Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 29 tháng 10 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
“Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Thuận Nam đang củng cố hồ sơ để xử lý việc tự ý triệt hạ hơn 700 cây phi lao thuộc rừng phòng hộ ven biển” - ngày 28-10, ông Đỗ Văn Hoàng, Phó Chủ tịch UBND huyện Hàm Thuận Nam, thông tin tại cuộc giao ban báo chí tại Sở TT&TT tỉnh Bình Thuận.
Năm 2004, Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Thuận Nam giao cho Công ty TNHH Đồi Sứ (resort Đồi Sứ) 883 cây phi lao được lâm trường trồng cách nay gần 20 năm từ vốn nhà nước. Năm 2005, Hạt Kiểm lâm ghi nhận 49 cây bị chết và giao số còn lại cho resort Đồi Sứ quản lý, bảo vệ. Nhưng mới đây, kiểm tra lại, Hạt Kiểm lâm kiểm đếm thì chỉ còn 77 cây do hơn 700 cây phi lao bị triệt hạ cùng thời điểm, gây thiệt hại hơn
23 m3 gỗ. Những người triệt hạ cây còn tìm cách phi tang chứng cứ khi đào bứng và đốt cháy cả gốc.
Bà Đặng Thị Thúy Ngần, Giám đốc Công ty TNHH Đồi Sứ, thừa nhận đã chỉ đạo khai thác số cây phi lao trên do đã được ông Lượng Thanh Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Thuận Quý, xác nhận. Theo Hạt Kiểm lâm, ông Dũng đã xác nhận trái thẩm quyền. (Pháp Luật TP.HCM 29/10) đầu trang(
Ngày 28-10, UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, vừa ra quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với Công ty TNHH MTV Tiến Thiên Tân (trụ sở xã Tam Xuân 1, Núi Thành) mức phạt gồm 50 triệu đồng, đồng thời tịch thu sung quỹ nhà nước 3.011,2kg nhựa thông.
Như trước đó, Đại Đoàn Kết đã có bài phản ánh: “Môi trường hồ Phú Ninh bị tàn phá” (số ra ngày 9-8) và “Tan nát rừng thông Caribe (số ra ngày 13-8), phản ánh về sự tàn phá rừng ở danh thắng quốc gia Hồ Phú Ninh. Những rừng thông Caribe hàng chục năm tuổi bị triệt hạ hoặc khai thác trước thời hạn, không đúng quy cách.
Báo cáo của Hạt Kiểm lâm Núi Thành cũng cho thấy, trên tổng diện tích 40,73ha (có 21.323 cây thông) do Công ty Tiến Thiên Tân đang quản lý khai thác nhựa, đối chiếu hồ sơ thiết kế, số cây thông nhựa khai thác vượt quy định là 11,3 nghìn cây, 4.525 mạch trích mở sai quy định... (Đại Đoàn Kết 28/10) đầu trang(
Trước tình hình gia tăng xâm hại rừng đột biến trong thời gian qua, Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) H. Hòa Vang (TP Đà Nẵng) vừa gửi văn bản kiến nghị tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện.
Theo Viện KSND H. Hòa Vang, trong những năm gần đây, tình trạng khai thác gỗ lậu, lấn chiếm đất rừng để làm nương rẫy diễn biến phức tạp, khiến diện tích và tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Qua công tác thực hành quyền công tố - kiểm sát điều tra, xét xử các vụ án hình sự liên quan đến việc xâm hại về rừng, Viện KSND H. Hòa Vang nhận thấy loại tội phạm này có chiều hướng gia tăng đột biến (năm 2012 và năm 2013 không có vụ nào; năm 2014: 5 vụ; 8 tháng đầu năm 2015: 4 vụ).
Nguyên nhân chủ yếu do công tác phối hợp phân định ranh giới về rừng giữa các địa phương có tiếp giáp địa giới hành chính với các huyện thuộc tỉnh Quảng Nam cũng như công tác cắm mốc lại diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất cho các địa phương vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, cụ thể và còn rất chậm trễ, dẫn đến việc chính quyền các địa phương này thiếu tính chủ động trong công tác quản lý, kiểm tra kiểm soát và xử lý khi phát hiện các vi phạm.
Mặc dù, UBND các xã có rừng (theo Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định là chủ rừng) có xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy và bảo vệ rừng hàng năm, nhưng việc triển khai trên thực tế vẫn còn hình thức, thụ động, thiếu kiên quyết và chưa có giải pháp cụ thể để quản lý chặt chẽ diện tích rừng thuộc trách nhiệm quản lý của mình.
Công tác phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm (Hạt kiểm lâm H. Hòa Vang) và lực lượng kiểm lâm chuyên trách quản lý bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa với UBND các xã vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa thống nhất. Bản thân mỗi đơn vị chưa thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ được giao nên dẫn đến các vụ việc xâm hại rừng diễn ra trong thời gian dài, có sự tham gia của cả phương tiện cơ giới, nhưng vẫn chậm phát hiện xử lý.
Để hạn chế đến mức thấp nhất các vụ  xâm hại nghiêm trọng về rừng như thời gian qua, Viện KSND H. Hòa Vang kiến nghị Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng H. Hòa Vang quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện.
Cụ thể, khẩn trương hoàn thành việc bàn giao cắm mốc lại diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất cho các địa phương theo Quyết định số 5924/QĐ-UBND ngày 27-8-2013 của UBND thành phố để các đơn vị, chủ rừng thực hiện tốt công tác quản lý, đồng thời có cơ sở quy trách nhiệm pháp lý khi để phát sinh các vụ việc xâm hại về rừng cho các chủ thể này.
Bên cạnh đó, cần xây dựng Quy chế phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng vùng giáp ranh với các huyện Đông Giang, Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam và H. Phú Lộc, tỉnh TT-Huế. Tăng cường công tác tuyên truyền qua nhiều kênh thông tin; xây dựng các biển cảnh báo, tuyên truyền trực quan ở các cửa rừng và các nơi sinh hoạt cộng đồng; phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật đưa ra xét xử lưu động các vụ án xâm hại về rừng tại các xã có rừng... để nâng cao hơn nữa nhận thức về giá trị của rừng, ý thức bảo vệ rừng và chấp hành các quy định của pháp luật liên quan về bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân.
Chú trọng công tác phối hợp giữa các đơn vị chức năng thuộc lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng; tăng cường công tác tuần tra kiểm soát rừng, nhất là việc kiểm tra các điều kiện xử lý thực bì ở những địa điểm có nguy cơ cháy cao và việc đưa các phương tiện cơ giới vào rừng khi chưa có sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thường xuyên theo dõi tình hình diễn biến rừng để kịp thời phát hiện các vụ việc xâm hại rừng, đồng thời chủ động trong công tác quản lý, phát triển rừng. (Công An TP.Đà Nẵng 28/10) đầu trang(
Chiều tối ngày 27/10, Hạt Kiểm lâm huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) tổ chức thả một cá thể mèo rừng quý hiếm về vùng rừng Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ.
Ông Nguyễn Tiến Dũng - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Cẩm Xuyên, cho biết, cá thể mèo rừng quý hiếm thuộc nhóm 1B này được Phòng Cảnh sát Môi trường - Công an Hà Tĩnh phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Cẩm Xuyên tịch thu tại nhà ông Lê Xuân Thành (thôn 10, xã Cẩm Trung, huyện Cẩm Xuyên) vào khoảng 14h30' trước đó.
Ông Thành mua con vật từ một người dân đi bán dạo. Thời điểm tịch thu và lúc thả về rừng, con mèo này ở trạng thái khỏe mạnh.
Được biết, mèo rừng hiện nằm trong sách đỏ về số lượng loài sắp tuyệt chủng và đang được Quỹ Động vật hoang dã WWF bảo tồn tự nhiên. (Báo Hà Tĩnh 28/10) đầu trang(
Từ đầu năm 2015 đến nay, tình hình phá rừng tự nhiên, lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng keo lai xảy ra tràn lan trên địa bàn thị trấn An Lão (An Lão). Trong khi đó, công tác quản lý, kiểm tra và xử lý các đối tượng vi phạm của ngành chức năng ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
Theo UBND thị trấn An Lão, mặc dù, địa phương thường xuyên phối hợp với lực lượng Kiểm lâm huyện tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét; song vẫn chưa ngăn được nạn phá rừng ở địa phương.
Đến nay, qua công tác kiểm tra, địa phương đã phát hiện gần 3,7 ha rừng tự nhiên bị chặt phá trái phép; tập trung ở khoảnh 1, tiểu khu 22A 10.150m2 (rừng trạng thái IIA, phân cấp quy hoạch sản xuất bị phá); khoảnh 5, tiểu khu 19A 26.000m2 (rừng phòng hộ). Toàn bộ diện tích rừng bị phá được lực lượng chức năng ở địa phương phát hiện đều bị các đối tượng lâm tặc phát trắng; trong đó có nhiều cây gỗ lớn đường kính từ 20 - 30cm. Đến thời điểm hiện tại, tất cả diện tích rừng bị phá được các đối tượng trồng mì và keo lá tràm.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, bên cạnh những diện tích rừng tự nhiên bị chặt phá như địa phương đã xác định, thì còn có gần 7,9 ha đất lâm nghiệp khác do UBND thị trấn An Lão quản lý, đến nay, cũng bị người dân lấn chiếm trái phép. Cụ thể, ở khoảnh 1, tiểu khu 22A có 55.800m2; khoảnh 5, tiểu khu 19A là 10.100m2; khoảnh 3, tiểu khu 27A 6.700m2 và ở khoảnh 1, tiểu khu 21A là 6.000m2. Tất cả diện tích đất bị lấn chiếm thuộc trạng thái 1c, phân cấp sản xuất và phòng hộ. Điều đáng nói, hầu hết những diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật lực lượng chức năng ở địa phương đều không phát hiện được đối tượng vi phạm; ngoại trừ trường hợp Đinh Văn Thoại, trú ở thôn 2, thị trấn An Lão, chặt phá, lấn chiếm hơn 1.000m2 rừng (Báo Bình Định đã đưa tin).
Đề cập về nạn phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn, ông Nguyễn Thanh Long, Chủ tịch UBND thị trấn An Lão, trần tình: Cả thị trấn có tất thảy 4 tiểu khu (19A, 21A, 22A và 27A) với tổng diện tích đất có rừng gần 682ha (trong đó, diện tích rừng tự nhiên gần 357ha, rừng trồng hơn 325 ha); đất lâm nghiệp chưa có rừng gần 170 ha.
Với diện tích rừng và đất lâm nghiệp rộng như vậy, nhưng lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng ở địa phương chỉ đếm trên đầu ngón tay; đến khi phát hiện vụ việc thì các đối tượng vi phạm đã “cao chạy xa bay”. Hơn nữa, những khu vực rừng hoặc đất lâm nghiệp bị lấn chiếm được phát hiện lại nằm ở nơi có địa hình hiểm trở, phức tạp nên lực lượng giữ vai trò bảo vệ rừng không kiểm soát hết tình hình.
Tuy công tác bảo vệ rừng ở địa phương vẫn còn gặp nhiều trở ngại, song vị Chủ tịch UBND thị trấn An Lão cũng tỏ rõ quan điểm. Ông nói: “Tất cả những diện tích rừng bị phá hoặc lấn chiếm được phát hiện, tôi đã chỉ đạo tổ công tác phải khẩn trương điều tra, xác minh, làm rõ đối tượng vi phạm để xử lý theo quy định pháp luật. Hiện nay, lực lượng Kiểm lâm địa bàn cùng cán bộ nông- lâm nghiệp đang tích cực phối hợp với các ban ngành của thị trấn tổ chức đi kiểm tra, bám sát hiện trường ở các điểm rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm để xác định đối tượng vi phạm. Đối với những nơi đã được trồng keo lai, địa phương sẽ phối hợp với ngành chức năng tiến hành nhổ bỏ ngay trong tháng 10 và 11.2015”.
Hy vọng với sự vào cuộc quyết liệt từ phía chính quyền địa phương và lực lượng Kiểm lâm địa bàn, các đối tượng tham gia “húi trọc” những cánh rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp trên địa bàn thị trấn An Lão bị chiếm dụng sớm được làm rõ, xử lý thích đáng; qua đó, ngăn chặn dứt điểm nạn phá rừng như hiện nay. (Báo Bình Định 28/10) đầu trang(
Khu vực rừng núi Năm Nọc nằm trên địa phận 3 xã Cam Hòa, Cam Tân và Suối Tân huyện Cam Lâm, Khánh Hòa.
Sẽ không có gì đáng nói nếu như ở đây không có tình trạng người dân đốt phá thảm thực bì rừng cây bụi tự nhiên để lấy đất trồng chuối; và cũng sẽ không có bức xúc nếu như núi Năm Nọc không bị lâm vào tình trạng trơ sườn núi, dễ xói lở vào mùa mưa lũ.
Núi Năm Nọc có trên 1000 ha rừng cây bụi và đất lâm sinh do 3 xã Cam Hòa, Cam Tân và Suối Tân huyện Cam Lâm quản lý. Trước đây, núi được che phủ bởi tầng tầng lớp lớp thảm thực vật tự nhiên song từ khi người dân lên phá rừng làm rẫy, thì bị phá gần hết. Gần đây rừng trồng cũng như rừng tự nhiên lại liên tục bị đốt phá. Hiện trạng này khiến môi trường khu vực thay đổi theo chiều hướng rất xấu.
Ông Nguyễn Văn Biêm, Chủ Doanh nghiệp Tư nhân Mỹ Hằng, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa nói: Bây giờ người ta phá hết rồi. Chúng tôi trồng rừng giờ người dân lên phá, đốt từ dưới lên trên. Cây chết là không thể trồng lại được, rất khó trồng lại.
Theo Hạt Kiểm lâm Cam Lâm, năm nào Hạt cũng tổ chức tuyên truyền công tác phòng chống cháy rừng cho các hộ dân. Riêng năm 2015 này đã có 777 hộ dân đăng ký bảo vệ rừng - nhưng - rừng vẫn bị tàn phá.
Ông Phạm Tiến Nam, Trưởng Trạm Kiểm lâm xã Cam Tân, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa cho biết: Cháy rừng thì đối tượng thường đốt vào ban đêm, vấn đề ngăn chặn gặp rất nhiều khó khăn.
Đất lâm nghiệp bị đưa vào làm rẫy khiến rừng thoái hóa rất nhanh. Khi những mảng rừng biến thành rẫy hết chất màu, người dân lại bỏ hoang để tìm rẫy khác. Cứ thế nhiều diện tích lâm nghiệp ở khu vực này trở nên khô cằn, hoang hóa, không thể canh tác.
Điều đáng nói, khi có DN đầu tư trồng rừng theo hình thức vừa mua lại rẫy của dân đang canh tác và tận dụng một số diện tích bị bỏ hoang. Nhưng khi DN trông rừng lên xanh tốt thì một số hộ dân quay lại đòi và phát sinh tranh chấp, sau đó, người dân tìm cách đốt phá rừng mà DN vừa dày công đầu tư. Tính từ tháng 4 năm 2015 đến nay, đã có nhiều diện tích rừng tự nhiên bị đốt, hàng trăm ha rừng trồng của doanh nghiệp bị phá.
Ông Nguyễn Trí Tuân, Phó Chủ tịch UBND huyện Cam Lâm - Khánh Hòa cho biết: Huyện đã chỉ đao công tác phòng chống cháy rừng đặc biệt những nơi đang có sự tranh chấp đất đai giữa doanh nghiệp và người dân. Về phía UBND huyện luôn luôn quan tâm hỗ trợ cho doanh nghiệp để thực hiện đầu tư trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng.
Phá rừng lấy đất làm rẫy, tranh chấp đất lâm nghiệp để đưa vào sử dụng sai mục đích không chỉ diễn ra ở Cam Lâm mà còn xuất hiện tại nhiều địa phương khác. Hiện tượng này có được giải quyết dứt điểm hay không còn tùy thuộc vào ý thức người dân và trách nhiệm xử lý vấn đề rốt ráo của cơ quan chuyên ngành cũng như chính quyền địa phương. (ANTV 29/10) đầu trang(
Sáng ngày 27/10/2015, UBND huyện đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quản lý, bảo vệ rừng 09 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ những tháng còn lại năm 2015.
Qua báo cáo tại hội nghị cho thấy, trong 09 tháng đầu năm 2015, các ban, ngành huyện liên quan và xã, thị trấn đã tích cực phối hợp triển khai nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được tuyên truyền, triển khai đến từng hộ gia đình; đồng thời chủ động kiểm tra tình hình thực hiện phương án phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2014-2015 của huyện; theo dõi, thông báo cấp cháy rừng trên địa bàn huyện; đôn đốc các chủ rừng và UBND các xã có rừng phân công, bố trí lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng. Tăng cường các biện pháp quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động về khai thác và sử dụng lâm sản, chống lấn chiếm đất lâm nghiệp.
Tuy nhiên, vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn xảy ra ở một số nơi. Trong 9 tháng qua, các cơ quan, đơn vị chuyên môn của huyện đã phát hiện và lập hồ sơ xử lý 76 vụ, tăng 17 vụ so với cùng kỳ năm 2014; tịch thu 19 xe mô tô, trên 178m3 gỗ các loại; tổng số tiền xử phạt các vụ vi phạm trên 884 triệu đồng. Kiểm tra và phát hiện 18 vụ lấn chiếm, tái lấn chiếm đất lâm nghiệp với diện tích trên 51 ha, tăng 01 vụ so với cùng kỳ năm 2014 (tăng 1,38 ha).
Về nhiệm vụ cần tập trung trong thời gian tới, các ban, ngành huyện liên quan và xã, thị trấn, nhất là các thành viên Ban Chỉ huy bảo vệ rừng- phòng cháy chữa cháy rừng, lực lượng kiểm lâm huyện và các xã có rừng cần tập trung, quyết liệt hơn nữa trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Trong đó lưu ý thực hiện tốt các phương án, kế hoạch bảo vệ rừng- phòng cháy chữa cháy rừng năm 2015 đã đề ra; tăng cường các biện pháp tuần tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý tình trạng chặt phá rừng; tích cực kiểm tra công tác lấn chiếm đất lâm nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức trách nhiệm của người dân để tham gia cùng với chính quyền địa phương, các ngành chức năng thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Đảng Bộ Tỉnh Bình Thuận 28/10) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Đào Xuân Liên vừa ký Quyết định số 584/QĐ-UBND phê duyệt “Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020”.
Theo đó, tổng vốn đầu tư cho phương án này gần 44,5 tỷ đồng. Chủ đầu tư thực hiện Phương án là Chi cục Kiểm lâm (gồm các Hạt Kiểm lâm, Ban Chỉ huy Phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh, lực lượng dân quân tự vệ phối hợp phòng cháy chữa cháy rừng), UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị chủ rừng. Phạm vi thực hiện phương án là diện tích rừng có nguy cơ cháy cao trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu đầu tư: Nâng cao khả năng phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm “Phòng là chủ yếu, chữa cháy phải khẩn trương, kịp thời và triệt để”; kiểm soát được cháy rừng, đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng xảy ra trong mùa khô hàng năm, góp phần bảo vệ và phát triển được vốn rừng của tỉnh.
Trên cơ sở phương án phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh đã được phê duyệt, Chi cục Kiểm lâm tỉnh có trách nhiệm thẩm định hồ sơ thiết kế, dự toán các hạng mục công trình phòng cháy chữa cháy rừng hàng năm cho các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị chủ rừng; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hạng mục, công trình, quản lý sử dụng kinh phí phòng cháy chữa cháy rừng của các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị chủ rừng đúng mục đích, tiết kiệm, đảm bảo tiến độ và có hiệu quả… (Báo Gia Lai 28/10) đầu trang(
Xác định rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, đảm bảo nguồn nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của người dân, những năm qua các ngành chức năng của tỉnh đã tập trung nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển vốn rừng, trong đó đặc biệt chú trọng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), góp phần nâng cao tỉ lệ che phủ rừng.
Ngược dòng sông Đà đến huyện Mường Tè, chúng tôi được chiêm ngưỡng màu xanh ngút ngàn những cánh rừng nguyên sinh, rừng tái sinh trải dài trên những triền đồi. Được biết, huyện Mường Tè có gần 163.000ha đất rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên 162.000ha, rừng trồng tập trung trên 37ha.
Để giữ được “màu xanh” ấy, huyện Mường Tè đã quan tâm, chỉ đạo lực lượng kiểm lâm huyện bố trí cán bộ thường xuyên xuống xã, bản tổ chức tuần tra, canh gác, tuyên truyền, hướng dẫn bà con cách phát dọn, đốt nương theo đúng qui trình kỹ thuật. Tăng cường bám địa bàn trong thời gian cao điểm dễ xảy ra cháy rừng, phân công trực PCCCR 24/24 giờ.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, phổ biến các văn bản liên quan đến công tác quản lý bảo vệ và PCCCR với nhiều thứ tiếng dân tộc, tổ chức cho người dân ký cam kết PCCCR...
Ông Khoàng Văn Chiến - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Tè chia sẻ: “Xác định bảo vệ rừng là nhiệm vụ của cả cộng Hạt Kiểm lâm đồng, huyện Mường Tè đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền các xã chỉ đạo đưa việc bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR vào quy ước, hương ước của các thôn, bản và coi đây là một trong những tiêu chí để xây dựng gia đình, bản văn hóa...
Đồng thời, huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, ban, ngành, đoàn thể và người dân thực hiện tốt phương châm "4 tại chỗ" gồm phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ trong PCCCR; cập nhật dự báo cháy rừng, theo dõi diễn biến tình hình thời tiết để thông báo kịp thời và chính xác về nguy cơ cháy rừng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra”.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, để nâng cao nhận thức cho người dân trong việc chung tay bảo vệ rừng, PCCCR, công tác tuyên truyền được tỉnh xác định là giải pháp đột phá. Từ năm 2011 đến nay các địa phương trong tỉnh đãtổ chức tuyên truyền được 8.546 cuộc họp trong cộng đồng dân cư, tuyên truyền cho 367.794.000 lượt người; 123 lượt trường học với 38.845.000 lượt học sinh tham dự về PCCCR; ký cam kết bảo vệ rừng cho 74.232 lượt hộ gia đình sống trong rừng và ven rừng; cấp phát 39.400 tờ rơi, xây dựng 24 bản tin, 30 biển cấp dự báo cháy rừng, 800 biển báo, biển cấm lửa, cấm chặt phá.
Ngoài ra, còn tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, PCCCR và quản lý lâm sản. Vận động quần chúng Nhân dân nâng cao ý thức, trách nhiệm tham gia PCCCR.
Ban Chỉ đạo PCCCR tỉnh đã chỉ đạo huyện Tam Đường, Tân Uyên thành lập 23 chốt gác tại các cửa rừng, bố trí lực lượng canh gác 24/24 giờ để ngăn chặn người ra vào trong thời gian cao điểm; xây dựng 2 chòi canh lửa rừng ở huyện Tam Đường và huyện Sìn Hồ. Làm mới và duy trì 370km đường băng trắng cản lửa (huyện Tam Đường, Tân Uyên, Than Uyên, Sìn Hồ, Phong Thổ); tổ chức diễn tập 1 cuộc PCCCR cấp tỉnh, 6 cuộc PCCCR cấp huyện, 27 cuộc PCCCR cấp xã.
Đồng thời, chỉ đạo lực lượng kiểm lâm rà soát, kiểm kê các trang thiết bị và dụng cụ PCCCR để bảo dưỡng và sẵn sàng, chủ động triển khai khi có cháy rừng. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo, tham mưu cho Ban Chỉ đạo PCCCR cơ sở tổ chức chữa cháy theo phương châm “bốn tại chỗ”. Kiện toàn, củng cố và duy trì hoạt động của 108 Ban Chỉ đạo cấp xã, 1.144 tổ chuyên trách quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng thôn, bản gắn với việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng...
Từ năm 2011 đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 86 vụ cháy rừng diện tích rừng bị thiệt hại trên 300ha (trong đó, 80% số vụ cháy do người dân đốt nương làm rẫy gây ra). Các vụ cháy rừng thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Đây là thời điểm Nhân dân sống trong rừng và ven rừng đốt nương làm rẫy; trong quá trình sử dụng lửa do bất cẩn hoặc do đốt nương không làm đường băng ngăn lửa và đốt không theo quy định nên lửa đã cháy lan vào rừng. Sau mỗi vụ cháy, Ban Chỉ huy chữa cháy rừng các cấp đều tổ chức rút kinh nghiệm và chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành xác minh nguyên nhân gây cháy rừng và mức độ thiệt hại, điều tra truy tìm đối tượng gây cháy để xử lý theo quy định của pháp luật.
Với phương châm "Phòng là chính, cứu chữa kịp thời", thời gian tới, ngành kiểm lâm tiếp tục kiện toàn và tăng cường hoạt động của Ban Chỉ đạo PCCCR các cấp; chủ động kiểm tra sát sao công tác phòng cháy chữa cháy; lập kế hoạch phòng, chống cháy rừng cụ thể ở từng khu vực, địa phương, đơn vị để chủ động ứng phó kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra. Kiện toàn, thiết lập hệ thống PCCCR; xây dựng hệ thống cảnh báo, đường ranh, đường băng cản lửa ở những nơi có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao...
Tuy nhiên với một tỉnh miền núi địa bàn rộng, dân cư sinh sống rải rác trên các sườn đồi, ý thức của một bộ phận người dân về PCCCR chưa cao, còn tình trạng cố tình lén lút đốt rừng làm nương rẫy nên nguy cơ cháy rừng vẫn tiềm ẩn... tỉnh Lai Châu cũng mong muốn Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương tiếp tục đầu tư kinh phí thực hiện Dự án Nâng cao năng lực PCCCR tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015 - 2020.
Đặc biệt, Chương trình bảo tồn rừng thực hiện từ năm 2012 - 2014 do Chính phủ Nhật Bản tài trợ không hoàn lại đã kết thúc, trang thiết bị Dự án bố trí để thực hiện công tác PCCCR đã phát huy được hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính giao số tài sản, trang thiết bị này cho tỉnh để tỉnh tiếp tục sử dụng phục vụ công tác PCCCR trên địa bàn. Góp phần hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 tỷ lệ che phủ đạt trên 50%.
