thế, có vẻ như chẳng ai mất gì, dân có việc làm, cán bộ có vườn cao su tiểu điền, công ty có hàng chục ngàn hécta cao su, còn gỗ thì tha hồ mà chặt, khi đã có chủ trương trong tay, rừng nghèo hay rừng già cũng ở trong rừng, chỉ có địa phương mới biết…
Theo ghi nhận của nhà báo Văn Công Hùng, chỉ ở một tỉnh thôi chúng ta cũng thấy sự lợi - cái hại thật sự là như thế nào và thuộc về ai.
Đến nay, người ta đã khai hoang trồng mới được 25.891,9 ha cao su. Nhưng cũng đến nay, đã kịp có 2.598,8 ha cao su trồng bị chết hoặc kém phát triển. Khi nhận đất thì rất hăm hở và báo cáo là cao su trồng trên đất rừng khộp rất hợp, nhưng bây giờ cũng những đơn vị ấy báo cáo là cao su trồng trên rừng khộp không hợp và xin chuyển đổi mục đích. Những người am hiểu bảo, đây mới chính là mục đích chính của việc họ ồ ạt nhận đất rừng khộp trồng cao su. Khi nhận đất trồng cao su, hầu hết các doanh nghiệp đều cam kết sẽ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tuyển lao động là người dân tộc bản địa..., nhưng thực tế, những cam kết này chủ yếu nằm trên... giấy. Các doanh nghiệp chủ yếu chỉ đầu tư xây dựng trụ sở, nhà ở công nhân, đường giao thông trong dự án..., còn việc hỗ trợ kinh phí thực hiện an sinh xã hội thì phần lớn là... lơ.
Trong dự án đã duyệt, các doanh nghiệp sẽ phải tuyển dụng 9.379 lao động dài hạn, nhưng mới đây, hội đồng nhân dân tỉnh G đi giám sát thì các doanh nghiệp mới chỉ tuyển dụng 2.254 lao động dài hạn, gần 4.000 lao động thời vụ, trong đó chỉ có 777 công nhân là người dân tộc bản địa. Rõ ràng là một con số quá ít so với cam kết và so với thực tế...
Không chỉ dừng lại ở một địa phương, cả Tây Nguyên đã chìm trong cơn lốc phá rừng.
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, chỉ tính riêng trong vòng 5 năm (từ 2010-2014), tổng diện tích rừng Tây Nguyên đã giảm tới hơn 300.000 ha, độ che phủ của rừng giảm 6,1%, xuống còn 48,5%.
Không những diện tích mà cả trữ lượng cũng giảm mạnh. Trong vòng 5 năm đó, trữ lượng rừng khu vực Tây Nguyên giảm hơn 57 triệu m3, tương ứng giảm 17,4%. Trong đó, diện tích được đánh giá là khu vực “rừng giàu” đã giảm gần 20 triệu m3, tương ứng 21%.
Tỉ lệ rừng gỗ loại giàu chỉ còn 10,4%, loại trung bình là 22,7%, còn lại gần 67% là loại nghèo kiệt; các loại gỗ quý có giá trị cao còn rất hiếm, chỉ có ở các vùng xa xôi, hiểm trở; các loại thảo dược quý hiếm bị khai thác cạn kiệt, số lượng động vật rừng cũng giảm mạnh.
Việc suy giảm rừng ở Tây Nguyên được lý giải qua các nguyên nhân chính là do chuyển đổi rừng và phá rừng. Cụ thể, hiện các địa phương trung vùng Tây Nguyên đã chuyển đổi 111.000 ha đất rừng nghèo kiệt sang trồng cao su, cây công nghiệp, cây ăn quả; chuyển 37.800 ha đất rừng sang mục đích khác theo quy hoạch của địa phương (xây thủy điện, hạ tầng giao thông, công trình công cộng…). Còn lại 122.900 ha là do phá rừng, lấn chiếm đất rừng để canh tác, sản xuất nông nghiệp.
Nguyên nhân của tình trạng phá rừng và làm suy giảm rừng Tây Nguyên là do tác động lớn từ di dân tự do, công tác quản lý bảo vệ rừng yếu kém, quản lý các cơ sở chế biến gỗ, tụ điểm mua, bán gỗ kém hiệu quả; việc sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cơ chế chính sách đặc thù cho phát triển lâm nghiệp vùng Tây Nguyên chưa đủ mạnh…
Do đó, tình hình vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng có chiều hướng gia tăng, cụ thể, trong năm 2015, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý hơn 6.000 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng, tăng 463 vụ so với năm 2014.
Cùng với đó, hiện toàn vùng Tây Nguyên có 2.062 cơ sở chế biến gỗ và đồ mộc, trong 1.377 cơ sở sản xuất đồ mộc thì chỉ có 685 cơ sở chế biến gỗ, đặc biệt là những xưởng chế biến gỗ gần rừng, không gắn với nguồn nguyên liệu đã làm gia tăng tình trạng phá rừng và mua bán gỗ bất hợp pháp tại đây.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên cần phải nhanh chóng đóng cửa rừng, thực hiện các giải pháp để sớm khôi phục lại rừng.
Các địa phương không được ra các chủ trương chuyển rừng nghèo, rừng nghèo kiệt sang trồng cây công nghiệp, bởi hiện nay nhiều loài cây như cao su, cà phê, hồ tiêu của người dân đang vượt quá diện tích quy hoạch, vì vậy các địa phương phải tập trung khuyến khích bà con áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất cây trồng trên cùng diện tích đã canh tác.
Làm rõ trách nhiệm từng cá nhân, tổ chức để mất rừng tránh tình trạng “cha chung không ai khóc”.
Cần nghiêm khắc xử lý, điều tra, truy tố, xét xử những tập thể, những cá nhân, những đường dây buôn lậu gỗ, các băng nhóm xã hội có liên quan đến việc phá rừng.
Chủ tịch UBND các tỉnh Tây Nguyên chịu trách nhiệm chính trong việc địa phương để mất rừng; mỗi địa phương cần quán triệt, giao nhiệm vụ công tác bảo vệ rừng từ tỉnh xuống huyện, xã, cấp kinh phí và bố trí cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn theo quy định để phục vụ tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng…
Thiệt hại về rừng và các yếu tố khác của tự nhiên có thể làm tồi tệ thêm mức sống của người nghèo trên thế giới và làm giảm 7% GDP của thế giới tới năm 2050, đây là một báo cáo tổng kết trong Hội nghị về Đa dạng Sinh học tại Bonn (Đức). Trong lịch sử, việc sử dụng gỗ đóng vai trò then chốt trong xã hội loài người, vai trò của gỗ có thể so sánh với nước và đất trồng trọt. Ngày nay, tại các nước phát triển, gỗ vẫn được sử dụng để xây nhà và bột gỗ để làm giấy. Tại các quốc gia đang phát triển, gần 3 tỉ người phải dựa vào gỗ để sưởi ấm và đun nấu thức ăn.
Các sản phẩm từ rừng là một phần quan trọng của nền kinh tế ở cả các nước phát triển lẫn đang phát triển. Các lợi nhuận kinh tế ngắn hạn từ chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp, hay việc khai thác gỗ quá mức, thường dẫn đến những hậu quả kinh tế lâu dài, ảnh hưởng tới nguồn thu nhập lâu dài và sản lượng của rừng. Tây Phi, Madagascar, Đông Nam Á và nhiều vùng khác trên thế giới đã phải chịu những tổn thất thu nhập do suy giảm sản lượng gỗ. Sự khai khẩn trái phép làm nhiều nền kinh tế tổn thất hàng tỉ đô la mỗi năm.
Các nền kinh tế tăng trưởng nhanh thường có ảnh hưởng tới sự phá rừng. Áp lực chủ yếu đến từ các quốc gia đang phát triển, những nơi mà cả dân số và kinh tế đều tăng trưởng nhanh chóng. Năm 1995, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển là 6%, con số này cho các nước phát triển chỉ là 2%.
Khi dân số gia tăng, nhà cửa, đường sá, dân số đô thị mở rộng, khi phát triển thì cần có sự kết nối bằng việc xây dựng đường sá. Việc xây dựng đường sá ở nông thôn không chỉ kích thích phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho sự tàn phá rừng. Khoảng 90% rừng bị phá ở khu vực Amazon diễn ra trong phạm vi 100 km so với đường. (Lao Động 29/6) đầu trang(
Sáng 30-6, ông Bùi Hồng Quý, Chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn UBND tỉnh Đắk Lắk, cho biết ông Phạm Ngọc Nghị, Chủ tịch UBND tỉnh này đã chỉ đạo Công an tỉnh Đắk Lắk, UBND huyện Ea H’leo điều tra làm rõ những vụ vận chuyển gỗ lậu mà báo chí phản ánh trong mấy ngày qua.
Cũng theo ông Quý, sau khi có kết luận điều tra, quan điểm của UBND tỉnh Đắk Lắk là xử lý nghiêm, không bao che dung túng. Việc xử lý sẽ được thông tin phản hồi cho báo chí.
Trước đó, trong 2 ngày 28 và 29-6, Báo Người Lao Động đã có bài “Dửng dưng với lệnh đóng cửa rừng” phản ánh, ngày 20-6, tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tuyên bố đóng cửa tất cả rừng tự nhiên; không chuyển 2,25 triệu ha rừng tự nhiên còn lại sang mục đích khác, kể cả dự án được phê duyệt, chưa triển khai. Đồng thời, Thủ tướng cũng chỉ đạo các đơn vị liên quan điều tra, xét xử nghiêm những vụ việc xâm phạm, tiếp tay phá rừng. Tuy nhiên, sau chỉ đạo của Thủ tướng, tình trạng phá rừng vẫn ngang nhiên diễn ra.
Cụ thể, tối 22-6, trên tuyến đường độc đạo nối đường Hồ Chí Minh vào lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Pảh (huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk) chúng tôi ghi nhận có hàng chục xe máy độ chế và 4 xe công nông chở đầy gỗ rừng. Điều đáng nói, trên tuyến đường này vào thời điểm trên có một chốt liên ngành nhưng chỉ khi phóng viên phản ánh, đoàn mới rục rịch đi làm việc. (Người Lao Động 30/6) đầu trang(
Trong những năm qua, các tỉnh Tây Nguyên đã giao hàng chục ngàn hécta rừng tự nhiên cho cả doanh nghiệp (DN) tư nhân và Nhà nước quản lý, bảo vệ. Nhưng phần lớn các DN không quản lý nổi và thậm chí còn tiếp tay cho việc chặt phá diện tích rừng mình được giao quản lý, bảo vệ.
Được giao quản lý và bảo vệ hàng chục ngàn hécta rừng tự nhiên, nhưng suốt thời gian qua, nhiều công ty lâm nghiệp Tây Nguyên đã bỏ mặc cho người dân vào xâm chiếm, tàn phá rừng.
Trên con đường đất nhầy nhụa đi vào lâm phần của Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha (do Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa quản lý, ở xã Đắk Ha, huyện Đắk G’long, Đắk Nông), cảnh tượng phá rừng diễn ra trước mắt chúng tôi vô cùng dữ dội, tiếng cưa máy vang lên tứ phía, nhiều cột khói bốc lên như thiêu đốt trời hè. Hàng chục hécta rừng xanh nay đã như một bãi chiến trường, nhiều cây gỗ lớn có đường kính 0,5 - 0,6m bị đốt cháy đen, nằm ngổn ngang. Rất nhiều cây lớn khác được cưa cẩn thận thành những lóng gỗ tròn, dài và thẳng tắp.
Tiếp tục hành trình, chúng tôi đến khu rừng của Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (cũng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Gia Nghĩa quản lý, ở xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, Đắk Nông). Mặc dù đã được một cán bộ có trách nhiệm cảnh báo có thể gặp nguy hiểm nếu vào “điểm nóng” này nhưng tôi và một đồng nghiệp vẫn đi xe máy vào khu vực Cầu Gỗ (xã Quảng Thành), chỉ cách trụ sở Công an tỉnh Đắk Nông 6km.
Dừng chân trên một quả đồi, trước mắt chúng tôi hiện ra những đám cháy theo kiểu “da beo”, đây đó vang lên tiếng nổ lách tách của cây gỗ tươi bị đốt, khói đen phủ kín một vùng trời. Càng vào sâu, rừng càng bị phá khốc liệt hơn. Dọc hai bên đường, cây rừng chỉ còn một vạt mỏng theo kiểu “ngụy trang” cho những căn nhà tạm, những khu đất trống, những đồi sắn, cà phê, tiêu… xanh tốt trải dài phía sau.
Theo kết luận của Thanh tra tỉnh Đắk Nông, sau 10 năm (từ 2005 - 2015) được giao quản lý hơn 24.000ha rừng tự nhiên, công ty trên đã để mất hơn 8.700ha rừng. Rừng tự nhiên ở đây bị xâm chiếm và tàn phá với diện tích khá lớn, nhưng các chủ rừng (Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín, Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha, Công ty TNHH Gia Nghĩa) và cơ quan chức năng liên quan (Hạt Kiểm lâm Gia Nghĩa, Hạt Kiểm lâm Đắk G’long) không phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp thời.
Sau nhiều ngày thực địa tại các khu rừng ở huyện Ea Súp (Đắk Lắk), chúng tôi chứng kiến những cánh rừng do các công ty lâm nghiệp nơi đây quản lý cũng bị chặt phá tràn lan. Khi chạy xe máy vào hai tiểu khu 262, 264 (ở xã Cư M’lan, huyện Ea Súp, thuộc quản lý của Công ty Lâm nghiệp Cư M’lan), chúng tôi bắt gặp rất nhiều xe máy cày độ chế, thản nhiên chở gỗ lậu theo hướng từ rừng sâu ra trung tâm xã.
