Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 27 tháng 03 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Lò (Quan Sơn) được giao quản lý, bảo vệ gần 10.428 ha rừng và đất rừng; trong đó có trên 6.695 ha rừng phòng hộ, 3.727,59 ha rừng sản xuất, nằm trên địa bàn của 4 xã, 1 thị trấn của huyện Quan Sơn và 1 xã của huyện Lang Chánh.
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về giao khoán rừng đến từng hộ gia đình, tất cả diện tích rừng thuộc BQL đều được giao khoán cho 361 hộ gia đình và hộ công nhân của BQL để chăm sóc, bảo vệ rừng, phát triển kinh tế từ nghề rừng đã mang lại hiệu quả rõ rệt.
Việc phát huy vai trò của chủ rừng (hộ nhận khoán) đã giúp cho BQL rừng phòng hộ Sông Lò triển khai có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng (BVR&PTR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Ngoài ra, hằng năm BQL rừng phòng hộ Sông Lò phối hợp với hạt kiểm lâm các huyện Quan Sơn, Lang Chánh và chính quyền địa phương mở các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật về trồng rừng, PCCCR cho các chủ rừng là hộ gia đình; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ nhận khoán ký cam kết thực hiện nghiêm các quy định BVR, PCCCR.
Cùng với đó, lãnh đạo BQL chỉ đạo các trạm quản lý BVR trực thuộc kiểm tra diện tích giao khoán đồng thời phối hợp với các hộ nhận khoán xử lý vật liệu cháy ở diện tích có nguy cơ cháy cao, tra dặm một số diện tích rừng trồng.
Ông Ninh Văn Sơn ở xã Trung Tiến, một hộ nhận khoán, cho biết: Gia đình ông nhận khoán hơn 180 ha đất rừng của BQL rừng phòng hộ Sông Lò, trong đó có 120 ha trồng các loại cây theo Dự án 661. Hiện nay, gia đình ông có 148 ha luồng hỗn giao với keo, tận dụng dưới tán rừng, gia đình ông đầu tư chăn nuôi thêm bò, dê, lợn, gà.
Năm 2016, doanh thu từ kinh tế rừng mang lại cho gia đình hơn 500 triệu đồng, trừ chi phí thu lãi trên 200 triệu đồng. Ông Sơn khẳng định, việc giao đất giao rừng đã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Mặt khác, tạo được thói quen định canh định cư, giảm được hiện tượng phá rừng làm rẫy, vì vậy công tác BVR, PCCCR cũng được nâng cao.
Ông Nguyễn Hoàng Anh, Giám đốc BQL rừng phòng hộ Sông Lò, cho biết: Qua các chính sách và chủ trương giao đất, giao rừng của Nhà nước đã tạo điều kiện cho người dân phát huy được vai trò của mình trong phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, tạo ra sản phẩm hàng hóa góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Vì vậy, những năm qua diện tích rừng do BQL rừng phòng hộ Sông Lò quản lý không xảy ra cháy rừng, an ninh rừng được đảm bảo, tỷ lệ che phủ rừng thuộc BQL đạt 89%. (Báo Thanh Hóa 25/3, Khắc Công) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có công văn chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, các ngành đơn vị liên quan thực hiện quyết liệt các nội dung theo phương án phòng cháy, chữa cháy rừng đã được phê duyệt; bố trí nhân lực và phương tiện chủ động kiểm soát tình hình, kịp thời khống chế các trường hợp cháy rừng.
Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, tổ chức cảnh báo, ngăn ngừa cháy rừng; khi xảy ra cháy phải thông báo kịp thời cho các cơ quan chức năng cùng phối hợp để huy động lực lượng, phương tiện triển khai chống cháy hiệu quả.
Giao Công an tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh phối hợp chặt chẽ với lực lượng Kiểm lâm tăng cường công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng; có phương án đảm bảo lực lượng, vật tư, trang thiết bị và hậu cần theo phương châm 4 tại chỗ, để sẵn sàng ứng phó trong trường hợp xảy ra cháy.
UBND các huyện chủ động phối hợp với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn quản lý; chỉ đạo lực lượng kiểm lâm địa bàn hướng dẫn nhân dân canh tác nương rẫy theo đúng quy hoạch; quy định cụ thể khu vực cấm đốt nương, làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác; có phương án kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng trong thời kỳ cao điểm về cháy rừng. (Báo Ninh Thuận 25/3, Anh Tuấn) đầu trang(
Hiện đang là tháng cao điểm của mùa khô hanh, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) xã Nậm Cần (huyện Tân Uyên) được cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương đẩy mạnh; hạn chế thấp nhất hỏa hoạn xảy ra trên những cánh rừng tự nhiên.
Nậm Cần là xã vùng III, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Tân Uyên. Toàn xã có 8 bản chia thành 2 cụm dân cư tập trung riêng biệt với 403 hộ, 2.145 nhân khẩu chủ yếu là dân tộc Thái. Xã có diện tích tự nhiên 13.416ha với 3.207ha rừng (2.771ha rừng tự nhiên, 436ha rừng trồng).
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa bàn rộng, địa hình chia cắt phức tạp, diện tích rừng đa số ở khu vực xa nơi dân cư, đường đi lại khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến công tác PCCCR.
Để làm tốt công tác PCCCR, ngay từ mùa khô xã đã tổ chức kiện toàn Ban Chỉ đạo (BCĐ) PCCCR xã, xây dựng kế hoạch, quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên. Đồng thời, vận động, hướng dẫn Nhân dân thực hiện quy ước bảo vệ rừng, quản lý sản xuất canh tác nương rẫy, ngăn chặn hành vi xâm hại rừng.
Ông Đỗ Anh Tuấn - Phó Chủ tịch UBND xã, Trưởng BCĐ PCCCR Nậm Cần cho biết: “Các thành viên BCĐ xã thường xuyên phối hợp với cán bộ Kiểm lâm huyện phụ trách địa bàn đến từng bản họp, triển khai quán triệt, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Chúng tôi cũng kiện toàn Tổ chuyên trách, phân công nhiệm vụ và dụng cụ cho từng thành viên trong tổ của các bản tham gia chữa cháy rừng. Xây dựng các phương án xử lý kịp thời và huy động lực lượng chữa cháy khi có cháy xảy ra”.
Xác định nhiệm vụ bảo vệ rừng và công tác PCCCR là trách nhiệm của toàn dân do vậy với phương châm “Phòng là chính, cứu chữa phải kịp thời”, xã Nậm Cần chú trọng tuyên truyền đến người dân hiểu rõ vai trò, tác dụng của rừng đối với đời sống và tác hại của cháy rừng. Công tác tuyên truyền được xã triển khai dưới nhiều hình thức như: qua loa truyền thanh mỗi tuần 3 buổi vào những tháng cao điểm, họp bản với 16 buổi/8 bản, 500 lượt người tham gia. Ngoài ra, các thành viên BCĐ xã còn phối hợp với các trường học giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ rưng cho học sinh; qua các buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng… vào những ngày lễ, tết truyền thống.
BCĐ PCCCR xã cũng phân công lịch trực cụ thể cho các thành viên trong BCĐ thường xuyên xuống các bản kiểm tra, đôn đốc tổ chuyên trách tại các bản trong thực hiện công tác tuần tra, canh gác, bảo vệ rừng kịp thời phát hiện đám cháy. Trong những ngày nắng nóng cao điểm, BCĐ xã và các thành viên trong tổ chuyên trách thực hiện trực 24/24 giờ, đeo băng đỏ thường xuyên tuần tra, canh gác tại khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy.
Xã chỉ đạo các bản làm chòi canh gác bảo vệ rừng tại 5 điểm xung yếu dễ xảy ra cháy rừng tại bản: Hua Puông, Nà Phát, Nậm Cần, Hua Cần, Phiêng Áng. Tổ chức phát dọn được 30km đường băng trắng cản lửa bảo vệ rừng quế, sơn tra tại các bản: Nà Phát, Hua Cần, Phiêng Áng, PhiêngBay, Nậm Cần.
Những ngày cuối tháng 3, khu vực xã Nậm Cần nói chung và bản Hua Cần nói riêng thường xuyên có nắng to cộng với gió lớn nên nguy cơ cháy rừng cao. Tuy nhiên, tại chòi canh tạm khu vực trồng quế của bản Hua Cần, chúng tôi thấy 2 thành viên tổ chuyên trách PCCCR của bản đang đeo băng thường trực theo dõi dấu hiệu cháy rừng, thảm cỏ.
Theo đó, mỗi khi phát hiện đám cháy xảy ra, người trực sẽ báo với tổ chuyên trách đồng thời báo với BCĐ PCCCR xã huy động lực lượng tham gia ngặn chặn, chữa cháy. Ông Lò Văn Nếnh – bản Hua Cần, xã Nậm Cần chia sẻ: “Vào thời điểm nắng nóng, gần 20 người trong tổ chuyên trách của bản phân công nhau 2 người/buổi trực từ 6 giờ sáng đến hết buổi chiều. Nhiệm vụ ngăn chặn xâm hại rừng, theo dõi, phát hiện các đám cháy trong toàn khu vực. Tổ chuyên trách cùng bà con tu sửa đường băng cản lửa, huy động Nhân dân các bản phát dọn đường băng mới, bảo vệ diện tích rừng mới trồng”.
Tuy nhiên, do tập quán canh tác trong sản xuất nương rẫy của người dân còn nhiều bất cập, không tuân thủ quy trình đốt nương rẫy hoặc sử dụng lửa bất cẩn trong rừng. Từ tháng 10/2016 đến nay, trên địa bàn xảy ra 1 vụ cháy rừng gây thiệt hại khoảng 10ha, trong đó 8ha thảm cỏ, 2ha rừng trồng. Qua vụ việc, BCĐ xã đã xử lý, phạt hành chính theo quy định của pháp luật đối với người dân để xảy ra cháy rừng.
Để hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra, thời gian tới, xã Nậm Cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật chính sách về quản lý bảo vệ và phát triển rừng, vận động Nhân dân tham gia bảo vệ, PCCCR. Tăng cường quản lý chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy. Thường xuyên tuần tra, canh gác nhằm phát hiện, xử lý kịp thời khi có cháy rừng xảy ra. (Báo Lai Châu 23/3, Phương Ly) đầu trang(
Thị xã Chí Linh có trên 10.000ha rừng đã được phủ xanh, tập trung ở10 xã, phường. Những năm qua nhờ nỗ lực thực hiện tốt công tác bảo vệ nên trên địa bàn thị xã không để xảy ra cháy rừng quy mô lớn. Hiện tại, hầu hết diện tíchrừng đều phát triển tốt.
Hoàng Hoa Thám là xã có diện tích rừng lớn nhất ở thị xã Chí Linh,với diện tích 1.380ha bao gồm:1.159ha rừngphòng hộ,271ha rừng sản xuất và 50ha rừng đặc dụng. Với diện tích rừng lớn như vậy, nên từ nhiều năm qua côngtác bảo vệ và phòng, chốngcháy rừng luôn được địa phương đặc biệt quan tâm. Cùng với tuyên truyền để mọingườidân trong xã thực hiện tốt Luật Bảo vệ và phát triển rừng, xã Hoàng Hoa Thám còn thànhlập các tổ, đội tăngcường tuần tra, canh gác và cùng với chủ rừng tập trung thực hiện cácbiện pháp phòng chống cháy.
Để thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ và phòng, chống cháy rừng ở thị xã Chí Linh,cùng với chính quyền các địaphương có rừng, Hạt kiểm lâm thị xã Chí Linh còn phối hợp với Chi cục Kiểm lâmvùng1 tổ chức tập huấn kiến thứcphòng và chữa cháy rừng cho cáctổ, đội và người dân địa phương; đồng thời tăng cường kiểm tra, xác định các khurừngtrọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao để xây dựng kế hoạch bảo vệ và cung cấp phươngtiện, bố trí lực lượngphù hợp phối hợp, chặt chẽ với chính quyền địa phương làm công tácnày.
Dù đã làm tốt công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, nhưng do một số nguyênnhân như thời tiết khô hanh,nắng hạn kéo dài dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao. Docó cácxã có rừng cần phối hợp chặt chẽ với cơquanchuyênmôn làm tốt công tác bảo vệ vàphòng chữa cháy rừng. Trong đó, tiếp tục chú trọng tổ chức các lớp tuyên truyền, tậphuấn,nâng cao trách nhiệm bảo vệ và phòng cháy chữa cháy cho cán bộ, các chủ rừng và ngườidân để bảo vệ rừng. (Đài PTTH Hải Dương 24/3, Hoàng Huy) đầu trang(
Thời gian qua, việc đổi mới, sắp xếp các công ty lâm nghiệp kéo dài cộng với công tác tuyên truyền còn hạn chế, chủ rừng buông lỏng quản lý khiến nhiều diện tích rừng bị đốt, phá.
Thực hiện kế hoạch của UBND tỉnh về việc chuyển đổi Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Mai Sơn (Công ty Mai Sơn) thành Công ty TNHH hai thành viên, thời gian qua, các cơ quan chuyên môn, đơn vị liên quan tập trung đo đạc, cắm mốc, xác định ranh giới; đẩy mạnh tuyên truyền, tạo sự động thuận của chủ rừng cũng như người dân.
Ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc Công ty Mai Sơn nói: “Việc sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp (DN) là chủ trương đúng song do quá trình thực hiện kéo dài, công tác tuyên truyền chưa đáp ứng yêu cầu dẫn đến người dân hiểu sai, tìm cách đốt rừng, trồng cây để chiếm đất”.
Thực tế, từ giữa năm 2016, cán bộ Công ty Mai Sơn đã phát hiện một số người lén lút vào rừng phát nương rẫy, chờ cơ hội để đốt rừng, chiếm đất. Do nằm xen kẽ với đất của Công ty nên khi xảy ra cháy đã lan rộng sang rừng trồng. Đây là nguyên nhân gây ra ba vụ cháy rừng của DN từ giữa năm 2016 đến nay.
Đáng chú ý là các vụ cháy xảy ra rải rác trong nhiều tháng và bùng phát mạnh vào ngày 24-12-2016 kéo dài đến đầu năm 2017 làm thiệt hại 23,7 ha rừng tự nhiên tại thôn Hồng, xã Lục Sơn (Lục Nam) lan sang 28,7 ha rừng trồng do Đội sản xuất Vĩnh Ninh thuộc Công ty Mai Sơn quản lý.
Thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 8 vụ cháy rừng trồng, làm thiệt hại hơn 9 ha. Đáng chú ý, trong số này có nhiều vụ do người dân tự ý phát, đốt rừng tự nhiên tại khu vực giáp ranh với các công ty lâm nghiệp đã có phương án chuyển đổi, giải tán.
Tại huyện Sơn Động, chỉ trong hai ngày cuối tháng 2 vừa qua, trong quá trình kiểm tra rừng tại khu vực Đá Bờ, xã Tuấn Đạo, cán bộ Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sơn Động phát hiện hai đám cháy rừng tự nhiên. Do phát hiện sớm, chữa cháy kịp thời nên diện tích bị thiệt hại không lớn. Điều tra ban đầu, cơ quan chức năng xác định đối tượng vi phạm là một số người dân chặt phá rừng để lấy gỗ, củi và lấn chiếm đất của DN.
Liên quan đến vụ đốt rừng, làm cháy lan sang 28,7 ha rừng trồng tại khu vực do Đội sản xuất Vĩnh Ninh quản lý, ngày 10-3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Hủy hoại rừng”, đồng thời yêu cầu cán bộ điều tra tăng cường phối hợp cùng DN và chính quyền địa phương làm rõ các đối tượng liên quan.
Thiếu tá Phạm Thanh Bình, Đội trưởng Đội Cảnh sát hình sự (Công an huyện Lục Nam) cho biết: “Quan điểm của cơ quan điều tra là xử lý nghiêm vi phạm, sai đến đâu xử lý đến đó, ai sai người đó phải chịu trách nhiệm để tăng tính răn đe”. Đối với Hạt Kiểm lâm huyện Lục Nam, từ đầu năm 2017, đơn vị tham mưu với UBND huyện thành lập tổ công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm quy định về bảo vệ rừng; bố trí lực lượng hỗ trợ DN, địa phương nắm bắt thông tin; kiên quyết ngăn chặn những hộ tự ý trồng trên diện tích đất lấn chiếm sau đốt rừng.
Để xảy ra tình trạng người dân tự ý đốt, phá rừng chiếm đất một phần là do thời gian thực hiện việc sắp xếp, đổi mới quá dài. Theo kế hoạch, trong năm 2016 sẽ hoàn thành việc chuyển đổi các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp: Yên Thế, Lục Ngạn, Lục Nam và Mai Sơn thành công ty hai thành viên; đến tháng 10-2016 thực hiện việc giải thể Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sơn Động, bàn giao toàn bộ hiện trạng về Ban Quản lý rừng phòng hộ Sơn Động.
Tuy nhiên, kế hoạch không được thực hiện theo đúng lộ trình. Chủ rừng có tư tưởng "giao thời", trong khi người dân tranh thủ dịp này chiếm thêm diện tích dẫn đến nhiều vụ đốt, phá rừng. Ông Nguyễn Văn Mạnh, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sơn Động thừa nhận, hai vụ cháy tại khu vực rừng của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sơn Động hồi tháng 2 vừa qua, một phần trách nhiệm thuộc về DN. Do không rõ sau giải thể, tương lai của mình sẽ thế nào, một số công nhân có tâm lý buông lỏng, không sâu sát địa bàn.
Trao đổi với ông Từ Quốc Huy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh được biết, đơn vị đang xác minh, làm việc với các chủ rừng để xảy ra cháy, trên cơ sở đó báo cáo lãnh đạo tỉnh có biện pháp xử lý; đồng thời tham mưu với Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển DN tỉnh, phấn đấu hoàn thành chuyển đổi các công ty lâm nghiệp trong quý II năm 2017.
Cùng đó, Chi cục chỉ đạo lực lượng kiểm lâm tăng cường bám địa bàn, phối hợp với chính quyền sở tại, DN tuyên truyền đến hộ dân về chủ trương sắp xếp, đổi mới công ty lâm nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm liên quan đến trồng và bảo vệ rừng. (Báo Bắc Giang 24/3, Sỹ Quyết) đầu trang(
Ngày 24-3, Chi cục kiểm lâm tỉnh tổ chức hội nghị đánh giá kết quả công tác bảo vệ rừng khu vực giáp ranh năm 2016 và quý I năm 2017; triển khai nhiệm vụ trong thời gian tới, ký kết quy chế phối hợp giữa Chi cục kiểm lâm Phú Thọ với Chi cục kiểm lâm 6 tỉnh giáp ranh gồm: Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Hòa Bình, Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội.
Phú Thọ nằm ở trung tâm vùng trung du miền núi Bắc bộ, là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội với diện tích đất tự nhiên là 353.456,1 ha, quy hoạch cho lâm nghiệp  theo kiểm kê là: 188.112,9 ha; trong đó diện tích đất có rừng là 139.033,3 ha.
Phú Thọ tiếp giáp với 6 tỉnh, trong đó có 4 tỉnh miền núi phía tây Bắc bộ có diện tích rừng lớn, nguy cơ rừng bị cháy và xâm hại rất cao; do đó công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR tại địa bàn vùng giáp ranh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đã được Chi cục kiểm lâm Phú Thọ và các tỉnh có địa bàn giáp ranh đặc biệt chú trọng…
Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung đánh giá kết quả đạt được, đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý, bảo vệ rừng trong thời gian tới…(Báo Phú Thọ 24/3, Lệ Oanh) đầu trang(
Thực hiện quy chế phối hợp giữa Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng và Tổng cục Lâm nghiệp, ngày 24-3, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh và Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức hội nghị ký kết kế hoạch thực hiện chương trình phối hợp giữa 2 đơn vị.
Hội nghị đã nghe Đại tá Phạm Đức Vinh, Trưởng phòng Phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ đội biên phòng tỉnh thông qua kế hoạch phối hợp giữa hai đơn vị trong quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới, đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới.
Qua đó, hai bên đã thống nhất phát huy vai trò trách nhiệm chỉ huy, chỉ đạo điều hành tập trung thống nhất theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn, thường xuyên trao đổi tình hình quản lý bảo vệ rừng của lực lượng hai bên trong phối hợp quản lý bảo vệ rừng khu vực biên giới và đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển lâm sản trái phép qua biên giới đạt hiệu quả, gắn với bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới và trật tự an toàn xã hội tại khu vực biên giới. (Báo Bình Phước 24/3, Văn Lộc) đầu trang(
Cuối năm 2014, Báo Người cao tuổi đăng loạt bài phản ánh về nhiều vụ án bị “chìm xuồng” ở Bến Tre. Trong đó có vụ phá hoại 25,8ha rừng đặc dụng tại huyện Thạnh Phú.
Vụ án được các cơ quan bảo vệ pháp luật đánh giá là “đặc biệt nghiêm trọng”, nhưng Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bến Tre chỉ xử lí những người sai phạm bằng hình thức cảnh cáo, khiển trách, phê bình rút kinh nghiệm… Trong khi đó, một hộ dân nghèo phát quang 4.000m2 đất rừng hoang, để đào ao nuôi tôm, thì bị xử phạt mỗi người 4 năm tù giam...
Ngày 3/3/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh Bến Tre đã khởi tố vụ án phá hoại 25,8ha rừng đặc dụng tại huyện Thạnh Phú, bắt tạm giam ông Trần Văn Hùng, cựu Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Bến Tre, kiêm Trưởng Ban quản lí rừng phòng hộ; ông Võ Văn Ngàn, cựu Phó Trưởng Ban quản lí rừng phòng hộ tỉnh Bến Tre.
Các ông: Nguyễn Văn Đoàn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh; Tiết Kim Chiêu và Nguyễn Đức Dục, cán bộ Sở NN&PTNT bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Vụ án này đã xảy ra từ năm 2012, nếu không có sự kiểm tra, xem xét chỉ đạo của Ban Phòng, chống tham nhũng Trung ương, thì những người sai phạm chỉ bị xử lí theo hình thức “giơ cao đánh khẽ”.
Để có thông tin đầy đủ, cung cấp cho bạn đọc hiểu được ngọn nguồn vụ án này một cách có hệ thống và chi tiết, phóng viên Báo Người cao tuổi đã về tận hiện trường điều tra, thông tin chính xác.
Ban Quản lí rừng phòng hộ tỉnh Bến Tre, được thành lập năm 1999, là cơ quan hành chính sự nghiệp thuộc Sở NN&PTNT, có chức năng duy trì, bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn, phát huy vai trò phòng hộ và môi trường của rừng.
Với phạm vi quản lí toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn tỉnh, trong đó chủ yếu là ba huyện ven biển: Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Riêng diện tích 2.584ha rừng tại huyện Thạnh Phú, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là Khu bản tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú, theo Quyết định số 1026/QĐ-TTg ngày 13/11/1998, được điều chỉnh theo Quyết định số 57/2005/QĐ-TTg ngày 23/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là rừng thuộc hệ thống rừng đặc dụng Quốc gia, được phân chia làm 4 phân khu.
Trong quá trình được giao quản lí, bảo vệ rừng, ông Võ Văn Ngàn được bổ nhiệm lại làm Trưởng Ban quản lí rừng phòng hộ, theo Quyết định số 440/QĐ-SNN ngày 29/10/2009 (sau đó ông Trần Văn Hùng, Phó Giám đốc Sở kiêm Trưởng Ban quản lí, thì ông Ngàn giữ chức Phó Ban quản lí). Ông Hùng, ông Ngàn và các cộng sự này cấu kết với nhau tổ chức phá hoại 25,8ha rừng đặc dụng Quốc gia tại xã Thạnh Hải bán cho doanh nghiệp tư nhân Tuấn An, ở xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, phá hoại hơn 2.000m3 gỗ, gây thiệt hại gần 2 tỉ đồng.
Theo Sở Tài chính Bến Tre, lí do thiệt hại là bán tài sản Nhà nước mà không qua đấu giá. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, ông Ngàn được cấp dưới là ông Võ Văn Ngọt, Phó Phòng Khoa học Kĩ thuật Ban quản lí rừng báo cáo lại, diện tích rừng đước 25,8ha tại các lô: 1, 2, 3, 4, 5, 6; khoảnh 1a, tiểu khu 14, phân khu phục hồi sinh thái II và lô 9, khoảnh 2a, tiểu khu 15, phân khu hành chính dịch vụ có hiện tượng sâu bệnh.
Ngày 25/4/2012, ông Ngàn chỉ đạo ông Ngọt phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Thạnh Phú, tiến hành kiểm tra diện tích rừng nói trên. Lẽ ra, đoàn kiểm tra phải trực tiếp thực hiện các biện pháp bằng nghiệp vụ chuyên môn để xác định sâu bệnh. Nhưng đoàn thanh tra kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, sau đó, ông Ngọt báo cáo miệng với ông Ngàn là rừng đước có sâu bệnh.
Ông Ngàn chỉ đạo ông Ngọt lập khống biên bản kiểm tra rừng vào ngày 25/4/2012, đồng thời lập thêm 7 phiếu điều tra cùng ngày tại 7 lô trong diện tích 25,8ha, rồi lấy số liệu điều chế rừng năm 2011, đưa vào chế biến trong các tài liệu khống này. Riêng rừng đước bị sâu bệnh, ông Ngàn tự ý đưa ra tỉ lệ sâu bệnh từ 5 - 7%, chỉ đạo ông Ngọt hợp thức hoá hồ sơ.
Ngày 27/4/2012, ông Ngàn tiếp tục chỉ đạo ông Ngọt lập Tờ trình số 01/TTr-BQL gửi Sở NN&PTNT, xin khai thác trắng toàn bộ diện tích 25,8ha.
Sau khi nhận được Tờ trình trên, Sở NN&PTNT lập đoàn khảo sát gồm: Ông Trần Văn Hùng, Phó Giám đốc kiêm Trưởng Ban quản lí rừng; ông Nguyễn Văn Đoàn, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm; ông Tiết Kim Chiêu, Phó Phòng Khoa học kĩ thuật, Sở NN&PTNT; ông Nguyễn Đức Dục, chuyên viên Phòng Khoa học kĩ thuật.
Điều đáng nói, vụ phá rừng đặc dụng có tổ chức câu kết chặt chẽ, có chủ định từ trước, nên đoàn kiểm tra không hề mời cán bộ chuyên môn nghiệp vụ để xác định sâu bệnh, mà họ “tự diễn biến” rừng sâu bệnh, rồi “tự chuyển hoá” rừng thành bãi đất trắng. Quá trình tiến hành “giám định” 25,8ha rừng đặc dụng, chỉ vỏn vẹn trong một buổi sáng 9/5/2012.
Đến ngày 15/5/2012, ông Dục mới tiến hành “vẽ” Biên bản họp số 57/BB-SNN của Sở NN&PTNT, về việc họp giải quyết xin khai thác rừng vì lí do sâu bệnh. Trong biên bản “tự bịa” này, ông Dục đưa cụm từ “tận thu”, để phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng thực chất là khai thác trắng. Biên bản này, ông Dục trình ông Tiết Kim Chiêu xem, kí nháy rồi trình lên ông Hùng kí đưa vào hồ sơ.
Tiếp đến, ngày 18/5/2012, ông Dục lập thêm Tờ trình số 147/TTr-SNN, về việc xin khai thác tận thu rừng đước bị sâu bệnh, tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập mặn Thạnh Phú, gửi UBND tỉnh xin chủ trương để hợp thức hoá việc xoá trắng diện tích 25,8ha rừng đặc dụng. Căn cứ vào Tờ trình của Sở NN&PTNT, UBND tỉnh cũng thành lập một đoàn công tác, gồm đoàn của Sở NN&PTNT và cử thêm ông Nguyễn Phước Hải, Chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh tham gia.
Đoàn này cũng đi dạo một vòng trong buổi sáng, rồi về nhà bịa ra Biên bản số 04/BB-BQL, có nội dung thống nhất cho Ban quản lí rừng khai thác “tận thu” rừng do sâu bệnh. Ngày 6/6/2012, UBND tỉnh Bến Tre có Công văn số 2585/UBND-KTN, đồng ý với các Tờ trình của Sở NN&PTNT nêu trên. Sau khi có chủ trương của UBND tỉnh, ông Ngàn chỉ đạo ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Trưởng Phòng Khoa học Kĩ thuật, Ban quản lí rừng lập hồ sơ thiết kế, nhờ ông Chiêu giúp đỡ lập phần nội nghiệp.
Trong hồ sơ thiết kế nêu rõ, khai thác trắng toàn bộ diện tích 25,8ha, cường độ chặt 100%. Đến ngày 12/6/2012, Sở NN&PTNT họp xét duyệt hồ sơ thiết kế và dự toán khai thác trắng. Ngày 13/6/2012, ông Hùng kí Quyết định số 385/QĐ-SNN, phê duyệt thiết kế khai thác rừng. Cùng ngày, ông Hùng kí tiếp Công văn số 496/ SNN-KHKT, cho phép Ban quản lí rừng chỉ định đơn vị thi công và thu mua sản phẩm.
Được biết, trước đó Ban quản lí rừng đã có hợp đồng bán cho con gái của một vị cựu Giám đốc Công an tỉnh, khai thác với hình thức “tận thu”. Nhưng người này không có tiền “hoa hồng”, nên Ban quản lí rừng huỷ hợp đồng và chỉ định cho Doanh nghiệp tư nhân Tuấn An khai thác, nên xảy ra việc đơn thư tố cáo Ban quản lí rừng nhận tiền hối lộ gửi đi khắp nơi.
Theo Sở Tài chính Bến Tre và Cơ quan Giám định thiệt hại rừng, hành vi của ông Hùng cho phép Ban quản lí rừng chỉ định Doanh nghiệp tư nhân Tuấn An khai thác, thu mua sản phẩm đã khai thác hơn 2.000m3 gỗ tròn, phá hoại trắng diện tích 25,8ha rừng đặc dụng, mà không qua đấu giá, đã gây thiệt hại cho ngân sách gần 2 tỉ đồng.
Hành vi cho phép chỉ định thầu của ông Hùng là “cố ý làm trái”, vi phạm nghiêm trọng Khoản 1, Điều 20 Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 3/6/2009 của Chính phủ. (Người Cao Tuổi 23/3, tr10, PV) đầu trang(
Trong những kì trước, chúng tôi đã nêu về việc xử  nhẹ tay đối với sai phạm này, nhưng sau 3 năm báo chí phản ánh, những người có trách nhiệm ở tỉnh Bến Tre vẫn không có phản hồi, vụ án tưởng chừng đã bị nhấn chìm.
Trong khi tình trạng chặt phá huỷ hoại các loại rừng đang là vấn nạn nhức nhối của toàn xã hội. Thủ tướng Chính phủ đã kiên quyết chỉ đạo các địa phương đóng cửa rừng.
Để có biện pháp thống nhất quản lí và bảo vệ rừng, Chính phủ đã có Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010, quy định về tổ chức quản lí hệ thống rừng đặc dụng. Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117 của Chính phủ.
Quy chế Quản lí rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Tất cả các luật và văn bản dưới luật đều không có một quy định nào cho phép khai thác trắng 100% rừng đặc dụng Quốc gia.
Điều đáng phê phán, cả một tổ chức lập tờ trình, biên bản khống có hệ thống và câu kết chặt chẽ từ trên xuống dưới để phá hoại một lúc 25,8ha rừng đặc dụng Quốc gia. Một vụ án đã được các cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật kết luận “đặc biệt nghiêm trọng”.
Vậy mà, Tỉnh uỷ Bến Tre vẫn chỉ xử lí hành chính. Ngày 3/10/2013, Trưởng ban Nội chính Tỉnh uỷ Bến Tre kí Báo cáo số 17-BC/BNC trình Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tại cuộc họp thường kì tháng 10 vào các ngày 30 và 31/10/2013.
Ngày 11/11/2013, ông Phan Thanh Phước, Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ Bến Tre kí Công văn số 1793/CV/TU gửi Ban Nội chính Tỉnh uỷ, nội dung nêu rõ: “Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thống nhất: Đồng ý không xử lí hình sự, mà xử lí nghiêm khắc về mặt hành chính, đối với các đồng chí có liên quan đến vụ việc vi phạm các quy định về quản lí rừng, xảy ra tại Ban Quản lí rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh theo Báo cáo số 17/ BC/ BNCTU, ngày 133/10/2013 của Ban Nội chính Tỉnh uỷ.
Giám đốc Sở NN&PTNT chỉ đạo, củng cố, chấn chỉnh lại bộ máy hoạt động của Ban quản lí rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh, sớm ổn định hoạt động; đồng thời tiếp tục kiến nghị với Trung ương cho chuyển rừng đặc dụng sang rừng phòng hộ theo Thông báo số 1820/TB/BNN-VP, ngày 23/3/2009 của Bộ NN&PTNT…”.
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ còn “giao Giám đốc Sở NN&PTNT củng cố, chấn chỉnh…”, trong khi ông Nguyễn Phong Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Giám đốc Sở NN&PTNT Bến Tre, đã có hành vi tham nhũng và gây thất thoát số tiền ngân sách khổng lồ. Hai năm đã trôi qua, ông Hải vẫn chưa nộp một đồng nào để  khắc phục hậu quả. Vậy mà, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng chỉ đề nghị xử lí hành vi tham nhũng của ông Hải bằng hình thức “Cảnh cáo” cho nghỉ hưu sớm.
Hiện vợ ông Hải là Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu Hải Vân, có trụ sở tại căn biệt thự của vợ chồng ông, số 59 Lãnh Binh Thăng, Phường 3, TP Bến Tre. Bà vợ ông Hải “nhờ” nuôi heo mua được 3ha đất cồn, thuộc xã Phú Túc, huyện Châu Thành nuôi cá da trơn hàng chục năm nay, mua thêm được 14ha đất tràm chim Vàm Cống ở xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri trồng dừa xiêm xanh và bưởi da xanh, làm khu du lịch sinh thái.
Khi được Tỉnh uỷ Bến Tre cho nghỉ hưu sớm, hằng ngày vợ chồng ông Hải đi trên chiếc xe hơi đời mới, lúc thì đi thăm khu du lịch sinh thái, lúc thì đến thăm ao cá mênh mông. Theo Ban Quản lí di tích tỉnh Bến Tre, đất ở tràm chim Vàm Cống hiện Ban Quản lí đang làm thủ tục đề nghị UBND tỉnh xếp hạng di tích Danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Vùng đất này là tràm chim có từ lâu đời.
Trước đây, Đài Phát thanh – Truyền hình Cần Thơ thường xuyên về quay phim để quảng bá vẻ đẹp về một vùng đất của quê hương đồng khởi. Kể từ khi ông Hải và một số cán bộ lấn chiếm làm thay đổi hiện trạng khu tràm chim, nếu khắc phục lại cũng rất khó khăn cho công tác bảo tồn. Lẽ ra vụ án phá rừng đặc dụng, người bị khởi tố đầu tiên phải là ông Nguyễn Phong Hải.
Ở Bến Tre không chỉ có vụ phá rừng đặc dụng Quốc gia, mà còn nhiều vụ tham nhũng khác cũng xử lí nửa vời như vụ tham nhũng ở Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bến Tre, sau khi Báo Người cao tuổi đăng bài: “Xử lí tiêu cực ở Bến Tre: Giơ cao đánh khẽ” và nêu đích danh tên từng tổ chức, cá nhân tham nhũng, mấy ngày sau đó, mới chỉ có Thiếu tướng Võ Hồng Quang đem nộp trả cho ngân sách số tiền 500 triệu đồng.
Còn ông Nguyễn Văn Tính, Chỉ huy trưởng kế nhiệm ông Quang, có khối tài sản lớn nhưng không chịu nộp đồng nào để khắc phục hậu quả. Cái cần suy ngẫm là chưa có địa phương nào như ở Bến Tre. Tham nhũng ngân sách Nhà nước mà Tỉnh uỷ chỉ cho phép nộp lại vốn gốc làm 3 đợt không tính lãi!?
Vụ lập quỹ đen ở Sở Giao thông Vận tải cũng chưa bị xử lí. Những vụ còn lại, Tỉnh uỷ Bến Tre đã kiên quyết xử lí dứt điểm, bằng nhiều hình thức: “Cảnh cáo” cho nghỉ hưu trước tuổi, phê bình, rút kinh nghiệm sâu sắc… Vụ một Trưởng phòng Quản lí đô thị ở huyện Châu Thành, chơi cá độ bóng đá và đá gà ăn tiền mất gần 5 tỉ đồng ngân sách, nhưng 2 năm đã trôi qua mà từ huyện đến tỉnh vẫn bỏ qua… Tiếp đến là vụ 62 tỉ đồng tiền Chính phủ hoàn trả vốn đầu tư trung, hạ áp nông thôn cho dân, mà Chủ tịch UBND tỉnh lấy chi vào mục đích khác trái pháp luật.
Nhiều cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ nghỉ hưu băn khoăn: “Với một tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo đói quá cao. Thu ngân sách chỉ có 1.400 tỉ đồng/năm, không đủ nuôi riêng bộ máy của ngành giáo dục tỉnh (1.700 tỉ đồng), tất cả hoạt động đều phụ thuộc vào trợ cấp của Trung ương. Vậy mà, tham nhũng, tiêu cực xảy ra nhiều”. Dư luận bức xúc, tại sao kỉ cương, phép nước bị xem thường đến vậy? (Người Cao Tuổi 24/3, tr10, PV) đầu trang(
Bến Tre có khoảng 7.833 ha rừng phòng hộ, tập trung ở ba huyện ven biển Thạnh Phú, Ba Tri và Bình Ðại; trong đó, có 2.584 ha rừng đặc dụng phòng hộ. Tuy nhiên, nhiều bạn đọc phản ánh, việc quản lý và khai thác rừng trên địa bàn tỉnh còn lỏng lẻo, tùy tiện, khiến nhiều cán bộ bị kỷ luật. 

Thực hiện kiến nghị của Ðoàn công tác Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; căn cứ chỉ đạo của Tỉnh ủy và những tài liệu, chứng cứ trong vụ án vi phạm các quy định về bảo vệ rừng xảy ra tại Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre, vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bến Tre đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án.
Theo đó, tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với năm đối tượng, gồm: Trần Văn Hùng, nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, hiện là chuyên viên Văn phòng Ðiều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Võ Văn Ngàn, nguyên Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre, đã về hưu; Nguyễn Văn Ðoàn, Chi cục trưởng Kiểm lâm Bến Tre; Tiết Kim Chiêu, nguyên Phó Trưởng phòng Khoa học - Kỹ thuật (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre), hiện là Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Bến Tre và Nguyễn Ðức Dục, nguyên chuyên viên Phòng Khoa học - Kỹ thuật (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre), hiện là Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Bến Tre để điều tra, xử lý hành vi vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Ngày 3-3-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã tống đạt quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị can đối với Trần Văn Hùng và Võ Văn Ngàn; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với ba bị can còn lại là Nguyễn Văn Ðoàn, Tiết Kim Chiêu, Nguyễn Ðức Dục.
Tháng 4-2012, Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre đã có tờ trình gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre xin được khai thác tận thu khoảng 2.000 m3 gỗ đước ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập mặn xã Thạnh Hải (Thạnh Phú, Bến Tre) với lý do "rừng bị sâu bệnh tiến công". Vào thời điểm đó, ông Võ Văn Ngàn là Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre.
Sau đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre đã chỉ định đơn vị khai thác là doanh nghiệp tư nhân gỗ Tuấn An, xã Thạnh Phong (Thạnh Phú, Bến Tre) đốn hạ khoảng 2.000m3 gỗ, trị giá 1,5 tỷ đồng, nộp vào ngân sách nhà nước. Lúc đó, ông Trần Văn Hùng giữ chức Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre ký phê duyệt thiết kế khai thác tận thu và ban hành công văn cho phép Ban Quản lý rừng Bến Tre chỉ định doanh nghiệp gỗ Tuấn An đốn hạ rừng đước.
Trong quá trình khai thác có đơn tố cáo Ban quản lý rừng có dấu hiệu tiêu cực, không minh bạch khi chỉ định đơn vị khai thác và các cơ quan chức năng vào cuộc. Vào thời điểm đó, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bến Tre khẳng định: Khu vực Ban Quản lý rừng Bến Tre chỉ định doanh nghiệp gỗ Tuấn An đốn hạ rừng đước "không thấy có dấu hiệu của sâu bệnh".
Khi sự việc xảy ra và có đơn tố cáo thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre phối hợp với Phòng PC46, Công an Bến Tre và các cơ quan chức năng vào cuộc tiến hành điều tra. Khi đó, Sở Tài chính Bến Tre xác định chủ trương bán tài sản của Nhà nước tại Ban Quản lý rừng Bến Tre không qua đấu giá là không đúng các quy định của pháp luật.
Hội đồng Thẩm định giá và bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre còn phát hiện Ban Quản lý rừng Bến Tre bán chỉ định cho doanh nghiệp tư nhân gỗ Tuấn An khai thác 25,2 ha rừng đước có tổng giá trị thiệt hại gần 2,1 tỷ đồng. Vụ việc sau đó dừng lại ở mức kiểm điểm, xử lý về mặt Ðảng và chính quyền với những cán bộ, viên chức và cá nhân liên quan. Ðến năm 2015, ngành nông nghiệp tiến hành khắc phục hậu quả bằng cách tổ chức trồng lại cây đước trên diện tích rừng bị đốn hạ và đến nay đang phát triển tốt.
Tháng 5-2016, khi Ðoàn công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng về kiểm tra, giám sát các vụ án, sai phạm nổi cộm tại Bến Tre, vụ việc một lần nữa được lật lại và công an đã khởi tố, bắt giam những người liên quan để điều tra. Sự việc đang được các cơ quan chức năng điều tra. (Nhân Dân 23/7, Quang Nhung – Thanh Phong) đầu trang(
Trong thời gian gần đây, tại Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể đã liên tiếp xảy ra các vụ cây gỗ nghiến hàng trăm năm tuổi bị đốn hạ trong khi lực lượng chức năng không hề hay biết cho tới khi có sự phản ánh của báo chí và người dân.
VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là 1 trong 3 khu Ramsa của Việt Nam, Khu Di sản của ASEAN với hệ thực vật phong phú, trong đó có một số loài gỗ quý hiếm như nghiến, đinh, kim giao... được bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng rừng cấm bị lâm tặc tàn phá đang diễn ra phổ biến và đặc biệt nghiêm trọng. Nhiều cây nghiến hàng trăm năm tuổi bị đốn hạ không thương tiếc với khối lượng hàng 100m3, đã gây nhiều bức xúc cho người dân địa phương.
Sau khi có phản ánh của người dân và báo chí, ngày 22/3/2017, Tổ kiểm tra (Tổ công tác) tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Ba Bể và Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn dưới sự phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn và Chi cục Kiểm lâm vùng I cùng đại diện Kiểm lâm VQG Ba Bể đã tiến hành lập biên bản làm việc có nội dung: Vào hồi 14 giờ ngày 16/3/2017, qua kiểm tra tại hiện trường khu vực bị khai thác trái phép thuộc khu vực Lùng Mấu, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, Tổ Công tác đã xác định có 01 gỗ nghiến (nhóm IIA) mới bị chặt hạ, lá vẫn còn tươi theo đúng như báo chí phản ánh, khối lượng bị thiệt hại là 4,09m3(khối lượng thiệt hại theo hồ sơ của Hạt Kiểm lâm VQG xác định ngày 26/12/2016) vị trí cây chặt hạ có tọa độ… Căn cứ kết quả kiểm tra thì báo chí phản ánh có một cây gỗ nghiến mới bị chặt hạ gần lòng hồ là đúng sự thật nhưng thời điểm chặt hạ không đúng ngày 5/3/2017.
Vào hồi 11 giờ ngày 17/3/2017 tại hiện trường khu vực thuộc thôn Khuổi Hao, xã Cao Thượng, huyện Ba Bể (Lô ơ, K1, TK61 bản đồ giao khoán bảo vệ rừng), Tổ Công tác đã kiểm tra và phát hiện có 01 cây gỗ nghiến (nhóm IIA) mới bị chặt hạ, lá còn tươi, thời điểm chặt hạ khoảng giữa tháng 2/2017 với khối lượng thiệt hại là 24,88m3. Cây gỗ nghiến này đã được Hạt Kiểm lâm VQG Ba Bể lập hồ sơ chuyển giao cho Công an huyện Ba Bể xử lý theo quy định của pháp luật.
9 giờ ngày 20/3/2017, tại hiện trường khu vực Lũng Duốc, thôn Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, Tổ Công tác đã tiến hành kiểm tra theo hồ sơ do Hạt kiểm lâm VQG Ba Bể lập ngày 22/10/2016 có 01 cây gỗ nghiến bị chặt hạ với khối lượng 61,026m3. Hiện đã tổ chức khám nghiệm hiện trường và ra quyết định khởi tố vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tiếp đó, lúc 9 giờ 30 phút ngày 21/3/2017, tại hiện trường khu vực Ao Tiên, thuộc thôn Bản Cám, xã Nam Mẫu, Tổ Công tác tiếp tục phát hiện có 3 cây gỗ nghiến đã bị chặt hạ trái phép với tổng khối lượng là 20,252m3 (thời điểm chặt hạ là vào ngày 20/3/2016) chưa được lập hồ sơ báo cáo theo quy định.
Tuy nhiên, theo xác minh thực tiễn của PV Báo Thanh tra ngày 25/3/2017 tại hiện trường 3 cây gỗ nghiến bị chặt hạ cho thấy: Vết nhựa từ gốc cây vẫn đang chảy, lá cây nghiến còn xanh. Quan sát bằng mắt thường có thể thấy cây gỗ nghiến mới bị lâm tặc đốn hạ khoảng một tháng trở lại đây vì lá cây còn xanh và bám trên cành. Trong khi đó, theo biên bản của Kiểm lâm VQG lập, 3 cây gỗ này bị chặt hạ từ tháng 3/2016, đến nay đã 1 năm trôi qua lá cây phải rụng hết trơ trụi, gốc cây bắt đầu phải bị mục do nắng mưa?
Ngoài những vết nhựa vẫn đang rỉ chảy ra từ gốc cây, một điều quan trọng cho nhất do cây có đường kính lớn hàng mét nên khi bị chặt đổ đã làm vỡ những khối đá tai mèo tại đây. Những mảnh đá vỡ này vẫn còn sáng nguyên thể hiện cây mới bị chặt hạ chứ không phải được chặt từ một năm trước đó.
Vị trí cây nghiến bị chặt hạ chỉ cách mặt hồ Ao Tiên khoảng mấy chục mét rất gần nơi người dân bán hàng rong tại khu vực thắng cảnh du lịch này và 3 thân cây nghiến bị đổ xuống tạo thành một khoảng rừng xơ xác rất dễ phát hiện thế nhưng không hiểu sao lực lượng Kiểm lâm VQG Ba Bể không hề hay biết cho tới khi có Tổ Công tác vào kiểm tra, (trong khi rất nhiều người dân lại biết?).
Trước đó, trả lời báo chí về việc có hay không việc VQG Ba Bể vẫn để xảy ra tình trạng lâm tặc chặt phá rừng, ông Bùi Văn Quang, quyền Giám đốc kiêm Hạt trưởng Kiểm lâm Ba Bể thừa nhận: "Tình trạng chặt phá rừng mà đặc biệt chặt hạ cây nghiến vẫn diễn ra và không có dấu hiệu thuyên giảm. Từ Tết Nguyên đán Đinh Dậu cho đến nay (tháng 3/2017), chúng tôi đã xác định đã có 6 cây nghiến bị đốn hạ. Sau khi phát hiện ra sự việc, Ban Quản lý đã làm báo cáo gửi UBND tỉnh”.
Theo báo cáo của Ban Quản lý VQG Ba Bể (tính đến tháng 11/2016), có 13 cây bị chặt hạ. Tổng số lượng lên tới 107,8m3, trong đó có 9 cây nghiến thuộc nhóm IIA và 4 cây thuộc nhóm gỗ thông thường.
Cụ thể trong tháng 9/2016, có 3 cây gỗ nghiến bị chặt hạ với 10,98m3 gỗ. Đến ngày 20/10/2016, quá trình kiểm tra lại phát hiện tại khu vực Lùng Duốc có 1 cây nghiến bị chặt hạ với tổng khối lượng lên tới 61,026m3 gỗ. Theo lời ông Quang thì cây nghiến ở khu vực Lùng Duốc có tuổi đời trên 200 năm. (Thanh Tra 26/3, Nam Dũng - Thành Nam) đầu trang(
Sáng 25/3, chính quyền xã Hạ Mãn (Thuận Thành, Bắc Ninh) cùng người trúng thầu phiên đấu giá hồi năm 2016 tại Hà Nội đã tiến hành chặt hạ cây sưa 200 năm tuổi từng được giao bán 50 tỷ ở đình làng Đông Cốc.
Theo ông Nguyễn Văn Khuyến, một người dân địa phương, khi việc chặt hạ bắt đầu được tiến hành ở đình làng, một số người dân ra bày tỏ sự không đồng tình vì giá bán 24,5 tỷ đối với cây sưa 200 năm này là thấp hơn nhiều so với mức 49 tỷ mà một người đã mua trước đó.
Bên cạnh đó, nhiều vấn đề cũng chưa rõ ràng... nhưng chính quyền địa phương cùng người đấu giá vẫn thực hiện việc chặt, hạ.
"Thực tế, tỉnh cũng đã có ý kiến yêu cầu tạm dừng và làm rõ việc, tại sao lại bán đấu giá cây sưa với mức giá 24,5 tỷ đồng nhưng chính quyền địa phương và người trúng đấu giá vẫn tiến hành chặt hạ, đào toàn bộ gốc cây sưa. Đến chiều 25/3, toàn bộ cây đã được chuyển lên ôtô cho người trúng đấu giá là ông Hùy ở Bắc Ninh đưa đi", ông Khuyến nói.
Đại diện chính quyền địa phương xác nhận việc chặt hạ, chuyển cây sưa cho người trúng phiên đấu giá hồi năm 2016 đã được tiến hành xong.
Theo chính quyền địa phương, sở dĩ, việc hạ giải cây bị kéo dài, tạm dừng là do xảy ra một số tình hình mất an ninh trật tự, trong đó, có vụ việc, một người dân bị đánh chảy máu đầu trong buổi họp giữa chính quyền với nhân dân thôn vào ngày 7/12/2016. Đến nay, các vấn đề đã được giải quyết xong nên việc hạ giải cây được tiến hành.
Trước đó, ngày 7/12/2016, tại đình thôn Đông Cốc, xã Hà Mãn (Thuận Thành, Bắc Ninh), chính quyền đã tổ chức buổi họp tiếp dân về việc đấu giá cây sưa từng được rao bán với giá 50 tỷ đồng.
Tuy nhiên, ngay khi bắt đầu cuộc họp thì đã xảy ra màn ẩu đả, thậm chí có người bị đánh chảy máu đầm đìa ở đầu. Mâu thuẫn xảy ra khi người dân cho rằng, cây sưa đỏ này đã có người trả số tiền lên đến 49 tỷ đồng nhưng chính quyền lại bán với giá chỉ 24 tỷ đồng.
''Cây sưa của làng Đông Cốc nằm ở đình làng mà chính quyền mang tận lên Hà Nội để tổ chức bán đấu giá là không hợp lý, có khuất tất. Cây ở thôn Đông Cốc phải về đây đấu giá công khai cho toàn dân biết'' - một người dân thôn Đông Cốc đặt nghi vấn.
Ngày 8/12/2016, UBND huyện Thuận Thành, đã quyết định tạm dừng khai thác cây gỗ sưa tại đình làng Đông Cốc, xã Hà Mãn nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.
Từng trao đổi với Đất Việt về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Đáp -  Trưởng phòng Quản lý Di sản Văn hóa (Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (VH-TT&DL) Bắc Ninh) cho biết:
''Việc bán cây sưa 200 tuổi là địa phương đề nghị, sau đó tỉnh cũng có báo cáo lại với Bộ VH-TT&DL. Cuối cùng bà Đặng Thị Bích Liên - Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL đã có văn bản đồng ý giao cho tỉnh xử lý.''
Nói thêm về cây sưa 200 tuổi, theo ông Đáp, thời điểm địa phương kiến nghị bán thì cây sưa này đã bị héo và có dấu hiệu chết.
Ông Nguyễn Hữu Mạo - Giám đốc Ban Quản lý Di tích tỉnh Bắc Ninh cũng khẳng định rằng, việc bán cây sưa 200 tuổi ở Đình Đông Cốc đã được Bộ VH-TT&DL và UBND tỉnh Bắc Ninh đồng ý cho địa phương đấu giá. Chi cục kiểm lâm cũng đã có văn bản xác định rằng cây sưa 200 tuổi này đã chết.(Đất Việt 26/3, Hoàng An) đầu trang(
Ngày 25-3, Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai (tỉnh Gia Lai) đã ra quyết định khởi tố vụ án phá rừng xảy ra tại tiểu khu 365, xã Ia Chía, huyện Ia Grai, thuộc lâm phần của Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Grai.
Trước đó, vào rạng sáng 19-3, Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Grai phối hợp với Đồn Biên phòng Ia Chía phát hiện một số đối tượng đang vận chuyển gỗ ra bờ sông Pô Kô (giáp ranh biên giới Việt Nam-Campuchia) để đưa về huyện Đức Cơ (tỉnh Gia Lai) nên truy bắt. Thấy thế, các đối tượng bỏ chạy. Ngành chức năng kịp bắt giữ được 1 đối tượng là Lê Xuân Thành (24 tuổi, trú xã Ia Dom, huyện Đức Cơ).
Tiến hành khám nghiệm hiện trường tại tiểu khu 365, ngành chức năng đã phát hiện có 28 lóng gỗ lâm tặc còn để lại, còn 8 lóng gỗ đã được đưa ra bờ sông Pô Kô. Số gỗ trên được khai thác từ 17 cây gỗ bằng lăng (nhóm III) với khối lượng là 23,7m3. Vụ việc sau đó được UBND huyện Ia Grai ra văn bản chỉ đạo hạt khởi tố vụ án.
Cũng theo Hạt kiểm lâm huyện Ia Grai, hiện đơn vị đã chuyển hồ sơ vụ việc cùng đối tượng Lê Xuân Thành cho Công an huyện Ia Grai tiếp tục điều tra, làm rõ.(Sài Gòn Giải Phóng 25/3, Hữu Phúc) đầu trang(
Liên quan đến vụ việc “lâm tặc” chống đối người thi hành công vụ khiến một cán bộ quản lý rừng bị thương​ ngày 7/3 tại xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau​, theo báo cáo kết quả điều tra​, Công an tỉnh Cà Mau đã đủ cơ sở ra quyết định khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” để điều tra làm rõ hành vi của những người liên quan.
Theo đó, ngay khi Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau chỉ đạo, Giám đốc Công an tỉnh đã yêu cầu Công an huyện Ngọc Hiển phối hợp với các lực lượng chức năng, tiến hành điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Đến thời điểm này, lực lượng chức năng đã xác định được 8 đối tượng có liên quan trong vụ “chống người thi hành công vụ.”
Qua đó, đã đủ căn cứ chứng minh được 2 đối tượng trực tiếp điều khiển phương tiện vận chuyển lâm sản trái phép đâm vào phương tiện của Tổ tuần tra Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I.
Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, lực lượng đã tiến hành thu giữ 3 cây cưa dùng để cưa cây rừng và 4 khúc đước do các đối tượng cưa được trong lâm phần quản lý của Tiểu khu 141.
Theo điều tra ban đầu, khoảng 12 giờ ngày 7/3, các đối tượng là Danh Dương, Lê Văn Lên, Lê Thái Ngọc, Lê Quốc Báo, Lê Ấu Vân, Trần Văn Thạnh, Nguyễn Văn Tâm và 1 người chưa xác định được tên đi trên 5 phương tiện đến tiểu khu 141 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang 1 (có trụ sở ở xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn) chặt cây rừng.
Nhóm đối tượng này cưa được 6 cây đước cắt ra làm nhiều khúc, mang xuống phương tiện để chở về Chợ Thủ B, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển.
Nhưng khi chạy đến cửa biển Bồ Đề thì phát hiện Tổ tuần tra bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I đang đi tuần tra.
Dù Tổ tuần tra ra hiệu dừng các phương tiện trên để tiến hành kiểm tra, nhưng nhóm đối tượng trên liền tăng ga, bỏ chạy.
Tổ tuần tra đuổi theo đến đoạn cách vàm Xẻo Ngang khoảng 200 mét (ấp Chợ Thủ B, xã Tam Giang Tây) thì Dương và Tâm điều khiển 2 phương tiện quay ngược lại, sau đó đâm thẳng vào mé trái phương tiện của Tổ tuần tra, khiến anh Hồng Văn Minh đang điều khiển phương tiện bị thương.
Đến khi Tổ tuần tra chạy đến Trạm Biên phòng Bồ Đề xin lực lượng hỗ trợ thì nhóm đối tượng mới bỏ chạy.
Làm việc với Cơ quan điều tra, các đối tượng Dương, Lên, Thạnh thừa nhận hành vi của mình nhưng hiện Tâm và Dương đã đi khỏi địa phương. (Vietnamplú 25/2, Huỳnh Anh) đầu trang(
Theo thống kê từ 2012- 2016, diện tích rừng của tỉnh Đắk Nông bị phá là gần 2.600ha. Qua đó, cơ quan chức năng đã phải xử lý hàng trăm đối tượng có hành vi hủy hoại rừng. Thế nhưng, tình trạng người dân tái chiếm đất rừng vẫn phổ biến...
Tháng 10/2013, Lê Văn Bình (quê Hà Tĩnh) đến làm thuê và sinh sống tại xã Nâm N’Jang (huyện Đắk Song). Quá trình sinh sống tại đây, Bình phát hiện một đám cây rừng có đường kính 20cm trở xuống xen lẫn lồ ô chưa bị phá, nên nảy sinh ý định xâm chiếm đám đất này để làm rẫy. Ban ngày, Bình đi làm thuê, tối đến lúc rảnh rỗi thì dùng dao phát đám rừng này.
Để thuận tiện cho việc phá rừng, Bình đã dựng một chòi rẫy ở gần đó và dùng cưa xăng rồi tiến hành hủy hoại rừng với quy mô lớn hơn. Qua đó, từ tháng 10/2013 đến 2/2015, Bình đã phá diện tích khoảng 8 sào để trồng cà phê và hồ tiêu.
Đầu tháng 7/2015, Công an huyện Đắk Song đã tiến hành khám nghiệm hiện trường diện tích rừng bị Bình hủy hoại. Bị tòa tuyên phạt 6 tháng tù giam với tội danh “Hủy hoại rừng” và buộc bồi thường hơn 70 triệu đồng cho công ty quản lý rừng nhưng đến nay, Bình mới chỉ khắc phục được một phần hậu quả. Sau khi chấp hành xong án phạt tù, Bình vẫn tiếp tục sản xuất trên vùng đất cũ mà bản thân đã từng phạm tội mà có.
Tương tự, trong khoảng thời gian năm 2010 đến tháng 5/2013, ông Đặng Ngọc Tưởng (tổ 4, TX. Gia Nghĩa) thuê người đốt rừng dọn đất và đào hố trồng cà phê trên diện tích 0,9ha đất rừng tại xã Quảng Sơn (huyện Đắk Glong). Theo kết quả giám định, loại rừng mà ông Tưởng xâm hại là rừng sản xuất, gây thiệt hại về lâm sản và môi trường trên 720 triệu đồng. Ngày 24/10/2013, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong đã tuyên phạt ông Tưởng 1 năm 3 tháng tù treo.
Tuy nhiên, trong lúc chấp hành án phạt, gia đình ông Tưởng vẫn "vô tư" tiếp tục trồng cà phê tại 0,9ha đất rừng này. Hiện nay diện tích cà phê này đã được khoảng 3 năm tuổi, phát triển xanh tốt, nằm xen kẽ cây rừng cháy nham nhở nằm trơ gốc. Theo ông Tưởng, gia đình ông đã trồng 400 cây cà phê trên diện tích đất rừng trước đây thuộc lâm phần của Xí nghiệp lâm nghiệp Đắk Ha, đồng thời ông cũng trồng thêm khoảng 700 trụ tiêu ở phần đất liền kề và dự định làm thêm 2ha nữa để “giữ đất” cho con cái sau này.
Những năm qua có rất nhiều đối tượng phá rừng bị công an điều tra, xử lý về tội hủy hoại rừng đồng thời cũng có những bản án thích hợp để trừng trị những đối tượng này.
Thế nhưng trong thực tế, nhiều diện tích đất rừng vẫn tiếp tục bị chính những đối tượng phá rừng hoặc người thân của họ tái chiếm, sang nhượng mà đáng lẽ phải trở về với đơn vị quản lý.
Qua thống kê, diện tích đất rừng mà ngành chức năng và địa phương trồng lại chỉ được 257ha. Những công ty lâm nghiệp có đất bị lấn chiếm cho rằng, hiện nay việc trồng lại rừng tại khu vực trên gặp nhiều khó khăn, vì vậy bên cạnh việc bắt, truy tố về tội hủy hoại rừng thì trong mỗi bản án, tòa án cần phải kết luận về việc trả lại diện tích đất rừng cho các công ty lâm nghiệp.
“Nếu như bản án không nêu ra điều này, rất nhiều người dân sẽ nhầm tưởng là sau khi đã chịu xử phạt hành chính hoặc phạt tù thì diện tích đó nghiễm nhiên thuộc về mình. Bởi vậy sau khi chấp hành án, họ sẽ quay trở lại diện tích mình đã phá để sản xuất, sinh sống hoặc sang nhượng cho những người khác”, một lãnh đạo công ty lâm nghiệp cho hay.
Trong khi đó, Tòa án lại cho rằng, việc giao đất là do UBND tỉnh thực hiện, tòa án không có thẩm quyền. Bởi vậy, trong các bản án, tòa án không cần tuyên trả đất cho công ty lâm nghiệp (chủ rừng được giao quản lý) vì trên thực tế nó thuộc quản lý của các công ty này.
Ngoài ra, sau khi có bản án của tòa án, các chủ rừng có trách nhiệm thực hiện việc trồng rừng, hoặc khoanh nuôi tự nhiên. Tuy nhiên, nhiều diện tích đất rừng vẫn bị người dân tái lấn chiếm, xây nhà kiên cố, sinh sống ổn định, trồng cây, đối với những diện tích này, các chủ rừng cũng rất ít khi yêu cầu cơ quan điều tra tiếp tục vào cuộc, xử lý theo quy định của pháp luật.
“Việc tiếp tục xét xử các đối tượng tái lấn chiếm này phải được các chủ rừng đề nghị, cơ quan điều tra vào cuộc thì mới có căn cứ tiến hành theo quy định của pháp luật”, một cán bộ Tòa án cho biết.
Ông Ngô Đức Thọ, Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Nông khẳng định: “Quan điểm của đơn vị là xử nghiêm minh những đối tượng cầm đầu, chỉ huy, thuê mướn hủy hoại rừng. Những đối tượng vi phạm quy định về phá rừng nếu tiếp tục sinh sống, sản xuất trên những diện tích đã được xét xử thì là tiếp tục vi phạm các quy định về sử dụng đất đai. Đặc biệt, các đối tượng đã từng phá rừng, đã bị xét xử thì đã có tiền án, tiền sự, nhân thân xấu sẽ bị xem xét tình tiết tăng nặng về hình sự”. (Dân Trí 26/3, Dương Phong) đầu trang(
Hàng chục hecta rừng (chủ yếu là rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 1685, địa phận xã Quảng Sơn và Đắk Ha, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông) vừa mới bị phá trắng, đốt trụi.
Các đối tượng phá rừng còn sử dụng phương tiện cơ giới đắp đập lớn để tích trữ nước tại khu vực rừng bị phá. Đáng nói là lực lượng có trách nhiệm ở địa phương lại chậm trễ trong việc ngăn chặn, xử lý.
Ghi nhận tại hiện trường của phóng viên TTXVN tại Đắk Nông cho thấy, khu vực rừng bị phá nằm cách Quốc lộ 28, đoạn qua xã Đắk Ha, khoảng 7km và nằm trong vùng lõi rừng, khuất sau nhiều ngọn đồi. Hình ảnh tại hiện trường còn nguyên dấu vết tro tàn cho thấy rừng mới vừa bị đốt; một số khoảng rừng chưa bị chặt phá cũng bị ảnh hưởng bởi việc đốt rừng của lâm tặc.  Theo một số hộ dân sống xung quanh khu vực, các đối tượng phá rừng đã “triển khai” hai đợt chặt phá, phát dọn. Đợt một là thời điểm trước Tết Nguyên đán 2017 vừa qua, tức thời điểm khu vực này vừa dứt hẳn mưa.
Đợt hai là cách đây khoảng hơn 20 ngày. Lần nào họ cũng triển khai hàng chục người, chia làm nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm “phụ trách” một quả đồi để chặt phá, phát dọn.
Bên cạnh đó, tại khu vực nằm giữa 2 quả đồi lớn nhất, các đối tượng đã đưa xe cơ giới vào tận hiện trường để làm một con đập thủy lợi với diện tích khá lớn, được xây dựng kiên cố và đã tích được hàng trăm khối nước.
Theo một số người dân xung quanh khu vực này, việc chặt phá, đốt rừng và xây dựng đập thủy lợi kéo dài hàng tháng liền. Tuy nhiên, do nằm khuất sau những quả đồi nên khi các đối tượng đốt trụi rừng thì người dân mới phát hiện ra vụ việc.
Bà H. (xin được giấu tên), một người dân sống cách khu vực rừng vừa bị phá khoảng 2 km cho biết, rừng mới bị đốt trong các ngày 22 - 23/3. Người dân xung quanh ai cũng biết vì mù mịt khói.  Còn ông M. (cũng xin được giấu tên) cho biết, việc phá rừng được tổ chức khá bài bản, trên quy mô lớn, từ việc chặt phá đến việc vạt cả ngọn đồi để đắp đập.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G’Long, diện tích rừng bị phá nằm ở khoảnh 6, khoảnh 8, tiểu khu 1685, thuộc địa phận xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông. Đơn vị này đang tiến hành việc kiểm tra, đo đếm diện tích, thực trạng rừng bị phá.
Ông Lê Văn Hà, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk G’Long cho biết, trước đây mới xác định được tọa độ rừng bị phá, do rừng này nằm xen giữa rừng trồng, đất trống (ý nói rừng đã bị phá trắng - PV), hiện trạng không còn gì nên việc xác định rất khó khăn. Ông Hà cũng thông tin thêm là cán bộ Hạt Kiểm lâm Đắk G’Long đang kiểm tra, đo đạc tại hiện trường...(Tin Tức 27/3, Ngọc Minh – Hưng Thịnh) đầu trang(
Hoàng hôn dần buông, những cánh rừng thuộc Trạm Kiểm lâm Bù Đăng (Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai) quản lý nhộn nhịp tiếng chim và muông thú. Bình minh lên, muông thú lại rủ nhau “hợp ca”.
Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Bù Đăng Phan Ngọc Phương tự hào cho biết nhờ bảo tồn tốt nên các loài chim, khỉ, gà, bò tót, heo, nai… kéo về các cánh rừng do trạm quản lý trú ẩn, sinh sản ngày càng nhiều.
Để vào được Trạm Kiểm lâm Bù Đăng phải vượt qua các cửa rừng: Suối Ràng, Suối Cốp, Đa Kiade với những con đường đất đỏ mù bụi, nhiều con dốc cao, thấp. Còn luồn lách theo đường rừng dành cho cán bộ kiểm lâm đi tuần thì người thường không thể và không được phép. Vì vậy, những cánh rừng do Trạm Kiểm lâm Bù Đăng quản lý hầu như không có dấu chân người lạ.
Trạm Kiểm lâm Bù Đăng có 5 tiểu khu, diện tích rừng tự nhiên trên 45 ngàn hécta, với 7 kiểm lâm viên. Trạm được bao bọc bởi những cánh rừng bạt ngàn, cùng với sự bảo vệ nghiêm ngặt của lực lượng kiểm lâm các trạm: Suối Cốp, Suối Ràng, Đa Kiade. Tuy nhiên, vùng vành đai dài 11km dọc con suối Mã Đà (ranh giới giữa 2 tỉnh Đồng Nai và Bình Phước) thật sự là cánh cửa rộng để người dân xâm nhập vào những cánh rừng do trạm bảo vệ.
Trạm trưởng Phan Ngọc Phương cho biết với đặc thù rừng tự nhiên, không bị con người tác động, rừng do Trạm Kiểm lâm Bù Đăng quản lý là môi trường sống, sinh sản của nhiều loài thú lớn, như: voi, bò tót, nai và các loài thú nhỏ, như: heo, khỉ, dọc, chồn... Riêng chim, gà rừng các loại và ong rừng thì cứ vào rừng sẽ gặp chúng khắp nơi. Vì vậy, dù thiếu bóng dáng con người nhưng bước chân tuần rừng của kiểm lâm viên trong trạm sớm xóa tan mệt nhọc, cô đơn khi có muông thú bầu bạn.
17 năm gắn bó với các cánh rừng già: Mã Đà, Hiếu Liêm, Vĩnh An, kiểm lâm viên Nguyễn Văn Sự vẫn mãi là “người lính độc thân, vui tính”.
Kiểm lâm viên Sự cho hay loài chích chòe lửa một thời được đưa vào sách đỏ, nay chúng hót réo rắt khắp nơi trên cây cao, bụi rậm. Khỉ, voọc, heo rừng, gà rừng… thì hồn nhiên quẩn quanh nơi trạm mà chẳng sợ người. Nhờ chúng mà anh Sự và đồng đội Nguyễn Hải Phong không cảm thấy cô đơn khi chưa tìm được người để thương nhớ.
Rừng ở Trạm Kiểm lâm Bù Đăng có nhiều dốc đứng, dốc cao làm lộ ra những khe suối, bàu cạn. Mùa mưa, các loài cá chọn nơi đây làm nơi trú ngụ, sinh sản. Mùa nắng, cá tìm đường về suối Mã Đà, ra sông lớn vẫy vùng trong lưới ngư dân. Chỉ có bước chân người kiểm lâm viên của trạm nặng trình trịch lúc tuần rừng để định vị cây to, sự di chuyển của các loài thú. “Dù quân số ít, hàng ngày trạm đều phân công lực lượng thành 2 tổ trực với mục tiêu đảm bảo trực 24/24 giờ trên khắp các cánh rừng. Mùa khô thì lực lượng trong trạm có thêm nhiệm vụ phòng chống cháy rừng, dọn dẹp các đường băng cản lửa” - Trạm phó Trạm Kiểm lâm Bù Đăng Nguyễn Viết Thiện bộc bạch.
Mùa khô đến, những cánh rừng do Trạm Kiểm lâm Bù Đăng quản lý vẫn mát lạnh. Những con suối, bàu nước dành cho công tác phòng chống cháy rừng dù đậm đục màu phù sa đất đỏ bazan vẫn đủ nước uống cho muông thú và để xử lý tình huống cấp bách.
Trạm trưởng Phan Ngọc Phương tâm sự, ông được điều động từ Trạm Kiểm lâm Thủy sản về đây được 3 năm. Thời gian  qua, rừng ở đây luôn bình yên với mưa lũ, nắng hạn và sự tác động của con người. Vì không có trường hợp nào lén lút vào rừng để săn bẫy thú, khai thác lâm sản trái phép nên mọi người trong trạm rất tự hào.
Dân không vào rừng có nghĩa là tất cả đều thân thiện nhìn muông thú, gỗ quý và ngược lại. Thấu hiểu điều đó, Trạm Kiểm lâm Bù Đăng liên tục phối hợp với các lực lượng kiểm lâm bạn vượt suối Mã Đà sang tỉnh Bình Phước tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng, thú rừng, phòng chống cháy rừng và tạo nhiều việc làm cho họ trong mùa phòng chống cháy rừng. “Mùa khô đến, người dân tỉnh Bình Phước vượt suối Mã Đà qua hỗ trợ anh em trong trạm phát dọn đường băng cản lửa, trực các điểm phòng chống cháy rất trách nhiệm và nhiệt tình” - Trạm phó Nguyễn Viết Thiện nói.
Chính vì thấu hiểu tình cảm của các cán bộ, nhân viên Trạm Kiểm lâm Bù Đăng dành cho mình mà ông Bùi Trí Nhân và người em Bùi Hoàng Ân cứ mùa nắng đến lại gọi vợ con và những người thân tình vượt suối Mã Đà sang Trạm Kiểm lâm Bù Đăng nhận việc.
Ông Bùi Trí Nhân cho biết mỗi ngày trực điểm phòng chống cháy rừng được 180 ngàn đồng/người; còn phát đường băng cản lửa, thực bì thì công khoán mỗi người cũng được trên 200 ngàn đồng/ngày. Công việc đó không quá vất vả với người chuyên làm nông nghiệp như ông.
Bữa cơm trưa ở Trạm Kiểm lâm Bù Đăng đạm bạc, nhưng thật sự làm ấm lòng những người bên kia suối Mã Đà và từ xã Phú Lý vào. Nồi cơm bốc khói giữa nắng trưa giúp những người làm rừng sớm lấy lại sức để tiếp tục phần việc buổi chiều.
Ông Bùi Hoàng Ân tâm sự, được các cán bộ, nhân viên trong Trạm Kiểm lâm Bù Đăng quý mến, tin tưởng, ông và mọi người cảm thấy mình cần phải có trách nhiệm hơn với trạm trong việc bảo vệ rừng và thú rừng.
Có thêm người trò chuyện, bước chân tuần rừng của các kiểm lâm viên Trạm Kiểm lâm Bù Đăng thoăn thoắt lướt trên lớp thực bì giòn tan bởi nắng tháng 3 khô khốc. Thêm một lần đi qua lối rừng quen thuộc, các kiểm lâm viên Nguyễn Văn Sự và Nguyễn Hải Phong vẫn không thấy mình cô đơn giữa rừng già.
Bởi, trong suốt chuyến tuần rừng của mình, các anh thỉnh thoảng gặp được đồng nghiệp ở các trạm bạn đang tuần tra hoặc người dân đang canh lửa, phát đường băng. Còn trên đầu và trước mặt các anh, lúc nào cũng rộn ràng tiếng chim hót, khỉ đu cành trêu ghẹo. “Rừng nơi chúng mình canh giữ thật sự bình yên với nắng mưa và tình yêu thương của con người” - kiểm lâm viên Phong khẽ nói. (Báo Đồng Nai 24/3, Đoàn Phú) đầu trang(
Sáng 26/3, Phòng Cảnh sát đường thủy (PC68), Công an tỉnh cho biết đơn vị này vừa bắt giữ đối tượng Hoàng Nghĩa Trinh về hành vi vận chuyển gỗ trái phép.
Trước đó, vào khoảng 4h30 phút sáng 25/3, tại khu vực sông Lam, đoạn chảy qua xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên, tổ công tác Phòng Cảnh sát đường thủy (PC68), Công an tỉnh do Thượng úy Nguyễn Đình Thông làm tổ trưởng đã phát hiện, bắt quả tang đối tượng Hoàng Nghĩa Trinh (thường trú tại xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên) đang có hành vi vận chuyển 4,5 m3 gỗ.
Tại thời điểm kiểm tra, đối tượng không xuất trình được các giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của lô gỗ nói trên.
Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, sau đó bàn giao cho cơ quan Kiểm lâm huyện Hưng Nguyên tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Nghệ An 26/3, Thảo Nguyên) đầu trang(
Cơ quan chức năng xác định có 36 cây sa mu dầu (139 khối gỗ) thuộc lâm phần của Trạm quản lý bảo vệ rừng Nậm Càn - Na Ngoi (Kỳ Sơn, Nghệ An) bị chặt phá. 3 cán bộ của Trạm này đã bị kỷ luật, trong đó Trạm trưởng bị cách chức.
Sáng ngày 24/3, ông Trịnh Văn Thành – Trưởng phòng tổ chức cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An thông tin, liên quan đến vụ phá rừng tại bản Huồi Nhao (xã Nậm Càn, Kỳ Sơn), 3 cán bộ Trạm quản lý bảo vệ rừng Na Ngoi – Nậm Càn, thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn đã bị kỷ luật vì để xảy ra mất rừng trong lâm phần mình được giao quản lý.
Cụ thể, ông Phạm Văn Tình – Trạm trưởng bị cách chức; hai cán bộ Trương Văn Sáng và Lương Vĩnh Phúc bị cảnh cáo, hạ bậc lương và chậm nâng lương 6 tháng.
Trước đó, vào ngày 22/2/2017, cơ quan chức năng phát hiện có 36 cây sa mu dầu tại bản Huồi Nhao, xã Nậm Càn bị chặt hạ, tương đương 139m3 gỗ.
Sau khi sự việc xảy ra, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn đã họp hội đồng xem xét trách nhiệm của các cá nhân liên quan và đi đến quyết định cách chức Trạm trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng Na Ngoi – Nậm Càn Phạm Văn Tình; khiển trách, hạ bậc lương và chậm thời hạn nâng lương 3 tháng đối với hai nhân viên của trạm là Trương Văn Sáng và Lương Vĩnh Phúc.
“Đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh lên kiểm tra thực tế, thấy rằng hình thức kỷ luật đối với anh Sáng và anh Phúc là quá nhẹ so với mức độ vi phạm nên đề nghị nâng mức kỷ luật lên cảnh cáo”, ông Trịnh Văn Thành thông tin.
Liên quan đến sự việc trên, Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An cũng xem xét trách nhiệm liên đới của ông Cao Văn Quỳnh – Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn. Hình thức kỷ luật đối với ông Quỳnh dự kiến sẽ được Hội đồng kỷ luật của Sở đưa ra vào đầu tháng 4 tới.
Về vụ chặt phá 36 cây sa mu dầu ở bản Huồi Nhao, trao đổi với PV Dân trí, Thượng tá Tô Văn Hậu – Trưởng Công an huyện Kỳ Sơn cho biết, cơ quan điều tra đang xử lý.
Trước khi sự việc xảy ra, Trạm quản lý bảo vệ rừng Nậm Càn – Na Ngoi có 5 cán bộ, nhân viên, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ 40.000ha rừng phòng hộ. Sau khi ông Phạm Văn Tình bị cách chức, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn đã điều một trưởng phòng kỹ thuật vào phụ trách trạm. (Dân Trí 24/3, Hoàng Lam; Tiền Phong 24/4, Việt Hương; Người Lao Động 25/3, Đức Nghĩa) đầu trang(
Từ đầu tháng 3/2017 đến nay, cơ quan có thẩm quyền tỉnh Điện Biên đã đã bắt giữ 56 đối tượng, trong đó khởi tố 15 vụ với 16 đối tượng tham gia hủy hoại 18,6ha rừng.
Trong đố đó, đặc biệt nhất là các trường hợp, gồm: Hờ A Hù đã có hành vi phá 3.844m2 rừng phòng hộ tại khu vực bản Nậm Vì, xã Nậm Vì; Đối tượng Vàng Dủ Di có hành vi phá 22.796m2 rừng phòng hộ trạng thái IIIA tại khu vực bản Vang Hồ; Mùa Chờ Cá có hành vi phá 5.941m2 rừng phòng hộ trạng thái IIa tại khu vực bản Nậm Vì; Lùng Văn Thân có hành vi phá 3.724m2 rừng phòng hộ trạng thái IIA; Phàng Thị Dế về hành vi phá 14.500m2 rừng phòng hộ.
Được biết, trong thời gian gần đây, tình trạng phá rừng và di cư ngoài kế hoạch vào địa bàn các xã thuộc huyện Mường Nhé vẫn tiếp tục diễn ra và có chiều hướng phức tạp hơn. Từ tháng 10/2015 đến tháng 12/2016, lực lượng chức năng đã phát hiện 186 vụ phá rừng mới, gây thiệt hại 175ha rừng, trong đó có gần 87ha rừng phòng hộ.
Thực hiện Chỉ thị số 13 của Ban Bí thư Trung ương và Kế hoạch 420 ngày 22/2/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên về Kế hoạch giải quyết tình trạng phá rừng và di cư ngoài kế hoạch tại huyện Mường Nhé, Công an tỉnh đã ra quân đồng loạt thực hiện các biện pháp quyết liệt, nhằm chấn chỉnh thực trạng phá rừng và di cư ngoài kế hoạch tại huyện Mường Nhé. (Dân Sinh 25/3, Đường Minh) đầu trang(
Trước khi gửi tâm thư hãy cứu Sơn Trà, Chủ tịch Hiệp hội du lịch (HHDL) Đà Nẵng đã trao đổi nội dung kiến nghị với các thành viên thường trực của hiệp hội chứ không phải không hỏi ý kiến như công văn phản hồi của Sở du lịch Đà Nẵng.
Sáng 24-3, Phóng viên Báo Người Lao Động đã liên hệ với một vài thành viên thường trực của HHDL Đà Nẵng để tìm hiểu đâu là sự thật về công văn phản hồi số 99/BC-SDL ngày 22-3-2017 của Sở du lịch TP Đà Nẵng do Phó chủ tịch Sở Du lịch Đà Nẵng Trần Chí Cường ký liên quan đến việc văn bản kiến nghị hãy cứu lấy Sơn Trà của Chủ tịch HHDL Đà Nẵng Huỳnh Tấn Vinh ký gửi Thủ tướng cùng các bộ ngành.
Theo phản hồi công văn 99/BC-SDL của Sở Du lịch Đà Nẵng do ông Trần Chí Cường ký, cho rằng qua kiểm tra thông tin với các Phó Chủ tịch và Tổng thư ký HHDL Đà Nẵng, trước khi gửi đi công văn kiến nghị ông Huỳnh Tấn Vinh chưa trao đổi nội dung, chưa thông qua thường trực Hiệp hội và Ban chấp hành HHDL các nội dung nêu trong văn bản trước khi ban hành văn bản này, do đó nội dung văn bản này chỉ mang tính cá nhân của ông Vinh chứ chưa phải tiếng nói của HHDL, gây hiểu lầm là thông tin chính thức của HHDL..
Tuy nhiên, trao đổi với Phóng viên báo Người Lao Động, ông Huỳnh Tấn Vinh khẳng định đã gửi đơn kiến nghị đến 4 thành viên thường trực HHDL Đà Nẵng để tham khảo ý kiến, gồm: Ông Trần Chí Cường (Phó GĐ Sở Du Lịch), phó chủ tịch HHDL Đà Nẵng; ông Lê Vinh Quang, Phó Chủ tịch Hiệp hội; Tổng thư ký Hiệp hội Trịnh Bằng Có cùng Phó Chủ tịch Hiệp hội ông Hồ Quang Tuấn. Bằng chứng là ông Vinh đã gửi tin nhắn còn lưu lại với nội dung: “Kiến nghị Sơn Trà 21-3.
Kính gửi các anh Thường trực Hiệp hội du lịch TP Đà Nẵng. Những ngày qua công luận đã dấy lên sự phản đối mạnh mẽ về các dự án phá rừng ở Sơn Trà để xây các biệt thự, khu nghỉ mát. Với trách nhiệm đại diện cộng đồng doanh nghiệp du lịch mà trong đó có chức năng đối thoại công – tư, HHDL cần có tiếng nói để các cơ quan hữu quan xem xét việc phát triển du lịch phải bền vững cho và thân thiện môi trường.
Tuy nhiên, việc phát biểu này trong hoàn cảnh hiện nay là khá nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến công việc mà các anh đang nắm giữ ở cơ quan, đơn vị. Vì vậy tôi xin gửi công văn kiến nghị đến Thủ tướng và các cơ quan liên quan với tư cách Chủ tịch HHDL và chịu trách nhiệm cá nhân về quyết định của mình. Tôi xin gửi kèm theo đây công văn để các anh tham khảo và cho ý kiến. Trân trọng!”.
Sau khi nhận được văn bản kiến nghị. Ông Lê Vinh Quang và ông Trịnh Bằng Có đồng tình với kiến nghị của Chủ tịch HHDL Huỳnh Tấn Vinh. Còn ông Hồ Quang Tuấn đi công tác nước ngoài nên chưa trả lời (có thể xem như chưa đồng ý). Riêng chỉ có ông Trần Chí Cường không đồng ý. Như vậy, đã có 3/5 thành viên thường trực đồng tình với bản kiến nghị.
Trao đổi với Phóng viên Báo Người Lao Động qua điện thoại trong sáng 24-3, ông Trịnh Bằng Có khẳng định có nhận được kiến nghị của anh Vinh và đồng tình với ý kiến này. Ngoài ra, ông Có cũng cho biết ông Lê Vinh Quang cũng đồng tình với kiến nghị. Ông Có cũng nói thêm rằng: “Nếu anh Vinh làm sai thì cá nhân anh Vinh chịu trách nhiệm với tổ chức là HHDL Đà Nẵng. Hơn nữa, với tư cách vai trò là Chủ tịch HHDL, đơn kiến nghị vì lợi ích chung anh Vinh có quyền ký và chịu trách nhiệm với đơn mình ký. Chẳng lẽ khi đi họp, đại diện cho HHDL phát biểu, anh Vinh cũng bảo để điện thoại về cho các thành viên rồi mới phát biểu hay sao?”, ông Có nói.
Ông Có cũng cho biết thêm, trước đó ông Trần Chí Cường cũng có điện thoại hỏi ông về ý kiến bản kiến nghị của anh Vinh gửi, ông Có trả lời: “Tôi thấy bản kiến nghị hay quá. Mặc dù anh Vinh bảo sẽ chịu trách nhiệm cá nhân nhưng tôi đồng ý với kiến nghị này”, ông Có trả lời cho ông Cường. Rõ ràng, trước khi gửi kiến nghị hãy cứu Sơn Trà đến Thủ tướng, các bộ ngành ông Vinh đã trao đổi với từng thành viên thường trực HHDL Đà Nẵng. Điều đặc biệt, công văn kiến nghị của ông Vinh đã nhận được sự đồng tình của hầu hết người dân yêu Đà Nẵng, chung tay bảo vệ Sơn Trà.
Ông Có cũng bức xúc cho biết ngay trong ngày 22-3, Sở du lịch đã gửi giấy mời cho 5 thành viên thường trực HHDL Đà Nẵng đến làm việc, với nội dung ghi rõ trong giấy mời “trao đổi về nội dung của văn bản kiến nghị”. Chiều 22-3, cuộc họp này do bà Trương Thị Hồng Hạnh, Phó Giám đốc Sở Du lịch Đà Nẵng chủ trì. Ông Trần Chí Cường cũng được mời dự với tư cách là Phó chủ tịch HHDL.
Tuy nhiên, trong giấy mời ghi nội dung một đằng nhưng khi đến làm việc thì không hề bàn gì đến nội dung của văn bản kiến nghị như giấy mời mà đại diện Sở Du lịch cứ hỏi xoay quanh vấn đề ông Vinh đã trao đổi với Thường trực HHDL trước khi gửi văn bản kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hay chưa.
Theo ông Có, tại cuộc họp một vài thành viên thường trực HHDL cũng thắc mắc với đại diện Sở Du lịch rằng: Mời lên trao đổi về nội dung văn bản kiến nghị. Vậy các anh chị thấy nội dung văn bản đó thế nào?”. Tuy nhiên, đại diện Sở du lịch lại bảo “không dám có ý kiến!”.
Trở lại đơn kiến nghị mà ông Vinh ký gửi Thủ tướng cùng các bộ ngành, một lần nữa ông Trịnh Bằng Có khẳng định: “Nếu anh Vinh đại diện cho tiếng nói của Hiệp hội mà làm sai thì về Hiệp hội họp kiểm điểm, thậm chí cách chức. Hơn nữa, quy trình gửi văn bản đúng, sai thế nào thì đó là việc của Ban chấp hành HHDL xem xét. Đằng này, Sở Du lịch can thiệp sâu vào việc quá sâu không đúng chức năng quyền hạn cho lắm”, ông Có nhấn mạnh.
Trước đó, khi Báo Người Lao Động đăng bài: “Viết tâm thư cứu Sơn Trà, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch gặp rắc rối”, cũng đã nhận được rất nhiều ý kiến phản hồi từ bạn đọc, trong đó đa số đồng tình với bản kiến nghị của ông Vinh. Bạn đọc tên Liên, viết: “ Cảm ơn anh Vinh, anh đã nêu được ý nguyện của người dân trong việc bảo vệ môi sinh môi trường cho TP Đà Nẵng”.
Bạn đọc Lê Minh Thọ nói: “Tôi thấy kiến nghị của ông Vinh không có gì sai cả. Rất có lợi cho tương lai Đà Nẵng”. Còn bạn lyxo1987@gmail.com cũng bảo: “Ủng hộ ông Vinh, xây thì xây chỗ khác bán đảo Sơn Trà hiện nay đã rất đẹp rồi xây dựng làm phá vỡ cảnh quan tự nhiên”. Đồng quan điểm, bạn Trà Hải nói: Tôi ủng hộ ý tưởng chỉ dùng phương tiện thân thiện với môi trường đi vào bán đảo Sơn Trà, và không cho đầu tư xây dựng thêm các công trình du lịch”.
Nói về trách nhiệm của người gửi đơn kiến nghị, bạn Nguen Hieu chia sẻ: “Cái chính là xem xét coi tâm thư của ông Vinh sai cái gì. Chứ chủ tịch mà không được phát biểu thay hiệp hội thì ai được phép. Nếu sai thì hiệp hội sẽ cách chức ông Vinh”. Bạn đọc Lý Lèo cũng góp tiếng nói: “Phát biểu đúng thì dù tư cách cá nhân hay hiệp hội, nó chẳng có gì sai, nó chỉ trái ý kiến/suy nghĩ với một số người bị ảnh hưởng lợi ích trong vụ này mà thôi”.
Bạn Nguyễn Trọng Ninh cũng cho rằng: “Ừ thì cho rằng đây chỉ là ý kiến cá nhân của ông Vinh. Vậy ý kiến của hiệp hội du lịch Đà Nẵng thì sao.. Phản đối hay ủng hộ những ý kiến đó. Phải lên tiếng đi chứ. Còn cứ im thin thít trước tình trạng nóng bỏng như vậy thì ai mà chịu được”. (Người Lao Động 24/3, Quỳnh Châu) đầu trang(
Mường La hiện có 64.752 ha rừng, trong đó 34.523 ha rừng phòng hộ, 11.714 ha rừng sản xuất, còn lại là diện tích rừng trong Khu bảo tồn thiên nhiên.
Với mục tiêu bảo vệ tốt toàn bộ diện tích rừng hiện còn, những năm qua, huyện đã tập trung triển khai các biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR rừng; thực hiện tốt việc xã hội hóa công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và PCCCR, từng bước nâng cao độ che phủ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường.
Ông Lò Văn Thành, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường La cho biết: Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên ở Mường La đã được giao cho cộng đồng và diện tích rừng sản xuất giao cho hộ gia đình quản lý.
Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ phát triển rừng của huyện đã chủ động tham mưu cho UBND huyện xây dựng phương án PCCCR giai đoạn 2016-2020, hồ sơ bản đồ trọng điểm cháy rừng của 16/16 xã, quán triệt, gắn trách nhiệm quản lý Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng đối với chủ tịch UBND các xã.
Chỉ đạo các cơ quan chức năng, đoàn thể và các xã tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ phát triển rừng; triển khai thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, từng bước nâng cao nhận thức của nhân dân và hiệu quả công tác bảo vệ, phát triển rừng, quản lý lâm sản và PCCCR.
Đến nay, huyện Mường La đã thành lập 16 Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ phát triển rừng tại 16 xã, thị trấn; tổ chức kiện toàn 104 tổ, đội quần chúng bảo vệ và PCCCR ở các bản, với 1.030 người, lực lượng tham gia chủ yếu là dân quân và đoàn viên thanh niên.
Năm 2016 và quý I-2017, toàn huyện đã tổ chức 167 hội nghị cấp xã, bản tuyên truyền các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và PCCCR, với gần 8.500 lượt người tham gia, phát 17.280 tờ rơi, tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng tới cộng đồng và người dân. Ban Chỉ đạo các cấp tăng cường chỉ đạo, đôn đốc, vận động nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, từng bước xã hội hóa công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR.
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được thực hiện tốt, các lực lượng chức năng của huyện thường xuyên phối hợp, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.
Đặc biệt, trong những tháng cao điểm của mùa khô hanh, Hạt Kiểm lâm huyện đã thực hiện nghiêm túc chế độ trực theo dõi, nắm tình hình, bảo đảm thông tin liên lạc, tăng cường lực lượng, bố trí những cán bộ kiểm lâm có kinh nghiệm cho cơ sở, tập trung vào những xã vùng trọng điểm, như: Chiềng Ân, Chiềng Công, Hua Trai, Ngọc Chiến, Nặm Păm.
Tổ chức trực theo dõi diễn biến thời tiết, theo dõi cảnh báo cháy rừng qua bản đồ vệ tinh của Cục Kiểm lâm, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng, phát hiện sớm các điểm cháy rừng, chủ động huy động lực lượng tham gia chữa cháy.
Đồng thời, phối hợp với chính quyền cơ sở vận động và hướng dẫn nhân dân chấp hành quy định về canh tác nương rẫy, nghiêm cấm việc đốt nương và sử dụng lửa vào thời gian cao điểm mùa khô hanh ở những khu vực có nguy cơ cháy cao; xác định những địa bàn trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng để chủ động huy động lực lượng, chuẩn bị phương tiện, dụng cụ PCCCR; huy động nhân dân các xã, bản làm đường băng cản lửa giữa các khu vực sản xuất nương rẫy với các khu rừng có nguy cơ cháy; tu sửa, bổ sung hệ thống biển báo, biển cấm, bảng quy ước, nội quy, bảo vệ và PCCCR.
Năm Păm là một trong những xã có diện tích rừng lớn của huyện Mường La, với trên 4.000 ha, hằng năm, trước mùa khô hanh xã đều tập trung củng cố các tổ, đội PCCCR các bản, bổ sung dụng cụ PCCC. Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ phát triển rừng của xã thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhân dân thực hiện các nội quy, quy ước bảo vệ rừng và quy định về sản xuất nương rẫy.
Ông Lù Văn Pùa, Phó Chủ tịch UBND xã, thông tin: Ngoài việc làm tốt công tác PCCCR, xã đã chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các bản đều công khai số tiền được chi trả và sử dụng để làm đường, mua sắm dụng cụ PCCC, khen thưởng tập thể, cá nhân tích cực tham gia bảo vệ và PCCCR.
Với phương châm phòng là chính, chủ động trong mọi tình huống, cùng với triển khai đồng bộ những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ, PCCCR, bước vào mùa khô hanh năm nay, trên địa bàn huyện Mường La chưa để xảy ra vụ cháy rừng nào, 100% số xã, bản đã xây dựng nội quy, quy ước và hương ước bảo vệ rừng.
Qua đó, ý thức trách nhiệm của các chủ rừng và người dân được nâng lên, đây là những điều kiện quan trọng để Mường La bảo vệ tốt diện tích rừng hiện còn và từng bước nâng cao độ che phủ của rừng. (Báo Sơn La 24/3, Ngọc Thuấn) đầu trang(
Những cánh rừng bạt ngàn là thành lũy, tấm khiên bảo vệ môi trường tự nhiên cho người dân Hương Khê và là vành đai xanh phía Tây Hà Tĩnh. Thế nhưng, việc khai thác, sẻ phát, xâm lấn trái phép đang ngày đêm diễn ra khiến cho núi rừng nơi đây không còn bình yên.
Hương Khê có hơn 100.520 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 17.351 ha rừng đặc dụng, 30.400 ha rừng phòng hộ và gần 53.000 ha rừng sản xuất. Tính đến thời điểm này, có hàng trăm vụ lấn chiếm, sẻ phát rừng trái phép trên địa bàn Hương Khê với tổng diện tích gần 1.200 ha, trong đó chủ yếu là rừng sản xuất. Chủ yếu các vụ sẻ phát, lấn chiếm của người dân diễn ra trên diện tích rừng của các chủ rừng nhà nước.
Phần lớn các vụ việc đều diễn biến phức tạp, kéo dài, đặc biệt là có đông người tham gia với diện tích xâm phạm lên đến hàng chục ha rừng. Cụ thể như từ năm 2009 đến năm 2013, có 72 hộ dân đã lấn chiếm 228,5 ha rừng sản xuất của Công ty Cao su Hương Khê. Cũng thời gian đó, có 24 hộ dân đã lấn chiếm trái phép hơn 171 ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ trên địa bàn các xã Phúc Trạch, Hương Trạch.
Trong khi các vụ việc chưa được giải quyết dứt điểm thì từ giữa năm 2015 đến nay, tình trạng lấn chiếm, sẻ phát rừng và đất lâm nghiệp diễn ra tràn lan trên diện rộng. Tại các tiểu khu 256, 245, 225, 220, 231, 236, 251, 257, 258, 186 liên tục bị người dân các xã Hương Trạch, Phúc Trạch, Hương Thủy, Lộc Yên, Hương Lâm, Phú Gia, Hương Vĩnh lấn chiếm, sẻ phát trái phép hàng chục ha rừng.
Điều đáng nói là trong đó, phần lớn là rừng tự nhiên nghèo nghiêm cấm tác động. Trong đó có một số vụ điển hình như: Ông Lê Văn Hòe (xã Phú Gia) và các thành viên trong gia đình đã sẻ phát, lấn chiếm hơn 18 ha rừng tự nhiên nghèo của BQL Rừng phòng hộ Sông Tiêm vào đầu năm 2016. Đặc biệt, vụ hàng chục hộ dân xã Phú Gia sẻ phát, lấn chiếm gần 40 ha rừng tự nhiên nghèo tại tiểu khu 229 thuộc quyền quản lý của UBND xã Phú Gia hiện đang được Công an tỉnh điều tra, làm rõ.
Cùng với việc bị sẻ phát, lấn chiếm thì hiện tượng khai thác lâm sản trái phép cũng đang góp phần làm cho rừng Hương Khê dần cạn kiệt. Theo báo cáo của UBND huyện Hương Khê, tính từ năm 2010 đến nay, lực lượng chức năng của huyện đã phát hiện, bắt giữ 704 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu gần 1.300 m3 gỗ các loại. Bình quân mỗi năm, có gần 200 m3 gỗ rừng khai thác trái phép bị bắt giữ.
Đây chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” bởi số lượng gỗ bị khai thác trái phép đã tuồn ra cửa rừng chắc chắn còn lớn hơn rất nhiều. Đó là chưa nói, trong những cánh rừng bạt ngàn kia, còn biết bao nhiêu m3 gỗ đã bị “lâm tặc” chặt hạ, cưa xẻ và cất giấu chờ cơ hội tuồn về xuôi.
Cách đây mấy năm, người viết đã từng theo chân một nhóm lâm tặc vào rừng. Chứng kiến các “tiều phu” đốn cây, xẻ gỗ thành thục, nhanh gọn bằng cưa máy mới hiểu hết tính “chuyên nghiệp” của việc khai thác gỗ trái phép. Mỗi “lô hàng” được “đánh xong”, “lâm tặc” giấu trong rừng coi như “của để dành”, chờ có “đầu nậu” thu mua tận gốc hoặc kiếm cơ hội tuồn về xuôi.
Để đưa được gỗ lậu về xuôi, “lâm tặc” sử dụng rất nhiều hình thức. Có thể dùng trâu kéo về bãi tập kết rồi vận chuyển ra khỏi rừng bằng ô tô, xe lôi. Hình thức này được áp dụng cho những “đầu nậu” có nhu cầu thu mua, tiêu thụ gỗ với số lượng lớn. Tuy đảm bảo “tính chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả cao” nhưng dễ bị phát hiện, bắt giữ và chịu thiệt hại nặng nề. Điển hình như đầu tháng 2 năm nay, các ngành chức năng phát hiện, thu giữ gần 5 m3 gỗ vừa khai thác, tập kết trái phép tại các tiểu khu 239, 228, 247. Đặc biệt trước đó, tại khu vực đầu nguồn của sông Rào Tre (xã Hương Lâm) đã phát hiện, thu giữ trên 220 bè gỗ với khối lượng trên 40 m3.
Một hình thức khai thác, vận chuyển gỗ lậu được “lâm tặc” sử dụng nhiều nhất vẫn là dùng phương tiện xe máy “đánh quả lẻ”. Một nhóm vài ba người đi xe máy vào rừng, đốn gỗ, khiêng ra, buộc lên xe và phi một mạch về xuôi. Với cách “đánh du kích” này, tuy số lượng khai thác không lớn nhưng lại thường xuyên, liên tục. “Tích tiểu thành đại”.
Vì thế, rừng Hương Khê đang “rỉ máu” đến cạn kiệt! (Báo Hà Tĩnh 27/3, Thăng Long) đầu trang(
Các chuyên gia động vật học đã giải mã về con mèo được cho là trị giá tiền tỉ bị một nhóm thanh niên xẻ thịt.
Nhiều ngày qua, cộng đồng mạng đang xôn xao về thông tin được cho là một nhóm thanh niên tại Việt Nam bắt được một con mèo lạ và đã xẻ thịt. Theo cộng đồng mạng, con mèo này có lông như loài báo và được nhận định là giống mèo Ashera trị giá hàng tỉ đồng.
Hiện chưa rõ những bức ảnh lan truyền trên internet được chụp ở vùng nào của Việt Nam. Tuy nhiên, trao đổi với PV về những bức ảnh trên, Th.S Đặng Huy Phương - Trưởng Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) nhận định: “Theo các ảnh chụp thì đây chỉ là loài mèo báo Felis bengalensis tự nhiên. Loài mèo này phân bố ở nhiều vùng của Việt Nam, thuộc nhóm IB, tức nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định của Chính Phủ”.
Cùng nhận định, TS. Nguyễn Hữu Trí - Giảng viên bộ môn Sinh học (khoa Khoa học, Trường Đại học Nông lâm TP.HCM) cho biết: “Qua những bức ảnh chụp có thể thấy đó không phải là mèo Ashera như người ta nói, mà là mèo báo hay còn có tên khoa học là Felis bengalensis. Loài mèo này thuộc bộ ăn thịt và họ mèo Felidae”.
Theo TS. Trí, mèo báo là mèo tự nhiên hoang dại, có phạm vi phân bố rộng (thường phân bố ở vùng Nam Á và Đông Á), thường được rao bán với giá từ vài triệu cho đến vài chục triệu đồng trên chợ đen. Trong khi đó, mèo Ashera là một dạng mèo lai phức tạp giữa ba giống mèo khác nhau, gồm mèo châu Phi, mèo báo và mèo nhà, có giá khoảng 500 triệu đến 2,5 tỉ đồng.
Mèo châu Phi được dùng lai tạo có kích cỡ trung bình nhưng chân rất dài, tên Leptailurus serval. Còn mèo báo được sử dụng cho việc lai tạo có tên Prionailurus bengalensis, và mèo nhà được sử dụng là Felis catus. Kết hợp 3 giống mèo trên, công ty Lifestyle Pets của Mỹ tạo ra mèo Ashera.
“Theo tôi biết, có khoảng 100 con mèo Ashera được tạo ra mỗi năm và trong đó khoảng 50 con được bán ở Mỹ. Lý do công ty Lifestyle Pets không tạo ra nhiều mèo này là họ muốn giữ giá trị của nó, càng hiếm sẽ càng bán được với giá cao. Khách hàng sẽ phải trả tiền trước và có thể phải đợi đến 9 tháng mới nhận được sản phẩm”, TS. Trí giải thích.
Từ đó, TS. Trí nhận định: “Những lý do này càng chứng tỏ con mèo mà nhóm thanh niên kia bắt được và làm thịt là mèo báo, vì số lượng mèo Ashera ít như thế kia thì rất khó để tìm thấy trong môi trường tự nhiên”.
Theo trang 97 của sách “Thú Đông Dương và Thái Lan”, mèo báo có hình dạng giống mèo nhà, nặng 3 - 5kg, thân dài 0,45 - 0,55m, đuôi dài 0,25 - 0,29m. Mèo có lông mềm màu vàng trắng điểm nhiều đốm đen không đều, quanh đốm đen có viền vàng nâu. Bụng và chân của loài mèo này có màu xám trắng; còn đầu có những sọc màu đen, trắng chạy dọc từ đỉnh đầu đến mũi. Mũi mèo có màu hồng nhạt, lông quanh miệng màu trắng.
Mèo rừng (mèo báo) sống ở rừng thứ sinh nghèo, trên các savan cây bụi, các bãi cây ven nương rẫy, không có nơi ở cố định. Loài mèo này vận động nhanh nhẹn, leo trèo, bơi lội giỏi, kiếm ăn đêm, ngày ngủ trong hốc cây, hang đá, trong bụi rậm hay trên chạc cây to kín. Chúng thường ngồi rình mồi, đợi khi con mồi đi qua thì nhảy ra vồ và ngoạm vào gáy.
Mèo rừng ăn chuột, sóc, chim, lưỡng cư và các loại côn trùng (cào cào, châu chấu). Thức ăn ưa thích là chuột nên rất có ích cho sản xuất nông lâm nghiệp. (Dân Việt 26/3, Ngọc Phạm) đầu trang(
Ngày 24-3 tại Hà Nội, Bộ NN-PTNT và Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã đồng chủ trì hội nghị “Phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững sau 5 năm triển khai”.
Các đại biểu đã thống nhất cao với nhận định, chi trả dịch vụ môi trường rừng là xu hướng tất yếu để khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng, tăng cường năng lực thích ứng biến đổi khí hậu.
Đến nay, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã triển khai được 5 năm, bình quân mỗi năm thu tiền dịch vụ môi trường rừng khoảng 1.300 tỷ đồng. Số tiền chi trả cho các chủ rừng trong giai đoạn 2011 - 2015 là 5.024 tỷ đồng để các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức quản lý, bảo vệ 5,87 triệu hécta rừng, chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc.
Nhờ xã hội hóa, diện tích rừng bị thiệt hại đã giảm từ 58,2% (giai đoạn 2006 - 2010) xuống còn 32,9% (giai đoạn 2011 - 2016). Hiện cả nước có hơn 500.000 hộ gia đình, cộng đồng nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng qua hình thức trả trực tiếp và chi trả qua nhận khoán.
Số tiền này sẽ tiếp tục tăng thêm khi Nghị định của Chính phủ về sửa đổi bổ sung các bên cung ứng, sử dụng dịch vụ môi trường rừng được áp dụng. Tại hội nghị, các đại biểu đã kiến nghị Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội sớm trình Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi. (Sài Gòn Giải Phóng 25/3, Phúc Văn; Bnews 24/3, Thành Trung; Kinh tế & Đô thị 24/3) đầu trang(
Từ thú rừng thông thường đến các loài quý hiếm nằm trong sách đỏ, khi qua tay cơ sở chuyên lột da này đã “biến” thành những con thú nhồi bông bắt mắt. Điều kỳ quặc là cơ sở này hoạt động ngay cạnh một trạm kiểm lâm nhưng không bị phát giác.
Những ngày giữa tháng 3, tôi có dịp theo chân Đ. (25 tuổi, trú tại huyện Hướng Hóa, Quảng Trị)- một người mê chơi thú rừng nhồi bông- tiếp cận một cơ sở chuyên lột da, nhồi bông thú rừng. Quá bất ngờ vì bên trong cơ sở trá hình này, chưng bày rất nhiều động vật quý hiếm, cấm săn bắt, tàng trữ.
Cơ sở chuyên lột da, nhồi bông thú rừng trên nằm ở xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa. Trước lúc đến đây, Đ. có giới thiệu qua về cơ sở này, rằng bất kể con gì từ 0 chân đến 4 chân, ông chủ L. đều lột da, nhồi bông được và đảm bảo rất chất lượng. Rằng ở huyện Hướng Hóa đây là cơ sở duy nhất lột da thú rừng uy tín, rẻ và tồn tại nhiều năm nay.
“Từ trăn, rắn cho đến chồn, hươu, voọc, khỉ… cơ sở này đều lột da, nhồi bông được tất, giá cả dao động từ 300- 1000000 đồng/con. Muốn đặt thú rừng đã nhồi bông thì đến cơ sở này, ông L. sẽ thu xếp nếu có thể”, Đ nói.
Trong cơ sở của ông L. chưng rất nhiều thú rừng đã được lột da, nhồi bông. Đáng nói là, ngay cả những động vật thuộc loại quý hiếm như: Voọc chà vá chân nâu, mang, chồn hương, mèo rừng… cũng được ông L. nhận làm cho khách. Ông L. giải thích giá cả để lột da, nhồi bông một con thú rừng còn tươi tùy thuộc vào cân nặng và chủng loại. Ví như loài mang rừng, tùy theo cân nặng sẽ được nhận thuộc với giá từ 600- 1000000 đồng/con; chồn, mèo rừng từ 300- 500 ngàn/con; trăn, rắn từ 400- 800 ngàn/con…
Thời gian để hoàn thành một thú rừng đã nhồi bông khoảng từ 1- 4 tháng, tùy theo kích cỡ và độ khó trong quá trình “giải phẩu”. Ông L. Cho biết thêm, ở huyện Hướng Hóa chỉ có gia đình ông làm nghề này. Ngoài ra, có một số cơ sở hành nghề này ở các huyện miền xuôi Quảng Trị. Hôm đó, ông L. giao cho Đ. một bao gai chứa 1 con mang, 2 con chồn và 1 con mèo rừng (số thú rừng này Đ. mang đến) đã lột da, nhồi bông với giá một triệu rưỡi, không thêm bớt.
Theo Đ., loại thú rừng mang đi lột da, nhồi bông thường trong tình trạng bị thương, chết do mắc bẫy và quá trình vận chuyển. Loại thú như vậy được các thương lái, thợ săn bán với giá rất rẻ so với lúc chúng còn sống. Đ. thường mua thú rừng mang đi lột da, nhồi bông từ các thương lái đường rừng và những thợ săn thú trên đỉnh Trường Sơn.
“Đa số những người mang động vật rừng đi lột da, nhồi bông đều đem về chưng cất ở nhà hoặc biếu xén, chứ không bày bán. Từ khâu mua động vật rừng cho đến lúc mang đến cơ sở này đều phải kín đáo, không thì sẽ bị lực lượng chức năng tịch thu, xử phạt. Đối với những động vật quý hiếm nếu bị lộ thì vào tù “bốc lịch” như chơi”, Đ. nói một cách từng trải.
Điều làm chúng tôi băn khoăn là cơ sở chuyên lột da, nhồi bông động vật  rừng này lại nằm cách Trạm kiểm lâm Hướng Tân, huyện Hướng Hóa khoảng... 70 mét. Qua tiếp xúc, nhiều người dân tỏ ra bức xúc đặt câu hỏi liệu có sự tiếp tay của cán bộ kiểm lâm trong việc này hay không? Nếu không có thì tại sao cơ sở này lại tồn tại, hoạt động ngay sát nách trạm kiểm lâm lâu nay nhưng không bị phát hiện?
Chúng tôi mang theo những câu hỏi của người dân để đặt lên bàn làm việc của ông Võ Văn Sử, Trưởng Hạt Kiểm lâm Hướng Hoá. Ông Sử cho hay, trên địa bàn hiện không có tình trạng này, trước kia thì có nghe anh em báo cáo có một người nhận làm thuê việc này (tức lột da, nhồi bông thú rừng), nhưng do không có nguồn hàng, nên đã nghỉ nghề hơn 3 năm nay.
Sau khi tiếp nhận thông tin phản ánh từ chúng tôi, ông Sử nói: “Trước tình hình này, tôi sẽ yêu cầu đơn vị tăng cường kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện những hành vi tàng trữ, mua bán động vật trái phép chúng tôi sẽ kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Còn nếu phát hiện có tình trạng tiếp tay, sẽ xử lý kỷ luật ngay”. (Phụ Nữ News 24/3, Đ.Ng) đầu trang(
Ngày 26/3, Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Quỳ Châu đã phát hiện bắt quả tang đối tượng Lữ Văn Mười, thường trú bản Lằm, xã Tri Lễ (huyện Quế Phong) vận chuyển 40 con dúi không rõ nguồn gốc.
Theo đó, khoảng 6h  ngà 26-3, tại Km 81 Quốc lộ 48 đoạn qua xã Châu Hội (huyện Quỳ Châu), trong khi thực hiện nhiệm vụ tổ tuần tra Công an Huyện Quỳ Châu phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô mang BKS: 37F1-10959 có dấu hiệu khả nghi. Qua kiểm tra tổ công bắt quả tang anh này vận chuyển 40 cá thể dúi còn sống buộc phía sau xe mô tô và bọc kín bằng bì tải. Tổng trọng lượng của số dúi nói trên là 25 kg.
Người vận chuyển số động vật nói trên được xác định là ông Lữ Văn Mười, trú bản Lằm, xã Tri Lễ  (Quế Phong). Tổ công tác yêu cầu xuất trình các loại giấy tờ liên quan nhưng ông Mười không chứng minh được các giấy tờ hợp lệ. Ông này khai nhận đã mua số dúi này của người dân ở bản Lằm, Tri Lễ với giá 150.000/kg và chở về huyện Nghĩa Đàn tiêu thụ.
Hiện, 40 cá thể dúi đã được bàn giao cho lực lượng kiểm lâm địa phương xử lý, lực lượng chức năng tiếp tục điều tra làm rõ theo quy định. (Báo Nghệ An 26/3, Lê Kiên - Đức Lập) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án "Phòng, chống buôn bán trái pháp luật các loài động, thực vật hoang dã" do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) viện trợ không hoàn lại
Dự án nhằm góp phần hỗ trợ Việt Nam ngăn chặn, tiến đến chấm dứt các hoạt động buôn bán trái pháp luật động vật, thực vật hoang dã.
Dự án gồm 3 hợp phần, trong đó hợp phần 1 phát hiện các lỗ hổng về chính sách và pháp luật; đề xuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi được thông qua bởi các cơ quan thẩm quyền và đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung; thực thi được luật, chính sách mới hoặc hoặc đã được sửa đổi.
Với hợp phần 2, các đơn vị thực thi pháp luật có đủ quyền hạn và cơ sở pháp lý để thực thi pháp luật, cấp quản lý có thể tin tưởng và trao quyền cho các cán bộ thực thi; các cơ chế hỗ trợ sẵn sàng để phục vụ công tác đào tạo và rèn luyện các kỹ năng thực thi pháp luật về động vật hoang dã; có đủ nguồn lực để thực thi có hiệu quả pháp luật về động vật hoang dã; các cán bộ học được và duy trì những kỹ năng trọng tâm và thực hiện hiệu quả công tác thực thi pháp luật trọng tâm.
Còn với hợp phần 3, người mua và sử dụng sản phẩm từ động, thực phẩm hoang dã trái pháp luật nhận được thông điệp từ Dự án, thay đổi quan điểm so với trước Dự án về những loài động vật hoang dã nguy cấp và sản phẩm từ chúng; số lượng người mua và sử dụng sản phẩm từ các động vật hoang dã nguy cấp giảm; rào cản thay đổi hành vi được dỡ bỏ, những yếu tố tạo thay đổi được thực hiện; giảm mua bán động vật hoang dã trọng yếu và sản phẩm từ chúng; tạo dựng sự ủng hộ cho chiến dịch giảm cầu.
Dự án được thực hiện từ năm 2017 - 2021 trên phạm vi cả nước, trong đó vốn ODA không hoàn lại của Chính phủ Hoa Kỳ (USAID) khoảng 10 triệu USD, tương đương 222,5 tỷ đồng Việt Nam; nguồn vốn đối ứng trong nước là 11,125 tỷ đồng Việt Nam chi cho các hoạt động của Dự án dựa trên thỏa thuận Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và nhà tài trợ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cân đối trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ theo quy định của pháp luật hiện hành. (Bảo Vệ Pháp Luật 17/3, Minh Triết) đầu trang(
Người dân Đà Nẵng, các chuyên gia kinh tế môi trường, nhiều bài báo và cả trang thông tin quochoi.org… đã có bài viết và ý kiến lo ngại về môi trường bán đảo Sơn Trà
“Chiều chiều mây phủ Sơn Chà/ Lòng ta thương nhớ bạn nước mắt và lộn cơm (Sấm giăng núi Chúa trời đà chuyển mưa)”… Có đến trên 30% số câu tục ngữ về thời tiết Quảng Nam - Đà Nẵng liên quan đến Sơn Trà (hay Sơn Chà). Chỉ riêng điều đó thôi, ngọn núi - bán đảo này đã gắn liền với người dân Đà Nẵng từ biết bao đời, như một gia sản.
Cùng với hệ thống núi non của Hải Vân ở phía Bắc, bán đảo Sơn Trà ở phía Nam vây lại thành hình cánh cung tạo nên một vịnh biển mang tên Vũng Sơn Trà hay còn gọi bằng nhiều tên khác khá quen thuộc như vũng Tiên Sa, vũng Thùng, vũng Hàn, vịnh Ðà Nẵng. Vì vị trí như vậy nên Sơn Trà tựa một tấm bia che chắn mọi cơn bão hay áp thấp nhiệt đới đổ bộ TP Đà Nẵng
Sơn Trà có gần 4.000 ha rừng trong tổng diện tích trên 4.439 ha, đất chưa có rừng chỉ khoảng 750 ha, là nơi giao lưu giữa 2 hệ động vật và thực vật tiêu biểu của 2 miền Nam - Bắc. Núi Sơn Trà cao đến gần 700 m, xưa nay được xem như đài khí tượng thiên nhiên của người dân quanh vùng, cung cấp một phần nước ngọt cho phía Đông TP.
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) quốc gia này vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới nguyên sinh đa dạng với tổng số 298 loài thực vật cao thuộc 271 chi, 90 họ, 64 loại gỗ lớn, 107 cây thuốc quý và nhiều giống lan rừng.
Sơn Trà còn nổi tiếng là nơi có thảm thực vật và nguồn gien thực vật nhiệt đới đa dạng, phong phú với số lượng cá thể lớn, có khả năng cung cấp giống cây bản địa phục vụ trồng rừng như: chò chai, dẻ cau, dầu lá bóng…
Sơn Trà có hơn 100 loài động vật với hàng chục loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ cần bảo tồn của thế giới như gà tiền mặt đỏ, trăn gấm, thủy sinh… Trong đó, voọc chà vá và khỉ mặt đỏ được xem là loài thú đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ. Tại đây còn có hơn 400 con voọc chà vá chân nâu được mệnh danh là “nữ hoàng của loài linh trưởng” cùng với rất nhiều khỉ, như khỉ đuôi dài, khỉ vàng...
Sơn Trà nguyên thủy là một hòn đảo gồm 3 ngọn núi nhô cao: Hòn Nghê, Mỏ Diều và Cổ Ngựa. Lê Quý Đôn từng chép trong “Phủ Biên tạp lục”: “Phía Đông liền biển, có một quả núi gọi là Sơn Trà, tục gọi là Hòn Nghê. Tương truyền trên núi có ngọc, đêm đêm ngọc chiếu sáng xuống biển. Chuyện dân gian nói các nàng tiên thường xuống để tắm, chơi đùa nên cũng gọi là núi Tiên Sa”.
Bác sĩ Sallet, người Pháp, hồi đầu thế kỷ XX đã mô tả: “Loài nai thường xuất hiện, có cả heo rừng và khỉ. Những người châu Âu trong thành phố gọi chúng với cái tên khỉ Tiên Chà. Người ta còn gặp loài khỉ này trên mũi núi cao nhô ra biển…”.
Dần dần, nước biển mang phù sa bồi đắp nối từ đất liền ra đảo và tạo nên một bán đảo Sơn Trà như ngày nay. Xung quanh Sơn Trà có những bãi tắm đẹp và hoang sơ như Tiên Sa, Bãi Rạng, Bãi Bắc, Bãi Bụt, Bãi Nam, Bãi Nồm, Bãi Xếp, Bãi Con, suối Đá, suối Tiên…
Ngoài những ghi chép của Lê Quý Đôn và Sallet, Sơn Trà còn ghi đậm dấu ấn của những chiến hạm Mỹ lần đầu tiên đến Việt Nam vào nửa thế kỷ XVIII, các cuộc chiến tranh đẫm máu với liên quân Pháp - Y Pha Nho (Tây Ban Nha) thời kỳ 1858-1860 mà ngày nay vẫn còn lại di tích “đồi hài cốt” của những người lính viễn chinh xấu số. Từ năm 1965, quân đội Mỹ khi đến Việt Nam đã xây dựng một sân bay trực thăng trên độ cao 500 m, một bệnh viện dã chiến, đài radar, đài khí tượng và các doanh trại trên đỉnh Sơn Trà…
Tất cả dấu tích của một thời Đà Nẵng mang danh là căn cứ liên hợp quân sự lớn thứ 2 ở miền Nam trong chiến tranh, trong đó đặc biệt là một đài quan sát radar có thể khống chế cả một vùng biển Đông rộng lớn, có ý nghĩa quan trọng về mặt quân sự. Sơn Trà luôn giữ một vị trí quan trọng về quân sự ở Đông Dương và biển Đông mà tất cả các nhà chiến lược quân sự liên quan trên thế giới cũng như nước ta hết sức lưu ý.
Với những đặc thù về tự nhiên, Sơn Trà đã được công nhận là 1 trong 8 khu BTTN, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu lâm sinh và bảo vệ nguồn gien động - thực vật đã được bảo vệ trên cả nước.
Tháng 6-2010, TP Đà Nẵng đã phê duyệt đề án “Bảo tồn đa dạng sinh học Khu BTTN Sơn Trà” với tổng kinh phí thực hiện là 40 tỉ đồng. Mục tiêu của đề án là bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học quan trọng, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan và cộng đồng địa phương trong việc quản lý, bảo vệ, phục hồi những hệ sinh thái trong vùng; sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học ở Sơn Trà.
Trước đó, UBND TP Đà Nẵng cũng ban hành quy định về việc thả phao bảo vệ rạn san hô và các hệ sinh thái biển khu vực bán đảo Sơn Trà tại 5 khu vực Bãi Bụt, Bãi Nồm, Hòn Sụp, Hục Lỡ - Vũng Đá, Bãi Bắc.
Tuy nhiên, ngày 13-8-2010, UBND TP Đà Nẵng có văn bản đồng ý chủ trương thuê Công ty Pentago Group (Úc) tư vấn quy hoạch thiết kế tổng mặt bằng bán đảo Sơn Trà theo đề nghị của Sở Xây dựng TP với diện tích khoảng 4.300 ha. Dự án bao gồm những giải pháp quy hoạch đối với các dự án hiện có, dịch vụ mới đề xuất, các khu BTTN (rừng, hệ sinh thái biển), hệ thống hạ tầng kỹ thuật…
Quy hoạch này còn có các hạng mục như: Khu liên kết căn hộ dân cư, liên kết khách sạn, nhà nghỉ để phù hợp với nhu cầu trên thị trường, trung tâm thương mại, khu nghỉ mát giải trí, nhà ở, khu thể thao và giải trí, các khu công viên và khu vực cây xanh, hệ thống giao thông, các khu vực an ninh và tòa nhà công cộng, xây dựng khu vực du thuyền cùng những khu thương mại, du lịch, vui chơi giải trí...
Nhìn vào danh sách các hạng mục quy hoạch, thiết kế đậm chất thương mại mà Pentago Group đưa ra lúc đó, nhiều người không khỏi lo lắng. Bởi lẽ, những khía cạnh quan trọng về bảo về rừng, nguồn gien động - thực vật… đều bị xem nhẹ.
Việc chính quyền TP Đà Nẵng sau đó đồng ý cho phát triển du lịch và xây dựng quanh Sơn Trà từ độ cao 100 m mà các cơ quan tư vấn đề nghị lên độ cao 200 m từ mực nước biển thêm một lần nữa gây lo lắng cho các nhà nghiên cứu, bảo vệ môi trường và người dân. Rất tiếc, mọi tiếng nói yếu ớt đã không được lắng nghe.
Mới đây, tại hội nghị tổng kết công tác ngành du lịch năm 2016, triển khai kế hoạch năm 2017 diễn ra tại Đà Nẵng sáng 15-2, ông Hà Văn Siêu, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, đã công bố quy hoạch tổng thể khu du lịch bán đảo Sơn Trà được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Đọc đi đọc lại Quyết định 2163 ngày 9-11-2016 này, chúng tôi mới thấy những vấn đề về môi trường, nghiên cứu lâm sinh và bảo vệ các nguồn gien quý hiếm tiếp tục bị xem nhẹ trong một đoạn văn ngắn: “Tăng cường đầu tư cho công tác bảo vệ, phát triển tài nguyên tự nhiên; bảo vệ và phát triển nguồn gien bản địa tại vườn thực vật, khu cứu hộ động vật và vườn thú bán hoang dã, các điểm san hô”.
Tiếp đó, ngày 15-3, trong lúc dư luận đang xôn xao về việc Công ty Du lịch Biển Tiên Sa bạt 30 ha rừng, xây dựng trái phép 40 trụ móng cạnh căn cứ Hải quân Vùng 3 thì chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đã ký thêm quyết định quy hoạch các phân khu thuộc toàn bộ khu Đông và bán đảo Sơn Trà. Theo quyết định này, việc bảo vệ “lá phổi xanh”, các nguồn đa dạng sinh học vẫn không được chú trọng.
Người dân Đà Nẵng, những trang mạng xã hội, các chuyên gia kinh tế môi trường, nhiều bài báo và cả trang thông tin quochoi.org đã có các bài viết và ý kiến lo ngại, tạo ra một không khí đầy lo lắng về môi trường bán đảo Sơn Trà.
Trao đổi với chúng tôi về Sơn Trà khi đến làm việc với Viện Quy hoạch TP Đà Nẵng mới đây, TS Dan Ringelstein - từng học tại ĐH Harvard, MIT; hiện là người đứng đầu bộ phận quy hoạch và thiết kế đô thị châu Âu của Công ty Quy hoạch - Kiến trúc Skidmore Owing & Merill - tỏ ra quan ngại: “Tôi cho rằng các bạn đã xây dựng quá nhiều resort, nhà hàng ở các sườn núi Sơn Trà. Đó là một vị trí hết sức nhạy cảm. Tại sao ở đó không xây dựng một trường ĐH gần KCN thủy sản? Tại sao không xây dựng một công viên quốc gia kết hợp với du lịch sinh thái? Đà Nẵng còn nhiều nơi có thể khai thác trước khi nghĩ đến Sơn Trà. Cần coi Sơn Trà như một gia sản với khả năng bảo tồn động vật quý hiếm và nghiên cứu lâm sinh...”. (Người Lao Động 25/3, Trương Điện Thắng) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 24/3 tại Hà Nội, Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tổ chức Hội nghị Phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững.
Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, sau hơn 8 năm tổ chức huy động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (2008-2016) gắn với 6 năm triển khai thực hiện Nghị định số 99/2010-NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), các chính sách đã từng bước lan tỏa, tạo ra nguồn tài chính mới, ổn định, bền vững cho bảo vệ và phát triển rừng.
Đồng thời, gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người dân làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng miền núi.
Đến nay, toàn quốc đã có 42 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ Trung ương đến địa phương, huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2011-2016 đạt hơn 6.510 tỷ đồng, bình quân trên 1.200 tỷ đồng/năm. Tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần quản lý, bảo vệ 5,8 triệu ha rừng, chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc, góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý, bảo vệ rừng.
Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, tiềm năng từ dịch vụ môi trường rừng còn rất lớn. Trong thời gian tới, cần tính toán cụ thể để khai thác hiệu quả, không chỉ từ thủy điện, nước sạch, du lịch mà còn từ các loại dịch vụ môi trường rừng khai thác từ cơ sở công nghiệp có sử dụng nước mặt, cơ sở thủy sản có sử dụng nước từ rừng. Đồng thời, huy động các nguồn lực trong nước, quốc tế nhằm bảo vệ, phát triển rừng tốt nhất, nâng cao giá trị và kinh tế rừng.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, tính đến 30/12/2016, tổng thu tiền dịch vụ môi trường rừng toàn quốc đạt 6.510,7 tỷ đồng.
Dù vậy, theo Bộ NN&PTNT, trong quá trình tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và thực hiện Chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn còn khá nhiều tồn tại. Trong đó, thu tiền dịch vụ môi trường rừng vẫn còn thấp so với tiềm năng do các DVMTR đã thực hiện với các đối tượng là thủy điện, nước sạch và du lịch.
Các đối tượng khác như cơ sở công nghiệp có sử dụng nước mặt, nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước từ rừng và dịch vụ hấp thu các bon chưa được thực hiện. Một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trả tiền dịch vụ môi trường rừng hoặc trả chậm dẫn đến nợ đọng nhiều. Hàng năm, tiền nợ của các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên dưới 50 tỷ đồng gây ảnh hưởng đến kế hoạch thu, chi và kế hoạch quản lý bảo vệ rừng của các tỉnh.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận và đưa ra nhiều kiến nghị thiết thực. Trong đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 05/2008/NĐ-CP quy định địa vị pháp lý của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; đề xuất chính sách tăng mức thu tiền DVMTR tiệm cận với giá trị DVMT do rừng tạo ra để tăng nguồn thu từ DVMTR. Thí điểm và ban hành chính sách thu DVMTR từ các loại hình dịch vụ nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước từ rừng và dịch vụ hấp thu các bon rừng.
Bên cạnh đó, kiến nghị Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) với các Điều về các loại dịch vụ môi trường rừng, nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng,… Kiến nghị Chính phủ giao Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 05 trong năm 2018.
Đối với các địa phương, tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định 147 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99 cho các bên cung ứng, bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng và đối tượng liên quan.
Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành đảm bảo thu đúng, thu đủ các loại dịch vụ đã quy định đối tượng thu, mức thu; kiện toàn tổ chức bộ máy Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Kịp thời xử lý, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh ở địa phương; tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, chế độ và nguồn lực để Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng phát huy hiệu quả. (Đảng Cộng Sản VN 24/3, BT) đầu trang(
Theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên có 2.266ha cây mắcca, chiếm hơn 64% diện tích cây mắcca của cả nước. Sản lượng quả tươi thu hái được trong năm 2016 là 246 tấn, chiếm gần 91,5% sản lượng của cả nước.
Diện tích cây mắcca tập trung chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng chiếm 44,04%, Đắk Nông chiếm 35,30%, kế đến là tỉnh Đắk Lắk…
Mắcca là loại cây mới được đưa vào trồng thử nghiệm ở Tây Nguyên, bước đầu cho thấy cây có thể sinh trưởng phát triển được ở một số vùng sinh thái, nhất là những vùng có khí hậu lạnh. Sau 5 đến 7 năm trồng, cây mắcca đã cho năng suất, nên có triển vọng phát triển trên địa bàn Tây Nguyên.
Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, đây là loài cây mới nên cần phải đánh giá kỹ trước khi phổ biến rộng rãi. Công tác chọn giống, quy hoạch vùng trồng cho cây mắcca cần gắn với các cơ sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo sản xuất có hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cho người trồng.
Thực tế, tại một số vùng như Krông Năng (Đắk Lắk), Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà (Lâm Đồng), đồng bào đã trồng xen mắcca trong vườn càphê, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, vừa tăng thêm thu nhập cho người trồng và cải tạo môi trường sinh thái trong các lô càphê.
Gia đình anh Nguyễn Đình Thu, thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng (Đắk Lắk) trồng 100 cây mắcca. Vườn cây 10 năm tuổi đã cho thu hoạch hơn 3 năm, mỗi năm hàng trăm triệu đồng. Riêng năm 2016, gia đình anh thu được 1,8 tấn quả, sau khi trừ chi phí còn thu được 300 triệu đồng.
Anh Thu hồ hởi cho biết cây mắcca dễ trồng, ít công chăm sóc, nhất là ít đầu tư nhưng lãi cao hơn nhiều so với cây càphê.
Tiến sỹ Trần Vinh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên khuyến cáo mắcca là một loại cây trồng mới, cần phải có thêm nhiều nghiên cứu về đất đai, khí hậu, kỹ thuật, giống... nên người dân không nên trồng ồ ạt dễ gây ra nhiều hệ lụy.
Hiện nay, Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên đã có 4 dòng mắcca gồm 246, 816, OC, 849 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận. Đây là những giống mắcca cho năng suất cao, kháng nhiều sâu bệnh hại... Thế nhưng, do chạy theo phong trào, nhiều đồng bào bất chấp khuyến cáo của các đơn vị chức năng ồ ạt mở rộng diện tích, đưa cây mắcca vào trồng ở những vùng đất, khí hậu không thích hợp.
Nghiêm trọng hơn, có hộ sử dụng các loại giống không rõ nguồn gốc, giống kém chất lượng nên cây phát triển nhưng không có cho quả, hoặc tỷ lệ đậu quả rất thấp.
Theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ nay đến năm 2020, tổng diện tích trồng cây mắcca tại các tỉnh Tây Nguyên là 6.490ha, trong đó trồng thuần chỉ có 550ha, diện tích còn lại 5.940ha trồng xen trong các vườn càphê, chè, gắn với xây dựng 6 cơ sở chế biến, với công suất từ 100 đến 200 tấn/năm/cơ sở. (Vietnamplus 26/3, Quang Huy) đầu trang(
Chuẩn bị cho vụ trồng rừng 2017, toàn tỉnh đã thiết kế được gần 4.000ha rừng sản xuất, đạt 104% kế hoạch đề ra.
Tính đến thời điểm này, tổng diện tích thiết kế trồng rừng của năm 2017 đạt hơn 4ha, trong đó: Thiết kế trồng rừng phòng hộ là hơn 66% đạt 110% kế hoạch; Thiết kế trồng rừng sản xuất là gần 4.000ha đạt 104% kế hoạch.
Diện tích đăng ký trồng cây phân tán cũng đạt hơn 1.100ha, đạt 96,7%. Đến thời điểm này, người dân cơ bản toàn tỉnh đã đạt được chỉ tiêu diện tích hơn 6.400ha theo kế hoạch. Đây có thể xem là một sự cố gắng nỗ lực rất lớn của các địa phương và người dân, bởi trong năm 2017, những thay đổi trong chính sách hỗ trợ cộng với diện tích đất trống bị thu hẹp đã khiến việc đăng ký diện tích của nhiều địa phương gặp khó.
Cũng theo báo cáo của ngành kiểm lâm, hiện người dân đã xử thực bì đươc gần 1.500ha; Toàn tỉnh  đã gieo ươm hơn 13,2 triệu cây giống, đảm bảo nhu cầu trồng rừng của người dân trên địa bàn. (Đài PTTH Bắc Kạn 24/3, Công Luận) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa phê duyệt Đề án "Quy hoạch chuyển đổi cây trồng rừng phục vụ Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp". Theo đó, sẽ bổ sung thêm 30 nguồn giống tại 8 vùng sinh thái lâm nghiệp với tổng diện tích 2.230 ha cho 23 loài.
Mục tiêu của dự án định hướng cho các địa phương xác định loài cây chủ lực để trồng rừng sản xuất, đẩy mạnh việc tái cơ cấu ngành lâm nghiệp trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.
Bộ NN&PTNT đưa ra các giải pháp thực hiện gồm rà soát quy hoạch lại hệ thống rừng giống, vườn giống; bổ sung thêm 30 nguồn giống tại 8 vùng sinh thái lâm nghiệp với tổng diện tích 2.230 ha cho 23 loài. Bên cạnh đó, đánh giá, lựa chọn, lập danh mục cơ cấu loài và giống cây trồng lâm nghiệp có năng suất cao, phù hợp với từng điều kiện lập địa, đáp ứng được yêu cầu của thị trường để đưa vào trồng rừng.
Đồng thời, nghiên cứu chọn tạo giống mới, khảo nghiệm các giống cây trồng lâm nghiệp đã được công nhận theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng đáp ứng yêu cầu kinh doanh gỗ lớn và thúc đẩy hoạt động chuyển giao các giống mới vào sản xuất.
Ngoài ra, xây dựng mới các trung tâm giống công nghệ cao có công suất từ 10 triệu cây mô/năm tại các tỉnh có diện tích trồng rừng gỗ keo, bạch đàn trên 10.000 ha gồm: Hòa Bình, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lạng Sơn, Quảng Ninh... Xây dựng các trung tâm giống công nghệ cao có công suất 5 triệu cây mô/năm tại các tỉnh có diện tích trồng rừng gỗ keo, bạch đàn trên 5.000 ha gồm: Đắk Lắk, Bình Phước, Cà Mau.
Đề án cũng cơ cấu lại các sản phẩm gỗ có lợi thế và mang lại giá trị cao; từng bước giảm dần xuất khẩu dăm, mảnh, đến năm 2020 còn khoảng 3 triệu tấn và giảm dần đến năm 2030; xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa người trồng rừng với doanh nghiệp chế biến gỗ; tăng cường quảng bá sản phẩm gỗ nội địa, đồng thời xây dựng và phát triển các kênh phân phối gỗ trên thị trường nội địa.
Theo Bộ NN&PTNT, các địa phương tiếp tục gieo ươm, chăm sóc cây giống để phục vụ trồng cây phân tán và trồng rừng tập trung theo kế hoạch 2017. Một số tỉnh miền Bắc đã bắt đầu tiến hành trồng rừng tập trung.
Trong 2 tháng đầu năm, các tỉnh miền Bắc đã tiến hành trồng được 4.860 ha, tăng 102,2% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh trồng rừng tập trung, các địa phương miền Bắc đã phát động tết trồng cây đầu xuân 2017.
Ngoài ra, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống phục vụ cho công tác trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán. Các tỉnh miền Nam hầu như chưa tiến hành trồng rừng tập trung mà chỉ trồng dặm lại những cây bị chết và tiến hành gieo ươm cây giống để phục vụ cho kế hoạch trồng cây phân tán năm 2017.
Theo số liệu Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) ước tính hết tháng 2/2017, cả nước trồng được 10,7 triệu cây lâm nghiệp phân tán, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, cả nước có 47 ha rừng bị phá, giảm 41,3% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị phá tập trung chủ yếu tại Tây Nguyên như Lâm Đồng, Đắk Nông. (Chính Phủ 24/3, Đỗ Hương) đầu trang(
Khi mẹ trái đất đem đến cho ta cuộc sống, người cũng đồng thời hào phóng tặng ta những món quà. Và trong số đó, cây xanh chắc chắn là một trong những món quà lớn nhất và ý nghĩa nhất. Cây mang đến cho chúng ta quần áo, thức ăn, những ngôi nhà, nước sạch và cả oxy để thở. Có bao giờ bạn tự hỏi mỗi con người đang sống đây cần bao nhiêu cây xanh để thở?
Thống kê cho thấy trung bình mỗi người hít thở 16 lần mỗi phút, mỗi lần hấp thụ 0,5 lít không khí, nếu nhân lên, mỗi con người mỗi năm đều hấp thụ 4200 mét khối không khí. Tuy nhiên, vì để duy trì sự sống đó, con người cần nhiều hơn thế, thứ chúng ta cần chỉ là 23% oxy trong hàm lượng không khí, 23% tương đương 1,145 tấn oxy cho mỗi người.
Và để bảo đảm sự sống cho 7,5 tỷ người đang sinh sống trên hành tinh này, chúng ta cần 562 tỷ cây xanh (1). Chỉ duy với việc hít thở, con người đã chiếm một phần năm lượng cây xanh trên trái đất này.
Tuy nhiên, con người đâu chỉ để sống để hít thở, và cây xanh cũng đâu chỉ tồn tại để cung cấp oxy cho con người. Con người sống, làm việc, vui chơi, sinh hoạt và tất cả những hành động đó đều cần đến năng lượng, đều sản sinh ra CO2.
Và chúng ta cần cây xanh để hấp thụ lượng CO2 đó. Hãy làm một phép tính đơn giản với tất cả đồ dùng tiêu hao năng lượng trong gia đình bạn, chúng ta sẽ có một đáp án khổng lồ rằng mỗi gia đình trung bình ngoài việc hít thở lại còn tạo ra 5 tấn CO2 và bao nhiêu mới đủ để hấp thụ một lượng khống lồ đó (2). Câu trả lời đó là một héc ta rừng.
Thế nhưng nạn phá rừng hàng năm chặt đi 15 tỷ cây xanh. Dù có giảm nạn phá rừng đi 50% thì mỗi năm cũng cần trồng mới ít nhất 7,5 tỷ cây (3). Tức là hằng năm mỗi người chúng ta phải trồng được ít nhất một cây.
Ngày 25 tháng 3, Aeon sẽ thực hiện chiến dịch tắt đèn và giảm thiểu tiêu thụ năng lượng như là một hành động hưởng ứng “Giờ Trái Đất”. Với việc giảm lượng điện tiêu thụ, giảm lượng đèn chiếu sáng cũng như hạn chế đèn bảng hiệu và máy lạnh trong khu văn phòng, Aeon mong muốn bằng hành động cụ thể, thiết thực để bảo vệ môi trường xanh trên toàn cầu, cùng nhân loại gửi tín hiệu xanh đến tương lai.
Tháng ba đang đi về những ngày cuối, cả thế giới đang cần sự góp sức của bạn để hoàn thiện cho chiến dịch “Giờ Trái Đất” thêm toàn vẹn. Và hãy đến với Aeon để cùng mọi người kết nối, học những bài học về môi trường và tham gia những hoạt động thiết thực để bảo vệ cuộc sống của mình.
Từ ngày 23-25/3/2017, để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, Aeon sẽ tặng túi môi trường cho những hóa đơn trên 500 nghìn đồng, nhằm khuyến khích giảm thiểu sử dụng túi nilon. Không những thế, tất cả khách hàng đều có thể nhận được bộ hình dán nhắc nhở tiết kiệm điện, bảo vệ môi trường khi tham quan mua sắm tại Aeon.
Bên cạnh đó, Aeon luôn luôn có những mặt hàng thân thiện với môi trường và cung cấp những giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả. Hãy để Aeon trở thành lựa chọn tối ưu nhất cho những giải pháp bảo vệ cuộc sống xanh của bạn. (Dân Trí 24/3) đầu trang(
Để có căn cứ đền bù giải phóng mặt bằng dự án KCN Phú Mỹ II và III (huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu), Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Tân Thành (Ban BTGPMB huyện Tân Thành) đã tiến hành kiểm kê đất và tài sản trên đất của người dân.
Thế nhưng, trong những bản kiểm kê này lại thể hiện nhiều điều bất thường. Dư luận đang nghi vấn, đây có phải là những hợp đồng giao khoán khống để nhận tiền đền bù thời điểm giải phóng mặt bằng làm dự án KCN Phú Mỹ II và III hay không.
Theo hồ sơ vụ việc, ngày 10/6/2009, Ban Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng (BTGPMB) huyện Tân Thành tiếp tục lập các biên bản kiểm kê đất đai, nhà cửa, cây trái hoa màu và vật kiến trúc (dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng) đối với ba hộ nhận khoán là bà Ngô Thị Ngọc, ông Nguyễn Ngọc Tuấn và ông Trần Nam Anh. Theo đó, trong các biên bản kiểm kê có thể hiện hiện trạng phần đất chủ yếu là cây trái, hoa màu, ruộng muối cùng vật kiến trúc nhà cửa bờ bao của hộ bà Võ Thị Minh.
Theo hồ sơ hợp đồng giao khoán của ông Tuấn thì tháng 5/2008, ông được giao 5ha đất rừng trong đó có 2,5ha rừng đước bỏ từ năm 1995 với mật độ 3300 cây/ha (khoảng 8250 cây đước) và 2,5ha rừng chà là. Thế nhưng, tại biên bản kiểm kê đất đai nhà cửa cây hoa màu kiến trúc dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng ngày 16/6/2009, của Ban BTGPMB huyện Tân Thành thì hiện trạng ghi nhận, trên phần đất của ông Tuấn lại có nhiều thay đổi bất thường.
Cụ thể, cây trái hoa màu trên đất của ông Tuấn được ghi nhận chỉ còn lại 1895 cây đước, 23.650m2 ruộng muối, 3781m2 mặt nước nuôi tôm cá quản canh và hệ thống bờ bao chòi tạm vật kiến trúc của hộ bà Võ Thị Minh.
Tương tự như trường hợp của ông Tuấn, đối với các diện tích rừng của hộ bà Ngọc và ông Nam Anh, khi Ban BTGPMB huyện Tân Thành kiểm kê thì đều có sự bất thường tương tự như trên. Không hiểu vì lý do gì chỉ sau hơn một năm nhận khoán, những diện tích rừng phòng hộ của ba hộ này lại thâm hụt một cách khó hiểu như vậy?
Tiếp đến, trường hợp phần đất của ông Bùi Văn Riêm thì toàn bộ diện tích ruộng muối được ông cho biết là gia đình đã canh tác nhiều năm lại được ghi nhận trong biên bản kiểm kê có chủ hộ là bà Trần Thị Tý vào ngày 16/9/2009.
Theo đó, phần đất của gia đình ông Riêm là thuộc phần diện tích 4ha rừng nhận khoán của bà Tý đã được Ban quản lý rừng phòng hộ Bà Rịa- Vũng Tàu (BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu) bàn giao vào ngày 17/3/2008. Căn cứ biên bản kiêm kê thì gia đình ông Riêm chỉ được đề nghị hỗ trợ sản lượng muối và giá trị nền muối là gần 40 triệu đồng.
Điều lạ là, theo ghi nhận hồ sơ hợp đồng khoán của bà Tý thì ngày 17/3/2008, bà được giao 4ha đất rừng trong đó gồm 4ha rừng trồng năm 1998 với mật độ 3300 cây/ha. Thế nhưng, chỉ sau hơn một năm nhận khoán, không hiểu bằng cách nào một phần rừng của bà đã “biến hóa” thành ruộng muối của gia đình ông Riêm.
Còn đối với hợp đồng khoán của bà Nguyễn Thị Hằng, ngày 25/5/2009, Ban GPMB huyện Tân Thành đã lập biên bản kiểm kê đất đai, nhà cửa, cây trái hoa màu và vật kiến trúc (dự án KCN Phú Mỹ II mở rộng) đối với phần đất của bà Hằng.
Theo biên bản kiểm kê hiện trạng phần đất mà bà Hằng nhận khoán được ghi nhận gồm có 3194m2 mặt nước nuôi trồng tự nhiên, 31.727m2 ruộng muối gồm của hộ ông Ngô Trọng Hiếu đi cùng với đó còn phần bờ bao, nhà cửa, vật kiến trúc của ông Hiếu. Theo đó, diện tích 2,3 ha rừng mà bà Hằng nhận khoán từ năm 1995 cũng đã không còn xuất hiện.
Nhằm làm rõ những điều khó hiểu trong hợp đồng giao khoán rừng phòng hộ và biên bản kiểm kê của Ban BTGPMB huyện Tân Thành, phóng viên Pháp luật Plus đã liên hệ làm việc với BQL Rừng phòng hộ (RPH) Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi đề cập tới việc hiện trạng rừng giao cho các hộ trên có sự thay đổi bất thường, BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết, hiện các trường hợp này không biết có hay không, nhưng nếu có thì sẽ bị xử phạt bồi thường theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, do vụ việc trải qua nhiều thời kỳ biến động khác nhau nên BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cũng găp nhiều khó khăn trong việc việc thu thập hồ sơ. Vì vậy BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cũng cần thời gian để rà soát lại. Một vị lãnh đạo BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết: “Một hai năm nay, những cái nào đã bị thu hồi thì không quan tâm tới nữa mà chỉ quan tâm tới những cái mới, giờ lục lại đôi khi cũng khó khăn”.
Tiếp đó, phóng viên tiếp tục liên hệ làm việc với Hạt kiểm lâm huyện Tân Thành (HKL Tân Thành). Theo chia sẻ từ phía lãnh đạo HKL Tân Thành thì trách nhiệm của việc quản lý bảo vệ rừng là của BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu, còn HKL Tân Thành là cơ quan thừa hành pháp luật giúp UBND huyện Tân Thành thực hiện công tác bảo vệ rừng, trường hợp phát hiện người vi phạm thì tiến hành xử lý. Đối với các diện tích rừng đã được giao khoán mà rừng bị mất, bị phá thì chủ rừng phải chịu trách nhiệm.
Như vậy, liên tiếp các cánh rừng phòng hộ mà BQL RPH Bà Rịa - Vũng Tàu cùng với chính quyền địa phương giao khoán cho các hộ nhận khoán đã gần như "bốc hơi" chỉ sau ít thời gian nhận khoán. Điều này khiến dư luận hoài nghi về giá trị của những hợp đồng giao khoán trên. Có hay không việc lập hợp đồng giao khoán khống nhằm chiếm dụng đất của người dân, lấy tiền đền bù giải phóng mặt bằng tại dự án KCN Phú Mỹ?
Với những gì nêu trên, Pháp luật Plus đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thanh tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, UBND huyện Tân Thành vào cuộc xác minh làm rõ nguồn gốc đất tại những bản hợp đồng giao khoán “chồng lấn” lên đất của người dân địa phương đang canh tác. (Pháp Luật Plus 24/3, Nguyễn Hiếu – Kỳ Anh) đầu trang(
Tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ đã diễn ra trong nhiều năm liền, nhưng chính quyền địa phương, cơ quan chức năng vẫn chưa xử lý dứt điểm.
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu là khu rừng tự nhiên hiếm có còn lại của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với tính đa dạng sinh học cao. Về môi trường, đây là khu rừng nằm sát biển với lợi ích lớn trong chắn gió bão, đảm bảo bình yên cho cuộc sống của hàng chục nghìn người dân các xã ven biển huyện Xuyên Mộc.
Tuy nhiên, nhiều năm trở lại đây, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu bị tàn phá nghiêm trọng do người dân phá rừng lấy gỗ, tự ý lấn chiếm đất rừng để canh tác trồng trái phép các loại cây nông nghiệp. Điều đáng nói là tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ đã diễn ra trong nhiều năm liền, nhưng chính quyền địa phương, cơ quan chức năng của huyện, tỉnh vẫn chưa xử lý được dứt điểm.
Theo báo cáo của Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đơn vị này hiện quản lý bảo vệ là hơn 10.880 ha, nằm trên phạm vi hành chính của 5 xã, thị trấn thuộc huyện Xuyên Mộc. Tổng trữ lượng rừng bảo tồn có trên 590.530 m3; trong đó rừng tự nhiên chiếm trên 581.300 m3.
Ông Nguyễn Đăng Quan - Phó Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cho biết, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phá rừng tuy đã giảm so với những năm trước nhưng vẫn diễn biến phức tạp. Các hộ dân đã sử dụng đất lấn chiếm trồng các loại cây nông nghiệp, công nghiệp, cây ăn trái… từ trước năm 1978 đến trước ngày 1/7/2014 là hơn 1.570 ha chiếm 15,08% diện tích của Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu.
Trong số đó, diện tích đã xác định được người sản xuất, canh tác là hơn 1.274 ha/583 hộ, chiếm 81,14% tổng diện tích đất các hộ đã sử dụng ổn định và lấn chiếm đất rừng, còn lại hơn 296 ha là diện tích chưa xác định được người canh tác, chiếm 18,86%. Đa số người lấn chiếm đất rừng cư ngụ tại xã Bình Châu.
Cũng theo ông Quan, vì có rất nhiều đường ra vào Khu Bảo tồn nên khó quản lý. Việc lấn chiếm đất rừng đã được Khu bảo tồn tiến hành nhiều biện pháp ngăn chặn, lập biên bản xử lý song vẫn không ngăn chặn được do thực tế nhu cầu cần đất sản xuất của người dân. Ngoài ra, công tác xử lý của các ngành chức năng không triệt để, chưa có vụ lấn chiếm đất rừng nào bị xử lý đến nơi đến chốn, mang tính răn đe, làm gương nên thời gian gần đây việc lấn chiếm xảy ra phổ biến hơn.
Qua tìm hiểu, thời gian qua mặc dù chính quyền địa phương cũng như ngành chức năng đã nhiều lần làm việc với các hộ vi phạm, song những hộ dân lấn chiếm không chịu nhận khoán rừng mà khẳng định đây là đất của họ do cha, ông đã khai phá từ trước giải phóng.
Trường hợp của ông Nguyễn Văn Thành, ấp Thèo Nèo, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc là một ví dụ. Gia đình ông Thành hiện đang canh tác trên diện tích khoảng hơn 1 ha đất rừng của Khu Bảo tồn để trồng sắn. Theo ông Thành, đây là đất của cha ông khai phá từ năm 1985, sau đó kiểm lâm lấy để trồng tràm. Sau cơn bão năm 2006 tràm bị chết, gia đình ông trở lại trồng sắn trên mảnh đất này, vì cho rằng đây là đất của cha ông khai phá.
Còn hơn 3 ha đất rừng thuộc khoảng 10, tiểu khu 23 của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu do hộ ông Lê Văn Hùng ở ấp Khu 1, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc lấn chiếm để ở và trồng cây ăn quả. Theo ông Hùng, mảnh đất này vào những năm trước giải phóng do ông Nguyễn Hữu Hóa, người dân địa phương khai phá, trồng trọt.
Đến năm 2009 thì bán lại cho một người ở tỉnh Bình Dương, sau đó người này dùng mảnh đất đó để cúng dường cho Thiền viện Tuệ Quang ở Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Sau này, cha ông Hùng được Thiền viện giao phụ trách quản lý mảnh đất, đến đời ông Hùng thì cất nhà và tiếp tục sản xuất trồng trọt.
Còn tại khoảnh 9, tiểu khu 24 của Khu bảo tồn (thuộc địa phận xã Bình Châu) từ năm 2015 cũng đã bị gia đình ông Phan Văn Trung tự ý dùng lưới B40 làm hàng rào lấn chiếm với diện tích hơn 4.300 m2 đất rừng. Khoảng 10 năm trước gia đình ông Trung cũng đã tự ý lấn chiếm đất rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu để trồng điều.
Năm 2016, UBND xã Bình Châu đã nhiều lần vận động hộ này rời đi nơi khác nhưng không được. Sau đó UBND xã đã ra quyết định cưỡng chế, các cơ quan chức năng của huyện Xuyên Mộc cũng đã nhiều lần vào cuộc nhưng vẫn chưa xử lý được hộ lấn chiếm đất rừng này.
Việc lấn chiếm đất rừng canh tác trái phép cho thấy một bộ phận người dân chưa ý thức được vai trò quan trọng của việc bảo vệ và phát triển rừng, mà chỉ thấy lợi trước mắt khi khai phá rừng để trồng cây nông nghiệp.
Nhằm khắc phục thực trạng lấn chiếm đất rừng, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu đã xây dựng Đề án “Ngăn chặn, khắc phục tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu giai đoạn 2015 - 2020”.
Mục tiêu của dự án là ngăn chặn, khắc phục cơ bản hiện trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu. Đồng thời, phát huy chức năng phòng hộ của đất rừng tự nhiên ven biển, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực.
Cũng theo ông Nguyễn Đăng Quan, với mục tiêu trên, giải pháp mà đề án đưa ra để thực hiện di dời hết số hộ dân lấn chiếm đất rừng phòng hộ là sẽ tiến hành hỗ trợ, đền bù tùy theo đối tượng, tùy theo thời gian canh tác của người dân. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương sẽ có chính sách đào tạo nghề, chính sách về khuyến nông, hỗ trợ đất canh tác, cây trồng, nhà ở phù hợp với thực tế của từng đối tượng. Cách làm này nhằm đảm bảo đời sống của người dân đang lấn chiếm đất rừng, để họ có cuộc sống ổn định không còn quay lại lấn chiếm đất rừng để canh tác.
Bên cạnh đó, Ban Quản lý Khu Bảo tồn cũng đề xuất xây dựng hàng rào bảo vệ rừng. Vì qua thực tế, một số khu vực phía Nam quốc lộ 55 gồm các tiểu khu 25, 26, 27, 28, 29 và 30 đã được xây dựng hàng rào bảo vệ rừng đã phát huy hiệu quả, ngăn chặn được tình trạng xâm nhập trái phép. Theo đó, Ban Quản lý khi bảo tồn đề xuất xây dựng hàng rào bảo vệ rừng bao quanh phần còn lại phía Bắc gồm các tiểu khu 22, 23, 24 với chiều dài khoảng 32 km.
Ngoài ra, đề án này cũng nêu rõ để bảo vệ rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, ngoài những việc tiến hành như trên, quan trọng nữa là tiến hành khoán bảo vệ rừng và trông lại rừng trên diện tích đã bị lấn chiếm…
Hy vọng đề án này sẽ sớm được triển khai, để Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu sớm được khôi phục, phát huy chức năng phòng hộ của đất rừng tự nhiên ven biển, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. (tin Tức 24/3, Hoàng Nhị) đầu trang(
Ngày 23/3, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành văn bản số 2434/BNN-TCLN gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng.
Văn bản chỉ rõ, trong thời gian qua, tại một số địa phương tình hình vi phạm về phá rừng, chiếm đất, khai thác, mua, bán, vận chuyển lâm sản, vi phạm quy đinh quản lý, bảo vệ động vật rừng vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các tỉnh Tây Nguyên, một số tỉnh miền Trung và khu vực Tây Bắc.
Nguyên nhân chủ yếu là một số địa phương còn bị động trong công tác quản lý bảo vệ rừng, việc chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chưa quyết liệt, một số vụ khai thác, phá rừng diễn ra trên một số địa bàn chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời hoặc sau khi báo chí phản ánh mới triển khai thực hiện, nên các vụ vi phạm còn để dây dưa kéo dài, gây bức xúc trong dư luận.
Để ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng trên, đồng thời, khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo kiểm tra, xác minh và xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tại địa phương đã được phát hiện trong thời gian vừa qua.
Đồng thời làm rõ trách nhiệm của tổ chức và các cá nhân có liên quan để xảy ra tình trạng vị phạm, đặc biệt là những cán bộ thiếu trách nhiệm, tiêu cực, bao che, tiếp tay các vi phạm trên.
Chỉ đạo các lực lượng liên ngành (Kiểm lâm, Công an, Quân đội) phối hợp chính quyền cơ sở, hỗ trợ chủ rừng kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, khai thác rừng trái pháp luật; mua bán lâm sản, động vật hoang dã, kiên quyết xóa các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật.
Bên cạnh đó, quản lý chặt các cơ sở chế biến gỗ, xử lý nghiêm, đúng quy định pháp luật, kiên quyết đình chỉ hoạt động cơ sở chế biến gỗ vi phạm các quy định của nhà nước. Thu hồi, không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với các cơ sở chế biến gỗ không đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc không phù hợp với quy hoạch các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn.
Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương phối hợp chặt chẽ trong kiểm tra, kiểm soát các hoạt động xuất nhập khẩu gỗ qua các cửa khẩu, duy trì thường xuyên công tác tuần tra kiểm soát tại khu vực biên giới, kiên quyết xử lý nghiêm các hình vi vi phạm về khai thác, buôn bán, vận chuyển gỗ và động vật hoang dã trái pháp luật…(Hải Quan 23/3, Xuân Thảo) đầu trang(
Trung Quốc đang giảm xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Mỹ và Liên hiệp châu Âu (EU) trong khi một số thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc thì tăng nhập khẩu gỗ từ Việt Nam. Thấy tín hiệu từ thị trường, doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước đang tăng cường đầu tư thêm máy móc, mở rộng nhà xưởng...
Thống kê từ Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho thấy giá trị xuất khẩu gỗ, lâm sản ngoài gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam năm 2016 đạt 7,3 tỉ đô la Mỹ, trong đó riêng sản phẩm gỗ đạt 5,12 tỉ đô la Mỹ, tăng 7,1% so với năm trước.
Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này chỉ tăng một con số, nhưng xét trong tình hình ngành gỗ thế giới gặp nhiều khó khăn, khu vực châu Âu giảm nhập khẩu cộng với việc giảm giá trị nhập dăm gỗ Việt Nam của Trung Quốc (chỉ bằng 61% so với năm 2015) thì kết quả trên là tương đối khá.
Và theo ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA), thị trường xuất khẩu gỗ cho Việt Nam có khả năng được mở rộng trong năm nay nhờ tác động lớn từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã được ký kết và đang trong quá trình triển khai. Mặt khác, các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản… đều tăng.
Cũng theo ông Hạnh, hiện kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam còn chiếm một tỷ trọng quá nhỏ bé so với giá trị tiêu thụ đồ gỗ trên toàn thế giới đạt khoảng 467,7 tỉ đô la Mỹ/năm. Đáng chú ý là sức tiêu thụ của thị trường Mỹ đối với hàng Việt Nam tăng đều mỗi năm và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng cao.
Theo giới thương mại gỗ, Mỹ là thị trường rất quan trọng cả về phương diện là nguồn cung nguyên liệu gỗ đầu vào lẫn thị trường tiêu thụ. Cán cân thương mại gỗ và sản phẩm gỗ giữa hai nước đang nghiêng về phía có lợi cho Việt Nam với giá trị xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đạt trên 2 tỉ đô la Mỹ mỗi năm, cao khoảng 10 lần so với giá trị nhập khẩu.
Xuất khẩu mặt hàng này vào Mỹ tăng trưởng mạnh mẽ kể từ sau khi Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ có hiệu lực, giúp cắt giảm thuế nhập khẩu từ khoảng 50% xuống thấp đáng kể, thậm chí có dòng thuế được đưa về 0%.
Bên cạnh đó, mặt hàng này của Trung Quốc bị Mỹ điều tra và áp thuế chống bán phá giá, dẫn đến xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường có giá trị tiêu thụ khoảng 30 tỉ đô la Mỹ này giảm mạnh, nhất là mặt hàng nội thất.
Một điểm thuận lợi khác là hầu hết các mặt hàng gỗ xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ được làm từ các loại gỗ hợp pháp nên tính bền vững ở mức cao.
Theo HAWA, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành điểm sản xuất hàng nội thất của thế giới khi sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ và ngày càng được ưa chuộng.
Nhìn thấy tiềm năng thị trường, các doanh nghiệp chế biến gỗ đang muốn chứng minh thực lực và lợi thế cạnh tranh. Theo ghi nhận của HAWA, nhiều doanh nghiệp có sự đầu tư nhiều hơn cho thiết kế cũng như trang bị thêm công nghệ mới. Các doanh nghiệp chế biến gỗ ở Đồng Nai, Bình Dương và TPHCM đang xây dựng thêm nhà xưởng, đầu tư máy móc mới để nâng công suất thêm 20-30%. Có doanh nghiệp còn tăng diện tích nhà xưởng và khả năng sản xuất lên gấp đôi.
Theo ông Cao Duy Tâm, Giám đốc kiêm Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Thương mại Vĩ Đại – doanh nghiệp cung cấp máy móc thiết bị chế biến gỗ đã 25 năm qua, từ năm ngoái đến nay, nhiều nhà máy chế biến gỗ ở khu vực Đông Nam bộ đã mở rộng dây chuyền sản xuất. Các doanh nghiệp còn lắp đặt những công nghệ thiết bị hiện đại mang tính tự động hóa cao mà trước đây rất ít doanh nghiệp trong nước dám đầu tư. Năm ngoái doanh thu của Vĩ Đại tăng hơn 50% so với năm 2015 và ông Tâm dự báo năm nay sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng này.
Theo ông Huỳnh Văn Hạnh, chế biến gỗ là ngành xuất siêu cao, tăng trưởng ổn định, ít phụ thuộc và có giá trị gia tăng trên 40%. Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, doanh nghiệp không thể kỳ vọng phát triển bằng nhân công giá rẻ mà phải bằng công nghệ hiện đại và chất xám để tạo giá trị gia tăng.
“Nhu cầu tiêu thụ đồ nội thất trên thế giới được dự báo sẽ tiếp tục tăng. Nếu đầu tư nghiêm túc, doanh nghiệp có khả năng bứt phá về doanh thu”, ông Hạnh nhận định và dự đoán kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam năm 2017 sẽ đạt khoảng 8 tỉ đô la Mỹ.
Nhận thấy thị trường Trung Quốc không còn nhiều tiềm năng, các doanh nghiệp cung cấp gỗ ở châu Âu đang chuyển hướng vào Việt Nam bằng hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp trong nước. Nhanh nhảu hơn là các doanh nghiệp Trung Quốc đã và đang chuyển dây chuyền sản xuất đến Việt Nam nhằm tận dụng ưu đãi thuế suất xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường châu Âu và Mỹ chỉ từ 0-4% và vì sản phẩm đồ gỗ Việt Nam vốn được đánh giá cao. Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam còn nhằm tận dụng nguồn lao động có tay nghề nhưng chi phí thấp…
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), trong tổng số khoảng 500 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hoạt động chế biến gỗ ở Việt Nam hiện nay thì các doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan chiếm khoảng một phần ba và con số này chưa dừng lại. Bình Dương là một trong những địa phương ghi nhận sự đầu tư ồ ạt của các doanh nghiệp Trung Quốc vào ngành này.
Theo giới phân tích, mỗi năm, Trung Quốc xuất khẩu 12 tỉ đô la sản phẩm gỗ sang Mỹ – một thị trường mà họ không thể bỏ qua và họ sẽ chuyển hướng đầu tư sang Việt Nam sản xuất. Một số doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư thông qua việc mua lại các doanh nghiệp Việt thua lỗ hoặc đã phá sản, thậm chí, đầu tư dưới “mác” doanh nghiệp Việt Nam và đem hàng hóa có sẵn từ Trung Quốc sang, chỉ làm thêm khâu lắp ráp, phủ sơn…
Tình hình này không chỉ dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp nội địa (quy mô nhỏ lẻ chiếm đa số) bị mất đơn hàng vào tay doanh nghiệp Trung Quốc mà ngành gỗ trong nước có thể sẽ bị áp thuế chống bán phá giá như đối với Trung Quốc do lượng gỗ và sản phẩm gỗ tăng đột biến.
Một trở ngại đáng lo nữa là từ cuối năm 2016 tới nay, việc mua nguyên liệu chế biến đồ gỗ xuất khẩu gặp khó khăn. Theo Vifores, bình quân mỗi năm Việt Nam sử dụng 24-25 triệu mét khối gỗ các loại, trong đó, nhập khẩu 6 triệu mét khối.
Nhưng gần đây, nhiều quốc gia trong khu vực (có cả Việt Nam) ban hành chính sách đóng cửa rừng tự nhiên và hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô dẫn đến doanh nghiệp chế biến không dám nhận đơn hàng vì thiếu nguồn nguyên liệu đủ “chuẩn”, đủ giấy tờ hợp lệ theo yêu cầu sản xuất hàng xuất khẩu. (TBKTSG-Online 25/3, Quốc Hùng) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một nhân viên của gánh xiếc dùng toàn bộ sức lực và cân nặng của cơ thể đè lên đầu hổ, ấn thấp xuống đất, những người còn lại lấy dây trói chặt chân tay của con vật để du khách cưỡi và chụp ảnh.
Video dài 2 phút quay cảnh con hổ Amur bị các nhân viên ngược đãi trong một gánh xiếc ở thành phố Yiyang tỉnh Hồ Nam Trung Quốc kể từ khi được đăng tải trên mạng đã khiến không ít người xem phải rơi nước mắt.
Trong video, con hổ lớn bị ép nằm im trên bàn, hơi thở hổn hển, mệt mỏi. Một người đàn ông được cho là nhân viên gánh xiếc đã cưỡi lên lưng hổ, dùng toàn bộ sức lực cơ thể để đè chặt đầu con vật xuống đất. Hai người còn lại dùng dây thừng quấn chặt chân tay, để con hổ không thể nhúc nhích. Loài vật được cho là hung dữ nhất rừng xanh này ngoan ngoãn như một con mèo, nằm im bất lực và để mặc cho con người hành hạ. Có khoảng 30 du khách đang đứng vây quanh. Họ đang đợi đến lượt mình để cưỡi lên lưng con hổ và chụp ảnh.
Ashley Fruno, một tình nguyện viên của hiệp hội bảo vệ động vật (PETA) châu Á nói trên WWF trong một bài phỏng vấn cuối năm 2016: "Trong video bạn có thể thấy một nhân viên đã cầm mic và nói tiếng bản địa. Nội dung lời nói ấy có nghĩa là anh ta đang khuyến khích mọi người cưỡi lên lưng con vật, vì người Trung Quốc cho rằng hổ tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng".
Một bà mẹ bế con tới định để cho đứa bé cưỡi hổ. Tuy nhiên, đứa trẻ khóc thét lên và kêu lớn: "Con sợ, con sợ". Sau đó, nhiều du khách khác tiến tới cưỡi lên lưng hổ và chụp ảnh làm kỷ niệm. Trong bức ảnh, ai cũng tươi cười hớn hở, chỉ duy nhất có con vật là trông buồn bã.
Sau khi không còn du khách có nhu cầu chụp ảnh, các nhân viên trên đã cởi trói cho con vật. Ngay khi được giải thoát, con hổ nhanh chóng nhảy ra khỏi bàn và chạy về chỗ của mình trong một chiếc cũi sắt khác. Nhiều du khách tin rằng, nó phải chạy nhanh vì sợ hãi con người có thể sẽ bắt nó làm một điều gì khác.
Hành động ngược đãi động vật hoang dã của nhóm nhân viên gánh xiếc được nhiều người đánh giá là độc ác. Tuy nhiên, nhiều du khách đều phải thừa nhận rằng, hành động này vẫn diễn ra thường ngày, không chỉ riêng Trung Quốc mà ở nhiều nơi trên thế giới, thậm chí ngay ở cả nước Mỹ.
Elisa Allen, giám đốc của PETA Anh cho biết: "Con hổ đã bị trói chặt đến nỗi nó không thể nhấc đầu dậy. Bên cạnh đó là một con gấu đang lồng lộn trong chiếc chuồng bên cạnh. Điều đó cho thấy các con vật đã bị tổn thương tâm lý nặng nề đến mức nào".
Cũng theo Allen, các con hổ đã bị đối xử độc ác tại các rạp xiếc ở châu Á. Những người huấn luyện đã đánh, trói, kéo lê chúng cùng nhiều hành động mạnh tay khác, khiến tinh thần của con vật bị xuống nghiêm trọng. Nhờ vậy, họ mới dễ dàng khiến chúng tuân lệnh.
Theo Chunmei Hu, giám đốc dự án "Trả lại tự do cho các con vật đang phải mua vui cho du khách", nhiều gánh xiếc tại Trung Quốc đang hoạt động bất hợp pháp. Do đó, việc chăm sóc và cung cấp cho các con vật hoang dã môi trường sống tốt, phù hợp là điều hoàn toàn khó khăn. Dù Cục Quản lý Lâm nghiệp Quốc gia đã cấm có sự tiếp xúc trực tiếp giữa du khách và động vật, nhưng nhiều gánh xiếc, rạp xiếc vẫn phớt lờ lệnh cấm này.
Hổ Amur, hay còn gọi là hổ Siberian, là một trong những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng, theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Hổ Amur từng sống trên khắp vùng đông bắc Trung Quốc, Viễn Đông Nga. Tuy nhiên theo WWF, môi trường sống chính của chúng đang ngày bị thu hẹp lại. (Vnexpress 25/3, Anh Minh) đầu trang(
Một số quan chức Nigeria hy vọng sẽ có ngày bang Sông Ngang sẽ làm du lịch ngắm khỉ đột thành công và kiếm được nhiều tiền, nhưng…Thống đốc bang Sông Ngang (đông nam Nigeria) lại nuôi kế hoạch phá rừng thuộc các công viên quốc gia để phát triển kinh tế, thu hút nhà đầu tư và tạo việc làm cho người dân.
Bang Sông Ngang có 7 công viên quốc gia mà Nigeria vinh dự tự hào là có sự đa dạng sinh học phong phú nhất vùng Tây châu Phi. Gần đây, chính phủ Nigeria hy vọng Công viên quốc gia Sông Ngang sẽ được UNESCO công nhận là Địa danh di sản thế giới.
Quả thực khu vực xứng đáng được trao danh hiệu này, vì có núi non lởm chởm, cỏ mọc cao đến đầu gối, những thảm rừng dày và có chim hót, ếch nhảy, và nhất là khỉ đột Sông Ngang là loài khỉ lớn hiếm nhất của thế giới. Hiện chỉ còn khoảng 300 con khỉ đột này sống trong một khu vực mưa nhiệt đới giáp Cameroon.
Ý định làm du lịch ngắm khỉ đột là noi theo một chương trình tương tự ở Rwanda: năm 2014, Công viên quốc gia núi lửa ở nước này đã thu về 15 triệu USD từ du lịch ngắm khỉ đột, và số tiền này được dùng để trợ giá cho các công viên quốc gia còn lại, cũng như nâng cấp nền kinh tế quốc dân Rwanda.
Hẳn phải mất nhiều năm nữa Nigeria mới có được chương trình du lịch trên. Nhưng niềm hy vọng ấy có thể bị tắt ngấm, từ sự đe dọa của nỗ lực phát triển kinh tế.
Nigeria có 185 triệu dân (đông dân nhất châu Phi) và Liên Hợp Quốc đã dự báo năm 2050 sẽ tăng lên 440 triệu dân. Nhưng Nigeria đang rơi tự do vào suy thoái, vì giá dầu giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng, đồng tiền mất giá.
Thống đốc bang Sông Ngang, ông Benedict Ayade cho rằng ông có đáp án cho cuộc khủng hoảng trên: xây một cảng nước sâu gần thủ phủ Calabar để “so kè” với Lagos (một trong những thành phố lớn nhất Nigeria) rồi kết nối cảng tới các vị trí ở phía bắc bằng một tuyến đường “siêu xa lộ cao tốc” 6 làn xe dài 258km.
Ý tưởng là mở một hành lang mới cho thương mại, tạo việc làm và thu hút nhà đầu tư. “Lột truồng” 10km rừng nhiệt đới
Nhưng trái với các quy định cấp liên bang, những nhà quy hoạch không hề có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) vào lúc làm lễ động thổ công trình xa lộ cao tốc này hồi tháng 9.2015.
Cũng không hề có phân tích tốn kém-lợi ích để bào chữa cho nguy cơ gây tổn hại dài hạn cho vùng rừng nhiệt đới, lưu vực sông, cộng đồng dân cư và các loài thú có nguy cơ tuyệt chủng.
Dù vậy, hồi năm 2015, dự án “siêu xa lộ” vẫn được vẽ băng ngang Công viên quốc gia Sông Ngang. Bên cạnh việc tạo ra một vùng hành lang trống đúng chuẩn 100m cạnh vệ đường, bản thiết kế trong quy hoạch của Thống đốc Aydade sẽ “lột truồng” gần 10km rừng nhiệt đới ở mỗi bên “siêu xa lộ”.
Hậu quả là các nhóm bảo vệ môi trường Nigeria và quốc tế cùng gởi một bức thư đến Tổng thống Muhammadu Buhari, đề nghị ngưng ngay dự án, đồng thời nêm trình những kế hoạch thay thế gồm dùng công quỹ để phục hồi hai đường cao tốc hiện có ở bang Sông Ngang.
Ngay sau đó, vị thống đốc trình bản vẽ mới chỉ thay đổi chút đỉnh về tuyến đường, vị thống đốc bay từ thủ đô Abuja đến dự lễ động thổ.
Nhưng đến tháng 3.2016, một ĐTM chính thức “nổi lên”, sau khi Bộ Môi trường Nigeria ra lệnh ngưng công trình. Vì có nhiều sai sót và thiếu tầm nhìn, ĐTM này chỉ được chấm điểm D, bị gởi trả với yêu cầu chỉnh sửa.
Đến cuối năm 2016, ĐTM mới nhất cũng không tính đến hai vùng hành lang trống cạnh vệ đường, tránh đề cập đến Công viên Quốc gia và nêu tên các loài thú không hề tồn tại ở châu Phi!
Thống đốc Ayade nhấn mạnh: “Siêu xa lộ” và cảng nước sâu sẽ giúp bang mở cửa xuất khẩu quặng sắt và tạo ra việc làm.
Nhưng theo ghi nhận của  báo New York Times, những hứa hẹn về lợi ích lâu dài của dự án xem ra rất đáng ngờ, nhất là khi hai xa lộ hiện hữu của bang vừa xây xong đã sụt lún!
Chính quyền bang Sông Ngang còn gây thêm phẫn nộ, khi công bố một thông tin thu hồi toàn bộ quyền cư trú của người dân trong phạm vi hành lang “siêu xa lộ”.
Động thái này sẽ “bứt rễ” ít nhất 180 cộng đồng thổ dân khỏi nơi sinh sống mà tổ tiên của họ truyền lại. Cộng đồng Ekuri đã được quốc tế đánh giá cao về khả năng giữ rừng thông qua chương trình Sáng kiến Ekuri (lập hồi thập niên 1980 để đối phó nạn lâm tặc phá rừng).
Nhiều nhà quan sát nhận định hành lang trống của “siêu xa lộ” được vẽ to nhằm chặt được thật nhiều cây rừng. Cộng đồng Ekuri lại lo chuyện phòng chống phá rừng, đã ráng đến thủ đô Abuja để trình một bản kiến nghị có chữ ký tập thể.
Nhưng phía phản đối nói các cộng đồng “dân quê” và người ủng hộ “quá ích kỷ, ngáng đường phát triển kinh tế của đất nước”.
Điều đương nhiên là chính phủ nước khác đều muốn thúc đẩy các dự án phát triển lớn, nhưng các dự án này thường yêu cầu phải lấy ý kiến của người dân và đánh giá kỹ lưỡng, tính đến việc đền bù cho những người bị ảnh hưởng. Nhưng không hề có các bước này ở bang Sông Ngang.
Và dù gần đây có thông tin rằng một nhà sản xuất công nghiệp nặng Trung Quốc vừa trở thành nhà đầu tư của dự án “siêu xa lộ”, vẫn chưa rõ lấy đâu ra tiền để chi cho dự án trị giá 3,5 tỉ USD này. Người dân đóng thuế Nigeria hoàn toàn không biết gì.
Điều chắc chắn là “siêu xa lộ” Sông Ngang sẽ gây thiệt hại không cách gì cứu chữa được cho những cánh rừng nhiệt đới còn lại của Nigeria, gồm vài cánh rừng cổ nhất châu Phi.
Dù có được vẽ lại con đường đi vòng quanh Công viên quốc gia Sông Ngang, tuyến xa lộ này vẫn mở cửa nhiều khu vực bảo tồn cho nạn phá rừng lấy đất làm ruộng ngày càng tăng, cùng với nạn săn bắn, đe dọa các loài thú như khỉ, vượn, voi rừng, cá sấu và kể cả khỉ đột Sông Ngang.
Phát triển kinh tế sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nguồn nước. Thay vì tạo được một ngành du lịch thiên nhiên có thể giúp phát triển kinh tế bền vững, bang Sông Ngang có thể chỉ có những đồi trọc để “giới thiệu”với khách du lịch.
Chính phủ Nigeria vẫn có ý xin công nhận Công viên quốc gia Sông Ngang là Di sản thế giới UNESCO, nhưng khi xe ủi đất đã sẵn sàng hoạt động, búa sẵn sàng giáng xuống những cây rừng, liệu bang Sông Ngang sẽ có được một công viên quốc gia đầy vinh dự tự hào? (Một Thế Giới 23/3, Kim Hương) đầu trang(
Một coi voi ngà dài châu Phi cực quý hiếm với tuổi đời lên đến 50 năm đã bị những kẻ săn trộm bắn chết bằng mũi tên tẩm độc, khiến cho số lượng voi ngà dài này chỉ còn lại 25 cá thể trên toàn thế giới.
Satao II, một con voi châu Phi ngà dài cực kỳ quý hiếm, đã được tìm thấy ở tình thái bị bắn chết trong Công viên quốc gia Tsavo (Kenya). Đây là giống voi rất quý hiếm, thuộc chi voi châu Phi, nổi bật với cặp ngà rất dài, đôi khi có thể chạm đến mặt đất.
Lực lượng kiểm lâm đã phát hiện thấy xác của Satao II tại một khu vực ngoài tầm giám sát của các nhà chức trách. Satao II là một con voi rất thân thiện, dễ tiếp cận và rất được du khách yêu thích.
Hai tên săn trộm bị nghi là thủ phạm bắn chết Satao II đã bị lực lượng kiểm lâm bắt giữ trước khi kịp chạy trốn với cặp ngà voi cỡ lớn của con voi này. Cặp ngà của Satao II có khoảng 100kg và có giá trị ước tính 130.000USD cho mỗi chiếc.
Cái chết của Satao II khiến nhiều người cảm thấy tiếc nuối, không chỉ vì sự quý hiếm của con voi mà bởi vì tuổi đời lâu năm và sự thân thiện của con voi này.
“Satao II là một biểu tượng, một đại sứ của loài voi”, Richard Moller, thành viên của tổ chức phi chính phủ bảo vệ động vật hoang dã Tsavo Trust cho biết. “Con voi này đặc biệt dễ tiếp cận, là một trong những con voi ngà dài dễ tìm thấy nhất. Nó đã trải qua nhiều đợt hạn hán, những lần thoát khỏi bọn săn trộm. May mắn chúng tôi đã tìm thấy xác của nó trước khi những kẻ săn trộm kịp lấy đi cặp ngà voi”.
Theo tổ chức Tsavo Trust thì sau khi Satao II bị bắn chết, hiện chỉ còn 25 voi ngà dài còn lại trên thế giới, 15 trong số đó đang sống tại Kenya.
Theo thống kê của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thì hiện tại số lượng voi châu Phi đã bị giảm khoảng 111.000 đến 415.000 trong thập kỷ qua. Những vụ săn bắn voi không có dấu hiệu giảm đi với khoảng 30.000 con voi châu Phi bị bắn chết mỗi năm để lấy ngà.
Ngà voi bị đánh cắp chủ yếu để đáp ứng nhu cầu ở thị trường châu Á cho các sản phẩm được xem như một loại thuốc cổ truyền hoặc biểu tượng cho sự giàu sang.
Vườn quốc gia Tsavo, nơi có giống voi ngà dài sinh sống, với diện tích lên đến hơn 4 triệu hecta, là một thử thách lớn đối với lực lượng kiểm lâm có thể giám sát và ngăn chặn bọn săn trộm. Tuy nhiên trước đó không ít lần lực lượng kiểm lâm đã từng xuất hiện kịp lúc để cứu sống những con voi ngà dài bị bọn săn trộm bắn thuốc độc. (Dân Trí 25/3, T.Thủy)đầu trang(