|
Ngày 29 tháng 05 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo Nghị quyết quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh Yên Bái vừa được Chính phủ ban hành, đến năm 2020 diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 592.849 ha, chiếm 86,09% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Trong 592.849 ha đất nông nghiệp, nhiều nhất là đất rừng sản xuất với 280.930 ha, tiếp đến là đất rừng phòng hộ 152.200 ha, đất trồng cây lâu năm 51.258 ha, đất rừng đặc dụng 36.500 ha, đất trồng lúa 25.850 ha, đất nuôi trồng thủy sản 1.522 ha. (Chinhphu.vn 29/5) đầu trang(
Gần 470 triệu đồng là số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 1.674 hộ gia đình và 70 nhóm hộ thôn, bản đang quản lý, bảo vệ trên 17.900ha rừng trên địa bàn huyện Văn Chấn.
Đây là đợt chi trả đầu tiên được triển khai tại huyện theo Nghị định số 99 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.. (Yenbai.gov.vn 28/5) đầu trang(
Vừa qua, tại trụ sở Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lào Cai, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã tổ chức lễ ký kết với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện về hợp đồng ủy thác chỉ trả dịch vụ môi trường rừng theo chỉ đạo của UBND tỉnh.
Tại buổi lễ, Công ty Cổ phần Nam Tiến (cụm thủy điện Ngòi Xan, Bát Xát) và Công ty TNHH Mạnh Trường (thủy điện Tà Lơi, Mường Khương) đã ký kết ủy thác với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng về thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng.
Mục đích của việc đóng góp quỹ bảo vệ và phát triển rừng là bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện.
Thời gian chi trả bắt đầu tính từ ngày 1/1/2011. Đối với những thủy điện đi vào hoạt động sau thì thời điểm chi trả phí dịch vụ tính từ thời điểm phát điện. (Laocai.gov.vn 29/5) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Khoảng 10 năm trở lại đây, việc tổ chức đồng quản lý rừng đặc dụng đã được Nhà nước tạo điều kiện với hàng loạt các chính sách, trong đó nổi bật là Quyết định 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng giao nhiệm vụ triển khai thí điểm và xây dựng chính sách đồng quản lý rừng cho Bộ NN&PTNT. Tuy nhiên, cho đến nay, việc tổ chức triển khai đồng quản lý rừng đặc dụng vẫn gặp phải nhiều vướng mắc, bất cập…
Tại Hội thảo “Đồng quản lý rừng đặc dụng Việt Nam: Những bài học thực tiễn và khuyến nghị chính sách” mới được tổ chức tại TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, các đại biểu đến từ nhiều địa phương trong cả nước đã nêu ra một loạt những khó khăn trong việc quản lý rừng đặc dụng tại địa phương mình.
Tỉnh Tuyên Quang có 6 khu rừng đặc dụng trong đó có 3 khu bảo tồn thiên nhiên, 3 khu rừng văn hóa lịch sử. Các hạt kiểm lâm tại các khu rừng đặc dụng vừa là đơn vị thực hiện chức năng quản lý, bảo vệ rừng, vừa kiêm ban quản lý rừng đặc dụng, chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ diện tích được giao.
Trong quá trình quản lý, các cơ quan chức năng đã gặp khó khăn do lực lượng kiểm lâm mới chỉ tập trung cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, công tác bảo tồn đa dạng sinh học chưa có cán bộ chuyên trách. Việc bảo tồn mới chỉ dừng lại ở yếu tố khách quan (bảo tồn tại chỗ). Do nhiều yếu tố về kinh tế, nhận thức, việc đồng quản lý rừng chưa được triển khai sâu rộng.
Ông Hoàng Văn Lâm, Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) nêu ra những bất cập tồn tại: Các văn bản hỗ trợ pháp lý trước đây còn hạn chế, trong khi các đơn vị đồng quản lý rừng đặc dụng tại các địa phương lại có cách hiểu, cách tiếp cận và huy động người dân tham gia vào công tác bảo vệ và chia sẻ lợi ích từ rừng khác nhau. Thậm chí, việc kêu gọi người dân cùng tham gia vào đồng quản lý và chia sẻ lợi ích tại nhiều địa phương vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
Trước những tồn tại của công tác đồng quản lý rừng đặc dụng, các đại biểu đã chia sẻ những kinh nghiệm tại địa phương mình trong quá trình huy động cộng đồng cùng tham gia công tác quản lý rừng đặc dụng.
Tại Khu bảo tồn Ngọc Sơn-Thổ Luông (Hòa Bình), sau khi khu bảo tồn được thành lập, người dân địa phương cho rằng rừng lúc này không còn thuộc về họ nên không quan tâm tới việc bảo vệ rừng, thậm chí còn có tâm lý khai thác gỗ trước khi khu bảo tồn cấm hoàn toàn. Để thay đổi nhận thức của nhân dân, ban quản lý đã vận động người dân ở 5 xóm trọng điểm trong vùng lõi khu bảo tồn thành lập Ban tự quản lâm nghiệp xóm, huy động người dân cùng tham gia bảo vệ rừng.
Người dân khi tham gia bảo tồn sẽ được hưởng những lợi ích thiết thực như: Được hưởng lợi ích, thù lao từ bảo vệ và phát triển trên phạm vi rừng xóm; được nhận khoán bảo vệ rừng, thuê rừng, trồng rừng; được ưu tiên vay vốn, hỗ trợ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ cây giống, con giống…
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải lại lựa chọn cách thức tập huấn và họp thôn cho nhân dân trong địa phương để nâng cao nhận thức bảo vệ rừng đặc dụng.
Rõ ràng, do đặc thù khác nhau, tại mỗi địa phương, mỗi khu rừng đặc dụng lại có cách huy động nhân dân cùng chung tay vào công cuộc quản lý, bảo vệ rừng khác nhau. Tuy nhiên, không thể phủ nhận được sức mạnh của người dân trong việc bảo vệ phát triển rừng. Thay đổi ý thức của nhân dân, đưa nhân dân trở thành đối tượng chính quản lý, bảo vệ rừng là cách làm tích cực để đồng quản lý rừng đặc dụng đạt được hiệu quả cao. (Quân Đội Nhân Dân 29/5) đầu trang(
Không thể phủ nhận vai trò của Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2008 là hành lang pháp lý với nhiều quy định cụ thể góp phần điều chỉnh và thực thi có hiệu quả công tác bảo tồn ĐDSH. Thế nhưng, sau nhiều năm thực thi, văn bản này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, thiếu những nội dung quan trọng cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành.
So với các văn bản pháp luật về bảo tồn ĐDSH trước đây, Luật ĐDSH 2008 đã thể hiện đầy đủ, toàn diện hơn về công tác bảo tồn song vẫn chưa bảo đảm được sự rõ ràng, minh bạch trong khi đây là mục tiêu quan trọng cần hướng tới khi xây dựng luật. Đơn cử như quy định về nguồn gen trên lãnh thổ Việt Nam, một nội dung đòi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức cũng như cần có giải thích rõ ràng hơn, tránh gây mơ hồ.
Thế nhưng, Luật mới chỉ đề cập đến các khu bảo tồn và các hệ sinh thái tự nhiên còn đối với các loài sinh vật, chỉ có động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, các giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật, các loại nấm nguy cấp, quý hiếm được nhắc tới, trong khi đó giới hạn phạm vi điều chỉnh đối với nguồn gene chưa được xác định cụ thể.
Ngoài ra, Luật cũng chưa quy định rõ cơ quan nào được phép tiếp nhận và cấp phép tiếp nhận nguồn gene cũng như chưa đề cập tới các vấn đề căn bản như hình thức chia sẻ, tỷ lệ phân chia lợi ích giữa các bên, thẩm định và xác định giá trị nguồn gen làm căn cứ phân chia lợi ích hay các quy định về thỏa thuận chuyển giao công nghệ bản quyền và sáng chế.
Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 55, Ban quản lý khu bảo tồn, tổ chức được giao quản lý nguồn gene trong khu bảo tồn sẽ được chia sẻ lợi ích từ nguồn gene theo khoản 2, Điều 61. Điều này có nghĩa là cộng đồng sinh sống ở khu bảo tồn không là đối tượng được giao quản lý nguồn gen ở khu bảo tồn thì không được chia sẻ lợi ích từ nguồn gene đó trong khi đây là chủ thể quan trọng cần được ưu tiên nhằm khuyến khích họ tham gia bảo tồn theo các tiếp cận dựa vào cộng đồng. Hơn nữa, theo quy định pháp luật hiện hành thì diện tích vùng đệm lại không tính vào diện tích khu bảo tồn nên càng không có căn cứ để chia sẻ lợi ích từ nguồn gene của khu bảo tồn.
Giải pháp tốt nhất hiện nay để đảm bảo được lợi ích của cộng đồng là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật ĐDSH về quản lý và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen cần phải xác định cụ thể cộng đồng tại vùng đệm là một bên liên quan trong ba bên được chia sẻ lợi ích. Theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách Phát triển bền vững Trần Thị Hương Trang, “mặc dù Nghị định 65/2010/NĐ-CP đã có những quy định liên quan đến tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích song vẫn chưa thực sự rõ ràng, đòi hỏi phải ban hành Nghị định riêng về vấn đề này”.
Việc thiếu các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn chi tiết, cụ thể nội dung quan trọng được đề cập trong Luật là một thực tế hiện nay trong khi phần lớn các điều luật mới chỉ gợi mở vấn đề chứ chưa đi vào nội dung chính mà còn phụ thuộc nhiều từ “sự hướng dẫn chi tiết” của Chính phủ. Hơn nữa, hoạt động bảo tồn ĐDSH có đạt được hiệu quả hay không cũng cần phải có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành.
Điều đó đòi hỏi phải xây dựng các văn bản pháp luật liên ngành song đây là điểm còn thiếu sót trong chính sách về bảo tồn ĐDSH. “Việc thiếu văn bản liên ngành sẽ khiến cho hiệu quả của công tác bảo tồn ĐDSH không đạt được như ý muốn, dễ dẫn tới tình trạng chia tách, nhỏ lẻ trong thẩm quyền, không tạo được sự gắn kết đồng bộ giữa các cơ quan có trách nhiệm thực hiện” – Ông Trương Hồng Quang, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp nhấn mạnh.
Chính sự mâu thuẫn, thiếu rõ ràng và mơ hồ trong các quy định là căn nguyên khiến cho việc thực thi pháp luật trên thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn. Đó là chưa kể nhận thức của người dân trong vấn đề về ĐDSH còn chưa đầy đủ và thấu đáo. Có khá nhiều quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn nhưng để những người dân, chính quyền địa phương hiểu và thực thi theo Luật đòi hỏi phải có thời gian.
Trong khi đó, tại nhiều nơi, nhận thức của chính quyền địa phương về yếu tố con người trong bảo tồn, phát triển ĐDSH còn chưa cao. Rõ ràng, quy định của pháp luật chặt chẽ, đúng đắn là điều kiện đầu tiên nhưng nếu thiếu nguồn nhân lực thì những quy định đó có hay đến đâu cũng khó đạt hiệu quả trong thực tế. Điều đáng nói là công tác vận động, tuyên truyền và giáo dục với người dân tại địa phương còn chưa đủ mạnh, gây ảnh hưởng lớn đến việc thực thi pháp luật về bảo tồn ĐDSH. (Đại Biểu Nhân Dân 28/5) đầu trang(
Trong những năm qua, mặc dù công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (BVR và PCCCR) đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm, tuy nhiên tình trạng vi phạm các quy định về quản lý BVR và PCCCR vẫn còn xảy ra ở một số địa phương.
Đặc biệt, thời gian qua, trên địa bàn tỉnh ta vẫn xảy ra nhiều vụ cháy rừng gây thiệt hại lớn, vì thế, để bảo tồn và phát triển những cánh rừng luôn mãi xanh thì công tác BVR và PCCCR cần được quan tâm hơn nữa...
Theo báo cáo của Chi Cục Kiểm lâm tỉnh, trong 6 năm gần đây (2007-2012), diễn biến số vụ và diện tích cháy rừng ngày càng phức tạp, đáng kể năm 2009, toàn tỉnh xảy ra 5 vụ cháy và diện tích rừng bị cháy là 12,9ha thì năm 2010 đã xảy ra 9 vụ với diện tích bị cháy gần 76 ha.
Ông Phạm Hồng Thái, Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm cho rằng, phần lớn những vụ cháy rừng xảy ra trong thời gian qua nguyên nhân chủ yếu là do ý thức trách nhiệm của một bộ phận người dân trong công tác BVR và PCCCR còn yếu kém. Nhiều bà con coi nhiệm vụ chữa cháy rừng là nhiệm vụ của chủ rừng, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng.
Bên cạnh đó, sự phối hợp trong bảo vệ rừng giữa cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và các chủ rừng còn hạn chế. Khi trên địa bàn xảy ra cháy rừng thì vẫn còn lúng túng trong công tác huy động lực lượng tham gia phối hợp xử lý.
Để hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng, gây thiệt hại tài nguyên rừng và ảnh hưởng môi trường sinh thái, các ngành chức năng, các xã, thị trấn, đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai các biện pháp phòng, chống và luôn sẵn sàng lực lượng, dụng cụ, phương tiện chữa cháy. (Báo Quảng Bình 28/5)đầu trang(
Trước nguy cơ cháy rừng đang lên tới mức rất nguy hiểm (báo động cấp 5) do thời tiết hanh khô, nắng nóng kéo dài, lực lượng Cảnh sát PCCC và Kiểm lâm Đà Nẵng đang tích cực chuẩn bị các biện pháp để chủ động đối phó.
Như tin đã đưa, do thời tiết hanh khô, nắng nóng kéo dài, hiện nguy cơ cháy rừng trên địa bàn Đà Nẵng đã lên đến báo động cấp 5 là mức rất nguy hiểm, có khả năng xảy ra cháy rừng trên diện rộng và lan tràn nhanh. Đây cũng là lần đầu tiên kể từ đầu năm 2013 đến nay, nguy cơ cháy rừng ở Đà Nẵng lên đến mức cao nhất trong thang dự báo cháy rừng.
Trước tình hình đó, ngày 28/5, Đại tá Lê Ngọc Hai, Phó Giám đốc Sở Cảnh sát PCCC Đà Nẵng cho biết, trong hơn 1 tháng qua, lực lượng PCCC Đà Nẵng phối hợp với lực lượng kiểm lâm đã tăng cường tuần tra, kiểm soát các khu rừng trọng điểm để kịp thời phát hiện nguy cơ cháy rừng.
Hai cơ quan này liên tục có các thông báo khẩn, yêu cầu chủ rừng, người trồng rừng, các đơn vị có liên quan nâng cao cảnh giác, ra sức phòng ngừa và có những biện pháp phối hợp hiệu quả trong việc bảo vệ rừng, ngăn chặn hiểm họa cháy rừng. Đồng thời, đẩy mạnh quản lý việc sử dụng lửa trong và ven rừng, thường xuyên bảo dưỡng trang thiết bị dụng cụ và phương tiện sẵn sàng phục vụ công tác chữa cháy rừng.
Cùng ngày, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng Trần Văn Lương cho biết đang phối hợp với Phòng Hướng dẫn về phòng cháy (Sở Cảnh sát PCCC Đà Nẵng) tiến hành kiểm tra 40 đơn vị, tổ chức và cá nhân có rừng và kinh doanh trên địa bàn trong rừng và ven rừng. Việc kiểm tra được thực hiện cho đến ngày 5/6.
Trong đó, tập trung kiểm tra việc thực hiện phương án bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; công tác chuẩn bị ứng phó khi có cháy rừng xảy ra trên địa bàn quản lý; công tác bảo dưỡng trang thiết bị dụng cụ và phương tiện sẵn sàng phục vụ công tác chữa cháy rừng; công tác quản lý sử dụng lửa trong rừng và ven rừng, quản lý rừng trồng trên địa bàn do đơn vị quản lý...
Theo ông Trần Văn Lương, ngoài việc kiểm tra hồ sơ, sổ sách, đoàn liên ngành còn tiến hành kiểm tra thực tế hiện trường các khu rừng trọng điểm và các công trình phục vụ chữa cháy rừng như chòi canh, hồ, đập nước, đường vận động, băng cản lửa, bảng biển tuyên truyền… tại các đơn vị. Sau đợt kiểm tra, đoàn công tác sẽ có báo cáo kết quả trình Ban chỉ đạo Bảo vệ và phát triển rừng TP Đà Nẵng cho ý kiến chỉ đạo. (Theo Infonet 29/5) đầu trang(
28/5, tại chợ phiên Cốc ly, huyện Bắc Hà tổ chức Hội nghị tuyên truyền phổ biến Quy chế QLBVR có cây gỗ nghiến, trai và ký cam kết bảo vệ rừng.
Tại hội nghị, các đại biểu và bà con nhân dân được phổ biến về nội dung Quyết định phê duyệt phương án của UBND tỉnh và Quy chế QLBVR có cây gỗ nghiến, gỗ trai ở rừng Cốc Ly.
Rừng Cốc Ly hiện có tổng diện tích 1.098 ha, trong đó hơn 400 ha rừng già tập trung các loài gỗ trai, gỗ nghiến. Trong những năm qua, các cấp, ngành và người dân Cốc Ly luôn nêu cao trách nhiệm bảo vệ rừng, đặc biệt bảo vệ thành công trên 600 cây gỗ trai, gỗ nghiến khỏi sự phá hoại của lâm tặc.
Tại đây, Hạt Kiểm lâm Bắc Hà và đại diện 7 thôn nhận khoán bảo vệ rừng đã ký cam kết bảo vệ rừng. (Báo Lào Cai 28/5) đầu trang(
Những năm trở lại đây, trồng rừng luôn là hướng thoát nghèo và đi lên giàu có của nông dân huyện Văn Yên (Yên Bái).
Xác định trồng rừng là kinh tế mũi nhọn, huyện đã vận động nhân dân nhận đất trồng rừng, tuyên truyền và hướng dẫn người dân phát triển vốn rừng. Diện tích rừng và đất rừng được giao cho nhân dân quản lý và sử dụng.
Hàng năm, huyện xây dựng kế hoạch trồng rừng cho các xã, đồng thời tăng cường cán bộ kỹ thuật xuống địa bàn đôn đốc, chỉ đạo các địa phương tập trung hoàn thành công tác thiết kế, chuẩn bị tốt các điều kiện cho người trồng rừng; phối hợp với Trung tâm Giống cây trồng cung cấp cây giống, vật tư kịp thời vụ, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc đến từng hộ.
Trung bình hàng năm, toàn huyện trồng mới được trên 2.000ha rừng. 5 tháng đầu năm 2013, toàn huyện đã trồng trên 2.300ha rừng, trong đó chủ yếu là các giống quế, keo, bồ đề.
Theo ông Khổng Giang Lam - Trưởng phòng NN&PTNT huyện: “Mỗi ha cây lâm nghiệp như keo trong một chu kỳ 8 năm, sẽ cho sản lượng gỗ trung bình 80m3, với giá bình quân hiện thời hơn 1triệu đồng/m3 người làm rừng cũng có thu nhập cả trăm triệu đồng/ha. Trung bình hàng năm huyện đã khai thác được gần 32.000m3 gỗ vườn rừng, trên 18 nghìn tấn nguyên liệu giấy thu về vài chục tỷ đồng”.
Nói đến trồng rừng Văn Yên thì quế vẫn là cây chủ lực. Với trên 15.000ha, Văn Yên được mệnh danh là “thủ phủ” của cây quế. Quế được trồng tập trung chủ yếu ở xã: Đại Sơn, Viễn Sơn, Xuân Tầm, Phong Dụ Hạ, Dụ Thượng... Cây quế đã gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc Văn Yên từ bao đời nay. Từ những thập niên 60 của thế kỷ trước, đồng bào người Dao Văn Yên đã có phong trào trồng quế. (Báo Yên Bái 28/5) đầu trang(
21/5/2013, Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập lực lượng Kiểm lâm Việt Nam (21/5/1973 - 21/5/2013) và 16 năm thành lập lực lượng Kiểm lâm Bắc Kạn.
Trong những năm gần đây, lực lượng Kiểm lâm không chỉ thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng mà còn thực hiện tốt công tác phát triển rừng. Kết quả đó đã góp phần tích cực vào chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, từng bước nâng cao độ che phủ rừng. Nếu như năm 1997 độ che phủ rừng của tỉnh chỉ đạt 45% thì đến năm 2012, độ che phủ rừng của tỉnh đã đạt 70,6%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X đã đề ra.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của lực lượng Kiểm lâm Bắc Kạn còn bộc lộ một số tồn tại: Hiệu quả công tác tuyên truyền chưa cao; công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp có lúc chưa kịp thời; chưa có biện pháp ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác lâm sản trái phép…
Nhân dịp này, 14 tập thể và 38 cá nhân đã được nhận Giấy khen của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; 1 tập thể và 18 cá nhân được nhận Giấy khen của Chi cục Kiểm lâm vì có thành tích xuất sắc trong đợt phát động thi đua kỷ niệm 40 năm ngày thành lập lực lượng Kiểm lâm Việt Nam (21/5/1973 - 21/5/2013) (Đảng Cộng Sản VN 28/5)đầu trang(
Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, cùng với lực lượng kiểm lâm cả nước, lực lượng kiểm lâm Nghệ An đã vượt lên nhiều khó khăn, trở ngại, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, góp phần đắc lực vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, đưa độ che phủ của rừng Nghệ An từ 42% vào năm 2001 lên 53,5% vào năm 2012.
Thực hiện nhiệm vụ thừa hành pháp luật, Kiểm lâm Nghệ An đã triển khai nhiều phương án biện pháp tích cực ngặn chặn nạn khai thác, vận chuyển, buôn bán và tàng trữ lâm sản. 40 năm qua, đã phát hiện và xử lý gần 166 ngàn vụ vi phạm lâm luật, đề nghị khởi tố hình sự gần 440 vụ, với hàng trăm bị can; tịch thu hơn 130 ngàn m3 gỗ các loại, hàng ngàn ste củi, hàng ngàn tấn lâm đặc sản các loại, hàng ngàn công cụ, phương tiện vi phạm khác, truy thu cho ngân sách trên 680 tỷ đồng.
Riêng 20 năm thực hiện công ước Cites về bảo vệ động vật hoang dã, đã thu giữ hơn 125 tấn động vật rừng các loại, nuôi dưỡng, thả về rừng nhiều cá thể động vật nguy cấp, quý hiếm. Nhờ đó, vi phạm lâm luật ngày càng giảm. Chỉ so sánh trong thời gian 8 năm trở lại nay (2004 -2012), bình quân số vụ năm sau giảm hơn năm trước 14 - 18%. Kết quả đó đã góp phần lập lại trật tự quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và ổn định trật tự an ninh xã hội của tỉnh.
Nhiệm vụ bảo vệ rừng đang đứng trước những cam go thử thách mới, đòi hỏi lực lượng Kiểm lâm phải thực sự đổi mới về chất, từ tổ chức & xây dựng lực lượng đến tư duy và phương pháp hoạt động; tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ rừng sau đây:
Thứ nhất là: Đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, chuyển đổi sâu sắc nhận thức của cán bộ, nhân dân trong việc bảo vệ rừng, xây dựng phát triển vốn rừng. Trong đó, triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 và Quyết định 07/2012/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách bảo vệ và phát triển rừng, Chỉ thị 31/CT-UBND ngày 27/12/2011 về kiểm tra, truy quét, thu giữ lâm sản trái phép.
Thứ hai là: Nâng cao chất lượng hoạt động thông qua bố trí hợp lý các hạt, trạm, làm tốt công tác tuyển dụng, sắp xếp luân chuyển cán bộ gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá, sàng lọc, sớm đưa ra khỏi lực lượng những cán bộ công chức Kiểm lâm năng lực kém, sa sút về phẩm chất đạo đức, không hoàn thành nhiệm vụ.
Thứ ba là: Làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản theo hướng tăng cường các biện pháp tuần tra rừng, phát hiện xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm lâm luật, nhất là nạn khai thác lâm sản trái phép.
Thứ tư là: Tăng cường biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động Kiểm lâm trên địa bàn toàn tỉnh, phát hiện sớm những tồn tại, yếu kém, có biện pháp khắc phục điều chỉnh kịp thời, không để tình hình xấu diễn biến kéo dài. Nhất là đẩy mạnh hoạt động của Ban thanh tra chống tiêu cực nội ngành, kiên quyết làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức Kiểm lâm theo tinh thần Chỉ thị 3714/CT-BNN ngày 15/12/2011 của Bộ NN&PTNT về tăng cường chấn chỉnh hoạt động của lực lượng Kiểm lâm. Địa phương nào để phá rừng, phát nương làm rẫy, tàng trữ, chế biến, buôn bán lâm sản trái phép, thì kiểm lâm viên, lãnh đạo Kiểm lâm đều phải liên đới chịu trách nhiệm.
Thứ năm là: Xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa giữa lực lượng Kiểm lâm với các ban, ngành chức năng và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển vốn rừng một cách tích cực, có hiệu quả trên cơ sở xây dựng và thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm với lực lượng Công an, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh và Bộ đội Biên phòng tỉnh trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng.
Cuối cùng là: Phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, thu hút mọi nguồn lực của xã hội vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển vốn rừng. Biểu dương kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích trong bảo vệ, phát triển vốn rừng, nhất là những tấm gương sáng về lòng quả cảm, vượt qua những cảm dỗ vật chất, đấu tranh cương quyết với lâm tặc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. (Báo Nghệ An 28/5) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
“Chúng ta có thể cắt bớt đất nông, lâm trường để giao lại cho nông dân, đồng bào DTTS hoặc thực hiện cơ chế giao khoán mới cho đồng bào ngay tại địa phương”.
Trao đổi với phóng viên Nông Thôn Ngày Nay về thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) thiếu đất sản xuất, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Danh Út cho rằng như vây.
Ông Út đánh giá về nhu cầu đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng khó khăn, cụ thể là tại Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ hiện nay: Sau khi tổ chức giám sát, Hội đồng Dân tộc đã báo cáo và tham mưu với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thường vụ đã ra nghị quyết về vấn đề này. Qua giám sát, nhìn chung đồng bào DTTS cũng là nông dân, cuộc sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nhu cầu đất sản xuất là rất quan trọng. Thời gian qua, đồng bào DTTS bị mất đất rất nhiều mà nguyên nhân sâu xa là do chúng ta làm các công trình thủy điện, thủy lợi; quy hoạch đất nông nghiệp làm đất nông, lâm trường...
Những nguyên nhân này đã làm đồng bào DTTS thiếu đất ở, đất sản xuất ngày càng trầm trọng. Từ năm 2002 -2012, theo kết quả kiểm tra của chúng tôi, có trên 600.000 hộ dân thiếu đất hoặc không có đất. Thực hiện chính sách của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất, chúng ta đã giải quyết cho trên 300.000 hộ trong thời gian qua. Còn khoảng 300.000 hộ đang không có đất, thiếu đất, mong được Nhà nước hỗ trợ khẩn cấp.
Theo ông Út, không chỉ nông, lâm trường chiếm giữ đất, mà khi các công trình thủy điện được xây dựng, bắt buộc đồng bào sống trong khu vực nhà máy và lòng hồ phải di dời đi nơi khác. Việc tái định cư cho một số đồng bào, chúng ta không đảm bảo. Đồng bào hy sinh đất ở, đất sản xuất của mình vì lợi ích quốc gia, nhưng đổi lại, nhiều nơi không đảm bảo công tác tái định cư cho đồng bào. Có nơi xây nhà ở đàng hoàng nhưng lại không có đất sản xuất hoặc ngược lại...
Vì vậy, trước mắt, chúng ta phải làm tốt hơn nữa công tác tái định cư cho đồng bào DTTS tại những khu vực có công trình thủy điện. Ví dụ như Thủy điện Hòa Bình đã đi vào hoạt động bao nhiêu năm nay mà vẫn còn rất nhiều hộ dân không có đất ở, đất sản xuất. Hay mới đây nhất là Thủy điện Sơn La, trong hơn 27.000 hộ dân thì công tác tái định cư đảm bảo được cho 21.000 hộ, vẫn còn 6.000 hộ chưa được đảm bảo.
Ngoài ra, trong quá khứ, do những lý do lịch sử, chúng ta đã thành lập nhiều nông, lâm trường quốc doanh. Giờ nhìn lại mới thấy tại nhiều nông, lâm trường, việc quản lý sử dụng không hiệu quả, đất để hoang rất nhiều. Thậm chí nhiều ban quản lý các nông, lâm trường cho thuê đất lộn xộn, giao khoán cho người nơi khác đến, trong khi đồng bào khu vực đó không có đất sản xuất. Vì thế, chúng tôi đang kiến nghị cần chấn chỉnh, siết chặt lại công tác quản lý đất nông, lâm trường.
Ông Út cho biết: Hiệu quả của nông, lâm trường ra sao, Đảng và Nhà nước đã biết rất rõ rồi. Chúng ta đang tiến hành thanh kiểm tra, rà soát lại một cách toàn diện để có phương án phù hợp. Tuy nhiên, vẫn phải khẳng định việc hình thành nông, lâm trường là cần thiết vì chúng ta cần có định hướng, cách làm ăn lớn trong nông nghiệp.
Nhưng bên cạnh đó vẫn phải chú ý, quan tâm tới công ăn việc làm của đồng bào DTTS ngay tại địa phương đó. Chúng ta có thể cắt bớt đất nông, lâm trường để giao lại cho nông dân, đồng bào DTTS hoặc là thực hiện cơ chế giao khoán mới cho đồng bào ngay tại địa phương. Thực trạng hiện nay là các ban quản lý lại giao khoán đất rừng cho người ở nơi khác đến. Kiểu gì cũng phải ưu tiên cho người nông dân, đồng bào DTTS ở địa phương đó. Vừa rồi, Ban Bí thư đã có chỉ thị yêu cầu sắp xếp lại đất nông, lâm trường cho hợp lý. Theo tôi đây là chủ trương rất đúng.
Thời gian qua, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã được đưa ra cho toàn dân đóng góp và đã được tổng hợp ý kiến, kỳ này báo cáo Quốc hội. Về cơ bản, tôi nhất trí với đợt lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo luật. Tuy nhiên, đúng như bạn nói, về quy trình lấy ý kiến, tôi thấy rằng chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế.
Ở một số nơi, việc lấy ý kiến còn mang tính chất đại diện, hình thức. Cũng có nơi đến lấy trực tiếp ý kiến của từng đồng bào DTTS, nhưng chưa nhiều. Sắp tới, nếu có thêm thời gian, chúng ta nên tổ chức cho đồng bào vùng sâu, vùng xa góp ý thêm, hạn chế việc lấy ý kiến từ những người đại diện. Làm sao phải lấy càng nhiều ý kiến từ chính những người phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ luật càng tốt.
Trong Luật Đất đai hiện hành có nội dung giao đất giao rừng cho cộng đồng. Tuy nhiên, 10 năm qua, chúng ta chưa thể tiến hành được việc này. Theo ông, phải sửa luật như thế nào để cụ thể hóa nội dung này vào thực tiễn? Trả lời câu hỏi này, ông Út thừa nhận: Đúng là chủ trương chúng ta đã có nhưng vẫn chưa thực hiện được nhiều do những vướng mắc trong cơ chế, chính sách quản lý đất cộng đồng.
Trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cũng có đề cập tới nội dung giao đất cho cộng đồng quản lý. Cần phải nhớ là đồng bào DTTS có đặc điểm không chỉ cần đất ở, đất sản xuất, mà họ còn luôn có đất cộng đồng, nơi thể hiện phong tục tập quán truyền thống của dân tộc đó.
Ví dụ như đồng bào Khmer lấy đất cộng đồng để làm chùa. Hay như đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, họ cũng cần đất cộng đồng để xây dựng nhà mồ cho người đã khuất... Nếu như chúng ta chỉ cấp đất ở, đất sản xuất cho người ta là trái với phong tục tập quán của họ. Cho nên bắt buộc phải đưa việc giao đất cộng đồng vào luật và cụ thể hóa nó vào cuộc sống bằng được.
Không chỉ thế, sắp tới, có những loại đất cộng đồng mà Hội đồng Dân tộc đề nghị phải cấp cho đồng bào DTTS để họ cùng tham gia phát triển sản xuất trên mảnh đất đó, để cộng đồng đó có điều kiện cùng giúp đỡ nhau phát triển.
Nói thẳng về vấn đề này, vừa qua chúng ta làm chưa tốt! Tôi đi giám sát ở Lai Châu hay Tây Nguyên, cũng là khoán đất rừng cho cộng đồng, nhưng mà cơ chế quản lý chưa rõ nên từ đó trách nhiệm quản lý của cộng đồng chưa cao. Sắp tới, cùng với việc khoán đất cho cộng đồng, chúng ta phải có cơ chế quản lý rõ ràng, cụ thể hơn nữa, nếu không thì cũng thất bại. (Nông Thôn Ngày Nay 29/5) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có quyết định số 1160/QĐ-BNN-TCLN công nhận giống cây trồng lâm nghiệp mới.
Theo quyết định, giống cây trồng lâm nghiệp mới được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận gồm: 2 giống keo lai là giống quốc gia có tên Acacia mangium và A. auriculiformis; 2 giống keo lai và 5 giống bạch đàn lai là giống tiến bộ kỹ thuật do Viện Cải thiện giống và Phát triển lâm sản nghiên cứu chọn tạo.
Cũng theo quyết định, Viện Cải thiện giống và Phát triển lâm sản cùng tập thể tác giả có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn các kỹ thuật liên quan đến các giống mới được công nhận và phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông quốc gia nhanh chóng đưa các giống mới này vào sản xuất ở những nơi phù hợp. Giống cây trồng lâm nghiệp mới được Hội đồng thẩm định thành lập theo Quyết định số 612/QĐ-TCLN-PTR ngày 12/12/2012 thẩm định và công nhận.
Giống cây trồng lâm nghiệp được công nhận giống quốc gia áp dụng tại Đông Triều (Quảng Ninh), Phú Lộc (Thừa Thiên Huế) và những nơi có điều kiện tương tự. Giống tiến bộ kỹ thuật gồm dòng keo lai K84, K80; dòng bạch đàn lai H44, H10, H46, H33 và H38 được áp dụng tại Đông Triều (Quảng Ninh), Phú Lộc (Thừa Thiên Huế), Bình Thanh (Hòa Bình) và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự. (Đảng Cộng Sản VN 28/5) đầu trang(
Bình Ðịnh được xem là “thủ phủ” đồ gỗ miền Trung, 1 trong 4 trung tâm chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hoạt động của các doanh nghiệp (DN) trong lĩnh vực này trên địa bàn có chiều hướng đi xuống. Vậy cần làm gì để ngành chế biến gỗ xuất khẩu Bình Định vực dậy và phát triển bền vững?
Ngành chế biến gỗ xuất khẩu luôn là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Bình Định với kim ngạch chiếm 60- 65% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Tuy nhiên, những năm gần đây, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN chế biến gỗ xuất khẩu trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, có sự suy giảm đáng lo ngại. Chỉ tính riêng năm 2012, giá trị kim ngạch xuất khẩu của các DN này chỉ đạt khoảng 186 triệu USD, giảm gần 18% so với năm 2011. Trong đó, giá trị kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đồ gỗ ngoài trời giảm gần 19%...
Theo ông Đỗ Xuân Lập - Chủ tịch HĐQT- Tổng giám đốc Công ty TNHH Tiến Đạt, sự giảm sút của ngành chế biến gỗ xuất khẩu Bình Định có nhiều nguyên nhân. Về khách quan, do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng khủng hoảng nợ công ở EU đã làm cho hầu hết các quốc gia trong khối EU phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm chi tiêu, ảnh hưởng tới việc xuất khẩu mặt đồ gỗ vào thị trường này.
Bên cạnh đó, các DN chế biến gỗ trên địa bàn phải đương đầu với những hàng rào kỹ thuật do các nước nhập khẩu áp đặt... Về chủ quan, hoạt động của nhiều DN chế biến gỗ xuất khẩu trên địa bàn còn nhiều hạn chế, chi phí sản xuất tăng cao theo từng năm, chất lượng sản phẩm chưa cao và thời gian giao hàng cho khách hàng không đúng lịch...
Ông Lê Văn Hồng - Tổng giám đốc Tổng công ty Sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (Bixico) - cho biết thêm, hạn chế của các DN chế biến gỗ xuất khẩu Bình Định là công tác nhân sự còn yếu kém, chưa quan tâm đến công tác quản trị doanh nghiệp, ít quan tâm đến việc đào tạo chuyên môn để sử dụng các thiết bị hiện đại. Doanh nghiệp đầu tư theo hướng dàn trải, không đầu tư chuyên sâu, kinh doanh nhiều ngành nghề, tham gia vào kinh doanh BĐS. Các DN thiếu sự liên kết với nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thậm chí, đã xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, dẫm đạp lên nhau vì mục tiêu lợi ích cá nhân mà quên đi tính cộng đồng.
Vấn đề đặt ra cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu hiện nay là cần có những giải pháp thiết thực, hữu hiệu để giúp các DN hồi phục, ổn định và phát triển. Ông Đỗ Xuân Lập khẳng định, muốn phát triển thị trường theo hướng bền vững, hiệu quả, các DN phải giải được bài toán “vỡ lòng” - đó là cách mở thị trường. Trong quá trình mở thị trường cần tự tin, giữ vững quan điểm lập trường “khách vào không cho ra”, nghĩa là phải giữ bằng được.
Đặc biệt là đội ngũ bán hàng phải giỏi, chấp nhận những đơn hàng lớn và đảm bảo thời gian giao hàng. Bước tiếp theo cần nâng cao năng lực cạnh tranh, hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ thị trường để có “đầu ra” phù hợp với khả năng, thực lực của DN. Bên cạnh đó, loại trừ ngay việc làm theo kiểu phong trào, trong quản lý DN phải chuyên môn hóa về kỹ năng, kỹ xảo để có chi phí thấp nhất và cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
Ông Lê Văn Hồng đề nghị, các DN tuyệt đối không để xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, giành giật khách hàng thông qua việc phá giá. Cần liên kết, xây dựng mô hình “Nhóm DN hỗ trợ trong sản xuất, gia công” có sự phân công chuyên môn hóa về chủng loại sản phẩm, chi tiết sản phẩm...
Điều này sẽ giúp DN tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Những DN lớn, có tiềm năng, cần quan tâm hỗ trợ, chia sẻ đối với các DN bạn, nhất là chia sẻ về đơn hàng, kinh nghiệm quản lý, hỗ trợ vốn kinh doanh, liên kết sản xuất với các DN nhỏ hơn… (Công Thương 29/5)đầu trang(
28.5, ông Nguyễn Công Vân, Giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình (Ninh Thuận), cho biết đơn vị đã thỏa thuận mua lại đàn bò tót lai (8 con) của người dân địa phương để thực hiện đề tài khoa học nghiên cứu giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò lai F1 giữa bò tót (Bos gaurus) và bò nhà (Bos taurus) tại vùng giáp ranh Ninh Thuận-Lâm Đồng.
Hiện nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành xác định ADN của đàn bò tót lai, làm chuồng trại, trồng cỏ, theo dõi động dục…
Theo ông Vân, việc sử dụng bò lai F1 để tạo ra bò lai F2 có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa nguồn gen quý từ động vật hoang dã vào vật nuôi để cải thiện năng suất, chất lượng, khả năng chống chọi với bệnh tất và đáp ứng với điều kiện chăn nuôi quảng canh.
Do có 50% máu bò tót (một cách ước tính tương đối), nên đàn bò F1 đã thể hiện khả năng tăng trọng nhanh, chịu đựng tốt các điều kiện nuôi dưỡng kham khổ so với đàn bò nhà.
Đề tài này do Sở Khoa học-Công nghệ hai tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận đầu tư kinh phí gần 2 tỉ đồng.
Được biết, từ cuối năm 2008 đến nay, tại Vườn quốc gia Phước Bình xuất hiện bò tót đực nặng gần 1 tấn tách bầy, thường xuyên về sống chung với đàn bò nhà của người dân xã Phước Bình, H.Bác Ái (Ninh Thuận) và cho ra đời hơn 10 bê lai có thể trọng cao to, khác hẳn bò nhà. (Thanh Niên 29/5)đầu trang(
Những lùm xùm xung quanh việc xây dựng 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sau nhiều năm tranh cãi vẫn chưa đến hồi ngã ngũ. Việc Vườn Quốc gia Cát Tiên mất 137 ha rừng là điều không thể tránh, nhưng vì thế mà dừng dự án thủy điện nghìn tỷ thì có nên?
Trước những lo lắng của dư luận về diện tích 137ha rừng Vườn Quốc gia Cát Tiên sẽ bị mất, chúng tôi đã có cuộc khảo sát thực địa, bắt đầu từ thôn Bù Gia Rá, xã Đồng Nai Thượng, huyện Cát Tiên (Lâm Đồng), cho đến vị trí xây dựng đập thủy điện Đồng Nai 6. Ông Điểu K’Giá-Chủ tịch UBND xã Đồng Nai Thượng cho biết, dù đây là đất thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên nhưng rừng nơi đây chủ yếu là rừng thường, rừng hỗn giao tre nứa, từ lâu đã trở nên nghèo kiệt so với các khu vực khác.
"Hai dự án thủy điện có ảnh hưởng đến Vườn Quốc gia này nhưng mức độ ảnh hưởng không lớn. Hiện rừng đã chuyển sang trồng cây công nghiệp như điều, cao su, cà phê và một số loại cây khác. Nhiều khu vực chỉ còn lại là đất trống đồi trọc. Riêng các loại động vật quý hiếm thì lâu nay tôi và mọi người sống ở đây hầu như không còn nhìn thấy nữa”, ông Điểu K’Giá cho biết.
Theo ông Trần Bá Hiệp, Phó Giám đốc Công ty CP phát triển điện năng Đức Long Gia Lai, 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A khi đi vào vận hành có thể cung cấp sản lượng điện gần 1 tỷ KWh/năm với giá trị 1.000 tỷ đồng/năm (tương đương 3 tỷ/ngày), đáp ứng nhu cầu điện năng của 3 tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông và Bình Phước, góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo nguồn điện đang trong tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng như hiện nay. Đối với ngân sách nhà nước, hàng năm hai dự án sẽ đóng góp tới 322,7 tỷ đồng (tương đương gần 1 tỷ đồng/ngày) thông qua các khoản thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT và phí dịch vụ rừng.
Trong khi đó, với sản lượng điện gần 1 tỷ KWh/năm mà hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sản sinh ra, nếu sản xuất bằng nhiệt điện phải mất tới 540.000 tấn than đá mỗi năm. Để vận chuyển được hàng trăm ngàn tấn than đá như vậy, mỗi ngày phải cần tới 100 chuyến xe 15 tấn, điều này có thể sản sinh ra một lượng CO2 cực lớn bằng 514.000 tấn mỗi năm, khiến ô nhiễm khí quyển tăng mạnh.
Cùng với thế giới, nước ta đánh giá cao các dự án năng lượng sạch, giảm tải ô nhiễm môi trường. Vì vậy, việc xây dựng 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đều có nhà máy, đường giao thông, đường dây điện đấu nối lưới điện quốc gia và các công trình phụ trợ nằm về một phía bờ phải sông Đồng Nai, ngoài phạm vi VQG Cát Tiên, do đó cũng sẽ không xáo trộn sinh cảnh nơi đây.
Với cách đặt vấn đề như vậy, thì việc đánh đổi 137hecta rừng hỗn giao, để có 1 công trình thủy điện tầm vóc, thì cũng là điều có thể. (Đại Đoàn Kết 28/5)đầu trang(
Hà Nội đang có tới 359 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã (ĐVHD). Hơn 54.000 cá thể hổ, báo, sư tử, tê giác, gấu, cầy, khỉ, rắn hổ mang, cá sấu nước ngọt…, chưa kể gấu nuôi nhốt, đang sống ở Thủ đô này.
Đây là số liệu mới nhất do Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cung cấp, khẳng định nhiều mô hình trại nuôi ĐVHD thành công, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhưng cũng cảnh báo việc canh giữ phải kỹ lưỡng, toàn diện, dù các cơ sở này đều đã được cấp giấy chứng nhận.
Đây là một trong những biện pháp để bảo tồn nguồn gen, hạn chế đánh bắt từ tự nhiên. Nhưng việc quản lý hoạt động này tại một TP lớn có không ít khó khăn, phức tạp. Nhất là những nơi nuôi ĐVHD hung dữ nguy hiểm trong khu dân cư, như nuôi gấu, rắn hổ mang thường, ở xã Phụng Thượng (huyện Phúc Thọ), ở Lệ Mật (quận Long Biên).
Ở Hà Nội có 103 cơ sở nuôi nhốt gấu với 361 cá thể. Số gấu này đều được gắn chíp điện tử quản lý, nhưng đến nay vẫn chưa có một cơ sở nào đủ điều kiện về chuồng trại để cấp giấy đăng ký trại nuôi.
Nhìn toàn quốc, việc gây nuôi ĐVHD cũng tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, lây lan bệnh dịch, ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của con người. Nhiều hoạt động quản lý chưa theo kịp đà phát triển và thiếu các quy định về quản lý an toàn chuồng, trại, vệ sinh môi trường và quản lý dịch bệnh. Mặt khác việc gây nuôi phải nghiên cứu kỹ thị trường, tránh phát triển theo phong trào bởi nuôi ồ ạt quản lý không tốt sẽ mất cân bằng cung cầu, ảnh hưởng sức nuôi.
Số trại nuôi ĐVHD ở Hòa Bình hiện đã tới hàng trăm. Từ 56 trại nuôi 2009 đến nay là 387 trại. Thị trường tiêu thụ một số loài đứng trước nguy cơ bão hòa, giá sụt giảm. Giá nhím giống cung cấp đã giảm còn một nửa và giá nhím thịt còn thảm hại hơn: Từ 400.000 - 500.000 đồng/kg năm 2011, nay chỉ 150.000 - 200.000 đồng/kg (bằng giá thịt thương phẩm của một số vật nuôi thông thường).
Chi cục Kiểm lâm nhiều nơi tuyên truyền pháp luật sâu rộng và nâng cao nghiệp vụ quản lý bảo vệ ĐVHD là cần thiết, song các nhà khoa học Viện Chăn nuôi cần có các đề tài nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh trưởng, sinh sản và áp dụng tiến bộ KHKT, gây nuôi ĐVHD có tiềm năng mới mang lại lợi ích cao.
Có canh nuôi ĐVHD kỹ và toàn diện mới không trả giá đắt vì phạm luật và không phải trả bằng cả tính mạng người. (Đại Đoàn Kết 28/5)đầu trang(
28/5, Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Vườn quốc gia Pù Mát đã bàn giao cá thể hổ nặng 170kg cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng Sóc Sơn.
Trước đó, 1/1/2013, sau thời gian theo dõi, lực lượng liên ngành huyện Yên Thành đã kiểm tra, phát hiện một cá thể hổ có trọng lượng khoảng 170kg được nuôi nhốt trong gia đình Lê Văn Đạt (trú tại xóm Phú Vinh, xã Đô Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An).
Cá thể hổ được đưa từ Lào về Việt Nam qua đường tiểu ngạch. Khi mua, hổ con có trọng lượng 1,6kg, với giá 960.000 đồng/kg. Trong khi gia đình Đạt định nấu cao con hổ nhưng thể thực hiện thì bị cơ quan công an huyện Yên Thành bắt quả tang.
Ngày 2/1/2013, Vườn quốc gia Pù Mát được UBND tỉnh Nghệ An giao cứu hộ, chăm sóc một cá thể trên. Sau gần 5 tháng được chăm sóc, hiện tại, sức khỏe của con hổ tốt, nhưng đã mất bản năng tự nhiên do người dân nuôi nhốt từ nhỏ nên không thả về tự nhiên được. (Phụ Nữ TPHCM 29/5)đầu trang(
Hưởng ứng Ngày đa dạng sinh học thế giới 22/5, vừa qua, tại khu vực Đồng Bí, thôn Nhâm Cao, UBND xã Đại Bình phối hợp với Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Đầm Hà tổ chức lễ phát động và ra quân trồng rừng ngập mặn.
Ngay sau lễ phát động, các đại biểu cùng nhân dân trên địa bàn đã tiến hành trồng rừng ngập mặn tại khu vực Đồng Bí với tổng số là 600 cây sú. (Báo Quảng Ninh 28/5)đầu trang(
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, hiện nay bà con nhân dân các xã trên địa bàn huyện Ba Bể đang tập trung đẩy mạnh tiến độ trồng rừng năm 2013 đảm bảo theo đúng kế hoạch đề ra.
Năm 2013, huyện Ba Bể có kế hoạch thực hiện trồng mới 2.520 ha rừng, trong đó, rừng tập trung là 2.090 ha, rừng phân tán là 530 ha. Để hoàn thành tốt các chỉ tiêu đã đặt ra, ngay từ đầu năm 2013 UBND huyện Ba Bể đã chỉ đạo các xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị chuyên môn phối hợp thực hiện tốt các giải pháp đồng bộ từ khâu vận động người dân đăng ký đến việc hướng dẫn người dân các biện pháp kỹ thuật trồng rừng. Đồng thời, phối hợp với các đơn vị sản xuất cây giống cung ứng đủ và kịp thời cho hộ dân đăng ký trồng rừng…
Đến nay, huyện Ba Bể đã xử lý thực bì trên 2.400ha, đạt 90%KH. Đồng thời, tiếnhành cấp phát xong cấy giống đợt I cho tất cả các xã và đã trồng được gần 100 ha rừng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 28/5)đầu trang(
Từ Dự án tăng cường bảo vệ tài nguyên rừng, vườn Quốc gia Ba Bể đã triển khai mô hình trồng chuối tây và thâm canh chuối tây tại thôn Lủng Kheo và Lủng Quang xã Quảng Khê, huyện Ba Bể.
Nhằm hướng tới việc sử dụng bền vững tài nguyên rừng, thông qua cơ chế chia sẻ lợi ích và hỗ trợ sinh kế cho các hộ nghèo, Vườn Quốc gia Ba Bể đã điều tra nhu cầu cuả người dân để xây dựng các mô hình tại các xã vùng đệm. Trong đó, năm 2013, vườn Quốc gia Ba Bể đã triển khai trên 1ha mô hình trồng chuối tây và thâm canh chuối tây tại xã Quảng Khê .
Tham gia mô hình, 26 hộ dân tại thôn Lủng Kheo và Lủng Quang xã Quảng Khê được hỗ trợ trên 1.500 giống chuối tây bằng giống nuôi cấy mô, hỗ trợ phân bón; được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và thâm canh cây chuối tây. Mô hình được triển khai đã tạo thêm thu nhập cho các hộ dân, mở ra một hướng đi mới cho người thâm canh, sản xuất giảm tình trạng khai thác lâm sản ở Vườn Quốc gia. (Đài PT - TH Bắc Kạn 28/5)đầu trang(
Trong kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 của tỉnh Bạc Liêu, phấn đấu trong năm 2013 thực hiện đạt mục tiêu trồng rừng tập trung 300ha, trồng cây phân tán trên 700.000 cây, đưa độ che phủ của rừng đến cuối năm tăng thêm 1,8%.
Trọng tâm chỉ đạo của tỉnh là đối với khu vực ngoài đê: tăng cường quản lý nghiêm ngặt, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng chặt phá cây rừng. Nghiên cứu để có kế hoạch trồng thêm nhiều cây rừng lấn biển. (Báo Bạc Liêu 28/5)đầu trang(
Để hoàn thành kế hoạch trồng mới 4.500 ha rừng năm 2013, hiện các đơn vị, doanh nghiệp, chủ rừng đang triển khai thực hiện các công việc liên quan.
Đối với trồng rừng sản xuất thuộc Dự án FLITCH, trồng rừng bằng nguồn vốn tự có, các công ty TNHHH MTV Lâm nghiệp và ban quản lý, doanh nghiệp hiện đang tiến hành phát dọn thực bì, chuẩn bị cây giống trồng rừng khi đến thời vụ. Riêng đối với chương trình trồng rừng phòng hộ, đặc dụng và hỗ trợ dân trồng rừng sản xuất (880ha) hiện đang gặp khó khăn về nguồn vốn nên các đơn vị vẫn còn lúng túng và bị động trong việc triển khai. (Báo Đắk Lắk 28/5)đầu trang(
Vài năm trở lại đây, nhu cầu của thị trường đối với gỗ xoan khá ổn định, giá gỗ cao nên người dân trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu chú trọng đến việc trồng xoan ở những diện tích trồng cây phân tán, nhờ vậy đã mang lại thu nhập đáng kể cho người dân.
Xác định được hiệu qủa kinh tế cũng như giá trị bền vững của cây xoan mang lại đối với người trồng rừng, hiện nay huyện Pác Nặm đang tích cực chỉ đạo người dân tận dụng những diện tích đất rừng tự nhiên để trồng cây phân tán, trong đó chủ yếu là trồng cây xoan. Hiện nay, diện tích trồng gỗ xoan trên địa bàn huyện đã lên đến vài trăm ha.
Qua tìm hiểu được biết, giá gỗ xoan trên thị trường hiện nay giao động từ 5 đến 10 triệu đồng / 1 m3. Đặc tính của xoan là trồng được trên nhiều loại đất, chỉ mất từ 7 đến 8 năm là cho thu hoạch. Đây cũng là loại cây trồng có thể phát huy và khai thác tối đa các lợi thế về tài nguyên đất, nguồn lao động và nâng cao thu nhập của người dân nên thời gian qua, chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm đến việc trồng cây xoan. (Đài PT - TH Bắc Kạn 28/5)đầu trang(
Năm 2013, huyện Tân Uyên được giao trồng 370ha rừng phòng hộ, 787ha rừng sản xuất. Đây là huyện được giao diện tích rừng trồng lớn nhất trong toàn tỉnh. Đối với công tác chuẩn bị trồng rừng phòng hộ, đến thời điểm này công tác chuẩn bị đã sẵn sàng.
Hồ sơ dự án và thiết kế đã hoàn thiện; huyện thống nhất giao toàn bộ diện tích rừng phòng hộ cho xã Hố Mít trồng. “Đây là xã chủ yếu đồng bào dân tộc Khơ Mú, gồm 4 bản, 240 hộ gia đình; trình độ nhận thức kém, là một trong những xã có kinh tế khó khăn nhất huyện; lực lượng lao động mỏng và bà con chưa bao giờ trồng rừng.” – Anh Nguyễn Ngọc Đoàn – Trưởng Ban Quản lý Dự án (BQLDA) rừng phòng hộ huyện cho biết những cản trở bước đầu trong kế hoạch trồng rừng phòng hộ năm nay.
Để làm chuyển biến nhận thức và thuyết phục bà con trồng rừng, BQLDA rừng phòng hộ huyện đã phân công từ các đồng chí trong ban lãnh đạo đến đội ngũ nhân viên kỹ thuật phối hợp với các bí thư Đảng ủy, lãnh đạo chính quyền tổ chức họp dân từ xã đến bản để tuyên truyền về lợi ích trồng rừng và vận động người dân cùng tham gia . (Báo Lai Châu 28/5)đầu trang(
27/5 TAND tỉnh Đắk Lắk đã đưa vụ án “Thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Cty CN rừng Tây Nguyên ra xét xử sơ thẩm.
Vụ án đã trải qua 6 lần trả hồ sơ điều tra bổ sung, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định truy tố, đưa ra xét xử 14 bị cáo trong đó có nhiều người nguyên là lãnh đạo Cty CN rừng Tây Nguyên và 1 Phó chánh Văn phòng Tỉnh ủy Đắk Lắk.
Để phục vụ phiên xét xử, thẩm phán chủ tọa phiên toà đã triệu tập tới 355 người làm chứng tới tòa và phải bắc loa ra ngoài sân tòa để xử. Đây là vụ án có số lượng người làm chứng lớn nhất trong lịch sử tố tụng tại địa phương và khiến cho phần thủ tục phiên tòa mất khá nhiều thời gian.
Phiên tòa dự kiến diễn ra trong một tuần. (Lao Động 20/5)đầu trang(
Liên quan đến vụ việc ông Đinh Văn Thắng (42 tuổi, trú tại P.Quang Trung, TP.Kon Tum, tỉnh Kon Tum) là phó Giám đốc Cty TNHH MTV Phú Ngân có trụ sở ở Lào bị dọa giết vì tham gia đấu giá gỗ vào ngày 8.5 tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; Đại tá Lê Văn Minh -Trưởng CA huyện Ngọc Hồi (Kon Tum)- xác nhận có sự việc trên. Tuy nhiên, do tỉ lệ thương tích của ông Thắng chỉ là 4% nên CA đã không khởi tố vụ án mà chỉ phạt vi phạm hành chính đối với nhóm Thu Đen.
Đồng thời, vào ngày 13.5, UBND tỉnh Kon Tum cũng đã có văn bản đề nghị Giám đốc CA tỉnh chỉ đạo công an vào cuộc điều tra làm rõ vấn đề theo đơn cầu cứu của ông Thắng.
Theo đơn cầu cứu của bị hại gửi tới UBND tỉnh Kon Tum, vào ngày 8.5, ông Thắng bị nhóm côn đồ do đối tượng có biệt danh Thu Đen cầm đầu dùng súng đe dọa và đánh đập tại khách sạn BMC (Ngọc Hồi, Kon Tum) sau khi tham gia buổi đấu giá lô gỗ vi phạm (trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng) tại trụ sở CA huyện Ngọc Hồi vào trưa cùng ngày.
Đây là lô gỗ phạm pháp hình sự do CA huyện Ngọc Hồi bắt được trước đó và chính CA huyện này làm chủ tịch hội đồng đấu giá, một số phòng ban chức năng của chỉ huyện tham gia với tư cách thành viên.
Ông Thắng cho biết, sau khi bị đánh, vì quá sợ hãi cho tính mạng nên không dám điều trị ở bất cứ Trung tâm Y tế hay bệnh viện nào ở tỉnh Kon Tum mà phải nhập BVĐK tỉnh Gia Lai. Đến ngày 16.5, CA huyện Ngọc Hồi mới đưa ông Thắng đi giám định thương tích tại BVĐK tỉnh Kon Tum. Kết quả, ông Thắng bị tổn hại 4% sức khỏe.
“Cty Phú Ngân chủ yếu kinh doanh mảng viễn thông, hiện đang thi công lắp đặt mạng viễn thông, đường biên giới cho bộ đội biên phòng nước bạn Lào. Cty chưa bao giờ kinh doanh gỗ và cũng chẳng liên quan gì đến gỗ. Do lô gỗ vi phạm nằm gần khu vực Cty thi công nên tôi biết khối lượng và giá trị gỗ. Vừa hay đúng lúc Cty cần mua gỗ để trang trí nội thất một số hạng mục công trình nên sau khi bàn bạc, lãnh đạo công ty đã giao cho tôi quyền có thể ra giá đấu lên đến 5 tỷ đồng. Nếu cuộc đấu giá ngày 8.5 mà ngay thẳng, sòng phẳng thì ngân sách nhà nước sẽ có thêm nhiều tỉ đồng, chứ không phải chỉ là hơn 2 tỷ đồng”, ông Thắng cho hay. (Lao Động 28/5)đầu trang(
Sáng 28-5, cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đác Nông đã ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam bị can Chu Văn Lam, sinh năm 1987, là Phó trưởng Ban quản lý dự án bảo vệ phát triển rừng thuộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Kiến Trúc Mới (gọi tắt là Công ty Kiến Trúc Mới), trụ sở tại xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, về hành vi hủy hoại rừng.
Theo kết quả điều tra, năm 2009, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Kiến Trúc Mới được UBND tỉnh Đác Nông giao 1.678 ha đất để thực hiện dự án sản xuất nông-lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng tại các Tiểu khu 1528, 1534 thuộc địa giới hành chính xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức.
Sau khi được cho thuê đất, Công ty Kiến Trúc Mới đã tiến hành làm các thủ tục xin cấp phép khai hoang nhưng không được phê duyệt do thiếu quyết định phê duyệt báo cáo tác động môi trường.
Mặc dù vậy, Công ty Kiến Trúc Mới vẫn hợp đồng với Công ty Vinh Hiển triển khai thực hiện dự án khai hoang sản xuất nông-lâm nghiệp. Theo đó Công ty Kiến Trúc Mới đã giao cho Chu Văn Lam, Phó trưởng Ban quản lý dự án bảo vệ rừng trực tiếp đứng ra giám sát và xác định vị trí thực địa khai hoang để công ty Vinh Hiển tiến hành san ủi đất khai hoang trái phép.
Theo xác định của cơ quan Công an, tổng diện tích rừng thiệt hại từ việc làm tắc trách này của Chu Văn Lam và Công ty Kiến Trúc mới là 70 ha, trong đó có 38 ha thuộc diện tích đất rừng khoanh nuôi bảo vệ, cấm khai thác….
Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đác Nông đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Nhân Dân 28/5)đầu trang(
Tình trạng người dân khai thác gỗ trái phép ở rừng đầu nguồn suối Hương, suối Mỳ… (xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa) diễn ra đã lâu. Nếu các đơn vị chức năng không quyết liệt ngăn chặn thì một ngày không xa, rừng sẽ cạn kiệt.
Theo Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Vạn Ninh, gỗ lậu được “thợ rừng” khai thác ở khu vực suối Hương, suối Mỳ, lỗ Bầu… chủ yếu bán lại cho các xưởng mộc ở thị trấn Vạn Giã, xã Vạn Bình, Vạn Phú… nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, làm đồ mộc gia dụng hoặc đóng lồng, bè nuôi tôm hùm. Khu vực rừng bị khai thác trái phép đang là rừng sản xuất thuộc các tiểu khu 8, 13, 16 (xã Vạn Bình), tiểu khu 12 xã Vạn Khánh và một số khoảnh rừng phòng hộ giáp ranh tỉnh Phú Yên.
Ông Trần Nhiều - Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Vạn Ninh (đơn vị chủ rừng) cho biết: “Tình trạng người dân vào rừng khai thác gỗ trái phép tại khu vực suối Hương, suối Mỳ đã diễn ra mấy năm nay, chủ yếu là nhỏ lẻ, tự phát. Tuy chúng tôi đã nhiều lần tuyên truyền công tác bảo vệ rừng, tổ chức truy quét, nhưng cứ mỗi lần vào rừng lại thấy người dân về tay không nên không thể xử lý. Trạm Quản lý bảo vệ rừng Dốc Mỏ chỉ có 2 người, trong khi diện tích rừng được giao rất lớn nên không quản lý hết”.
Mới đây, lực lượng của chủ rừng và Hạt Kiểm lâm Vạn Ninh đã tiến hành tuần tra rừng tại khu vực suối Hương, suối Mỳ. Khi các lực lượng vào rừng thì gặp hơn chục “thợ rừng” tay không xuống núi. Chúng tôi được biết, chỉ cần lực lượng chức năng vào rừng là có người điện thoại cho “thợ rừng” tẩu tán số gỗ đã khai thác… Sắp tới, đơn vị chủ rừng sẽ phối hợp với Hạt Kiểm lâm Vạn Ninh tiến hành tuần tra, khảo sát những khu vực rừng bị xâm hại để có biện pháp bảo vệ phù hợp.
Ông Trần Nhiều cho biết: “Trước mắt, chúng tôi sẽ thành lập một tổ công tác gồm lực lượng của Ban quản lý và Kiểm lâm để tiến hành truy quét các đối tượng khai thác gỗ trái phép. Ngoài ra, trên tuyến đường vận chuyển gỗ của các đối tượng, chúng tôi sẽ thành lập một chốt để ngăn chặn tình trạng phá rừng. Về lâu dài, sẽ tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân. Bên cạnh đó, phối hợp với lực lượng chức năng của huyện, xã kiên quyết xử lý các đối tượng khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ trái phép”. (Báo Khánh Hòa 28/5)đầu trang(
Ngày 27/5, Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiến hành bắt giữ đối tượng Phạm Văn Công, 31 tuổi, trú tại xã Hiến Thành, huyện Kinh Môn (Hải Dương) khi tên này sử dụng ôtô mang BKS: 30X–0054 vận chuyển trái phép lượng lớn tê tê.
Vào thời điểm kiểm tra, trong cốp xe ôtô trên có 39 cá thể tê tê với tổng trọng lượng 178kg. Giá trị lô hàng ước tính hơn 200 triệu đồng.
Được biết, tê tê là loài thú quý hiếm, đã được đưa vào Sách đỏ của Việt Nam. Hiện, Công an huyện Gia Lộc đang tiến hành điều tra xác minh, làm rõ các đối tượng có liên quan để xử lý theo thẩm quyền. (Công An Nhân Dân 28/5)đầu trang(
Gần 200 héc ta đất rừng “chính chủ” của Cty cao su Hương Khê (Hà Tĩnh) người dân, trong đó có người nhà cán bộ xã tự ý xâm chiếm trồng cây trong nhiều tháng trời. Điều đáng nói là chính quyền các cấp dường như bất lực trước thực trạng này.
Vụ việc đã được các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện, xã cùng các ngành chức năng đã nhiều lần kiểm tra, ra các văn bản khẳng định việc hàng chục hộ dân lấn chiếm hơn 150 héc ta tại tiểu khu 192 là trái phép.
Cty cao su Hương Khê làm đường để triển khai trồng cao su thì bị người dân ồ ạt vào lấn chiếm, sẻ phát, đốt rừng và đã trồng cây trên diện tích hơn 100 héc ta.
Theo ông Trần Thanh Hà - Tổng giám đốc Cty TNHH MTV Cao su Hương Khê (Cty), năm 2012 UBND tỉnh Hà Tĩnh cho phép Cty CS HK thuê hơn 300 héc ta đất tại xã Hòa Hải, Hương Khê để trồng cao su.
Sau khi làm xong các thủ tục đầy đủ, nộp ngân sách 3,4 tỷ đồng, cuối tháng 11/2012, Cty cho công nhân đưa máy tiến hành công việc thì phát hiện 4 người dân xóm 11 đã tự ý phát hơn 15 ha rừng để trồng keo và ngăn cản Cty tiến hành công việc.
Sự việc liên tục được báo cáo cho chính quyền và cơ quan chức năng. Tỉnh huyện cũng đã ra nhiều văn bản chỉ đạo xử lý kiên quyết việc lấn chiếm.
Mặc dù được sự “quan tâm” của một số cơ quan quản lý, tuy nhiên trong thời gian tiếp theo sự việc lại trở nên nghiêm trọng hơn khi hàng chục hộ dân kéo nhau vào rừng chiếm đất của Cty. Và đến nay đã có hơn 150 ha bị chiếm trái phép.
Không những lấn chiếm, khi Cty cùng lực lượng chức năng vào kiểm tra thì một số hộ dân còn ngang nhiên cản trở, dọa nạt công nhân. Đặc biệt, trong số đó có nhiều hộ là người thân của cán bộ xã.
Cũng theo ông Hà thì lý do chủ yếu mà người dân đưa ra là họ muốn được giao rừng. Tuy nhiên, thực tế tại xã đang còn hơn 400 ha đất rừng, xã và huyện vẫn đang rà soát để giao đất rừng cho dân.
Ông Phạm Hữu Nhân - Chủ tịch UBND xã Hòa Hải thừa nhận sự chậm trễ, bất lực trong việc quản lý dẫn đến tình trạng 55 hộ dân liên tục xâm chiếm trái phép đất rừng của Cty.
Ngày 15/5, khi phóng viên VietNamNet có mặt ở hiện trường thì người dân Hòa Hải vẫn tiếp tục vào rừng “tác nghiệp” trên đất của Cty, bất chấp pháp luật.
Cũng theo ông Nhân, sự việc đi quá xa và đã vượt qua tầm kiểm soát của xã. Và ngay cả UBND huyện cùng cơ quan chức năng cũng nhiều lần vào cuộc, nhưng sự việc chẳng tiến triển được hơn.
Lãnh đạo xã Hòa Hải cũng đã bày tỏ sự không đồng tình với cách làm của người đứng đầu tổ công tác do huyện cử về.
Ông Nhân cho biết, trước tình hình ngày càng phức tạp, ngày 10/4 thường trực huyện ủy đã lập tổ công tác do ông Lê Trần Sáng đứng đầu để chỉ đạo giải quyết.
Tuy nhiên, mãi san gần 1 tháng (4/5) ông Sáng mới bắt đầu về làm việc với xã để bàn phương án giải quyết. Và sự việc cũng không có gì tiến triển.
“Giờ tuyên truyền không có tác dụng nữa mà lực lượng của xã thì quá yếu. Cán bộ xã nhiều lần vào kiểm tra đã bị người dân dọa chém rồi nên rất cần sự vào cuộc thực sự từ các cơ quan chức năng ở huyện”, ông Nhân nói.
Trong khi đó, ông Đinh Hữu Tân, Chủ tịch UBND huyện Hương Khê cho biết, việc lấn chiếm của người dân là trái phép, gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
Huyện đang tiếp tục vào cuộc quyết liệt, một mặt giải thích cho dân hiểu, giải quyết nhu cầu của người dân. Còn mặt khác củng cố hồ sơ vi phạm cần thiết sẽ tổ chức lực lượng đủ mạnh để ngăn chặn, trục xuất toàn bộ người dân vào lấn chiếm trái phép.
“Kể cả đất rừng chưa giao cho DN thì người dân cũng không được phép tự ý lấn chiếm, trồng cây. Đằng này khu vực này đã được tỉnh giao cho Cty cao su Hương Khê”, ông Tân nói.
Ông Tân cũng cho biết, sẽ tập trung giải quyết sự việc xong trước tháng 6. Cần thiết sẽ tổ chức lực lượng cưỡng chế diện tích đã bị xâm chiếm. Sau đó sẽ xem xét trách nhiệm của cán bộ liên quan, kể cả ở huyện.
Được biết, trước nguy cơ sự việc sẽ phức tạp, ngày 18/1/2013, PCT UBND tỉnh Lê Đình Sơn đã ký văn bản số 231, có nội dung: Yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Hương Khê chỉ đạo sâu sát, đồng bộ các giải pháp. Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng xung đột, tranh chấp làm ảnh hưởng đến ANTT, ổn định tại địa phương. (Vietnamnet 29/5)đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có hàng trăm m3 gỗ quý hiếm, trị giá hàng chục tỷ đồng do các cơ quan chức năng tịch thu từ buôn bán, vận chuyển lậu, khai thác trái phép đang ùn ứ, tồn đọng tại các hạt, trạm kiểm lâm, hoặc nằm lại tại các khu rừng đặc dụng.
Nếu không sớm có biện pháp thanh lý, thu hồi thì số gỗ này sẽ dần bị thất thoát, hư hỏng, giảm giá trị và lãng phí lớn.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn, hiện nay có hơn 160 m3 gỗ xẻ thuộc dạng quý hiếm mà lực lượng kiểm lâm tịch thu của các đối tượng khai thác, buôn bán, vận chuyển trái phép đang tồn đọng tại các trụ sở xã, hạt, trạm kiểm lâm nằm rải rác trên địa bàn toàn tỉnh. Ở Trạm Kiểm lâm số 5, xã Ân Tình, huyện Na Rì có gần mười hộp gỗ nghiến được xẻ vuông vắn, dày và rộng 20 cm, dài từ ba đến bốn m để trên nền đất ẩm thấp, cỏ mọc trùm kín, đang bị nứt. Gỗ nghiến đã xẻ, thớt nghiến đang nằm la liệt trong sân, chất đống ra cả cổng trụ sở UBND xã Xuân Dương, huyện Na Rì mà không được che đậy, bảo vệ một cách cẩn thận.
Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì chật hẹp, hiện có 29 m3 gỗ quý, hơn 70 cục thớt nghiến không được bảo quản một cách cẩn thận. Trên sân Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông có gần 10 m3 gỗ nghiến đã xẻ chất đống, xếp tầng lớp ở ngoài trời mà không được che đậy, hằng ngày phơi mưa, phơi nắng.
Trong khi các hạt, trạm kiểm lâm trên địa bàn tỉnh nhỏ hẹp, chật chội, không có kho bãi cho nên khi tịch thu, vận chuyển gỗ về không có chỗ cất giữ đều để ngoài trời, che đậy tạm bợ dẫn đến hư hỏng, nứt, vỡ làm cho chất lượng giảm. Nhất là từ đầu năm 2013, UBND tỉnh Bắc Kạn dừng bán đấu giá gỗ quý hiếm trên địa bàn thì loại gỗ này ùn ứ, tồn đọng ngày càng nhiều. Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Kạn Hoàng Văn Hải thừa nhận: "Mỗi khối gỗ nghiến mà chúng tôi thu giữ có giá trị khoảng 20 triệu đồng, khi thanh lý bị nứt, vỡ thì giá trị giảm chỉ còn một nửa".
Ngoài số gỗ bị thu giữ ở các hạt, trạm, hiện nay có hơn 600 m3 gỗ quý hiếm, chủ yếu là gỗ nghiến thuộc nhóm IIa bị "lâm tặc" chặt hạ trái phép đang "nằm" tại các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh.
Ðiển hình là, Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ trên địa bàn thôn Lủng Chuông, xã Cao Sơn có 26 cây nghiến, trai với khối lượng 110 m3 bị chặt hạ; tại Lủng Vai, xã Lạng San có bốn cây gỗ nghiến, khối lượng 38 m3; ở khu vực Thẳm Mu trên địa bàn xã Ân Tình có hơn mười cây nghiến đường kính một, hai người ôm, dài từ 15 đến 20 mét, khối lượng lên đến vài chục m3 đang nằm la liệt.
Khu vực cột mốc số 50 và 51 thuộc Vườn quốc gia Ba Bể có 15 cây nghiến bị chặt hạ, khối lượng 36 m3. Tại khu vực Kéo Nàng, xã Bản Thi thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh nam Xuân Lạc có 14 cây gỗ nghiến, khối lượng hơn 42 m3 bị chặt hạ đang nằm trong rừng...
Nguyên nhân mà tỉnh Bắc Kạn dừng bán đấu giá gỗ quý hiếm tịch thu được là nhằm ngăn chặn việc lợi dụng hồ sơ thanh lý hợp pháp từ đấu giá, quay vòng vận chuyển lâm sản trái phép. Tuy nhiên theo Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn, việc lợi dụng giấy phép để quay vòng vận chuyển gỗ lậu là không thể, vì mỗi giấy phép vận chuyển đã gắn với mỗi lô gỗ cụ thể, quy định thời gian rõ ràng.
Ðồng thời, Chi cục đã quy định, nếu để xảy ra việc lợi dụng quay vòng giấy phép thì Hạt trưởng kiểm lâm ở các địa phương phải chịu trách nhiệm cho nên hồ sơ vận chuyển được quản lý chặt chẽ. Tỉnh dừng bán đấu giá thì thời gian qua vận chuyển gỗ trái phép vẫn diễn ra. Do đó, dừng bán đấu giá để ngăn chặn vận chuyển lâm sản trái phép là không cần thiết, làm cho số gỗ tịch thu được ùn ứ, chất lượng giảm, thất thoát, lực lượng kiểm lâm "thêm việc" trong quá trình bảo vệ. (Nhân Dân 28/5)đầu trang(
Rừng Xuân Nha thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La được công nhận Rừng đặc dụng Quốc gia cần bảo tồn từ năm 2002. Do ở vùng lõi của rừng vẫn còn hàng nghìn hộ người Mông sinh sống, địa bàn trải rộng, lực lượng kiểm lâm lại mỏng, nên hàng ngày rừng vẫn bị xâm hại nghiêm trọng.
Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm Rừng đặc dụng Xuân Nha, từ năm 2011 đến nay, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý hơn 56 vụ vi phạm rừng ở đây. Các vụ vi phạm chủ yếu là phá rừng làm nương trái phép, với diện tích rừng bị “cạo trọc” trên 23.000m2. Lực lượng kiểm lâm đã thu hàng trăm mét khối gỗ các loại. Một trong những nguyên nhân dẫn đến rừng bị hủy hoại, tàn phá là do còn nhiều hộ gia đình sống trong vùng lõi của rừng đặc dụng.
Ông Trần Ngọc Tân, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Xuân Nha cho biết: "Hiện nay đơn vị chỉ có 24 cán bộ, còn thiếu gần 20 người mới đủ biên chế, theo qui định của ngành để bảo vệ 43.000 ha rừng đặc dụng Xuân Nha. Đã vậy, đơn vị còn vừa là chủ rừng, vừa là kiểm lâm: Khó khăn của chúng tôi là trên vai gánh hai chức năng, chức năng chủ rừng và chức năng bảo vệ rừng.
Về chức năng chủ rừng thì chưa có chính sách để làm tốt công tác này. Chi trả dịch vụ môi trường trong toàn tỉnh đã có, riêng 4 xã rừng đặc dụng Xuân Nha không được chi trả, vì nó không nằm trong rừng phục vụ lòng hồ thủy điện sông Đà, mà thuộc sông Mã dẫn đến bà con chưa được hưởng lợi từ rừng nên công tác quản lý, bảo vệ rừng hạn chế". (VOV 29/5)đầu trang(
Cây mai dương - một trong những loài sinh vật ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất thế giới đang từng giờ, từng ngày phát triển ồ ạt ở các tỉnh miền Tây.
Số liệu thống kê sơ bộ cho thấy, toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện có diện tích đất bị cây mai dương xâm lấn lên đến khoảng 6.000ha.
TS Dương Văn Ni - khoa Môi trường – Tài nguyên thiên nhiên (Đại học Cần Thơ) cho rằng: “Giải pháp hữu hiệu nhất là tiêu diệt cây mai dương ngay từ nhỏ bằng cách nhổ cả cây con. Cần tổ chức đội ngũ chuyên môn, phổ biến rộng rãi cho cộng đồng biết về tác hại nguy hiểm của loại cây này”.
Theo Viện Bảo vệ thực vật (Bộ NNPTNT) thì có 3 biện pháp cơ bản để diệt cây mai dương là thủ công, hóa học và sinh học; trong đó biện pháp sinh học đã được tiến hành ở Úc, Thái Lan... như thả mọt đục hạt, sâu đục thân, đục ngọn cây, nhưng ở nước ta chưa được áp dụng.
Còn theo nghiên cứu của Vườn quốc gia Tràm Chim, có 5 loại hóa chất diệt cây mai dương thích hợp theo từng chu kỳ sinh trưởng là thuốc Glyphosate, Truyclopyr, Paraquat, Metsulfuronmethyl và 2,4D. Ngoài ra, theo khuyến cáo của các nhà nghiên cứu điều đáng ngại nhất là hạt của cây mai dương rơi đến đâu, theo nước trôi tới đâu... thì sẽ mọc cây tới đó. Do vậy, cần phải tiêu diệt chúng trước mùa mưa để hạn chế sự sinh sôi, nảy mầm. (Nông Thôn Ngày Nay 29/5)đầu trang(
28-5, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị có văn bản số 19/BC-KL do Chi cục trưởng Khổng Trung ký "Về việc kiểm tra thông tin phản ánh khai thác gỗ trái phép Báo Nhân Dân điện tử nêu ngày 2-5" có nội dung như sau:
Vụ việc Báo Nhân Dân nêu hoàn toàn đúng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị hoan nghênh thông tin phản ánh kịp thời của Báo Nhân Dân.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị đã cử Phòng Thanh tra - Pháp chế phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Đakrông kiểm tra, xác minh làm rõ vụ việc như sau:
Vào sáng 3-5 (sau khi Báo NDĐT đưa tin) Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Đakrông đã huy động công chức kiểm lâm trong trạm phối hợp với lực lượng công an và quân sự xã Đakrông kiểm tra thực tế tại Km 53 trên tuyến quốc lộ 9. Qua kiểm tra đã phát hiện năm hộp gỗ nhội, khối lượng quy tròn 0,651 m3 được thu giấu trong lùm cây ven đường, cách quốc lộ 9 khoảng 20 mét.
Tại thời điểm kiểm tra, tổ công tác đã thông báo cho những người dân thôn Vùng Kho biết nhưng không ai nhận là chủ gỗ. Tổ kiểm tra đã lập biên bản đưa gỗ về tạm giữ tại Trạm Kiểm lâm Đakrông và phối hợp với chính quyền địa phương tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng vi phạm. Số gỗ bắt giữ này chính là số gỗ mà Báo NDĐT nêu.
Quá trình điều tra xác minh, Hạt Kiểm lâm huyện Đakrông đã làm rõ chủ gỗ là ông Hồ Văn Tư (tên thường gọi là Pả Tiếp), 28 tuổi, trú tại thôn Vùng Kho, xã Đakrông, huyện Đakrông.
Ngày 21-5, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đakrông đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0010733/quyển số 358, xử phạt ông Hồ Văn Tư một triệu đồng và tịch thu 0,651 m3 gỗ sung quỹ Nhà nước do đã có hành vi khai thác rừng trái phép.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Đakrông trực tiếp làm việc với chính quyền xã Đakrông tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành pháp luật về bảo vệ rừng, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm.
Như Nhân Dân đưa tin ngày 2-5, "Lâm tặc ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu trên QL9", vào lúc 13 giờ ngày 2-5, tại Km 53+200, trên tuyến quốc lộ 9, thuộc địa bàn xã Đakrông, huyện Đakrông (Quảng Trị) lâm tặc ngang nhiên khuân năm phách gỗ ra tập kết ở vệ đường quốc lộ 9, rồi từ từ bốc lên xe kéo kéo đi. Theo lối mòn vào phía rừng, cách quốc lộ 9 khoảng 15 mét còn có hơn 10 phách gỗ khác được tập kết sẵn ở đây, đang chờ lâm tặc khuân ra.
Trên tuyến quốc lộ 9 qua địa bàn huyện Đakrông có nhiều lực lượng chức năng làm nhiệm vụ chống hàng lậu, hàng cấm; Hạt Kiểm lâm huyện Đakrông đóng cách điểm tập kết gỗ chỉ vài cây số nhưng không thấy lực lượng nào tuần tra vào thời điểm này. Lâm tặc ngang nhiên phá rừng, vận chuyển gỗ như chốn không người còn các cơ quan chức năng ở tỉnh Quảng Trị thiếu tuần tra, kiểm soát thường xuyên nên rừng Đakrông vẫn tiếp tục chảy máu... (Nhân Dân 28/5)đầu trang(
Ngày 20-5, Tòa án Nhân dân tỉnh đã tuyên phạt Đỗ Văn Bảy (1967), trú thôn 3, xã Thống Nhất (Bù Đăng) 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo vì đã phá rừng lồ ô thuộc Nông lâm trường Nghĩa Trung để lấy đất trồng mì.
Ngày 19-9-2010, Đỗ Văn Bảy mua một mảnh đất 0,3 ha tại khoảnh 7, Tiểu khu 315, Nông lâm trường Nghĩa Trung của một người tên Sen (chưa xác định nhân thân lai lịch) với giá 10 triệu đồng. Việc mua bán chỉ thỏa thuận bằng miệng.
Trong khoảng thời gian từ tháng 1-2011 đến tháng 1-2012, Đỗ Văn Bảy chặt mở rộng xung quanh trái phép khoảng 14.800m2 rừng lồ ô để trồng mì. Ngày 26-3-2012, khi Đỗ Văn Bảy cùng con trai đang dọn đất để trồng mì thì bị bảo vệ Nông lâm trường Nghĩa Trung phát hiện lập biên bản.
Ngày 13-3-2013, Tòa án Nhân dân huyện Bù Đăng đã tuyên Đỗ Văn Bảy phạm tội “hủy hoại rừng”, phạt 1 năm tù giam. Đỗ Văn Bảy kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt. Phiên xử phúc thẩm ngày 20-5-2013, Tòa án Nhân dân tỉnh chấp nhận kháng cáo và tuyên phạt Đỗ Văn Bảy 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo. (Báo Bình Phước 28/5)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||