Từ năm 2011 đến tháng 9 năm 2015 toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 1.268 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó, vi phạm các quy định về PCCCR 179 vụ; phá rừng trái pháp luật 94 vụ diện tích thiệt hại 11,4 ha; khai thác rừng trái phép 83 vụ; mua bán, vận chuyển, cất giấu, chế biến, kinh doanh lâm sản trái phép 888 vụ; vi phạm khác 24 vụ.
Đã xử lý: 1.116 vụ (trong đó: khởi tố hình sự 18 vụ; xử phạt vi phạm hành chính 1.098 vụ). thu nộp ngân sách: 10.878 triệu đồng (trong đó, xử phạt vi phạm hành chính 4.486,7 triệu đồng; bán lâm sản 6.348,18 triệu đồng; thu khác 43,1 triệu đồng). (Báo Lai Châu 28/10) đầu trang(
Trong đa dạng sinh học, bảo vệ động vật hoang dã đóng một vai trò khá quan trọng.
Vì để một loài mất đi đa dạng sinh học sẽ bị phá vỡ gây ra những hệ lụy xấu cho quá trình biến đổi khí hậu. Bảo vệ động vật hoang dã góp phần giữ cân bằng cho đa dạng sinh học, giúp quá trình biến đổi khí hậu chậm lại.
Theo Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam, động vật hoang dã là chuỗi mắt xích quan trọng trong đa dạng sinh học. Nếu chuỗi mắt xích này bị đứt, toàn hệ thống sẽ tê liệt, như vậy tác động rất xấu đến môi trường làm cho quá trình biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và khốc liệt hơn. Nếu bảo tồn tốt động vật hoang dã, thì môi trường sẽ được bảo vệ tốt hơn, như vậy những thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra sẽ bị hạn chế và bớt khốc liệt. Việt Nam là một trong 5 nước bị ảnh hưởng nặng nề  nhất của biến đổi khí hậu nên việc bảo vệ đa dạng sinh học càng trở nên cấp bách.
Tuy là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước, nhưng gần 15 năm nay, Đồng Nai đã đóng cửa rừng tự nhiên để bảo tồn các loại động - thực vật hoang dã. Chính vì vậy mà hiện rừng ở Đồng Nai là một trong những nơi còn bảo tồn nhiều loại động vật hoang dã nằm trong sách đỏ thế giới và quốc gia.
Việc bảo vệ rừng, trong đó có động vật hoang dã được ngành kiểm lâm phối hợp với các địa phương quản lý rất chặt. Những vụ vi phạm về săn bắn, vận chuyển và kinh doanh động vật hoang dã không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng sẽ bị  xử lý nghiêm.
Theo Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn, hiện trong rừng tự nhiên của tỉnh có gần 1.700 loài động vật rừng thuộc 209 họ, 40 bộ và 5 lớp. Trong đó, bao gồm có các loài thú, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng, cá. Đặc biệt, 76 loài động vật nằm trong Sách đỏ động vật Việt Nam. Đồng Nai được Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn đánh giá là nơi còn giữ được diện tích rừng nhiều nhất.
Ông Đặng Hồng Tăng, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn cho biết: “Đồng Nai là một trong những tỉnh bảo vệ rừng khá tốt. Nhiều năm liền tại Đồng Nai không để xảy ra cháy rừng. Các loài động - thực vật hoang dã được bảo tồn nghiêm ngặt, nếu phát hiện buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã thì bị tịch thu và xử lý”.
Rừng bảo vệ tốt nên môi trường, sinh cảnh của các loài động vật hoang dã được bảo vệ. Rừng Đồng Nai cũng là nơi còn bảo tồn và lưu giữ được nhiều loại động vật hoang dã nằm trong sách đỏ. Hàng năm rừng của Đồng Nai đều tiếp nhận những đợt trả động vật hoang dã bị buôn bán trái phép bắt được đưa về các trung tâm cứu hộ.
Hiện nay, Đồng Nai đã có quy hoạch rừng đến năm 2020, bảo vệ động vật hoang dã là một trong những việc làm cấp bách tỉnh rất chú trọng. Vì bảo vệ động vật hoang dã là bảo vệ đa dạng sinh học, góp phần làm chậm lại quá trình của biến đổi khí hậu và giảm nhẹ những thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra.
Trên thế giới, các loài động vật hoang dã đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm quần thể, suy giảm chất lượng môi trường sống và nguy cơ tuyệt chủng ở cấp độ quốc gia và toàn cầu. Sự suy giảm các quần thể động vật hoang dã trong tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tự nhiên.
Việc suy giảm động vật hoang dã nhanh tại nhiều quốc gia là do tình trạng săn bắt không bền vững. Và nạn buôn bán động vật hoang dã hiện đang là nguy cơ dẫn đến tuyệt chủng một số loài còn số lượng ít trong tự nhiên. Theo Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã, việc phát triển các trang trại gây nuôi động vật hoang dã vì mục đích thương mại hầu hết không giúp ích cho việc bảo tồn các quần thể động vật hoang dã ngoài tự nhiên.
Vì có những trang trại gây nuôi động vật hoang dã đã lấy nguồn gốc từ tự nhiên. Bảo vệ động vật hoang dã đang là việc làm cấp bách của nhiều quốc gia nhằm góp phần bảo vệ môi trường cho tương lai.
Tại Đồng Nai, việc quản lý động vật hoang dã ngoài tự nhiên và các trang trại chăn nuôi khá nghiêm ngặt. Với động vật hoang dã chăn nuôi trong các trang trại phải có nguồn gốc rõ ràng, nếu không có nguồn gốc rõ ràng khi xuất bán bị phát hiện sẽ bắt giữ và tịch thu và xử lý. Quá trình chăn nuôi động vật hoang dã nếu sinh sản, tăng số lượng đàn phải báo cáo với đơn vị kiểm lâm đến khi xuất bán sẽ được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc.
Ông Lê Minh Hùng, ấp 2, xã Phú Ngọc (huyện Định Quán), cho hay: “Gia đình tôi nuôi cá sấu gần 7 năm và mỗi khi mua cá giống đều chọn loại có nguồn gốc rõ ràng và khi mua về đều báo với Hạt Kiểm lâm huyện để họ kiểm tra, khi nuôi lớn xuất bán thì được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc sẽ dễ bán hơn không lo bị phát hiện, tịch thu”.
Với động vật hoang dã ngoài tự nhiên, tỉnh quản lý rất chặt các khu vực cửa rừng, không cho người dân vào rừng khai thác, săn bắn. Tuy nhiên, mỗi năm, lực lượng kiểm lâm vẫn phát hiện bắt giữ hàng trăm vụ săn bắt, vận chuyển buôn bán động vật hoang dã trái phép. Các vụ vi phạm trên hầu hết xử phạt hành chính tịch thu động vật hoang dã đưa về nơi cứu hộ để trả về tự nhiên.
Hiện nay, một số người tiêu dùng có điều kiện kinh tế vẫn thích sử dụng các loài động vật hoang dã ngoài tự nhiên làm thức ăn, ngâm rượu, bào chế làm thuốc... Đây là những sở thích xấu góp phần làm giảm các loài động vật hoang dã ngoài tự nhiên và dẫn đến nguy cơ khiến các loài bị tuyệt chủng dần trong tự nhiên. Theo quan niệm của một số người dân thì sử dụng động vật hoang dã trong tự nhiên tốt cho sức khỏe, chữa bách bệnh, chẳng hạn như: sừng tê giác, ngà voi, mật gấu...
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học, bác sĩ thú y trên thế giới đã chứng minh, việc sử dụng sản phẩm động vật hoang dã không tốt như lời truyền miệng mà có nguy cơ bị bệnh truyền nhiễm cao. Theo GS.TS Nguyễn Lân Dũng (Đại học quốc gia Hà Nội) việc đồn thổi dùng một số sản phẩm động vật hoang dã chữa được bách bệnh mới chỉ có ở Việt Nam khoảng 10 năm trở lại đây.
Đây là khoảng thời gian thu nhập của người dân tăng lên và nhu cầu thể hiện đẳng cấp bằng hàng xa xỉ xuất hiện. Nếu lời đồn là đúng tại sao từ thời xưa đến nay không dùng và các nước khác không có cơn sốt này. Ví dụ trong y văn cổ, sừng tê giác có tính thanh nhiệt, tác dụng tương tự sừng trâu. Các lời đồn thổi dùng sừng tê giác có tác dụng chữa ung thư, giải rượu, cường dương mới có gần đây không có căn cứ.
Cách bảo tồn động vật hoang dã trong tự nhiên tốt nhất là không nên sử dụng, khi cung không có thì cầu ắt sẽ giảm và việc săn bắt sẽ  ít. Muốn thực hiện việc này, các địa phương phải tăng cường công tác tuyên truyền vận động để nâng cao ý thức của người dân trong việc cùng chung sức bảo vệ động vật hoang dã ngoài tự nhiên nhằm bảo vệ đa dạng sinh học hạn chế thiên tai chậm lại quá trình của biến đổi khí hậu. (Báo Đồng Nai 29/10) đầu trang(
Theo báo cáo từ UBND huyện Minh Hóa, trong quý III-2015 các ngành chức năng đã phối hợp kiểm tra, xử lý 50 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Tổng số lâm sản tịch thu là 43,800m3 gỗ các loại; 17kg động vật hoang dã; 1 xe máy.
Tổng số tiền nộp ngân sách nhà nước là 184.208.000 đồng, trong đó phạt hành chính 52.750.000 đồng, bán lâm sản và phương tiện tịch thu 125.502.000 đồng.
Lực lượng Kiểm lâm cũng đã tiến hành đóng búa kiểm lâm 40.544m3 (gỗ xử lý tịch thu) và 271,8 ster gỗ khai thác rừng trồng. (Báo Quảng Bình 29/10) đầu trang(
Sau sừng tê giác, vừa qua lại rộ lên tin đồn vảy tê tê là “thần dược”, có thể chữa nhiều loại bệnh kể cả ung thư. Thực hư về “thần dược” này là gì?
Tê tê còn gọi là con trút là một loại động vật có vú, đẻ con và nuôi con bằng sữa, có tên khoa học Manis pantadactyla L. Còn vảy tê tê là vảy hình vỏ trai, cái này xếp chồng lên cái kia tạo thành lớp vỏ cứng che chở lưng từ mũi đến đuôi của con tê tê. Vảy được phơi khô có tên là xuyên sơn giáp được dùng theo kinh nghiệm dân gian gọi là chữa bệnh (rất đáng ngờ). Xuyên sơn giáp có nghĩa là vảy rất cứng như giáp của con vật đi xuyên núi (tê tê thường sống hoang dại ở miền núi). Một con trút chỉ cho vài trăm gram vảy tê tê.
Xuyên sơn giáp được cho là vị thuốc dùng theo kinh nghiệm dân gian, tức người ta dùng chẳng biết có tác dụng thật sự hay không và cứ thế mà truyền miệng với nhau. Theo tài liệu “Những bài thuốc và vị thuốc Việt Nam” (Đỗ Tất Lợi, Nhà XB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 1968), theo “tài liệu cổ”, xuyên sơn giáp vị măn, tính hơi hàn, có độc, vào 2 kinh can và vị, có tác dụng tán huyết thông lạc, tan ung nhọt, làm thuốc chữa đậu, trẩn, tắc tia sữa.
Cũng theo tài liệu vừa kể, có một số đơn thuốc phối hợp xuyên sơn giáp và các vị thuốc đông y khác dùng chữa tắc tia sữa, tràng nhạc lở loét, chữa mụn nhọt. Cần ghi nhận, trong đông y, “ung thư” không được ghi nhận như y học hiện đại mà nhiều khi được hiểu như bị “ung nhọt, mụn nhọt”. Cho tới nay, y học chính thống không hề dùng vảy tê tê, thịt tê tê làm thuốc chữa bệnh. Càng không có chứng cứ khoa học nào chứng minh vảy tê tê trị được ung thư.
Một điều rất đau lòng là tác dụng chữa bệnh của các động vật hoang dã quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như vảy tê tê, sừng tê giác, cao hổ cốt… cho đến nay vẫn dựa theo lời đồn đại, truyền miệng chứ chưa có công trình khoa học nào xác định tính hiệu quả của tác dụng này.
Như vậy nếu chưa chứng minh được bằng nghiên cứu khoa học đúng quy cách thì các tác dụng đó chỉ là thêu dệt, chỉ là huyền thoại. Nếu chỉ dựa vào huyền thoại mà con người chúng ta tìm cách tận diệt các loài thú hoang dã quý hiếm, thiết nghĩ đã đến lúc cần phải xem các hành động này là tội ác, và cần phải được xử lý nghiêm minh. (Khoa Học Phổ Thông 28/10) đầu trang(
Thực hiện Công văn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đồng chí Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng (Công văn số 2457/VP-KTN, ngày 28/10/2015).
Yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh và UBND các huyện, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ chủ động triển khai các biện pháp cần thiết tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; kịp thời báo cáo, đề xuất UBND tỉnh những vấn đề vượt thẩm quyền.
Tại Công văn số 8594/BNN-TCLN ngày 20/10/2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Chính phủ; khẩn trương thực hiện tổ chức sắp xếp, đổi mới Công ty Lâm nghiệp theo quy định; tăng cường kiểm tra, truy quét, phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm; rà soát, kiểm kê thu hồi diện tích rừng bị chặt phá, lấn chiếm; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lạng Sơn 28/10) đầu trang(
Là một trong những xã có diện tích rừng lớn của huyện Điện Biên Đông, Mường Luân hiện có 1.357ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ.
Xác định tầm quan trọng của công tác bảo vệ và phát triển rừng, những năm qua, cấp ủy, chính quyền xã Mường Luân phối hợp chặt chẽ với Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn tăng cường tuyên truyền, vận động người dân không chặt phá rừng; tích cực tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng.
Ông Lò Ngọc Ánh, Chủ tịch UBND xã Mường Luân, cho biết: Hàng năm, UBND xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng, phổ biến quy ước đến 19 bản trong xã. Các bản căn cứ vào quy ước của xã để xây dựng hương ước cho các dòng họ, quy chế bảo vệ rừng phù hợp với điều kiện thực tế.
Trước mỗi mùa khô, lực lượng bảo lâm xã phối hợp cùng cán bộ kiểm lâm địa bàn xuống cơ sở phối hợp với các tổ chức, đoàn thể của bản để tuyên truyền, phổ biến và giáo dục cho người dân Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; các phương pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ” và tổ chức cho người dân ký cam kết bảo vệ rừng.
Để công tác bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao từ cơ sở, mỗi bản đều thành lập 1 tổ bảo vệ rừng với 10 – 14 thành viên. Tổ bảo vệ rừng của bản thường xuyên phối hợp với lực lượng bảo lâm đi tuần tra, kiểm soát rừng. Bên cạnh đó, chính quyền xã phát huy vai trò của các già làng, trưởng các dòng họ, người có uy tín trong việc giáo dục, vận động con cháu trong gia đình, dòng họ tích cực phát hiện, tố giác và tham gia cùng với các lực lượng chức năng truy bắt, xử lý các đối tượng phá rừng.
Ngoài ra, người dân cũng thường xuyên tham gia các buổi hội thảo, diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng do xã, huyện tổ chức. Nhờ đó, ý thức bảo vệ và phát triển rừng của người dân trong xã được nâng lên. Nhiều năm nay, xã Mường Luân không xảy ra cháy rừng, tình trạng phá rừng làm nương giảm đáng kể.
Pá Vạt là một trong những bản có ý thức bảo vệ và phát triển rừng tốt nhất của xã Mường Luân. Nhiều năm qua, bản Pá Vạt không còn tình trạng phá, đốt rừng làm nương và cũng không xảy ra cháy rừng, người dân có ý thức và trách nhiệm hơn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Tòng Văn Duyên, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Mường Luân cho biết: Những năm gần đây, công tác bảo vệ và phát triển rừng của xã Mường Luân được cấp ủy, chính quyền và người dân chú trọng, ít xảy ra trình trạng phá rừng làm nương hoặc cháy rừng do người dân đốt nương. Tuy nhiên, một số diện tích rừng tại các bản vùng cao như: Na Hát, Na Pục vẫn còn tình trạng người dân thuộc các xã: Phì Nhừ, Háng Lìa, Chiềng Sơ lấn chiếm, chặt phá, đốt rừng để làm nương.
Để chấm dứt tình trạng này, chính quyền xã Mường Luân đã chủ động phối hợp với chính quyền các xã, Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức tuyên truyền, vận động người dân tại các bản có liên quan để người dân hiểu và tuân thủ nghiêm địa giới hành chính và chấm dứt việc xâm canh sang phần đất do xã Mường Luân quản lý.    (Báo Điện Biên Phủ 28/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 28-10, UBND quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng cho biết Tổng cục quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) vừa có công văn về việc kiểm tra đất lâm nghiệp tại địa phương, trong đó có cả khu vực ông Ngô Văn Quang xây biệt thự trái phép.
Theo đó, từ 29-10, đoàn công tác của Tổng cục quản lý đất đai sẽ trực tiếp vào Đà Nẵng để kiểm tra việc giao đất, cho thuê đất sản xuất lâm nghiệp tại khu vực đồi Chim Chim theo đơn của ông Ngô Văn Quang (giám đốc Công ty vàng Phước Minh, tỉnh Quảng Nam). Công văn nêu rõ việc kiểm tra này nhằm có cơ sở báo cáo với Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc sử dụng đất lâm nghiệp tại khu vực đồi Chim Chim để xây dựng khu du lịch sinh thái.
Một lãnh đạo UBND quận Liên Chiểu cho hay việc kiểm tra này là theo đơn kiến nghị của ông Quang gửi trực tiếp đến Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc kiểm tra đất sẽ bao gồm cả khu vực ông Quang đã xây dựng biệt thự trái phép.
Vị lãnh đạo này cũng nhấn mạnh nếu không có ý kiến chỉ đạo mới từ các cơ quan cấp trên, ông Quang phải hoàn thành tháo dỡ biệt thự trái phép hạn chót vào 30-11 theo quyết định của UBND TP Đà Nẵng.
Trước đó, ngày 4-7, UBND TP Đà Nẵng đã chính thức có văn bản không đồng ý cho tồn tại và yêu cầu ông Quang tiến hành tháo dỡ biệt thự xây dựng trái phép ở chân núi Hải Vân. Đến 8-7, HĐND TP Đà Nẵng thống nhất đưa ra nghị quyết giao UBND quận Liên Chiểu thực hiện giám sát tháo dỡ biệt thự trong thời hạn đến 30-8.
Tuy nhiên, sau đó ông Quang có đơn xin gia hạn do sợ tháo dỡ không kịp nên UBND TP Đà Nẵng đã đồng ý và dời thời gian đến hết 30-11. Ngoài ra, ông Quang còn có đơn gửi cơ quan cấp trên xin giữ lại biệt thự để làm khu du lịch sinh thái. (Người Lao Động 28/10) đầu trang(
Những năm trở lại đây, mô hình trồng rừng kinh tế được người dân nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Trị chú trọng.
Nhận thấy nhu cầu về cây giống ngày càng cao, người dân thôn An Mỹ, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ đã mở rộng mô hình ươm cây giống để cung ứng cho người trồng rừng và trở thành một mô hình sản xuất chính mang lại giá trị kinh tế cao, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho hàng trăm lao động ở địa phương.
Hiện nay, trong tổng số hơn 170 hộ lao động sản xuất ở thôn An Mỹ thì có hơn 30 hộ gia đình làm nghề gieo ươm cây giống với quy mô lớn. Trong đó có hộ ươm nhiều nhất lên đến 70 vạn cây. Trung bình mỗi năm người dân ở đây cung cấp ra thị trường từ 200-300 vạn cây giống các loại. Nhờ đầu ra khá ổn định nên nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng từ mô hình này, có hộ thu nhập trên 100 triệu đồng mỗi năm.
Đây là mô hình tương đối dễ làm, kỹ thuật đơn giản, chi phí đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh và tạo được nhiều công ăn việc cho người lao động trong thời điểm nông nhàn. Những năm trước, người dân chủ yếu ươm cây giống từ hạt nhưng hiện nay bà con chuyển sang hình thức giâm hom nên hiệu quả cao hơn.
UBND huyện Cam Lộ cũng đã hỗ trợ 3 dàn phun tưới tự động, phân bón, lưới che và keo lai giâm hom để các hộ gia đình sản xuất và có hướng nhân rộng trong những năm tới.
Theo kế hoạch năm nay, huyện Cam Lộ sẽ trồng mới khoảng 500 ha rừng, vì vậy mô hình ươm giống cây lâm nghiệp của người dân thôn An Mỹ, xã Cam Tuyền không những đảm bảo nguồn giống cho người trồng rừng ở địa phương mà còn cung ứng cho các huyện lân cận, góp phần quan trọng vào việc thực hiện tốt Đề án trồng rừng thâm canh của huyện Cam Lộ đề ra cũng như Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ. (Báo Quảng Trị 28/10) đầu trang(
Ngày 27/10, UBND tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết sản xuất nông lâm nghiệp năm 2015, triển khai phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2016.
Đồng chí Triệu Tài Vinh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy dự và chỉ đạo hội nghị. Các đồng chí: Chúng Thị Chiên, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Chủ trì hội nghị; Dự hội nghị còn có lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và các phòng chuyên môn khối sản xuất nông lâm nghiệp của 11 huyện, thành phố.
Năm 2015 Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã có những quyết tâm cao trong chủ trương, chỉ đạo điều hành trên lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp, thông qua đó đã nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, quyết tâm hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 15 đã đề ra, bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: sản lượng lương thực có hạt cả năm 2015 ước đạt trên 388 nghìn tấn, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2015 ước đạt 179 nghìn ha, tăng 3.433 ha so với năm 2014.
Tính đến 30/9/2015, toàn tỉnh đã trồng mới được khoảng 27 nghìn ha rừng, ước thực hiện năm 2015 khoảng 37 nghìn ha. Diện tích khoanh nuôi phục hồi rừng 33 nghìn ha, tăng 2 nghìn ha so với năm 2014, chăm sóc rừng trồng 5.225 ha. Các cấp các ngành đã triển khai có hiệu quả các để án, phương án như: hỗ trợ nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm chè, hỗ trợ phục hồi và phát triển cây cam quýt tại 3 huyện: Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình; hỗ trợ thực hiện Đề án vành đai thực phẩm thành phố Hà Giang; hỗ trợ một lần cho 2.895 hộ nghèo mua trâu bò sinh sản với tổng kinh phí đã giải ngân gần 29 tỷ đồng.
Sản xuất nông lâm nghiệp năm 2015 tiếp tục đánh dấu sự liên kết sản xuất giữa người dân, chính quyền địa phương với doanh nghiệp như: chương trình phát triển cây chanh leo, chương trình phát triển cây gấc, chương trình phát triển cây dược liệu tiếp tục được đẩy mạnh, tổng diện tích trồng mới cây dược liệu đến nay được 1.371 ha.
Tỉnh đã tổ chức hội nghị gặp mặt với doanh nghiệp sản xuất, chế biến và kinh doanh dược liệu để giải quyết những khó khăn vướng mắc, đồng thời tăng cường công tác giới thiệu, xúc tiến đầu tư và mở rộng diện tích trồng, kinh doanh dược liệu tại địa bàn các huyện, thành phố.
Các cấp, các ngành trong tỉnh đã tập trung chỉ đạo tổ chức lại sản xuất, phát triển kinh tế tập thể thông qua tổ sản xuất, nhóm sở thích và HTX sản xuất nông lâm nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất này hình thành bước đầu đã giúp người dân tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa và giải quyết những khó khăn về vốn đầu tư vào sản xuất của người dân và tham gia làm dịch vụ ở nông thôn, hướng dẫn người dân áp dụng mạnh tiến bộ KHKT vào sản xuất.
Nhìn chung, tăng trưởng nông lâm nghiệp năm 2015 ổn định ở mức 5%/năm. Tổng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản ước đạt trên 4.857 tỷ đồng, tăng trên 231 tỷ đồng so với năm 2014; giá trị sản phẩm thu hoạch trên một ha đất cây hàng năm ước đạt 41,1 triệu đồng/ha, tăng trên 2 triệu đồng so với năm 2014.
Thảo luận tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung phân tích những tồn tại để đưa ra giải pháp khắc phục trong năm 2016 như: năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh còn yếu, số lượng không đáp ứng nhu cầu trong tỉnh. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết của BTV Tỉnh ủy về tổ chức lại sản xuất cho nông dân mới phát triển về số lượng, nhưng chất lượng, hiệu quả không cao, cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa vào cuộc quyết liệt.
Chương trình trồng rừng mới còn chậm tiến độ, chất lượng rừng trồng của một số huyện còn kém. Đầu tư của các doanh nghiệp còn rất hạn chế, chưa có doanh nghiệp đầu tầu, sản xuất hàng hóa nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Một số huyện chưa chủ động để làm việc với đối tác, chưa chuẩn bị địa bàn, dự án, giới thiệu điều kiện mình có để doanh nghiệp nghiên cứu đầu tư.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Triệu Tài Vinh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã đánh giá cao những kết quả đã đạt được trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp, điều đó đã thể hiện sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh.
Nhiều mô hình hay, cách làm mới đã thiết thực đem lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa được chú trọng, mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp bước đầu hình thành tích cực góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Về nhiệm vụ trong năm 2016 và những năm tiếp theo, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu: các cấp, các ngành trong toàn tỉnh phải tìm tòi, nghiên cứu, liên kết với doanh nghiệp để đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Rà soát, xắp xếp lại các Ban chỉ đạo, đổi mới cơ chế, chính sách, ứng dụng KHKT cho phát triển nông lâm nghiệp để đề xuất cách làm hiệu quả.
Triển khai quyết liệt các chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn. Các huyện, thành phố chủ động thực hiện nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao, làm tốt công tác phối hợp giữa ngành và cấp. Các ngành các cấp trong tỉnh cần chủ động phương án liên kết với doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp của nhân dân, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm.
Quản lý bảo tồn đa dạng sinh học trong sản xuất nông lâm nghiệp, bảo vệ môi trường. Riêng đối với cây dược liệu cần phải được các huyện đưa vào cơ cấu cây trồng chính của huyện, phải có cơ chế khuyến khích đầu tư, xây dựng lộ trình, hướng đi, tìm kiếm nhân lực, vật lực, Khoa học công nghệ để phát triển cây dược liệu trên địa bàn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư theo hướng TPP.
Dịp này, đồng chí Chúng Thị Chiên, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh và đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã trao Bằng khen của UBND tỉnh cho 6 tập thể và 6 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất nông lâm nghiệp năm 2015. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Hà Giang 27/10) đầu trang(
Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam, cho biết trong 9 tháng qua giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4,79 tỷ USD, tăng 6,9% với cùng kỳ năm 2014.
Theo Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam, để đạt chỉ tiêu xuất khẩu 7 tỷ USD trong năm nay, 3 tháng còn lại của năm ngành gỗ phải phấn đấu thực hiện 2,21 tỷ USD, đây là sức ép rất lớn cho hiệp hội. Hiện nay các tỉnh phía Nam chiếm phần lớn giá trị và sản lượng gỗ xuất khẩu của cả nước, trong đó Bình Dương đang được kỳ vọng rất lớn bởi đây là địa phương đóng góp trên 50% giá trị xuất khẩu gỗ của cả nước.
Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam, cho rằng để hoàn thành mục tiêu trong năm 2015, ngành gỗ cả nước nên hạn chế xuất khẩu gỗ dăm, tập trung nguồn nguyên liệu để sản xuất sản phẩm gỗ, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu sang Trung Đông, Ấn Độ, Nam Mỹ. (Báo Bình Dương 29/10) đầu trang(
Sau hơn 3 năm tỉnh Bình Phước thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) không chỉ góp phần giảm hẳn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép…, mà còn góp phần cải thiện đời sống, môi trường sống và nâng cao nhận thức của người dân trong việc phát triển tài nguyên rừng.
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước, hiện nay tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh hơn 178.400ha, trong đó đất rừng đặc dụng hơn 31.300ha,  đất rừng phòng hộ hơn 44.500ha, đất rừng sản xuất hơn 102.000ha. Phần lớn diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh nằm trong lưu vực của hệ thống các sông, gồm: Sông Bé, Sông Đồng Nai và Sông Sà Gòn.
Trong tổng số hơn 178.400ha đất lâm nghiệp chủ yếu được giao, cho thuê với các chủ rừng là vườn quốc gia, khu di tích, các nông lâm trường trực thuộc công ty Nhà nước, ban quản lý rừng, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học lâm nghiệp....
Với diện tích, hiện trạng, quy hoạch, được giao và cho thuê như trên thì rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước có khả năng cung ứng được cả 5 loại DVMTR (theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng).
Theo Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước, tính đến nay đã xác định được 9 đơn vị chủ rừng đủ điều kiện cung ứng dịch vụ môi trường rừng gồm: Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Vườn Quốc gia Cát Tiên, Ban Quản lý rừng phòng hộ Bù Gia Phúc, Hạt Kiểm lâm thị xã Phước Long, Công ty TNHH một thành viên cao su Sông Bé, Công ty TNHH một thành viên cao su Phước Long, Công ty TNHH một thành viên cao su Bình Phước, Công ty TNHH một thành viên cao su Phú Riềng, Trung tâm Ứng dụng khoa học lâm nghiệp Nam Bộ.
Các đơn vị chủ rừng này là tổ chức được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dà vào mục đích lâm nghiệp với tổng diện tích rừng cung cấp DVMTR trên 68.700ha.
Ông Trần Văn Lộc – Giám đốc Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước cho biết, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh có những thuận lợi, đó là toàn bộ diện tích tự nhiên của tỉnh phân bố trên ba lưu vực lớn là Sông Bé, Sông Đồng Nai và Sông Sài Gòn.
Đây là những lưu vực có tiềm năng cho sản xuất thủy điện, nước sản xuất và nước sinh hoạt ở khu vực miền Đông Nam Bộ. Phần lớn diện tích rừng phân bổ ở những khu vực phát huy được giá trị DVMTR, đặc biệt là điều tiết và duy trì nguồn nước. Bên cạnh đó, rừng trên địa bàn tỉnh có khả năng cung ứng cả 5 loại DVMTR.
Mặt khác, các chủ rừng và các cơ quản lý Nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp có đội ngũ cán bộ kỹ thuật ngành lâm nghiệp đủ năng lực để thực hiện việc chi trả DVMTR. Ngoài ra, góp phần cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
“Từ năm 2013, tỉnh Bình Phước bắt đầu triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Chi trả tiền DVMTR là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khi sử dụng cả nguồn nước và lưu vực sông. Thực tế mức phí hiện áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện là rất thấp. Để kế hoạch thu, chi được đảm bảo, thời gian qua Quỹ thực hiện đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp. Mặt khác, tăng cường công tác vận động các công ty thực hiện nghiêm các điều khoản trong Nghị định số 99 của Chính phủ. Ðồng thời, phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức thẩm định các chương trình, dự án, phi dự án để hỗ trợ đầu tư khi có nguồn vốn thu được. Ngoài ra, tổ chức kiểm tra, nghiệm thu, giám sát các đối tượng cung ứng DVMTR theo đúng quy định và thực hiện việc chi trả DVMTR đến các chủ rừng” – ông Trần Văn Lộc nói.
Ông Trần Văn Lộc cho biết, thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh đã có những tác động tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đó là tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm hẳn. Môi trường rừng từng bước được cải thiện, tăng khả năng phòng hộ, điều tiết và duy trì nguồn nước cho các cơ sở sử dụng DVMTR.
“Thực hiện chính sách chi trả DVMTR không những tạo nguồn tài chính góp phần đầu tư trực tiếp vào việc bảo vệ và phát triển rừng, giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa nghề rừng mà còn góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc phát triển tài nguyên rừng, cải thiện môi trường sống, hạn chế các hành vi gây tổn hại đến rừng góp phần nâng cao chất lượng DVMTR” – ông Lộc nói.
Đối với tỉnh Bình Phước, toàn bộ diện tích rừng của Vườn Quốc gia Bù Gia Mập được giao khoán cho 13 cộng đồng thôn bản và 3 đơn vị bộ đội đóng chân trên địa giới hành chính của Vườn. Hiện có hơn 150 hộ với hơn 240 người là đồng bào dân tộc thiểu số S’tiêng bản địa thuộc hai xã Đắk Ơ và Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập, giáp biên giới Campuchia) nhận khoán bảo vệ rừng Vườn quốc gia Bù Gia Mập.
Theo tính toán của Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, với mức chi trả DVMTR đạt 180.000 đồng/ha/năm thì một hộ dân được nhận khoán bình quân 40ha rừng sẽ nhận 11.200.000 đồng/năm/hộ dân. Nếu mỗi hộ gia đình bình quân 5 người thì mỗi người sẽ được nhận bình quân 2.240.000 đồng/năm, thu nhập tăng thêm của một người 186.000 đồng/tháng/người.
“Số tiền DVMTR được nhận chiếm khoảng 15-20% trong cơ cấu thu nhập của một hộ dân. Nếu xét về giá trị sử dụng thì nguồn thu nhập này thấp so với mức biến động giá cả thị trường nhưng thật sự có ý nghĩa với người lao động nghề rừng bởi nguồn tiền này có tác động bổ sung vốn đầu tư sản xuất giúp cải thiện sinh kế” – ông Lộc nói.
Anh Điểu Phong, 33 tuổi, một hộ nhận khoán bảo vệ rừng thôn 3, xã Đắk Ơ, huyện Bù Gia Mập nói: “Tôi rất vui vì được Nhà nước nhận vào làm bảo vệ rừng. Hai vợ chồng tôi có 3 đứa con. Trước đây nhà tôi rất nghèo nhưng từ khi được làm bảo vệ rừng đã tốt hơn, không còn nghèo đói nữa. Không chỉ được trả tiền, các cán bộ còn cho anh em lấy của rừng những thứ được cho lấy như măng, rau rừng, hoa quả của rừng để cho thêm vào bữa ăn, vì vậy nay đã có cuộc sống ấm no hơn trước. Đi rừng nhiều nay đã thành quen rồi, không đi lại nhớ. Trước đây rừng bị người ta phá dữ lắm nhưng mấy năm nay do có anh em bảo vệ nên rừng không còn bị phá nữa”.
Cũng theo ông Trần Văn Lộc, chính sách chi trả DVMTR đã đi vào cuộc sống, các đối tượng được hưởng lợi từ DVMTR đã chi trả tiền DVMTR ủy thác qua Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng các cấp. Thực hiện chính sách này phản ánh mối liên kết kinh tế mang tính bền vững giữa bên sử dụng và bên cung ứng DVMTR. Mặt khác, rừng trong vùng được hưởng chính sách chi trả DVMTR được bảo vệ tốt hơn, đời sống người lao động nghề rừng được cải thiện, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định an ninh chính trị tại địa phương.
Ngoài ra, bên sử dụng DVMTR (nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch) có nguồn nước đảm bảo cho việc sản xuất điện năng, nước sạch phục vụ cho đời sống nhân dân, tạo ra giá trị kinh tế lớn cho doanh nghiệp. Bên cung ứng DVMTR (các chủ rừng, hộ, nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng, cộng đồng…) được trả tiền bằng chính kết quả lao động của mình, giá trị lao động của người lao động làm nghề rừng đã trở thành hàng hóa.
Ông Trần Văn Lộc cho biết, Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước được thành lập theo Quyết định số 1567/QĐ-UBND ngày 3/8/2012 của UBND tỉnh. Qũy được giao nhiệm vụ tổ chức triển khai, tham mưu thực hiện Đề án chi trả DVMTR tỉnh. Từ khi đi chính thức vào hoạt động (tháng 10/2012), Qũy gặp nhiều thuận lợi, đó là nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành liên quan.
Các đơn vị sử dụng và cung ứng DVMTR thống nhất chấp hành chủ trương chính sách chi trả tiền DVMTR quy định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Qũy cũng còn gặp một số khó khăn, đó là chi trả DVMTR là chủ trương, chính sách mới, đơn vị hoạt động theo đặc thù riêng so với các đơn vị khác trong tỉnh nên gặp khó khăn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Mặt khác đơn vị hiện chưa có trụ sở làm việc (phải đi thuê), phương tiện phục vụ công tác chưa có, trang thiết bị phục vụ công tác còn thiếu. Ngoài ra, ngân sách UBND tỉnh chưa cân đối, bố trí nguồn để thực hiện công tác rà soát các chủ rừng, làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát. (Khoa Học Thời Đại 28/10) đầu trang(
Với đặc thù phần lớn diện tích chủ yếu là đất rừng, thế nhưng, mãi đến những năm gần đây, xã Ngư Hoá (huyện Tuyên Hoá) mới tập trung khai thác thế mạnh để trồng rừng kinh tế.
Hướng đi này bước đầu đã góp phần rất tích cực cho địa phương trong việc xoá đói giảm nghèo, tạo thêm cơ hội việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để hướng đi này thực sự trở thành mũi nhọn trong phát triển kinh tế thì Ngư Hoá đang rất cần sự hỗ trợ của nhà nước về hạ tầng giao thông...
Chúng tìm đến xã miền núi rẻo cao Ngư Hoá vào những ngày mưa cuối tháng 10-2015. Đã hơn 5 năm trở lại với mảnh đất nằm heo hút, tách biệt ở phía thượng nguồn sông Gianh, thế nhưng con đường dẫn vào trung tâm xã Ngư Hoá vẫn gập gềnh, lầy lội, gian nan như trước.
Hẳn nhiều người đã biết, muốn đến Ngư Hoá, không cách nào khác là buộc phải chọn một trong bốn phương án: thứ nhất, ngược ra đất Hà Tĩnh rồi vòng lại; thứ hai, cắt rừng trèo núi từ phía xã Quảng Hợp, Quảng Thạch (Quảng Trạch) để đi bộ vào; thứ ba, đi thuyền máy từ phía chân cầu Minh Cầm ngược lên phía thượng nguồn ngọn Rào Trổ lắm thác, nhiều gềnh đá; thứ tư, từ Quốc lộ 12A men theo ngọn Rào Trổ rẽ vào.
Nói chung, tuyến đường nào vào xã cũng xa ngái gập ghềnh và gian khó. Đường sá đi lại khó khăn và cách trở chính là nguyên nhân khiến cho Ngư Hoá khó lòng tiến kịp các địa phương khác của huyện Tuyên Hoá trên nhiều lĩnh vực. Và đây cũng chính là một trong số ít các xã hiện nằm trong tốp nghèo nhất ở huyện Tuyên Hoá...
Ngư Hoá có địa hình rộng nhưng toàn đồi núi cao và dốc, đường sá đi lại khó khăn, đất sản xuất nông nghiệp ít ỏi, dân cư thưa thớt, sống phân tán... nên rất khó khăn trong phát triển kinh tế-xã hội. Có thời điểm, cũng chính vì kinh tế nghèo khó nên rất nhiều hộ dân trong xã đã ồ ạt kéo nhau vào miền Nam kiếm sống. Số bám trụ ở lại cũng lay lắt với mấy sào lúa và đất màu ít ỏi, bấp bênh, buộc phải sang tận đất Hà Tĩnh làm thuê.
Từ chủ trương của xã Ngư Hoá, năm 2003, một số hộ dân trong xã mạnh dạn đưa giống cây keo lai, bạch đàn về phủ xanh tại một số diện tích đất trống, đồi trọc trên địa bàn. Nhận thấy đây là một hướng phát triển kinh tế có nhiều hứa hẹn, phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương, các hộ dân Ngư Hoá đã học tập kinh nghiệm lẫn nhau và bắt đầu nhân rộng mô hình này.
Cho đến nay, cả xã Ngư Hoá đã trồng được gần 1.000 ha rừng keo lai, bạch đàn và cao su, dẫn đầu toàn huyện về diện tích rừng trồng (tính đến thời điểm này). Trong số diện tích rừng trồng nói trên, có hơn nửa diện tích đã bước sang lần trồng thứ 2 và đang sắp sửa đến kỳ thu hoạch tiếp theo...
Ông Nguyễn Thanh Phong, Chủ tịch UBND xã Ngư Hoá phấn khởi cho biết: Toàn xã hiện có 148 hộ, 502 nhân khẩu. Nếu chia đều toàn bộ số diện tích rừng trồng kinh tế cho các hộ dân ở xã thì chí ít mỗi hộ hiện cũng có trên 3 ha rừng trồng kinh tế. Đặc biệt, có nhiều hộ diện tích rừng trồng kinh tế lên tới hơn chục ha như: anh Lê Viết Cường, thôn 4 (chừng 15 ha); anh Thái Văn Thế, thôn 3 (khoảng 15 ha); Trương Văn Nhỏ, thôn 1 (trên 10 ha)...
Đây chính là một lợi thế không hề nhỏ đối với những hộ dân ở xã nghèo miền núi rẻo cao này. Không ít hộ ở xã Ngư Hoá nhờ mạnh dạn đầu tư trồng rừng kinh tế mà xây được nhà cửa kiên cố, mua sắm được nhiều vật dụng đắt tiền, sớm thoát nghèo và vươn lên khấm khá.
Kể từ khi đẩy mạnh trồng rừng, cơ hội về việc làm tại xã đã được nâng lên. Nhiều thời điểm, do nhân lực ở xã cung ứng không đủ, nhân dân buộc phải thuê thêm hàng trăm lao động khác ở ngoài địa phương. Từ chỗ hầu hết các hộ dân ở Ngư Hoá đều nằm trong diện nghèo và cận nghèo, đến nay cả xã chỉ còn khoảng 30% hộ nghèo; mức thu nhâp bình quân từ 4,8 triệu đồng/người/năm (năm 2010) được nâng lên 13 triệu đồng/người/năm (năm 2015).
Cũng chính nhờ đẩy mạnh trồng rừng, năm 2015, Ngư Hoá đã "thoát" khỏi diện xã có dưới 5 tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới... Hiệu quả từ trồng rừng kinh tế bước đầu đã mang lại nhiều khởi sắc cho Ngư Hoá. Trên cơ sở đó, Đảng bộ xã đã đưa trồng rừng kinh tế vào Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2015-2020 và xem đây là mũi nhọn trong phát triển kinh tế của xã.
Chủ tịch UBND xã Nguyễn Thanh Phong tâm sự:  Đường sá đi lại khó khăn nên chi phí trồng rừng ở Ngư Hoá đã liên tục bị "đội sổ" từ khâu gieo trồng cho tới kỳ thu hoạch. Khi xuất bán 1 ha diện tích rừng trồng kinh tế, người dân trong xã nhẫm tính sẽ bị tổn thất chừng 30-40% so với mặt bằng chung. Nếu được cấp trên đầu tư mạnh về hạ tầng giao thông, giá trị kinh tế rừng ở địa phương sẽ được nâng lên đáng kể... (Báo Quảng Bình 28/10) đầu trang(
Giá gỗ nguyên liệu tăng từ 1,2 triệu đồng lên 1,4 triệu đồng/tấn, người trồng rừng thu lãi cao. Đầu mùa mưa năm nay, nông dân các địa phương trong tỉnh đầu tư trồng rừng kinh tế.
Hiện nay, nhiều thương lái đi mua gỗ nguyên liệu keo lá tràm, bạch đàn… với giá 1.400 đồng/kg, tương đương 1,4 triệu đồng/tấn (tăng 200.000 đồng/tấn so với năm ngoái).
Theo tính toán của những người trồng rừng kinh tế, hiện nay suất đầu tư cho rừng trồng suốt chu kỳ đối với đất bằng là 20 triệu đồng/ha, đất đồi dốc là 30 triệu đồng/ha. Sau 5 năm bắt đầu khai thác được từ 70 đến 100 tấn/ha, bán với giá 1,4 triệu đồng/tấn, bình quân người trồng rừng thu 100 triệu đồng/ha. Trừ chi phí phân giống, công khai thác, vận chuyển… thì lãi ròng 40 triệu đồng/ha.
Ông Ka Pa Út, dân tộc Chăm H’Roi ở xã Xuân Quang 1 (huyện Đồng Xuân), cho biết: “Tôi trồng 1,2ha keo lai, vừa qua có người hỏi mua 85 triệu đồng nhưng tôi chần chừ chưa bán”. Còn ông Nguyễn Văn Tiến ở xã Sơn Định (huyện Sơn Hòa) trước đây khai hoang 1ha trang trại trồng sắn và mía, qua 5 mùa đất bị bạc màu nên ông chuyển sang trồng rừng, vừa qua xuất bán keo thu lãi 40 triệu đồng. Sau khi thu hoạch ông Tiến tiếp tục đầu tư trồng lại rừng.
Chỉ tính riêng ở xã Sơn Định, tại các khu vực như: Dốc Đá, Ruộng Cửa, chân núi Hòn Đát, Cỏ Cay, Da Bá… nông dân trồng 65,5ha rừng kinh tế. Theo ông Nguyễn Thanh Trường, Phó chủ tịch UBND xã Sơn Định, người dân ở đây ra sức trồng rừng kinh tế, năm nay, nhiều gia đình thu trên 50 triệu đồng từ gỗrừng trồng và đang tiến hành trồng lại rừng.
Dọc theo tuyến đường 19C, từ xã Sơn Định xuôi xuống xã Xuân Phước rồi qua xã Xuân Quang 3, Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân), trong những ngày mưa vừa qua, tấp nập các loại xe tải vận chuyển cây giống từ Bình Định về bán.
Ông Nguyễn Văn Giáp, một người bán cây giống ở xã Xuân Quang 3, cho hay: “Tôi có xe tải nên đi rảo mua cây gỗ trồng từ Sơn Định xuống Xuân Quang 3 rồi chở ra Bình Định bán cho các nhà máy băm dăm làm nguyên liệu giấy, rồi sẵn xe mua cây giống chở về. Cây giống lâm nghiệp ở các vườn ươm tại Bình Định tốt hơn, cây to, lá xanh tươi khi trồng mau bén rễ, mau phát nên nhiều người chọn trồng. Từ đầu mùa đến nay, tôi bán gần 1 triệu cây giống rồi”.
Tại huyện Sông Hinh, từ cuối tháng 9 đến nay, nhờ có những cơn mưa nhỏ nên hàng trăm nông dân đến các vườn ươm mua giống cây lâm nghiệp về trồng rừng. Ông Triệu Văn Học ở xã Ea Bar đang chở cây giống về trồng, cho biết: “Tôi rảo quanh vườn ươm ở xã Ea Bar hỏi mua cây giống nhưng các vườn ươm đã hết nên tôi xuống thị trấn Hai Riêng mua về trồng”.
Theo nhiều nông dân, giá cây giống lâm nghiệp năm nay tăng so với năm ngoái. Hiện giá bạch đàn 800 đồng/cây (tăng 100 đồng/cây), keo lá tràm 750 đồng/cây (tăng 150 đồng/cây). Ông Phan Long, một nông dân trồng rừng ở xã Sơn Định (huyện Sơn Hòa), cho hay: Cách đây 2 năm, tôi mua cây giống do hộ nông dân thu hái xô bồ hạt giống từ các vườn cây về gieo ươm.
Khi trồng, cây sinh trưởng không đồng đều, không chống chọi được với sâu bệnh hại. Cây đã 2 năm tuổi nhưng chỉ cao 1,5m, thân cong queo, cành lá có rất nhiều bướu, có nhiều cây héo đọt rồi chết dần. Năm nay, tôi mở rộng diện tích và chọn mua giống tốt ở những vườn ươm của tỉnh.
Trước đây, nhiều hộ nông dân khai hoang các khu vực gò đồi trồng sắn, mía, lâu ngày đất rửa trôi, bạc màu. Nếu như tiếp tục trồng sắn, mía thì phải tăng đầu tư nên không lãi, vì vậy nhiều nông dân chuyển sang trồng rừng kinh tế. Ông Phạm Đinh Hòa ở xã Xuân Quang 3 (huyện Đồng Xuân), nói: “Rẫy của tôi trồng sắn, mía nhiều năm, năm rồi phải bỏ hoang vì đất rất xấu; nay thấy gỗ rừng trồng lên giá nên tôi mua cây giống trồng rừng. Việc trồng rừng này, một mặt không bỏ đất hoang, có thu nhập, mặt khác giúp cải tạo lại đất để vài năm sau trồng lại sắn, mía”.
Gỗ rừng trồng có giá cao nên phong trào trồng rừng kinh tế trong nhân dân phát triển mạnh, không chỉ các xã miền núi mà các xã đồng bằng, ven biển, nông dân ra sức trồng rừng. Tại các xã An Mỹ, An Chấn (huyện Tuy An) những ngày qua, nhiều người dân đến các vườn ươm nhỏ lẻ cạnh quốc lộ 1, thuộc thôn Phước Lương, xã An Chấn, mua cây giống về trồng. Ông Phạm Văn Bình ở xã An Mỹ, cho hay: “Mấy năm nay, khu vực đất gò đồi dưới chân Dốc Súc (xã An Mỹ) trồng sắn nhưng nay đất bạc màu phải đầu tư nhiều nên tôi chuyển sang trồng cây keo lá tràm”.
Theo thống kê của Sở NN-PTNT, năm 2015, toàn tỉnh đã ươm 8 triệu cây giống gồm: keo giâm hom, bạch đàn, keo lá tràm, keo tai tượng, sao đen, dầu rái... Hiện nay, các đơn vị lâm nghiệp, tổ chức, cá nhân và hộ gia đình đang phát dọn thực bì, tập trung chuẩn bị cây giống, phục vụ trồng rừng tập trung năm 2015. Theo kế hoạch sẽ tổ chức phát dọn thực bì phục vụ khoảng 4.000ha; trong đó, rừng sản xuất 3.600ha, rừng phòng hộ - đặc dụng khoảng 400ha. (Báo Phú Yên 29/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương chuyển đổi mục tiêu kinh doanh rừng thông đã trồng thuộc Dự án khả thi xây dựng rừng nguyên liệu giấy Kon Tum giai đoạn 2000-2010, chu kỳ 15 năm sang kinh doanh gỗ lớn, chu kỳ 25 năm theo quy định tại Quyết định 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương xem xét phê duyệt cụ thể phương án chuyển đổi mục tiêu kinh doanh rừng thông nêu trên theo quy định hiện hành.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện thẩm định và chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định dự án vay vốn; quyết định cho vay theo đúng các quy định hiện hành về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. (Chính Phủ 28/10) đầu trang(
Ngày 27-10, UBND tỉnh đã có Công văn số 11070/UBND-NN về việc trồng rừng phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản và thay thế rừng bị cháy tại các xã Hoằng Trung, Hoằng Khánh và Hoằng Yến (huyện Hoàng Hóa).
Theo đó, về hoàn phục môi trường sau khai thác khoáng sản, UBND tỉnh giao UBND huyện Hoằng Hóa chỉ đạo thực hiện việc hoàn phục môi trường sau khai thác khoáng sản của Công ty cổ phần Hoàng Gia, kinh phí thực hiện từ nguồn vốn đền bù giải phóng mặt bằng của dự án.
Về trồng rừng thay thế đối với diện tích bị cháy, UBND huyện Hoằng Hóa khẩn trương chỉ đạo UBND các xã có diện tích rừng bị cháy hoàn thiện hồ sơ thanh lý rừng và đăng ký kế hoạch trồng rừng về Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh.
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn căn cứ nguồn thu ủy thác trồng rừng thay thế nộp về Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, tổng hợp, trình UBND tỉnh xem xét, giao kế hoạch vốn trồng rừng thay thế cho UBND huyện để triển khai trồng ừung trong vụ Xuân, năm 2016. (Báo Thanh Hóa 28/10) đầu trang(
Trồng rừng và giữ rừng là bảo vệ nguồn sống cho mỗi chúng ta. Tuy nhiên, việc khai thác rừng ồ át đã làm cho nhiều diện tích rừng bị cạn kiệt nghiêm trọng. Ở huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị có một nông dân đã dành trọn đời mình để tìm cây gây rừng, trả lại màu xanh cho núi đồi.
Người mà chúng tôi nói đến là nông dân Hồ Ra Ơi sống tại thôn Khe Van, xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Cách đây gần 20 năm, khi những cánh rừng đang dần cạn kiệt do khai thác bừa bãi, Hồ Ra Ơi bắt đầu thầm lặng đi tìm giống cây bản địa đem về trồng để chăm sóc. Và hành trình đi tìm cây bản địa của Hồ Ra Ơi cũng lắm gian truân.
Ông Hồ Ra Ơi nói: Thấy tình trạng rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt nên mình tiếc lắm nên mỗi lần vào rừng thấy cây giống các loại gỗ quý là mình đưa về trồng. Trước hết là bảo vệ môi trường sau là bảo vệ các loại gỗ quý đang dần bị chặt phá hết. Phải trồng để cho con, cho cháu nữa chứ nếu cứ như thế này thì con cháu mình ngày sau làm sao còn thấy cây huệng, cây lim nữa.
Sau bao năm nhọc nhằn chăm sóc với bằng tất cả tình yêu đối với thiên nhiên mà đến nay hơn 1000 gốc cây Huệng và nhiều cây gỗ quý hiếm khác được Hồ Ra Ơi bảo tồn và phát triển rất tốt.
Giờ đây sức khỏe dần yếu đi nhưng một tuần đôi ba lần Hồ Ra Ơi vận động con cháu, bà con trong thôn mỗi lần vào rừng thì cố tìm cho được những loại cây quý đem về trồng. Bởi theo Hồ Ra Ơi thì trồng rừng là bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn sống cho mỗi chúng ta.
Ông Hồ Chí Cường - Chủ tịch UBND xã Hướng Hiệp - Đakrông - Quảng Trị cho biết: Về kinh tế chưa có, thì sẽ hỗ trợ cho họ công chăm sóc, hỗ trợ thêm cho họ kinh tế để phát triển mô hình này. Nhân đây cũng rất mong chương trình dự án hỗ trợ thêm, tới đây phải tuyên truyền thêm cho bà con trong xã giữ được tự nhiên môi trường và bảo vệ được rừng.
Hành trình gần 20 năm tìm cây gây rừng đã làm đôi tay, đôi vai Hồ Ra Ơi chai sạn, gia cảnh cũng còn nhiều khó khăn vất vã nhưng không vì thế mà Hồ Ra Ơi từ bỏ ý nghĩ của mình. Những gì Hồ Ra Ơi đã khiến dân bản khâm phục gọi ông với cái tên thân thiết “Người giữ lại màu xanh cho rừng”. (ANTV 28/10) đầu trang(
Được mệnh danh là cây “xóa đói giảm nghèo” của người dân Hương Khê (Hà Tĩnh), nhờ nó, nhiều gia đình nghèo bỗng chốc trở thành tỷ phú, xây nhà lầu, sắm xe hơi.
Đó là cách gọi của những người dân xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) dành cho cây gió trầm. Mặc dù nhắc đến tên của địa phương này, người ta thường nghĩ ngay tới sản phẩm “bưởi Phúc Trạch” thơm ngon nổi tiếng gần xa. Thế nhưng cách đây khoảng 5 năm, người dân đã “ồ ạt” chặt bỏ bưởi chuyển sang trồng cây gió lấy trầm. Bởi họ tin rằng loài cây này sẽ cho hiệu quả kinh tế cao gấp rất nhiều lần so với bưởi.
Bà Thái Thị Bé, xóm 7 (Phúc Trạch) so sánh: “Trồng bưởi rất kì công, từ khâu chọn giống, chăm sóc, thụ phấn, thế nhưng hễ năm nào thời tiết không thuận lợi là mất trắng. Cây gió trầm thì khác, việc trồng và chăm sóc rất đơn giản, không phải lo mất mùa. Khi cây gió trầm được 7 - 8 năm tuổi, thương lái vào tận nhà làm hợp đồng, đặt cọc tiền, khoan cấy trầm nhân tạo rồi gửi lại đó. Chủ vườn chỉ việc bảo vệ và ngồi chờ đếm tiền. Đến kỳ khai thác họ vào lấy cả thân, rễ, lá chở đi”.
Cây gió trầm từ 20 - 30 năm tuổi, lượng trầm nhiều, thương lái trả tới hàng 100 triệu đồng/cây. Tuy nhiên, không phải xã nào của huyện Hương Khê cũng có được sự ưu đãi đó của thiên nhiên. Không hiểu sao chỉ có đất Phúc Trạch, cây gió mới cho trầm tự nhiên. Nhiều địa phương cũng đã trồng theo nhưng hiện bán không ai mua vì không có trầm.
Nằm cuối con đường liên xã, theo chỉ dẫn của bà Bé, chúng tôi tìm đến “tỷphú trầm” Nguyễn Trung Trực, Chủ nhiệm HTX trầm hương Phúc Trạch. Ông Trực cho biết, những năm 80 của thế kỷ trước, ông cùng đám bạn trong làng theo chân các thợ tìm trầm người Huế và Quảng Nam... vào đại ngàn Trường Sơn tìm trầm.
Sau một thời gian vất vả vượt núi băng rừng, ông và đám thợ này bất ngờ tìm được trầm trong một cây gió bị gãy đổ đã mục nát. Hóa ra trầm chính là thứ dầu được cây gió “bao vây” lấy vết thương, theo thời gian tích tụ thành trầm. Ông bỗng giật mình vì cây gió ở Phúc Trạch không còn là gì với người dân.
Về nhà, ông tìm hạt ươm và bắt đầu trồng thử nghiệm ngoài vườn. Từ đó đến nay, diện tích trồng gió trầm của gia đình ông đã có gần 1ha với khoảng hơn 1.800 cây, nhiều độ tuổi khác nhau. Trong đó, 10 cây từ 20 - 30 năm, 50 cây từ 10- 20 năm, số còn lại là dưới 10 năm tuổi.
Theo ông Trực, giá bán cây gió tùy thuộc vào độ tuổi của cây và chất lượng trầm có trong từng cây. Cây có tuổi trên 30 năm ít nhất cũng bán được hơn 100 triệu đồng, cây 8 - 10 năm tuổi trung bình 10 triệu đồng/cây. Năm 2014, gia đình ông thu được gần 1 tỷ đồng nhờ bán và chế tạo đồ mỹ nghệ từ cây gió.
Theo “tỷ phú” Trực, trầm hương có 2 loại là trầm tự nhiên và nhân tạo, trong đó trầm tự nhiên có giá trị kinh tế cao hơn. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây gió, nó bị một loại sâu đục thân “khoan lỗ” vào cây tạo ra những vết thương. Để tự vệ và làm lành vết thương, cây gió tiết ra một loại dầu đặc biệt bịt các lỗ hổng do sâu tạo ra, dần dần tinh dầu đó tích tụ lại tạo thành trầm.
Loại trầm tự nhiên có gía trị kinh tế rất cao nhờ được thị trường ưa chuộng. Khi trồng cây gió, người ta khoan lỗ vào thân cây, cho vào đó 1 loại hóa chất đặc biệt để tạo trầm. Trầm nhân tạo vì thế có giá thành thấp hơn trầm tự nhiên, nhưng so với các loại cây trồng khác thì giá trị kinh tế vẫn cao hơn hàng chục lần.
Ngoài ra, ông Trực còn thu mua cây gió đến độ tuổi khai thác của người dân mang về chế tác thành các sản phẩm mỹ nghệ bán cho thương lái tại Đà Nẵng, Khánh Hòa, thành phố HCM…để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Trên địa bàn xã Phúc Trạch, ngoài bà Bé, ông Trực còn có hàng trăm “tỷ phú trầm” khác.
Theo thống kê chưa đầy đủ, tại xóm 6 có khoảng 20 người, xóm 7 có 25 người, xóm 8 có 30 người... và trên toàn xã Phúc Trạch có gần 200 người trở thành tỷ phú từ việc bán gió trầm. Hàng năm, thu nhập từ việc bán gió trầm đều mang lại cho họ hàng tỷ đồng.
Tiếp PV, ông Phan Văn Tính, Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch cho biết: “Nguồn thu của dân xã Phúc Trạch trước kia phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và trồng bưởi. Những năm trước đây, nhiều hộ dân đã chặt bỏ cây bưởi để chuyển sang trồng gió trầm.
Theo số liệu thống kê, trên địa bàn xã có gần 200ha loại cây này, được trồng rải rác ở tất cả các xóm. Hiện nay, đây là cây trồng mũi nhọn, mang lại thu nhập cao nhất của bà con. Nghe nói người ta mua để xuất khẩu sang Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan …”.
Ông Nguyễn Trọng Hoài, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Hương Khê nói: “Theo thống kế sơ bộ thì toàn huyện hiện có gần 600ha gió trầm, chủ yếu là ở xã Phúc Trạch. Dù đây là cây mang lại giá trị kinh tế cao, nhưng huyện vẫn rất thận trọng chưa khuyến khích dân trồng loại cây này.
Đó là thành quả hiện nay của phong trào “người người trồng gió, nhà nhà trồng gió” tại xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh). Có những cây gió trầm bán được hàng trăm triệu đồng, nhiều gia đình xây nhà tầng, sắm xe hơi bằng tiền bán cây gió. Thế nhưng, do chưa có cơ sở khoa học và tính ổn định của đầu ra sản phẩm nên chính quyền chưa dám đưa cây gió vào trồng đại trà tại địa phương. (Người Đưa Tin 28/10) đầu trang(
Một văn bản của Bộ Tài chính đang gián tiếp áp đặt thời hạn kinh doanh khiến hoạt động xuất khẩu gỗ bị ách tắc, nhiều DN gặp khó khăn và nguy cơ phá sản. DN đã nhiều lần kêu cứu nhưng đến nay sự việc vẫn chưa được giải quyết.
Ngày 30/12/2014, Bộ Tài chính (BTC) đã có công văn số 19128/BTC-TCHQ do Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn ký gửi Cục Hải quan (HQ) và Cục thuế các tỉnh thành, về việc ‘Xử lý thuế hàng nhập khẩu nhưng tái xuất quá 365 ngày’.
Tại văn bản này, Thứ trưởng BTC yêu cầu Cục HQ các tỉnh không thực hiện hoàn thuế đối với các mặt hàng rượu, bia, thuốc lá, gỗ nhập khẩu sau đó tái xuất nhưng quá hạn 365 ngày. Trong thời hạn 365 ngày, thì phải kiểm tra 100% lô hàng khi nhập khẩu và tái xuất mới xét hoàn thuế cho các mặt hàng này.
Theo các DN, điều này đang gây ra nhiều khó khăn cho DN trong hoạt động tái xuất hàng hóa.
Theo phản ánh của Hội Doanh nghiệp huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), cuối năm 2013, một số DN lớn ở đây như DNTN Quỳnh Nga, DNTN Xuất nhập khẩu Vân Hà, DNTN Chế biến xuất nhập khẩu lâm sản Tiến Đạt... đã xuất khẩu mặt hàng gỗ sang nước thứ 3, sau khi đã nhập khẩu từ nước ngoài về.
Từ trước nay, việc nhập khẩu mặt hàng gỗ được áp thuế suất là 0%. Tuy nhiên, thời gian qua, từ khi thực hiện theo công văn 19128 của Bộ Tài chính, Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh vẫn thu 20% thuế xuất khẩu với các doanh nghiệp trên.
Theo các DN, việc quy định thời hạn được hoàn thuế trong vòng 365 ngày đang gây áp lực cực lớn cho các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu. Thậm chí một số đơn vị đứng trước nguy cơ phá sản.
Ông Trần Phát Đạt, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Hương Khê cho biết, với mức thu thuế 20%, các DN tại địa bàn đang bị ‘ách tắc’ một khoản tiền rất lớn ở Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh. Cụ thể, DNTN Quỳnh Nga (413.306.400đ), DNTN Tiến Đạt (264.071.471đ), DNTN Vân Hà (1.279.475.600đ)...
Đến nay sau gần 2 năm, các doanh nghiệp vẫn chưa thể làm thủ tục hoàn thuế do vướng công văn trên của Bộ Tài chính!
“Hội Doanh nghiệp Hương Khê đã nhiều lần kiến nghị đến các cấp có thẩm quyền nhưng không được giải quyết thỏa đáng. Việc không được hoàn thuế đang khiến các DN lao đao, thậm chí có đơn vị có thể phá sản”, ông Đạt cho biết.
Theo phản ánh của các DN, công văn của Bộ Tài chính không phù hợp với các quy định hiện hành. Theo đó, Hội doanh nghiệp Hương Khê cho rằng, việc không hoàn thuế xuất khẩu đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của DN.
Ông Đạt phản ánh, trước công văn 19128, BTCđã Thông tư 128/2013 và Chính phủ Nghị định 87/2010 của Chính phủ quy định về vấn đề này nhưng đều không đề ra thời hạn 365 ngày cho việc hoàn thuế tái xuất. Trong khi, tại công văn của Bộ Tài chính lại bất ngờ xuất hiện thời hạn 365 ngày.
“Ngay cả Thông tư 38/2015/TT-BTC mới ban hành của BTC cũng không nêu cụ thể việc tái xuất theo thời hạn 365 ngày, mà chỉ quy định hàng hóa tái xuất sang nước thứ ba hoặc tái xuất vào khu phi thuế quan được hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp và không phải nộp thuế xuất khẩu (khoản 8 điều 114)”, ông Đạt cho biết.
Trong nhiều lần trao đổi, Cục Hải quan Hà Tĩnh khẳng định các DN nêu trên thuộc diện được hoàn thuế xuất khẩu, và đã nhiều lần làm văn bản gửi Tổng cục HQ và BTC đề nghị hoàn thuế cho DN tuy nhiên do ‘vướng’ công văn 19128, hiện thủ tục hoàn thuế vẫn chưa thể tiến hành.
Ông Lê Trí Dũng, Chu cục phó chi cục HQ Hồng Lĩnh thừa nhận các DN gửi đơn là có cơ sở, trước đó cơ quan HQ cũng đã có nhiều văn bản đề nghị Tổng cục HQ, BTC xem xét vì các DN này thuộc đối tượng được hoàn thuế khi xuất khẩu.
Lãnh đạo cơ quan HQ Hồng Lĩnh cũng như Cục HQ Hà Tĩnh thừa nhận có nhiều vướng mắc khi thực hiện CV 19128, chồng chéo với các quy định hiện hành.
Trên thực tế, sau khi thực hiện các nội dung của công văn trên, tai nhiều cửa khẩu ở miền Trung đã ghi nhận sự ùn tắc cục bộ của hàng trăm xe chở gỗ. Nhiều doanh nghiệp hết sức bức xúc, trong khi đó chải quan cũng tỏ ra lúng túng.
Ngày 15/1/2015, một ngày sau khi VietNamNet có bài phản ánh, Bộ Tài chính đã có công văn phản hồi. Tuy thế Bộ này chỉ ‘gỡ rối’ việc kiểm hóa 100% lúc nhập khẩu, mà không đề cập đến việc hoàn thuế xuất khẩu quá hạn 365 ngày.
Ông Đạt cho rằng: “ theo văn bản này của Bộ Tài chính, buộc DN phải bán hàng trong vòng 365 ngày mới cho hoàn thuế là thiếu thực tiễn. DN nào chẳng muốn mua nhanh bán sớm, tuy nhiên hơn 1 năm qua, do tình hình kinh doanh không thuận lợi, hàng hóa không bán được, giờ hàng trăm DN ứ đọng hàng vạn m3 gỗ hơn 1 năm. DN đã rất khó khăn nay nếu không được hoàn thuế khi xuất khẩu thì đẩy DN đến bờ phá sản”.
“Chúng tôi kiến nghị Bộ TC, Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Hà Tĩnh và Chi cục Hải quan Hồng Lĩnh không tiếp tục áp dụng “quy định” làm khó DN, và trả lại số tiền xuất khẩu cho các doanh nghiệp. Nếu các cơ quan này không giải quyết thỏa đáng, chúng tôi sẽ khởi kiện vụ án hành chính ra tòa án”, ông Trần Phát Đạt bức xúc. (Vietnamnet 28/10; Tiền Phong 28/10) đầu trang(
“Cách làm giàu từ rừng của ông Dấu đã được nhiều nông dân khác học hỏi và làm theo. Nhờ thế mà không chỉ màu xanh của rừng được giữ vững, tăng cường mà đời sống của nhiều nông dân cũng cải thiện rất tốt” – ông Đặng Xuân Hòa- Chủ tịch Hội Nông dân huyện Tân Uyên (Lai Châu), bảo vậy.
Hơn 50 tuổi nhưng ông Giàng A Dấu (ở bản Hua Cưởm, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu) vẫn có cái nhanh nhẹn, tinh tường của trai trẻ. Vừa dẫn chúng tôi đi thăm nương thảo quả, ông vừa kể lại ký ức của hơn 10 năm trước: Ngày ấy, việc nhận đất rừng ở đây bị người ta coi là dại khờ vì rừng hầu như chả mang lại lợi ích gì ngoài khoản tiền hỗ trợ hàng năm chỉ đáng giá mấy cân gạo cho mỗi ha rừng khoanh nuôi, bảo vệ. Vì thế, nhiều hộ không muốn nhận đất rừng vì không biết làm gì. Chính tôi ngày ấy cũng lúng túng lắm…
Nhiều đêm suy nghĩ, ông Dấu thấy rằng đã nhận đất rừng thì phải trồng rừng để phủ xanh đất trống – đồi núi trọc. Nhưng bữa cơm còn chưa no, cái áo mặc còn chưa đủ ấm, sức đâu ra mà trồng rừng? Phải tìm ra cách để cái rừng ấy cho mình miếng ăn thì mới làm tốt được.
Trở về quê hương cũ – xã Sa Pả, huyện Sa Pa của tỉnh Lào Cai, ông Dấu thấy cây thảo quả phát triển tốt trên đất rừng và cho thu nhập hàng năm. Nhận thấy khí hậu ở Trung Đồng có thể trồng được thảo quả, thế là ông Dấu thuê ngựa vận chuyển cây giống thảo quả về trồng trên quê hương mới Huổi Cưởm.
“Lúc đầu tôi chỉ trồng mấy ngàn m2, năm đầu tiên thu thảo quả, thấy khá gấp mấy lần trồng ngô, lúa nương; thế là năm sau, tôi mở rộng diện tích lên và bây giờ đã có tới 8ha cây thảo quả; thu nhập hàng năm đạt trên 300 triệu đồng. Tính ra, nếu chăm sóc tốt, thu nhập kịp thời thì 1ha thảo quả cho giá trị gấp 3-4 lần 1ha ngô. Gia đình tôi cũng thoát nghèo và trở nên giàu có, được công nhận là “Hộ nông dân sản xuất-kinh doanh giỏi” cũng nhờ công chính từ những vườn thảo quả này đấy” – ông Dấu bảo vậy.
“Chẳng như một số hộ khi biết cách làm ăn hay thì giấu nghề, giấu bí quyết; ông Dấu lại khác người, đi đâu cũng kể, cũng vận động người khác trồng thảo quả. Ai không biết cách làm, không có vốn mua cây giống là ông ấy hỗ trợ.
Vì thế chỉ riêng ở cái bản Huổi Cưởm này đến nay đã có hơn 200ha cây thảo quả. Dân các xã lân cận như: Mường Khoa, Phúc Khoa, Hố Mít, Tà Mít… cũng có nhiều hộ về đây học cách làm và xin giống về trồng.
Nhà tôi cũng đã có hơn 1ha cây thảo quả từ sự giúp đỡ của ông Dấu đấy. Có thêm cây thảo quả, người dân có thêm nguồn thu lớn nên không ái còn phá rừng để thêm đất trồng sắn, trồng ngô…” – ông Chang A Chơ, dân bản Huổi Cưởm bảo vậy.
Nói về phát triển cây thảo quả, ông Dấu bảo: Càng nhiều người trồng thảo quả thì mình càng dễ bán, dễ mua nên tôi chỉ mong dân trong xã, trong bản cùng nhau trồng loại cây này để vừa xóa đói nghèo, vừa giữ rừng thêm xanh tốt. Chúng tôi cũng đã bảo nhau: Phát triển thảo quả phải đi đôi với bảo vệ rừng; không phá rừng bừa bãi, không sấy thảo quả trong rừng để tránh cháy rừng. Rừng có tốt thì thảo quả mới tốt tươi, con người mới có nguồn nước sạch. (Dân Việt 28/10) đầu trang(
Sau 8 năm thực hiện (2008 - 2015), Dự án Đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tại 4 huyện vùng cao núi đá (Hà Giang) đã đạt được những kết quả khả quan trong công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển sinh kế cộng đồng.
Theo đó, khoán quản lý bảo vệ rừng được trên 82.767 ha (đạt 107% kế hoạch dự án); khoán khoanh nuôi phục hồi rừng được trên 28.407 ha (đạt 159% kế hoạch); trồng rừng được trên 17.132 ha (đạt 155,9% kế hoạch); trồng rừng cảnh quan môi trường được 573,3 ha (đạt 115% kế hoạch). Dự án đã góp phần nâng độ che phủ rừng từ 30,9% năm 2007 đến năm 2014 đạt 43,6%.
Đáng chú ý, Dự án đã thu hút được trên 50.000 gia đình trên địa bàn các huyện tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, tạo thêm việc làm tại chỗ cho trên 70.000 lao động, hạn chế di dân tự do, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị - xã hội tại địa phương.
Nếu như năm 2008 (năm dự án đi vào hoạt động) tỷlệ đói nghèo của các huyện thuộc vùng dự án cao hơn so với mức bình quân chung là 60,12%, thì đến năm 2014 đã có những cải thiện rõ rệt, chỉ còn ở mức 32,9%.
Đặc biệt, dự án đã giúp người dân bước đầu thực hiện việc khai thác và sử dụng hợp lý tiềm năng đất đai, có ý thức hơn trong bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán, được tập huấn, trang bị và áp dụng kỹ thuật phù hợp vào sản xuất lâm nghiệp. (Văn Hóa 28/10) đầu trang(
Được giao trồng và giữ gần 500 ha rừng ở huyện Tây Trà và Trà Bồng (Quảng Ngãi) từ năm 2007 nhưng đến nay Công ty Lâm nghiệp Trà Tân (100% vốn nhà nước) để keo và cao su chết sạch, đất rừng bị dân chiếm dụng.
Công ty này còn liên doanh với một doanh nghiệp trồng 1.000 ha cao su, cây cũng chết ráo. Trước đó, công ty trồng 600 ha rừng tại địa phương cũng không cây nào sống nổi. Công ty lâm nghiệp mà trồng cây nào chết cây đó, giao mảnh rừng nào mất mảnh rừng đó, bó tay!  (Pháp Luật TP.HCM 29/10) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
14 con chim cắt quý hiếm được vận chuyển lậu ra khỏi nước Nga để làm đồ chơi phục vụ giới nhà giàu Arab.
Theo lực lượng biên phòng tại Cộng hòa Altai, 14 con chim cắt lớn - loài chim bay nhanh nhất thế giới - bị buộc dây quanh mình và giấu trong hai chiếc túi trên một con tàu chở hàng di chuyển từ Nga đến Kazakhstan. Lính biên phòng đã thu giữ chúng khi tàu đi qua giao lộ Lokot ở Rubtsovsk, Altai. Chim cắt nằm trong danh sách động vật có nguy cơ tuyệt chủng của Nga.
Tỉnh lại sau thời gian bị chuốc thuốc mê, những con chim đang bình phục trước khi quay trở lại môi trường hoang dã.
"Chúng tôi tin rằng nhóm tội phạm định vận chuyển lậu chim cắt đến Kazakhstan để bán chúng cho những người Arab giàu có làm thú nuôi",The Siberian Times dẫn lời Mikhail Mikhailov, phát ngôn viên của bộ phận biên phòng trực thuộc Cơ quan an ninh nội địa Liên bang Nga.
Những trường hợp tương tự đã từng xảy ra trong quá khứ. Chim cắt cũng được thu giữ vào hôm 18/9 nhưng chi tiết vụ việc được giữ kín để phục vụ điều tra. Giá bán một con chim cắt ở thị trường chợ đen vào khoảng 10.000 USD. (VnExpress 27/10) đầu trang(
Theo phóng viên TTXVN tại châu Phi, Cơ quan Quản lý động vật hoang dã của Zimbabwe (ZWMA) ngày 27/10 cho biết nước này vừa thu giữ 173kg ngà voi, trị giá khoảng 50.000 USD, tại sân bay quốc tế Harare của Zimbabwe.
Theo ZWMA, ba người dân địa phương, một người mang quốc tịch Mali và một lượng lớn ngoại tệ đã bị bắt giữ do liên quan đến vụ buôn lậu này.
Các nghi phạm khai báo số ngà voi trên dự kiến được chuyển sang một số thị trường ở Đông Nam Á.
Đây là lần đầu tiên ZWMA tham gia điều tra, bắt giữ các vụ buôn lậu động vật hoang dã quý hiếm.
Trước đó, các cơ quan chức năng Zimbabwe đã phát hiện ít nhất có 22 con voi chết do bị ngộ độc trong khu bảo tồn và công viên quốc gia Hwange, gần biên giới với quốc gia láng giềng Botswana.
Tháng trước, nước này cũng phát hiện 26 con voi chết do bị nhiễm độc chất cyanide tại hồ nơi voi thường uống nước.
Người phát ngôn ZWMA cho biết nạn săn bắt trộm động vật hoang dã, trong đó chủ yếu là voi và tê giác, đang gia tăng đáng kể tại quốc gia miền Nam châu Phi này, với mục tiêu chính là lấy ngà và sừng để buôn lậu.
Theo số liệu thống kê không chính thức của Tổ chức Bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF), năm 2014 và 6 tháng đầu năm nay, hơn 500 con voi, tê giác và sư tử đã bị giết hại tại khu vực này.
Zimbabwe là một trong những môi trường sống cuối cùng của động vật hoang dã quý hiếm như voi, tê giác, sư tử châu Phi.
Theo các chuyên gia WWF, hiện chỉ còn khoảng 200.000 cá thể voi và tê giác đang sinh sống tại 2 quốc gia miền Nam châu Phi là Zimbabwe và Nam Phi.
Các chuyên gia WWF đã kêu gọi cộng đồng quốc tế khẩn cấp chung tay bảo vệ các loài động vật hoang dã quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng và xử lý nghiêm các hành vi buôn bán sản phẩm động vật hoang dã trái phép như ngà voi, sừng tê giác. (Vietnam + 28/10) đầu trang(
Trước tình trạng cháy rừng nghiêm trọng ở nhiều khu vực của Indonesia thời gian qua, Cơ quan Bảo tồn thiên nhiên (BKSDA) ở khu vực phía nam đảo Sumatra đã thành lập một đội cứu hỏa với nhiều thành viên là… voi.
Theo Đài truyền hình France Télévisions, các “lính cứu hỏa bé bự” không chỉ giúp chuyên chở rất hiệu quả ở những vùng địa hình hiểm trở mà còn hỗ trợ rất đắc lực khi cần hút nước từ ao, hồ để chữa cháy. (Thanh Niên 28/10) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang