Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 27 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Đến 9g sáng 26-6, ông Phạm Văn Tâm (46 tuổi, trạm trưởng Trạm quản lý và bảo vệ rừng Liên Sang ở huyện Khánh Vĩnh, thuộc Cty TNHH MTV Lâm sản Khánh Hòa) đã được chuyển đến phòng mổ BVĐK tỉnh Khánh Hòa để phẫu thuật cấp cứu.
Theo lời kể của ông Tâm, lúc 0g ngày 26-6, ông nhận được một cuộc điện thoại từ số lạ gọi báo cách trạm ông khoảng 10km về phía tây, ven đường Nha Trang - Đà Lạt, lâm tặc đang tập kết 19 khúc gỗ quý chuẩn bị vận chuyển. Ông Tâm và cán bộ cùng trạm là ông Hà Tuyên, phối hợp với một kiểm lâm viên ở chốt kiểm lâm xã Sơn Thái và một cán bộ Huyện đội Khánh Vĩnh đi xe máy đến nơi tập kết gỗ như nguồn tin đã báo. Tuy nhiên, kiểm tra khu vực này, nhóm công tác không phát hiện có gỗ nên quay về.
“Khoảng 1g sáng, khi tôi vừa chạy xe máy chạy vào cổng trạm thì bất ngờ bị một cú đập mạnh vào lưng. Sau đó có bóng người dùng vật sắc chém tới tấp vào người, tôi đưa tay lên đỡ thì bị chém gần lìa bàn tay trái nên ngất xỉu” – ông Tâm thuật lại.
Theo hồ sơ tại khoa cấp cứu Bệnh viện Đas khoa tỉnh Khánh Hòa, ông Tâm được đưa đến bệnh viện lúc hơn 2g sáng trong tình trạng bị sáu vết thương lớn nhỏ ở vai, ngực, hai tay; trong đó nặng và phức tạp nhất là bàn tay trái bệnh nhân bị vết thương dài, sâu 10cm từ kẽ ngón 4-5 đến lòng bàn tay.
Ông Tâm cho biết ông Hà Tuyên cũng bị thương, nhưng chỉ xây sát. Cũng theo ông Tâm, thời gian qua lâm tặc thường xuyên dùng hung khí đe dọa lực lượng bảo vệ rừng và kiểm lâm. (Công An Nhân Dân +Thanh Niên + Tiền Phong + Tuổi Trẻ + Công An TPHCM + Pháp Luật TPHCM 27/6; Dân Việt + An Ninh Thủ Đô + Khám Phá + VnExpress 26/6) đầu trang(
Nhận được tin báo của nhân dân địa phương, UBND phường Ghềnh Ráng đã điện báo lực lượng phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh Bình Định điều 2 xe chữa cháy, đồng thời huy động lực lượng hơn 100 người gồm dân quân tự vệ của 3 phường Ghềnh Ráng, Quang Trung, Nguyễn Văn Cừ, cán bộ của Chi cục Kiểm lâm Bình Định, Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước – TP. Quy Nhơn, Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn và nhân dân địa phương tích cực chữa cháy rừng.
Vụ cháy xảy ra từ ven đường QL 1D gần Cầu Bãi Nhỏ, sau đó lửa bắt leo lên núi gây ra cháy rừng bạch đàn 1 năm tuổi của hộ ông Lê Văn Tài - ở phường Trần Phú. Do nắng nóng kéo dài lâu ngày cộng với gió Tây Nam nên ngọn lửa bén rất nhanh và cháy lớn.
Không dừng lại ở đó, ngọn lửa còn cháy bén sang hai cánh rừng bạch đàn 3 năm tuổi của 2 hộ dân khác cận kề. Hai xe chữa cháy chỉ dùng vòi rồng phun nước dập tắt những đám cháy đoạn gần Quốc lộ 1D do đồi núi dốc đứng. Chính vì vậy, lực lượng phải khoanh vùng và làm đường băng cản lửa, tiến hành chữa cháy bằng thủ công đối với những cánh rừng phía trên núi cao.
Đến 15h cùng ngày đám cháy mới được dập tắt hoàn toàn. Tuy nhiên bà hỏa đã thiêu rụi khoảng 7 ha rừng. Ông Huỳnh Văn Trung – Chủ tịch UBND phường Ghềnh Ráng, cho biết: Nguyên nhân vụ cháy rừng được xác định là do người đi đường hút thuốc vô ý vứt tàn còn lửa xuống mương thoát nước ven đường, dưới mương thoát nước này có nhiều lá cây khô nên lửa ngún và bốc cháy lan lên rừng trồng. (Quân Đội Nhân Dân 27/6; Báo Bình Định + Giao Thông Vận Tải 26/6) đầu trang(
Tĩnh Gia, Thanh Hóa : Triển khai nhiều biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng
Trước tình hình nắng nóng kéo dài, huyện Tĩnh Gia đang tích cực triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, đặc biệt là các khu vực rừng thông trồng tập trung.
Hạt Kiểm lâm huyện Tĩnh Gia và Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương có rừng triển khai các phương án phòng, chống cháy rừng ở 17.000 ha rừng trên địa bàn; đồng thời xây dựng kế hoạch huy động, bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng chữa cháy khi xảy ra cháy rừng.
BQL rừng phòng hộ huyện Tĩnh Gia đã chỉ đạo các hộ nhận khoán rừng thông phát dọn thực bì, tiến hành các biện pháp xử lý vật liệu cháy  tại các khu vực có nguy cơ cháy cao.
Hạt Kiểm lâm huyện Tĩnh Gia và BQL rừng phòng hộ huyện Tĩnh Gia  đã đầu tư, trang bị 31 máy thổi gió - là loại phương tiện được đánh giá có hiệu quả cao trong việc chữa cháy rừng, máy bơm nước, 100 bàn dập lửa, máy phát thực bì, dao phát... (Báo Thanh Hóa 27/6) đầu trang(
Đến khoảng 15 giờ 30 ngày 26-6, các ngành chức năng của huyện Tuy Phước (Bình Định) vẫn đang nỗ lực dập tắt đám cháy xảy ra trên núi Kỳ Sơn, thuộc địa bàn xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước vào sáng cùng ngày.
Lửa bùng phát từ khu vực rừng trồng cây bạch đàn và cây keo lá tràm trên núi Kỳ Sơn của ông Nguyễn Đình Thảo. Nhận được tin báo, lãnh đạo UBND huyện Tuy Phước đã huy động nhiều lực lượng phối hợp cùng chính quyền và dân quân địa phương xã Phước Sơn tích cực dập lửa. Tuy nhiên, do địa hình đồi núi dốc đứng và gió thổi mạnh nên công tác chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn.
Hiện vẫn chưa có con số thống kê thiệt hại chính thức, tuy nhiên theo ông Thảo, ít nhất 5 ha rừng trồng của ông đã bị thiêu rụi. Được biết đây là vụ cháy rừng thứ ba trong hai tháng gần đây trên địa bàn huyện Tuy Phước. (Thanh Niên + Người Lao Động + Pháp Luật TPHCM 27/6; An Ninh Thủ Đô + Dân Trí + Nhân Dân 26/6) đầu trang(
Tối 26.6, trao đổi với phóng viên Dân Việt, ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiếm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết đang tiếp tục điều tra vụ việc một kiểm lâm dùng súng bắn đạn cao su bắn làm một người vận chuyển hạt ươi trái phép trên sông trọng thương.
Theo nguôn tin của Dân Việt, vào khoảng 12h15 hôm 26.6, trong lúc vận chuyển hạt ươi từ huyện Nam Giang về nhà để bán bằng đường sông, khi đến địa bãi sông gần nhà, Dương Quốc Thạnh (SN 1993, trú thôn Bãi Quả, xã Đại Sơn, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) bị tổ công tác của Hạt Kiểm lâm huyện Đại Lộc phát hiện, yêu cầu dừng ghe lại để kiểm tra. Tuy nhiên do sợ bị bắt, nên Thạnh cùng một số người trên ghe cho ghe chạy thẳng nhằm trốn lực lượng chức năng.
Lúc này kiểm lâm viên tên Đức, thuộc Hạt kiểm lâm Đại Lộc, đã dùng súng bắn đạn cao su bắn vào người Thạnh gây trọng thương. Sau khi sự việc xảy ra, Thạnh được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Quảng Nam.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Dân Việt 26/6) đầu trang(
Trên thực tế, các đối tượng bị truy tố phạm tội liên quan tới động vật hoang dã hiện nay hầu hết đều có vai trò ít quan trọng trong các đường dây tội phạm, như: thợ săn, người vận chuyển, hay các đối tượng trung gian.
Theo một rà soát kết quả xử lý hình sự các tội phạm liên quan tới các loài động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp, quý hiếm được bảo vệ trong nhóm IB, trong vòng 3 năm qua, của Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV): còn nhiều hạn chế trong việc điều tra, xử lý các đối tượng đầu sỏ đứng sau các đường dây buôn bán và vận chuyển ĐVHD.
Trên thực tế, các đối tượng bị truy tố hầu hết đều có vai trò ít quan trọng trong các đường dây tội phạm, như: thợ săn, người vận chuyển, hay các đối tượng trung gian.
Theo ENV, trong hầu hết các vụ việc bắt giữ, những đối tượng bị bắt chủ yếu có vai trò trung gian, môi giới hay người vận chuyển.
Các ông chủ thực sự không bao giờ ra mặt, hoặc tham gia trực tiếp vào việc vận chuyển, giao dịch.
Qua các hoạt động điều tra, bao gồm cả phỏng vấn các đối tượng bị bắt giữ, ENV có ghi nhận thông tin về một số ông trùm đứng đằng sau các đường dây buôn bán hổ, sừng tê giác, tê tê lớn. Họ là những người đóng vai trò điều phối, tìm kiếm quan hệ xây dựng mạng lưới tội phạm về ĐVHD.
Các mạng lưới tội phạm về ĐVHD hoạt động khá tinh vi, qua nhiều tầng, và thậm chí, theo ENV, họ có thể có mối quan hệ với các cơ quan chức năng địa phương để duy trì hoạt động.
Lý giải việc tại sao chưa thể truy tố đối tượng đầu sỏ trong phạm tội về ĐVHD với Một Thế Giới, ENV cho rằng, thứ nhất: các đối tượng đầu sỏ thường không trực tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán, vận chuyển. Nên dù biết mọi hoạt động được điều phối dưới ông trùm, cơ quan chức năng cũng không tìm được chứng cớ để chứng minh sự tham gia trực tiếp của ông trùm đó vào một vụ việc cụ thể. Lời khai của các đối tượng bị bắt thường rất chung chung.
Nguyên nhân thứ hai, hoạt động điều tra của cơ quan chức năng cũng chỉ dừng lại ở việc xử lý các đối tượng bị bắt. Việc điều tra sâu hơn các đối tượng đứng sau rất hạn chế.
Trong nhiều vụ việc, các đối tượng bị bắt khai nhận là được một người “không quen biết” nhờ vận chuyển ĐVHD, cơ quan điều tra cũng chỉ dừng lại ở đó mà không có biện pháp điều tra sâu hơn.
Nguyên nhân thứ ba, quan trọng hơn cả, là hình phạt dành cho các đối tượng bị bắt còn nhẹ, không đủ sức răn đe. Chính vì vậy, các đối tượng này sẵn sàng đánh đổi mức hình phạt “vài năm tù treo” để giữ kín bí mật về ông chủ.
Theo ENV, đưa và nhận hối lộ cũng có thể là một phần của vấn đề. Đến chừng nào các đối tượng còn có thể trả tiền để giảm án thì các ông trùm sẽ không bao giờ bị bắt vì họ có quá nhiều tiền.
Trao đổi, bà Bùi Thị Hà, điều phối viên chương trình Chính sách và pháp chế ENV, cho rằng: hiện nay, các tội phạm về ĐVHD được xử "đúng người, đúng tội", vì họ đã và đang tham gia vào việc săn bắt, buôn bán ĐVHD.
Tuy nhiên, điều quan trọng là làm sao để truy tìm những kẻ đầu sỏ và xử lý thích đáng.
Vì vậy, theo ENV, cần mở rộng hoạt động điều tra đối với loại tội phạm này: tăng cường năng lực của các cơ quan điều tra, có chế độ thưởng phạt phân minh đối với những người tham gia đóng góp điều tra, cung cấp thông tin...).
“Có thể xem xét tăng hình phạt trong quy định của Bộ Luật hình sự đối với tội phạm về ĐVHD bởi lẽ theo chúng tôi đánh giá, tội phạm về ĐVHD có thể sánh ngang với tội phạm ma túy về tính chất nghiêm trọng và mang lại lợi ích to lớn cho các đối tượng vi phạm, nhưng chế tài, xử lý đối với loại tội phạm này lại chưa cao và mang tính chất răn đe như tội phạm về ma túy”, bà Hà kiến nghị thêm.
