Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 27 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ông Mai Tiến Lên, Giám đốc Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng (BV&PTR) tỉnh Phú Yên cho biết, việc thu tiền ủy thác chi trả DVMTR của tỉnh chủ yếu từ 3 Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông H’Năng.
Mặc dù Quỹ BV&PTR Việt Nam (VNFF) đã ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR đối với các Nhà máy trên, nhưng đến nay mới chỉ có Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ chuyển cho quỹ của tỉnh 1.122 triệu đồng, dẫn đến chậm chi trả tiền cho các đối tượng được hưởng DVMTR.
Theo Quỹ BV&PTR Phú Yên, từ năm 2011-2012, quỹ mới chỉ thu được 1.830 triệu đồng. Trong đó, năm 2012 thu được 1.658 triệu đồng/10.290 triệu đồng, đạt 16,1%; quý I và II/2013 chỉ thu 255 triệu đồng/4.369 triệu đồng, đạt 5,8% kế hoạch. 2 doanh nghiệp chưa nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR là Nhà máy thủy điện Krông H’Năng (Cty CP Sông Ba) và Nhà máy thủy điện Sông Hinh (Cty CP Vĩnh Sơn - Sông Hinh).
Để thanh toán tiền chi trả DVMTR cho các đối tượng có diện tích rừng cung cấp DVMTR của 2 NM thủy điện trên, ngày 7/8/2013, UBND tỉnh Phú Yên đã có văn bản gửi Cty CP Vĩnh Sơn - Sông Hinh. Văn bản nêu rõ, trên cơ sở sản lượng điện thương phẩm của Nhà máy thủy điện Sông Hinh trong các năm 2011-2012 và quý I, II/2013, tổng số tiền DVMTR rừng mà Cty còn nợ, chưa thanh toán về VNFF là 23.121 triệu đồng.
Vì vậy VNFF chưa thể điều phối tiền ủy thác chi trả DVMTR cho các tỉnh Phú Yên và Đắk Lắk. Việc này, đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện tiền chi trả DVMTR cho các chủ rừng ở địa phương. Vì vậy, UBND tỉnh đề nghị Cty Vĩnh Sơn - Sông Hinh khẩn trương thanh toán số tiền còn nợ DVMTR nêu trên về Quỹ BV&PTR Việt Nam để tỉnh Phú Yên điều phối chi trả các tỉnh theo quy định.
Để xây dựng ba thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông H’Năng, tỉnh Phú Yên mất hơn 10.000 ha đất nông lâm nghiệp; trong đó có hơn 1.000 ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và đầu nguồn. Từ thực tế mất rừng do làm thủy điện, Chính phủ đã ra Nghị định số 23/2006 về thi hành Luật BV&PTR, quy định rõ: “Cơ quan cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải bảo đảm việc đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác...”.
Theo đó, 3 thủy điện trên phải thực hiện trồng lại rừng; trong đó Cty CP thủy điện Sông Ba Hạ phải trồng lại 204 ha rừng và Công ty CP Vĩnh Sơn - Sông Hinh trồng 175 ha. Tuy nhiên, việc trồng lại rừng theo quy định chưa được các doanh nghiệp này thực hiện nghiêm túc và viện lý do, các địa phương chưa bố trí được quỹ đất và thiếu kinh phí trồng lại rừng; chưa có quy định doanh nghiệp trích lợi nhuận sản xuất kinh doah thủy điện để tham gia với địa phương trồng lại rừng bị mất do thủy điện.
Trong khi đó, chính sách chi trả DVMTR của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, nhưng các doanh nghiệp vẫn cố tình “chây ỳ” thực hiện. Điều này cho thấy, phần lớn DN thủy điện đều có chung mục đích chạy theo lợi nhuận, liên tục viện cớ để phó thác trách nhiệm cho xã hội về vấn đề môi trường do mình gây ra.
Hậu quả, rừng mất, chậm được phục hồi, thủy điện thì thi nhau tích nước, dẫn đến vào mùa nắng, dòng sông Ba ngày càng khô kiệt, biến dạng; nhiều đoạn chỉ còn lại những mương nước, ao tù như “dòng sông chết”. Khi mùa mưa lũ đến, các thủy điện “đua” nhau xả lũ, uy hiếp tính mạng, tài sản người dân vùng hạ du, làm đảo lộn cuộc sống của hàng nghìn hộ ven sông. (Nông Nghiệp Việt Nam 26/9) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện việc bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn (2013-2020), định hướng đến năm 2030, với tổng kinh phí khoảng hơn 105 tỷ đồng.
Theo đó, tỉnh thành lập, kiện toàn Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên; tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, các trường đại học, tiến hành điều tra, nghiên cứu, giám sát và phát triển đa dạng sinh học, đặc biệt là việc nghiên cứu tại các khu bảo tồn thiên nhiên.
Cùng với đó, tỉnh triển khai các trương trình, dự án bảo tồn dựa vào cộng đồng, phát triển du lịch sinh thái, thống kê đầy đủ các loài động vật, thực vật tại các khu bảo tồn Na Hang, Cham Chu, Khuôn Hà - Thương Lâm và Tân Trào; triển khai xây dựng mô hình quần chúng nhân dân bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học, hỗ trợ nghề nghiệp cho cộng đồng dân cư sống trong khu bảo tồn...
Tuyên Quang có tổng diện tích đất tự nhiên hơn 587.700 ha; trong đó đất lâm nghiệp chiếm 76%; độ che phủ rừng đạt hơn 64%. Hệ sinh thái của Tuyên Quang được xếp hạng là một trong 223 hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học nhất thế giới.
Tỉnh đã xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên ở các địa phương như Sơn Dương, Na Hang, Hàm Yên... trong đó hệ sinh thái rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh lâu năm có diện tích hơn 6.500 ha, với khoảng hai nghìn loài thực vật, có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, nhiều loài động, thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh đang có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. Vì vậy, việc thực hiện bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu là một trong những yêu cầu cấp bách đối với tỉnh Tuyên Quang. (Nhân Dân 27/9) đầu trang(
Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang Hà Minh Quý cho biết: trong quý IV/2013, tỉnh Bắc Giang tiếp tục triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đã xây dựng kế hoạch triển khai công tác phòng chống chữa cháy rừng mùa khô 2013 - 2014 trên địa bàn; triển khai thực hiện các nội dung của dự án Nâng cao năng lực phòng chống chữa cháy rừng cho lực lượng kiểm lâm tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2013 - 2015; tiếp tục thực hiện hạ cấp thực bì trước mùa cháy tại huyện Yên Dũng.
Bên cạnh đó, Chi cục chỉ đạo hạt kiểm lâm các huyện Sơn Động, Lục Nam hoàn thiện hồ sơ xử lý các vụ phá rừng trái phép có dấu hiệu hình sự, phối hợp với cơ quan công an, viện kiểm sát để sớm có kết luận điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Nhằm quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có trên địa bàn, Bắc Giang phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức kiểm lâm và người lao động, gắn trách nhiệm của người đứng đầu với việc thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị thuộc ngành kiểm lâm.
Chi cục Kiểm lâm phối hợp với các chủ rừng, chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra rừng, ngăn chặn tận gốc tình trạng chặt, phá rừng, khai thác trái phép lâm sản; chú trọng kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản ở trong rừng, ven rừng; kiểm tra, giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp luật về kinh doanh, chế biến lâm sản và quản lý việc gây nuôi động vật hoang dã.
Ngoài ra, từ đầu năm đến nay, tỉnh Bắc Giang cũng đã hoàn thiện hồ sơ giao rừng được gần 1.600 ha cho trên 700 hộ gia đình, cá nhân; giao khoán bảo vệ gần 43.000 ha rừng tự nhiên cho trên 2.700 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng, tổ chức trồng rừng tập trung được trên 4.700 ha; tổ chức tuyên truyền bảo vệ rừng cho trên 3.500 lượt người, cắm gần 720 biển báo, biển cấm, biển nội quy bảo vệ rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Hiện nay, diện tích đất có rừng của tỉnh Bắc Giang là trên 145.700 ha, trong đó gần 63.600 ha rừng tự nhiên, gần 77.400 ha rừng trồng cây lâm nghiệp và gần 4.800 ha rừng trồng cây công nghiệp, đặc sản. Từ đầu năm 2013 đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện, lập biên bản xử lý 73 vụ phá rừng trái phép với trên 8,3 ha. Các Hạt kiểm lâm đã kiểm tra, phát hiện xử lý 276 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu trên 131 m3 gỗ các loại và trên 310 kg động vật hoang dã... (Tamnhin.net 27/9; Kinh Tế Việt Nam&Thế Giới 27/9) đầu trang(
Dự án Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam vừa tổ chức 5 lớp tập huấn về quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng cho gần 150 người tại các xã: Phúc Sen, Tự Do (Quảng Uyên), Đức Quang, An Lạc, Kim Loan (Hạ Lang).
Nội dung tập huấn: Rà soát thực hiện kế hoạch quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng các thôn, bản đã lập giai đoạn 2009 - 2013; Điều chỉnh và lập kế hoạch quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng giai đoạn 2014 - 2018; Xây dựng Quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng; Thành lập quỹ và cơ chế quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng; Thực hành hướng dẫn lâm sinh tại thực địa… (Báo Cao Bằng 27/9) đầu trang(
Với chủ đề “Voi”, chương trình SOS năm 2013 đã khởi động vào ngày 26-9 tại Trường THCS Đồng Khởi (Q. Tân Phú, TP.HCM). Trong một tuần, học sinh tại trường được tìm hiểu về cách thức bảo vệ động vật hoang dã, vì sao động vật hoang dã ngày càng bị tuyệt chủng.
Chương trình sẽ luân phiên đến các trường học tại quận Tân Phú, Tân Bình, Bình Tân, Gò Vấp trong suốt năm nay.
Đây là hoạt động do Sở Giáo dục - đào tạo TP.HCM, Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã (WAR) và Chi cục Kiểm lâm TP.HCM phối hợp thực hiện từ năm 2011. Tính đến nay, SOS đã đến 48 trường trên bảy quận tại TP.HCM tuyên truyền cho gần 30.000 học sinh về thực trạng và ý nghĩa của việc bảo vệ động vật hoang dã. (Tuổi Trẻ 27/9; Pháp Luật Việt Nam 27/9; Phụ Nữ TPHCM 27/9) đầu trang(
Ngày 25-9, 18 sinh viên Khoa Sinh-Môi trường và Khoa Hóa học của Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng bắt đầu tham gia chuyến thực địa tại Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh-xã Ayun, huyện Mang Yang (Gia Lai) trong chương trình của khóa tập huấn “Bảo tồn thú linh trưởng Việt Nam” năm 2013, do Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và Hội Động vật học Frankfurt (Đức) tại Việt Nam tổ chức.
Theo đó, từ ngày 25- 29/9, các sinh viên sẽ được tổ chức nghiên cứu thực địa về thú linh trưởng nhằm nâng cao kỹ năng nhận biết, phân loại các thú linh trưởng; tìm hiểu về mật độ, số lượng, phân bố của loài thú linh trưởng trong tự nhiên; nâng cao các kỹ năng nghiên cứu thực địa như sử dụng bản đồ, nhận biết phương hướng khi đi trong rừng, cách thu thập dữ liệu khu vực sống của linh trưởng...
Đây là khóa tập huấn lần thứ 7 kể từ năm 2006 đến nay và là một trong những nội dung hợp tác về lĩnh vực nghiên cứu bảo tồn thiên nhiên giữa Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và Hội Động vật học Frankfurt. (Báo Gia Lai 27/9) đầu trang(
Huyện Vĩnh Thạnh có diện tích tự nhiên 72.251 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm 58.938 ha, gồm diện tích đất có rừng 47.502 ha. Trước tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng (BV-PTR) diễn biến phức tạp, các cơ quan chức năng của huyện đã tăng cường phối hợp QL-BVR.
Nổi cộm là tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trái phép. Đối tượng vi phạm chủ yếu là người địa phương cấu kết với một số đối tượng bên ngoài với phương thức hoạt động tinh vi, táo bạo, gây không ít khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc kiểm tra, ngăn chặn, xử lý.
Ông Nguyễn Vinh Quang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, cho biết: “Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với các hội, đoàn thể trong huyện tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành Luật BV-PTR trong nhân dân; đồng thời phối hợp với lực lượng công an, quân sự huyện, Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Côn, Ban quản lý rừng phòng hộ và UBND các xã, thị trấn tổ chức kiểm tra, truy quét, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng.
Hạt Kiểm lâm huyện cũng đã xây dựng, ký kết quy chế phối hợp giữa Hạt Kiểm lâm với Công an huyện, Ban chỉ huy Quân sự huyện, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia BV-PTR. Đoàn kiểm tra liên ngành thường xuyên kiểm tra, truy quét các đối tượng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm Luật BV-PTR.
Qua thực hiện quy chế phối hợp, tình hình chặt phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trái phép ở Vĩnh Thạnh đã từng bước được ngăn chặn; thiệt hại về rừng giảm so với những năm trước. Công tác phối hợp tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về BV-PTR được chú trọng, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Công tác tuyên truyền QL-BVR trong năm qua cũng được các tổ chức đoàn thể tham gia tích cực. Nội dung QL-BVR được đưa vào một số tiểu phẩm tại hội diễn văn nghệ, các cuộc thi của các đơn vị, hội-đoàn thể, được quần chúng nhân dân đánh giá cao, nhiệt tình ủng hộ, hưởng ứng.(Báo Bình Định 27/9) đầu trang(
Nói không quá, làng này dễ xảy ra không ít án mạng, hàng xóm từ mặt nhau và rừng cũng chỉ còn trơ gốc nếu không có một “Bao công” sống luôn đứng ra phân xử, dàn xếp ổn thỏa. Ông là Nguyễn Hồng Danh, 60 tuổi, trưởng thôn Trung Lương (xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành, Quảng Nam).
Tận tụy với công việc, lấy sự ôn hòa của thôn xóm làm niềm vui cho mình, nhưng cũng không ít lần ông phải đối đầu với nguy hiểm. Bà Phan Thị Nhật, vợ ông kể, một bữa tụi thanh niên đánh lộn, một đứa đòi cắt gân tay, hễ ai vào can là chém. Cả thôn ráo riết gọi ông, bỏ đi không được, xông vào không xong, ông phải đứng nài nỉ, khuyên cả giờ đồng hồ như cha mẹ nó. Thế rồi nó quẳng dao trốn vào rừng, ổng lại cùng dân đi lùng từng bụi cây đưa nó ra băng bó vết thương. Ổng sợ nó chết tội.
Cũng cách đây vài năm, trong thôn có 6 thanh niên quậy phá, trộm cắp, dân bất bình. Ông đến từng nhà, gọi lên hội trường thôn hết lời răn dạy, chỉ bảo nhưng không xong. Về nghĩ mãi, chỉ còn cách xé nhỏ chúng ra mới được. Vậy là ông cơ cấu với Ủy ban xã rút 3 thanh niên đi bộ đội. Sau một thời gian trở về, có anh lính tới nhà cảm ơn ông mà trần tình “Cháu nói thật, hồi đó bị chú gọi miết, cháu định chém chú mấy lần!”.
Ông bị “ghét” nhiều hơn từ khi làm Tổ trưởng Bảo vệ rừng, làm bạn với kiểm lâm. Tình nguyện bỏ thời gian, công sức để giữ rừng nhưng hay bị lâm tặc ghét vì là…bạn với kiểm lâm. Cứ thấy ông khoác áo đi là dưới này điện cho lũ lâm tặc trên kia chạy trốn. Có đợt, lâm tặc kéo cả tốp về nhà ông chửi bới, trách ông người cùng thôn cùng xã mà “triệt đường sống” của nhau.
Ông bình thản: “Mấy anh nói chi tui cũng chịu, trách nhiệm tui phải làm. Rừng được mấy cây mà ngày nào các anh cũng đốn? Mai mốt lũ quét về, cả làng này trôi thì cha mẹ, vợ con các anh cũng là người phải gánh chứ đâu!”.
Lâm tặc quyết báo thù ông bằng cách phá rừng keo gần tới tuổi thu hoạch. Ông liền oang oang tung tin đồn: “May nhờ lâm tặc tự nhiên phá rừng keo của mình, mình về báo xã, xã đền cho chục triệu, lời quá!”. Tiền thì chả có cắc nào nhưng cái được là từ đó tụi lâm tặc không còn đến phá keo của ông nữa, còn ông và đội bảo vệ rừng vẫn hiên ngang tuần tra bảo vệ rừng. (Tiền Phong 27/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo báo cáo của Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ NN&PTNT ngày 25-9, xuất khẩu đồ gỗ tháng 9 được 389 triệu đô la, nâng 9 tháng đầu năm nay lên 3,77 tỉ đô la, tăng 12% so với cùng thời gian này năm ngoái.
Tuy không còn tăng trưởng xuất khẩu nóng như giai đoạn từ năm 2000-2010 nhưng từ đầu năm tới nay, đồ gỗ luôn là mặt hàng tăng trưởng ổn định ở mức 2 con số, bất chấp kinh tế thế giới khó khăn, hàng loạt mặt hàng nông sản khác sụt giảm.
Ngoại trừ thị trường Đức (giảm 15,1%) và Pháp (giảm 1,2%), xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ sang các thị trường tiêu thụ lớn hầu hết đều tăng trưởng mạnh, như Mỹ tăng 7,8%, Trung Quốc tăng 17,1%, Nhật Bản tăng 20,3%, và Hàn Quốc tăng 49% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, cho biết đa phần các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ ở tỉnh đều “không lo thiếu đơn hàng với nhu cầu đến từ nhiều thị trường như Mỹ, EU, Nhật”. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 27/9) đầu trang(
Từ thực trạng các lâm trường quốc doanh hoạt động không hiệu quả, tháng 6-2003, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 28-NQ/TW về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới nông lâm trường quốc doanh”. Đến nay, việc triển khai nghị quyết liên quan đến đời sống của hàng vạn người dân đã bước vào năm thứ 11. PV Sài Gòn Giải Phóng đã đến nhiều nơi thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi có nhiều lâm trường đang hoạt động, để tìm câu trả lời.
Tiếp tục đổi mới bởi trước đó đã có đến 3 đợt đổi mới hoạt động các lâm trường vào những năm 1991, 1995 và 1999. Không thể phủ nhận, qua 10 năm đổi mới, các lâm trường cũng có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng thực chất những đổi thay chỉ là “bình mới rượu cũ”?
Thực hiện NQ 28, các lâm trường quốc doanh đã hoàn thành việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, sắp xếp, chuyển đổi thành các DN sở hữu nhà nước.
Theo Bộ NN-PTNT, đến nay, các lâm trường quốc doanh đã sắp xếp từ 256 lâm trường quốc doanh xuống còn 148 công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp (gọi tắt CTLN), 3 công ty cổ phần, 91 ban quản lý rừng và đã giải thể 14 lâm trường quốc doanh hoạt động không hiệu quả. Sau quá trình sắp xếp, diện tích đất do các lâm trường quốc doanh quản lý cũng chỉ còn 2.064.690ha (giảm khoảng 50% so với trước đó). Mặc dù đạt được những kết quả nhất định nhưng các chuyên gia cho rằng thực tế vẫn bộc lộ nhiều yếu kém.
Theo GS-TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, công tác quản lý đất rừng hiện vẫn còn bất cập, nhiều nơi chính quyền địa phương bất lực để tình trạng xâm lấn, rừng bị “cạo trọc” kéo dài, trong khi các CTLN đang có phần “đuối sức” trong quản lý.
Số liệu của Bộ NN-PTNT cho thấy, hiện 148 CTLN đang quản lý hơn 2 triệu ha đất rừng. Như vậy, trung bình mỗi CTLN quản lý gần 14.000ha đất rừng. “Với diện tích đó nên nhiều CTLN quản lý không xuể, nhiều diện tích đất xâm lấn, rừng bị khai thác trái phép nằm ngoài khả năng kiểm soát của các công ty này” - ông Tô Xuân Phúc, đại diện Tổ chức Forest Trends tại Việt Nam nhận định.
Tìm hiểu thực tế, CTLN Đông Bắc (tỉnh Lạng Sơn) hiện đang quản lý gần 22.000ha đất rừng (trên địa bàn 3 tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Thái Nguyên) nhưng diện tích đất bị lấn chiếm lên tới 17.095ha.
CTLN Gia Nghĩa (tỉnh Đắk Nông) được giao quản lý hơn 19.000ha đất nhưng đã bị các hộ dân lấn chiếm khoảng 7.000ha, riêng tại xã Quảng Thành có hơn 2.000ha bị lấn chiếm và chặt phá.
Ông Nguyễn Chí Thung, Chủ tịch UBND xã Quảng Thành (tỉnh Đắk Nông), cho biết, trên địa bàn xã, Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (thuộc CTLN Gia Nghĩa) chỉ có 12 người nhưng quản lý đến 2.700ha rừng tự nhiên nên tại những vùng xí nghiệp này quản lý, tình trạng xâm lấn đất rừng, phá rừng tự nhiên để lấy đất sản xuất diễn ra thường xuyên và rất phức tạp.
“Chính vì “ôm” quá nhiều đất rừng mà quản lý không nổi nên tài nguyên rừng ngày càng bị suy giảm” - ông Thung quả quyết. Tương tự, CTLN Yên Bình (tỉnh Yên Bái) được giao 1.400ha đất rừng nhưng trên thực tế hiện công ty chỉ quản lý được khoảng 600ha, còn lại 800ha người dân đang “mượn” canh tác. “Công ty chỉ còn 8 cán bộ nên quản lý không xuể”, ông Phạm Đăng Hân, Giám đốc CTLN Yên Bình, xác nhận.
Báo cáo tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện NQ 28, Bộ NN-PTNT cho biết, sau sắp xếp, hầu hết các CTLN ổn định và phát triển vùng nguyên liệu sẵn có của mình và không ngừng nâng cao đầu tư khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung. Các CTLN đã từng bước tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ công ích, đã gắn sản xuất với chế biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc kinh doanh tổng hợp; tự tổ chức sản xuất hoặc giao khoán cho các hộ thành viên trồng và bảo vệ rừng, khuyến khích phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Tổng thể như vậy, nhưng thực tế cho thấy, không ít các lâm trường quốc doanh sau khi chuyển sang CTLN gặp không ít khó khăn, thậm chí phải ôm nợ. Ông Phạm Đăng Hân, Giám đốc CTLN Yên Bình (tỉnh Yên Bái), cho biết: Sau khi chuyển sang mô hình CTLN, công ty có 17 biên chế, do tình hình khó khăn nên sau đó đã giảm còn 8 biên chế.
“Vốn điều lệ của công ty hơn 3,5 tỷ đồng nhưng thực tế công ty không có vốn hoạt động và còn phải “ôm” khoản nợ hơn 6 tỷ đồng. Để duy trì hoạt động, công ty phải cầm cố tài sản, thậm chí vay lương của công nhân viên để trả nợ. Để giải quyết khó khăn, chúng tôi nhiều lần buộc phải khai thác rừng non 4 - 6 tuổi với giá trị thấp, sản lượng chỉ đạt khoảng 30% - 60%/ha với giá bán khoảng 15 - 30 triệu đồng/ha, thay vì được 70 - 100 triệu đồng/ha đối với khi khai thác rừng đúng tuổi 8 - 10 năm” - ông Hân bộc bạch.
CTLN Gia Nghĩa (tỉnh Đắk Nông) được giao quản lý 19.000ha đất rừng để phát triển và kinh doanh cây rừng nhưng nhiều năm gần đây cũng “đuối sức”. Ông Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Gia Nghĩa cho biết, sau khi chuyển qua DN tự chủ, nhiều năm qua công ty trong tình trạng thiếu vốn nên gặp rất nhiều khó khăn. Toàn bộ diện tích công ty đang quản lý đã giao hết cho công nhân, trong đó có một số diện tích đất đang bỏ hoang vì không có vốn đầu tư.
Theo ông Quân, việc đầu tư trồng rừng không cho hiệu quả kinh tế, lãi không đủ trả lương cho nhân viên vì mức đầu tư cao, thời gian thu hồi vốn dài lại rủi ro, nhất là khi xảy ra cháy rừng. Vì thế, thay vì vay vốn để đầu tư trồng rừng, ông Quân cho biết công ty đã đầu tư khoảng 10 tỷ đồng để kinh doanh… nhà hàng, khách sạn với lý do duy trì công ty và lo cuộc sống cho công nhân viên (?!)
Lý giải thực trạng trên, ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển - CODE cho rằng, một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của việc sắp xếp, đổi mới lâm trường quốc doanh là nâng cao hiệu quả hoạt động của các lâm trường quốc doanh.
Tuy nhiên, quá trình đổi mới của lâm trường quốc doanh chỉ dừng lại ở việc đổi tên nhưng hoạt động của CTLN hiện nay đa số vẫn “bình mới rượu cũ”. Mặc dù chuyển sang công ty kinh doanh, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhưng rất ít CTLN duy trì được khả năng kinh doanh mà chỉ khư khư ôm đất rừng, trong khi quản lý và kinh doanh không hiệu quả.
“Chỉ một số rất ít CTLN sản xuất nguyên liệu giấy, chế biến lâm sản làm ăn hiệu quả, có lợi nhuận, còn lại phần lớn các CTLN kinh doanh thua lỗ, một số có nguy cơ phá sản” - ông Tú cho hay. (Sài Gòn Giải Phóng 27/9) đầu trang(
Vừa qua, Dự án hợp tác kỹ thuật Việt-Đức “Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng” (GIZ) phối hợp với UBND tỉnh Sóc Trăng tổ chức lễ ký chứng thực và ra mắt Nhóm Đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển ấp Võ Thành Văn (thuộc xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung, Sóc Trăng).
Đây là Nhóm Đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển có số lượng thành viên tham gia đông nhất (với trên 750 thành viên) và quản lý diện tích rừng ngập mặn ven biển lớn nhất tại tỉnh Sóc Trăng với hơn 3.000 ha rừng. (Tin Tức 27/9; Nông Nghiệp Việt Nam 27/9) đầu trang(
Ngày 26-9, ông Nguyễn Đình Cương, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM, cho biết, nhiều gia đình học sinh tại TP.HCM đã tự nguyện giao nộp một số loài động vật hoang dã mà họ đang nuôi như vượn, cu li, rùa các loại, rắn… cho đơn vị này.
Từ đầu năm 2013 đến nay, hàng chục con vượn, cu li và nhiều loại động vật hoang dã được trao trả theo hình thức trên đã về với trung tâm cứu hộ, một số con đủ chuẩn sức khỏe đã về với rừng tự do.
Theo ông Nguyễn Đình Cương, khi gia đình có vật nuôi là động vật hoang dã, chính các bạn học sinh là người vận động gia đình và là người đưa con vật đến cơ quan chức năng giao nộp. (Tuổi Trẻ 27/9) đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT Đắk Lắk, tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 36 dự án trồng rừng, cải tạo, quản lý bảo vệ rừng, dự án nông lâm nghiệp khác với tổng diện tích 33.676,8ha; trong đó có 34 dự án trồng rừng, cải tạo và quản lý bảo vệ rừng, diện tích 32.085,7ha và 02 dự án nông lâm nghiệp khác với diện tích 1.591ha.
Việc triển khai các dự án như sau: Đối với các dự án đã có quyết định cho thuê đất và dự án liên kết đã được phép triển khai có 35 dự án, trong đó 28 dự án đã có quyết định cho thuê đất của UBND tỉnh với diện tích 17.314,2 ha; 07 dự án liên kết đã được UBND tỉnh cho phép triển khai thực hiện với tổng diện tích 15.959,6ha.
Các doanh nghiệp đầu tư Dự án phát triển rừng và nông lâm nghiệp khác đã trồng 8.045,5ha rừng kinh tế, cây ăn quả và cây bông vải, đã đầu tư vốn đến thời điểm hiện tại là 209 tỷ đồng, thu hút được 1.285 lao động (lao động tại địa phương là 1.115 người, lao động ngoài tỉnh là 170 người).
Về dự án đang hoàn thiện để trình thẩm định: có 01 dự án với diện tích 402,9ha, đã được UBND tỉnh cho chủ trương khảo sát, lập dự án. Hiện tại đơn vị đã hoàn thành việc khảo sát, đang hoàn thiện các hồ sơ dự án đầu tư để trình sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức thẩm định.
Theo đánh giá của ngành chức năng, tiến độ thực hiện của các dự án trồng, cải tạo rừng chậm so với kế hoạch đã đề ra, do một số nguyên nhân: tạm dừng thực hiện để kiểm tra, rà soát tình hình thực hiện các dự án theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 1685 ngày 27/9/2011; Thông tư liên tịch số 07/2011 của Bộ NN&PTNT, Bộ TN&MT, theo đó một số dự án đã được thuê đất nhưng phải tạm ngưng việc triển khai trên thực địa để hoàn thiện thủ tục thuê rừng gắn với thuê đất theo đúng quy định... (Theo Daktra.com.vn 26/9) đầu trang(
Thông caribe (Pinus caribaea Morelet) là loài cây mới được nhập và gây trồng ở Việt Nam, trong đó có Lâm Đồng, trong vòng trên dưới 10 năm nay. Hiện tại, loài thông này chỉ có rất ít ở Lâm Đồng vì đang trong giai đoạn trồng khảo nghiệm. Tuy nhiên, theo một số cán bộ chuyên môn về ngành lâm học thì đây là loài cây rất có triển vọng đối với rừng Lâm Đồng trong những năm tiếp theo.
Mùa trồng rừng năm nay, Ban quản lý Rừng phòng hộ Serepok vừa xuống giống được 4ha thông caribe tại xã Rô Men (huyện Đam Rông). Như vậy cho đến nay, trên địa bàn hai huyện Lâm Hà và Đam Rông có tổng cộng 6ha rừng thông caribe được trồng khảo nghiệm.
Trước đây, vào năm 2006, Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng (thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) lần đầu tiên nhập từ tiểu bang Queensland của Australia về Lâm Đồng một lượng cây giống thông caribe để trồng 2ha tại vùng Lang Hanh (Đức Trọng, Lâm Đồng) và 3.000 cây đưa sang trồng ở vùng rừng ngoại vi thành phố Pleiku (Gia Lai).
Kết quả đến nay, giống thông hoàn toàn mới này tỏ ra rất phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của Lâm Đồng; hơn thế, so với các giống thông bản địa (thông ba lá, thông nhựa..) thì giống thông caribe có tính vượt trội hơn như sinh trưởng nhanh hơn (cả về đường kính và chiều cao), thân thẳng, cành nhánh nhỏ, ít mấu mắt…
Qua theo dõi, cán bộ chuyên môn của Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng cho biết: Thông caribe trồng ở Lang Hanh đạt năng suất 24,8m3/ha/năm, chu kỳ kinh doanh là 25 – 30 năm. Đây là loài cây trồng có biên độ sinh thái rộng nên có thể trồng được ở nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau ở Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung (ngoài Lâm Đồng, thông caribe còn được nhập về trồng ở vùng rừng Đại Lải của tỉnh Vĩnh Phúc).
Theo Bộ NN-PTNT tại tài liệu về “Chọn loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng tại Việt Nam”, thông caribe là cây gỗ lớn, thường xanh, có thể cao 30 – 35m, đường kính có thể đạt 60 – 80cm. Thông caribe có 3 loại: P. caribaea var. hondurensis (gỗ lớn), P. caribaea var. caribaea (gỗ nhỡ) và P. caribaea var. bahamensis (gỗ tương đối lớn).
Trong đó, triển vọng hơn cả đối với điều kiện của Tây Nguyên và cả Việt Nam là P. caribaea var. hondurensis (gỗ lớn). Riêng với Lâm Đồng, thông caribe có thể đạt năng suất cao hơn nhiều so với năng suất bình quân chung của thông caribe cả nước: 24,8m3/ha/năm so với 18m3/ha/năm.
Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam cho thấy, tuy tỷ trọng gỗ có thấp hơn so với thông caribe trồng ở Đại Lải (Vĩnh Phúc) nhưng thông caribe trồng ở Lang Hanh (Lâm Đồng) có khả năng sinh trưởng cao hơn.
Hơn thế, nếu so với các quốc gia khác thì thông caribe trồng ở Việt Nam có tỷ trọng cao hơn hoặc gần bằng: Cao hơn thông caribe giống Pinus oocarpa trồng ở Uganda và gần bằng thông caribe giống Pinus silvestris trồng ở châu Âu. Về kích thước xơ sợi, so sánh giữa hai vùng sinh thái Lang Hanh và Đại Lải thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng sợi (L/R) của thông 12 tuổi trồng ở Lang Hanh cao hơn thông 8 – 15 tuổi ở Đại Lải.
“Do đó, chất lượng bột thông caribe trồng ở Lang Hanh sẽ tốt hơn ở Đại Lải” – kết luận của Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam và Viện Công nghiệp giấy Xenluylô.
Từ kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học của Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam và Viện Công nghiệp giấy Xenluylô khẳng định: “Thông caribe trồng ở nước ta là nguyên liệu đạt tiêu chuẩn để sản xuất bột giấy chất lượng cao. Đặc biệt, thông caribe trồng ở Lang Hanh có tiềm năng bột giấy cao hơn hẳn thông trồng ở Đại Lải trong giai đoạn tuổi từ 11 – 15 (cùng một cấp tuổi)…”. (Báo Lâm Đồng 26/9) đầu trang(
Là tỉnh có trên 55% diện tích tự nhiên là đất lâm nghiệp, nhiều năm qua các địa phương đã tập trung phủ xanh đất trống, đồi trọc khá tốt, luôn duy trì độ phủ xanh trên 50%, hàng năm sản lượng gỗ khai thác khá dồi dào, dư thừa nhu cầu chế biến bột giấy, phục vụ dân sinh. Nhưng hiện nay, một câu hỏi lớn là bao giờ tỉnh Phú Thọ thực sự có ngành chế biến gỗ, để từ đó trở thành bệ đỡ vững chắc góp phần hiệu quả nâng cao giá trị trồng rừng?
Ông Chủ tịch UBND xã Thu Cúc (huyện Tân Sơn) tâm sự: Xã Thu Cúc có trên 80 ngàn ha đất lâm nghiệp để trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất, lượng gỗ hàng năm khai thác ra đã lên tới vài ba ngàn m3, chủ yếu là bạch đàn, bồ đề, keo, mỡ… trước đây loại gỗ này chủ yếu bán làm nguyên liệu giấy, giá cả phập phù khó tiêu thụ. Từ khi xã có các xưởng bóc gỗ, việc tiêu thụ của nhân dân rất thuận lợi, không bị ép cấp, ép giá. Thông qua chế biến đã làm tăng giá trị lâm sản lên gấp 4-5 lần, giải quyết được lượng khá lớn lao động tham gia chế biến gỗ, tiêu thụ sản phẩm…
Đây là một điều đáng mừng khi phía sau người trồng rừng có công nghiệp chế biến, tiêu thụ lâm sản góp phần làm tăng giá trị trồng rừng. Nhưng số địa phương có cơ sở chế biến gỗ như vậy không nhiều. Điều băn khoăn nữa là tỉnh ta chưa có cơ sở gỗ quy mô lớn để chế biến gỗ rừng trồng thành gỗ nguyên liệu phục vụ sản xuất đồ mộc dân sinh.
Theo khảo sát của ngành lâm nghiệp, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 600 cơ sở chế biến gỗ, vài ngàn cơ sở sản xuất đồ mộc do người dân đầu tư, tập trung nhiều ở Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Sơn, Yên Lập, Tân Sơn…
Quy mô của cơ sở chế biến có giá trị đầu tư từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, mỗi nơi thu hút trên dưới chục lao động, hoạt động chủ yếu là sản xuất ván bóc, ván lát sàn, ván xẻ, một phần chế biến đồ mộc gia dụng; ngoài ra còn hàng nghìn cơ sở sản xuất đồ mộc đủ loại quy mô chế biến đồ gia dụng và xây dựng cơ bản, nhu cầu gỗ lên tới hàng trăm ngàn m3. Gỗ bóc, gỗ ván sàn một phần phục vụ cho tiêu thụ nội địa, còn lại chủ yếu xuất đi địa bàn ngoài dạng nguyên liệu bán thành phẩm - đây là một kênh khá lớn giải quyết đầu ra của gỗ rừng trồng.
Cơ sở chế biến, tiêu thụ gỗ lớn nhất là Nhà máy giấy Bãi Bằng, với sản lượng bột 50 ngàn tấn, hàng năm tiêu thụ vài trăm ngàn tấn gỗ nguyên liệu của các công ty thành viên, lượng tiêu thụ gỗ rừng trồng của các đối tượng khác chỉ một phần. Như vậy cả hai hình thức chế biến nhỏ lẻ và làm bột giấy cũng mới giải quyết một phần gỗ rừng trồng, đường kính nhỏ đến trung bình, còn lại gỗ vườn, gỗ lớn vẫn để người dân tự tiêu thụ qua các cơ sở sản xuất đồ mộc.
Có một nghịch lý là trong khi các cơ sở chế biến gỗ nhỏ phải tự xoay xỏa tìm kiếm mua gỗ trôi nổi trên thị trường, thì trên địa bàn tỉnh lại thiếu cơ sở chế biến gỗ nguyên liệu. Với tình hình đầu ra cho sản phẩm lâm nghiệp như vậy chế biến gỗ chưa thực sự là bệ đỡ để bao tiêu và nâng cao giá trị sản phẩm cho người trồng rừng. (Báo Phú Thọ 26/9) đầu trang(
Ngày 26/9, thông tin từ Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng cho biết, 2 cá thể báo hoa mai xuất hiện tại khu vực phía sau sân bay Liên Khương đã không còn được trông thấy nữa.
Trong nhiều ngày qua, các đơn vị chức năng tại địa phương đã tích cực triển khai lực lượng tầm soát theo dấu vết của 2 con báo hoa mai này nhưng không ghi nhận được thêm dấu vết nào.
Theo ông Vũ Gia Huấn - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng, thì nhiều khả năng vì không còn tìm được thức ăn ở khu vực này nên 2 con báo này đã bỏ đi nơi khác.
Như đã thông tin, từ nhiều ngày qua, người dân khu vực thôn Bospha, xã Liên Hiệp, huyện Đức Trọng, đã bị một phen khiếp vía trước thông tin có mãnh thú lạ xuất hiện. Vào ban đêm, 2 con mãnh thú đã “xuống núi” vào đến tận chuồng gia cầm của những hộ dân nơi đây tìm thức ăn, và lãng vãng trong vườn rau của họ.
Sau khi phân tích dấu chân 2 con thú lạ này để lại, các nhà nghiên cứu động vật đã kết luận 2 con thú lạ này là 2 cá thể báo hoa mai, 1 con lớn và 1 con nhỏ đi chung với nhau. Đây là loài động vật rừng quý hiếm, cần được bảo vệ và bảo tồn nghiêm ngặt
Trước sự xuất hiện bất ngờ của 2 con báo hoa mai trong khu vực, chính quyền địa phương đã tổ chức lực lượng tuần tra thường xuyên nhằm bảo vệ người dân cũng như kiểm soát chặt nguy cơ xâm hại đến 2 con thú này.
Về việc không còn phát hiện thêm dấu vết nào của 2 con báo này, nhiều chuyên gia cũng nhận định, có thể khu vực này chỉ là nơi 2 con thú đi qua trên đường di chuyển tìm vùng sinh cảnh mới của nó.
Hiện cơ quan kiểm lâm địa phương vẫn đang tiếp tục triển khai lực lượng dõi theo dấu vết của 2 con thú này, nhằm có hướng nghiên cứu và bảo tồn những cá thể báo hoa mai còn ít ỏi tại các khu rừng Việt Nam. (Giáo Dục VN 26/9) đầu trang(
Trong những năm qua, việc trồng xen canh cây lương thực hàng năm như ngô, sắn, đỗ tương... trên những diện tích rừng trồng mới đang được người dân tại các địa phương của tỉnh Bắc Kạn triển khai thực hiện. Tuy nhiên, việc trồng làm sao đem lại lợi ích kép thì nhiều người dân vẫn chưa quan tâm.
Năm 2012, gia đình ông Triệu Hữu Vượng, thôn Phiêng Khăm, xã Yến Dương đã trồng xen canh hơn 2ha mỡ với sắn trên diện tích rừng trồng mới. Đây là cây trồng dài ngày lại đượctrồng với mật độ dày nênkhi cây sắn phát triển, che hết ánh sáng cũng như thức ăn của cây mỡ vì thế khiến nhiều diện tích mỡ của gia đình ông bị chết, hoặc cây vàng yếu phải mất công tra dăm lại.
Rút kinh nhiệm từ vụ trước, năm 2013, gia đình ông học hỏi kinh nhiệm qua sách báo chuyển hướng trồng mỡ xen dong riềng với mật độ thưa, để đảm bảo cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt đem lại nguồn thu nhập khá cho gia đình.
Theo báo cáo của Phòng NN&PTNT huyện Ba Bể, hiện nay, trên địa bàn có hơn 34.000ha đất rừng sản xuất, trong đó rừng tự nhiên được khoanh nuôi hơn 13.000ha, rừng trồng gần 4.000ha, còn gần 17.000ha đất chưa có rừng.
Trung bình mỗi năm huyện Ba Bể trồng mới từ 2.000 đến 2.500 ha rừng tập trung và rừng phân tán. Trong đó, khoảng 85% diện tích rừng trồng mới năm thứ nhất, thứ 2 và thứ 3 được người dân tập trung trồng xen canh với một số cây trồng ngắn ngày khác như: Ngô, sắn , dong riềng, đỗ...Nhờ đó, việc trồng xen canh trên diện tích rừng trồng mới đã thu thêm hàng trăm nghìn tấn sắn, ngô mỗi năm.
Theo người dân địa phương, việc trồng xen canh trên diện tích rừng trồng mới sẽ tạo cho đất có được độ tơi xốp và độ ẩm cần thiết cho quá trình phát triển của cây keo, mỡ; giúp bà con đỡ được công chăm sóc, làm cỏ, bón phân. Đặc biệt, từ nguồn lợi thu được ở các loại cây trồng xen canh bà con có thêm vốn để đầu tư vào chăm sóc cho vườn rừng đang vào giai đoạn phát triển mạnh.
Bên cạnh đó, việc trồng xen canh trên diện tích rừng trồng mới cần phảiđảm bảo được kỹ thuật, mật độ cũng như chất đất để lựa chọn cây trồng xen canh cho phù hợp. Chính vì vậy, huyện Ba Bể đã chỉ đạo các xã, thị trấn trên địa bàn huyện mở các lớp tập huấn lồng ghép các chương trình trồng rừng, chăm sóc rừng trồng khuyến cáo người dân các ưu thế của việc trồng xen canh, các loại cây trồng xen canh phù hợp với từng lợi đất, mật độ, cách chăm sóc và phân bón ... (Báo Bắc Kạn 27/9) đầu trang(
Công an huyện Thường Xuân vừa bàn giao hồ sơ vụ án lừa thu gom 298 giấy chứng nhận sử dụng đất lâm nghiệp của các hộ dân trên địa bàn xã Xuân Cẩm cho Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội (Công an tỉnh Thanh Hóa) điều tra, làm rõ những tổ chức, cá nhân có dấu hiệu lừa đảo để thu hồi, trả lại cho người dân và ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Theo tài liệu điều tra, vào khoảng tháng 1/2010, anh Đỗ Văn Bằng (giáo viên Trường THPT Cầm Bá Thước, trú tại khu 4, thị trấn huyện Thường Xuân) đến gặp lãnh đạo xã Xuân Cẩm, đặt vấn đề có quan hệ với Công ty Cổ phần Chuyển giao công nghệ quốc tế ASEAN (địa chỉ tại số 263, Âu Cơ, phường Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội) có thể “chạy” được dự án “đầu tư phát triển rừng đầu nguồn các tỉnh miền Trung”, với kinh phí hỗ trợ 200.000 đồng/ha/năm của một tổ chức phi Chính phủ cho người dân.
Ngoài ra, anh Bằng yêu cầu UBND xã Xuân Cẩm phô tô công chứng toàn bộ 298 sổ đỏ đất lâm nghiệp (tổng diện tích 1.320,19ha, thời hạn sử dụng 50 năm) để có cơ sở đi giao dịch. Đến ngày 30/12/2010, anh Bằng lại yêu cầu phải nộp sổ đỏ gốc để cho công ty đối chiếu, triển khai dự án. Được UBND xã thông báo, 298 hộ dân ở xã Xuân Cẩm đã nộp lại sổ đỏ gốc cho UBND xã và chính quyền xã đã đưa số sổ đó này giao cho anh Bằng.
Sau khi thu được sổ đỏ của dân, anh Bằng đem 2 bản hợp đồng hợp tác đầu tư, phát triển rừng đã soạn sẵn giữa công ty nêu trên với UBND xã Xuân Cẩm (chưa ký tên, đóng dấu), yêu cầu Chủ tịch UBND xã ký tên, đóng dấu. Thế nhưng, đã gần 3 năm trôi qua, chờ mãi không thấy dự án nào triển khai, UBND xã Xuân Cẩm đã nhiều lần mời anh Bằng đến làm việc để đòi lại sổ đỏ, trả cho dân, nhưng anh Bằng nói dự án vẫn đang chờ phê duyệt vốn để thực hiện.
Được biết, toàn bộ số sổ đỏ của người dân xã Xuân Cẩm đang được công ty nói trên giữ. Người dân địa phương thấy có dấu hiệu bị lừa đảo, nên nhiều lần yêu cầu chính quyền xã đòi lại sổ đỏ cho dân. Sau đó, UBND xã Xuân Cẩm đã báo cáo vụ việc với UBND huyện và Công an huyện Thường Xuân để cơ quan chức năng giải quyết.
Sau một thời gian xác minh, làm rõ, xét đây là vụ việc mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, có dấu hiệu lừa đảo tài sản với số lượng lớn giấy chứng nhận sử dụng đất lâm nghiệp của nhiều hộ dân nghèo nên Công an huyện Thường Xuân đã báo cáo Giám đốc Công an tỉnh Thanh Hóa và bàn giao hồ sơ cho Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội để tiếp tục điều tra, làm rõ. (Thanh Tr 26/9) đầu trang(
Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Lũy phải tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm cá nhân và có hình thức kiểm điểm, kỷ luật vì để xảy ra các vụ phá rừng, khai thác gỗ trái phép nhưng không phát hiện, báo cáo kịp thời.
Đồng thời, kiểm điểm trách nhiệm cá nhân trưởng BQL rừng phòng hộ Sông Lũy với vai trò là người đứng đầu đơn vị. Văn bản của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận gửi BQL rừng phòng hộ Sông Lũy có nội dung trên.
Như đã thông tin, thời gian qua BQL rừng để mất 44 cây cổ thụ (hơn 500 m3 gỗ) ở huyện Bắc Bình nhưng chỉ báo cáo có 23 cây bị triệt hạ mà không nói rõ vị trí, trữ lượng gỗ… (Pháp Luật TPHCM 27/9) đầu trang(
Tại Bình Định, chiều 26-9, ông Bùi Việt Trung - Hạt phó Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước, TP Quy Nhơn cho biết vừa chuyển hồ sơ vụ vận chuyển gỗ lậu sang Công an huyện Tuy Phước để nơi này xử lý theo thẩm quyền.
Trước đó, Hạt Kiểm lâm bắt giữ ô tô tải 81L-2347, do ông Phạm Văn Dũng (35 tuổi, TP Pleiku, Gia Lai) điều khiển chở hơn 7 m3 gỗ hương và gần 25 tấn cành, rễ gỗ trắc (cùng thuộc nhóm I) từ tỉnh Đắk Lắk về đậu tại bãi hàng Ga Diêu Trì để chuẩn bị đưa đi các tỉnh phía Bắc tiêu thụ.
Qua kiểm tra, Hạt Kiểm lâm liên huyện nhận thấy xác nhận của Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột trên hóa đơn và bản kê lâm sản đi kèm lô hàng này có dấu hiệu giả mạo. (Pháp Luật TPHCM 27/9) đầu trang(
Trong 2 ngày 26-27.9, người dân thị trấn Ea Súp, H.Ea Súp (Đắk Lắk) nơm nớp lo sợ bởi sự xuất hiện của đàn voi rừng khoảng 30 con trên địa bàn những thôn vùng ven.
Ông Nguyễn Đình Toản, Phó chủ tịch UBND H.Ea Súp, cho biết huyện đã huy động lực lượng quân sự, công an cùng người dân sử dụng các biện pháp truyền thống như đánh chiêng, kẻng, đốt lửa... để xua đuổi voi. Tuy nhiên, đàn voi không chịu bỏ đi và tỏ ra không sợ người cùng các dụng cụ gây tiếng ồn.
Theo ông Toản, huyện chưa thống kê được diện tích hoa màu trong khu vực bị voi phá nát; trong khi đó, thời tiết mưa liên tục cũng gây khó khăn cho việc triển khai các biện pháp đuổi voi. UBND H.Ea Súp đã chỉ đạo sơ tán hơn 10 hộ dân ở thôn 5 đang bị voi rừng uy hiếp và cảnh báo người dân không đi qua đoạn đường voi rừng xuất hiện nhằm bảo đảm an toàn tính mạng. (Thanh Niên 27/9; Quân Đội Nhân Dân 26/9) đầu trang(
Ngày 26.9, ông Trịnh Ngọc Thuận, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H.Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên-Huế) cho biết, lực lượng kiểm lâm huyện vừa phối hợp với lực lượng chức trách địa phương ngăn chặn một vụ phá rừng thông cảnh quan tại khu vực phía bắc núi Phước Tượng, thuộc thôn Phước Tượng, xã Lộc Trì, H.Phú Lộc.
Theo ông Thuận, khu vực bị chặt phá thuộc rừng thông cảnh quan được trồng theo chương trình PAM vào năm 1986, đã có thể khai thác nhựa. Khi lực lượng chức năng truy quét, lâm tặc đã bỏ chạy, để lại hiện trường hàng loạt gốc thông có đường kính từ 20 - 30 cm bị đốn hạ. Ước tính diện tích rừng thông bị chặt khoảng gần 2 ha. Hiện các cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra truy tìm thủ phạm.
Một số nhân chứng cho biết, hiện nay việc thi công hầm đường bộ qua đèo Phước Tượng đang được tiến hành nên rất có thể nhiều người lợi dụng việc này để khai thác rừng thông trái phép.
Được biết, năm 2009, khu rừng nói trên được giao cho UBND xã Lộc Trì quản lý và thôn Phước Tượng nhận khoán bảo vệ với diện tích 19,2 ha. Năm 2009, do ảnh hưởng bão nên mật độ che phủ rừng thông bị giảm sút. Thôn Phước Tượng sau đó đã thỏa thuận và cho ông Văn Viết Lạc (ở thôn Bạch Thạch, xã Lộc Điền, H.Phú Lộc) trồng keo. Hợp đồng này dù không được cán bộ kiểm lâm địa bàn đồng tình, nhưng ông Lạc vẫn trồng keo xen giữa rừng thông. (Thanh Niên 27/9) đầu trang(
Trước thông tin báo chí phản ánh về hiện tượng lâm tặc phá rừng ở Văn Bàn, từ ngày 6/9 đến nay, lực lượng chức năng huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã kiểm tra tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Văn Bàn và phát hiện, tịch thu khối lượng gỗ trên 350m3.
Cụ thể, tại khu vực thi công công trình thủy điện Nậm Xây Nọi 2, xã Nậm Xây tang vật thu được gồm 144m3 gỗ các loại; tại Tiểu khu 457, thuộc địa bàn các thôn Mai Hồng 1,2,3, xã Tân An, tang vật thu được là 211m3 gỗ.
Trước hành vi vi phạm nghiêm trọng các qui định về chăm sóc, bảo vệ rừng của các đối tượng, Ủy ban Nhân dân huyện Văn Bàn yêu cầu Công an huyện vào cuộc điều tra, làm rõ, đưa các đối tượng ra xử lý trước pháp luật.
Theo cơ quan chức năng huyện Văn Bàn, từ đầu năm đến nay, tình trạng vi phạm lâm luật ở địa phương có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, nhất là tại khu vực rừng của Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Văn Bàn, gây bức xúc trong dư luận. Nghiêm trọng nhất là tại các tiểu khu 518 và 510 thuộc xã Nậm Xé; Tiểu khu 528 và 526 thuộc xã Nậm Xây (Văn Bàn).
Qua kiểm tra cho thấy nhiều nhóm đối tượng là người ở địa phương và từ huyện Than Uyên (Lai Châu), Mù Căng Chải (Yên Bái) xâm nhập vào rừng lập lán trại, dùng cưa máy khai thác rừng (chủ yếu là gỗ pơmu) trái phép.
Các đối tượng còn sử dụng súng kíp để săn bắt động vật hoang dã và để chống trả lực lượng chức năng vào truy quét. Bên cạnh đó, tại Tiểu khu 457, thuộc địa bàn xã Tân An và Tiểu khu 431 thuộc địa bàn xã Nậm Mả, nạn phá rừng đầu nguồn cũng diễn biến hết sức phức tạp.
Trước đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai đã ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với ông Nguyễn Xuân Hải, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn do thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng để cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (VietnamPlus.vn 26/9; Tin Tức 27/9; Báo Lào Cai 27/9) đầu trang(
Sau khi ký được hợp đồng liên kết kinh tế với Hội Cựu chiến binh tỉnh Khăm Muộn (Lào) về khai hoang trồng rừng, vợ chồng ông Nguyễn Văn Tô và Phạm Thị Hòa - Cty TNHH Việt Quốc Hương (thôn 12, xã Điện Hồng, H. Điện Bàn, Quảng Nam) "kêu gọi góp vốn đầu tư", "khai thác rừng tận thu" liên tiếp thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài tỉnh.
Cty TNHH Việt Quốc Hương (Cty VQH) được thành lập lần đầu vào ngày 30-6-2008, Giấy CNĐKKD số 3302081223 do Sở KH&ĐT tỉnh Quảng Nam cấp với các ngành nghề: trồng, khai thác, chế biến cây lâm nghiệp, cây tinh dầu, cây dược liệu. Cty có vốn điều lệ 1 tỷ đồng, do các thành viên góp: Phạm Thị Hòa - 700.000.000 đồng; ông Phạm Anh (xã Tịnh Long, H. Sơn Tịnh, Quảng Ngãi)- 200.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị Đỉnh (xã Điện Hồng)- 100.000.000 đồng. Người đại diện pháp luật của Cty là bà Phạm Thị Hòa, chức vụ Giám đốc, trụ sở Cty đặt tại nhà riêng bà Hòa.
Đến ngày 31-7-2009, Cty VQH đăng ký thay đổi mã số doanh nghiệp và tăng vốn điều lệ từ 1 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng. Ngày 22-3-2011, Cty VQH đăng ký thay đổi lần thứ hai. Theo đó giữ nguyên mã số doanh nghiệp, vốn điều lệ và trụ sở Cty, chỉ thêm ngành nghề kinh doanh là hoạt động dịch vụ lâm nghiệp, đồng thời thay đổi thành viên góp vốn: bà Phạm Thị Hòa tăng vốn điều lệ lên 7 tỷ đồng; Nguyễn Văn Tô (chồng bà Hòa) góp 2 tỷ đồng và Nguyễn Thị Nga (con gái của vợ chồng ông Tô bà Hòa) góp 1 tỷ đồng. Người đại diện pháp luật của Cty là bà Phạm Thị Hòa, chức vụ Giám đốc, ông Tô là Phó giám đốc.
Trong quá trình hoạt động, ngày 3-7-2010, Cty VQH ký hợp đồng liên kết kinh tế với Hội Cựu chiến binh tỉnh Khăm Muộn (Lào) để thực hiện khai hoang trồng rừng với diện tích 10.600ha với điều kiện khi có sản phẩm thì Cty VQH hưởng 80% và Hội CCB hưởng 20% sau khi trừ chi phí. Trong quá trình khai hoang nếu có gỗ tận dụng thì Cty trích 15% cho Hội CCB Khăm Muộn... Kèm theo hợp đồng là một số hồ sơ pháp lý của Nhà nước Lào, được Tổng Lãnh sự quán CHDCND Lào tại TP Đà Nẵng dịch sang tiếng Việt.
Sau khi có bộ hồ sơ pháp lý về khai hoang trồng rừng do Nhà nước Lào cấp, vợ chồng ông Tô bà Hòa tìm gặp một số người có mối quan hệ từ trước để kêu gọi "góp vốn đầu tư". Bên cạnh đó, cặp vợ chồng này cho những đối tác biết, trên diện tích đất khai hoang trồng rừng tại Lào "có khối lượng gỗ tận thu rất lớn, lên đến hàng nghìn khối, đầy đủ các nhóm gỗ". Nghe vậy, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài tỉnh ký kết hợp đồng mua bán gỗ với vợ chồng ông Tô.
Cụ thể, cuối năm 2012 ông Nguyễn Thanh Tăng (1973, xã Điện Nam Trung, H. Điện Bàn) trực tiếp sang Lào gặp ông Tô để mua gỗ. Vì tin tưởng nhau nên hai bên không ký hợp đồng, chỉ thỏa thuận miệng mua gỗ của ông Tô với khối lượng 38,402m3 gỗ, ông Tăng đã thanh toán cho ông Tô 5.800 USD và 2.280 Kíp (có giấy biên nhận tiền), với điều kiện ông Tô chịu trách nhiệm lo các thủ tục tại Lào và vận chuyển gỗ về Việt Nam giao cho ông Tăng vào cuối tháng 3-2013.
Đến hẹn, không thấy ông Tô thực hiện như cam kết, ông Tăng trực tiếp sang Lào nhiều lần đôn đốc hối thúc, ông Tô hứa hẹn nhiều lần nhưng đến nay ông Tô vẫn không giao gỗ và cũng không trả lại tiền.
Tương tự, ông Nguyễn Văn Thông (1954, Điện Nam Bắc, H. Điện Bàn) gặp ông Tô (năm 2012) lập hợp đồng mua bán gỗ số 16/2012/HĐKT ngày 4-11-2012 mua khoảng 590 m3 trị giá hơn 6,3 tỷ đồng, ứng trước 600 triệu đồng (có chứng từ thể hiện), thời gian thực hiện hết ngày 30-1-2013. Tuy nhiên, đã hết thời gian thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông Tô không giao gỗ cũng không trả lại số tiền mà ông Thông đã đặt cọc. Hiện nay ông Thông đã gửi đơn khởi kiện vụ việc này ra TAND H. Điện Bàn.
Nhiều người ngoài tỉnh bị vợ chồng ông Tô cho sập "bẫy". Ông Lê Trung Trường (1956, trú P. Hòa Quí, Q. Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) vào 10-2011 ký hợp đồng mua bán số 05/HĐMB-VQH-2011 với bà Phạm Thị Hòa mua 50 m3 giáng hương, với giá trị 1 tỷ đồng, thời hạn thực hiện 15 ngày kể từ ngày ký và tạm ứng cho vợ chồng ông Tô 150 triệu đồng (có chứng từ thể hiện).
Tuy nhiên, như những trường hợp trên, 15 ngày sau, vợ chồng ông Tô không giao gỗ cũng không hoàn trả tiền... Ngoài "hợp đồng" trên, ông Trường cho biết đã tin tưởng cho vợ chồng ông Tô mượn thêm 462 triệu đồng, trong đó chỉ có 42 triệu đồng ông Tô có viết giấy nhận tiền, còn lại không có chứng từ. (Công an Đà Nẵng 26/9) đầu trang(
Ngày 26/9, Công an tỉnh Quảng Bình cho biết, đang củng cố hồ sơ, xử lý vụ phát hiện và thu giữ gõ huê, trầm hương tại nhà ông Nguyễn Văn C. (trú tại xã Hàm Ninh- Quảng Ninh-Quảng Bình).
Trước đó, lực lượng công an phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện khám xét nhà ông Nguyễn Văn C. Lúc này, ông C. đã bỏ đi không về và chỉ có vợ, bố đẻ ông C ở nhà.
Khám nhà ông C., lực lượng công an phát hiện và thu một bao tải đựng bai, mảnh gỗ huê (nặng 29 kg), một thanh gỗ và một miếng gỗ huê khác (có tổng trọng lượng 31 kg); một thùng xốp đựng trầm hương (nặng 13,6 kg). Theo đánh giá ban đầu, toàn bộ số bai, gỗ huê và trầm hương mà cơ quan công an thu giữ có tổng giá trị khoảng 700 triệu đồng (theo giá thị trường hiện tại).
Được biết, cuộc vây ráp, khám xét diễn ra trong thời gian từ khoảng 15 giờ đến gần 23 giờ mới kết thúc. Hàng trăm người dân hiếu kỳ đã đến xem chật cừng các con đường ở khu vực. Tuy nhiên, an ninh trật tự vẫn được giữ ổn định. (Nông Nghiệp Việt Nam 27/9) đầu trang(
Qua công tác kiểm tra, kiểm soát, Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk, Gia Lai, Phú Yên và Tp. Đà Nẵng đã phát hiện một số doanh nghiệp giả mạo con dấu và chữ ký của lãnh đạo các hạt kiểm lâm Ea Súp và Tp. Buôn Ma Thuột để lập hồ sơ vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Đó là những doanh nghiệp: Công ty TNHH Chung Úy, địa chỉ 57 Phùng Hưng, phường Ea Tam. Tp. Buôn Ma Thuột, Công ty TNHH Quyền Quang Vinh, 57 Phùng Hưng, Ea Tam, TP. Buôn Ma Thuột, doanh nghiệp tư nhân Phát Lộc, 243 Nguyễn Trường Tộ, phường Ea Tam, Tp. Buôn Ma Thuột và Công Ty TNHH MTV thương mại và dịch vụ Phát triển Quốc Việt ở số 61/58 đường Tân Chánh Hiệp, phường Tân Chánh Hiệp, quận 12 Tp. Hồ Chí Minh.
Hiện Chi cục kiểm lâm đã chuyển hồ sơ cho cơ quan chức năng điều tra, xử lý. Để ngăn chặn kịp thời các hành vi trên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh vừa có thông báo gửi UBND tỉnh cùng các sở, ngành liên quan và các chi cục kiểm lâm trong khu vực, các tỉnh lân cận để cùng phối hợp tăng cường hơn nữa việc quản lý, kiểm tra về thủ tục hồ sơ nguồn gốc lâm sản hợp pháp trong nhập- xuất và tiêu thụ lâm sản. (Báo Đắk Lắk 26/9) đầu trang(
Cùng với sự tăng giá loại gỗ này (còn gọi gỗ sưa khoảng 2 triệu đồng/kg) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian gần đây bên cạnh vấn nạn tìm đào gốc gỗ huỳnh đàn tràn lan, tình trạng lừa bán gỗ huỳnh đàn dỏm và trộm cắp tại những gia đình thương lái cũng liên tục diễn ra khiến an ninh trật tự diễn biến phức tạp.
Mới đây nhất, Công an huyện Ba Tơ phối hợp cùng Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh điều tra vụ mất trộm tại một gia đình chuyên mua bán gỗ huỳnh đàn ở xã Ba Tiêu.
Theo trình báo của bà Võ Thị Linh Quỳnh (48 tuổi, ở làng Trui), tối 21/9, gia đình bà đang ngủ say thì bị trộm đột nhập lấy số tài sản trên 300 triệu đồng; ngoài 3 lượng vàng chúng còn lấy nhiều khúc và tượng gỗ huỳnh đàn được gia đình bà Quỳnh mua lại của nhiều người để trưng bày và bán cho các thương lái khác. Theo bà Quỳnh, trị giá toàn bộ số gỗ huỳnh đàn bị mất trên 200 triệu đồng.
“Chắc chắn đây là những người thường lui tới nhà tôi nên biết rõ ngõ ngách, nơi trưng bày, cất giấu gỗ, tượng. Vả lại biết tôi vừa mua khúc huỳnh đàn 80 triệu đồng nên đã tổ chức lấy trộm”, bà Quỳnh cho biết.
Trước đó, một số hộ buôn gỗ huỳnh đàn ở Ba Tiêu cũng bị kẻ gian đột nhập lấy trộm loại gỗ quí này. Đơn cử gia đình chủ một quán cơm dưới chân đèo Viôlắc, sau khi mua được một số gốc gỗ huỳnh đàn, chủ quán cơm bắt đầu rao bán. Thế là đêm đó, kẻ trộm đột nhập dùng dây khóa chặt cửa phòng ngủ trong quán để lục lạo. Vụ việc bị phát giác, nên chúng chỉ kịp lấy một ít tài sản không phải gỗ huỳnh đàn.
Cách đây chưa lâu, trên Quốc lộ 24 xuất hiện băng chuyên cướp gỗ gồm các tên Trần Tuấn Khanh, Lê Văn Chung, Nguyễn Ngọc Hải, Đặng Ngân, Trần Hữu Toản, đều ngụ ở hai huyện Mộ Đức, Đức Phổ. Biết những người vận chuyển thường sử dụng ôtô, xe máy lén lút chở gỗ huỳnh đàn trên tuyến này vào ban đêm, băng cướp trên đã sử dụng hung khí chặn xe, cướp gỗ hoặc tống tiền chủ hàng. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội công an tỉnh phối hợp cùng Công an huyện Mộ Đức đã triệt phá thành công nhóm cướp này.
Đại uý Đinh Quang Rin - Trưởng đồn công an Ba Vì, huyện Ba Tơ - cho biết: “Mặc dù chúng tôi thường xuyên khuyến cáo người dân không đào bới, mua bán gỗ huỳnh đàn đồng thời tuyên truyền về thủ đoạn lừa đảo, trộm cắp gỗ, tuy nhiên vì giá cao nên nhiều đối tượng vẫn bất chấp”. (Công an TPHCM 27/9) đầu trang(
Tháng 9, trên địa bàn TP Hà Nội đã phát hiện và xử lý 12 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, nộp ngân sách nhà nước 103 triệu đồng.
Duy trì công tác phòng dịch, đảm bảo an toàn cho đàn động vật được cứu hộ tại Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội, đăc biệt là một số loài quý, hiếm. Hiện số động vật hoang dã đang được cứu hộ, bảo tồn tại Trung tâm là 267 cá thể và 46kg rắn. (Hà Nội Mới 27/9) đầu trang(
Hơn 60 hộ dân làng Díp, xã Ia Krêng, huyện Chư Păh (Gia Lai) đã xâm lấn hàng chục ha rừng phòng hộ tại các tiểu khu rừng phòng hộ thuộc lâm phần quản lý của xã Ya Tăng, huyện Sa Thầy (Kon Tum) để làm nương rẫy.
Trước những khốn khó của người dân, chính quyền 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum dù đã đưa ra nhiều giải pháp để tháo gỡ vướng mắc… nhưng nhiều diện tích rừng phòng hộ tại huyện Sa Thầy vẫn thường xuyên đối mặt với nạn phá rừng, sự việc này là hậu quả của việc tái định cư không đi cùng tái định canh tại công trình Thủy điện Sê San 3A…
Làng Díp thuộc xã Ia Krêng, huyện Chư Păh có gần 170 hộ dân và khoảng 800 khẩu từ bao đời nay sống dọc theo các suối Ia Blok, Ia Djrao, huyện Chư Păh xuôi dòng sông Sê San lấy việc đánh cá, trồng lúa rẫy, chăn nuôi để mưu sinh.
Hơn 10 năm trước, khi công trình thuỷ điện Sê San 3A được khởi công xây dựng, hàng trăm hộ dân đồng bào J’rai làng Díp sẵn sàng từ bỏ ngôi làng từng gắn bó lâu nay để đến khu tái định cư mới do Ban quản lý dự án Công ty cổ phần thuỷ điện Sê San 3A và chính quyền địa phương bố trí trong điều kiện “không còn quỹ đất để khai hoang”…
Thuỷ điện Sê San 3A đi vào hoạt động, toàn bộ ngôi làng phần lớn đất sản xuất của dân làng Díp bị ngập trong lòng hồ công trình. Mặc dù BQL Công ty cổ phần thuỷ điện Sê San 3A đã thực hiện dự án tái định canh, định cư cho nhân dân nhưng gặp phải trở ngại khi địa bàn huyện Chư Păh tỉnh Gia Lai không còn quỹ đất để khai hoang, bố trí thêm cho dân.
Vì vậy, mặc dù đã về nơi tái định cư nhưng đối với các hộ dân người đồng bào dân tộc J’rai làng Díp, họ chỉ được sản xuất trên một phần nương rẫy còn lại và tiếp nhận những chương trình hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi… của BQL dự án Công ty cổ phần thuỷ điện Sê San 3A, chính quyền địa phương.
Từ những diện tích đất bị thu hẹp, nương rẫy người dân gặp phải địa hình đồi dốc, núi đá ngay tại khu tái định cư mới nên việc sản xuất của dân gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình này, UBND huyện Chư Păh đã tiến hành khảo sát quỹ đất rừng thuộc BQL rừng phòng hộ Ia Ly nhằm tìm thêm đất sản xuất cho dân nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm được quỹ đất phù hợp.
Dân làng Dip phần lớn là các hộ nghèo lại gặp tình thế thiếu đất nên thường xuyên đối mặt với nạn đói mùa giáp hạt.
Được chuyển ra tái định cư cách làng cũ khoảng 2 km. Địa hình nơi làng Díp mới chủ yếu là đồi dốc và núi đá, thường xuyên bị xói mòn nên dân không thể canh tác. Làng Díp tái định cư như một khu phố với hơn 50 căn nhà xây dựng san sát nhau như một khu đô thị mới với tuyến đường rải nhựa chạy sát làng.
Nhưng đối với người dân làng Díp bây giờ: Về những ngôi nhà mới là vui nhưng nương rẫy đã bị lòng hồ thuỷ điện thu hẹp lại, họ lâm vào cảnh khó khăn, đói khát vào mùa giáp hạt khi thiếu đất sản xuất.
Cụ Rơchâm Jơk, già làng Díp nói như thầm trách: “Dân làng muốn làm rẫy cũng không được. Đất rẫy không còn được như trước nữa. Làng Dip đồng ý nhường đất xây công trình thuỷ điện nhưng rẫy không còn, người dân không biết làm gì cả. Nếu Yàng (trời – ngôn ngữ đồng bào J’rai) thương được mùa thì đủ ăn. Không thương thì cả làng cùng đói.”.
Khi những cơn đói vào mùa giáp hạt vẫn hành hạ phần lớn những người trong làng. Trẻ em đói bụng những ngày giáp hạt nằm rấm rứt khóc mỗi đêm. Nguồn nhu yếu phẩm từ việc đánh bắt cá cũng không còn dồi dào như trước khi dòng sông Sê San bị hàng loạt các công trình thuỷ điện Sê San 4, Sê San 4A, Sê San 3A..v.v…chặn dòng.
Khi diện tích đất canh tác ít ỏi còn lại không bị ngập trong lòng hồ chủ yếu là đồi dốc, sỏi đá khiến việc mưu sinh của dân làng Dip gặp nhiều khó khăn. Trước cái đói thường xuyên đe doạ đời sống thường trực, hàng chục hộ dân làng Díp đã chọn giải pháp chẳng đặng đừng: Xâm canh sang diện tích rừng phòng hộ tại các tiểu khu 642, 709 và 715… xã Ya Tăng, huyện Sa Thầy (Kon Tum).
Việc phá rừng làm rẫy của dân làng Díp bắt đầu rộ lên hơn 3 năm trước. Vào khoảng giữa tháng 04-2009, UBND huyện Sa Thầy phát hiện 74 người dân làng Dip – những người đã phát rừng tại tiểu khu 642 lại lén lút sang xã Ya Tăng đây dọn mặt bằng, trồng tỉa ngô và dựng 36 chòi canh rẫy với 21 chòi canh lợp tole và 15 chòi dựng bằng tranh tre nứa lá. Ngay sau khi phát hiện, UBND huyện Sa Thầy đã triển khai phương án xử lý và huy động lực lượng, phương tiện tổ chức triển khai “Kế hoạch vận động đẩy đuổi người dân ra khỏi vùng làm nương rẫy”!
Nhận thấy đây là tình hình phức tạp liên quan đến công tác đảm bảo an ninh nông thôn tại khu vực giáp ranh giữa 2 huyện Chư Păh – Sa Thầy, 2 tỉnh Gia Lai – Kon Tum nên ngày 26-04-2009, Huyện uỷ, UBND huyện Chư Păh đến hiện trường và triển khai biện pháp xử lý, vận động nhân dân tự tháo dỡ các chòi canh rẫy đã dựng lên.
Tuy nhiên, cho đến hiện nay, nhiều hộ dân vẫn tiếp tục sang các tiểu khu rừng phòng hộ trên để trồng lúa rẫy, sắn, ngô…
Mặc dù vụ việc xảy ra từ tháng 4-2009 nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết rốt ráo dù đã có một số cuộc gặp cấp huyện giữa lãnh đạo hai huyện Chư Pah – Sa Thầy.
Cụ thể, lãnh đạo hai huyện đã thống nhất tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, không để người dân làng Díp sang xâm canh vùng rừng thuộc huyện Sa Thầy. Tình trạng dân làng Díp thường xuyên kéo qua phá rừng thuộc lâm phần huyện Sa Thầy đã gây nhiều bức xúc cho chính quyền hai huyện Chư Păh và Sa Thầy.
Tuy nhiên, nếu nguyên nhân chính không được giải quyết thoả đáng thì tình trạng này không thể nào dịu lại được mà diễn biến ngày càng phức tạp hơn. Đó là hậu quả tất yếu của việc tái định cư không không đi cùng với tái định canh.
Để ổn định tình hình, UBND huyện Chư Pah đang thực hiện phương án cấp đất sản xuất cho dân làng Díp bằng cách chuyển đổi 175 ha đất lâm nghiệp của BQL rừng phòng hộ Ya Ly cấp cho dân.
Trong khi việc chưa được giải quyết rốt ráo thì hàng chục hộ dân làng Díp không thể tiếp tục sống trong cái đói triền miên nên vẫn lén lút sang gieo trồng trên những diện tích rừng đã xâm canh.
Được biết, do không thể chịu nỗi trước khó khăn, tại những buổi tiếp dân của chính quyền địa phương, có người làng Díp đòi tự vẫn trước cơ quan chứa năng nếu không giải quyết đất sản xuất cho họ.
Bên cạnh đó, một số phần tử quá khích còn đòi đập phá cơ sở vật chất của Công ty đầu tư phát triển Lâm – Nông – Công nghiệp và dịch vụ Sa Thầy, nơi lực lượng dân quân, chính quyền và các cơ quan ban ngành huyện Sa Thầy chốt chặn không cho người dân sang canh tác. (Tầm Nhìn 27/9) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Biến đổi khí hậu từ lâu đã trở thành vấn đề lo ngại toàn cầu và hiện nay lại đang là mối đe dọa nghiêm trọng với các loài động vật Bắc Cực.
Từ lâu, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên quốc tế (WWF) đã cảnh báo rằng nhiệt độ tại Bắc Cực tăng nhanh gấp đôi so với các khu vực khác trên Trái đất, khiến lượng băng ở Bắc Băng Dương suy giảm nhanh chóng. Số liệu vệ tinh của Trung tâm dữ liệu quốc gia Mỹ về băng và tuyết cho thấy, từ năm 1979 đến nay, diện tích băng bao phủ Bắc Cực đã giảm một nửa và nay chỉ còn khoảng 5,1 triệu km2, mức thấp nhất kể từ khi cơ quan này tiến hành quan sát hiện tượng này.
Sự suy giảm lượng băng trên đại dương đã khiến các loài hải mã ở khu vực Alaska và vùng Viễn Đông của Nga buộc phải thích nghi với cuộc sống trên cạn, dẫn tới nguy cơ các con non bị đè chết. Điều này cũng đe dọa đến cuộc sống của hải cẩu non. Các nhà khoa học cũng phát hiện loài cá voi sát thủ đã xâm nhập sâu hơn vào khu vực xung quanh Bắc Cực, thay thế vai trò của loài gấu Bắc Cực, trở thành kẻ săn mồi hàng đầu.
Do diện tích băng tại Bắc Cực giảm, môi trường sống của nhiều loài sinh vật tại đây bị ảnh hưởng theo. Việc lãnh nguyên ấm lên sẽ dẫn tới sự phát triển sớm hơn vào mùa xuân, phá vỡ thời điểm tuần lộc tìm kiếm thức ăn. Thời tiết ấm lên cũng khiến cây bụi lấn át các vùng thảo nguyên, nơi sinh sống của loài tuần lộc. Điều này đương nhiên ảnh hưởng đến toàn bộ những động vật săn mồi hàng đầu như gấu Bắc Cực.
Chưa dừng ở đó, báo cáo của Trung tâm Đa dạng sinh học (CBD, Mỹ) và Tổ chức Chăm sóc động vật hoang dã quốc tế (CWI, Anh) cho biết có 17 loài động vật Bắc Cực đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do biến đổi khí hậu.
Trong danh sách này có các loài động vật nổi tiếng như 4 loài hải cẩu (hải cẩu vòng, hải cẩu râu, hải cẩu lông trắng và hải cẩu lông vằn), 4 loài cá voi (cá voi xám, cá voi trắng, cá voi đầu cong và kỳ lân biển), 3 loài chim biển (loài Brachyramphus brevirostris, vịt nhung đeo kính và mòng biển ngà)…
Một mối đe dọa nữa với môi trường sống ở Bắc Cực là tình trạng nhiều khu vực từng được bảo vệ ở đây đang bị khai thác để phục vụ hoạt động thăm dò khoáng sản, dầu và khí đốt cũng như đánh bắt cá và vận tải. Đặc biệt, sự gia tăng các hoạt động vận tải qua khu vực đã khiến mối đe dọa ngày càng lớn hơn với nguy cơ xảy ra các vụ tràn dầu, do phần lớn hàng hóa vận chuyển là các sản phẩm dầu mỏ.
Để cứu Bắc Cực, thế giới không có cách nào khác là phải chặn lại quá trình biến đổi khí hậu. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các chuyên gia của WWF khẳng định thế giới cần phải chuyển từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang các nguồn nhiên liệu có khả năng tái tạo vào năm 2050, trước khi sự việc quá muộn. Sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay cho phép thực hiện được điều này, song đòi hỏi cần phải có nguồn lực tài chính dồi dào. (An Ninh Thủ Đô 27/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa