|
Ngày 30 tháng 03 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, Ban Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ cho biết: Đến thời điểm này, toàn bộ diện tích rừng hơn 20.000 ha của công ty đang trong tình trạng dự báo cháy cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm).
Hiện nay, mực nước ở các tuyến kênh nhỏ trong lâm phần đã khô cạn, trên các tuyến kênh trục chính mực nước cũng ở mức thấp. Nếu tình hình hạn hán kéo dài đến tháng 4, tháng 5, trong trường hợp xảy ra cháy rừng thì nguồn nước phục vụ công tác chữa cháy sẽ không đảm bảo, việc vận chuyển thiết bị cũng sẽ khó khăn.
Trước tình hình trên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ đã huy động tối đa lực lượng, phương tiện tham gia công tác phòng, chống cháy rừng; ứng trực 24/24h, nhằm kịp thời phát hiện, chủ động các phương án chữa cháy, không để cháy lan trên diện rộng. (ANTV 29/3; Nhân Dân 29/3) đầu trang(
Để phòng chống cháy rừng mùa khô, tỉnh Tiền Giang vừa yêu cầu các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân ký cam kết bảo vệ rừng. Hiện Tiền Giang có hơn 2.500 ha rừng, gồm cây Bạch Đàng và cây Tràm, tập trung ở huyện Tân Phước, đây là 2 loại cây rất nhạy cảm với lửa. (VOV Giao Thông 29/3) đầu trang(
Ngày 27/3, huyện Sông Mã đã tổ chức diễn tập ứng phó cháy rừng tìm kiếm cứu nạn xã Đứa Mòn năm 2016. Tới dự có các đồng chí lãnh đạo huyện và các xã Nậm Mằn, Mường Lầm, Yên Hưng, Chiềng En, Bó Sinh và Pú Bẩu.
Với tình huống giả định đặt ra trên địa bàn xã Đứa Mòn do thời tiết nắng nóng, gió Lào khô hanh kéo dài, nhiều diện tích cây cỏ bị chết khô do rét, bên cạnh đó người dân đốt nương làm rẫy không tuân thủ đúng giờ giấc, quy trình đã xảy ra cháy rừng khu vực bản Lọng Hiên và Hin Pẻn.
Ban Chỉ huy PCCR-TKCN xã Đứa Mòn tổ chức Hội nghị bất thường nhận định đánh giá tình hình, điều chỉnh, bổ sung triển khai kế hoạch và giao nhiệm vụ tổ chức hiệp đồng ứng phó cháy rừng – tìm kiếm cứu nạn khắc phục hậu quả cho các ban ngành của xã. Bám sát phương châm 4 tại chỗ “ Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, chỉ huy tại chỗ” để huy động lực lượng dân quân, công an viên, đoàn thanh niên và nhân dân tham gia chữa cháy, phát đường băng cản lửa. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với lực lượng tăng cường của huyện và xã lân cận dập tắt đám cháy.
Qua cuộc diễn tập đã nâng cao khả năng tổ chức chỉ đạo, chỉ huy, điều hành của Ban Chỉ huy thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao khả năng tổ chức hiệp đồng trong ứng phó khi có tình huống cháy rừng, kịp thời điều chỉnh, bổ sung phương án phòng cháy chữa cháy rừng sát với tình hình thực tế tại cơ sở. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 28/3) đầu trang(
Thời điểm này, hầu hết diện tích rừng trên địa bàn huyện Đức Cơ (Gia Lai) đang ở cấp cực kỳ nguy hiểm (cấp V), nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Chính quyền địa phương, chủ rừng cùng lực lượng chức năng đã triển khai các biện pháp quyết liệt nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại.
Tổng diện tích rừng trên địa bàn huyện là 8.816,78 ha, trong đó rừng tự nhiên 6.937,85 ha, rừng trồng 1.878,93 ha, tập trung tại một số xã như Ia Pnôn, Ia Nan, Ia Dom… Thời tiết khô hanh nên nguy cơ xảy ra cháy rừng ở Đức Cơ luôn ở cấp báo động cao nhất.
Tính đến thời điểm này, cơ quan chuyên môn cùng các chủ rừng đã xác định được một số tiểu khu trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy cao như: tiểu khu 706, 707, 709, 713 (xã Ia Nan) và các tiểu khu 717, 720, 721 (xã Ia Pnôn)… Với những nơi này, chỉ cần sơ ý và bất cẩn là có thể dẫn đến cháy rừng.
Ông Nguyễn Văn Đồng-Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đức Cơ cho biết: Phần lớn diện tích rừng do đơn vị quản lý, bảo vệ nằm trên địa bàn 3 xã biên giới Ia Dom, Ia Nan và Ia Pnôn. Trong đó, một số tiểu khu có dân cư sinh sống xen kẽ và gần sát với bìa rừng gây không ít khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ, nhất là công tác phòng-chống cháy rừng (PCCR) vào mùa khô.
Để chủ động PCCR, trước mỗi mùa khô, đơn vị thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức cho người dân hiểu để PCCR hiệu quả. Tổ chức ký kết quy chế phối hợp với 3 đồn biên phòng, Tiểu đoàn Bộ binh 50 và chính quyền 3 xã Ia Pnôn, Ia Dom và Ia Nan khi có cháy rừng xảy ra sẽ huy động các lực lượng chữa cháy.
Vừa qua cũng đã xuất hiện một số đám cháy thảm cỏ, thực bì nhưng lực lượng chức năng đã dập tắt kịp thời, không gây thiệt hại đến rừng. Mặc dù còn gặp khó khăn song từ trước Tết Nguyên đán, đơn vị đã chủ động phát đốt có điều khiển 32 ha, hiện đang tập trung làm thêm đường băng cản lửa và các hạng mục khác cho 100 ha rừng có nguy cơ cháy cao. Toàn bộ lực lượng của Ban túc trực thường xuyên 24/24 giờ mỗi ngày để bảo vệ rừng không bị cháy.
Trước những diễn biến khó lường của mùa khô năm nay, Hạt Kiểm lâm huyện (Thường trực Ban Chỉ huy PCCR) đã tham mưu UBND huyện xây dựng phương án chữa cháy rừng ở quy mô cấp huyện có tính khả thi cao. Đặc biệt, tập trung xây dựng lực lượng chuyên trách về chữa cháy rừng làm nòng cốt.
Bên cạnh đó, kiến nghị đề xuất mua thêm một số trang-thiết bị, dụng cụ chữa cháy như bàn dập lửa, dao rựa cho các xã còn thiếu hoặc thay thế những dụng cụ bị hư hỏng… để ứng phó kịp thời khi có cháy rừng xảy ra. (Báo Gia Lai 28/3) đầu trang(
Hạt kiểm lâm huyện Hàm Thuận Bắc đã phối hợp đơn vị chủ rừng và các xã vùng cao tổ chức 14 đợt tuần tra kiểm soát các khu vực trọng điểm.
Qua đó phát hiện 2 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng tại tiểu khu 181A và 182B thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Hàm Thuận - Đa Mi quản lý, trong đó 1 vụ khai thác rừng trái phép và 1 vụ phá rừng trái phép, với diện tích rừng bị phá 6430m2, sản lượng lâm sản bị thiệt hại là 22,25m3 gỗ.
Nâng tổng số vụ vi phạm từ đầu năm đến nay lên 6 vụ. Ngoài ra, trong tháng, Hạt kiểm lâm huyện còn phát hiện 1 vụ tái lấn chiếm 8894m2 đất lâm nghiệp ngoài quy hoạch 3 loại rừng tại địa bàn xã Hàm Trí. Hạt kiểm lâm huyện đã củng cố hồ sơ các vụ vi phạm để xử lý theo quy định.
Để ngăn chặn có hiệu quả các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, thời gian đến, lực lượng kiểm lâm huyện tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật bảo vệ và phát triển rừng trên hệ thống loa phát thanh, đồng thời cho các đối tượng phá rừng ký cam kết không tái phạm, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, truy quét, đặc biệt là tại những địa bàn thường xảy ra khai thác, vận chuyển lâm sản và địa bàn giáp ranh huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Thuận 28/3) đầu trang(
Đi ngang qua lưng chừng đèo Giang Ma (xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường), hình ảnh hút vào tầm mắt của chúng tôi là những từng vạt rừng xanh ngát. Có được điều đó là bởi hàng chục năm nay hầu như xã không để xảy ra cháy rừng, người dân tận tình chăm sóc, nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Cùng lãnh đạo xã Hồ Thầu đến thăm, kiểm tra công tác bảo vệ rừng tại bản Chù Lìn, chúng tôi thấy rõ hơn ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng của mỗi người dân nơi đây. Không chỉ thực hiện nghiêm túc các quy ước, hương ước, quy định bảo vệ chăm sóc rừng, người dân còn chủ động trong việc phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Để có những cây gỗ to 2 người ôm không hết thì việc bảo vệ rừng không chỉ là công sức của những người dân hiện tại mà chính là công sức, sự dạy dỗ truyền lại của thế hệ cha ông đi trước về công tác bảo vệ rừng. Nhờ vậy, rừng của bản ngày càng xanh tốt. Mọi người dân trong bản không phân biệt già trẻ, lớn bé đều tham gia tuần tra, canh gác bảo vệ rừng.
Anh Phàn A Diu - bản Chù Lìn tâm sự: “Chúng tôi thường xuyên tuần tra, phát dọn thực bì; nhắc nhau không vào rừng lấy củi khô. Những cây gỗ to được bà con dân bản đánh dấu, kiểm đếm thường xuyên. Dù cuộc sống của chúng tôi còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng không vì thế mà vào rừng khai thác lâm sản đem bán lấy tiền”.
Hiện nay, trên địa bàn xã có 1 hệ thống suối chính là suối Sử Thàng và 2 suối phụ được phân bổ đồng đều theo các khe núi. Nguồn nước dồi dào cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển lâm nghiệp. Khí hậu được chia thành 2 mùa khô – mưa rõ rệt. Vào mùa khô, hệ thống suối thường bị cạn nước, xuất hiện gió khô hanh đã ảnh hưởng đến công tác bảo vệ chăm sóc, phòng cháy chữa cháy cho trên 2.600ha rừng của xã.
Trước khi bước vào mùa khô, xã Hồ Thầu đã củng cố, kiện toàn lại Ban Chỉ đạo Phòng chống cháy rừng (PCCR), Đội xung kích PCCR của xã, bản. Đồng thời xây dựng kế hoạch, phân công lịch trực 24/24 giờ cho các thành viên. Lịch trực và số điện thoại trực được niêm yết tại trụ sở UBND xã và các bản để mọi người dân cùng theo dõi và chủ động báo thông tin nếu phát hiện cháy rừng để kịp thời huy động lực lượng ứng cứu.
Các thành viên Ban Chỉ đạo PCCR, lực lượng kiểm lâm địa bàn thường xuyên phối hợp với các bản tổ chức tuyên truyền về Luật Bảo vệ rừng, văn bản quy phạm pháp luật, chính sách liên quan đến rừng, PCCCR, tiến hành phát dọn thực bì, đường băng cản lửa xung quanh diện tích rừng của từng bản…
Từ đó, Nhân dân nắm bắt thông tin và hiểu sâu hơn về tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống, đối với việc chống biến đổi khí hậu, ngăn thiên tai bão lũ và góp phần nâng cao ý thức của mọi người trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR.
Anh Nguyễn Thế Vinh – Cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Hồ Thầu chia sẻ: “Để công tác tuyên truyền đến được với Nhân dân trong xã, ngoài chủ động bám nắm địa bàn, tìm phương pháp tuyên truyền dễ hiểu, lấy ví dụ cụ thể, tôi còn tích cực cùng bà con thăm, kiểm tra rừng,; tổ chức các buổi ra quân phát dọn thực bì, làm đường băng cản lửa.
Đồng thời hướng dẫn người dân nếu có nhu cầu lấy gỗ từ rừng phải có kế hoạch cụ thể và phải có sự đồng ý của bản, xã mới được vào rừng khai thác gỗ. Không để người lạ xâm nhập vào rừng của bản, của xã với mục đích không rõ ràng”.
Trên địa bàn xã có một phần rừng, thảm thực vật bị ảnh hưởng do thời tiết khắc nghiệt rét đậm, rét hại, băng giá vào cuối tháng 1 vừa qua khiến một số ngọn cây gãy đổ, thảm thực vật chết khô. Đây chính là nguy cơ dễ gây ra cháy rừng vào những ngày nắng nóng như hiện nay.
Ông Quách Tá Thiện - Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu cho biết: “Những năm qua, công tác bảo vệ rừng của các bản trong xã được thực hiện rất tốt, tuy nhiên không vì thế mà cấp ủy, chính quyền và Nhân dân trong xã xem nhẹ công tác bảo vệ, PCCCR. Lãnh đạo xã thường xuyên cùng lực lượng kiểm lâm đến thăm, kiểm tra rừng, số lượng các cây gỗ có kích thước, đường kính lớn. Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, nếu không quản lý tốt thì nguy cơ cháy rừng rất cao. Mặc dù mùa khô 2015-2016 sắp hết, nhưng với thời tiết khô hanh kèm theo gió như hiện nay rất dễ gây ra cháy lớn. Vì vậy xã đang tập trung cao độ cho việc bảo vệ để rừng giữ mãi được màu xanh”. (Báo Lai Châu 28/3) đầu trang(
Lợi dụng địa bàn giáp ranh giữa hai huyện Bố Trạch và Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình, các đối tượng đã tiến hành chặt phá rừng để lấy gỗ, trong đó có cả những loại gỗ quý hiếm được cho là gỗ táu cũng đã bị đốn hạ. Chỉ trong vòng hơn 1 tháng, nhiều hecta rừng thuộc tiểu khu 276, lâm trường Trường Sơn đã bị tàn phá.
Chỉ cách tỉnh lộ 563 khoảng 700m, ẩn sau những màu xanh của núi rừng là khu vực bị các đối tượng khai thác gỗ tàn phá. Cả một khu vực rộng lớn gồm 2 quả đồi đã bị biến thành những khu rừng chết, không hề tìm thấy sự hồi sinh trên đất rừng được quản lý.
Những thân gỗ có đường kính hơn 1m được xẻ thành từng khúc vuông vắn đẹp, gọn và dễ dàng vận chuyển. Trong đó còn có cả những loại gỗ quý hiếm được cho là gỗ Táu (thuộc nhóm 2) cũng đã bị đốn hạ không thương tiếc. Đường kính của cây gỗ này đo được là trên 80cm.
Tại thời điểm phóng viên đang ghi hình, đã phát hiện một nhóm người đang tiến hành cưa gỗ. Họ công khai đưa cả ô tô tải đến tận nơi, một phần của những cây vừa bị đốn hạ đã được cắt thành từng đoạn và cho lên xe để vận chuyển đi.
Bên cạnh hành vi phá rừng công khai, thì vẫn có những đối tượng dùng đường mòn lối tắt để vận chuyển và khai thác gỗ trái phép như thế này.
Ông Phạm Xuân Phong, Giám đốc chi nhánh lâm trường Trường Sơn, Quảng Bình cho biết, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Việc hàng loạt hecta rừng tại Quảng Bình bị tàn phá như trên vẫn đang là một thực tế. Công tác bảo vệ rừng đang là một bài toán được đặt ra với các cơ quan chức năng của tỉnh QuảngBình. (ANTV 29/3) đầu trang(
Tình trạng chặt phá, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trên địa bàn huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đang diễn biến phức tạp. Dân nghèo thiếu đất sản xuất trong khi việc phân loại rừng không hợp lý là nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trên.
Năm 2015, trên địa bàn huyện Quỳ Châu có 60 hộ dân đã chặt phá trái phép 13ha rừng được giao để trồng keo. Trong đó, hộ ông Lim Văn Quỳ ở bản Kẻ Nính, xã Châu Hạnh trong khi phát đốt đã làm 1,4ha rừng bị cháy lan.
Tình trạng phá rừng trồng keo diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Chỉ tính từ đầu tháng 3/2016 đến nay, tại 3 xã Châu Nga, Châu Hội, Châu Thuận đã có 25,5ha rừng bị các hộ nhận khoanh nuôi chặt phá. Trong đó, trạng thái rừng Ic là 3,25ha; IIa là 15,94ha và IIb là 6,35ha.
Sản phẩm gỗ, củi từ việc phá rừng chủ yếu được người dân tiêu thụ trên địa bàn huyện. Gỗ có kích thước lớn được bán cho xưởng cưa; gỗ và củi có kích thước nhỏ thì bán cho lò than.
Lực lượng chức năng đã phát hiện và yêu cầu tháo dỡ gần 60 lò đốt than củi đang hoạt động tại các cánh rừng, tập trung tại 3 xã Châu Nga, Châu Bình, Châu Hội, thu giữ 64 ste gỗ củi (gần 4,5m3).
Tại lâm phần của Lâm trường Quỳ Châu quản lý, đoàn kiểm tra phát hiện 17 gốc gỗ rừng đã bị chặt và 70 khúc gỗ tròn nhóm 7, nhóm 8, khối lượng 7,245m3.
Kiểm tra các điểm tập kết, cất giữ lâm sản trái phép trên địa bàn các xã Châu Nga, Châu Bình, Châu Hội, Châu Thuận…, đoàn phát hiện lập biên bản tạm giữ 92 khúc, khối lượng 14,15m3 gỗ tròn các loại nhóm 7, nhóm 8 (đường kính từ 15 - 35cm); phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR số 3 bắt giữ 1 xe tải chở gỗ tròn. Qua kiểm tra 30 xưởng chế biến trên địa bàn các xã thì có 12 xưởng hoạt động trái phép.
Vượt qua gần 20 km đường nhựa, chúng tôi đến bản Thanh Sơn, xã Châu Nga. Mặc dù trời đã về trưa nhưng các gian nhà bếp vẫn lạnh tanh. Nhìn về các cánh rừng xa xa, chen lẫn những thửa keo xanh tốt giữa rừng nghèo.
Cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Quỳ Châu cho biết, đây là những cánh rừng tự nhiên là rừng sản xuất đã được giao cho các hộ dân khoanh nuôi theo Nghị định 63 (Nghị định 163/1999/NĐ-CP). Tuy nhiên, vài năm lại đây, một số hộ dân đã tự ý phát sẻ để trồng keo. Khi chính quyền địa phương và ngành chức năng phát hiện thì sự đã rồi.
Thấy chúng tôi tới thăm nhà, ông Hoàng Văn Đệm, trú tại bản Thanh Sơn, xã Châu Nga, chủ ngôi nhà sàn tuềnh toàng cười như mếu. Vợ con ông rót nước mời khách rồi lùi lại ngồi trên chiếc giường nhếch nhác.
Ông Đệm cho biết: “Cả bản kéo nhau đi vác keo thuê cho lâm trường từ sáng sớm, chiều tối mới về. Vợ ốm cả tuần nay nên ta không đi được…”.
Khi chúng tôi hỏi, nhà được nhận khoanh nuôi mấy ha rừng, ông Đệm nói như thanh minh: “Nhà được cấp 7,3ha rừng, cán bộ nói không được phá rừng, nhưng bảo vệ hơn 10 năm nay rồi mà không có thu hoạch, không có tiền. Nhà có 5 miệng ăn nhưng chỉ được 10a lúa nước (mỗi a tương đương 100m2 - PV) thì 3 năm trước lũ đã vùi lấp mất 5a. Chừng ấy ruộng, mỗi năm chỉ được 4 tạ lúa, không đủ ăn… Cũng biết chặt rừng là sai nhưng nhà hết gạo rồi, vợ ốm, con cái nheo nhóc, ta làm liều, đi phát một ít, bán củi cho các lò đốt than rồi trồng cây ngô, cây sắn để ăn. Nhưng mới phát được hơn 2a, chưa kịp bán củi thì cán bộ bắt dừng lại…”.
Ông Đệm kể, vài năm lại đây, tình trạng chặt rừng trồng keo tại Châu Nga năm nào cũng xảy ra. Các hộ chủ yếu phát sẻ mỗi nhà một ít, vừa lấy củi bán cho các lò đốt than vừa để trồng keo.
Theo thống kê của Hạt kiểm lâm huyện Quỳ Châu, đến thời điểm cuối tháng 3/2016, tại xã Châu Nga đã có 13 gia đình khai thác trái phép tại 7 địa điểm, diện tích 8,02ha; tại Châu Hội 7 điểm, 7 hộ gia đình, diện tích 8,71ha; Châu Thuận 6 điểm, 6 gia đình, diện tích 8,8ha…
Xã Châu Nga chỉ cách thị trấn Tân Lạc vài chục km, đường đã được rải nhựa gần 7 năm nay, điện lưới cũng đã được kéo về tận xã. Thế nhưng, đây vẫn là một xã đặc biệt khó khăn (xã 135), 98% là đồng bào dân tộc Thái, tỷ lệ hộ nghèo lên tới 58%, hộ cận nghèo 18%.
Cứ theo lời ông Lương Tất Diện, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Nga thì xã còn nghèo và đói dài dài. Trong số 279ha đất nông nghiệp của xã chỉ có 59ha trồng lúa nước. Năng suất lúa vụ xuân ở Châu Nga chỉ đạt trên dưới 4 tấn/ha, vụ còn lại hầu như bỏ hoang. Lương thực chỉ đủ đáp ứng từ 4 - 6 tháng, người dân phải đi chặt, sẻ keo thuê cho các lâm trường để đong gạo. Các dịp gần Tết, giáp hạt, Châu Nga có tới trên 60% hộ thiếu đói.
Ông Nguyễn Viết Khánh, Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Quỳ Châu cho biết: “Rừng được giao cho người dân đa phần là rừng nghèo, trạng thái IIa, IIb, Ic, thời gian khoanh nuôi phải đạt từ 50 - 70 năm thì cây gỗ mới thành thục để khai thác, sử dụng. Muốn khai thác tại chỗ thì phải được UBND huyện đồng ý, khai thác theo đúng hồ sơ thiết kế. Quá trình xin khai thác phải trải qua việc lập hồ sơ, thiết kế, quy hoạch… nói chung là rất nhiều khâu và tốn nhiều chi phí. Trong khi đó, người dân ăn còn chưa đủ, lấy đâu ra tiền đi thuê thiết kế?
Đây là loại rừng tự nhiên là rừng sản xuất, không có chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho hộ khoanh nuôi. Nhu cầu về cuộc sống đã khiến người dân làm liều, vào rừng phát sẻ, trồng sắn, trồng keo để kiếm kế sinh nhai… Tại những khoảnh rừng sâu, khi cơ quan chức năng nắm được thông tin thì rừng cũng đã được phát sẻ, thậm chí keo đã phát triển…”.
Trao đổi qua điện thoại, ông Lê Thanh Hà, Phó Chủ tịch UBND huyện Quỳ Châu cho biết: “Quỳ Châu là huyện có diện tích rừng lớn, tỷ lệ người dân sống phụ thuộc vào rừng cao.
Tuy nhiên, hầu hết diện tích rừng đã được giao cho các lâm trường. Diện tích giao cho người dân theo Nghị định 63 đa phần là rừng xa, xấu, khó sản xuất. Trong khi đó, 57 nghìn dân hiện nay chỉ có 1.800ha lúa. Về lâu dài, chỉ có thể làm thủ tục xin chuyển đổi mục đích một số diện tích rừng nghèo kiệt sang rừng sản xuất để cải thiện đời sống cho người dân.
Hiện tại, Chính phủ đang có Nghị định 75 về phát triển rừng gắn với đời sống đồng bào miền núi. Trong đó có cả chính sách hỗ trợ cả gạo cho các hộ nhận khoanh nuôi bảo vệ rừng. Nhưng hiện vẫn chỉ có nghị định thôi chứ chưa có hướng dẫn thực hiện…”. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/3) đầu trang(
3 tháng đầu năm, tổng diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 12,5 nghìn ha, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2015.
Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.613 nghìn m3 (tăng 7%). Diện tích rừng bị thiệt hại khoảng 790ha, tăng gấp 4,9 lần so với cùng kỳ năm 2015, trong đó diện tích rừng bị cháy 726ha, tăng gấp 9,8 lần so với cùng kỳ năm trước. (Thanh Tra 29/3) đầu trang(
Hiện nay, tại địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, hơn 60 ha khu rừng thông thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đường 9 đã bị một loại sâu mới xuất hiện tàn phá. Loại sâu này được người dân gọi là sâu ong. Điều đáng lo ngại là sự xuất hiện của loại sâu này lại đúng vào thời kỳ khai thác nhựa thông.
Xuất hiện vào đầu tháng 1 năm 2016, loại sâu ong ăn lá thông ban đầu mật độ chỉ 50 đến 60 con trên một cây, do thời tiết khô ẩm đến thời điểm này, đã xuất hiện 500 đến 600 con trên một cây. Trước sự phát triển nhanh của loài sâu ong ăn lá thông, công ty lâm nghiệp Đường 9 đã triển khai nhiều giải pháp như: Luỗng phát, vệ sinh rừng và phun thuốc để diệt trừ. Nhưng do địa bàn rộng, nên việc phòng chống loài sâu hại này gặp không ít khó khăn.
Trong khi đó, tại địa bàn xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, từ ngày 15.3 đến nay, sâu róm đã xuất hiện trên diện rộng và biến thành dịch, tàn phá diện tích 340 ha rừng thông. Đây là đợt sâu róm hoành hành với diện tích lớn chưa từng có tại địa phương.
Trước tình hình trên, các ngành chức năng đã khuyến cáo các chủ rừng tạm dừng mọi hoạt động khai thác nhựa để tăng sức đề kháng cho cây, đồng thời tập trung nguồn nhân lực, vật lực để đẩy lùi nạn sâu róm phá hoại, sử dụng các loại chế phẩm để dập dịch, giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất. (ANTV 29/3) đầu trang(
Sáng 27.3, tại chùa Tả Quan, xã Dương Quan (huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng) đã tổ chức lễ đón Bằng công nhận cây Me là Di sản Việt Nam.
Theo tư liệu lịch sử, chùa Tả Quan (tên chữ là Tường Quan) được khởi dựng từ thời Đinh, thế kỷ thứ X. Chùa được biết đến là một trong những danh lam, cổ tự tiêu biểu của xứ Đông. Chùa nổi tiếng linh ứng hàng đầu tại TP Hải Phòng. Chùa Tả Quan hiện còn lưu giữ nhiều di vật, cổ vật có giá trị về lịch sử, văn hóa như: chuông đồng, tượng pháp, bia đá, đại tự…
Đặc biệt, trong khuôn viên chùa còn có cây Me trên 200 tuổi. Gốc cây me hai người ôm không xuể, dáng đứng thẳng, cành cây vươn rộng, tán lá dầy, tỏa bóng mát cho người dân và du khách. Đây là cây Me đầu tiên của TP Hải Phòng được vinh danh là Cây di sản, góp phần bổ sung nguồn gien quý hiếm trong hệ thống Cây di sản.
Tại lễ vinh danh, lãnh đạo Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường trao Bằng và gắn biển công nhận cây Me chùa Tả Quan là Cây di sản Việt Nam. Dịp này, xã Dương Quan quyết định thành lập Ban quản lý Cây di sản Việt Nam chùa Tả Quan. (Văn Hóa 28/3; Tạp Chí Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam 28/3) đầu trang(
Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường (đoàn ĐBQH Quảng Bình) cho rằng, ý thức chấp hành pháp luật tác động lớn tới việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhưng vấn đề này đang xuống cấp ở mức báo động.
Sáng 29-3, Quốc hội thảo luận ở hội trường về Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Chủ tịch nước; Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Tham gia thảo luận, Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường cho rằng có một vấn đề chưa được đề cập trong báo cáo mà theo ông đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế xã hội, đó là vấn đề ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ công chức, nhân dân.
Vị đại biểu hiện là Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho rằng, dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, dân chủ đã có những bước tiến đáng ghi nhận, nhưng kỷ cương lại không theo kịp.
Kiến nghị giải pháp khắc phục vấn đề này, Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, nếu chỉ tuyên truyền, chăng băng-rôn, khẩu hiệu hô hào không thôi là chưa đủ, mà phải có giải pháp đồng bộ như ban hành phổ biến giáo dục pháp luật, bảo đảm các điều kiện thi hành pháp luật, thanh kiểm tra, xử lý vi phạm.
"Hãy trao đủ thẩm quyền cho người thi hành công vụ và phải bảo vệ khi họ làm đúng. Đừng để kiểm lâm, công an có súng cũng như không, không dám bắn tội phạm đang dùng vũ khí đe dọa họ. Đồng thời với việc trao quyền phải xử lý nghiêm khắc những người lạm quyền. Đây là kinh nghiệm từ việc tổ chức thực hiện thành công việc cấm đốt pháo, bắt buộc đội mũ bảo hiểm – những việc tưởng chừng như không thể làm nổi", Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường lưu ý. (An Ninh Thủ Đô 29/3) đầu trang(
TAND thành phố Đà Nẵng dự kiến xét xử lại sơ thẩm vụ “buôn lậu” gỗ trắc vào ngày 15 và 16/3, nhưng đã hoãn. Luật sư của các bị cáo đang kiến nghị triệu tập ra tòa những người liên quan việc bán vật chứng rẻ mất khoảng 250 tỷ đồng “để làm rõ bản chất vụ án”.
Kiến nghị của luật sư Nguyễn Trường Thành vừa gửi Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND, Trưởng ban Nội chính và một số cơ quan khác của thành phố Đà Nẵng. Vụ án này, TAND thành phố Đà Nẵng xử sơ thẩm lần thứ nhất trong hai ngày 30 và 31/10/2014, đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung và ngày 25/1/2016, Viện KSNDTC có cáo trạng.
Cuối năm 2011, doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Ngọc Hưng ở thị trấn Lao Bảo (Hướng Hóa, Quảng Trị) của vợ chồng ông Trương Huy Liệu, mua gỗ trắc từ Lào và theo điều khoản hợp đồng là giao nhận tại cửa khẩu Lao Bảo. Ngày 17/12/2011, ông Liệu nhận lô gỗ chứa trong 22 container, tại cửa khẩu Lao Bảo, khai báo hải quan và đóng thuế đủ. Hai ngày sau, ông xuất nguyên lô gỗ sang Hồng Công. Trên đường chở xuống tàu ở cảng Đà Nẵng, lô gỗ bị bắt giữ và vợ chồng ông Liệu bị khởi tố tội “buôn lậu”. Ba cán bộ hải quan bị khởi tố tội “thiếu trách nhiệm…”.
Có hai uẩn khúc lớn nhất ở vụ án này: những người giám định lô gỗ để đưa ra kết luận làm căn cứ buộc tội không có tư cách pháp nhân về giám định tư pháp. Trong quá trình điều tra và đang có sự tranh cãi giữa nhiều cơ quan là “có tội hay không có tội” thì lô gỗ bị bán vào đầu năm 2014, giá 63 tỷ 920 triệu đồng, theo ông Liệu là rẻ mất khoảng 250 tỷ đồng.
Luật sư Thành kiến nghị “triệu tập đại diện Kiểm lâm vùng II và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật để làm rõ vì sao không là giám định viên tư pháp lại tiến hành giám định? Đồng thời làm rõ phương pháp giám định”. Theo kết luận điều tra, giám định đã cân gỗ để quy ra khối lượng trong lúc, quy định pháp luật hiện hành yêu cầu phải đo, không được cân.
Bán lô gỗ là Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá thuộc Sở Tư pháp Hà Nội. Theo hồ sơ vụ án: ngày 23/5/2013, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng định giá lô gỗ 63 tỷ 619.706.500 đồng. Gần 8 tháng sau, ngày 10/1/2014 mới đem ra bán đấu giá. Như thế, giá khởi điểm lô gỗ là giá thị trường hay giá nhà nước quy định và tại sao sau thời gian lâu như thế không định giá lại?
Tham gia mua đấu giá có 4 người, bỏ giá chênh lệch nhau đúng 100 triệu đồng và sau chỉ một vòng, 3 người bỏ cuộc. Khách hàng Nguyễn Văn Đại của Cty TNHH Phú Xuân (Phù Xa, Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh) đặt giá 63 tỷ 920 triệu đồng đã thắng. Luật sư Thành phát hiện: “Danh sách khách hàng đăng ký đấu giá đều không ghi ngày, tháng, năm. Phiếu đấu giá của khách hàng Nguyễn Văn Đại và Võ Thị Minh Nguyệt có nét tương đồng”, nên kiến nghị triệu tập cả 4 người tham gia phiên đấu giá ra tòa.
Kiến nghị của luật sư Thành: “Triệu tập đại diện Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng để làm rõ căn cứ định giá. Đại diện Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá Sở tư pháp Hà Nội để làm rõ trình tự thủ tục bán đấu giá bởi có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc bán đấu giá vật chứng”. Luật sư cũng kiến nghị triệu tập những người trong Cơ quan CSĐT Bộ Công an “để làm rõ căn cứ pháp lý về quyết định bán đấu giá vật chứng của vụ án”. (Tiền Phong 30/3) đầu trang(
Vào khoảng 21h00’ ngày 25/3/2016, Phòng cảnh sát môi trường đã phối hợp cùng chốt kiểm soát liên ngành đường bộ Sê San 4 đã tiến hành kiểm tra và phát hiện xe ô tô nhãn hiệu Toyota Land Cruiser 07 chỗ, mang biển kiểm soát 81A – 065.15 do Lê Văn Thuận, sinh năm 1987, trú tại thôn 3, xã Ia Tô, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai điều khiển vận chuyển lâm sản trái phép từ hướng xã Ia Tơi, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum về huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Qua kiểm tra thực tế phát hiện trên xe có 36 hộp gỗ chủng loại Gõ lau, thuộc nhóm IIA, có khối lượng 1,970 m3. Toàn bộ số gỗ trên xe không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Qua làm việc Lê Văn Thuận khai đã mua số gỗ trên của một số người công nhân làm cao su để đưa về bán cho các xưởng mộc trên địa bàn xã xã Ia Tô, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ xe ô tô và toàn bộ số gỗ trên.
Lúc 14 giờ 00’ ngày 26 tháng 3 năm 2016, lực lượng Cảnh sát môi trường tiếp tục kiểm tra, bắt giữ xe ô tô nhãn hiệu FAW mang biển kiểm soát 82K- 4057 do ông Nguyễn Công Bằng, sinh ngày 15/10/1978, quê quán: Đập Đá – An Nhơn – Bình Định, trú tại 04 Lê Văn Tám, TP.Kon Tum điều khiển đang vận chuyển lâm sản trái phép từ hướng thôn 9, xã Đăk Cấm về nội thị thành phố Kon Tum.
Sau khi bắt giữ, Phòng Cảnh sát môi trường đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm Thành phố Kon Tum kiểm tra thực tế phát hiện trên xe 82K- 4057 có 06 hộp gỗ khối lượng 5.130 m3 gỗ xẻ (quy tròn 8.208m3), chủng loại gỗ: Sữa, Chò Sót thuộc nhóm VI, VII (Gỗ không thuộc loài nguy cấp quý hiếm). Chủ số lâm sản trên được xác định là của ông Hồ Quang Trung, sinh ngày 06/5/1976, trú tại: 42 Hùng Vương - Phường Quang Trung – TP.Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Ông Trung đã không cung cấp được hồ sơ, thủ tục pháp lý chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số lâm sản trên. Ông Trung khai nhận vào hồi 10 giờ ngày 26/3/2016 đã mua lại số lâm sản nói trên tại thôn 4 xã Đắk Cấm, thành phố Kon Tum của một số người dân không rõ họ tên, địa chỉ sau đó thuê ông Nguyễn Công Bằng vận chuyển về để làm cốt pha xây dựng.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ xe ô tô và toàn bộ số gỗ trên. Hồ sơ vụ việc và tang vật, phương tiện được bàn giao cho Hạt Kiểm lâm thành phố Kon Tum xử lý vi phạm hành chính theo đúng thẩm quyền. (Công An Kon Tum 29/3) đầu trang(
7 lãnh đạo, cán bộ đã bị kiểm điểm, kỉ luật do để tận thu gỗ rừng đại thụ trái phép. Ngoài ra trên 120 m3 gỗ các loại tận thu không đúng qui định đã bị cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi tịch thu, bán đấu giá để xung vào công quỹ.
Cụ thể số lãnh đạo và cán bộ bị kiểm điểm, kỉ luật gồm: Phó giám đốc sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ngãi, kiêm Giám đốc Ban quản lý Hợp phần di dân, tái định cư (BQL HPDD TĐC) hồ chứa nước Nước Trong; Kiểm lâm huyện Tây Trà, lãnh đạo chính quyền xã Trà Thọ, huyện Tây Trà...
Ngoài ra trên 120 m3 gỗ các loại do tận thu không đúng qui định, cũng đã bị cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi tịch thu, bán đấu giá để xung vào công quỹ.
Vào giữa năm 2015, dù trước đó đã được qui hoạch ngoài lâm nghiệp, nhưng khi phát hiện có số lượng cây tự nhiên lớn, với nhiều cây có tuổi đời hàng trăm năm tại khu vực rừng Sờ Lát và Suối Y, xã Trà Thọ, huyện Tây Trà; thay vì báo cáo để cấp thẩm quyền tỉnh Quảng Ngãi có chỉ đạo xử lý phù hợp thì BQL HPDD TĐC hồ chứa nước Nước Trong; Kiểm lâm huyện Tây Trà, lãnh đạo chính quyền xã Trà Thọ... đã cho một số cá nhân đưa phương tiện vào khai thác tận thu sai qui định.
Ước có gần 700 cây gỗ tự nhiên các loại, với tổng khối lượng trên 230m3đã bị đốn hạ để lấy gỗ. (Dân Việt 29/3) đầu trang(
Vốn là người tài hoa, thông minh, gia đình đầy đủ nhưng người đàn ông lập dị ấy quyết định chọn chốn rừng sâu làm nhà, ngày ngày uống nước suối, ăn ngô, sắn, quả dại. Không những vậy, ông còn có khả năng đặc biệt: Giao tiếp với muông thú.
"Chỉ có ở rừng tôi mới được là chính mình. Những âm thanh tôi phát ra chúng đều hiểu cả, tất nhiên những gì chúng thể hiện tôi cũng hiểu. Nếu không có chúng làm bầu bạn chắc tôi buồn chết mất". Người đàn ông dị thường này tâm sự.
Cánh rừng già ở bản Tra (xã Toàn Sơn, Đà Bắc, Hòa Bình) xưa nay nổi tiếng thâm u bởi những câu chuyện liêu trai người ta thêu dệt. Chính vì thế, chẳng mấy ai dám bén mảng đến đây dù ngày hay đêm. Nắng đã lên lưng chừng núi nhưng khắp cánh rừng vẫn chìm trong sương mù tĩnh mịch. Đâu đó chỉ có tiếng mõ trâu lốc cốc của các mế người Mường đi chăn buổi sớm.
Thấy người lạ, bà Bùi Thị Oi hỏi: "Các cháu không sợ à mà vào đến tận đây? Rừng này thiêng lắm đó, chỉ có ông Bình "người rừng" mới dám đi vào tận trong sâu kia thôi. Người ta bảo ở núi này là nơi tụ tập của những oan hồn. Đêm nào chả nghe tiếng khóc ai oán phát ra? Mà giờ này gặp ông ấy chắc được, tôi mới gặp ông mang gạo cho lũ chuột, chim, sóc ăn đó".
Theo chỉ dẫn của bà Oi, chúng tôi phải vượt qua một con suối, sau đó băng qua một quả đồi khá lớn mới tới được chân núi của ông Bùi Văn Bình, người được mệnh danh là "người rừng của bản Tra".
Túp lều nhỏ của ông Bình nằm chon von giữa lưng chừng núi. Thấy chúng tôi tới, ông Bình đưa ánh mắt đầy cảnh giác rồi hất hàm: "Định lên khuyên tôi xuống núi chứ gì? Có lên chơi thì lên thôi, khuyên răn làm gì cho mất công. Tôi không xuống đâu!".
Ông Bình sinh năm 1968, đấy là người thân trong gia đình nói vậy chứ ông có còn nhớ mình năm nay bao nhiêu tuổi đâu! Ông sống ở khu rừng già này nhiều năm rồi, không vợ con, hàng ngày chỉ ăn măng, quả rừng và bầu bạn với chim muông. "Đừng nghĩ tôi ở đây là khổ sở nhé, hàng ngày tôi được sống với rừng, được bầu bạn với muông thú đó là ân huệ của rừng ban cho tôi", ông Bình nói đầy lạc quan.
Người dân ở bản Tra vẫn thường gọi ông là "người rừng", là kẻ bị trời đày. Ngày ngày lên rừng lấy sắn, măng và đu đủ ăn không bị trời đày thì cũng là bị con ma rừng bắt lên chịu tội. Ông bảo, cũng nhiều lần xuống núi, hòa nhập với cộng đồng nhưng không được. Chỉ có trở lại rừng ông mới thấy lòng mình thanh thản, thấy khỏe ra và là chính mình.
Ông sống âm thầm với chính cái bóng của mình nhưng tuyệt nhiên không có một ngày nào buồn. Thế rồi biết bao câu chuyện liêu trai được người ta dựng lên. Họ bảo rằng những đêm trăng sáng, người dân xung quanh nghe thấy ông cười một mình. Cười vẳng xuống đến tận bản, cười suốt đêm. Đó là lúc muông thú kéo về đông như trẩy hội.
Đang say sưa kể cho chúng tôi những câu chuyện nơi thâm sơn cùng cốc, ông Bình sực nhớ ra là mình chưa cho "bạn" chồn ăn. Có tận mắt nhìn ông cho chồn hoang, cho lũ chuột rừng ăn mới thấy ông yêu chúng đến thế nào. Trong túp lều của ông Bình thứ quý giá nhất có lẽ là bao gạo.
Điều đáng nói bao gạo ấy không phải lương thực cho mình mà là cho chim chóc, muông thú ở cánh rừng này. "Bao gạo này là của chị Hải (chị ruột ông) mang tiếp tế cho tôi đấy. Chẳng bao giờ tôi nấu cơm ăn cả, số gạo này cho "bạn" chim, "bạn" nhím, "bạn" sóc… trong rừng ăn đấy. Các chú mới đến, các "bạn" của tôi sợ chạy hết, nếu ở đây vài ngày tôi sẽ cho gặp, giới thiệu luôn".
Trước đó, bà Bùi Thị Hải có kể, nhiều lần thuyết phục em mình hạ sơn nhưng đều bất thành. Biết không thể nên gia đình cũng đành lòng, hằng tháng có mang gạo lên tiếp tế. Lần nào về con bà Hải đều báo lại, cậu mình ăn hết nhẵn gạo. Mọi người nghĩ ông Bình ăn khỏe nên sau này đều cho thêm gạo. Mãi sau này mới vỡ lẽ ra, ông Bình mang gạo đi nuôi con nhím, đám chim, con chuột trong rừng.
Bà Hải kể: "Chú Bình có thể huýt sáo thôi là cả đàn chim kéo về gần nhà hót râm ran. Chú ấy thương muông thú trên rừng lắm, chẳng bao giờ ăn thịt, khi thấy chúng bị thương là tìm cây thuốc cứu ngay. Mấy con chuột rừng, sóc rừng chỉ sống quanh quẩn ở lều của chú ấy thôi. Đêm đến có khi còn vào tận giường ngủ cùng ấy. Chú ấy nghe tiếng chuột kêu, sóc kêu là biết chúng cần gì, đang đói, vui hay buồn".
Giờ đây, hễ thấy có người lên núi tìm mình, câu đầu tiên gặp khách ông Bình thường nói: "Đừng vận động tôi xuống núi, tôi không xuống đâu. Ở đây mới là nhà, mới được sống thoải mái. Xuống núi sợ lắm". Hỏi lý do vì sao mà ông lại bảo xuống núi sợ thì ông Bình nhăn mặt kể lại: "Cách đây mấy năm, cán bộ địa phương lên đây động viên tôi về nhà. Họ bảo về nhà sẽ được sống sung sướng, được hưởng văn minh. Ốm còn có người chăm sóc, đói sẽ có người cho ăn, lại còn được xem tivi hay lắm. Thế là tôi đồng ý về. Nhưng chỉ về được một ngày thôi là tôi lại trốn lên đây luôn".
Lý do khiến ông Bình bị ám ảnh cuộc sống dưới xuôi là vì trong ngày về ông đã gặp rất nhiều "tai nạn". Bao nhiêu năm sống với cây cối, muông thú, nay về bản ông Bình thấy cái gì cũng lạ. Hôm đó, anh rể của ông phóng chiếc xe máy từ cổng về, vì vội chạy vào nhà đi vệ sinh nên quên không tắt máy. Lần đầu tiên nhìn thấy một "vật thể lạ" ông cũng bắt chước ngồi lên, tay ông cầm vào tay ga.
Chiếc xe rú lên một tiếng rồi phi thẳng vào cái chuồng lợn trước mặt. Xe một nơi, người bắn một nơi. Chiếc xe máy bị vỡ tan mặt nạ, ông thì mặt cắt không còn giọt máu, người ngợm trầy xước hết. Thấy em bị thương khắp người, chị gái đưa ông vào nhà rồi lấy thuốc đắp vào. Thuốc xót, ông Bình nhảy tưng tưng, la hét ầm ĩ. Sau đó ông chạy thẳng ra ruộng lấy bùn, đất chát vào vết thương.
Nhìn hành động hoang dã của em, chị ông Bình rất hoảng. Thấy chị gái sợ, ông Bình cười sảng khoái trấn an: "Ở rừng em vẫn làm thế mà. Trên đó làm gì có thuốc đâu. Thần rừng mách đất rất tốt để chữa trị vết thương mà. Mỗi lần em bị ngã toàn lấy đất đắp vào, chỉ vài ngày sau là khỏi thôi".
Tối hôm đó, gia đình chị gái làm tiệc mừng ông trở về. Anh rể ông rót ra một cốc rượu to, cứ tưởng đó là nước lọc nên ông tu ừng ực. Chỉ khoảng vài phút sau ông lăn đùng ra chiếu, bất tỉnh, một lát sau thì ông Bình chồm dậy nôn thốc nôn tháo.
Mọi người trong nhà lại tưởng ông bị trúng gió nên bế ông lên giường nằm. Đêm đó, chả biết ông khua tay múa chân thế nào mà chạm phải sợi dây điện mắc quạt khiến ông bị giật điếng người. Quá sợ hãi, ông lồm cồm bò dậy, vơ vội túi đồ đạc còn chưa kịp dỡ ra chuồn thẳng lên rừng. Kể từ lần đó, không một ai có thể thuyết phục ông hạ sơn thêm một lần nào nữa.
Cũng theo lời người chị gái ông Bình, trước gia đình ông sinh sống tại xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, khi xây dựng thủy điện Hòa Bình gia đình ông phải di cư về xã Sủ Ngòi, TP Hòa Bình. Trong số các anh chị em trong gia đình, ông Bình vẫn được xem là nhanh nhẹn, thông minh nhất lại có tài ca hát. Lớn lên, ông Bình nổi tiếng là một thợ mộc tài hoa, nhiều nhà trong vùng muốn cất nhà sàn đều tìm đến nhờ ông làm cho.
Chị gái ông kể lại, một hôm ông Bình đi làm về người cứ thẫn thờ, không ăn uống gì, ai hỏi gì cũng không nói, miệng cứ lảm nhảm điều gì đó. Tình trạng ấy kéo dài tới mấy hôm sau rồi ông đột ngột biến mất. Gia đình tìm đâu cũng không thấy. Đến tận vài tháng sau, có người làng mách đã nhìn thấy ông Bình trong khu rừng sâu ở Kim Bôi. Khi gia đình tới, ông Bình đã biến thành một con người hoàn toàn khác, ngơ ngác và xa lạ. Lần đó, ông nhất quyết không theo người nhà về lại dưới xuôi.
Bà Hải rưng rưng: "Khổ lắm cô chú ạ, nhà có không ở, người thân có chẳng ở gần cứ sống một thân một mình trong rừng sâu. Ốm đau chẳng ai hay biết, ăn uống thì hoang dã như muông thú. Lên núi thuyết phục nhiều có khi nó còn đuổi mình về. Nhiều đêm trời mưa bão, rét mướt nghĩ đến em mà chảy nước mắt. Nó như bị trời đày vậy".
Kể từ đó tới nay, chỉ có duy nhất một lần ông trở về. Lần trở về "bão táp" ấy đã khiến ông ám ảnh và bảo sẽ cạch đến già không bao giờ về lại nữa. (Tiền Phong 29/3) đầu trang(
Theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius, trong thời gian tới, Chính phủ Hoa Kỳ sẽ có nhiều chính sách hỗ trợ Việt Nam trong triển khai xây dựng chính sách pháp luật về nạn buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã phù hợp với quy chuẩn thế giới.
Cùng với đó, Chính phủ Hoa Kỳ cũng cam kết hỗ trợ mạnh mẽ quá trình xây dựng liên minh từ Trung ương tới địa phương, các tổ chức quốc tế nhằm giáo dục các thế hệ tương lai về bảo vệ các loài động vật hoang dã.
Phát biểu tại Hội thảo Đánh giá hiệu quả các chiến dịch thay đổi hành vi, nhận thức đối với nạn buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã tại Việt Nam diễn ra ngày 29/3 tại Hà Nội do Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Quỹ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực chống buôn bán động vật hoang dã Freeland cùng tổ chức, Đại sứ Ted Osius cho biết buôn bán động vật hoang dã là ngành kinh doanh có giá trị lớn. Điều này đã dẫn đến những hành vi bất hợp pháp, gây đe dọa nhiều loại động vật trên thế giới.
Việt Nam là một trong những quốc gia tiêu thụ nhiều nhất mặt hàng này, cũng là địa điểm trung chuyển, tiêu thụ nhiều loại động vật hoang dã quý hiếm. Việt Nam cần hành động mạnh mẽ hơn nữa để phòng chống lại loại hình tội phạm này.
Bà Nguyễn Thị Vân Anh, đại diện Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã chia sẻ kinh nghiệm của đơn vị sau khi thực hiện Dự án WLC (Dự án tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loại động vật hoang dã); Chương trình ARREST (châu Á hành động chống nạn buôn bán các loài có nguy cơ tuyệt chủng).
Việt Nam cần tiếp tục huy động sự tham gia liên ngành; khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân; tăng cường thực thi chính sách và pháp luật; nhân rộng những sáng kiến hiệu quả và mô hình thành công.
Đại diện Cơ quan quản lý CITES, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cũng cho biết trong thời gian tới kế hoạch hành động tiếp theo của đơn vị này là tiếp tục phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng giáo trình đưa vào giảng dạy toàn quốc. (Vietnam + 29/3; Báo Thái Nguyên 29/3) đầu trang(
Ban quản lý vườn quốc gia U Minh Hạ tỉnh Cà Mau cho biết, thời gian gần đây đã phát hiện nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm lưu trú trong rừng; trong đó có nai, heo rừng, rái cá, chồn đèn, rắn hổ đất, chim sen, chằng bè…
Theo ông Huỳnh Minh Nguyên, Giám đốc vườn quốc gia U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau, nhờ áp dụng chế độ quản lý nghiêm ngặt nên vườn quốc gia U Minh Hạ tỉnh Cà Mau không ngừng phát triển, bảo tồn. Là môi trường lý tưởng cho các loài động vật hoang dã quý hiếm lưu trú, sinh trưởng, đồng thời đây còn là nơi hấp dẫn dành cho nghiên cứu khoa học.
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học năm 2010 cho thấy, vườn quốc gia U Minh Hạ có 32 loài động thực vật thuộc lớp thú, 13 họ chim với 74 loài. Hiện nay, động vật hoang dã quý hiếm tồn tại trong vườn quốc gia ngày càng nhiều. Nếu cách đây 10 năm, đàn nai xuất hiện lưa thưa thì bây giờ số lượng đàn nai ước tính từ 700-800 con, trong đó có những con nai già trọng lượng lên tới 180 kg.
Đàn heo rừng cũng có hàng trăm con, trong đó có những con có trọng lượng 200 kg. Đặc biệt trong vườn quốc gia U Minh Hạ xuất hiện nhiều loài chim quý như chim sen, chằng bè, đây là loài chim to với sải cánh trên 1m, trọng lượng hàng chục kg. Vườn quốc gia U Minh Hạ tỉnh Cà Mau tọa lạc tại địa bàn 2 huyện U Minh và Trần Văn Thời, có tổng diện tích 8.500 ha. (Vietnam + 29/3; Người Lao Động 29/3) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh Ninh Thuận.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp, Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp: Ninh Sơn, Tân Tiến.
UBND tỉnh Ninh Thuận có trách nhiệm thực hiện việc sắp xếp, đổi mới các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp: Ninh Sơn, Tân Tiến theo quy định hiện hành.
Trước khi sắp xếp phải rà soát, xác định nhu cầu sử dụng đất, rừng của từng công ty; diện tích dự kiến giao hoặc cho các doanh nghiệp thuê sau khi sắp xếp phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương; chỉ đạo các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp: Ninh Sơn, Tân Tiến phải sử dụng đất đúng mục đích. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/3) đầu trang(
Tỉnh Quảng Ninh khẳng định, chủ trương của UBND tỉnh là tạo điều kiện tốt nhất cho “nhà đầu tư chiến lược” như Tập đoàn FLC. Có thể vì lý do này mới xảy ra tình trạng, dự án nghìn tỷ được khởi công trước, thủ tục bổ sung sau với một quy trình “chẳng giống ai” tại Dự án FLC Hạ Long?
Là đơn vị được UBND tỉnh giao làm đầu mối về Dự án FLC Hạ Long, Sở KHĐT tỉnh Quảng Ninh cũng cho biết, hiện đã có Quyết định 759 ký ngày 19.3 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư thực hiện Dự án sân golf Ngôi sao Hạ Long tại khu vực đồi Cột 3 đến Cột 8 TP.Hạ Long.
Thời gian đầu tư là quý I.2016 và hoàn thành quý IV.2016, tổng mức đầu tư 700 tỷ đồng. Điều ngạc nhiên là chỉ sau 1 ngày có quyết định, Tập đoàn FLC được lựa chọn là nhà đầu tư dự án này và họ đã tiến hành tổ chức khởi công hoành tráng vào ngày 20.3.
Trong Quyết định 759, UBND tỉnh yêu cầu Sở Xây dựng xem xét quyết định chính xác chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc của dự án, hướng dẫn chủ đầu tư lập quy hoạch chi tiết 1/500 đồng thời hướng dẫn lập hồ sơ cấp phép xây dựng theo quy định.
Quyết định 759 của UBND tỉnh cũng giao Sở TNMT hướng dẫn chủ đầu tư ký hợp đồng thuê đất theo quy định của Luật Đất đai; UBND TP.Hạ Long có trách nhiệm thực hiện các thông báo thu hồi đất theo quy định và triển khai, thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho nhà đầu tư; Công ty CP Tập đoàn FLC tổ chức thi công dự án ngay trong tháng 3.2016…
Như vậy, ngay trong Quyết định 759 có thể thấy, UBND tỉnh Quảng Ninh mới chỉ có quyết định lựa chọn nhà đầu tư, chưa có quy hoạch chi tiết 1/500, không có chỉ đạo Sở TNMT và các đơn vị có liên quan triển khai công tác đánh giá tác động môi trường... Tức là thiếu những điều kiện để khởi công công trình này theo Điều 72 Luật Xây dựng.
Thông thường, trước khi triển khai một dự án nào có liên quan tới chuyển đổi đất lâm nghiệp đều phải có bước đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Khi thẩm định báo cáo ĐTM của các dự án, Hội đồng phải có giám đốc Sở TNMT làm chủ tịch và phải có đại diện của ngành kiểm lâm. Đây là thủ tục bắt buộc. Cụ thể, theo Điều 29 của Nghị định 23 ngày 3.3.2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, khi chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác phải có báo cáo ĐTM và lập phương án trồng rừng thay thế.
Tuy vậy, một vị lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh (đề nghị giấu tên) cho biết: Với dự án của Tập đoàn FLC, ngành kiểm lâm vẫn chưa được mời tham gia Hội đồng đánh giá ĐTM, và chưa biết có báo cáo ĐTM đối với dự án này hay chưa?! Đặc biệt, vị này cũng khẳng định hiện chưa có biên bản kiểm kê hiện trạng sử dụng đất, biên bản kiểm kê đất rừng và xác lập mốc ranh giới chồng lấn với dự án.
“Tới mùa mưa lũ, với đà san gạt này không biết điều gì sẽ xảy ra? Nếu có báo cáo cụ thể, sẽ biết phương án kè chắn đất sau san gạt, gom nước thải ra sao, phương án trồng rừng hạ cấp, trồng rừng chắn lũ thay thế như thế nào để đảm bảo cho cuộc sống của những người dân quanh vùng” - vị này lo lắng.
Còn ông Tạ Thiên Hỹ - Trưởng phòng Văn hóa xã hội và Du lịch, Sở KHĐT Quảng Ninh cho biết: Hiện Sở TNMT đang phối hợp làm bản đánh giá ĐTM để trình lên Bộ TNMT phê duyệt.
Ông Phạm Quang Đạm - Chánh văn phòng Sở TNMT Quảng Ninh cũng xác nhận, Nghị định 18 của Chính phủ quy định, tất cả các dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ từ 200ha trở lên, đánh giá ĐTM do Bộ TNMT phê duyệt. Hiện tại doanh nghiệp chưa gửi văn bản lên Sở TNMT, do đó Sở không có thông tin.
Còn ông Trần Thanh Tùng - Phó Chánh văn phòng Sở TNMT cho biết: “Dự án này cũng chưa thấy có cấp phép đầu tư của Sở KHĐT gửi lên. Còn quy hoạch TP.Hạ Long phê duyệt rồi nhưng cũng chưa chuyển lên đây. Chủ đầu tư hiện cũng chưa nộp hồ sơ ở đây, hay là họ nộp ở trên Bộ TNMT thì sao nhỉ?” - ông Tùng suy đoán. (Dân Việt 30/3) đầu trang(
Liên quan đến việc xử lý tại khu nghỉ dưỡng Bella Resort, theo GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, phạt rồi cho tồn tại là sự dung túng cho các sai phạm.
Cách đây 3 năm, UBND thành phố Hà Nội đã kết luận, 24 biệt thự trong quần thể khu nghỉ dưỡng Bella Resort (xã Vân Hòa, huyện Ba Vì) đều không có phép xây dựng.
Tất cả các công trình này lúc bấy giờ đều được xây trên đất lâm nghiệp và chưa được chuyển đổi thành đất ở theo quy định pháp luật. Kết luận cũng cho biết, nhiều quyết định của huyện Ba Vì và xã Vân Hòa đã vượt quá thẩm quyền, bao gồm cả việc cấp sổ đỏ cho các lô đất nêu trên; vì vậy yêu cầu ngừng thi công đối với các căn biệt thự này.
Tuy nhiên, thay vì chỉ đạo kiên quyết xử lý sai phạm, lãnh đạo UBND thành phố Hà Nội lại chấp thuận phương án truy thu tiền sử dụng đất theo đề xuất của UBND huyện Ba Vì. Có thể hiểu việc thành phố Hà Nội cho phép truy thu tiền sử dụng đất là một hình thức phạt để cho tồn tại .
Tuy nhiên, theo Giáo sư Đặng Hùng Võ, đây là sự dung túng cho các sai phạm, nhất là khi khu vực này chưa có quy hoạch chuyển đổi đất rừng thành đất ở. (Cafef 29/3) đầu trang(
Dự án hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu ở rừng và đồng bằng Việt Nam (gọi tắt là Dự án VFD) do Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là cơ quan chủ quản, dự án có thời gian thực hiện 5 năm (2012 – 2017).
Tại Thanh Hóa, dự án thực hiện ở hợp phần cảnh quan bền vững với mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ sử dụng đất, cải thiện quản lý rừng bền vững, nhằm làm chậm, dừng và đảo ngược quá trình phát thải do mất rừng, suy thoái rừng và khí thải từ các cảnh quan khác, đồng thời tận dụng cơ hội tiếp cận các nguồn tài chính về giảm phát khí thải.
Dự án đã hỗ trợ cho tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển ngành tre, luồng. Thông qua kế hoạch này, đã có 15 dự án cụ thể được xác định, bao gồm các dự án về phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến và phát triển thị trường sản phẩm.
Hiện đã có nhiều nhà đầu tư quan tâm, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sự tham gia đầu tư trực tiếp của Công ty CP Mía đường Lam Sơn với 2 dự án là: Dự án công viên tre luồng Thanh Tam, tổng mức đầu tư khoảng 250 tỷ đồng và Dự án Nhà máy sản xuất tre ép khối Tam Thanh, công suất 100.000 m3 sản phẩm/năm, tổng mức đầu tư khoảng 450 tỷ đồng. Hai dự án này đang được triển khai lập dự án khả thi, hoàn thiện các thủ tục đầu tư, dự kiến khởi công trong năm 2016.
Dự án đã hỗ trợ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh và các địa phương tổ chức rà soát xác định chủ rừng, diện tích rừng phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua việc ứng dụng ảnh vệ tinh tại huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước.
Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, ban chỉ đạo, tổ công tác cấp huyện, cán bộ cấp xã về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; tổ chức các khóa tập huấn, tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tới cán bộ và nhân dân các địa phương trong lưu vực được chi trả tại 7 huyện: Mường Lát, Quan Hóa, Bá Thước, Quan Sơn, Thường Xuân, Như Xuân và Như Thanh.
Dự án đã hỗ trợ chuyên gia triển khai, đánh giá thực trạng và đề xuất các mô hình sinh kế trên địa bàn tỉnh. Hiện tại đang hỗ trợ triển khai các mô hình sinh kế thích ứng với khí hậu như: Mô hình chăn nuôi gà địa phương kết hợp nuôi giun quế tại các huyện Mường Lát, Bá Thước và Thường Xuân. Mô hình canh tác lúa cải tiến (SRI) tại huyện Thường Xuân, Bá Thước; mô hình nông – lâm kết hợp tại Mường Lát và mô hình cải tạo vườn tạp tại Thường Xuân.
Đã tổ chức 5 lớp tập huấn về kỹ thuật làm chuồng, lựa chọn giống cho người dân tại các xã lựa chọn. Đồng thời, triển khai thực hiện 11 mô hình sinh kế tại 3 Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Pù Hu, Pù Luông. Trong năm 2016, dự án tiếp tục triển khai các mô hình như: Bếp đun cải tiến tận dụng phụ phẩm, mô hình trồng nấm, trồng rau sạch, mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng, mô hình thâm canh rừng luồng theo hình thức hình thành các HTX… để kết nối với các doanh nghiệp, nhằm hình thành vùng hàng hóa tập trung và bảo đảm đầu ra cho các sản phẩm nông sản do nông dân sản xuất.
Kết quả bước đầu Dự án VFD tại Thanh Hóa đã góp phần làm thay đổi và nâng cao nhận thức của cán bộ, người dân về biến đổi khí hậu và giúp tỉnh ban hành các kế hoạch phát triển như: Kế hoạch tăng trưởng xanh, kế hoạch phát triển tre, luồng… góp phần thu hút các nguồn đầu tư trong nước và mở ra cơ hội tiếp cận với các nguồn tài chính quốc tế tài trợ cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh nhà. (Môi Trường Và Đời Sống 29/3) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh trồng mới được 85 ha diện tích rừng tập trung, tăng 21,43% so với cùng kỳ năm 2015. Hưởng ứng lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Thân 2016 nhân dân các địa trong tỉnh trồng mới thêm được trên 121.000 cây xanh, cây ăn quả và cây lâm nghiệp phân tán.
Để công tác trồng rừng đạt hiệu quả cao, trước đó các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn và các địa phương tập trung chăm sóc cây giống, khảo sát thực địa, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng rừng cho nông dân. Cùng với trồng rừng, các cấp ngành, địa phương còn tập trung bảo vệ, chăm sóc, phát triển diện tích rừng hiện có; tuyên truyền, phổ biến và xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại rừng. (Báo Vĩnh Phúc 29/3) đầu trang(
Xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy là một trong những xã đầu tiên của tỉnh Thái Bình triển khai thực hiện dự án trồng rừng phòng ngừa thảm họa thiên tai. Đến nay, những cánh rừng ngập mặn đã trở thành “bức tường xanh” bảo vệ cuộc sống của người dân trong xã và có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế những tác động của biến đổi khí hậu.
Xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy có gần 230 ha rừng ngập mặn trải dài theo hệ thống đê biển của xã. Từ khi có rừng ngập mặn, môi trường sinh thái vùng ven biển đã được cải thiện, các loài thủy, hải sản cũng phong phú hơn. Rừng đã mang lại cuộc sống ấm no cho người dân Thụy Xuân, giúp họ an tâm bám biển, ổn định cuộc sống.
Chị Đỗ Thị Yến – thôn Vũ Đông, xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy cho biết: “Từ khi có rừng cuộc sống của chúng tôi ổn định hơn, nguồn lợi thủy sản như con cáy, con cua cũng nhiều hơn. Nhiều người sống tốt hơn nhờ có biển”.
Còn Ông Vũ Văn Nam – thôn Vạn Xuân Nam, xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy chia sẻ: “Từ khi Thụy Xuân trồng rừng, hệ thống đê biển được đảm bảo. Khi có bão gió, nhân dân chúng tôi không phải lo lắng”.
Hệ thống rừng ngập mặn phòng hộ ven biển Thụy Xuân được ví như "bức tường xanh" vững chắc bảo vệ cho toàn bộ tuyến đê trực diện với biển, bảo vệ an toàn cho cuộc sống của cộng đồng dân cư ven biển. Qua thực tế những năm có lũ bão, triều cường, toàn bộ hệ thống đê biển và đê đầm thủy sản của Thụy Xuân có rừng che chắn phía ngoài đều được bảo vệ an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế lớn.
Ông Bùi Ngọc Diện – Chủ tịch UBND xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy cho biết “Chúng tôi nhận thấy giá trị mà rừng ngập mặn mang lại là rất lớn. Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục kết hợp với một số tổ chức trong và ngoài nước triển khai trồng và mở rộng diện tích rừng tại địa phương”.
Có thể thấy những lợi ích, hiệu quả mà rừng ngập mặn mang lại là rất lớn. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của thiên tai, nhiệt độ trái đất đang ấm dần lên, mực nước biển dâng lên ngày càng cao...vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để bảo vệ rừng đã có và tiếp tục mở rộng diện tích trồng rừng mới. Đây đang là bài toán không chỉ riêng đối với xã Thụy Xuân mà còn ở các địa phương ven biển khác của Thái Bình. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thái Bình 29/3) đầu trang(
Theo Kế hoạch trồng rừng và cây xanh giai đoạn 2016 – 2020 của UBND TP, TPHCM tiếp tục phấn đấu mỗi năm trồng ít nhất 1.000.000 cây xanh, góp phần duy trì và phát triển diện tích rừng và mảng cây xanh trên địa bàn TP.
TP sẽ vận động nhân dân tích cực tham gia trồng cây xanh, nhất là các loài cây gỗ có giá trị cao như: sao, dầu, gõ đỏ, giáng hương, căm xe, long não, bằng lăng…; tiếp tục thực hiện các dự án phát triển rừng trên địa bàn huyện Cần Giờ, Củ Chi, Bình Chánh, phát triển hệ thống cây xanh công viên, vườn hoa đô thị, cây xanh đường phố; phấn đấu tổng diện tích trồng rừng và diện tích quy đổi trồng cây lâm nghiệp phân tán, cây do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự trồng, phát triển cây xanh cảnh quan, đường phố hơn 1.600 ha với số lượng dự kiến là 5.000.000 cây trồng. (Văn Phòng UBND TP.HCM 29/3; Hải Quan 30/3) đầu trang(
Nhằm đưa sản phẩm gỗ của người nông dân vươn ra thị trường Châu Âu, Liên minh HTX tỉnh đang thực hiện dự án hỗ trợ trồng rừng theo mô hình cấp chứng chỉ rừng liên Châu Âu PEFC. Đây là một bước tiến dài trong ngành sản xuất lâm nghiệp ở Quảng Ngãi.
Dự án hỗ trợ trồng rừng do Bộ Ngoại giao Phần Lan và Bộ Ngoại giao Hà Lan đồng tài trợ và được tổ chức FFD và AgriCord thực hiện. Tại Quảng Ngãi, HTX nông nghiệp Thọ Trung (Tịnh Thọ, Sơn Tịnh) và HTX nông nghiệp Hành Dũng (Nghĩa Hành), là hai đơn vị thực hiện thí điểm dự án từ năm 2014 đến nay.
Có dịp đến thăm khu rừng keo rộng 5.000 mét vuông của ông Nguyễn Văn Trình ở xóm 1, thôn Thọ Trung, ai cũng phải trầm trồ ngạc nhiên. Khác với cách trồng rừng truyền thống xưa nay thường lộn xộn, các cây lớn bé chen chúc mọc trên diện tích hẹp, khu rừng keo lá tràm của ông Trình thông thoáng, thẳng tắp và phát triển nhanh, đều.
“Trồng rừng theo chuẩn PEFC có lợi vậy đó. Các cây đều cách nhau khoảng cách 1,8-2m. Mọi cây cong, sâu đều phải được loại bỏ. Có diện tích thông thoáng nên chỉ mới 2 năm tuổi mà cây nào, cây nấy đều to, cao hơn hẳn so với những khu rừng keo trồng theo kiểu truyền thống trong vùng”- ông Trình tự hào nói.
Là thành viên của HTX nông nghiệp Thọ Trung, lúc đầu, ông Trình còn băn khoăn với câu hỏi liệu có nên trồng rừng theo tiêu chuẩn PEFC như Liên minh HTX tỉnh khuyến cáo. Vì theo chuẩn này, với diện tích 1 ha, chỉ có thể trồng khoảng 1.700 cây. Trong khi đó, trồng theo kiểu thông thường, có thể chen được khoảng 2.500 cây. Tuy nhiên, sau khi đem lên bàn cân tính chuyện thiệt hơn, ông Trình vẫn quyết tâm trồng rừng theo cách tỉa thưa đúng như quy định chuẩn PEFC.
“Ban đầu nghe thì có vẻ rắc rối thật. Nhưng tôi vẫn làm vì sau này sẽ thu về nhiều điều có lợi. Nếu tuân thủ đúng chuẩn PEFC, sau khoảng 5-8 năm, khi thu hoạch rừng, tôi có thể thu lợi nhuận tới 2,5 triệu đồng/tấn gỗ xẻ, thay vì chỉ 1,1 triệu đồng/tấn như hiện nay”- ông Trình chia sẻ thêm.
Chính vì hiểu được những lợi ích từ việc trồng rừng theo chuẩn mới, không riêng gia đình ông Trình, mà có hơn 40 hộ gia đình khác ở HTX Thọ Trung quyết định đăng ký trồng diện tích 60ha rừng, với kỹ thuật trồng nghiêm ngặt.
Phải dùng từ “nghiêm ngặt” để nói đến kỹ thuật trồng rừng PEFC, bởi người trồng rừng phải thuân theo rất nhiều quy định từ việc chọn cây giống sạch bệnh, đến việc trồng tỉa thưa và chăm sóc, quản lý rừng. “Nông dân trước khi thực hiện phải được tập huấn kỹ càng. Trồng rừng chuẩn PEFC nghiêm cấm việc đốt thực bì nhằm giúp đất giữ được lớp dinh dưỡng cần thiết để nuôi cây. Bên cạnh đó, rừng chỉ được khai thác sau 5 năm trồng để lấy gỗ xẻ”- ông Nguyễn Văn Hoàng- Chủ nhiệm HTX Thọ Trung cho biết.
Một khi người nông dân quyết định chọn trồng rừng tuân thủ theo chuẩn PEFC thì có nghĩa rằng, họ đã rất có ý thức phát triển rừng theo hướng bền vững. Bởi, theo cách này, tập quán khai thác gỗ non theo kiểu ăn xổi sẽ chấm dứt, cùng với đó, lớp thực bì được giữ gìn cẩn thận. Từ đó, môi trường sinh thái sẽ được bảo vệ. Nguồn nước ngầm cũng được bảo quản dưới lòng đất nhờ rễ cây giữ lại, nhằm hỗ trợ người nông dân trồng rừng trong những năm tiếp theo.
Hiện hai đơn vị HTX nông nghiệp Thọ Trung và Hành Dũng đang triển khai trồng khoảng 400ha rừng theo chuẩn PEFC với hơn 150 hộ tham gia. Các hộ nông dân này cũng được cử đi tập huấn, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến và cam kết trồng rừng đúng chuẩn.
Giai đoạn 2016-2017, Liên minh HTX tỉnh sẽ tiếp tục triển khai dự án hỗ trợ trồng rừng cho 10 đơn vị HTX khác tại 4 huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức và Nghĩa Hành với diện tích hơn 600 ha.
“Để được cấp chứng chỉ trồng rừng liên Châu Âu PEFC, Liên minh HTX tỉnh phải tập hợp được khoảng 1.000-2.000 ha rừng được trồng theo đúng kỹ thuật mà tổ chức này đã quy định. Do đó, chúng tôi định hướng các HTX trồng theo chuẩn với hơn 1.000ha tại các huyện này để được cấp chứng chỉ trong vòng 5-10 năm tới”- ông Phạm Hoài Nam- Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh cho biết
Chứng chỉ PEFC một khi được cấp cho các hộ nông dân trồng rừng thuộc các HTX, đây sẽ là giấy thông hành khẳng định chất lượng rừng cao, được khai thác hợp pháp và có thể xuất đi thị trường Châu Âu- một thị trường vốn có tiếng khó tính bấy lâu nay. “Rừng theo chuẩn PEFC có giá trị cao hơn 30% so với rừng thường. Hơn nữa, một khi đã được cấp chứng chỉ, thì người nông dân trồng rừng không còn phải nơm nớp lo đầu ra và tình trạng bị thương lái ép giá”- ông Nam chia sẻ thêm.
Để hạn chế việc người trồng rừng thuộc dự án khai thác non trước thời hạn 5 năm, Quỹ hỗ trợ phát triển HTX cũng đã ra đời. Nông dân khi thiếu vốn trang trải có thể vay từ nguồn quỹ này với lãi suất ưu đãi và trả sau khi thu hoạch rừng. Ngoài ra, Quỹ bảo hiểm lâm nghiệp cũng sẽ được thành lập để hỗ trợ cho những diện tích rừng bị hư hại do thiên tai.
Việc trồng rừng theo chuẩn thế giới thực sự là một bước tiến dài trong ngành sản xuất lâm nghiệp. Xóa bỏ tình trạng trồng rừng theo kiểu tự phát, không áp dụng khoa học kỹ thuật, người nông dân đang tiến gần đến cánh cửa bước ra thế giới với những sản phẩm gỗ chất lượng.
Trong thời kỳ hội nhập, việc trồng rừng không thể đơn giản chỉ làm theo quán tính, kiểu “ăn xổi”, chỉ thấy được lợi ích trước mắt. Trồng rừng còn phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh thái, giúp phát triển rừng bền vững. Dưới sự hỗ trợ của dự án, nhiều người nông dân đã dần nhận thức rõ điểm mấu chốt này. (Báo Quảng Ngãi 29/3) đầu trang(
Nhằm đáp ứng nhu cầu giống cây mây trong năm 2016, huyện A Lưới (Thừa Thiên-Huế) đã giao các đơn vị, vườn ươm trên địa bàn tiến hành gieo ươm hơn 1,5 triệu cây mây giống, đáp ứng tương đương diện tích 1.500 ha cho các chương trình, dự án đang triển khai trồng rừng tại A Lưới.
Đó là dự án của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) với 600 nghìn cây mây (tương đương 600 ha); dự án Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng sông Mê Công mở rộng giai đoạn 2 (BCC) với 360 nghìn cây mây (600 ha) và dự án 147 của huyện A Lưới về phát triển cây mây dưới tán rừng giai đoạn 2015 - 2020...
Việc hình thành các vườn gieo ươm sản xuất mây giống tại A Lưới không chỉ giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, kỹ sư nông lâm, còn góp phần phục hồi, tái sinh các rừng mây dưới tán rừng tự nhiên, cải thiện sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc sống ven rừng. (Nhân Dân 30/3) đầu trang(
Việc trồng rừng đã giải quyết công ăn việc làm và thu nhập cho hằng ngàn lao động trong các khâu trồng, khai thác.
Sở NN-PTNT Quảng Nam cho biết, diện tích rừng trồng bình quân đạt trên 12.600 ha/năm. Giá trị SX ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 bình quân tăng 12%/năm, gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2006 - 2010. Độ che phủ rừng tăng bình quân 0,4%/năm, đến năm 2015 đạt 50,2%.
Đến nay, có gần 70% diện tích đất lâm nghiệp đã được giao rừng có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ rừng phòng hộ lưu vực và tổ chức thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Việc trồng rừng đã giải quyết công ăn việc làm và thu nhập cho hằng ngàn lao động trong các khâu trồng, khai thác. Ngoài ra công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng được tăng cường.
Cùng với triển khai các biện pháp mạnh trong ngăn chặn khai thác lâm khoáng sản trái phép, có giải pháp để giải quyết sinh kế cho cư dân tại chỗ như đẩy nhanh tiến độ giao đất trồng rừng SX, phát triển cao su, giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo các chương trình, dự án và nhất là thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/3) đầu trang(
Chính quyền Quảng Ngãi gửi hàng chục văn bản "đòi" tiền trồng rừng thay thế, nhưng chủ đầu tư Thủy điện Hà Nang là Thiên Tân Group vẫn "cù nhầy".
Vào tháng 2.2015, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có Quyết định số 222/QĐ-UBND phê duyệt Phương án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển đổi mục đích trên 71 ha để xây dựng Nhà máy (NM) thủy điện Hà Nang tại xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng.
Ông Nguyễn Khánh Ngọc, Giám đốc Quỹ Phát triển và Bảo vệ (PT&BV) rừng, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ngãi cho biết: "Lẽ ra ngay sau khi có quyết định này, Thiên Tân Group phải nộp ngay số tiền khoảng 3,24 tỷ đồng để trồng thay thế 71ha rừng mà doanh nghiệp này đã chuyển đổi làm NM thủy điện Hà Nang. Thế nhưng mãi đến tháng 7.2015 thì Thiên Tân Group chỉ mới nộp được khoảng 1,345 tỷ đồng, còn nợ lại gần 1,9 tỷ đồng cho đến tận bây giờ".
Ngoài vô số lần họp, theo thống kê của Quỹ PT&BV rừng Quảng Ngãi, thì số văn bản mà chính quyền tỉnh, Sở NN&PTNT tỉnh và các bộ phận trực thuộc đã lập, gửi có nội dung liên quan đến việc "đòi" tiền trồng rừng thay thế đối với Thiên Tân Group (tính từ khi UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt vào tháng 2.2015) là 26 văn bản. Trong đó riêng UBND tỉnh là 7 văn bản, Sở NN&PTNT Quảng Ngãi là 11 văn bản.
Không chỉ việc trồng rừng thay thế, Thiên Tân Group còn "cù nhầy" việc nộp tiền dịch vụ môi trường rừng của NM thủy điện Hà Nang.
Theo đó từ năm 2013-2015, do nộp muộn 425 ngày so với quy định, với số tiền gần 2,4 tỷ đồng tiền nên Thiên Tân Group đã bị cơ quan chức năng xử phạt 38 triệu đồng.
Được biết NM thủy điện Hà Nang có công suất 11 Mw, tổng vốn đầu tư khoảng 320 tỷ đồng, được khởi công xây dựng tại xã Trà Thuỷ vào tháng 4.2008, đến tháng 9.2010 thì đưa vào hoạt động.
Để xây dựng NM thuỷ điện Hà Nang đã có 104 hộ dân đồng bào Kor, với trên 500 khẩu của Trà Thủy đã phải di dời. Hiện số hộ này vẫn chưa được cấp đất sản xuất. (Dân Việt 29/3) đầu trang(
Một gia đình nông dân nơi vùng biên gới trồng rừng trên đất mình khai hoang và nhiều năm đầu tư chăm bón nhưng đến khi khai thác bị doanh nghiệp ngăn cản. Từ đó xảu ra tranh chấp đất và tài sản trên đất gay gắt. Với tình cảnh này người dân biết kêu ai?
Năm 1996, vợ chồng anh Phan Văn Thích và chị Trần Thị Minh rời vùng quê nghèo huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định lên khu vực biên giới Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum sinh sống. Đến vùng đất hoang vu nơi biên cương, vợ chông anh Thích dựng căn nhà lá dưới chân đồi có chỗ che nắng che mưa để gia đình tạm ốn định sản xuất. Trong thời gian mới đến nơi này, toàn vùng chưa có đường sá, chỉ có những lối mòn nhỏ, việc đi lại còn quá khó khăn. Nơi đây hầu như luôn vắng bóng người.
Sau nhiều năm làm việc vất vả, vợ chồng anh Thích đã khai hoang vùng đất rộng lớn đưa vào sản xuất lúa, hoa màu và các loại cây lâu năm. Trong đó, có 2,5 ha đất vùng đồi dốc thuộc địa bàn Thôn Yêk, xã Bờ Y sử dụng trồng hoa màu và cây cà phê. Năm 2002, anh Thích đã chuyển diện tích đất 2,5 ha này sang trồng keo lá tràm và thông nhằm phủ xanh vùng đất đồi. Thời gian 3-4 năm đầu kiến thiết cơ bản, cây trồng chưa khép tán, gia đình anh Thích thuê lao động phát cỏ và chăm bón cho vườn rừng. Nhờ đầu tư chăm bón đầy đủ, vườn rừng cây keo và thông phát triển khá tốt.
Giữa tháng 10/2015, anh Thích thuê người và phương tiện cưa cắt cây keo và thông để bán nguyên liệu. Sau những ngày làm việc khẩn trương và vất vả, anh Thích và nhóm thợ đã cưa cắt được dăm chục mét khối gỗ tròn keo, thông, chất thành nhiều đong. Trong lúc gia đình anh Thích và tốp thợ đang tập trung cưa cắt cây và bốc xếp gỗ lên xe, chiều ngày 22-10-2015 đoàn người khá đông gom đủ các thành phần: cán bộ Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hôi, Lâm trường Sa Loong, Hạt kiểm lâm Ngọc Hồi, Đồn Biên phòng, cán bộ xã Bờ Y đến lập biên bản “vi phạm” về việc “khai thác rừng trái phép”.
Lúc đó, vợ chồng anh Thích tá hỏa lên và không hiểu sự tình, vì từ trước tới nay gia đình mình khai hoang đất rồi trồng rừng và tập trung chăm bón cây đã nhiều năm, nhưng không hề tranh chấp với ai và cũng chưa một lần cơ quan chức năng đến hỏi thăm về tình hình sản xuất, trồng rừng. Và chưa một lần gia đình anh Thích bị lập biên bản hay sự nhắc nhở về việc vi phạm về quy chế quản lý bảo vệ rừng. Nay đoàn cán bộ liên ngành đến lập biên bản ngăn cản không cho khai thác gỗ rừng trong và lại còn vu cho hành vi khai thác trái phép gỗ rừng trồng của Lâm trường Sa Loong là vô lý.
Sau khi làm việc, Đoàn công tác liên ngành đã lập biên bản “vi phạm” buộc gia đình anh Thích dừng ngay khai thác rừng trồng, đồng thời thu giữ 2 máy cưa lốc cắt cây. Điều đáng nói rằng, việc thu giữa 2 hiện vật này không được lập biên bản là vi phạm, là trái với quy định của pháp luật. Anh Phan Văn Thích cho biết, “buổi sáng ngày 7-3-2016 khi làm việc trên trang trại dưới chân đồi, anh thấy nhiều người là nhân viên quản lý bảo vệ rừng đi qua lại nơi rừng trồng. Đến 11 giờ 30 rừng bị đốt cháy dữ dội và lan ra rất nhanh”.
Anh Thích cùng với anh em làm việc trong trang trại đã tập trung chống cháy rất quyết liệt để ngăn cản ngọn lửa cháy lây lan. Sau hơn 3 giờ dập lửa, đám cháy đã được khống chế và bị dập tắt. Diện tích rừng trồng bị cháy vài ngàn mét vuông, một số lóng gỗ chất đống cũng bị ngọn lửa đốt cháy sém. Với sự việc rừng trồng bị bọn xấu đốt cháy vào thời điểm tranh chấp đất và tài sản trên đât đang làm cho nhiều người nghi vấn về vụ hỏa hoạn này?.
Quá uất ức vì đất mình khai hoang, gia đình trồng rừng và chăm bón, nhưng khi khai thác lại bị ngăn cản và vu khống lấn chiếm đất công, khai thác rừng trái phép; gần đây rừng bị bọn xấu đốt cháy. Suốt trong mấy tháng mùa khô, gỗ tròn cắt khúc chất đống bị khô không được chuyển đi đã bị nứt nẻ và ải mục, gây lãng phí lớn về tài sản. Vợ chồng ông Thích quá xót xa vì mất của lại còn mang tiếng vi phạm về khai thác rừng.
Anh Thích, chị Minh nhiều lần làm đơn gửi lên các cấp chính quyền và cơ quan chức năng đề nghị giải quyết việc tranh chấp đất đai và xử lý việc sử dụng tài sản trên đất của mình. Ngày 14-3-2016, Thường trực Huyện ủy Ngọc Hồi đã có Văn bản số 293/CV-HU gửi UBND huyện Ngọc Hồi “Yêu cầu chỉ đạo các ngành chức năng giải quyết đơn kiến nghị của ông Phan Văn Thích, bà Trần Thị Minh và báo cáo về Huyện ủy trước ngày 30-3-2016”.
Vừa qua, đoàn phóng viên của báo Kinh doanh và Pháp luật đã đến huyện Ngọc Hồi để làm việc với chính quyền cơ sở và cơ quan chức năng. Khi làm việc với Lâm trường Sa Loong, ông Ngô Tùng Khoa Giám đốc Lâm trường cũng tỏ ra không biết về diện tích rừng anh Thích đang sản xuất và gần đây khai thác gỗ, vì nói rằng mình mới đến nhận công tác ở đây không lâu.
Ông Khoa còn cho hay, tất cả các tài liệu về quản lý đất và hiện trạng rừng toàn bộ khu vực này do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hồi lưu giữ. Đoàn phóng viên đã đến làm việc với Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hồi thì được cán bộ chuyên môn cung cấp một số văn bản. Trong đó có tài liệu tổng thể về việc quy hoạch trồng rừng thuộc khu vực doanh nghiệp đang quản lý.
Khi được hỏi diện tích 2,5 ha rừng trồng vừa qua anh Phan Văn Thích khai thác thể hiện việc thiết kế địa bàn trồng rừng, tài liệu hiện trạng rừng trồng, tài liệu khoán chăm sóc rừng hàng năm cho người lao động trên thửa đất này để chứng minh doanh nghiệp đã đều tư trồng rừng thì Công ty không có để cung cấp. Trong khi đó, đất rừng khai hoang của anh Phan Văn Thích được UBND xã Bờ Y xác nhân năm 2004.
Nhiều người sống trên địa bàn từng tham gia trồng rừng cho anh Thích cũng xác nhận việc khai hoang, cải tạo đất và trồng rừng của anh từ khi đến vùng đất này. Anh Thích đến nơi vừng xa biên giới sinh sống và khai hoang đất trồng rừng là chính đáng. Sau nhiều năm trồng và chăm bón, rừng cây phát triển không có sự tranh chấp đất đai với ai. Khi vườn rừng đã phát triển đến độ thành thục, gia đình anh Thích bắt đầu khai thác cây rừng và thu sản phẩm thì doanh nghiệp đến ngăn chặn và thu giữ phương tiện máy móc là sự bất công đến khó hiểu.
Với sự việc trên, đang gây dư luận bức xúc cho cộng đồng dân cư ở địa phương. Nhiều ý kiến người dân cũng băn khoăn, lo âu vì đất mình khai hoang đã được trồng rừng, trồng cây công nghiệp là tài sản riêng của họ nhưng cũng vườn rừng nằm trong vùng đất quy hoạch quản lý chung của ngành lâm nghiệp địa phương. Liệu những thửa đất của họ và tài sản trên đât có bị thu hồi? (Kinh Doanh Và Pháp Luật 24/3) đầu trang(
Trong đơn gửi Báo Công an TP Đà Nẵng, ông Hệ Ngọc Châu (1971, trú xã Trà Đông, H. Bắc Trà My, Quảng Nam) trình bày, từ năm 2004, cha dượng ông là Nguyễn Khoản (nay đã chết) đã trồng cây keo và xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (GCN) với diện tích 30 ha tại khu vực đèo Ba Hương (thôn Ba Hương, xã Trà Đông).
Thời điểm này, lãnh đạo chính quyền xã Trà Đông đồng ý cho ông Nguyễn Khoản lập thủ tục đăng ký làm sổ đỏ trên khu đất trên. Tuy nhiên, sau đó ông Khoản lâm bệnh qua đời nên một số hộ dân xã giáp ranh Tiên Lập (H. Tiên Phước, Quảng Nam) xâm lấn và trồng keo trên một phần diện tích đất trên.
Về sau, ông Châu được mẹ và em ruột giao lại khoảng 2 ha trong khu đất rừng kể trên để phát thực bì, trồng cây (có giấy ủy quyền). Đến cuối năm 2015, gia đình ông Châu có đơn xin thu hoạch keo, nhưng UBND xã Trà Đông không giải quyết. Ông Châu tiếp tục kiến nghị lên UBND H. Bắc Trà My song vụ việc này thuộc thẩm quyền cấp xã nên huyện chuyển đơn về cho UBND xã Trà Đông giải quyết.
Theo ông Châu, hơn 10 năm qua từ khu đất với hiện trạng là dây leo, gia đình ông đã bỏ tiền đầu tư phát triển rừng. Các hộ dân khác mặc dù đất chưa được cấp GCN, nhưng đến thời kỳ thu hoạch đều dễ dàng khai thác keo.
Ông Châu cho rằng, chính quyền địa phương có thành kiến và cố tình làm khó gia đình ông vì trước đây ông từng kiện lãnh đạo UBND xã (!?). “Tôi thiết tha mong chính quyền phải giải quyết sớm, công bằng như mọi trường hợp trồng keo khác trên địa bàn. Ngược lại, nếu cấm phải nói rõ lý do. Thực tế là gia đình tôi đã làm đơn đăng ký lập thủ tục cấp sổ đỏ cách đây 12 năm rồi”, ông Châu nói.
Trước sự việc trên, ông Nguyễn Quang Vĩnh, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Đông, cho rằng, trường hợp của ông Châu còn phải xác định lại thủ tục pháp lý về quyền thừa kế.
“Đơn kiến nghị của ông Châu còn đang chờ các ngành chức năng của huyện giải quyết, chứ xã không có thẩm quyền. Bởi, muốn xác định trạng thái rừng giàu hay rừng nghèo là do ngành Kiểm lâm, TN&MT của huyện. Trước đây, chính quyền xã đã có văn bản tạm dừng khai thác keo trên địa bàn. Toàn bộ diện tích rừng rộng hơn 100 ha (trong đó có đất rừng mà ông Châu đề cập) được quy hoạch rừng tự nhiên, nhưng kiểm tra hiện trạng lại thuộc rừng sản xuất. Từ năm 2013, đoàn công tác của huyện về hiện trường kiểm tra thì tình trạng phát rừng xảy ra tràn lan, nhưng không tìm ra đối tượng”, ông Vĩnh nói.
Đại diện chính quyền UBND xã Trà Đông nói thì không xác định được đối tượng trồng rừng trên đất lấn chiếm trái phép, nhưng thực tế hơn 10 năm nay tại khu vực trên, người dân địa phương biết tường tận từng chủ rừng dù chưa được Nhà nước công nhận. Thậm chí, không ít diện tích đã chuyển nhượng qua nhiều đối tượng. Địa điểm trồng rừng không xa trụ sở UBND xã, lẽ nào cán bộ không hề hay biết ai trồng suốt thời gian dài(?).
“Biết quy hoạch là rừng cấm, sao chính quyền không lập biên bản, cưỡng chế cương quyết đối tượng trồng rừng trái phép ngay từ đầu?”; Trả lời câu hỏi của chúng tôi ông Vĩnh trả lời: “Khi kiểm tra, truy quét thì đã phát hiện cây trồng đã lớn rồi. Mà tài sản đó nếu nhổ, hay chặt bỏ cũng xót lắm”.
Trở lại việc đơn xin khai thác keo của ông Châu, thực tế cho thấy, 12 năm trước, gia đình ông Châu đã được chính quyền đồng ý cho đăng ký làm thủ tục cấp GCN tại diện tích đất rừng trên. Và sau này, gia đình ông Châu đã bỏ vốn trồng, công chăm sóc cây keo đến tuổi khai thác nhưng lại không được khai thác. Rõ ràng địa phương đã không trả lời dứt khoát với người dân về quyền sử dụng đất rừng nên mới xảy ra vụ việc “rắc rối” này. (Công An TP.Đà Nẵng 29/3) đầu trang(
Những ngày qua, người dân các xã Đại Lãnh, Đại Hưng của huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam bất bình khi biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp của họ bị xã “giam” gần 4 năm nay.
Không có sổ đỏ, người dân chịu nhiều thiệt thòi về quyền lợi trên diện tích đất rừng của mình. Trước thực tế trên, lãnh đạo huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam chỉ đạo cuối tháng 3 này, những bìa đỏ không bị tranh chấp phải cấp ngay cho dân.
Ông Huỳnh Văn Hòa, thôn Hà Dục Đông, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam kể, trước đây, gia đình ông khai hoang 7 ha đất rừng tại khu đồi Bằng Trâm và Hóc Khế để trồng keo.
Năm 2009, đoàn cán bộ ở tỉnh, huyện và xã đến đây đo đạc, hứa sẽ cấp bìa đỏ cho gia đình ông canh tác lâu dài. Hơn 4 năm chờ đợi chẳng thấy bìa đỏ đâu, ông đến gặp cán bộ địa chính xã thì được biết, sổ đỏ của ông huyện chưa chuyển về xã. Mấy hôm nay dư luận xôn xao chuyện bìa đỏ, ông đến xã hỏi lần nữa được biết, sổ đỏ của gia đình ông nằm trong ngăn tủ ở xã gần 4 năm nay.
Xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam có 249 trường hợp bị xã “găm” sổ đỏ mấy năm nay. Ông Ngô Xuân Yến, Chủ tịch UBND xã Đại Lãnh giải thích rằng, năm 2007, tỉnh Quảng Nam triển khai Dự án giao đất lâm nghiệp, xã chỉ có 1 cán bộ địa chính lại kiêm nhiều việc nên không đi xác minh cùng đoàn, chỉ có Ban Dân Chính thôn tham gia. Do đó, khi xác minh trở lại thấy nhiều trường hợp bị chồng lấn diện tích nên xã “tạm thời” không cấp phát bìa đỏ cho dân.
Ông Ngô Xuân Yến thừa nhận: “Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng mới biết có nhiều vụ tranh chấp. Trước tình hình này, muốn cấp được cho nhân dân, cán bộ xã phải đi khảo sát thực tế lại”.
Tuy nhiên, khi được hỏi vì sao sổ đỏ xã chưa cấp cho dân mà biết được là có tranh chấp, lãnh đạo các xã Đại Lãnh, Đại Hưng đều cho rằng, căn cứ vào thực tế các vụ tranh chấp ở địa phương mà phỏng đoán như vậy. Còn việc xã “găm” sổ đỏ của dân cán bộ xã thừa nhận là sai.
Qua tìm hiểu được biết, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam có 18 xã, thị trấn; trong đó 13 xã, thị trấn có đất lâm nghiệp. Thực hiện dự án thành lập bản đồ tỉ lệ 1/10.000 và dự án KFW6, trong những năm qua, huyện đã phối hợp với các ngành liên quan và UBND các xã, thị trấn có đất lâm nghiệp triển khai đo đạc, lập hồ sơ địa chính và cấp hơn 3.600 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân. Tuy vậy, vẫn còn hàng ngàn sổ đỏ nằm im trong ngăn tủ ở các xã Đại Lãnh, Đại Hưng, Đại Sơn, Đại Chánh, Đại Thạnh…
Ông Hồ Ngọc Mẫn, Phó Chủ tịch UBND huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cho biết: “Cái sai đó là do của xã. Khi người dân có đủ điều kiện mà không cấp là sai hoàn toàn. Những cái nào không đủ điều kiện phải rà soát lại”.
Ông Lưu Văn Ba, Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam cho rằng, Văn phòng chưa nhận được đơn thư khiếu nại nào của người dân huyện Đại Lộc về việc chồng lấn đất rừng thuộc Dự án giao đất lâm nghiệp của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Ông Ba cho biết thêm, trường hợp chồng lấn, UBND huyện cần có văn bản kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường để có phương án điều chỉnh kịp thời, hoặc UBND xã làm việc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đại Lộc để giải quyết.
Về trường hợp ở các xã Đại Lãnh, Đại Hưng, huyện Đại Lộc, ông Lưu Văn Ba cho biết, sau khi tiến hành đo đạc, xã cam kết sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân dứt điểm vào tháng 11/2012 nhưng đến nay chưa trao là trách nhiệm thuộc về xã.
Ông Ba nói: “Khi đăng ký cấp giấy chứng nhận phải rà soát lại tất cả các thủ tục hồ sơ trước đây thật cụ thể. Nếu chồng lấn phải giải quyết dứt điểm. Còn nếu sai thì phải sửa, đó là chuyện rất bình thường”.
Việc giấy chứng nhận chưa đến tay người dân còn có nguyên nhân nữa là, sau khi đo đạc từ năm 2007 đến năm 2010, nhiều thửa đất nằm trong quy hoạch mới được phê duyệt phát triển khu đô thị, khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Ngoài ra, nhiều khu vực đất lâm nghiệp nhân dân đang sản xuất, nhưng trước đây thuộc đất rừng các dự án trồng rừng Quốc gia, do Nhà nước quản lý chưa có quyết định giao đất cho dân quản lý, sử dụng nên chưa thể trao giấy chứng nhận cho dân được. Rõ ràng, không thể đổ lỗi hết cho chính quyền xã khi mà có quá nhiều vướng mắc đằng sau tấm bìa đỏ.
Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở tỉnh cần nghiêm túc đánh giá lại quá trình triển khai dự án và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc đo đạc sơ sài, qua loa nên đã dẫn tới những tắc tách này. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 30/3) đầu trang(
Hiện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có hàng loạt nhà máy, cơ sở chế biến gỗ dăm đang hoạt động không phép. Điều này nói lên sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng địa phương.
Qua tìm hiểu, tại xã Xuân Bình (huyện Như Xuân), cơ sở sản xuất chế biến dăm gỗ của gia đình ông Lê Anh Tuấn quy mô khá lớn với đầy đủ hệ thống dây chuyền giàn băm hiện đại, thiết bị, bàn cân... Cơ sở này đã hoạt động trong thời gian dài, nhưng chính quyền địa phương lại không hay biết (!?) và chỉ đến khi người dân cung cấp thông tin thì cơ quan chức năng mới xuống kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ xây dựng và buộc tháo dỡ, di chuyển. Tuy nhiên, do việc xử lý không dứt điểm, chỉ một thời gian sau, cơ sở này đã hoạt động trở lại.
Theo ông Trương Văn Ký - cán bộ địa chính Xuân Bình: “Cơ sở sản xuất dăm gỗ của gia đình ông Lê Anh Tuấn đã bị lập biên bản vi phạm, yêu cầu chủ gia đình cam kết không vi phạm và phải tháo dỡ các hạng mục đã xây dựng. Xã cũng đã báo cáo lên huyện sự việc và chỉ đạo không cho cơ sở này kéo điện từ Nghệ An sang để dùng cho việc hoạt động sản xuất dăm gỗ trái phép. Tuy nhiên, trong thời gian qua, do xã bận nhiều việc nên chưa xử lý dứt điểm”.
Còn tại khu phố Hải Tiến, thị trấn Bến Sung (huyện Như Thanh) hộ ông Nguyễn Văn Thành tự ý san lấp khu vực đất lâm nghiệp hơn 3.000 m2, để xây một xưởng băm dăm trái phép. Mặc dù chính quyền địa phương đã vào cuộc xử lý, nhưng xưởng gỗ dăm này vẫn ngang nhiên xây dựng, lắp ráp hoàn thiện máy móc, thiết bị để băm dăm.
Ông Nguyễn Xuân Hòa, Bí thư - Chủ tịch UBND thị trấn Bến Sung - thừa nhận: “Thời gian trước, do việc quản lý còn chưa chặt chẽ, nên gia đình ông Thành xin san lấp, cải tạo vườn keo làm xưởng mộc, rồi biến thành xưởng băm dăm trái phép. Khi phát hiện sự việc, thị trấn đã cho cán bộ địa chính xuống lập biên bản vi phạm, xử phạt hành chính và buộc gia đình khẩn trương, tháo dỡ các công trình đã xây dựng trái phép, nhưng hộ ông Thành vẫn chưa chấp hành”.
Theo khảo sát của phóng viên, hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay có hàng chục nhà máy, cơ sở băm dăm đang hoạt động rất rầm rộ, nhưng không được cấp phép, như Hợp tác xã Quang Minh (huyện Như Xuân), Cty Sắn Như Xuân, Cty Lâm nghiệp Lang Chánh, DN Hải Yến (Cẩm Thủy), DN Dinh Tấn (Cẩm Thủy) và một số cơ sở băm dăm tại các xã Thành Mỹ, Kim Tân, Vân Du (huyện Thạch Thành)….
Trao đổi với phóng viên, ông ông Lê Ngọc Nghinh - Chánh văn phòng Sở Kế hoạch và Đầu tư - cho hay, ngày 24.2.2016, Sở KHĐT có văn bản số 542/SKHĐT-KTĐN gửi các sở, ngành, đơn vị có liên quan, trên cơ sở văn bản tham gia ý kiến của các đơn vị và căn cứ tình hình thực tế, Sở KHĐT tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động của các dự án chế biến dăm gỗ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Thành phần đoàn kiểm tra liên ngành gồm đại diện các sở KHĐT, NNPTNT, Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn, Cục Thuế Thanh Hóa, Cục Hải quan Thanh Hóa và UBND các huyện, xã thuộc phạm vi hoạt động của dự án. Thời gian kiểm tra từ ngày 3-16.3.2016.
Cũng trong ngày 16.3.2016, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra công văn số 2367/UBND-NN gửi các sở, ban ngành liên quan và UBND các huyện về việc “Khẩn trương kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất của các cơ sở băm dăm gỗ trên địa bàn tỉnh” báo cáo UBND tỉnh trước ngày 25.3.2016. Nhưng hết thời gian yêu cầu , Sở KHĐT vẫn chưa nhận được kết quả báo cáo từ các ban, ngành, UBND các huyện để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh.
Từ thực tế các nhà máy, cơ sở băm dăm gỗ nói trên hầu hết đều xây dựng và hoạt động tự phát, không phép, nên khiến việc kiểm tra, kiểm soát vô cùng khó khăn. Điều này còn ảnh hưởng đến việc trồng rừng, nhất là trồng cây keo bị bán non do nguồn nguyên liệu khan hiếm, trong khi đó người dân chỉ biết bán có tiền.
Vì vậy, giá trị của các cây lâm sản giảm sút, rừng ngày một bị tàn phá khi cây con chưa kịp phủ xanh đã bị đốn hạ. Đó là chưa kể việc cạnh tranh không lành mạnh từ các nhà máy dăm gỗ cũng đã khiến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương bị ảnh hưởng nghiêm trọng…
Được biết, ngày 1.12.2014, Bộ NNPTNT đã có Quyết định số 5115/QĐ-BNN-TCLN, phê duyệt phương án quản lý sản xuất dăm gỗ giai đoạn 2014 - 2020, nhằm quản lý chặt chẽ việc sản xuất, chế biến dăm gỗ xuất khẩu, hạn chế tối đa việc sử dụng nguyên liệu gỗ khai thác từ rừng trồng để sản xuất dăm gỗ, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm chế biến từ gỗ rừng trồng khai thác trong nước, nâng cao thu nhập cho người dân trồng rừng góp phần xóa đói giảm nghèo...
Do vậy, các cơ quan ở tỉnh Thanh Hóa cần khẩn trương xử lý việc tồn tại của các cơ sở chế biến dăm gỗ đang hoạt động trái phép trên địa bàn. (Lao Động Thủ Đô 29/3) đầu trang(
Đó là phán quyết vừa được TAND TP Hà Nội đưa ra vào chiều 29/3/2016 trong vụ kiện hành chính giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Phương Nam và bị đơn là Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hà Nội liên quan đến việc nộp thuế đối với 2 lô hàng gỗ xuất khẩu khi làm thủ tục hải quan.
Doanh nghiệp này đã khởi kiện nhằm yêu cầu hủy Quyết định số 136 của Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hà Nội về việc thu thuế với lô gỗ xuất khẩu.
Trước đó, Công ty Phương Nam nhiều lần khiếu kiện lên Cục Hải quan TP. Hà Nội, Bộ Tài chính với mong muốn được hoàn thuế một phần lô hàng trên với số tiền 152 triệu đồng (tương ứng với số gỗ đã qua sản xuất).
Nguồn gốc lâm sản trên được xác định là gỗ nhập khẩu từ Lào và thuộc trường hợp không phải nộp thuế xuất khẩu. Xét xử sơ thẩm, TAND TP. Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Phương Nam, hủy Quyết định số 136 của Cục Hải quan TP. Hà Nội. Nội dung vụ việc thể hiện, năm 2012, Công ty Phương Nam ký hợp đồng với một số công ty trong nước mua gỗ nhập khẩu từ Lào để sản xuất, xuất khẩu sang bên thứ ba là Đài Loan.
Ngày 12/2/2012, Công ty đến Chi cục hải quan Bắc Hà Nội (địa chỉ quận Nam Từ liêm, TP Hà Nội) mở 2 tờ khai hải quan (11571 và 547) cho 2 lô hàng gỗ xuất khẩu.
Công ty đã nộp đầy đủ chứng từ liên quan và khai chi tiết nguồn gốc gỗ nhập khẩu từ Lào và thuộc trường hợp không phải nộp thuế xuất khẩu. Chi cục hải quan đã yêu cầu công ty tạm nộp thuế xuất khẩu số tiền 296 triệu đồng.
Để đảm bảo tiến độ xuất khẩu, Công ty nộp đủ số tiền thuế và sau đó có đơn đề nghị kèm hồ sơ xin hoàn thuế. Chi cục hải quan đã hoàn một phần thuế là số tiền 143,9 triệu đồng, ứng số lượng hàng hóa xuất khẩu nguyên trạng. Số còn lại là 152 triệu đồng, tương ứng lượng hàng hóa đã qua sản xuất thì không được hoàn thuế.
Công ty nhiều lần gửi đơn khiếu nại, nhưng Chi cục hải quan Bắc Hà Nội và Cục hải quan TP. Hà Nội vẫn trì hoãn. Do đó, Công ty gửi công văn đến Bộ Tài chính đề nghị được hoàn thuế lô hàng trên.
Ngày 24/1/2014, Bộ Tài chính có văn bản giao Cục hải quan Hà Nội kiểm tra sau thông quan để xác minh làm rõ nguồn gốc gỗ nhập khẩu. Ngày 13/8/2014, Cục hải quan TP. Hà Nội kiểm tra sau thông quan tại trụ sở công ty. Ngày 14/1/2015, Cục hải quan TP Hà Nội có Công văn 113 báo cáo thực hiện kết quả.
Nội dung công văn nêu Công ty Phương Nam không có bản kê lâm sản và xác nhận của hạt kiểm lâm sở tại về số lượng gỗ xuất ra. Cục hải quan căn cứ vào Thông tư 01 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kết luận, lô hàng gỗ chưa đủ điều kiện để hoàn thuế xuất khẩu. Cục trưởng Cục Hải quan TP Hà Nội ra Quyết định 136 giải quyết khiếu nại với nội dung giữ nguyên công văn 113.
Không đồng thuận, công ty khởi kiện ra tòa đề nghị hủy bỏ công văn 136 và cho rằng Cục hải quan không hoàn thuế cho doanh nghiệp là làm sai chính sách thuế.
Nguyên đơn lập luận công ty đã làm thủ tục khai báo, Chi cục hải quan kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa. Theo Luật Hải quan, nếu hồ sơ không đủ yêu cầu, công chức hải quan yêu cầu công ty bổ sung thủ tục còn thiếu. Song, công ty không nhận được bất kỳ thông báo và thực tế lô hàng được thông quan xuất khẩu ra nước ngoài.
Công ty cũng chứng minh nguồn gốc gỗ được nhập khẩu từ Lào. Ngày 24/1/2014, Bộ Tài chính đã có công văn số 1279 nêu, nếu hồ sơ nguồn gốc lâm sản công ty xuất trình chứng minh là gỗ nhập khẩu thì thực hiện không thu thuế xuất khẩu.
Mấu chốt vụ việc là xác định doanh nghiệp không có bản kê lâm sản và xác nhận của hạt kiểm lâm sở. Cục Hải quan viện dẫn việc Công ty Phương Nam không được kiểm lâm đánh giá chấp hành tốt quy định của nhà nước, do đó bản kê cần phải có xác nhận của kiểm lâm.
Trái lại, văn bản trả lời của hạt kiểm lâm lại thể hiện, Công ty Phương Nam không có báo cáo về tình hình nhập, xuất khẩu định kỳ 3 tháng/lần. Hạt kiểm lâm chưa có cơ sở đánh giá phân loại công ty.
Công ty Phương Nam khẳng định, không nhận được thông báo của hạt kiểm lâm. Công ty cũng phủ nhận nội dung trong công văn 113 khi cho rằng, hồ sơ lâm sản của Công ty là gỗ chế biến phải có xác nhận của hạt kiểm lâm sở tại. Sở dĩ là vì yêu cầu này chỉ áp dụng đối với công ty có vi phạm. Công ty Phương Nam không thuộc trường hợp quy định này. Bản kê hàng hóa xuất khẩu của công ty không cần xác nhận của hạt kiểm lâm.
Với các lý do trên, nguyên đơn đề nghị hủy công văn 136 của Cục trưởng Cục hải quan TP. Hà Nội. Đại diện Chi cục hải quan Bắc Hà Nội thừa nhận, thời điểm tiếp nhận tờ khai, cán bộ hải quan thiếu sót không phát hiện doanh nghiệp nộp thiếu hồ sơ. Khi xảy ra việc khiếu nại, chi cục yêu cầu công ty bổ sung, song điều này là không thể do hàng hóa đã được xuất khẩu.
HĐXX đã đặt ra nhiều câu hỏi: Cơ quan hải quan cho thông quan, cớ gì bắt doanh nghiệp phải có văn bản xác nhận? Hải quan giải quyết hậu quả như nào? Sau khi xem xét, HĐXX cho rằng, Quyết định 136 được ban hành đúng thẩm quyền và thủ tục. Công ty Phương Nam xuất trình đầy đủ chứng từ chứng minh, hồ sơ mua bán, hóa đơn... thể hiện nguồn gốc gỗ mua về đảm bảo tính pháp lý.
Khi mở tờ khai hải quan, chi cục hải quan xác nhận nguồn gốc gỗ là nhập khẩu và cho thông quan. Công ty không nhận được bất kỳ thông báo phải xuất trình hay bổ sung thêm hồ sơ. Lỗi không phải của doanh nghiệp, thuộc về trách nhiệm của công chức hải quan.
Tòa nhận định Quyết định 136 không phù hợp, do đó tuyên chấp nhận đơn khởi kiện của doanh nghiệp. (Đầu Tư Chứng Khoán 30/3) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo hãng tin Antara, Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa vật lý Indonesia (BMKG) ngày 29/3 cho biết đã phát hiện 42 điểm cháy rừng tại 5 tỉnh thuộc đảo Sumatra, trong đó 31 điểm được xác định tập trung tại 6 huyện của tỉnh Riau.
Đây cũng là khu vực hằng năm thường xảy ra nạn cháy rừng nghiêm trọng kéo dài. Người đứng đầu BMKG, Sugarin cho biết thêm, 11 điểm cháy khác, được ghi nhận bởi các vệ tinh Terra và Aqua sáng sớm theo giờ địa phương cũng được xác định ở các tỉnh Bắc Sumatra, Nam Sumatra, Aceh và quần đảo Riau.
Số lượng các điểm cháy rừng ở khu vực này đã tăng lên nhanh chóng trong 1 tuần qua. Theo ông Sugarin, 10 trong số 31 điểm nóng ở đảo Riau trước đó đã được cảnh báo ở mức độ nguy cơ cao là sẽ xảy ra cháy rừng và đất. Ngoài Sumatra, 3 đảo khác là Sulawesi, đảo Maluku và Papua cũng bắt đầu xuất hiện những điểm cháy rừng.
Cơ quan Giảm nhẹ thiên tai của huyện Bengkalis cho rằng các vụ cháy là do thời tiết khắc nghiệt trong mùa khô và do các hành vi của những người vô trách nhiệm sử dụng phương pháp đốt để giải phóng mặt bằng khi tiến hành trồng trọt.
Indonesia là nơi có ngành công nghiệp dầu cọ lớn nhất thế giới và phương pháp canh tác lạc hậu truyền thống hàng năm là nguyên nhân chính của các vụ cháy rừng. Theo cơ quan quản lý thảm họa quốc gia, để đối phó với nạn cháy rừng, Indonesia đã sử dụng máy bay, quân đội, cảnh sát và lính cứu hỏa nhằm khống chế ngọn lửa đã bắt đầu xuất hiện có từ tháng trước.
Năm ngoái, chính phủ Indonesia đã phải tổ chức cuộc chiến lớn nhất nhằm đối phó với các vụ cháy rừng lan rộng trên toàn quốc, làm 17 người thiệt mạng. Ngọn lửa đã gây ra tình trạng khói mù lan sang các nước láng giềng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân và gây thiệt hại tài chính lớn. (Vietnam + 29/3) đầu trang(./.
|
|||