Cùng với đó, xe 2 bánh gắn máy chở gỗ cũng ngang nhiên bon bon trên tuyến đường liên xã Ja Lơi. Tại tuyến đường đất đỏ liên xã Ea Rốk, Cư K’bang và Ea Lê, cả đoàn xe chở gỗ sao còn ứa nhựa (vừa được lâm tặc đốn hạ từ rừng của Công ty Lâm nghiệp Rừng Xanh - PV) chạy vào trung tâm xã Cư K’bang, trước khi “qua mặt” trạm kiểm lâm địa bàn (đóng tại xã Ea Lê) để tuồn vào các xưởng gỗ.
Từ năm 2010 đến nay, tỉnh Đắk Nông đã giao 41 dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn cho các DN với tổng diện tích rừng hơn 31.600ha, trong đó có hơn 14.300ha rừng tự nhiên phải quản lý, bảo vệ. Chỉ sau vài năm được bàn giao, đã có gần 4.800ha rừng tự nhiên bị tàn phá, gần 8.300ha rừng và đất rừng bị lấn chiếm, xâm canh.
Tuy Đức là huyện được tỉnh giao nhiều dự án nhất (18 dự án), với diện tích rộng nhất (hơn 9.100ha) và diện tích rừng tự nhiên phải quản lý bảo vệ nhiều nhất (hơn 5.500ha). Nhưng đây cũng là địa phương để mất rừng nhiều nhất (hơn 2.200ha) và diện tích bị xâm canh lớn nhất (gần 3.000ha). Trong số này, có 3 DN để mất gần như toàn bộ rừng tự nhiên được giao là Công ty CP Kiến Trúc Mới (643,1/924,7ha), Công ty TNHH Long Sơn (501,7/507,7ha) và Doanh nghiệp tư nhân Phạm Quốc (233,6/234,3ha).
Trong số các DN để mất rừng ở Đắk Nông, “dẫn đầu” là Công ty CP Kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt Đắk Song. Sau khi được UBND tỉnh giao quản lý, bảo vệ 993,6ha rừng tự nhiên, công ty đã để 893,5ha rừng bị chặt phá.
Sau khi đã làm mất 86,3% diện tích rừng được giao, mới đây công ty đã gửi tờ trình đề nghị… trả lại rừng cho tỉnh. Không riêng gì công ty này, nhiều DN nhận rừng, đất rừng tại huyện Tuy Đức và Đắk G’long cũng đang muốn trả lại rừng khi rừng chỉ còn… đất trống.
Sau khi có chủ trương của Chính phủ về quy hoạch phát triển cao su tại Tây Nguyên vào năm 2009, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án (trồng rừng, cải tạo, trồng cao su…) trên đất lâm nghiệp với diện tích hơn 215.720ha.
Trong đó, tỉnh Đắk Lắk đã cho phép 90 DN trong và ngoài tỉnh vào khảo sát, lập 104 dự án đầu tư trồng rừng, trồng cao su và một số loại cây nông lâm nghiệp khác. Nhưng từ năm 2009 đến 2015, toàn tỉnh có khoảng 10.000ha rừng bị tàn phá và lấn chiếm, trong đó có gần 3.000ha rừng thuộc sự quản lý của các dự án chuyển đổi rừng.
Từ năm 2008 - 2014, ở Đắk Lắk có hơn 26.400ha rừng bị phá và lấn chiếm, trong đó các công ty lâm nghiệp chiếm hơn 11.100ha. Tại Đắk Nông, diện tích rừng bị mất và xâm chiếm từ năm 2004 đến nay là hơn 27.600ha. Trong đó, chỉ tính riêng Công ty Lâm nghiệp Trường Xuân (ở xã Trường Xuân, huyện Đắk Song) đã để mất hơn 4.500ha.
Còn Công ty Lâm nghiệp Quảng Tín (ở xã Quảng Tín, huyện Tuy Đức, Đắk Nông) được giao quản lý 9.800ha rừng và đất rừng. Cuối năm 2011, công ty này ký hợp đồng liên doanh liên kết trồng rừng với 9 DN tư nhân và đã để mất 1.300ha. Vì thế, 8 cán bộ nguyên là giám đốc, phó giám đốc, nhân viên của công ty phải hầu tòa về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Bên cạnh sự thiếu trách nhiệm trong quản lý của các DN, có sự tiếp tay của một số cán bộ ở các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị quản lý rừng trong việc để mất rừng. Điều này cũng giải thích được nguyên nhân vì sao nhiều vụ phá rừng diễn ra “sát nách” chốt chặn của các đơn vị chủ rừng, các cơ quan chức năng nhưng “chẳng ai biết”?
Tại cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước về “Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020” được tổ chức ở tỉnh Đắk Lắk vào năm 2014, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông Nguyễn Đức Luyện đã thẳng thắn nói: “Báo cáo của tỉnh có nêu nhiều nguyên nhân dẫn đến mất rừng nhưng tôi nghĩ nguyên nhân đầu tiên chính là có liên quan đến cán bộ. Những vụ phá rừng trước đây không xử lý được bởi vì cán bộ có nhận đất nhận rừng, có buôn bán đất đai, thậm chí “bật đèn xanh” cho phá rừng để sau đó mua lại rồi bán kiếm lời. Thậm chí có vụ giao công an tỉnh vào cuộc điều tra nhưng cũng không thể làm đến cùng vì có “quân ta” trong đó’’. (Sài Gòn Giải Phóng 30/6) đầu trang(
Theo thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 127 vụ vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng như vận chuyển trái phép lâm sản, mua và chế biến, cất giấu lâm sản trái phép...
Qua đó, thu giữ 80m3 gỗ các loại, hơn 1 tấn măng vầu tươi, 77kg động vật rừng, 3 cưa xăng, 6 xe mô tô. Thu nộp ngân sách nhà nước hơn 1 tỷ đồng.
So với cùng kỳ năm 2015, số vụ vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng giảm 20 vụ.
Thời gian tới, lực lượng kiểm lâm sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng nói riêng, bảo vệ môi trường sống của địa phương nói chung. (Báo Lào Cai 29/6) đầu trang(
Sáng 29-6,  TAND huyện Hòa Vang tiếp tục phiên sơ thẩm xét xử 19 bị cáo trong đường dây hối lộ để khai thác gỗ tại rừng Cà Nhông. Đây là vụ phá rừng nghiêm trọng với khối lượng gỗ quý bị khai thác trái phép lớn nhất tại Đà Nẵng.
Các bị cáo bị truy tố về hành vi “Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng” gồm: Vũ Văn Tam (SN 1968, ngụ thôn Láy, xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam), Đỗ Văn Lưu, Đinh Văn Thuấn, Nguyễn Văn Học, Nguyễn Văn Vụ, Phạm Văn Chính (cùng ngụ tỉnh Ninh Bình), Vũ Văn Quý, Vũ Văn Pháp (cùng ngụ tỉnh Thanh Hóa), Phạm Đình Lợi (ngụ huyện Hòa Vang), Kiều Ngọc Trung, Sầm Tô Binh, Kiều Ngọc Quý (ngụ tỉnh Quảng Nam). Riêng bị cáo Tam bị truy tố thêm tội “Đưa hối lộ”.
5 lãnh đạo, nhân viên Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông và 2 công chức kiểm lâm bị truy tố tội nhận hối lộ gồm: Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông Phạm Phú Cường, Trạm phó Hồ Tấn Hai, Trạm phó Thủy Ngọc Trọng, nhân viên Nguyễn Văn Ấn, kỹ sư lâm nghiệp Lý Thanh Tùng, kiểm lâm viên Nguyễn Văn Nhung, kiểm lâm viên Đinh Ngọc Bán.
Theo cáo trạng, năm 1991, từ xã Giao Yến (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), Vũ Văn Tam vào huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam) làm nghề khai thác vàng trái phép rồi chuyển qua trồng rừng.
Do sinh sống lâu năm ở huyện Đông Giang, Tam biết rừng Cà Nhông ở huyện Hòa Vang (do Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa quản lý) có nhiều gỗ nên thuê người vào rừng Cà Nhông khai thác gỗ trái phép vào năm 2012.
Nhận “lệnh” của Tam, Quý và Pháp chỉ huy nhóm hạ cây, cưa và xẻ gỗ với tiền công 70.000 đồng/thanh, Lưu chỉ huy nhóm vận chuyển gỗ từ nơi khai thác đến nơi tập kết với giá khuân vác là 150.000 đồng/thanh.
Nhóm của Tam đã trực tiếp chặt phá 104 cây gỗ kiền kiền với khối lượng 100,3m3 trong 3 đợt; cưa xẻ thành 1.461 thanh; gây thiệt hại tổng cộng hơn 847 triệu đồng. Sau khi khai thác, Tam liên hệ bán cho Lợi 1.010 thanh với giá 550.000 đồng/thanh. Lợi thuê Trung, Quý và Binh vào rừng vận chuyển gỗ trái phép cho mình.
Để việc vận chuyển trót lọt, Lợi chung chi cho dân quân xã Tư, Trạm kiểm soát lâm sản Dốc Kiền (Hạt Kiểm lâm Đông Giang), Trạm kiểm soát lâm sản Hòa Phú (Hạt Kiểm lâm Hòa Vang) và ông Châu Ngọc Khế (Trưởng thôn Láy, xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam).
Trong khi đó, Tam đặt vấn đề với các nhân viên Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông và kiểm lâm viên địa bàn để được vào rừng khai thác gỗ trái phép và “lót tay” mỗi chuyến 5 triệu đồng. Từ tháng 10-2013 đến tháng 4-2014, Tam chung chi 30 triệu đồng cho Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông.
Ngoài các bị cáo trên, Nguyễn Quang Lộc (nguyên Trạm trưởng trạm Cà Nhông) thiếu trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng, không phát hiện Tam đưa người vào rừng khai thác gỗ trái phép nên cơ quan điều tra kiến nghị xử lý hành chính; Lê Hoàng Sơn (nguyên Hạt trưởng Kiểm lâm Đông Giang) thiếu trách nhiệm trong việc thu giữ số gỗ vi phạm của Tam nên cơ quan điểm tra kiến nghị cơ quan chủ quản nơi Sơn đang công tác xử lý.
Trong phần xét hỏi sáng 29-6, bị cáo Tam một mực khẳng định bản thân không phạm tội. Tam cho rằng, bị cáo thuê các bị cáo khác để chăm sóc và khai thác keo với tiền công 4 triệu đồng/tháng. Đến mùa mưa, bị cáo cho “nhân công” về vì không có keo để khai thác.
Sau đó, bị cáo Tam được đưa vào khu vực cách ly trong khi hội đồng xét xử (HĐXX) xét hỏi các bị cáo còn lại. Những bị cáo được bị cáo Tam thuê làm việc đều thừa nhận có khai thác gỗ cho Tam với tiền công như cáo trạng đã truy tố.
HĐXX cũng tiến hành xét hỏi đối với các bị cáo ở nhóm hành vi “Nhận hối lộ”. Theo đó, các nhân viên Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông và nhân viên kiểm lâm địa bàn đều khai nhận, vào một ngày trong khoảng tháng 10-2013, Trạm trưởng Phạm Phú Cường có nói với mọi người về việc Tam đặt vấn đề đưa người vào rừng Cà Nhông khai thác gỗ trái phép. Mỗi chuyến xe, Tam sẽ đưa cho anh em ở trạm 5 triệu đồng nhằm “cải thiện” đời sống. Khi nghe bị cáo Cường nói, không ai có ý kiến.
Ngoài ra, bị cáo Hai còn khai thêm, số tiền do Tam đưa được Hai cất giữ và chi tiêu cho hoạt động chung của trạm như: tiền ăn cho tất cả nhân viên trong trạm, tiền thăm ốm, ma chay, chi quà đi dự liên hoan, thuê người trực tết,… Số tiền còn thừa được chia cho tất cả 7 người. Tuy nhiên, Hai cho rằng, khi biết việc Tam đưa tiền, Hai và Cường có bàn bạc trả lại nhưng Tam không chịu nhận nên không trả được.
Trong khi đó, bị cáo Cường cho rằng, Tam trực tiếp đến trạm, việc đặt vấn đề do Tam trực tiếp nói với tất cả mọi người ở trạm. Khi đó, Cường có giải thích cho Tam về việc khai thác gỗ là trái phép. Bị cáo Cường biện hộ, bị cáo có thực hiện các biện pháp ngăn chặn nhưng do địa bàn quá rộng, không kiểm soát được. Bị cáo không trực tiếp nhận tiền từ Tam mà nghe cấp dưới báo lại.
Cũng trong sáng nay, Nguyễn Quang Lộc (nguyên Trạm trưởng Trạm Cà Nhông) trình bày, ông có tổ chức, phối hợp cùng các đơn vị khác kiểm tra thường xuyên nhưng do địa bàn rộng, địa hình, thời tiết khó khăn… nên không phát hiện được hành vi khai thác gỗ trái phép của Tam. (Báo Đà Nẵng 29/6) đầu trang(
Chiều 29-6, sau 2 ngày đưa ra xét xử, TAND huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) tuyên hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ phá rừng Cà Nhông - vụ phá rừng có quy mô lớn nhất Đà Nẵng (Báo SGGP đã thông tin). TAND huyện Hòa Vang trả hồ sơ, đề nghị điều tra bổ sung vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Theo đó, TAND huyện Hòa Vang trả hồ sơ và đề nghị điều tra bổ sung để làm rõ tổng số tiền đưa và nhận hối lộ trong vụ phá rừng Cà Nhông là bao nhiêu. Đối với Đặng Công Chung (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng), HĐXX cho rằng quá trình điều tra cũng như trước tòa, các bị cáo khai Chung tham gia đường dây lâm tặc, nhưng kết luận điều tra cho rằng chưa đủ cơ sở, không xem xét Chung là chưa thỏa đáng. HĐXX cũng yêu cầu điều tra lời khai trước tòa của các bị cáo về việc ông Nguyễn Quang Lộc (nguyên Trạm trưởng Cà Nhông) có nhận tiền hối lộ của Vũ Văn Tam.
Như Báo SGGP đã đưa tin, từ 2012 đến 2014, Vũ Văn Tam đã phá rừng Cà Nhông (thuộc rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa) và đưa hối lộ cho nhiều cán bộ quản lý rừng tại Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông để đốn hạ và vận chuyển 104 cây kiền kiền (154,36m3) mang đi tiêu thụ, gây thiệt hại gần 850 triệu đồng. Đến tháng 10-2014, lực lượng liên ngành huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam) phát hiện, bắt giữ và chuyển cho các cơ quan chức năng TP Đà Nẵng điều tra. (Sài Gòn Giải Phóng 30/6) đầu trang(
Tỉnh ủy Bắc Cạn vừa chỉ đạo Cơ quan cảnh sát điều tra (Công an tỉnh) điều tra lại vụ việc khai thác, vận chuyển trái phép gốc cây gù hương mà Chi cục Kiểm lâm bắt giữ đêm 20-2 vừa qua.
Đêm 20-2, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng chống cháy rừng số 1 (thuộc Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn) kiểm tra ô tô chuyên dùng biển kiểm soát 20C- 078.80, phát hiện trên ô tô vận chuyển gốc cây gù hương (loại cây đặc biệt quý hiếm nhóm IIa, hạn chế khai thác, sử dụng).
Trước đó, ngày 7-10-2015, Phó Chủ tịch UBND huyện Bạch Thông La Thị Huyền ký Văn bản số 668/UBND - NN về việc xác nhận đăng ký khai thác gỗ tận thu, nêu rõ: “Căn cứ vào hồ sơ xin khai thác gỗ tận thu của chủ rừng Mã Văn Thành ở thôn Lủng Chang, xã Lục Bình, huyện Bạch Thông (Bắc Cạn), UBND huyện Bạch Thông đồng ý cho chủ rừng khai thác gỗ tận thu tại lô 5, khoảng 9, tiểu khu 357 ở thôn Lủng Chang, xã Lục Bình với khối lượng gỗ tròn thương phẩm là 3,38 khối gỗ kháo (nhóm VI) trong thời gian từ 9-10-2015 đến 30-12-2015”.
“Chủ rừng có trách nhiệm khai thác đúng địa danh, diện tích, khối lượng được phê duyệt trong hồ sơ, chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra những vi phạm. Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông, UBND xã Lục Bình có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc khai thác gỗ, phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm quy định về khai thác gỗ của chủ rừng, xử lý các sai phạm theo quy định của pháp luật” - Văn bản 668/UBND-NN của UBND huyện Bạch Thông yêu cầu.
Tuy nhiên, trên thực tế, chủ rừng là ông Mã Văn Thành lại không thực hiện đúng chính hồ sơ xin khai thác gỗ do mình lập và không chấp hành Văn bản 668 của UBND huyện Bạch Thông là khai thác tận thu gỗ tròn mà lại đi khai thác gốc cây. Đáng chú ý, cán bộ kiểm lâm, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông, UBND xã Lục Bình đồng tình với việc làm sai trái của ông Mã Văn Thành, bằng cách: Xác nhận vào bảng kê lâm sản, biên bản kiểm tra thực tế, đóng cả dấu búa kiểm lâm vào lâm sản được khai thác không đúng với hồ sơ.
Theo quy định, nếu lâm sản có hình thù phức tạp, không thể đo được để xác định khối lượng thì cân lên để quy đổi ra khối lượng. Thực hiện phương pháp này, cơ quan chức năng tỉnh Bắc Cạn xác định gốc gù hương tương đương với hơn mười khối. Theo nhiều người buôn bán lâm sản trên địa bàn, gốc gù hương này có giá trị vài tỷ đồng. Để khai thác gốc gù hương này, chủ rừng, người mua đã san ủi một tuyến đường dài hơn hai km lên rừng, đưa máy xúc đào chung quanh gốc cây, đưa cần cẩu gốc cây gù hương lên ô-tô chuyên dùng chở đi trong đêm thì bị bắt giữ.
Xét thấy vụ việc có tính chất phức tạp, vượt quá khung xử phạt vi phạm hành chính nên Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn đã chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra (Công an tỉnh Bắc Cạn) điều tra, làm rõ.
Tuy nhiên, cơ quan chức năng cho rằng chưa đủ cơ sở xử lý hình sự. Trước tình hình đó, Thường trực Tỉnh ủy Bắc Cạn vừa họp với các cơ quan nội chính, chỉ đạo Cơ quan cảnh sát điều tra (Công an tỉnh) phải điều tra lại từ đầu một cách khách quan, không bỏ sót tình tiết nào để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. (Nhân Dân 29/6) đầu trang(
Tỉnh Kon Tum sẽ thành lập đoàn liên ngành xác định những điểm nóng cần tổ chức truy quét, chốt chặn nhằm ngăn chặn đầu ra của gỗ lậu.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tỉnh Kon Tum khẩn trương kiểm tra, làm rõ thông tin mà VTV1 và VTV8 (Đài THVN) đã phản ánh về vụ phá rừng và vận chuyển gỗ trái phép tại lâm phần của Công ty TNHH Một thành viên Lâm Nghiệp Đăk Glei, chính quyền và cơ quan chức năng Kon Tum đã tìm ra thủ phạm.
Cơ quan chức năng của tỉnh Kon Tum đã xác định 5 đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép bằng xe máy độ tại tiểu khu 137, thuộc lâm phần Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đăk Glei. Các đối tượng đều cư trú tại làng Đăk Vức, xã Đăk Kroong, huyện Đăk Glei. Lãnh đạo tỉnh Kon Tum đánh giá cao về những thông tin do báo chí đã phản ánh. Đồng thời đã đưa ra nhiều giải pháp ngăn chặn và tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt là xử lý những tập thể cá nhân không làm tròn trách nhiệm bảo vệ rừng.
Tỉnh Kon Tum sẽ thành lập đoàn liên ngành xác định những điểm nóng cần tổ chức truy quét, chốt chặn; tổ chức lại ngành Lâm nghiệp, gắn trách nhiệm của chủ rừng với việc mất rừng; rà soát tất cả các cơ sở chế biến gỗ, nhằm ngăn chặn đầu ra của gỗ lậu. (Đài Truyền Hình Việt Nam 29/6) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên, cơ quan chức năng liên tiếp phát hiện nhiều vụ việc các đối tượng buôn lậu gỗ sử dụng xe ô tô quá “đát” để vận chuyển gỗ lậu. Với những ô tô cũ này, thường được gắn biển số giả, không giấy tờ, khi bị lực lượng chức năng phát hiện chặn bắt, nhiều đối tượng sẵn sàng “bỏ của chạy lấy người”…
Mới đây, trên đường ĐT 604 theo hướng từ Dốc Kiền về TP. Đà Nẵng, đoạn đi qua địa phận huyện Hòa Vang, lực lượng CSGT công an TP. Đà Nẵng đã phát hiện, chặn bắt xe ô tô mang BKS 92K-9896 loại xe chở khách 16 chỗ ngồi, chở 19 phách gỗ lậu (gỗ xoan đào, nhóm VI), tổng khối lượng 2,927 m3.
Điều đáng nói, khi phát hiện lực lượng chức năng, đối tượng điều khiển xe đã bỏ trốn vào đêm tối trốn thoát. Sau đó, tổ công tác đã đưa chiếc xe ô tô chở gỗ lậu trên về trụ sở công an huyện Hòa Vang để giải quyết.
Trước đó, cũng trên địa bàn TP. Đà Nẵng, lực lượng chức năng cũng đã phát hiện 3 chiếc xe ô tô loại chở khách đã quá “đát”, được các đối tượng sử dụng để chuyên chở gỗ lậu gồm, xe mang BKS 43K-4958; xe BKS 43K-9896 và xe BKS 43K-3281, cả 3 xe này đều trú tại huyện Hoà Vang.
Theo ông Lê Đình Thám, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, tình trạng vận chuyển gỗ lậu trên địa bàn đang diễn ra hết sức phức tạp. Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp với lực lượng công an nhiều lần mật phục chặn bắt, song những kẻ vận chuyển gỗ lậu rất ranh ma, theo dõi mọi diễn biến của cơ quan chức năng, hễ mỗi khi ra quân là chúng “án binh bất động”...
Tuy vậy, qua theo dõi đơn vị đã nắm chắc một số xe ô tô loại chở khách đã quá “đát”, bỏ hết ghế, chuyên sử dụng vận chuyển gỗ lậu. Hạt Kiểm lâm huyện đã có báo cáo với chính quyền lẫn cơ quan chức năng để phối hợp có biện pháp đấu tranh ngăn chặn vấn nạn này.
Ở địa phương lân cận Quảng Nam, hiện tượng sử dụng xe ô tô cũ để vận chuyển gỗ lậu cũng diễn ra hết sức phức tạp. Đơn cử vụ việc, Phòng CSĐT tội phạm về kinh tế và chức vụ công an tỉnh Quảng Nam đã thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với đối tượng Phan Văn Tiến về hành vi “vận chuyển lâm sản trái phép”.
Theo hồ sơ vụ án, Phan Văn Tiến, trú huyện Đại Lộc, đã đi lùng mua lại các xe ô tô khách cũ và hết hạn sử dụng. Sau khi, mua được xe gắn BKS giả vào và “độ” lại thành xe chở gỗ lậu, mỗi chuyến các đối tượng chở từ 4-5m3 gỗ lậu từ các xã của huyện Đại Lộc xuống TP. Đà Nẵng để tiêu thụ…
Cũng như các “phi vụ” sử dụng xe ô tô cũ để vận chuyển gỗ lậu, khi bị phát hiện các đối tượng trong đường dây này cũng sẵn sàng “bỏ của chạy lấy người”. Do vậy, phải mất một thời gian điều tra và củng cố chứng cứ, cơ quan CSĐT công an tỉnh Quảng Nam mới xác định chủ nhân những chiếc xe chở gỗ lậu trên chính là Phan Văn Tiến...
Cũng như địa bàn TP. Đà Nẵng và Quảng Nam, ở khu vực Tây Nguyên vấn nạn các đối tượng sử dụng xe ô tô quá “đát” để vận chuyển gỗ lậu cũng diễn ra hết sức nhức nhối. Hiện tượng xe ô tô cũ đã hết hạn sử dụng, nhưng lại “dạt” về các địa phương như Đắk Nông hay Đắk Lắk đang khá nhiều. Điều này, gây khó cho công tác quản lý, ngăn chặn hành vi “vận chuyển lâm sản trái phép” của các cơ quan chức năng, để lại những hệ lụy khó lường cho xã hội...
Có thể nói cùng với hiện tượng dùng các loại mô tô “độ”, xe tự chế… việc ngày càng nhiều lâm tặc sử dụng xe ô tô cũ để vận chuyển gỗ lậu đã và đang gây bức xúc dư luận. Bởi, hầu hết các xe này đều không có biển số, không đăng ký, không đăng kiểm, không bảo hiểm. Có xe còn được “trang bị” nhiều BKS giả để tránh sự kiểm soát của lực lượng chức năng.
Đặc biệt, nguy hiểm có nhiều trường hợp đối tượng điều khiển các phương tiện quá “đát” này lại không có giấy phép điều khiển ô tô. Hầu hết, các xe đều bị tháo dỡ toàn bộ ghế sau để chở hàng, dẫn đến nguy cơ mất an toàn giao thông… Ông Nguyễn Văn Tý, một người dân ở xã Hoà Khương, huyện Hoà Vang cho biết, ban ngày hầu hết các xe này thường “án binh bất động”, nhưng đến tối là lao vun vút ngoài đường, khiến người dân địa phương rất lo ngại, ảnh hưởng đến an toàn giao thông...
Ngoài việc, sẵn sàng bỏ lại tang vật cũng như phương tiện vận chuyển các đối tượng buôn lậu gỗ còn tổ chức những đường dây, cử người chuyên theo dõi việc tuần tra, canh gác của lực lượng chức năng. Thậm chí, có nhiều trường hợp các đối tượng manh động, sẵn sàng chống trả người thi hành công vụ khi bị phát hiện bắt giữ.
Thực tế, do sự hung hãn, tinh vi của lâm tặc nên mọi nỗ lực ngăn chặn của các ngành chức năng đang gặp nhiều khó khăn. Có thể nói, hiện nay các đối tượng lâm tặc đang dùng đủ chiêu để vận chuyển gỗ lậu. Trong khi, công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý của các lực lượng chức năng vẫn luôn gặp không ít khó khăn.
Điều này càng khó khăn hơn, khi nhu cầu sử dụng gỗ tốt, gỗ “xịn” ngày càng tăng cao trên thị trường, kéo theo việc vận chuyển gỗ lậu ngày càng tinh vi, diễn biến phức tạp… (Thời Báo Ngân Hàng 29/6) đầu trang(
Ngày 29/6, TAND huyện Krông Bông (Đăk Lăk) đã mở phiên tòa xét xử lưu động và tuyên án 9 tháng tù giam đối với bị cáo Y Đâm Niê (19 tuổi), trú tại xã Yang Mao, Krông Bông về tội chống người thi hành công vụ.
Theo cáo trạng của viện kiểm sát, khoản 14h ngày 11/1, bị cáo Y Đâm Niê rủ Y Bhơi Mlô, Y Báo Niê, Y Đông Ksơr (trú cùng buôn với Y Đâm) và Y Quyn Byă trú tại buôn Kuanh, Yang Mao, Krông Bông đi chặn đường lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia Chư Yang Sin để xin tha cho Y Hiệp Niê.
Trước đó, Y Đâm Niê, Y Hiệp Niê, Y Bhơi Mlô và Y Báo Niê đang cưa cây gỗ tại tiểu khu 1222 thuộc lâm phần Vườn quốc gia Chư Yang Sin thì Y Hiệp bị lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia Chư Yang Sin bắt giữ.
Khi đi chặn đường lực lượng kiểm lâm, Y Bhơi có mang theo 1 mã tấu. Lúc cả nhóm thấy đoàn  cán bộ kiểm lâm đang áp giải Y Hiệp thì Y Đâm không nói gì mà lấy mã tấu từ tay Y Bhơi đi lại gần xe máy do anh Trần Quốc Vương điều khiển chở sau anh Chu Văn Nguyên đang áp giải Y Hiệp, Y Đâm vung mã tấu lên dọa chém hai người nhằm gây cản trở, ép đoàn kiểm lâm phải thả Y Hiệp ra.
Do sợ bị Y Đâm chém nên anh Nguyên thả tay Y Hiệp ra, Y Hiệp nhảy xuống xe rồi bỏ chạy. Anh Vương truy hô bắt Y Hiệp lại thì Y Đâm tay cầm mã tấu ngăn cản, đe dọa chém nên cán bộ kiểm lâm không đuổi bắt Y Hiệp được.
Sau đó, lực lượng kiểm lâm vây bắt Y Đâm thì các đối tượng còn lại nhặt đá đứng ở phía sau Y Đâm, khi lực lượng kiểm lâm áp sát Y Đâm thì Y Đông, Y Bhơi, Y Báo và Y Quyn vứt đá bỏ chạy khỏi hiện trường. Còn Y Đâm hung hăng cầm mã tấu chống cự lực lượng kiểm lâm, lợi dụng sơ hở, lực lượng kiểm lâm đã khống chế và bắt được Y Đâm. (Đời Sống Và Pháp Luật 29/6) đầu trang(
Tam Đảo không chỉ được nhiều người trong và ngoài nước biết đến bởi sự hấp dẫn của khu du lịch Tam Đảo và Di tích quốc gia đặc biệt di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Tây Thiên - Tam Đảo mà còn biết đến bởi giá trị đa dạng sinh học và được đánh giá là một trong những khu vực có đa dạng sinh học cao nhất nước với nhiều loài động, thực vật quý hiếm không chỉ riêng của Tam Đảo mà còn là của Việt Nam và quốc tế.
Vườn Quốc gia Tam Đảo trải dài từ 21o 21' đến 21o 42' vĩ độ Bắc và 105o 23' đến 105o 44' kinh Đông, nằm trên địa phận 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với tổng diện tích 34.995ha. Đây là một dãy núi lớn dài 80 km rộng 10 - 15 km chạy dài theo hướng tây bắc đông nam.
Với hơn 20 đỉnh cao trên 1000 m do vậy địa hình nơi đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ, gần như vuông góc với dông chính tạo nên kiểu địa hình phức tạp và hiểm trở do vậy kết hợp với các yếu tố khác như khí hậu, thủy văn…vv đã tạo nên cho hệ thực, động vật Tam đảo vô cùng phong phú và đa dạng dạng cũng như đa dạng về các hệ sinh thái.
Ngoài tính đa dạng sinh học cao, Vườn quốc gia Tam Đảo còn giữ vai trò điều hoà khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường sống cho một phần đồng bằng Bắc bộ trong đó có Thủ đô Hà Nội.
Hệ động vật Vườn quốc gia Tam Đảo có 1.299 loài, thuộc 161 họ của 39 bộ trong 5 lớp động vật, trong đó 64 loài quí hiếm có giá trị cho khoa học cần bảo tồn, 39 loài đặc hữu. Hệ thực vật VQG Tam Đảo hiện thống kê được 1.247 loài thuộc 645 chi trong 169 họ của 6 ngành thực vật, trong số đó có 58 loài mang nguồn gen quí hiếm 68 loài đặc hữu đang bị đe dọa được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới cần được bảo vệ như: Hoàng thảo Tam Đảo,Trà hoa đài, Trà hoa vàng Tam Đảo, Hoa tiên, Chuỳ hoa leo, Trọng lâu kim tiền và nhiều loài khác.
Kể từ khi được thành lập đến nay, công tác bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên luôn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Vườn quốc gia Tam Đảo. Điều đó được thể hiện là không chỉ lực lượng kiểm lâm chiếm gần hai phần ba quân số của Vườn, trực tiếp làm công tác tuần tra, bảo vệ mà còn có lực lượng cán bộ khoa học cũng nghiên cứu, đề xuất tìm ra các giải pháp bảo tồn cũng như các nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo tồn luôn được Vườn chú trọng ưu tiên cùng với các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm giúp đỡ thông qua các dự án bảo tồn đa dạng sinh học.
Chủ động tổ chức và phối hợp với chính quyền địa phương, các sở, ban, ngành có liên quan, dự án của các tổ chức quốc tế và trong nước thực hiện nhiều cuộc tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư sống ven địa bàn quản lý của Vườn quốc gia, về các văn bản pháp quy của Nhà nước, phổ biến pháp luật và thi hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.
Đến nay, Vườn quốc gia Tam Đảo đã xây dựng được 17 trạm quản lý bảo vệ rừng và thường xuyên tập huấn nâng cao trình độ, trách nhiệm cho lực lượng kiểm lâm để hoàn thành tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đã giao khoán 10.000 ha rừng cho gần 120 hộ gia đình và cá nhân, tập trung vào các hộ gia đình sinh sống ở gần Vườn quốc gia để quản lý, bảo vệ rừng thường xuyên.
Đã xây dựng hệ thống chòi canh lửa và đường tuần tra bảo vệ rừng trên phạm vi toàn Vườn quốc gia. Công tác trồng và phục hồi rừng luôn được chú trọng. Từ năm 2011 đến 2015 Vườn quốc gia tam Đảo đã phục hồi và nuôi tái sinh tự nhiên là 500 ha, diện tích trồng rừng mới 521 ha.
Cùng với việc liên kết chống xâm hại vườn quốc gia, trong thời gian qua VQG Tam Đảo đã hợp tác triển khai 3 đề tài nghiên cứu khoa học: Phục hồi rừng; Nghiên cứu bảo tồn một số loài thực vật đặc hữu, quí hiếm; Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quí hiếm, nguy cấp tại đây.
Trong những năm gần đây Vườn quốc gia Tam Đảo còn hợp tác với Tổ chức động vật châu Á thành lập trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo bắt đầu hoạt động từ năm 2007 đến nay đã cứu hộ được 119 cá thể gấu; Phối hợp với Trung tâm Giáo dục thiên nhiên tổ chức Chương trình nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư vùng đệm và học sinh  về bảo tồn Đa dạng sinh học và bảo vệ tài nguyên rừng và kỹ năng giáo dục môi trường cho các khu bảo tồn ở Việt Nam.
Đặc biệt, Vườn quốc gia Tam Đảo đã gắn kết các đơn vị trực thuộc VACNE tổ chức các hoạt động cho các tình nguyện viên thế giới thực hiện giáo dục môi trường và các hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tam Đảo. Bên cạnh các hoạt động trên, đơn vị thường xuyên tổ chức điều tra theo dõi tình hình sâu bệnh hại và mời các cơ quan chuyên môn tư vấn công tác phòng trừ sâu bệnh hại. Từ năm 2010 đến nay, không có dịch sâu bệnh hại ở VQG Tam Đảo.
Bên cạnh các kết quả đạt được, thời gian qua, công tác bảo tồn đa dạng sinh sinh học ở Vườn quốc gia Tam Đảo còn gặp không ít khó khăn, thách thức như: Tình hình ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu trên thế giới ngày một gia tăng nhanh chóng gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học. (gia tăng cháy rừng, mưa lũ, khô hạn kéo dài) …
Trình độ hiểu biết của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học còn hạn chế. Tác động của đói nghèo, phong tục tập quán lạc hậu, đặc biệt là dân tộc thiểu số, thiếu việc làm. Các lợi ích trực tiếp mang lại cho người dân từ Vườn quốc gia và các dự án chưa dõ nét, thường xuyên. Tác động của du lịch và sự thiếu kết hợp quản lý, phát triển du lịch giữa các bên. Từ năm 2010 đến nay, đã bắt giữ, xử lý 85 vụ vi phạm lâm luật; tuy nhiên các vụ vi phạm giảm 10% so với trước đây.
Về định hướng bảo tồn đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Tam Đảo trong thời gian tới, ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Tam Đảo cho biết: Vườn sẽ tiếp tục củng cố hệ thống rừng hiện có theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị đa dạng sinh học, đảm bảo đạt chỉ tiêu chất lượng của rừng.
Kiểm kê, lưu giữ và bảo tồn các nguồn gen (vật nuôi, cây trồng, vi sinh vật) bản địa, nguy cấp, quý, hiếm, bảo đảm các nguồn gen bản địa, quý, hiếm không bị suy giảm và xói mòn. Triển khai đầy đủ các hoạt động dịch vụ môi trường rừng, bao gồm cả thị trường các bon; Nghiên cứu xây dựng giải pháp công nghệ phục vụ theo dõi, giám sát tài nguyên và môi trường rừng, tiềm năng dịch vụ môi trường rừng. Nâng cao năng lực giáo dục môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển dịch vụ du lịch sinh thái bền vững.
Với việc triển trai đồng bộ các giải pháp tin tưởng rằng, Vườn quốc gia Tam Đảo sẽ là nơi bảo tồn đa dạng sinh học, không chỉ của Việt Nam và thế giới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Vĩnh Phúc 28/6) đầu trang(
Một người dân khi đánh cá đầm Vân Trì, huyện Đông Anh, Hà Nội đã bắt được cá sấu nặng 73kg, dài gần 3m.
Trao đổi với phóng viên, ông Lê Văn Bình, 55 tuổi, ở xã Viên Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội, người bắt được cá sấu “khủng” ở hồ Vân Trì kể lại, sau khi bắt được cá sấu đưa lên bờ, đến 7h ngày 29/6, có một người đàn ông khoảng 50 tuổi đến hồ Vân Trì tự giới thiệu là nhân viên của Khu du lịch sinh thái Cọ Xanh (xã Nam Hồng, huyện Đông Anh).
“Người đàn ông này nói với tôi là con cá sấu vừa bắt được bị sổng chuồng từ nơi họ làm việc (khu Cọ Xanh) ra ngoài đầm. Tại đây, họ trả tôi hơn 7 triệu đồng để mua lại con cá sấu. Tôi có nói rằng nếu muốn mua với giá đó thì phải mang tiền mặt ra thì tôi mới bán. Tuy nhiên, tôi chờ đến 10h sáng cùng ngày, vẫn không thấy người đàn ông  quay lại mua cá sấu”, ông Bình kể.
Theo lời ông Bình, sau khi xem cá sấu xong, người đàn ông nêu trên có thông tin lại là sẽ về nhà hỏi ý kiến ông chủ rồi quay lại mua cá sấu.
“Tuy nhiên tôi chờ không thấy họ quay lại nên đã bán cho một người dân nuôi cá sấu ở trong xã với giá 8 triệu đồng. Tôi cũng không hiểu vì lý do gì mà người đàn ông kia lại không quay lại mua cá sấu nữa”, ông Bình chia sẻ.
Ông Bình cho hay, khu đầm Vân Trì có diện tích rất lớn, nằm trong 3 xã Vân Nội, Kim Nỗ, Nam Hồng của huyện Đông Anh, TP. Hà Nội. Hàng ngày, rất nhiều người dân ra khu đầm đánh bắt tôm cá.
Ông Bình có nhiều năm đánh bắt cá tại khu đầm này, tuy nhiên, đây là lần đầu tiên ông Bình phát hiện và bắt được cá sấu “khủng” đến vậy. “Cũng may là con cá sấu đã bị bắt lại, chứ nếu cứ để chúng sống ở dưới đầm thì sẽ làm hại đến người dân ra đây đánh bắt tôm cá”, ông Bình nói thêm.
Trước đó, vào khoảng 3h sáng 29/6, ông Bình dùng một chiếc thuyền nhỏ và kích điện đi bắt cá ở đầm Vân Trì. Trong quá trình đánh bắt cá, ông Bình phát hiện một vật thể lạ, nghi là một con cá to xuất hiện trước mình 10 mét.
Khi tiếp cận gần vật thể lạ, ông Bình  liền bấm điện xuống dưới nước thì thấy một con cá sấu lớn quẫy mạnh đuôi. Ông Bình tiếp tục dí điện để con cá bất tỉnh hẳn. Sau đó, ông Bình gọi thêm 3 người khác và dùng một chiếc thuyền lớn đưa con cá sấu này lên bờ. (Dân Việt 30/6) đầu trang(
Nhiều năm nay, tại khu vực ngã ba quốc lộ 62 - lộ N2, thị trấn Thạnh Hóa (Long An) tồn tại một khu chợ khá nổi tiếng chuyên bày bán các loại chim trời hoang dã.
Khu chợ này được mọc lên tự phát và dần lấn chiếm khu chợ tạm vốn được UBND huyện Thạnh Hóa cấp phép trước đó vốn chỉ được phép bày bán nông sản.
Theo ghi nhận của PV, tại khu vực này hiện nay có 22 hộ chuyên bày bán các loại chim, cò hoang dã với số lượng lên đến hàng ngàn con. Chim được nhốt trong lồng, cột treo bằng dây, một số đã chết bị vặt trụi lông treo bày bán cho người đi đường với giá trung bình vài trăm ngàn đến hàng triệu đồng/kg.
UBND tỉnh Long An đã từng có nhiều văn bản yêu cầu UBND huyện Thạnh Hóa chấn chỉnh lại hoạt động khu chợ này, đồng thời vận động người dân không mua bán các loài chim, cò hoang dã tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh và phản cảm, nhất là ở thời điểm Khu bảo tồn Láng Sen của tỉnh này vừa được công nhận khu Ramsar của thế giới. Tuy nhiên, đến nay thực trạng này vẫn không có gì thay đổi.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Lê Hữu Lợi, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết từ đầu năm đến nay lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản xử phạt tám trường hợp bán các loài chim nằm trong danh mục cần được bảo vệ.
Tuy nhiên, các loài chim thường được bày bán ở khu chợ này là vạc, cò trắng, trích, cu gáy, cu ngói, chim quốc, còng cọc, cò ruồi, le le nâu, chim sáo nâu, vịt trời...
‘‘Đáng nói là các loài chim, cò nói trên không nằm trong danh mục động vật quý hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm và động vật rừng thông thường theo Thông tư 47/2012 của Bộ NN&PTNT ngày 25-9-2012 về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường. Do đó, lực lượng kiểm lâm không thể xử phạt. Chúng tôi cũng đã có văn bản kiến nghị nên đưa tên các loài chim, cò nói trên vào danh mục để được bảo vệ nhưng đến nay vẫn chưa nhận được phản hồi’’ - ông Lợi cho biết. (Pháp Luật TP.HCM 30/6) đầu trang(
Chiều 21/6/2016, TAND quận Tân Bình (TP.HCM) mở phiên tòa cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Huỳnh Anh Khoa (tài khoản mạng xã hội Face book “Khoa Xì Trum”, SN 1993, ngụ phường 12, quận Gò Vấp, TP.HCM) vì tội danh “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ”.
Theo hồ sơ vụ án, Khoa thuê mặt bằng tại 93 Trần Thánh Tông (phường 15, quận Tân Bình) để mua bán động vật, không có giấy phép kinh doanh.
Sáng 3/12/2015, một đối tượng không rõ lai lịch gọi điện thoại cho Khoa đặt mua chín cá thể Rái cá với giá 3,5 triệu đồng/con và một cá thể Voọc chà vá chân đen với giá 6 triệu đồng. Đến 17h cùng ngày, Khoa mang “hàng” đến địa điểm hẹn trên đường Trần Thánh Tông để giao cho khách, bất ngờ bị phát hiện bắt giữ.
Cơ quan công an tiếp tục khám xét cửa hàng của Khoa phát hiện thêm 10 cá thể động vật khác, bao gồm các loài: Kỳ đà Nam Mỹ, Kỳ đà Savan Châu Phi, Sóc Bắc Mỹ, Sóc Prevost, Sóc Mun Côn Đảo, Cá sấu Xiêm.
Kết luận giám định của Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trong số những cá thể thu giữ được có chín cá thể Rái cá vuốt bé (thuộc họ Rái cá Lutranidae) và một xác cá thể Voọc chà vá chân đen.
Cả hai loài trên đều thuộc phụ lục 1B Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, cần được ưu tiên bảo vệ, cấm săn bắt, buôn bán.
Trước HĐXX, Khoa khai nhận đã mở cửa hàng từ năm 2012. Mặt hàng buôn bán chủ yếu là chó, mèo, chim, vẹt,... những con thú cưng cho những “cậu ấm, cô chiêu” Sài Gòn. Về sau, ai có nhu cầu đặt hàng những con thú khác, Khoa cũng sẵn sàng cung cấp.
Để tiện cho việc liên lạc giao dịch, Khoa lập tài khoản mạng xã hội Facebook mang tên “Khoa Xì Trum”, đăng kèm số điện thoại. Mọi hoạt động mua bán, hình ảnh “món hàng” là những loài động vật được Khoa đăng tải, giao dịch một cách công khai.
Năm 2014, Khoa đã bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện hành vi buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm trái phép, nhưng số lượng cá thể động vật ít nên chỉ bị phạt hành chính 3 triệu đồng.
Tại tòa, Khoa biện hộ: “Bị cáo phải nuôi mẹ già, vợ và hai con nhỏ. Người ta đặt hàng giá cao, bị cáo không biết đó là loài vật quý hiếm nên mua về bán lại để kiếm lời”.
Chủ tọa tiếp tục vặn: “Rõ ràng bị cáo đã bị phạt hành chính. Chẳng lẽ bị cáo không biết vì sao mình bị phạt? Hay phía cơ quan chức năng không giải thích cho bị cáo rõ? Hôm bị bắt bị cáo chỉ rõ tên từng loài động vật, rõ ràng bị cáo đã có nghiên cứu từ trước, tại sao bây giờ lại trả lời “không biết”?”
Trước những lập luận của chủ tọa phiên tòa, Khoa chỉ biết cúi đầu, im lặng.
Về nguồn gốc những cá thể động vật trên, Khoa vòng vo khai đặt mua từ trên mạng Interrnet. Sau đó có một người phụ nữ vận chuyển hàng đến bến xe, tiền cũng được gửi lại cho xe khách để chuyển đến chủ hàng. Khoa không trực tiếp mua bán.
Vị Hội thẩm nhân dân phân tích: “Tôi theo dõi rất kỹ trang Facebook của bị cáo. Nó thể hiện rất rõ từng ngày, thời gian nào bị cáo đi Thái Lan, đi Singapore, đi ra Bắc,... Bị cáo tự mình ra nước ngoài mua về rồi đăng lên mạng rao bán chứ hoàn toàn không có ai mang đến như bị cáo nói”. Khoa lặng lẽ cúi đầu nhận tội.
Chủ tọa phiên tòa tiếp tục: “Sau ngày bị bắt nhưng được cho tại ngoại, bị cáo có còn hoạt động mua bán động vật hoang dã nữa không”? Khoa lí nhí: “Dạ, không”.
Vị chủ tọa trưng ra một bản in ghi lại những hoạt động trên tài khoản “Khoa Xì Trum” rồi nghiêm nghị nói: “Bị cáo bị bắt ngày 3/12/2015 thì chưa đến năm ngày sau lại tiếp tục đăng tải hình ảnh động vật lên mạng để rao bán, và vẫn duy trì mua bán đến trước ngày ra tòa. Không những thế, bị cáo còn công khai tổ chức một trò chơi trên mạng, phần thưởng là một con Voọc.
Bị cáo không nhận thức được hành vi của mình gây nguy hại hay để lại hậu quả như thế nào. Trước sự gan lỳ phạm pháp của bị cáo, tôi thiết nghĩ đáng lẽ cơ quan công an phải quyết định tạm giam, thì có lẽ bị cáo mới có được bài học thích đáng”.
Trước những chứng cứ mà HĐXX đưa ra, Khoa vẫn cố chống chế: “Bị cáo chỉ nghĩ mua về chăm sóc, cho nó ăn, coi nó như con. Khi bán cho những người khác, bị cáo cũng chỉ hi vọng người ta cũng tận tình chăm sóc, yêu thương nó như vậy”.
Xét thấy hành vi của Khoa để lại hậu quả nghiêm trọng, lại không biết ăn năn hối cải nên cần thiết phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để kịp thời răn đe, Tòa tuyên án Khoa 5 năm tù giam về tội danh nói trên, nộp phạt 50 triệu đồng.  (Pháp Luật Việt Nam 29/6) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo Nghị định 40/2015/NĐ-CP của Chính Phủ, các trường hợp không ký hợp đồng chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng; không kê khai tiền phải chi trả dịch vụ; không chi trả, chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ sẽ bị phạt tiền đến 50 triệu đồng nếu người sử dụng dịch vụ môi trường rừng vi phạm các trường hợp sau:
Không ký hợp đồng chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam sau 03 tháng, kể từ khi sử dụng dịch vụ môi trường rừng; Không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 03 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền trên 500 triệu đồng.
Các mức phạt trên được áp dụng từ ngày 20/06/2015. (Báo Phú Thọ 29/6) đầu trang(
Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quyết định số 1134/QĐ-BNN-TCLN phê duyệt quy hoạch phát triển cây mắc ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020 và tiềm năng phát triển đến năm 2030. Theo đó, Kbang là địa phương duy nhất ở Gia Lai được phê duyệt quy hoạch trồng cây mắc ca với diện tích 600 ha (50 ha trồng thuần và 550 ha trồng xen trong cà phê).
Cũng theo Quyết định trên, để đảm bảo đầu ra ổn định cho cây mắc ca, vùng Tây Nguyên được thành lập 6 cơ sở sơ chế, chế biến. Trong đó, tỉnh Lâm Đồng 2 cơ sở và các tỉnh còn lại, mỗi tỉnh có 1 cơ sở sơ chế, chế biến. Đây được xem là cơ hội để huyện Kbang từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng và là điều kiện để người dân nơi đây nhân rộng mô hình trồng cây mắc ca nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, ổn định cuộc sống.
Trước đó, thấy được hiệu quả kinh tế từ cây mắc ca mang lại, năm 2010, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đak Rong đã đưa vào trồng thí nghiệm 3 ha trên địa bàn huyện Kbang. Một năm sau, huyện Kbang bắt đầu triển khai hỗ trợ người dân các xã Sơ Pai, Sơn Lang, Krong, Đak Rong, Lơ Ku, Nghĩa An và thị trấn Kbang trồng thí điểm cây mắc ca xen trong vườn cây cà phê với tổng kinh phí hỗ trợ giống trồng hơn 1,1 tỷ đồng. Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Kbang, đến nay, người dân trong huyện đã trồng được hơn 113 ha cây mắc ca với các loại giống như: 246, 695, 788, 816, 800, OC, Dadow, H2, QN1.
Sau 6 năm đưa vào trồng thử nghiệm, cây mắc ca tại một số vùng trên địa bàn huyện Kbang đã thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Một số diện tích trồng từ năm 2010, 2011 tại xã Đak Rong đã bắt đầu cho thu hoạch.
Ông Đồng Hữu Công-nguyên Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đak Rong-người đầu tiên đưa cây mắc ca vào trồng xen trong cà phê ở huyện Kbang cho biết: “Năm 2010, chúng tôi trồng xen 3 ha mắc ca giống H2 và OC của Viện Khoa học-Kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên trong vườn cà phê vối 20 năm tuổi với khoảng cách 6 mét x 6 mét được 277 cây/ha. Đến năm 2014, diện tích này đã thu bói khoảng 150 kg quả khô/3 ha. Vụ này, tôi dự tính có thể thu khoảng 3 kg hạt khô/cây. Nhìn chung, cây mắc ca sinh trưởng, phát triển tốt, sâu bệnh hại hầu như không có và tương đối thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương. Tuy nhiên, đầu ra của cây mắc ca hiện vẫn chưa ổn định”.
Ông Mã Văn Tình-Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Kbang cho hay: Thời gian qua, ngoài mô hình thí điểm cây mắc ca của huyện thì một số hộ dân cũng mạnh dạn đưa vào trồng loại cây này vì đây là cây có giá trị kinh tế cao, có thể thay thế hoặc trồng xen trong các diện tích cà phê già cỗi tại một số xã như Sơn Lang, Đak Rong, Sơ Pai, Krong...
Qua theo dõi cho thấy, loại cây này sinh trưởng tương đối phù hợp với điều kiện của địa phương. Một số diện tích giống OC và H2 đã ra hoa, đậu quả. Từ năm 2011 đến nay, Công ty TNHH Vinamaca và Du lịch Đức Anh (tỉnh Đak Lak) đã tham gia đầu tư trồng mắc ca trên địa bàn huyện với hình thức đầu tư ứng trước 40% giá trị giống cây, sau 4 năm người dân sẽ thanh toán sản phẩm cho doanh nghiệp và ký hợp đồng đầu tư, bao tiêu sản phẩm. Vừa qua, huyện cũng đã làm việc với Công ty Mắc ca Cao Nguyên Xanh về việc đầu tư và bao tiêu sản phẩm để giúp người dân trồng mắc ca có đầu ra ổn định.
Mắc ca được đánh giá là cây có giá trị kinh tế cao. Nếu sản lượng bình quân 4 tấn/ha, có được đầu ra ổn định, trừ chi phí, mỗi ha cũng có thể thu lãi khoảng 100 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, mắc ca không phải là loại cây dễ trồng. Theo các nhà khoa học, cây mắc ca có thể trồng ở nhiều nơi nhưng để cây có quả, có hạt thì lại rất ít nơi trồng được và không phải vùng nào ở Tây Nguyên cũng phù hợp, chưa kể vấn đề biến đổi khí hậu nên khó ổn định năng suất với những cây đã cho quả.
Kỹ thuật trồng cây mắc ca cũng rất phức tạp, phải hiểu rõ giống nào được trồng chung với giống nào, giống nào trồng dày, trồng thưa chứ không thể trồng theo cảm tính như những cây trồng khác bởi đây là loại cây thụ phấn chéo, nhờ giống khác mới thụ phấn nên phải trồng 3-4 loại giống trên cùng một vườn. Ngoài ra, thời gian đầu tư đến thu hoạch tương đối dài (7-8 năm), vì thế, người trồng cần thận trọng khi chọn địa điểm đầu tư, phát triển đối với loại cây trồng này. (Báo Gia Lai 28/6) đầu trang(
Ngày 29.6, tin từ UBND tỉnh Quảng Bình cho biết, vừa cho phép Cty TNHH MTV Chua Me Đất (Oxalis) được phép khai thác tuyến du lịch hang Tiên 1 và hang Tiên 2.
Trong đó, hang Tiên 2 là một trong số 57 hang động vừa được ông Howard Limbert - trưởng đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh – báo cáo mới phát hiện tại Quảng Bình.
Hang Tiên 1 (ở xã Cao Quảng, huyện Tuyên Hóa) là hang động cuối cùng thuộc hệ thống hang động Tú Làn (huyện Minh Hóa) và hang Tiên 2 là hang nối của hang Tiên 1; nằm cách nhau khoảng 300m.
Theo ông Nguyễn Châu Á – Tổng GĐ Công ty Oxalis - thì dự kiến khoảng giữa tháng 7.2016 sẽ chính thức đưa vào khai thác tuyến du lịch trên với 3 tour trải nghiệm: 1 ngày, 2 ngày và tour thám hiểm cùng hệ thống hang động Tú Làn trong vòng 4 ngày.
Được biết, hang Tiên 1 được phát hiện từ năm 1994 còn hang Tiên 2 là một trong 57 hang vừa mới được phát hiện.
Hang Tiên 2 còn gọi là hang Gió vì trước cửa hang có gió rất mạnh; hang có chiều dài 2.519 m, vòm chính của hang dài khoảng 400 m, cao khoảng 30 m, nơi sâu nhất 94 m so với mặt đất. Nét đặc biệt của hang Tiên 2 là hệ thống các vân đá kỳ ảo trên các trần hang.
Như Lao Động đã thông tin, UBND tỉnh Quảng Bình vừa có buổi làm việc với ông Howard Limbert - trưởng đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh - về việc báo cáo kết quả thám hiểm những hang động vừa mới phát hiện tại Quảng Bình.
Theo đó, trong thời gian hơn 1 tháng, Đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh gồm 13 thành viên do ông Howard Limbert làm trưởng đoàn cùng với các nhà khoa học của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội và cán bộ của Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cùng người dân địa phương đã tiến hành chinh phục, thám hiểm nhiều hang động tại Phong Nha –Kẻ Bàng.
Kết quả, đoàn đã khám phá ra 57 hang động ở 14 khu vực khác nhau với tổng chiều dài lên đến 20,127m. Đây là những khu vực xa xôi, hẻo lánh nên rất khó khăn trong vấn đề thám hiểm.
Đặc biệt, trong lần thám hiểm này, đoàn đã phát hiện nhiều hố sụt lớn trong các hang và nhiều động vật quý hiếm; phát hiện ra bò cạp trắng, nhiều loài cá và giáp xác khác lạ như các loài có thân hình trong suốt. Đây là những thông tin quý giá về mặt khoa học trong việc nghiên cứu địa chất, địa mạo và đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng.
Nhiều hang động có giá trị về cảnh quan (thạch nhũ, trần hang, dòng chảy ngầm, bãi cát, vách đá, vòm hang…) có nhiều tiềm năng cho việc phát triển du lịch.
Theo thống kê, từ năm 1990 đến nay, đây là lần thứ 17, đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh tiến hành khảo sát và thám hiểm hang động tại Phong Nha - Kẻ Bàng. Đoàn đã khảo sát tổng cộng 311 hang động lớn nhỏ với tổng chiều dài thám hiểm là trên 200km.
Theo ông Nguyễn Hữu Hoài - Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình – thì với việc phát hiện ra hàng chục hang động mới đã một lần nữa khẳng định thêm về việc nhận định Quảng Bình là “Vương quốc hang động”. Đây là những tài sản quý giá mà không nơi nào có được, tỉnh Quảng Bình sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy có hiệu quả những giá trị trên. (Lao Động 29/6) đầu trang(
Năm 2016, Bắc Kạn có kế hoạch trồng 7.000ha rừng, trong đó diện tích trồng rừng tập trung là 6.100ha, còn lại là trồng cây phân tán và người dân tự trồng.
Ngay từ đầu vụ, các địa phương đã tổ chức cho các hộ đăng ký trồng rừng sớm, chỉ đạo công tác gieo ươm cây giống, phát dọn thực bì, cuốc hố... để khi mưa xuống tiến hành ngay việc trồng rừng.
Bước vào đầu vụ, thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài đã làm gián đoạn việc triển khai trồng rừng của người dân trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã xuất hiện những cơn mưa tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiến hành trồng rừng.
Tại huyện Bạch Thông, những ngày này, cùng với thu hoạch lúa xuân, người dân cũng đang tiến hành trồng rừng. Theo kế hoạch năm 2016, Bạch Thông trồng mới 500ha rừng. Ban Quản lý bảo vệ và phát triển rừng của huyện đã cung ứng hơn 80 vạn cây giống cho người dân.
Về cơ cấu giống cây trồng chủ yếu là keo và mỡ, đây là hai loại cây có thời gian sinh trưởng ngắn, đầu ra ổn định. Để đảm bảo tiến độ trồng rừng, cơ quan chuyên môn huyện đã chỉ đạo người dân đẩy nhanh tiến độ xử lý thực bì và giao cây giống đúng thời gian quy định cho bà con. Dự kiến đến giữa tháng 7, người dân Bạch Thông sẽ trồng rừng xong toàn bộ diện tích đã đăng ký.
Vụ trồng rừng năm nay, toàn tỉnh có 11 vườn ươm với 13 triệu cây giống các loại. Để đảm bảo chất lượng cây giống trước khi xuất vườn, Chi cục Lâm nghiệp đã chỉ đạo các đơn vị gieo ươm thực hiện đúng quy trình gieo ươm, đặc biệt chú trọng khâu thẩm định các lô cây giống trước khi xuất vườn theo từng loại cây.
Hiện nay, toàn tỉnh trồng rừng đạt 43% kế hoạch. Trong đó các huyện đạt khá gồm: Ba Bể đạt 82%, Chợ Mới đạt 80% và Bạch Thông đạt 78% so với kế hoạch… Trên cơ sở nắm bắt tình hình tại các địa phương, đối với những địa bàn khó khăn, tỉnh đã chỉ đạo ngành chuyên môn phối hợp với chính quyền địa phương tích cực xuống cơ sở tuyên truyền vận động, hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng rừng cũng như đẩy nhanh tiến độ trồng rừng.
Song song với việc chỉ đạo, đôn đốc bà con trên địa bàn tỉnh trồng rừng theo kế hoạch, UBND tỉnh cũng chỉ đạo các đơn vị, hộ dân thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng tự nhiên và rừng đã trồng; tuyên truyền nâng cao ý thức của các tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; phát hiện và xử lý nghiêm những cá nhân, đơn vị sử dụng đất trồng rừng sai mục đích. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 28/6) đầu trang(
Theo quy định của UBND tỉnh tại văn bản số 1894/UBND-NLN2 về việc lựa chọn loại cây trồng cải tạo môi trường trên địa bàn đã yêu cầu các đơn vị thuộc ngành Than và Tổng Công ty Đông Bắc, trong quá trình trồng rừng hoàn nguyên môi trường cần lựa chọn loại cây thông, phi lao hoặc cây bản địa (các loại cây đặc hữu địa phương như lim, sến, táu, lát hoa…); không trồng cỏ vetiver; hạn chế tối đa trồng loại cây keo… Quy định này của UBND tỉnh được đánh giá phù hợp tình hình cải tạo phục hồi môi trường hiện nay, đúng với định hướng quy hoạch rừng phòng hộ của tỉnh, đảm bảo tiêu chuẩn về định hình khu rừng phòng hộ, góp phần tăng độ che phủ rừng, cải tạo môi trường trên địa bàn.
Nhằm bảo vệ và hạn chế sự tác động xấu đến môi trường trong quá trình khai thác than, các đơn vị ngành Than đã lựa chọn các loại cây trồng hoàn nguyên môi trường có tính thích ứng cao và có khả năng giữ đất, ổn định sườn bãi thải, chống xói lở.
Để cải tạo các bãi thải trong giai đoạn đầu (dưới 10 năm), nơi có môi trường khô cằn, nghèo dinh dưỡng, các đơn vị ngành than đã lựa chọn trồng các loại cây cỏ có rễ lan, dễ sống (cỏ le, chè vè, lau, chít...), các loại cây bụi (cây dẻ ngon, thao kén, thẩu tấu, sim, mua...). Cụ thể, các bãi thải Nam Lộ Phong, Nam Đèo Nai được trồng cây sắn dây dại, bìm bìm, lau le, chít; bãi thải LV.14 (Hà Tu) trồng cây tre gai; bãi thải LV.46 (Hồng Thái), bãi thải Chính Bắc (Núi Béo) trồng cỏ vetiver…
Đối với các bãi thải tồn tại trên 10 năm, địa chất tương đối ổn định, phù hợp với các loại cây thân gỗ nhỏ đã được các đơn vị trồng một số loài thân gỗ có khả năng chịu hạn và thích ứng với điều kiện đất đá của bãi thải, trong đó loại cây keo được trồng trên diện tích lớn. Theo báo cáo của ngành Than, tính đến thời điểm này toàn ngành đã trồng rừng cải tạo môi trường được trên 1.000ha, trong đó chủ yếu là diện tích keo.
Có thể khẳng định rằng trong thời gian qua việc trồng rừng hoàn nguyên môi trường của các đơn vị ngành Than đã đạt được mục tiêu ban đầu, là giữ đất, nước, cải tạo đất, chống xói lở đất. Tuy nhiên đến thời điểm này, bản thân các loại cây đang được ngành Than ưu tiên lựa chọn trồng cũng đã bộc lộ nhược điểm, chưa phù hợp với mục tiêu phát triển rừng bền vững.
Cụ thể các loại cây bụi không trở thành rừng, ít có tác dụng nâng cao độ che phủ của rừng, còn dễ xảy ra cháy rừng vì khả năng bắt lửa lớn và cháy lan. Riêng cây keo chỉ phát triển đến trên 10 năm thì bắt đầu thoái hoá, rỗng ruột, bị sâu bệnh, chết khô… chưa phù hợp với mục tiêu phát triển rừng bền vững. Trong khi đó, hiện nay theo quy hoạch bổ sung các diện tích rừng hoàn nguyên này của ngành Than vào rừng phòng hộ, nhằm nâng cao độ che phủ của rừng và phát triển rừng bền vững, cải thiện môi trường.
Định hướng của UBND tỉnh là quy hoạch, bổ sung các diện tích rừng trồng hoàn nguyên môi trường của ngành Than vào rừng phòng hộ. Cùng với đó thì diện tích rừng trồng hoàn nguyên của các đơn vị ngành Than những năm qua cũng đã đạt con số đáng kể và với sự quan tâm đầu tư của ngành như hiện nay thì diện tích trên sẽ ngày càng được mở rộng.
Trong khi đa số các bãi thải than trên địa bàn đã được định hình trong thời gian dài, địa chất ổn định, phù hợp với việc trồng các loại cây lấy gỗ. Chính bởi vậy yêu cầu đặt ra cần phải thay đổi cơ cấu cây trồng tại các diện tích trồng rừng hoàn nguyên môi trường để đạt được tiêu chí của rừng phòng hộ.
Theo các chuyên gia, các loại cây lấy gỗ ngoài keo như thông, phi lao, cây bản địa là phù hợp, riêng cây keo tiến tới giảm dần diện tích. Đây là các loại cây có tuổi thọ dài, trên 50 năm, đặc biệt các cây bản địa sống đến hàng trăm năm, có khả năng thích ứng với đất đai, khí hậu, đáp ứng rất tốt yêu cầu về rừng phòng hộ. Thực tế Công ty Than Đèo Nai đã từng trồng thành công các loại cây lấy gỗ khó tính như cây hồi, quế tại các khu vực bãi thải của đơn vị.
Theo các chuyên gia lâm nghiệp, việc lựa chọn các loại cây thông, phi lao, cây bản địa để trồng rừng hoàn nguyên môi trường cũng sẽ có những khó khăn đó là buộc phải đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật trồng rừng thì cây mới phát triển được (hố trồng, mật độ trồng, giống, kỹ thuật bón lót trước và trong khi trồng…). Tuy nhiên với sự quan tâm, đầu tư của ngành Than trong nhiều năm qua thì mục tiêu này hoàn toàn có thể thành công được.
Có thể thấy, việc thay đổi cơ cấu giống cây trồng trên các diện tích đất hoàn nguyên môi trường theo hướng lựa chọn các loại cây lấy gỗ, trong đó ưu tiên cây thông, phi lao, cây bản địa cho thấy đây là xu hướng tất yếu, phù hợp với các mục tiêu bảo vệ môi trường, cần thiết được triển khai sớm và đồng bộ. (Báo Quảng Ninh 28/6) đầu trang(
Ngày 20/6/2016 UBND tỉnh ban hành Công văn số 4799/UBND-NNMT gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc UBND tỉnh nhận được Công văn số 08CVTHL ngày 01/6/2016 của Công ty TNHH Nguyên liệu giấy Tân Hưng Long, về việc xin thuê đất trồng rừng.
Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét đề nghị của Công ty TNHH Nguyên liệu giấy Tân Hưng Long tại Văn bản nêu trên, hướng dẫn, giải quyết theo quy định. Trường hợp vượt thẩm quyền thì báo cáo, đề xuất tham mưu UBND tỉnh. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Đắk Lắk 29/6) đầu trang(
Theo Quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Tổng cục Lâm nghiệp, diện tích và sản lượng gỗ rừng trồng đã tăng trong thời gian qua nhưng chủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ,… giá trị kinh tế thấp, chưa có giải pháp về kỹ thuật và chính sách để phát triển trồng rừng gỗ lớn phục vụ cho sản xuất đồ mộc, gỗ xuất khẩu với giá trị kinh tế cao.
Vì vậy việc trồng rừng thâm canh để nâng cao năng suất gỗ rừng trồng là rất cần thiết và được xem như là một giải pháp khoa học công nghệ có hiệu quả nhất để khắc phục những tồn tại trên.
Từ ngày 21 đến ngày 23/6/2016, tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức lớp tập huấn ToT “Bồi dưỡng phương pháp khuyến nông và kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn thâm canh” cho 30 học viên là cán bộ, cộng tác viên và khuyến nông viên của hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng.
Trong 03 ngày học tập, học viên được giảng viên của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chia sẻ những kiến thức về: Phương pháp và kỹ năng tập huấn khuyến nông; Tổng quan về phát triển gỗ lớn tại Việt Nam và trên thế giới; Kỹ thuật trồng, chăm sóc và chuyển hóa từ rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn cho một số loài cây mọc nhanh. Đồng thời lớp tập huấn cũng giới thiệu một số mô hình trồng rừng gỗ lớn thâm canh thành công tại Việt Nam.
Đối với hệ sinh thái rừng trồng, tính bền vững và ổn định kém, nên rất dễ bị tổn thương do các tác động bất lợi. Do đó việc phòng trừ sâu bệnh hại là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng. Chính vì vậy khóa tập huấn đã chú trọng đến việc phòng trừ sâu bệnh hại cho rừng trồng.
Với nguyên tắc học bằng thực hành, học thông qua trao đổi và thảo luận, quá trình học tập diễn ra sôi nổi cả tại phòng học và ngoài thực địa. Ngoài thực hành tạo hố trồng cây, học viên được thực hành quan sát, phát hiện sâu bệnh hại và cách phòng trừ sâu bệnh hại tại vườn ươm và rừng trồng cùng với sự hướng dẫn của giảng viên.
Qua khóa tập huấn, các học viên đánh giá cao nội dung, chương trình tập huấn cũng như sự nhiệt tình, tâm huyết của giảng viên đã giúp học viên nắm vững phương pháp khuyến nông và kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn thâm canh góp phần thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. (Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia 29/6) đầu trang(
Không nằm trong quy hoạch về ngành giấy của Chính phủ, không có vùng nguyên liệu nhưng Lee & Man vẫn được cấp phép để đặt một nhà máy giấy khổng lồ cặp bờ sông Hậu. Ít ai biết rằng, để cấp phép cho dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cả vùng tây nam sông Hậu này, chúng ta đã để mất đi nhiều cơ hội lớn khác.
Lee & Man ra đời trong bối cảnh VN và Nhật Bản đang phối hợp thực hiện một chương trình trồng rừng tràm và chế biến các sản phẩm từ tràm. Năm 2005, Nhóm hợp tác nghiên cứu Việt - Nhật (nhóm nghiên cứu) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Trồng rừng tràm trên những vùng đất chua nặng ở ĐBSCL và công dụng thương phẩm mới của nó”.
Bởi trước đó, ĐBSCL có trên 500.000 ha đất chua nặng chỉ thích hợp để trồng tràm làm cừ, phục vụ xây dựng. Thực ra từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, Chính phủ kỳ vọng trồng rừng tràm trên đất chua càng nhiều càng tốt để cải tạo đất sản xuất lúa năng suất thấp. Chính phủ Nhật hỗ trợ kỹ thuật trồng tràm thông qua Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và Viện Khoa học rừng VN từ năm 1997.
Tuy nhiên, khi công nghệ xây dựng dùng cừ tràm không còn được sử dụng phổ biến nên giá bán giảm mạnh và người dân bắt đầu quay lưng với cây tràm. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu thực hiện nghiên cứu trên với 2 mục tiêu là tìm đầu ra cho các sản phẩm chế biến từ cây tràm và hơn hết là thực hiện mục tiêu của dự án quốc gia về trồng mới 5 triệu ha rừng.
Sau giai đoạn nghiên cứu tính khả thi của cây tràm, nhóm nghiên cứu nhận thấy có thể đầu tư sâu vào chế biến cây tràm để cho ra nhiều sản phẩm khác nhau như bột giấy, gỗ xẻ, gỗ băm để làm ván ép, cồn ethanol... Vốn là một nước có công nghệ chế biến giấy vào loại tiên tiến nhất thế giới nên Nhật đã lập ra một chương trình trồng rừng và chế biến các sản phẩm từ cây tràm bằng nguồn vốn vay ODA từ nước này, khoảng 1,2 tỉ USD. Dự án sẽ tiến hành trồng rừng tại
6 tỉnh phèn nặng và đang có tràm là: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Hậu Giang, Cà Mau trên tổng diện tích từ 400.000 - 500.000 ha. Kinh phí trên sẽ được đầu tư cho nông dân trồng rừng, giai đoạn đầu 7 năm không lãi suất; xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ trồng và vận chuyển sản phẩm từ rừng; xây dựng nhà máy chế biến.
Khi báo cáo ở Nhật, dự án được phía bạn nhiệt tình ủng hộ và xếp vào nhóm ưu tiên giải ngân. Thế nhưng cuối cùng phía VN lại không đưa dự án này vào danh sách các dự án đề xuất Nhật hỗ trợ vốn vay ODA.
Điều đáng nói là ngay lúc đó, Lee & Man xuất hiện. Ban đầu tập đoàn này muốn đặt nhà máy ở Cần Thơ nhưng bị các chuyên gia môi trường ở Trường ĐH Cần Thơ mà lãnh đạo tỉnh này mời tham gia tiếp xúc phản đối, vì lo ngại sẽ xảy ra những tác động xấu đến môi trường và đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt. Ở Cần Thơ không được, Lee & Man đã chuyển hướng về Hậu Giang.
TS Dương Văn Ni, Trường ĐH Cần Thơ, thành viên nhóm nghiên cứu kể lại, cái khó nhất của dự án trồng rừng tràm chính là việc lựa chọn đặt nhà máy ở đâu vì thời điểm đó trên thế giới chưa có công nghệ nào có thể xử lý triệt để chất thải của nhà máy giấy. Chính vì vậy các chuyên gia cả phía VN và Nhật Bản thống nhất là không thể đặt nhà máy giấy ở vùng ĐBSCL được vì những tác hại về môi trường là vô cùng to lớn. Có 3 phương án được đưa ra lúc đó.
Thứ nhất là xây dựng nhà máy chế biến giấy ở Bình Dương và làm các nhà máy chế biến gỗ băm ở vùng đồng bằng rồi chuyển nguyên liệu lên Bình Dương chế biến. Nhưng do khó khăn về hạ tầng giao thông, cầu cảng nên phương án này không khả thi. Một phương án khác là xây nhà máy giấy ở huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An có gần nguồn nguyên liệu nhưng huyện này thuộc vùng Đồng Tháp Mười.
Nếu xây dựng nhà máy giấy ở đây sẽ gây nguy cơ về môi trường rất lớn cho cả khu vực này. Thứ ba là sản xuất gỗ băm để đưa sang chế biến giấy ở các nhà máy có sẵn bên Nhật. Nhưng phương án này cũng không khả thi vì chi phí vận chuyển lớn.
Nhưng trong khi nhóm chuyên gia đang loay hoay tìm giải pháp tối ưu nhất thì Lee & Man "nhảy vào". Tập đoàn này cho biết sử dụng nguyên liệu nhập khẩu để chế biến giấy và vận chuyển bằng đường thủy; công nghệ chế biến giấy “siêu hiện đại” không gây ô nhiễm, công nghệ xử lý nước thải trên cả chuẩn A...
"Nhưng khi chúng tôi chất vấn, nếu nhập khẩu nguyên liệu bằng đường thủy sao không đưa nhà máy ra ngoài gần biển để giảm chi phí vì sông Hậu có nhiều cù lao, tàu lớn không vào được? Nếu công nghệ chế biến giấy “siêu hiện đại” không thể tiết lộ thì hãy cho biết sản phẩm giấy mà công ty sản xuất ra là gì? Tái sử dụng bao nhiêu phần trăm nước thải đã qua xử lý?... thì họ không trả lời được. Họ chỉ cho biết, sản phẩm là giấy bao bì và bao bì cao cấp" - TS Dương Văn Ni kể và phân tích, giấy bao bì dù có cao cấp cũng không phải là dòng sản phẩm cao cấp của ngành công nghiệp chế biến giấy mà chỉ là sản phẩm cấp thấp.
“Về mặt kinh tế, sản phẩm không phải hàng cao cấp thì lẽ nào họ lại đầu tư công nghệ chế biến hiện đại?”, chuyên gia này nghi vấn.
Theo một chuyên gia môi trường, nếu chọn dự án ODA của Nhật, đầu tiên chúng ta có cơ hội tốt để xây dựng vùng nguyên liệu có chứng chỉ rừng, có xuất xứ để sản xuất ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Thứ hai, có nguồn vốn để nông dân trồng rừng và cải thiện thu nhập.
Thứ ba, với nhiều vùng đất phèn rất nặng, mùa nắng thì thiếu nước ngọt mùa mưa sâu bệnh, chuyển qua trồng tràm giải quyết được các vấn đề này. Thứ tư, chúng ta xây dựng chuỗi giá trị lâm sản từ trồng rừng đến chế biến xuất khẩu (xuất đi Nhật), có một đầu ra ổn định. Nhưng chúng ta đã chọn nhà máy giấy của Lee & Man và đối diện với nguy cơ môi trường của sông Hậu như hiện nay.
PGS-TS Nguyễn Văn Sánh, Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (ĐH Cần Thơ) nhận xét: Đối với ĐBSCL, tài nguyên nước là quan trọng cho mọi hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Vì thế không chỉ nhà máy giấy ở Hậu Giang mà tất cả các hoạt động công nghiệp theo sông cũng cần phải suy xét lại. (Thanh Niên 30/6) đầu trang(
Tỉnh Kon Tum đang nỗ lực mở rộng diện tích rừng trồng, tăng độ che phủ của rừng trên địa bàn.
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Kon Tum, bên cạnh một số địa phương, đơn vị để mất rừng một cách đáng tiếc, cũng có những đơn vị, chủ rừng, chính quyền địa phương đã làm tốt công tác trồng rừngthay thế, góp phần đáng kể trong việc phủ xanh đồi núi trọc, tăng độ che phủ của rừng trên địa bàn.
Công ty Lâm nghiệp Kon Rẫy được đánh giá là một trong những đơn vị thực hiện tốt công tác trồng rừng trong nhiều năm liên tục. Năm 2016, Công ty được giao trồng 420 ha rừng thông 3 lá trên địa bàn 2 xã Đăk Kôi, Tân Lập, huyện Kon Rẫy.
Ngoài kế hoạch trồng mới 420 ha của công ty lâm nghiệp Kon Rẫy, trong năm 2016, tỉnh Kon Tum cũng đã giao cho các đơn vị khác trồng 1.100 ha rừng thay thế diện tích rừng bị quy hoạch xây dựng thủy điện, hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng khác. Được biết từ năm 2011 đến nay, tỉnh Kon Tum đã trồng mới được trên 6.600 ha rừng các loại. Hiện tại độ che phủ rừng của tỉnh Kon Tum đạt 62,3%, cao nhất tại khu vực Tây Nguyên. (Đài Truyền Hình Việt Nam 28/6) đầu trang(
Theo ông Hoài, Dự án điện sinh khối do Tập đoàn Dohwa xin chủ trương đầu tư tại Quảng Bình có công suất 100MW, chia làm 2 giai đoạn (mỗi giai đoạn có công suất 50MW), tổng mức đầu tư khoảng 400 triệu USD.
Dự án nhiệt điện sinh khối là nguồn năng lượng sạch, nguồn nhiên liệu chạy máy lấy từ phế phẩm gỗ rừng trồng (gỗ dăm, cành, ngọn, rễ, lá cây...), mỗi năm tiêu thụ khoảng 500 ngàn tấn nguyên liệu.
Tại buổi làm việc, ông Park Jun Hee, Phó Chủ tịch Tập đoàn Dohwa đã cung cấp một số thông tin cơ bản về quá trình triển khai đầu tư Dự án Điện sinh khối trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Được biết, đầu năm 2016, tỉnh Quảng Bình đã cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án Nhà máy sản xuất viên nén năng lượng do Tập đoàn Dohwa làm chủ đầu tư tại Khu công nghiệp Hòn La.
Quy mô dự án tiêu thụ 300.000m3 gỗ rừng trồng để sản xuất viên nén năng lượng xuất khẩu, vốn đầu tư 240 tỷ đồng, thu hút khoảng 200 lao động tại địa phương. Dự kiến dự án sẽ khởi công trong quý III-2016 và đi vào sản xuất cuối năm 2017. (Dân Trí 29/6) đầu trang(
Ngày 29-6, Tòa án nhân tỉnh Quảng Ninh mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên án hai bị cáo Vũ Duy Cõi (65 tuổi) và Trần Thị Mình (63 tuổi, cùng trú tại phường Hải Hòa, TP Móng Cái) về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”.
Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, ngày 14-3-1992, UBND huyện Hải Ninh (nay là TP Móng Cái) giao hộ gia đình ông Vương Văn Đặng 4,4 ha đất lâm nghiệp để trồng rừng tại khu vực Đồi Vua thuộc xã Hải Xuân (nay là phường Hải Hòa), thời hạn 50 năm.
Đến năm 1994, gia đình ông Đặng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho gia đình ông Vũ Duy Cõi, lúc này vợ ông Cõi là bà Trần Thị Mình.
Việc chuyển nhượng có sự xác nhận của UBND xã Hải Xuân và được sự đồng ý của Hạt kiểm lâm huyện Hải Ninh.
Tuy nhiên, trong thời gian tiếp quản đất từ năm 2006 đến năm 2013, ông Cõi nhiều lần chuyển quyền sử dụng đất trái với quy định của Nhà nước khi chia đất lâm nghiệp thành các ô, lô nhỏ, xây dựng nhà cấp 4 và móng nhà cấp 4, sau đó bán cho các cá nhân, đơn vị.
Với tổng diện tích đất chuyển nhượng trái phép gần 5.500m2, ông Cõi thu lợi bất chính hơn 4,3 tỉ đồng.
Năm 2007, ông Cõi ly dị bà Mình. Bà Mình tự ý xây dựng nhà cấp 4 để cho thuê, chia đất lâm nghiệp thành các ô, lô nhỏ để bán cho 4 cá nhân xây dựng nhà ở và tặng cho 4 người con. Diện tích đất chuyển nhượng trái phép gần 1.300m2 với trị giá hơn 1 tỉ đồng và thu lời trên 200 triệu đồng.
Việc chuyển nhượng đất cho các hộ dân chỉ bằng hình thức giấy tờ viết tay, hầu hết không có xác nhận của chính quyền địa phương và không thực hiện các thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định.
Với hành vi phạm tội nêu trên, TAND tỉnh Quảng Ninh tuyên phạt bị cáo Vũ Duy Cõi 3 năm tù giam và bị cáo Trần Thị Mình 2 năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”, đồng thời thu hồi toàn bộ đất giao lại cho UBND thành phố Móng cái xem xét giải quyết, buộc thu hồi khoản tiền của 2 bị cáo trên có được từ việc bán đất để sung công quỹ. (Tuổi Trẻ 29/6) đầu trang(
Với kỳ vọng tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương, nhưng đến nay Dự án chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai đã gây ra nhiều hệ lụy: Rừng bị tàn phá; người dân mất đất sản xuất, việc làm không ổn định, đời sống của nhiều hộ dân trong vùng dự án gặp nhiều khó khăn...
Xã biên giới Ia Púch (Chư Prông, Gia Lai) có diện tích đất tự nhiên là 267,46km² với hơn 3.000 nhân khẩu nhưng có tới 5 doanh nghiệp được giao đất trồng cao su với hơn 9.000ha cao su đại điền; 132ha cao su tiểu điền; gần 772ha cây công nghiệp dài ngày như điều, cà phê, hồ tiêu và 300ha đất trồng sắn hàng năm…
Diện tích cây trồng nhiều, nhưng ít ai ngờ Ia Púch lại là xã có tới 34% hộ nghèo. Trước đây khi chưa bị thu hồi đất, người dân Ia Púch còn có rẫy để làm, đói thì lên rừng săn bắt, hái lượm kiếm ăn. Từ khi bị thu hồi đất năm 2009 đến nay công ăn việc làm không có, tiền đền bù với giá rẻ 2,5 triệu đồng/ha tằn tiện cũng hết, nên nhiều hộ dân trong vùng dự án trở nên túng đói.
Trước đây gia đình Rơ Ma Khen, làng Brang, xã Ia Púch có hơn 2ha đất rẫy trồng sắn, cuộc sống không dư giả nhưng cũng đủ ăn. Từ khi được chính quyền vận động thu hồi đất giao cho doanh nghiệp và lời hứa nhận một người vào làm công nhân dài hạn với thu nhập từ 4 - 6 triệu đồng/tháng, gia đình đã tin tưởng giao toàn bộ đất sản xuất và đất ở cho doanh nghiệp.
Để khắc phục khó khăn, anh Khen phải mượn đất trong khu sinh hoạt cộng đồng của làng cất chòi lợp tôn rộng khoảng 15m2 cho 5 người trong gia đình ở. Khi phóng viên đến, Khen không có nhà. Trưởng làng Brang Rơ Mah Chat cho biết: “Giờ Khen chẳng còn đất vì bị thu hồi hết. Khen đi làm cỏ thuê cho người ta. Hôm nào không ai thuê thì đi mót mủ cao su, kiếm mấy đồng đắp đổi qua ngày”.
Cả làng Brang có khoảng 30 hộ bị thu hồi gần 17ha đất. Những ngày đầu giao đất làm dự án, làng có gần 20 người được nhận vào làm công nhân. Lâu dần vì áp lực công việc lại không phù hợp với phong tục tập quán của người dân địa phương nên đến nay chỉ còn lại 2 người làm công nhân.
Cùng chung cảnh ngộ là người dân ở làng Goòng, xã Ia Púch. Trưởng làng Goòng Siu Hiếk cho biết, làng có khoảng 200 hộ dân, có 20 hộ dân bị thu hồi 16ha đất, nhưng chỉ có 6 người được làm công nhân cao su. Cuộc sống của người dân các vùng dự án chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su trên địa bàn toàn tỉnh Gia Lai đã và đang thực sự bị đảo lộn và rơi vào đường cùng.
Khi nhận dự án, Công ty Kinh doanh hàng xuất khẩu Quang Đức đã cam kết nhận hàng loạt lao động là người địa phương với viễn cảnh tươi đẹp, đồng thời xây dựng 100 căn nhà có diện tích 36m2 làm chỗ ở cho công nhân, xây nhà trẻ, làm đường… cũng như hỗ trợ địa phương trong vùng dự án.
Đồng thời thực hiện lời hứa tạo việc làm nhưng các công ty thường trả công lao động rất thấp và tạo nhiều áp lực như đi làm từ sáng sớm, trưa ăn cơm tại vườn cây rồi chiều làm tiếp đến tối mịt mới được về. Nhiều người chịu không nổi nên bỏ ra ngoài… và cuối cùng bị gắn cho cái mác biếng làm, thiếu kỹ năng, vô kỷ luật... để hợp lý hóa việc sa thải lao động.
Báo cáo của Phòng LĐ, TB - XH huyện Chư Prông cho thấy, năm 2015 trên địa bàn xã Ia Púch có 145 người dân tộc thiểu số tại địa phương được nhận vào làm công nhân tại các doanh nghiệp cao su, trong đó Công ty Quang Đức là 79 người. Nhưng theo khảo sát tại 2/4 thôn làng của xã Ia Púch là làng Brang và làng Goòng thì chỉ có 8 lao động đang làm việc tại Công ty Quang Đức, con số này khớp với báo cáo giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai năm 2015.
Trưởng làng Goòng Siu Hiếk cho biết, việc người dân địa phương không quen làm công nhân của các công ty là có, nhưng chỉ cần tập huấn đầy đủ thì người dân vẫn làm được. Cũng theo trưởng làng Goòng Siu Hiếk và trưởng làng Brang Rơ Mah Chat, chỉ có công nhân làm ở Công ty Bình Dương (Binh đoàn 15) là có thu nhập khá, còn lại đều được trả rất thấp khiến lao động không thể sống nổi bằng đồng lương. “Tiền khoán 1ha cao su có 800 nghìn/tháng. Nhưng  3 - 4 tháng họ mới trả lương, mà cũng không trả hết nữa, dân không biết lấy gì sống nên phải nghỉ thôi” - anh Siu Hiếk nói.
Ban đầu nhận dự án, tất cả các doanh nghiệp đều cam kết với tỉnh, huyện trong việc tuyển chọn 9.379 người làm công nhân dài hạn. Nhưng thực tế đến nay, các doanh nghiệp mới tuyển dụng 2.254 lao động dài hạn, trong đó đồng bào dân tộc tại chỗ 777 người, lao động thuê mướn theo thời vụ là 2.414 người.
Hiện nay số lao động dài hạn đã thu hẹp, số lao động còn lại chủ yếu là lao động theo thời vụ. Việc giao đất, giao rừng đã diễn ra từ nhiều năm nay, nhiều người dân giờ đã trắng tay và họ luôn hy vọng doanh nghiệp nhận vào làm công nhân để có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống. Thế nhưng nhìn vào thực tế từ việc làm của một số doanh nghiệp thì ước muốn chính đáng của người dân là trở thành công nhân chỉ là những giấc mơ xa vời. (Đại Biểu Nhân Dân 29/6) đầu trang(
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tây Ninh vừa có văn bản đề xuất UBND tỉnh thu hồi trên 1.000 ha đất lâm nghiệp.
Đây là diện tích đất bị người dân bao lấn, chiếm để sản xuất nông nghiệp sai mục đích. Hai khu vực này thuộc 2 dự án rừng phòng hộ Dầu Tiếng (huyện Tân Châu) và Khu rừng Văn hóa, Lịch sử Chàng Riệc (huyện Tân Biên) để trồng lại rừng.
Từ năm 2009 UBND tỉnh Tây Ninh đã ra quyết định số 875/QĐ-UBND để giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích tại các dự án rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn và đã thu hồi 3.974 ha/4.114 ha để trồng lại rừng.
Tuy nhiên, qua quá trình rà soát, cơ quan chức năng phát hiện tại 2 dự án rừng phòng hộ Dầu Tiếng và Khu rừng Văn hóa, lịch sử Chàng Riệc vẫn còn 1.152 ha đất quy hoạch lâm nghiệp đang bị người dân địa phương bao chiếm trồng cao su, sắn, cây ăn quả.
Trong đó, rừng phòng hộ Dầu Tiếng còn 1.046 ha bị bao lấn chiếm, tập trung nhiều nhất tại các tiểu khu 37, 43, 44, 48, 49 khu vực ấp Con Trăn, xã Tân Hòa, huyện Tân Châu (gần 450 ha); khu rừng Văn hóa, lịch sử Chàng Riệc là 106 ha còn bị bao lấn chiếm.
Xử lý các tồn tại này, ngành nông nghiệp yêu cầu đối với diện tích rừng tự nhiên và rừng khoanh nuôi tái sinh cần tiếp tục lập hồ sơ, xác định đối tượng vi phạm, xử lý theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; thu hồi lại đất, giao cho các Ban quản lý rừng trồng lại rừng theo quy định.
Các trường hợp không có người nhận (do đối tượng cố tình né tránh) sẽ kiên quyết cưỡng chế, hủy bỏ cây trồng để phục hồi lại rừng.
Đối với diện tích hiện đang trồng cây cao su, cây ăn quả, buộc người vi phạm phải chặt bớt để thực hiện mô hình kết hợp trồng dầu, sao, cao su hoặc dầu, sao với cây ăn quả nhằm giải quyết hài hòa lợi ích giữa sản xuất, bảo vệ môi trường và giảm bớt thiệt hại cho người dân.
Diện tích đất đang trồng lúa (khu vực bàu, trũng khoảng 44 ha, không trồng lại được rừng) được đề nghị điều chỉnh quy hoạch, giao cho người dân nghèo nhận khoán, tiếp tục trồng lúa để ổn định cuộc sống. (Bnews 29/6) đầu trang(
Ngày 28/6, tại làng nghề Đồng Kỵ (thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), Hội Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ đã tổ chức lễ ra mắt sàn giao dịch điện tử làng nghề gỗ Đồng Kỵ.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Vũ Quốc Vương, Chủ tịch Hội mỹ nghệ Đồng Kỵ cho biết, sự ra đời của sàn thương mại điện tử làng nghề Đồng Kỵ đánh dấu bước đi mới trong thời kỳ công nghệ của một làng nghề truyền thống.
Sàn giao dịch (http://dongkyfuniter.com) cung cấp một kênh mua sắm an toàn, uy tín với chất lượng đảm bảo, tất cả các sản phẩm được dán tem nhãn thương hiệu “Gỗ Đồng Kỵ” được bảo hộ độc quyền. Sàn niêm yết các sản phẩm với mẫu mã phong phú được các thợ tay nghề cao chế biến và gia công.
Các sản phẩm đảm bảo thông tin giá cả minh bạch, rõ ràng.  Ngoài ra, tại sàn giao dịch, khách hàng có thể tìm mua những sản phẩm thủ công nhỏ cho tới hàng cao cấp, có cơ hội chọn lựa, so sánh các sản phẩm cùng loại trên cùng một website của các hộ kinh doanh khác nhau.
Theo Hội gỗ Mỹ nghệ Đồng Kỵ, làng Đồng Kỵ- một trong những làng nghề có lượng xuất khẩu hàng hóa chiếm tới gần 70% nhưng dấu ấn thương hiệu trên các sản phẩm rất mờ nhạt, nhiều sản phẩm không có nhãn mác.
Hiện Đồng Kỵ đang có gần 300 doanh nghiệp và 2.500 hộ sản xuất, kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ. Trước đây, các cơ sở ở Đồng Kỵ chủ yếu làm hàng gia công cho đối tác Trung Quốc và không có thương hiệu riêng, không được bảo hộ nhãn hiệu. Ngay ở trong nước sản phẩm của làng nghề cũng bị làm nhái, làm giả tràn lan.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đặc biệt trước những thách thức từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác Tự nguyện (VPA), việc đưa sản phẩm mỹ nghệ lên sàn giao địch điện tử không chỉ tăng thêm cơ hội quảng bá và đa dạng hóa thị trường mà còn tạo thêm niềm tin và sự tiện lợi cho khách hàng, đối tác. (Infonet 29/6) đầu trang(./.