Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 28 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều ngày 26/7, UBND huyện Đô Lương đã tổ chức hội nghị sơ kết PCCCR. Tham dự hội nghị có đồng chí Ngọc Kim Nam – Chủ tịch UBND huyện, các đồng chí trong BTV Huyện ủy và lãnh đạo 25 xã có rừng.
Theo báo cáo của UBND huyện, trong thời gian qua trên địa bàn huyện Đô Lương đã xảy ra một số vụ cháy rừng, trong đó có 4 vụ cháy rừng với diện tích lớn ở xã Đông Sơn, Thái Sơn và xã Trung Sơn. Nguyên nhân các vụ cháy rừng là do đốt thực bì, đốt ong, thắp hương viếng mộ và mẫu thuẫn cá nhân. Khi các vụ cháy rừng xảy ra, Ban chỉ huy PCCCR huyện Đô Lương và các xã, thị đã huy đông lực lượng để tổ chức chữa cháy kịp thời, đặc biệt có sự tham gia của cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn 324.
Tuy nhiên, những vấn đề tồn tại được rút ra đó là: Việc phát hiện các vụ cháy rừng còn chậm, công tác huy động lực lượng tại chỗ ở các xã có lúc chưa kịp thời, lực lượng tham gia chữa cháy rừng một số xã thiếu trách nhiệm, dụng cụ chữa cháy rừng chưa đảm bảo, công tác chỉ huy có lúc còn lúng túng.
Các đại biểu đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến để thực hiện tốt các biện pháp PCCR trong thời gian tới. Do thời tiết nắng nóng kép dài, nguy cơ cháy rừng rất cao.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Ngọc Kim Nam – Chủ tịch UBND huyện yêu cầu các xã có rừng, các thành viên Ban chỉ đạo và các chủ rừng thực hiện tốt các nhiệm vụ: Tổ chức lực lượng trực, phát hiện và điều động lực lượng tại chỗ chữa cháy kịp thời không để đám cháy lây lan ra diện rộng; báo cáo lên cấp trên để điều động lực lượng hỗ trợ chữa cháy; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng quân đội để tổ chức chữa cháy rừng kịp thời, tổ chức việc chỉ huy chữa cháy đồng bộ và huy động nhiều lực lượng tham gia chữa cháy.
Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, điều tra làm rõ các đối tượng gây ra các vụ cháy rừng và nghiêm cấm tuyệt đối việc đốt thực bì, đốt ong lấy mật trong thời điểm nắng nóng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Nghệ An 27/7) đầu trang(
Di tích Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ thuộc xã Mường Phăng (huyện Điện Biên) hàng năm có hàng chục nghìn lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và tìm hiểu.
Khu di tích nằm trong diện tích trên 290ha rừng đặc dụng, trong đó có hơn 80ha rừng lõi với nhiều nhóm gỗ quý. Suốt thời gian qua, khu rừng lịch sử này đã được ngành chức năng và người dân Mường Phăng gìn giữ nguyên vẹn.
Để giữ rừng, Tổ Quản lý Khu di tích Mường Phăng đã thành lập tổ bảo vệ cơ động, thường xuyên tuần tra, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm. Ông Lò Văn Hoàng, Tổ trưởng Tổ Quản lý, cho biết: Để bảo vệ rừng, ngăn chặn các hành vi xâm hại cũng như phòng, chống cháy rừng, Tổ đã phối hợp với kiểm lâm địa bàn, chính quyền xã Mường Phăng vận động nhân dân trong xã tích cực chăm sóc và bảo vệ rừng. Đồng thời,  tổ chức ký cam kết không chặt phá, đốt rừng làm nương; đặc biệt là 20 hộ dân hiện đang sống và làm trang trại chăn nuôi gần Khu di tích.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng trong việc bảo vệ khu rừng lịch sử, hàng tuần, người dân tham gia phát cỏ dại, dây leo, làm đường băng cản lửa, rà soát những cây gỗ lớn và đánh dấu vị trí để dễ kiểm tra, bảo vệ.
Bên cạnh đó, chính quyền xã và Tổ Quản lý Khu di tích còn phát động các phong trào, hoạt động bảo vệ môi trường, sinh thái rừng. Hàng tuần, Tổ Quản lý, người dân và học sinh trong xã tổ chức thu gom rác thải trong Khu di tích để giữ gìn sạch đẹp cảnh quan cũng như bảo vệ môi trường; góp phần tạo ấn tượng tốt với du khách đến thăm Mường Phăng; nâng cao ý thức trong bảo vệ, phòng, chống cháy rừng. Nhờ đó, những năm qua, Mường Phăng không xảy ra cháy rừng.
Cùng với khoanh nuôi, bảo vệ rừng, với lợi thế khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm, phù hợp với nhiều loại cây ăn quả như: đào Pháp, táo mèo, mận, hồng không hạt... người dân Mường Phăng kết hợp phát triển kinh tế rừng với trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế mang lại thu nhập không nhỏ.
Ông Lường Văn Lả, Trưởng bản Phăng 2, xã Mường Phăng cho biết: Rừng Mường Phăng đã tạo nên cảnh quan môi trường sinh thái mát mẻ, trong lành thu hút được lượng lớn khách du lịch đến tham quan. Đóng góp một phần không nhỏ vào kết quả đó là ý thức chăm sóc bảo vệ của người dân Mường Phăng. (Báo Điện Biên Phủ 27/7) đầu trang(
“Kết quả thì phải đợi cơ quan điều tra, tuy nhiên, tôi nghĩ có sự tiếp tay của lực lượng chức năng cho lâm tặc. Bởi vì ở một địa bàn quản lý chặt chẽ đến như vậy mà lâm tặc vẫn lọt vào hoạt động một cách mạnh mẽ như thế thì quá vô lý” –ĐBQH Nguyễn Hồng Thái (Hưng Yên) chia sẻ với báo điện tử Một Thế Giới quanh vụ phá rừng pơ mu tại Quảng Nam.
Trong báo cáo gửi Thủ tướng về vụ phá rừng tại Quảng Nam, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Đinh Văn Thu khẳng định: Nếu không có sự tiếp tay, giúp sức của một số cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý bảo vệ khu vực biên giới cửa khẩu Nam Giang thì dù lâm tặc có ba đầu sáu tay cũng không thể lọt vào khu vực này để khai thác lượng gỗ quý hiếm lớn đến vậy.
Số lượng gỗ bị chặt phá được xác định là 60 cây pơ mu. Theo định giá tạm thời, số tiền lên tới 18-24 tỉ đồng. Tuy nhiên, là khu vực nhạy cảm, được quản lý chặt chẽ, việc lâm tặc hoạt động trong khu vực này là điều hết sức vô lý. Do đó, việc có hay không sự dung túng, tiếp tay của cơ quan chức năng đối với việc phá rừng đang thu hút sự quan tâm lớn của công chúng.
Trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới về vấn đề này tại hành lang Quốc hội ngày 26.7, ĐBQH Nguyễn Hồng Thái (Hưng Yên) cho biết, việc có tiếp tay hay không phải để cơ quan điều tra ra kết luận cuối cùng. Qua đó mới có thể biết rõ được đối tượng tiếp tay cho lâm tặc phá rừng trái phép.
“Còn riêng cá nhân, tôi nghĩ có sự tiếp tay của lực lượng chức năng cho lâm tặc. Bởi vì ở một địa bàn quản lý chặt chẽ đến như vậy mà lâm tặc vẫn lọt vào hoạt động một cách mạnh mẽ như thế thì quá vô lý” – ông Thái nói.
Tuy nhiên, theo ông Thái, cụ thể là lực lượng nào tiếp tay, những ai tiếp tay, mức độ vi phạm ra sao thì cần phải có sự kết luận của cơ quan điều tra.
Chia sẻ với báo điện tử Một Thế Giới, ông Nguyễn Sỹ Cương, Ủy viên thường trực Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội cho biết, về vụ phá rừng ở Quảng Nam, Thủ tướng đã có chỉ đạo, bây giờ cần phải điều tra rõ vụ việc,quy trách nhiệm rõ ràng để xử lý rốt ráo. Trách nhiệm của tỉnh đến đâu, lực lượng chức năng đến đâu cần phải làm rõ, đặc biệt là trách nhiệm của lực lượng biên phòng.
Về việc biên phòng ngăn cản lực lượng công an và kiểm lâm trong quá trình điều tra, ông Nguyễn Sỹ Cương cho biết, qua vụ này, cần xem xét về sự phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ngành trong việc quản lý, bảo vệ rừng.
“Không thể một cơ quan nào quản lý là không cho cơ quan khác tham gia, như vậy các cơ quan khác không thể thực hiện được nhiệm vụ của họ. Ví dụ như biên phòng cấm công an hay kiểm lâm vào kiểm tra thì làm sao họ làm tốt công tác bảo vệ rừng, đấu tranh với lâm tặc?” – ông Cương nhấn mạnh.
Theo ông Cương, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm về những vi phạm xảy ra trên địa bàn, đã đến lúc làm rõ trách nhiệm đến từng cá nhân. Pháp luật giao cho anh thẩm quyền mà anh không thực hiện đúng chức trách của mình thì cần phải xử lý.
Trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới, Trung tướng Lê Chiêm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cũng khẳng định Bộ Quốc phòng đang vào cuộc rốt ráo và sẽ công bố thông tin khi có kết quả.
Theo tướng Chiêm, để kết luận sai phạm cần phải cơ quan chức năng điều tra. Hiện nay Bộ Quốc phòng đang tổ chức, triển khai cùng với địa phương điều tra cụ thể vụ việc.
Theo Trung tướng Chiêm, kết quả thì chưa có nên chưa thể công bố, tuy nhiên, ông khẳng định Bộ Quốc phòng sẽ làm nghiêm túc và quyết liệt về vụ này, cương quyết và không dung tha cho hành vi phá rừng này. Vụ việc sẽ được công khai hoàn toàn sau khi có kết quả điều tra.
Về giải pháp để hạn chế phá rừng sau lệnh đóng cửa rừng của Thủ tướng, ông Nguyễn Hồng Thái cho biết, cần tập trung mạnh vào hai phương châm lớn.
Thứ nhất, những người dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng thì phải có đất đai làm ăn, mưu sinh, có cơ chế, chính sách chuyển đổi cho họ, để họ sống được nhờ rừng mà không phải phá rừng.
Thứ hai là cơ quan chức năng cần phải vào cuộc thực sự nghiêm túc, có chế tài mạnh mẽ, xử lý nghiêm tội phạm phá rừng. Bản thân người dân thì họ không phá rừng với mức độ lớn như thế, mà chỉ có lâm tặc mới phá rừng mạnh như vừa qua.
Trước đó,vào ngày 9.7 người dân phát hiện 280 phách gỗ pơ mu (28 khối), tập kết tại một con suối cách Trạm kiểm soát Biên phòng Cửa khẩu Nam Giang (thuộc Đồn Biên phòng La Dêê), khoảng 500 m nên trình báo kiểm lâm và công an. Bãi tập kết nằm dưới một con suối sát bên đường tuần tra của biên phòng và cách cửa khẩu chỉ khoảng 200 m. Do khu vực thuộc vùng cấm, biên phòng quản lý nên công an sau đó phải xin phép lực lượng này để vào hiện trường điều tra.
Trong quá trình điều tra, công an cho rằng bị lực lượng biên phòng không ít lần gây khó dễ. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sau đó có văn bản chỉ đạo Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và tỉnh Quảng Nam làm rõ vụ việc, xử lý nghiêm những người vi phạm.
