|
Ngày 29 tháng 10 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Tại cuộc họp của Ban Chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ - phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, nhiều ý kiến đã đề xuất "đóng” cửa rừng trên phạm vi toàn quốc để bảo vệ rừng khỏi nạn khai thác gỗ bừa bãi đang có chiều hướng gia tăng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, lý do khiến các cơ quan chức năng đề xuất đóng cửa rừng tự nhiên trên toàn quốc là do công tác quản lý lỏng lẻo, hàng loạt các liên hiệp và các lâm trường quốc doanh ra đời, rừng tự nhiên bị tàn phá nghiêm trọng... Đóng cửa để bảo vệ rừng thoạt nhìn đây là giải pháp cứng rắn để tạo ra các "hàng rào thép”. Tuy nhiên, nếu xét kĩ đóng cửa rừng cũng đồng nghĩa cánh cửa việc làm cũng đã đóng lại với bao nhiêu người thu nhập, hưởng lợi từ rừng.
Theo Ban Chỉ đạo Nhà nước, những năm qua rừng đã tạo việc làm cho 4,6 triệu lao động từ trồng rừng đó là chưa kể bao nhiêu lao động "ăn theo” nghề rừng. Thế nhưng, cần câu cơm của rất nhiều lao động kia đang bị chặn lại. Đây không phải là lần đầu Chính phủ quyết định ngừng "cấp phép” khai thác rừng. Và lý do của việc phải "cấp phép” khai thác rừng trở lại là bởi không thể để nhiều người mất việc làm một cách vô lý.
Ông Biền Ngân – Bí thư Đảng uỷ, kiêm Chủ tịch UBND xã Quảng Lưu, Quảng Trạch, Quảng Bình, một địa phương đã từng ra lệnh "đóng cửa” rừng vì không quản lý bảo vệ được rừng cho hay: Lệnh cấm này quả là lợi bất cập hại. Bởi rất nhiều người dân ở vùng rừng bị đóng cửa phải "úp nồi cơm lại”. Từ trước đến giờ người dân trên địa bàn chỉ trông chờ vào rừng, rừng là nguồn nuôi sống hơn 6.000 dân. Đóng cửa rừng tức đóng nồi cơm của nhiều gia đình, vậy thì tại sao chúng ta lại bàn đến chuyện đóng cửa rừng vào lúc này?
Lý giải về điều này Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, việc lợi dụng khai thác rừng (trong kế hoạch) đã đến mức báo động nên việc đóng cửa rừng là cần thiết. Bởi tổng diện tích rừng tự nhiên cả nước khoảng gần 10,3 triệu ha, tổng trữ lượng gỗ là 862 triệu m3. Trong đó, có 4,3 triệu ha rừng tự nhiên sản xuất với trữ lượng 350 triệu m3 gỗ, nhưng diện tích rừng giàu, có trữ lượng gỗ cao trên 250m3/ha chỉ chiếm khoảng 5%, trong khi rừng nghèo, rừng non phục hồi và rừng hỗn giao chiếm tới 80%. Nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời những khu rừng tự nhiên sẽ biến mất.
"Đóng cửa” rừng để chặn đứng nạn khai thác rừng bừa bãi. Đồng ý. Song, điều đó đã thật khoa học hay không thì cần phải xem xét một cách thấu đáo. Nhiều ý kiến cho rằng "đóng cửa” rừng không phải là biện pháp duy nhất để hạn chế đến mức thấp nhất nạn phá rừng. Thực tế của nhiều địa phương trong cả nước cho thấy: Nạn phá rừng không chỉ duy nhất là hành vi khai thác gỗ lậu, mà còn có cả việc lợi dụng chủ trương, chính sách của Nhà nước để gây hại rừng, hoặc đó còn là việc khai thác khoáng sản, làm thủy lợi, thủy điện…
Nhìn nhận ở góc độ kinh tế ông Nguyễn Ngọc Lung (Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp) cho rằng việc giảm khai thác để tiến đến không khai thác gỗ là trái với các nguyên lý khoa học về lâm sinh, kinh tế-xã hội và làm tăng chênh lệch giá, tăng khan hiếm gỗ rừng tự nhiên, tất yếu làm bùng phát mạnh nạn buôn lậu, chặt lậu gỗ và tham nhũng. Không quản được thì cấm vô hình chung sẽ làm gỗ khan hiếm có thể dẫn tới hệ lụy nhiều người thấy có lợi từ rừng mà bất chấp các lệnh cấm tiếp tục khiến rừng "chảy máu”.
Nhiều ý kiến cho rằng: Chỉ nên cấm khai thác ở những điểm nóng về khai thác rừng như Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chứ không thể làm một lệnh cấm trên toàn quốc. Và mấu chốt của việc bảo vệ rừng nằm ở công tác quản lý khai thác chứ không phải không quản được thì cấm như biện pháp "đóng cửa” tất cả các rừng tự nhiên trên toàn quốc kiểu kia. Và muốn quản lý khai thác tốt tài nguyên rừng, cần quản chặt đầu ra của các sản phẩm từ rừng bằng việc cấp phép cho các cơ sở sản xuất chế biến gỗ. Đó mới là giải pháp hữu hiệu để tránh khai thác rừng bừa bãi như thời gian vừa qua. (Đại Đoàn Kết 26/10)đầu trang(
Theo số liệu thống kê đến năm 2012, toàn tỉnh Quảng Trị có khoảng 230.000 ha rừng tự nhiên và rừng trồng. Trong đó rừng sản xuất 166.739 ha, rừng đặc dụng 66.890 ha, rừng phòng hộ 96.704 ha. Hàng năm diện tích rừng trồng mới đạt 5.000 ha; độ che phủ của rừng là 47,1%. .
Thực tế cho thấy sự phát triển lâm nghiệp thông qua việc trồng rừng kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn. Hiện tại sản lượng gỗ rừng trồng được khai thác hàng năm khoảng 400.000- 500.000 m3, cung cấp nguyên liệu ổn định cho Nhà máy chế biến gỗ MDF công suất 60.000 m3 sản phẩm/năm và các cơ sở chế biến gỗ ghép thanh, gỗ dăm giấy, sản xuất hàng mộc dân dụng trên địa bàn tỉnh.
Vậy nhưng so với tiềm năng về lao động, đất đai sản xuất thì sự phát triển kinh tế rừng, kinh tế lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vốn có. Mặc dù diện tích rừng trồng tăng nhanh hàng năm nhưng năng suất, chất lượng rừng còn thấp, thu nhập từ rừng mang lại chưa cao. Mặt khác do thị trường tiêu thụ không ổn định, việc thu mua chủ yếu dựa vào thương lái, gây nên sự chèn ép, cạnh tranh giá cả làm thiệt hại đến kinh tế của người dân làm nghề rừng.
Để giải quyết những tồn tại, bất cập trên, ngành lâm nghiệp tỉnh đã chủ động xây dựng chương trình quản lý rừng bền vững để cấp chứng chỉ rừng FSC nhằm hỗ trợ cho người trồng rừng có phương án kinh doanh hiệu quả hơn, mang lại thu nhập cao hơn, bảo vệ được môi trường sinh thái, tạo sự phát triển bền vững về lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị. Sau 4 năm thực hiện đã có 8 nhóm hộ gia đình và một Công ty lâm nghiệp được cấp chứng chỉ rừng với diện tích 10.015 ha rừng trồng keo các loại, bao gồm: Công ty Lâm nghiệp Bến Hải 9444 ha và 8 nhóm hộ với khoảng 300 hộ với diện tích rừng trồng khoảng 571 ha.
Việc cấp chứng chỉ rừng cho nhóm hộ gia đình ở tỉnh Quảng Trị là mô hình đầu tiên được xây dựng trên địa bàn cả nước. Mô hình này dựa trên nguyên tắc các hộ gia đình tự nguyện tham gia và liên kết với nhau thành từng nhóm, cùng thống nhất với nhau phương án tổ chức và phương thức thực hiện đầy đủ các nguyên tắc và tiêu chí của quản lý rừng bền vững. Việc cấp chứng chỉ rừng đã tạo niềm tin và sự phấn khởi cho người dân trồng rừng.
Theo đó người dân toàn quyền quyết định thời điểm khai thác gỗ với kết quả và hiệu quả cao nhất; chủ động đàm phán, ký kết hợp đồng với các đơn vị mua gỗ sản phẩm rừng trồng. Kết quả bán sản phẩm gỗ rừng trồng sau khi có chứng chỉ FSC đã cho thấy giá bán sản phẩm tăng từ 30-50% so với giá bán gỗ không có chứng chỉ FSC.
Tuy là mô hình mới được triển khai, hệ thống văn bản chưa hoàn thiện cần phải được điều chỉnh, quy mô, diện tích cấp chứng chỉ còn hạn hẹp nhưng phải khẳng định rằng việc trồng rừng nguyên liệu gắn với quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ rừng là hướng đi rất phù hợp với quá trình phát triển kinh tế lâm nghiệp hiện nay; rất cần được mở rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Bởi việc cấp chứng chỉ rừng sẽ tạo ra nguồn nguyên liệu gỗ có chất lượng, gỗ có kiểm soát phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến; đồng thời giải quyết việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh phát triển KT-XH ở các địa phương. (Báo Quảng Trị 27/10)đầu trang(
Đó là một trong những nội dung quan trọng trong Văn bản số 3379/UBND-KTN vừa được UBND tỉnh ban hành gửi các sở, ngành có liên quan và các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng trong mùa khô 2012-2013.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường các hoạt động kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng; phối hợp với cơ quan Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và Ban chỉ đạo bảo vệ rừng các huyện tổ chức đợt kiểm tra tại các vùng có nguy cơ cháy cao, yêu cầu chủ rừng thực hiện tốt việc bố trí lực lượng, phương tiện tại các khu vực trọng điểm về phá rừng để kịp thời phát hiện, xử lý. Đồng thời, tổ chức lực lượng bảo vệ rừng, sẵn sàng hỗ trợ các địa phương khi xảy ra các vụ việc cấp bách về phá rừng, cháy rừng.
Đối với Công an tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với các cơ quan chức năng và các địa phương thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, phòng chống chữa cháy rừng; cử lực lượng tham gia kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng tại các huyện. Đồng thời, điều tra, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
Đối với Bộ chỉ huy quân sự và Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu chỉ đạo cho các đơn vị trực thuộc chuận bị lực lượng, phương tiện, dụng cụ để sẵn sàng tham gia công tác phòng chống và chữa cháy rừng khi có yêu cầu của các huyện. Đồng thời, cử lực lượng phối hợp với các địa phương tham gia truy quét bảo vệ rừng, nhất là tại các khu vực biên giới…
Đối với UBND các huyện, chỉ đạo cho UBND các xã, các chủ rừng thực hiện nghiêm túc các quy định của nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn; kiểm tra, rà soát tình hình triển khai thực hiện các nội dung của phương án bảo vệ rừng, phòng chống, chữa cháy rừng năm 2013. Đồng thời, tiếp tục duy trì các đoàn truy quét liên ngành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại các khu trọng điểm về phá rừng, cháy rừng… và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạp pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng… (Báo Bình Phước 27/10)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
26/10, huyện Trấn Yên (Yên Bái) tổ chức diễn tập phòng chống cháy rừng – bảo vệ rừng (PCCR –BVR) năm 2012 tại xã Tân Đồng.
Cuộc diễn tập được chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 tổ chức chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng. Ban chỉ huy PCCCR xã Tân Đồng quán triệt nhiệm vụ; nghiên cứu, đánh giá kết luận tình hình khí hậu thời tiết, tình hình cháy rừng; thực hành điều chỉnh kế hoạch PCCR - BVR và triển khai một số công việc cần làm ngay cho các ban, ngành, đoàn thể, các thôn, xóm; tổ chức hiệp đồng phòng cháy chữa cháy rừng, khắc phục hậu quả cháy rừng cho các ban, ngành, các thôn của xã.
Gai đoạn 2: thực hành chữa cháy rừng với tình huống giả định được đưa ra là vào lúc 10 giờ sáng ngày 26/10, ở khu vực thôn 4 xã Tân Đồng do sơ ý của một số bà con nhân dân khi đốt cỏ làm nương đã để lửa cháy lan vào khu vực rừng trồng thuộc đồi Khe Đát.
Sau khi phát hiện đám cháy, chủ rừng và một số hộ dân lân cận đã tiến hành dập lửa và chữa cháy bằng phương tiện sẵn có. Tuy nhiên do lực lượng ít, thời tiết khô hanh, gió thổi mạnh nên đám cháy đã lan sang các khu vực bên cạnh.
Trước tình hình này, chính quyền xã Tân Đồng đã sử dụng lực lượng cơ động tại chỗ như lực lượng dân quân, tự vệ, công an và các tổ bảo vệ rừng phối hợp với các ban ngành, đoàn thể và bà con nhân dân ở các thôn trong khu vực sử dụng các vật liệu, phương tiện tại chỗ để chữa cháy rừng và ngăn chặn đám cháy lây lan rộng, đồng thời cấp cứu người bị nạn do cháy rừng.
Qua nhiều giờ vật lộn với “giặc lửa”, với những kiến thức và phương tiện hỗ trợ phòng chống cháy rừng được trang bị nhân dân trong xã đã khống chế và dập tắt đám cháy, thiệt hại về kinh tế không nhiều.
Thông qua cuộc diễn tập đã kịp thời bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch phòng chống cháy rừng ở Tân Đồng, đồng thời đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ huy, chỉ đạo, huy động lực lượng, phương tiện khi có cháy rừng xảy ra. (Báo Yên Bái 26/10)đầu trang(
Vừa qua, đồng chí Trần Văn Tuân, UVTVTU, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đi kiểm tra công tác quản lý và bảo vệ rừng ở huyện Tuyên Hóa.
Theo báo cáo của UBND huyện Tuyên Hóa, trong 9 tháng đầu năm 2012, trên địa bàn huyện đã xảy ra 27 vụ phá rừng để trồng rừng, gây thiệt hại gần 7 ha. Lực lượng bảo vệ rừng (BVR) đã phát hiện, xử lý 151 vụ vi phạm lâm luật, trong đó, xử phạt hành chính 49 vụ; vi phạm không có người nhận 102 vụ, tịch thu hơn 285m3 gỗ các loại. Huyện Tuyên Hóa cũng đã trồng được trên 500ha rừng cây keo các loại; khai thác được 548 ha rừng trồng. Đến thời điểm này, toàn huyện còn 97 xưởng cưa xẻ gỗ đang hoạt động…
Kết luận tại buổi làm việc, đồng chí Trần Văn Tuân đã ghi nhận những kết quả đã đạt được trong công tác BVR của huyện Tuyên Hóa, đồng thời yêu cầu huyện Tuyên Hóa tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân trong công tác BVR, phát triển rừng; chú trọng việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên BVR; sớm xử lý các xưởng cưa hoạt động trái phép, và quản lý chặt chẽ những xưởng cưa nằm trong diện quy hoạch được cấp phép. Về lĩnh vực đất đai, rà soát lại toàn bộ số lượng đất lâm nghiệp để có phương án giao đất, giao rừng hợp lý cho người dân… (Báo Quảng Bình 26/10)đầu trang(
21-10, huyện Ba Chẽ phối hợp với Sở NN&PTNT tổ chức khóa học tập huấn công tác quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR năm 2012.
Tham dự khóa học có 130 học viên là cán bộ xã, thị trấn, cán bộ kiểm lâm, địa chính, các trưởng thôn, khu phố và các chủ rừng trên địa bàn huyện Ba Chẽ.
Huyện Ba Chẽ có diện tích đất lâm nghiệp là trên 55.000 ha, chiếm trên 90% tổng diện tích tự nhiên. Năm 2012, Ba Chẽ trồng rừng trên 3.400ha đạt trên 170% kế hoạch đề ra, các loại cây trồng chủ yếu là Keo, Sa mộc, Thông mã vỹ, Quế…
Tại lớp tập huấn, các học viên đã được thông tin về Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi thành Luật bảo vệ và phát triển rừng; Quyết định số 186/8/2006 của Chính phủ về Ban hành Quy chế quản lý rừng…
Thông qua lớp tập huấn, các học viên sẽ nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ và kỹ năng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm hại tài nguyên rừng. (Báo Quảng Ninh 26/10)đầu trang(
Do địa hình nhiều đồi dốc nên công tác phòng cháy chữa cháy rừng gặp nhiều khó khăn, không thể áp dụng phương tiện cơ giới mà chủ yếu dùng sức người và phương tiện thủ công... Vì vậy, việc phát hiện kịp thời, chủ động khắc phục sự cố cháy rừng với phương châm "4 tại chỗ" luôn được tỉnh chú trọng.
Theo ông Vũ Mạnh Nghĩa- Trưởng phòng Quản lý Bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh thì kết quả kiểm kê ba loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) trên địa bàn tỉnh hiện nay là 341 nghìn héc ta, ngoài ra có khoảng 9 nghìn héc - ta rừng do nhân dân tự trồng trên đất vườn, đất đồi không nằm trong quy hoạch đất lâm nghiệp của tỉnh. Như vậy, tổng diện tích đất có rừng hiện nay là 350 nghìn héc ta/470 nghìn héc ta đất tự nhiên, (chiếm 74,4% tổng diện tích đất tự nhiên). Hằng năm, với nhiều nguyên nhân khác nhau đã có hàng trăm héc ta rừng bị cháy, gây thiệt hại về kinh tế cũng như hủy hoại về môi trường.
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 60 vụ vi phạm quy định về PCCCR. Tổng diện tích rừng bị cháy là 68,61 héc ta, trong đó rừng phòng hộ là 17,91 héc ta, rừng sản xuất là 50,7 héc ta. Điều đáng nói, là đa phần các vụ cháy rừng đều có nguyên nhân từ ý thức của con người gây ra. Những hành vi tưởng là nhỏ nhặt nhưng lại gây ra những vụ cháy rừng nghiêm trọng, như việc người dân vô ý vứt tàn thuốc lá trong rừng, việc phát dọn, đốt thực bì để trồng rừng gây cháy lan ra các diện tích có rừng hay việc đốt nương rẫy…
Điển hình như vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn vào ngày 25/4/2012 đã làm hàng chục héc-ta rừng sản xuất bị thiệt hại. Mặc dù các vụ cháy rừng trong thời gian qua đều ở những điểm rừng có diện tích nhỏ, chủ yếu là rừng sản xuất. Tuy nhiên, qua đó phản ánh việc chủ động xây dựng kế hoạch và phương án PCCCR là hết sức cần thiết để chủ động trong công tác PCCCR trong mùa khô.
Kinh nghiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng cho thấy, các vụ cháy rừng trong mùa khô thường xảy ra ở những địa phương có diện tích rừng sản xuất, rừng dây leo, lau lách lớn, những diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng tiếp giáp với nương rẫy của người dân. Hiện nay, Chi cục Kiểm lâm đã xây dựng xong phương án PCCCR trình UBND tỉnh phê duyệt. Trong đó nòng cốt là lực lượng kiểm lâm, UBND cấp xã, cấp huyện tích cực triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); thực hiện phương châm "4 tại chỗ": Lực lượng tại chỗ, phương tiện dụng cụ tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, hậu cần tại chỗ. Trên tinh thần tuân thủ nguyên tắc phòng cháy là chính, chữa cháy phải kịp thời, khẩn trương, triệt để, không để cháy trên diện rộng.
Phát huy tốt lực lượng tại chỗ trong PCCCR, Ban Chỉ đạo PCCCR cấp tỉnh đã chỉ đạo kiện toàn, thành lập mới các ban chỉ huy PCCCR cấp huyện, cấp xã; rà soát kiện toàn lại các tổ, đội PCCCR tại các thôn bản. Hiện nay, toàn tỉnh đã thành lập, kiện toàn được gần 1.365 tổ, đội PCCCR ở các thôn, bản. Bình quân mỗi tổ, đội PCCCR có từ 5 đến 6 thành viên, là lực lượng tại chỗ, kịp thời thông tin và triển khai các biện pháp chữa cháy tại chỗ.
Lực lượng kiểm lâm địa bàn sẽ là lực lượng nòng cốt vừa tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng, vừa tuyên truyền, vận động người dân thực hiện tốt công tác PCCCR; triển khai ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR đối với các hộ dân sống ở ven rừng; nhắc nhở bà con trước khi đốt rẫy, xử lý đốt thực bì để trồng rừng phải báo cho chính quyền địa phương, kiểm lâm phụ trách địa bàn để được hướng dẫn đốt rẫy, xử lý đốt thực bì theo quy trình, không để lửa cháy lan vào rừng.
Bằng nhiều hình thức, phương thức phù hợp, các cấp chính quyền địa phương tổ chức quán triệt sâu rộng các văn bản liên quan đến công tác PCCCR đến các tầng lớp nhân dân. Hiện nay, công tác tuyên truyền được lực lượng kiểm lâm phối hợp với các xã lồng ghép nội dung PCCCR vào các buổi họp thôn, bản. Bên cạnh công tác tuyên truyền, lực lượng kiểm lâm thực hiện tốt công tác dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng; tổ chức tuần tra, canh gác nhằm phát hiện sớm điểm cháy rừng; đầu tư trang bị phương tiện, máy móc thiết bị và công cụ PCCCR...
Hàng năm Chi cục Kiểm lâm chủ động mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ PCCCR để nâng cao kỹ năng về tổ chức, triển khai, thực hiện công tác PCCCR cho các kiểm lâm viên, nhất là lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn. Theo định kỳ, sẽ xây dựng phương án diễn tập phương án chữa cháy rừng quy mô phù hợp với từng địa phương và chủ rừng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ huy, điều động lực lượng, phương tiện và sự phối hợp giữa các lực lượng chữa cháy rừng.
Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo lực lượng kiểm lâm tăng cường kiểm tra, hướng dẫn nhân dân sản xuất nương rẫy đúng nơi quy định. Nơi chưa có quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy ổn định và lâu dài, UBND các huyện chỉ đạo khoanh vùng tạm thời cho nhân dân sản xuất nhưng phải đảm bảo không được làm ảnh hưởng đến diện tích rừng hiện có. Chuẩn bị sẵn sàng dụng cụ, phương tiện, lực lượng để ứng cứu kịp thời khi xảy ra cháy rừng; phân công người trực phòng cháy, chữa cháy rừng 24/24 giờ tại các khu vực trọng điểm, nhất là khu vực rừng trồng, rừng tự nhiên tiếp giáp với vùng sản xuất nương rẫy của người dân.
Theo nhận định ngành Kiểm lâm, mùa khô là thời gian người dân chuẩn bị các điều kiện để trồng rừng như phát dọn thực bì. Trong quá trình sản xuất có sử dụng lửa nên phải hết sức thận trọng. Trước khi đốt thực bì, người dân cần làm ranh cản lửa, chống cháy lan và luôn có người kiểm soát việc đốt. Ngành chức năng sẽ phối hợp tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành các quy định về phòng chống cháy rừng cho nhân dân và xã hội hóa công tác PCCCR... nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Báo Bắc Kạn 27/10)đầu trang(
Theo dự báo của các cơ quan chức năng, mùa khô năm nay sẽ kéo dài do mùa mưa kết thúc sớm. Vì vậy, ngay từ đầu mùa khô, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và các hạt kiểm lâm huyện đã triển khai các biện pháp phòng, chống cháy rừng (PCCR).
Theo ông Nguyễn Ðình Thắng, Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh thì trong tháng 10, Chi cục đã phê duyệt được 22 phương án PCCR năm 2012-2013 của các “chủ rừng” là công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, công ty tư nhân… Trong đó, các “chủ rừng” đã xây dựng phương án phát dọn hơn 200 km đường băng cản lửa, đầu tư mới gần 1.500 biển báo, biển nội quy cấm lửa.
Các “chủ rừng” cũng sẽ đầu tư thêm hàng nghìn phương tiện chữa cháy rừng như dao, cuốc, xẻng, bình CO2 và tổ chức họp dân, ký cam kết PCCR với người dân nhận quản lý bảo vệ rừng. Tổng nguồn kinh phí các đơn vị dự kiến đầu tư cho công tác PCCR đạt gần 2,4 tỷ đồng. Ðiểm đáng chú ý, năm nay, nhiều “chủ rừng” đã tích cực xây dựng kế hoạch PCCR ngay từ đầu năm, trong đó nhiều đơn vị đầu tư dài hạn. Việc chủ động PCCR là điều kiện quan trọng hạn chế nguy cơ cháy rừng trong mùa khô năm 2012-2013.
Ðược biết, để chuẩn bị cho công tác phòng, chống cháy rừng năm nay, hiện lực lượng Kiểm lâm cũng đã đẩy mạnh tuyên truyền, thông báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng đến cơ sở. Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xây dựng hệ thống cảnh báo cháy rừng trên mạng, thông tin thường xuyên trên sóng truyền hình tỉnh. Chi cục cũng đang tiến hành rà soát rừng để giúp “chủ rừng” quản lý rừng, PCCR hiệu quả hơn.
Trên cơ sở dữ liệu hiện trạng rừng được xác định cụ thể cũng giúp địa phương chủ động hơn trong công tác lập phương án PCCR. Ðược biết, về lâu dài, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xây dựng Ðề án nâng cao năng lực PCCR đến năm 2020, bằng nguồn kinh phí Trung ương. Ðề án sẽ tập trung đầu tư hệ thống cảnh báo cháy rừng hiện đại, nhằm từng bước nâng cao năng lực phòng, chống cháy rừng tỉnh ta, trong thời gian tới.
Ðứng chân ở vùng rừng luôn có nguy cơ cháy cao nên công tác PCCR luôn được Công ty TNHH Một thành viên Nam Nung (Krông Nô) chú trọng thực hiện. Theo đó, ngay khi được cơ quan chuyên môn phê duyệt phương án PCCR thì công ty đã triển khai kế hoạch thực hiện đến từng tổ, đội để quản lý có hiệu quả 5.000 ha rừng tự nhiên, 2.000 ha rừng trồng và hàng nghìn ha cao su.
Ông Phạm Ðức Thắng, Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Nam Nung cho biết: “Ðầu tháng 11, đơn vị sẽ thực hiện kế hoạch PCCR, trong đó có đầu tư chòi canh, các phương tiện dập lửa, phát dọn đường băng cản lửa ở toàn bộ diện tích rừng trồng”. Cũng theo ông Thắng, điều quan trọng nhất vẫn là việc nâng cao tinh thần cảnh giác “giặc lửa”. Thực tế, dù “chủ rừng” có chuẩn bị tốt nhân, vật lực PCCR, nhưng lại không tuyên truyền cho người dân hiểu, hạn chế đốt nương làm rẫy thì nguy cơ xảy ra cháy rừng vẫn rất cao.
Còn theo ông Lê Quang Dần, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Ðùng (Ðắk Glong) thì đến nay, đơn vị đã xây dựng xong phương án PCCR. Ðầu tháng 11, đơn vị cũng sẽ triển khai công tác mua sắm phương tiện PCCR và họp dân sống gần rừng để ký cam kết không vi phạm quy định phòng, chống cháy rừng… với tổng số vốn hơn 90 triệu đồng. (Báo Đăk Nông 27/10)đầu trang(
Ngày 24/10, Ban chỉ đạo diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng (PCCCR-BVR) tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng thị xã Phúc Yên mùa khô năm 2012.
Vĩnh Phúc có 33.055ha rừng, trong đó tập trung ở dãy núi Tam Đảo. Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết, tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương trên địa bàn Vĩnh Phúc gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội, tài nguyên, môi trường... Cuộc diễn tập tại thị xã Phúc Yên được triển khai 2 giai đoạn (diễn tập cơ chế và diễn tập thực binh). (Công An Nhân Dân 26/10)đầu trang(
Đó là cây xoài thuộc ấp Giồng Nhãn (xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu).
Sở VH-TT&DL đang lập hồ sơ đề nghị Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) công nhận là cây di sản quốc gia.
Cây xoài cổ thụ này có chiều cao 20 m, gốc to khoảng năm người ôm, tán tỏa bóng mát trong phạm vi 300 m2.
Việc bảo tồn cây xoài 300 tuổi, ngoài ý nghĩa giữ lại nguồn gien quý hiếm, bảo vệ sinh thái môi trường còn là việc giữ lại một phần diện mạo của vùng đất Bạc Liêu xưa.
Cùng ngày, Hiệp hội Du lịch ĐBSCL đã công bố hai điểm du lịch tiêu biểu ở TP Bạc Liêu là Khu du lịch sinh thái hồ Nam (ở khóm 10, phường 1) và khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (ở khóm 4, phường 5). (Pháp Luật TPHCM 27/10; Tuổi Trẻ 27/10)đầu trang(
Tại thôn Ga Nin, xã A Xan, huyện Tây Giang hiện đang có rừng cây Pơ mu nguyên sinh, có 922 cây, nhiều cây to có đường kính trên 1 m cao từ 30-40m.
Ông Bh’riu Liếc-Bí thư Huyện uỷ Tây Giang cho biết: Huyện đang chuẩn bị hoàn thành hồ sơ đề nghị Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận rừng Pơmu Tây Giang là cây di sản Việt Nam.
Để bảo vệ rừng cây quý hiếm này, huyện Tây Giang đã tổ chức đánh số, lập tổ bảo vệ rừng với 29 người, dựng lán trại trong rừng để bảo vệ. (Phụ Nữ TPHCM 27/10)đầu trang(
8 cây cổ thụ ở Di tích lịch sử đình - đền Hào Nam , phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN (Vance) công nhận là cây di sản VN vào sáng 26/10.
Cụm cây gồm: 3 cây đại hoa trắng, 2 cây si, 1 cây đa lông, 1 cây bồ đề và 1 cây muỗm. Cụm cây ước tính có độ tuổi từ 100 – 400 năm. (Quân Đội Nhân Dân 27/10)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích rừng trồng mới hiện nay nhìn chung giảm mạnh so với cùng kỳ.
Trong 10 tháng năm 2012, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 145,1 ngàn ha, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 13,3 ngàn ha, giảm 28,3%. Trong khi đó, sản lượng gỗ khai thác trong 10 tháng tiếp tục tăng, đạt 3.927,5 ngàn m3, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, tại các tỉnh miền Bắc, các địa phương đã cơ bản kết thúc vụ trồng rừng. Ước tính đến 20/10 các địa phương miền Bắc đã trồng được 126,8 nghìn ha rừng, chiếm 87% diện tích trồng rừng cả nước. Trong đó, diện tích rừng trồng mới phòng hộ và đặc dụng đạt 10,6 ngàn ha, chiếm 80% cả nước; Diện tích trồng rừng sản xuất đạt 116,1 ngàn ha, chiếm 88% cả nước.
Đáng chú ý, vùng có diện tích rừng trồng mới lớn nhất là Trung du và Miền núi phía Bắc đạt 81.610 ha, Bắc Trung bộ đạt 30.586 ha và Đồng bằng sông Hồng đạt 14.605 ha. Một số tỉnh miền Bắc có diện tích rừng trồng mới khá là Tuyên Quang 14.956 ha, Nghệ An 13.765 ha, Quảng Ninh 13.589 ha và Yên Bái 13.131 ha. Ngoài việc trồng rừng, các tỉnh miền Bắc tiếp tục tiến hành chăm sóc rừng trồng, khoán khoanh nuôi tái sinh, giao khoán bảo vệ rừng tới các tổ chức, cá nhân và tiến hành khai thác gỗ theo kế hoạch.
Còn tại các tỉnh miền Nam, các địa phương đang tiến hành trồng rừng chính vụ. Tính đến ngày 20/10, các tỉnh miền Nam đã trồng được 16.677 ha rừng. Trong đó, Duyên hải Nam Trung bộ trồng được 7.785 ha, Tây Nguyên trồng được 5.756 ha, Đông Nam Bộ trồng được 1.680 ha và Đồng bằng sông Cửu Long trồng được 1.457 ha. Một số tỉnh có diện tích trồng rừng khá là Bình Định (2.714 ha), Bình Thuận (2.624 ha), Lâm Đồng (1.903 ha) và Đắk Lắk (1.760 ha). Ngoài công việc trồng rừng các địa phương miền Nam tiếp tục chuẩn bị hiện trường trồng rừng và chăm sóc cây giống cho kế hoạch trồng rừng năm 2012, tiến hành chăm sóc rừng trồng và khai thác gỗ theo kế hoạch. (Đảng Cộng Sản VN 27/10)đầu trang(
Năm 2010, khi công trình thủy điện Hương Điền tích nước trên sông Bồ đã làm ngập chìm hàng loạt cao su và rừng trồng của người dân xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng. Vậy nhưng, sau gần 3 năm, người dân bị thiệt hại vẫn chưa được đền bù, khiến nhiều người rơi vào cảnh khó khăn, kiệt quệ.
Phong Sơn là một xã nghèo nằm ở vùng đồi của huyện Phong Điền, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và trồng rừng. Để phát triển kinh tế, đầu năm 2006 người dân xã Phong Sơn bắt đầu triển khai trồng cao su trên diện tích 245ha tại tiểu khu 79-80, theo dự án Đa dạng hóa nông nghiệp. Tuy nhiên, đầu năm 2010, khi thủy điện Hương Điền trên sông Bồ tích nước để phát điện, nhiều diện tích cao su và rừng trồng của dân bị ngập và chết.
Ông Trương Tuyển, một người dân trồng cao su ở xã Phong Sơn cho biết: “Từ năm 2006 gia đình tôi bắt đầu trồng 1,7ha cao su, khi cây cao su được 4 năm tuổi thì thủy điện Hương Điền tích nước làm ngập gần hết diện tích. Tôi thuộc diện ưu tiên xóa đói giảm nghèo mới được trồng cao su theo dự án. Khi thủy điện đóng đập tích nước tháng 1-2010, toàn bộ cao su bị ngập. Bao nhiêu tài sản và công sức bỏ ra giờ không còn gì hết, giờ trắng tay luôn”.
Còn hộ ông Hồ Đức Năm trồng hơn 3,1ha cao su thì có 2ha ngập nước. Để đầu tư mỗi ha cao su ngoài vay tiền dự án tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 25 triệu đồng, gia đình phải vay mượn thêm để thuê nhân công chăm sóc, phân bón. Bây giờ, ông Năm không biết lấy tiền đâu để trả nợ ngân hàng.
Ông Nguyễn Bá Nam, Phó Chủ tịch xã Phong Sơn, cho biết: Đến nay, sau 3 năm thủy điện Hương Điền tích nước gây hư hại 88ha cao su và rừng của 88 hộ dân nhưng họ vẫn chưa đền bù khiến dân rơi vào cảnh khó khăn, bởi tiền lãi ngân hàng phải trả, trong lúc đất sản xuất thì không có.
Về vấn đề này, ông Nguyễn Đại Vui, Chủ tịch UBND huyện Phong Điền, cho rằng: Trong quá trình triển khai xây dựng và tích nước lòng hồ, Ban quản lý Dự án thủy điện Hương Điền và các đơn vị liên quan đã không thực hiện việc kiểm tra kết quả đo đạt bản đồ lòng hồ của Trung tâm Kỹ thuật, Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Thừa Thiên - Huế dẫn đến chồng lấn trên diện tích trồng cao su của dân. Khi bàn giao lòng hồ, các đơn vị đã cắm mốc quá ít so với tính phức tạp của bản đồ, không kiểm soát hết diện tích đất lòng hồ trước và sau khi bàn giao.
Đầu năm 2006 người dân bắt đầu trồng cao su và trồng rừng theo dự án Đa dạng hóa nông nghiệp. Nhưng đến năm 2008, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế mới có quyết định thu hồi đất giao cho thủy điện, vì vậy Công ty Thủy điện Hương Điền phải đền bù cho dân. Thế nhưng, khi xảy ra sự việc ngập công ty trên không đền bù kịp thời.
Hiện UBND huyện Phong Điền đang thành lập đoàn kiểm tra để có hướng khoanh nợ cho dân có cao su bị ngập; đồng thời yêu cầu Công ty cổ phần Thủy điện Hương Điền và những đơn vị liên quan có trách nhiệm đưa ra những phương án bồi thường, hỗ trợ để bà con yên tâm phát triển sản xuất, tránh tình trạng nhiều hộ dân của xã Phong Sơn rơi vào cảnh nợ nần và tái nghèo. (Sài Gòn Giải Phóng 29/10)đầu trang(
Ngày 26.10, PV Thanh Niên đến dòng suối cạnh Trường THCS Tân Phước (xã Tân Phước, H.Tân Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu) tìm hiểu thêm về thông tin cá sấu xuất hiện và bị "tóm" vào chiều 25.10.
Anh Lê Văn Tỵ (23 tuổi, quê Quảng Ngãi), người phát hiện con cá sấu, cho biết đã thấy con cá sấu này từ tuần trước. Khi phát hiện, anh Tỵ lấy điện thoại chụp hình lại, sau đó báo cho Công an xã Tân Phước. Còn bà Lê Thị Kéo, nhà ngay sát dòng suối, cho hay đã phát hiện con cá sấu này cách đây gần 1 tháng. Theo anh Tỵ, một người công nhân tên Hiệp làm công trình trường học này cho hay đã nhìn thấy dưới dòng suối này có đến 3 con cá sấu từ gần 1 năm nay. Một giáo viên của Trường THCS Tân Phước cũng xác nhận thông tin như anh Tỵ.
Trao đổi với chúng tôi, Bí thư xã Tân Phước Nguyễn Thanh Toàn cho biết khi nghe dân phát hiện cá sấu, đã báo cáo UBND H.Tân Thành, kiểm lâm, công an để truy bắt nhiều ngày nhưng không được. “Ngày 25.10, sau khi xác định được vị trí cá sấu đang ẩn núp, chúng tôi đã cho xe cuốc vào lấp một đoạn suối rồi dùng 2 máy bơm vào hút nước mới bắt được. Nghe dân nói còn 1 - 2 con cá sấu nữa ở dưới suối này khiến chúng tôi rất lo lắng. Sắp tới đây, chúng tôi sẽ phát quang dòng suối để tiếp tục bắt chúng”, ông Toàn nói.
Cũng theo ông Toàn, con cá sấu bị bắt ngày 25.10 đã chết sau đó. Còn ông Đào Văn Điền, cán bộ Pháp chế Hạt Kiểm lâm H.Tân Thành, thì nhận định: "Đây có thể là con cá sấu của người dân trong xã nuôi bị sổng chuồng chứ không phải là cá sấu tự nhiên”. (Thanh Niên 27/10)đầu trang(
Ngày 26-10, Bộ NN-PTNT đã họp với đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Phúc, Tổng cục Lâm nghiệp về đề nghị của Bộ Quốc phòng không mở rộng Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam (Trung tâm) do Tổ chức Động vật châu Á (AAF) tài trợ tại thung lũng Chắt Dậu - Vườn Quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) vì lý do an ninh quốc phòng.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn cho biết tại cuộc họp, phương án cuối cùng về việc di dời vẫn chưa chính thức. Tuy nhiên, việc lấy đất để phục vụ “vấn đề an ninh quốc phòng là bất khả kháng” và mọi đơn vị, cá nhân đều phải tuân thủ theo. Ông Tuấn cho biết cơ quan chức năng sẽ đưa ra phương án có tình có lý và bàn bạc thống nhất với AAF chứ không phải ép buộc quá đáng. Bên cạnh đó, cũng sẽ đề nghị Bộ Quốc phòng nói rõ hơn về phạm vi sử dụng quỹ đất này.
Trước đó, ngày 5-10, Trung tâm đã nhận được thông báo của Bộ NN-PTNT về việc dừng toàn bộ hoạt động xây dựng dự án của Trung tâm và di dời 104 cá thể gấu trước đây đã được cứu hộ ra khỏi khu vực thung lũng Chắt Dậu. Trong văn bản nêu rõ: Hai bên cùng bàn bạc giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến dự án và xem xét khả năng bố trí khu vực khác để xây dựng Trung tâm.
Tuy nhiên, theo phía Trung tâm, việc di dời này sẽ đẩy 77 nhân viên địa phương của Trung tâm vào cảnh thất nghiệp và gây tổn thất cho AAF trên 2 triệu USD đã đầu tư vào đây. Trong khi trước đó, Trung tâm đã trực tiếp chấm dứt bản cam kết của Chính phủ Việt Nam vào năm 2005 với AAF trong việc nhận tài trợ và xây dựng Trung tâm với quy mô rộng 12 ha tại Vườn Quốc gia Tam Đảo để làm nơi phục hồi và trú ngụ cho 200 cá thể gấu, loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi “ngành công nghiệp” khai thác mật gấu trái phép.
Trung tâm cũng cáo buộc ông Đỗ Đình Tiến, Giám đốc Vườn Quốc gia Tam Đảo, đã phát tán các thông tin cho rằng Trung tâm xả nước thải gây hại đến môi trường và sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh, nhằm cản trở việc xây dựng khu nuôi gấu bán tự nhiên thứ ba. Ông Tiến còn yêu cầu Bộ NN-PTNT đóng cửa Trung tâm và di dời gấu khỏi địa bàn. Tuy nhiên, kết luận điều tra toàn diện của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc đã bác bỏ mọi cáo buộc đối với Trung tâm.
Trung tâm còn cho biết từ tháng 4-2011, ông Tiến đã nhiều lần gây sức ép với AAF yêu cầu nhường 6 ha đất của dự án Trung tâm cho dự án khác. “Ông Tiến dự tính sẽ giao khu đất này cho Công ty CP Trường Giang Tam Đảo mà trước đó đã đề xuất phát triển một khu du lịch sinh thái và khách sạn” - ông Tuấn Bendixsen, Trưởng Đại diện AAF tại Việt Nam, nói. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, chưa có dự án nào được đề xuất. “Đã là đất quốc phòng an ninh thì không thể có dự án du lịch nào xây dựng ở đây, chưa kể vấn đề hợp tác quốc tế, quan hệ đối ngoại là rất quan trọng” - ông Tuấn nói. (Người Lao Động 26/10)đầu trang(
25-10, ông Lê Văn Tuấn, chánh văn phòng UBND huyện Bắc Trà My (Quảng Nam), cho biết tỉnh Quảng Nam đã đồng ý giao 2.000m2 đất cho UBND huyện để xây dựng một trạm kiểm lâm tại thôn 3B, xã Trà Giác.
Việc xây dựng thêm trạm kiểm lâm này nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng, đặc biệt là “tận thu” lượng lớn gỗ rừng phòng hộ Sông Tranh bị lâm tặc và cả người dân tái định cư không có đất sản xuất đã phá rừng lấy đất. UBND tỉnh cũng đồng ý cho huyện Bắc Trà My sử dụng 400m3 gỗ tịch thu trước đó vào mục đích hỗ trợ dân sửa chữa, làm lại nhà do động đất gây hư hỏng, làm nhà hộ nghèo, hộ chính sách, đóng mới bàn ghế học sinh... (Tuổi Trẻ 27/10)đầu trang(
Tính đến tháng 10-2012, toàn tỉnh Bắc Giang đã trồng được hơn 4.300ha rừng tập trung, vượt gần 108% kế hoạch năm; khoán bảo vệ 35.244 ha; chăm sóc 12.680 ha, đạt 120,8% kế hoạch; trồng gần 483 nghìn cây phân tán, chủ yếu ở huyện Sơn Động và Lục Ngạn.
Ngoài ra, Ban Quản lý dự án, hạt kiểm lâm các huyện còn khoán bảo vệ 35.244 ha; chăm sóc 12.680 ha, đạt 120,8% kế hoạch; trồng gần 483 nghìn cây phân tán, chủ yếu ở huyện Sơn Động và Lục Ngạn.
Về tình hình khai thác rừng trong 10 tháng, toàn tỉnh đã khai thác gần 1.300 ha rừng với gần 62 nghìn m3 gỗ các loại và nhiều lâm sản khác. Việc khai thác, sử dụng được các hạt kiểm lâm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các chủ rừng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến lâm sản. (Đại Biểu Nhân Dân 26/10)đầu trang(
Tin từ UBND huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) cho biết, huyện đang làm thủ tục giao 832ha đất rừng phòng hộ (chuyển sang đất sản xuất) cho khoảng 410 hộ dân vùng tái định cư thuỷ điện Sông Tranh 2. Trung bình mỗi hộ được cấp khoảng 2 – 3ha đất để làm nương rẫy.
Ông Đoàn Tất Chẩn, giám đốc ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh nói: “Dù địa phương chấp nhận hy sinh diện tích rừng phòng hộ khá lớn để cấp đất sản xuất cho người dân vùng tái định cư, tuy nhiên đây chỉ là giải pháp tạm thời. Do tập tục đồng bào thay đổi rẫy sản xuất liên tục theo từng năm, mặt khác do động đất gây hư hỏng nặng nhà xây ở các khu tái định cư nên người dân đổ xô đi cưa hạ gỗ dựng nhà sàn, lều để ở nên rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Tranh đang bị xâm hại nghiêm trọng”.
Theo ước tính của cơ quan chức năng, đến nay đã có 70ha rừng phòng hộ bị chặt phá để làm nương rẫy. (Sài Gòn Tiếp Thị 29/10)đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong vừa triển khai chương trình trồng rừng tại khu bảo tồn Hòn Cau.
Chương trình trồng rừng phủ xanh trên khu bảo tồn Hòn Cau được thực hiện từ 2012-2015 với tổng diện tích là 20 ha. Riêng năm 2012 này, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong trồng khoảng 3 ha gồm các chủng loại keo chịu hạn, phi lao, bàng vuông. Do đảo là khu vực khô hạn nhất của huyện, độ ẩm rất thấp, lượng mưa hàng năm ít, vì vậy, trong quá trình trồng, Ban Quản lý còn bón thêm chất AMS – 1 (polime) với chức năng là hút nước, giữ độ ẩm, điều tiết nước để nuôi cây. Được biết, nhờ kỹ thuật này mà những năm gần đây tỷ lệ cây trồng sống và phát triển tốt đạt trên 95%, nâng cao chất lượng rừng trồng.
Chương trình trồng rừng tại khu bảo tồn Hòn Cau mang tính chiến lược lâu dài nhằm thiết lập một khu rừng phòng hộ tập trung để nâng cao hiệu quả phòng hộ, nâng độ che phủ cho đảo, chắn gió, tích nước, cải thiện môi trường; đồng thời góp phần phát triển du lịch, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. (Đài PT-TH Bình Thuận 28/10) đầu trang(
Một con voi đực ở Buôn Đôn, Đắk Lắk, bị những kẻ trộm ngà chém hơn 200 nhát năm 2010 và đã qua đời sau gần ba tháng chạy chữa.
Con voi Pắk Kú nặng 3 tấn và có cặp ngà dài 70 cm, thuộc sở hữu của công ty Du lịch sinh thái Bản Đôn, gặp nạn khi được xích trong rừng qua đêm để cho ăn hôm 16/10/2010. Sáng hôm sau, nhân viên của công ty ra chỗ xích voi thì không thấy nó đâu nữa. Họ lầ theo vết máu đi tìm thì phát hiện voi bên bờ suối, đã bị đốt bằng xăng phía trước mặt, đầu thân và mông bị chém nhiều nhát sâu đến 5 cm. Một phần da mông voi rách tơi tả.
Ông Nguyễn Trụ, Chủ tịch hội đồng quản trị công ty sinh thái Bản Đôn, cho biết ông và các cộng sự đã hết lòng chăm sóc con voi, nhưng nó không hồi phục được và qua đời sau 82 ngày chữa chạy.
"Nó có ngà rất đẹp", ông Trụ kể hôm qua, về con voi cưng của mình. "Người ta bảo tôi bán ngà voi đi nhưng tôi không muốn, tôi muốn để đó để du khách được thấy ngà voi đẹp thế nào".
Sau khi Pắk Kú chết, "nó được làm mộ đàng hoàng", và du khách nay có thể đến thăm, người chủ của con voi xấu số cho biết.
Công ty của ông Trụ hiện nuôi hai con voi cái để phục vụ du lịch, vì voi cái không có ngà nên đỡ lo hơn về nguy cơ bị giết. Dù đã được chú ý bảo vệ, hai con voi này cũng bị trộm cắt mất lông đuôi.
Tỉnh Đắk Lắk là địa phương tập trung nhiều voi tại Việt Nam. Tuy nhiên tình trạng săn bắn và giết voi lấy ngà hoặc cắt lông đuôi voi làm trang sức đang đe dọa sự tồn vong của loài voi. Tháng 8 năm nay, xác hai con voi một đực một cái đang bị phân hủy được phát hiện tại Vườn Quốc gia Yok Đôn. Trong đó xác voi đực đã bị xẻ lấy một phần xương mặt, ngà và vòi bị cắt Đây là con voi đực độc nhất trong đàn của nó và cái chết này sẽ khiến việc duy trì nòi giống trong đàn trở thành bất khả.
Thông tin về những con voi bị giết hại dã man khiến các chuyên bảo tồn phẫn nộ, họ cảnh báo rằng voi Việt Nam có thể bị tuyệt diệt nếu việc thực thi luật không nghiêm. Mới đây tờ New York Times có bài viết về tình trạng của voi ở Việt Nam, với tựa đề chua chát: "Cuộc tàn sát voi ở Việt Nam sắp xong". (Vnexpress.net 26/10)đầu trang(
Tính đến hết ngày 15/10, toàn tỉnh Yên Bái đã trồng mới trên 14 ngàn ha rừng, đạt gần 94% kế hoạch, trong đó có 5.798 ha keo hạt, keo lai, 2.792 ha quế, 2.440 ha bồ đề, mỡ còn lại là tre Bát độ, sơn tra và trồng cây phân tán.
Song, với những cơ chế chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh, sự chỉ đạo sát sao của ngành nông nghiệp, các huyện, thị, thành phố cùng với sự nỗ lực của các thành phần kinh tế, đến ngày 15/10/2012, toàn tỉnh đã trồng được trên 14 ngàn ha rừng, đạt trên 94% kế hoạch, nhiều địa phương đạt trên 100% kế hoạch đề ra.
Ông Kiều Tư Giang - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh phấn khởi: “Dẫu gặp nhiều khó khăn nhưng do làm tốt công tác chuẩn bị đất, giống cây, cùng với cơ chế chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh và sự nỗ lực của bà con nông dân nên tiến độ trồng rừng vẫn đảm bảo. Hiện nay, bà con nông dân, cùng các nông - lâm trường, công ty lâm nghiệp và các tổ chức xã hội đang tích cực trồng nốt diện tích còn lại.
"Với khí thế, tốc độ như hiện nay chắc chắn hết tháng 10 toàn tỉnh sẽ trồng đạt và vượt mức kế hoạch đề ra. Hiện đã có 3 huyện, thị trồng đạt và vượt mức chỉ tiêu là: Trấn Yên, Trạm Tấu và Lục Yên. Không chỉ trồng đạt kế hoạch mà chất lượng rừng trồng năm nay cũng rất đảm bảo, từ giống cây cho đến kỹ thuật trồng, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%” - ông Giang nói.
Tính đến hết ngày 15/10/2012, toàn tỉnh đã trồng mới trên 14 ngàn ha rừng, đạt gần 94% kế hoạch, trong đó có 5.798 ha keo hạt, keo lai, 2.792 ha quế, 2.440 ha bồ đề, mỡ còn lại là tre Bát độ, sơn tra và trồng cây phân tán.
Một số huyện đã trồng đạt và vượt mức kế hoạch cao là: Trấn Yên 2.794/2.150ha, đạt 130% kế hoạch giao, Trạm Tấu 559/520ha, đạt 104% kế hoạch, Lục Yên đạt 100% kế hoạch, các huyện, thị khác cũng đã trồng đạt gần 100% kế hoạch.
Hiện chỉ còn huyện Văn Chấn mới đạt 77% kế hoạch và huyện Yên Bình 88% kế hoạch nhưng các huyện này cũng đang nỗ lực và phấn đấu trồng hoàn thành xong trong tháng 10.
Để đạt được kết quả đó, ngay từ cuối năm 2011 Chi cục Phát triển lâm nghiệp đã chỉ đạo các huyện thị, ban quản lý các huyện, thị, nông lâm trường chuẩn bị 18 triệu cây giống các loại, đáp ứng đủ giống cho trồng rừng vụ xuân.
Bên cạnh đó, Chi cục còn phối hợp cùng với các huyện, thị, thành phố tiến hành rà soát, thiết kế, chuẩn bị đất và xây dựng kế hoạch giao cụ thể tới các xã. Song song với đó là tỉnh đã có cơ chế hỗ trợ 1 triệu đồng/ha đối với trồng rừng sản xuất ở các thôn, bản đặc biệt khó khăn của các xã vùng II và xã vùng III.
Mặc dù gặp khó khăn chung của nền kinh tế, ngân hàng thắt chặt tín dụng nhưng từ những tháng đầu năm 2012 thị trường lâm sản đã diễn ra rất sôi động, đặc biệt là gỗ nguyên liệu giấy và gỗ phục vụ cho ván bóc. Có thời điểm giá gỗ nguyên liệu giấy cũng đạt 700 ngàn đồng/m3, gỗ ván bóc lên tới 1,1 triệu đồng đến 1,4 triệu đồng/m3.
Nông dân phấn khởi khai thác và thấy rõ hiệu quả kinh tế rừng mang lại nên bà con tích cực lên đồi phát cỏ, cuốc đất trồng rừng. Không chỉ trồng rừng mà người dân còn biết gắn với chế biến để nâng cao giá trị kinh tế, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động.
Chưa bao giờ việc trồng và chế biến gỗ rừng trồng lại phát triển mạnh như hôm nay, huyện, thị nào cũng có hàng trăm cơ sở chế biến gỗ rừng trồng. Xe máy, nhà xây, con em được học hành đầy đủ cũng một phần nhờ trồng rừng, chế biến gỗ rừng trồng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì công tác trồng rừng cũng gặp không ít khó khăn. Đó là vốn cho trồng rừng, nhất là trồng, bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phải cần đến trên 90 tỷ đồng nhưng Trung ương mới cấp 65 tỷ đồng, tỉnh cũng chỉ cấp được 12 tỷ đồng.
Không chỉ có vậy mà trong số 65 tỷ đồng do Trung ương cấp thì đã có tới 30 tỷ đồng dành chi trả nợ cho trồng 1.600 ha rừng phòng hộ và bảo vệ, chăm sóc của năm 2011. Hiện nay các địa phương đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn cho trồng rừng, chăm sóc năm 1, năm 2 của diện tích rừng phòng hộ.
Một vấn đề nữa là nếu chúng ta nhìn tổng thể thì kế hoạch trồng rừng năm 2012 sẽ đạt kế hoạch nhưng tính từng địa phương, từng ngành kinh tế thì cũng sẽ có nơi không hoàn thành kế hoạch. Lý do rất đơn giản là đất để trồng rừng ở vùng thấp đã cơ bản được phủ kín, muốn có đất trồng mới thì chủ yếu dựa vào khai thác mà muốn khai thác được lại hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường, nếu giá nguyên liệu người dân sẽ không khai thác vội mà còn chờ thời.
Thiết nghĩ, tỉnh và ngành nông nghiệp cần rà soát, đánh giá cụ thể hiện trạng đất đai, rừng để ra kế hoạch cho trồng rừng năm 2013 phù hợp. Song song với đó cũng cần có những cơ chế, chính sách hỗ trợ cũng như chính sách thu hút đầu tư “đặc thù” cho ngành chế biến lâm sản, nhất là chế biến sâu để nâng cao giá trị gỗ rừng trồng. (Báo Yên Bái 26/10)đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Lâm nghiệp Quảng Trị cho biết, mùa trồng rừng năm 2012 dự kiến toàn tỉnh sẽ trồng mới 5.000 ha rừng, trong đó có 2.360 ha rừng (510 ha rừng phòng hộ, 1.850 ha rừng sản xuất) trồng theo chương trình bảo vệ phát triển rừng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước; 1.500 ha rừng sản xuất từ nguồn vốn của các công ty lâm nghiệp và 1.140 ha rừng sản xuất bằng nguồn vốn tự có của các hộ gia đình.
Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2012, toàn tỉnh có 13 ban quản lý dự án cơ sở, gồm 5 đơn vị tham gia trồng rừng phòng hộ và 7 đơn vị tham gia trồng rừng sản xuất. Trên cơ sở kế hoạch được giao, thời gian qua các đơn vị tham gia trồng rừng đã chủ động gieo tạo cây giống và hợp đồng cung cấp cây con đối với các vườn ươm đủ điều kiện trên địa bàn.
Qua kiểm tra và thống kê của Chi cục Lâm nghiệp, hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 21 vườn ươm đã gieo tạo khoảng 15 triệu cây giống các loại như: keo lá tràm, keo tai tượng, keo lai giâm hom và các loại cây bản địa như sao đen, nhội… trong đó cây đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng để xuất vườn ước đạt trên 6 triệu cây. Dự kiến, thời gian trồng rừng bắt đầu từ tháng 11/2012 - 1/2013. (Báo Quảng Trị 26/10)đầu trang(
Theo Bộ NN-PTNT, 10 tháng qua trên cả nước đã có 2.088 ha rừng bị cháy và 1.095 ha rừng bị chặt phá trái phép. (Thanh Niên 28/10)đầu trang(
Từ giữa tháng 10, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, chấp nhận “xẻo” 1.300ha rừng phòng hộ Sông Tranh để lấy đất cấp cho dân tái định cư Thủy điện Sông Tranh 2 sản xuất.
Theo ông Đoàn Tất Chẩn – Phó Giám đốc phụ trách Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh, toàn bộ 7 khu tái định cư (TĐC) ở xã Trà Bui đều bố trí ở ven các khu rừng phòng hộ. Do thiếu đất sản xuất nên người dân ồ ạt đốt phát rừng phòng hộ để lấy đất sản xuất.
Sau 5 năm đưa dân vào TĐC, đã có trên 105 lượt hộ gia đình tham gia chặt phá rừng với khoảng 70ha rừng phòng hộ bị đốt phát để làm rẫy. Số cây, gỗ quý lâu năm bị đốn hạ rất nhiều, số gỗ lập biên bản, tạm giữ tại rừng đã lên đến 400m3. Phần lớn số hộ trên đều bị xử lý cảnh cáo, buộc trồng lại rừng, có hai trường hợp bị phạt tù, nhưng tình trạng phá rừng vẫn tái diễn.
“Việc đưa dân TĐC ra khỏi rừng phòng hộ thì chưa thấy chủ trương nên việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng để cấp cho dân TĐC làm đất sản xuất là giải pháp tình thế vì không còn cách nào khác” - lời ông Chẩn nói. Sau khi cơ quan chức năng địa phương khảo sát thực tế, xác định trạng thái rừng và kiến nghị thì UBND tỉnh đã thống nhất chủ trương cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng rừng phòng hộ thành đất sản xuất bố trí cho dân (Công văn số 4112/UBND-KTN).
Khoảng 1.300ha rừng phòng hộ Sông Tranh (thuộc thôn 4 cũ của xã Trà Bui) biến thành đất sản xuất để cấp cho 410 hộ dân (chủ yếu là người Ca Dong, Mơ Nông) tại các khu TĐC. Mỗi hộ được cấp từ 2 - 3ha, số diện tích còn lại sẽ để dự phòng phát sinh.
Theo ông Phạm Minh Tài – Phó phòng TNMT huyện Bắc Trà My, mặc dù lãnh đạo và người dân TĐC xã Trà Bui kêu ca gay gắt về thiếu đất sản xuất, kiến nghị phải gấp rút cấp cho dân, nhưng thực tế đa số người dân TĐC đều có đất rẫy do họ tự phát vào các khu rừng xung quanh nơi ở TĐC. Việc đo đạc cấp đất chủ yếu là hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích đã có của người dân. Thậm chí nhiều người không mấy mặn mà trong việc hợp tác để đo đạc cấp đất.
“Đất của nhà tui tự phát khoảng 6 ang giống (tương đương 1ha), đã trỉa lúa được ba mùa rồi. Tui làm thêm mùa nữa thì phải đi phát rẫy mới, để cho đất nghỉ chứ làm hoài, lúa, bắp xấu lắm. Cấp bìa đỏ cũng được, không cấp cũng được” - ông Hồ Văn Xo, một người dân TĐC tại thôn 2 xã Trà Bui nói.
Trong khi đó, theo Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh, mặc dù phải hy sinh diện tích khá lớn rừng để cấp đất sản xuất cho dân nhưng nguy cơ xâm hại, phát rừng già phòng hộ sẽ vẫn tiếp diễn. (Dân Trí 27/10)đầu trang(
Nhà tui cũng nghèo, nhưng không nghèo bằng người khác. Ai đến đây ở với tui hễ đói thì cho ăn, khát tui cho uống, tui không bao giờ ăn một mình đâu.
"Nhà tui cũng nghèo, nhưng không nghèo bằng người khác. Ai đến đây ở với tui hễ đói thì cho ăn, khát tui cho uống, tui không bao giờ ăn một mình đâu", ông Nguyễn Lán - Cựu chiến binh ở thôn Hội Thành II (xã Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã mở đầu câu chuyện với tôi như thế. Năm nay đã 83 tuổi, ông Lán đã hơn nửa đời người tình nguyện bám biển, trồng cây gây rừng, làm chỗ dựa cho người đi biển ở cửa biển Xuân Hội.
Về thôn Hội Thành II, đi dọc theo con đường đê biển xã Xuân Hội là cả một rừng phi lao và những dãy tre ở dưới đê xanh mướt. Hỏi ra thì mới biết rằng tất cả những dãy tre, phi lao bên bờ biển ấy là đều do một tay ông Nguyễn Lán trồng nên.
Nằm sâu trong vườn tre, tiếp chúng tôi trong căn nhà tranh đơn sơ, ông tỏ ra niềm nở và nói chuyện rất nhiệt tình. Ông Nguyễn Lán sinh năm 1929 tại xã Xuân Hội. Gia đình ông Lán có tới 11 người con, ông còn nhận thêm một người con nuôi nữa là 12 người. Sau quãng thời gian tham gia quân ngũ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông trở về quê hương. Năm 1986, ông cùng vợ tình nguyện ra cửa biển Xuân Hội dựng nhà, trồng cây chắn sóng, sống cuộc đời bám biển.
Đã ở tuổi ngoại bát tuần, nhưng trông ông Lán vẫn khỏe mạnh. Ông kể rằng, khi ông ra đây với ý định là xin trồng cây để bảo vệ biển, người dân và chính quyền không ai tin. Họ nghĩ rằng ông nói đùa. Sau khi ông làm đơn lên chính quyền xã Xuân Hội xin được phép canh giữ đê biển thì mọi người mới biết được tấm lòng của ông. Ông cho chúng tôi xem rất nhiều giấy tờ liên quan, nào là đơn xin canh giữ đê biển, rồi lệnh canh giữ đê biển... Ông cười và nói: "Lúc cầm những tờ giấy này thì sướng lắm, cảm giác như tâm nguyện của mình đã được mọi người ủng hộ".
Đang trò chuyện, ông chỉ tay ra vườn tre, dãy phi lao xanh mướt và nói: "Xung quanh đây tất cả cây cối đều do tui trồng hết đó". Với ông thì trồng tre và phi lao là để giữ đất, làm cho đất không sạt lở, vừa bảo vệ được bờ biển, vừa có thể giúp người dân trong làng không bị lũ lụt thiên tai đe dọa. Nhờ vào vườn tre xanh tốt ấy, cứ đến ngày đông hay những lúc mưa gió, bão lũ là ông lại chặt tre, rồi đi mua thêm cây về rào để chắn sóng. Dù ông trồng rất nhiều cây rồi, nhưng khi trò chuyện ông cứ luôn miệng tiếc rẻ: "Tui mà còn trẻ, tui trồng hết đất ở đây luôn, giờ thấy lãng phí đất nhiều quá".
Tuy nhiên, trong suốt mấy chục năm bám biển, cũng đã có lần ông gặp phải những sự cố và tai nạn hy hữu. Nói rồi ông kể lại một câu chuyện cách đây mấy năm trước. Khi đó, có một nhóm thanh niên đi chặt trộm phi lao. Biết chuyện, ông Lán đã ra khuyên ngăn họ: "Các anh đừng chặt cây giờ này, bây giờ đang là buổi tối. Người ta nói các anh ăn trộm. Cứ để tới buổi sáng, tui sẽ cho các anh mỗi người hai cây mà đem về. Bây giờ tui không cho các anh được, vì lỡ nếu tui cho rồi, các anh lại đi chặt của người khác nữa, rồi tui lại là người mang tiếng tiếp tay cho kẻ trộm...". Vậy nhưng nhóm thanh niên đó không hiểu chuyện và cho rằng ông đã cản trở họ, thế là họ đã đánh ông gãy răng, rồi ngón tay trỏ của ông đã bị con dao của họ xẻ dọc, bể đôi khiến sau đó ông phải tháo khớp. Sau lần đó, sức khỏe của ông cũng bị ảnh hưởng, làm việc khó khăn hơn.
Vào những năm trước, người đi biển còn nhiều, ông dựng một giàn giáo cao ngay cạnh đê biển. Cứ mỗi tối, ông cầm ngọn đèn măng-sông đứng trên giàn soi đường cho người đi biển cập thuyền vào bờ. Ngọn đèn của ông Lán đã chiếu sáng và cưu mang cho không ít người dân đi biển nơi đây.
Là một cựu chiến binh, ông luôn tâm niệm những điều Bác Hồ răn dạy các chiến sĩ: Đó là phải hết mình vì nhân dân phục vụ. Vậy nên căn nhà nhỏ của ông là nơi nương tựa cho rất nhiều ngư dân đi biển. Có thời điểm, ông đã nuôi gần 50 người. Ông bảo rằng người đi biển ở đây có nhiều số phận bất hạnh lắm, đa số toàn phụ nữ góa chồng, rồi đàn ông bị vợ và con cái bỏ rơi phải lênh đênh trên biển để mưu sinh. Ông thương họ lắm: "Mặc dù tui cũng nghèo, nhưng đối với họ thì đói tui cho ăn, khát tui cho uống, không bao giờ tui ăn một mình đâu".
Hồi đó, với những đồng tiền ít ỏi của hợp tác xã hỗ trợ, ông bỏ ra mua thuyền, lưới, vó... để ngư dân trong nhà đi đánh cá. Mọi người đi đánh cá ban ngày, ban đêm về ngủ, sinh hoạt ở nhà ông. Ông không hề lấy tiền công của họ dù chỉ một đồng. Tiền đánh cá họ làm được, ông bảo họ cứ dành dụm đó để dành sau này lỡ có xảy ra mệnh hệ gì thì còn có mà phòng thân. Ở với ông có gì ăn nấy, cảm thấy vui là được. Phương châm của ông Lán là "lấy ngắn nuôi dài". Ông trồng cây tre thỉnh thoảng lấy măng, rồi nuôi gà, đi đánh cá... thế là đủ lo cho cuộc sống của hai ông bà và giúp đỡ những ngư dân. Những người ở đây, có người ở một vài tháng, thế nhưng cũng có người ở nhà ông tới tận 4-5 năm.
Không chỉ là chỗ dựa, ông Lán còn là vị cứu tinh, vị ân nhân của người dân ở khắp huyện Nghi Xuân. Hễ những lúc biển động, sóng to gió lớn, ông Lán là người đầu tiên ra biển quan sát xem có ai gặp nạn không, rồi ông lấy thuyền, lấy phao đi ra biển để cứu họ. Có lần, ông cứu được 37 người thoát chết trong một lần biển động. Ngoài ra, hễ bất cứ nơi đâu nghe tin có người bị ngã sông, ao hồ là ông lại có mặt để giúp đỡ. Ông nói: "Không ai cứu thì tui cứu!".
Có một kỉ niệm khi đi cứu người mà ông nhớ mãi. Đó là lần cứu cô Tươi (ở Xuân Liên, Nghi Xuân). Ông nhớ lại: "Khi thấy cô Tươi bị sóng xô, tui ngay lập tức nhảy xuống để cứu. Lúc đó cô nắm người tui: Nhờ bác cứu cháu với. Tui bảo: O (cô) nắm rứa thì tui cứu mần răng, tui chết thì O cũng chết thôi. Thế là tui xô người cô Tươi ra, rồi lặn xuống đẩy cô Tươi lên bờ". Lần đó ông cũng suýt chết bởi vì đã uống khá nhiều nước. Bây giờ hễ ai đi ngang đó mà có cảm giác sợ sệt thì ông đều ra nói to rằng "Có ông Lán đây rồi" để cho họ đỡ sợ.
Ở trong làng, trong xã, ông Lán luôn giúp đỡ những gia đình nghèo khổ bất hạnh. Có gia đình cô Phúc ở Xuân Trường, ông thấy gia đình nghèo quá, không có nhà ở, thế là ông chặt tre giúp cô làm nhà. Nhiều người thấy ông làm thế liền bảo: "Sao ông không làm nhà cho ông?". Ông liền đáp lại rằng: "Nhà tui tuy thế nhưng vẫn còn ở được. Tui mà làm nhà cho tui thì nhiều người lại không có nhà mà ở".
Đã từng trải qua thời quân ngũ và là một người cống hiến nhiều cho xã hội, nhưng ông Lán không đòi hỏi cho mình bất cứ chế độ gì. Ông bảo ngày xưa bị lũ lụt cuốn trôi hết giấy tờ nên không làm được thủ tục hưởng chế độ. Nói rồi ông cắt ngang: "Mình sống lâu thế này là may rồi, mình không đòi hỏi. Mình nghèo, nhưng nhiều người nghèo hơn mình gấp trăm lần".
Với tuổi đời đã khá già, nhưng nhìn vào ánh mắt của ông thì vẫn còn khao khát lắm. Tâm nguyện lớn nhất của ông bây giờ là mong mình còn sức khỏe để có thể tiếp tục công việc của một người canh giữ đê biển, góp phần hỗ trợ nhân dân, xây dựng đất nước. Khi chia tay, ông không quên trao cho chúng tôi cái ôm nồng ấm. Chúng tôi cảm nhận được rằng, giữa những làn gió biển, sóng ào ào xô. Giữa những vườn tre, vườn phi lao xanh mướt là một tấm lòng đầy trách nhiệm, nhân hậu, nhiệt huyết bên biển khơi. (Gia đình&Xã hội 27/10)đầu trang(
Mặc dù gia đình nghèo, luôn gặp khó khăn về kinh tế, nhiều khi không đủ cơm ăn nhưng bà Khiêm vẫn đinh ninh lời cha dặn năm nào, không mua, không bán. Với bà, đàn cò là nguồn vui, là động lực để bà vươn lên.
“Người đàn bà cò” là cách gọi trìu mến của người dân quanh vùng dành cho bà Vũ Thị Khiêm - trú tại thôn Dừa Lễ, xã Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Với 70 năm tuổi đời, nhưng bà đã có hơn 50 năm chăm sóc không biết bao nhiêu cánh cò lớn lên, bay đi dưới sự che chở của người phụ nữ này.
Có lẽ ngôi nhà của bà ở vào vị trí heo hút nhất làng. Từ bờ đê sông Lô đi theo con đường đất thịt nhỏ ước dài hơn 1km mới tới, ngôi nhà nằm dưới một khu rừng um tùm. Đứng trước mặt chúng tôi là người phụ nữ có thân hình hao gầy cùng mái tóc pha sương. Có lẽ, những vất vả mưu sinh trong cuộc sống khiến dáng bà khẳng khiu như một dáng cò.
Bà vốn quê gốc ở tỉnh Quảng Ninh, năm 1949 chiến tranh loạn lạc, bố mẹ bà đưa cả gia đình tản cư lên tỉnh Vĩnh Phúc. Thủa ấy, nơi đây là một miền đất hoang vu bốn bề cây cối rậm rạp chằng chịt, chưa có bàn chân con người tới sinh sống. Năm đó, bà 8 tuổi, đã theo chân bố, mẹ, anh trai vào rừng phát cây, làm nhà. Những năm 1962-1963, đàn cò xuất hiện tại khu vườn nhà, lúc đầu chỉ lác đác rồi sau càng ngày càng nhiều, có đến hàng vạn con.
Sau này, trước khi bố mẹ của bà mất, các cụ còn gọi con cháu dặn dò: "Dù sau này có đói nghèo đến đâu cũng đừng giết hại đàn cò, phải luôn coi chúng là bạn, đất nhà ta có lành chúng mới kéo nhau về đậu". Bà khắc cốt, ghi tâm những lời nói ấy cho đến tận bây giờ.
Năm 16 tuổi, bà lấy chồng. 10 năm sau, người chồng hy sinh trong một trận đánh ác liệt ở chiến trường miền Nam, để lại cho bà hai người con. Nhưng năm 1998, người con trai duy nhất đã ra đi trong một tai nạn giao thông. Cô con gái đi làm ăn xa sau khi dứt tình duyên với chồng, không tin tức, không thư từ. Tất cả tài sản của bà hiện giờ là 5 đứa cháu, 3 gái, 2 trai và vườn cò làm bạn.
Mặc dù gia đình nghèo, luôn gặp khó khăn về kinh tế, nhiều khi không đủ cơm ăn nhưng bà Khiêm vẫn đinh ninh lời cha dặn năm nào, không mua, không bán. Với bà, đàn cò là nguồn vui, là động lực để bà vươn lên. Sức người có hạn, cũng may thay ông trời không bắt bà phải ốm, phải đau là mấy. Bà cháu với mấy sào ruộng trồng lúa, trồng màu cộng thêm chút ít tiền trợ cấp liệt sĩ của chồng bà, cứ rau cháo như thế mà nuôi nhau.
Câu chuyện đang dang dở, bà lại phải đảo một vòng quanh vườn kiểm tra xem có kẻ xấu nào vào bắt trộm không, "Mệt lắm vì tôi giờ cũng đã già rồi, không còn sức như trước nữa chú à. Nhưng hàng ngày, dù đi làm ngoài đồng gần hay chợ xa, thấy đàn cò xao xác là tôi lại tức tốc quay về…”.
Lập lời thề giữ vườn cò, năm nào cũng vậy, mùa cò về sinh sản cũng là lúc bà cháu mong mỏi nhất và... lo sợ nhất. Khoảng vào tầm tháng 3 âm lịch hằng năm, cò về làm tổ, sinh sản, kêu ríu rít. Tháng 8, khi cò con lớn, chúng lại lục đục kéo nhau bay đi đâu không ai biết; đầu mùa thu, đàn cò, đàn diệc trên phương Bắc lại về khu vườn trú rét.
Nhiều khi giữa đêm, bà Khiêm vẫn lần mò vào vườn để bắt tận tay những kẻ phá hoại. Đã nhiều lần bà bị những tên ăn trộm chửi mắng, đánh trả. Có hôm, nghe tiếng cò kêu biết có động, bà gọi con rể lên trước, mình theo sau. Đến nơi thì chúng đã bắn được hai bao tải cò, anh con rể đang bị 3, 4 tên trộm quây lại đánh. Bà trợn mắt, tay nắm chặt, nói rít lên: “Chúng mày giết bấy nhiêu con cò thì hàng trăm con cò con ai kiếm mồi cho chúng nó ăn... Rồi chúng nó cũng phải chết theo bố, mẹ nó thôi”. Bọn trộm cò cúi đầu như những tên tội phạm vừa bị tòa tuyên án…
Cũng có lần bị bắt tại trận, tên trộm tức tối chĩa súng vào đầu bà đe dọa, vậy mà bà không hề sợ, sau đó vạch mặt, tố cáo chúng với lãnh đạo thôn, lãnh đạo xã.
Một đợt, có người đem đến mấy cọc tiền và giấy hợp đồng để "đặt hàng" bà cung cấp cho họ mỗi tháng một lượng cò con để họ bán cho khách nhậu. Bà đuổi thẳng, với bà, dù có phải ra đường làm ăn mày cũng quyết không làm cái việc thất đức ấy.
Bà Khiêm coi cò là bạn, là con và không tiếc công sức để bảo vệ. Niềm vui của bà là nhìn thấy đàn cò ríu rít, bay lượn. Hình như, bà có một linh cảm đặc biệt đối với loài cò, biết được tiếng kêu nào của cò là đòi ăn, đòi ngủ, tiếng kêu nào là có người lạ lùng tìm, tiếng kêu nào là đến mùa sinh nở… Cò kéo về càng nhiều, bà Khiêm càng vất vả hơn trong việc trông nom, đảm bảo an toàn cho chúng.
Cả đời, bà chả bao giờ nhìn thấy tiền triệu, chứ nói gì đến tiền tỷ. Thế nhưng, bất kỳ giá nào bà cũng không bán vườn cò, cho dù số tiền đó có thể giúp bà sống sung túc trong quãng đời còn lại. Vào tháng 6, 3 năm trước, có một chiếc ô tô đỗ xịch trước cửa, bước ra là một người đàn ông ăn mặc sang trọng. Ông ta nghe tiếng đã tìm đến tận nơi chiêm ngưỡng đồi cò. Sau buổi lang thang, ông quay lại gạ gẫm bà đổi khu vườn cò lấy một mảnh đất và biệt thự đắt tiền ở Hà Nội. Không nhận được sự đồng ý, một thời gian sau ông quay lại đưa ra cái giá 10 tỷ đồng. Nhưng quyết định của bà vẫn là từ chối số tiền lớn đó.
Lại có một gia đình ở tỉnh Hà Tây ( cũ) đến xin mua lại toàn bộ khu rừng của bà với giá 20 tỷ đồng, song bà nhất quyết không bán. Bà tâm niệm, đời mình sống còn được mấy cái Tết nữa, nếu có bán đi, tiền ăn cũng hết, rừng thì người ta phá, không biết rồi đàn cò đi đâu, về đâu…
Bà nói với chúng tôi: “Bao nhiêu tiền tôi cũng không bán”. Có lẽ, cả một đời với lời thề giữ vườn cò, đến nay bà cũng đã già, không còn đủ sức lực và thời gian để chăm sóc chúng nữa.
Khi tôi hỏi về mong ước của bà, bà như chực khóc: “Tôi chỉ mong sao trời cho sức khỏe để nuôi nấng các cháu nên người và bảo vệ vườn cò. Đời tôi như thân cò thân vạc, sống được ngày nào thì hay ngày đấy. Tôi mất đi, 5 đứa cháu bơ vơ, người ta phá vườn cò thì những cánh cò biết bay về đâu?”.
Năm 2002, bà đã được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tặng bằng khen vì có thành tích đóng góp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và đạt Giải thưởng "Môi trường". Hiện nay, mỗi tháng Cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc hỗ trợ bà 2 triệu đồng để bảo vệ đồi cò.
“Đến nay đã xác định có 40 loài chim hiện diện tại vườn chim thuộc 21 họ và 6 bộ. Trong số đó, có 29 loài định cư, 4 loài di cư và 7 loài vừa di cư, vừa định cư. Bộ Sẻ Passeriformes là bộ đa dạng nhất với 11 họ, 24 loài. Họ Diệc Ardeidae và họ Quạ Corvidae đa dạng nhất về loài với 5 loài với những loài rất quý hiếm như Cổ rắn Anhinga melanogaster và loài bồ câu nâu Columba punicea. Xung quanh vườn chim là cánh đồng ngập nước mênh mông. Gần đó là hồ Khuân với diện tích 40 ha có thả cá do xã quản lí.
Cách vườn chim khoảng 2km là dòng sông Lô. Đây chính là nơi cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho các loài chim nước, là yếu tố góp phần vào sự tồn tại và phát triển của vườn chim”.
(Trích khóa luận Tốt nghiệp "Nghiên cứu thành phần loài chim và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cốc đen Phalacrocorax niger Vieillot, 1917 ở vườn chim Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc" của Quan Thị Dung, K54B khoa Sinh, ĐHSPHN. Khóa luận đã được đánh giá xuất sắc và đạt điểm 10 của Hội đồng phản biện). (Pháp Luật&Xã Hội 26/10)đầu trang(
Một vụ lâm tặc bao vây chốt trực, hành hung lực lượng kiểm lâm Vườn Quốc gia Yók Đôn vừa xảy ra chiều 28.10.
Thông tin ban đầu cho biết, khoảng 14 giờ chiều 28/10, 3 kiểm lâm viên Vườn Quốc gia Yók Đôn là Lưu Hải Bắc, Trần Trọng Lượng và Y Khương đang trực tại chốt đường sông Sêrêpốk thuộc địa bàn buôn Trí A, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (thường gọi là chốt Đ19) thì bị 5 thanh niên ập vào hành hung.
Anh Trần Trọng Lượng và anh Y Khương nhanh chân chạy thoát ra ngoài nên chỉ bị thương nhẹ. Riêng anh Lưu Hải Bắc bị một đối tượng cầm chai rượu Vodka đánh vỡ đầu, mất nhiều máu, bị choáng ngất tại chỗ. Khi lực lượng chức năng có mặt, các đối tượng nói trên đã tẩu thoát. Anh Bắc được đi cấp cứu tại BVĐK huyện Buôn Đôn và đang được bệnh viện này theo dõi, nếu diễn biến xấu hơn sẽ chuyển lên tuyến trên điều trị.
Được biết, 3 kiểm lâm viên Vườn Quốc gia Yók Đôn nói trên bị vây đánh trong khi tham gia vào đoàn liên ngành thực hiện Chỉ thị 12 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 08 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng - đoàn này do UBND huyện Buôn Đôn tổ chức. Bước đầu cơ quan chức năng xác định 5 đối tượng vây đánh kiểm lâm tại chốt Đ19 trú tại thôn Yang Lành, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn và vừa dự xong một đám cưới ở gần đó. Theo lãnh ạo Vườn Quốc gia Yók Đôn, có thể trước đó các đối tượng này đã bị kiểm lâm bắt gỗ nên chúng tổ chức đánh trả thù.
Trong vài tháng trở lại đây, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc liên tiếp xảy ra tình trạng lâm tặc chống người thi hành công vụ. Điển hình là các vụ việc xảy ra tại Ban Quản lý Rừng đặc dụng Nam Ka (huyện Lắc). Ngày 26.8, trong khi áp giải 2 xe máy cày kéo rơ moóc chở lâm sản trái phép về Trạm Bảo vệ rừng số 2 để xử lý, lực lượng bảo vệ rừng đã bị lâm tặc cố tình làm lật xe, đổ tang vật. Sau đó có hàng chục đối tượng từ tỉnh Đắc Nông vượt sông Krông Nô sang giải cứu đồng bọn, Ban Quản lý Rừng đặc dụng Nam Ka và Công an xã Nam Ka đành bất lực do lực lượng mỏng hơn lâm tặc.
Trước đó khoảng 1 tháng, chính nhóm đối tượng này đã dùng mã tấu tấn công một trạm bảo vệ rừng của Ban Quản lý Rừng đặc dụng Nam Ka để cướp lại gỗ tang vật. Ông Lộc Xuân Nghĩa - Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin - cũng cho biết: “Từ đầu năm đến nay đã có 4 vụ lâm tặc tấn công kiểm lâm tại Trạm Kiểm lâm số 4 và Trạm Kiểm lâm số 5. Một số kiểm lâm viên đã bị đánh trọng thương, trong đó một kiểm lâm viên phải khâu 5 mũi trên đỉnh đầu”
Ngay sau khi 3 kiểm lâm viên Vườn Quốc gia Yók Đôn bị hành hung, các cơ quan chức năng huyện Buôn Đôn đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, thu thập lời khai của những người có liên quan để điều tra, làm rõ. (Lao Động 28/10)đầu trang(
27.10, Công an H.Vĩnh Cửu (Đồng Nai) đã tạm giữ 12 người, đồng thời triệu tập một số nghi can để điều tra hành vi chống người thi hành công vụ.
Theo điều tra ban đầu, ngày 22.10, Đội tuần tra Cơ động của Trạm kiểm lâm Suối Ràng (xã Phú Lý, H.Vĩnh Cửu) phát hiện một nhóm người tại xã Phú Lý đang trên đường đi tiêu thụ ba con dúi nên lập biên bản tạm giữ.
Tối ngày 26.10, nhóm người này đã nhờ 5 người gồm Nguyễn Đức An (22 tuổi), Bùi Văn Lương (24 tuổi), Lê Xuân Hào (21 tuổi), Huỳnh Văn Tươi (25 tuổi), Trần Hữu Tuấn (23 tuổi) cùng ngụ xã Phú Lý, núp cách Trạm kiểm lâm Suối Ràng khoảng 200 m để tấn công kiểm lâm.
Khi phát hiện anh Phạm Văn Nông, Trưởng trạm Kiểm lâm Suối Ràng, vừa đi từ trạm về nhà, nhóm của An đã xông ra đánh anh Nông trọng thương, khiến anh phải nhập viện. Tiếp đó, anh Nguyễn Tiến Tới, Trạm phó trạm Kiểm lâm Suối Ràng, đi đến trạm để nhận ca cũng bị nhóm của An tiếp tục tấn công, làm anh bị thương nặng. Lúc này, Trạm Kiểm lâm Suối Ràng điện báo Công an xã Phú Lý đến hỗ trợ để bắt giữ nhóm thanh niên.
Trong quá trình điều tra, công an đã tạm giữ một nghi can là Nguyễn Đức Bình (ngụ ấp 2, xã Phú Lý), và đưa vào Trạm kiểm lâm Suối Ràng để làm việc.
Lập tức hàng chục người dân đã tụ tập tại Trạm Suối Ràng, gây mất trật tự. Trong đó, có một số người cho rằng công an bắt nhầm người nên đã xông vào đánh anh Trần Ngọc Vinh (công an viên xã Phú Lý). Lúc này, Công an H. Vĩnh Cửu liền đưa Bình lên xe để đưa về Công an xã Phú Lý làm việc, nhưng nhiều thanh niên đã chặn xe công an, dùng sắt cạy cửa xe để giải thoát cho Bình.
Hiện Công an tỉnh Đồng Nai đang tiếp tục điều tra vụ việc. (Thanh Niên 27/10)đầu trang(
Sau ba ngày vào rừng kiểm tra, lực lượng liên ngành của huyện Cam Lâm đã buộc tất cả những người đi đào bới tìm kiếm trầm và kỳ nam rời khỏi Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, ông Lê Phương, Phó Hạt trưởng phụ trách Hạt kiểm lâm Hòn Bà (Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà), cho biết chiều 26-10.
Như Tiền Phong đã phản ánh, cách đây khoảng mươi ngày, hàng trăm người dân từ nhiều nơi trong tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, Quảng Nam kéo vào rừng Hòn Bà (xã Suối Cát, Cam Lâm) đào bới tìm trầm và kỳ nam.
UBND huyện Cam Lâm đã tổ chức lực lượng liên ngành, lập 4 chốt chặn và tìm kiếm, yêu cầu những người tìm trầm ra khỏi rừng. (Tiền Phong 27/10)đầu trang(
UBND xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, ngày 26/10 cho biết, UBND xã này vừa có tờ trình gửi UBND tỉnh về việc thu hồi hơn 3 ngàn ha diện tích đất trồng rừng của các đơn vị quản lý trên địa bàn xã, giao cho nhân dân sản xuất.
Theo đó, ngày 29/8/2011, theo nguyện vọng của người dân, UBND xã Trường Sơn đã có tờ trình số 26/TTr-UBND trình UBND tỉnh, UBND huyện Quảng Ninh, các sở ngành có liên quan. Ngay sau đó, UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các ban ngành liên quan vào cuộc. Đến ngày 7/2/2012, UBND huyện Quảng Ninh đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo, tổ giúp việc kiểm tra phối hợp với Trung tâm Quy hoạch địa chính tỉnh rà soát trạng thái đất, rừng tại xã Trường Sơn.
Sau 3 đợt, các thành phần tham gia rà soát đã thống nhất chốt số liệu và đề nghị thu hồi hơn 3.100 ha diện tích đất rừng do các đơn vị quản lý (Lâm trường Trường Sơn, Lâm trường Khe Giữa và Ban Quản lý rừng hộ Long Đại) để giao cho UBND xã Trường Sơn chia cho người dân sản xuất.
Liên quan đến vấn đề người dân thiếu đất rừng sản xuất, ngày 25/10, Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh (RDPR) đã phối hợp với UBND xã Trường Sơn tổ chức “Hội thảo phổ biến thực trạng đất rừng và phương án giao đất giao rừng”. Hội thảo có sự tham gia của ông Phạm Mậu Tài, Giám đốc RDPR, lãnh đạo UBND xã và tất cả các Trưởng bản, Bí thư chi bộ xã Trường Sơn.
Tại Hội thảo, các đại biểu đến từ các bản đều đưa ra quan điểm chung là việc bà con thiếu đất sản xuất đang là vấn đề nhức nhối, cấp bách. Việc thiếu đất sản xuất, đặc biệt là diện tích đất trồng rừng đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của bà con nhân dân.
Nhiều đại biểu cho rằng, các lâm trường trồng rừng đóng trên địa bàn xã Trường Sơn đã lấn chiếm một số diện tích rất lớn của bà con, và họ mong rằng các cơ quan chức năng liên quan cần sớm thu hồi số diện tích này để giao lại cho bà con trồng rừng kinh tế nhằm sớm ổn định cuộc sống.
“UBND xã Trường Sơn cần phải kiểm tra số diện tích mà các đơn vị quản lý đã lấn chiếm đất rừng của bà con. Nếu số diện tích rừng trồng bị lấn chiếm đã đến tuổi khai thác thì xã cần phải đưa ra các biện pháp cụ thể, nhằm đốc thúc các lâm trường này khẩn trương khai thác và sớm giao lại cho bà con”, một đại biểu ở thôn Long Sơn thẳng thắn đưa ra quan điểm.
Còn bà Hồ Thị Con cũng đưa ra dẫn chứng cụ thể trong việc thoát khỏi đói nghèo bằng việc phát triển trồng rừng: “Hiện nay các bản làng trên địa bàn xã trồng lúa, khoai, sắn… đều kém phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế thấp. Tôi thấy chỉ có trồng keo là hiệu quả nhất. Cụ thể, ở bản Bến Đường có hộ trồng được 1.000 cây keo, đến kỳ thu hoạch bán được 34 triệu đồng, có nơi trồng 2.000 cây bán được 20 triệu,... Như vây, nếu cấp trên giao đất cho người dân trồng keo thì đời sống của bà con sẽ sớm được cải thiện đáng kể và từng bước thoát khỏi đói nghèo”.
Trao đổi với Dân trí, ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Sơn cho biết, Trường Sơn là một xã miền núi đặc biệt khó khăn, xã có 970 hộ dân với hơn 4 ngàn nhân khẩu, trong đó người dân tộc Vân Kiều chiếm hơn 60%, tỷ lệ hộ nghèo của xã là 52%. Hiện nay toàn xã có 159 hộ dân chưa được giao đất rừng và đất sản xuất.
Từ việc thiếu đất sản xuất nên đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì thế chúng tôi kiến nghị với chính phủ, các cấp ban ngành cần sớm bổ sung, điều chỉnh các chính sách giao đất lâm nghiệp, đât sản xuất cho người dân trồng rừng kinh tế, từng bước sớm ổn định kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng biên dưới; đồng thời chính phủ cũng cần có những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho đồng bào dân tộc trong việc trồng rừng sản xuất để nâng cao thu nhập, đảm bảo các vấn đề về an sinh xã hội ngày càng phát triển. (Dân Trí 27/10)đầu trang(
Theo Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV), mới đây Công an Hà Nội đã bắt giữ ba đối tượng vận chuyển động vật hoang dã từ khu vực rừng Cúc Phương (địa bàn tỉnh Thanh Hóa) đến xã An Phú, Mỹ Đức, Hà Nội.
Tang vật thu giữ bao gồm xác ba cá thể báo lửa, nặng 41kg và hai cá thể mèo rừng, nặng 4kg. Theo thông tin từ lực lượng chức năng, các đối tượng đã sử dụng hung khí để tấn công, chống trả các trinh sát khi bị phát hiện, tuy nhiên nhóm đối tượng này đã nhanh chóng bị khống chế và bắt giữ. Vụ việc hiện đang được các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra.
Báo lửa (Catopuma temminckii) và mèo rừng (Prionailurus bengalensis) đều thuộc nhóm 1B của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, là nhóm các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại. (Hà Nội Mới 28/10)đầu trang(
Ngày 24/10, Công an thị xã Gia Nghĩa (tỉnh Đắk Nông) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam 8 đối tượng liên quan đến vụ phá trắng hơn 8,5ha rừng tại tiểu khu 1705 do Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín quản lý.
Như Báo Công An Nhân Dân có bài phản ánh việc Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (trực thuộc Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa) được tỉnh Đắk Nông giao quản lý 5.035ha, trong đó 4.486ha đất có rừng nhưng đơn vị đã buông lỏng công tác quản lý, bảo vệ rừng để người dân ngang nhiên vào chặt phá, lấn chiếm trái phép. Đặc biệt, vào ngày 9/4, tại lô 7, khoảnh 5, tiểu khu 1750 do Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín quản lý đã để xảy ra một vụ phá rừng trái phép với diện tích 8,5ha, mức độ thiệt hại 100%.
Theo kết quả điều tra, số diện tích rừng bị phá trên do 8 đối tượng đều trú tại xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa tham gia. Trong đó, đối tượng Ngô Quý Phú (37 tuổi, nguyên Phó Bí thư Chi bộ thôn Tân Thịnh, xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa) cầm đầu.
Theo lời khai của Phú, trong ngày 9/4, Phú đã thuê 7 đối tượng (trú cùng xã) với giá từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng/người/lần tham gia dùng cưa lốc vào phá trắng 8,5ha rừng để lấy đất đem bán lại kiếm lời. Ngoài ra, để thực hiện hành vi trên, Phú còn thuê người bảo vệ, cảnh giới nghiêm ngặt từ vòng ngoài để đối phó với lực lượng chức năng.
Liên quan đến vụ án phá rừng nói trên, trước đó Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông đã ra hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với Giám đốc Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín và các cá nhân có liên quan do thiếu trách nhiệm, buông lỏng công tác quản lý, bảo vệ rừng để rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm với diện tích lớn, xảy ra trong nhiều năm mà không có hướng khắc phục. (Công An Nhân Dân 26/10)đầu trang(
Sau phản ánh của báo chí, trong đó có Báo CAND, UBND tỉnh Kiên Giang đã chỉ đạo UBND huyện cùng các ngành chức năng lập đoàn kiểm tra. Qua đó, UBND huyện vừa có báo cáo khẳng định chuyện phá rừng trên đảo là có. Trước đó, Thanh tra Chính phủ cũng có kết luận chỉ ra nhiều bất cập trong lĩnh vực quản lý rừng trên đảo.
Phú Quốc đẹp, đầy tiềm năng, nhất là tiềm năng du lịch. Đó là thực tế không ai phủ nhận. Theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020, hòn đảo xấp xỉ diện tích đảo quốc Singapore này sẽ trở thành Đặc khu hành chính kinh tế trực thuộc TW. Có điều, lá phổi xanh trên đảo này từng bị tàn phá bởi bàn tay của con người…
Tìm điều tra của PV Báo Công An Nhân Dân, hiện trên đảo Phú Quốc có nhiều dự án du lịch sinh thái (DLST) đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận đầu tư. Hầu hết các dự án DLST có diện tích rộng lớn, có một phần là đất rừng. Khi phê duyệt đề án quy hoạch chi tiết cho các nhà đầu tư, chính quyền tỉnh Kiên Giang luôn lưu ý đến nội dung bắt buộc phải bảo vệ và phát triển rừng. Thế nhưng, thực tế rừng tại các nơi dính vào dự án lại bị chặt phá bừa bãi, vượt ra khỏi sự kiểm soát của chủ đầu tư và chính quyền, ngành chức năng tại Phú Quốc.
Trên phần đất rộng khoảng 267ha tại xã Cửa Cạn mà cách nay hơn 4 năm, UBND tỉnh đã giao cho Công ty TNHH May thêu – Thương mại Lan Anh (TP HCM) để xây dựng khu DLST Vũng Bầu, tình trạng chặt đốn cây rừng đã diễn ra. Hai hộ Lê Văn Thu và Dương Thị Tuất dù đã được duyệt bồi thường (ông Thu trên 1 tỷ đồng, bà Tuất trên 2,8 tỷ đồng) nhưng đến cuối năm 2011, lại được “duyệt” cho khai thác 29 cây (trong đó có cầy, cám, kim, cang dầu, trâm,…) với tổng khối lượng gần 20m3 gỗ tròn (nhóm V-VII) để chuyển về thị trấn Dương Đông… cưa, xẻ.
Trong số 97 dự án mà Thanh tra Chính phủ đề nghị tỉnh Kiên Giang xem xét, nghị thu hồi (do không triển khai hoặc chậm triển khai, không phù hợp quy hoạch) thì có tới 8 dự án khu DLST có liên quan đến đất rừng, với diện tích 1.332ha, hầu hết đất thuộc Vườn quốc gia... Đó là dự án của các chủ đầu tư: Công ty CP Việt Ngọc (530ha tại Hàm Rồng, Rạch Tràm), Công ty CP Hải An Huy (165ha tại Cửa Cạn), hộ kinh doanh cá thể Thanh Nga (7,06ha), Công ty CP Địa ốc Thảo Điền (194,5ha ở Dương Tơ), Công ty TNHH Quốc Lâm (8,99ha), DNTN Đảo Xanh (400ha), Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Xạ Hương (20ha ở rạch Tràm, Bãi Thơm);…
Theo lãnh đạo UBND huyện Phú Quốc, từ năm 2009 đến nay, qua tuần tra, truy quét, các cơ quan chức năng đã lập biên bản 26 vụ vi phạm, với tổng diện tích trên 19ha, trong số này có 23 vụ nằm trong phạm vi rừng phòng hộ. Trong số 26 vụ vi phạm, Công an huyện đã khởi tố hình sự 3 vụ (vụ ông Bùi Văn Mãn và Bùi Đình Thỏa) nhưng có 1 vụ đối tượng bỏ trốn và cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã.
Đối với 4 vụ xử lý hành chính, có 2 vụ buộc khắc phục hậu quả nên không ban hành quyết định xử phạt, 1 vụ đương sự chưa chấp hành, vụ còn lại Hạt Kiểm lâm huyện đã báo cáo đến Chi cục Kiểm lâm, đề nghị UBND tỉnh xử lý. Đối với 14 vụ (7,52ha) vi phạm vắng chủ, lãnh đạo huyện cho biết Công an huyện đang củng cố hồ sơ 2 vụ để khởi tố hình sự; 12 vụ còn lại thì đang tiếp tục xác minh, truy tìm đối tượng vi phạm.
Lãnh đạo UBND huyện Phú Quốc cho biết, từ giữa năm 1998, khi UBND tỉnh có quyết định giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Phú Quốc để bảo vệ và phát triển rừng với diện tích 33.307,82ha, do đặc thù Phú Quốc có địa hình đồi núi phức tạp và đan xen với đất của hộ dân nên việc quản lý, bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn. Cùng với quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn, trong những năm qua, tình hình đất đai ở Phú Quốc luôn có sự biến động lớn, từng lúc, từng nơi ở các xã, thị trấn vẫn còn tình trạng bao chiếm, lấn chiếm đất rừng, phá rừng, khai thác gỗ trái phép,…
Việc báo chí thông tin trong thời gian qua là có. Số vụ vi phạm đất rừng đã được phát hiện kịp thời. Tuy nhiên, việc xử lý các vi phạm của cơ quan chức năng còn chậm, có vụ còn kéo dài gây dư luận không tốt trong nhân dân. (Công An Nhân Dân 26/10)đầu trang(
Theo thông tin từ Phòng Quản lý và bảo vệ tài nguyên vườn Quốc gia Tràm Chim, từ đầu năm đến nay đã phát hiện tổng số 64 vụ xâm phạm trái phép vườn Quốc gia Tràm Chim, xử lý 173 đối tượng đánh bắt thủy sản, lấy ong rừng, rau củ, chăn thả gia súc… Tang vật tịch thu gồm 53 xuyệt điện, 51 bình ắc quy, 5 chiếc xuồng, trên 400m lưới…
Ông Nguyễn Thanh Phong, Trưởng phòng Quản lý và Bảo vệ tài nguyên Vườn quốc gia cho biết: Các đối tượng vào khai thác trái phép phần lớn là người địa phương, họ thường sử dụng bộ xuyệt điện đánh bắt thủy sản theo kiểu tận diệt. Khi mới phát hiện, lực lượng chức năng tịch thu phương tiện và thuyết phục các đối tượng vi phạm quay ra, nhưng có nhiều trường hợp ngoan cố chống trả quyết liệt. Các đối tượng xâm nhập trái phép đã gây ra 5 vụ chống người thi hành công vụ, sử dụng xuyệt điện gây thương tích cho lực lượng bảo vệ, nhiều người phải nhập viện điều trị.
"Vườn Quốc gia Tràm Chim có tổng diện tích 7.313 héc ta được chia thành 5 phân khu, trong đó có 1 phân khu phục hồi sinh thái và 4 phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Trong khi đó, lực lượng bảo vệ chỉ trên 50 người, bố trí tại 18 trạm, mỗi trạm cách nhau 4 đến 5km nên khả năng kiểm soát còn hạn chế, nhất là về đêm”, ông Phong cho biết thêm. (Quân Đội Nhân Dân 27/10)đầu trang(
Toà án đã tuyên huỷ ba quyết định hành chính của UBND huyện Dăk Glong (Dăk Nông) và buộc lãnh đạo huyện phải bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp.
Lý do là trong quá trình bồi thường, giải toả, thu hồi đất, UBND huyện Dăk Glong đã ban hành các quyết định sai gây thiệt hại nặng nề cho doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp khởi kiện chủ tịch huyện ra toà.
Dự án phát triển cây công nghiệp và trồng rừng nguyên liệu của công ty TNHH Nam Thuận (gọi tắt là công ty Nam Thuận, trụ sở tại phường Tân Hoà, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dăk Lăk) được triển khai từ năm 1998, với diện tích trên 500ha nằm trên địa bàn xã Quảng Khê, huyện Dăk Nông, tỉnh Dăk Lăk (cũ) nay là huyện Dăk Glong, tỉnh Dăk Nông). Theo đó, công ty Nam Thuận được phép thực hiện dự án với phương thức thu hút vốn các thành phần kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho 200 hộ dân, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số nơi vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn.
Đến năm 2007, UBND tỉnh Dăk Nông thông báo thu hồi đất để làm khu tái định cư Dăk Plao thuộc dự án nhà máy thuỷ điện Đồng Nai 3 do ban Quản lý thuỷ điện 6 làm chủ đầu tư, trong đó có 214ha đất của công ty Nam Thuận.
Tại biên bản làm việc ngày 5.8.2008, ban Giải toả đền bù của huyện Dăk Glong, ban Quản lý thuỷ điện 6, xí nghiệp lâm nghiệp Quảng Khê đã thống nhất để lại cho công ty Nam Thuận 30,6ha để tái định cư cho công nhân. Tuy nhiên, sau đó UBND huyện Dăk Glong thu hồi tiếp 30,6ha đất này, gây thiệt hại lớn về kinh tế, đời sống người lao động.
Điều đáng nói là với diện tích 30,6ha bị thu hồi, UBND huyện Dăk Glong đã buông lỏng việc quản lý đất đai, để cho người dân đến dựng thêm nhiều nhà cửa trên vùng đất sản xuất càphê, cây rừng trồng của công ty Nam Thuận với mục đích nhận tiền đền bù của Nhà nước.
Chưa hết, trong tổng diện tích 214ha đất của công ty Nam Thuận bị thu hồi để xây dựng khu tái định cư nhà máy thuỷ điện Đồng Nai 3, ban Giải toả đền bù của huyện chỉ kiểm kê tài sản trên đất 81ha, 133ha không được kiểm kê đánh giá tài sản trên đất. Cụ thể, UBND huyện Dăk Glong chỉ đạo đơn vị thi công san ủi 133ha cây công nghiệp, cây rừng trồng, các công trình trên đất của doanh nghiệp mà không hề kiểm kê đánh giá tài sản trên đất. Bức xúc trước tình hình trên, công ty Nam Thuận liên tục yêu cầu ban Giải toả đền bù của huyện đình chỉ thi công để kiểm kê tài sản nhưng không được chấp nhận.
UBND tỉnh Dăk Nông cũng chỉ đạo UBND huyện phải làm đúng quy định về giải toả đền bù và phải kiểm kê tài sản, đánh giá chất lượng từng loại cây trồng, công trình đầu tư xây dựng trên đất nhằm bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp... Thế nhưng, UBND huyện Dăk Glong vẫn phớt lờ ý kiến chỉ đạo của cấp trên.
Từ năm 2009, công ty Nam Thuận đã khởi kiện hành chính chủ tịch UBND huyện Dăk Glong ra toà án nhân dân (TAND) huyện. Trong quá trình thụ lý vụ án, khi biết rõ đất đai của doanh nghiệp bị san ủi trong khi chưa kiểm kê tài sản trên đất, TAND huyện và chi cục Thi hành án huyện Dăk Glong ra thông báo ngăn chặn khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ hiện trường vùng cây công nghiệp, rừng trồng... của công ty Nam Thuận. Song UBND huyện Dăk Glong gỡ bỏ các thông báo trên, tiếp tục tàn phá, huỷ hoại tài sản và các công trình đầu tư trên đất..., gây thiệt hại cho công ty Nam Thuận hơn 126 tỉ đồng.
Tiếp đó, ngày 18.9.2012, TAND huyện đã mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án công ty Nam Thuận kiện UBND huyện Dăk Glong yêu cầu huỷ bỏ một phần, hoặc toàn bộ ba quyết định hành chính do ông Đàm Quang Trung, chủ tịch UBND huyện ký, đồng thời buộc bồi thường thiệt hại 126,5 tỉ đồng. Nội dung các quyết định này đề cập tới việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng... Tại phiên toà này, chủ toạ phiên toà là ông Nguyễn Đình Quy đã tuyên huỷ ba quyết định hành chính nói trên của UBND huyện Dăk Glong, đồng thời yêu cầu UBND huyện Dăk Glong làm lại từ đầu trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng dự án tái định cư Dăk Plao.
Tuy nhiên, sau khi TAND huyện tuyên án, UBND huyện Dăk Glong đã làm thủ tục kháng cáo lên toà phúc phẩm của tỉnh. Ông Đàm Quang Trung, chủ tịch UBND huyện Dăk Glong cho rằng, không thể huỷ bỏ toàn bộ ba quyết định của UBND huyện mà huyện chỉ chấp nhận huỷ một phần. (Sài Gòn Tiếp Thị 25/10)đầu trang(
Trạm kiểm soát liên ngành đường sông Sê San 4, tỉnh Kon Tum trong lúc tuần tra đã phát hiện và bắt giữ 80 hộp gỗ gõ xẻ, thuộc nhóm 1 quý hiếm, khối lượng 8,8m3, tương đương với khối lượng gần 15m3 gỗ tròn. Đây là vụ bắt giữ gỗ quý hiếm lớn nhất từ trước tới nay trên địa bàn Kon Tum.
Từ giữa tháng 8-2012 đến nay, Trạm kiểm soát liên ngành nam Sa Thầy đã xử lý 8 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ 238 hộp gỗ (22,056m3) các loại trong đó chủ yếu là các loại gỗ quý hiếm thuộc nhóm 1 và 2 như cẩm lai, gõ, căm xe, chò, sến...; tịch thu một máy cưa lốc, một máy tời gỗ, một súng kíp, một xe thồ, đề nghị xử phạt một vụ vi phạm cất giấu lâm sản trái phép với số tiền 40 triệu đồng. (Quân Đội Nhân Dân 27/10; VietnamPlus.vn 27/10; Vov.vn 27/10)đầu trang(
Trạm kiểm soát lâm sản Sốp Chảo thuộc xã Đồng Văn, huyện Quế Phong (Nghệ An) phát hiện hai ôtô chở gỗ táu, sến, gội không có hồ sơ hợp lệ, được biết là của một xã đội trưởng.
Trong lúc kiểm lâm đang kiểm tra (khuya 25-10) thì ông Lang Văn Bình (37 tuổi, xã đội trưởng UBND xã Đồng Văn) đến xuất trình hồ sơ vận chuyển số gỗ nêu trên.
Bộ hồ sơ không hợp lệ (chỉ có bản kê các loại gỗ khai thác và giấy xin phép khai thác gỗ về làm nhà do chủ tịch UBND xã Đồng Văn ký) nên trạm kiểm lâm Sốp Chảo không cho qua.
Ông Bình nổi nóng, lăng mạ kiểm lâm, đồng thời đẩy sào chắn barie lên để tẩu thoát hai xe gỗ. Kiểm lâm phải giằng co với hai tài xế Vi Văn Mạnh, Lê Văn Long và hơn mười người bốc gỗ. Đồng thời, trạm kiểm soát lâm sản Sốp Chảo điện báo Công an huyện Quế Phong hỗ trợ.
Công an huyện Quế Phong lập biên bản áp tải hai xe vận chuyển gỗ về Hạt kiểm lâm Quế Phong.
Theo kiểm lâm Quế Phong, số gỗ trên do người nhà ông Bình khai thác lậu trong rừng phòng hộ miền tây Nghệ An. (Đại Đoàn Kết 27/10)đầu trang(
Ngày 26.10, tin từ UBND tỉnh Bình Phước cho biết, ông Trương Tấn Thiệu, chủ tịch UBND tỉnh này đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Tô Hoài (44 tuổi) và ông Từ Trong Nghĩa (54 tuổi, cùng quê Bình Phước) về hành vi mua bán, cất giữ, vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo đó, ông Hoài bị xử phạt 7,5 triệu đồng vì có hành vi cất giữ, mua bán 6,756m3 gỗ Da Đá (nhóm II). Riêng ông Nghĩa là người điều khiển xe ô tô mang biển số 54T-3438 để vận chuyển số gỗ trên cũng bị phạt 40 triệu đồng. (Thanh Niên 27/10)
25/10/2012, Đội tuần tra kiểm soát 1 - 4, Phòng CSGT đường bộ, đường sắt Công an tỉnh Quảng Ninh trong khi làm nhiệm vụ tại km 200, trên quốc lộ 18 đoạn qua địa phận xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên, quảng Ninh thì phát hiện xe tải mang BKS 99C - 01241 đang lưu thông hướng Hạ Long - Móng Cái có biểu hiện nghi vấn.
Khi đội tiến hành kiểm tra thì phát hiện trên xe có 180 kg chim cò bợ. Đây là loài chim hoang đã bị cấm săn bắt.
Lái xe khai nhận là Nguyễn Văn Thành (SN 1974) trú tại TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đang trên đường vận chuyển số chim cò bợ trên ra Móng Cái để đưa sang Trung Quốc.
Ngay sau khi phát hiện vụ việc, toàn bộ số chim cò bợ trên đã được đội tuần tra kiểm soát 1 - 4 bàn giao cho hạt kiểm lâm huyện Tiên Yên để xử lý.
Hiện, vụ việc vẫn đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ. (Theo Giáo Dục VN 27/10; Công An Nhân Dân 27/10)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm Thạch Thành đã phối hợp với các lực lượng công an, quân đội, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Cúc Phương và chính quyền các địa phương tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến giao thông, khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng còn giàu tài nguyên, đặc biệt là các khu vực có rừng giáp ranh với các huyện Cẩm Thủy, Bá Thước và tỉnh Hòa Bình.
Qua tuần tra, kiểm soát đã phát hiện, bắt giữ và xử phạt 17 vụ vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có 5 vụ vận chuyển trái phép lâm sản, khai thác rừng trái phép 6 vụ, mua bán lâm sản trái phép 1 vụ, vô chủ 4 vụ, chăn thả gia súc 1 vụ; tịch thu 15,286 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính và bán tang vật nộp vào ngân sách Nhà nước trên 117 triệu đồng.
Hạt Kiểm lâm Thạch Thành còn thường xuyên kiểm tra, quản lý 38 cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ và 109 hộ nuôi nhốt động vật hoang dã trên địa bàn. Hầu hết các cơ sở, các hộ đều chấp hành tốt, không vi phạm các quy định của Nhà nước về kinh doanh, chế biến lâm sản và nuôi nhốt động vật hoang dã. (Báo Thanh Hoá 28/10)đầu trang(
Thông tin trên được Tổng cục Thống kê (Bộ KHĐT) công bố ngày 25.10 về kết quả cuộc tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011. Tính đến hết 31.12.2010, cả nước có 2.536 DN lĩnh vực nông lâm thuỷ sản, tổng nguồn vốn đạt hơn 92.000 tỉ đồng.
Trong đó khoản nợ mà các DN này phải trả chiếm 32.200 tỉ đồng – bằng 35% tổng vốn hiện có. Vốn sản xuất kinh doanh bình quân của các DN này là 36,3 tỉ đồng/DN, trong đó khoản nợ phải trả là 12,7 tỉ đồng/DN. Phần lớn số DN nói trên đều thuộc quy mô vừa và nhỏ, doanh thu bình quân của một DN là khoảng 19,5 tỉ đồng – tăng gấp 2 lần so với năm 2005.
Kết quả điều tra cũng cho thấy lợi nhuận trước thuế bình quân của một DN là 3 tỉ đồng – tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2005, trong đó DN nông nghiệp đạt cao nhất với 9 tỉ đồng. Thu nhập bình quân một lao động đạt gần 40 triệu đồng – tăng 185% so với năm 2005. Nguồn lao động việc làm của DN lĩnh vực nông lâm thủy sản giảm -7,9% so với 1.7.2006 với khoảng hơn 240.000 người. (Lao Động 26/10)đầu trang(
Thảo quả bạt ngàn trong những khu rừng nguyên sinh ở độ cao hơn 1.000m, vùng sinh thái quan trọng nhất để tạo thủy sinh bền vững cho lưu vực sông Hồng - Đà.
Nó đã lấy đất của lớp cây kế cận, nguy cơ suy thoái rừng đầu nguồn đã thấy rất rõ. Giải bài toán ấy, người trồng thảo quả... bó tay.
Không ít người nói: Trồng thảo quả là giữ rừng. Giữ rừng vì lẽ không có thảo quả liệu có còn những cánh rừng ấy không? Điều đó đúng. Không trồng thảo quả, người dân sẽ vẫn phá rừng trồng ngô, trồng sắn.
Trên đường đi vào nương thảo quả, anh Vù A Trùng - Chủ tịch Hội Nông dân xã Nậm Cang (huyện Sa Pa, Lào Cai) chỉ cho tôi những cánh rừng tái sinh nơi chừng 10 năm trước là nương ngô. Từ ngày có thảo quả, dân bỏ ngô, rừng có cơ hội tái sinh. Đi quanh chân dãy Hoàng Liên, đi dọc các xã biên giới từ Bát Xát (Lào Cai) sang Phong Thổ (Lai Châu), ở đâu cũng thấy rừng thẫm xanh. Việc giữ rừng đưa vào “lệ” nghiêm ngặt, bên cạnh phong tục thì còn bởi rừng ấy đã có thảo quả. Thảo quả là miếng ăn, là con đường vươn lên của người dân.
Nhưng, bên trong cái màu xanh ấy là rừng… rỗng. Từ lúc trồng, người dân đã phát hết cây con lấy đất cho thảo quả. Lúc chăm phát cỏ, phát cây con khác cho thảo quả sống, rừng thảo quả chỉ còn cây to che bóng. Hết chu kỳ cho quả chừng 30 năm, rừng thảo quả thoái hóa, lớp cây che bóng cũng đến lúc “về với các cụ”.
Có người đã ví khi ấy sẽ hình thành những “dải rừng chết” mênh mông ở lưng núi. Việc trồng lại rừng thảo quả cũng không dễ, ở Mồ Sì San (Phong Thổ, Lai Châu), nơi có những nương thảo quả “ông bà để lại”, phần lớn những nương này không còn cho quả.
Ông Lý Vần Xiền (người Dao) - chủ của một khoảng nương cũ bảo: “Muốn trồng lại phải đào hủy, bỏ đất trống 10 năm”. Thêm cái chu kỳ 3 năm gieo, 6 năm trồng, tròm trèm 20 năm, cũng gần bằng một đời thảo quả. Cũng vì cái khó ấy mà ở đây người ta không tính đến chuyện trồng lại nương thảo quả cũ “lắm công lắm mà chắc gì đã được ăn”.
Ngành Khuyến nông Lào Cai cũng đã khuyến cáo người trồng thảo quả không chặt cây nhỏ, trồng thưa, dành đất cho các cây khác cùng sống… Nhưng có lẽ khuyến cáo ấy cũng như việc vận động người dân đưa thảo quả về sấy tập trung để giảm việc lấy củi gỗ trong rừng sấy quả vậy… nặng chết. Nó cũng sẽ chỉ để nằm ở các văn phòng, không ai “gùi” nó lên rừng được.
Ông Hà Văn Um - Phó Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Lai Châu nói thẳng: “Rừng thảo quả cây to chết đi không có cây nhỏ thay thế, ảnh hưởng đến tương lai của rừng nên Lai Châu bây giờ không khuyến khích trồng thảo quả nữa”.
Việt Nam cũng nằm trong vùng trồng thảo quả lớn của thế giới. Sản lượng của ta mỗi năm từ 2.000 - 3.000 tấn, chiếm khoảng 10% sản lượng thảo quả khô cùng loại (thảo quả đen của thế giới). Tính vậy thấy cũng hãnh diện, nhưng so về năng suất thảo quả ta đứng đầu… từ dưới lên. Khi các quốc gia trồng đạt năng suất từ 400 đến 1.000kg/ha (Ấn Độ, Nepal, Indonesia, Trung Quốc) thì của ta đạt bình quân 150kg/ha.
Bà Phạm Thị Lan - Chủ tịch Hiệp hội Thảo quả Lào Cai là một trong số ít những người liên quan đến thảo quả từng sang Ấn Độ tham quan, nói: “Thảo quả ở đó trồng thành đồn điền như các cây công nghiệp khác, mỗi khu có cán bộ khuyến nông chịu trách nhiệm, khi dân cần là họ đến ngay vườn, trực tiếp giúp dân”. Bà Lan cũng cho biết, năng suất thảo quả của họ gấp 3 của ta, còn giá cả cũng gấp… hơn 2 lần (giống thảo quả xanh).
Ở gần ta hơn, nông dân Trung Quốc trồng thảo quả trong rừng tái sinh, điều mà ở ta là “trồng được nhưng không có quả”. Năng suất thảo quả của nông dân Trung Quốc cũng đến… thèm: 1.000kg/ha.
Ông Lê Tân Phong - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Lào Cai cho biết, cơ quan ông đang tư vấn để lập hồ sơ xin công nhận thảo quả Lào Cai là sản phẩm nông nghiệp có nguồn gốc hữu cơ. Nếu thành công, đó cũng là điều được thêm cho dân vì giá trị thảo quả trên thị trường cũng tăng thêm một chút. Cây thảo quả Việt Nam dù được trồng cả vạn ha, nuôi sống cả chục vạn con người, nhưng vẫn là cây rừng. Việc mà con người can thiệp vào vẫn chỉ là phát cỏ, chặt cây già.
Chuyện chỉ chặt cây già, không xử lý củ, liệu có gây thối, ảnh hưởng đến cây không? Kỹ sư trồng trọt Nguyễn Chiêu Minh - cán bộ khuyến nông xã Nậm Cang cho biết: “Có ảnh hưởng nhưng mức độ đến đâu chưa ai nghiên cứu”. Anh Minh cũng cho biết thêm: Việc tuyển chọn bộ giống, xây dựng quy trình canh tác cho cây thảo quả… vẫn chỉ là “khởi mà chưa động”.
Về đầu ra, người trồng thảo quả Việt Nam chỉ biết trồng, sấy khô và bán, sản phẩm ấy dùng vào việc gì: Ăn, dược liệu, làm hóa mỹ phẩm hay gì gì nữa thì… chịu. (Nông Thôn Ngày Nay 29/10)đầu trang(
Những ngày qua, người dân nhiều xã thuộc huyện Phú Vang (tỉnh TT- Huế) đổ xô vào những cánh rừng tự nhiên trên cát bạch sa (rú cát) ven đầm phá Tam Giang - Cầu Hai để đào tìm cây mật nhân.
Loại cây này được đồn là “thần dược” trị bá bệnh, có giá trị cao khi bán cho thương lái ngoại tỉnh.
Cùng lực lượng chức năng kiểm tra sơ bộ chỉ trên phạm vi chưa đầy một hecta rú cát do cộng đồng thôn Ba Lăng và UBND xã Phú Xuân quản lý, nơi đây xuất hiện hàng trăm điểm đào bới tìm củ một loại cây thân gỗ mà dân địa phương quen gọi là bập bện (tên phổ biến là mật nhân).
Ông Phan Đăng Phóng, Trưởng thôn Ba Lăng, cho biết: Nạn tàn phá cây mật nhân xuất hiện ồ ạt từ hơn tuần nay. Lực lượng an ninh thôn chỉ mới phát hiện, tịch thu phương tiện và đẩy đuổi hai trường hợp vi phạm trú tại thị trấn Phú Đa (huyện Phú Vang).
Khi đào tìm mật nhân, môi trường sinh thái rú cát và nhiều loài cây rừng xung quanh cũng bị xâm hại nghiêm trọng.
“Tình trạng này còn gây ảnh hưởng đến trật tự xóm làng. Do lực lượng của thôn mỏng, nạn đào trộm xảy ra chủ yếu vào giữa trưa và ban đêm; người lạ thoắt ẩn, thoắt hiện giữa rừng rú rậm rạp nên rất khó truy bắt, xử lý”, ông Phóng nói.
Chính quyền xã Phú Xuân phản ứng rất chậm. Cơ quan này chưa có bất kỳ phương án xử lý, hay báo cáo nào gửi cấp có thẩm quyền yêu cầu hỗ trợ.
Chủ tịch UBND xã Nguyễn Bắc, lấy lý do bận họp hành, các tốp đào trộm chủ yếu hoạt động ban đêm, nên chưa thể ngăn chặn, xử lý triệt để.
Tuy nhiên, thời điểm chúng tôi xâm nhập cánh rừng thôn Ba Lăng, nơi có hàng trăm gốc mật nhân bị xới nát vào giữa buổi sáng, các nhóm đào trộm vừa kịp tháo chạy do bị đánh động.
Cùng với người ở Phú Lương, Phú Đa, dân Phú Xuân cũng tham gia số đông theo kiểu “phong trào” để tận diệt loài cây dại được đồn thổi là “thần dược”.
Ông Phan Dũng (trú thôn Ba Lăng) cho biết: “Thôn có hơn 300 hộ thì đến 290 nhà đi đào cây này rồi, dù chưa biết mang về để làm gì. Nghe đâu nó có nhiều công dụng chữa bệnh lắm.
Người ta đồn rằng, mỗi cân củ thái lát phơi khô có giá từ 300 đến 500 nghìn đồng. Nói vậy, nhưng tới giờ vẫn chưa thấy ai hỏi mua”.
Khi chúng tôi hỏi phương thức, liều lượng sử dụng, cách bào chế mật nhân để làm thuốc, nhiều người dân Phú Xuân lắc đầu. Một số người cho biết, đã thử sắc uống để chữa tiểu đường, huyết áp, mỡ máu nhưng không thấy tác dụng.
Có câu chuyện được dân địa phương truyền tai nhau trong nhiều ngày qua về trường hợp một cụ ông suýt chết vì dùng “thần dược” mật nhân. Cụ T.C.Đ (85 tuổi, trú thôn Quảng Xuyên - Phú Xuân) nghe tin đồn cây mật nhân trị được bá bệnh, nên nhờ người thân đào về phơi khô, sắc uống, với liều lượng khoảng một bát canh. Sau khi dùng “thần dược”, cụ bị nôn mửa, choáng, tiêu chảy dữ dội.
“Cụ Đ. vốn mắc nhiều bệnh tuổi già, sức khỏe yếu, khi uống củ mật nhân sắc nấu thì bị ngộ độc. Nếu không phát hiện và đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời, chắc cụ khó qua khỏi”, một người dân cho biết.
Theo các chuyên gia y dược, cây mật nhân có tên khoa học Eurycoma longifolia Jack, là loài thân gỗ, cao từ 4-8m. Trong dân gian, mật nhân dùng chữa chứng ăn uống khó tiêu, bệnh phụ nữ, say rượu...
Tuy nhiên, người dùng cần phải có chỉ định nghiêm ngặt từ thầy thuốc, lương y giàu kinh nghiệm người bị bệnh dạ dày, gan, mật, có sức đề kháng yếu, dùng mật nhân sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Tại vùng rú cát ven phá huyện Phú Vang như Ba Lăng, Quảng Xuyên, Xuân Ổ hiện có hàng nghìn điểm đào bới cây mật nhân. Hỏi về trách nhiệm khi cây rừng tự nhiên bị xâm hại, ông Nguyễn Xuân Ninh, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Phú Vang, cho biết: Kiểm lâm huyện không quản lý về cây dược liệu. Vùng rú cát bị đào bới do cộng đồng các thôn và chính quyền xã quản lý. “Chúng tôi không hề hay biết về hành vi xâm hại này, UBND xã chưa báo cáo lên”, ông Ninh nói.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, cây mật nhân gần như đã biến mất trên vùng rú cát huyện Phú Vang. (Tiền Phong 29/10)đầu trang(
Những ngày qua, nhiều người dân xã Đăk Tơ Lung, H.Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum đổ xô vào rừng hái cây kim cương (lan gấm), một loại thảo dược, để bán cho các thương lái từ dưới xuôi lên.
Cây kim cương mọc nhiều dọc theo các con suối và sông Đăk Snghé. Với giá bán trên 1 triệu đồng/kg, bình quân một chuyến đi mỗi nhóm kiếm được khoảng 2-3 triệu đồng. Nhiều người còn đùm cơm, mang gạo đi dài ngày trong rừng để săn lùng cây kim cương. Khi gặp, người dân thường nhổ cả rễ nên cây kim cương có nguy cơ bị tuyệt diệt. Đây là huyện thứ 4 sau các huyện Tu Mơ Rông, Kon PLông và Đăk Glei ở tỉnh Kon Tum phát hiện có cây kim cương. (Thanh Niên 29/10)đầu trang(
Nằm trong khuôn viên của công viên nước Củ Chi (TP.HCM), ngoài mười con tê giác châu Phi còn có cả hổ, sư tử trắng, bò tót, linh dương sừng kiếm... Những động vật quý hiếm này được nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác nhau.
Được đưa về VN từ năm 2009, bảy trong mười con tê giác châu Phi đang nhởn nhơ ăn cỏ trong khu vực chuồng trại. Một hàng rào thưa được thiết lập để ngăn khu vực chuồng trại với lối đi dành cho người. Bảy chú tê giác hiền lành ăn cỏ mặc cho ông Chín Tô (người chăm sóc trực tiếp) sờ đầu sờ tai không khác gì một bầy trâu. Là người gắn bó với bầy thú quý hiếm, thậm chí cả thú dữ gần chục năm nay, ông Chín Tô biết rõ tính nết của bầy tê giác: "Tui biết con nào có thể sờ được, cưỡi lên lưng được, con nào thì luôn né tránh không cho mình đụng vô người". Để chứng minh đàn tê giác đã "thuần hóa", ông Chín Tô chìa tay vẫy vẫy khiến một chú tê giác hếch mũi lên cho ông sờ vào chiếc sừng vừa mới nhu nhú trên chốc mũi.
"Nuôi bọn chúng không khó chi hết. Chúng ăn cỏ, rau bắp cải, cám viên và cà rốt. Bảy con này mỗi ngày ăn hết hơn 1 tấn cỏ cắt nhỏ cùng các loại thực phẩm khác. Tui thấy chúng cũng giống những con thú khác thôi. Nuôi lâu thì quen và dạn dĩ thân thiện với người" - ông Chín Tô nói.
Dù đàn tê giác đều đang nhú sừng và chưa con nào bước vào thời kỳ sinh sản nhưng anh Nguyễn Hữu Trực, giám đốc phụ trách vườn thú thuộc công viên nước Củ Chi, tỏ ra rất lạc quan: "Chừng 7-8 tuổi thì tê giác bước vào tuổi sinh sản, tôi hi vọng từ mười con tê giác ban đầu này chúng ta sẽ có cả bầy tê giác". (Tuổi Trẻ 27/10)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
- Dạo này mấy cái vụ thủy điện phiền phức quá. Nào là Sông Tranh 2, rồi Đồng Nai 6 và 6A.
- Trong đó, các "nhà khoa học" ghi dấu ấn rõ rệt nhất.
- Thì đó, có người bảo là "người dân quá thiếu hiểu biết khi vừa nghe động đất đã bỏ chạy" tại Thủy điện Sông Tranh 2, rồi khuyên nhủ rằng "người dân phải tin nhà khoa học chứ". Mới bữa trước lại thêm một trận lên tới 4,6 độ richter, dân chạy tán loạn. Không biết ai mới là người thiếu hiểu biết đây?
- Thì những ai tin mấy lời đó mới thiếu hiểu biết.
- Còn tại Đồng Nai 6 và 6A, cứ luôn mồm cho là xây dựng tại khu vực rừng nghèo kiệt. Nhưng quan sát sơ sơ cũng có khối cây gỗ quý, cùng động vật có tên trong Sách đỏ rồi.
- Ai lại đưa ra những nhận xét như vậy?
- Cũng mấy "nhà khoa học" đó nữa chứ ai. Theo khảo sát, thì khu vực rừng Cát Tiên dự định xây thủy điện có hàng đàn vượn má vàng, vượn chân trắng… gì đó. Nếu xây thủy điện chắc chúng sẽ không còn.
- Không còn loài linh trưởng này, thì sẽ còn loài linh trưởng khác. Loài linh trưởng mới biết cả mặc áo quần, ngặt cái tuy khôn vậy mà ai nói gì cũng không nghe. (Nông Thôn Ngày Nay 26/10)đầu trang(
Cho xây dựng 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A hay bảo vệ báu vật Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên là vấn đề đang được người dân trông chờ vào quyết định của các đại biểu Quốc hội.
Theo tính toán, nếu 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A được xây dựng, đến năm 2020 sẽ đáp ứng được 0,003% nhu cầu điện quốc gia và đóng góp ngân sách Nhà nước trong toàn bộ chu trình kinh tế 40 năm là 12.908 tỉ đồng. Đổi lại, 2 dự án này sẽ “nuốt” 137 ha diện tích VQG Cát Tiên, nơi vừa được Chính phủ ký quyết định công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt và 235 ha rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Cát Tiên.
Nguy hiểm hơn, còn nhiều tác động tiêu cực khó lường khác mà 2 dự án này gây ra: tác động đến hệ sinh thái thủy văn sông Đồng Nai; đe dọa khu ngập nước Bàu Sấu đã được công nhận là khu Ramsar của thế giới; ảnh hưởng đến việc UNESCO xem xét, công nhận VQG Cát Tiên là Di sản Thiên nhiên thế giới và còn nhiều vấn đề dân sinh khác.
Về pháp lý, đến nay, chủ đầu tư 2 dự án cũng như các bộ, ngành liên quan vẫn chưa giải quyết ổn thỏa, thậm chí còn vi phạm nghiêm trọng những quy định của pháp luật. Nghị quyết 49 của Quốc hội quy định các công trình sử dụng đất rừng đặc dụng hoặc đất VQG từ 50 ha trở lên phải trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.
Ngoài ra, nếu phải điều chỉnh mục đích sử dụng đất VQG Cát Tiên để làm thủy điện thì điều này sẽ vi phạm quy định của Luật Đa dạng sinh học có hiệu lực từ ngày 1-7- 2009, bởi đây không phải là công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh. Đây là 2 vấn đề lớn cần được giải quyết trước khi xúc tiến 2 dự án thủy điện này nhưng chủ đầu tư phớt lờ.
Bài toán được và mất trong việc xây dựng 2 thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đã rõ, tính pháp lý vẫn còn bỏ ngỏ nhưng chủ đầu tư và các bộ, ngành vẫn “nhiệt tình” xúc tiến. Sông Đồng Nai theo quy hoạch phải “gánh” không dưới 15 thủy điện, trong đó 2 thủy điện Đồng Nai 6 và 6A được đánh giá là nguy hiểm nhất vì nằm ngay trong lõi khu bảo tồn. Thủy điện chằng chịt, vậy tại sao không mạnh dạn loại bỏ 2 dự án mà hiệu quả được ít, mất nhiều?
Thủy điện có rất nhiều nhưng VQG và khu dự trữ sinh quyển tại Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các nhà khoa học cảnh báo nếu xây dựng 2 thủy điện tại VQG Cát Tiên thì coi như xóa sổ di tích quốc gia đặc biệt và không còn cơ hội để UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Thế giới sẽ nghĩ gì về chúng ta? Thế hệ con cháu sẽ nghĩ gì về trách nhiệm của các bậc cha ông đi trước khi quyết định đánh đổi báu vật Cát Tiên để nhường chỗ cho dự án thủy điện? (Người Lao Động 27/10)đầu trang(
Chỗ của mày là ở trong… sách đỏ, mày xổng rừng tìm đến xứ này làm gì. Mà lại đến trong hình hài một con thú bị nhồi bông chuyên dương oai thị uy, "show hàng" nơi phòng khách. Chỉ riêng mỗi cái sừng là còn nguyên giá trị, quy ra cũng xêm xêm vài tỷ tiền đồng. Buồn nỗi, giá trị cái sừng của mày chỉ có ý nghĩa với đại gia, chứ người lương chưa đủ trình để đóng thuế thu nhập thì mày bị rớt ngay xuống hàng… vô giá.
Thà mày cứ ở yên trong rừng già núi thẳm châu Phi, ẩn mình cho kỹ, tránh ống nhòm công nghệ của cánh thợ săn hiện đại, tha hồ vui đời tiêu dao vẫy vùng dọc ngang một cõi. Mày sơ sểnh làm gì, để đòm một phát, thành ngay đống vô tri, được nhồi bông trưng ở lâu đài biệt thự đã là uy nghiêm sang trọng lắm rồi. May mắn thay, mày có cái sừng. Đắng cay hơn cũng bởi tại cái sừng oan nghiệt đó mà dòng giống mày bị truy tìm tận diệt, kéo thêm bao kẻ lao đao khổ ải theo cùng.
Khổ quá đi chứ. Cái sừng của mày rốt cục đã mất tích, giờ không biết chu du tung tẩy phương trời nào. Khá khen cho kẻ làm liều, xông được vào mật thất vốn canh phòng cẩn mật, tha gì không tha lại chọn mỗi… cái sừng. Kẻ tội đồ tinh khôn biết thừa mày được tôn sùng trọng thị, hiểu rõ mày không thuần túy… động vật, mà chính là tài sản, là đẳng cấp đại gia và hiện thân của những lời truyền tai đồn thổi hư thực ngút ngàn.
Mày bí hiểm oai linh, mà chuyện mày bị mất cắp lại chẳng thành sự kiện, cũng thông thường như bao vụ trộm vặt tẹp nhèm khác, dư luận nghe qua dửng dừng dưng và quên luôn tắp lự. Người đời chẳng còn sôi sùng sục lên như đận mấy con voọc quý bị trói chân trói tay phì phèo thuốc lá rồi phanh thây xả thịt, ảnh thì tung lên facebook.
Đụng vào mày là đụng vào pháp luật, mày được biết bao nhiêu cơ quan tổ chức trong nước, nước ngoài bênh vực bảo tồn. Mày lẽ ra cũng như mấy con voọc đang mang thai kia, bị liệt vào hàng cấm săn bắt, cấm tiêu dùng và cấm cả khoe khoang chiến tích. Nói chuyện mua bán sở hữu mày mà cứ thản nhiên như dịp Trung thu lượn phố, lượm về mấy món đồ dân gian đang ngày một khan hiếm, thì ngày tận số của đồng loại mày đang đến rất gần.
Hay tại mày là của nả nhà đại gia, mày đắt giá, mày mang một lý lịch khác thường lẫn tôn quý, mày cao xa quá, phù hoa quá, ai cũng ngại ngần, nên chẳng ai dỗi hơi đi thương vay khóc mướn cái giống mày. Rốt cuộc, mày cũng chỉ là con thú hoang xa lạ. Dại gì mà phải bày tỏ sự phẫn nộ trước cái chết không chính danh của mày, rồi có khi lại chuốc vào mình tai bay vạ gió.
Thôi mặc kệ mày. Đằng nào thì cuộc sống của mày cũng đã tiêu tùng. Một cái sừng dẫu được kính cẩn nâng niu, dẫu quyền phép vô hình cũng không làm nguyên con tê giác là mày sống dậy. Chỉ thấy chạnh lòng cho những cái sừng, đang còn nghênh ngang trên đầu những con tê giác thường ngày thong dong nhàn tản trong tít tắp những cánh rừng. Quy ra tiền nguyên một cái sừng tê, rinh về nhà treo lủng lẳng cho thiên hạ mắt tròn khiếp sợ mà không tai tiếng hệ lụy gì, ở xứ này đại gia vô thiên lủng, thì đồng loại mày còn gánh chịu nhiều nhiều nữa kiếp nhồi bông.
Vậy thì lại khổ thân mày, cái sừng con tê giác… (Công An Nhân Dân 25/10)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Hàng triệu con bướm màu da cam đậu trên cây hoặc bay rợp trời - đó là hình ảnh đẹp tuyệt trong “vương quốc bướm” ở khu bảo tồn thiên nhiên Sierra Chincua, Mexico.
Khu bảo tồn Sierra Chincua là nơi cư trú của hàng tỷ con bướm di trú hàng năm từ Bắc Mỹ đến Mexico ấm áp vào khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. (Nông Thôn Ngày Nay 27/10) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||