Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 29 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều 25/8, ông Trương Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông đã phối hợp với các cơ quan báo chí trực tiếp khảo sát khu vực rừng bị tàn phá theo thông tin TTXVN đã phản ánh vào sáng cùng ngày.
Khảo sát rừng tại xã Nam Bình, huyện Đắk Song tỉnh Đắk Nông thuộc lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lâm nghiệp Đức Hòa quản lý, đoàn kiểm tra nhận thấy rừng nơi đây đang bị lấn chiếm và tàn phá nghiêm trọng.
Những vạt rừng xanh thẫm trước đây đã hoàn toàn biến mất thay vào đó là hàng trăm hécta càphê, hoa màu khác. Những cây cổ thụ gỗ hiếm giờ đây chỉ còn trơ gốc cháy đen.
Tiếp tục đi sâu vào tim rừng, theo ghi nhận của nhóm phóng viên đi cùng đoàn công tác, dọc theo lối vào xuất hiện hàng chục biển hiệu rao bán rẫy công khai. Mặc dù những mảnh rẫy hoa màu này được người dân tự ý lấn chiếm rừng để trồng mà không được cấp giấy phép sử dụng.
Chỉ cần đi quanh những khu vực ranh giới tiếp giáp giữa nương rẫy của người dân có thể nhận thấy mức độ rừng bị lấn chiếm nghiêm trọng như thế nào. Những cây gỗ lớn ở khu vực này được các đối tượng cưa hạ, bổ hộp đưa ra ngoài, trong khi những cây gỗ nhỏ bị đốt cháy để mở rộng diện tích nương rẫy.
Dấu vết để lại là những bìa rừng không dùng được cùng hàng trăm cây rừng nhỏ bị đốt cháy đen. Hàng trăm cây gỗ rừng đã bị cưa hạ, dấu vết còn rất mới, lá vẫn chưa kịp héo. Thậm chí ngay thời điểm có mặt đoàn kiểm tra và nhóm phóng viên vẫn nghe rõ tiếng máy cưa phát ra từng hồi từ khu rừng rậm phía xa.
Trao đổi với đại diện lãnh đạo các ban, ngành liên quan và lãnh đạo Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lâm nghiệp Đức Hòa, ông Trương Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông yêu cầu chấn chỉnh công tác bảo vệ và quản lý rừng; tập trung xử lý và báo cáo ngay với các cơ quan chức năng về việc rừng bị xâm hại, bao gồm cả việc lấy gỗ vàc lấy đất sản xuất.
Bên cạnh đó, lãnh đạo Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lâm nghiệp Đức Hòa cần phối hợp với lực lượng chức năng chấm dứt ngay tình trạng phá rừng; đồng thời tăng cường kiểm soát, quản lý diện tích rừng đã bị phá, không để người dân tiếp tục lấn chiếm để lấy đất sản xuất, hoặc rao bán công khai như hiện nay.
Ông Tùng cũng gặp gỡ một số người dân để tìm hiểu thực trạng rừng tại đây, đồng thời lưu ý người dân về tầm quan trọng của việc gìn giữ rừng hiện nay. (Vietnam + 25/8) đầu trang(
Không chỉ có bản Phứ Ma mà trên địa bàn xã Leng Su Sìn đã có trên 400 hecta rừng bị phá trắng.
Toàn bộ diện tích rừng được giao cho Bản Phứ Ma trên địa bàn xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đã bị phá trắng thay vào đó là diện tích của lúa nương. Không chỉ có Phứ Ma mà trên địa bàn xã Leng Su Sìn đã có trên 400 hecta rừng bị phá trắng.
Theo bản đồ hiện trang rừng năm 2014, thì tại khe Chí Xé – khu vực sâu nhất của xã Leng Su Sìn có trên 354 hecta. Nhưng hiện nay, trừ các khe có độ dốc lớn, còn mọi khoảng rừng đều đã bị đốt, bị phá trắng. Người dân di cư công khai làm nhà, lập lán để phá rừng trong sự bất lực của cả người dân bản địa và chính quyền địa phương.
Chính quyền xã cũng không ngần ngại thừa nhận điều này, xã đang có tới 352 hộ dân di cư với 1825 nhân khẩu sinh sống bất hợp pháp. Các trưởng bản còn không nắm được bản mình có những ai thì xã càng không thể biết dân đến và phá rừng từ bao giờ.
Xã Mường Nhé cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Vài chục quả đồi vốn là rừng, trải dài từ trụ sở UBND huyện đến tận cùng của bản Nà Pán này chỉ còn những gốc cây trơ trọi. Không chỉ có dân di cư mà ngay cả gia đình ông Phó Viên trưởng Viện kiểm soát nhân dân huyện Mường Nhé – Thào A Di cũng phá gần 28.000m2 rừng.
Theo thống kê của hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé, từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2016 đã có 313 vụ vi phạm phá rừng trái phép, diện tích rừng bị phá lên tới 296,3 ha. Thủ đoạn của các đối tượng hết sức tinh vi.
Các đối tượng thường tổ chức phá rừng cùng một lúc tại nhiều địa điểm, điều này khiến cho việc huy động lực lượng ngăn chặn gặp khó khăn. Thâm chí các cán bộ làm nhiệm vụ bảo vệ rừng còn bị uy hiếp chống trả.
Tình trạng phá rừng có tổ chức tại Mường Nhé không phải là vấn đề mới nhưng rõ ràng việc xử lý của địa phương thiếu quyết liệt. Nếu chính quyền các cấp vẫn coi việc giữ rừng là của riêng kiểm lâm hay của chủ rừng thì rừng ở Mường Nhé sẽ tiếp tục bị tàn phá. (Pháo Luật + 27/8) đầu trang(
Báo Đại Đoàn Kết đã có loạt bài phản ánh tình trạng phá rừng Hòn Hèo, thuộc xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa.
Sau khi báo nêu, UBND tỉnh Khánh Hòa có công văn chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành kiểm tra tình trạng trên. Qua kiểm tra, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng loạt cây cổ thụ đã bị đốn hạ. Tuy nhiên, trách nhiệm của các cá nhân, tập thể để rừng bị chặt phá còn đang bị “bỏ quên”.
Sau khi báo Đại Đoàn Kết ra ngày 20/6/2016 có bài “Rừng Hòn Hèo kêu cứu” phản ánh tình trạng khai thác rừng, vận chuyển gỗ lậu trái phép diễn ra khá phổ biến tại khu vực rừng Hòn Hèo, Tiên Du (xã Ninh Phú, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa), chiều cùng ngày, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa đã có công văn số 396/CCKL ngày 20/6 chỉ đạo Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa khẩn trương tổ chức lực lượng, phối hợp với chính quyền địa phương và đơn vị nhận khoán bảo vệ rừng (Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa) kiểm tra và có giải pháp ngăn chặn kịp thời tình trạng trên.
Ngày 21/6, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa phối hợp với BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa, Đồn Biên phòng Vĩnh Lương, Trạm Kiểm lâm Ninh Phú và UBND xã Ninh Phú tổ chức kiểm tra khu vực hồ chứa nước Tiên Du. Qua kiểm tra khu vực xung quanh hồ, toàn bộ khu vực bên phải đường nhựa, đoạn từ cổng hồ Tiên Du đến cuối đường thuộc tiểu khu 85, lực lượng chức năng không phát hiện dấu vết nào của việc khai thác gỗ, cũng không có lán trại nào được cất dựng lên để phục vụ cho việc phá rừng.
Ngày 27/6, báo Đại Đoàn Kết lại tiếp tục có bài “Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm” nêu bản Báo cáo có dấu hiệu “che đậy”, hay việc kiểm tra chưa đến nơi, đến chốn để tìm ra khu vực rừng bị phá. Ngày 29/6, Chi cục Kiểm lâm Khánh Hòa tiếp tục có công văn chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra lại. Đồng thời, ngày 1/7 UBND tỉnh Khánh Hòa cũng đã vào cuộc và có công văn chỉ đạo UBND thị xã Ninh Hòa tiến hành kiểm tra, xác minh và có biện pháp xử lý kịp thời.
Trong hai ngày 29/6 và ngày 6/7, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa phối hợp với Trạm Kiểm lâm xã Ninh Phú, tiến hành kiểm tra hồ chứa nước Tiên Du và các khu vực lân cận, thuộc xã Ninh Phú. Qua kiểm tra, đoàn phát hiện và lập biên bản tại khoảnh 3,5 tiểu khu 83 có 9 cây gỗ đã bị cưa hạ, trong đó: Cây có đường kính giao động từ 18-35cm, gồm 5 cây giẽ và 4 cây gỗ tạp; tại khoảnh 2, tiểu khu 85 đã phát hiện có 17 cây rừng bị cưa hạ, gồm 11 cây giẽ, 1 cây sơn huyết, 2 cây gỗ tạp và 3 cây trâm hồng có đường kính gốc từ 20-50cm, cá biệt có 1 cây trâm hồng có đường kính gốc 65cm; tại khoảnh 3, tiểu khu 86 có 4 cây rừng đã bị cưa hạ gồm: 1 cây sổ, 1 cây xay và 2 cây trâm có đường kính từ 35-55cm.
Tại các thời điểm kiểm tra phần gỗ đã bị lấy đi chỉ còn lại các bìa bắp và một phần thân gỗ cành ngọn bị bọng, rỗng ruột. Đoàn kiểm tra dự đoán việc chặt hạ cây trái phép diễn ra khoảng trước và sau Tết Nguyên Đán năm 2016.
Đó là những gì mà Đoàn kiểm tra phát hiện, còn theo ghi nhận của phóng viên, có nhiều cây cổ thụ dấu hiệu chặt phá còn rất mới. Còn các chi tiết như bao thuốc lá, chai nước mắm, muối và các nhu yếu phẩm khác Đoàn kiểm tra cũng đã xác nhận và phát hiện là có nhưng đã cũ là không chính xác. Bởi khi phóng viên tác nghiệp trong rừng sâu thì những lán trại vẫn còn rất mới, cảnh bao thuốc, chai nước…cũng như những bếp lửa vẫn còn rất mới.
Với sự việc ông Lê Mai là công nhân của Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Bắc Khánh Hòa phụ trách hồ nước Tiên Du là người “phát dọn” hơn 17.500 m2 trong diện tích chỉ được phát dọn là 7.221 m2, ngày 15/6, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa có công văn số 80/KT-TTPC về việc chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính đến Công an thị xã Ninh Hòa để điều tra hành vi phá rừng trái pháp luật. Người dân băn khoăn đằng sau vụ việc này còn có hỗ trợ nào đó.
Để làm rõ các biện pháp xử lý, cũng như trách nhiệm của các ngành chức năng liên quan, phóng viên đã rất nhiều lần liên hệ với lãnh đạo thị xã Ninh Hòa, nhưng các vị lãnh đạo này đều “bận họp” hay đi “công tác”. Phóng viên đặt lịch làm việc với Chi Cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa thì cũng gặp cảnh “bận họp”...
Rừng đã bị “chảy máu”, dư luận đang đặt ra câu hỏi: Ai sẽ chịu trách nhiệm đây?  (Đại Đoàn Kết 27/8) đầu trang(
Ngày 26.8, trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới, ông Trần Viết Phương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng cho biết do dạo này "nhiều việc" nên vẫn chưa có kết quả xử lý vi phạm vụ phá rừng tại tiểu khu 11, rừng đặc dụng Nam Hải Vân (P.Hòa Hiệp Bắc, Q.Liên Chiểu, Đà Nẵng).
Vào ngày 8.8, Một Thế Giới đã có bài điều tra phản ánh việc ông Trần Viết Hòe (SN 1957, trú Q.Hải Châu, Đà Nẵng), chủ rừng giao khoán ở tiểu khu 11 rừng đặc dụng Nam Hải Vân đã cho người đưa máy mở đường vào chặt rừng tự nhiên nằm trong đất giao khoán cho ông. Tuy nhiên, theo quy định hiện nay và các văn bản mà kiểm lâm đã ban hành, ông Hòe không được phép phạm vào diện tích rừng tự nhiên trên.
Hậu quả, nhiều con đường lớn rộng tầm 3m, dài hàng trăm mét đã được ông Hòe cho máy mở vào sâu trong rừng tự nhiên. Từ đó, hàng loạt cây rừng tự nhiên đã bị cho đốn hạ vô tội vạ.
Ông Nguyễn Văn Truyền, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm quận Liên Chiểu đã thừa nhận việc ông Hòe đưa máy vào mở đường và đốn hạ cây là vi phạm. Ông Truyền nói tiểu khu 11 thuộc địa bàn P.Hòa Hiệp Bắc được giao cho kiểm lâm viên Lê Văn Hải kiểm soát.
Đáng nói, ông Lê Văn Hải chính là kiểm lâm viên bị luân chuyển cùng một loạt các cán bộ khác khỏi Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn do đã để xảy ra vụ phá rừng nghiêm trọng tại bán đảo Sơn Trà.
Tại kỳ họp thứ 2 HĐND TP.Đà Nẵng khóa 9 vào ngày 11.8, ông Nguyễn Xuân Anh đã nắm được thông tin nói trên và chất vấn ông Nguyễn Phú Ban, Giám đốc Sở NN-PTNT rằng có kiểm lâm viên vi phạm bị điều chuyển từ Sơn Trà về Liên Chiểu tiếp tục để xảy ra sai phạm hay không. Ông Ban lúc đó vừa ấp úng, vừa khẳng định không có, rằng các cán bộ, nhân viên kiểm lâm sai phạm đều bị chuyển về huyện Hòa Vang.
Tuy nhiên, Chi cục trưởng Kiểm lâm Đà Nẵng Trần Viết Phương thừa nhận: “Ông Hải hồi ở Sơn Trà sau vụ xâm hại rừng thì đưa qua bên Liên Chiểu. Vụ phá rừng ở tiểu khu 11, Chi cục đang chỉ đạo kiểm điểm các cá nhân và tập thể liên quan, chắc họ đang làm kiểm điểm”.
Ông Phương cho biết thêm, thẩm quyền ban đầu cho phép mở đường vào khai thác rừng trồng của ông Hòe là do UBND Q.Liên Chiểu cho phép, nhưng sau đó ông này lợi dụng mở đường vào rừng tự nhiên và chặt hạ cây nên hiện giao cho Hạt kiểm lâm tham mưu để quận xử lý.
“Ông Hòe nói khu vực rừng tự nhiên (đều nằm trong đất giao khoán cho ông này theo nghị định 01 quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước) là do ông ấy trồng trước đây. Nhưng thực tế khi kiểm tra thì đều là cây rừng tự nhiên cả”, ông Phương nói và khẳng định cơ quan kiểm lâm đều có trách nhiệm đảm bảo thực thi tất cả các loại rừng, kể cả rừng trồng, kể cả cây cảnh nếu được giao trách nhiệm.
Trở lại cuộc họp HĐND mới đây của TP.Đà Nẵng, Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Xuân Anh đã nhấn mạnh với Giám đốc Sở NN-PTNT: “Phải xem lại con người. Giải pháp tốt nhưng kiểm lâm tiếp tay với lâm tặc thì cuối cùng vẫn không đạt được mục đích. Nếu có thì buộc phải cách chức, cho thôi việc, phải làm mạnh lên nữa, không nhân nhượng. Việc này anh Ban phải kiểm tra lại, nếu có phải xử lý nghiêm cán bộ này; một lần ở Sơn Trà rồi, giờ về Liên Chiểu lại vậy nữa”.
Bí thư Đà Nẵng tuyên bố: “Không ai được đến Đà Nẵng chặt phá cây nào cả, dù là ai đi nữa thì vẫn phải xử lý nếu vi phạm. Mình còn mấy cánh rừng thôi, mà toàn rừng đặc dụng phải bảo vệ nghiêm ngặt. Là lá phổi của thành phố, những khu vực nói trên đều không cho phép bất cứ tổ chức, cá nhân nào được vào mà chặt phá rừng. Chặt một cái cây phải trả giá, mà anh Ban giữ không được cái này (rừng) thì anh Ban phải trả giá”.
Thế nhưng đến nay, tuyên bố ‘chặt một cái cây phải trả giá’ của ông Nguyễn Xuân Anh vẫn chỉ là lời nói khi người phá rừng và kiểm lâm sai phạm vẫn chưa hề hấn gì. (Một Thế Giới 26/8) đầu trang(
Chưa bao giờ rừng ở Nam Hải Vân xơ xác như hiện nay. Đứng ở đường Nguyễn Tất Thành, đoạn thuộc địa phận quận Liên Chiểu (TP Đà Nẵng), nhìn lên dãy Hải Vân hùng vĩ, rất dễ nhận thấy có nhiều mảng núi trọc, trơ trọi đất đá. Các vụ cháy lớn liên tiếp xảy ra, làm cho thảm thực vật vùng này nham nhở chẳng khác nào tấm áo vá...
Hơn 410ha thông caribe loại trên dưới 30 năm tuổi, một thời là niềm tự hào của người dân Đà Nẵng nay xơ xác đến thảm hại. Không ít diện tích ở bình độ thấp, vốn là rừng đặc dụng đã thành rừng trồng của hàng trăm hộ dân. Khu vực duy nhất còn rừng tự nhiên có tài nguyên lâm sản ở tiểu khu 11, cũng liên tục bị tàn phá không thương tiếc.
Trong khi đó, ở phía Bắc dãy Hải Vân, khu vực do tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý, rừng tự nhiên, rừng trồng bạt ngàn từ chân lên đỉnh núi. Tại khu vực này, không hề xảy ra tình trạng rừng bị tàn phá đến nghèo kiệt tài nguyên như khu vực do Đà Nẵng quản lý.
Nói về thực trạng này, ông Nguyễn Như Tiến, cư dân phường Hòa Hiệp Bắc cho rằng, là người Đà Nẵng, chắc chắn ai nấy đều cảm thấy chạnh lòng và xẩu hổ khi chứng kiến những cánh rừng bạt ngàn ở phía Bắc dãy Hải Vân. Suốt tuyến đường đèo ở phía Bắc không hề có trạm Kiểm lâm nào, thế mà rừng vùng này an toàn tuyệt đối. Cùng một dãy núi, cùng tầng địa chất, thổ nhưỡng, thế mà ở phía Bắc rừng tươi tốt bao nhiêu, ở phía Nam nghèo kiệt bấy nhiêu. Âu cũng do con người gây nên cả…
Thực ra, hơn chục năm trước, rừng ở phía Nam Hải Vân cũng giàu và đẹp lắm. Những cánh rừng thông caribe với vô vàn cây thẳng tắp cao vút, nối nhau trùng điệp, như bức tranh tuyệt đẹp đã từng níu chân du khách mỗi khi qua đây. Thế mà nay, những cánh rừng thông ấy chỉ còn trong ký ức.
Bên cạnh thiên tai, người dân địa phương chính là thủ phạm tàn phá rừng thông quý giá này. Lần nào ngược núi tuần tra, lực lượng Kiểm lâm cũng bắt gặp tịch thu ít phách gỗ, lâm tặc chặt phá tại tiểu khu 11. Thực trạng này cho thấy công tác quản lý bảo vệ rừng tại đây không mấy hiệu quả. Trong khi, diện tích rừng chỉ hơn 3.000ha, trong số 1820ha do Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu quản lý chủ yếu là đất trống đồi trọc; Hạt Kiểm lâm 12   với cán bộ nhân viên, trang thiết bị, phương tiện, kinh phí không thiếu, thế mà rừng không khi nào bình yên. Kể cũng lạ!.
Đáng lo ngại, xu thế biến rừng tự nhiên tại Nam Hải Vân thành rừng trồng ngày càng rõ nét khi người dân cố tình xâm hại diện tích rừng do Nhà nước quản lý tại đây. Người ta chặt hạ những cây thông hơn 30 năm tuổi, mục đích lấy gỗ thì ít mà dành đất để trồng rừng thì nhiều. Không loại trừ nguyên nhân các vụ cháy xảy ra trong thời gian qua do người dân đốt để chiếm đất.Phục hồi rừng Nam Hải Vân đúng với rừng cảnh quan như tên gọi vốn có là vấn đề vô cùng cấp thiết hiện nay.
Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: Hệ quả của rừng hiện nay do trước đây Kiểm lâm giao cho dân quản lý  theo Nghị định 01. Đúng ra, rừng đặc dụng là khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt, Nhà nước quản lý mà không giao cho dân.
Khắc phục tình trạng này, chỉ có thể thu hồi toàn bộ diện tích đã giao cho các hộ dân; triển khai trồng thông hoặc cây bản địa để tạo rừng bền vững lâu dài. Việc thu hồi này thành phố Đà Nẵng phải có chủ trương ngay từ bây giờ và gia hạn 4-5 năm sau khi người dân đã thu hoạch hết cây.
Đối với khu vực đất trồng đồi trọc tiếp tục trồng thông caribe, như đã triển khai hơn 100ha mấy năm gần đây. Còn với khu vực rừng tự nhiên, giải pháp tốt nhất là giao cho người dân khu vực Kim Liên, kể cả những người từng chặt phá rừng tại đây bảo vệ. Giao rừng cụ thể cho từng hộ, hoặc nhóm hộ, họ tự quản lý bảo vệ dưới sự giám sát kiểm tra của lực lượng Kiểm lâm…
Không thể chậm trễ hơn được nữa trong việc tái tạo phục hồi rừng ở Nam Hải Vân, nếu như muốn trả lại màu xanh, tạo cảnh quan hấp dẫn cho khu vực này. Tất nhiên, để có được những cánh rừng bạt ngàn như ở phía Bắc dãy Hải Vân, quả là điều không hề đơn giản, đòi hỏi phải đầu tư nhiều kinh phí và sự nỗ lực của chính quyển các cấp, cơ quan Kiểm lâm và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân vùng cận rừng… (Công An Nhân Dân 27/8) đầu trang(
Tất cả các cây gãy đổ đều do tác động của cơn bão số 11 năm 2013, đa số cây đã bị mục lõi, mối mọt xâm hại. Nhiều cây bị gãy ngang, gãy ngọn chết khô; phần lớn cây gãy đổ đều là loại gỗ tạp, gỗ thường từ nhóm V tới nhóm VIII...
Đó là kết quả được ghi nhận thực tế tại buổi kiểm tra của đoàn liên ngành TP. Đà Nẵng tại tiểu khu 63 bán đảo Sơn Trà ngày 11/8/2016.
Năm 1996, Ban bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà động viên gia đình ông Phạm Hùng Mạnh nhận đất trồng rừng theo Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ. Gia đình ông Mạnh nhận thấy đây là chủ trương đúng đắn về phát triển và bảo vệ rừng, đồng thời là cơ hội để phát triển kinh tế vườn rừng.
Trên cơ sở đó, hộ ông Mạnh cùng một số hộ khác đã ký hợp đồng giao khoán đất để trồng rừng và phát triển kinh tế vườn trong thời hạn 50 năm theo biên bản số 109/HĐ - GK ngày 25/08/1997 giữa Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và đại diện hộ ông Phạm Hùng Mạnh. Trong biên bản hiện trường ghi rõ việc giao đất để trồng rừng.
Trong suốt 20 năm nhận giao khoán, nhiều hecta rừng được trồng mới. Công sức, tâm huyết, mồ hôi nước mắt, tiền bạc của gia đình đã dồn vào đây để bán đảo Sơn Trà được xanh tươi, được coi là lá phổi xanh của TP. Đà Nẵng. Qua thời gian nhận giao khoán, ông Mạnh xác định, muốn bảo vệ và phát triển vườn rừng bền vững thì phải kết hợp khai thác một số dịch vụ kinh tế từ vườn rừng (những loại hình được nhà nước cho phép).
Trên cơ sở đó, ông Mạnh xin phép TP. Đã Nẵng thành lập doanh nghiệp để liên kết trồng rừng, bảo vệ rừng và phát triển sản xuất, trồng các loại dược liệu kết hợp với du lịch sinh thái. Trong 8 năm qua, hàng chục hecta cây dược liệu, hàng vạn cây sưa đỏ, cây gió bầu lấy trầm và nhiều loại cây ăn trái được trồng, hứa hẹn đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong quá trình nhận giao khoán đất để trồng rừng, gia đình ông Mạnh luôn chấp hành và tuân thủ nghiêm các quy định về bảo tồn, bảo vệ rừng, luôn chủ động đề cao công tác phòng chống cháy rừng. Nhiều lần ngăn chặn, bắt giữ các đối tượng vào rừng săn thú với tang vật thu được là súng quân dụng cùng thú rừng. Tất cả đều được báo cáo và bàn giao cho Hạt Kiểm lâm địa phương.
Nhiều năm qua, các cơ quan như Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Kiểm lâm quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn đã nhiều lần vào kiểm tra và đều đánh giá cao công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng của ông Mạnh. Bản thân là đảng viên, sĩ quan quân đội với 37 năm công tác trong quân ngũ, người con trai lớn hiện đang là sĩ quan chỉ huy tàu cảnh sát biển làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, ông Mạnh ý thức rất cao về giá trị thiêng liêng của từng tấc đất, từng kilômét đường biển ông đã đi qua.
Câu chuyện bắt đầu vào tháng 04/2016, khi một số cơ quan thông tấn có đăng tải thông tin người dân phát hiện có người vận chuyển gỗ qua đường biển tại bãi bắc của bán đảo Sơn Trà. Qua đó, chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng ký Công văn số 4609/UBND - KT2 gửi các cơ quan có liên quan về việc xử lý khai thác gỗ trái phép tại khu vực Trường Mai, tiểu khu 63, bán đảo Sơn Trà, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, qua kiểm tra, phát hiện 25 cây bị đổ có đường kính từ 15-143cm, trong đó có 13 cây có tác động của con người. Tất cả các cây theo ghi nhận đều là gỗ tạp thuộc nhóm V, VI, VII giá trị kinh tế không cao.
Mặt khác, đặc điểm rừng tại khu vực bán đảo Sơn Trà không có loại gỗ quý hiếm. Hàng năm hứng chịu nhiều cơn bão lớn, ảnh hướng của điều kiện tự nhiên nên cây rừng ở đây chủ yếu là cây thấp tầng. Trong quá trình bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng, đều nhằm tạo cảnh quan sinh thái, phòng chống cháy rừng và mục đích an toàn cho du khách tới tham quan vườn rừng.
Việc thu dọn lại cây gãy đổ, chắn ngang lối đi, chắn ngang lòng suối được cắt khúc xếp gọn gàng cạnh hiện trường. Thực tế, tất cả khúc gỗ đều còn nguyên tại hiện trường, đều là gỗ khô, bị mối mọt, không phải gỗ quý hiếm, chỉ là gỗ tạp, giá trị kinh tế không cao.
Liên quan tới vấn đề này, ngày 11/08, Đoàn kiểm tra liên ngành của TP. Đà Nẵng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc khai thác gỗ trái phép tại khu vực Trường Mai, tiểu khu 63, bán đảo Sơn Trà, phường Thọ Quang, theo Quyết định số 194/QĐ - CCKL ngày 5/08/2016 do đồng chí Lê Mạnh Hùng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng làm trưởng đoàn. Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường, trong bảng kê cây rừng bị thiệt hại đã khám nghiệm của Chi cục kiểm lâm TP. Đà Nẵng thể hiện các cây bị gãy đổ tự nhiên, đã bị mối mọt xâm hại, thân cây đã mục rỗng.
Cụ thể, tại cây khám nghiệm có số hiệu K20 thuộc nhóm gỗ VII, tọa độ khám nghiệm 560.18 - 1.784.728, đường kính chu vi 13, đã ghi nhận cây bị gãy đổ tự nhiên, bị mối mọt xâm hại, chiều dài thân cây là 8,6m, được cắt làm 3 đoạn, không lấy lâm sản, không mang ra khỏi hiện trường.
Ngoài ra, tại thời điểm kiểm tra, Đoàn liên ngành cũng ghi nhận các cây bị gãy đổ tự nhiên, được dọn dẹp lại, xếp đống cạnh hiện trường như các cây có số hiệu khám nghiệm K15, K16, K17, K18, K05… Đồng thời, Đoàn kiểm tra ghi nhận tại hiện trường khối lượng gỗ được dọn dẹp, thu gom chất đống cách các gốc cây chặt từ 30 - 50m. Tuy nhiên, qua các đợt kiểm tra, số liệu gỗ các cây gãy đổ tự nhiên được dọn dẹp lại có sự bất nhất.
Cụ thể, ngày 18/1/2016 và ngày 11/3/2016, Đoàn kiểm tra đều ghi nhận việc dọn dẹp cây và phát cỏ tầm thấp. Ngày 29/4/2016, Đoàn liên ngành của TP. Đà Nẵng tiến hành kiểm tra khẳng định đây là những cây khô mục, mối mọt, không xác định được khối lượng. Tuy nhiên, ngày 17/5/2016, đoàn liên ngành kiểm tra xác minh lại xác định là phá rừng với số lượng 16 cây, khối lượng 63,4m3. Ngày 10/06/2016, tiếp tục có Đoàn kiểm tra và xác minh lại thì xác định số cây tăng lên 25 cây, khối lượng tính còn lại 39,4m3.
Theo đề nghị của ông Phạm Hùng Mạnh, ngày 11/08/2016, Đoàn kiểm tra liên ngành xác định số lượng cây 25, nhưng khối lượng gỗ chỉ còn 29,4m3. Rõ ràng, qua các đợt kiểm tra, số liệu của các đoàn kiểm tra có sự bất nhất, không trùng khớp.
Như vậy, thông tin tại buổi kiểm tra liên ngành TP. Đà Nẵng, tại hiện trường khác hẳn với một số thông tin trước đây về việc nghi phá rừng tại tiểu khu 63, bán đảo Sơn Trà, TP. Đà Nẵng.
“Trong quá trình bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng, để tạo cảnh quan sinh thái, phòng chống cháy rừng, đảm bảo an toàn cho những du khách đến tham quan, tránh để những cây chết khô đổ, gãy rất dễ gây tai nạn, tôi đã cho người vệ sinh, thu dọn một số cây gỗ đổ, gãy, cây chết đứng. Đối với một số cây đổ, gãy chắn ngang lối đi, tôi cho cắt khúc và xếp gọn gàng cạnh đó. Tất cả các khúc gỗ đều còn nguyên ở tại hiện trường, các đoàn kiểm tra cũng đã đo đếm, chứ tôi chưa hề vận chuyển một khúc gỗ, thậm trí là một mẩu gỗ nhỏ nào ra khỏi rừng.Tôi đã đổ mồ hôi công sức, tiền bạc vào khu rừng này từ hàng chục năm nay. Chỉ cần suy xét khách quan thì mọi người đều hiểu tôi không hề có bất cứ động cơ nào để thu lợi từ những khối gỗ tạp đã gãy đổ mục nát, hầu như chỉ có tác dụng để làm… củi đun. Tôi mong dư luận cũng như các cơ quan chức năng cần đánh giá và soi xét một cách khách quan, công tâm”, ông Mạnh nói. (Kinh Tế Nông Thôn 26/8) đầu trang(
Thảm họa từ thiên nhiên đang là lời cảnh báo đối với con người về những tác động tiêu cực mà họ gây ra với thiên nhiên, môi trường.
Các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là tại Yên Bái, Lào Cai, người dân trong mấy ngày qua đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề của mưa lũ. Đã có những thống kê thật đau lòng và chắc rằng, những con số lạnh lùng đó chưa thể dừng lại, bởi thiên tai vẫn luôn rình rập và đe dọa cuộc sống con người.
Biến đổi khí hậu đang là vấn đề thời sự nóng bỏng hiện nay, đẩy con người tới bờ vực của sự nguy hiểm. Một trong các nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu là những tác động của con người tới thiên nhiên như: chặt phá rừng gây mất cân bằng sinh thái, sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp một cách thiếu khoa học. Rồi khói thải công nghiệp, khói thải đô thị làm thủng tầng ôzôn, gây nên hiệu ứng nhà kính khiến trái đất nóng dần lên. Nếu con người không có ngay các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn thì thảm họa từ thiên tai sẽ khôn lường.
Nói cách khác, nếu chậm trễ thì chắc chắn sẽ phải trả giá đắt. Vẫn biết, những trận lũ quét, lũ ống, sạt lở đất xảy ra liên tiếp tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tình trạng hạn hán ở các tỉnh miền Trung; rồi lũ lụt, nước biển xâm thực ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long... là tai họa từ trên trời rơi xuống, là bất khả kháng. Nhưng cũng phải nhìn nhận, đây không phải là một tai họa bất ngờ, mà nó được cảnh báo trước, khi con người có những tác động tiêu cực vào sự biến đổi của khí hậu và chính con người phải gánh chịu hậu quả của hiện tượng thời tiết bất thường, cực đoan.
Nghiên cứu mới đây của Quỹ châu Á chỉ ra rằng, trong 20 năm qua, Việt Nam là 1 trong 5 nước có mức độ rủi ro thiên tai cao nhất thế giới, với mức thiệt hại ước tính hàng năm cứ tăng dần. Trong tương lai, Việt Nam vẫn tiếp tục phải hứng chịu nhiều thiệt hại nặng nề nhất do hậu quả của biến đổi khí hậu. Có lẽ, sự cảnh báo đó là không thừa, nếu như trong tiềm thức nhiều người “nắng mưa là chuyện của trời", các cấp chính quyền, ngành, địa phương chưa thật sự chủ động trong phòng chống, ngăn ngừa thiên tai.
Thiệt hại do thiên tai là khó tránh khỏi, nhưng mức độ thiệt hại sẽ giảm nếu con người có hành động tích cực nhằm bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống. Tình trạng hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian qua cho thấy, thiên tai luôn rình rập và sẽ trở thành thảm họa nếu con người đối xử thô bạo với rừng.
Khi rừng đầu nguồn tiếp tục bị đốn hạ, thì những lo ngại của con người về thiên tai là hoàn toàn có thể hiểu được. Nạn phá rừng cũng chính là nguyên nhân khiến con người phải hứng chịu hiện tượng thời tiết cực đoan như El Nino, La Nina với tần suất ngày càng nhiều và khốc liệt, dẫn đến bão lụt, lũ quét, lở đất...
Đáng chú ý, tại khu vực Tây Nguyên, nơi có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất cả nước (khoảng 2,6 triệu ha), thì trung bình mỗi năm có khoảng 26.000 ha rừng bị mất. Rừng mất vào tay “lâm tặc”; rồi cả người dân cũng tham gia phá rừng để làm nương rẫy… Rừng ở Tây Nguyên tiếp tục bị thu hẹp qua mỗi mùa khô và mỗi mùa rẫy. Chỉ trong 5 năm trở lại đây, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án trên đất lâm nghiệp với diện tích gần 216.000 ha, trong đó có khoảng 100.000 ha chuyển sang trồng cao su.
Ý thức sâu sắc về hiểm họa to lớn, khó lường từ thiên tai, nhiều năm trở lại đây, Chính phủ Nhật Bản và nhiều tổ chức quốc tế đã dành cho Việt Nam những khoản vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại để đối phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể, Chính phủ Nhật Bản đã dành cho Việt Nam khoản vốn ODA không nhỏ để triển khai các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, bằng nội lực, Chính phủ Việt Nam hằng năm cũng dành nguồn ngân sách đáng kể để triển khai các chương trình trồng, bảo vệ rừng, các dự án phát triển sạch, chuyển đổi công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, ngăn nước biển dâng... Tuy nhiên, những nỗ lực đó chưa đủ, nó đòi hỏi sự nỗ lực hành động của mỗi cá nhân, của cả cộng đồng bằng những việc làm cụ thể. (Tin Tức 26/8) đầu trang(
Quyết định thu hồi 279 ha rừng và đất rừng Bảo Lâm của UBND tỉnh Lâm Đồng đang khiến rừng ngày càng bị tàn phá.
Năm 2009, tỉnh Lâm Đồng quyết định thu hồi 279 ha rừng và đất rừng trong một dự án được giao cho Công ty TNHH TM&DV Gia Linh, huyện Bảo Lâm. Quyết định này của tỉnh Lâm Đồng thể hiện sự vội vã và bị khiếu kiện - khiếu nại kéo dài. Rồi những kết luận trái ngược của các cơ quan liên quan, và tính kém hiệu quả thực tế - bởi rừng càng ngày càng bị tàn phá nhiều hơn.
Tiểu khu 613, xã Lộc Phú, huyện Bảo Lâm là một trong số những khu rừng đẹp nhất, từng được UBND tỉnh Lâm Đồng giao cho doanh nghiệp đầu tư dự án nông lâm kết hợp. Suốt nhiều năm qua, rừng ở đây bị xâu xé thảm khốc để lấy gỗ và lấy đất trồng cà phê. Từ hơn 1.000 thông do người Pháp trồng trong thế kỷ 20, nay chỉ còn hơn 300 ha.
Từ khi Công ty Gia Linh triển khai dự án trồng rừng, bảo vệ rừng và sản xuất nông - lâm kết hợp trên một phần tiểu khu này thì tranh chấp, xâu xé càng diễn ra nhiều. Tiểu khu 613 thuộc xã Lộc Phú, huyện Bảo Lâm, sau khi thu hồi được giao cho Ban quản lí rừng Đam-bri quản lí, vẫn tiếp tục bị tàn sát, xâm canh nghiêm trọng. Một diện tích rất lớn đất rừng đã được cày lật, chuẩn bị canh tác nông nghiệp. Toàn bộ rừng keo Công ty Gia Linh trồng cuối năm 2008, nay chỉ còn rải rác vài cây.
Dù tỉnh Lâm Đồng đã đóng cửa rừng, nhưng xung quanh khu nhà xây - làm trạm quản lý - bảo vệ rừng của Ban Quản lỷ rừng phòng hộ Đạm Bri, vẫn chất đống những cây thông đã được khai thác.
Ở rìa tiểu khu, cả chục ngàn mét vuông rừng và đất rừng đã được dọn sạch, thay vào đó là một trại bò bán kiên cố, đang nuôi hàng chục con và một khu nhà xây cấp 4 dành cho nhân viên trang trại. Đến cuối tháng 9/2012, đoàn liên ngành của tỉnh Lâm Đồng kiểm tra 11 điểm trước đây Gia Linh đã làm chòi giữ rừng, trồng rừng, thì tất cả chòi giữ đều không còn.
Cách trạm không xa là những tán thông vàng úa vì bị đầu độc, báo hiệu sẽ có thêm nhiều cây nữa bị chết, biến thành gỗ tận thu. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 26/8) đầu trang(
Theo Ban quản lý Rừng đặc dụng An Toàn, ngay từ đầu năm 2016, Ban đã phối hợp với UBND xã An Toàn, kiểm lâm địa bàn, tổ quản lý bảo vệ rừng các thôn đã tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét các đối tượng vào rừng khai thác gỗ, săn bắt động vật trái phép…
Đồng thời, kiểm tra các khu rừng đã được giao khoán cho các hộ tham gia bảo vệ; hướng dẫn người dân cách đốt thực bì làm rẫy (đất đã được quy hoạch sản xuất) để không gây nguy cơ cháy lan vào rừng; theo dõi cảnh báo nguy cơ cháy rừng từ website của Cục Kiểm lâm nhằm chủ động phòng ngừa và đề xuất các biện pháp xử lý kịp thời.
Kết quả, đầu năm đến nay chưa xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn quản lý; tình hình khai thác gỗ, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trái phép của các đối tượng trên địa bàn quản lý đã được ngăn chặn kịp thời.
Lực lượng bảo vệ rừng của Ban quản lý đã phát hiện và phá bỏ 4 lều trại tạm của các đối tượng săn bắt thú rừng, ngăn chặn và đề nghị xử lý 1 hộ dân lấn chiếm đất rừng sản xuất làm nương rẫy, góp phần tích cực vào công tác phòng cháy chữa cháy rừng, bảo vệ hiệu quả khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn. (Báo Bình Định 28/8) đầu trang(
“20 năm rồi, bản của chúng tôi chưa hề xảy ra cháy rừng! Người dân không vi phạm các quy định về bảo vệ rừng. Trong bản từ già tới trẻ ai ai cũng đều có ý thức bảo vệ rừng. Rừng là nhà, rừng cho nước uống, cho bóng mát, rừng cho làm kinh tế, thế thì phải giữ rừng...!”, già bản Lường Văn Phiếu, ở bản Cao Đa, xã Phiêng Ban, huyện Bắc Yên (Sơn La) chia sẻ.
Trưởng bản Cao Đa Hoàng Văn Đại cho biết: "Đây là địa bàn có diện tích rừng lớn ở huyện Bắc Yên, lại tiếp giáp với nhiều bản chung quanh cho nên giữ được rừng là rất khó...".
Bản Cao Đa, nằm cách trung tâm huyện ba km, có diện tích rừng trải dọc theo quốc lộ 37 và gần khu dân cư, cho nên nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Ngoài hơn 120 ha đất sản xuất, bản có 334 ha rừng tự nhiên, gần 60 ha rừng trồng thuộc Chương trình 661 của Chính phủ. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được bản quan tâm và có cách làm chặt chẽ nên đã giữ được rừng.
Ngoài thực hiện những quy định chung, tại đây bà con đã gắn bảo vệ rừng với thực hiện hương ước, quy ước của bản. Hương ước, quy ước bảo vệ rừng ở đây được giáo dục từ trong gia đình, dòng họ, ăn sâu vào ý thức người dân. Ban quản lý rừng cộng đồng bản là những người có uy tín, trách nhiệm, luôn gắn bảo vệ rừng với mọi việc trong bản...
Bên cạnh việc tuyên truyền cho bà con, bản còn có hương ước nêu rõ trách nhiệm bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng. Bản Cao Đa đã thực hiện tốt phương châm “bốn tại chỗ”, tổ chức nhân dân tham gia phát dọn các tuyến đường băng cản lửa, bảo đảm khoảng cách an toàn giữa rừng và nương rẫy, nơi ở của người dân. Mùa đốt nương rẫy, ngoài sự giám sát kiểm tra của cán bộ kiểm lâm địa bàn, bản Cao Đa còn tổ chức ký cam kết với từng hộ về việc đốt nương rẫy an toàn, đúng giờ quy định.
Chị Nguyễn Thị Mai Anh, cán bộ kiểm lâm địa bàn cho biết: "Bản Cao Đa là một trong những bản có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Nhờ thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng kịp thời, cùng với tiền bảo vệ rừng thuộc dự án KW7 giúp cho Ban quản lý rừng cộng đồng bản hoạt động hiệu quả”.
Cùng với việc giữ rừng, bà con ở đây còn trồng rừng rất hiệu quả. Đây cũng là một trong những nơi có phong trào trồng rừng sôi nổi. Mùa trồng rừng năm 2016 vừa qua, bản đã trồng thêm được bảy ha rừng xoan. Câu chuyện giữ rừng ở bản Cao Đa không chỉ là chuyện riêng của bản và người dân nơi đây, mà còn là kinh nghiệm cần được chia sẻ để các cơ sở ở tỉnh Sơn La và nhiều địa phương khác học tập, làm theo... (Nhân Dân 28/8) đầu trang(
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và xâm thực biển, nhiều khu vực bờ biển ở tỉnh Kiên Giang gần đây bị xói lở nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt của người dân khu vực ven biển.
Tại ấp Cây Gõ, xã Vân Khánh Tây, huyện An Minh trước kia là cả một vùng nuôi trồng thủy sản rộng lớn dưới tán rừng phòng hộ, nhưng giờ đây biển đã cuốn trôi tất cả diện tích rừng phòng hộ và sạt lở đến tận chân đê quốc phòng. Hàng chục hộ dân phải nhiều lần di chuyển nhà cửa, thậm chí phải tha hương vì không có đất để sinh sống, nuôi trồng.
Ông Nguyễn Văn Hùng, người dân địa phương than thở: "Tôi sống ở đây trên 30 năm rồi. Hồi trước bãi này chưa bị lở, gia đình tôi sống được, giờ bãi lở quá rồi nên ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống".
Theo những người dân sinh sống tại đây, chỉ trong một thời gian ngắn, xâm thực biển đã cuốn trôi hàng trăm hecta nuôi trồng thủy sản gần bờ và tuyến rừng phòng hộ, tương đương khoảng 60% diện tích ban đầu biến mất. Sạt lở đã vào đến tận chân đê, khiến hàng chục ngôi nhà của người nông dân ven biển sống trên tuyến đê Quốc phòng bị cuốn trôi theo dòng nước.
Còn tại ấp Mười Biển, xã Thuận Hoà, huyện An Minh, sóng biển mỗi ngày ăn sâu vào đất rừng nhiều hơn. Với diễn biến phức tạp này, diện tích bãi bồi, diện tích rừng ven biển ngày nào ở Kiên Giang giờ đây bị sóng biển gây sạt lở nghiêm trọng, làm mất khoảng 200 ha rừng. Vùng sạt lở có nơi ăn sâu từ vài trăm mét đến gần 1 km.
Tại huyện Kiên Lương, tình trạng xói lở nhiều nhất là khu vực hai xã Dương Hòa và Bình An. Nhiều nơi bờ biển bị xâm thực sâu đến hàng chục mét, có chỗ bị xói lở vào tận mép đường giao thông nông thôn, nứt tường nhà dân.
Bà Trần Mỹ Hương, ấp Hòn Heo, xã Dương Hòa, nói: "Mùa gió Nam này sóng lớn đánh lên tới nhà tôi. Lo sạt lở, nhà sập đè chết cả nhà nên tôi bàn với các con gom tiền làm bờ kè quanh nhà, chứ với sóng lớn như thế này thì chẳng mấy chốc căng nhà sẽ bị cuốn trôi ra biển".
Theo Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hòa Ong Văn Lình, địa phương đã có báo cáo lên cơ quan chức năng huyện và tỉnh. Mới đây, một đoàn khảo sát do Sở Tài nguyên và môi trường chủ trì đã xuống khảo sát toàn bộ các khu vực bị xói lở của huyện Kiên Lương, hy vọng sẽ sớm có giải pháp khắc phục, bảo vệ an toàn bờ biển, ổn định đời sống, sinh hoạt của người dân.
Về những giải pháp sắp tới, ông Nguyễn Văn Tâm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang cho rằng, để đầu tư hoàn thiện hệ thống cống và đê biển, Kiên Giang cần khoảng 2.700 tỷ đồng. Dự án đã được phê duyệt nhưng đang thiếu vốn.
Tuy nhiên, trước tinh hình sạt lở ven biển diễn ra nghiêm trọng như hiện nay, Kiên Giang đề nghị Chính phủ và các bộ ngành Trung ương sớm quan tâm bố trí vốn xây dựng hệ thống đê biển vững chắc cũng như hệ thống kè chống sạt lở ở khu vực rừng phòng hộ để gây bồi, tạo bãi đảm bảo sinh kế cho người dân và đảm bảo đê quốc phòng trong thời gian tới.
Tình trạng nước biển dâng gây xói lở, ảnh hưởng đến các công trình dân sinh và nhà cửa của người dân vẫn đang diễn ra từng ngày. Do vậy, người dân rất cần các ngành chức năng sớm có các biện pháp ngăn chặn xói lở, tạo bồi, giúp người dân địa phương an tâm lao động, sản xuất ổn định đời sống. (Dân Trí 28/8) đầu trang(
Ngày 29/8, ông Đinh Văn Thu, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã thay mặt lãnh đạo tỉnh trao thưởng “nóng” 20 triệu đồng cho Ban Chuyên án điều tra vụ phá rừng pơ mu ở huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.
Tại buổi trao thưởng, ông Đinh Văn Thu biểu dương cán bộ, chiến sỹ trong Ban chuyên án đã kịp thời điều tra, phát hiện các đối tượng chặt phá rừng tại huyện Nam Giang; đồng thời, yêu cầu Công an tỉnh Quảng Nam tiếp tục điều tra để làm rõ việc có hay không cán bộ tiếp tay cho các đối tượng khai thác trái phép rừng, kiên quyết vạch trần và đưa ra trước ánh sáng những đối tượng liên quan.
Trước đó, vào đầu tháng 7/2016, qua tin tố giác của nhân dân về một số đối tượng khai thác trái phép rừng tự nhiên pơ mu tại tiểu khu 351, xã La Dêê, huyện Nam Giang, Công an huyện Nam Giang đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Nam Sông Bung thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam kiểm tra tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào, gần Trạm kiểm soát Biên phòng cửa khẩu Nam Giang và phát hiện, thu giữ 297 phách pơ mu có khối lượng hơn 31 m3.
Do tính chất phức tạp của vụ việc trong khu vực biên giới nên ngày 14/7, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Nam Sông Bung ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Giang để điều tra xử lý theo quy định.
Mở rộng phạm vi điều tra, Công an huyện Nam Giang phát hiện thu giữ tổng số 611 phách, 8 lóng gỗ tròn có khối lượng hơn 47 m3.
Ngày 25/7, Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam đã quyết định rút vụ án về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh xác lập chuyên án đấu tranh.
Ngày 28/7, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Nam phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức khám nghiệm hiện trường, xác định có 60 cây gỗ pơ mu bị chặt hạ với khối lượng hơn 115 m3; trong đó, có 41 gốc gỗ pơ mu bị chặt tại khoảnh 5, 8 Tiểu khu 351 thuộc rừng phòng hộ với khối lượng 75m3, còn 19 gốc thuộc lãnh thổ Lào.
Qua điều tra, Công an tỉnh Quảng Nam đã khởi tố 9 bị can, trong đó có 5 đối tượng bị cơ quan cảnh sát điều tra bắt khẩn cấp, gồm: Nguyễn Văn Thắng (sinh năm 1978, trú tại huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình); Nguyễn Văn Sanh (sinh năm 1982, trú tại huyện Bố Trạch, Quảng Bình); Lê Trọng Dương (sinh năm 1968, trú tại huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình); Nguyễn Văn Quang (sinh năm 1982, trú tại huyện Bắc Trà My, Quảng Nam); Tiêu Hồng Tư (sinh năm 1967, quận Hải Châu, Đà Nẵng).
Nguyễn Văn Thắng là nhóm trưởng trực tiếp chặt hạ gỗ tại xã La Dêê; Nguyễn Văn Sanh là nhóm trưởng trực tiếp vận chuyển gỗ; Lê Trọng Dương là nhóm phó chặt hạ gỗ; Nguyễn Văn Quang là người tổ chức thuê nhóm khai thác và nhóm vận chuyển gỗ; Tiêu Hồng Tư là đối tượng đã cung cấp tiền để Nguyễn Văn Quang tổ chức khai thác, vận chuyển gỗ.
Bốn đối tượng tham gia khai thác ra đầu thú, bị khởi tố và cấm đi khỏi nơi cư trú, được cho tại ngoại, gồm: Mai Văn Cường, Mai Văn Châu, Phạm Văn Bồng, Lê Hồng Diêu. (Bnews 29/8, Công An Nhân Dân 29/8, Đại Đoàn Kết 29/8) đầu trang(
Vụ phá rừng pơ-mu ở Quảng Nam được đánh giá là có quy mô lớn nhất từ trước đến nay xảy ra trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, vụ việc được phát hiện một cách rất… tình cờ. Ngày 9-7, qua tin báo của người dân, Công an Quảng Nam lần lượt phát hiện hơn 60 cây pơ-mu cổ thụ bị chặt phá ở khoảnh 10 thuộc Tiểu khu 351; 591 phách gỗ pơ-mu, tám bìa gỗ pơ-mu, ba phách gỗ dổi với tổng khối lượng gần 45m3 gỗ bị phát hiện rải rác khắp khu vực…
Số lượng gỗ rất lớn, trị giá lên tới hàng chục tỷ đồng này, oái oăm là lại được phát hiện chỉ quanh quẩn trong khu vực hay ngay tại Trạm Kiểm soát Biên phòng cửa khẩu Nam Giang, Chi cục Hải quan cửa khẩu...
Tất nhiên, khi phát lộ sự việc, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam phản ứng khá nhanh. Chỉ huy Biên phòng tỉnh, Bộ Tư lệnh Biên phòng lập tức đình chỉ công tác ba chỉ huy biên phòng trong khu vực. Đó là các Đồn trưởng, chính trị viên, và Đồn phó Đồn Biên phòng cửa khẩu Nam Giang. Ngành Hải quan cũng thực hiện đình chỉ công tác đối với Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Nam Giang để phục vụ điều tra do có liên quan đến vụ phá rừng pơ-mu này.
Tới ngày 5-8, các cơ quan chức năng tiếp tục phát hiện và thu giữ 176 phách gỗ pơ-mu với khối lượng 7,1m3 tại khu vực sau lưng Trạm Kiểm soát Biên phòng cửa khẩu Nam Giang. Ngay trong thời gian đó, Thủ tướng Chính phủ (căn cứ theo thông tin của cơ quan báo chí) yêu cầu tỉnh Quảng Nam phải báo cáo rõ vụ việc với Thủ tướng trước ngày 25-8.
Phải hoan nghênh sự nhanh chóng vào cuộc của các cơ quan chức năng và Chính phủ trong xử lý vụ việc từ khi phát hiện. Và cũng nhanh không kém, một số đối tượng nghi vấn đã bị bắt giữ phục vụ điều tra. Tới ngày 20-8, thêm ba đối tượng khác tự nguyện ra đầu thú, chứng minh sự liên quan của mình tới vụ phá rừng pơ-mu.
Như vậy có thể thấy, cơ quan điều tra đã hoạt động vô cùng hiệu quả trong điều tra vụ việc. Nhưng khác biệt ở đây là, sự nhanh chóng trong điều tra mà các cơ quan chức năng tiến hành hoàn toàn tương phản với sự chậm chạp trong ngăn chặn và phát hiện vụ việc.
Rõ ràng là, việc phá hoại rừng pơ-mu, xẻ thành hàng trăm phách gỗ, tập kết gọn gàng trong nhà dân và ngay sau lưng các cơ quan chức năng… không diễn ra trong một sớm một chiều. Song vụ việc chỉ bị phát hiện ra bởi một sự tình cờ, do người dân phát hiện.
Điều này cho thấy một sự thất bại lớn trong công tác bảo vệ rừng. Phải mất hàng trăm năm nữa, với rất nhiều công sức, mới có thể có được những cây pơ-mu cỡ như những cây vừa bị đốn hạ. Đi kèm đó, là sự mất mát về đội ngũ những người tham gia công tác bảo vệ rừng.
Những gì đã xảy ra với rừng pơ-mu tại Quảng Nam cho thấy thực tế là, rừng vẫn bị tàn phá, và thường chỉ “được” làm rõ bởi những sự vụ tình cờ. Trong khi, vẫn có cả một hệ thống pháp luật và một đội ngũ hùng hậu những người thực thi pháp luật đang hoạt động đều đều?! (Nhân Dân 26/8) đầu trang(
Mới đây, ông Bh’riu Liếc, Bí thư huyện ủy Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, cho biết, trong chuyến khảo sát đỉnh Arung, huyện Tây Giang đã phát hiện khu rừng Đỗ Quyên nguyên sinh ngàn năm tuổi.
Trong chuyến thăm các khu rừng huyện miền núi Tây Giang, Quảng Nam, Đoàn công tác huyện Tây Giang cùng Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh đã khảo sát đỉnh núi Arung, ở độ cao 2.050m so với mực nước biển, thuộc địa phận thôn Abanh 2, xã Tr’hy, huyện Tây Giang.
Đoàn công tác bất ngờ phát hiện khu rừng Đỗ Quyên nguyên sinh với hàng trăm cây cổ thụ trăm tuổi nằm trên dãy núi Trường Sơn, Đỗ Quyên là loại cây cho hoa đẹp, có nhiều giá trị. Đây là phát hiện đầu tiên về một khu rừng nguyên sinh Đỗ Quyên ở một vùng ít người đặt chân đến.
Theo ông Bh’riu Liếc, tổng diện tích khu rừng ước tính rộng 50ha, cây Đỗ Quyên mọc tự nhiên rất đa dạng về kích cỡ, bám vào vách đá cheo leo, nhiều cây có đường kính 30cm, cao từ 5-10m.
Đặc biệt, với nhiệt độ khoảng 15°C, nên có nhiều rêu bám, mang lại một vẻ đẹp hoang sơ. Khu rừng nguyên sinh này còn nhiều loại cây như cây thông 5 lá, ngọc cẩu, dầu chổi, lan gấm.
Dự kiến, Huyện Tây Giang sẽ có kế hoạch phát triển khu rừng này, trong đó sản phẩm du lịch thám hiểm trở thành nét đặc trưng, cùng với phát triển du lịch văn hóa vùng núi.
Được biết, trước đó “Vương quốc hoa Đỗ Quyên” một khu rừng kỳ vĩ cũng đã được phát hiện nằm dưới chân đỉnh Fansipan, Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1.800 - 2.200m so với mực nước biển. (Sài Gòn Giải Phóng/ Tiền Phong 28/8) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Phước vừa giao cho Công ty Cao su Sông Bé thực hiện chuyển sang trồng cao su, tại khu vực rừng tiểu khu 69 Nông lâm trường Bù Đốp (Huyện Bù Đốp), với 354 ha, theo đánh giá của tỉnh là thuộc đối tượng rừng nghèo.
Thế nhưng, theo phản ánh của lãnh đạo Hạt kiểm lâm huyện Bù Đốp thì khu vực này trước đây là rừng tự nhiên, được tỉnh quy hoạch là rừng sản xuất. Sau một thời gian khoanh lại, hệ sinh thái, cây rừng đã phát triển rất tốt, nhưng vì khai thác hết gỗ lớn, nên hiện tại nó bị đánh giá là rừng nghèo. Nhưng chỉ cần để 20-30 năm nữa, khu vực này sẽ lại thành rừng giàu, với các loài cây vô cùng quý.
Trao đổi với Đất Việt về vấn đề trên, ngày 24/8, TS Nguyễn Cử - chuyên gia quy hoạch bảo tồn thiên nhiên, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (IEBR) cho biết: "Rừng Bù Đốp là nơi bị chiến tranh tàn phá cũng nhiều bởi chất độc hóa học, nên chắc chắn nó sẽ trở thành rừng nghèo, phát triển chậm hơn so với các khu rừng khác.
Nhưng nếu chúng ta để lại khôi phục, phục hồi, bảo vệ thì tất nhiên sẽ trở thành rừng tốt, rừng giàu trong tương lai. Quan điểm của tôi rất rõ ràng, chúng ta nên bảo vệ, giữ gìn và chăm sóc rừng tự nhiên, để phát triển thì tốt hơn là trồng mới.
Ở đây, tôi chưa nói là trồng cao su hay trồng cây gì, nhưng dù là loại gì thì kết quả trồng rừng mới cũng không bao giờ bằng chuyện phục hồi các rừng nghèo kiệt tự nhiên, để thành rừng giàu.
Kinh nghiệm trồng rừng mới thường là trồng loại gần như thuần chủng, nên kết quả trồng rừng không bằng rừng đã được phục hồi. Tôi đã đi khắp nơi trên cả nước, thấy rằng nếu chúng ta chịu khó bảo vệ rừng nghèo kiệt, rừng đã chặt để trở thành rừng tốt trong tương lai dễ hơn việc đầu tư trồng rừng mới".
Thực tế, theo ông Cử, rừng mới chủ yếu hiện nay là rừng nhì, là rừng trồng các cây như keo, 2-3 năm sau mọc rất tốt, nhưng không có giá trị về lâm nghiệp. Còn nếu như trồng cây gỗ quý trong rừng nghèo kiệt thì môi trường sẽ lại tạo điều kiện cho các cây này phát triển hơn là trồng một mình giữa khu đất trơ trọi.
"Tôi đã chứng kiến cách trồng rừng A Lưới, họ cũng chặt hết rồi trồng cây gỗ quý vào dãy Trường Sơn, các cây đó phát triển rất tốt, rất nhanh. Hiện nay, một số tỉnh như Thanh Hóa, Cát Bà cũng có trồng rừng gỗ lim, nhưng chắc chắn nếu mình trồng xen kẽ trong rừng đang có để nó phục vụ sau suy thoái, sẽ hiệu quả hơn là đầu tư trồng rừng.
Đừng thấy nghèo, đừng thấy thưa thớt, thì lại phá đi luôn để trồng cây khác, quan điểm của tôi xưa nay luôn có nhận định hãy nghĩ tới chuyện phục hồi rừng, thay vì thay rừng", ông Cử chỉ rõ.
Riêng về vấn đề quy hoạch, theo ông Cử, hiện nay, các địa phương đều dựa theo Thông tư 58/2009 của Bộ NN&PTNT - hướng dẫn việc trồng cây cao su trên đất lâm nghiệp. Ở đây nêu rõ, rừng gỗ nghèo, có trữ lương cây dưới 100m3/ha thì sẽ được phá trồng cây cao su.
Nhưng cách quy định trên, cho thấy rõ, quy hoạch hiện nay là quy hoạch để khai thác gỗ hơn là quy hoạch để giữ gìn, phát triển rừng, đó là sự phi lý.
Ngày xưa, rừng Bù Đốp chủ yếu là gỗ cây dầu đồng, cây giáng hương, cây cà chất, toàn những cây có giá trị lớn, rất quý hiếm. Những cánh rừng này mà khôi phục thì có ý nghĩa kinh tế, môi trường rất tốt.
"Quan điểm của tôi là bảo vệ, bảo vệ từ những cánh rừng nghèo kiệt. Bởi, rừng nghèo là khái niệm từ xưa đến nay của Bộ NN&PTNT, dùng để đánh giá, vì thế mới sinh ra quy hoạch không phải quy hoạch bảo vệ rừng mà là quy hoạch khai thác rừng", ông Cử nói.
Trước nhiều ý kiến cho rằng, sau làn sóng các tỉnh đua nhau làm thủy điện, giờ lại đến làn sóng đua nhau trồng cây cao su, cà phê, khiến cho diện tích rừng tự nhiên ở nhiều địa phương bị phá hủy, suy giảm trầm trọng, ông Cử thẳng thẳn, bản thân ông đã nhiều lần nghe thấy có lệnh đóng cửa rừng. Riêng với Bình Phước, họ cho phép dự án chặt rừng trồng cao su trước lệnh đóng cửa rừng chỉ vài ngày, điều này là không đúng.Chính phủ đã chỉ đạo thì địa phương nào cũng phải làm theo, dù chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.
''Dư luận có quyền đặt câu hỏi, tỉnh đang tận dụng trong tình hình chưa rõ ràng, tranh thủ làm cho xong, tránh mất lợi ích từ dự án liên quan đến rừng'' - vị chuyên gia thẳng thắn.
Qua sự việc trên, ông Cử nhấn mạnh: "Quy định về rừng nghèo chỉ nên sử dụng cho những cánh rừng chúng ta lập quy hoạch để khai thác và chặt gỗ như trước đây.
Rừng giàu chặt trước, chặt theo hình thức xen kẽ, chọn lọc, cây nào lớn thì mới chặt. Chỗ tốt phải chặt trước, quy hoạch là để biết chặt chỗ nào trước, chỗ nào sau, khi có quy hoạch thì cứ như vậy mà thực hiện, không được thay đổi".
Nhìn nhận ở góc độ khác, ông Cử cũng không thấy lạ, khi Bình Phước lập dự án chuyển đổi rừng tự nhiên sang rừng sản xuất, rồi lại lập dự án phá rừng sản xuất để trồng rừng cao su. Vị chuyên gia nói thẳng, dự án kéo theo nhiều thứ đằng sau.
''Dự án trồng cao su để xuất khẩu, khai thác tài nguyên đất đai, nghe thì hoành tráng, nhưng phá rừng để trồng cây cao su đúng là ngược đời. Hệ sinh thái về đa dạng sinh học của loại rừng trên rất nghèo. Vào rừng cao su không có gì, ngoài một vài con lợn rừng, một vài con công, chim chóc, con thú cũng không có'' - ông phân tích.
Ông Cử nhấn mạnh, trong tình hình cấm cửa rừng, môi trường đang bị đe dọa thì không nên phá rừng trồng cao su. Bình Phước là tỉnh rất giàu về đất đỏ, thì nên trồng tiêu, cà phê để phát triển kinh tế, còn ít rừng tự nhiên hãy giữ lại.
"Đừng lợi dụng trước ngày đóng cửa rừng, để vét chuyến tàu cuối cùng lợi ích từ tài nguyên sẵn có trên. Nếu thành cao trào phá rừng tự nhiên, vì tỉnh này làm được tỉnh kia cũng tranh thủ làm, thì đó là hệ quả khó lường", ông Cử khẳng định. (Đất Việt 29/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, tình trạng phá rừng, xâm lấn đất lâm nghiệp để trồng rừng kinh tế diễn ra ồ ạt tại nhiều địa phương trên địa bàn huyện Phù Mỹ khiến cả người dân và chính quyền địa phương đau đầu…
Từ tháng 5/2016 đến nay, nhiều hộ dân ở xã Mỹ Chánh, Mỹ Chánh Tây đổ xô lên khoảnh 3, tiểu khu 181A (thuộc khu vực hồ Hóc Trạnh, nơi giáp ranh giữa 2 thôn Công Trung và Trung Xuân, xã Mỹ Chánh) chặt phá cây rừng, lấn chiếm, xâm hại hàng chục hecta đất lâm nghiệp để trồng rừng kinh tế khiến nhiều khoảnh rừng và đất lâm nghiệp bị triệt hạ, xâm hại nghiêm trọng.
Để chiếm hàng ngàn mét vuông đất rừng, nhiều đối tượng chọn phương án khoanh bao “xí phần” trái phép; sau đó tiến hành phát dọn, xử lý thực bì. Đáng nói, nơi diễn ra nạn phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp chỉ cách trụ sở UBND xã Mỹ Chánh chưa đầy 2km, nhưng chính quyền địa phương lại “đổ” trách nhiệm quản lý cho Ban Quản lý rừng phòng hộ  (BQLRPH) huyện Phù Mỹ.
Một số người dân thôn Công Trung cho biết: Từ tháng 5 đến nay, mỗi ngày có hàng chục đối tượng đem rựa, cưa máy lên khu vực hồ Hóc Trạnh chặt phát cây rừng, đốt dọn thực bì để trồng keo. Họ phá rừng công khai như chốn không người nhưng chẳng thấy chính quyền địa phương kiểm tra, can thiệp.
Để xác thực vấn đề, chúng tôi tìm gặp và được ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch UBND xã Mỹ Chánh xác nhận: “Đúng là có chuyện người dân lấn chiếm, xâm hại đất lâm nghiệp tại hồ Hóc Trạnh. Xã đã phối hợp với BQLRPH huyện Phù Mỹ kiểm tra, đo đạc và thống kê được 31,16ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ nằm xung quanh khu vực hồ Hóc Trạnh bị người dân xâm chiếm trái phép. Chúng tôi đang chờ ý kiến chỉ đạo từ UBND huyện Phù Mỹ để có hướng xử lý tiếp theo”.
Trước câu hỏi trách nhiệm của địa phương khi để xảy ra hiện tượng lấn chiếm đất trên diện rộng, ông Bình cho hay: “Diện tích đất lâm nghiệp bị xâm hại kể trên ngành chức năng đã giao cho BQLRPH huyện Phù Mỹ quản lý, địa phương chỉ là đơn vị phối hợp”. Trong khi đó, ông Bùi Văn Thăng, Giám đốc BQLRPH huyện Phù Mỹ lại cho rằng: “Diện tích đất lâm nghiệp này thuộc sự quản lý của xã Mỹ Chánh. Để xảy ra vụ việc này, xã Mỹ Chánh phải chịu trách nhiệm đầu tiên”.
Qua tìm hiểu được biết, không chỉ ở Mỹ Chánh, từ tháng 4/2016 đến nay, tình trạng lấn chiếm, xâm hại rừng và đất lâm nghiệp còn diễn ra tại khoảnh 7, tiểu khu 141 - khu vực hồ Hóc Miếu - thuộc thôn Mỹ Phú, xã Mỹ Lợi; khoảnh 1, tiểu khu 179 và khoảnh 3, tiểu khu 173 - khu vực lòng hồ Đập Lồi - thuộc thôn Hội Phú, xã Mỹ Hòa; tiểu khu 208 - khu vực hồ Chí Hòa - thuộc thôn Vạn Phước Tây, xã Mỹ Hiệp. Những vụ vi phạm này đến nay cũng mới dừng lại ở bước lập biên bản đình chỉ và xác minh đối tượng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước tình hình trên, ông Hà Ngọc Tân, Phó Chủ tịch UBND huyện Phù Mỹ thẳng thắn: Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện diễn ra phức tạp, có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Các cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương đã kiên quyết vào cuộc, kiểm tra, xử lý, nhưng kết quả chưa như mong muốn, chưa đủ răn đe, ngăn chặn các đối tượng vi phạm.
UBND huyện đã có văn bản chỉ đạo UBND các xã Mỹ Chánh, Mỹ Hòa, Mỹ Hiệp, Mỹ Lợi và BQLRPH huyện rà soát lại diện tích rừng, đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ, chức năng sản xuất đã và đang bị xâm hại; khẩn trường xác lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề này, ông Bùi Văn Thăng cho biết: “Qua kiểm tra, rà soát thì từ tháng 4/2016 đến nay, toàn huyện Phù Mỹ có gần 66ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ đã bị người dân xâm hại; tập trung chủ yếu ở các xã Mỹ Chánh, Mỹ Lợi, Mỹ Hòa và Mỹ Hiệp. Chúng tôi đang phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện và chính quyền địa phương tích cực xác minh, làm rõ đối tượng vi phạm để củng cố hồ sơ xử lý”.
Cũng theo ông Thăng: Dự tính, những diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm sẽ được các đối tượng trồng cây lâm nghiệp vào mùa mưa năm nay. Để ngăn chặn hiện tượng này, BQLRPH huyện Phù Mỹ đang phối hợp với chính quyền các địa phương tổ chức theo dõi, giám sát chặt chẽ. Đồng thời, tổ chức kiểm tra, xác minh cụ thể diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và xác định đối tượng thực hiện hành vi lấn chiếm để báo cáo, đề xuất UBND huyện Phù Mỹ xử lý đúng theo quy định của pháp luật. (Pháp Luật Việt Nam 29/8) đầu trang(
Một rừng tràm lung bầu nước phèn tại Hậu Giang đang dần trở thành khu du lịch sinh thái lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long, với diện tích 150ha. Dự án triển khai xây dựng từ năm 2009, dự kiến mở cửa đón khách thăm quan vào năm 2018.
Vùng này trước đây là khu lung bầu ngập nước nhiễm phèn nặng của huyện Vị Thủy, ngoài cây tràm không loại cây trồng nào thích nghi được với đất đai tại đây.
Từ khi thực hiện Dự án khu du lịch sinh thái Việt-Úc Hậu Giang, Công ty Việt-Úc Hậu Giang đã thực hiện nhiều biện pháp cải tạo đất bằng cách nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, bón vôi rửa phèn để hình thành nên khu trồng cây ăn quả đặc sản Nam bộ như măng cụt, sầu riêng, mãng cầu xiêm, nhãn, ổi, mít, thanh long, bình bát, dừa..., với diện tích 13ha, dự kiến sẽ tiếp tục trồng thêm cây ăn quả trên 35ha.
Các loại cây này trồng theo từng khu riêng biệt nằm dọc các kênh, mương trong khu du lịch để du khách có thể nhìn ngắm khi di chuyển bằng thuyền, có thể lên từng khu để thăm quan và tự tay thu hoạch quả chín.
Điểm nhấn của khu du lịch sinh thái là vườn chim tự nhiên rộng 10ha với các loại chim, cò đặc trưng vùng sông nước miền Tây như cò trâu, cò ngà, vạc, le le, cồng cộc, vịt trời; khu nuôi động vật hoang dã có heo rừng, trăn, ong lấy mật; các kênh mương được thả nhiều loại cá đồng như cá lóc, cá trê, cá thát lát, cá phi... Đây là nguồn cá để du khách trải nghiệm các hoạt động câu cá, đặt lờ, trúm, giăng lưới cũng như thưởng thức các loại cá sống trong môi trường tự nhiên.
Các loại cây trồng, vật nuôi trong khu du lịch đều có mối liên hệ với nhau: cây bình bát trồng ven kênh, rạch có quả chín sẽ rụng xuống nước làm nguồn thức ăn cho cá, các loại quả khác nếu du khách thu hoạch không hết sẽ được tận thu làm nguồn thức ăn cho trăn, heo rừng và các loài động vật hoang dã khác.
Cây dừa không chỉ cung cấp bóng mát, quả để uống nước mà còn thu hoạch lấy củ hủ dừa (phần lõi nằm phía trong ngọn cây) để ăn sống hoặc chế biến các món gỏi đặc sản Nam Bộ. Toàn bộ khu du lịch sinh thái được bao bọc, bảo vệ bởi hàng rào tre xanh, có thể tận thu măng để chế biến thức ăn cho du khách.
Tại khu du lịch sinh thái Việt-Úc, du khách có nhiều loại hình lưu trú để lựa chọn, trong đó có khu nghỉ dưỡng cao cấp, khu nhà sàn làm bằng gỗ, lợp lá dừa hoặc nghỉ tại phòng trên du thuyền di chuyển dọc các dòng kênh, rạch trong khu du lịch.
Ngoài lợi thế về diện tích rộng lớn có thể trồng nhiều loại cây ăn quả và nhiều hạng mục dịch vụ, hệ thống kênh, mương được đào đan xen nhau, khu du kịch sinh thái Việt-Úc còn có lợi thế lớn về vị trí vì khu vực này chỉ cách 50km so với thành phố Cần Thơ - trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, có sân bay Cần Thơ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách từ khắp nơi trong cả nước và khách quốc tế.
Ông Phan Phước Thọ, Phó Giám đốc Công ty Việt-Úc Hậu Giang cho biết khi thực hiện dự án, Công ty chú trọng đến chất lượng và độ an toàn của các dịch vụ đối với du khách, vì vậy đã trồng các loại cây ăn quả từ sớm để có độ cao và tán rộng ổn định, được trồng hoàn toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP để du khách thu hoạch và thưởng thức ngay tại vườn.
Ngoài ra, dịch vụ vận chuyển bằng du thuyền, ghe, xuồng, lưu trú đảm bảo tiêu chuẩn an toàn nhất cho di khách tại khu du lịch sinh thái.
Về lâu dài, khi đi vào hoạt động, khu du lịch sinh thái Việt-Úc sẽ tạo việc làm cho khoảng 300 lao động địa phương thực hiện các công việc trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn du khách chèo ghe, xuồng, đánh bắt cá và các dịch vụ ăn uống. (Vietnam + 28/8) đầu trang(
Vào khoảng 14h30 ngày 28/8, tại Hạt Kiểm lâm huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra vụ cháy lớn làm thiệt hại một số tài sản và rất nhiều giấy tờ, hồ sơ quan trọng.
Theo đó, vào thời điểm trên, người dân phát hiện lửa bốc cháy từ dãy nhà làm việc của Hạt kiểm lâm huyện. Ngay lập tức, mọi người hô hoán nhau dập lửa. Khoảng 30 phút sau, ngọn lửa đã được khống chế, tuy nhiên nhiều hồ sơ cùng giấy tờ và một số tài sản đã bị ngọn lửa thiêu trụi.
Thầy Lê Quốc Châu - Giáo viên trường PTTH Cù Huy Cận (huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh), là nhân chứng vụ cháy kể lại: "Lúc đấy, tôi và một số người bạn đang đi qua Hạt Kiểm lâm huyện Cẩm Xuyên thì thấy lửa cháy từ phòng Hạt trưởng sau đó cháy lan sang các phòng lân cận. Ngay sau đó, mọi người đã hô hoán cùng nhau dập lửa”.
Thông tin về vụ cháy, ông Trương Quốc Long, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh cho biết: “ Ngọn lửa đã thiêu trụi một số tài sản như bàn, ghế và một số giấy tờ". Cũng theo ông Long, nguyên nhân ban đầu được xác định là do chập điện. (Người Đưa Tin 29/8) đầu trang(
Cuộc trao đổi này cũng làm rõ những điểm mới trong dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, sẽ được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ hai sắp tới.
Ủy ban Quốc phòng và An ninh vừa họp thẩm tra sơ bộ dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. So với Pháp lệnh năm 2011, dự thảo luật này so với pháp lệnh có một số điểm tiến bộ. Thứ nhất là quy trình cấp, quản lý, bảo vệ súng và quy trình cấp công cụ hỗ trợ được rà soát lại và quy định chặt chẽ hơn. Thứ hai là quy định nổ súng, so với pháp lệnh, quy định trong luật rõ hơn và sâu hơn, giúp người sử dụng súng vững tâm hơn.
Dự thảo luật quy định về nổ súng trên cơ sở kế thừa các nguyên tắc nổ súng quy định tại Pháp lệnh. Đồng thời, quy định cụ thể về những trường hợp nổ súng sau khi đã cảnh báo và những trường hợp được nổ súng không cần cảnh báo.
Trong vụ việc xảy ra ở Yên Bái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đỗ Cường Minh đã mang theo súng khi vào gặp Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh. Vậy theo quy định, cán bộ có chức trách được quyền mang theo súng bên mình bất cứ lúc nào không, thưa ông?
Phải xác định rằng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đỗ Cường Minh là đối tượng được cấp súng. Nhưng theo quy định của luật, cấp súng là để đi làm nhiệm vụ, chứ anh không được mang súng về nhà, không được mang súng đi chơi, không được lúc nào cũng mang súng.
Cả quân đội, công an và kiểm lâm cũng thế, nguyên tắc là đơn vị cấp súng phải có kho để súng, khi có lệnh của cấp có thẩm quyền mới mở kho cấp súng. Quy trình cấp súng được quy định rất chặt chẽ, cụ thể. Nhưng trường hợp này là do ông Minh sử dụng sai, không chỉ ông ấy mà liên quan đến cả những người ở dưới. Nhưng cũng có cái khó là ông Minh lại là người đứng đầu, nên chắc chắn do có sự nể nang mới dẫn đến hậu quả đáng tiếc.
Ông cũng nói đã nghiên cứu kỹ hồ sơ của Bộ Công an và kiểm lâm trong vụ việc xảy ra ở Yên Bái, vậy lỗ hổng trong vụ án này theo ông nghĩ là do quản lý ở chính các đơn vị liên quan. Đối với kiểm lâm trong thời điểm hiện nay, lâm tặc hoạt động rất nhiều, việc trang bị súng khi đi làm nhiệm vụ là lý do chính đáng.
Trong đơn vị kiểm lâm, nếu làm theo trình tự cấp súng theo quy định thì Chi cục trưởng không thể mang súng ra ngoài. Ở Tỉnh uỷ, nếu không vì nể nang do quen biết mà kiểm tra theo đúng nguyên tắc thì cũng không ai có thể mang súng vào phòng lãnh đạo. Đây là bài học sâu sắc về việc nghiêm chỉnh chấp hành quy định của luật.
Theo quy định trong luật, muốn lấy súng khỏi đơn vị quản lý phải có quyết định của chỉ huy đơn vị, thủ trưởng cơ quan. Lần này đi kế hoạch thế này, có bao nhiêu người đi và được trang bị súng thế nào. Người chỉ huy đơn vị sẽ ra kế hoạch, cấp dưới làm theo chỉ thị của chỉ huy, xây dựng kế hoạch để chỉ huy phê duyệt, phê duyệt xong, người cấp súng mới cấp cho cán bộ đi làm nhiệm vụ. Việc sử dụng súng cũng phải nêu rõ lấy súng trong khoảng thời gian bao lâu, sau khi hết hạn đó phải nộp súng vào trong kho. Trình tự rất chặt chẽ.
Khi không đi làm nhiệm vụ thì phải để súng trong kho, lúc ấy phải có thủ kho giao nhận hẳn hoi. Muốn lấy súng đi phải có lệnh, nhưng như vụ ở Yên Bái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm là người đứng đầu cao nhất của đơn vị đó nên khó vận dụng theo nguyên tắc, trình tự khi lấy súng ra, bởi chẳng lẽ cấp trên yêu cầu cấp súng mà cấp dưới lại không cho? Trường hợp này, chắc chắn cũng không ai ngờ ông Minh lại lấy súng sử dụng vào việc gây hậu quả nghiêm trọng đến thế.
Theo quy định khi qua cổng bảo vệ để vào cơ quan Tỉnh uỷ hoặc trụ sở các bộ, ngành thì có kiểm tra vũ khí mang theo không thì cái đó thực chất trong nguyên tắc và quy trình là có, nhưng do chúng ta không thực hiện mà thôi. Qua vụ việc ở Yên Bái, sẽ thức tỉnh các cơ quan công quyền phải thực hiện theo đúng nguyên tắc. Ở các nước trên thế giới quy định rất chặt chẽ, kể cả lãnh đạo vào cơ quan cũng đều phải qua kiểm tra, nhưng ở nước ta thì quy định kiểu “ngoài chặt, trong lỏng”. Quy trình rõ ràng là phải kiểm tra, nhưng chỉ vì quen biết mà bỏ qua. Nếu làm bài bản sẽ không có gì xảy ra, nhưng chỉ cần không bài bản một lần thì sẽ gây hậu quả đáng tiếc.
Vụ việc xảy ra ở Yên Bái gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nhưng việc xử lý trách nhiệm cũng khó. Thứ nhất, nếu nó xảy ra theo hướng ông Minh là người lợi dụng việc công để làm việc tư, lợi dụng quyền hạn để làm việc công thì chính ông Minh phải chịu trách nhiệm.
Nếu cả cơ quan kiểm lâm hôm ấy không có kế hoạch trang bị hay cấp súng cho ông Chi cục trưởng này mà tự ông ấy ra lệnh lấy súng thì rõ ràng ông ấy phải chịu trách nhiệm chứ không phải ai khác. Hiện nay, hồ sơ công an vẫn đang trong giai đoạn điều tra, chưa biết cụ thể thế nào. Sau này, điều tra hoàn chỉnh rồi mới phân ra xem trình tự lấy súng và sử dụng súng thế nào, động cơ, mục đích gì. Từ đó sẽ xác định sai ở đâu, trách nhiệm của ai.
Luật quy định cấp súng cho các lực lượng QĐND, CAND, kiểm ngư, kiểm lâm, lực lượng hải quan ở cửa khẩu và trực tiếp chống buôn lậu... Những đối tượng này được cấp súng rồi thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Cục trưởng Cục Kiểm lâm hay Cục trưởng Cục Hải quan mới có hướng dẫn quy định cụ thể trình tự, thủ tục cấp súng.
Dựa vào thông tư hướng dẫn ấy, về từng đơn vị sẽ có quyết định cấp súng cho những ai. Ai được cấp súng kèm theo phải có giấy phép sử dụng súng. Được cấp phép rồi thì phải kiểm tra về sức khoẻ, phẩm chất của người được cấp súng xem có đủ năng lực để được cấp và sử dụng súng hay không, sau đó mới cấp. Nếu không đủ tiêu chuẩn thì không cấp.
Khi cấp súng rồi thì anh phải có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích, được học, được huấn luyện bài bản, nếu sai phải chịu trách nhiệm.
Vũ khí, chất liệu nổ vốn rất nguy hiểm nên khi thiết kế luật hay pháp lệnh đều theo hướng quản lý càng ngày càng chặt chẽ. Các đối tượng được cấp súng là người được bồi dưỡng, huấn luyện, tuyển chọn kỹ, chặt chẽ. Trình tự cũng rất đầy đủ, chỉ có điều mình không thực hiện thôi. Chúng ta đừng nghĩ rằng, khi có sự việc gì xảy ra gây hậu quả thì đều là do lỗ hổng của luật. Ví dụ như quy định nổ súng về mặt nguyên tắc, lý luận đều rất chặt, nhưng do thực hiện của mình không chuẩn. Vụ việc ở Yên Bái cũng vậy, không phải do hậu quả vụ này mà đổ rằng luật có lỗ hổng, đây là do ý thức, trách nhiệm thực hiện luật chưa tốt.
Việc xử lý trách nhiệm của thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan được trang bị vũ khí từ trước đến nay được thực hiện thế nào, thưa ông?
Nếu Thủ trưởng hoặc người đứng đầu đơn vị xử lý sai nguyên tắc, tuỳ theo tính chất mức độ sẽ quyết định mức xử lý hành chính hoặc hình sự. Quy định này rất chặt chẽ và nghiêm ngặt trong luật.
Thực tế hiện nay, tình trạng tàng trữ và sử dụng vũ khí nóng trong dân rất nhiều. Nguyên nhân do đâu và chúng ta phải giám sát thế nào thì cũng đã được bàn thảo nhiều trong dự thảo luật. Có hai luồng tư tưởng khác nhau.
Thứ nhất có ý kiến cho rằng, không nên đưa vào luật việc quản lý vũ khí trong dân, đặc biệt là vũ khí của đồng bào dân tộc khi mỗi nhà đều có súng tự tạo, tự chế vì không quản được, đưa vào luật là không thực tiễn.
Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, cần đưa tất cả các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ vào luật để quản lý. Còn việc thực hiện luật không được thì phải giáo dục cho dân, đó là chuyện khác. Quan điểm là luật cần đưa vào và quy định hết. Những gì cấm cũng phải đưa hết vào để toàn dân có ý thức nhận thức, tuân thủ pháp luật.
Trước đây, rất ít trường hợp tội phạm ma tuý sử dụng vũ khí nóng, các băng nhóm tội phạm cũng ít, nhưng giờ sử dụng rất nhiều, tình hình rất phức tạp nên luật càng cần tiếp tục thắt chặt quy định. (Giao Thông 29/8) đầu trang(
Nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường sinh thái và sử dụng hợp lý giá trị tài nguyên rừng đến năm 2020, tỉnh Cà Mau vừa thông qua quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia U Minh Hạ. Theo đó, từ nay đến năm 2020 sẽ đầu tư gần 400 tỷ đồng để hoàn thành các nội dung đề ra.
Mục tiêu cụ thể trong việc quy hoạch là đánh giá thực trạng Vườn Quốc gia U Minh Hạ. Từ đó, quy hoạch các phân khu chức năng của Vườn và xác định các hạng mục đầu tư để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Các chương trình hoạt động và giải pháp đồng bộ sẽ được xây dựng để thực hiện tốt công tác quản lý, phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo tồn đa dạng sinh học…Thiết lập kỹ thuật về quản lý chế độ ngập nước và giám sát diễn biến đa dạng sinh học ở các phân khu chức năng.
Việc làm này đáp ứng mục tiêu quản lý rừng và hệ sinh thái đất ngập nước, góp phần giảm thiểu yếu tố gây cháy rừng vào mùa khô.
UBND tỉnh Cà Mau cho biết, thông qua quy hoạch sẽ đẩy mạnh hoạt động phát triển du lịch sinh thái, có sự tham gia của cộng đồng được gắn kết với các hoạt động du lịch của Cà Mau và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, giúp duy trì ổn định nét đặc trưng quý giá của vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Thế giới Mũi Cà Mau.
Ngoài ra, năng lực, nhận thức của cán bộ, viên chức cùng cộng đồng dân cư vùng đệm về công tác quản lý, bảo tồn, các quy định của pháp luật liên quan đến Vườn Quốc gia được nâng cao.
Vườn Quốc gia U Minh Hạ với quy mô diện tích hơn 8.500 ha, thuộc địa giới hành chính của 4 xã của hai huyện Trần Văn Thời và U Minh. Theo quy hoạch các phân khu chức năng đến năm 2020 thì phân khu bảo vệ nghiêm ngặt sẽ chiếm gần 2.600 ha, 5.190 ha diện tích sẽ được dành cho phân khu phục hồi sinh thái và hơn 743 ha còn lại sẽ được phân thành phân khu dịch vụ hành chính.
Tuy nhiên, nội dung quan trọng của quy hoạch là sẽ dành hơn 1.318 ha bao gồm toàn bộ phần diện tích của phân khu dịch vụ hành chính và gần 575 ha thuộc phân khu phục hồi sinh thái tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ trở thành khu du lịch, với các hoạt động du lịch sinh thái và đầu tư công trình về du lịch sinh thái.
Bên cạnh đó, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, công trình phục vụ cho công tác quản lý rừng được đầu tư, xây dựng mới.
Trong những năm qua, Vườn Quốc gia U Minh Hạ dù là một phần thuộc Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Mũi Cà Mau. Nhưng do chưa được đầu tư thỏa đáng, các hoạt động cho du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, nhất là trong bảo tồn gen, loài nguy cấp, quý, hiếm…tại đây chưa phát huy hiệu quả. (Bnews 27/8) đầu trang(
Ngày 27-8, Trường ĐH Đông Á (Đà Nẵng), hơn 1.000 tân sinh viên K16 đã phát động và cùng nhau ký cam kết bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học.
1.000 chữ ký cũng là 1.000 quyết tâm tình nguyện chung tay của 1.000 tình nguyện viên – sinh viên đồng hành cùng các tổ chức, ban ngành thành phố tuyên truyền bảo vệ loài Voọc chà vá chân nâu tại bán đảo Sơn Trà – “nữ hoàng linh trưởng” quý hiếm (thuộc danh mục nhóm IIB ở mức nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam và tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới xếp vào danh sách các loài động vật cần được bảo vệ vô điều kiện).
Voọc chà vá chân nâu cũng vừa được chọn làm hình ảnh nhận diện thành phố nhân sự kiện năm APEC 2017 tại Đà Nẵng. Hiện ở Sơn Trà có khoảng 530 cá thể, chiếm tới 83% số lượng vọoc trong thiên nhiên được biết đến trên thế giới.
Đồng thời, các bạn trẻ cũng góp thêm tiếng nói bảo vệ môi trường qua các hoạt động ý nghĩa như: “1 triệu chữ ký bảo vệ môi trường biển” dành cho sinh viên và du khách tại bãi biển Phạm Văn Đồng; thành lập CLB Xanh gồm 8 đội tình nguyện bổ sung 50 nhân lực nòng cốt cho chiến dịch Ngày chủ nhật xanh của Đoàn thanh niên; tham gia dọn rác tại chùa Linh Ứng (Sơn Trà) và kêu gọi cộng đồng “nói không với rác tại các điểm du lịch Đà Nẵng”, chung sức vì môi trường du lịch xanh của thành phố.
Chương trình học tập đầu khóa dành cho tân sinh viên năm 2016 ĐH Đông Á còn có nhiều nội dung giáo dục kỹ năng dành cho các bạn trẻ như: phương pháp học đại học, kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội, kỹ năng thích ứng - quản lý cảm xúc và giải quyết mâu thuẫn, văn hóa tổ chức, kỹ năng xây dựng thương hiệu bản thân từ ghế giảng đường, chuyên đề tâm lý tình yêu, kỹ năng nghề nghiệp định hướng việc làm, tầm quan trọng của tiếng Anh… (Hà Nội Mới 27/8) đầu trang(
Hơn 30 đại biểu đến từ các cơ quan: Quản lý CITES, Công an, Hải quan, Bộ đội biên phòng của ba nước Trung Quốc, Lào và Việt Nam vừa tham gia họp bàn nhằm tăng cường hợp tác đa quốc gia và đi đến thống nhất tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm triệt phá các mạng lưới tội phạm buôn bán động vật hoang dã xuyên biên giới diễn ra tại Quảng Tây (Trung Quốc).
Các đại biểu tham gia cuộc họp nhận định rang:  tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng trao đổi thương mại,hệ thống kết nối giao thông, cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc giữa các quốc gia trong khu vực và việc loại bỏ các rào cản thương mại đã góp phần làm gia tăng các thách thức đối với các cơ quan thực thi pháp luật trong công cuộc đấu tranh, triệt phá nạn buôn bán trái phép động vật hoang dã xuyên quốc gia.
Cuộc họp lần này, các đại biểu đã cùng nhau xác định được một số hành động ưu tiên và sẽ trình với Chính phủ của mình nhằm thúc đẩy tăng cường hợp tác quốc tế.
Các đại biểu nhất trí cho rằng, việc hợp tác trong công tác thực thi pháp luật chống buôn bán trái phép động vật hoang dã cần được lồng ghép và đưa vào các cuộc họp liên Chính phủ với những thỏa thuận đã có hiệu lực, trên tinh thần hợp tác và hợp pháp. (Hải Quan 27/8) đầu trang(
Ngày 28/8, ông Phạm Đình Cúc, Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, đã ký công văn gửi Viện KSND huyện Côn Đảo về việc đề nghị phê chuẩnkhởi tố vụ án trộm 1.480 trứng rùa biển tại Vườn quốc gia Côn Đảo.
Trước đó, ngày 16/8, Viện KSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhận được tin báo tố giác tội phạm của Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (EVN - thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam).
EVN cung cấp thông tin về hành vi đánh cắp 1.480 quả trứng rùa biển, thuộc loại động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ trong 17 tổ trứng rùa tại khu vực hồ ấp thuộc sự quản lý của Trạm kiểm lâm Hòn Tài, Vườn quốc gia Côn Đảo, huyện Côn Đảo.
Hồi tháng 6, đối tượng Phạm Văn Tài từng vận chuyển trái phép 116 trứng rùa biển (trứng của loài vích, danh pháp khoa học là Chelonia mydas) tại mũi Chim Chim, huyện Côn Đảo.
Hành vi đánh cắp 1.480 trứng rùa biển nêu trên có dấu hiệu của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Viện KSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đề nghị Viện KSND huyện Côn Đảo yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện Côn Đảo khởi tố vụ án. (Giao Thông 28/8) đầu trang(
Ngày 27/8, Đại đức Thích Thiện Quý - Trụ trì Chùa Tâm Thành (xã Phú Cường, huyện Tam Nông) và các phật tử thả 51kg rùa, 39kg trăn, 211kg rắn, 347kg cá các loại, 241 con chim, cò về thiên nhiên.
Số cá thể này được các phật tử thu mua từ những người săn bắt và người bán tại các chợ, trị giá hơn 53 triệu đồng. Hành động này góp phần xây dựng ý thức bảo tồn quần thể các loài động vật hoang dã đang dần bị cạn kiệt và có một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng. (Báo Đồng Tháp 27/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chiều 26-8, Sở NN-PTNT tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (BVVPTR) giai đoạn 2008 - 2015 và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) từ 2011 – 2015 trên địa bàn tỉnh.
Tham dự có Thường trực HĐND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh, các chủ rừng và đơn vị cung ứng, sử dụng DVMTR.
Trên địa bàn tỉnh hiện có gần 259.000 ha rừng cung ứng DVMTR trong lưu vực các nhà máy thủy điện, chiếm 50,2% tổng diện tích rừng. Toàn tỉnh có 5.465 hộ tham gia nhận khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích 115.266,33 ha, trong đó, diện tích khoán quản lý bảo vệ rừng từ các tổ chức Nhà nước hơn 105.000 ha, với 4.015 hộ tham gia; diện tích rừng giao cho cộng đồng quản lý 9.670 ha, với khoảng 1.450 hộ tham gia. Tổng nguồn thu phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đạt hơn 205 tỷ đồng, trong đó, thu từ tiền DVMTR gần 192 tỷ, thu trồng rừng thay thế 9,9 tỷ đồng..., đã chi 158,6 tỷ đồng, tương đương 77,5% kế hoạch…
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR như: kế hoạch, hồ sơ chi trả còn chậm; nguồn thu từ các công trình thủy điện đạt thấp; một số chủ rừng, hộ nhận khoán chưa thường xuyên kiểm tra giám sát công tác bảo vệ rừng, nên vẫn còn xảy ra tình trạng xâm hại trái phép tài nguyên rừng...
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Y Giang Gry Niê Knơng nhấn mạnh, thời gian tới, Ban quản lý QBVVPTR tỉnh và các cơ quan chức năng cần chú trọng công tác bảo vệ rừng gắn với chính sách chi trả DVMTR; đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế hoặc nộp tiền vào QBVPTR; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chi trả DVMTR cho người dân bảo đảm công khai và đúng đối tượng. (Báo Đắk Lắk 27/8) đầu trang(
Chiều 26/8, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị Sơ kết 8 năm tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR), 5 năm thực hiện chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) gắn với quản lý BV&PTR trên địa bàn tỉnh (2011 – 2015).
Đồng chí Lê Trọng Quảng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo về kế hoạch BV&PTR và thực hiện chính sách chi trả DVMTR chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị có đồng chí Hà Văn Um – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT), đại diện lãnh đạo sở, ban, ngành các xã, huyện, thành phố.
Quỹ BV&PTR được thành lập theo Quyết định số 1143/QĐ-UBND ngày 30/07/2009 của UBND tỉnh. Trong 8 năm hoạt động, Quỹ đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền, tập huấn thực hiện chính sách chi trả DVMTR, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện đưa tin trong ấn phẩm thông tin nội bộ 3 số; phát 1.870 tờ rơi; mở 8 lớp tuyên truyền với 640 người tham dự; cấp thí điểm 1.000 cuốn sổ theo dõi chi trả DVMTR đến từng hộ gia đình nhận khoán; cắm 10 biển tuyên truyền, đưa 52 tin, bài, 27 phóng sự tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR.
Từ năm 2012 – 2015, tổng thu uỷ thác DVMTR trên 712 tỷ đồng, tổng thu tiền trồng rừng thay thế trên 83 tỷ đồng, trong đó, tổng chi uỷ thác tiền DVMTR gần 680 tỷ đồng. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã triển khai 13 chương trình hỗ trợ: cây giống; xây dựng các chốt gác bảo vệ rừng; Trạm quản lý bảo vệ rừng; xây dựng 1 vườm ươm cây giống nông, lâm nghiệp, cây ăn quả..., với tổng kinh phí hỗ trợ trên 16 tỷ đồng.
Từ năm 2015 đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt 22 Dự án trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh, tổng diện tích trồng 6.007,39ha với các cây trồng như: lát hoa, giổi, sấu, sơn tra, quế...). Với tổng mức đầu tư trên 122 tỷ đồng, đến nay đã trồng được 2.351,24ha.
Sau 5 năm triển khai thực hiện chính sách Chi trả DVMTR đã có tác động tích cực tới công tác BV&PTR rừng trên địa bàn. Các thôn, bản nhận khoán BV&PTR đã quan tâm tuần tra, canh gác diện tích rừng được giao và có trách nhiệm trong việc bảo vệ rừng.
Tình hình phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép... trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể về số vụ và mức độ thiệt hại, diện tích rừng đã được nâng lên. Từ nguồn tiền chi trả DVMTR đã góp phần quan trọng trong việc xoá đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân tham gia nhận khoán BV&PTR từ 2,05 triệu đồng/năm 2011 đến 2,6 triệu đồng/năm 2015.
Hội nghị cũng tập trung thảo luận, đánh giá những mặt đạt được và khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Chính sách chi trả DVMTR gắn với quản lý BV&PTR. Đồng thời, đề ra một số giải pháp để xử lý và khắc phục trong thời gian tới.
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Lê Trọng Quảng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo về kế hoạch BV&PTR và thực hiện chính sách chi trả DVMTR, đánh giá cao những nỗ lực của các đơn vị trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, BV&PTR trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua.
Đồng thời, nhấn mạnh một số vấn đề: cần củng cố, kiện toàn Ban Quản lý rừng phòng hộ, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mình để phát huy được hiệu quả công việc và nghiên cứu có nên sát nhập Ban Quản lý rừng phòng hộ với Hạt Kiểm lâm hay không?; rà soát và hoàn thiện cơ chế vận hành giữa tỉnh với huyện, giữa huyện với bản; tăng cường công tác rà soát, thanh, kiểm tra các đơn vị quản lý rừng, diện tích rừng chi trả và trồng mới nhằm mang lại kết quả cao nhất…
Tại Hội nghị, 7 tập thể và 10 cá nhân được Bộ trưởng Bộ NN&PTNT tặng Bằng khen; 7 tập thể và 10 cá nhân được Tổng cục Trưởng Cục Lâm nghiệp tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR giai đoạn 2011 – 2015. 17 tập thể, 79 cá nhân được UBND tỉnh tặng Bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong Sơ kết 8 năm tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, 5 năm thực hiện chính sách Chi trả DVMTR gắn với quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh (2011 – 2015). (Báo Lai Châu 26/8) đầu trang(
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên vừa ra quyết định thi hành kỷ luật ông Nguyễn Ngọc Tiến, Huyện ủy viên, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sơn Hòa, với hình thức cách chức các chức vụ trong Đảng.
Ông Nguyễn Ngọc Tiến là Huyện ủy viên, Đảng ủy viên, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Đảng ủy Cơ quan chính quyền huyện; Bí thư Chi bộ, Trưởng phòng Phòng TN-MT huyện Sơn Hòa.
Theo quyết định, với chức trách của mình, ông Tiến đã tham mưu UBND huyện Sơn Hòa lập thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 3 hộ gia đình ở Hòn Đát, xã Sơn Nguyên trái quy định, sai đối tượng, dẫn đến hàng chục héc ta rừng nguyên sinh bị tàn phá.
Ngoài ra, ông Tiến cũng tham mưu UBND huyện xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản trái quy định; chỉ đạo lập và ký khống các hợp đồng thuê canh giữ khoáng sản để rút 49 triệu đồng từ ngân sách huyện... Tính chất vi phạm của ông Tiến là nghiêm trọng, gây hậu quả xấu khiến dư luận bất bình, làm mất uy tín bản thân và ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền ở địa phương.
Bà Cao Thị Hòa An, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên cho biết, các cơ quan chức năng đang tiếp tục làm rõ trách nhiệm của nhiều cá nhân có liên quan: “ Vụ việc này dư luận bức xúc và nhân dân lên án. Chúng tôi cũng đã vào cuộc kịp thời cũng có tham mưu xử lý nghiêm túc. Cũng có đồng chí không làm tròn trách nhiệm của mình, cố tình làm sai, vi phạm, cấp sai sổ đỏ. Trước hết, cách chức các chức vụ trong Đảng. Sau đó, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục làm chứ không dừng, để không có những tình trạng lặp lại như thế này”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 27/8) đầu trang(
Thành ủy Hà Nội vừa có thông báo số 328-TB/TU truyền đạt kết luận của Thường trực Thành ủy về chủ trương đầu tư Dự án Khu du lịch, vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng Thung Lũng Xanh, huyện Sóc Sơn.
Theo đó, Thường trực Thành ủy đồng ý về chủ trương đầu tư dự án Khu du lịch, vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng Thung Lũng Xanh, tại các xã Nam Sơn, Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn theo đề xuất của Ban Cán sự Đảng UBND TP. Hà Nội.
Trước đó, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cũng đã có kết luận về Dự án Khu du lịch, vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng Thung Lũng xanh.Theo đó, Dự án Khu du lịch, vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng Thung Lũng xanh tại xã Nam Sơn, Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội do Công ty cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Đông Bắc đề xuất phù hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định số 3914/QĐ-UBND ngày 04/9/2012 và đã được cập nhật vào Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của UBND huyện Sóc Sơn (UBND Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 451/QĐ-UBND ngày 29/01/2015).
Nhà đầu tư đã thực hiện các quy trình thủ tục đầu tư đúng quy định. Ban Cán sự Đảng UBND Thành phố thống nhất chủ trương đầu tư Dự án Khu du lịch, vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng Thung Lũng xanh; giao Sở Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương hoàn thiện báo cáo của Ban Cán sự Đảng UBND Thành phố trình Thường trực Thành ủy xem xét chỉ đạo.
Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm hướng dẫn Nhà đầu tư: Kiểm tra rà soát tổng mức đầu tư thực hiện dự án, đảm bảo khả thi. Trong quá trình thi công dự án, thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng và lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân địa phương. Khi thi công phải đảm bảo môi trường, không phá vỡ cảnh quan sinh thái và công năng của rừng phòng hộ. Nhà đầu tư phải cam kết không bán, không chuyển nhượng dự án; phải thực hiện dự án đúng mục đích đầu tư.
Theo quy hoạch được Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội công bố và bàn giao đầu năm 2015, Dự án khu du lịch vui chơi, giải trí nghỉ dưỡng Thung lũng xanh có diện tích khoảng 49,ha nằm trong khu vực quy hoạch là rừng phòng hộ nên thành phố Hà Nội yêu cầu chủ đầu tư trong quá trình tổ chức xây dựng, tuyệt đối bảo tồn nguyên trạng, không san, gạt, thay đổi địa hình, chiều cao, mật độ cây rừng.
Liên quan đến vấn đề này, tại Thông báo số 328-TB/TU mới đây, Thường trực Thành ủy giao Ban Cán sự Đảng UBND TP chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị liên quan hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện hồ sơ theo đúng quy trình, thủ tục, quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng; thực hiện việc ký quỹ đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014; xác định rõ và có chế tài bảo đảm thực hiện trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc xây dựng, quản lý các công trình khách sạn, khu du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí; đảm bảo khớp nối đồng bộ hạ tầng kỹ thuật khu vực dự án với các khu vực xung quanh và phù hợp với quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt.
Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc triển khai dự án của nhà đầu tư, bảo đảm thực hiện nội dung đầu tư theo đúng quy định và tiến độ theo kế hoạch.
Trong quá trình triển khai thực hiện, Chủ đầu tư tập trung nguồn lực để triển khai dự án, đồng thời, tuân thủ quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật bảo vệ môi trường, Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và các văn bản pháp luật có liên quan; duy trì và bảo vệ cây xanh tự nhiên trong khu vực dự án, đảm bảo hệ sinh thái cảnh quan tự nhiên hiện hữu. (Đầu Tư 27/8) đầu trang(
Thời điểm 20 năm trước, trên những mảnh rừng thuộc xã Quảng Lưu (Quảng Trạch, Quảng Bình) người dân hả hê tận diệt rừng dẻ không thương tiếc.
Chẳng mấy chốc mà khu rừng với 2.000 ha đã chìm trong cảnh trơ cằn sỏi đá. Khi rừng dẻ bị tàn lụi dần, sự nghèo đói bắt đầu hiện hữu. Nhưng nay, trở lại nơi “rừng chết” năm nào mọi sự đã khác, có  những năm trúng mùa, dân làng quanh vùng còn thu về trên 2 tỷ đồng từ rừng dẻ.
Theo chân những thành viên của tổ bảo vệ rừng dẻ, chúng tôi ngược theo con đường nằm giữa cánh đồng lúa nước. Trong cái nắng xế trưa hiện ra trước mắt chúng tôi là bạt ngàn dẻ ôm khăng khít, trải dài khắp cả triền tây.
Còn nhớ, từng có thời điểm gần 2.000 ha đất rừng nguyên sinh ở xã Quảng Lưu do không được bảo vệ nghiêm ngặt, vô tình đã trở thành một “miếng bánh” hổ lốn của dân trong vùng và các xã lân cận. Người ta mặc nhiên tìm đến khu rừng để khai cùng, xẻ tận. Người thì đốn củi lấy thang, kẻ thì chặt phá, đốt để làm nương rẫy trồng ngô, sắn…
Rừng già dần bị cạo trọc, trở nên hoang hóa. Trên những nẻo rừng nguyên sơ chỉ còn ẩn chứa sự chết chóc, đây đó thấy âm ỉ những đám cháy dài ngày. Bên những cánh đồng của xã Quảng Lưu lúc bấy giờ, bông lúa vào mùa gặt trở nên héo hon vì thiếu nước tưới.
Đến mùa mưa, lũ bá hoành hành đê điều không ngăn nổi. Sóng lũ rền rống như muốn cuốn trôi tất cả. Rừng cây dần bị “xóa sổ”, thiên tai càng khắc nghiệt, chỉ còn lại những mái nhà bạc phách ẩn giấu sự nghèo đói, lam lũ.
Trước tình trạng trên, chính quyền xã Quảng Lưu hết sức đau đầu mong tìm được kế sách để tái sinh lại rừng dẻ. Sau nhiều cuộc họp cũng như lấy ý kiến của những người dân, đến năm 1990, UBND xã Quảng Lưu quyết định “đóng cửa rừng” vĩnh viễn. Đồng thời kêu gọi người dân tham gia chung tay bảo vệ rừng dẻ. Ông Biền Ngân, lúc bấy giờ là Chủ tịch kiêm Bí thư UBND xã Quảng Lưu (nay giữ chức Bí thư xã Quảng Lưu), đứng ra gấp rút thực hiện quyết sách “cấm cửa rừng”.
Những ngày đầu mới phát lệnh “cấm rừng”, nhiều người dân đứng ra phản đối. Bởi, họ cho rằng làm vậy khác nào ép vào con đường cùng. Rằng trên địa bàn xã chỉ có 541ha đất sản xuất nông nghiệp, trong khi đó xã Quảng Lưu lại có gần 2.000ha đất rừng và lại là một xã bán sơn địa, quanh năm hơn 6.000 người dân chỉ biết sống dựa vào núi. Bức xúc càng lên đến tột đỉnh, nhiều người thậm chí còn kéo đến UBND xã để chửi bới, nói xấu vì đã “dồn họ vào con đường cùng”.
Đứng trước những khó khăn trên, chính quyền xã Quảng Lưu đã bền gan vừa vận động tuyên truyền, vừa tìm tìm sinh kế mới để giải quyết việc làm cho những hộ dân đang bám rừng. Những năm đầu, Hội Cựu chiến binh xã đứng ra đảm nhận công tác bảo vệ rừng.
Những thành viên được chọn, phải gương mẫu đi đầu không tham gia phá rừng và phải là người dân tin tưởng, một lời nói ra trăm họ đều tuân theo. Sau đó xã lập hẳn một ban bảo vệ rừng do lực lượng công an xã đứng ra đảm nhiệm.
Ngày hôm nay khu rừng vàng ở xã Quảng Lưu đã sinh lợi, dân làng hứng khởi vô cùng. Nhưng đằng sau những thành quả lớn lao đó, những người đã từng đứng ra dám “chống” lại lệ làng đã phải chịu đựng biết bao cay đắng, có khi là cả máu và nước mắt.
Dần dần khi cánh rừng đã xanh trở lại, những mùa hạn sau đó con nước trên các hồ, đập đã đáp ứng đầy đủ cho việc tưới tiêu của dân làng. Không còn nữa những cánh đồng mất vụ vì khô cằn, hay lũ cuốn. Trên những gương mặt mướt mồ hôi, đã thấy rạng rỡ hẳn lên, cánh đồng vàng rộm với những bông lúa cong cớn như những chiếc cần câu vàng.
Rừng dẻ gân guốc ôm ấp nhau phủ kín những đồi trọc. Khu rừng vàng đã đơm hoa kết trái. Mùa dẻ rụng hạt năm nào cũng thế, người dân khắp vùng lại đổ về để nhặt hạt dẻ, mỗi một mùa dẻ đều là thời điểm “hốt bạc tỷ” của người dân nơi đây.
Ông Phan Văn Đản – Phó Công an xã Quảng Lưu (một trong những thành viên của tổ bảo vệ rừng dẻ) khoe: “Thường thì mùa dẻ bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 11 hàng năm. Những ngày dẻ rụng hạt, người dân ở các xã lân cận đã đổ về đây để cùng dân làng Quảng Lưu nhặt dẻ rừng.
Hạt dẻ bán ra càng lúc càng lên giá, nên đến mùa dẻ có mấy cũng hết, người dân bán ra cũng nhanh lắm. Có những hộ mỗi tháng thu về 15 đến 20 triệu từ việc nhặt dẻ rừng, nhờ rừng dẻ mà hiện tại đời sống mọi mặt của người dân nơi đây được khởi sắc lên rất nhiều”.
Những năm xã Quảng Lưu vào mùa hạt dẻ, các thương lái ở khắp nơi đổ về để tận mua. Sau đó, phân bố ra khắp các thị trường như Nghệ An, Hải Phòng, Hà Nội… Dẻ Quảng Lưu ngày nay đã có thương hiệu riêng, cánh rừng vàng đã “đẻ” ra tiền tỷ mỗi năm cho người dân toàn xã Quảng Lưu.
Theo thống kê sơ bộ của UBND xã Quảng Lưu, mỗi năm trung bình sản lượng hạt dẻ của người dân khoảng 100 – 120 tấn, với giá bình quân 20.000/kg mang lại nguồn thu hơn 2 tỷ đồng cho người dân toàn xã. Tuy nhiên, trên thực tế sản lượng lớn hơn nhiều. Bởi không chỉ có người dân Quảng Lưu, người dân các xã lân cận như Quảng Tiến, Quảng Châu, Quảng Thạch... cũng tìm đến để nhặt hạt khi mùa dẻ về.
Ông Hồ Thăng Long – Chủ tịch UBND xã Quảng Lưu, hồ hởi tâm sự: “Rừng dẻ không những là nơi sinh thủy, che chắn thiên tai cho dân làng mà còn sinh ra tiền nữa. Công cuộc tái sinh rừng dẻ của những người đi trước tuy gặp vô vàn khó khăn nhưng đã gặt lại kết quả hơn cả mong đợi, nên ai ai cũng thỏa nguyện. Ngày nay, người dân họ đã ý thức được việc giữ rừng là giữ lấy sự sống và nguồn nước nên đã cùng đứng ra để chung tay bảo vệ rừng dẻ.
Mừng nhất là những hôm rừng dẻ vào mùa rụng hạt, đây đó trên các khu rừng người đến kẻ đi cứ tấp nập hẳn lên. Nhiều hộ dân trước kia còn nghèo khó lắm, cho đến bây giờ nhờ tận thu được hạt dẻ mỗi năm nên có thêm khoản dư để đầu tư vào chăn nuôi, đã vươn lên trở thành hộ khá hộ giàu trong xã.”
Đơn cử như gia đình chị Lê Thị Tuyết (thôn Vân Tiền) đã được nhận khoán bảo vệ gần 5ha rừng dẻ. Những mùa dẻ rụng hạt, cả gia đình chị nhặt được gần 1 tấn dẻ cho thu 15 đến 20 triệu mỗi mùa. Ấy vậy là gia đình chị có thêm khoản thu nhập để chăn nuôi, trồng trọt, lập trang trại giữa đồi dẻ bạt ngàn xanh tốt. Chẳng mấy chốc mà đã vươn lên thành hộ giàu trong xã.
Chia tay chúng tôi, ông Nguyễn Chiến Thắng – Phó chỉ huy Quân sự xã Quảng Lưu (một thành viên trong tổ bảo vệ rừng dẻ) cho biết thêm: “Những năm trở lại đây, lúa cũng được mùa mà dẻ cũng sai trái trĩu cành nên bà con đã nhận thức được tầm quan trọng của rừng dẻ. Chỉ cần có người vào chặt phá rừng dẻ là họ báo lên liền, nhờ vậy mà rừng dẻ được bảo vệ an toàn tuyệt đối. Rừng dẻ được tái sinh chẳng những người dân xã Quảng Lưu mà những xã lân cận trước kia hay tìm đến đây để phá rừng cũng được lợi theo”. (Pháp Luật Việt Nam 28/8) đầu trang(
Bước sang tuổi 45, tròn 10 năm “lấy lâm làm nghiệp”, đến nay anh Đỗ Quốc Thuận đã có trong tay hơn 200ha rừng trồng, một trang trại chăn nuôi với vài trăm đầu lợn, bò thương phẩm và đàn gà gần nghìn con.
Tỷ phú, ông chủ của mấy chục lao động địa phương nhưng “chủ rừng” Thuận vẫn vẹn nguyên dáng vẻ người lao động thuần phác với nước da nâu sậm, dáng người chắc, không nề hà bất cứ công việc nặng nhọc nào. Và cơ duyên đến với nghề rừng của anh cũng mộc mạc, chân chất như con người vốn quen với lao động chân tay, lam lũ tham công tiếc việc: “Thấy đất bỏ trống, tôi xót ruột lắm…”.
Cách trung tâm xóm Cú, xã Mỹ Thuận, huyện Tân Sơn gần chục cây số, khu lán xây vững chãi lợp tôn chống nóng cho người trồng rừng tá túc nằm chênh vênh giữa lưng chừng đồi, với dòng suối trong vắt, nhìn xuống là vực sâu hun hút, ngước lên sừng sững vách đồi che ngang tầm mắt. Mới năm trước, khu vực này vẫn còn là đồi trọc hoang vu.
Xa khu dân cư, địa hình hiểm trở, không có đường vào nên người chủ được giao đất, giao rừng cũng nản, bỏ mặc đất trống, đồi trọc cho dây leo, cỏ dại phủ kín. Được bạn bè giới thiệu mua lại khu đất lâm nghiệp đầu nguồn suối Cú, việc đầu tiên, anh Thuận cho máy xúc, máy ủi đến xẻ núi mở đường. Suốt mấy tháng trời, chỉ riêng nhiên liệu phục vụ máy móc mở đường đã hết hơn 2.000 lít dầu.
Độ dốc lớn, gấp khúc, lổn nhổn đá hộc, suối nước chảy ngang chắn lối nhưng con đường đã giúp ô tô gầm cao vận chuyển cây giống, phân bón lên lưng chừng núi, người lao động chạy xe máy đi về, cung cấp nhu yếu phẩm cần thiết đảm bảo cho mấy chục con người bám trụ vỡ đất trồng rừng. Tới lán khi mặt trời đã đứng bóng, bước xuống từ xe bán tải nhưng “chủ rừng” Đỗ Quốc Thuận chẳng khác so với người vừa trèo đồi về là mấy, dép lê đỏ quạch bùn đất, quần xắn ngang ống chân, áo cộc để lộ hai cánh tay trần cháy nắng.
Giao túi thực phẩm cho người trông lán chuẩn bị bữa trưa kịp giờ anh em lên núi trồng rừng về nghỉ, anh Thuận lại tất bật chạy ra vén tấm màn che kiểm tra cây mỡ giống xếp chật khoảng sân rộng.
Anh hồ hởi giới thiệu: “Đây là cây giống do Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa hỗ trợ theo chương trình dự án phát triển rừng phòng hộ. Tôi được tham gia 10ha, đã nhận đủ 2 vạn cây giống và 2,9 tấn phân bón. Cơ bản đã trồng xong, còn lại chỗ này đợi mưa xuống, thuận trời sẽ trồng nốt. Toàn bộ khu vực 60ha này tôi đã được chuyển nhượng quyền sử dụng và đang cải tạo, phủ xanh bằng cây mỡ, keo, bồ đề. Chỉ hai năm nữa thôi, đồi trọc sẽ lại xanh um bóng cây. Trồng rừng với quy mô, diện tích lớn như thế này tất nhiên phải đầu tư kinh phí không nhỏ rồi  nhưng “mỡ nó rán nó cả thôi”, tôi vừa bán đồi keo dưới Đồi Dòng thu được hơn 3 tỷ đồng lại “ném” cả vào đây…”.
Sinh năm 1971 trên đất quê Thạch Khoán, Thanh Sơn, anh Thuận đến với nghề trồng rừng ngẫu nhiên như chuyến dạo chơi để rồi bén duyên thành nghiệp xác định gắn bó cả đời. Nhanh nhạy nắm bắt nhu cầu của người dân quanh vùng, hơn chục năm trước, anh Thuận đã vay mượn anh em, bạn bè đầu tư mở xưởng chế biến tinh bột sắn ở đất quê Thạch Khoán. Nguyên liệu đầu vào cũng như nhân công đã sẵn lại rẻ nên chỉ sau thời gian ngắn, xưởng chế biến sắn đã giúp anh trang trải hết công nợ.
Chế biến sắn tươi lãi thấy rõ nhưng ô nhiễm môi trường trầm trọng. Bà con hàng xóm rồi chính quyền địa phương kiến nghị, kêu ca quá, anh đành bỏ xưởng, bán máy, tính hướng chuyển nghề làm ăn. Trong lúc đang rỗi việc, chơi không, đầu năm 2006, có lần anh theo mấy người bạn lang thang vào khu Đồi Dòng cho khuây khỏa, thấy liên tiếp mấy quả đồi nối tiếp nhau chỉ có dây leo, cây dại. Hỏi chuyện, bạn bảo do đường xa, hiểm trở, chi phí lớn nên chủ đất bỏ không đầu tư trồng rừng.
Về đến nhà, câu chuyện bỏ hoang đất ám ảnh anh trong cả bữa ăn, giấc ngủ. Xót đất trống bỏ hoang, tự tin mình đủ sức làm giàu từ đất rừng. Bàn tính, động viên mãi vợ anh mới đồng ý để chồng gom vốn vào mua đất, lập trang trại trồng rừng. Vừa đặt vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâm nghiệp, người chủ quá ngán ngẩm, lực bất tòng tâm với khoảnh đất được giao đã vui vẻ đồng thuận. Chỉ với 90 triệu đồng, anh đã có trong tay 40ha đất lâm nghiệp với mấy… con bò để khởi nghiệp làm kinh tế đồi rừng, trang trại chăn nuôi.
Nghề rừng vất vả, cực nhọc hơn nhiều so với suy nghĩ, tính toán của anh. Ngày đầu ôm đồ đạc, chăn gối vào lán ở, anh đã thức trắng cả đêm vì… sợ. Rủ thêm người bạn vào ở cùng mà nhiều đêm hai người vẫn co rúm người nằm khóc trước bóng tối đen đặc bao phủ, tiếng gió rít qua vách núi, tán cây, tiếng thú ăn đêm não nuột đến rợn người. Chưa có kinh nghiệm lựa giống, chọn cây, vụ đầu tiên, anh cặm cụi tự vỡ đất trồng 10 vạn cây bạch đàn và đã… thua lỗ nặng.
Sau ba năm, có cây lớn như cột nhà nhưng cũng nhiều cây còi cọc như roi đánh trâu. Giống cây này lại phá đất. Cây lớn ngần nào, đất trơ cằn theo ngày ấy. Lá cây rụng xuống đến cỏ dại cũng chẳng mọc được. Bán tống bán tháo toàn bộ diện tích bạch đàn, anh cất công đến nhiều nơi tìm hiểu, học tập kinh nghiệm rồi quyết định trồng mới toàn bộ bằng keo, bồ đề.
Sau một chu kỳ, rừng Đồi Dòng đã xanh ngút ngát. Trữ lượng gỗ có điểm lên tới 120m3 mỗi ha. Cứ vừa tỉa bán, đầu tư mua thêm đất, trồng mới rừng, từ 40ha ban đầu, anh Thuận đã có 150ha rừng ở khu Đồi Dòng, xã Thạch Khoán. Trang trại chăn nuôi của gia đình anh cũng được mở rộng với 200 con bò, mấy trăm đầu lợn, gà…
Ông chủ của hơn 200ha rừng trồng, tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động địa phương, lúc cao điểm như trồng rừng, khai thác huy động cả trăm lao động, anh vẫn giữ nguyên tác phong, dáng dấp của người lao động lam lũ. Rời xe ô tô xuống là anh lại xắn quần leo đồi cùng bổ hố, trồng cây, trưa nắng gắt mới về lán nghỉ ngơi, cởi áo, khoanh chân cùng anh em dùng bữa trưa.
Theo anh Thuận lên thượng nguồn suối Cú (xã Mỹ Thuận, huyện Tân Sơn) trồng rừng, anh Nguyễn Văn Toàn (xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn) thán phục: “Tiếng là ông chủ nhưng anh Thuận chịu khó, chịu khổ lao động còn hơn cả anh em làm thuê chúng tôi. Tôi cứ nghĩ anh ấy say việc, say rừng mới lao tâm lao lực thế chứ tiền nong đâu có thiếu…”.
Nói về chuyện này, “chủ rừng” Đỗ Quốc Thuận cười sảng khoái: “Mình là con nhà lao động. Có làm mới có sức khỏe. Nói vậy thôi, nghề rừng vất vả, cực nhọc lắm, không đam mê, quyết tâm sẽ không trụ được đâu. Mỗi người có một sở thích, cá tính riêng. Tôi đặc biệt đam mê với cây rừng. Làm nghề nào cũng phải tính đến thu nhập, lợi nhuận và mỗi nghề sẽ có những đặc trưng, đòi hỏi riêng biệt. Nghề trồng rừng cho lợi nhuận bền vững nhưng đòi hỏi phải kiên trì, tâm huyết. Mỗi chu kỳ 7 năm, mồ hôi, công sức, hy vọng ấp ủ hơn 2.500 ngày với bao rủi ro không thể lường trước. Thế nhưng, ngoài lợi nhuận kinh tế, màu xanh của rừng khép tán, không khí trong lành, thực phẩm sạch từ rừng là phần thưởng vô giá với những ai “chọn lâm làm nghiệp”…”. “Chỉ năm sau thôi các anh lên đây, rừng thượng nguồn suối Cú của tôi sẽ hoàn toàn khác…” - câu nói khi chia tay của “chủ rừng” Đỗ Quốc Thuận như khẳng định thêm quyết tâm, niềm tin vững chắc của người mang duyên nợ, chọn rừng làm sự nghiệp gắn bó cả đời. Đất không phụ công người, hồi sinh rừng từ đất trống, đồi trọc chắc chắn sẽ có sự phát triển bền vững không chỉ riêng với những chủ rừng… (Báo Phú Thọ 27/8) đầu trang(
Rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu góp phần bảo vệ môi trường.
Trong đó rừng phòng hộ đầu nguồn được xác lập nhằm tăng cường khả năng điều tiết nguồn nước của các dòng chảy, hồ chứa nước đề hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất trống bồi lấp các lòng sông, lòng hồ. Tỉnh Điện Biên hiện có trên 240 nghìn ha đất có rừng nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn sông Đà đủ điều kiện được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nói như vậy để thấy rõ vai trò, vị trí vô cùng quan trọng của rừng phòng hộ đầu nguồn của Điện Biên trong bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ cuộc sống của con người.
Tuy nhiên, trong những năm qua do nhiều nguyên nhân diện tích rừng tự nhiên nói chung và rừng phòng hộ nói riêng trên địa bàn tỉnh Điện Biên bị xâm hại, tàn phá nghiêm trọng. Mỗi năm có hàng trăm ha rừng bị đốn hạ, đốt phá không thương tiếc trong đó diện tích rừng phòng hộ là không hề nhỏ. Trong khi đó, công tác phát triển rừng, trồng rừng phòng hộ gặp rất nhiều khó khăn và hầu như năm nào cũng không đạt hoặc đạt tỷ lệ rất thấp so với kế hoạch đề ra.
Theo kế hoạch của chương trình bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, toàn tỉnh sẽ thực hiện trồng mới 2.018 ha rừng phòng hộ. Nhưng trong 5 năm qua trồng rừng phòng hộ chỉ đạt 694 ha, tỷ lệ trung bình đạt 34% kế hoạch đề ra.
Bước sang năm 2016 này, kế hoạch toàn tỉnh sẽ trồng mới 416 ha rừng phòng hộ nhưng đến thời điểm này khi mùa trồng rừng đã cơ bản kết thúc con số báo cáo của 10 huyện, thị, thành phố chỉ vỏn vẹn 72,6 ha đạt 17% kế hoạch giao.
Trong số 10 huyện thị, thành phố chỉ có 4 địa phương triển khai trồng mới rừng phòng hộ tập trung từ nguồn ngân sách trung ương gồm huyện Tuần Giáo, Mường Ảng, Điện Biên Đông và huyện Mường Chà. Còn các huyện khác chỉ là kế hoạch triển khai, thậm chí không có cả kế hoạch giao chỉ tiêu cho phường, xã, thị trấn thực hiện.
Việc không thực hiện được khối lượng trồng rừng đã giao dẫn đến nguồn vốn ngân sách cấp hàng năm kết dư khá lớn. Tình trạng "tiền có khó tiêu", "có tiền không tiêu được" đã trở thành điệp khúc quen thuộc. Điển hình như năm 2014 vốn giao cho trồng rừng phòng hộ là trên 2,4 tỷ đồng nhưng thực hiện giải ngân chỉ đạt trên 800 triệu đồng, năm 2015 giao gần 17 tỷ đồng nhưng chỉ giải ngân được 3,1 tỷ đồng đạt tỷ lệ 17% và năm 2016 giao trên 12,6 tỷ đồng nhưng ước thực hiện chỉ hơn 2 tỷ đồng đạt tỷ lệ 15%.
Tiền không tiêu được, kế hoạch không đạt hoặc đạt thấp trong khi diện tích cần trồng rừng lại rất lớn. Đó là sự lãng phí và cũng là bài toán nan giải trong nhiều năm qua của tỉnh Điện Biên.
Lý giải cho việc trồng rừng phòng hộ đạt thấp so với kế hoạch đề ra, bà Đinh Thị Thu Hiền - Phó chi cục trưởng chi cục lâm nghiệp tỉnh cho biết: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng nguyên nhân chính vẫn là do thiếu quỹ đất. Các ban quản lý rừng phòng hộ trước đây chưa được giao quyền sử dụng đất hoặc đã được giao - đến cuối năm 2015 Ban quản lý rừng phòng hộ Mường Chà và huyện Điện Biên mới được giao với diện tích lần lượt là trên 5000 ha và 1300 ha đất lâm nghiệp - nhưng chưa thể thực hiện các dự án trồng rừng.
Thiếu quỹ đất để triển khai trồng rừng phòng hộ là thực trạng chung của nhiều địa phương. Một nguyên nhân khác là vốn giao muộn, thường khi mùa trồng rừng đã bắt đầu, thậm chí có năm sắp kết thúc nguồn vốn giải ngân mới được chuyển đến các địa phương. Trong khi đó tại nhiều địa bàn người dân tham gia trồng rừng đòi hỏi phải được ứng tiền trước mới thực hiện.
Ngoài ra còn nhiều khó khăn khác như: Định suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; công tác quy hoạch 3 loại rừng còn nhiều bất cập; chương trình 327, dự án 661 kéo dài chưa thể thanh, quyết toán dứt điểm gây nhiều khó khăn cho việc quy hoạch, kiến thiết, đầu tư trồng rừng phòng hộ mới.v.v.
Bên cạnh những khó khăn kể trên, trong thực tế việc triển khai trồng rừng phòng hộ còn gặp nhiều vướng mắc đến từ phía người dân - những người trực tiếp thực hiện việc trồng rừng. Tại nhiều địa bàn, các cơ quan chức năng, cấp ủy chính quyền địa phương đã xuống tận các thôn, bản vận động người dân tham gia trồng rừng phòng hộ nhưng do suất đầu tư quá thấp người dân không mấy mặn mà. Thêm vào đó, các diện tích triển khai trồng rừng phòng hộ thường nằm tại các khu vực sâu, xa đi lại khó khăn đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, công sức lao động nên người dân ngại tham gia.
Ngoài ra tập quán sản xuất, đời sống kinh tế dựa chủ yếu vào nương rẫy trong khi quỹ đất sản xuất nông nghiệp hạn hẹp người dân lo sợ khi trồng rừng phòng hộ sẽ mất đất sản xuất. Nên xuất hiện tình trạng người dân đã đăng ký và đồng tình với chủ trương trồng rừng nhưng đến khi phát dọn thực bì, chuẩn bị cho mùa trồng rừng thì lại thay đổi không nhất trí tham gia.
Theo số liệu rà soát năm 2015, tổng diện tích rừng và đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp toàn tỉnh là trên 760 nghìn ha, trong đó diện tích đất có rừng là trên 367 nghìn ha, tỷ lệ che phủ đạt 38,5%. Riêng diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch cho trồng rừng phòng hộ là gần 360 nghìn ha. Như vậy quỹ đất lâm nghiệp để trồng rừng phòng hộ của tỉnh ta còn rất lớn.
Và rõ ràng để công tác phát triển rừng, trồng rừng đạt kết quả theo kế hoạch đề ra đòi hỏi phải có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách cũng như xây dựng kế hoạch mang tính dài hơi. Đồng thời phải có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị triển khai hiệu quả các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương.
Một yêu cầu bức thiết nữa để công tác trồng rừng đạt kết quả chính là sự đồng thuận, ủng hộ tham gia của người dân. Trong thực tế, ở đâu người dân hiểu rõ lợi ích của rừng và đồng thuận tham gia thì ở đó việc trồng rừng diễn ra thuận lợi, rừng được bảo vệ và phát triển tốt.
Đây là những diện tích rừng phòng hộ được trồng năm 2015 và 2016 của bản Tẩu Pung 1 xã Nà Nhạn huyện Điện Biên. Gần 40 ha rừng thông phòng hộ đã được 64 hộ gia đình trong bản nhận trồng, chăm sóc và bảo vệ. Những vạt rừng đã phủ màu xanh lên những khu đất trống, đồi núi trọc.
Việc tuyên truyền, vận động và thực hiện thành công việc trồng rừng tại bản Tẩu Pung 1 là kinh nghiệm quý báu trong công tác trồng rừng phòng hộ. Khi cấp ủy chính quyền địa phương vào cuộc quyết liệt, người dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa cũng như lợi ích từ trồng rừng mang lại, tỷ lệ che phủ rừng không những tăng lên mà nguồn tài nguyên rừng quý giá được chăm sóc, bảo vệ tốt. Xã Quài Tở một trong những xã đi đầu trong công tác trồng rừng của huyện Tuần Giáo.
Chỉ riêng trong năm 2015, xã đã triển khai trồng 60 ha rừng phòng hộ tại bản Có và bản Có Hón. Từ đó, góp phần tăng diện tích rừng trồng trên địa bàn xã lên gần 750 ha và tổng diện tích rừng trên địa bàn xã tăng lên trên 3000 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 30%.
Chưa bao giờ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng lại được Đảng, nhà nước quan tâm như hiện nay. Các nguồn vốn, chương trình dự án cho trồng, phát triển rừng được triển khai đồng bộ, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đi vào cuộc sống tạo động lực to lớn cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chính vì vậy, tập trung nguồn lực tối đa cho trồng rừng, phát triển rừng là yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho tỉnh Điện Biên trong giai đoạn tới.
Trong hội nghị tổng kết công bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2015 và bàn giải pháp thực hiện kế hoạch giai đoạn 2016 - 2020 vào đầu tháng 8 vừa qua. UBND tỉnh, các sở ngành liên quan, các huyện, thị thành phố đã bàn và đề ra nhiều giải pháp quan trọng cũng như đặt quyết tâm chính trị rất lớn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Hi vọng, trong những năm tiếp theo công tác phát triển rừng nói chung và trồng rừng phòng hộ nói riêng của tỉnh Điện Biên sẽ không chỉ là kế hoạch đề ra hàng năm mà sẽ hiện thực hóa bằng những diện tích rừng phòng hộ cụ thể. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tỉnh Điện Biên 26/8) đầu trang(
Nghề ươm trồng giống cây lâm nghiệp ở vùng biển Duy Hải (Duy Xuyên, Quảng Nam) mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, nhiều hộ dân cũng dần khấm khá nhờ loại cây này.
Những năm gần đây, việc ươm trồng giống cây lâm nghiệp đã rộ lên ở vùng đất cát ven biển Duy Hải. Chủ yếu là cây bạc hà, phi lao. Sau nhiều biến chuyển của thời cuộc, nhu cầu thay đổi của thị trường cây keo lá tràm dần được thay thế và trở thành tiềm lực kinh tế mới cho người dân nơi đây.
Cách đây vài năm, nhận thấy nhu cầu sử dụng keo lá tràm để trồng rừng kinh tế ở nhiều địa phương trong tỉnh, nhất là các vùng rừng núi rất lớn. Từ đó, người dân bắt đầu học hỏi và xây dựng cơ sở ươm giống bán ra thị trường với hy vọng tươi sáng hơn cho tương lai.
Bà Nguyễn Thị Phượng (thôn 2, xã Duy Hải, Duy Xuyên) cho biết: “Gia đình tôi trồng loại keo lá tràm này được hơn 4 năm nay, thấy người đi trước làm rồi mình học hỏi làm theo. Mỗi năm trồng hơn 500.000 cây giống, sau khi trừ các khoản chi phí, nhân công thì cũng lãi hơn 50 triệu đồng. Nghề này chủ yếu lấy công làm lời, nhưng nhờ nó mà tôi có thể lo cho con ăn học, đời sống gia đình cũng đỡ chật vật hơn trước”.
Với giá thành 300 đồng/cây giống, tùy theo việc trồng nhiều hay ít mỗi hộ ở đây thu nhập ít nhất cũng được 50 triệu đồng/năm, nhiều thì hơn 100 triệu đồng/năm. Cây giống được người dân ở Quế Sơn, Phước Sơn, Hiệp Đức, các huyện miền núi Quảng Ngãi… thu mua.
Hiện nay trên toàn xã có hơn 20 hộ ươm keo lá tràm, tập trung chủ yếu trên địa bàn các thôn An Lương, Tây Sơn Tây, Thuận Trì, Tây Sơn Đông. Nhiều hộ làm ăn khấm khá cũng tậu được xe tải nhỏ để chuyên chở cây giống, điển hình như hộ ông Lê Văn Thái, Trần Văn Lợi và Phùng Văn Hùng.
Quy trình ươm giống như sau: Sau khi mua giống về xử lý, tiếp đến là giai đoạn làm bầu và ươm mầm. Giai đoạn từ 2-3 tháng là có thể cho thu hoạch cây con. Loại đất được chọn ươm phải là đất đỏ, được mua từ các xã Duy Trung và Duy Sơn (Duy Xuyên, Quảng Nam).
Ông Trần Văn Lợi cho biết: “Sở dĩ chọn đất đỏ vì khi làm bầu ươm sẽ chắc chắn hơn, lấy cây giống cũng không sợ vỡ bầu, tỉ lệ cây giống đạt 100%. Mỗi năm gia đình tôi trồng từ 1 triệu đến 2 triệu cây giống, sau khi trừ các khoản chi phí cho thu nhập hơn 100 triệu đồng. Với số lượng người trồng hiện nay tại Duy Hải là ổn định cho đầu ra, nhưng nếu số lượng người trồng nhiều nữa thì cung sẽ quá cầu, lúc đó đầu ra không biết tìm đâu”.
Để có nước tưới ổn định và thường xuyên người dân sử dụng giếng khoan chủ động nguồn nước. Với thời tiết oi bức keo cần được tưới từ 3-4 lần/ngày, trời mát mẻ, có mưa thì chỉ cần 1 lần/ngày.
Khấm khá hơn từ nghề ươm giống cây lâm nghiệp, ông Phùng Văn Hùng (thôn An Lương, Duy Hải) phấn khởi: “Từ ngày mở cơ sở sản xuất ươm keo lá tràm, cuộc sống gia đình cũng đỡ hơn trước, đời sống kinh tế khấm khá hơn. Mỗi năm gia đình trồng hơn 800.000 cây giống thu về hơn 100 triệu đồng/năm sau khi trừ đi các khoản chi phí”.
Ông Võ Quốc Hai (phó Ban nông nghiệp xã Duy Hải, Duy Xuyên) nhận xét: “Trong vòng vài năm trở lại đây, nghề ươm giống keo lá tràm phát triển mạnh và trở thành hướng đi mới cho người dân vùng cát ven biển. Qua thống kê cho thấy, mỗi năm các cơ sở sản xuất hơn 12 triệu cây keo giống, thu về lãi ròng hơn 3 tỉ đồng/năm. Bên cạnh đó, mô hình này còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho nhiều lao động tại địa phương”. (Dân Trí 28/8) đầu trang(
Theo kế hoạch, trong năm nay, tỉnh Kon Tum sẽ trồng mới hơn 1.000 ha rừng.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về khôi phục rừng bền vững ở Tây Nguyên, bên cạnh triển khai các giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy, tỉnh Kon Tum cũng đã tăng cường biện pháp trồng rừng thay thế.
Thời gian trước, mặc dù những diện tích rừng bị người dân lấn chiếm nằm sát ngay trục đường chính nhưng dường như lực lượng chức năng của tỉnh Kon Tum không có biện pháp để ngăn chặn ngay từ đầu. Với sự vào cuộc mạnh mẽ của chính quyền địa phương, đến nay, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum đã thu hồi được hơn 5 ha rừng bị lấn chiếm trái phép và tiến hành trồng rừng thay thế.
Việc thu hồi, triển khai trồng lại rừng thay thế tại các tiểu khu bị người dân lấn chiếm đã thể hiện rõ quan điểm quyết liệt bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên rừng của tỉnh Kon Tum trước vấn nạn chặt phá rừng.
Theo kế hoạch, trong năm nay, tỉnh Kon Tum sẽ trồng mới hơn 1.000 ha rừng, quyết tâm nâng độ che phủ rừng từ hơn 62% hiện nay lên gần 64% vào năm 2020. (Đài Truyền Hình Việt Nam 28/8) đầu trang(
Theo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh An Giang giai đoạn 2016 – 2020, tỉnh An Giang sẽ duy trì ổn định tỷ lệ che phủ của rừng (bao gồm rừng tập trung và cây lâm nghiệp phân tán) đến năm 2020 là 22,40%.
Bên cạnh đó với các mục tiêu chủ yếu là bảo vệ và ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Đến năm 2020, phải sử dụng và trồng hết diện tích đất chưa có rừng có khả năng trồng rừng, phát triển trồng cây phân tán, vườn rừng.
Bảo vệ và phát triển vốn rừng tự nhiên, rừng trồng hiện có, chống suy thoái nguồn tài nguyên rừng, thực hiện xã hội hoá nghề rừng trên cơ sở tổ chức, quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng, giao đất, giao rừng nhằm giải quyết tốt mục tiêu phòng hộ, an ninh môi trường.
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp thông qua việc cải thiện một cách hợp lý cơ cấu cây trồng lâm nghiệp. Phát triển các loài cây trồng có tác dụng tốt về phủ xanh, bảo vệ môi trường và có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội. Xây dựng nền lâm nghiệp phát triển bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Đưa các dịch vụ từ rừng là nguồn thu cơ bản của ngành lâm nghiệp; nâng tỷ trọng lâm nghiệp trong giá trị sản xuất nông nghiệp và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của địa phương. Góp phần quan trọng ổn định an ninh chính trị - xã hội ở tỉnh An Giang, đặc biệt khu vực biên giới với nước bạn Campuchia.
Đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn và góp phần giữ vững an ninh quốc phòng.
Để thực hiện tốt các mục tiêu nêu trên, các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được tỉnh quan tâm thực hiện trong thời gian tới đó là, thiết lập lâm phận ổn định, theo hệ thống tiểu khu, khoảnh, lô với mốc và ranh giới rõ ràng trên bản đồ và thực địa; tổ chức liên doanh để thực hiện các hoạt động du lịch sinh thái, sử dụng lâm sản ngoài gỗ, nghiên cứu khoa học bảo vệ đa dạng sinh học theo đúng quy định của luật pháp.
Giao cho các đơn vị chủ rừng kiểm kê đánh giá chi tiết hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp; đặc biệt tại những vùng chuyển đổi ra ngoài đất lâm nghiệp, những nơi dân xâm canh, quản lý bảo vệ tốt những diện tích rừng hiện có. Tiếp tục thực hiện nhanh công tác xã hội hoá nghề rừng. Thực hiện khoán bảo vệ rừng áp dụng cho các đối tượng là đồng bào dân tộc, các cộng đồng dân cư địa phương. Các đơn vị chủ rừng đều phải xây dựng phương án sản xuất và tổ chức lực lượng bảo vệ rừng, bố trí đủ các trạm bảo vệ rừng phân bố trong lâm phận, đảm bảo quản lý tốt diện tích rừng và đất lâm nghiệp của đơn vị.
Không ngừng ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất lâm nghiệp, trước mắt là ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô trong sản xuất giống cây trồng có năng suất cao.
Thực hiện tốt các hoạt động kiểm tra, giám sát, cấp giấy chứng nhận cho các cơ sở sản xuất giống có chất lượng cao; từng bước di dẫn giống các loài cây bản địa, cây nhập ngoại có giá trị kinh tế cao về trồng thử nghiệm để chọn ra giống thích hợp cung cấp cho các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung. Nghiên cứu phục hồi rừng bằng các loài cây bản địa có giá trị, bổ sung loài mới vào các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Tăng cường công tác điều tra cơ bản về rừng để đánh giá đúng diễn thế rừng, đất đai; tài nguyên động, thực vật. Đầu tư trang thiết bị máy móc và quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến trong công nghiệp chế biến lâm sản. Nghiên cứu xây dựng các mô hình sản xuất lâm – nông – ngư kết hợp, hỗ trợ xây dựng trang trại lâm nghiệp, đào tạo nghề…
Bên cạnh đó, đối với diện tích giao khoán bảo vệ rừng đề nghị có chính sách hỗ trợ khác để tiếp tục công tác giao khoán bảo vệ và chăm sóc rừng được liên tục. Cải cách đơn giản hoá các thủ tục đầu tư và rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư. Xây dựng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của địa phương.
Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế được tiếp cận với các nguồn vốn vay thuận lợi; được vay với lãi suất ưu đãi, thời gian phù hợp với chu kỳ kinh doanh cây lâm nghiệp. Cải thiện chính sách cho vay vốn khuyến khích các nhà đầu tư trồng rừng kinh tế.
Về nguồn vốn thì nhhà nước đầu tư vốn để phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, hỗ trợ vốn để trồng rừng sản xuất, cây phân tán nhằm ổn định diện tích rừng, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai. Vốn ngân sách nhà nước đầu tư chủ yếu vào việc quản lý rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, sản xuất giống chất lượng cao, nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo, xây dựng hạ tầng phục vụ lâm sinh…
Đối với rừng sản xuất: ngoài vốn hỗ trợ từ Trung ương, cần huy động các nguồn vốn khác như vốn của địa phương, các tổ chức và hộ gia đình cá nhân. Nhà nước và các tổ chức tín dụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để người lao động dễ dàng tiếp cận nguồn vốn này để phát triển nghề rừng. Nhà nước khuyến khích các tổ chức cá nhân thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, cho thuê cảnh quan để huy động vốn cho bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Về phát triển nguồn nhân lực: sẽ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, năng lực hoạt động cho cán bộ ngành lâm nghiệp ở các cấp. Khuyến khích hỗ trợ cán bộ lâm nghiệp trong nghiên cứu khoa học, tự đào tạo để nâng cao kiến thức chuyên môn; mở rộng và đa dạng hoá các hình thức đào tạo nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật, trình độ tay nghề cho người lao động thông qua các trường chuyên nghiệp, trường dạy nghề dài hạn và ngắn hạn; thông qua các lớp khuyến nông – khuyến lâm – khuyến ngư và thực tiễn các mô hình sản xuất…
Đặc biệt là đối với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, tập trung phát triển các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như đồ gỗ nội thất, đồ gỗ ngoài trời, đồ mộc mỹ nghệ. Củng cố và hỗ trợ nâng cấp hệ thống nhà máy chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ và phát triển công nghiệp chế biến lâm sản quy mô lớn vào năm 2017. Hỗ trợ chế biến lâm sản, từng bước phát triển và hiện đại hoá công nghiệp chế biến lâm sản quy mô nhỏ ở các vùng nông thôn.
Khuyến khích xây dựng các cơ sở sản xuất, chế biến tổng hợp gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ; đẩy mạnh chế biến ván nhân tạo và bột giấy, giảm dần chế biến dăm giấy xuất khẩu. Khuyến khích sử dụng các sản phẩm từ ván nhân tạo và gỗ từ rừng trồng; đa dạng hoá và không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm chế biến cho phù hợp với thị hiếu khách hàng trong và ngoài nước. Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu và cấp chứng chỉ cho các mặt hàng xuất khẩu. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh An Giang 26/8) đầu trang(
Thời gian qua, Toàn soạn đã chuyển đơn thư của anh Vì A Thanh, trú tại bản Pha Khuông (Co Mạ, Thuận Châu, Sơn La) kiến nghị việc bố mẹ anh được người thân có di chúc giao đất rừng để tiếp tục sản xuất nhưng lại bị cấp có trách nhiệm xử phạt về việc phá rừng phòng hộ.
Anh Thanh cho rằng, nhiều năm nay chưa nhận được văn bản nào xác định diện tích đất rừng gia đình đang sản xuất là rừng phòng hộ nên kiến nghị sự việc nhưng chưa được giải quyết.
Đơn đã được gửi đến UBND xã Co Mạ, UBND huyện Thuận Châu (Sơn La). (Tiền Phong 29/8) đầu trang(
Để bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế đồi rừng hiệu quả, Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Thạch Thành đã phối hợp với các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân trong vùng thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng; thực hiện một số giải pháp về lâm sinh, trồng các cây phân tán vào các khu rừng thông, phát 10 km đường băng cản lửa, dọn thực bì làm giảm vật liệu cháy ở 100 ha rừng thông.
Bên cạnh đó, công tác trồng rừng được chú trọng, từ năm 2014 đến nay, BQL đã trồng, chăm sóc 133,4 ha rừng theo Dự án JICA 2; ươm 15 vạn cây giống các loại cung cấp cho người dân trên địa bàn trồng rừng. Cùng với đó, BQL đã củng cố, sắp xếp lại lao động theo hướng gọn nhẹ, tăng năng suất lao động; tổ chức tuyên truyền cho các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp tham gia các dự án trồng và bảo vệ rừng, tổ chức ký cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; tăng cường dịch vụ kỹ thuật, cây giống, tổ chức tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp cho đồng bào địa phương. Xây dựng dự án phát triển giống cây đặc sản rừng có giá trị kinh tế cao.
Công tác nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất luôn được đơn vị quan tâm, nhiều mô hình nghiên cứu đã có kết quả tác động tích cực đến phát triển nghề rừng. Vì vậy, an ninh rừng  luôn giữ vững, độ che phủ rừng đạt 52%.
Thực hiện chủ trương giao khoán rừng và đất lâm nghiệp ổn định, lâu dài cho người dân, toàn bộ hơn 4.000 ha rừng và đất lâm nghiệp do BQL đã được giao ổn định lâu dài cho 520 hộ dân nhận khoán chăm sóc, bảo vệ. Trong quản lý sử dụng các loại đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất, BQL đã tổ chức thực hiện tốt cơ cấu cây trồng phù hợp với đất đai, khí hậu, có hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
Các loài cây phòng hộ dài ngày như trám trắng, sấu, lim xanh, keo... sinh trưởng phát triển tốt, phát huy đa dạng sinh học. Đặc biệt, từ năm 2006 đến nay, BQL đã đưa vào trồng khảo nghiệm và nhân rộng gần 60 ha cây mắc ca mang lại hiệu quả kinh tế cao; đang chuyển đổi 30 ha đất nông nghiệp kém hiệu quả ở Trạm quản lý, bảo vệ rừng Thành Vân sang trồng các loại cây có múi, như cam, bưởi, chanh, kết hợp chăn nuôi.
Đến nay, các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp trên địa bàn đã xây dựng được 53 gia trại, 1 trang trại nông – lâm kết hợp, cho thu nhập mỗi năm từ 100 đến 300 triệu đồng; tạo việc làm tại chỗ và cải thiện thu nhập cho hàng trăm lao động trên địa bàn. (Báo Thanh Hóa 26/8) đầu trang(
Vừa qua, báo Bảo vệ pháp luật liên tục nhận được đơn của một số công dân ở hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn tố cáo về một số hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản đối với ông Đỗ Xuân Kỳ - Giám đốc Công ty cổ phần sản xuất chế biến và xuất khẩu lâm sản Tracimexco Bắc Kạn.
Sau khi nhận được đơn tố cáo của công dân, nhóm Phóng viên của báo Bảo vệ pháp luật đã vào cuộc điều tra, xác minh và thu thập nhiều hồ sơ, chứng cứ có liên quan đến vụ việc nói trên.
Qua nghiên cứu hồ sơ cho thấy: Tháng 08/2014, thông qua hợp đồng mua bán rừng keo nguyên liệu số 29/HĐMB -CTLN ngày 06/08/2014, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bắc Kạn đã bán cho ông Đỗ Xuân Kỳ rừng keo nguyên liệu năm 2008, theo dự án trồng rừng keo nguyên liệu giai đoạn 2007 -2015 của Công ty tại địa bàn tiểu khu lâm nghiệp Huyền Tụng - Quan Nưa, Quang Thuận và Dương Phong thuộc Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Bắc Kạn - Lâm trường Bạch Thông, với tổng diện tích là 55ha (rừng trồng năm 2008), giá bán 21 triệu đồng/1 ha.
Hình thức giao nhận hàng: Giao nhận cây đúng theo hồ sơ thiết kế từng lô rừng có biên bản, bảng kiểm kê chi tiết từng lô, khoảnh, tiểu khu kèm theo. Việc mua bán này nằm trong phương án kinh doanh của Công ty do vậy trong “hồ sơ kiểm kê và xác định phương án kinh doanh rừng trồng nguyên liệu năm 2008 tại Lâm trường Bạch Thông”, có đưa ra biểu tổng hợp diện tích kiểm kê.
Qua đó, diện tích kiểm kê thực tế gồm 5 tiểu khu, 14 khoảnh chia thành 66 lô có tổng diện tích là 55,06 ha. Cụ thể, tiểu khu 393 (Dương Phong) có diện tích 14,1 ha, tiểu khu 391 (Quang Thuận) có diện tích 12,67 ha, khu vực Khuổi Piểu (tiểu khu 392 - Quang Thuận) có diện tích 10,27 ha, tiểu khu Huyền Tụng (339) diện tích 4,96 ha và khu vực Quan Nưa (tiểu khu Huyền Tụng - 338) diện tích 13,06 ha. Sau khi mua được diện tích rừng keo nguyên liệu nói trên từ Công ty TNHH MTV lâm trường Bắc Kạn, ngày 15/06/2015, ông Kỳ đã thuê Xí nghiệp giống & tư vấn lâm nghiệp Nông Thịnh do ông Vũ Đình Vinh làm đại diện “thiết kế khai thác trắng rừng keo theo kế hoạch năm 2015, tận dụng gỗ tự nhiên trong rừng trồng keo và phương án trồng lại rừng năm 2016”.
Theo đó, diện tích khai thác mà xí nghiệp này được ông Đỗ Xuân Kỳ thuê khai thác tại Lâm trường Bạch Thông là 98,72ha, gồm các tiểu khu Dương Phong, Huyền Tụng, Quang Thuận 391, Quang Thuận 392. Theo ông Vũ Đình Vinh “diện tích 98,72 ha nói trên được lấy dựa trên cơ sở diện tích thiết kế trồng rừng ban đầu và là diện tích được thiết kế để thi công trồng mới, đây không phải số liệu thiết kế theo diện tích có rừng...”.
Tuy nhiên, theo như tỉm hiểu của Phóng viên, tại các quyết định phê duyệt hồ sơ thiết kế khai thác trắng rừng trồng keo nguyên liệu trồng năm 2008, ở các tiểu khu nói trên của Lâm trường Bạch Thông chỉ có 1/5 quyết định, trong “biểu tổng hợp khối lượng thiết kế khai thác trắng rừng trồng keo nguyên liệu theo kế hoạch năm 2015”, có đưa đầy đủ các thông tin về diện tích thi công trồng rừng và diện tích quy đổi có rừng khai thác, các quyết định còn lại chỉ đưa duy nhất thông tin về diện tích thi công trồng rừng, tuyệt đối không đưa thông tin về diện tích quy đối có rừng khai thác (đưa thiếu thông tin và có thể gây hậu quả nghiêm trọng).
Song, các quyết định này vẫn được ông Phạm Văn Thường - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bắc Kạn ký duyệt và bàn giao lại cho ông Đỗ Xuân Kỳ. Ngay sau khi cầm được trong tay các hồ sơ nhập nhèm nói trên, thay vì bán diện tích thực tế đã mua là 55ha, bằng những hồ sơ sẵn có, ông Đỗ Xuân Kỳ đã đua sai lệch thông tin và lấy toàn bộ số liệu diện tích thiết kế trồng rừng ban đầu bán lại cho Công ty cổ phần sản xuất, chế biến và xuất khẩu lâm sản Tracimexco (đơn vị mà hiện nay ông Kỳ đang làm Giám đốc) với tổng số tiền là 3,2 tỷ đồng.
Sau “phi vụ” này, ông Kỳ tiếp tục được Công ty cổ phần sản xuất chế biến và xuất khẩu lâm sản Tracimexco giao phụ trách mảng kinh doanh. Sau khi được giao phụ trách, ông Kỳ đã tham mưu cho công ty bán lại toàn bộ số diện tích rừng mà công ty đã mua của ông Kỳ trước đó cho bên thứ 3, cũng bằng hình thức cố ý đưa sai lệch thông tin. Trong số nạn nhân nói trên có ông Phạm Văn Sỹ ở phường Cải Đan, thành phố Sông Công, tinh Thái Nguyên.
Năm 2015, ông Sỹ được ông Đỗ Xuân Kỳ mời chào và bán lại cho 12 lô rừng keo nguyên liệu thuộc 3 khoảnh 5, 6, 7 ở tiểu khu lâm nghiệp Huyền Tụng khu vực Quan Nưa có tổng diện tích là 21,53 ha, với số tiền là 800 triệu đồng. Theo hồ sơ thiết kế khai thác, các chỉ tiêu lâm sinh cho thấy tổng trữ lượng của toàn tiểu khu là trên 1333m3 trong đó khối lượng gỗ thương phẩm trên 1000m3. Nhưng khi khai thác, sản lượng thực tế chỉ đạt 50%.
Trước những số liệu thực tế bất thường này, ông Sỹ đã đi tìm hiểu và tá hỏa khi phát hiện ra trong số diện tích 21,53 ha rừng keo nguyên liệu nói trên mà ông Đỗ Xuân Kỳ bán cho ông thì có tới 8,47ha là diện tích ảo. Ông Sỹ cho rằng, với việc bán khống 8,47ha rừng nói trên, ông Đỗ Xuân Kỳ đã chiếm đoạt của ông số tiền trên 320 triệu đồng. Theo ông Sỹ, thì đây là một vụ lừa đảo có chủ đích, cố tình "bịt mắt" các cơ quan chức năng...
Hiện nay, dư luận đang đặt ra câu hỏi: Việc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bắc Kạn đưa ra quyết định thiếu thông tin có phải do thiếu sót hay đây là sự cố ý để nhằm tạo sự nhầm lẫn có chủ đích?. Câu trả lời xin dành cho các cơ quan chức năng tỉnh Bắc Kạn, đặc biệt cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bắc Kạn vào cuộc, làm rõ để trả lời dư luận. (Bảo Vệ Pháp Luật 26/8) đầu trang(
Liên quan đến việc bà Đỗ Thị Xuân Hồng - Chủ DNTN Thức ăn chăn nuôi Thành Lợi góp vốn làm ăn sau đó phát sinh tranh chấp với ông Đặng Thanh Tùng - Giám đốc Công ty TNHH MTV Việt Dương, vừa qua ông Đặng Thanh Việt, PGĐ Trung tâm phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh đã có đơn khẳng định vụ việc không liên quan đến cá nhân ông.
Trình bày trong Đơn, ông Đặng Thanh Việt cho rằng: "Việc hợp tác giữa bà Đỗ Thị Xuân Hồng và ông Đặng Thanh Tùng trong kinh doanh của Công ty Việt Dương chủ yếu là dựa vào thỏa thuận giữa hai bên để thực hiện. Khi phát sinh tranh chấp thì ông Tùng và bà Hồng tự giải quyết với nhau chứ không liên quan gì đến cá nhân ông Việt. Việc bà Hồng cho rằng ông Việt gài bẫy DNTN Thành Lợi là không đúng sự thật.
Trước đó, ngày 10/6/2014, bà Đỗ Thị Xuân Hồng và ông Đặng Thanh Tùng - đại diện cho Công ty Việt Dương đã ký “Hợp đồng góp vốn” để thực hiện dự án trồng rừng bán ngập bảo vệ vùng lòng hồ Dầu Tiếng. Sau đó, Công ty Việt Dương đã thay đổi giấy phép kinh doanh do có phần vốn góp của bà Hồng. Hai bên cũng tiếp tục thống nhất bằng nhiều văn bản có liên quan đến việc hợp tác giữa bà Hồng và ông Tùng.
Liên quan đến vụ việc này, ông Bùi Xuân Đại - PGĐ Công ty Dầu Tiếng - Phước Hòa cho biết Công ty chỉ làm việc với ông Tùng và bà Hồng là những người đại diện Công ty Việt Dương, chứ không có làm việc hay đàm phán gì liên quan đến ông Đặng Thanh Việt.
Theo “Biên bản thỏa thuận hợp tác kinh doanh” ngày 11/11/2015 thì ông Tùng giao cho bà Hồng quyền chủ động thực hiện toàn bộ diện tích đất dự án trồng rừng bán ngập lòng hồ Dầu Tiếng, trực tiếp ký hợp đồng hợp tác trồng rừng với Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa và bà Hồng được thay mặt Công ty ký kết các hợp đồng với tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước để thực hiện dự án trồng rừng theo chủ trương đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Trao đổi với PV, ông Việt cho rằng, việc bà Hồng đã có đơn gửi đến các cơ quan chức năng tố cáo Đặng Thanh Việt tự ý quyết định mọi việc mà không thông qua ý kiến bà Hồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân của bà Hồng là không đúng. Đây là việc tranh chấp nội bộ của Công ty Việt Dương mà bà Hồng và ông Tùng là thành viên Công ty có trách nhiệm giải quyết. Nếu không giải quyết được, thì 2 bên có quyền khởi kiện ra Tòa án theo qui định của pháp luật. (An Ninh Tiền Tệ 26/8) đầu trang(
Để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng, việc chuyển từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đã được đặt ra. Hiện tại mới chỉ có hơn 2000 ha rừng gỗ nhỏ được chuyển sang rừng gỗ lớn, và cả nước mới chỉ có 175.000 ha rừng gỗ lớn (chiếm 4,4% diện tích rừng cả nước), đó là con số khiêm tốn.
Đa số người trồng rừng đều ở tình trạng thiếu vốn, nên phải bán non rừng. Trong khi đó, việc phát triển và quản lý giống trong lâm nghiệp còn nhiều bất cập, đó là một trong những lí do khiến việc chọn lựa giống trồng rừng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
“Ngành gỗ muốn cạnh tranh được với các nước, thì về công nghệ phải ngang bằng nhau, bắt đầu từ khâu giống, giống cây phải có chất lượng như các nước phát triển mạnh nguồn nguyên liệu. Và từ công nghệ, cũng như kĩ thuật trồng phải tương ứng với giống cây, đồng thời phát huy lợi thế của thiên nhiên, để có rừng trồng nhanh hơn, chất lượng hơn”, đó là một trong những nhận định thời còn làm quản lý Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn của ông Cao Đức Phát. Ông cũng nhận định, ngành lâm nghiệp nói chung và ngành gỗ nói riêng phải bắt đầu từ thị trường, theo thị trường, chứ không phải nhìn thực địa rồi chọn cây trồng.
Với 14 năm trồng rừng, anh Nguyễn Quốc Khánh  ở Sơn Dương, Tuyên Quang chỉ trồng duy nhất một loại cây là keo, và đầu ra của rừng keo chỉ cung cấp cho các nhà máy làm bột giấy và giấy. Sau 7 năm trồng rừng keo đầu tiên, anh thu lãi được 570 triệu đồng. Theo anh Khánh, trong thời gian tới, sẽ không có giống cây lâm nghiệp nào khác ngoài keo được trồng ở đây, vì người trồng rừng như anh không có lựa chọn khác.   Hơn 4 ha rừng keo của anh Khánh sau 7 năm cho thu hoạch hơn 400 m3 khối gỗ, đó là con số lớn. Và sau khi thu hoạch đợt 1, anh cũng như các hộ trồng rừng khác sẽ tiếp tục trồng keo trong đợt hai. Vấn đề nảy sinh ở đây là dù thu lại được kinh tế lớn từ cây keo, nhưng điều đó cho thấy người trồng rừng không chỉ nghèo về cơ cấu giống, mà ngay cả năng suất giống của ngành gỗ cũng là câu chuyện đáng bàn.
Công ty Lâm Nghiệp Sơn Dương, Tuyên Quang là một trong những công ty thực hiện việc cung ứng giống lâm nghiệp, mỗi năm công ty cung ứng 800 nghìn cây giống ra thị trường. Trong 5 năm gần đây, công ty cho biết sự thay đổi cơ cấu giống là rất ít, khiến người trồng rừng không có nhiều lựa chọn. Vấn đề khiến công ty trăn trở chính là nếu muốn trồng keo, phải tạo ra giống keo tốt nhất. Theo bà Vi Thi Hồng, hiện trong cơ cấu loài bắt đầu từ năm 2015, công ty Sơn Dương đã trồng tới 80% keo hom, và nguồn gốc là từ cây keo mô.
Tỉnh Tuyên Quang đã qui hoạch và xác định tổng thể vùng nguyên liệu kinh doanh gỗ lớn trên 11.000 ha. Thế nhưng, theo các nhà quản lý, việc quản lý và phát triển giống cây vẫn còn mang tính tự phát cao. Theo ông Nguyễn Công Nông, Phó Giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỉnh chưa tự nghiên cứu chưa ra được giống mới của keo vì cơ sở hạ và đội ngũ kĩ thuật nghiên cứu giống là chưa có và chưa đủ điều kiện để nghiên cứu. Theo ông, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cùng các viện khoa học kĩ thuật về cây trồng nên là những đơn vị nghiên cứu và chuyển giao giống cây mới cho các địa phương mới mang lại hiệu quả.
Theo anh Khánh, gia đình anh sẽ bắt đầu chuyển sang trồng rừng gỗ lớn, nhưng nếu ngay từ thời điểm này, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp không giúp những người như anh có được nguồn giống tốt, thì việc khai thác gỗ lớn cho ngành công nghiệp gỗ sẽ không thật sự hiệu quả.
GS – TS Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ cho biết, vì Việt Nam có quá nhiều giống cây, nên rất khó chọn. Hiện tại, một số loài có thể trồng để lấy gỗ nguôn liệu thì lại được nước ngoài sang mua giống, như cây trò chỉ được tìm mua nhiều nhất, sau đó là cây xoan đào, tiếp theo là một số cây dổi, một số cây trò  hay cây dầu.. Nhưng vấn đề là những cây truyền thống này có thể được trồng trong rừng gỗ nhỏ, trồng ở những rừng nghèo kiệt, nhưng đòi hỏi người đầu tư phải có kĩ thuật và phải có vốn.
Theo các hộ trồng rừng keo được cấp chứng chỉ FSC tại Quảng Trị, họ không chỉ tuân thủ theo mô hình chứng chỉ rừng toàn cầu, mà còn bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng giống cây trồng, để nâng cao hiệu quả kinh tế. Và họ cũng chính là những đại diện tiêu biểu cho ngành gỗ Việt Nam hội nhập với thế giới.
Theo ông Lung, mô hình trồng keo ở Quảng Trị cần được nhân rộng trên cả nước, không chỉ ở khía cạnh tuân thủ luật pháp quốc tế về gỗ, mà còn ở khía cạnh chọn lựa và quản lý giống cây trồng lấy gỗ thật tốt để phát triển kinh tế rừng hiệu quả. (Gỗ Việt 27/8) đầu trang(
Ngành gỗ được xác định là một trong những ngành chủ lực của nước ta. Giá trị xuất khẩu ngành chế biến gỗ dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2020.
Cùng với đó là chế biến, xuất khẩu nguyên liệu thô từ khai thác trồng rừng. Tuy nhiên, vấn đề bất cập ở đây là trong khi chúng ta xuất khẩu gỗ dăm thì ngành gỗ nước ta lại phải nhập khẩu khoảng 60 - 77% nguyên liệu để sản xuất và chế biến.
Năm 1990, độ che phủ rừng của Việt Nam chỉ có 27,8%, đến hết năm 2015, độ che phủ đã đạt được 40,43%. Theo ông Hà Công Tuấn - Thứ trưởng Bộ NN - PTNT, ngành lâm nghiệp đang phát triển bền vững. Là một nước còn rất nghèo, nhưng Việt Nam có độ tăng trưởng về rừng, kể cả bảo vệ rừng, độ che phủ rừng tăng lên, diện tích rừng cũng như năng suất, sản lượng rừng trồng tăng rất cao.
Theo số liệu thống kê, tổng khối lượng gỗ khai thác của nước ta năm 2015 đạt 31 triệu m3, trong đó, có hơn 17,5 triệu m3 khai thác từ rừng trồng, 6 triệu mét khối từ nguồn cây phân tán, 2 triệu m3 từ rừng cao su thanh lý, 1,94 triệu m3 từ rừng tự nhiên chuyển đổi. Trong khi đó, ngành gỗ được xác định là một trong những ngành chủ lực của nước ta.
Giá trị xuất khẩu ngành chế biến gỗ dự kiến đạt 7 tỷ USD vào năm 2016 và 10 tỷ USD vào năm 2020. Cùng với đó là chế biến, xuất khẩu nguyên liệu thô từ khai thác trồng rừng. Ông Nguyễn Đức Thanh, Tổng Giám đốc Nhà máy sản xuất gỗ An Hòa (xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang) cho rằng: Với sản lượng gỗ hiện nay khai thác khoảng 70 khối gỗ/ha, một ngày, nhà máy của ông tiêu hết khoảng 1.700 khối, tức khoảng 20ha.
Tại vùng nguyên liệu ở Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái… ông đã đầu tư 14 nghìn tỷ đồng để xây dựng nhà máy giấy, bột giấy và giấy An Hòa. Ông Thanh cho rằng, về tái cơ cấu phát triển rừng, cần tạo cơ chế để doanh nghiệp tư nhân được chi phối trong vấn đề đầu tư thì họ mới tham gia. Theo ông Thanh, nếu chuyển tiền cho các công ty lâm nghiệp hoạt động thì sẽ không hiệu quả, do vậy, doanh nghiệp tư nhân như ông phải chiếm trên 51%.
“Tôi cũng đề nghị Bộ NN - PTNT cùng với chính quyền các địa phương giải quyết cho chúng tôi vấn đề này, vì chúng tôi đã đầu tư nhà máy rồi, và nếu không có vùng nguyên liệu này, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và chế biến. Về phía doanh nghiệp, chúng tôi cũng cam kết sẽ đầu tư vào rừng và phát triển vùng lâm nghiệp” - ông Thanh nói.
Quyết tâm trồng rừng với chiến lược vài năm nữa, HTX Ngàn Hoa có thể chủ động hoàn toàn nguồn nguyên liệu gỗ và tham vọng xuất khẩu gỗ thay vì phải lo nhập gỗ như hiện nay.Ông Nguyễn Đức Hải, Giám đốc HTX Ngàn Hoa (Vị Xuyên, Hà Giang) công nhận rằng, các doanh nghiệp trong nước, trong đó có HTX Ngàn Hoa vẫn chưa có kinh nghiệm trong trồng rừng, chưa có công nghệ, giống lâm nghiệp như của nước ngoài, chưa nói đến yếu tố tiềm lực tài chính.
Không chỉ ông Hải mà nhiều chuyên gia lâm nghiệp thừa nhận, cách trồng rừng hiện nay của Việt Nam chỉ thích hợp cho “phủ xanh đất trống đồi núi trọc” chứ chưa có kinh nghiệm trồng rừng kinh tế, thâm canh cho năng suất cao như các nước tiên tiến đang làm.
Tự bao đời nay người dân Việt có thói quen trồng rừng với nhiều mục đích khác nhau nhưng cách trồng rừng, theo một chuyên gia lâm nghiệp, vẫn là “trồng cây lâm nghiệp sao cho phủ xanh đất rừng” xem như là thành công, mà không hề nghiên cứu phương thức trồng, giống, năng suất, sâu bệnh, phòng chống cháy… Do vậy, đề tài đầu tư trồng rừng đã được nhắc nhiều trong vài năm trở lại đây trong các hội thảo, hội nghị của ngành nông nghiệp.
Theo định hướng của Chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2020 của Chính phủ, Việt Nam cần trồng mới 2 triệu hecta rừng để đáp ứng được nhu cầu gỗ nguyên liệu và có độ che phủ rừng toàn quốc 47%, nhu cầu vốn đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng, trong đó khoảng 60% phải khai thác vốn trong dân và các nhà đầu tư.
Nhưng hiện nay, các nhà đầu tư tiềm năng, cả trong và ngoài nước, có ý định đầu tư vào trồng rừng sản xuất cho chế biến gỗ với quy mô lớn lại rất khó tiếp cận với đất trồng rừng sản xuất. Nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước rất muốn đầu tư trồng rừng để chủ động về nguồn nguyên liệu, giảm chi phí nguyên liệu, tăng sức cạnh tranh, nhưng không mấy dễ dàng tìm được đất trồng rừng để bỏ vốn đầu tư.
Theo báo cáo của Bộ NN - PTNT, năm 2015, Việt Nam chỉ trồng chưa được 200.000 hecta rừng sản xuất (ngoại trừ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được trồng bằng vốn ngân sách) và tốc độ trồng đang có xu hướng giảm.
Còn 8 tháng năm nay, diện tích rừng trồng chưa được 100.000ha, mà một phần trong đó là Nhà nước đầu tư cho các lâm trường, ban quản lý dự án... trồng rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng. Điều đáng nói là diện tích rừng sản xuất được trồng tự phát, manh mún, nhỏ lẻ, do dân tự trồng, tự tiêu thụ với nhiều loại giống cây khác nhau mà ít chú ý đến hiệu quả kinh tế trong trồng rừng.
Đã hơn 10 năm kể từ khi các doanh nghiệp chế biến gỗ nhắm đến đầu tư trồng rừng nguyên liệu trong nước nhưng tới giờ, chỉ có một vài dự án tạm xem là hình thành với con số vài ngàn hecta rừng đã có địa chỉ, còn lại đa phần vẫn là dự án, chờ thủ tục giao đất giao rừng. Các dự án trồng rừng khác, nếu có, phần lớn vẫn là rừng cho băm dăm làm nguyên liệu giấy. (Đại Biểu Nhân Dân 29/8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 26/8, khói mù từ Indonesia đã lan sang và bao trùm quốc đảo láng giềng Singapore trong đợt khói mù lớn đầu tiên của năm nay.
Chính phủ Singapore đã phải khuyến cáo người dân giảm bớt hoạt động ngoài trời sau khi Chỉ số tiêu chuẩn ô nhiễm (PSI) tính đến trưa ngày 26/8 đạt mức 165 điểm, vượt xa mức tiêu chuẩn “không tốt cho sức khỏe” là 100 điểm.
Cơ quan Môi trường Quốc gia (NEA) của Singapore dự định sẽ công bốbản tin về khói mù hàng ngày khi mùi khét và khói mù đã xuất hiện ở nhiều vùng của nước này.
Quốc gia láng giềng Malaysia cũng đang “khốn khổ” bởi khói mù từ các đám cháy rừng ở đảo Sumatra của Indonesia thổi qua Singapore và vào miền Nam Malaysia kể từ giữa tháng 8.
Chất lượng không khí tại một khu vực ở bang Perak của Malaysia trong tuần qua cũng đang đe dọa ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, khiến Malaysia phải đề nghị đưa người và phương tiện sang giúp Indonesia dập tắt các vụ cháy rừng.
Các vụ cháy rừng ở Indonesia xảy ra hàng năm chủ yếu do hoạt động đốt rừng lấy đất trồng cọ và lấy gỗ.
Bản thân Indonesia cũng đã công bố tình trạng khẩn cấp ở 6 khu vực và nhiều lần nhấn mạnh việc ngăn chặn các hoạt động chặt và đốt cây. Tuy nhiên, Singapore và Malaysia cáo buộc chính quyền Jakarta vẫn chưa làm đủ mạnh để giải quyết tình trạng này.
Nạn khói mù năm 2015 ở Indonesia được đánh giá là tồi tệ nhất từ trước tới nay, ảnh hưởng đến các nước Singapore, Malaysia và Thái Lan. (Tiêu Dùng + 27/8) đầu trang(./.