3 sĩ quan biên phòng gồm thượng tá Nguyễn Tấn Lạc, Đồn trưởng biên phòng La Dêê; thiếu tá Đỗ Hoành Minh, chính trị viên và đại úy Lê Xuân Chính, Đồn phó kiêm Trạm trưởng Trạm kiểm soát Biên phòng Cửa khẩu Đắc Ốc, đã bị tạm đình chỉ để phục vụ điều tra. Đại úy Chính được cho “có liên quan đặc biệt” trong đường dây phá rừng. (Một Thế Giới 27/7) đầu trang(
Ngày 27/7, nhà chức trách tỉnh Quảng Nam đề nghị tỉnh Sê Kông (Lào) sớm sử dụng thiết bị định vị xác định chính xác tọa độ khu vực rừng pơ mu bị phá của mỗi bên để phục vụ công tác điều tra. Tỉnh Quảng Nam cũng đề nghị chính quyền Sê Kông sớm khởi tố vụ án.
Động thái này được đưa ra sau cuộc họp giữa lãnh đạo 2 tỉnh của hai nước về vụ phá rừng pơ mu ở biên giới huyện Nam Giang và cùng thống nhất thành lập tổ công tác đặc biệt. Tỉnh Sê Kông sẽ kiểm tra toàn bộ, thậm chí đóng cửa các xưởng sản xuất, chế biến gỗ tại các khu vực biên giới tiếp giáp với tỉnh Quảng Nam sau vụ việc này.
Trong một diễn biến khác, ông Trần Văn Sâm (Hạt Kiểm lâm huyện Hiệp Đức), cho biết đây không phải là lần đầu tiên nhà chức trách phát hiện những bãi gỗ pơ mu được tập kết gần trạm biên phòng. Tuy nhiên không thể khởi tố vụ án vì khối lượng chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự.
“Trước đây phát hiện nhiều lắm, có lần chúng tôi phải làm rất cứng thì họ mới cho vào và thu được hơn 1,6 khối gỗ pơ mu đã được cưa xẻ. Tuy nhiên biên phòng phủ nhận liên quan, họ nói không biết”, ông Sâm kể và cho hay trước đây làm việc tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, nơi trực tiếp quản lý rừng tại khu vực biên giới xã La Dêê.
Theo Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, riêng năm 2009 lực lượng này phát hiện 6 bãi tập kết gỗ vô chủ ở khu vực gần Trạm kiểm soát Biên phòng cửa khẩu Đắc Ốc. Phần lớn gỗ đều là pơ mu, đã được cưa xẻ theo quy cách.
Vụ phá rừng quy mô lớn bị vỡ lở khi ngày 9/7 người dân phát hiện 280 phách gỗ pơ mu (28 khối), tập kết tại một con suối cách Trạm kiểm soát Biên phòng Cửa khẩu Đắc Ốc (thuộc Đồn Biên phòng La Dêê) khoảng 500 m. Bãi tập kết nằm dưới con suối sát bên đường tuần tra của biên phòng và cách cửa khẩu chỉ khoảng 200 m.
Cơ quan điều tra xác định có ít nhất 60 cây pơ mu hàng trăm tuổi thuộc vùng giáp ranh biên giới bị đốn hạ. Sau khi khởi tố vụ án, công an tiếp tục phát hiện hàng loạt bãi tập kết gỗ, trong đó nhiều vị trí nằm sát trạm biên phòng.
Trong trụ sở của Chi cục Hải quan Cửa khẩu Nam Giang, nhà chức trách cũng thu giữ 115 phách gỗ không có nguồn gốc. Chi cục trưởng đơn vị này sau đó bị tạm đình chỉ công tác để phục vụ điều tra.
Trong quá trình điều tra, công an cho rằng bị lực lượng biên phòng không ít lần gây khó dễ. 3 sĩ quan biên phòng gồm thượng tá Nguyễn Tấn Lạc (Đồn trưởng biên phòng La Dêê); thiếu tá Đỗ Hoành Minh (chính trị viên) và đại úy Lê Xuân Chính (Đồn phó kiêm Trạm trưởng Trạm kiểm soát Biên phòng Cửa khẩu Đắc Ốc) đã bị tạm đình chỉ để phục vụ điều tra.
Đại úy Chính bị cho là “có liên quan đặc biệt” trong đường dây phá rừng. Theo quy chế của biên phòng, cán bộ phải luân chuyển công tác 5 năm một lần. Tuy nhiên, đại úy Chính đã hơn 10 năm vẫn làm việc tại một vị trí.
Trong văn bản chỉ đạo các ngành và báo cáo Thủ tướng, ông Đinh Văn Thu (Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam), nhận định tình tiết vụ phá rừng pơ mu có dấu hiệu bao che, dung túng của lực lượng chức năng. Cơ quan điều tra nghi ngờ có đường dây phá rừng được tổ chức tinh vi, hoạt động trong thời gian dài tại khu vực này. (VnExpress 27/7) đầu trang(
UBND tỉnh Nghệ An ngày 13/7 có công văn số 5003/UBND-NN gửi Sở NN&PTNT, giao sở này chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét, kiểm tra thông tin báo Tiền phong phản ánh.
Trước đó, ngày 06/7/2016 báo Tiền phong đăng bài “Xẻ thịt khu bảo tồn thiên nhiên”, nêu tình trạng chặt phá rừng tại KBTTN Pù Huống (thuộc xã Châu Hoàn, huyện Qùi Châu, Nghệ An). Tại văn bản số 5003/UBND-NN ghi rõ, kết quả kiểm tra, Sở NN&PTNT Nghệ An phải báo cáo UBND tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Sở TTTT vào cuối tháng 7/2016. (Tiền Phong 27/7) đầu trang(
Rừng Tây Nguyên bị xâm hại dẫn đến hàng loạt nguy cơ, hậu quả khiến các cấp, các ngành, các địa phương, từng người dân không thể thờ ơ, bàng quan thêm được nữa. Và trong những nguyên nhân mất rừng, chúng ta không thể không đề cập đến tập quán, thói quen, tâm lý sử dụng gỗ rừng tự nhiên phổ biến trong xã hội hiện nay.
Bởi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồi núi chiếm phần lớn diện tích và rừng tự nhiên đa dạng, phong phú, giàu có nên gỗ được người Việt Nam từ bao đời sử dụng, khai thác để phục vụ cuộc sống. Rừng, đất rừng là tiềm năng lớn nhất của Việt Nam, không dễ gì có được và không thể đánh đổi. Nhưng cũng từ tài nguyên sẵn có đó đã hình thành tâm lý: làm gì cũng nghĩ đến gỗ trước tiên.
Đề cập đến tâm lý mà cũng là thói quen sử dụng gỗ trong cuộc sống, ông Nguyễn Nhĩ-Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Gia Lai cho rằng, đây là tâm lý ăn sâu bám rễ vào đời sống mỗi người Việt Nam, nhất là những nơi có rừng, nhiều rừng, hoạt động khai thác và chế biến gỗ, sản xuất đồ gỗ sôi động. Một số cán bộ kiểm lâm đúc kết: không dưới 30% đồ gỗ gia dụng có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên. Và có không ít tổ chức, cá nhân nhân danh này nọ xin xỏ, năn nỉ hoặc gây áp lực để chiếm đoạt gỗ rừng tự nhiên bằng nhiều cách khác nhau.
Nguyên Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Ksor Phước khi phản bác xây dựng các công trình trụ sở ngàn tỷ đã cho rằng nhiều trụ sở chính quyền to như cung điện! Tất nhiên, nội thất của những công trình này làm sao có thể thiếu gỗ quý nguồn gốc từ rừng hay đá hoa cương giá trị và sang trọng. Đó là một sự thật hiển nhiên.
Cũng chính ông Ksor Phước khi còn đương chức, trong một số cuộc tiếp xúc cử tri, đã thẳng thắn và quyết liệt chỉ ra rằng, nhiều diện tích rừng tự nhiên mất đi có nguyên nhân từ việc vận dụng chính sách phát triển và chuyển đổi rừng ồ ạt, có sự trục lợi của tổ chức, cá nhân. Và ông cũng chua chát lẫn hài hước khi nói một địa phương, một tổ chức nào đó đã hoàn thành nghĩa vụ phá rừng!
Ở một phương diện khác, Gia Lai có tới 46% dân số là người dân tộc thiểu số. Và với trình độ hiện tại, họ phụ thuộc rất nhiều vào rừng từ săn bắt, chăn thả gia súc đến sản xuất, sinh hoạt. Rất khó tách rừng ra khỏi đời sống của họ.
Đây cũng là điều mà nhiều nhà khoa học tâm huyết từng nhiều lần khuyến cáo, cảnh tỉnh chính quyền các tỉnh Tây Nguyên phải ưu tiên bảo vệ rừng, duy trì cộng đồng làng buôn gắn bó chặt chẽ với rừng, đi đôi với chính sách khai thác và bảo vệ rừng một cách bền vững. Bởi nếu không làm tốt công tác này, rừng còn bị xâm hại tàn khốc.
Do gỗ rừng tự nhiên được sử dụng phổ biến, rất có giá trị nên hoạt động khai thác, chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm đồ gỗ có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nói chung, các tỉnh Tây Nguyên nói riêng. Những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, nhận thấy tài nguyên rừng giàu có, chính sách thông thoáng nên nhiều doanh nghiệp đã đầu tư sản xuất kinh doanh vào ngành gỗ và giàu lên nhanh chóng, trở thành những đại gia, tên tuổi nổi tiếng cả trong và ngoài nước.
Khi gỗ rừng tự nhiên ngày càng khan hiếm, nhất là từ mấy năm qua, chủ trương đóng cửa rừng có hiệu lực, gỗ rừng tự nhiên càng trở nên có giá. Có cung ắt có cầu. Dù đã thu hẹp nhưng thị trường đồ gỗ gia dụng hiện đã phân khúc cao cấp hơn trước đây rất nhiều. Thông tin về những gốc sưa, những bộ phản, bàn ghế, sập gụ bằng gỗ quý xuất hiện không hiếm trên truyền thông và không ít người sẵn sàng bỏ ra cả trăm tỷ đồng để sở hữu nó.
Nếu như trước đây gỗ rừng tự nhiên chủ yếu sử dụng cho mục đích xây dựng và đồ gia dụng nói chung thì nay nó đã trở thành thứ tài sản quý hiếm, giá trị, dùng để trang trí cuộc sống và thể hiện đẳng cấp của nhiều gia chủ. Thú chơi gỗ và đồ gỗ vì vậy vô hình trung đã tiếp tay cho hành vi phá rừng.
Những món đồ độc đó lấy từ đâu ra? Chắc là số hợp pháp không nhiều. Vậy mà nó vẫn xuất hiện ở khắp nơi. Cây rừng vẫn bị đào gốc, trốc rễ về làm cây cảnh, cùng với chim muông cầm thú ráo riết bị săn lùng và cầm tù. “Khỉ kêu vượn hú trong vườn đại gia”-một bài báo thống thiết phản ánh như thế. UBND tỉnh từng có chỉ thị cấm đào bới cây sống cũng như cây chết-như cây trắc thối.
Nói chung là hành vi xâm hại đến rừng, phá vỡ môi sinh đều bị cấm tiệt. Vậy mà vẫn còn đấy những cơ sở sản xuất đồ mỹ nghệ, chế biến đồ gỗ, tạo tác tượng gỗ. Xe chở gỗ nhập về các cơ sở này vẫn đầy, công khai cả ban ngày. Tiếng máy cưa, máy bào xé rách màng nhĩ hàng xóm. Nhiều khách hàng “xộp” quen mặt quen tên từ chỗ chơi tiến đến lợi dụng kinh doanh kiếm lời, vào ra các cơ sở này như cơm bữa mà chẳng thấy cơ quan chức năng nào kiểm tra.
Trong khi các nước văn minh đề cao văn hóa tiêu dùng, cho rằng tiết kiệm, tiết giảm mua sắm chi tiêu là tiêu chí của một xã hội hiện đại thì ở xứ ta, nhiều kẻ hãnh tiến, lắm tiền lấy văn minh vật chất ra để thể hiện đẳng cấp. Cũng ở các nước văn minh, người dân kiên quyết nói không với hàng hóa, sản phẩm bóc lột mồ hôi, công sức lao động, xâm hại tài nguyên môi trường, thì ở ta nhiều kẻ chỉ muốn thỏa mãn nhu cầu ích kỷ riêng mình. Có gì đáng chơi, có gì sang trọng, đẳng cấp khi mà hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, bão tố bày ra mỗi ngày, tàn hại con người càng lúc càng gớm ghê, khốc liệt. (Báo Gia Lai 27/7) đầu trang(
Từ đầu năm 2016 đến nay, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, lập biên bản 306 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, chủ yếu là phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép từ các tỉnh Tây Nguyên đến Phú Yên.
Các cơ quan chức năng đã xử lý 276 vụ, trong đó xử lý hành chính 272 vụ, chuyển sang hình sự 6 vụ; tịch thu hơn 435m3 gỗ các loại, 15 cá thể và 2,5kg động vật rừng, 7 ô tô, 42 xe máy và 27 dụng cụ các loại, phạt tiền gần 657 triệu đồng, tang vật và phương tiện tịch thu từ xử lý vi phạm hơn 2 tỉ đồng. Trong các vụ vi phạm nêu trên có 26 vụ vi phạm phá rừng với diện tích thiệt hại hơn 131ha, trong đó hơn 77ha đất trống có cây gỗ tái sinh, gần 18,3ha rừng sản xuất, 34,7ha rừng phòng hộ và hơn 1,3ha rừng đặc dụng.
Nổi cộm nhất là vụ phá rừng tại xã Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân) gây thiệt hại 109,9ha, trong đó có 33ha đất có rừng (chức năng phòng hộ: 25ha, chức năng sản xuất: 8ha) và 76,9ha đất trống có cây gỗ tái sinh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã khởi tố vụ án phá rừng tại xã Phú Mỡ vào ngày 29/5 và đang điều tra xử lý theo quy định. (Báo Phú Yên 28/7) đầu trang(
Để bảo vệ hàng trăm nghìn héc-ta rừng đặc dụng quý giá, lực lượng kiểm lâm các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vẫn nỗ lực vượt qua khó khăn, tăng cường tuần tra kiểm soát…
Một ngày đầu tháng 5-2016, tôi có chuyến công tác đến VQG Yok Đôn và được Giám đốc Vườn Đỗ Quang Tùng dẫn đi thăm các trạm kiểm lâm đóng ở các khu vực “nhạy cảm” của vườn để tận mắt chứng kiến cuộc sống của những người giữ rừng ở đây. Mất gần 2 tiếng đồng hồ chúng tôi mới đến được chốt bảo vệ rừng thuộc Trạm Kiểm lâm số 1 nằm giáp ranh với huyện Cư Jút (Đắk Nông) điểm xa nhất của kiểm lâm vườn. Chốt có 5 kiểm lâm viên quản lý khu vực rừng rộng khoảng 3.000 ha.
Anh Phan Bá Hoàn, Trạm phó quản lý chốt ở đây chia sẻ, cuộc sống của anh em hết sức vất vả, bởi rừng nằm giáp ranh với nương rẫy của người dân huyện Cư Jút nên lâm tặc thường xuyên lợi dụng xâm nhập vào rừng để khai thác lâm sản. “Anh em kiểm lâm phải thay nhau đi tuần tra không kể ngày đêm, nhiều hôm phải mắc võng ngủ lại giữa rừng, sợ nhất là vào mùa khô, rừng khộp nóng như chảo rang, sông suối cũng cạn trơ đáy, thiếu nước sinh hoạt, còn buổi tối muỗi thì… như trấu”, anh Hoàn chia sẻ.
Chính nhờ tập trung lực lượng tăng cường công tác tuần tra, quản lý nên an ninh rừng ở đây đã có những chuyển biến đáng ghi nhận. Theo thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2016 lực lượng kiểm lâm của VQG Yok Đôn phối hợp với các lực lượng chức năng đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 204 vụ vi phạm lâm luật, giảm 123 vụ (38%) so với cùng kỳ năm 2015.
Tuy không có áp lực lớn về khai thác gỗ trộm như VQG Yok Đôn, nhưng VQG Chư Yang Sin có địa hình núi cao vực sâu hiểm trở nên việc tuần tra, bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm ở đây khá gian truân, vất vả. Đến giờ, đã hơn 1 năm trôi qua tôi vẫn nhớ như in chuyến đi tuần tra rừng dài ngày cùng các cán bộ kiểm lâm VQG Chư Yang Sin.
Để đến được đỉnh Chư Yang Nia – nơi phân bố của những cây pơ mu đại thụ, đoàn tuần tra phải mất 2 ngày đánh vật với những con dốc cao vời vợi, có những đoạn dốc dựng đứng, bước đi đầu gối chạm mũi, nhưng theo những kiểm lâm ở đây, khu vực này vẫn dễ đi, còn nhiều khu vực hiểm trở hơn nơi này rất nhiều, mà để đến được đó phải mất cả chục ngày. Ở Chư Yang Sin, mỗi chuyến tuần rừng ngắn nhất cũng 3-4 ngày, lâu hơn là 10 ngày.
Cuộc sống của kiểm lâm vườn ở rừng nhiều hơn nhà nên mọi người luôn coi đây là ngôi nhà chung cho lực lượng kiểm lâm, ban ngày đi tuần tra, tối căng bạt dựng trại ngủ lại giữa rừng. Anh Nguyễn Minh Đức nhân viên Trạm Kiểm lâm số 3, người có gần 20 năm gắn bó với rừng tâm sự: “Trước đây, nghe đi tuần là sợ đủ thứ: sợ những con dốc vắt kiệt sức, sợ sốt rét, nhưng ăn ở rừng, ngủ ở võng lâu dần thành thói quen, giờ chỉ cần nghỉ phép một thời gian đã thấy nhớ rừng rồi”.
Còn anh Nguyễn Viết Trường vẫn nhớ như in chuyến tuần tra vào năm 2009, khi anh tham gia đoàn truy quét lâm tặc từ xã Đắk Phơi (huyện Lắk) sang xã Yang Mao (huyện Krông Bông), dự kiến chuyến đi sẽ mất 8 ngày. Đến ngày thứ 4, anh Trường và một kiểm lâm khác không may bị lạc giữa rừng rậm, hai người cố gắng cắt rừng nhưng mãi vẫn không ra đường, càng đi càng mất phương hướng.
Khi đó trong thâm tâm anh nghĩ rằng nếu may mắn “thoát” được khỏi rừng thì chắc sẽ bỏ nghề, không dám bước chân vào rừng. May mắn sau hơn một ngày dò dẫm trong rừng anh đã tìm được lại đoàn, niềm vui vỡ òa trong nước mắt và ý định bỏ nghề cũng tan biến theo.
Còn tại Khu bảo tồn thiên nhiêu Ea Sô - nơi được mệnh danh là “xứ sở của bò tót”, mới đây bẫy ảnh lần đầu tiên ghi lại được hình ảnh đàn bò tót 4 con, trong đó có 1 con bò tót nhỏ đang nhởn nhơ ăn cỏ, uống nước tại khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của Khu bảo tồn. Thông tin này thực sự quý hơn vàng đối với những người giữ rừng nơi đây, nó là hình ảnh minh chứng cho những công sức thầm lặng mà họ đã phải bỏ ra để bảo rừng, bảo vệ môi trường sinh sống cho loài động vật đặc biệt quý hiếm này.
Bởi công tác quản lý, bảo vệ rừng ở đây cũng chẳng nhàn nhã gì khi thường xuyên phải đối mặt với nạn lâm tặc từ các tỉnh Phú Yên, Gia Lai xâm nhập khai thác lâm sản, săn bắn động vật rừng. Để đối phó với tình trạng này, Khu bảo tồn đã phải lập các chốt chặn ở những “cửa ngõ” vào rừng, cắt cử người túc trực ngày đêm và phải chịu thiếu thốn đủ bề khi không có sóng điện thoại; nước sinh hoạt cũng phải gùi từ bờ sông cách đó hơn 2 tiếng đi bộ; thức ăn chủ yếu là cá khô và rau rừng...
Như vậy mới thấy, để giữ gìn được những cánh rừng đặc dụng quý giá, lực lượng kiểm lâm luôn đối mặt với những mối nguy hiểm không chỉ từ thiên nhiên mà có khi từ chính con người, và chỉ có lòng yêu nghề mới giữ họ ở lại rừng…  (Báo Đắk Lắk 27/7) đầu trang(
“Chúng ta có thể làm được không, có cứu rừng được không? Nếu quyết tâm làm, ta làm được, và cần 100 năm”, nhà văn Nguyên Ngọc quả quyết.
Là một người có nhiều gắn bó với rừng Tây Nguyên, nhà văn Nguyên Ngọc kể, “tôi có một người bạn thân, dân tộc Cơtu, tên là Priu Pram. Như một nhà hiền triết, sau khi nghỉ hưu, anh ấy về quê sống một mình, bám lấy rừng kiền kiền nổi tiếng ở quê anh, và từng ngày lội rừng, tích cóp từng hạt kiền kiền bé tý, được mấy bao đầy. Trước khi chết, anh giao mấy bao hạt kiền kiền đó cho tỉnh, như một lời trăng trối với trách nhiệm giữ rừng.
Nhớ lại hôm tôi đến thăm, anh Priu Pram đã cho tôi xem mấy hạt kiền kiền ấy. Đó là loại cây cao lớn, vạm vỡ, mấy người ôm cũng không giáp được vòng tay. Nhưng hạt của nó thì bé tý, chỉ như hạt vừng.
Bây giờ, rừng kiền kiền từng lừng danh ở quê hương anh Priu Pram đã bị quét sạch bong. Hỏi lại, mấy bao hạt giống đã được anh Priu Pram gom góp và gửi lại như một di chúc, người ta bảo bỏ đâu đó rồi quên rồi, và cũng mất hẳn rồi.
Trồng lại rừng cho Tây Nguyên vừa là chuyện ở tầm vĩ mô, lại vừa như tâm nguyện của anh bạn Cơtu luôn chắt chiu, kiên trì, tỉ mỉ và đầy thương yêu”.
Tại hội thảo An ninh nguồn nước phục vụ phát triển Kinh tế - Xã hội vùng Tây Nguyên vừa tổ chức tại Pleiku cuối tuần trước, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá Tây Nguyên trứ danh Nguyên Ngọc đã viết: “Rừng ở Tây Nguyên nghĩa là Nước. Vai trò quan trọng nhất, vai trò chủ yếu, quyết định của rừng, ở nơi nào cũng vậy, càng đặc biệt ở Tây Nguyên, là để giữ nước. Để mưa ào xuống không biến ngay thành lũ tàn phá mà được giữ lại đấy, tằn tiện từng giọt, cho chính Tây Nguyên và cho tất cả các vùng xung quanh. Cho cả một mảng rộng lớn Nam Đông Dương. Đơn giản vì Tây Nguyên ở trên cao. Tây Nguyên là cái tháp nước cho cả vùng rộng lớn này. Phá rừng Tây Nguyên là ta triệt phá cái tháp nước sinh tử ấy”.
Những trăn trở này của ông cũng là trăn trở của người dân Tây Nguyên, những người sống có trách nhiệm ở khắp nơi trên hành tinh này.
Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, từ năm 2008 – 2014, độ rừng che phủ của Tây Nguyên đã mất hơn 358.000ha, tương đương mỗi năm mất đi 51.2000ha rừng tự nhiên. Chính việc xây thuỷ điện ồ ạt trên sông Sesan và sông Sêrêpok - hai trong những dòng sông chính ở Tây Nguyên, đã tác động mạnh mẽ và thiếu bền vững tới hệ sinh thái tự nhiên.
Theo Thiếu tướng Trần Đình Thu, Uỷ viên chuyên trách, Ban chỉ đạo Tây Nguyên, sản xuất và mở rộng đất nông nghiệp, thuỷ điện… đều quá lớn dẫn đến phá vỡ quy hoạch rừng. Việc mất cân đối nguồn nước nghiêm trọng đã để lại hệ lụy cực kỳ nghiêm trọng không chỉ nội vùng Tây Nguyên, mà còn cho vùng hạ lưu rộng lớn phía nam.
Gợi nhắc của tướng Thu khiến nhiều người nhớ lại hồi cuối năm 2015 và 2016 vừa qua. Dịp đó Việt Nam trải qua đợt hạn mặn lớn nhất trong lịch sử 100 năm. Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên là những vùng chịu ảnh hưởng vô cùng nặng nề.
Tại hội thảo lần này, giới nghiên cứu lại gợi mở thêm nhiều giải pháp cho việc không thể chần trừ đó là cứu rừng. Ai cũng thấy, phải kiểm soát chặt các dự án thủy điện, phải dừng hết các dự án chưa triển khai; phải quản lý điều hoà nguồn nước…
Bằng những trải nghiệm qua nhiều năm tháng, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng tất cả những biện pháp kỹ thuật đó đều đúng, nhưng vẫn chưa đủ để có thể cứu rừng.
Ông bảo, “điều cốt tử bây giờ là phải trả lại cơ chế tự nhiên”. Ông kể cách làm của người Ấn Độ, lưu giữ lại các loại hạt giống của các loại cây tự nhiên. Sau đó đi máy bay rải xuống những khu rừng đã bị phá. Những giống đó sẽ phát triển theo cơ chế tự nhiên.
“Chúng ta có thể làm được không, có cứu được rừng không?”, Nhà văn hỏi đầy trăn trở.
Tại Hội nghị tìm các giải pháp khôi phục rừng Tây Nguyên tổ chức tại Đăk Lăk hôm 20/6. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo với quyết tâm chính trị rất cao về việc đóng cửa rừng tự nhiên và không cho chuyển đổi đất rừng nghèo sang đất nông nghiệp.
Sáng 21/6 một lần nữa ông nhắc lại chỉ đạo này tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk. Giờ chờ xem, các cấp triển khai rốt ráo thế nào. (Vietnamnet/ Xây Dựng 28/7) đầu trang(
“Từ khi có cưa xăng, nạn phá rừng tại địa phương rất khó kiểm soát. Chỉ cần một buổi sáng là cả vạt rừng trống trơn. Vì vậy, xã đã thuyết phục bà con đem cưa xăng “nhốt” ở UBND xã” - ông Hoàng Văn Mấm-Chủ tịch UBND xã Lũng Hồ (Yên Minh, Hà Giang) nói.
Lũng Hồ là một trong những xã có diện tích rừng lớn, trên 900ha với nhiều loại cây gỗ quý. Đầu năm 2016 tới nay, xã thống kê được trên địa bàn có gần 60 cưa xăng. Mỗi cưa xăng giá từ 3 – 3,5 triệu đồng nên gia đình nào cũng có thể mua được.
Chủ tịch xã Hoàng Văn Mấm trăn trở: “Người dân ở đây chủ yếu là đồng bào Mông, bà con cần rất nhiều gỗ để dựng nhà, lấy củi đốt, làm các vật dụng sinh hoạt, trong khi đó rừng lại ở gần khu dân cư. Ngày xưa chưa có cưa xăng, việc chặt cây, phá rừng còn khó. Giờ có cưa xăng rồi, gỗ cứng tới đâu cũng chịu thua. Địa bàn rộng lớn, nhiều khi dân cưa xong rồi lực lượng chức năng mới hay”.
Trước thực trạng trên, chính quyền xã và lực lượng kiểm lâm đã vận động nhân dân mang cưa xăng tới trụ sở uỷ ban để quản lý. “Mới đầu dân không nghe. Họ bảo cưa của nhà tôi mua, sao phải đem gửi ở Ủy ban? Mỗi lần muốn sử dụng lại phải xin phép. Rồi muốn lấy cưa bán cho hộ khác thì làm thế nào? Băn khoăn của bà con rất nhiều nhưng chúng tôi vẫn kiên trì vận động, thuyết phục. Thế mà thành công đấy” – ông Mâm cho hay.
Địa bàn xã Lũng Hồ khá rộng lớn với 23 thôn, bản nên công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân gặp nhiều khó khăn. Các cán bộ xã, lực lượng kiểm lâm phải phối hợp với trưởng thôn, bản đến từng nhà vận động bà con “nhốt” cưa xăng.
Ông Thào Mí Mua - Trưởng thôn Làng Quá chia sẻ: “Tôi cùng cán bộ xã đến từng nhà, giảng giải cho người dân hiểu là quản lý cưa xăng giúp giữ rừng như thế nào. Nhà mình không phá rừng nhưng nhà khác họ lại phá, không quản lý được. Có giữ được rừng mới giữ được nguồn nước cho bà con sinh hoạt. Nói nhiều bà con cũng hiểu ra. Người Mông mình một khi đã thông rồi, ai cũng chấp hành nghiêm túc. Nhà nào có cưa xăng đều đã mang lên xã quản lý”.
Từ 1 thôn, dần dần 23 thôn của xã Lũng Hồ đều đồng tâm thực hiện. Đến nay, 56 chiếc cưa xăng đều được tập trung ở xã. Cưa xăng của ai đều có dán giấy ghi đầy đủ họ tên chủ cưa, địa chỉ.
“Ai dùng cưa phải đăng ký số. Lực lượng dân quân và công an xã đảm nhiệm trông coi, kể cả vào ngày nghỉ để bà con cần lúc nào sẽ được lấy cưa xăng lúc đấy. Xã cũng bố trí phòng giữ cưa đảm bảo an toàn, chống cháy nổ. Đồng thời có quy định nếu các chủ cưa muốn dùng cưa, vì mục đích gì, trong thời gian bao lâu, cần viết đơn trình bày, xã sẽ xét duyệt, đúng hẹn được mang về sử dụng, hết hạn đem về giao nộp lại nếu không sẽ bị xử lý. Nhờ sự linh hoạt này mà đến nay sau 3 tháng triển khai thực hiện, việc quản lý cưa xăng trên địa bàn xã không gặp phải sự khiếu kiện, khúc mắc nào từ người dân” – ông Mấm cho hay. (Dân Việt 28/7) đầu trang(
Chiều ngày 27/7, Thiếu tá Mai Thanh Tâm, Phó trưởng Công an huyện Đại Lộc, Quảng Nam cho biết: Cơ quan điều tra đã có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Châu Công Minh (27 tuổi, trú tại thôn Vĩnh Phước, xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc) về hành vi chống người thi hành công vụ.
Trước đó, NNVN đã thông tin, vào lúc 4 giờ 30 ngày 12/7, một đối tượng dùng xe máy không gắn BKS, chở một hộp gỗ đinh khét (nhóm II) có khối lượng 0,23m3 qua Trạm Kiểm lâm Đại Hồng.
Phát hiện sự việc, tổ công tác đã tiến hành kéo cổng kiểm soát, thực hiện thủ tục kiểm tra. Tuy nhiên đối tượng không chấp hành, bỏ xe và gỗ ngoài đường nên tổ công tác đã đưa phương tiện và tang vật vi phạm vào trạm.
Dù được lực lượng chức năng mời vào trụ sở làm việc, song đối tượng đã bỏ đi. Đến khoảng 6 giờ 30 cùng ngày, đối tượng này sử dụng xem máy mang biển BKS: 92F4-6735 cầm trên tay một con dao quay lại trạm. Đối tượng xông thẳng vào chốt gác chửi bới và vung dao chém vào lực lượng đang trực khiến kiểm lâm viên Nguyễn Thà bị rách vết dài 10cm trên mặt. Sau đó đối tượng này bỏ đi, còn kiểm lâm viên Thà bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. (Nông Nghiệp Việt Nam 28/7) đầu trang(
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái quý hiếm và quan trọng giúp bảo vệ bờ biển và giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu, nhưng sự tồn tại của chúng đang bị nguy hại, UNESCO cho biết, kêu gọi những nỗ lực lớn hơn nữa trong việc bảo tồn, nhân dịp đánh dấu ngày Quốc tế Bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn lần đầu tiên.
“Rừng ngập mặn là hệ sinh thái quý hiếm, tuyệt đẹp và phong phú trên ranh giới giữa đất và biển. Chúng đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng địa phương, cung cấp sinh khối, lâm sản và giúp duy trì nghề cá. Chúng đóng góp vào việc bảo vệ bờ biển, đồng thời cũng giúp giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu và các sự kiện thời tiết cực đoan”, Giám đốc UNESCO Irina Bokova nhấn mạnh.
Tuy nhiên, rừng ngập mặn đang dần biến mất nhanh gấp từ 3 đến 5 lần so với thiệt hại diện tích rừng tổng thể toàn cầu, với những tác động sinh thái và kinh tế-xã hội nghiêm trọng. (Báo Thừa Thiên – Huế 27/7) đầu trang(
Mới đây, tại Hà Nội, Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) đã tổ chức họp báo về việc gây nuôi thương mại và buôn bán động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam.
Theo ENV, hiện nay, với mức sống ngày một tăng cao của người dân ở các khu đô thị lớn, nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã (ĐVHD) cũng tăng nhanh. Nhiều chính sách một mặt khuyến khích hoạt động gây nuôi thương mại và buôn bán các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm, mặt khác nỗ lực bảo vệ chính các loài này trong tự nhiên.
Những ý kiến ủng chính sách này cho rằng, việc này không những thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn giảm áp lực săn bắt và khai thác các loài trong tự nhiên, giúp duy trì nguồn gen nhằm mục đích bảo tồn. Nhiều chủ cơ sở gây nuôi các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm như hổ và gấu còn tự nhận rằng họ đang gây nuôi ĐVHD vì mục tiêu “bảo tồn”.
Tuy nhiên, ENV lại khẳng định, gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý hiếm sẽ đẩy các loài này tới bờ vực tuyệt chủng, đồng thời gây suy thoái đa dạng sinh học tại Việt Nam.
Kết quả điều tra của ENV trong vòng 2 năm, tại 26 trang trại gây nuôi thương mại ĐVHD cho thấy, 100% cơ sở gây nuôi được khảo sát có các dấu hiệu về việc nhập lậu ĐVHD từ tự nhiên; 55% chủ cơ sở cho biết cơ sở của mình nhập lậu ĐVHD; 100% chủ cơ sở cho biết cơ sở của mình mua, bán ĐVHD không có giấy phép vận chuyển…
Bên cạnh đó, vấn nạn buôn bán cũng đang khiến ĐVHD trên con đường dẫn đến tuyệt chủng. Theo ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng trị, 5 năm qua, đã bắt giữ 47 vụ vi phạm, tịch thu hơn 5 tấn ĐVHD. Trong đó, có 638,7kg động vật quý, hiếm và 458kg sản phẩm từ ĐVHD. Hầu hết các vụ việc kể trên sau đó đều bị xử lý cả phạt tiền và phạt tù… Nhiều cơ sở gây nuôi có dấu hiệu nhập lậu ĐVHD thường che giấu rất kỹ, gây khó khăn cho cán bộ kiểm lâm khi tiến hành kiểm tra.
Ông Trung kiến nghị, trong khi việc quản lý chưa đảm bảo thì không nên cấp phép cho các cơ sở gây nuôi các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam. (Nông Nghiệp Việt Nam 28/7) đầu trang(
Lợi dụng việc cấp phép gây nuôi động vật hoang dã (ĐVHD), nhiều trang trại đã hợp pháp hóa các cá thể ĐVHD quý hiếm để trốn tránh cơ quan chức năng.
Nhiều ý kiến cho rằng, phần lớn việc gây nuôi ĐVHD quý hiếm nhằm mục đích thương mại chứ không có mục đích bảo tồn, trừ các vườn thú, trung tâm cứu hộ, nghiên cứu.
Thời gian gần đây, dư luận xôn xao về việc một số địa phương đã cấp phép cho các trang trại gây nuôi ĐVHD quý hiếm như hổ, tê tê, rùa. Trong khi đó, Việt Nam chưa từng ghi nhận, tê tê, rùa sinh đẻ con ở các trang trại nuôi nhốt. Đáng nói, sự kiện UBND tỉnh Nghệ An cấp phép cho 1 cá nhân có liên quan tới đối tượng đã có 2 tiền án về hành vi buôn bán, vận chuyển hổ trái phép được gây nuôi hổ khiến dư luận rất bức xúc.
Cụ thể, vào tháng 4 vừa qua, bà Nguyễn Thị Liên, vợ ông Phạm Văn Tuấn (đối tượng từng có 2 tiền án liên quan đến buôn bán, vận chuyển hổ) đã được UBND Nghệ An cấp phép gây nuôi hổ để phục vụ hoạt động du lịch sinh thái. Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) bức xúc: “ENV cho rằng, việc cấp phép gây nuôi hổ và các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm cho người nhà đối tượng đã có 2 tiền án tội phạm liên quan đến động vật hoang dã là một việc làm hết sức vô lý của các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An”.
Mới đây nhất, một số trang trại ở Tây Ninh đã được Chi cục Kiểm lâm tỉnh này cấp phép gây nuôi tê tê Java và tê tê vàng. “Việc làm vì mục đích thương mại này trái với quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm”, bà Bùi Thị Hà nhận định.
Theo đó, Nghị định 82/2006/NĐ-CP nêu rõ, một trong các điều kiện tiên quyết để đăng ký thành lập trang trại nuôi sinh sản, sinh trưởng động vật hoang dã quý hiếm là phải được 4 cơ quan khoa học thuộc CITES Việt Nam (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) xác nhận bằng văn bản là có khả năng sinh sản liên tiếp qua nhiều thế hệ trong môi trường có kiểm soát và việc nuôi sinh trưởng không ảnh hưởng tới bảo tồn loài đó trong tự nhiên.
Tê tê Java và tê tê vàng nằm trong danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ nên các hành vi đầu tư kinh doanh mẫu vật loài này từ tự nhiên đều bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cho rằng, theo quy định, kiểm lâm là cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký các trại nuôi sinh sản, sinh trưởng loài thuộc phụ lục II, III của Công ước CITES. Trình tự thủ tục cấp giấy không quy định phải xin ý kiến bằng văn bản đối với cơ quan khoa học thuộc CITES.
Kết quả điều tra khá công phu của nhóm cán bộ và cộng tác viên của ENV trong 2 năm qua tại 26 trang trại gây nuôi ĐVHD cho thấy, 100% trang trại có dấu hiệu “rửa” nguồn gốc ĐVHD để hợp pháp cho việc buôn bán, vận chuyển. Đáng nói, 90% trong số trang trại được điều tra có hiện tượng mua bán giấy tờ vận chuyển ĐVHD “khống” hoặc  tái sử dụng nhiều lần.
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị nhìn nhận, tình trạng buôn bán ĐVHD trái phép vẫn diễn biến hết sức phức tạp vì nhu cầu cao. Trong 5 năm qua, tỉnh Quảng Trị đã bắt giữ 47 vụ vi phạm, tịch thu hơn 5.000kg ĐVHD, trong đó có hơn 600kg ĐVHD quý hiếm. Nhiều đối tượng đã bị xử lý nghiêm, như phạt tiền ở mức cao nhất 150 triệu đồng/vụ, tịch thu tang vật thả về môi trường tự nhiên hoặc phạt tù hưởng án treo…
“Mức xử phạt với hành vi buôn bán, vận chuyển ĐVHD quý hiếm vẫn nhẹ mặc dù đã có xử lý hình sự nhưng cao nhất cũng chỉ là án treo nên không đủ sức  giáo dục, răn đe. Một số hành vi buôn bán các sản phẩm quý hiếm như sừng tê giác, ngà voi nhưng không có khung định giá nên không thể xử lý”, ông Khổng Trung bày tỏ.
Do đó, ông Khổng Trung cho rằng, trong khi chưa quản lý tốt cơ sở gây nuôi cũng như việc nỗ lực bảo vệ rừng còn chưa đảm bảo thì chưa nên cho phép gây nuôi loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm vì hoạt động này sẽ gây ảnh hưởng tiêu  cực đến quần thể tự nhiên của các loài này.
Đồng tình, TS Lê Xuân Cảnh, nguyên Viện trưởng Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng cho rằng, tê tê là loài khó thích nghi với môi trường phi tự nhiên. “Việc gây nuôi ĐVHD không thấy được mục tiêu bảo tồn. Việc gây nuôi thương mại một số loài thông thường có thể chấp nhận được nhưng với các loài nguy cấp quý hiếm thì phải nghiêm cấm, đặc biệt với những loài có khả năng đối mặt  với nguy cơ tuyệt chủng cao”, TS. Lê Xuân Cảnh nói. (An Ninh Thủ Đô 28/7) đầu trang(
Về thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, chúng tôi như nhìn thấy một phép màu của cổ tích trong nhiều trang trại. Ví dụ trang trại Trung Dũng ở gần cầu An Bình.
Cửa vào hoen gỉ, với chữ Trung Quốc và chữ Việt Nam lở lói. Ông Dũng chủ trang trại oang oang qua điện thoại rằng đang xuất hàng ở Móng Cái để mang sang Trung Quốc. Ông mang rùa, rắn hoang dã từ Campuchia về “lội” qua trang trại của mình rồi đem ra Móng Cái, Quảng Ninh (để đi Trung Quốc) đều đặn mỗi tuần.
Con rể ông mở cửa. Tất cả hoang tàn, vắng lặng, vài cọng rau muống rều rác tồn đọng tự bao giờ, tuy nhiên, hàng được “xuất bán” từ trang trại với đầy đủ giấy tờ tươi mới thì cứ ùn ùn vượt gần 2.000 cây số sang Trung Quốc.
Tại sao ông Dũng có được cả một “vườn thú” đông đàn dài lũ để xuất - bán hợp pháp trong khi “cái nôi” được cấp phép làm trang trại của ông ta bị bỏ hoang như vậy? “Đồng nghiệp” của ông cho biết, ông từng phát tờ rơi khắp nơi, để quảng bá cho việc thu gom rùa rắn mà bà con bắt được ngoài tự nhiên về. Còn ông cứ thẳng toẹt, việc đem hàng lậu từ Campuachia về “hợp thức hóa” rồi đem sang Trung Quốc của ông, công an biết, kiểm lâm biết, cán bộ biết cả!
Lại nhớ, khi ở Củ Chi, vào thăm trang trại nhà ông Ba H, ông này giới thiệu từng cấp rắn rùa cho Phương Linh H (ông trùm danh tiếng một thời ở lĩnh vực này) với đường dây đen xuyên quốc gia như một sự “tự hào”. Hơn 20 năm qua, ông đã cung cấp không biết bao nhiêu động vật hoang dã và động vật nhân nuôi “bí mật” cho các đầu mối khắp cả nước và Trung Quốc. Thế nhưng, khi chúng tôi đến thăm, quả là choáng. Bởi ông nuôi rùa trong những cái ao bé xíu, rùa chết trơ xương, mục mai, nằm cạnh rùa sống, nó phản khoa học đến mức lạ kỳ.
Lại nhớ lời phàn nàn của lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm TPHCM, rằng bà con làm trang trại rất “tiểu nông”, manh mún, thiếu khoa học, không được tập huấn hiệu quả, họ cứ mày mò và tìm đường đi qua rất nhiều thất bại. Chuồng trại và sổ sách họ không quan tâm, nên việc quản lý của cơ quan chức năng rất khó.
Còn bây giờ, ở Cao Lãnh, ông Dũng, chủ trang trại Trung Dũng rao trên mạng là cung cấp được tới 19 loại động vật, hầu hết hoang dã từ Miên (Campuchia) về, bán trong nước và xuất ra nước ngoài. Khi chúng tôi vào Đồng Tháp điều tra, đến nhiều vựa thu mua rắn, rùa, ba ba treo biển dọc đường để tìm hiểu, thì chị Nguyện “rắn” buông rắn buông rùa đang thu gom ra, thở dài: “Các chú đặt hàng nhiều, chị chán lắm, nhốt nhiều rắn trong nhà chị sợ, ông xã cũng sợ nốt”.
Đúng là người miền Tây sông nước dềnh dang rất hồn nhiên. Con rể ông Dũng, tên là Tr, số ĐT 09472200... ra tận khu trại tạm giam công an tỉnh đón chúng tôi vào thăm trang trại. Khi chúng tôi tố cáo các đường dây tuồn động vật hoang dã rồi động vật không rõ nguồn gốc bị thẩm lậu qua biên giới vào trang trại để tiếp tục hợp thức hóa bán buôn, ông Thành - Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm Đồng Tháp (lúc đó) - đã tìm cách phân trần “nói khó”.
Và thông tin đến tai ông Dũng, ông đã nhắn tin cho chúng tôi, xin được “đính chính” vừa da diết lại vừa có ý hăm dọa, là những gì ông và con rể tiết lộ khi chúng tôi vào điều tra là “không đúng”, nhất là việc tuồn hàng từ Miên vào trang trại rồi bán sang Trung Quốc. Hồn nhiên đến thế là cùng.
19 loài động vật, hầu hết có nguồn gốc ngoài tự nhiên, cũng như từ các hộ nuôi nhốt nhỏ lẻ không có giấy phép hoặc từ Campuchia chuyển về, đều được ông Dũng “núp bóng” trang trại của mình rồi xuất bán đi các nơi, dưới danh nghĩa “hàng có nguồn gốc” từ trang trại Trung Dũng. Và vài chi tiết trong số đã kể ở trên, khi đối thoại với chúng tôi, ông Thành - Phó Chi Cục trưởng Kiểm lâm Đồng Tháp cũng thừa nhận.
Ông biết rõ chuyện “nhà” ông Dũng từng bị bắt hàng động vật hoang dã vì đem đi tiêu thụ mà thiếu đủ loại giấy tờ. Ông thu mua của các hộ nhỏ lẻ, hầu hết là bắt từ ngoài tự nhiên về đem bán. Họ không có “lá bùa” để vận chuyển, tiêu thụ, bởi vậy, ông Dũng đã dùng “hình thức trang trại” của mình để thu gom, “lướt ván” hàng và thu lãi khủng. Cái quan trọng là ông hợp thức hóa được những hàng bị cấm kia.
“Hàng của tôi toàn hàng hoang dã, nếu các anh mua thì lấy “giấy” từ trang trại của tôi luôn. Ở trang trại bây giờ chỉ còn lại vài con rùa, rắn làm giống thôi, nó chỉ là hình thức (để ngụy trang) thôi”, ông Dũng thẳng thắn thừa nhận.
Trước tình trạng này, ông Thành - Phó Chi Cục trưởng Kiểm lâm Đồng Tháp cho biết: “Tỉnh có 553 cơ sở đăng ký gây nuôi động vật hoang dã, gần đây có nhiều khó khăn, bà con đã tự ngừng 181 cơ sở rồi. Nay chỉ còn 377. Không có chuyện kiểm lâm tỉnh xác nhận cho nhiều hàng rùa, rắn đi ra khỏi trang trại trong thời gian vừa qua. Khi các trang trại nhập về, chúng tôi xuống kiểm tra, thống kê, lúc xuất bán cũng kiểm tra, cho vào sổ theo dõi đàng hoàng. Trừ số lượng nhỏ hàng lậu từ Campuchia về đây, tuyến biên giới lực lượng chức năng quản lý rất chặt...”.
Trước những tài liệu chúng tôi đưa ra, ông Thành đã thừa nhận: “Trại anh Dũng vừa gây nuôi vừa thu mua ở những cơ sở khác về bán. Rắn, rùa khắp ĐBSCL nhiều con sinh sản tốt, nuôi mau lớn. Dân nuôi dăm bảy chục con, họ không đăng ký. Cứ nuôi theo phong trào. Thì ông Dũng này thu mua về. Chúng tôi không cấp giấy cho việc nuôi và xuất bán những con này, đang kiểm tra hộ dân nào nuôi dưới 10 con thì thôi, vài chục con thì phải đăng ký. Ông Dũng chỉ còn vài con rùa, rắn ở trang trại và tỉnh có cấp giấy cho ông Dũng mang động vật đó ra bán ngoài Quảng Ninh”.
Ông Thành cũng phủ nhận việc dân bắt rùa, rắn treo biển bán cả vựa trên địa bàn, khi chúng tôi “thò” tư liệu ra, thì ông công nhận việc đó là sai, nếu gặp kiểm lâm... sẽ xử lý. Quả là ông Thành cũng “hồn nhiên”.
Đại diện Kiểm lâm Đồng Tháp nhấn mạnh trong cuộc làm việc với chúng tôi, rằng: Muốn quản lý chặt được việc gây nuôi trong các trang trại, tránh cho trang trại trở thành “lá bài” hủy diệt động vật ngoài tự nhiên, thì cơ quan chức năng cần kiểm tra chặt việc gây nuôi. Tránh việc “bí mật” tuồn hàng từ ngoài tự nhiên vào để có giấy phép đem bán. Tuy nhiên, khi chúng tôi hóa trang thành chủ trang trại muốn mua hàng rùa, rắn... xuất sang Trung Quốc, thì đại diện trang trại Trung Dũng và nhiều chủ khác đều tiết lộ những điều khủng khiếp khác hẳn.
Băng ghi âm và video của chúng tôi khi được trang trại Trung Dũng mở cửa đón tiếp ghi rõ lời của gia chủ: “Rùa nhà tôi còn, còn nhiều lắm, bây giờ là mùa rùa mà. Đa số rùa là ở Campuchia đưa về. Vừa rồi đi Móng Cái, hàng nhà tôi đưa đi đa số là rắn, 4-5 chục tấn luôn. Qua bển mua bán với Trung Quốc không à. Gia đình tôi chuyên về rắn nhiều hơn rùa. Chạy làm giấy tờ thì cũng phải chung tiền (lót tay, hối lộ). Rùa có nhiều loại, “làm giấy” cứ 10.000 đồng/kg.
Ở đây dân làm giấy nó vậy, ở Tây Ninh hay ở đâu cũng thế, rắn thì cứ 8.000 đồng/kg. Toàn bộ hàng là từ Campuchia về hết, ở đây toàn là rùa đất lớn, rùa núi vàng. Rùa sa nhân cũng có nhưng mà ít. Nếu anh làm ở đây thì không phải lo về giấy tờ, những loại đó ở đây làm được hết. Ví dụ, 1 tuần anh đi 1 tấn, tôi làm giấy ở trại này là bao nhiêu kilôgam, rồi tôi sẽ nhờ trại khác làm giấy cho anh là 500kg nữa. Bên tôi sẽ chịu trách nhiệm giấy tờ cho các anh. Riêng với con khỉ thì anh phải làm giấy hết 700.000 - 800.000 đồng/con, còn chồn thì có 100.000 đồng/con. Nói chung về mặt giấy tờ không phải lo”.
Con rể ông Dũng ngồi trên ao nhốt rùa, rắn, nhấn mạnh: “Giấy cấp cho các anh, nó không nói là buôn bán, mà nói là chuyển từ trang trại này sang trang trại khác. Từ cửa khẩu sang bên kia chỉ toàn là đi lậu không à. Trừ những loại như cầy hôi, cọp thì các loài rùa, rắn nếu từ Campuchia thì đều bắt ở ngoài tự nhiên hết. Hàng từ Campuchia về Đồng Tháp thì không có giấy tờ nhưng từ Đồng Tháp đi Móng Cái (để sang Trung Quốc) thì lại có giấy tờ. Bây giờ cũng nhiều người đi Lạng Sơn, Lào Cai. Từ đây ra Móng Cái cũng phải 2- 3 trạm mỗi trạm lại vài triệu. Tóm lại, thí dụ kiểm lâm tới kiểm tra thì cũng như bình thường thôi, cũng phải chung tiền”... (Lao Động 27/7) đầu trang(
Ngày 27-7, Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Bình cho biết qua khảo sát của Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt Nam và Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, tại khu vực rừng Động Châu – Khe nước Trong (xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình), các chuyên gia đã phát hiện một số loài linh trưởng quý hiếm đang sinh sống.
58 đàn vượn đen má trắng siki này sinh sống tại 7 tiểu khu. Trong đó có 2 đàn vượn đen má trắng siki ngoài ranh giới khu vực điều tra (tại các tiểu khu 532, 539).
Khu vực rừng Động Châu - Khe nước Trong của huyện Lệ Thủy được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất với tỉnh Quảng Bình quy hoạch thành Khu bảo tồn thiên nhiên trong tương lai đến năm 2020, có diện tích khoảng 20.000 ha. Tổ chức bảo tồn quốc tế xác định đây là vùng đa dạng sinh học trọng điểm trong hành lang đa dạng sinh học nối giữa Việt Nam và Lào.
Ngoài ra, các nhà khoa học còn khảo sát nhiều khu rừng dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh (đoạn nhánh Tây từ cầu Khỉ đến Cổng Trời) và phát hiện thêm 9 đàn chà vá chân nâu với số lượng từ 98-108 con.
Các chuyên gia nhận định rừng Động Châu - Khe nước Trong là khu vực có số lượng đàn và cá thể vượn đen má trắng siki nhiều nhất so với các khu vực khác trong vùng Bắc Trung Bộ.
Vượn đen má trắng siki có tên khoa học Nomascus leucogenys siki, thuộc nhóm IB (động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm). Loài này chủ yếu sinh sống ở các khu rừng Lào giáp miền Việt Nam và khu vực rừng Bắc Trung Bộ. Hiện, các nhà khoa học vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ về số lượng đang sinh sống ở môi trường tự nhiên ở Việt Nam.
Trong chiều 27-7, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cho biết vừa tiếp nhận 1 con khỉ đuôi lợn quý hiếm từ ông Phạm Đức Minh (trú thôn 9, xã Nghĩa Ninh, TP Đồng Hới) để chăm sóc, cứu hộ.
Theo ông Minh, con khỉ đuôi lợn này được một người bạn ở huyện Minh Hóa tặng cho ông để nuôi làm cảnh vào năm 2003 khi còn rất nhỏ. Sau 13 năm chăm sóc, ông thấy cần phải được bảo tồn vì loài khỉ này là loại động vật nguy cấp nên ông đã làm “Bản tự nguyện giao nộp động vật hoang dã” cho Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Tại thời điểm tiếp nhận, con khỉ đuôi lợn nặng 4,5 kg và có biểu hiện mất tập tính hoang dã vốn có của nó. Khỉ đuôi lợn có tên khoa học là Macaca leonina, là loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB. (Người Lao Động 27/7) đầu trang(
Vào khoảng 12h40 ngày 27/7, tài khoản Facebook có tên Kubin Remix đã tung lên trang cá nhân hình ảnh khoe "chiến tích" của 1 tuần đi săn là nhiều cá thể khỉ bị giết hại dã man. Theo thông tin trên trang cá nhân, nam thanh niên trên đến từ huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi ảnh được đăng lên mạng xã hội, bạn bè của nam thanh niên này đã vào hỏi thông tin về các cá thể khỉ. "Kubin Remix" đã comment cho biết 3 cá thể khỉ được săn ở quê vợ bằng súng và mỗi cá thể khỉ nặng khoảng 15kg.
Quan sát hình ảnh nam thanh niên đưa lên, thấy 3 cá thể khỉ đã trưởng thành, bị giết chết với những vết máu vẫn dính trên cổ. Xác khỉ được đựng trong túi nilon.
Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) lên án hành động giết khỉ đăng lên mạng xã hội. Bà Hà cho rằng, đây là hành động man rợ, gây tổn hại đến thiên nhiên, môi trường sinh thái.
“Khỉ thuộc nhóm 2B, Nghị định 32 của Chính Phủ, nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Do vậy, mọi hành động săn bắt giết hại khỉ đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý”, bà Hà nói.
Theo bà Hà, đơn vị sẽ gửi những hình ảnh này tới cơ quan chức năng của địa phương yêu cầu làm rõ thông tin giết hại khỉ và xử lý nghiêm người giết khỉ.
Khỉ là loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB – nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về Danh mục động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Cũng theo quy định này, mọi hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt trái phép khỉ đều bị nghiêm cấm. Các đối tượng vi phạm có thể bị xử phạt hành chính ở mức cao nhất lên đến 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức.
Mới đây, vi phạm liên quan đến động vật hoang dã loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB cũng đã được đưa vào quy định của Bộ luật Hình sự sửa đổi (có hiệu lực từ ngày 1/7/2016). Theo đó, vi phạm liên quan đến các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB như khỉ với số lượng lớn có thể bị xử lý hình sự lên đến 12 năm tù. (Dân Việt 27/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Liên quan đến khu nghỉ dưỡng Le Mont Bavi Resort & Spa xây không phép tại Vườn quốc gia (VQG) Ba Vì (Báo Lao Động đã có loạt bài phản ánh), chiều 27.7, ông Cao Chí Công - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp - trong cuộc trao đổi với PV cho hay, đã có kết luận của vụ việc này, nhưng chưa thể công bố.
Lý do được ông Công đưa ra là “đang xin ý kiến”. “Hiện dự thảo đang gửi Ban cán sự Đảng (Bộ NNPTNT) xin ý kiến. Lúc nào xong ý kiến Ban cán sự thì mình thông báo” - vị Phó Tổng cục trưởng nói.
Như bạn đọc đã biết, ngày 29.2, Báo Lao Động là cơ quan báo chí đầu tiên đăng tải loạt bài: “Ngang nhiên xây resort không phép giữa vườn quốc gia” phản ánh việc công trình có tên Le Mont Bavi Resort & Spa do Cty TNHH phát triển công nghệ (CFTD) làm chủ đầu tư, tọa lạc ở độ cao 600m (cốt 600) giữa VQG Ba Vì (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội) làm khu nghỉ dưỡng 4 sao bề thế, với hàng chục khách sạn, biệt thự, bể bơi... đã gần như hoàn tất và đưa vào sử dụng. Điều đáng ngạc nhiên là công trình lại chưa được phê duyệt dự án, chưa có giấy phép xây dựng. (Lao Động 28/7) đầu trang(
Tỉnh Phú Yên vừa triển khai dự án trồng 1.454 ha rừng kinh tế tại các xã: Phú Mỡ, Xuân Lãnh, Xuân Quang 1 (của huyện Đồng Xuân), với tổng vốn đầu tư hơn 65 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào năm 2020.
Dự án nhằm phát triển và nâng cao độ che phủ rừng, chống xói mòn, hạn chế thiên tai; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân miền núi. Từ năm 2016 đến 2020, mỗi năm tỉnh trồng mới khoảng 4.000 ha rừng. (Nhân Dân 27/7) đầu trang(
Những năm qua, đất rừng trên địa bàn nhiều địa phương trong tỉnh thường xuyên bị xâm lấn, sử dụng sai mục đích, chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý, bảo vệ rừng... Mặc dù, các ngành chức năng đã có nhiều giải pháp triển khai để thu hồi đất lâm nghiệp sử dụng sai mục đích nhưng hiệu quả chưa cao.
Trước thực trạng trên, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu với tỉnh, chỉ đạo lực lượng ngành phối hợp với các đơn vị xây dựng, triển khai đề án thu hồi đất lâm nghiệp và làm điểm tại huyện Mai Sơn...
Cũng như các huyện, thành phố trong tỉnh, thời gian qua, Mai Sơn gặp không ít khó khăn trong việc quản lý, bảo vệ diện tích đất rừng, nhất là việc xử lý, giải quyết với những diện tích đất rừng bị xâm lấn từ nhiều năm trước. Mặc dù đã có nhiều giải pháp được đưa ra, huyện cũng đã thành lập nhiều đoàn công tác tuyên truyền, vận động, thậm chí triển khai nhiều biện pháp cứng rắn, nhưng diện tích đất rừng vẫn bị xâm lấn và khó thu hồi.
Ông Nguyễn Văn Kỳ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mai Sơn, thông tin: Diện tích đất rừng bị xâm lấn để trồng cây công nghiệp, nông nghiệp tại địa bàn huyện Mai Sơn khá nhiều. Đa phần các diện tích bị xâm lấn là diện tích tồn đọng từ các năm trước, người dân xâm lấn để sản xuất nên việc thu hồi gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, vấn đề cần quan tâm là làm sao để người dân hiểu, đảm bảo được lợi ích cho dân; sau khi thu hồi phải quản lý hiệu quả diện tích đất đó.
Do vậy, trước khi Chi cục triển khai xây dựng đề án và làm điểm tại Mai Sơn, đơn vị đã chủ động tham mưu với Chi cục, với huyện chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn huyện phối hợp với lực lượng kiểm lâm xây dựng kế hoạch cụ thể, đưa ra các giải pháp phù hợp trong việc thu hồi đất rừng bị xâm lấn trên địa bàn.
Trong đó, tham mưu chọn xã Chiềng Ban làm điểm rút kinh nghiệm. Bởi đây là một trong những xã có nhiều diện tích đất rừng bị xâm lấn để trồng cà phê. Sau gần 1 năm làm công tác tuyên truyền, vận động, bàn các giải pháp, huyện đã đưa ra phương án sau khi thu hồi sẽ dùng diện tích đất đó triển khai mô hình nông lâm kết hợp.
Hiện tại, Mai Sơn có gần 36.000 ha đất lâm nghiệp sử dụng chưa đúng mục đích, đã thu hồi được trên 20.000m2 đất  và chuyển đổi theo hướng nông lâm kết hợp. Do vậy, qua triển khai thí điểm tại xã Chiềng Ban và tới đây là triển khai ra toàn huyện để làm điểm cho cả tỉnh, thấy rằng cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị các cấp, bởi vẫn còn không ít ngành vẫn chỉ coi đó là trách nhiệm của ngành kiểm lâm.
Trao đổi với ông Vũ Đức Thuận, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, được biết: Qua thống kê, trên địa bàn tỉnh có 318.668 ha đất lâm nghiệp sử dụng chưa đúng mục đích. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm chủ yếu được sử dụng trồng ngô, cà phê và các cây trồng nông nghiệp khác...
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng xâm lấn rừng, đất lâm nghiệp chủ yếu do nhu cầu về đất ở, đất sản xuất tăng cao. Đặc biệt, tại những vùng đồng bào dân tộc đời sống còn khó khăn, nhiều hộ vẫn đang sống phụ thuộc vào rừng. Do vậy, nhiều diện tích rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trong thời gian dài nên việc thu hồi gặp rất nhiều khó khăn và sẽ ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận người dân.
Trước thực tế đó, Chi cục chọn Mai Sơn làm điểm, sau đó mới triển khai đồng loạt trên địa bàn tỉnh. Trước mắt cần phải tập trung vào chỉnh lý biến động đất đai, rà soát cụ thể để có phương án xử lý phù hợp...
Thu hồi đất lâm nghiệp đang sử dụng sai mục đích là việc làm quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, việc thu hồi đúng quy định và đảm bảo được tính an sinh là vấn đề cần được quan tâm giải quyết hợp lý. Cần hơn cả là sự vào cuộc thực sự và đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến các cơ sở. Có như vậy, việc thu hồi đất lâm nghiệp đang sử dụng chưa đúng quy định mới có thể đạt được kết quả cao, góp phần tăng độ che phủ của rừng, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng. (Báo Sơn La 28/7) đầu trang(
Đó là chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 3063/UBND-NL. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các công ty nông-lâm nghiệp và đơn vị thi công triển khai lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, đo đạc lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các công ty nông-lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo thiết kế kỹ thuật-dự toán đã được UBND tỉnh phê duyệt.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng phương án tăng cường quản lý đất đai đối với toàn bộ diện tích đất công ty nông-lâm nghiệp giữ lại và xây dựng phương án sử dụng quỹ đất công ty nông-lâm nghiệp trả về địa phương quản lý. Căn cứ phương án sử dụng đất đã được phê duyệt, trình UBND tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công ty nông-lâm nghiệp theo quy định.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan tổ chức thẩm định đề án sắp xếp đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông-lâm nghiệp theo quy định. Đồng thời, phối hợp xây dựng và thực hiện phương án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc nông-lâm trường quốc doanh giai đoạn 2016-2020 theo quy định… (Báo Gia Lai 28/7) đầu trang(
Trong những năm qua, một trong những biện pháp quan trọng được tỉnh Quảng Trị chú trọng để ứng phó với biến đổi khí hậu đó là triển khai Dự án trồng rừng ngập mặn để bảo vệ đê sông, đất sản xuất nông nghiệp vùng bãi bồi, hạn chế và giảm thiểu các tác động của thiên tai cũng như cải tạo môi trường sinh thái, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư tại khu vực hạ lưu sông Bến Hải và sông Thạch Hãn. Bước đầu Dự án đã mang lại kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ 1 số tồn tại.
Nhằm tận dụng diện tích đất chua phèn, ngập mặn và bãi bồi hoang hóa, mở rộng diện tích rừng ngập mặn để ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống đê kè dọc bờ sông, tạo cảnh quan môi trường cũng như nơi cư trú, sinh sống của các loài thủy sản, năm 2015, Chi cục biển, hải đảo và khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Trị sau khi khảo sát thực địa, đã triển khai trồng trên 20 ha cây bần được phân bố dọc sông từ thôn Gia Độ đến thôn Quy Hà và ở một số vùng nhỏ lẻ khác.
Cho đến nay nhìn chung cây sinh trưởng, phát triển tốt, tuy nhiên do tác động của triều cường, gió và sóng, trâu bò phá hoại, đặc biệt là công tác bảo vệ, chăm sóc chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị thi công và chính quyền địa phương nên đã xảy ra tình trạng 1 số nơi cây bị chết, hàng rào bị hư hỏng.
Ở tỉnh Quảng Trị do thiên tai, lũ lụt, triều cường, một số xã nằm ở hạ lưu sông Bến Hải và Thạch Hãn bị sạt lở, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và dân sinh. Trước thực trạng đó, cùng với việc tranh thủ nhiều nguồn lực, tỉnh đã triển khai xây dựng hệ thống đê sông, đê biển, kè chống xói lở bờ sông.
Đồng thời để ứng phó với biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng khó lường, từ năm 2015, Chi cục biển, hải đảo và khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai dự án phục hồi và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn gắn liền với sinh kế bền vững. Trên cơ sở khảo sát thổ nhưỡng, khí hậu, Ban quản lý dự án đã phối hợp với đơn vị thi công là Công ty cổ phần xây dựng và sinh thái thủy lợi tiến hành trồng cây bần chua.
Do trên địa bàn tỉnh chưa có vườn ươm nên nguồn giống cây được nhập mua từ vườn ươm xã Hoằng Đạt, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình thực hiện, đơn vị đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, trong đó một trong những giải pháp kỹ thuật quan trọng được áp dụng đó là cải tạo thành phần cơ giới đất cục bộ theo hố, tạo điều kiện ban đầu thuận lợi cho cây tồn tại và phát triển.
Để cải tạo cục bộ thành phần cơ giới đất trong điều kiện ảnh hưởng của thời vụ, thủy triều nên phải cải tạo thể nền bằng phương pháp thủ công. Mặt khác, tùy theo đặc điểm của từng nơi, cây bần chua được trồng theo mật độ 1600 cây/ha, cây cách cây 2,5m, hàng cách hàng 2,5m để sau này thuận tiện cho người dân địa phương đi lại khai thác thủy hải sản hoặc mật độ dày hơn khoảng 2500 cây/ha, cây cách cây 2 m, hàng cách hàng 2m để dải cây nhanh khép tán, phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Bên cạnh đó đơn vị thi công đã mở các lớp tập huấn kỹ thuật và hợp đồng nhân công tiến hành trồng. Tính đến nay, dự án đã tiến hành trồng mới gần 64 ha, đạt 100% kế hoạch được giao, thuộc địa bàn 5 xã Triệu Độ, Triệu Phước, Triệu An của huyện Triệu Phong và Gio Mai, Trung Hải của huyện Gio Linh. Qua khảo sát thực tế cho thấy cây bần chua rất thích hợp với khí hậu, thổ nhưỡng tại Quảng Trị, đa số rừng ngập mặn đã trồng sinh trưởng, phát triển tốt, người dân rất phấn khởi vì rừng đã và đang từng ngày đem lại những lợi ích thiết thực.
Đối với rừng ngập mặn khâu trồng tiến hành trong năm đầu tiên còn lại 4 năm kế tiếp chủ yếu là chăm sóc, bảo vệ. Mặc dù đơn vị thi công đã xây dựng 25 km hàng rào bảo vệ cây và các biển báo bảo vệ rừng, tuy nhiên hiện nay ở 1 số nơi xảy ra tình trạng cây bị chết, dây buộc hàng rào dùng bằng thép và kẽm gai không chịu được nước biển đã hư, dẫn đến hàng rào bị sập đổ, ở 1 số địa phương để xảy ra tình trạng trâu bò phá hoại, người dân bủa lưới đánh bắt cá tôm. Điều đáng nói hơn là 1 số địa phương chưa làm tốt công tác tuyên truyền, làm cho mọi người dân thấy rõ lợi ích và tác dụng nhiều mặt của rừng ngập mặn, chưa có sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ với đơn vị thi công trong việc chăm sóc và bảo vệ cây.
Dự án trồng rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị được triển khai nằm trong Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ được tiếp tục thực hiện cho đến năm 2020. Để rừng ngập mặn sinh trưởng, phát triển tốt, theo chúng tôi, Ban quản lý Dự án cần chỉ đạo các đơn vị thi công tiến hành tỉa dặm trồng lại những cây bị chết, tổ chức tu sửa hệ thống hàng rào bảo vệ.
Các địa phương hưởng lợi cần thấy rõ trách nhiệm của mình nên xây dựng quy ước, hương ước, làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đừng để tình trạng nơi nào cũng có biển cấm nhưng ở trong khu rừng ngập mặn vẫn còn tình trạng cây bị chết, cây phát triển chậm, đặc biệt trâu bò phá hoại.
Nếu làm tốt điều này thì vài năm nưa thôi, những cánh rừng ngập mặn sẽ tăng độ che phủ của rừng, giúp nâng cao chất lượng môi trường sống cũng như tạo sinh kế bền vững cho người dân ở vùng hạ lưu sông Bến Hải và sông Thạch Hãn trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra khó lường. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 27/7) đầu trang(
Một bác sĩ ở tỉnh Quảng Bình, ngoài giờ làm việc đã từng bước cải tạo đất, trồng rừng và thành công với mô hình rừng kinh tế trên đất khó khăn, cằn cỗi.
Ban đầu gặp bác sĩ Đinh Hồng Tiến, Trưởng trạm y tế xã Hóa Sơn (H.Minh Hóa, Quảng Bình), chúng tôi chỉ nghĩ anh là người đam mê, tận tình với công việc và luôn quan tâm chăm sóc bệnh nhân chu đáo mà thôi.
Thế nhưng khi anh hé lộ đang sở hữu một diện tích rừng kinh tế không nhỏ, khiến chúng tôi tò mò. Sau giờ làm việc, anh đưa chúng tôi vào thăm "đại bản doanh" rừng của mình. Cuốc bộ trên con đường gồ ghề gần 30 phút, cánh rừng cao su và keo xanh tốt bạt ngàn hiện ra trước mắt.
Anh Tiến tâm sự: “Minh Hóa là huyện nghèo của tỉnh thì Hóa Sơn là địa bàn vùng sâu vùng xa, khó khăn trắc trở của huyện. Trước cơ cảnh chung như thế, mình luôn trăn trở suy nghĩ, tìm hướng đi riêng, tự tạo cơ hội để thoát nghèo cho mình và gia đình. Thế nên mình ngày đêm cật lực làm việc, hết giờ làm ở trạm và không có bệnh nhân là lại lao vào rừng, bao nhiêu tiền tích cóp cộng với vay mượn thêm dồn cả vào rừng”.
Hiện rừng của anh có tổng diện tích đến 18 ha, với 1.000 cây cao su 6 năm tuổi, trên 100.000 cây keo, trong đó 35.000 cây đã đến kỳ thu hoạch. Năm 2015, anh cắt một ít diện tích keo bán được hơn 100 triệu đồng để lấy tiền trang trải cho gia đình, số còn lại tiếp tục chăm cho cây lớn hơn mới thu hoạch. Anh còn chịu khó trồng xen canh cây sắn cao sản trên diện tích rừng, trong 5 năm thu được 70 tấn sắn, trừ chi phí giống và trả công cho người lao động, gia đình anh thu về trên 50 triệu đồng. Ngoài ra, trên diện tích trồng cao su, anh trồng thêm hàng trăm cây cà phê, hiện cây đã hơn một năm tuổi.
Câu chuyện trồng rừng bắt đầu từ những ngày đi học ngành y, anh Tiến tranh thủ ngày nghỉ đến các trang trại của người dân quanh vùng tìm hiểu cách làm ăn của họ và mua sách báo hướng dẫn các mô hình kinh tế để học hỏi, nghiên cứu. Khi về làm tại Trạm y tế xã Hóa Sơn, anh luôn trăn trở làm gì để gia đình thoát nghèo ở vùng sơn địa. Đúng lúc huyện tạo cơ chế, đưa đề án trồng rừng kinh tế để xóa đói giảm nghèo, khuyến khích nhân dân khai thác đất trống đồi trọc để trồng rừng, anh Tiến bắt đầu thực hiện trăn trở bấy lâu nay của mình.
Bước đầu, anh huy động nhân lực trong gia đình gồm vợ, con đồng thời thuê thêm lao động tại địa phương để cải tạo đất, đào hố và trồng cây. Nhờ tìm hiểu rất kỹ những kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng, nhất là kỹ thuật trồng cao su, nên tỷ lệ cây bị chết rất ít. Sau đó, anh thường xuyên thuê nhân công làm cỏ, tỉa cành, bón phân theo đúng quy trình nên vườn cây lúc nào cũng đẹp mắt, phát triển tốt. Ước tính rừng của gia đình anh hiện có giá trị hàng tỉ đồng, một thành quả không hề nhỏ ở vùng sâu như thế.
Nhận xét về anh Tiến, ông Đinh Minh Cứ, Phó bí thư thường trực Đảng ủy xã Hóa Sơn, nói: “Tôi rất khâm phục quyết tâm và cách làm của anh Tiến. Anh biết sắp xếp công việc để vừa hoàn thành vai trò bác sĩ vừa làm kinh tế giỏi. Chúng tôi coi anh là một điển hình ở địa phương và trong các phong trào”. (Thanh Niên 28/7) đầu trang(
Từ đêm qua cho tới sáng 28/7 tại Hà Nội, mưa to và gió lớn tuy không gây ngập các tuyến đường, nhưng làm gãy đổ hàng trăm cây xanh khiến việc đi lại rất khó khăn.
7h sáng - giờ cao điểm đi làm của mọi người, cũng là lúc trời mưa to gió lớn nhất. Trên nhiều con đường, cây xanh ngã đổ, đè lên ô tô, chắn các lối đi.
Theo ghi nhận của phóng viên VTV, tại tuyến đường Nguyên Hồng, một cây xanh bị bão làm đỗ chắn ngang đường, làm việc đi lại rất khó khăn. Tại con đường cạnh hồ Thành Công, mọi người đã phải dựng các tấm chắn ngay ở đầu đường để các phương tiện không đi vào vì cây đổ. Ước tính hàng trăm cây xanh của Hà Nội đã bị quật đổ.
Tại đường Tố Hữu, ngày thường, luôn ùn ứ các phương tiện giao thông, hôm nay, do ảnh hưởng của mưa bão, việc đi lại càng khó khăn hơn. Nhiều người đi xe máy bị mưa, gió thốc vào mặt và bị áo mưa cuốn lên, che hết tầm nhìn. Nhiều người không đi được nữa, phải tạt vào các tòa nhà bên đường để trú mưa. Rất nhiều hàng rào sắt bên đường cũng bị đổ rạp. Tình trạng ùn tắc nghiêm trọng đang diễn ra ở nhiều tuyến phố. (Đài Truyền Hình Việt Nam 28/7) đầu trang(
Các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất thủ công mỹ nghệ lâu nay thường thiếu kinh phí để tiếp thị, quảng cáo sản phẩm hay tham dự các hội chợ triễn lãm. Sắp tới, khó khăn này sẽ được giải quyết bằng những chương trình hỗ trợ kinh phí cụ thể.
Hiện Bộ Nông nghiệp và Phát nông thôn (NN&PTNT) đang lấy ý kiến cho dự thảo Nghị định về chính sách phát triển thị trường nội địa các sản phẩm gỗ và lâm sản, với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ quá trình hội nhập kinh tế.
Theo đó, tùy theo từng vấn đề cụ thể mà doanh nghiêp, cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ nhận được hỗ trợ 30-80% kinh phí cho mỗi chương trình.
Cụ thể, Nhà nước sẽ hỗ trợ 70% kinh phí xây dựng và 30% kinh phí triển khai các chương trình phát triển thị trường trong nước về gỗ và lâm sản của các bộ, ngành và hiệp hội chuyên ngành; hỗ trợ 50% kinh phí xây dựng của các chương trình phát triển thị trường trong nước có tính chất liên vùng về sản phẩm gỗ và lâm sản của các doanh nghiệp.
Mức hỗ trợ cao nhất dành cho các chương trình phát triển kênh phân phối và các hình thức phân phối sản phẩm gỗ và lâm sản hiện đại, lên đến 80% kinh phí của mỗi chương trình.
Theo dự thảo Nghị định, đối tượng áp dụng là doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân hoạt động trong việc phát triển thị trường trong nước đối với sản phẩm gỗ nội thất, gỗ ngoại thất và xây dựng, sản phẩm gỗ thủ công mỹ nghệ và lâm sản ngoài gỗ; và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện chính sách phát triển thị trường nội địa dành cho các sản phẩm này.
Theo tìm hiểu của TBKTSG Online tại các hội chợ đồ gỗ diễn ra trong những năm qua tại TPHCM, nhiều chủ cơ sở sản xuất đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ chia sẻ rằng, để tiếp thị sản phẩm, họ thường chọn cách tham dự các hội chợ về đồ gỗ, nhưng không phải hội chợ nào cũng tham gia do hạn hẹp về kinh phí. Phía Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA) cũng kỳ vọng, với dự thảo nghị định này, nhiều cơ sở sản xuất gỗ, thủ công mỹ nghệ sẽ có nguồn kinh phí cũng như có nhiều cơ hội để tham gia các hội chợ, chương trình xúc tiến thương mại các của các bộ, ngành có liên quan đến mặt hàng gỗ.
Theo Bộ NN&PTNT, trong 7 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ ước đạt 3,8 tỉ đô la mỹ, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2015. Mỹ, Nhật và Trung Quốc là ba thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm, chiếm 68% tổng giá trị xuất khẩu. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 27/7) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo thống kê của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế, số lượng loài khỉ nhỏ đáng yêu này ở Brazil đã tăng lên khoảng 3.200 con từ mức 150 của những năm 1990.
Khu vực Silva Jardim, cách thành phố Rio de Janeiro khoảng 70km đã trở thành nơi trú ngụ của khỉ vàng sư tử Tamarin.
Trong nhiều thế kỷ qua, khỉ vàng sư tử Tamarin bị bán làm thú cưng hoặc vật nuôi tại các sở thú. Đây là nguyên nhân khiến số lượng loài khỉ này trong tự nhiên sụt giảm nhanh chóng. Chính vì thế, với nỗ lực bảo tồn, quốc gia Nam Mỹ hi vọng cứu loài động vật quý hiếm này khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Hiện nay, bang Rio de Janeiro, Brazil là nơi duy nhất trên thế giới còn loài động vật quý hiếm này sống trong môi trường hoang dã. (Đài Truyền Hình Việt Nam 27/7) đầu trang(
Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc (LHQ), sự hợp tác giữa lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp có thể giúp cải thiện các kết quả về kinh tế và xã hội bao gồm cả an ninh lương thực.
Báo cáo về hiện trạng rừng của thế giới (SOFO) được xuất bản hai năm một lần của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) nhằm cung cấp dữ liệu giúp thông báo cho các nhà hoạch định chính sách quốc gia. Theo báo cáo mới nhất, yêu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy sự tương tác hơn nữa giữa quản lý rừng và canh tác nông nghiệp để tạo ra các hệ thống nông nghiệp bền vững hơn, nhờ đó sẽ đảm bảo an ninh lương thực.
Nguyên nhân chính của việc phá rừng chính là nông nghiệp. Báo cáo chỉ ra lỗ ròng lớn nhất từ năm 2000 đến năm 2010 của rừng ở các nước có thu nhập thấp với dân số ở nông thôn ngày càng tăng. Ở các vùng nhiệt đới, nông nghiệp thương mại chịu trách nhiệm 40% từ việc chuyển đổi đất rừng, nông nghiệp tự cung tự cấp chiếm 33%, còn lại 27% do phát triển đô thị, mở rộng cơ sở hạ tầng và khai thác mỏ.
Tuy nhiên, tỷ lệ này khác nhau giữa các khu vực. Ở Mỹ Latinh, nông nghiệp thương mại quy mô lớn chiếm 70% từ nạn phá rừng, trong khi ở châu Phi chỉ có 1/3 nông nghiệp quy mô nhỏ là nguyên nhân chính của việc phá rừng.
Báo cáo nhấn mạnh rằng, các cánh rừng phục vụ chức năng sinh thái quan trọng, mang lại lợi ích cho nông nghiệp bền vững, và ngành công nghiệp sản xuất lương thực. Chúng giúp ổn định đất và khí hậu, điều tiết dòng chảy, và mang lại bóng râm, cung cấp nơi ở và môi trường sống cho các loài côn trùng thụ phấn và các loài thiên địch tự nhiên có ích nhằm chống lại những loài gây hại cho nông nghiệp. José Graziano da Silva, Tổng giám đốc FAO cho biết, trong phần giới thiệu của báo cáo cho rằng: "Khi tích hợp khôn ngoan giữa lĩnh vực nông nghiệp với lâm nghiệp và rừng có thể làm tăng năng suất nông nghiệp".
Báo cáo tiếp tục giải thích rằng "việc lập kế hoạch sử dụng đất tích hợp mang lại khung chiến lược cần thiết để cân bằng sử dụng đất. Quan trọng hơn, quy trình lập kế hoạch này phải có sự cùng tham gia - vì những nông dân và những người dân mà cuối cùng đưa các kế hoạch vào thực tiễn, sẽ chỉ thực hiện kế hoạch nếu chúng đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của họ".
Theo SOFO, kể từ năm 1990, 20 quốc gia bao gồm Chile, Costa Rica, Tunisia và Việt Nam đã thành công trong việc nâng cao mức độ về an ninh lương thực quốc gia, đồng thời vẫn duy trì hoặc tăng diện tích che phủ rừng. Thành công này được dựa trên quyền sử dụng đất, những khuôn khổ pháp lý rõ ràng, trách nhiệm quản lý đất rõ ràng của cả chính phủ và các cộng đồng địa phương và những ưu đãi chính sách nhằm khuyến khích lâm nghiệp và nông nghiệp bền vững.
Eva Müller, Giám đốc Bộ phận chính sách và Tài nguyên rừng của FAO tại Ủy Ban Lâm nghiệp ở Rome cho biết: "An ninh lương thực có thể đạt được thông qua việc thâm canh nông nghiệp và các biện pháp khác như bảo vệ xã hội, chứ không phải thông qua việc mở rộng lĩnh vực nông nghiệp mà phải chịu tổn thất về rừng".
Theo Graziano da Silva, những phát hiện của báo cáo là kết luận: “Thông điệp chính từ SOFO rõ ràng là: không cần thiết phá rừng để sản xuất lương thực” (Dân Trí 27/7) đầu trang(./.