Ngoài ra, nếu cơ quan thực thi chưa nghiêm thì xem ra mọi chuyện dễ thành qua “bỏ sông bỏ biển” – nhiều chuyên gia trong ngành cảnh báo! (Một Thế Giới 26/6) đầu trang(
Cuối năm 2013, 14 hộ dân tại bản Na Hai 1, xã Pom Lót, huyện Điện Biên (Điện Biên) đã rủ nhau phá hơn 8ha rừng sản xuất tại khu vực Huổi Cô Sản và Púng Min.
Trưởng bản Nà Hai 1 Lò Văn Thiêm phân bua rằng: “Các hộ dân phá rừng cũng chỉ vì nghèo quá thôi. Cả xã có 85 hộ nghèo thì bản Na Hai chiếm tới một nửa, phần lớn bị thiếu đói khi giáp hạt. Mà có muốn làm ăn thoát nghèo cũng khó vì cả bản chỉ có khoảng 9ha ruộng nước, nhưng chủ yếu là ruộng bậc thang, năng suất thấp chỉ đạt khoảng 25 – 30 tạ/ha/năm (trung bình các xã trong huyện đạt 65-70 tạ/ha)”.
Sau nhiều ngày tuyên truyền, vận động, thuyết phục, bà con Na Hai 1 đã nhận thức được lợi ích mà rừng mang lại và việc phá rừng là sai, có thể bị đi tù... Tới nay, nhờ sự quyết tâm của dân bản cùng với sự hỗ trợ, hướng dẫn quy trình đào hố, cách thức trồng rừng, đặc biệt là tư vấn chọn cây keo đưa vào trồng của các cán bộ kiểm lâm, nên chỗ rừng bị đốt phá đã được trồng lại. Không chỉ các hộ phá rừng mà các hộ sống gần rừng cũng đều tự nguyện góp công, góp tiền để mua cây keo giống trồng lại những diện tích đã phá trước đó.
Anh Tòng Văn Dinh (sinh năm 1976), người nhận trồng phục hồi 4.600m2 rừng cho biết: “Tôi không tham gia chặt phá rừng làm nương rẫy nhưng khi được cán bộ xuống tuyên truyền, tôi đã nhận trồng 2 lô, với 750 cây keo, tổng số tiền đầu tư là hơn 11 triệu đồng. Để có tiền mua cây keo giống, gia đình tôi đã phải bán gà, bán thóc và huy động tất cả các thành viên trong nhà đi phát dọn thực bì, cuốc hố, trồng cây”. Theo lý giải của anh Dinh, trồng rừng sẽ có cơ hội thoát nghèo, vì vài năm nữa rừng keo này sẽ cho thu hoạch gỗ và khi ấy gia đình anh sẽ có một khoản tiền lớn để đầu tư phát triển chăn nuôi và sửa nhà…
Ông Thàm Văn Nọi - cán bộ kiểm lâm huyện Điện Biên chia sẻ: “Rất may là sau quá trình thuyết phục, vận động, bà con đã nhận thức đúng về vai trò quan trọng của rừng đối với cuộc sống. Từ bài học này, chúng tôi đã tiến hành tuyên truyền rộng khắp cho các thôn, bản, xã có rừng trong huyện để bà con cùng nhau giữ và bảo vệ rừng, tránh tình trạng xâm hại rừng, phá rừng làm nương như đã xảy ra với bản Na Hai 1”.
Không những thế, để bà con có thêm lương thực khi trồng lại rừng, Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên và UBND xã Pom Lót đã nhất trí sau khi hoàn thành việc trồng rừng sẽ để bà con gieo lúa nương một vụ trong năm 2014 trên diện tích rừng 7rồng để có thêm lương thực và thuận lợi cho việc chăm sóc rừng. (Dân Việt 26/6) đầu trang(
Lạng Sơn: Khốc liệt “cuộc chiến” máu chảy cùng thông
Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, nạn khai thác lâm sản trái phép đã trở nên rất phức tạp.
Cùng với giá nhựa, gỗ cao ngất ngưởng là tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng, khai thác trái phép rừng tự nhiên, chặt trộm rừng trồng, đốt rừng và cướp gỗ, nhựa cứ âm ỉ diễn ra, thậm chí đã xảy ra án mạng.
“Lâm tặc” thường xuyên nhòm ngó đến các khu rừng tự nhiên hẻo lánh ở Đình Lập, Lạng Sơn. Chị Mã Thị L. khu I, thị trấn Đình Lập, cho biết: “Gia đình tôi được công ty giao khoán bảo vệ hơn 2.000 cây thông tại Khe Vuồng, xã Đình Lập. Nhiều tốp người lạ đã ngang nhiên đưa cưa máy đến cắt cây giữa ban ngày. Khi chúng tôi lên tiếng phản đối, chúng thách thức và đe dọa. Không những riêng gia đình tôi mà tất cả những hộ khác ở trên địa bàn cũng đều chung số phận như vậy. Lúc đầu, khi các đội khai thác của công ty tiến hành khai thác theo kế hoạch thì các đối tượng này còn lén lút cắt gỗ và vận chuyển ban đêm, nhưng càng về sau, hoạt động này càng diễn ra công khai, chúng cướp gỗ ngay giữa ban ngày”.
Khi công ty Lâm nghiệp Đình Lập tại Khe Vuồng, xã Đình Lập tiến hành khai thác gỗ theo kế hoạch, cũng là lúc nhiều đối tượng khác lợi dụng vào khai thác trộm. Lúc đầu, chúng còn lén lút nhưng dần dần trở nên công khai. Từ việc vận chuyển vào ban đêm, chúng đã chuyển sang khai thác trắng trợn vào ban ngày.
“Cuộc chiến” của người dân được giao khoán bảo vệ rừng với “lâm tặc” đã cực kỳ khốc liệt, thậm chí chết người. La Văn Thành, trú tại thôn Phật Chỉ, xã Đình Lập cùng một số người khác đến khu vực đồi thông của gia đình Vi Trường Vương để chặt trộm thì bị phát hiện và ngăn chặn. Hai bên lời qua tiếng lại, Thành đã đe dọa mẹ Vương và khởi động chiếc máy cưa tay nhưng máy không nổ. Vương liền cầm dao dựng ở bên cạnh, lao tới chém vào tay phải của Thành làm rơi cưa và chém tiếp ba phát nữa vào tai phải, gáy và lưng của Thành. Thành được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện huyện Đình Lập nhưng do vết thương quá nặng, đã tử vong. Vương chạy đến công an huyện đầu thú.
Tình trạng khai thác gỗ trái phép ở lâm trường Đình Lập đã diễn ra từ vài năm nay. Theo người dân ở thôn Tà Hón, xã Đình Lập: Thời kỳ còn nhiều gỗ thì những chuyến xe tải lớn thường đến chở gỗ đi. Tà Hón chỉ là điểm tập kết vì nằm ngay bên quốc lộ 4B, lại ít rừng. Gỗ khai thác chủ yếu ở các thôn Còn Mò, Kim Quán, Nà Pá (cũng thuộc xã Đình Lập), thôn Quang Hòa (xã Cường Lợi).
Tại thôn Còn Mò, thời kỳ là điểm nóng về nạn chặt phá rừng, gỗ chất đầy đường, những cây thông đường kính khoảng 30cm bị đốn ngổn ngang. Thân gỗ được cắt khúc dài cỡ 1 mét, xếp thành đống vài khối một. “Lâm tặc” không cắt sát gốc để lấy diện tích trồng mới như quy trình của ngành lâm nghiệp mà đốn ngang đầu gối. Việc khai thác này đã khiến cho những cây thông lớn chỉ lấy được vài khúc gỗ, còn trơ lại gốc với cành và ngọn. Để trồng được cây đường kính bằng chừng này phải mất hai mươi năm, nhưng một đêm, hai “lâm tặc” đã cắt vài mét khối, bằng mấy chục năm người trồng rừng thực hiện. Tại lâm trường Đình Lập còn hàng chục điểm chặt phá rừng trái phép như thế này.
Ông Ngô Quang Hưng, Phó Giám đốc công ty Lâm trường Đình Lập cho rằng, công ty đã nỗ lực bằng mọi biện pháp, tăng cường công tác bảo vệ nhưng “lâm tặc” quá đông, rất manh động và liều lĩnh, nên mọi nỗ lực đều trở nên bất lực. “Lâm tặc” còn tấn công cả lực lượng bảo vệ lâm trường và phương tiện.
Năm 2013 trên diện tích rừng công ty Lâm nghiệp Đình Lập quản lý xảy ra bốn vụ cháy với diện tích 5ha. Điển hình là cuối năm 2013, rừng tự nhiên Khuổi Quầy ở thôn Nà Táng, xã Bính Xá, huyện Đình Lập đã bị một số đối tượng ngang nhiên mở đường vào khai thác. Nạn khai thác trái phép dẫn tới xóa sổ rất nhiều các khu rừng tự nhiên, rừng thuộc quyền quản lý của công ty Lâm trường Đình Lập, đặc biệt là khu rừng đặc dụng Lâm Ca, rừng Đồng Thắng. Khi gỗ thông khai thác hết lại đến mùa nhựa thông. Hiện, giá nhựa thông mà thương nhân thu mua tại địa bàn đã trên 30.000đồng/kg.
Ông Bế Văn Tiết,  Hạt trưởng hạt Kiểm lâm huyện Đình Lập cho biết, một số đối tượng tiến hành khai thác trộm gỗ thông và nhựa thông của lâm trường đã diễn ra nhiều năm nay. Việc khai thác bừa bãi này đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn lâm sản trên địa bàn huyện Đình Lập.
Theo người dân địa phương thì, việc khai thác lâm sản trên địa bàn huyện Đình Lập diễn ra tràn lan và phức tạp vì một số đối tượng đã lợi dụng Quyết định số 40 của bộ Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn (cho phép chính quyền cấp xã có thẩm quyền cấp giấy phép cho các hộ trồng rừng đã đến kỳ khai thác được chặt tỉa kết hợp với trồng mới). Một số hộ được cấp phép cắt tỉa nhưng tận dụng để chặt gỗ. Bên cạnh đó, những tờ giấy có đóng dấu đỏ cho phép cắt tỉa, khai thác rừng đã vô hình chung tạo điều kiện cho “lâm tặc” vận chuyển gỗ lậu ra bên ngoài. (Đời Sống & Pháp Luật 27/6) đầu trang(
Nghị định thư Nagoya: Cơ hội mới cho việc bảo tồn nguồn gen ở Việt Nam
Giữ gìn nguồn gen quý là trách nhiệm chung của cộng đồng, nhưng trách nhiệm lớn hơn là phát triển và đưa vào sử dụng những nguồn gen phục vụ cuộc sống một cách hợp lý. Đó mới thực sự là bảo vệ các nguồn gen quý một cách lâu dài.
Nghị Quyết số 17/NQ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký và ban hành tháng 3/2014 vừa qua, đã đưa ra quyết nghị đồng ý để Việt Nam gia nhập Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen trong khuôn khổ Công ước Đa dạng sinh học. Đây được xem là cơ hội mới để bảo tồn nguồn đa dạng sinh học đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương.
Đánh giá của Cục Bảo tồn và Đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường – Bộ TN&MT) Việt Nam đã mất rất nhiều nguồn gen mang tính đặc hữu cũng như nhiều cây thuốc quý. Vì vậy, việc tham gia Nghị định thư Nagoya sẽ góp phần thúc đẩy Việt Nam tham gia tích cực vào thị trường nguồn gen trên toàn cầu. Quan trọng hơn, Nghị định thư Nagoya là cơ sở pháp lý vững chắc để Việt Nam có thể cung cấp nguồn gen một cách chính thống trên thị trường thế giới.
Nghị định Nagoya với 36 điều nhằm chia sẻ công bằng và hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen, bao gồm việc tiếp cận nguồn gen một cách phù hợp và chuyển giao các công nghệ liên quan một cách hợp lý, có xét đến các quyền đối với nguồn tài nguyên và công nghệ thông qua các khoản tài trợ phù hợp và từ đó sẽ đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học.
Để tuân thủ các quy định, cũng như đảm bảo việc triển khai thực hiện Nghị định thư Nagoya tại Việt Nam, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chủ trì trong việc rà soát, đánh giá việc hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong tiếp cận nguồn gen tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013; xây dựng đề án "Tăng cường năng lực về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen" năm 2014; xây dựng Nghị định quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen năm 2015.
Khoảng hơn 10 năm trở lại đây, Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý tương đối đầy đủ, với nhiều bộ luật về quản lý tài nguyên thiên nhiên liên quan tới vấn đề bảo tồn nguồn gen như Luật Thủy sản (2003), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004), Luật Bảo vệ môi trường (2005), Luật Tài nguyên nước (2012), và đặc biệt là Luật Đa dạng sinh học (2008).
Theo đánh giá của các chuyên gia, nội dung tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trong Luật ĐDSH 2008 và Nghị định 65/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ĐDSH đã thể hiện tương đối đầy đủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Đây là một nỗ lực lớn đối với quá trình hội nhập quốc tế, trong bối cảnh các bên vẫn đang trong quá trình thương lượng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh.
Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận thực tế, việc tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích còn là lĩnh vực mới mẻ ở Việt Nam, về phía người sử dụng, nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp, viện nghiên cứu về giá trị thực của chia sẻ lợi ích công bằng và hợp lý, về tiếp cận thị trường còn hạn chế. Phần lớn người cung cấp nguồn gen không ý thức được giá trị nguồn gen do mình cung cấp sẽ được hưởng việc chia sẻ lợi ích công bằng và hợp lý. Chính vì những hạn chế về nhận thức, mà nguồn gen ngày càng bị khai thác cạn kiệt, một số nguồn gen đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Trong khi đó, Việt Nam là một trong những trung tâm có nguồn gen cây trồng và vật nuôi đa dạng của thế giới gồm 49.200 loài sinh vật với khoảng 7.500 loài/chủng vi sinh vật; 20.000 loài thực vật trên cạn và dước nước; 10.500 loài động vật trên cạn; 2.000 loài động vật không xương sống và cá ở nước ngọt; khoảng trên 11.000 loài sinh vật biển. Đây chính là những nguồn gen bản địa quý của đất nước cần phải bảo vệ, giữ gìn và phát triển.
Tuy vậy, nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen được phân công cho nhiều Bộ, ngành, trong khi nguồn kinh phí thực hiện các nhiệm vụ trên còn rất hạn chế. Theo báo cáo của Bộ KH&CN, từ những năm 2009 tới 2011, tổng kinh phí hàng năm giao cho các Bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ về quỹ gen chỉ khoảng 20 tỷ đồng, từ năm 2012 đến nay mới đạt xấp xỉ 35 tỷ đồng. Với nguồn kinh phí còn hạn hẹp, công tác bảo tồn nguồn gen ở Việt Nam chủ yếu là bảo tồn tại chỗ trong điều kiện tự nhiên nơi phát sinh nguồn gen.
Các chuyên gia cũng cho rằng, Việt Nam cần thiết phải hoàn tất việc kiểm tra, kiểm kê tình hình phân bố của các nguồn gen cây trồng, vật nuôi trên toàn quốc, xác định đối tượng ưu tiên cần thu thập, bảo tồn; lưu giữ, bảo quản an toàn và nguyên trạng… có như vậy mới góp phần bảo tồn, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên sinh học của quốc gia. (Tài Nguyên & Môi Trường 26/6) đầu trang(
Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất lâm nghiệp 33.051ha, chiếm 26,8% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó 16.251ha rừng và đất rừng được quy hoạch là rừng đặc dụng (Vườn quốc gia Tam Đảo: 15.271ha; rừng nghiên cứu khoa học thuộc Trung tâm Khoa học lâm nghiệp Đông bắc bộ: 980ha).
Trong những năm qua, cùng với việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, công tác bảo tồn, phát triển hệ thống rừng đặc dụng luôn được tỉnh quan tâm chú trọng, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội của địa phương.
Nằm trong quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, rừng đặc dụng tỉnh Vĩnh Phúc (nằm trên địa bàn 9 xã, thị trấn thuộc 3 huyện, thị: Tam Đảo, Bình Xuyên và Phúc Yên) có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn cảnh quan thiên nhiên; các nguồn gen động thực vật; các di tích lịch sử, văn hóa; danh lam thắng cảnh trong các khu du lịch sinh thái; phục vụ nghiên cứu khoa học, tham quan học tập của các nhà khoa học và sinh viên trong nước và quốc tế.
Theo kết quả theo dõi diễn biến rừng của Viện điều tra quy hoạch rừng, mật độ cây tái sinh trên đất trống 400-3000 cây/ha; mật độ cây tái sinh tự nhiên ở rừng thứ sinh nghèo kiệt sau khai thác từ 800-1000 cây/ha, rừng phục hồi từ 1.500-2.000 cây/ha, thành phần loài cây tái sinh đa dạng, khả năng phục hồi thành rừng rất khả quan và có hệ sinh thái lớn chủ đạo phân bố tập trung ở sườn Tây dãy núi Tam Đảo tạo nên tính đa dạng sinh học với 1.247 loài thực vật bậc cao (thuộc 645 chi, 169 họ phân bố ở 5 ngành: Tháp bút, thông đất, dương xỉ, hạt trần, hạt kín). 1.188 loài động vật rừng (thuộc 797 chi, 165 hộ, 42 bộ).
Bao quanh hệ thống rừng đặc dụng của tỉnh là khu vực có lịch sử văn hóa lâu đời và đậm đà bản sắc dân tộc với 110 di tích lịch sử văn hóa và cảnh quan thiên nhiên đẹp, thế mạnh trong phát triển du lịch và xây dựng các khu nghỉ mát. Ngoài ra, đây còn là nơi phục hồi, duy trì phát triển các loài thực vật, động vật đặc hữu, quý hiếm tạo nên sự đa dạng phong phú về nguồn gen.
Xác định được tầm quan trọng của rừng đặc dụng trong phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân không chỉ trong tỉnh mà còn toàn vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc. Vì vậy, trong những năm qua cùng với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; phối hợp với các nhà trường giáo dục cho học sinh tình yêu rừng và ý thức bảo vệ rừng ngay từ nhỏ, Sở NN&PTNT trực tiếp là Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với chính quyền các địa phương xác định ranh giới từng khu rừng đặc dụng; rà soát diện tích rừng; giao khoán bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi rừng, trồng rừng theo các dự án, chương trình 327, 661...qua đó đã phục hồi được 570ha rừng tự nhiên. Riêng Vườn Quốc gia Tam Đảo trồng và chăm sóc trên 5.000ha rừng; giao khoán bảo vệ rừng 11.350ha
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được các cấp, ngành quan tâm chú trọng. Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND tỉnh thành lập 14 tổ bảo vệ rừng cấp xã; 9 Ban chỉ huy PCCCR cấp xã và gần 40 tổ xung kích bảo vệ rừng ở địa phương. Hàng năm, Chi cục tổ chức 15-20 hội nghị, hội thảo chuyên đề; xây dựng và sửa chữa 25 bảng tin bảo vệ rừng; in, phát 20-30.000 tờ rơi, tờ gấp bảo vệ rừng đến hộ gia đình, cá nhân trên địa; xây dựng bản đồ PCCCR và phân vùng trọng điểm cháy rừng ở các cấp; xây dựng quy ước và ký cam kết bảo vệ rừng và môi trường sinh thái ở các thôn, bản...
Riêng Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xây dựng 135km đường tuần tra; 6,6km đường bê tông đa dụng; hỗ trợ 16 thôn, bản, khu hành chính, mỗi thôn 40 triệu đồng/năm (theo quyết định 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012của Thủ tướng Chính về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020)...góp phần hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Tuy nhiên, hiện nay diện tích các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ bị thu hẹp, chất lượng sinh cảnh rừng bị giảm do tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp, thay đổi cấu trúc cảnh quan để phát triển kinh tế xã hội; mặt khác, xung quanh khu vực rừng đặc dụng có khoảng 24,3 ngàn nhân khẩu/5,2 ngàn hộ đồng bào dân tộc thiểu số Sán Dìu có phong tục tập quán và truyền thống canh tác gắn bó với việc sử dụng tài nguyên rừng đời sống còn nhiều khó khăn. Hệ thống cơ sở vật chất (đường giao thông, thông tin liên lạc, cấp nước sạch, phương tiện tuần tra cho lực lượng kiểm lâm, chòi canh lửa..) vẫn còn thiếu. Chưa thu hút được những chuyên gia giỏi làm việc ở các lĩnh vực công nghệ sinh học, phân loại thực vật, động vật rừng và các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, trang thiết bị, phương tiện, máy móc, nâng cao sinh kế người dân trong vùng rừng đặc dụng…
Để đáp ứng tốt hơn công tác bảo tồn, phát triển của từng loại rừng đặc rừng, UBND tỉnh đã giao cho Sở NN&PTNT xây dựng quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu của quy hoạch là bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái rừng hiện có trong Vườn Quốc gia Tam Đảo, nâng độ che phủ của rừng lên 90% và các giá trị lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh thông qua các chương trình, dự án; bảo tồn trên 80 loài thực vật, 60 loài động vật đặc hữu, quý hiếm và nguy cấp; bảo vệ 14.074ha rừng hiện có; trồng mới 354,5ha rừng tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, trồng rừng thay thế bằng cây bản địa 161ha; khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên bình quân 635ha/năm.
Quản lý sử dụng có hiệu quả quỹ đất và rừng nghiên cứu khoa học hiện phục vụ lâu dài cho công tác nghiên cứu khoa học về lâm nghiệp; xây dựng hiện trường nghiên cứu thí nghiệm có hệ thống. Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục bảo tồn và môi trường tạo động lực phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng; xây dựng khu vực hành chính, cơ sở phục vụ quản lý bảo vệ rừng và các mô hình nông lâm tạo ra nhiều nguồn thu mới đảm bảo cơ bản cho các hoạt động sự nghiệp quản lý, bảo tồn và phát triển rừng. Phát triển các loại hình dịch vụ du lịch, qua đó tạo việc làm góp phần phát triển kinh tế xã hội của các địa phương. (Báo Vĩnh Phúc 26/6) đầu trang(
26-6, trước tình trạng người dân trong và ngoài tỉnh khai thác hạt ươi bay bằng cách… chặt cây ươi, Chủ tịch UBND tỉnh này có công điện số 04/CĐ-UBND yêu cầu các sở, ngành địa phương liên quan tập trung triển khai các biện pháp cấp bách quản lý, bảo vệ và khai thác hạt ươi bay trên địa bàn tỉnh.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thành phố thực hiện các giải pháp quyết liệt để bảo vệ cây ươi; ở các địa bàn trọng điểm đang xảy ra tình trạng chặt phá cây ươi cần lập ngay phương án tổ chức truy quét, đẩy đuổi các đối tượng xâm nhập và đưa dụng cụ, phương tiện vào rừng trái phép để chặt hạ cây ươi; chỉ đạo lực lương Công an và chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát và quản lý chặt chẽ các đối tượng khi đến địa bàn quản lý và xâm nhập vào rừng trái phép; kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý, các đối tượng vi phạm; tổ chức tịch thu phương tiện, dụng cụ sung quỹ Nhà nước hoặc phá hủy tại chỗ khi không thực hiện việc đăng ký.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam yêu cầu Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các Ban quản lý rừng duy trì hoạt động truy quét tại các khu vực trọng điểm đang xảy ra tình trạng chặt cây ươi và phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển hạt ươi trên các tuyến giao thông và tại các trạm barie; tham mưu giám sát, quản lý phương tiện, dụng cụ đưa vào rừng trên địa bàn theo đúng quy định.
Giám đốc Sở Công Thương chỉ đạo Chi cục quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra và xử lý tình trạng mua bán, tàng trữ và kinh doanh hạt ươi trái phép để góp phần ổn định tình hình trật tự xã hội tại địa phương.
Nhiều tuần qua tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam xảy ra tình trạng hàng ngàn người dân tại địa phương và các tỉnh miền Trung đổ về rừng Quảng Nam thu hái hạt ươi và chặt hạ cây ươi còn sống để lấy quả gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng và tính mạng của người dân. (Lao Động + Người Lao Động 27/6; Sài Gòn Giải Phóng 26/6) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm nay công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ có sự chuyển biến tích cực, số vụ vi phạm lâm luật giảm, không có điểm nóng về khai thác gỗ trái phép, đặc biệt đã tạo sự chuyển biến về nhận thức trong nhân dân về trách nhiệm bảo vệ rừng.
Huyện Lệ Thủy có tổng diện tích tự nhiên 141.611ha. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 107.990ha, chiếm khoảng 76% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó diện tích đất có rừng là 101.035ha bao gồm 32.835ha rừng trồng và 68.200ha rừng tự nhiên. Đất rừng phòng hộ chiếm diện tích 35.190ha, đất rừng sản xuất chiếm 72.800ha, độ che phủ rừng là 68,7%. Trên địa bàn có 2 ban quản lý rừng phòng hộ có tổng diện tích hơn 33.600ha, 3 chi nhánh lâm trường có tổng diện tích khoảng 50.000ha và 21 xã, thị trấn có rừng quản lý diện tích hơn 50.500ha.
Mới đây, trong những ngày cao điểm nắng nóng tháng 6, chúng tôi theo đoàn công tác của Chi cục Kiểm lâm đến kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng ở một số địa phương trên địa bàn Lệ Thuỷ. Qua báo của UBND huyện về tình hình quản lý, bảo vệ rừng ở các địa phương cũng như tận mắt nhìn thấy thực trạng rừng ở Lệ Thuỷ chúng tôi có cảm nhận công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự chuyển biến tích cực.
Điều ghi nhận đầu tiên là trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn huyện, các hoạt động phát triển rừng bao gồm trồng rừng, khai thác rừng và lâm sản ngoài gỗ... tiếp tục được thực hiện theo kế hoạch. Kết quả trồng rừng đạt chỉ tiêu đề ra; trong đó hộ gia đình, cá nhân trồng 740,6 ha rừng; khai thác rừng trồng 367,9 ha, với khối lượng  23.763,5 ster, khai thác hơn 120 tấn nhựa thông. Các lâm trường, đơn vị trên địa bàn trồng được 568 ha rừng (chủ yếu trồng trong quý I) và khai thác được 112 tấn nhựa thông (chi nhánh lâm trường Kiến Giang).
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng đã được tăng cường. Hạt Kiểm lâm huyện đã hướng dẫn các thôn, bản có rừng xây dựng quy ước, nhân dân tham gia ký cam kết bảo vệ rừng, đến nay đã có 132 thôn, bản ở 21 xã có rừng xây dựng quy ước bảo vệ rừng. Trong đó lực lượng kiểm lâm địa bàn đã tập trung tuyên truyền tại địa bàn trọng điểm ở 4 bản thuộc 3 xã Kim Thuỷ, Lâm Thuỷ, Ngân Thuỷ, thu hút trên 400 lượt người tham gia.
Đồng thời UBND huyện đã cấp kinh phí hợp đồng thêm 21 nhân viên lâm nghiệp tại 21 xã có rừng. Hạt Kiểm lâm huyện đã chủ động cùng các xã và các tổ chức, đơn vị chủ rừng tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng, vận động nhân dân chấp hành pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Nhờ vậy, nhận thức pháp luật của nhân dân từng bước được nâng cao, ý thức chấp hành pháp luật có bước chuyển biến đáng kể
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) đã được chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm đặc biệt chú trọng, triển khai đồng bộ các biện pháp ngăn chặn phòng ngừa cháy rừng xảy ra.
Ngay từ đầu năm huyện đã thành lập Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR cấp huyện; theo đó 28 xã, đơn vị thành lập Ban Chỉ huy cấp xã, thị trấn và các chủ rừng bao gồm 408 đồng chí, 199 tổ đội ở các thôn, bản, trạm với số lượng người tham gia đông nhất từ trước đên nay với 2.125 người.
Huyện đã tổ chức thành công hội nghị tổng kết công tác bảo vệ rừng và PCCCR năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014; đồng thời xây dựng Phương án bảo vệ rừng và PCCCR số 01/PA-BCH ngày 18-3-2014.
Song song với đó, Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo xử lý thực bì, làm giảm vật liệu cháy. Kết quả, sau một tháng đầu mùa khô đã xử lý hơn 14.000/33.000 ha rừng trồng, trong đó rừng thông nhựa đã xử lý 2.500/4.300 ha. Hạt và các chủ rừng đã tiến hành tu sửa, củng cố các công trình PCCCR gồm 9 chòi canh lửa, trong đó có 6 chòi canh chính. Hạt Kiểm lâm, UBND các xã, thị trấn, chủ rừng đã chuẩn bị được khoảng 2.000 công cụ thủ công; 40 máy móc, thiết bị; 13 hồ dự trữ nước; xây dựng hơn 40km đường băng trắng cản lửa.
Thực hiện tốt công tác trực cháy, chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền xã, thị trấn, chủ rừng bố trí cán bộ trực chỉ huy, trực PCCCR 24/24h trong ngày, đặc biệt từ thời điểm bắt đầu mùa khô. Làm tốt công tác thông tin, phối hợp giữa các đơn vị và với Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách huyện trong việc trực cháy, kiểm tra, tuần tra rừng nhằm phát hiện và huy động lực lượng, phương tiện ứng phó kịp thời trong trường hợp xảy ra cháy rừng.
Đầu mùa khô, do tình hình nắng nóng gay gắt, đã xảy ra 1 vụ cháy rừng thông nhựa ở xã Trường Thủy tuy nhiên được dập tắt kịp thời. Diện tích cháy 3,7 ha, thiệt hại khoảng 25% số lượng cây. Nguyên nhân vụ cháy chưa được xác định. Sau vụ cháy, UBND huyện đã họp khẩn chỉ đạo Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách, hạt Kiểm lâm đưa ra các biện pháp thích hợp đối phó với tình hình cháy rừng diễn biến phức tạp.
Công tác tuần tra, kiểm soát lâm sản đã được tăng cường, bước đầu đạt kết quả khá tốt. Huyện Lệ Thủy có diện tích rừng tự nhiên khá lớn với hơn 100.000ha, nằm dọc theo các tuyến đường Hồ Chí Minh, đường 16, đường 10... và tuyến đường sông Kiến Giang rất khó quản lý bảo vệ. Rút kinh nghiệm từ các năm trước, bọn lâm tặc thường lợi dụng các tuyến đường giao thông đương bộ, đường thủy để vận chuyển gỗ trái phép, Hạt Kiểm lâm huyện đã tích cực phối hợp với chính quyền các xã có rừng và lực lượng quân sự, bộ đội biên phòng đóng trên địa bàn để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng.
Hạt Kiểm lâm huyện đã chủ động tham mưu UBND huyện thành lập Đội kiểm tra liên ngành có nhiệm vụ kiểm tra việc tổ chức thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp của UBND các xã, thị trấn, kiểm tra trách nhiệm, năng lực của các lâm trường trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên lâm phần được giao, kiểm tra, truy quét các tụ điểm khai thác rừng, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản.
Kết quả, 6 tháng đầu năm 2014,  lực lượng Kiểm lâm và lực lượng chức năng ở Lệ Thuỷ đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 135 vụ vi phạm lâm luật; tịch thu sung quỹ Nhà nước 153m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 1,2 tỷ đồng, so với cùng kỳ giảm 21 vụ. Trong đó, lực lượng liên ngành đã phối hợp bắt giữ, xử lý 11 vụ; tịch thu 13m3 gỗ các loại, không có điểm nóng về khai thác gỗ lậu.
Tuy nhiên, một số xã ở Lệ Thủy có số lượng người làm nghề khai thác gỗ lậu và nuôi nhiều trâu kéo gỗ, vận chuyển buôn bán gỗ trái phép chưa được xử lý triệt để. Việc tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng cho người dân ở một số địa phương còn yếu, còn xảy ra những vụ vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, lấn chiếm đất đai chưa được xử lý kịp thời. (Báo Quảng Bình 26/6) đầu trang(
Sáng ngày 26-6, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong, tỉnh Đác Nông Ngô Anh Sáng cho biết: Vào chiều ngày 25-6, tại khu vực tranh chấp đất đai giữa Công ty TNHH thương mại Đỉnh Nghệ (Công ty Đỉnh Nghệ) và người dân địa phương thuộc thôn Quảng Tiến đã xảy ra xô xát.
Vụ xô xát giữa một nhóm người (trong đó có nhân viên vệ rừng của Công ty Đỉnh Nghệ) với một số người dân địa phương, khi xảy ra xô xát bất ngờ một người trong nhóm đã sử dụng súng bắn đạn hoa cải làm hai người dân địa phương bị trọng thương phải nhập viện cấp cứu trong tình trạng nguy kịch là anh Võ Văn Lý và Nguyễn Văn Tuấn, đều trú tại thôn Quảng Tiến, xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong.
Theo những người dân chứng kiến vụ việc kể lại: Vào chiều 25-6, khi phát hiện có một nhóm người, trong đó có nhân viên bảo vệ rừng của Công ty Đỉnh Nghệ có dự án sản xuất trên địa bàn xã Quảng Sơn đến chặt phá cây trồng như cà-phê, hồ tiêu… trong rẫy của gia đình ông Phan Văn Khiếu ở thôn Quảng Tiến.
Nhóm người này mang theo các dụng cụ hỗ trợ như súng bắn đạn hoa cải, dùi cui điện và dao nên một mình ông Khiếu không dám ngăn cản. Lúc đó, ông Khiếu đã gọi thêm anh Lý và anh Tuấn (là người hàng xóm với mình) đến để chứng kiến sự việc sau này tố cáo với các cơ quan chức năng.
Khi anh Lý và anh Tuấn vừa đến nơi nhóm người kia chặt phá cà-phê, hồ tiêu… thì bị nhóm người này lăng mạ, đòi hành hung. Trong lúc đôi bên đang lời qua tiếng lại thì bất ngờ một đối tượng trong nhóm người này đã dùng súng bắn đạn hoa cải bắn liên tiếp vào người anh Lý và anh Tuấn. Hậu quả cả hai anh bị hàng chục viên đạn chì găm vào chân, mông và lưng. Người dân địa phương đã nhanh chóng đưa cả hai anh đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đác Nông để cấp cứu trong tình trạng nguy kịch, còn đối tượng sử dụng súng bắn đã lẩn trốn.
Qua thăm khám ban đầu, các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa tỉnh Đác Nông nhận định: do cự lý bắn quá gần nên các viên đạn đều găm sâu vào cơ thể của anh Lý và anh Tuấn. Trong đó, anh Lý bị một ổ đạn chì găm vào cột sống lưng, gây nên một vết thương lớn, nguy hiểm đến tính mạng. Sau khi sơ cứu, theo nguyện vọng của người nhà nạn nhân, Bệnh viện đa khoa tỉnh đã chuyển các nạn nhân xuống Bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh để cấp cứu.
Theo ông Ngô Anh Sáng, tình trạng tranh chấp đất đai giữa Công ty Đỉnh Nghệ với một số người dân xã Quảng Sơn đã xảy ra nhiều năm nay, có thời điểm người dân kéo đến trụ sở công ty đập phá, tuy nhiên, việc tự ý chặt phá cây trồng của người dân là sai quy định của pháp luật. Bởi chỉ có cấp có thẩm quyền mới được phép thành lập đoàn cưỡng chế, giải tỏa chặt phá những cây trồng trái phép. Đồng thời, trong quá trình tranh chấp, việc sử dụng súng bắn đạn hoa cải bắn người dân bị trọng thương xảy ra vào chiều 25-6 là không thể chấp nhận được.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, lực lượng Công an huyện Đác Glong phối hợp Công an xã Quảng Sơn đã kịp thời có mặt tại hiện trường để tiến hành xác minh, tổ chức truy bắt đối tượng sử dụng súng bắn đạn hoa cải bắn người dân bị trọng thương, lập lại an ninh trật tự trên địa bàn và điều tra làm rõ vụ việc. (Nhân Dân 27/6; Vietnamnet 26/6) đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn xã Ninh Tây thường xảy ra tình trạng người dân ngoại tỉnh đến chiếm rừng phát rẫy để canh tác tại khu vực Bến Lễ. Chính quyền địa phương đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng kịp thời ngăn chặn tình trạng này.
Theo phản ánh của một số người dân thôn Bến Lễ, xã Ninh Tây, từ năm 1997 đến nay, ở khu vực rừng trên địa bàn thường xảy ra hiện tượng từng tốp người dân ở tỉnh Đắk Lắk kéo xuống chiếm rừng, chiếm rẫy bỏ hoang của người dân bản địa để phát đốt, canh tác khiến người dân địa phương bức xúc và lo lắng.
Để xác minh thông tin này, chúng tôi đã vào khu vực thung lũng rộng hàng trăm héc-ta nằm sâu trong rừng Bến Lễ. Chúng tôi gặp nhiều người dân địa phương là người dân tộc thiểu số và khi được hỏi, họ tỏ ra bất bình trước tình trạng người dân từ địa phương khác đến chiếm rừng phát rẫy nơi đây.
“Bữa trước có gần chục người không biết từ nơi nào kéo vào đây dựng trại, chặt cây rừng để làm rẫy và họ còn lấn sang rẫy chuối nhà tôi. Tôi về báo với trưởng thôn, mấy ngày sau thì những người này bị đuổi ra khỏi rừng”, anh Cao Non (thôn Bến Lễ) cho biết.
Tương tự, ông Cao Nghiêm (thôn Bến Lễ) bước ra khỏi căn chòi canh rẫy của gia đình trên đỉnh đồi và chỉ tay xuống thung lũng, nói: “Tôi ở đây đã vài chục năm rồi nên những lần người từ nơi khác đến thung lũng này chiếm rừng, tôi đều biết. Sau khi đến đây, họ hỏi mua rẫy nhưng tôi không bán nên đã chặt phá rừng để làm rẫy. Những lần đó tôi đều báo với chính quyền”.
Trao đổi về vấn đề này, ông Lê Xuân Tuyên - Chủ tịch UBND xã Ninh Tây xác nhận: “Từ năm 1997 đến nay, năm nào cũng xảy ra tình trạng người dân ở Đắk Lắk kéo đến chiếm rừng làm rẫy ở khu vực rừng Bến Lễ, mỗi đợt thường từ 5 đến 10 người. Qua điều tra xác minh, chúng tôi biết họ đều là người dân tộc thiểu số, ban đầu chỉ đến địa phương để làm rẫy cùng bà con hay làm thuê; nhưng khi thấy khu vực thung lũng nằm sâu trong rừng Bến Lễ địa hình khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ... nên chiếm rừng để phát rẫy. Sau khi phát hiện sự việc, chúng tôi đã phối hợp ngay với lực lượng Công an và Kiểm lâm tổ chức truy quét, vận động các đối tượng này ra khỏi rừng để trở về địa phương. Cuối tháng 5 vừa qua, có 6 người trong một gia đình người dân tộc Dao từ Đắk Lắk cũng đến khu vực này dựng trại, phát rẫy trái phép, chúng tôi đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn bằng cách giải thích, vận động họ quay trở về địa phương. Trong vụ này, chúng tôi thu giữ một khẩu súng săn”.
Ông Tuyên cũng cho biết thêm, khu vực thung lũng nói trên, trước đây là địa bàn sinh sống của bà con dân tộc thiểu số ở địa phương. Khu vực này nằm cách xa trung tâm xã so với các địa bàn giáp ranh của tỉnh Đắk Lắk, đường đi rất khó khăn. Lực lượng của xã thường xuyên tổ chức tuần tra khu vực này để kịp thời phát hiện, ngăn chặn tình trạng người dân phá rừng làm rẫy.
Bên cạnh đó, địa phương cũng coi trọng công tác tuyên truyền cho người dân để khi họ phát hiện sẽ báo ngay với chính quyền để kịp thời xử lý. Chính vì vậy, tất cả các vụ phá rừng làm rẫy tại khu vực thung lũng Bến Lễ từ trước đến nay đều bị chính quyền địa phương và cơ quan chức năng phát hiện và xử lý ngay từ đầu, góp phần không nhỏ trong công tác bảo vệ rừng nói chung cũng như kịp thời ngăn chặn nguy cơ mất an ninh trật tự tại địa phương. (Báo Khánh Hòa 26/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ước giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm đạt gần 2,87 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2013.
Trong khi nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, cao su, sắn gặp khó về thị trường, mặt hàng gỗ chế biến vẫn tiếp tục phát triển ở mức 2 con số.
Mục tiêu xuất khẩu của ngành chế biến gỗ đặt ra trong năm 2014 là 6-6,2 tỷ USD rất có khả năng đạt được bởi đến nay đã có nhiều doanh nghiệp có hợp đồng sản xuất cả năm.
Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 66,74% tổng giá trị xuất khẩu – có mức tăng trưởng lần lượt là 16,52%, 8,82% và 24,8% so với cùng kỳ năm 2013.
Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh (HAWA), khoảng một năm trở lại đây, nhiều nhà nhập khẩu đồ gỗ lớn trên thế giới đã đến Việt Nam đặt hàng chứ không chọn Trung Quốc như trước nguyên nhân do giá nhân công ở Trung Quốc cao gấp nhiều lần so với Việt Nam.
Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 6 tháng Việt Nam đã nhập khẩu gần 1,23 tỷ USD, tăng 82,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu gỗ từ thị trường Lào chiếm 34,4%, Campuchia chiếm 15%, Hoa Kỳ chiếm 8,5%. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu gỗ lớn thứ 4 của Việt Nam, chiếm 8,2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ thị trường này trong 5 tháng đầu năm 2014 đã tăng 15% so với cùng kỳ năm 2013. (VOV 26/6) đầu trang(
Sau khi Bộ Tài chính tổ chức Đoàn thanh tra tiến hành thanh tra công tác quản lí ngân sách trên địa bàn tỉnh Điện Biên, đối với dự án hỗ trợ vốn đầu tư cho Nhà máy chế biến gỗ của Cty TNHH Hoàng Lâm có địa chỉ tại xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, toàn bộ sai phạm có tính chất nghiêm trọng cấu thành tội phạm trong toàn bộ quy trình xét duyệt dự án, nghiệm thu công trình, giải ngân cho doanh nghiệp mới bị phát giác.
Phải chăng có việc cá nhân từ lãnh đạo UBND tỉnh Điện Biên đến lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNN), Kho bạc Nhà nước tỉnh Điện Biên nhận tiền hối lộ của doanh nghiệp dẫn đến việc biết sai mà vẫn “nhắm mắt” tiếp tay cho Công ty Hoàng Lâm Điện Biên “rút ruột” ngân sách nhà nước, thiếu trách nhiệm trong việc theo dõi, giám sát, đôn đốc và kiểm tra doanh nghiệp, gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thoát 26,5 tỉ đồng ngân sách nhà nước…?
Vụ việc bắt đầu từ năm 2012 khi tỉnh Điện Biên được Chính phủ phê duyệt chi tiền để thực hiện các chính sách về phát triển rừng tại địa phương. Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên, ông Đinh Ngọc Quỳnh được sự “hậu thuẫn” của lãnh đạo UBND tỉnh và Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên, Kho bạc Nhà nước đã lập sẵn kế hoạch “nuốt trọn” toàn bộ khoản hỗ trợ 26,5 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước trên?
Căn cứ Kết luận Thanh tra Bộ Tài chính ngày 31/12/2013, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên, ông Hoàng Văn Nhân đã làm sai quy định của Nhà nước khi bước đầu cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 62 121 000049/ CNDDC1/62/1 ngày 8/7/2011 cho Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên xây dựng nhà máy gỗ công nghiệp với tổng công suất 100.000 m3/năm, tổng vốn đầu tư 290 tỉ đồng, vượt quá khả năng về năng lực và vốn theo Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 5600232393 do Sở KH&ĐT cấp ngày 14/1/2011 với vốn điều lệ của Công ty chỉ có 2 tỉ đồng.
Tháng 10/2012, được sự “chỉ đạo” của cá nhân lãnh đạo UBND tỉnh, Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên, Công ty Hoàng Lâm lập dự án khống về việc xây dựng Nhà máy chế biến gỗ Điện Biên với công suất 100.000m3 sản phẩm/năm. Dự kiến, năm 2014, sau khi đi vào hoạt động sẽ giải quyết việc tiêu thụ nguyên liệu cho tất cả các xã có điều kiện trồng tre, gỗ của tỉnh Điện Biên; tạo nên chuỗi giá trị gia tăng cao cho vùng nguyên liệu các tỉnh vùng Tây Bắc; giải quyết việc làm thường xuyên cho 500 lao động địa phương với mức lương tối thiểu 3 triệu đồng/người/tháng; doanh thu của nhà máy đạt 300 tỉ đồng/năm, nộp ngân sách khoảng 20 đến 30 tỉ đồng/năm.
Tuy nhiên, căn cứ Kết luận Thanh tra ngày 31/12/2013, Quyết định số 1120/QĐ-UBND ngày 14/11/2011 của UBND tỉnh Điện Biên (do Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ông Hoàng Văn Nhân kí)  là sai với quy định của Nhà nước về kế hoạch hỗ trợ vận chuyển sản phẩm gỗ cho nhà máy chế biến gỗ của Công ty Hoàng Lâm Điện Biên với số tiền 218,75 tỉ đồng, trong 5 năm đầu (2012 – 2015) với khối lượng sản phẩm 500.000 m3/năm (100.000 m3 x 5 năm) bằng toàn bộ công suất thiết kế của nhà máy được phê duyệt, ngay từ khi nhà máy mới bắt đầu khởi công xây dựng (năm 2012) là chưa phù hợp với Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg ngày 9/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ: “Nhà nước hỗ trợ đầu tư và hỗ trợ chi phí vận chuyển sản phẩm trong 5 năm đầu tiên tính từ khi nhà máy bắt đầu sản xuất”.
Việc UBND tỉnh, Sở NN&PTNT và Kho bạc Nhà nước Điện Biên làm sai quy định của Nhà nước trong việc thanh toán khoản tiền hỗ trợ vận chuyển 26,5 tỉ đồng cho Công ty Hoàng Lâm Điện Biên quy định tại Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/6/2007 và Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg ngày 9/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Cụ thể: Cấp tạm ứng 6 tỉ đồng: Dù Nhà máy chế biến gỗ chưa hoàn tất việc xây dựng (lắp đặt được 2 nhà xưởng), chưa đủ điều kiện để thành lập Hội đồng nghiệm thu nhà máy nhưng ngày 21/12/2012, Giám đốc Sở NN&PTNT Điện Biên lại có Văn bản số 2525/TTr-SNN trình UBND tỉnh thành lập Hội đồng nghiệm thu dự án. Ngày 28/12/2012 ông Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Đình Kỳ; Chủ tịch UBND huyện Điện Biên, ông Lò Văn Phương; Chi cục Lâm nghiệp và Công ty Hoàng Lâm đã tự lập Biên bản xác nhận khối lượng, tiến độ xây dựng nhà máy chế biến gỗ công nghiệp với đầy đủ các hạng mục công trình theo quy định. Trong ngày 28/12/2012 Giám đốc Sở NN&PTNT còn có văn bản đề nghị UBND tỉnh Điện Biên, Kho bạc Nhà nước cho Công ty Hoàng Lâm được thanh toán vốn hỗ trợ đợt 1 là 6 tỉ đồng. Ngày 31/1/2013, Kho bạc Nhà nước đã giải ngân tạm ứng chi phí hỗ trợ vận chuyển 6 tỉ đồng cho Công ty Hoàng Lâm.
Thanh toán hỗ trợ 26,5 tỉ đồng: Ngày 25/3//2013, để hợp thức hóa “rút ruột” ngân sách nhà nước 26,5 tỉ đồng, Ông Hoàng Văn Nhân đã kí Công văn số 717/UBND-NN ngày 25/3/2013 gửi Thường trực HĐND tỉnh về việc điều chỉnh kế hoạch phân bổ vốn Chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững năm 2012, khi Nhà máy chế biến gỗ Hoàng Lâm vẫn chưa xây dựng hoàn tất, khối lượng, năng suất sản phẩm chưa đạt chỉ tiêu trong quy định với khu nhà xưởng cũ mới lộn xộn, có 21 máy móc được lắp ráp đã qua sử dụng, sản xuất trước năm 2000; một số máy hiện đang sử dụng, nhưng không có nguồn gốc xuất xứ, không có năm sản xuất, không có hồ sơ chứng minh và một số máy móc cũ hiện không hoạt động (theo quy định của Chính phủ: “Thiết bị máy mới 100% hoặc thiết bị đã qua sử dụng nhưng được sản xuất tại các nước phát triển sau năm 2000”); lao động sản xuất theo mùa vụ chỉ với 50 cán bộ, công nhân; lượng sản phẩm sản xuất thực tế chỉ khoảng 15,2m3/tháng thấp hơn rất nhiều so với dự án đưa ra ban đầu và theo quy định của Nhà nước (100.000 m3/năm, tương đương hơn 80.000 m3/tháng). Như vậy, nhà máy hoạt động chỉ mới đạt 7% công suất; tổng giá trị khối lượng đã đầu tư 16,8 tỉ đồng mới chỉ bằng 5,8% so với tổng mức đầu tư cho nhà máy.
Vậy mà, ông Hoàng Văn Nhân vẫn “nhắm mắt” kí đại Công văn số 730/UBND-NN ngày 25/3/2013 chỉ đạo Sở NN&PTNT thành lập Hội đồng nghiệm
thu; ông Nguyễn Đình Kỳ, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT và bà Phạm Thị Liễu, Phó Giám đốc Kho bạc Nhà nước đã không “ghê tay” khi kí Tờ trình số 328B/TTr-SNN-KBNN ngày 28/3/2013 về việc đề nghị thanh toán vốn hỗ trợ vận chuyển cho Công ty Hoàng Lâm 20,5 tỉ đồng (sau khi trừ số tiền đã tạm ứng 6 tỉ đồng); ông Phạm Đức Hiển kí Công văn số 330/SNN-LN ngày 28/3/2013 đề nghị Kho bạc Nhà nước giải ngân cho Công ty Hoàng Lâm được thanh toán 20,5 tỉ đồng và ngày 9/4/2013. Kho bạc Nhà nước đã chi 20,5 tỉ đồng cho Công ty Hoàng Lâm (ông Hiển là chồng của một lãnh đạo tỉnh Điện Biên).
Căn cứ những nội dung trên được chỉ rõ trong Kết luận Thanh tra Bộ Tài chính ngày 31/12/2013, sai phạm và trách nhiệm trước hết là của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng tỉnh Điện Biên. Cá nhân Phó Chủ tịch UBND tỉnh, các Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh, Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh có việc nhận hối lộ, để tổ chức “cấu kết”, “lập kế hoạch” hoàn thiện toàn bộ quy trình từ việc tiến cử doanh nghiệp, thành lập xét duyệt dự án, nghiệm thu công trình đến giải ngân để có thể “rút ruột” vốn hỗ trợ 26,5 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước diễn ra trót lọt.
Hơn nữa, lãnh đạo UBND tỉnh, Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên và chủ đầu tư đã phớt lờ, thiếu trách nhiệm khi không theo dõi, giám sát, kiểm tra thực tế trong toàn bộ quá trình thực hiện dự án, mọi hồ sơ số liệu báo cáo UBND tỉnh, Sở NN&PTNT và các cơ quan ban ngành có liên quan đều chỉ là “nghe Công ty Hoàng Lâm Điện Biên báo cáo”?
Đề nghị UBND tỉnh Điện Biên tổ chức, chỉ đạo các cơ quan chức năng của tỉnh làm rõ sai phạm và xử lí nghiêm minh các cá nhân, tập thể và tổ chức có liên quan theo đúng quy định của pháp luật. (Người Cao Tuổi 26/6) đầu trang(
Triển khai trồng rừng có nhiều thuận lợi
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong sáu tháng đầu năm 2014, các tỉnh miền Bắc có mưa sớm trên diện rộng nên khá thuận lợi trong công tác triển khai trồng rừng. Bên cạnh đó, tình hình khai thác lâm sản cũng đạt được kết quả khả quan.
Cụ thể, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 71,2 nghìn ha, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 4,6 ngàn ha, giảm 15,6% so với cùng kỳ năm trước; trồng mới rừng sản xuất đạt 66,6 ngàn ha, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 2.616 nghìn m3, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.
Đến ngày 20/6, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 67.015,8 ha rừng, giảm 0,4 % so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vùng Bắc Trung Bộ có tiến độ trồng rừng tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, đạt 12.995,3 ha (tăng 3,6%), tiếp đến là vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt 45.838,5 ha (tăng 1,5%). Ngược lại, Đồng bằng sông Hồng chỉ đạt 8.182 ha ( giảm 14,5%).
Còn tại các tỉnh miền Nam, đến ngày 20/6 đã trồng được 3.980,3 ha. Trong đó Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trồng đạt 2.616 ha, Tây Nguyên trồng đạt 1.128,3 ha, Đồng bằng sông Cửu Long trồng đạt 236 ha. Một số địa phương có diện tích trồng rừng khá là Bình Định đạt 2.496 ha, Kon Tum 1.128 ha, An Giang 196 ha (cùng kỳ năm trước các địa phương này chưa tiến hành trồng rừng).
Bên cạnh việc trồng rừng mới tập chung, các địa phương tiếp tục triển khai trồng cây phân tán, trồng và chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng mới tập trung năm 2014. (Đảng Cộng Sản VN 26/6) đầu trang(
Đáp ứng nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng về mẫu mã đa dạng, kiểu dáng hiện đại, giá cả bình dân, sản phẩm làm từ gỗ công nghiệp đang “áp đảo” đồ gỗ tự nhiên ở thị phần tiêu dùng bình dân.
Đường Đê La Thành, “thế giới đồ gỗ”, hơn chục năm trước, vẫn tồn tại nhiều cửa hàng bán những sản phẩm bàn ghế, giường tủ, kệ TV… làm từ gỗ tự nhiên như gỗ xoan đào, lim… Nhưng hiện tại do nhu cầu của thị trường, hầu hết các cửa hàng hiện thiên về sản phẩm có chất liệu được làm từ gỗ công nghiệp còn gọi là gỗ nhân tạo, ván ép, ván dăm.
Lạc vào “thế giới đồ gỗ công nghiệp”, khách hàng có thể mua sắm thỏa sức với các kiểu dáng được thiết kế mang phong cách từ hiện đại, trẻ trung, thanh lịch. Khác với sản phẩm được làm gỗ tự nhiên chỉ có một vài tông màu chủ đạo, gỗ nhân tạo đáp ứng được mọi nhu cầu về màu sắc của sản phẩm, bởi nó được phủ lớp sơn bên ngoài. Chính vì lớp sơn này mà sản phẩm nội thất thiết kế cho trẻ nhỏ có thế có đủ màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng… Còn với đồ gỗ trong phòng khách phòng ngủ tùy theo sự yêu thích của gia chủ, có thể chọn tông màu nâu cánh gián, màu vecni, hay màu nude… Giá bán sản phẩm đặc biệt rẻ, so với gỗ tự nhiên, sản phẩm gỗ công nghiệp cùng loại rẻ hơn tới 3-4 lần.
Chẳng hạn một chiếc tủ gỗ 4 cánh bằng gỗ công nghiệp có giá dao động khoảng 4-6 triệu đồng, với gỗ thịt có thể lên tới 25-30 triệu đồng/chiếc. Hoặc một tủ để giầy 3 cánh dài khoảng 1,2 m làm bằng gỗ công nghiệp có giá 1,2-1,8 triệu đồng, nhưng nếu làm bằng gỗ tự nhiên có giá 3,5-4 triệu đồng. Một bàn trang điểm từ gỗ công nghiệp có giá 1,5-1,7 triệu đồng (gỗ tự nhiên từ 3-4,5 triệu đồng).
Chị Lê Hồng Nhung, phố Khâm Thiên (Hà Nội) cho biết, gia đình chị vừa thay một loạt sản phẩm đồ gỗ nội thất. Tính tổng chi phí cho cả phòng khách và phòng ngủ, với 6 món đồ chỉ hết 17,5 triệu đồng, quá rẻ so với gỗ thịt. Ai vào cũng khen ngôi nhà như được thay áo mới, với nột thất trông sang trọng không kém gì gỗ thịt.
Theo một chủ cửa hàng đồ gỗ trên đường La Thành, bán đồ gỗ công nghiệp dễ chịu hơn gỗ thịt nhiều. Trước kia khi bán sản phẩm gỗ thịt, người mua thường “săm soi” chất lượng, loại gỗ, tuổi gỗ, độ co ngót, cong vênh. Nay bán gỗ công nghiệp nhàn hơn rất nhiều, tất cả gỗ được phủ lớp sơn, người mua gần như chẳng quan tâm đến chất lượng, chỉ chú trọng vào kiểu dáng, màu sắc, chủng loại đều tương đương nhau.
Chiếm thế “áp đảo” trên phân khúc thị trường bình dân, nhưng đúng là tiền nào của ấy. Trong khi thị trường sản phẩm chế biến từ gỗ xuất khẩu được kiểm soát gắt gao từ nguồn gốc, chất lượng…, đồ gỗ công nghiệp thị trường trong nước gần như bị thả nổi về chất lượng. Gỗ thịt có màu sắc tự nhiên bền với thời gian, thậm chí có những loại gỗ quý càng để lâu càng bóng, lên màu càng đẹp. Gỗ công nghiệp được phủ bề mặt là nước sơn nên rất dễ trầy xước. Sản phẩm gỗ công nghiệp mà bị trầy sước sẽ lộ ra lớp thịt gỗ được ép từ bột gỗ dễ bị lộ.
Về tuổi thọ, gỗ tự nhiên có độ bền hàng chục năm, nhưng gỗ công nghiệp chỉ được 5-10 năm trong điều kiện bảo quản tốt. Khi thời tiết thay đổi, trong môi trường ẩm thấp, gỗ công nghiệp thường bị nở do các lớp keo bị thấm nước. Bề mặt gỗ công nghiệp thường dễ lên mốc trắng (khi bị ẩm), mốc màu cam đỏ (thường có ở những loại gỗ tự nhiên sấy chưa đủ khô) - điều không xảy ra với gỗ tự nhiên. Chưa kể, gỗ công nghiệp tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ gây hại cho sức khỏe người sử dụng.
Theo các chuyên gia về gỗ, tất cả các loại ván công nghiệp đều chứa formaldehyde, do trong quá trình sản xuất phải sử dụng các loại keo như UF, PF… Các loại keo này tan trong nước, có tác dụng liên kết với cellulose của gỗ tạo nên độ bền, giữ hình thái, khiến tấm ván rắn chắc. Formaldehyde trong keo có khả năng phóng thích trong không khí. Có thể cảm nhận rõ tác động của formaldehyde khi mở một ngăn tủ mới, thường có mùi hôi, hắc xộc lên mũi, khiến người tiếp xúc trực tiếp bị ho, chảy nước mắt. Sẽ rất nguy hiểm nếu các sản phẩm này dùng cho trẻ nhỏ hoặc đặt trong phòng ngủ kín.
Tổ chức Y tế Thế giới liệt kê formaldehyde là loại hóa chất độc hại đối với sức khỏe con người. Cơ thể con người nếu tiếp xúc với formaldehyde trong thời gian dài, dù hàm lượng cao hay thấp cũng gây nhiều tác hại nghiêm trọng cho da và hệ thống, hô hấp, các bệnh về bạch cầu, gây ung thư nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là ung thư đường hô hấp như mũi, họng, phổi…
Formaldehyde là tác nhân gây sai lệch và biến dị các nhiễm sắc thể, phụ nữ có thai bị nhiễm có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai. Điều đáng nói, cơ thể người không có cơ chế đào thải formaldehyde. Tại nhiều nước, chỉ số formaldehyde trong gỗ công nghiệp được khống chế rất chặt chẽ, nhằm đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng.
Chẳng hạn ở Mỹ có Tiêu chuẩn CARB (California Air Resources Boar) do Ban kiểm soát tài nguyên không khí của tiểu bang California Mỹ cấp. Tiêu chuẩn này đòi hỏi một sản phẩm gỗ công nghiệp khi xuất xưởng phải đạt được các yếu tố về nguồn nguyên liệu, môi trường sản xuất, nhưng quan trọng nhất là nồng độ formaldehyde chứa trong keo phải nhỏ hơn 0.11ppm.
Hiện các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ Việt Nam đều hạn chế hàm lượng formaldehyde để xuất được hàng ra quốc tế. Tuy nhiên, trong nước do không có quy định hóa chất trong gỗ công nghiệp nên nhiều nhà sản xuất tràn lan và tùy tiện. (Thời Báo Kinh Doanh 26/6) đầu trang(
2014, huyện Mường Khương quyết tâm hoàn thành kế hoạch trồng mới 650 ha rừng, trong đó trồng mới 200 ha rừng phòng hộ và 450 ha rừng sản xuất.
Đến thời điểm này, huyện Mường Khương đã trồng được 150 ha rừng, chủ yếu 2 giống cây trẩu và sa mộc. Đây là rừng phòng hộ và sẽ hoàn thiện trồng mới 650ha vào Q4 năm nay.
Trước đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Khương đã chuẩn bị 1,4 triệu cây giống, tổ chức thiết kế, chuẩn bị đất, chỉ đạo nhân dân đốt dọn thực bì, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để trồng rừng nên tiến độ khá thuận lợi. (Nông Thôn Ngày Nay 26/6) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh phải chuyển đổi mục đích, nhường đất cho việc xây dựng các công trình thủy điện, khai thác khoáng sản, tái định cư... Tuy nhiên, việc trồng rừng thay thế diện tích đã thu hồi theo quy định của pháp luật vẫn chậm được triển khai.
Đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh đã chuyển đổi 3.461 ha rừng sang mục đích sử dụng khác, trong đó chuyển đổi từ rừng sản xuất là 3.005 ha; rừng phòng hộ là 456 ha. Hầu hết diện tích đất rừng chuyển đổi để phục vụ các dự án thủy điện: Trung Sơn, Hồi Xuân (huyện Quan Hóa); Dốc Cáy (huyện Thường Xuân); Bá Thước 1 và 2, Trí Nang (huyện Lang Chánh), với diện tích 1.261 ha, chiếm tới 36,4% tổng diện tích chuyển đổi. Các dự án này có dự án đang tiến hành xây dựng, có dự án vận hành đã lâu, nhưng tựu chung chưa có đơn vị nào thực hiện việc trồng rừng thay thế.
Trong khi, theo Nghị định số 23, ngày 3-3-2006 của Chính phủ, tất cả các cá nhân, tổ chức khi sử dụng diện tích rừng sang mục đích khác, đều phải trồng rừng thay thế (trồng rừng trực tiếp hoặc nộp tiền), ít nhất bằng diện tích rừng đã sử dụng. Các dự án khi được phê duyệt đầu tư phải đồng thời được phê duyệt dự án trồng rừng thay thế. Thậm chí, ngay cả đối với các dự án vì nhiều lý do đã được phê duyệt đầu tư và đi vào hoạt động, thì ngay sau đó phải được phê duyệt phương án trồng rừng thay thế bổ sung và hoàn thành việc này trong vòng 18 tháng sau khi phê duyệt.
Không chỉ các công trình thủy điện, theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ trước đến nay hầu hết các đơn vị được giao đất xây dựng các công trình dân sinh kinh tế, khai thác mỏ, quặng, khai thác đất san lấp mặt bằng... trên địa bàn tỉnh, đều chưa thực hiện trồng bù lại diện tích rừng.
Theo tìm hiểu của phóng viên, hiện tại mới có 2 dự án là: Nhà máy Thủy điện Trung Sơn và Nhà máy Thủy điện Bá Thước 1 được chủ đầu tư xây dựng phương án trồng rừng thay thế, trình các cơ quan chức năng trong tỉnh thẩm định. Tuy nhiên, các phương án này chưa được hội đồng thẩm định phương án trồng rừng thay thế chấp thuận. Nguyên nhân là, phương án mà Công ty CP Thủy điện Hoàng Anh Thanh Hóa – chủ đầu tư Nhà máy Thủy điện Bá Thước 1 đưa ra, chỉ mới đề cập đến 1,7 ha chuyển đổi xây dựng nhà máy, chưa đề cập đến diện tích bị ngập lòng hồ có diện tích rừng chuyển đổi.
Còn đối với Công ty TNHH Thủy điện Trung Sơn – chủ đầu tư Dự án Thủy điện Trung Sơn (Quan Hóa), phương án mới chỉ đề cập tới diện tích rừng sản xuất chuyển đổi, chứ không đề cập đến diện tích rừng phòng hộ có chuyển đổi thực hiện dự án. Đồng thời, đơn giá mà chủ đầu tư đưa ra bình quân 14,5 triệu đồng/ha chưa bảo đảm định mức trồng rừng theo quy định của pháp luật hiện hành và thấp so với đơn giá thực tế.
Lý giải cho sự chậm chạp này, hầu hết các chủ đầu tư đều kêu khó trong công tác triển khai trồng rừng thay thế, bởi diện tích được chuyển đổi có nhiều quy mô khác nhau, dẫn đến việc tìm quỹ đất phù hợp với quy mô đã chuyển đổi rất khó khăn. Ông Phạm Việt Hoài, Giám đốc Công ty CP Thủy điện Hoàng Anh Thanh Hóa, cho biết: Công ty đang phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa lập biểu mẫu chi tiết trạng thái trồng rừng chuyển đổi, lập phương án trồng rừng thay thế. Theo khảo sát ban đầu, có 16 ha khu vực vùng biên lòng hồ bị ngập. Kết quả khảo sát đã được chúng tôi nộp cho Chi cục kiểm lâm để kiểm tra, sớm hoàn thiện phương án trồng rừng thay thế. Ngoài ra, rất mong hội đồng thẩm định xem xét, thống nhất đơn giá.
Ngoài những nguyên nhân mà các chủ đầu tư nêu, theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì khi thực hiện quy hoạch tổng thể các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh, có những dự án thủy điện khi triển khai chưa có ý kiến tham gia đóng góp của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp. Do đó, nhiều dự án đang trong giai đoạn thi công nhưng chưa thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang làm các công trình thủy điện.
Liên quan đến những vướng mắc mà chủ đầu tư nêu, ông Lê Văn Mơn, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh, cho rằng: Trên thực tế, các chủ đầu tư đều ý thức rõ trách nhiệm của mình trong việc trồng rừng thay thế. Các ngành chức năng cũng tích cực phối hợp thực hiện. Tuy nhiên, do lưu vực của các dự án như thủy điện kể trên rộng, việc xác định diện tích rừng bị ảnh hưởng cụ thể, chính xác đến từng hộ, từng lô, khoảnh là hết sức khó khăn, cần nhiều thời gian cùng sự hỗ trợ của các thiết bị chuyên ngành để thực hiện.
Bên cạnh đó, việc xác định đơn giá còn chưa có sự thống nhất giữa chủ đầu tư và hội đồng thẩm định. Chính vì thế, “nút thắt” cần được tháo gỡ trước mắt là tỉnh cần xây dựng một đơn giá chung mang tính tương đối với từng khu vực trồng rừng thay thế; trong quá trình thực hiện sẽ điều chỉnh dần những điểm chưa hợp lý, qua đó góp phần đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế. (Báo Thanh Hóa 27/6) đầu trang(
Trong cái nắng gắt của mùa hè, PV cùng những cán bộ kiểm lâm đi bộ nửa ngày đường đến vùng lõi của Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Bên cánh rừng đại ngàn là những thôn, bản của đồng bào dân tộc thiểu số, vốn có tập quán sản xuất, sinh hoạt lạc hậu, thường dựa vào tự nhiên để mưu sinh. Vì vậy, nhiệm vụ của các cán bộ kiểm lâm là ngoài việc bảo vệ rừng còn phải tuyên truyền để người dân phát triển kinh tế lâm nghiệp nhằm xóa đói, giảm nghèo.
Dẫn PV thăm những cánh rừng thuộc thôn Séo Mý Tỷ, xã Tả Van, một trong những địa điểm xảy ra vụ cháy rừng năm 2010. Anh Vũ Văn Cường, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Tả Van chỉ tay về phía những vạt rừng cây xanh đã vươn cao quá đầu người phấn khởi nói: Sau khi bị cháy năm 2010, Vườn Quốc gia Hoàng Liên cùng nhân dân đã khẩn trương trồng mới được 150 ha, số còn lại đang được tích cực bảo vệ để rừng tái sinh. Đến nay, diện tích rừng trồng mới đang phát triển mạnh và dần phủ kín màu đen tro tàn của 4 năm trước. Để bảo vệ sự đa dạng sinh học của rừng, đồng thời mang lại thu nhập cho nhân dân, những loại cây được lựa chọn để trồng tại rừng Séo Mý Tỷ là cây bản địa, như vối thuốc, tống quá sủ, pơ-mu.
Anh Lý A Sủa, Tổ trưởng Tổ bảo vệ rừng thôn Séo Mý Tỷ và cũng là một trong nhiều hộ dân của thôn tham gia trồng và bảo vệ rừng cho biết: Có tận tay trồng cây, chăm sóc đến khi thành rừng, mới biết yêu quý rừng và xót lòng mỗi khi thấy rừng bị cháy. Tôi vẫn luôn vận động bà con trong bản không đốt than, đốt nương nữa, phải bảo vệ rừng thì mình mới có cái ăn, mới sống yên ổn.
Vườn Quốc gia Hoàng Liên có tổng diện tích hơn 28 nghìn ha, chủ yếu là rừng nguyên sinh nằm trên địa giới hành chính thuộc 6 xã: Tả Van, Bản Hồ, Lao Chải, San Sả Hồ (huyện Sa Pa) và 2 xã thuộc tỉnh Lai Châu. Nơi đây có khoảng 2.000 loài thực vật với một số loài đặc trưng như tống quá sủ, pơ-mu, đỗ quyên… trong đó có trên 60 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam như bách xanh, thiết sam, thông đỏ, dẻ tùng và nhiều loài thực vật quý hiếm khác.
Thế nhưng, nhiều năm trước đây do sống trong vùng lõi và vùng đệm của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, nên người dân sinh sống và canh tác còn phụ thuộc vào tự nhiên theo hình thức tận diệt nguồn tài nguyên, đe dọa tính đa dạng sinh học của rừng. Bởi vậy, trước “sức ép” tài nguyên sẵn có bị khai thác, bên cạnh việc trồng thảo quả dưới tán rừng, Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã xây dựng Dự án trồng mới 250 ha rừng, với loài cây được chọn chủ yếu là cây sơn tra để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân nơi đây.
Sở dĩ cây sơn tra được lựa chọn cho mục đích trồng rừng năm nay vì đây là loại cây đa mục đích, có tác dụng phòng hộ, phủ xanh đất trống, chống chịu được hạn hán và chịu lạnh, có tác dụng phòng cháy, chữa cháy rừng tốt. Ngoài ra, quả sơn tra có nhiều tác dụng trong y học, đang được thị trường rất ưa chuộng. Hiện tại, cây giống sơn tra đã được gieo ươm tại khu sản xuất của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, đang sinh trưởng tốt.
Theo tính toán của ngành lâm nghiệp, cây sơn tra trồng theo mật độ trung bình 500 cây/ha là tốt nhất, sau khi trồng từ 3 - 5 năm sẽ cho thu hoạch, mỗi cây sơn tra 5 năm tuổi cho thu khoảng 4 - 5 kg quả, giá bán khoảng 8.000 - 10.000 đồng/kg, mỗi ha cho nguồn thu 20 - 25 triệu đồng. Nếu được chăm sóc và bảo vệ tốt, sau 7 - 10 năm, cây sơn tra cho sản lượng ổn định và nguồn thu lên tới 50 triệu đồng/ha.
Ông Nguyễn Quang Vĩnh, Giám đốc Vườn Quốc gia Hoàng Liên khẳng định, sơn tra là cây bản địa gắn bó lâu đời với người dân trên địa bàn. Trong tương lai, đây là cây trồng mang lại thu nhập ổn định, giúp người dân giảm lệ thuộc vào rừng tự nhiên. Một tương lai mới đang mở ra không chỉ với đời sống của người dân các xã vùng lõi, vùng đệm mà tương lai cho cả Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Để thực hiện thành công dự án trồng cây sơn tra theo hướng “biến cây lâm nghiệp bản địa trở thành nguồn lợi kinh tế”, Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã sớm triển khai kế hoạch đến cấp ủy, chính quyền các xã có liên quan để vận động nhân dân đăng ký trồng rừng. Cán bộ của Vườn Quốc gia Hoàng Liên xuống địa bàn rà soát lại quỹ đất, hoàn thiện hồ sơ thiết kế trước khi trồng rừng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trồng và bảo vệ rừng. Do nhận thức được ích lợi từ việc trồng rừng, nên ngay tại những buổi họp thôn, bản đầu tiên đã nhận được sự đồng thuận từ phía người dân.
Anh Má A Di, thôn San 1, xã Lao Chải rất phấn khởi khi gia đình được lựa chọn là 1 trong 30 hộ tham gia trồng rừng tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Anh cho biết: “Hơn 10 năm trước,  gia đình anh nhận khoán bảo vệ 5 ha rừng. Mỗi năm nhờ trồng thảo quả dưới tán rừng, gia đình thu trên 30 triệu đồng. Năm nay, được cộng đồng thôn tín nhiệm, anh tiếp tục tham gia trồng rừng. Cây sơn tra mang lại hiệu quả kinh tế cao, nên anh rất vui. Sau khi trồng cây, sẽ chú trọng chăm sóc tốt, vận động bà con không thả rông gia súc nữa”. (Báo Lào Cai 27/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Châu đã tổ chức các hội nghị tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng tại 28 xã cho 25.400 lượt người. (Báo Sơn La 27/6) đầu trang(
Chiều 26/6, UBND tỉnh đã tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Dự hội nghị có các ông/bà: Giàng Thị Hoa, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ bảo vệ phát triển rừng tỉnh.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là chính sách mới được triển khai, thực hiện nhằm tạo cơ chế khuyến khích, mang lại lợi ích cho người đang sử dụng các hệ sinh thái môi trường, bảo vệ hoặc tăng cường các dịch vụ môi trường phục vụ lợi ích của cộng đồng.
Đối với tỉnh Điện Biên, hiện có trên 390 nghìn ha rừng nằm trong lưu vực chi trả dịch vụ môi trường rừng. Sau khi hoàn tất các thủ tục, văn bản, làm công tác tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và rà soát, xác định chủ rừng, việc giải ngân chi trả dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh bắt đầu được thực hiện từ năm 2013. Đến nay, toàn tỉnh đã giải ngân trên 98 tỷ đồng cho các chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng dân cư.
Qua chính sách này, ý thức của người dân dần được nâng cao, cải thiện sinh kế, giúp người dân gắn bó hơn với rừng. Hiện Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng và các địa phương để đẩy nhanh tiến độ giải ngân.
Tuy nhiên, do là chính sách mới nên việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh còn nhiều lúng túng. Công tác rà soát, thống kê, lập hồ sơ chi trả dịch vụ môi trường rừng gặp nhiều khó khăn do việc sử dụng rừng và đất lâm nghiệp ở các địa phương chưa thực sự đúng mục đích. Mức chi trả với 200 nghìn đồng/ha/năm chưa tương xứng với việc chăm sóc, bảo vệ rừng của nhân dân. Một số đơn vị còn chây ỳ trong việc nộp phí dịch vụ môi trường rừng.
Trong thời gian tới, các đơn vị trực tiếp thực thi chính sách này cần tăng cường việc kiểm tra, giám sát về tổ chức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng để đảm bảo sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích, có hiệu quả. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Cùng với đó là tiếp tục thực hiện việc giao đất giao rừng và tiến hành chi trả kịp thời sau khi đã rà soát, xác định được chủ rừng. Mặt khác cần kiện toàn bộ máy tổ chức hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh nhằm góp phần thực hiện hiệu quả hơn trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Đài PTTH Điện Biên 26/6) đầu trang(
Theo thông tin từ Hạt Kiểm lâm Sơn Động (Bắc Giang), đến ngày 24-6, toàn huyện có 1.350 hộ dân tham gia trồng rừng kinh tế, tổng diện tích 3.009ha (đạt 120,36% kế hoạch năm).
Trong đó, rừng trồng theo chương trình giảm nghèo nhanh, bền vững và theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015 là 950ha, diện tích còn lại do nhân dân tự đầu tư.
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện còn hỗ trợ các hộ dân trồng hơn 36 nghìn cây phân tán các loại. Đạt được kết quả này là do thời tiết thuận lợi, công tác thiết kế hiện trường, hướng dẫn kỹ thuật, chuẩn bị cây giống được chú trọng.
Thời điểm này, Hạt Kiểm lâm Sơn Động đang cấp 150 tấn phân bón, hướng dẫn các hộ chăm sóc, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng. (Báo Bắc Giang 26/6) đầu trang(
Bình quân doanh thu khi trồng đàn hương là gần 1,5 triệu USD/ha/năm, tương đương 27 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp hàng trăm lần các cây rừng khác. Có thể nói, đây là cây “hoàng kim” giá đắt như vàng.
Cây đàn hương có tên khoa học Santalum album L, họ Đàn hương (Santalaceae). Đây là cây gỗ cao 10 - 15 m, với đặc tính sinh học quan trọng nhất là có rễ cái ký sinh trên cây chủ, rễ con bám chặt vào rễ cái cây chủ bằng các giác mút, hút dinh dưỡng từ cây ký chủ để sinh trưởng và phát triển nên còn gọi đàn hương là cây gỗ bán ký sinh.
Lá nguyên, dầy, mọc đối, hình trứng hoặc hình mũi mác. Hoa mẫu 4, cụm hoa mọc thành chùm, lúc đầu màu vàng rơm, sau màu đỏ thẫm. Quả hạch hình cầu, khi chín màu đen, thịt nhiều nhựa. Ra hoa vào tháng 5 - 6, đậu quả vào tháng 7 - 9.
Đàn hương có nguồn gốc ở Đông Timor, phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam), Indonesia. Ở Việt Nam cây mọc hoang ở vùng núi Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa. Bộ phận dùng là lõi của cây gỗ, thu hoạch vào mùa thu. Gỗ màu vàng nhạt, mùi thơm ngát, dùng dưới dạng khúc gỗ hoặc gỗ bào.
Đàn hương là cây có giá trị kinh tế rất cao, được thế giới đánh giá là cây hương liệu siêu hạng, Trung Quốc đánh giá đàn hương là cây có thu nhập vào loại cao nhất trên một đơn vị diện tích, là cây “hoàng kim” giá đắt như vàng.
Gỗ đàn hương có tinh dầu thơm gồm các thành phần α, β - santalol (ancol sesquiterpen), α, β - Santalen, santen, santenon, α - santenol, santalon, santalic axit, teresantalic axit, isovalerandehit, teresantalol, tricycloekasantal, santalin, deoxysantalin, sinapylliandehit, coniferylandehit, syringic andehit, vanilin, urs - 12 - en - 3β - yl - palmitat.
Gỗ đàn hương vị cay, mùi thơm tính ấm (ôn). Ly khí, ôn trung, hòa vị, chỉ thống. Chữa các chứng đau bụng vùng dạ dày, bụng dưới, đái buốt do viêm đường tiết liệu, thổ huyết, nấc, ho có đờm lâu khỏi, chữa phong thấp đau nhức xương, kinh giảm, thuốc điều khí chữa đau tim.
Theo tây y, gỗ đàn hương có tác dụng sinh lý chủ yếu là sát trùng đường niệu - sinh dục. Y học cổ truyền Ấn Độ dùng lõi gỗ đàn hương chống viêm, sát trùng, hạ nhiệt, làm săn da, chữa viêm bàn quang (cystitis), ỉa chảy, lậu mãn tính, xuất huyết, nấc, khí hư, loét và rối loạn đường tiết niệu.
Gỗ đàn hương cứng, giác trắng, không mùi, lõi vàng nâu, được sử dụng SX các loại hàng mỹ nghệ tuyệt diệu, rất đắt tiền, cất tinh dầu để SX nhiều mặt hàng quý và xà phòng thơm.
Ngoài ra, ngày càng có nhiều người rất ưa chuộng dùng gỗ đàn hương để thỏa mãn nhu cầu phong phú về vật chất của cá nhân và nhu cầu sản phẩm tâm linh, được coi là biểu hiện của nhu cầu hưởng thụ mang tính quý tộc.
Nếu đàn hương trồng được 40 năm tuổi thì cho gỗ quý, nhưng trồng từ 6 - 10 năm vẫn cho sản phẩm đắt tiền và hiệu quả cao. Với mật độ trồng 1.000 cây/ha, cũng có nơi trồng 2.000 cây/ha, sau khoảng 10 năm thu được lõi 30 kg/cây, giá bán khoảng 500 USD/kg.
Như vậy, sau 10 năm doanh thu khoảng 15.000 USD/cây, bình quân doanh thu gần 1,5 triệu USD/ha/năm, tương đương 27 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp hàng trăm lần các cây rừng khác.
Giá trị kinh tế của cây đàn hương đang được tiếp tục khám phá nhằm sử dụng vào nhiều mục đích, như SX dược liệu, tinh dầu, hàng mỹ nghệ cao cấp, hàng nội thất, đồ thờ cúng trong gia đình và trong các đền chùa, đàn hương còn SX rượu, nước uống…
Đàn hương là cây dễ tính, phổ thích nghi rộng, yêu cầu điều kiện sinh thái không quá khắt khe.
Điều kiện khí hậu:
- Nhiệt độ: Đàn hương là cây nhiệt đới, á nhiệt đới, phổ nhiệt độ thích hợp từ 23 - 35 độ C. Nhiệt độ thấp hơn 13 độ C cây tạm ngừng sinh trưởng, chồi ngọn chuyển sang ngủ nghỉ. Ở những nơi không có sương giá mùa đông, đàn hương có thể tạm thời chịu được nhiệt 0 độ C, nhưng khi nhiệt độ xuống dưới 0 độ C lá bị rét hại, thời gian lạnh giá càng kéo dài rét hại càng lớn. Nếu nhiệt độ xuống - 3 độ C đến - 5 độ C đàn hương có thể chưa chết rét, có thể do thời gian giá rét ngắn và nhờ cây ký sinh bảo vệ giúp cành lá không bị rét hại.
Nhiệt độ cực trị dưới - 10 độ C và thời gian rét liên tục là hai yếu tố chủ yếu hạn chế sinh trưởng của đàn hương.
Vì vậy, vùng thích nghi phát triển đàn hương là vùng có nhiệt độ tối thấp, bình quân nhiều năm không thấp hơn 0 độ C, tích ôn nhiệt độ bình quân ngày ≥ 10 độ C, đạt 6.000 độ C, đảm bảo thỏa mãn điều kiện nhiệt độ trồng đàn hương.
Trong vùng thích hợp ở độ cao 1.800 m so với mặt nước biển, đàn hương vẫn phát triển tốt.
Nói chung, ở những vùng trồng được chuối tiêu, đu đủ, vải, mít, xoài… đều có thể trồng được đàn hương.
- Lượng mưa: Lượng mưa hàng năm phù hợp với nhu cầu của đàn hương từ 600 - 1.600 mm/năm.
Điều kiện lập địa:
- Địa hình: Đàn hương không thể trồng được ở đất lúa vì đất trồng lúa lâu ngày có tầng đế cày không lợi cho bộ rễ phát triển.
Đàn hương nên trồng ở vùng đồi núi, thoát nước tốt. Đây là cây dương tính, nhạy cảm với ánh sáng, nên phải trồng ở vùng nhiều nắng hoặc ở quanh bờ rào, ven kênh mương, có điều kiện lập địa tốt. Ở những vùng đồi có cây gỗ bụi phát triển, nên trồng xen cây đàn hương vừa không tốn đất, vừa tiện chăm sóc.
- Thổ nhưỡng: Đất trồng đàn hương phải thoát nước tốt, tơi xốp, giàu Fe, P, K, độ pH từ 5 - 6, kỵ đất xốp, tầng đất dày, đảm bảo điều kiện phát triển bộ rễ đàn hương và rễ cây ký chủ, đồng thời nâng cao được khả năng giữ nước, giữ phân. Trồng trên đất có tầng canh tác mỏng, đàn hương phát triển không tốt, rất khó phát triển thành rừng, không những vậy, cây ký chủ cũng sinh trưởng không tốt, có thể làm cho cây chết.
Bộ rễ cây đàn hương chủ yếu phân bổ ở tầng sâu từ 20 - 30 cm, có rễ cái ăn sâu trên 1 m. Vì vậy, yêu cầu đất trồng đàn hương phải có tầng đất sâu trên 1 m.
- Mực nước ngầm: Rễ đàn hương kỵ đọng nước. Nếu đất đọng nước rễ đàn hương thối làm cho cây chết. Vì vậy, đất trồng đàn hương phải có mực nước ngầm dưới 1 m, đồng thời mặt đất không bị đọng nước vào mùa mưa.
Cây đàn hương tuy đòi hỏi kỹ thuật trồng không phức tạp, nhưng có yêu cầu đặc thù về cây ký chủ, cần bố trí phù hợp. Đây cũng là cây trồng dài ngày sau khoảng 6 - 7 năm trở lên, giá rất đắt, phải được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Vì vậy, nên trồng đàn hương phân tán trong các hộ gia đình, mỗi hộ trồng vài chục cây, để thuận tiện cho việc chăm sóc và bảo vệ, làm giàu cho từng gia đình. (Nông Nghiệp VN 27/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Các quan chức ngành động vật hoang dã Hoa Kỳ đang bị nhiều người dân trong nước lên án và chỉ trích nặng nề khi bỏ mặc hai con đại bàng sắp chết.
Trước đó, Viện Nghiên cứu đa dạng sinh học Mỹ đã chiếu một đoạn video về cảnh hai con đại bàng con được chim mẹ cho ăn và nói rằng đại bàng con thường chết trước ngày trưởng thành nếu bị chim mẹ bỏ rơi.
Nhiều người theo dõi video đã gọi điện và gửi email đề nghị các quan chức ngành động vật hoang dã can thiệp và thực hiện các biện pháp để cứu sống đại bàng con. Tuy nhiên, không có một động thái nào diễn ra và kết quả là một trong hai chú chim non đã chết vào cuối tuần qua.
Sự việc đã khiến nhiều người dân trong nước "nóng mặt" và tức giận khi đề nghị của mình không được chấp nhận, khiến đại bàng con không có cơ hội sống sót.
Bà Erynn Call, một chuyên gia về chim ăn thịt của Sở Nghề cá nội địa và động vật hoang dã tiểu bang Maine cho biết các quan chức không thể can thiệp vì đây là một trong những chính sách của chính phủ.
Ông Patrick Keenan, Giám đốc tiếp cận cộng đồng của Sở cũng nói thêm: "Quan điểm chung là không can thiệp. Đây là những động vật hoang dã. Chúng không phải là vật nuôi nên sẽ thường sống tốt hơn trong môi trường tự nhiên của chúng”, hãng tin Foxnews dẫn lời. (Thể Thao & Văn Hóa 26/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang