|
Ngày 28 tháng 03 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương đã đề xuất xin tiếp nhận số mẫu vật các bộ phận cơ thể động vật hoang dã bị bắt giữ trên đường vận chuyển và buôn bán trái phép.
UBND thành phố Hà Nội đã giao cho các sở, ngành liên quan xem xét bàn giao 119kg sừng hươu, 11kg xương hổ, 4kg xương khỉ và 263kg tê tê (bắt giữ được) cho viện này để làm thuốc chữa bệnh. Nhưng, ngay lập tức, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) có ý kiến phản đối đề xuất này…
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên phản đối đề xuất với lý do “tang vật là động vật hoang dã thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (trong đó có hổ) không được phép sử dụng cho mục đích thương mại”. Ông Trần Việt Hưng, Phó giám đốc Trung tâm cho rằng, với bất kỳ mục đích nào, thuốc xét cho cùng là sản phẩm thương mại. Như vậy việc sử dụng các tang vật này làm thuốc là vi phạm pháp luật.
Các tang vật này chỉ có thể được xử lý theo hai cách: Một là chuyển giao cho một đơn vị nghiên cứu khoa học, giáo dục (ví dụ như viện nghiên cứu, bảo tàng) của Nhà nước; tuyệt đối không liên quan tới các hoạt động thương mại. Hai là tiến hành tiêu hủy. Hơn nữa, tất cả những tang vật đó đều do cơ quan chức năng tịch thu của các đối tượng vi phạm. Do đó, đứng trên góc độ cơ quan chức năng, chúng ta không thể tịch thu của đối tượng vi phạm này để chuyển giao cho những tổ chức khác để sử dụng vào mục khác”.
Thời gian qua, Công an huyện Gia Lâm chuyển giao 119kg sừng hươu, 11kg xương hổ, 4kg xương khỉ; Cảnh sát giao thông chuyển giao 263kg vẩy tê tê. Theo các lương y những mẫu vật trên đều là những vị thuốc có giá trị sử dụng trong điều trị bệnh. Vì vậy, bệnh viện đề nghị UBND thành phố Hà Nội cho phép bàn giao số mẫu vật trên để phục vụ công tác của bệnh viện.
Trước đề xuất này, UBND thành phố Hà Nội giao Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với các sở, ngành liên quan chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm Hà Nội kiểm tra thực tế và căn cứ các quy định hiện hành, đề xuất hướng xử lý theo đề nghị của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương về việc xin tiếp nhận mẫu động vật hoang dã bị tịch thu do vi phạm hành chính để làm thuốc chữa bệnh.
Với đề xuất của mình, Bệnh viện Y học cổ truyền mong muốn được sử dụng những mẫu vật là xác động vật hoang dã, các bộ phận đã bị cắt rời của động vật hoang dã vào mục đích làm thuốc chữa bệnh. Đó là một cách tránh lãng phí khi phải tiêu hủy xác những động vật hoang dã vốn rất quý hiếm.
Cố GS Đỗ Tất Lợi từng cho hay: Trong cao khỉ có tới 17% nitơ toàn phần, 1% axit amin và các chất clo, canxi, photpho... Cao khỉ được dùng trong dân gian như một loại thuốc bổ máu, bổ toàn thân dùng cho người kém ăn, kém ngủ, thiếu máu xanh xao vàng vọt, hay đổ mồ hôi trộm. Liều dùng hằng ngày 5-10g, cắt thành từng miếng nhỏ ngậm cho tan dần trong miệng hoặc thêm mật ong cho ngọt để dễ ăn. Có thể ngâm rượu uống vì cao khỉ thường khó bảo quản...
Với những công trình nghiên cứu và kết luận y học Tây phương hay y học cổ truyền đều cho thấy những công dụng của các bộ phận cơ thể động vật quý hiếm. Bên cạnh đó là thực trạng săn bắt, vận chuyển và buôn bán trái phép động vật hoang dã vẫn đang diễn ra đáng lo ngại. Ngay chính những cán bộ kiểm lâm, cảnh sát giao thông và những nhà chức trách liên quan cũng đều bày tỏ sự tiếc nuối đối với những cá thể động vật hoang dã khi được phát hiện thì đã chết, bị cắt rời từng bộ phận.
Bởi lẽ, nếu được phát hiện và giải cứu kịp thời khi còn sống, chúng sẽ được chăm sóc và đưa về thiên nhiên. Nhưng trong trường hợp chỉ còn là những “mẫu vật” thì chúng sẽ bị tiêu hủy hoặc bàn giao cho các đơn vị chuyên ngành để nghiên cứu thí nghiệm, trưng bày… Tiếc nhất là khả năng bị tiêu hủy được áp dụng với đa số các “mẫu vật” - “tang vật” này.
Vậy thì nên lựa chọn phương án nào cho những “mẫu vật” - “tang vật” quý này đây? Tiêu hủy hay dùng làm thuốc? (Theo Petrotimes 28/3)đầu trang(
Năm 2012, nhiều nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hoàn thành nghĩa vụ đóng phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) thông qua đơn vị ủy thác. Trong khi đó, một số doanh nghiệp lại né tránh, cố tình “không trả nợ” rừng xanh.
Đến nay, Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng (BV-PTR) của tỉnh đã chi gần 800 triệu đồng cho 111 hộ dân thuộc 2 thôn A Bông và A Sờ (xã Ma Cooih) nhận khoán bảo vệ 2.520ha rừng thuộc lưu vực thủy điện A Vương.
Ngoài ra, từ nguồn tài trợ của dự án ADB, Quỹ BV-PTR phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, Ban Quản lý rừng phòng hộ A Vương… lập bản đồ rà soát hiện trạng rừng và hồ sơ giao khoán cho 276 hộ dân với diện tích gần 7.000ha rừng tại các thôn A Đền, A Dớ, A Zal, Trơ Gung, Tà Rèng (xã Ma Cooih) để thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong đầu năm 2013. Bình quân mỗi hộ nhận khoán 25ha, đơn giá giao khoán bảo vệ là 300 nghìn đồng/ha. Số tiền mà Nhà máy thủy điện A Vương đã chi trả DVMTR qua đơn vị ủy thác trong hai năm (2011-2012) gần 25 tỷ đồng.
Tín hiệu vui là một số dự án thủy điện từng gây ra nỗi bất an cho người dân trong thời gian qua đã có nhiều động thái tích cực trong khắc phục môi trường. Điển hình, Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My) đã đóng gần 24 tỷ đồng (theo tỷ lệ 20 đồng/kWh điện thương phẩm) phí DVMTR để phục hồi rừng.
Tại hội nghị triển khai chính sách chi trả DVMTR diễn ra tại huyện Bắc Trà My vừa qua, Giám đốc Quỹ BV-PTR – ông Huỳnh Đức khẳng định, trong số 3 dự án thủy điện đã đi vào hoạt động trên địa bàn Bắc Trà My và Nam Trà My (thủy điện Sông Tranh 2, Trà Linh 3, Tà Vi), chỉ duy nhất Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 đóng phí DVMTR đầy đủ theo quy định. Với số tiền này, Quỹ BV-PTR phối hợp với địa phương tổ chức chi trả cho các hộ, nhóm hộ dân trồng mới, khoanh nuôi bảo vệ, chăm sóc rừng, nhằm phục hồi lại diện tích rừng đã mất.
“Trước mắt, quỹ sẽ phục hồi diện tích lưu vực sông Tranh 2 khoảng 16 nghìn héc ta. Ngoài tái tạo, phục hồi diện tích rừng, việc chi trả sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp giúp bà con ổn định sinh kế lâu dài, hạn chế áp lực vào rừng, từng bước thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững tại địa phương” - ông Đức nói. Cũng theo ông Đức, chủng loại cây trồng chủ yếu phủ xanh tại đây là loài sao đen, cây có chức năng phòng hộ và mang lại giá trị kinh tế cao.
Đến nay, Quỹ BV-PTR đã ký kết hợp đồng ủy thác với 9/14 nhà máy sản xuất thủy điện gồm Nhà máy thủy điện sông Tranh 2, Đắc Mi 4, A Vương, An Điềm, An Điềm 2, Sông Côn 2, Khe Diên, Phú Ninh và Đại Đồng. Tổng số tiền đã nộp ủy thác qua 2 năm (2011-2012) là hơn 83,4/90 tỷ đồng (đạt 92,7%).
Ông Vũ Đức Toàn - Phó ban Quản lý dự án thủy điện 3 (chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2) khẳng định, thời điểm này, nhà máy đã đóng phí DVMTR đầy đủ. Phương án trồng rừng thay thế triển khai trong vòng 10 năm là 400ha. Trong 2 năm (2013-2014), đơn vị sẽ triển khai trồng mới rừng; thời gian còn lại sẽ khoanh nuôi, trồng bổ sung, bảo vệ, đảm bảo lấp đầy diện tích rừng bị nhấn chìm trong khu vực lòng hồ.
Còn Phó Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My – ông Trần Anh Tuấn khẳng định, việc nhà máy thủy điện hoàn thành nghĩa vụ tài chính về DVMTR cũng là cách “chuộc lỗi” với rừng, với chính quyền, người dân. Từ đây, người dân bản địa sẽ cải thiện thêm thu nhập, có ý thức trách nhiệm hơn với khoảnh rừng do mình nhận khoán, bảo vệ.
Theo Quỹ BV-PTR, hiện vẫn còn 5 nhà máy chưa ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR. Đó là các nhà máy thủy điện Tà Vi, Za Hung, Duy Sơn 2, Sông Cùng và Trà Linh 3. Trong đó, Nhà máy thủy điện Trà Linh 3 (chủ đầu tư là Công ty CP Xây dựng 699), dù đã đàm phán với Quỹ BV-PTR nhưng hai bên vẫn chưa thống nhất ký kết hợp đồng ủy thác. Nhà máy này hiện vẫn còn nợ phí DVMTR trong 2 năm qua.
Đại diện chủ nhà máy nêu lý do: Thời gian qua, giá bán điện của đơn vị chưa có cơ cấu tiền DVMTR và doanh nghiệp cũng đang gặp khó khăn về tài chính, do nợ vay quá hạn tại ngân hàng. Công ty cam kết từ năm 2013 trở đi sẽ nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR theo đúng quy định.
Trong khi đó, chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Za Hung là Công ty CP Za Hung giải thích, sở dĩ chậm chi trả vì công ty chưa có nguồn kinh phí DVMTR năm 2011-2012. Bởi, theo Quyết định số 18/2008/QĐ-BCT ngày 18.7.2008 của Bộ Công Thương, chưa cơ cấu phí DVMTR vào giá bán điện đối với các nhà máy thủy điện có công suất từ 30MW trở xuống.
Trong số 3 nhà máy thủy điện còn lại, chưa có đơn vị nào thực hiện việc đàm phán, ký kết hợp đồng ủy thác. “Chúng tôi đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị đàm phán ký kết hợp đồng nhưng 3 đơn vị trên luôn né tránh, không phối hợp thực hiện” - ông Đức cho biết. (Báo Quảng Nam 28/3)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo Cục Kiểm lâm, tính đến ngày 26/3/2013, nhiều khu vực của 18 tỉnh có nguy cơ xảy ra cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm.
Ban chỉ đạo Trung ương Phòng cháy chữa cháy rừng yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo Bộ NN&PTNT, trong quý I năm 2013, đặc biệt vào thời gian cuối quý I do tình hình khô hạn kéo dài nên tại nhiều vùng đã có nguy cơ cháy rừng cao, trọng điểm là khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều vụ cháy rừng đã xảy ra ở khu vực này. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy lớn là: Gia Lai 270 ha, Bình Phước 37,7ha, Lâm Đồng 35,4 ha, Đắk Lăk 30,7ha.
Cũng trong quí I, diện tích rừng bị phá là 55,9 ha, giảm 19% so với cùng kỳ năm trước. (Đảng Cộng Sản VN 27/3)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đã chỉ đạo các đơn vị chức năng khẩn trương hoàn thiện hồ sơ các vụ vi phạm lâm luật, đồng thời đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra hai vụ cháy rừng keo tại xã Yên Lư, huyện Yên Dũng (thiệt hại 1,5 ha) và xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn (thiệt hại 1,5 ha), chủ yếu là rừng trồng.
Vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) đã tăng cường lực lượng và trang thiết bị để củng cố và lập mới các chốt cảnh báo cháy rừng sớm ở các khu vực trọng điểm, mỗi chốt cảnh báo thường xuyên có 6-8 người thường trực 24/24 giờ trong ngày. Diện tích có nguy cơ cháy cao rộng hơn bảy nghìn ha, chủ yếu là rừng trúc lùn bị chết khô, ở độ cao 2.800 m.
Tại Lai Châu, đêm 26-3, tại bản Nậm Bon, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên xảy ra cháy rừng lớn ở khu vực khoảnh 6. Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng đã huy động lực lượng tham gia dập đám cháy. Tổng diện tích cháy ước khoảng 20 ha, trong đó có gần 10 ha cây gỗ tái sinh trạng thái 1C, còn lại là cỏ tranh và lau lách. Huyện quyết tâm không để đám cháy tại khoảnh 6 lan sang vùng đệm Rừng quốc gia Hoàng Liên.
Tại Bạc Liêu, những ngày gần đây nhiệt độ trung bình tại khu vực vườn chim luôn ở mức 37oC, độ ẩm trung bình 60%. Ban quản lý rừng đã nâng mức dự báo cháy rừng vườn chim lên cấp 5 - cấp có khả năng xảy ra cháy rừng cao nhất, đồng thời đóng hoàn toàn cửa rừng, ngừng đón khách tham quan và tổ chức trực chữa cháy 24/24 giờ.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, toàn bộ hơn 42 nghìn ha rừng tràm U Minh hạ thiếu nước nghiêm trọng do khô hạn gay gắt kéo dài, trong đó có hơn 30 nghìn ha trong tình trạng dự báo cháy cấp 5.
Tại Vườn quốc gia U Minh Hạ, hiện có 5 trong số 8,5 nghìn ha rừng đang trong tình trạng dự báo cháy cấp 5. Các đơn vị quản lý và chủ rừng thường xuyên tổ chức tuần tra; trực quan sát trên các chòi canh lửa, kiểm soát chặt chẽ rừng 24/24 giờ. (Nhân Dân 28/3)đầu trang(
Trước tình hình hạn hán có nguy cơ lan rộng, hầu hết các tỉnh có rừng khu vực ĐBSCL như Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp... đang gấp rút lên phương án bảo vệ rừng, thậm chí có địa phương đã đóng cửa rừng để tránh nguy cơ cháy.
Cái nắng gay gắt của tháng 3 khiến nhiều cánh rừng tràm xanh ngút mắt ở U Minh Hạ (Cà Mau), U Minh Thượng (Kiên Giang) và Tràm Chim (Đồng Tháp)... rơi vào tình trạng “báo động đỏ”.
Theo Ban quản lý rừng U Minh Hạ, thời tiết nắng nóng gay gắt, gió mạnh và khô hanh hiện nay đã khiến lớp bổi dưới chân rừng khô dầy, chỉ một tàn lửa nhỏ rơi xuống cũng đủ gây nên cháy lớn. Trong khi đó, nguồn nước dưới các con kênh đã dần khô cạn gây nhiều khó khăn trong công tác chữa cháy rừng. Theo dự báo, nếu nắng nóng gay gắt như hiện nay tiếp tục kéo dài, sẽ khiến toàn bộ rừng tràm U Minh Hạ đặt trong tình trạng báo động cháy ở mức cực kì nguy hiểm.
Trong khi đó, Chi cục Kiểm lâm Kiên Giang cho biết hàng chục ngàn ha rừng ở tỉnh này cũng đang trong tình trạng dự báo cháy ở mức nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm. Nắng nóng gay gắt trong những ngày qua, đã khiến nước bốc hơi nhanh và độ ẩm giảm thấp nên diện tích rừng bị khô hạn nằm trong dự báo cháy từ cấp 4 đến cấp cực kỳ nguy hiểm tăng lên hơn 40.000 ha, chiếm gần 60% tổng diện tích rừng toàn tỉnh. Hầu hết các diện tích này tập trung trên lâm phần rừng tràm vùng U Minh Thượng và các huyện Hòn Đất, Kiên Lương và rừng đảo Phú Quốc.
Tại An Giang, toàn tỉnh đã khoanh vùng hơn 7.300 ha rừng nằm trong tình trạng báo cháy ở cấp cực kỳ nguy hiểm. Diện tích này tập trung nhiều nhất là huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và thị xã Châu Đốc.
Ông Bành Thanh Hùng - Trưởng phòng Bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm An Giang, cho biết mối lo lớn nhất của An Giang là những cánh rừng dọc theo triền núi có nhiều cơ sở thờ tự, am cốc, miếu... Thời điểm này lại vào mùa lễ hội Vía Bà, tình trạng đốt giấy tiền vàng bạc, thắp hương khá phổ biến, thậm chí chỉ cần một người vô tình rơi tàn thuốc thì khả năng cháy rừng có thể ập tới.
Trước nguy cơ cao về cháy rừng, tỉnh Cà Mau và Kiên Giang đã triển khai các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt hai Vườn Quốc gia U Minh Hạ và U Minh Thượng; trong đó hạn chế tối đa việc phục vụ du khách đến tham quan, du lịch, tạm thời đóng cửa rừng từ nay cho tới khi mùa mưa đến. Hiện nhân viên kiểm lâm kết hợp cùng người dân túc trực 24/24 giờ; đồng thời các phương tiện chữa cháy luôn sẵn sàng hoạt động.
Riêng tại Vườn quốc gia Phú Quốc (Kiên Giang), ông Huỳnh Long Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phú Quốc, cho biết huyện đã xây dựng lực lượng phòng chống cháy rừng khoảng 1.100 người, chia thành các tổ, đội phân công trực chiến 24/24; nghiêm cấm người dân vào rừng dọn vườn, tận thu lâm sản, đốt rẫy và thông báo hạn chế đi lại trên các tuyến đường cắt ngang qua rừng, đóng cửa rừng vào giai đoạn cao điểm mùa khô. Tại An Giang, tỉnh cũng đã quyết định tạm đóng cửa và ngưng các hoạt động trong rừng; đồng thời tăng cường các biện pháp phòng, chống cháy.
Vườn quốc gia Tràm Chim - khu Ramsar của Thế giới, cũng đang được bảo vệ nghiêm ngặt. Ông Nguyễn Thanh Phong, Phó trưởng Ban chỉ huy phòng chống cháy rừng Vườn quốc gia Tràm Chim, cho biết vườn đã triển khai vệ sinh rừng, cắt băng, đốt cỏ chủ động, điều tiết nước nhằm vừa duy trì đảm bảo phát triển về tính đa dạng sinh học của các loài động, thực vật trong vườn vừa phòng, chống cháy rừng.
Vườn cũng phối hợp thường xuyên với lực lượng quân đội, công an huyện, kiểm lâm nhằm phòng chống người dân xâm nhập săn bắn, bắt ong để hạn chế cháy xảy ra. Hiện vườn có 19 trạm bảo vệ và 9 đài quan sát, chòi canh, trang bị sẵn la bàn, máy định vị (GPS) và các trang thiết bị phục vụ công tác phòng chống cháy. “Chuyện giữ rừng là nhiệm vụ hàng đầu trong suốt mùa khô, song để giữ bình yên cho vườn quốc gia không hề đơn giản.
Cái khó trước mắt là việc đưa nước vào vườn để hạn chế cháy rừng; tuy nhiên việc này có nguy cơ phá đi hệ sinh thái đa dạng sinh học của Tràm Chim. Bởi ở Vườn quốc gia Tràm Chim không chỉ có rừng tràm mà còn có hàng trăm loài thực vật, đồng cỏ, sen, súng, chim, cá...” - ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Vườn quốc gia Tràm Chim, cho biết. (Tin Tức 28/3)đầu trang(
Chiều 27-3, ông Lê Minh Đức, Giám đốc Sở NN-PTNT Long An cho biết, khô hạn tiếp tục diễn ra gay gắt đẩy hơn 30.000ha rừng tràm trong tỉnh vào tình trạng kiệt nước nghiêm trọng, nguy cơ cháy báo động cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Sở NN-PTNT chỉ đạo lực lượng kiểm lâm phối hợp cùng chính quyền địa phương và người dân đề cao cảnh giác; huy động toàn bộ lực lượng và phương tiện để phòng chống cháy rừng. Trực xuyên suốt từ nay đến hết tháng 4-2013, bởi đây là thời điểm rất dễ xảy ra cháy rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 28/3)đầu trang(
26.3, tại bản Nậm Bon, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên (Lai Châu) đã xẩy ra vụ cháy ở khu vực Khoảnh 6.
Ngay trong đêm, Ban chỉ đạo Phòng cháy chữa cháy rừng huyện Tân Uyên đã huy động khoảng 700 người gồm lực lượng đoàn viên, thanh niên, xung kích cùng người dân xã Phúc Khoa tham gia dập đám cháy. Đến thời điểm 10 giờ sáng 26.3, cơ bản đã cơ bản được dập tắt.
Theo ông Nguyễn Thanh Văn, Phó chủ tịch UBND huyện Tân Uyên, kiêm trưởng Ban Phòng cháy chữa cháy rừng huyện: Tổng diện tích cháy ước khoảng 20 ha, trong đó có gần 10 ha cây gỗ tái sinh trạng thái 1C, còn lại là cỏ tranh và lau lách. (Nông Thôn Ngày Nay 27/3)đầu trang(
Những ngày gần đây, nhiệt độ trung bình tại khu vực Vườn chim Bạc Liêu luôn ở mức 37 độ C, độ ẩm trung bình 60%, do đó Ban quản lý rừng đã nâng mức dự báo cháy rừng vườn chim lên cấp V - cấp có khả năng xảy ra cháy rừng cao nhất, đồng thời đóng hoàn toàn cửa rừng, ngừng đón khách tham quan và tổ chức trực chữa cháy 24/24 giờ.
Ông Nguyễn Trung Chánh, giám đốc Ban quản lý Vườn chim Bạc Liêu cho biết, mấy ngày gần đây, thời tiết nắng nóng gay gắt, cây rừng khô héo, mực nước các tuyến kênh khô cạn, do đó nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Ban Quản lý Vườn chim đã cảnh báo cháy rừng cấp V - cấp có nguy cơ cháy rừng cao nhất.
Ngoài 25 cán bộ hiện có, trực chiến phòng cháy 24/24 giờ, đơn vị còn huy động được 40 người ở các xã lân cận sẵn sàng tham gia bảo vệ Vườn chim; tiến hành phát quang bụi rậm, nạo vét các tuyến kênh chứa nước. Những hộ dân sống quanh khu vực vùng đệm Vườn chim được tập huấn, phát tờ rơi bảo vệ rừng và ký cam kết không đốt lửa. (VietnamPlus.vn 27/3)đầu trang(
27.3, Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng phát thông báo khẩn về nguy cơ xảy ra cháy rừng tại địa phương đang ở cấp cao (báo động 3).
Do đó, Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng yêu cầu các Hạt kiểm lâm tăng cường tuần tra, kiểm soát trong rừng và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các qui định về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Các Hạt kiểm lâm còn phải phối hợp với chính quyền địa phương và các Ban quản lý rừng bố trí sẵn sàng nhân lực và phương tiện để cứu rừng.
Đối với các chủ rừng, sau khi khai thác rừng trồng, tiến hành đốt thực bì để trồng lại rừng phải xin phép chính quyền địa phương và đảm bảo điều kiện an toàn mới được phép thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay do nguy cơ cháy rừng đang ở cấp báo động 3 nên Chi cục Kiểm lâm tạm thời nghiêm cấm các chủ rừng đốt thực bì.
Đối với địa phương, Chi cục Kiểm lâm yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng khẩn trương triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng đến các cơ quan, đơn vị và người dân trong khu vực có rừng. Đồng thời, các Ban quản lý rừng phối hợp với Ban quản lý các khu du lịch sinh thái giám sát chặt chẽ tình trạng du khách đốt lửa khi tham quan trong rừng. (Thanh Niên 27/3)đầu trang(
6 năm gần đây, khu rừng tự nhiên với gần 1.000ha ở thôn Nậm Chắn, xã Lâm Thượng, huyện Lục Yên (Yên Bái) không còn cảnh chặt phá nữa khi xuất hiện mô hình bảo vệ rừng theo cộng đồng do thôn bản quản lý.
Toàn thôn có 111 nóc nhà với 482 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Tày, Dao. Những năm trước, cuộc sống của bà con trong thôn chỉ dựa vào rừng, nhiều cánh rừng bị chặt phá không thương tiếc. Rừng lại chỉ được giao cho một vài nhóm hộ quản lý trong khi diện tích lớn, đi lại khó khăn nên họ không thể kiểm soát hết diện tích được giao, dẫn đến “chảy máu” rừng. Năm 2006, rừng được giao cho cộng đồng thôn quản lý với diện tích trên 993ha, từ đó rừng đã có cơ hội được bảo vệ.
Trưởng bản Trần Văn Khôn bảo rằng: “Khác với việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng của nhiều năm trước, giờ đây toàn bộ diện tích rừng đều được giao cho cộng đồng bản quản lý nên bà con ai cũng là “tai mắt” của rừng”.
Theo ông Hoàng Văn Thành - Phó chủ tịch UBND xã Lâm Thượng, Trưởng ban quản lý rừng cộng đồng xã thì từ khi giao rừng cho cộng đồng quản lý, bên cạnh việc tuyên truyền cho người dân hiểu về việc phải bảo vệ rừng, Ban quản lý rừng cộng đồng thành lập các tổ tuần tra bảo vệ với 3-5 người thường xuyên đi tuần tra, kiểm soát rừng.
Các nhóm bảo vệ rừng này còn phối hợp với UBND xã và cán bộ kiểm lâm địa bàn tổ chức tuyên truyền, vận động người dân thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ rừng, từ đó tạo chuyển biến trong người dân về ý thức bảo vệ rừng. Nhờ vậy, từ năm 2010 đến nay rừng cộng đồng được quản lý nghiêm ngặt, không còn tình trạng chặt phá, phát nương làm rẫy.
Mặc dù rừng cộng đồng đã được bảo vệ tốt, tuy nhiên do chủ yếu rừng ở đây là rừng nghèo kiệt nên bà con chưa được hưởng lợi từ rừng. Để lâm nghiệp cộng đồng phát triển vững chắc, đem lại hiệu quả kinh tế, năm 2012, Chi cục Phát triển lâm nghiệp đã đưa cây mây vào trồng thử nghiệm tại thôn Nậm Chắn. Tham gia mô hình này, các hộ dân được hỗ trợ hoàn toàn về giống, phân bón, kỹ thuật trồng.
Theo ông Đặng Văn Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lục Yên: “Dự án thí điểm lâm nghiệp cộng đồng được triển khai tại 4 xã Lâm Thượng, Tân Phượng, Phan Thanh, An Phú với tổng diện tích giao cho thôn bản quản lý là 1.913ha. Từ khi giao cho cộng đồng, rừng được bảo vệ tốt hơn.
Để phát huy hiệu quả Dự án, cần phải đưa thử nghiệm các mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ để cộng đồng được hưởng lợi trên mảnh đất ấy, dưới tán rừng ấy, góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào. Qua thử nghiệm trồng cây song mây ở thôn Nậm Chắn, xã Lâm Thượng cho thấy song mây phát triển tốt, vừa góp phần làm phong phú thảm thực vật lâu dài vừa nâng cao đời sống cho cộng đồng thôn bản. Chúng tôi sẽ đề nghị Nhà nước tiếp tục hỗ trợ dự án trồng song mây và triển khai ra diện rộng”. (Báo Yên Bái 28/3)đầu trang(
Ban chỉ huy phòng chống cháy rừng huyện Đô Lương vừa tổ chức tập huấn kỹ thuật PCCC rừng, tác chiến - chỉ huy chữa cháy rừng.
Nội dung tập huấn bao gồm: Quán triệt các văn bản chỉ đạo triển khai nhiệm vụ bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng; Công tác xây dựng lực lượng chuẩn bị phương tiện công tác PCCCR; Công tác huấn luyện kỹ thuật PCCR cho trung đội mạnh và lực lượng quần chúng; Công tác tổ chức tuyên truyền và ký cam kết trách nhiệm không để xảy ra cháy rừng; Công tác đôn đốc quản lý PCCR và các biện pháp kỹ thuật chữa cháy rừng. Cũng trong đợt tập huấn này, các đại biểu đã thảo luận trao đổi kinh nghiệm về các biện pháp PCCR có hiệu quả trong thực tiễn.
Việc tổ chức tập huấn PCCCR của huyện Đô Lương nhằm nâng cao kỹ năng và biện pháp PCCCR để từ đó nâng cao năng lực PCCCR cho đội ngũ can bộ và nhân dân trong công tác PCCCR trong thời gian tới. Đây là một trong những biện pháp tích cực để hạn chế những thiệt hại do cháy rừng xảy ra. (Đài PT - TH Nghệ An 28/3)đầu trang(
Huyện Quỳnh Lưu vừa tổ chức hội nghị tổng kết công tác bảo vệ rừng, phòng CCCC rừng và phòng trừ sâu bệnh hại rừng 2012, triển khai nhiệm vụ 2013.
Toàn huyện Quỳnh Lưu có 34 xã có rừng với diện tích đất lâm nghiệp gần 22.600ha, đất có rừng là 14.450ha. Trong đó, rừng trồng được gần 13.400ha còn rừng tự nhiên hơn 1.000ha. Độ che phủ rừng đạt 23,1%. Các loài cây trồng chủ yếu là thông nhựa, keo, bạch đàn là những loại có tinh dầu rất dễ bắt lửa. Vào mùa khô độ ẩm của rừng giảm mạnh có lúc xuống 65 %, có lúc nhiệt độ lên tới 39 đến 41oC kéo dài trong nhiều ngày nên dễ xảy ra cháy rừng. Chính những đặc điểm đó nên hàng năm huyện Quỳnh Lưu rất quan tâm đến công tác bảo vệ và PCCCC rừng.
Trong năm 2012, UBND huyện đã xây dựng một phương án PCCCR cấp huyện, hạt kiểm lâm Quỳnh Lưu phối hợp với các xã có rừng tổ chức thực hiện 24 phương án PCCCR cho 20 xã và 4 chủ rừng, thành lập 24 ban chỉ đạo bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, 23 trung đội nòng cốt ở các xã với gần 1.000 thành viên.
Cũng nhờ thực hiện tốt phương châm phòng là chính, công tác bảo vệ và PCCCR đạt hiệu quả nên trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Phát huy kết quả đó, UBND huyện Quỳnh Lưu cũng đã triển khai nhiệm vụ bảo vệ rừng, PCCC rừng và phòng trừ sâu bệnh hại rừng 2013. Trong đó, chú trọng nhiệm vụ bảo vệ bền vững diện tích rừng hiện có trên địa bàn, chống chặt phá rừng, chủ động phương án phòng chống cháy rừng ngay từ đầu mùa nắng nóng. (Đài PT - TH Nghệ An 28/3)đầu trang(
UBND tỉnh vừa phân lại vùng trọng điểm cháy rừng so với danh mục 107 xã dễ xảy ra cháy rừng (được lập từ năm 2011) sau khi theo dõi, thống kê tình hình thực tế.
Cụ thể, vùng 1 (vùng rất xung yếu) gồm khu vực rừng ở 73 xã thuộc 9 huyện Núi Thành, Phú Ninh, Tiên Phước, Thăng Bình, Quế Sơn, Nông Sơn, Hiệp Đức, Duy Xuyên, Đại Lộc; các địa bàn còn lại thuộc vùng 2 (vùng xung yếu). Đặc biệt, UBND tỉnh đã lập 14 trạm quan trắc khí tượng cảnh báo cháy rừng qua phần mềm vi tính; đồng thời xây dựng bản đồ trọng điểm cháy rừng cho 14 huyện và 2 ban quản lý rừng.
Theo phương án được UBND tỉnh phê duyệt, trong trường hợp xảy ra cháy rừng quy mô lớn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm có quyền điều động lực lượng, phương tiện, thiết bị, dụng cụ chữa cháy của 2 Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR (đóng ở Tam Kỳ, Đại Lộc).
Quảng Nam cũng công bố các số điện thoại khẩn cấp để xử lý tình huống cháy rừng (0510 3.852538 - 813578, 0913.406348, 0983.810540). Được biết, trong vòng 10 năm (2003 - 2012), trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 74 vụ cháy rừng trên tổng diện tích 332,8ha, thiệt hại hơn 3 tỷ đồng. (Báo Quảng Nam 28/3)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị định 200/2004/NĐ-CP của Chính phủ, thực trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của các lâm trường quốc doanh còn nhiều hạn chế, trong đó đặc biệt là tình trạng mâu thuẫn đất đai giữa lâm trường và người dân địa phương.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích đất tranh chấp giữa lâm trường và người dân tính đến hết năm 2011 là 75.650 ha. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng con số này nhỏ hơn nhiều so với thực tế, chưa phản ánh tính phức tạp của các nguyên nhân tranh chấp cũng như cách thức giải quyết.
Nghiên cứu của Tổ chức Forest Trend và Viện Tư vấn phát triển (CODE) công bố sáng nay (27-3) dựa trên tính đại chúng của vùng miền sinh thái gồm miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, đã đưa ra ba nguyên nhân chính dẫn đến những mâu thuẫn này.
Đầu tiên là do người dân thiếu đất canh tác - mâu thuẫn đất đai ở đây phản ánh những nỗ lực của người dân trong việc tiếp cận đất đai làm công cụ sản xuất nhằm duy trì cuộc sống sống. Ở một số nơi do đất lâm trường quản lý trước đây bây giờ trao chính quyền quản lý và giao cho người dân lấy đất sản xuất nhưng nhiều cấp chính quyền vẫn “chần chừ” trong việc này! Do thiếu đất sản xuất, người dân một số nơi đã “nhảy dù” vào canh tác trên phần diện tích đất sổ đỏ của lâm trường càng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn.
Báo cáo giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội Khóa XIII đã nhấn mạnh: “Việc quản lý, sử dụng đất ở các nông, lâm trường còn thiếu chặt chẽ, sai mục đích, hiệu quả thấp; tranh chấp xảy ra ở nhiều nơi, nhưng còn để kéo dài hoặc chưa được quan tâm giải quyết”.
Nguyên do thứ hai từ việc thực hiện không đúng các chính sách về đất đai tại nhiều địa phương. Điều này làm nảy sinh các bất bình đẳng, dẫn đến mâu thuẫn đất đai. Một số địa phương, chính quyền cắt đất từ các lâm trường và đem trao cho các công ty tư nhân để phát triển cây công nghiệp với tiêu lợi nhuận. Điều đó cho thấy chính quyền địa phương có rừng không thực hiện đúng quy định về sử dụng đất, ưu ái doanh nghiệp trong khi để người dân thiệt thòi.
Nguyên nhân thứ ba là do việc phát triển thị trường những sản phẩm nông, lâm sản đã tác động trực tiếp và làm gia tăng tính phức tạp của mâu thuẫn. Trước đây, việc canh tác trên đất đem lại hiệu quả thấp, đến nay thông qua các cây trồng có giá trị cao, giá trị đất ngày càng tăng cao - đất rừng trở thành hàng hóa có giá trị khiến nhiều đối tượng tìm cách tiếp cận và kiểm soát dẫn đến mâu thuẫn đất đai. Người dân cảm thấy thiệt thòi so với lâm trường và người bên ngoài trong tiếp cận và sử dụng đất khiến bùng phát mâu thuẫn.
Ngoài ra, mâu thuẫn đất đai còn do tranh chấp quyền hưởng dụng, sự phối hợp hạn chế và không đồng bộ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan hay do “thiên vị” về chính sách.
Thực tế cho thấy, trong khi người dân thiếu đất canh tác thì lâm trường có nhiều đất nhưng lại giao cho người ngoài cộng đồng làm kinh doanh. Chính quyền thu hồi đất lâm trường nhưng không giao cho dân tại chỗ. Nhiều người dân cho rằng, nơi nào có các lâm trường là nơi đó người dân thiếu đất sản xuất trầm trọng nhất, nguyên nhân là do khi hình thành lâm trường, nhà nước đã khoanh toàn bộ diện tích đất canh tác của người dân và giao cho lâm trường quản lý, trong đó bao gồm cả phần diện tích đất nương rẫy của hội. Mặt khác, việc gia tăng dân số làm gia tăng áp lực lên đất và tác động tiêu cực đến quỹ đất của địa phương.
Thực tế các cơ chế giải quyết mâu thuẫn hiện đã và đang được áp dụng tại một số nơi nhưng chưa có hiệu quả mong muốn! Mâu thuẫn đất đai đều đang nằm trong tình trạng bế tắc, và nếu không có các cơ chế giải quyết hiệu quả thì nguy cơ bùng phát là điều khó tránh.
Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương, các cấp chính quyền chưa thực sự vào cuộc hoặc vẫn chưa quyết liệt trong vấn đề giải quyết các tranh chấp này. Người dân luôn ở thế yếu và thường không có người đại diện bảo vệ quyền lợi. Trong nhiều vụ việc, người dân cảm thấy thất vọng về sự yếu kém của chính quyền cơ sở trong việc giải quyết mâu thuẫn!
Theo quy định thì khi xảy ra tranh chấp thì bước đầu tiên là các bên tổ chức tự hòa giải. Nếu các bên không tự hòa giải được thì tổ hòa giải cấp xã được hình thành. Nếu không thành công thì thể nhờ vào sự phán xét của tòa án. Tuy nhiên, thực tế các nhiều địa phương, các cơ sở pháp lý phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp như bản đồ, mốc giới hành chính, hệ thống thông tin dữ liệu về đất đai… thường không được hoàn chỉnh.
Giải quyết thực trạng về mâu thuẫn đất đai giữa công ty lâm nghiệp và người dân địa phương, Forest Trend và CODE mạnh dạn đề xuất một số mô hình:
Theo đó, phương pháp chủ đạo được áp dụng để giải quyết mâu thuẫn là dựa vào cộng đồng với sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan, gồm các chủ rừng, các tổ chức cộng đồng thôn bản, các già làng, người có uy tín trong cộng đồng, các cơ quan chuyên môn. Đầu tiên thực hiện các cuộc khảo sát tại thực địa để đánh giá tình trạng thực tế. Khi tìm được nguyên nhân, các bên cùng họp thảo luận công khai để tìm sự đồng thuận và chia sẻ lợi ích giữa các bên trước khi có văn bản kiến nghị chính thức lên các cấp có thẩm quyền.
Thứ hai, yêu cầu các lâm trường thực hiện nghiêm túc việc thống kê để thực hiện thu hồi, bàn giao những diện tích đất sử dụng kém hiệu quả, sai mục đích, đất gần các khu dân cư, đất “phát canh thu tô”, giao khoán không đúng đối tượng… cho địa phương để giao cho các hộ thiếu hoặc chưa có đất ở và đất sản xuất.
Thực tế cho thấy người dân thiếu đất là nguyên nhân hiện hữu, và người dân có nhu cầu nhận đất để giảm nghèo, cải thiện đời sống hoặc bảo vệ rừng đầu nguồn nhằm duy trì môi trường sống. Trong khi đó chính quyền địa phương, đặc biệt các chính quyền cấp xã, huyện đóng vai trò rất quan trọng trong việc chuyển tải các thông điệp có liên quan đến đất đai của người dân tới chính quyền cấp cao hơn.
Thứ ba, chỉ khi các cấp chính quyền xã, huyện đứng về phía người dân, cùng nghĩ cho quyền lợi của người dân thì khi đó mâu thuẫn đất đai mới có cơ hội được giải quyết. Bên cạnh đó, sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin về mặt kỹ thuật và hỗ trợ về nguồn lực nhằm mục đích kết nối các bên liên quan tham gia thảo luận, từ đó tìm ra các giải pháp hợp lý cho các bên. (Nhân Dân 28/3; VOV 28/3; Sài Gòn Giải Phóng 28/3; Quân Đội Nhân Dân 27/3)đầu trang(
Dự án “Trình diễn năng lực Phục hồi rừng bền vững ở Việt Nam” vừa được tổng kết tại Hà Nội. Đây là dự án hợp tác đầu tiên giữa Mạng lưới Phục hồi rừng và quản lý rừng bền vững châu Á – Thái Bình Dương (APFNet) với Bộ NN-PTNT.
Dự án này thực hiện đã 2 năm tại huyện Thanh Sơn và Tân Sơn thuộc tỉnh Phú Thọ với nguồn vốn gần 600.000 USD, trong đó APFNet tài trợ gần 500.000 USD. Dự án được triển khai nhằm nâng cao đóng góp của rừng vào việc xóa đói, giảm nghèo, tăng giá trị môi trường sinh thái và cải thiện sinh kế ở Việt Nam. Thành công của dự án sẽ được nhân rộng tới các địa phương nhằm phục hồi rừng nghèo kiệt và quản lý rừng bền vững.
Với việc xây dựng thành công 50ha trồng làm giàu rừng bằng cây gỗ bản địa và 50 mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng; 500 bụi tre lường, thu nhập từ cây lâm sản ngoài gỗ của nông dân địa phương bước đầu đạt khoảng 50 triệu đồng/ha, điều này sẽ làm cho người dân địa phương tham gia tích cực hơn vào công cuộc bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, chống lại việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích khác. (Nông Nghiệp VN 27/3)đầu trang(
UBND tỉnh Thanh Hóa vừa cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu cao cấp cho Công ty cổ phần sản xuất thương mại Việt Quang.
Nhà máy được xây dựng trên diện tích 96.144m² (đặt tại cụm công nghiệp thị trấn Thường Xuân, huyện miền núi Thường Xuân), với công suất chế biến 120.000m³ gỗ nhân tạo/năm. Tổng số vốn đầu tư của dự án gần 359 tỉ đồng, dự kiến được khởi công xây dựng vào tháng 4-2013. (Tuổi Trẻ 27/3)đầu trang(
Năm nay, sản lượng giấy tăng, lượng tồn kho lớn, lại phải cạnh tranh gay gắt với giấy nhập ngoại, nhu cầu tiêu dùng lại giảm khiến cho ngành giấy càng thêm "mong manh".
Việt Nam luôn thiếu nguyên liệu bột giấy và phải nhập một lượng lớn bột giấy với giá rất cao. Trong khi đó, các loại gỗ bạch đàn, keo - nguyên liệu lý tưởng để sản xuất bột giấy được nhiều nơi trồng với diện tích ngày càng tăng nhưng chỉ để băm dăm rồi bán với giá rẻ mạt.
Giấy và các sản phẩm từ giấy của Việt Nam đã xuất khẩu sang 18 nước trên thế giới (trong đó Mỹ là thị trường chính, các thị trường lớn là Đài Loan, Nhật Bản…). Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu ngành giấy đạt 425 triệu USD, nhưng chỉ bằng 1/3 so với kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này (cả nước đã nhập khẩu 1,216 triệu tấn giấy các loại với trị giá 1,164 triệu USD).
Theo ông Vũ Ngọc Bảo, Tổng Thư ký Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA), thời gian gần đây, năng lực sản xuất bột giấy của Việt Nam tăng rất nhanh. Sản lượng bột giấy sản xuất trong nước năm 2010 đạt 345.900 tấn; năm 2011 đạt 373.400 tấn. Năm 2012, sản lượng bột giấy nước ta thiết lập mức tăng trưởng khủng, cao hơn 30% so với năm 2011, đạt tới 484.300 tấn. Tuy nhiên, với khối lượng này mới đáp ứng được một nửa nhu cầu cho ngành sản xuất giấy.
Việt Nam có lợi thế là tài nguyên rừng trù phú, có thể phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp giấy, nhưng cho đến nay, lợi thế này vẫn chưa được phát triển hiệu quả. Dăm gỗ bạch đàn và gỗ keo lai, nguyên liệu thô trong ngành giấy lại gần như chỉ dùng cho… xuất khẩu.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng Thư ký Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (Vietfores), cho biết xuất khẩu dăm gỗ đã tăng trưởng quá nóng trong vòng một thập kỷ vừa qua. Năm 2001, cả nước chỉ xuất khẩu 400.000 tấn dăm gỗ nhưng đến năm 2011 đã xuất tới 5,4 triệu tấn, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu dăm gỗ lớn nhất thế giới. Năm 2012, xuất khẩu dăm gỗ tuy giảm, nhưng vẫn đạt 3 triệu tấn dăm khô.
Việc phát triển một cách ồ ạt các nhà máy chế biến dăm gỗ, thiếu quy hoạch, đã dẫn đến tình trạng "cung vượt cầu". Hậu quả là giá dăm gỗ ngày càng sụt giảm. Năm 2011, mỗi tấn dăm gỗ có giá bình quân khoảng 138 - 140 USD, thời điểm này chỉ khoảng 110 USD/tấn. Nhiều nhà xuất khẩu rơi vào tình cảnh thua lỗ, dẫn tới phá sản vì bí đầu ra.
Nghịch lý là ở chỗ, các nước mua nguyên liệu dăm của Việt Nam, rồi sản xuất ra giấy thành phẩm hoặc bột giấy, sau đó bán trở lại Việt Nam với giá cao. Giá xuất khẩu dăm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc trong năm vừa qua chỉ khoảng 110 - 120 USD/tấn trong khi giá nhập khẩu bột giấy ở mức trung bình 900 - 1.000 USD/tấn.
Để khắc phục tình trạng thiếu nguyên liệu, ngành sản xuất giấy của Việt Nam phát triển mạnh lĩnh vực tái chế giấy. Tỷ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng dùng làm nguyên liệu trong tổng nguyên liệu sản xuất giấy ở Việt Nam là 70%. Gần 100% giấy bao bì, 90% giấy tissue và 60% giấy in báo đều làm từ giấy tái chế. Mặc dù, tổng cầu giấy không ngừng tăng lên qua từng năm nhưng các doanh nghiệp trong nước phải chịu sức ép nặng nề khi phải cạnh tranh với sản phẩm giấy ngoại nhập giá rẻ tràn lan trên thị trường.
Dự báo, trong năm nay, ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế, nhu cầu tiêu dùng giấy (gồm các loại giấy in, giấy viết, giấy bao bì công nghiệp dùng đóng gói hàng hóa) tại thị trường Việt Nam sẽ giảm, làm tăng tỷ lệ tồn kho của ngành giấy.
Tính đến ngày 31/12/2012, các doanh nghiệp thuộc VPPA còn tồn kho 17.000 tấn giấy, tăng 27% so với thời điểm cuối năm 2011. Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, sau 2 tháng đầu năm 2013, lượng giấy tồn kho đã tăng 33,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Bộ Công Thương dự báo, sản lượng giấy trong nước năm 2013 dự kiến sẽ đạt 2,18 triệu tấn giấy các loại, tăng 17,7% so với năm 2012.
Ông Vũ Thanh Bình, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Giấy Việt Nam, cho biết: việc sụt giảm sản lượng, doanh thu, lợi nhuận… không đạt mục tiêu đề ra diễn ra ở hầu hết các công ty con, công ty liên kết của tổng công ty như Công ty Giấy Tân Mai, Công ty Giấy Bãi Bằng…
Theo VPPA, cần có chính sách thúc đẩy sự phát triển hài hòa giữa giấy và bột giấy để giành thế chủ động trong sản xuất kinh doanh giấy, nhất là khi thị trường thế giới biến động mạnh. Nhà nước cần coi cây cung cấp nguyên liệu giấy là cây công nghiệp để có chính sách hỗ trợ hợp lý. Có chính sách ưu đãi và tạo điều kiện cho vay vốn đầu tư tín dụng, vốn ODA để phát triển vùng nguyên liệu, cung cấp ổn định nguồn nguyên liệu cho các nhà máy.
Ngành sản xuất giấy có đặc thù riêng về công nghệ, dây chuyền thiết bị, vì vậy, trong thời gian tới cần rà soát lại và chấn chỉnh việc thực hiện quy hoạch ngành giấy, tránh tình trạng đầu tư thiếu khoa học. Nhà nước cũng cần xây dựng hàng rào kỹ thuật về công nghệ nhằm bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường.
Nhà nước nên miễn thuế cho hoạt động thu gom, buôn bán giấy đã qua sử dụng, giấy loại; xây dựng chính sách cụ thể về hoạt động thu gom, tái chế, sử dụng từ giấy loại; khuyến khích các cơ quan nhà nước sử dụng giấy sản xuất trong nước. Đồng thời, cần sớm ban hành quy định chỉ sử dụng giấy có độ trắng 82 – 85 ISO đối với sách học tập, vở, giấy văn phòng để hạn chế sử dụng chất tẩy trong ngành công nghiệp giấy. (Thời Báo Kinh Doanh 28/3)đầu trang(
Theo kế hoạch, năm nay huyện Chợ Đồn sẽ trồng mới 2.000ha theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó rừng sản xuất là 1.750ha. Hiện nay huyện đã chuẩn bị đủ mọi điều kiện cần thiết để bước vào vụ trồng rừng 2013.
Ông Triệu Văn Chinh, Trưởng Ban quản lý Dự án 147 huyện Chợ Đồn cho biết: Để đạt được mục tiêu đề ra, ngay sau khi được giao kế hoạch, Ban quản lý đã phối hợp với cán bộ kiểm lâm địa bàn, Ban phát triển rừng của các xã, thôn bản tiến hành tuyên truyền, vận động nhân dân đăng ký trồng rừng; đồng thời hướng dẫn kỹ thuật, đôn đốc bà con xử lý thực bì, chuẩn bị cuốc hố; phối hợp với đơn vị tư vấn tiến hành khâu thiết kế ngoại nghiệp.
Nét mới trong vụ trồng rừng năm nay, ngoài việc chủ động các yếu tố trên, huyện Chợ Đồn đã tiến hành phê duyệt thiết kế ngoại nghiệp trước để các tổ chức, cá nhân chủ động xử lý hiện trường, đảm đảo theo đúng tiến độ. Chính vì vậy, đến nay toàn huyện đã thiết kế diện tích trồng rừng mới đạt 2.166ha, đạt 108% chỉ tiêu giao, trong đó có hơn 700ha đã được nhân dân xử lý thực bì xong.
Bên cạnh sự chuẩn bị tốt hiện trường trồng rừng, công tác chuẩn bị cây giống cũng đã được Ban quản lý chủ động ký hợp đồng với 3 đầu mối cung ứng cây giống trên địa bàn huyện. Hiện nay, các vườn ươm đã gieo ươm được 5,5 triệu cây mỡ và 680.000 cây keo, toàn bộ số cây giống được gieo ươm đang sinh trưởng, phát triển tốt. Theo kế hoạch, huyện Chợ Đồn sẽ triển khai trồng rừng trong tháng 4 và kết thúc mùa vụ vào cuối tháng 6. Để đẩy nhanh tiến độ trồng, hiện nay các địa phương đang tích cực chỉ đạo nhân dân đẩy mạnh việc phát dọn thực bì, cuốc hố để trồng theo kễ hoạch đã đề ra.
Song song với công tác trồng rừng, công tác quản lý bảo vệ và phòng, chống cháy rừng cũng được huyện quan tâm chú trọng. Huyện đã chỉ đạo ngành chức năng phối hợp với chính quyền các địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Luật Bảo vệ và phát triển rừng đến toàn thể nhân dân trên địa bàn; xử lý nghiêm những trương hợp vi phạm lâm luật; chỉ đạo nhân dân tích cực bảo vệ, chăm sóc rừng trồng năm trước; đặc biệt lưu ý bà con khi xử lý đốt thực bì cần chú ý làm đường băng cản lửa, đề phòng cháy rừng. (Báo Bắc Kạn 27/3)đầu trang(
Trong chương trình hợp tác nghiên cứu đa dạng sinh học giữa viện Sinh thái học miền Nam với khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, đã ghi nhận sự phân bố của loài cu gáy vằn Geopelia striata tại Việt Nam (ảnh).
Cu gáy vằn Geopelia striata thuộc họ Culumbidae (bồ câu), kích thước 21 – 22cm, nhỏ hơn so với loài cu gáy. Chúng có bộ lông màu xám và da mặt có màu xanh nhạt, phần bụng và lưng có nhiều vằn (ảnh). Loài này thường sống ở bìa rừng, nương rẫy và khu dân cư, sinh sản từ tháng 2 đến tháng 8, ăn tạp, làm tổ trên mặt đất.
Trên thế giới, chúng chỉ được tìm thấy ở Đông Nam Á và có quan hệ với loài phụ ở châu Úc và New Guinea. Ở Việt Nam, đây là loài ghi nhận mới và bắt gặp thêm ở vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), Hòn Chông (Kiên Giang), núi Bà Đen (Tây Ninh). Tất cả các ghi nhận về sự phân bố của loài này tại Việt Nam đều do các nhà khoa học thuộc viện Sinh thái học miền Nam phát hiện. (Sài Gòn Tiếp Thị 28/3)đầu trang(
Lộc Bình huyện có diện tích thông lớn nhất ở Lạng Sơn. Vài năm gần đây, cây thông Mã Vĩ được xem là cây xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu của người dân nơi đây.
Hiện toàn huyện Lộc Bình có khoảng 27.000 ha diện tích rừng thông Mã Vĩ. Hầu hết các gia đình ở đây đều trồng thông, nhà ít thì 0,5ha, nhiều thì 5- 10ha. Tập chung chủ yếu ở các xã Tú Mịch, Yên Khoái, Sàn Viên, Bằng Khánh, Nhượng Bạn, Mẫu Sơn…
Thông Mã Vĩ đã được trồng ở đây từ những năm 60-70 của thế kỷ trước, nhưng từ khi có các dự án Việt - Đức, 327, 661 thì cây thông Mã Vĩ mới được trồng đại trà. Những năm gần đây, cây thông Mã Vĩ mang lại cho hàng nghìn hộ gia đình trên địa bàn huyện Lộc Bình(Lạng Sơn) nguồn thu nhập lớn.
Hiện nay, toàn huyện Lộc Bình có khoảng 7000 ha cây thông Mã Vĩ đang được người dân khai thác nhựa. Ước tính sản lượng nhựa hàng năm khoảng 3.000 tấn/năm. Tuy nhiên, để khai thác nhựa thông đạt hiệu quả kinh tế cao và lâu dài thì người dân chỉ nên khai thác nhựa những cây thông đã đủ tuổi(từ 12-15 năm). Đồng thời, chính quyền địa phương cùng với các ngành chức năng cần hướng dẫn cho người dẫn kĩ thuật trồng, bảo vệ và khai thác nhựa thông một cách có hiệu quả nhất.
Nhận thấy hiệu quả mà cây thông Mã Vĩ đem lại, người dân ở huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) đã có ý thức chủ động trồng, bảo vệ và nâng cao ý thức phòng chống cháy cháy rừng. Nhờ đó thời gian qua, các vụ cháy rừng trên địa bàn huyện giảm đáng kể. (Đại Đoàn Kết 27/3)đầu trang(
“Nhằm kịp thời bảo vệ số lượng đàn bò hiện có, cần tiến hành ngay việc quy hoạch một số diện tích rừng tự nhiên liền mảnh hiện có cho đàn bò sinh sống. Trong đó ưu tiên bảo vệ các diện tích rừng giáp ranh với Khu Bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Đồng Nai nhằm tạo điều kiện cho đàn bò có cơ hội mở rộng sinh cảnh về phía Khu Bảo tồn”.
Đây là ý kiến của Trưởng Phòng Bảo tồn thiên nhiên và Hợp tác Khu Bảo tồn Đồng Nai Nguyễn Hoàng Hảo khi ghi nhận sự có mặt của hai loài bò tót, bò rừng ở khu vực huyện Đồng Phú, nơi rừng tự nhiên đang bị tàn phá.
Theo đó, vào tháng 6/2012, Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa (KBT) Đồng Nai kết hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Phú (tỉnh Bình Phước) tổ chức đoàn khảo sát tình trạng quần thể bò lớn hoang dã tại khu vực huyện Đồng Phú.
Kết quả khảo sát ghi nhận, ở khu vực huyện Đồng Phú có hai đàn bò tót và một đàn bò rừng (sách Đỏ Việt Nam xếp vào nhóm B1 cần được bảo vệ). Trong đó, một đàn bò tót đang sinh sống ở khu vực đồi Xương Rồng với khoảng 10 cá thể. Một đàn bò tót khác khoảng 6-7 cá thể đang sinh sống ở tiểu khu 388 và 389. Ở khu vực này cũng có một đàn bò rừng khoảng 5 - 8 con. Riêng KBT Đồng Nai đang quản lý trên 100 con bò tót. Bò tót ở đây kéo ra khu dân cư, đường. Ít nhất đã có hai trường hợp kiểm lâm đi tuần tra rừng bị bò tót húc trọng thương.
Ông Trần Văn Mùi, Giám đốc KBT Đồng Nai cho rằng, diện tích rừng ở Đồng Nai được bảo vệ tốt là vùng sinh cảnh tự nhiên cho đàn bò tót phát triển bền vững. Càng quý hơn khi đàn bò tót tại Đồng Nai đang cư trú trong rừng tự nhiên nằm sâu trong nội địa của Việt Nam, khác hẳn những khu vực rừng khác giáp ranh với Campuchia, Lào nên rất thuận lợi cho công tác bảo tồn. Dù không có dự án bảo tồn, nhưng KBT Đồng Nai vẫn thực hiện công tác điều tra, giám sát đàn bò, lập chòi canh đếm bò, đồng thời tuyên truyền người dân có ý thức bảo vệ.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Phú, tổng diện tích rừng tự nhiên khu vực có đàn bò tót, bò rừng sinh sống năm 2005 là gần 5.000 ha, đến năm 2010 còn 4.033 ha và đến năm 2012 sụt giảm còn 2.948 ha và bị chia thành nhiều khoảnh rừng khác nhau xen lẫn với các cánh rừng cao su, rẫy hoa màu của người dân. Chỉ còn một mảng rừng tự nhiên liền khoảnh khoảng 1.000 ha nằm sát ranh giới KBT Đồng Nai.
Từ những khoảnh rừng da beo này, đàn bò tót, bò rừng đã thường xuyên xuất hiện phá hoa màu của người dân, nhiều diện tích cao su bị bò phá gãy thân, ăn ngọn cây non. Trên thực tế, diện tích sản xuất của người dân trong khu vực đàn bò xuất hiện, trước đây vốn là vùng sinh cảnh sống quan trọng của chúng, như các điểm khoáng tự nhiên, khu vực uống nước, khu vực phân bố thức ăn. Theo các nhà chuyên môn đây chính là nguyên nhân khiến đàn thú hoang dã bị đe dọa. (Tài Nguyên&Môi Trường 27/3)đầu trang(
Năm 2006, ông Đinh Hữu Tân, Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Khê ký Kết luận 216/KL-UBND chỉ rõ: Việc UBND xã Gia Phố lập hồ sơ cho người dân của địa phương để được cấp đất trên địa bàn xã Lộc Yên là trái luật định cần phải thu hồi, trả cho dân Lộc Yên.
Hơn 6 năm sau, tháng 1/2013, khi ông Đinh Hữu Tân là Chủ tịch UBND huyện Hương Khê, lại ký văn bản triển khai kế hoạch giao rừng trồng của dân xã Lộc Yên cho UBND xã Gia Phố khai thác, dẫn đến Lộc Yên trở thành điểm nóng.
Theo quy hoạch đất, rừng của UBND huyện Hương Khê, Tiểu khu 226 thuộc rừng phòng hộ Ngàn Sâu nằm trọn trên địa bàn xã Lộc Yên. Ngày 24/3/1991, UBND huyện Hương Khê đã cấp hơn 50ha đất lâm nghiệp tại tiểu khu này cho 11 hộ dân xã Gia Phố, hầu hết là đất trống đồi trọc, nhưng dân Gia Phố chưa sản xuất trên diện tích đất được giao, vì chương trình trồng chè đã không được thực hiện.
Năm 1995, UBND huyện Hương Khê lại giao diện tích đất nói trên cho dân xã Lộc Yên trồng thông. Nhưng, sau đó, cả khu vực trồng thông bị cháy rụi.
Năm 1997, UBND huyện Hương Khê lại cấp hơn 94ha đất thuộc Tiểu khu 226 của Lộc Yên cho 2 công dân Gia Phố: Ông Nguyễn Xuân Đào 18,09ha và ông Lê Văn Thân 76,6ha. Biên bản giao đất đều thực hiện bằng con dấu chính quyền và chữ ký của lãnh đạo UBND xã Gia Phố.
Năm 2000 có 18 gia đình xã Lộc Yên nhận hợp đồng trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ theo chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng thông qua Lâm trường Hà Đông.
Vào khoảng năm 2004 - 2005, khi cây keo làm nguyên liệu giấy trên địa bàn được giá, nhiều người dân Gia Phố vào trồng cây xen trên diện tích được giao năm 1991, nhưng từ năm 2000 là đất, rừng của xã Lộc Yên. Cuộc tranh giành rừng và đất lâm nghiệp xảy ra từ đó. UBND huyện Hương Khê giao trách nhiệm cho ngành Kiểm lâm chủ trì khảo sát điều tra thực địa trên Tiểu khu 226.
Trong Báo cáo số 06/BC-KL về kết quả kiểm tra đánh giá thực trạng việc tranh chấp rừng và đất lâm nghiệp tại Tiểu khu 226 xã Lộc Yên, ngày 26/9/2006 của Hạt Kiểm lâm Hương, chỉ rõ: Hầu hết đất của các hộ gia đình dân Gia Phố khi cấp chỉ có sơ đồ giáp ranh tên thửa giữa các hộ liền kề, không có tên khoảnh, tên tiểu khu.
Qua kiểm tra diện tích đất và rừng trồng xen vào năm 2004 - 2005 của các chủ hộ Gia Phố hầu hết trùng lên khoảng 100ha đất rừng của 18 hộ dân Lộc Yên nhận khoán trồng, chăm sóc và bảo vệ qua Lâm trường Hà Đông được thực hiện từ năm 2000 - 2011. Báo cáo số 06/BC-KL, ngày 26/9/2006 của Hạt Kiểm lâm kết luận: Hồ sơ lâm bạ của các hộ dân Gia Phố được cấp trên đất Lộc Yên không hợp pháp. Đề nghị UBND huyện Hương Khê thu hồi toàn bộ lâm bạ và diện tích đất ấy bàn giao lại cho UBND xã Lộc Yên quản lý.
Ngày 30/11/2006, UBND huyện Hương Khê ban hành Kết luận số 216/KL-UBND về việc kiểm tra tranh chấp rừng và đất lâm nghiệp tại Tiểu khu 226 xã Lộc Yên do ông Đinh Hữu Tân - Phó Chủ tịch UBND huyện, ký, chỉ rõ: UBND xã Gia Phố xác nhận và đề xuất việc giao đất cho dân địa phương mình trên đất Lộc Yên là sai địa danh quản lý của xã.
Trách nhiệm này thuộc về UBND xã Gia Phố mà trước hết là Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã, cán bộ địa chính và cán bộ lâm nghiệp xã khi xác nhận hồ sơ, cần phải được kiểm điểm làm rõ theo quy định... UBND xã Gia Phố có trách nhiệm tổng hợp số liệu các hộ công dân Gia Phố được giao đất tại Tiểu khu 226 để bàn giao cho UBND xã Lộc Yên quản lý... tổ chức thực hiện những nhiệm vụ đã được giao...
Cũng theo Kết luận số 216/KL-UBND, Hạt Kiểm lâm Hương Khê, Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND xã Gia Phố, UBND xã Lộc Yên tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan báo cáo UBND huyện trước ngày 20/12/2006... Phòng Nội vụ, Phòng Lao động -Thương binh & Xã hội đôn đốc, hướng dẫn các phòng, ban, ngành, đơn vị liên quan thực hiện kiểm điểm trách nhiệm tập thể, cá nhân theo quy định, tổng hợp tham mưu UBND huyện xử lý trước ngày 31/12/2006...
Như vậy, những sai phạm trong việc cấp đất lâm nghiệp chồng chéo ở Tiểu khu 226 xã Lộc Yên đã được UBND huyện Hương Khê làm rõ kết luận. Tuy nhiên, kết luận đó đã không được thực hiện một cách nghiêm minh đúng quy định của pháp luật. Đó là cội nguồn của việc tranh chấp rừng, khiếu kiện vượt cấp, biến xã Lộc Yên trở thành điểm nóng trên địa bàn huyện.
Năm 2006, ông Đinh Hữu Tân là Phó Chủ tịch UBND huyện được phân công giải quyết sự việc này đã phán quyết đúng luật định. Vậy mà, hơn 6 năm sau, bất chấp chỉ đạo của UBND tỉnh Hà Tĩnh, phớt lờ Thông tư 02/2008 ngày 23/6/2008 về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 147/2007 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 11/1/2013, ông Đinh Hữu Tân ban hành Kế hoạch số 15 chỉ đạo khai thác rừng tại Tiểu khu 226 xã Lộc Yên, trong đó giao UBND xã Gia Phố xây dựng chi tiết cụ thể phương án khai thác trình UBND huyện phê duyệt trước ngày 13/1/2013.
Ngày 16/1/2013, ông Tân lại ban hành Thông báo số 12/TB-UBND phân công nhiệm vụ thành viên Ban Chỉ huy Thống nhất các lực lượng bảo đảm an ninh tổ chức khai thác gỗ, rừng trồng tại Tiểu khu 226 xã Lộc Yên. Ban Chỉ đạo 11 người, huy động hàng trăm người người chặn các nẻo đường vào Tiểu khu 226 bảo vệ cho UBND xã Gia Phố khai thác khoảng 70ha rừng trồng của 16 hộ dân Lộc Yên được Chính phủ cho nhằm xóa đói giảm nghèo.
Ông Nguyễn Anh Đào, 1 trong các hộ dân bị mất rừng, bức xúc: "Đất và rừng đều là của dân Lộc Yên. Trước đây UBND xã Gia Phố lập văn bản trình lên huyện cấp cho dân của họ. Việc làm sai trái ấy ông Đinh Hữu Tân đã chỉ ra nhưng không giải quyết. Nay ông Tân lại tiếp tay cho người Gia Phố bán rừng của chúng tôi. Chúng tôi sẽ đấu tranh đến cùng, không chỉ lấy lại quyền lợi cho dân Lộc Yên mà để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật" (Thanh tra 27/3)đầu trang(
Bỏ công của trồng rừng và chăm sóc bảo vệ gần chục năm, tới thời kỳ khai thác được thì giá bán gỗ chỉ đủ trả tiền công khai thác vận chuyển, bởi chưa có nhà máy chế biến nào công suất đủ lớn để tiêu thụ gỗ rừng trồng ngay trong nội tỉnh …
Đắk Lắk vào mùa thu hoạch gỗ rừng trồng. Ai đi dọc quốc lộ 14, 26, và tỉnh lộ xuyên qua các huyện M’đrắk, Ea Kar, Krông Pắk, Krông Bông, Lắk, Ea H’leo đều thấy cảnh những bãi gỗ đã róc cành bóc vỏ chờ chất lên xe để chở xuống cảng biển hay đưa về nhà máy chế biến ván dăm.
Phù hợp nhất với kinh tế huyện chỉ có hướng phát triển lâm nghiệp, M’Đrăk là huyện bán gỗ rừng trồng thuận lợi nhất nhờ giáp cửa ngõ tỉnh Khánh Hòa, gần cảng biển nơi Cty Cát Phú chuyên thu mua gỗ rừng trồng chuyển xuống để xuất khẩu.
Ông Phạm Thế Minh, giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Đrắk, đơn vị đang quản lý trên 18 nghìn hecta rừng, trong đó có ba nghìn hecta rừng trồng cho biết : Gỗ rừng trồng hiện bán cây đứng tại chỗ chỉ có 400-500 nghìn một ster đôi, tức 2 mét khối. Mỗi hecta rừng khai thác được từ 60-80 ster. Với giá đó, nghề trồng rừng chỉ đạt được mục tiêu giải quyết việc làm và phủ xanh đồi trọc chứ không lời lãi gì cả nên Cty đang nhờ chuyên gia khảo sát xem có thể chuyển sang trồng cao su được không.
Cũng điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đất cằn chỉ phù hợp với phát triển rừng trồng nhưng xa biển hơn M’Đrắk, người trồng rừng ở một số huyện khác đều bị lỗ nặng hơn.
Sở hữu 259 ha rừng trồng, trong đó trên 100 ha đã đến kỳ khai thác ở xã Đắk Nuê huyện Lắk, ông H. giám đốc Cty TNHH Lan Chi kể: Nhờ có sẵn nhà xưởng và đội ngũ công nhân, ông tổ chức tự khai thác, sơ chế và chở xuống bán tận cảng Cam Ranh cách Đắk Nuê khoảng 300 km, bình quân mỗi hecta bán được 35-37 triệu đồng sau 8 năm đầu tư chăm sóc. Cộng cả lãi suất ngân hàng đã vay để đầu tư và tỉ lệ lạm phát vào giá thành, mới thấy biết bao khó nhọc vẫn chưa thu hồi được đủ vốn bỏ ra ban đầu.
Tương tự, giám đốc Cty Bảo Lâm có dự án trồng rừng gần một nghìn hecta trên địa bàn hai xã Ea Bông và Băng Adrênh ở huyện Krông Ana tiết lộ: Với giá bán gỗ đến kỳ khai thác hiện nay cho một nhà máy chuyên sản xuất ván dăm bên tỉnh Đắk Nông, thì dù Cty chỉ vay thương mại khoảng 30% vốn đầu tư, vẫn bị thua lỗ.
Vấn đề nằm ở chỗ: Toàn tỉnh Đắk Lắk đến nay chưa có nhà máy chế biến gỗ rừng trồng nào công suất đủ lớn để tiêu thụ được hết sản lượng gỗ rừng trồng trong bán kính dưới 100km do các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn sản xuất được. Chi phí vận chuyển quá lớn sang các tỉnh khác đã khiến giá gỗ rớt thảm hại.
Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk cho biết: Trên địa bàn tỉnh hiện có trên 84 nghìn hecta rừng trồng, trong đó khoảng phân nửa diện tích đã bước vào thời kỳ thu hoạch. Tuy nhiên mới có nhà máy chế biến gỗ rừng trồng của Cty Lâm nghiệp Phước An, quy mô vừa, chuyên thu mua gỗ keo tai tượng và keo lá tràm, còn bà con mình trồng chủ yếu keo lai nên hầu hết phải bán cho Cty Cát Phú ở Nha Trang. (Tiền Phong 28/3) đầu trang(
Giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh, ông Đào Huy Phiên cho biết, đơn vị vừa ra quyết định kỷ luật 8 cán bộ ở Trạm Kiểm lâm Hòa Hải và Trạm Kiểm lâm Sao La (Vườn Quốc gia Vũ Quang) do thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Theo đó, lãnh đạo Vườn Quốc gia Vũ Quang đã quyết định cách chức Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Hòa Hải đối với ông Nguyễn Đình Lê; khiển trách trước toàn đơn vị các kiểm lâm viên: Phan Trọng Tuân, Trần Văn Quỳnh, Thái Ngọc Sơn, Đỗ Đức Thăng (Trạm Kiểm lâm Hòa Hải) và Nguyễn Phi Hùng, Hồ Phúc Sơn Sơn, Nguyễn Bá Hồng (Trạm Kiểm lâm Sao La).
Được biết, trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến 12/2012, tại tiểu khu 198+204 rừng do Trạm kiểm lâm Hòa Hải và Trạm Kiểm lâm Sao La (thuộc Vườn Quốc gia Vũ Quang) quản lý, bảo vệ đã xảy ra vụ chặt phá rừng gây hậu quả nghiêm trọng. Sau khi để xảy ra sự việc, 8 kiểm lâm kể trên đã phải làm giải trình, kiểm điểm và nhận trách nhiệm. (Công An Nhân Dân 28/3)đầu trang(
27.3, UBND huyện Quảng Trạch cho biết, một nhóm 12 người đi trầm của xã Quảng Minh, Quảng Sơn đi trầm đã bị bắn chết 5 người. Hiện thi thể các phu trầm xấu số đã được đưa về an táng.
Thông tin cho biết, 12 phu trầm này đi trầm ở vùng rừng núi giáp ranh giữa tỉnh Quảng Bình với Xavanakhet (Lào) và lọt vào ổ phục kích của một nhóm lạ mặt có súng vũ trang.
Nhóm người này đã bắt giữ 8 phu trầm xã Quảng Minh, Quảng Sơn đòi tiền chuộc rất lớn.
Hiện các nhân chứng sống sót chưa thể kể chính xác nhóm người này nói tiếng gì, mà chỉ biết ra hiệu vì họ đang rất hoảng loạn.
Trong đêm tối, có 7 người trốn thoát, khi 7 phu trầm này rời khỏi điểm bị bắt hơn 200m là loạt đạn của nhóm bắt cóc nổ ra làm chết 5 phu trầm, đều trú xã Quảng Minh. Sau khi về địa phương, 7 phu trầm sống sót đã huy động người thân, làng xóm đến khu vực rừng bị bắt cóc đưa thi thể 5 phu trầm xấu số về quê an táng. (Nông Thôn Ngày Nay 28/3; Nông Nghiệp VN 28/3; Người Lao Động 28/3; Thanh Niên 28/3)đầu trang(
27-3 dư luận Quảng Bình hết sức bất ngờ trước việc ông Lưu Minh Thành, Giám đốc BQL di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha-Kẻ Bàng đã cầm cố sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của di sản này để “chạy” dự án bảo vệ rừng.
Về vấn đề này, ông Lưu Minh Thành cho rằng, không có chuyện cầm cố sổ đỏ di sản mà chỉ bàn giao cho một đơn vị ở Hà Nội nhằm thu hút dự án bảo vệ rừng từ các tổ chức NGO (phi chính phủ).
Ông Thành thừa nhận, toàn bộ 11 sổ đỏ được Sở TN-MT Quảng Bình cấp cho di sản thiên nhiên thế giới VQG Phong Nha-Kẻ Bàng đã được giao cho người có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, khi hỏi người có tư cách pháp nhân là ai, ông Thành chỉ đưa ra một hồ sơ có tờ giấy ký nhận của bà Trần Thị Trường (trú tại Nam Lý, TP Đồng Hới, Quảng Bình). Tờ giấy bà Trường ký nhận gồm 11 sổ đỏ gốc với tổng diện tích 122. 864ha đất rừng di sản Phong Nha-Kẻ Bàng được UNESCO khuyến nghị cần bảo vệ tốt cả về trạng thái thực địa và hồ sơ liên quan.
Theo ông Lưu Minh Thành, toàn bộ sổ đỏ trên giao Công ty TNHH Phát triển lâm nghiệp Việt Nam (Hà Nội), bà Trường là người đại diện công ty. Tờ giấy ký biên nhận 11 sổ đỏ của di sản Phong Nha-Kẻ Bàng không đóng dấu bất cứ cơ quan đơn vị nào. Ông Thành cho biết việc giao sổ đỏ này nhằm mục đích kêu gọi dự án bảo vệ rừng, bàn giao sổ đỏ làm tin để mỗi hécta được 25 triệu đồng. Tuy nhiên, sổ đỏ giao từ ngày 19-4-2011, đến nay không hề có đồng vốn nào được chuyển về.
Trao đổi với PV Báo Sài Gòn Giải Phóng Trần Thị Trường giới thiệu là Giám đốc Công ty TNHH Xuân Trường có chức năng xây dựng cơ bản và buôn bán gỗ. Bà Trường thừa nhận cầm 11 sổ đỏ từ ông Lưu Minh Thành và đang “chạy” dự án hỗ trợ bảo vệ rừng. Bà Trường nói: “Mỗi hécta được hỗ trợ 25 triệu đồng, đến lúc về tay chủ rừng sẽ còn 20 triệu đồng”. Nhưng vì sao cầm sổ đỏ đã hai năm, nhưng hiện chưa có tiền, bà Trường nói “sắp tới sẽ có”, đó là điệp khúc bà Trường đã hứa hai năm qua.
Một cán bộ của UBND tỉnh Quảng Bình, cho biết tất cả dự án bảo vệ rừng với di sản Phong Nha-Kẻ Bàng đều phải thông qua UBND tỉnh, việc làm của ông Lưu Minh Thành không báo cáo là sai nguyên tắc, sử dụng sổ đỏ không đúng mục đích là vi phạm pháp luật. Trong khi đó, dự án của ngân hàng tái thiết Đức KFW tài trợ hơn 15,77 triệu EURO đang triển khai tại khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng không cần “cầm cố” sổ đỏ.
Vụ việc ông Lưu Minh Thành “cầm cố” sổ đỏ chưa được thông báo đến các thành viên Giám đốc VQG Phong Nha-Kẻ Bàng. (Sài Gòn Giải Phóng 28/3)đầu trang(
Thanh tra tỉnh Cà Mau vừa đề nghị chuyển hồ sơ vụ xén đất dân mang bán ở Lâm ngư trường (LNT) Tam Giang I (nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang, huyện Năm Căn) sang cơ quan CSĐT điều tra tiếp.
Theo đó, thanh tra đề nghị công an làm rõ dấu hiệu cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; vi phạm về quản lý bảo vệ rừng và lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền trong thi hành công vụ của ông Huỳnh Đắc Nhẫn, nguyên Giám đốc LNT; ông Chung Duy Lép (Phó ban Quản lý rừng phòng hộ Tam Giang 1) và Phạm Ngọc Hưng (Phó phòng Kỹ thuật Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau).
Thanh tra tỉnh cũng đề nghị kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với một số cán bộ thuộc Thanh tra tỉnh và Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau.
Hơn 10 năm qua, 19 hộ dân ở Mai Vinh, xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn liên tục tố cáo Ban giám đốc LNT Tam Giang I đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình cắt xén đất của dân, thực hiện sai phương án giao đất, giao rừng được phê duyệt của UBND tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau). Trong việc thực hiện phương án giao đất, giao rừng cho dân năm 1992-1993, Ban giám đốc LNT Tam Giang I đã “phù phép” cấp đất trái quy định để trục lợi cá nhân. Khi giao đất cho 19 hộ dân theo phương án của tỉnh, các cán bộ LNT đã xén bớt phần hậu của các mảnh đất.
Trước đó, LNT đã lừa dân là có một dự án khôi phục rừng phòng hộ do Hà Lan tài trợ, mỗi hộ dân phải hy sinh một ít đất ở phần hậu đất để cho Nhà nước làm dự án. Sau đó lãnh đạo LNT cho cắm bảng dự án nhưng thực chất chẳng có dự án nào ở khu vực mà là trò lừa dân để xén bớt đất của họ của lãnh đạo LNT.
Rốt cuộc, các hộ dân bị cán bộ xén bớt gần 300 ha đất rồi mang chia nhau dưới danh nghĩa giao khoán, sang bán. Trong đó thanh tra phát hiện có nhiều hợp đồng giao khoán không đúng quy định, thậm chí giao khoán cho trẻ em (hai hợp đồng), diện tích giao cho cán bộ lãnh đạo vượt nhiều lần và không đúng đối tượng…
Thanh tra xác định ông Huỳnh Đắc Nhẫn trục lợi bất chính số tiền 500 triệu đồng (từ việc bán 50 ha đất rừng); ông Chung Duy Lép 270 triệu đồng (bán 16 ha rừng)… nên chuyển hồ sơ cho công an tiếp tục điều tra, xử lý.
Một vụ sai phạm nhưng phải mất rất nhiều thời gian với gần chục tổ xác minh, thanh tra, phúc tra… mới có kết quả phản ánh đúng bản chất sự việc. (Pháp Luật TPHCM 28/3)đầu trang(
Chiều 27-3, tại buổi sơ kết công tác phòng chống khai thác khoáng sản trái phép ở huyện Khánh Vĩnh, ông Lê Đức Vinh - phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa - nói rằng ngân sách tỉnh đã chi hơn 2,3 tỉ đồng với quyết tâm đến cuối năm 2012 giải quyết triệt để tình trạng trên, song đến nay mục tiêu này vẫn không thực hiện được.
Ông Vinh chỉ đạo các lực lượng chức năng của tỉnh Khánh Hòa và huyện Khánh Vĩnh thực hiện các giải pháp mạnh hơn như khoanh vùng có quặng để cấm không cho người vào rừng, khởi tố hình sự các “quặng tặc” chặt phá rừng để khai thác quặng, giải quyết triệt để tình trạng đầu nậu và bảo kê mua bán quặng...
Theo ông Trần Hòa Nam - chủ tịch UBND huyện Khánh Vĩnh - ngoài hai địa điểm lâu nay các lực lượng chức năng của huyện và tỉnh thường xuyên truy quét, chốt chặn ở xã Khánh Thành và Khánh Phú, mới đây còn phát hiện điểm khai thác quặng trái phép mới tại vùng rừng xã Khánh Thượng giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng.
Từ tháng 7-2012 đến cuối tháng 2-2013, lực lượng chức năng đã tổ chức 23 đợt truy quét để đưa hàng ngàn “quặng tặc” ra khỏi rừng, đồng thời lập hai chốt chặn sát bên các điểm nóng khai thác quặng, lập hồ sơ 40 đối tượng vận chuyển khoáng sản trái phép, tạm giữ 3 tấn khoáng sản...
Tuy nhiên, tình trạng khai thác quặng trái phép vẫn diễn ra. Đáng chú ý trong các nguyên nhân dẫn đến việc ngăn chặn tình trạng này chưa hiệu quả là thông tin các đợt truy quét bị rò rỉ nên “quặng tặc” tìm cách đối phó, một số thành viên các tổ chốt chặn buông lỏng trách nhiệm... (Tuổi Trẻ 28/3)đầu trang(
27-3, BĐBP tỉnh Gia Lai phối hợp Đồn BP Ia Lốp thu giữ 9,628m3 gỗ vô chủ trên địa bàn biên giới xã Ia Mơ- huyện Chư Prông (Gia Lai).
Trong quá trình tuần tra truy quét trên địa bàn biên giới, tại khu vực suối công binh, xã Ia Mơ, huyện Chư Prông, BĐBP tỉnh Gia Lai và Đồn BP Ia Lốp đã phát hiện và tiến hành thu giữ 24 hộp gỗ căm xe (nhóm 2), có kích thước rộng từ 22- 50 cm, dài từ 2,6- 6m, tổng 9,628m3, được xác định là gỗ vô chủ.
Hiện Đồn BP Ia Lốp đã tiến hành thu giữ và lập hồ sơ xác định không chủ sở hữu báo cáo các cấp giải quyết. (Biên Phòng 28/3)đầu trang(
Mặc dù chỉ bắt gặp hai người đàn ông đứng cùng đống gỗ, bà Trần Thị Kim Anh - giáo viên một trường mầm non ở tỉnh Hà Giang đã "làm chứng" cho một quá trình vi phạm pháp luật đủ dài và tinh vi để có thể biến kẻ có tội thành người có công.
Như tin đã đưa, liên quan vụ vận chuyển lâm sản bị nhân dân, chính quyền xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên bắt giữ hôm 20-3, lãnh đạo Phòng cảnh sát kinh tế, Công an tỉnh Hà Giang đã ra quyết định đình chỉ công tác có thời hạn đối với hai đương sự gồm thiếu tá Nguyễn Trung Thực và trung úy Vũ Mạnh Thể.
Riêng với bà Trần Thị Kim Anh, giáo viên trường mầm non Phú Linh, ngày 26-3 mới có văn bản tường trình gửi Hiệu trưởng và Trưởng phòng giáo dục huyện Vị Xuyên.
Theo bản tường trình này, bà Kim Anh cho biết, hơn 10 giờ ngày 20-3, do con bị sốt cao nên bà đã gửi lớp cho đồng nghiệp để đưa cháu về nhà nghỉ.
Ra khỏi cổng trường, bà Kim Anh cho biết đã thay đổi lộ trình để "tránh sự bắt gặp của Ban giám hiệu".
Nhờ đổi đường, nên bà đã gặp hai anh công an gồm Thế, Thực đang đứng cùng ô tô và đống "lâm sản vô chủ".
Bà cho biết, người công an tên Thế đã vẫy bà lại để giới thiệu "cả hai đều là công an đang làm nhiệm vụ rồi nhờ làm chứng cho việc phát hiện gỗ vô chủ".
"Khi làm việc, cả hai không đưa giấy tờ hay thẻ gì để chứng minh là công an đang làm nhiệm vụ, nhưng tôi tin vì hai anh đang mặc áo quần cảnh sát", Kim Anh kể tiếp: "Sau khi tôi dừng xe, hai anh đưa tôi đi vào bãi đất nằm cách đường 3- 4 mét. Ở đó có gỗ. Anh Thế bóc túi ni lông bảo rằng, đây là gỗ nghiến, dạng thớt rồi quay ra để lập biên bản”.
Mặc dù chỉ chứng kiến cảnh hai anh công an với khối lâm sản cùng xe ô tô (có ba biển kiểm soát- NV), nhưng biên bản sự việc được ông Thế lập cho bà Kim Anh "làm chứng" lại bao gồm cả một qui trình rất dài gồm: “nhận tin báo, lên kế hoạch, tiến hành kiểm tra, phát hiện gỗ vô chủ...”
Nói như bà Kim Anh, thì bà đã để mặc ông Thế “viết gì thì viết”. Bởi "anh Thế lập biên bản, sau khi lập biên bản, anh ấy phần thông qua thế nào tôi cũng không để ý gì đâu, con tôi khóc, tôi không để ý nội dung gì cả. Tôi chỉ ký cho nó xong chuyện thôi, chứ không có mục đích gì", bà Kim Anh nói.
Sau khi ký xác nhận cho cả những điều không được chứng kiến, bà Kim Anh đã đọc cho ông Thế viết tên mình xuống dưới chữ ký- theo lời khai của bà Kim Anh.
"Không hiểu sao lúc đó, tôi bảo tôi họ Ngô, Ngô Kim Anh chứ không phải Trần Kim Anh". Khi được hỏi, tại sao làm thế, bà lại loanh quanh: "Tôi gặp hai anh này ở ngoài đường nên nhất thiết không phải cho biết... tên thật" (!?)
Đến khi đối chiếu chữ ký trong biên bản với chữ ký thường dùng của bà Trần Thị Kim Anh thì mọi người mới "bổ ngửa" vì hai chữ ký này không giống nhau, thậm chí có thể nói đây là chữ ký của hai người.
Tuy nhiên, theo bà Kim Anh thì chuyện đó “hết sức bình thường” vì "cả hai chữ ký đều là của tôi, tôi ký trong tâm trạng không thoải mái. Hơn nữa tôi có phải là giám đốc hay chủ tài khoản gì đâu mà phải ký cho giống".
Bà Kim Anh còn cho hay, khi nhờ làm chứng, ông Thế, Thực không hề cho biết quyền và nghĩa vụ của người làm chứng. (Nhân Dân 28/3)đầu trang(
Ngày 27-3, Ban quản lý Vườn quốc gia PN-KB đã có các quyết định xử lý kỷ luật về mặt chính quyền đối với 14 cán bộ thuộc Hạt Kiểm lâm PN-KB, do sai phạm trong vụ ba cây gỗ sưa bị khai thác trái phép tại khu vực Hung Trí thuộc Vườn quản lý, bảo vệ.
Theo đó, ông Phan Hồng Thái (nguyên Hạt trưởng) và ông Nguyễn Hữu Trí, Hạt phó bị xử lý kỷ luật với hình thức cảnh cáo. Các Trạm trưởng thuộc Hạt Kiểm lâm PN-KB gồm: Nguyễn Nam Định, Trần Đức Tiến, Nguyễn Hoài Nam, Trần Văn Trị, Dương Văn Ấn và Trần Quang Đồng; các Trạm phó gồm: Nguyễn Thế Vịnh, Nguyễn Thanh Trì, Phạm Xuân Cường, Hà Đức Kiển, Hoàng Minh Luyến và Phạm Xuân Huyền nhận hình thức kỷ luật khiển trách. (Nhân Dân 27/3)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Các nhà khoa học vừa tổ chức buổi hội thảo TEDx tại Washington DC, Mỹ với mục đích tìm cách hồi sinh 24 loài động vật đã tuyệt chủng.
Các nhà khoa học gọi nhóm động vật tuyệt chủng này với tên “de-extinction” (có nghĩa là hóa giải tuyệt chủng), bao gồm chim dodo, vẹt đuôi dài Carolina, lừa vằn (hay còn gọi là Quagga), voi mamút, ngựa vằn đồng bằng từng sống tại Nam Phi…
Tuy nhiên, trong số các loài động vật tuyệt chủng, các nhà khoa học cho rằng họ không thể hồi sinh loài khủng long sống trong kỷ Jura vì ADN của chúng quá xưa.
Việc lựa chọn các loài động vật tuyệt chủng để hồi sinh dựa trên một số tiêu chí nhất định như: mang chức năng sinh thái quan trọng, được con người yêu chuộng. Đồng thời hành động này cũng thuộc phạm trù đạo đức, phải suy xét đến lý do vì sao chúng tuyệt chủng.
Các nhà khoa học cho biết sẽ lấy những mẫu ADN cũ, ghép chúng thành một bộ gen đầy đủ. Sau đó tiêm vào các tế bào phôi thai, tìm kiếm dạng sống thích hợp để thay thế.
Chi phí hồi sinh dành cho mỗi loài vật sẽ khác nhau, nhưng dự đoán dự án này có thể lên đến hàng trăm ngàn USD. (Tuổi Trẻ 28/3)đầu trang(
Các nhà khoa học ngày 26/3 đã có hành động hiếm khi thêm hai loài vượn cáo chuột đang còn sống vào danh sách động vật linh trưởng.
Quyết định này đã đưa số vượn cáo chuột - những con vật sống trên cây, chuyên ra ngoài vào ban đêm và nặng chỉ như một quả táo lớn, lên tổng cộng 20 loài.
Nhưng các nhà khoa học cảnh báo rằng, một trong số 2 loài mới được thêm vào danh sách đang có nguy cơ tuyệt chủng. (VietnamPlus.vn 28/3)đầu trang(
Phát triển du lịch và sự tràn lan của các loài phi bản địa xâm lấn đang đe dọa đời sống thực vật và đời sống của biển xung quanh quần đảo Galapagos.
Các nhà khoa học Anh từ các trường Đại học Southampton và Dundee hiện đang nghiên cứu mức độ của vấn đề này dựa vào một khoản trợ cấp Sáng kiến Darwin của chính phủ Anh nhằm mục đích để bảo vệ đa dạng sinh học và thúc đẩy phát triển bền vững trên toàn thế giới.
Richard Benyon - Bộ trưởng Bộ Môi trường Anh cho biết: nước Anh đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thiết lập khu bảo tồn biển Galapagos và Sáng kiến Darwin đã tài trợ cho một loạt các dự án quan trọng về bảo vệ và tăng cường đời sống động vật hoang dã ở biển và trên đất liền. (Theo Agroviet 27/3) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||