Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 27 tháng 02 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Vườn quốc gia Bù Gia Mập thuộc địa bàn 2 xã Đắk Ơ và Bù Gia Mập (Bù Gia Mập) với diện tích 25.788,6 ha. Đây là khu vực rừng có trữ lượng động, thực vật lớn duy nhất còn lại của Bình Phước.
Vườn không những là nơi phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục, môi trường, phát triển du lịch sinh thái mà còn là rừng phòng hộ đầu nguồn cho hồ chứa nước của các công trình thủy điện Cần Đơn, Thác Mơ, Srok Phu Miêng. Với chức năng to lớn đó, những năm qua, công tác bảo vệ, phát triển, nhất là phòng, chống cháy rừng (PCCR) được Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập chủ động thực hiện rất tốt.
Vườn quốc gia Bù Gia Mập hiện có 18.000 ha rừng tre nứa, lồ ô và hỗn giao, đây là khu vực có nguy cơ xảy ra cháy cao, nhất là khi thời tiết hanh khô. Phía nam của vườn giáp hai nông lâm trường Đắk Mai và Đắk Ơ.
Các khu vực này chủ yếu đã được chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng nghèo kiệt sang trồng cao su và một phần bị người dân xâm canh lấn chiếm làm rẫy nên trong quá trình canh tác, dọn đốt rẫy tiềm ẩn nguy cơ cháy lan vào vườn. Phía bắc giáp sông Đắk Huýt, ranh giới Việt Nam - Campuchia, mùa khô nước sông cạn, có các bãi le, sậy tập trung nhiều vật liệu dễ cháy nên nguy cơ cháy lan từ phía bên Campuchia vào rất cao.
Lâm phần vườn quốc gia có 18km đường ĐT741 (nay là quốc lộ 14C) và 60km đường tuần tra biên giới chạy xuyên qua vùng lõi của vườn. Ngoài ra còn có các đường mòn tuần tra bảo vệ đi xuyên trong vùng lõi. Hệ thống giao thông tạo thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển vật dụng, lương thực ứng cứu khi xảy ra cháy rừng và tạo các đường băng cản lửa tự nhiên. Tuy nhiên, hành lang 2 bên đường có nhiều vật liệu dễ cháy, như cỏ tranh, cỏ mỹ... Trong khi đó, lượng người đi lại nhiều nên việc kiểm soát nguồn lửa rất khó khăn.
Người dân sống trong vùng đệm của vườn - khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng, 80% là người dân tộc thiểu số bản địa, trình độ dân trí thấp, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao; nhận thức của người dân về bảo vệ và PCCR còn hạn chế, lại thường xuyên vào rừng bắt cá, hái lá nhíp, đọt mây... sử dụng lửa không cẩn thận dễ gây cháy rừng. Vườn có rất nhiều khe, sông, suối tạo thành các đường băng cản lửa tự nhiên. Tuy nhiên, do mực nước ngầm thấp nên đến mùa khô là cạn, càng làm tăng nguy cơ cháy rừng. Mặt khác, nhiều khe suối cũng gây khó khăn cho việc đi lại, tiếp tế khi cháy rừng xảy ra.
Từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau là cao điểm mùa khô nên tình trạng cháy rừng luôn báo động đỏ. Những tháng mùa khô, Ban quản lý vườn vừa phải đảm bảo bình yên cho động, thực vật, tránh sự tác động của con người vừa phải trực PCCR 24/24 giờ với nguyên tắc “4 tại chỗ, 4 sẵn sàng” (lực lượng, chỉ huy, phương tiện, hậu cần tại chỗ và luôn sẵn sàng).
Hiện vườn có 11 trạm kiểm lâm, mỗi trạm có 3-6 cán bộ, nhân viên, ngoài ra còn có 4 chốt bảo vệ rừng tạm thời; 1 tổ chữa cháy rừng cơ động gồm 8 người; 14 đơn vị cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng với tổng 324 lao động, trong đó quân số thường trực là 140 người. Ngoài ra, 30 cán bộ, nhân viên văn phòng vườn cũng được huy động khi có cháy rừng xảy ra.
Ông Điểu Bi Rút, Tổ trưởng cộng đồng nhận khoán thôn Bù Dốt cho biết: Nhiệm vụ chính của tổ là bảo vệ hơn 1.800 ha rừng thuộc các tiểu khu 21, 26 và tham gia PCCR. Tổ có 25 người, chia làm 3 ca, mỗi ca 8 người trực liền trong 5 ngày và trực 24/24 giờ.
Khi xảy ra cháy rừng không chỉ trên địa bàn quản lý mà ở bất kỳ khu vực nào của vườn tổ đều huy động 100% quân số trực tiếp ứng cứu. Các tiểu khu 21, 26 có nhiều lồ ô khô, cây cỏ, bụi rậm, mùa khô đến tạo thành lớp vật liệu dễ cháy. Mặt khác, khu vực có lượng người qua lại nhiều nên nguy cơ xảy ra cháy rừng luôn trong tình trạng báo động.
Để đảm bảo an toàn, những năm qua tổ luôn phối hợp với kiểm lâm viên chủ động phát quang, đốt, dọn sạch hành lang 2 bên đường, vì thế diện tích do tổ quản lý không có cháy rừng xảy ra. Trạm trưởng Trạm kiểm lâm số 1 Vương Văn Hải nói: Trạm chỉ có 3 người nhưng phải quản lý, bảo vệ 3 tiểu khu 21, 26, 28 với diện tích 2.100 ha rừng.
Khu vực có nhiều lồ ô khô, vật liệu dễ cháy lại giáp ranh một số vườn điều của người dân, khi thu dọn vườn người dân thường đốt lửa nên nguy cơ cháy lan sang vườn quốc gia là rất cao. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực gần chỉ huy, gần cộng đồng nhận khoán, gần dụng cụ và phương tiện chữa cháy, vì thế khi xảy ra cháy mọi lực lượng, phương tiện được tiếp ứng tối đa nên nhiều năm qua không xảy ra sự cố đáng tiếc nào.
Phó giám đốc Vườn quốc gia Bù Gia Mập Cao Ngọc Long cho biết: Hằng năm vào cuối mùa mưa, Ban quản lý vườn chỉ đạo, phân công cụ thể từng khu vực cho các đơn vị liên quan chủ động trong tất cả tình huống và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ nếu có sự cố. Theo đó, các đơn vị đã phối hợp ra quân phát dọn, đốt trước những nơi nhạy cảm, chuẩn bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ PCCR, quân số cũng được tăng cường và luôn trực 24/24 giờ. Vì vậy nhiều năm qua, Vườn quốc gia Bù Gia Mập không có vụ cháy rừng nghiêm trọng xảy ra.
Công tác diễn tập PCCR cũng được đơn vị thực hiện thường xuyên, liên tục và cán bộ, nhân viên đều có nhiều kinh nghiệm. Ông Long cho biết thêm, năm nay mưa nhiều và kéo dài đến cuối năm, vì thế hiện toàn bộ lâm phần vườn vẫn ẩm ướt. Tuy nhiên, không vì thế mà chủ quan, thiếu cảnh giác.
Để đảm bảo tối đa PCCR, ngoài các phương tiện, dụng cụ đã được mua sắm, chuẩn bị thì năm nay vườn được đầu tư đắp 2 đê chắn nước tại suối Đắk Con và suối Mít, mỗi suối trữ khoảng 60.000m3 nước, với kinh phí khoảng 4 tỷ đồng/đê. 2 công trình đang gấp rút thi công và dự kiến đưa vào sử dụng đầu tháng 6-2017, giảm nỗi lo thiếu nước nếu sự cố cháy rừng xảy ra. (Báo Bình Phước 25/2, Hồng Hạnh)đầu trang(
Mùa khô năm nay, do thời tiết nắng nóng kéo dài, kèm theo gió mùa khô hanh đang khiến cơ quan chức năng các tỉnh miền Đông căng thẳng chuẩn bị đối phó nguy cơ cháy rừng.
Hiện tỉnh Tây Ninh có hơn 50.000ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phía dưới có thảm thực bì đang khô, nguy cơ xảy ra cháy cao. Ban quản lý của các dự án rừng phòng hộ Dầu Tiếng, Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, và rừng đặc dụng Chàng Riệc cho biết, hiện công tác phòng cháy chữa cháy (PCCC) đã được các đơn vị này chuẩn bị hoàn tất.
Các phương tiện PCCC, như: Máy cày chở nước, bình phun xịt nước, dụng cụ phát quang, hồ chứa nước, làm đường băng cản lửa... đã được chuẩn bị. Đồng thời, các đơn vị bảo vệ rừng cũng đã hợp đồng tác chiến với các tổ, đội, lực lượng PCCC trực tại chỗ, sẵn sàng ứng phó, dập tắt kịp thời khi có các điểm cháy xảy ra.
Đại diện Ban quản lý dự án rừng phòng hộ Dầu Tiếng cho biết, ngoài các chòi canh lửa tạm thời hiện có, đơn vị đang chuẩn bị xây dựng thêm 2 chòi canh lửa tại 2 điểm xung yếu, phân công người túc trực để dễ dàng phát hiện, báo động kịp thời, huy động lực lượng khi xảy ra cháy rừng.
Trong khi đó, hiện tổng diện tích thực hiện công trình phòng chống cháy rừng mùa khô năm nay trên địa bàn huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) là 562ha, trong đó, làm mới 275ha đường băng cản lửa, đốt gần 200ha vật liệu dễ cháy. “Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng huyện Xuyên Mộc thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các đơn vị khẩn trương hoàn thành các công trình PCCC, có kế hoạch đốt thực bì đã khô, bố trí nhân lực, chuẩn bị hậu cần phục vụ công tác PCCC rừng...” - đại diện của Ban chỉ đạo nói.
Theo Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh, mùa khô năm 2016 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ cháy rừng tự nhiên và rừng trồng, diện tích bị thiệt hại là 61,37ha (chủ yếu tại khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng) và 46 vụ cháy trảng cỏ với 140ha rừng khoanh nuôi tái sinh bị thiệt hại nặng.
Để chủ động bảo vệ tuyệt đối diện tích rừng, hạn chế các vụ cháy gây thiệt hại đến cây rừng trong mùa khô năm nay, ngay từ đầu tháng 2.2017, Ban chỉ đạo kế hoạch và phát triển rừng tỉnh Tây Ninh đã đi kiểm tra thực tế công tác PCCC rừng tại các dự án có diện tích rừng lớn, có nhiều điểm nguy cơ cháy cao, như: Rừng đặc dụng Chàng Riệc, rừng phòng hộ Dầu Tiếng, Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát, rừng lịch sử Núi Bà và các huyện có rừng.
Theo lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh, chi cục luôn nhắc nhở, các đơn vị bảo vệ rừng tổ chức thực hiện các phương án, kế hoạch phòng chống cháy rừng nhằm tập trung bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có trong mùa khô này.
Mới đây, đoàn công tác do ông Đoàn Duy Lâm - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Phó Ban Thường trực Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đã có buổi kiểm tra công tác PCCC rừng mùa khô năm 2016 - 2017 trên địa bàn huyện Xuyên Mộc. Ông Đoàn Duy Lâm cho biết, đã yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện Xuyên Mộc, Hạt Kiểm lâm Bình Châu - Phước Bửu tiếp tục tham mưu cho Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng huyện hoàn thành phương án PCCC rừng mùa khô năm năm nay; đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền để người dân nâng cao nhận thức về công tác PCCC rừng; tổ chức 100% chủ rừng và các hộ sống ven rừng ký cam kết PCCC rừng; tổ chức tập huấn, diễn tập các phương án chữa cháy rừng. (Dân Việt 26/2, Trần Đáng)đầu trang(
Thực hiện phương châm đó, Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng của xã Hồ Thầu (huyện Tam Đường) đã giúp những cánh rừng thêm xanh và xã trở thành điểm sáng trong bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của huyện.
Dù bước vào cuối mùa khô, song công tác tuần tra, bảo vệ rừng của bản Nhiều Sang vẫn được các thành viên Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng bản duy trì thường xuyên với 2 - 4 thành viên/ca tuần tra, bảo vệ rừng. Thành viên của Tổ không chỉ có nam giới mà phụ nữ cũng tình nguyện tham gia.
Được tham gia buổi tuần tra rừng của  Tổ (phần đa là nữ giới), chúng tôi thấy hành trang các chị mang theo gồm dao phát, đèn pin, thực phẩm, nước uống và không thể thiếu điện thoại để liên lạc với Tổ trưởng khi phát hiện dấu hiệu, người lạ trong rừng. Ngoài ra, các chị còn trưng dụng vật dụng sẵn có tại gia đình: dao, xẻng, cuốc… sẵn sàng phục vụ việc phát đường băng cản lửa, phát dọn thực bì, PCCCR.
Chị Lý Thị Nhinh (ở bản Nhiều Sang, thành viên Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng bản) chia sẻ: “Rừng là tài sản chung, do vậy dân bản đều phải có trách nhiệm tham gia tuần tra, gác rừng. Ngoài tuần tra theo lịch phân công, những buổi đi nương thảo quả, chúng tôi cũng kết hợp làm công tác bảo vệ giữ rừng, phát dọn thực bì, làm đường băng cản lửa và tuyệt đối không đốt lửa trong rừng. Trước đây, Tổ có 10 người làm nhiệm vụ bảo vệ, canh gác rừng rất vất vả, không duy trì thường xuyên, nay con số đó đã tăng lên 54 thành viên do vậy công việc thuận lợi rất nhiều. Tổ chúng tôi cũng tham gia đóng góp ý kiến xây dựng nội quy, quy ước của bản về xử lý vi phạm lâm luật”.
Đối với bản Chù Lìn, Khèo Thầu, Gia Khâu… ngoài các thành viên Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng thì dân bản đều có ý thức chung sức bảo vệ rừng. Trong quy ước của bản, nếu phát hiện người dân chặt cây rừng có đường kính từ 2cm trở lên sẽ bị xử phạt. Mức phạt tăng dần theo mức độ vi phạm số lượng, kích cỡ lâm sản và giao cho chính quyền địa phương, các cấp xử lý, giải quyết.
Những năm trước, việc quản lý, bảo vệ rừng tại các bản trên địa bàn xã được giao cho Tổ bảo vệ rừng của bản. Mỗi tổ có 10 - 15 thành viên bảo vệ hàng ngàn hécta rừng. Địa hình rừng núi cao, độ dốc lớn, giao thông đi lại khó khăn, ý thức bảo vệ rừng của một bộ phận Nhân dân chưa cao dẫn đến tình trạng khai thác lâm sản nhỏ, lẻ vẫn xảy ra. Vào mùa khô, thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng khô hạn kéo dài gây khó khăn cho công tác bảo vệ, PCCCR.
Với phương châm “phòng là chính, chữa cháy kịp thời”, hạn chế các vụ cháy rừng, đồng thời ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, xã đã thành lập Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng tại 10/10 bản của xã. Theo đó, mỗi gia đình trong bản có ít nhất một người là thành viên. Trường bản được giao nhiệm vụ là Tổ trưởng chịu trách nhiệm phân công lịch trực, tuần tra, gác rừng cho các thành viên và chịu trách nhiệm trước chính quyền xã về công tác bảo vệ, PCCCR của bản. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ, các bản được cấp, trang bị các dụng cụ: dao phát, đèn pin, bình nước, ủng…
Vào đầu mùa khô, chính quyền xã, Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng các bản tổ chức hội nghị, cuộc họp thu hút trên 1.000 lượt người tham gia học tập Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; tổ chức ký cam kết bảo vệ, PCCCR tới các hộ dân theo hình thức Nhân dân ký cam kết với bản; bí thư chi bộ, trưởng bản ký cam kết với xã; xã ký cam kết với huyện… Đồng thời triển khai tuyên truyền, ký cam kết với học sinh 2 nhà trường cấp I, II với 651 học sinh về bảo vệ, PCCCR.
Trao đổi với chúng tôi về hoạt động của Tổ chuyên trách bảo vệ rừng tại các bản của xã, ông Quách Tá Thiện - Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu cho biết: Hàng năm, xã đều tổ chức kiện toàn Ban Chỉ đạo bảo vệ, PCCCR cấp xã, Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng bản. Tiến hành kiểm kê, tu sửa các loại dụng cụ chữa cháy được trang bị, bố trí sẵn sàng chữa cháy.
Đôn đốc kiểm tra Tổ chuyên trách tại các bản về vấn đề khai thác lâm sản, tuần tra, gác rừng, lập chốt tại cửa rừng, công tác thông tin báo cáo bảo vệ, PCCCR. Từ khi chuyển đổi sang thành lập Tổ chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng, công tác bảo vệ, chăm sóc, PCCCR của xã đạt hiệu quả cao. Rừng không chỉ được bảo vệ, việc khai thác lâm sản trái phép hạn chế tối đa. Các bản trích 20% số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng phục vụ hoạt động của Tổ chuyên trách…
Nhờ sự tích cực của các thành viên Tổ chuyên trách, nhiều năm liền trên địa bàn xã không xảy ra cháy rừng, thảm thực vật. Hiểu biết và ý thức quản lý, bảo vệ rừng của Nhân dân ngày càng nâng cao, góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng của xã đạt trên 55%. (Báo Lai Châu 24/2, Kim Oanh)đầu trang(
Là một trong những huyện nằm trong vùng trọng điểm cháy rừng của tỉnh, vì thế, thời gian qua huyện Phong Thổ đã tích cực triển khai nhiều giải pháp phòng, chống cháy rừng tới các địa phương, đặc biệt là những khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Về xã Lản Nhì Thàng những ngày đầu năm, chúng tôi cảm nhận được cuộc sống của bà con nơi đây đã đổi thay rất nhiều. Những ngôi nhà kiên cố nép mình bên nương ngô, chè đang lên xanh tốt. Trên những triền đồi, núi là màu xanh bát ngát của những cánh rừng tái sinh đang vươn mình đón nắng xuân.
Ông Tẩn Cao Sơn – Chủ tịch UBND xã chia sẻ, toàn xã hiện có hơn 4.700ha rừng. Những năm gần đây, nhận thức về công tác PCCCR của bà con đã được cải thiện rõ rệt, người dân đã hiểu ý nghĩa, vai trò to lớn của rừng nên biết cách giữ rừng và áp dụng các biện pháp để hạn chế cháy rừng như: thường xuyên đi kiểm tra rừng, khi phát dọn thực bì làm đường băng cản lửa. Nhờ đó, số vụ cháy rừng đã giảm hẳn so với nhiều năm trước…
Tuy nhiên trong xã vẫn còn 4 bản nằm trong nguy cơ cháy cao gồm: Lản Nhì Thàng, Cung Mu Phìn, Chiêu Sải Phìn, Lùng Cù Seo Pả, Ban Chỉ đạo PCCCR xã đã tích cực đôn đốc, phân công thành viên phụ trách theo dõi chỉ đạo và kịp thời dự báo, xây dựng các phương án để ứng phó với từng tình huống trong PCCCR. Vận động các chủ rừng chủ động phát dọn thực bì, duy tu, bảo dưỡng các đường băng cản lửa, đảm bảo đầy đủ lực lượng, phương tiện, thiết bị, hậu cần phục vụ nhiệm vụ PCCCR khi có tình xuống xấu xảy ra.
Mặc dù không khí vui xuân vẫn đang diễn ra khắp các bản làng của huyện vùng cao trong huyện, nhưng các kiểm lâm viên của Hạt Kiểm lâm huyện Phong Thổ đã bắt đầu công việc thường xuyên của mình bằng các đợt tuần tra sâu trong rừng, bởi theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Trung ương, năm nay thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, nắng nóng và khô hanh kéo dài thành nhiều đợt.
Để bảo vệ tốt diện tích rừng trồng, rừng phòng hộ, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho UBND huyện ra văn bản chỉ đạo các xã, thị trấn xây dựng phương án PCCCR; triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới Nhân dân, nâng cao nhận thức trong công tác bảo vệ và PCCCR, bố trí lực lượng thường trực tại các chốt gác cửa rừng trên địa bàn huyện và kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng. Tăng cường tuần tra, kiểm soát phát hiện và xử lý kịp thời các tình huống xảy ra…
Huyện Phong Thổ hiện có 42.512,8ha rừng, trong năm 2016, toàn huyện xảy ra 5 vụ cháy thảm cỏ diện tích thiệt hại 7,2ha, không xảy ra vụ cháy rừng nào. Huyện đã thực hiện cấp phép tận thu gỗ làm nhà ở cho 28 hộ với tổng khối lượng 196,35m3 gỗ tròn thuộc gỗ thông thường. Tổ chức trồng mới 62,99ha diện tích rừng trồng thay thế.
Năm nay chuối được giá nên bà con tận dụng một số diện tích đất đồi dự kiến trồng rừng sang trồng chuối tăng thêm thu nhập. Chính vì vậy, chỉ tiêu trồng rừng đạt gần 80%. Độ che phủ rừng đạt 41,3%. Trong năm huyện cũng chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra và xử lý vi phạm lâm sản trên địa bàn huyện, qua đó đã phát hiện và xử lý 26 vụ (xử lý hình sự 4 vụ, xử lý hành chính 22 vụ).
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác PCCCR trên địa bàn huyện Phong Thổ vẫn còn gặp khó khăn như: phương tiện ứng cứu, chữa cháy chủ yếu bằng thủ công, diện tích rừng khá lớn, lại phân bố ở địa hình có đồi dốc, hiểm trở, nếu trường hợp xảy ra cháy lớn, việc huy động nhân lực, phương tiện tham gia chữa cháy gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ kiểm lâm còn mỏng, trong khi diện tích rừng rộng nên rất khó kiểm soát…
Vì thế thời gian tới, huyện sẽ tập trung chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với UBND các xã, thị trấn đẩy mạnh tuyên truyền vận động Nhân dân tích cực tham gia công tác PCCCR; phối hợp với Đài Phát thanh – Truyền hình huyện phát các bản tin, nhất là bản tin cảnh báo cháy rừng để Nhân dân biết, nâng cao tinh thần cảnh giác. Bên cạnh đó, chỉ đạo Hạt kiểm lâm huyện thường xuyên kiểm tra các vùng có nguy cơ cháy cao; vận động các hộ ký cam kết không để xảy ra cháy rừng khi đốt nương rẫy; cắt cử lực lượng trực cháy 24/24 giờ…
Tuy nhiên, cùng với sự vào cuộc tích cực của cấp ủy, chính quyền từ huyện tới cơ sở và các ngành chức năng thì tinh thần cảnh giác, chủ động các biện pháp PCCCR của mỗi người dân trên địa bàn sẽ là giải pháp tốt nhất đảm bảo an toàn cho những cánh rừng của huyện Phong Thổ mãi xanh tươi trong mùa khô hanh năm nay. (Báo Lai Châu 26/2, Bình Minh)đầu trang(
Quyết tâm bảo vệ rừng an toàn qua mùa khô năm nay, công tác phòng chống cháy rừng (PCCR) đã được Chi cục Kiểm lâm tỉnh triển khai đến các đơn vị quản lý rừng. Các đơn vị duy trì công tác tuần tra liên tục, kiểm tra dân ra vào rừng, tuyên truyền cho người dân trên địa bàn nắm các quy định về bảo vệ rừng, đồng thời xây dựng, củng cố các chốt trực, các tổ tuần tra, kiểm tra.
Ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã cùng với Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn (Công an tỉnh) tổ chức xét duyệt 6 phương án phòng cháy chữa cháy rừng cho các chủ rừng có diện tích rừng lớn.
Năm nay mùa khô đến chậm hơn so với mọi năm. Nguyên nhân là trước và sau Tết Nguyên đán vừa qua có nhiều cơn mưa lớn, làm cho mực nước trong rừng còn tương đối cao. Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia U Minh Hạ, ông Nguyễn Văn Liêm cho biết: “Mực nước hiện tại ở khu vực cao, đất than bùn từ 30 -40cm; khu vực vùng trũng, đất sét, mực nước từ 80 - 100cm. Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác PCCR”.Hạt kiểm lâm các huyện đã triển khai tốt các mặt trong công tác PCCR: Gạt đường, làm lộ đất đen tạo điều kiện cho xe có tải trọng lớn lưu thông, nhất là xe cứu hỏa có thể vào sâu bên trong rừng để kịp thời dập tắt đám cháy có thể xảy ra.
Vớt rác, cỏ, lục bình theo các tuyến kênh lớn để tạo điều kiện lưu thông. Bố trí lực lượng canh phòng, kiểm soát chặt chẽ các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao, khi cấp dự báo cháy rừng ở cấp IV, cấp V, nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng lửa hoặc gây ra lửa, nguồn nhiệt có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy rừng, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm các quy định về PCCR.
Song song đó, triển khai công tác tuyên truyền về PCCR cho dân cư vùng đệm trên các địa bàn nắm rõ để chung tay thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng.UBND các huyện có rừng tràm cũng phê duyệt kế hoạch phòng cháy chữa cháy rừng của các xã và các công ty thuê đất. Củng cố ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 của các cấp. Các chủ rừng đã tổ chức khép kín các cống, đập từ tháng 10/2016 để tích nước phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Vườn Quốc gia U Minh Hạ có diện tích trên 8.257ha, trên địa bàn 4 ấp thuộc 4 xã của hai huyện U Minh và Trần Văn Thời. Ông Nguyễn Văn Liêm cho biết thêm: “Chúng tôi đã chỉ đạo sửa lại các chòi quan sát; máy bơm, ống, vòi phun được kiểm tra định kỳ. Đầu năm nay, đơn vị nhận thêm 2 máy chuyên dụng chữa cháy mới công suất lớn, được kiểm tra hàng tuần nhằm phục vụ cho công tác PCCR, nâng tổng số máy hiện có là 13 máy”.
Vườn hiện có 10 trạm, 1 tổ và 2 chốt, ở mỗi điểm đều có lực lượng túc trực tuần tra 24/24 giờ. Vào những tháng cao điểm thì sẽ tăng cường thêm lực lượng từ 2 - 3 người tại mỗi điểm. Đến giữa tháng 3 triển khai đưa phương tiện, máy móc xuống các trạm. Anh Nguyễn Chí Hiếu, Tổ phó Tổ Kiểm lâm cơ động - PCCR Vườn Quốc gia U Minh Hạ, cho biết dù năm nay tình hình thời tiết “dễ thở” hơn nhưng không chủ quan, luôn nhắc nhở anh em sẵn sàng, chủ động ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra.
Là cán bộ tham gia Tổ Kiểm lâm cơ động, sống xa gia đình, song anh Nguyễn Hoàng Đệ (quê Cái Nước) luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc tuần tra để bảo vệ “lá phổi xanh”. Anh kể những ngày đầu tháng 1 vừa qua, trong một lần tuần tra cùng các anh em trong tổ, phát hiện có lối đi khả nghi. Các anh chia nhau vây tìm. Đến khoảng 22 giờ thì bắt được một đối tượng vào rừng để lấy mật ong. Anh Đệ cùng anh em vận động và đưa đối tượng về Hạt Kiểm lâm huyện giải quyết.
Với sự chỉ đạo sâu sát và chủ động của các ngành chức năng trong thực hiện các phương án PCCR từ trước mùa khô, Cà Mau đang kiểm soát, quản lý được các diện tích rừng trước nguy cơ cháy có thể xảy ra. (Báo Đất Mũi 25/2, Thiên Kim)đầu trang(
Trong những năm qua, với vai trò là nòng cốt, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các cấp, các ngành và các chủ rừng để triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh, thực hiện hiệu quả công tác phòng chống cháy rừng, giữ vững ổn định an ninh rừng trên địa bàn tỉnh.
Cán bộ đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 1, sử dụng các phương tiện diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo dự báo của cơ quan khí tượng thủy văn, mùa khô năm 2017 thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; hạn hán, khô hanh, nắng nóng kéo dài trên diện rộng, tiềm ẩn nguy cơ gây cháy rừng rất cao. Vì vậy, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị liên quan tập trung rà soát các diện tích rừng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy cao trên địa bàn tỉnh. Qua rà soát toàn tỉnh đã xác định được hơn 49.000 ha rừng có nguy cơ cháy cao, phân bố ở 132 xã thuộc 25 huyện, thị xã của tỉnh.
Khu vực miền núi được xác định là địa bàn có nhiều diện tích rừng có nguy cơ cháy cao trong mùa nắng nóng với hơn 39.000 ha rừng hỗn giao nứa gỗ,  nứa, vầu, le…; thực bì chủ yếu là: cỏ tranh, lau lách, cành khô lá rụng. Các địa phương và lực lượng kiểm lâm cũng xác định  nguyên nhân chính gây cháy rừng là do cháy lan từ Lào sang (khu vực huyện Mường Lát là chủ yếu), ngoài ra còn một số nguyên nhân khác, như: do người dân dùng lửa để xử lý thực bì trong sản xuất nông – lâm nghiệp gây cháy lan vào rừng; sử dụng lửa đốt ong, bất cẩn khi đi rừng gây cháy; thực bì dưới tán rừng là cành khô nhiều, lá rụng, ràng ràng, cỏ tranh, lau lách…
Hiện nay, đang là thời kỳ cao điểm cháy rừng (từ tháng 1 đến hết tháng 5-2017), việc xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô hanh, nắng nóng trên địa bàn tỉnh là  cấp bách. Để hỗ trợ chính quyền cơ sở, chủ rừng triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp PCCCR với phương châm “phòng là chính, chữa cháy rừng kịp thời và hiệu quả”. Tập trung mọi nguồn lực quản lý chặt các nguyên nhân gây cháy rừng ở từng khu vực; giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn để ngăn chặn hành vi cố ý đốt phá hoại rừng.
Đầu tư kinh phí để tu sửa, bảo dưỡng và làm mới hệ thống đường băng cản lửa, giảm vật liệu cháy ở khu vực rừng giáp ranh với nước bạn Lào và khu vực rừng thông, rừng trồng có nguy cơ cháy cao tại các địa phương. Khi dự báo cháy rừng từ cấp III trở lên phải tổ chức lực lượng kiểm soát chặt chẽ không cho những người không phận sự vào khu rừng trọng điểm cháy; tuần tra, kiểm tra, trực gác lửa rừng, phát hiện sớm cháy rừng để kịp thời dập tắt ngay khi đám cháy mới phát sinh.
Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân xử lý thực bì để sản xuất nông – lâm nghiệp nhằm bảo đảm an toàn trong PCCCR tại các địa phương; nghiêm cấm việc dùng lửa để xử lý thực bì ở khu vực giáp với khu rừng trọng điểm cháy. Thực hiện nghiêm túc việc dự báo cấp cháy rừng từ tỉnh đến huyện, xã, chủ rừng, thôn (bản) để chủ động thực hiện công tác PCCCR; duy trì chế độ trực chỉ huy chữa cháy rừng và chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, thiết bị, dụng cụ, hậu cần và các điều kiện khác từ tỉnh đến huyện, xã và chủ rừng để chữa cháy rừng kịp thời, hiệu quả theo phương châm 4 tại chỗ.
Lực lượng kiểm lâm tham mưu cho chính quyền địa phương các cấp xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ rừng, PCCCR năm 2017. Tổ chức diễn tập các phương án tác chiến chữa cháy rừng cấp xã, cấp huyện và chủ rừng Nhà nước, lấy lực lượng dân quân tự vệ làm nòng cốt, áp dụng các tình huống giả định phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị để khi xảy ra cháy rừng áp dụng chữa cháy rừng kịp thời, hiệu quả.
Tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình PCCCR (đường băng cản lửa, bảng tin tuyên truyền, biển báo cấm lửa) tại các vùng trọng điểm  có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao; các địa phương, đơn vị đầu tư tu sửa, phát dọn lại đường băng đã được xây dựng từ những năm trước, các công trình PCCCR đã có, mua sắm các phương tiện, máy móc thiết bị, dụng cụ thiết yếu phục vụ hiệu quả công tác PCCCR. (Báo Thanh Hóa 24/2,Lê Hợi)đầu trang(
Ngày 23/02, Phó Chủ tịch UBND huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An- Trần Văn Danh có buổi làm việc với một số ngành liên quan đến việc triển khai công tác phòng, chống cháy rừng trong mùa khô năm 2017.
Theo số liệu thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện, trên địa bàn có hơn 1.800ha rừng tự nhiên và rừng trồng sản xuất, trong đó tập trung chủ yếu tại Công ty cổ phần phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười và Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập.
Từ đầu mùa khô đến nay, công tác phòng, chống cháy rừng trên địa bàn huyện được các chủ rừng và cơ quan chuyên môn quản lý chặt chẽ, chưa để xảy ra vụ cháy nào.
Theo các chủ rừng và cơ quan chuyên môn, khó khăn lớn nhất trong việc phòng chống cháy rừng hiện nay là tình trạng người dân vào rừng bắt ong, đốt đồng sau thu hoạch. Đây cũng chính là nguyên nhân gây ra những vụ cháy rừng trên địa bàn huyện trong những năm trước.
Phó Chủ tịch UBND huyện Mộc Hóa - Trần Văn Danh yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện tăng cường tuần tra, canh gác bảo vệ rừng, xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ: Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ.
Bên cạnh đó, chính quyền các địa phương trên địa bàn tích cực vận động người dân hạn chế đốt đồng quanh khu vực có rừng. Các chủ rừng quản lý chặt chẽ tình trạng người dân ra vào rừng, đồng thời trang bị thêm các phương tiện chữa cháy chuyên dụng và đảm bảo luôn sẵn sàng hoạt động khi có tình huống xấu xảy ra. (Báo Long An 24/2, Khang Nam)đầu trang(
Thực hiện kế hoạch kiểm tra, liên tục trong các ngày từ 21 đến 24-2-2017, đoàn kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) rừng gồm các cơ quan chức năng tỉnh, huyện đã kiểm tra đối với các khu rừng phi lao và rừng phòng hộ thuộc các xã: Thới Thuận, Thừa Đức (Bình Đại), Tân Mỹ, Bảo Thuận (Ba Tri), Thạnh Phong, Thạnh Hải (Thạnh Phú).
Tại các điểm đến, đoàn đã kiểm tra các mặt công tác gồm: Việc xây dựng phương án PCCC, quy chế hoạt động của các đội PCCC rừng cấp cơ sở (xã). Công tác xây dựng chữa cháy tại chỗ và phương án huy động lực lượng, phương tiện, dụng cụ chữa cháy theo phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ) khi có cháy xảy ra. Kết quả công tác tập huấn của Công an PCCC huyện về kỹ năng PCCC rừng cho các đội PCCC rừng ở cơ sở, công tác tổ chức diễn tập theo phương án PCCC rừng.
Bên cạnh đó, đoàn kiểm tra đã kiểm tra các công trình PCCC rừng như: chòi canh lửa, đường băng cản lửa, hệ thống mương - hồ trữ nước, biển báo cấm lửa, biển nội quy PCCC, các phương tiện và dụng cụ cho công tác chữa cháy.
Đoàn cũng đã kiểm tra công tác phối hợp tuần tra bảo vệ rừng, công tác tuyên truyền giáo dục cho dân cư sinh sống gần rừng về nâng cao ý thức PCCC rừng, công tác xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động PCCC rừng, công tác quản lý các dịch vụ tự phát và sản xuất của cư dân ở gần hoặc gần trong khu vực rừng.
Nhìn chung, các đơn vị và địa phương được kiểm tra đều đạt yêu cầu. Đoàn kiểm tra đã nhắc nhở các đơn vị, địa phương này cần tăng cường công tác tuyên truyền về PCCC rừng; đồng thời, cần thường xuyên luyện tập cho các đội PCCC rừng cấp cơ sở và đảm bảo chế độ trực, thông tin báo cáo. (Báo Đồng Khởi 24/2, H.Đức)đầu trang(
Sau gần 2 giờ đồng hồ luồn rừng, vượt núi cheo leo, chúng tôi tận mắt chứng kiến rừng quế cổ thụ hàng trăm năm tuổi đang “sừng sững” trên đỉnh Ngọc Linh hùng vĩ.Để rừng quế cổ thụ tồn tại cho đến bây giờ, công đầu phải nói đến quyết tâm giữ rừng của đồng bào Ca dong nơi đây.
Rừng quế cổ thụ, kỳ bí trên đỉnh Ngọc Linh thuộc địa phận xã Trà Vân, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Sau khi cùng người dân thổ địa vượt hàng chục ngọn đồi, đối mặt với những cung đường lầy lội, chúng tôi có mặt tại khu vực có rừng quế “lão niên” này.
Đập vào mắt là hàng chục cây quế cổ thụ 3 người ôm mới xuể. Do cây đã lớn, rêu xanh mọc đầy thân nên nếu như không có người bản địa hướng dẫn thì mọi người không nhận ra đây là loài quế Trà My nức tiếng một thời.
Nhiều cây quế mọc cheo leo bên sườn núi, cao ngất ngưởng, rễ đâm sâu vào những ngách đá như muốn chứng minh với thiên nhiên là để tạo ra hương vị quế Trà My nổi tiếng, chúng phải chịu bao nắng gió, mưa bão, thậm chí là ảnh hưởng của chiến tranh tàn phá.
Là người dẫn chúng tôi đến tận từng gốc quế vì mỗi gốc quế cổ thụ có khi cách nhau cả trăm mét đường núi, già làng Bùi Xuân Đường (nóc ông Ní, xã Trà Vân) cho biết: rừng quế có từ lâu rồi, bên cạnh mỗi năm trồng thêm cây quế con thì mỗi gia đình nơi đây cũng có khoảng vài chục gốc quế tự nhiên từ “mẹ rừng”. Mặc dù khó khăn bộn bề, nhưng chúng tôi đều quyết tâm giữ rừng quế.
Để rừng quế tồn tại và phát triển đến tận bây giờ, công đầu phải kể đến đồng bào Ca dong ở vùng cao Trà Vân còn nhiều khó khăn nhưng đầy nghĩa tình này. Già làng Hồ Văn Đạo, năm nay đã 76 tuổi cho biết: khi tôi lớn lên thì đã thấy những cây quế cổ thụ này rồi. Quế là loài cây quý của núi rừng Ngọc Linh, nó giúp người dân chữa bệnh cho mình cũng như chữa bệnh cho động vật nuôi trong nhà.
Từ hàng trăm năm nay, thương hiệu quế Trà My đã nổi tiếng trong và ngoài nước. Nhiều khi điều kiện gia đình khó khăn nên một số hộ dân cũng muốn khai thác để có tiền trang trải cuộc sống. Tuy nhiên, với quyết tâm giữ rừng, chúng tôi đã ngầm quy ước với nhau là không được bán quế, cũng như tàn phá rừng quế cổ thụ này. Do trình độ người dân nơi đây còn thấp nên chúng tôi chỉ thỏa thuận bằng miệng chứ không có văn bản, giấy tờ gì. Tuy nhiên, bà con nơi đây vẫn kiên quyết giữ rừng quế.
Xã Trà Vân, huyện Nam Trà My có 10 nóc, thuộc 3 thôn có tổng dân số là 2.600 người. Trong đó, đồng bào người dân tộc Ca dong chiếm 98%, tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 80%. Người dân ở nóc ông Ní là địa bàn có nhiều người sở hữu quế cổ thụ lớn nhất. Nóc ông Ní có trên 60 hộ dân, trung bình mỗi gia đình sở hữu ít nhất khoảng 15 gốc quế tự nhiên có tuổi đời trên 100 tuổi. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề nuôi lợn đen, trồng lúa rẫy... nên đời sống còn nhiều khó khăn khi thiên nhiên không thuận lợi.
Ông Hồ Văn Huyện, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Vân cho biết: người dân Trà Vân còn nghèo, nhưng ý thức giữ rừng của bà con là rất đáng trân trọng. Những cây quế cổ thụ hiện nay có thể bán ra thị trường với giá hàng chục triệu đồng/cây nhưng bà con vẫn không muốn bán. Để “lấy ngắn nuôi dài”, mỗi năm cứ đến khoảng đến tháng 12 dương lịch thì người dân tiến hành lấy hạt. Đối với cây quế cổ thụ trên 100 năm tuổi thì mỗi năm cho khoảng 3 ang hạt, mỗi ang khoảng 30 lon hạt giống. Số tiền thu được theo giá thị trường hiện nay thì trung bình mỗi cây quế đem lại 4,5 triệu đồng.
Quế Trà My đã được các nhà khoa học đặt tên CINNAMONNUM CASIA, thuộc họ innamonnum, là dòng họ đứng đầu của 4 loại quế mọc ở Đông Dương, với hàm lượng ALDEHYT CINNAMIC 95% trong tinh quế. Quế Trà My hơn hẳn các loại quế ở Nghệ An, Thanh Hóa về chất lượng, và sớm trở thành một nguồn dược liệu vô cùng quý giá đối với cả đông y lẫn tây y.
Quế Trà My được biết đến với cái tên “Cao sơn Ngọc quế”, là loại quế được thế giới ưa chuộng nên có giá trị cao so với các loại quế khác và đã trở thành hình ảnh gần gũi, thân thương, một sản phẩm giá trị về kinh tế và tinh thần, ngày càng làm đẹp thêm dải đất giàu có nằm bên dãy Trường Sơn hùng vĩ.
Quế là một vị thuốc quý, được dùng nhiều trong Đông y và Tây y, có tác dụng kích thích làm tăng sự tuần hoàn máu, gây co mạch, tăng bài tiết, gây co bóp tử cung, sát trùng, chữa đau bụng, đi tả. Kinh nghiệm dân gian của các dân tộc người Cor, Ca dong, Xê đăng ở vùng núi Trà My, khi gặp những bệnh thông thường như cảm cúm, nhức đầu, trúng gió... Họ mài vỏ quế trong nước rồi uống bệnh sẽ thuyên giảm. Từ đó người ta mới phát hiện được rằng cơ thể con người tiếp giáp với quế sẽ ngăn ngừa được các chứng phong hàn, cảm lạnh, nhức đầu...
Hiện trên thị trường giá bán mỗi kg quế Trà My loại khô, dạng kẹp với mức khoảng 60.000 đồng/kg. Mỗi cây con sau khi ươm hạt nảy mầm sẽ bán được 1.000 đồng/cây. Chính vì cây quế cho lại giá trị kinh tế như vậy nên trong thời gian qua đã xảy ra tình trạng “quế tặc” trên địa bàn. Để bảo vệ yên bình cuộc sống cũng như tài sản của người dân, cơ quan chức năng mà chủ công là lực lượng công an xã phối hợp với người dân tăng cường tuần tra địa bàn, kịp thời phát hiện những đối tượng lạ mặt hoặc có ý đồ xấu.
Ông Đinh Mươk, Chủ tịch Hội Quế Trà My tỉnh Quảng Nam cho biết: trong thời gian qua, bên cạnh trồng giống quế bản địa một số người dân mua cây quế giống từ nơi khác về Quảng Nam trồng. Do đặc thù thổ nhưỡng, khí khậu cũng như nguồn giống nên những loại quế ngoại lai không mang lại hiệu quả kinh tế không cao, thậm chí là sản phẩm còn bị ép giá vì không đạt những tiêu chuẩn cần thiết. Hội đã phối hợp với ngành chức năng thực hiện đề án phát triển cây quế bản địa. Trước mắt, Hội vận động người dân nhân rộng diện tích quế bản địa, đồng thời liên hệ với các điểm chế biến quế thành phẩm để bao tiêu sản phẩm cho người trồng quế Trà My.
Theo ô ng Hồ Quang Bửu, Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My: để bảo tồn và phát triển loài quế bản địa, huyện đã lập đề án và trình cơ quan chức năng phê duyệt. Quan điểm của huyện là sẵn sàng mua lại những cây quế cổ thụ của người dân và giao cho chính họ chăm sóc. Có như vậy, những cây quế Trà My mới giữ được đúng những hương vị, tiêu chuẩn mà từ xưa nó vốn có. (Bnews 25/2, Nguyễn Sơn)đầu trang(
Được phát hiện từ đầu năm 2011, song để bảo vệ những cây chè tổ, thông tin về rừng chè Bát tiên hàng trăm năm tuổi ở Thái Nguyên ít được phổ biến.
Trong những năm trở lại đây, khi nói về những gốc chè cổ thụ, người ta thường nghĩ ngay đến những vùng chè nổi tiếng như: Suối Giàng (Yên Bái), chè Shan tuyết Hà Giang, hay ở Lào Cai, mà ít ai biết đến ở đất chè Thái Nguyên cũng tồn tại một rừng chè cổ thụ quý hiếm vào loại bậc nhất ở Việt Nam.
Rừng chè Bát tiên cổ thụ nằm sâu trong những tán rừng già nguyên sinh ở núi Hồng, thuộc địa phận của thôn Lưu Quang, xã Minh Tiến, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Phải mất 4 tiếng ròng rã vượt qua những con dốc dựng đứng, băng qua khu rừng tre, rừng vầu rậm rạp đi sâu vào những tán rừng nguyên sinh, cuối cùng chúng tôi cũng được tận mắt chiêm ngưỡng những cây chè tổ có tuổi đời lên đến cả trăm năm. Các cây chè tổ này sinh trưởng ở độ cao hơn 850m so với mực nước biển, một số cây có đường kính gần 1m một người ôm không xuể và chiều cao hơn 20m.
Chính vì nằm sâu trong những tán rừng già, việc di chuyển vô cùng khó khăn, nếu không phải là người địa phương có khinh nghiệm đi rừng thì khó ai có thể tiếp cận với khu rừng. Nhờ vậy, mà những gốc chè cổ thụ được bảo vệ một cách tương đối nguyên vẹn như thủa ban sơ.
Những cây chè cổ thụ ở đây có giá trị đặc hữu rất riêng về nguồn gen quý, với đặc điểm là thân cây rất thẳng, lá chè to, có răng cưa cao và sắc hơn so với các loại chè bình thường. Còn nước chè cổ thụ thì rất ngọt, vị mát thanh và đợm có thể pha từ 4 đến 5 nước mà không bị nhạt như chè trồng dưới bản. Ngoài ra lá chè cổ thụ có thể dùng để nấu cao cho chất lượng rất tốt và hàm lượng cao cũng lớn hơn chè thường.
Theo ông Nguyễn Văn Thụy, người đã  20 năm gắn bó với khu rừng núi Hồng và đã từng dẫn nhiều đoàn cán bộ đến khảo sát rừng chè cổ thụ, chia sẻ: “Với những cây cổ thụ có đường kính lên đến 1m do không có phương tiện để trèo lên thu hái mà chỉ để cho quả rơi dụng xuống mọc lên cây chè mới”.
Việc thu hái chỉ được thực hiện trên những cây chè có tuổi đời từ 50 đến 60 năm, công việc thu hái trong rừng già cũng rất khó khăn và một cây cũng chỉ cho từ 1đến 2 kg lá, nên những búp chè cổ thụ ở đây càng trở nên quý hiếm và có giá trị. Giá một kg có giá giao động từ 2 triệu đến 3 triệu đồng và gần như chưa có để cung cấp ra thị trường".
Tuy nhiên, chính vì lợi ích kinh tế, nên những gốc chè cổ thụ không tránh khỏi sự dòm ngó từ những kẻ có ý đồ trục lợi. Có những thời điểm, do nhận thức của nhiều người dân còn kém, chưa thấy được giá trị và tầm quan trọng của những cây chè cổ thụ nơi đây nên đã tự ý đốn chặt những cây chè ở độ cao thấp sát khu vực rừng tre, rừng vầu khiến cho số lượng cây chè có tuổi đời từ 50 đến 60 năm bị giảm sút.
Những năm gần đây ý thức được việc bảo tồn và phát triển những gốc chè cổ thụ không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn đem lại giá trị kinh tế lớn , nhiều người dân địa phương đã tìm cách nhân giống chè cổ thụ từ hạt và cây con đem về vườn nhà trồng.
Cũng theo ông Thụy thì “ vị trí của những cây chè cổ thụ không thể tuyên truyền sâu rộng vì sẽ làm ảnh hưởng đến sự sống của cây chè, rất mong mọi người bảo vệ và giữ bí mật về cây chè đó, nếu những cây chè lớn như vậy bị chặt phá thì không bao giờ có thể không phục lại”
Chính quyền địa phương cũng từng lên phương án treo biển, nhằm bảo vệ những gốc chè cổ thụ ở đây, song đánh giá tình hình thực tế việc treo biển vô hình chung sẽ khiến những gốc chè cổ thụ dễ bị kẻ xấu phát hiện nên phương án trên cũng đã được gác lại. Cho đến nay công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về việc bảo vệ và giữ gìn rừng chè cổ thụ vẫn được coi là phương án chủ đạo.
Trong khi công việc bảo vệ rừng chè cổ thụ ở xã Minh Tiến, huyện Đại Từ cần một lực lượng lớn và chiến lược cụ thể, thì trước hết tinh thần và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân địa phương trong việc bảo vệ và phát triển giống chè quý nơi đây là vô cùng quan trọng. (Dân Sinh 24/2, Tuấn Anh)đầu trang(
Ngày 23/2, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng  đã tổ chức Hội nghị phối hợp quản lý, bảo vệ rừng, truy quét chống chặt phá rừng vùng giáp ranh giữa 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn năm 2017. Dự Hội nghị có đồng chí Đoàn Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm 3 tỉnh, chính quyền địa phương.
Theo đánh giá, thời gian qua, lực lượng Kiểm lâm 3 tỉnh đã tăng cường thực hiện quy chế phối hợp kiểm tra, truy quét chống chặt phá rừng, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép tại vùng giáp ranh. Trên cơ sở đó, các bên đã kịp thời phối hợp triển khai nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn nạn phá rừng đạt kết quả, bên cạnh đó vẫn còn gặp không ít những khó khăn.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, thống nhất thông qua Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, truy quét chống chặt phá rừng vùng giáp ranh năm 2017, với một số điểm như: Thành lập các chốt kiểm lâm trên địa bàn; Hạt Kiểm lâm các huyện giáp ranh tăng cường các lực lượng phối hợp truy quét tại những địa bàn giáp ranh, thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình công tác quản lý, bảo vệ rừng, các đối tượng khai thác, tập kết, vận chuyển lâm sản trái phép tại vùng giáp ranh để có biện pháp phối hợp xử lý kịp thời...
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Đoàn Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao sự phối hợp của lực lượng kiểm lâm và chính quyền các địa phương khu vực giáp ranh giữa 3 tỉnh trong thời gian qua.
Đồng chí đề nghị lực lượng kiểm lâm 3 tỉnh và chính quyền địa phương cần thực hiện tốt một công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng: Cấp ủy, Chính quyền địa phương tổ chức tốt tuyên truyền chính sách đường lối của Đảng, chế độ, chính sách về quản lý và bảo vệ rừng; Chi cục kiểm lâm 3 tỉnh tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin và chủ động tuần tra, truy quét các tụ điểm khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng, triệt phá các đầu lậu chuyên thu mua, vận chuyển lâm sản trái phép. (Đài PTTH Thái Nguyên 24/2, Thế Toàn)đầu trang(
Hai tháng đầu năm 2017, Hạt kiểm lâm huyện Cư Mgar đã xử lý 5 vụ vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
Trong dịp trước trong và sau tết nguyên đán 2017, hạt kiểm lâm huyện Cư Mgar đã tíc cực tuền tra, kiểm soát về công tác quản lý bảo vệ rừng. Theo đó, đã kịp thời phát hiện bắt giữa và xử lý 4 vụ vận chuyển gỗ trái phép tịch thu gần 4m3 gỗ thuộc nhóm IV đến nhóm VII chủ yếu là gỗ dầu.
Xử lý 4 đối tượng xử phạt vi phạm hành chính 21.000.000 đồng. các đối tượng sử dụng xe ô tô nhỏ để chở gỗ lậu. thủ đoạn là các đối tượng chia nhỏ ra chở để tránh các bị truy cứu trách nhiệm hình sự và không bị tihcj thu phương tiện vi phạm.
Ông Võ Văn Tụ - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk cho biết. Hiện nay chuẩn bị vào mùa phá nương làm rẫy, tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy rất dễ xảy ra. do đó trước và sau tết lực lượng kiểm lâm cùng với chính quyền địa phương và chủ rừng đã tiến hành tuần tra nhằm kịp ngăn chặn tình trạng người dân phá rừng làm nương rẫy.
Tuy nhiên vào đầu tuần cuối tháng 2 vừa qua, đã xảy ra vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích hơn 4 sào thuộc lô 4 khoảnh 3; lô 8 khoảnh 2, tiểu khu 547a, trên lâm phần do công ty TNHH MTV Buôn Ja Wầm quản lý. Trên diện tích rừng bị phá chủ yếu là gỗ thuộc nhóm IV đến nhóm VI gồm 37 gốc có đường kính từ 11cm đến 34cm. Thiệt hại về rừng là trên 98%.
Hạt kiểm lâm huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk giao cho chủ rừng là công ty TNHH MTV Buôn Ja Wầm quản lý và có phương án phòng chống tái diễn nạn phá rừng lấy đất làm nương rẫy. Đồng thời theo dõi phát hiện những trường hợp dọn cây, làm rẫy để xử lý. (Tài Nguyên & Môi Trường 24/2, Lê Thắng)đầu trang(
Tại Đắk Lắk, với hành vi chống người thi hành công vụ, Công an huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk vừa khởi tố, bắt tạm giam 4 đối tượng.
Nhóm đối tượng gồm Y Phúc Knul; Y Tamy Knul; Y Viết Knul và Y Ma Mua, cùng trú ở xã Ea Hua, huyện Buôn Đôn. Trước đó, Y Phúc và Y Tamy dùng máy kéo của gia đình để vận chuyển số gỗ mà các đối tượng này khai thác trái phép ở khu vực đèo Chuối thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Khi bị Công an huyện phối hợp với hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn phát hiện, 2 đối tượng này đã gọi điện cho Y Viết và Y Ma Mua đến để cùng ngăn cản, chống đối.
Riêng Y Viết đã dùng dao chặt dứt dây cuaroa của xe máy kéo không cho tổ công tác đưa xe và số gỗ lậu trên về, còn 3 đối tượng kia thì chửi mắng, xúc phạm, đe doạ những cán bộ thi hành nhiệm vụ.
Nhóm này còn hô hoán cho một số người  đồng bào dân tộc thiểu số đang làm rẫy ở gần đó ra để gây sức ép với tổ công tác, rồi  nhảy lên xe chặt đứt dây, thả số gỗ lậu xuống để phi tang. Với những hành vi đó, Công an huyện Buôn Đôn đã khởi tố cả 4 đối tượng về tội Chống người thi hành công vụ. (ANTV 24/2, BT)đầu trang(
Trong lúc tuần tra, đội CSGT số 2 (thuộc Đội CSGT tỉnh Quảng Nam) đã bắt giữ hai xe tải chở gỗ lậu.
Sáng 26.2, trung tá Trần Văn Thắng, Đội trưởng Đội CSGT số 2 cho biết đơn vị vừa bắt giữ 2 xe tải vận chuyển gỗ lậu.
Theo thông tin ban đầu, vào khoảng 3 giờ ngày 26.2, Đội CSGT số 2 đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại Km1325, trên tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn qua thị trấn Thạnh Mỹ, (H.Nam Giang, tỉnh Quảng Nam), đã phát hiện 2 xe tải có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe, kiểm tra.
Qua kiểm tra, CSGT phát hiện trên xe tải mang BS 92C - 021.26  có 2 phách gỗ, dài 2,5 m, rộng 0,6 m, dày 0,11 m cùng 1 bi gỗ tròn và 12 cục gỗ nu. Xe tải mang BS 92K - 6917 vận chuyển 2 phách gỗ chưa xác định được chủng loại có chiều dài 2,3 m, rộng 0,38 m và dày 0,31 m.
Tại thời điểm kiểm tra, tài xế xe 92C - 021.26 là Phan Tá Phước (trú H.Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) và tài xế xe 92K - 6917 là Võ Văn Sinh (trú xã Điện An, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) không xuất trình được các giấy tờ chứng minh nguồn gốc của số gỗ trên.
“Chúng tôi chưa thể xác minh số gỗ trên thuộc loại gỗ nào, hiện vẫn đang chờ lực lượng kiểm lâm kiểm tra”, trung tá Thắng cho biết. (Thanh Niên 26/2, Mạnh Cường)đầu trang(
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đang bị đe dọa khi người dân khai thác trái phép gốc, rễ cây hương giáng.
Từ khoảng tháng 10/2016 đến nay, trên địa bàn các xã vùng đệm của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã xảy ra tình trạng người dân tập trung vào rừng khai thác gốc, rễ cây hương giáng, gây thiệt hại tài nguyên rừng, nguy cơ đe dọa đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. (Đài Truyền Hình VN 26/2)đầu trang(
Sau hơn một năm thực hiện Nghị định 75/2015/NĐ-CP về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) giai đoạn 2015-2020, nhiều diện tích đất trống của huyện Sơn Động (Bắc Giang) được phủ xanh bằng keo, bạch đàn, hứa hẹn mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân nơi đây.
Nhằm giúp hộ vùng đồng bào DTTS cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, năm 2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 75. Triển khai chính sách mới, cơ quan chức năng của tỉnh, huyện đã tuyên truyền để người dân nắm được ý nghĩa thiết thực khi phát triển rừng đồng thời lựa chọn, bình xét hộ được hỗ trợ bảo đảm đúng đối tượng.
Nhờ vậy, bà con đã tích cực tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tự nhiên với mức hỗ trợ 400 nghìn đồng/ha/năm. Cùng đó, đối tượng là đồng bào DTTS tham gia trồng rừng kinh tế còn được hỗ trợ 100% giá giống, vật tư nông nghiệp và tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc.
Tìm hiểu tại xã Tuấn Đạo, một trong những địa bàn triển khai chính sách vào thời điểm này cho thấy, nhiều vạt rừng đang phát triển tốt. Sinh sống trong xã chủ yếu là đồng bào Tày, Dao, Nùng... Bà con có thu nhập bấp bênh, nhiều hộ nghèo.
Để cải thiện mức sống của người dân, phát triển kinh tế rừng dựa vào lợi thế có sẵn là một trong những giải pháp hữu hiệu. Thực hiện Nghị định 75, chính quyền xã phối hợp với cơ quan chuyên môn rà soát, giao đất lâm nghiệp ổn định tới từng hộ; vận động người dân tranh thủ kinh phí hỗ trợ và nguồn vốn của gia đình mở rộng diện tích keo, bạch đàn. Thấy lợi ích cũng như ý nghĩa của trồng rừng, gia đình anh Triệu Xuân Quý, thôn Tuấn Sơn trồng gần 2 ha keo lai. Toàn bộ số cây này sau khoảng gần 4 năm nữa sẽ đến kỳ khai thác, dự kiến thu về hàng trăm triệu đồng.
Anh Quý chia sẻ: “Thu nhập của gia đình tôi chỉ trông vào vài sào ruộng nên việc đầu tư kinh phí cải tạo đất trồng rừng gặp nhiều khó khăn. Nay được sự hỗ trợ của Nhà nước về cây giống, phân bón, tôi hy vọng những năm tới sẽ có nguồn thu từ rừng, đời sống khấm khá hơn”. Qua bình xét, hộ ông Đặng Văn Phú, thôn Mùng, xã Dương Hưu được giao khoán bảo vệ khoảng 4 ha rừng tự nhiên. Năm nay, sau khi cân đối về vốn, lao động của gia đình, ông đăng ký với xã tiếp tục trồng mới 2 ha keo lai.
Theo ông Triệu Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hưu, Nghị định 75 được triển khai đã góp phần nâng cao ý thức về trồng, chăm sóc bảo vệ rừng cho người dân. Hiện toàn xã có khoảng 1 nghìn hộ nhận bảo vệ rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp trên tổng diện tích 4 nghìn ha, trong đó 200 ha trồng mới theo diện hỗ trợ của Nhà nước. Mỗi năm, giá trị khai thác gỗ và các sản phẩm từ rừng đạt hơn 4 tỷ đồng. Thời gian tới, bên cạnh làm tốt công tác giao khoán rừng cho các hộ, UBND xã tập trung tuyên truyền, vận động bà con trồng cây gỗ lớn và dược liệu dưới tán rừng để tăng thu nhập.
Giai đoạn 2015-2016, huyện Sơn Động có 21 xã, thị trấn được hưởng ưu đãi theo Nghị định 75. Qua đó, có  hơn 8 nghìn ha rừng được trồng mới, chăm sóc, nâng độ che phủ rừng lên 74%. Các giống cây đưa vào trồng chủ yếu là keo lai, bạch đàn hiện đang sinh trưởng, phát triển tốt, hứa hẹn mang lại nguồn thu nhập cao cho nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Hiệu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Động cho biết: “Chính sách này có ý nghĩa lớn, không những giúp hàng nghìn hộ của huyện có điều kiện phát triển kinh tế mà còn khuyến khích họ tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Từ đó hạn chế tình trạng phá rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững”.
Năm 2017, huyện Sơn Động được hỗ trợ trồng mới hơn 100 ha rừng từ nguồn vốn ngân sách T.Ư. Hiện Hạt Kiểm lâm phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện đang tiến hành chọn hộ, kiểm soát chất lượng cây giống để đưa vào sản xuất trong khung thời vụ. (Báo Bắc Giang 24/2, Ngọc Tâm)đầu trang(
Trước thông tin phản ánh của báo Pháp luật & Xã hội về bài “Rừng phòng hộ Ngọc Réo bị cạo trọc: Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Hà nói “chưa biết” số ra ngày 21/2/2017, phóng viên đã lập tức nhận được phản hồi từ phía đơn vị quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ Ngọc Réo (Đắk Hà).
Và lần này, ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum còn "trách": "Báo chí phải cho chúng rôi biết phá rừng ở thôn gì, huyện gì thì mới biết được chứ"Rừng phòng hộ Ngọc Réo, huyện Đắk Hà có tất cả 21.326,78ha, trong đó địa bàn có rừng là 4.786,75ha; hiện đang được giao khoán cho 8 cộng đồng với diện tích 1.931,4 ha. Bên cạnh đó đơn vị quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ trực tiếp giao cho 2 tổ chức là Công an xã và Xã Đội với diện tích 4.446,5ha.
Vì nhiều tiểu khu được phân chia cho nhiều đơn vị quản lý nên việc phá rừng phòng hộ Ngọc Réo đã xảy ra ở mức độ nghiêm trọng và cần được xem là “điểm nóng” của công tác bảo vệ rừng hiện nay ở Đắk Hà nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung. Qua kiểm tra và xác minh của đại diện phía đơn vị chủ rừng (Ban quản lý rừng phòng hộ Đắk Hà và đại diện Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Hà), việc phá rừng ở đây đang diễn ra ngày một nghiêm trọng hơn.
Tại khoảnh 5, thuộc tiểu khu 365 của lâm phần rừng Phòng hộ huyện Đắk Hà bị khai thác trái phép liên tục. Xu hướng ngày càng tăng lên với nhiều thủ đoạn tinh vi của các đối tượng lâm tặc. Trước sự việc phá rừng gây xôn xao trong dư luận, vào ngày 22/2, Đoàn xác minh đã vào tận nơi khu vực được báo Pháp luật & Xã hội thông tin, qua chứng kiến của nhiều cán bộ thuộc Ban Quản lý rừng Phòng hộ thì rừng nơi đây đã ở vào mức “báo động đỏ”.
Thế nhưng, điều đáng bất ngờ là nạn phá rừng ở tiểu khu 365 đã quá rõ ràng, rừng bị đốn hạ quá lớn, nhiều cây gỗ quý đổ “nghiêng ngã” trong lâm phần của mình mà cán bộ Kiểm lâm địa bàn là Ông Bùi Văn Khiêm lại tỏ ra rất bình thường. Ông Khiêm cho hay: “Việc phá rừng ở tiều khu 365 diễn ra lâu rồi, và việc này theo tôi nghĩ đây đang ở mức độ nhẹ”.
Vụ việc phá rừng phòng hộ huyện Đắk Hà không những cần phải xem xét lại vai trò và trách nhiệm của nhiều cán bộ Kiểm lâm phụ trách, của những Lãnh đạo đã và đang giữ vai trò “cầm cân, nảy mực”. Trong việc trông coi khu rừng và địa bàn được giao phó mà việc rừng bị rơi vào cảnh “nghiêng ngả” với nhiều cỗ máy cày hoạt động liên tục thì môi trường, hệ sinh thái đã dường như thay đổi theo thời gian.Điều này gây ra hậu quả thật khó lường, cho nhiều thế hệ trẻ đang lớn lên phải “chống chọi” với hạn hán và thiên tai. Vốn dĩ, hàng năm chúng ta đã mất quá nhiều chi phí cho dịch vụ môi trường.
Rừng Phòng hộ Đắk Hà tồn tại nhiều cây gỗ quý như Dổi, Huỳnh Đàn trắng, Trâm, Chò xót… Đã nhiều năm gắn bó với việc bảo vệ và gìn giữ. Những thân cây lớn có vành trong 200 -300 cm đã bị đốn hạ, xẻ ngang dọc chỉ còn sót lại gốc cây “trơ trọi” và “nhựa ứ” ra như nước mắt của núi rừng bị con người triệt hạ bằng nhiều cỗ máy hiện đại như xe cày, máy cưa lốc mà trước đó khu rừng luôn yên ắng và tĩnh lặng.
Chứng kiến cảnh phá rừng phòng hộ quá mức, ông Nguyễn Văn Khiêm - Hạt phó Kiểm lâm Đắk Hà cho rằng: “Qua công tác tuần tra, kiểm tra Hạt Kiểm lâm Đắk Hà, cũng như là chủ rừng thì hiện tượng phá rừng ở tiểu khu 365 là có. Trong quá trình tuần tra thì chúng tôi đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm.
Nguyên nhân của việc phá rừng là các đối tượng lâm tặc lợi dụng giáp ranh để chặt phá cây. Các phương án đối phó là phối hợp với xã, chủ rừng (Ban Quản lý và Bảo vệ rừng phòng hộ) và Hạt kiểm lâm chủ động tuần tra truy quét”. Nói là vậy, nhưng khu rừng phòng hộ hiện nay đang bị “bức tử” bởi cánh lâm tặc đốn hạ.
Tuy nhiên, ý kiến của ông Khiêm lại hoàn toàn trái chiều với ông Trịnh Xuân Long – Hạt trưởng Kiểm lâm Đắk Hà. Ông Long còn cho rằng: “Báo chí phải cho chúng tôi biết, phá rừng ở thôn gì, huyện gì thì mới biết được chứ?”. Vụ việc phá rừng phòng hộ đã quá mức báo động, nhiều đơn vị chức năng được bàn giao địa bàn để bảo vệ rừng thì nay luôn cho rằng luôn tuần tra và truy quyét nhưng khó phát hiện và xử lý các đối tượng vi phạm. (Pháp luật Xã hội 23/2, Tiến Nhuệ - Hải Nguyễn)đầu trang(
Lợi dụng doanh nghiệp được chính quyền đồng ý cho mở tuyến đường đi xuyên qua rừng phòng hộ, một số người đã tranh thủ chặt cây.
Chiều 25.2, ông Trần Văn Tý, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đakrông (Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Trị) cho hay trong ngày, đơn vị đã phối hợp với kiểm lâm địa bàn, chính quyền địa phương kiểm tra thực tế về thông tin rừng trong lâm phần đơn vị quản lý bị xâm hại.
“Anh em báo về, việc người dân lợi dụng việc làm đường để đốn cây là có nhưng số lượng ít, rải rác...”, ông Tý nói. Ông Tý nói thêm, do lực lượng chức năng quả mỏng nên khó quản lý nhưng cho hay sẽ tăng cường tuần tra để chấn chỉnh tình trạng này.
Vài tháng trở lại đây, để phục vụ vận chuyển thiết bị cho dự án điện gió của doanh nghiệp T.H.C., chính quyền Quảng Trị đã cho phép doanh nghiệp này mở tuyến đường xuyên rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đakrông với chiều dài khoảng 10 km; điểm đầu là thôn Khe Van (xã Hướng Hiệp, H.Đakrông) và điểm cuối là thôn Hong Cóc (xã Hướng Linh, H.Hướng Hóa).
Tuy nhiên, từ khi doanh nghiệp tiến hành mở đường thì cũng là lúc một số người “tranh thủ” mang cưa vào rừng, đốn hạ cây.
Phía Hạt kiểm lâm H.Đakrông cho biết, đây là khu vực rừng nghèo phục hồi tuy nhiên đi sâu vào bên trong vẫn có thể gặp cây gỗ to... và thừa nhận việc mở đường sẽ có những hệ lụy trong việc bảo vệ rừng. (Thanh Niên 25/2, Nguyễn Phúc)đầu trang(
Sáng 23-2, Tòa án nhân dân huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi, đã mở phiên tòa xét xử lưu động tại xã Sơn Tinh, huyện Sơn Tây vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Đinh Văn Mong, 32 tuổi, trú tại xã Sơn Tinh, về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điều 189 của Bộ luật hình sự.
Đầu năm 2016, Đinh Văn Mong cùng một người khác lên khu vực suối Nước Con, thuộc Lô 8, khoảng 4 Tiểu khu 178, xã Sơn Tinh, phá rừng phòng hộ đầu nguồn JBIC, với diện tích lên tới 3.558m 2 để lấy đất canh tác, sản xuất.
Tại phiên tòa, bị cáo Mong đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện hộ cận nghèo và có lòng ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Đinh Văn Mong 12 tháng tù giam về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 189 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra Hội đồng xét xử còn yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm trồng lại số diện tích rừng đã bị hủy hoại, chăm sóc 3 năm và 5 năm bảo vệ rừng, sau đó bàn giao lại cho Ban quản lý đầu nguồn Thạch Nham. (An Ninh Thủ Đô 24/2)đầu trang(
Hàng loạt cây trang, cây bần... trong khu vực rừng bảo vệ tuyến đê biển quốc gia trên địa phận xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng bị người dân phát quang để đặt đăng lưới đánh bắt thủy hải sản.
Ở khu vực này, những tán cây khô nằm ngổn ngang cách khu vực rừng xanh tốt phía bên ngoài chỉ khoảng 200-300m. Bên cạnh những cây khô là đăng lưới được người dân dựng lên để đánh bắt thủy sản.
Vị trí khu vực cây rừng bị chặt hạ nằm sát biển nên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tuyến đê biển quốc gia, vốn được bảo vệ nghiêm ngặt.
“Hôm trước người ta chặt chục cây, không thấy ai nhắc nhở họ lại tiếp tục chặt. Cứ đà này, đến một lúc khu rừng phòng hộ gầy dựng mấy chục năm nay sẽ mất sạch không chừng” - ông L., một ngư dân ở khu vực này, lo ngại.
Đáng ngại nhất là tình trạng người dân đẽo phần vỏ xung quanh gốc những cây bần để khi thủy triều lên khiến nước biển làm cho thối gốc.
Ông Nguyễn Văn Đông - chủ tịch UBND xã Đông Hưng - xác nhận có xảy ra việc người dân phá rừng hộ đê biển quốc gia tại khu vực xã Đông Hưng và sự việc bị phát hiện vào ngày 20-2, đồng thời đã xác định được người chặt phá cây là ông Lương Văn Hoàn (50 tuổi, người dân xã Đông Hưng).
Trao đổi với PV, ông Trần Văn Khanh, phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, nói: “Hiện nay chúng tôi giao cho bên kiểm lâm tiến hành rà soát, thống kê thiệt hại cụ thể để có hình thức xử lý phù hợp, quan điểm của huyện là sẽ xử lý nghiêm để răn đe cho những người dân khác”. (Tuổi Trẻ 24/2, Tiến Thắng)đầu trang(
Nhiều cá nhân, tập thể ở Hải Phòng sẽ bị xem xét xử lý khi để xảy ra việc phá rừng phòng hộ cách chân đê khoảng 2km.
Cơ quan chức năng huyện Tiên Lãng đang tiến hành xử lý vụ việc chặt phá rừng phòng hộ ven biển tại xã Đông Hưng (huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng). Đồng thời, nhiều cá nhân, tập thể sẽ bị xem xét xử lý khi để xảy ra việc phá rừng phòng hộ cách chân đê khoảng 2km.
Ngay sau khi nhận được thông tin tố giác tội phạm từ quần chúng, nhân dân, các cơ quan chức năng huyện Tiên Lãng đã tới hiện trường để xác minh vụ việc. Qua báo cáo tình hình, kết quả kiểm tra, Đội Cảnh sát Kinh tế (Công an huyện Tiên Lãng) xác định đối tượng phá rừng là Lương Văn Hoàn (sinh năm 1967), vợ là Phạm Thị Mỳ trú tại thôn Thái Hưng, xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng.
Đối tượng Hoàn đã chặt phá một số cây Bần trong khu vực rừng ngập mặn để cắm đăng khai thác thuỷ sản. Diện tích rừng bị phá khoảng 750 m2 và đây là rừng tái sinh. Bên cạnh đó, lực lượng chức năng còn phát hiện hàng chục cây Bần, cây Chang bị chặt bỏ.
Ông Nguyễn Văn Đông, Chủ tịch UBND xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng cho biết: "Địa phương vẫn phải có trách nhiệm quản lý và tuyên truyền thường xuyên. Đây cũng là do các hộ dân nhận thức ở mức độ. Tới đây, chúng tôi cũng xây dựng kế hoạch cụ thể đưa ra các quy chế phối hợp với các cơ quan cũng như đồn Biên Phòng, Chi cục Kiểm Lâm. Giao rõ việc trông coi cho từng hộ cũng như các ban và tăng cường công tác tuyên truyền".
Để xảy ra vụ việc phá rừng phòng hộ, UBND huyện Tiên Lãng đã xác định trách nhiệm trực tiếp là Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và UBND xã Đông Hưng và các đơn vị có liên quan trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.
UBND huyện Tiên Lãng cũng yêu cầu các tập thể, cá nhân có liên quan để xảy ra vụ việc nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm. Trước việc rừng phòng hộ ven biển ở xã Đông Hưng bị chặt phá, ông Phạm Hồng Khánh, Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyên Tiên Lãng cho rằng, việc làm này để khai thác tôm cá tự nhiên, như vậy là nhận thức của một số người dân vẫn còn đơn giản, không thấy hết các hậu quả.
Hiện vụ việc này đang được UBND huyện giao Công an huyện Tiên Lãng chủ trì, hoàn thiện hồ sơ để xem xét trách nhiệm, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. (VOV 24/2, Tiến Cường Thanh Hưng)đầu trang(
Hàng loạt cây rừng tự nhiên khu vực huyện miền núi Đa Krông, thuộc rừng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa – Đakrông (Quảng Trị) quản lý bị xẻ thịt không thương tiếc.
Nhận được tin báo của nhân dân, sáng 26.2, PV Dân Việt cùng nhóm đồng nghiệp lên đường tiến vào khu vực rừng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa – Đa Krông làm chủ rừng để ghi nhận tình trạng phá rừng. Tuy nhiên, khi từ quốc lộ 9 (nối Đông Hà – Lảo Bảo) rẽ vào rừng chừng 100 mét thì nhóm phóng viên bị cản trở bởi một nhóm người tự xưng là bảo vệ của công ty Tân Hoàn Cầu đang thi công làm đường.
Mất 1 giờ đồng hồ tìm đường khác nhưng không thành, nhóm PV buộc phải bỏ lại xe để đi bộ vào rừng nhưng vẫn bị bảo vệ công ty Tân Hoàn Cầu cản trở. Sau khoảng 15 phút nói lý lẽ thì nhóm PV mới thoát khỏi sự đeo bám, cản trở của nhóm người trên và đi bộ vào rừng.
Từ quốc lộ 9, đi theo con đường đang được công ty Tân Hoàn Cầu làm khoảng 3km thì xuất hiện tình trạng rừng cây bị triệt hạ không thương tiếc dọc hai bên đường. Khu vực nhóm PV ghi hình cách quốc lộ 9 khoảng 4km, thuộc tọa độ 16 độ 40 phút 25 giây Bắc – 106 độ 47 phút 41 giây Đông có vô số cây rừng bị đốn hạ. Nhiều cây gỗ lớn, đường kính 40-90cm bị máy cưa xẻ thịt còn rỉ nhựa cây.
Càng vào sâu, rừng bị tàn phá càng nhiều. Khu vực rừng này không còn cây lớn nào bởi đã bị đốn hạ. Một nhóm thanh niên người Vân Kiều cho hay, công ty Tân Hoàn Cầu đã đốn hạ cây rừng. “Công ty nói họ được quyền cưa cây, họ không cho chúng tôi cưa” – một thanh niên người Vân Kiều cho biết.
Trong khi đó, ông Trần Văn Tý, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa – Đa Krông cho biết: “Dân có lên trộm, anh em báo về họ có cưa 1-2 cây chỉ là củi. Ban quản lý đã phối hợp với chính quyền địa phương, kiểm lâm ngăn chặn kịp thời”.
Tuy nhiên, sáng 26.2, tiếng máy cưa vẫn ầm ầm ở khu vực rừng phòng hộ mặc dù xuất hiện một chiếc xe biển xanh của kiểm lâm. Từng đoàn xe máy vẫn ngang nhiên chở gỗ đã cắt thành từng khối vuông vức chở từ trong rừng qua cổng barie của công ty Tân Hoàn Cầu xuống quốc lộ 9.
Trước đó, Báo Dân Việt đã đăng loại bài “Ngang nhiên chở gỗ lậu “khủng” trên quốc lộ như chốn không người”. Bài báo đã phản ánh có nhóm 3 thanh niên ngang nhiên dùng xe máy chở gỗ lậu trên quốc lộ 9 (đoạn qua thôn Khe Xông, xã Đa Krông, huyện Đa Krông). Sau đó, lực lượng kiểm lâm đã thu giữ 1,1 m3 khối gỗ lậu (chưa quy tròn) trên và xác định số gỗ ấy được lấy từ khu vực rừng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa – Đa Krông quản lý.
Sau phản ánh của Báo Dân Việt, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Trị đã chỉ đạo UBND huyện Hướng Hóa và các ban nghành liên quan lập tức điều tra vụ việc. (Dân Việt 26/2, Ngọc Vũ)đầu trang(
Lợi dụng việc thi công tuyến đường qua rừng phòng hộ, “lâm tặc” ngang nhiên đốn hạ cây rừng như chốn không người
Cuối năm 2016, tuyến đường Khe Van - Hướng Linh (tỉnh Quảng Trị) do Công ty CP Tân Hoàn Cầu khởi công với chiều dài khoảng 15 km đi qua 2 huyện miền núi Đakrông và Hướng Hóa. Lợi dụng tuyến đường đang thi công, “lâm tặc” kéo vào rừng phòng hộ đốn hạ cây rừng.
Những ngày vừa qua, chúng tôi đến nơi đang thi công tuyến đường. Từ đằng xa đã nghe tiếng máy cưa trong rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đakrông vọng lại. Leo hết triền dốc với lởm chởm đá núi sắc cạnh, chúng tôi tiếp cận khu vực đang phát ra tiếng cưa máy.
Dọc lối đi, rất nhiều gốc cây đường kính 40-80 cm như dẻ, lội, chim chim, bằng lăng, chủa… bị cưa sát gốc, mủ còn rỉ. Nhiều thân cây được “lâm tặc” xẻ khúc dài khoảng 2 m, chờ vận chuyển. Hai “lâm tặc” mà chúng tôi gặp là người dân tộc Vân Kiều. Họ dùng cưa máy đốn hạ cây ở khu vực này gần một tuần qua. Số gỗ sau khi khai thác sẽ được chuyển về TP Đông Hà tiêu thụ.
Khi chúng tôi ngược lối mòn trở ra bìa rừng thì gặp một thanh niên vác cưa máy vào rừng. Thanh niên này nói đã vào rừng khai thác gỗ 4 ngày qua và cho biết có nhiều người dân trên địa bàn cũng vào rừng tìm cơ hội làm ăn. Nhóm của người này chia 2 khu vực khai thác. Sau khi đốn hạ hết cây, họ sẽ đốt, phát rừng để trồng cây keo lai. Ngoài nhóm này, các nhóm khác cũng đang làm như thế ở những khu rừng dọc tuyến đường mới mở.
Ông Trần Văn Tý, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đakrông, cho hay tuyến đường Khe Van - Hướng Linh kéo dài qua rừng phòng hộ của 2 huyện Đakrông - Hướng Hóa khoảng 3 km. Hiện đơn vị này với 16 nhân viên chuyên trách bảo vệ rừng đang quản lý khoảng 16.000 ha rừng phân bố trên 15 xã. Ông Tý thừa nhận do địa bàn quá rộng, lực lượng bảo vệ rừng mỏng nên tình trạng người dân xâm phạm rừng có xảy ra.
Về việc tàn phá rừng phòng hộ nơi đang thi công tuyến đường, ông cho hay mấy ngày qua trong đơn vị có người tử vong trong khi đi tuần tra và chưa rõ nguyên nhân. Anh em trong đơn vị đang thăm viếng, tổ chức truy điệu.
“Chúng tôi sẽ yêu cầu anh em bám sát địa bàn, báo cáo gấp tình trạng này với chính quyền địa phương, kiểm lâm địa bàn để phối hợp chốt chặn, tuyên truyền vận động và xử lý những hành vi xâm hại đến rừng” - ông Tý nhấn mạnh. (Người Lao Động 24/2, Hà Phong)đầu trang(
Có ai về Đại Phong xin vô ghé thăm vùng Bến Tiến/Tay cuốc khai hoang đã đẩy lùi quá khứ nghèo nàn, men theo lời hát trong ca khúc nổi tiếng “Quảng Bình quê ta ơi”, chúng tôi trở lại miền tây Lệ Thủy giữa ngát xanh cây lá và bạt ngàn rừng.
Miền tây Đại Phong năm xưa, nay là xã Văn Thủy đang là điểm sáng trong phát triển kinh tế vùng gò đồi của huyện Lệ Thủy (Quảng Bình). Ngược dòng Kiến Giang, chúng tôi lên Văn Thủy vào một trưa nắng đầu xuân. Mầu xanh hun hút khiến cái nắng dịu đi nhiều.
Vì thế, lời đề nghị đi thăm rừng vào giữa trưa của chúng tôi cũng được lãnh đạo xã Văn Thủy đáp ứng ngay, cử Hoàng Văn Năm, cán bộ phụ trách lâm nghiệp xã và anh Trần Quốc Tuấn, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn dẫn đường. Thôn Xuân Giang như lọt thỏm giữa những cánh rừng keo, tràm đang đến kỳ thu hoạch. Trận bão lớn trong tháng 10-2013 đã làm cho gần như toàn bộ rừng của Văn Thủy gãy đổ hoặc nghiêng ngả nhưng chưa đầy bốn năm sau, rừng lại nối rừng, bạt ngàn xanh.
Nói về nghề trồng rừng và làm giàu từ rừng ở Văn Thủy, không thể không nhắc tới ông Dương Anh Đức ở thôn Xuân Giang. Cựu chiến binh này vốn là cán bộ của Nông trường Đại Giang, sau khi lâm trường giải thể ông gắn bó với nghề rừng từ đó đến nay. Từ năm 1999, ông đã nhận đất, khai hoang trồng rừng.
Với nhiều người Văn Thủy khi đó, việc làm của ông Đức được cho là “liều cho vui” nhưng là cán bộ lâm nghiệp, ông Đức cho rằng: “Không có cách nào khác là khai thác tiềm năng đất đai để phát triển kinh tế gia đình, tức là trồng rừng để sống”.
Từ những héc-ta rừng đầu tiên đó, năm 2002, ông thu được một món tiền đủ để trang trải nợ nần và tiếp tục đầu tư trồng rừng. Người dân Văn Thủy thấy ông Đức “làm chơi, ăn thật” noi theo ông tìm đất trồng rừng. Bây giờ ông Đức có hơn 50 ha keo lai đang và sắp vào kỳ thu hoạch.
Ông cho biết, mỗi héc-ta rừng keo sau khi thu hoạch trừ các chi phí, ông thu hơn 60 triệu đồng trong chu kỳ bốn đến năm năm. Anh Hoàng Văn Năm nói xen vào: “Anh tính, với 60 triệu đồng thu được mỗi ha nhân với 50 ha thì ông Đức đã là triệu phú trồng rừng rồi còn gì. Mà nghề rừng đã giúp ông gây dựng cơ nghiệp ổn định cho bốn người con, lại còn mua ô-tô con nữa đó”.
Ông Dương Anh Đức dẫn chúng tôi thăm khu rừng keo lai gần nhà. Nếu không được chủ nhân giới thiệu cặn kẽ, chúng tôi khó tin đây là rừng keo bốn năm tuổi bởi thân cây gần bằng bắp chân, cao gần 10 m, thẳng tắp vươn đón ánh mặt trời.
Ông Đức nói, thỉnh thoảng cứ sáng hoặc cuối chiều hai vợ chồng ông vào rừng phát quang cây nhỏ và cỏ dại như là tập thể dục, và hít thở bầu không khí trong lành, rèn luyện sức khỏe. Khi mệt hoặc gặp việc nặng thì thuê lao động. Cán bộ kiểm lâm Trần Quốc Tuấn nói thêm, ở Văn Thủy, rừng cây khoảng bốn, năm tuổi được bán 50 đến 60 triệu đồng/ha, còn vườn bác Đức, cây to và thẳng đẹp thế này nếu bán giá phải 80 đến 90 triệu đồng/ha. Còn để thêm một thời gian nữa, cây già tuổi, giá bán còn cao hơn.
Gần 11 giờ rưỡi trưa nhưng nhóm khai thác rừng của gia đình anh Võ Văn Nhuần ở thôn Xuân Giang vẫn miệt mài làm việc. Nhuần dừng tay cưa tiếp chuyện chúng tôi. Bố anh vốn là người miệt bắc Quảng Bình vào làm công nhân Nông trường Đại Giang rồi lập gia đình, sinh anh ra trên vùng đất khai hoang lập nghiệp này.
Giờ Văn Thủy đã là quê hương của mấy anh em Nhuần. Nhuần cho biết, đây là khu đất cạnh nhà rộng gần nửa héc-ta, anh trồng keo đã bốn năm, nay thu hoạch để cải tạo thành vườn. Giá bán số gỗ keo này khoảng 24 triệu đồng, trừ chi phí anh thu 18 triệu đồng. Nhuần bảo, nông dân Văn Thủy giờ sướng rồi, bán rừng keo dễ hơn bán bó rau muống.
Nghe lạ, tôi hỏi lại, Nhuần phân tích: “Nếu bán bó rau muống thì anh phải đưa ra chợ, ít người đến nhà mua. Còn bán rừng, anh chỉ cần a-lô là có người đưa xe đến trả giá mua ngay. Mà chủ xe chở cây bao giờ cũng kèm thêm lao động, chỉ cần đồng ý bán, họ khai thác xong chở đến nhà máy cân khối lượng, trả “tiền tươi” luôn. Chỉ sợ không có cây để bán thôi”.
Anh Hoàng Văn Năm cũng là triệu phú ở vùng đồi này. Hiện anh có hơn 30 ha rừng, mỗi năm cho thu hoạch hàng trăm triệu đồng. Ở tuổi ngoài 55, người nông dân này còn rất tráng kiện và nhanh nhẹn, miệng nói tay làm. Chẳng thế mà khi đến các điểm khai thác rừng, anh Năm được bà con hỏi han, trò chuyện khá xôm.
Đáng quý hơn khi biết rằng, anh Năm vốn là nông dân trồng rừng có kinh nghiệm, nói năng lưu loát, tác phong nhanh nhẹn, cho nên được UBND xã Văn Thủy ký hợp đồng làm cán bộ phụ trách lâm nghiệp với mức phụ cấp... chỉ 500 nghìn đồng/tháng. Với một người trồng rừng thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm như anh, mức phụ cấp trên chỉ đủ đổ xăng xe trong một tuần nhưng anh cũng vui vẻ và tận tâm với công việc.
Các số liệu về nghề rừng ở Văn Thủy, anh nói vanh vách mà không cần giở sổ: Xã có gần 1.900 ha rừng trồng, năm 2016 toàn xã thu gần 25 tỷ đồng từ nghề rừng - con số có thể chưa lớn nhưng đã giúp cho 560 hộ dân trồng rừng của xã có nguồn thu ổn định và no đủ. Hơn 40 hộ có thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.
Nhiều hộ có từ 100 đến 200 ha rừng cho thu nhập mỗi năm cả tỷ đồng. Anh Năm nói, đất ở Văn Thủy bây giờ thật sự là “vàng”, khoảnh đất chỉ trồng được vài chục cây, người dân cũng không bỏ. Xã hết đất, người dân sang các xã bên cạnh mua hoặc thuê đất trồng rừng. Khác với trước đây, rừng trồng phải mất nhiều thời gian mới khai thác được, người dân Văn Thủy trồng rừng có đầu tư nên chỉ bốn năm là khai thác.
Theo anh Hoàng Văn Năm, đầu tư cho mỗi héc-ta rừng khoảng 10 triệu đồng, bao gồm tiền mua cây giống, thuê máy xới, phân bón…rồi sau đó mất một ít công tỉa thưa, phát cây cỏ; ngoảnh đi ngoảnh lại, bốn năm là thu hoạch. Bình quân mỗi ha rừng sau khi trừ chi phí thu khoảng 50 triệu đồng, với chu kỳ bốn năm, vậy là mỗi năm có thu nhập hơn 10 triệu đồng.
Quan trọng hơn, nghề rừng không chỉ tạo việc làm cho lao động trong xã, mà còn giúp nông dân ở các xã độc canh cây lúa ở vùng giữa huyện Lệ Thủy có thêm nguồn thu nhập nhờ thu hoạch keo, tràm ở vùng Bến Tiến. Người Văn Thủy không thu hoạch rừng đồng loạt mà hầu như rải rác trong năm để có tiền chi tiêu cho cuộc sống.
Vậy là lao động làm thuê mướn cũng có việc làm gần như cả năm từ nghề chặt cây. Tính ra, nếu trong gia đình hai vợ chồng đi thu hoạch rừng cũng thu được 500 nghìn đồng mỗi ngày, có khi còn cao hơn do rừng ở khu vực thuận tiện về đường sá giúp cho việc thu hoạch nhanh, năng suất cao.
Mấy năm trước, do phải vận chuyển gỗ rừng trồng từ Lệ Thủy ra tận cảng Hòn La, với quãng đường hơn 120 km để bán cho nhà máy chế biến gỗ dăm cho nên chi phí cao, lại phụ thuộc phương tiện. Nay, trên địa bàn Văn Thủy đã có một đại lý thu mua gỗ, ở xã bên có nhà máy chế biến gỗ dăm. Điều này càng kích thích người dân Văn Thủy và cả vùng rộng lớn phía tây huyện Lệ Thủy đầu tư trồng rừng.
3. Ở Văn Thủy, không chỉ người dân mà cán bộ xã cũng nhận đất trồng rừng. Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Tường có khoảng 6 ha rừng. Anh nói, tranh thủ sau giờ làm việc thì lên rừng hít hà cho hơi thở trong lành, phát tỉa cây cỏ, nhưng quan trọng hơn là để hiểu hơn về nghề rừng, đã giúp cho người dân Văn Thủy quê anh no đủ và giàu có.
Tranh thủ giữa lúc công việc, chúng tôi cùng anh ra bìa rừng cạnh trụ sở UBND xã trò chuyện. Theo anh Tường, xã không còn đất để mở rộng diện tích rừng trồng mà chỉ còn cách tập trung thâm canh, để rút ngắn thời gian thu hoạch và nâng cao chất lượng gỗ. Trước đây, người dân chủ yếu trồng cây keo tai tượng bằng hạt, cho nên thời gian sinh trưởng dài, nay trồng keo lai giâm hom và giống keo mới từ Đồng Nai đã rút ngắn được khá nhiều thời gian. Sau mỗi lần thu hoạch, người dân thuê máy cày xới đất, rồi bón phân khi trồng. Bén rễ, cây vụt lớn từng ngày.
Vào mùa nắng hạn gió tây, cả xã ngay ngáy lo cháy rừng. Hiện xã đã thành lập đội cơ động để tuần rừng và sẵn sàng phương án cứu rừng khi xảy ra cháy. Xã thu bình quân 100 nghìn đồng ha/năm để chi cho công tác phòng chống cháy rừng. Đáng mừng là trong các năm gần đây, công tác này được chú trọng và mỗi hộ dân đều tự ý thức được việc bảo vệ rừng chính là bảo vệ nguồn thu nhập của gia đình, cho nên không xảy ra sự cố đáng tiếc nào.
Điều mà lãnh đạo xã trăn trở là các tuyến đường giao thông nhanh xuống cấp một phần do xe vận chuyển gỗ rừng. Để len vào được khu rừng, xe phải có trọng tải lớn và khỏe, nhưng nếu loại phương tiện này chạy trên đường làng thì đường nhanh hỏng. Nghịch lý này chưa có biện pháp giải quyết khiến cho nhiều tuyến đường liên thôn ở Văn Thủy bị xới tung, rất khó đi lại…
Chiều xuống nhanh ở miền sơn cước. Chỉ loáng cái, mặt trời đã gác sau vạt rừng ngát xanh ở thôn Việt Xô, bóng chiều đổ dài trên mảnh ruộng dưới thung sâu. Hình ảnh khai hoang và thành quả của bài ca vỡ đất của hàng nghìn người dân Đại Phong mà nhạc sĩ Hoàng Vân ghi lại trong những năm 60 của thế kỷ trước nay trở nên sống động hơn bao giờ hết. Đi giữa ngát xanh Văn Thủy, chúng tôi cảm nhận được niềm vui của người dân vùng đất mới đang đổi thay. (Nhân Dân 26/2, Hương Giang)đầu trang(
Không gian sống bị đe dọa, bò tót trưởng thành húc thẳng vào đầu xe tải, báo động sự tồn vong các loài động vật ở đây đang bị xâm hại.
Nhóm công nhân thi công tuyến tỉnh lộ 674 nối thị trấn Sa Thầy (huyện Sa Thầy, Kon Tum) vào xã Mo Rai, nhiều lần nhìn thấy đàn bò tót gặm cỏ non. Vườn Quốc gia Chư Mom Ray - buộc phải xẻ ngang - để tuyến đường cắt qua.
Không gian sống bị đe dọa, bò tót trưởng thành húc thẳng vào đầu xe tải, báo động sự tồn vong các loài động vật ở đây đang bị xâm hại. Hơn thế, khi một tuyến đường khác - QL 14C huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) đi xã Mo Rai dài 27km - cũng đang đâm xuyên tim vườn quốc gia này.
Gặp tôi, Phó Giám đốc VQG Chư Mom Ray - Đào Xuân Thủy mãi tiếc nuối khi tường thuật cái chết của con bò tót (Boss gaurus) nhóm I B, khi nó húc vào chiếc xe tải BKS: 82C-01898 của Cty Trường Long - chở vật liệu xây dựng, thi công tuyến tỉnh lộ 674, rồi tử vong ngày 17.2. Anh nói, hơn 19 năm công tác tại VQG Chư Mom Ray, đây lần đầu tiên phát hiện bò tót chết, và chết một cách quá hy hữu.
“Đến nỗi, Chủ tịch tỉnh Kon Tum - anh Nguyễn Văn Hòa - gọi điện cho lãnh đạo vườn, ta thán: “Sao có chuyện ngược đời thế được”. Rồi bạn bè, anh em ở tận Hà Nội cũng gọi điện hỏi thăm việc “bò tót ra đường bị tai nạn giao thông””, anh Thủy xót xa. Anh nói, sát khu vực thi công đó, còn một đàn bò tót tương đối đông.
“Con bị chết tự tách đàn ra, đi lang thang trên đường, thấy vật chuyển động, nghĩ rằng tính mạng đang bị vật lạ di chuyển đe dọa, thì nó lao húc vào, kiểu phản xạ bản năng. Chứ bình thường, mình không có hoạt động nào trong khu vực đó thì không sao”, anh tâm tư. Cái chết của con bò tót quý hiếm gióng lên hồi chuông, đặt ra các bài toán bảo tồn không chỉ riêng bò tót mà là hàng trăm loài động vật quý hiếm tại đây.
Theo VQG Chư Mom Ray, khu vực xảy ra sự cố - tỉnh lộ 674 thuộc khoảnh 3, tiểu khu 677 - đang bị bức tử bởi tiếng ồn. Tiếng xe chở vật liệu ầm ầm múc đổ; máy trộn bêtông hoạt động huyên náo một vùng rừng núi. Con đường này đang thi công dang dở, dự kiến cuối năm 2017, đưa vào hoạt động.
Chỉ lên tấm bản đồ VQG Chư Mom Ray, anh Thủy nói, tuyến tỉnh lộ 674 là tuyến đường mới, được huyện Sa Thầy làm chủ đầu tư, cắt qua vườn 10km, thông thương với xã Mo Rai (huyện Sa Thầy).
“Tỉnh lộ 674 cũ là đã có sẵn, cắt đôi diện tích của VQG ra, đi xuyên 40km để vào xã Mo Rai. Chủ trương của tỉnh Kon Tum là không cho đi trên con đường cũ nữa, để giảm tác động mà đi trên tuyến đường đang thi công, chỉ 10km”, anh Thủy phân tích. Trước thắc mắc của tôi, lý do nào có tuyến đường 674 cũ xẻ đôi VQG? Anh Thủy tặc lưỡi cho biết: Do lịch sử để lại, thời sơ khai con đường đã có tự bao giờ (!).
Và anh cũng lắc đầu, hoàn toàn không có con đường nào khác đi vào xã Mo Rai mà không đi qua diện tích của VQG. Đứng ở gốc độ bảo tồn, anh cùng lãnh đạo VQG Chư Mom Ray dù đau lắm, nhưng cũng cố kiến nghị một biện pháp tránh, hạn chế việc tác động đến vườn khi làm đường.
“Do vậy, UBND tỉnh Kon Tum và huyện Sa Thầy đã đồng ý đặt con đường qua phía đuôi của vườn, ít tác động nhất. Một biện pháp bắt buộc vì không có con đường nào khác, dù sao 10km vẫn rút ngắn 1/4 so với 40km tỉnh lộ 674 cũ”, anh Thủy nói.
Tuyến tỉnh lộ 674 mới, nếu hình thành, hai đầu sẽ có 2 trạm gác nhằm phát hiện, ngăn chặn các vụ vận chuyển, săn bắt động vật. Anh Thủy cũng tiết lộ, đây không phải là tuyến đường duy nhất ảnh hưởng đến hệ sinh thái VQG Chư Mom Ray. Tuyến thứ hai là QL 14C từ huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) cũng cắt qua VQG ở phía bắc 27km, để đi vào xã Mo Rai (huyện Sa Thầy). Tuyến này tồn tại cũng do lịch sử để lại, con người và nhiều phương tiện thường xuyên đi lại đây.
“Tuy vậy, việc ảnh hưởng không gian sống sẽ khiến các loài động vật di chuyển về phía Campuchia, vì ranh giới VQG Chư Mom Ray (Kon Tum, Việt Nam) giáp VQG ViRaChey (địa phận hai tỉnh Ratanakiri và Stung Treng, Campuchia). Ngoài ra, cũng không loại trừ nhiều động vật quý hiếm, đi ra khỏi vườn, tìm kiếm thức ăn bị bắn hạ, nhưng không hay biết”, anh Thủy lo lắng. Việc bò tót húc xe tải ngày 17.2 - khi không gian sống của chúng bị đe dọa - đã đẩy các ngành chức năng tỉnh Kon Tum khẩn cấp lên phương án bảo vệ. UBND tỉnh Kon Tum hỏa tốc chỉ đạo các ngành liên quan đề xuất phương án bảo tồn. Từ năm 1997 - 2001, các chuyên gia người Hà Lan tiến hành điều tra tại VQG Chư Mom Ray đã xác định có 35- 40 đàn bò tót tồn tại. Mỗi đàn từ 4 - 6 con, tương đương trên dưới 100 cá thể. Kết thúc dự án, vườn không có nguồn kinh phí để điều tra nên chưa thể khẳng định tăng thêm hay giảm đi.
“Bò tót không ở một chỗ. Nếu mình giữ được rừng yên ổn, các nơi khác ồn ào, bò tót kéo về thì tăng. Trường hợp tiêu cực, bò tót đi ra ngoài vùng vườn kiểm soát, bị bắt, bắn mất thì giảm đi”, anh Thủy cho hay. Các tác động chính ảnh hưởng đến hệ động vật ở đây, anh nói chủ yếu là cháy, khai thác rừng, săn bắt; các hoạt động đường sá, công trình... thi công trong, sát VQG Chư Mom Ray.
Để hạn chế tác động, VQG Chư Mom Ray cho biết, trước mắt tăng cường tuần tra, kiểm soát, bảo vệ để yên ổn lại môi trường sống. Về lâu dài, sẽ điều tra thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn bền vững loài bò tót.
“Biện pháp bền vững thì có 3 vấn đề: Kinh tế - xã hội - môi trường. Biện pháp kinh tế thì phải làm gì? Đầu tư cho vùng đệm chẳng hạn, cho cuộc sống người dân tốt lên, khá hơn để họ tránh tác động vào rừng...; Xã hội thì có tuyên truyền, đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng... ví dụ muốn thêm con đường, hạ tầng thì có nên không (!?); Về môi trường thì làm sao phải bảo vệ môi trường sống bình yên, không để bất cứ tác động nào tiêu cực đến động vật (cháy, phá rừng, săn bắn)”, Phó GĐ Đào Xuân Thủy phân tích.
Vấn đề thiếu hụt nhân lực cũng phần nào trở ngại, khó khăn cho công tác bảo tồn. Theo quy định Chính phủ cứ 500ha/1 biên chế kiểm lâm nhưng VQG Chư Mom Ray diện tích 56.249ha lại chỉ có 43 biên chế, thay vì đúng quy định là 113 biên chế cán bộ.
“Tham mưu cho UBND tỉnh Kon Tum kêu gọi các dự án từ T.Ư và địa phương nhằm đầu tư, nghiên cứu và bảo vệ các loài động vật hoang dã”, đó là đề xuất của ông Nguyễn Hoài Tâm - Phó Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Kon Tum.
Ông nhấn mạnh rằng, các đơn vị cần tranh thủ các nguồn vốn về lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm môi trường sống cho hệ động vật, không riêng gì bò tót. “Dự án bảo tồn hổ kết thúc 5-6 năm trước đó, thì đến nay không có một dự án nào. Từ sự cố bò tót, để chứng minh cho các nhà khoa học, các dự án bảo tồn động vật rằng, VQG Chư Mom Ray đang tồn tại một hệ động vật rất phong phú”, ông Tâm nhấn mạnh.
Chi cục Kiểm lâm Kon Tum còn đề xuất với VQG Chư Mom Ray cần rà soát các diện tích nằm trong vùng cung ứng thức ăn (rừng hỗn giao le, bãi sậy), sát suốt tạo thuận lợi cho động vật ăn. Từ đó, tổ chức xây dựng các phương án bảo vệ giữ diện tích đó, để tránh bị cháy trong mùa khô; bị ngập úng, sạt lở trong mùa mưa để tạo đồng cỏ cho động vật ăn.
Tất cả các giải pháp tích cực đã và đang được tỉnh Kon Tum đề ra, đáng hoan nghênh và ghi nhận. Tuy vậy, hai tuyến đường QL 14C (huyện Ngọc Hồi) và tỉnh lộ 674 (huyện Sa Thầy) hình thành đã cắt hai “nhát dao” vào VQG Chư Mom Ray. Không gian sống bị thu hẹp, càng không ai dám đảm bảo không có chuyện săn bắt khi đi lại trên các tuyến đường này.
Bò tót lao vào chiếc xe tải, đang báo động cho một cuộc di cư khi môi trường sống bị xâm hại. Nếu không có một biện pháp bảo tồn khả dĩ, không riêng gì bò tót mà các động vật khác từ VGQ sẽ tìm đường sang Campuchia. Bò tót húc vào xe tải, hy hữu mà xảy ra. Và chuyện di cư - không hy hữu - thì nhãn tiền xảy ra cao gấp nhiều lần. Đáng báo động và thực sự lo ngại (Lao Động 25/2, Đình Văn) đầu trang(
Tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết, đơn vị vừa kiểm điểm 2 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Đất Mũi (huyện Ngọc Hiển) vì không báo cáo kịp thời, để hàng loạt diện tích rừng phòng hộ xung yếu bị chết.
Hai cán bộ bị kiểm điểm là Trương Minh Nhựt và Kiều Minh Trung. Trong thời gian phụ trách địa bàn, 2 cán bộ này tuy đã phát hiện rừng mắm có dấu hiệu chết, nhưng không kịp thời kiểm tra, báo cáo, dẫn đến thiệt hại rừng khá lớn.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, diện tích rừng bị chết do Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại - Du lịch Công Lý (gọi tắt là Công ty Công Lý) thuê quản lý, kết hợp làm du lịch.
Theo tìm hiểu của PV Dân trí, năm 2015, Công ty Công Lý được UBND tỉnh Cà Mau cho thuê gần 325.000 m2 đất và hơn 193.000 m2 rừng phòng hộ xung yếu tại ấp Khai Long, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển.
Trong đó, Công ty Công Lý đã sử dụng 40.600 m2 trồng rừng thay thế và chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác. Diện tích còn lại, công ty này trực tiếp quản lý bảo vệ rừng, kết hợp làm dịch vụ du lịch sinh thái.
Tuy nhiên, từ cuối năm 2016 đến đầu năm 2017, một phần không nhỏ cây rừng (chủ yếu là mắm) trong diện tích rừng mà Công ty Công Lý thuê bất ngờ bị chết.
Qua kiểm tra, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau báo cáo cho biết, trong khu vực này, diện tích cây mắm có khả năng chết từng vệt, từng đám, chiếm khoảng 60% so với tổng diện tích cây rừng trong khu vực.
Nguyên nhân cây rừng chết được các ngành chức năng tỉnh Cà Mau đưa ra là do thời điểm cuối năm 2016 đầu năm 2017, lượng mưa lớn kéo dài, triều cường dâng cao nên hệ thống cống của khu du lịch Khai Long (Công ty Công Lý đầu tư) thoát nước không triệt để, làm ứ đọng nước lâu ngày dẫn đến cây rừng bị ngập úng và chết cục bộ.
Tỉnh Cà Mau cũng xác định, một trong những nguyên nhân nữa là phía Công ty Công Lý chưa thường xuyên theo dõi, báo cáo kịp thời cho cơ quan chức năng hiện tượng cây rừng chết để có biện pháp hỗ trợ, khắc phục.
Công ty Công Lý là doanh nghiệp đang gây xôn xao dư luận khi vào tháng 3/2016 tặng 2 xe Lexus trị giá hơn 6 tỷ đồng cho tỉnh Cà Mau. Sau đó, vào cuối năm 2016, công ty này đã xin tạm ứng 30 tỷ đồng và được tỉnh Cà Mau chấp nhận cho ứng 25 tỷ đồng để sửa chữa máy móc thiết bị nhà máy xử lý rác.
Dư luận cho rằng, việc Công ty Công Lý tặng xe ô tô để rồi sau đó được “ưu ái” cho tạm ứng tiền từ ngân sách là có sự liên quan.
Trả lời PV Dân trí, ông Đoàn Quốc Khởi - Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Cà Mau - cho rằng, tỉnh cho Công ty Công Lý tạm ứng trước 25 tỷ đồng từ ngân sách là không sai. Việc tiếp nhận 2 xe ô tô mà công ty này tặng cũng đúng quy định.
“Việc tiếp nhận xe tặng và cho ứng tiền ngân sách là 2 vấn đề không liên quan gì đến nhau, nên nói tỉnh ưu ái cho công ty là không có cơ sở”, ông Khởi khẳng định. (Dân Việt 25/2, Huỳnh Hải)đầu trang(
Trên 510 tỷ đồng là tổng kinh phí được tỉnh Lâm Đồng ưu tiên thực hiện các chương trình, nhiệm vụ trong giai đoạn 2017 - 2020 của dự án Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học địa phương.
Theo đó, từ nay đến năm 2020, nguồn kinh phí trên được Lâm Đồng dùng để duy trì và phát triển Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang và các Vườn quốc gia: Bidoup-Núi Bà, Cát Tiên. Đồng thời, thành lập mới và đưa vào hoạt động khu dự trữ thiên nhiên Đơn Dương, các khu bảo tồn loài/sinh cảnh như Núi Voi, Phát Chi, Madagui; xây dựng và đưa vào hoạt động Bảo tàng Thiên nhiên Tây Nguyên, Công viên bảo tồn động vật hoang dã Tây Nguyên và các Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã.
Bên cạnh đó, nâng cao độ che phủ rừng tối thiểu đạt 55%, hạn chế các tác động xâm hại đến rừng tại các địa phương trong tỉnh.
Ngoài ra, chương trình của dự án trong giai đoạn 2017 - 2020 cũng ưu tiên đầu tư vào các nhóm lĩnh vực như nâng cao nhận thức cộng đồng, năng lực quản lý về bảo tồn đa dạng sinh học; quy hoạch chi tiết và thành lập các khu bảo tồn; xây dựng, phát triển các cơ sở bảo tồn; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các khu bảo tồn…
Dự án Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt nhằm mục đích nghiên cứu, đề xuất các định hướng, giải pháp và cơ chế chính sách bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên, các loài và nguồn gen nguy cấp, quý hiếm trên địa bàn tỉnh; đồng thời, duy trì và phát triển dịch vụ hệ sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương. (Tin Tức 24/2, Nguyễn Dũng)đầu trang(
Vừa qua, người dân xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn (Quảng Nam) đã phát hiện đàn voi gồm 7 cá thể đi kiếm ăn ở bìa rừng, gần khu vực có nhà dân. Hiện, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam đã triển khai nhiều biện pháp để bảo vệ đàn voi, hướng đến thành lập khu bảo tồn sinh cảnh voi tại khu vực này.
Tiểu khu 454 thuộc rừng phòng hộ xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn (Quảng Nam) là khu vực người dân vừa phát hiện và ghi nhận sự xuất hiện của một đàn voi gồm 7 cá thể, trong đó có một con voi con. Khu vực phát hiện voi nằm ở rìa của rừng phòng hộ, sát rẫy của người dân canh tác. Lâu nay, người dân biết có voi trong rừng phòng hộ nhưng hiếm khi tận mắt chứng kiến đàn voi này.
Thời gian gần đây, đàn voi xuất hiện gần làng hơn, tần suất cũng dày hơn. Trong khi cơ quan chức năng vui mừng vì đã phát hiện ra đàn voi rừng hoang dã thì người dân lại tỏ ra rất lo lắng vì đàn voi hung dữ này có thể gây hại hoa màu và đe dọa người dân đi rẫy như đàn voi rừng được phát hiện tại huyện Bắc Trà My.
Những già làng ở đây cho biết, do đang trong thời gian nuôi con non nên voi mẹ rất hung dữ, có thể tấn công người bất cứ lúc nào, gây nguy hiểm đến tính mạng người dân nếu gặp phải chúng.
Trước tình hình đàn voi có thể gây nguy hại cho người dân, chính quyền huyện Nông Sơn đã khẩn trương triển khai các biện pháp phòng ngừa và tăng cường công tác tuyên truyền vận động người dân địa phương tích cực tham gia bảo vệ, bảo tồn loài voi hoang dã tại địa phương.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cũng vừa ban hành công văn đề nghị UBND huyện Nông Sơn hỗ trợ, phối hợp thực hiện các giải pháp bảo vệ đàn voi rừng, yêu cầu người dân không được tập trung chụp ảnh, quay phim hoặc đi lại, ngủ lại trong rừng nếu không thật sự cần thiết; không được xua đuổi voi con hoặc dùng thuốc nổ, vũ khí để tấn công gây kích động đàn voi.
Hiện nay, Tổng cục Lâm nghiệp đã hoàn chỉnh đề án Quy hoạch Trung tâm bảo tồn voi tại huyện Nông Sơn rộng 19.000 ha rừng tự nhiên. Theo đó, sẽ di dời đàn voi rừng tại xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My về sống chung với đàn voi vừa được phát hiện tại xã Quế Lâm. Đây được xem là phương án tránh sự xung đột giữa voi và người.
Được biết, đàn voi ở Bắc Trà My thường xuyên hoạt động ở khu vực giáp ranh 2 huyện Tiên Phước và Bắc Trà My. Theo người dân làng Khe Dưng thì, đàn voi đã bơi qua Sông Tranh vào khu vực rẫy của người dân để tìm kiếm thức ăn, giẫm nát rẫy sắn, chuối của các hộ dân, đặc biệt là làm hư hại nhiều rẫy lúa chuẩn bị thu hoạch, khiến người dân bị thiệt hại nặng nề. (Tài Nguyên & Môi Trường 25/2, Dương Bùi)đầu trang(
Ngày 23.2, ông Trần Trung Miên, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn, cho biết: Hiện ở tiểu khu 10, khu vực tục danh Núi Chúa (thuộc địa bàn thôn La Vuông, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn) đang có đàn khỉ hơn 40 con.
Thời gian qua để bảo vệ đàn khỉ này, Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn đã chỉ đạo kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm người dân trong công tác bảo vệ đàn khỉ; cùng với đó là cấm săn bắt động vật hoang dã trong rừng dưới mọi hình thức.
Đồng thời, lực lượng kiểm lâm, cán bộ quản lý, bảo vệ rừng cũng thường xuyên tổ chức các đợt tuần tra, kiểm tra để phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm nếu có xảy ra. (Báo Bình Định 23/2, Trọng Lợi)đầu trang(
Chỉ trong một ngày (23/2), Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã nhận được thông báo về việc giải cứu thành công 13 con khỉ được phát hiện tại 3 tỉnh: Tây Ninh, Ninh Thuận và Lâm Đồng. Đây đều là những con khỉ bị nuôi nhốt lâu năm.
Trường hợp đầu tiên được phát hiện tại một khách sạn trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Từ giữa năm 2013, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên đã nhận được thông tin của một người nước ngoài về việc khách sạn này có nuôi 2 con khỉ.
Tuy vậy, tại thời điểm đó sự việc chưa được giải quyết dứt điểm. Tới ngày 8/2/2017, một người dân nghỉ tại khách sạn này lại phát hiện 7 con khỉ bị nuôi nhốt tại đây.
Sau khi nhận tin, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên nhanh chóng làm việc với Phòng Cảnh sát kinh tế (PC49) Ninh Thuận để tiến hành kiểm tra khách sạn này. Kết quả, cơ quan chức năng đã phát hiện 9 con khỉ đuôi dài tại đây, do 2 con khỉ ban đầu sinh sản thêm.
Sau khi được vận động, chủ khách sạn đã tự nguyện chuyển giao những con khỉ này cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã. Đến ngày 23/2, cả 9 con khỉ đã được đưa về thả tại Vườn Quốc gia Núi Chúa.
Cũng trong ngày 23/2, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên nhận được tin từ Hạt Kiểm lâm tỉnh Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng cho biết cơ quan này đã thả thành công 2 con khỉ khỉ đuôi lợn về Vườn Quốc gia Cát Tiên.
2 con khỉ trước đó bị nuôi làm cảnh tại một quán karaoke trên địa bàn tỉnh, được một tình nguyện viên Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên phát hiện hôm 2/2, sau đó thông báo về Trung tâm cứu hộ.
Còn tại Tây Ninh, một tình nguyện viên khác cũng đã góp công giải cứu một con khỉ đuôi dài. Ngày 13/2, khi đang đi chơi tại một công viên giải trí, bạn này phát hiện con khỉ bị giữ tại khuôn viên quán cà phê.
Ngay lập tức, tình nguyện viên đã liên hệ về trụ sở Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên cùng với những hình ảnh và chỉ dẫn tỉ mỉ. Từ những thông tin được cung cấp, các cán bộ thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Châu Thành đã tìm được tới tận nơi, đưa con khỉ này về thả tại Vườn Quốc gia Lò Gò Xa Mát, tỉnh Tây Ninh.
Gần đây nhất một con khỉ bị xích tại một đường ray thuộc thành phố Đà Lạt cũng đã được cơ quan Kiểm lâm giải cứu chỉ cách đây vài giờ. Thông tin này đã được chuyển tới Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên từ ngày 20/2, đến ngày 25/2, chú khỉ đuôi lợn này đã được về ngôi nhà mới là Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà. (Tin Tức 25/2, Văn Hào)đầu trang(
Chiều ngày 26/2, Hạt Kiểm lâm thành phố Tuy Hoà tiến hành tiếp nhận 2 cá thể Voọc chà vá chân xám, gồm 1 cá thể cái (mẹ) và  1 cá thể đực (con) với tổng trọng lượng khoảng 5 kg, do ông Nguyễn Quang Đăng và Võ Trí, trú phường 6, TP Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên bàn giao.
Theo Hạt Kiểm lâm TP Tuy Hoà, kết quả nhận diện hai cá thể Voọc này có đỉnh đầu, lưng, cánh tay và chân cùng màu xám, đuôi trắng, có túm lông ở cuối. Đây là loài đặc hữu của Việt Nam, phân bố tại các tỉnh Khánh Hoà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai.
Ông Nguyễn Quang Đăng  cho biết, trong lúc đi ngoài đường, ông và ông Võ Trí tình cờ phát hiện hai cá thể Voọc chà vá chân xám này được một người không rõ danh tính bán bán ở một quán nhậu. Qua tìm hiểu ông Đăng biết đây là động vật hoang dã quý hiếm và tình trạng sức khoẻ hai cá thể Voọc Chà vá chân xám rất yếu, chân cả hai cá thể đều bị thương; và bỏ tiền ra mua về với mục đích nhờ các cơ quan chức năng giải cứu.
Ông Nguyễn Đức Hiếu, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm thành phố Tuy Hoà cho biết, đây là hành động rất đáng trân trọng. Hạt kiểm lâm thành phố Tuy Hoà đang tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để bàn giao hai cá thể Voọc này cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Đức Hiếu cho biết: “Chúng tôi đã tiếp nhận thông tin từ anh Nguyễn Quang Đăng và chuyển 2 cá thể Voọc này cho cơ quan chức năng cứu hộ. Chúng tôi đã liên lạc với Thảo cầm viên và họ sẽ có công văn đồng ý tiếp nhận 2 cá thể này. Trên cơ sở đó, Hạt tham mưu cho UBND thành phó Tuy Hoà ra quyết định giao lại 2 cá thể Voọc cho trung tâm cứu hộ. Nếu sau này 2 cá thể Voọc đảm bảo sức khoẻ thì sẽ thả về rừng sớm”.
Voọc chà vá chân xám là loài đặc hữu của Việt Nam. Theo thống kê năm 2016, quần thể bầy đàn Vọoc chà vá chân xám tại các khu vực nói trên dao động từ 500 - 700 con. Hai cá thể Voọc chà vá chân xám này thuộc nhóm 1B, nằm trong danh mục cực kỳ nguy cấp, nguy cơ tuyệt chủng mức CR được quy định tại Nghị định 32/2006 của Chính phủ. (VOV 26/2, Lê Biết – Đức Hưng)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại cuộc làm việc với tỉnh Tuyên Quang, Thủ tướng đặt ra tầm nhìn cao hơn cho Tuyên Quang. Đó là, tỉnh phải là hình mẫu về phát triển kinh tế lâm nghiệp của cả nước, là điển hình về năng lực thoát nghèo để cải thiện sinh kế bền vững, tối ưu hóa tài nguyên cho phát triển kinh tế, giải quyết đời sống của người dân.
Chiều 26/2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đoàn công tác Chính phủ đã có cuộc làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Tuyên Quang.
Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội, lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang cho biết, tỉnh xác định lối ra trong phát triển là tập trung vào 3 lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp công nghệ cao; công nghiệp chế biến; du lịch. Tuy nhiên, lối ra này đang gặp trở ngại lớn là kết nối giao thông. Tỉnh mong muốn Chính phủ hỗ trợ một số dự án giao thông, nhất là tuyến đường từ Tuyên Quang nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai.
Nhất trí với hướng đi của Tuyên Quang, ý kiến các thành viên đoàn công tác chia sẻ với tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều khó khăn này như không gần sân bay, cửa khẩu, không gần cảng biển, không gần Thủ đô Hà Nội, không có đường sắt. Do đó, tỉnh muốn phát triển thì phải có kết nối giao thông.
Bên cạnh đó, một “đặc sản” mà tỉnh cần có để phát triển là môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh. Nếu có “con tàu cơ chế” tốt thì tỉnh sẽ vượt qua khó khăn để tăng tốc.
Giúp Tuyên Quang giải bài toán cơ chế, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ rõ các mặt được và những tồn tại, bất cập của tỉnh.
Đó là Tuyên Quang hoàn thành 21/21 chỉ tiêu về kinh tế xã hội năm 2016; độ che phủ rừng đạt 64%; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI cải thiện đáng kể, từ chót bảng vươn lên mức 48/63 tỉnh, thành phố.
Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế của tỉnh còn nhỏ. Rừng chưa trở thành thế mạnh. Năng suất rừng còn thấp. Trong phát triển, chưa có con bài chủ lực để tạo nguồn thu.
Đánh giá cao khát vọng phát triển, tinh thần cải cách, đổi mới của lãnh đạo tỉnh, Thủ tướng nhất trí với hướng ra của Tuyên Quang là nông nghiệp, lâm nghiệp công nghệ cao, bao gồm cả dược liệu, nhất là gỗ rừng trồng; công nghệ chế biến, gồm cả công nghiệp giải khát; du lịch.
“Phải đi lên từ rừng và đất rừng để phát triển Tuyên Quang. Kinh tế lâm nghiệp là lối ra cho Tuyên Quang”, Thủ tướng nói và nhấn mạnh “Rừng mà đầu tư tốt, thâm canh tốt, chất lượng tốt thì chắc chắc là lối ra cho Tuyên Quang”.
Từ đó, Thủ tướng mong muốn đặt ra tầm nhìn cao hơn cho Tuyên Quang. Đó là, Tuyên Quang phải là hình mẫu về phát triển kinh tế lâm nghiệp của cả nước, là điển hình về năng lực thoát nghèo để cải thiện sinh kế bền vững, tối ưu hóa tài nguyên cho phát triển kinh tế, giải quyết đời sống của người dân.
Với tầm nhìn đó, Thủ tướng đưa ra một số biện pháp mà tỉnh cần tập trung thực hiện. Tỉnh cần phát triển hạ tầng cứng, trước hết là giao thông. Thứ hai, phải có đề án tái cơ cấu dân cư theo hướng tập trung để tiếp tục giảm chi phí y tế, giáo dục, điện, nước… Dân cư thưa thớt như thế mà không sắp xếp, quy hoạch thì khó có thể ổn định, phát triển lâu dài, Thủ tướng nhìn nhận.
Về hạ tầng mềm, Thủ tướng nhấn mạnh giáo dục cơ bản với mục tiêu nâng cao dân trí, đặc biệt là cho đồng bào dân tộc. Hạ tầng mềm thứ hai là dạy nghề, phải thay đổi phương thức, đầu tư có trọng điểm các trường nội trú và các trường dạy nghề.
Muốn vậy, tỉnh cần tạo vùng nguyên liệu để sản xuất sản phẩm quy mô hơn, chất lượng hơn, có thương hiệu tốt hơn. Hỗ trợ, tạo điều kiện để có hệ thống doanh nghiệp tốt, lớn mạnh, có khả năng cạnh tranh ở Tuyên Quang. Thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển theo cơ chế thị trường, xóa bỏ tự cung tự cấp, sản xuất nhỏ lẻ. Cải thiện môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh ở địa phương.
Thủ tướng lưu ý trong quá trình phát triển phải bảo vệ môi trường. “Tuyên Quang phải mang lại màu xanh, sạch vì là tỉnh ở đầu nguồn. Muốn thủy điện thì phải trồng rừng, muốn phát triển các nhà máy thì phải giữ môi trường nhất là một số ngành công nghiệp ô nhiễm lớn”, Thủ tướng nêu rõ.
Tại cuộc làm việc, Thủ tướng đã cho ý kiến đối với một số kiến nghị của Tuyên Quang với tinh thần ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho “Thủ đô kháng chiến” phát triển.
Cũng trong chuyến công tác tại Tuyên Quang, Thủ tướng đã đến thăm Nhà máy May Tuyên Quang tại xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương. Nhà máy do Tập đoàn Dệt may Việt Nam đầu tư với số vốn trên 200 tỉ đồng, đi vào hoạt động từ cuối năm 2016.
Hiện Nhà máy đang giải quyết việc làm cho 600 lao động và dự kiến tạo việc làm cho 1.200 lao động. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thăm khu sản xuất, nhà ăn ca, ân cần thăm hỏi, động viên người lao động tại Nhà máy.
Thủ tướng biểu dương, đánh giá cao nỗ lực của lãnh đạo Nhà máy sau thời gian ngắn đi vào hoạt động đã có sản phẩm xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời nhắc nhở lãnh đạo Nhà máy phải chú trọng chất lượng bữa ăn cho công nhân, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. (Giáo Dục & Thời Đại 26/2, Đức Tuân)đầu trang(
Tỉnh Quảng Bình may mắn sở hữu hệ thống hang động kỳ vĩ nằm trong khối núi đá vôi khổng lồ được mệnh danh là “kinh đô hang động”, “vương quốc hang động”. Thế nhưng, “mỏ vàng” du lịch này vẫn chưa được khai quật, thậm chí có dấu hiệu lãng phí, dù tỉnh xác định đây là ngành kinh tế trọng điểm.
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (PN-KB) đã 2 lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, với các tiêu chí về địa chất địa mạo, hệ sinh thái, đa dạng sinh học. Đây là những giá trị mà không nhiều nơi trên thế giới có được. Khu vực này là một trong 2 khu vực đá vôi lớn nhất thế giới, có niên đại trên dưới 400 triệu năm, đã tạo nên hệ thống hang động độc đáo.
Lịch sử phát hiện, khám phá hang động ở PN-KB có từ thời Champa, và người Pháp cũng từng giới thiệu du lịch về động Phong Nha. Cuối thế kỷ 19, một linh mục người Pháp đã suy tôn Phong Nha là “Đông Dương đệ nhất động”. Nhưng thực sự mọi cánh cửa bắt đầu phát lộ kể từ năm 1990, khi có bàn chân khám phá của nhóm chuyên gia hang động thuộc Hiệp hội Hang động Anh, dẫn đầu nhóm là ông Howard Limbert.
Từ đó đến nay, cùng với các đối tác tại VN, nhóm đã thực hiện 17 chuyến khám phá, công bố được 311 hang động. Những tên tuổi như động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng đã khiến PN-KB nổi danh hơn. Riêng năm 2016, nhóm ghi nhận thêm 57 hang động, trong đó có hang Hòa Hương rất độc đáo bởi hình thành dưới dòng nước. Dù vậy, ông Howard Limbert khẳng định mới chỉ khám phá 30% hệ thống hang động ở PN-KB.
Tuy nhiên, trên thực tế, đóng góp của “kinh tế hang động” cho ngân sách địa phương lại rất hạn hẹp. Chỉ tính từ năm 1995 (thời điểm đưa động Phong Nha vào khai thác) đến nay, hoạt động du lịch ở PN-KB cũng trải qua ngót 22 năm nhưng số lượng hang động được đưa vào khai thác và đang thử nghiệm chỉ đếm trên đầu ngón tay, như Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường, Sơn Đoòng, hang Én, hang Va - Nước Nứt, hang Tối, Thủy Cung, Trạ Ang.
Hiện chỉ có 3 đơn vị đang khai thác, cùng với 1 công ty đang thử nghiệm. Năm 2016, tổng lượt khách đến PN-KB hơn 705.000; tổng doanh thu tại các khu, tuyến, điểm trong vườn đạt hơn 117 tỉ đồng (chưa bao gồm doanh thu dịch vụ du lịch của Công ty Oxalis và Công ty Jungle Boss trên địa bàn vườn quốc gia đạt hơn 41 tỉ đồng). Đây là con số quá khiêm tốn nếu so với các điểm du lịch khác ở VN như quần thể danh thắng Tràng An, vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An (được tính bằng con số triệu lượt khách).
Doanh thu thấp, nên khoản thu nộp ngân sách cũng chẳng thể khá được: 2 động Phong Nha, Tiên Sơn đóng khoảng 22,5 tỉ đồng/năm, còn Sơn Đoòng, hang Én, hang Va khoảng hơn 9 tỉ đồng/năm, theo số liệu năm 2016.
Ông Đặng Đông Hà, Phó giám đốc Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình, cũng nhìn nhận: “Du lịch hang động thực sự chưa phát huy được thế mạnh, chưa tương xứng với tiềm năng. Thu rất ít, nếu không muốn nói là không đáng bao nhiêu”.
Trong khi đó, một số nhà đầu tư du lịch lại lý giải theo hướng khác. Họ chỉ ra rằng hoạt động du lịch ở PN-KB đang “vướng” mức phí cao. Theo tìm hiểu của chúng tôi, đơn vị khai thác tour sẽ phải “trích phần trăm” cho Ban Quản lý Vườn quốc gia PN-KB liên quan đến tiền vé, phí kiểm lâm, phí môi trường rừng.
Ví dụ, với hang Én, đơn vị khai thác phải nộp trên 1 đầu khách gồm 400.000 đồng tiền vé, 600.000 đồng tiền môi trường rừng, 100.000 đồng tiền giám sát của kiểm lâm. Tương tự, tại hang Va phải nộp 1 triệu đồng tiền phí và vé, 200.000 đồng tiền giám sát kiểm lâm; với Sơn Đoòng phải nộp 660 USD. Vì thế, giá tour đội lên khiến khách chê đắt.
Đáng lưu ý, khai thác du lịch PN-KB đang có dấu hiệu không ổn định. Hiện tại, Sơn Đoòng và hang Én được ký hợp đồng khai thác hằng năm, hang Va thì 5 năm. Lý giải vấn đề này, ông Đặng Đông Hà cho rằng: “Vì đó là những tour mới nên tỉnh cần cân nhắc, xem xét cặn kẽ và có thời gian thử nghiệm để tìm ra phương án khai thác hiệu quả nhất”. Tuy nhiên, doanh nghiệp lữ hành lại cần có sự ổn định, lâu dài để tính toán chiến lược kinh doanh, vốn đầu tư.
Trong những năm gần đây, việc áp giá, phí tham quan tại PN-KB không đồng nhất, tăng một cách... bất ngờ khiến hoạt động kinh doanh du lịch hang động rơi vào tình cảnh bất ổn. Mới đây, ngày 24.1, Công ty Oxalis có công văn gửi UBND tỉnh Quảng Bình và các đơn vị liên quan về việc xin chấm dứt khai thác tuyến du lịch “Hang Va, hang Nước Nứt - Những trải nghiệm khác biệt” kể từ tháng 5.2017.
Thông tin trên gây không ít ngạc nhiên cho nhiều người, nhất là trong giới kinh doanh du lịch, bởi Oxalis là đơn vị tiên phong trong khai thác tour mạo hiểm và tour này hoạt động chưa đầy 2 năm.
Nguyên nhân được cho là xuất phát từ thông báo của Ban Quản lý Vườn quốc gia PN-KB gửi ngày 24.1, trong đó yêu cầu Oxalis thực hiện phụ lục hợp đồng thu thêm các khoản phí tham quan và phí dịch vụ môi trường rừng. Mức thu mới phải nộp trên mỗi đầu khách là 1,8 triệu đồng, bao gồm phí tham quan, phí dịch vụ môi trường rừng, phí giám sát của kiểm lâm. So với mức cũ, tổng mức thu mới tăng đến 600.000 đồng/khách.
Trước tình hình này, UBND tỉnh Quảng Bình phải tổ chức cuộc họp và quyết định giữ nguyên mức nộp cũ. Tuy nhiên, trả lời PV Thanh Niên, lãnh đạo ban quản lý cho hay vẫn đang chờ hướng dẫn cụ thể về mức giá, phí này.
Trước đó, cuối năm 2014, UBND tỉnh Quảng Bình cũng gây bất ngờ khi quyết định tăng giá vé tham quan các hang động Thiên Đường, Phong Nha, Tiên Sơn kể từ ngày 1.1.2015. Thời điểm thông báo đến thời điểm tăng rất ngắn khiến các công ty du lịch gặp khó khăn vì đã bán tour. Khi nhận sự phản ứng, UBND tỉnh cũng quyết định tạm dừng việc tăng giá. (Thanh Niên 24/2, Trương Quang Nam)đầu trang(
Theo văn bản xác nhận của Vườn Quốc gia Phú Quốc thì từ năm 2002 hộ gia đình bà Hạnh đã được giao khoán 1,6ha đất, có hợp đồng đàng hoàng.
Nhưng năm 2006, ông Tâm (hiện là Phó chủ tịch HĐND xã Cửa Dương) đã gửi hồ sơ xét duyệt nhận 1,6ha đất nói trên do mình khai phá, quản lý và sử dụng từ năm 2000. Hành vi này của ông Tâm đã bị trưởng ấp Búng Gội là ông Đặng Tấn Phong không chấp nhận và chỉ ra dấu hiệu gian dối
Theo tố cáo của bà Đinh Thị Hạnh (SN 1968, ngụ Ấp Búng Gội, xã Cửa Dương, Phú Quốc, Kiên Giang), thời gian qua, việc ông Phan Chí Tâm hiện là Phó chủ tịch HĐND xã Cửa Dương tự nhận về mình 1,6ha đất ven rừng Quốc gia Phú Quốc của Nhà nước quản lý là thiếu cơ sở. Bà Hạnh xác nhận, mảnh đất nêu trên là do chính gia đình bà đã đổ mồ hôi, công sức khai phá, canh tác trong nhiều năm qua.
Bà Hạnh trình bày: “Năm 1994, gia đình tôi đến lập nghiệp tại xóm Cây Kè, ấp Khu Tượng, xã Cửa Dương (nay thuộc tổ 4, ấp Búng Gội, xã Cửa Dương). Năm 2002, Ban quản lý rừng phòng hộ và Đặc dụng Phú Quốc có hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng phòng hộ cho chồng tôi là ông Nguyễn Thành Trung (SN 1962, ngụ tại ấp Búng Gội, xã Cửa Dương- nay đã mất). Diện tích giao khoán là 1,6ha (rộng 30m x sâu cạnh thứ nhất 545m, cạnh thứ hai 555m)”.
Thông tin bà Hạnh nêu trên cũng đã được xác nhận tại "báo cáo về việc kiểm tra diện tích đất theo đơn khiếu nại của bà Hạnh" của Phòng nghiên cứu Khoa học- Môi trường của Vườn Quốc gia Phú Quốc (VQG Phú Quốc). Báo cáo cũng cho hay, đến năm 2006, VQG Phú Quốc chấm dứt Hợp đồng và thanh lý giao khoán bảo vệ rừng với hộ gia đình bà Hạnh. Điều này thể hiện trong các văn bản là Thông báo số 140:/TB- VQG ngày 18/5/2007 của VQG Phú Quốc về việc “chấm dứt giao khoán bảo vệ rừng trồng” và Biên bản số: 36/TLHĐ- VQG ngày 5/02/2007 về việc “thanh lý hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng” giữa VQG Phú Quốc và hộ gia đình ông Nguyễn Thành Trung (chồng bà Hạnh).
Gia đình bà Hạnh và nhiều hộ dân ở ấp Búng Gội sau đó cũng được VQG Phú Quốc cho tham gia ký vào bản cam kết bảo vệ chính các diện tích đất rừng mà họ đã nhận khoán trước đây.
Tuy nhiên, theo thông tin bà Hạnh cung cấp,thời gian này, ông Tâm và anh rể ông Tâm là Lê Văn Thành (ấp Búng Gội, xã Cửa Dương) đã thuê người vào phá toàn bộ diện tích đất rừng phòng hộ 1,6ha mà gia đình bà Hạnh đang ký cam kết bảo vệ.
Bà Hạnh nói: "Thời điểm cuối năm 2015, đầu năm 2016, tôi phát hiện ông Tâm và ông Thành có hành vi hủy hoại rừng trên mảnh đất 1.6ha nên tôi đã làm đơn tố cáo khẩn cấp đến các cơ quan chức năng. Nhưng sau đó cả hai ông này vẫn tiếp tục cho người trồng hoa màu, cây chuối, mít trên diện tích đất rừng đã phá".
Theo những hồ sơ mới nhất thì VQG Phú Quốc xác định diện tích 1,6ha đất đã giao khoán cho hộ bà Hạnh trước đó thuộc vùng đệm, nằm ngoài ranh giới VQG, đất do Nhà nước quản lý. "Đối với phần diện tích nằm ngoài ranh giới vườn quốc gia, việc thực hiện các thủ tục xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã".
Bà Hạnh cho biết, hiện ông Tâm đã gửi hồ sơ xét duyệt nhận 1,6ha đất sản xuất nói trên về mình. Ông Tâm cũng đã trình hồ sơ xét duyệt lên UBND xã Cửa Dương xem xét. Trong hồ sơ, ông Tâm nhận, gia đình ông này đã khai phá khu đất 1,6ha nói trên từ năm 2000 cho đến nay, ranh giới ổn định không tranh chấp.
Thế nhưng, trong hơn 40 hộ dân làm đơn đề nghị xét duyệt, thì hồ sơ của ông Tâm và ông Lê Văn Thành đã bị trưởng ấp Búng Gội là ông Đặng Tấn Phong không chấp nhận.
Trong cuộc trao đổi với phóng viên Pháp luật Plus, ông Phong cho biết: “Diện tích đất 1,6ha trước đây ông Tâm chưa bao giờ khai phá, chưa từng ký bản cam kết bảo vệ rừng, mà nó là do công sức của gia đình bà Hạnh”.
Vì vậy, ông Phong cũng đề nghị chính quyền xã Cửa Dương cần xác minh làm rõ nguồn gốc đất nói trên cấp đúng đối tượng, tránh trường hợp khiếu kiện kéo dài, gây bất bình trong dư luận.
Ông Nguyễn Văn Tiệp- Giám đốc VQG Phú Quốc cũng khẳng định thêm: “Diện tích đất 1.6ha nói trên là đất của gia đình bà Hạnh, từng nhận hợp đồng giao khoán từ năm 2002-2006”.
Như vậy, lãnh đạo VQG Phú Quốc cùng cán bộ địa phương đã xác nhận việc bà Hạnh có hợp đồng giao khoán rừng trong thời gian từ 2002-2006. Vấn đề đặt ra là, thông tin ông Phó chủ tịch HĐND xã Cửa Dương tự nhận mình khai phá 1,6ha đất như nói trên liệu có đúng sự thật và nhằm mục đích gì?
Để rõ thêm về vụ việc, phóng viên Pháp luật Plus đã trực tiếp liên hệ để gặp ông Tâm và đề cập đến những nội dung khiếu nại trên của bà Hạnh. Nhưng, rất tiếc là vị cán bộ này đã kiên quyết từ chối không tiếp. (Pháp Luật Plus 24/2, Kỳ Anh – Đình Ngọc)đầu trang(
Tỉnh Đăk Lăk kiên quyết không chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên nghèo sang trồng cây công nghiệp dài ngày và các loại cây trồng khác.
Lãnh đạo tỉnh Đăk Lăk cho biết, tỉnh sẽ kiên quyết không chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên nghèo sang trồng cây công nghiệp dài ngày và các loại cây trồng khác để góp phần thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Đến thời điểm này, tỉnh Đăk Lăk đã rà soát, kiểm tra 57 dự án chuyển đổi rừng, đất lâm nghiệp sang thực hiện dự án nông, lâm nghiệp; trong đó có 29 dự án trồng rừng, cải tạo, quản lý bảo vệ rừng, 28 dự án chuyển đất lâm nghiệp, rừng nghèo sang trồng cao su.
Qua kết quả kiểm tra, các dự án doanh nghiệp được giao đất đều sử dụng đúng mục đích, giải quyết việc làm trên 3.300 lao động là đồng bào các dân tộc tại chỗ. (Đài Truyền Hình VN 24/2, Thanh Lam)đầu trang(
Tỉnh Phú Thọ hiện có trên 55% diện tích tự nhiên là rừng và đất lâm nghiệp, tương đương trên 200.000 ha. Tuy có diện tích lớn nhưng trải qua quá trình khai thác, quản lý thiếu chặt chẽ có thời điểm diện tích đất có rừng đã xuống rất thấp.
Tuy nhiên, vài năm trở lại đây diện tích rừng ở Phú Thọ đã và đang được các cấp chính quyền tỉnh quan tâm tập trung đầu tư phát triển nên độ che phủ rừng hàng năm tăng nhanh, góp phần xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu bền vững cho nhiều hộ dân.
Yên Lập là huyện miền núi khó khăn của tỉnh Phú Thọ với trên 33.000 ha diện tích đất lâm nghiệp. Xác định việc trồng rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội nên huyện chú trọng tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ và người dân về công dụng và hiệu quả của việc trồng, bảo vệ và phát triển rừng hàng năm; khuyến khích, động viên mọi người dân đẩy mạnh phong trào trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng…  Năm 2016, huyện Yên Lập trồng được 1.300ha diện tích rừng tập trung, vượt 13,1% so với kế hoạch. Nhờ đó, độ che phủ rừng của huyện Yên Lập đạt 60,4%. Bên cạnh việc trồng rừng, bảo vệ rừng cũng được đặc biệt quan tâm, cụ thể như dự án bảo vệ phát triển rừng là 544 ha, trong đó bảo vệ phát triển rừng sản xuất là 500 ha, rừng phòng hộ 44 ha; bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ là 6.500 ha.
Ông Hoàng Văn Cường, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Yên Lập chia sẻ, hầu hết người dân trong huyện đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc trồng cây, trồng rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học mà còn tạo việc làm, tăng thêm thu nhập giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế gia đình cho người dân nên đều tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng.
Chị Đàm Thị Thu Hạnh, xã Lương Sơn, huyện Yên Lập bộc bạch, gia đình chị trồng 10ha rừng chủ yếu là cây keo, trồng khoảng 5 năm thì cho thu hoạch. Tuy nhiên, do có một số diện tích trồng, khai thác không đồng đều nên khó thu hoạch được hàng loạt.
Gia đình chị thường thu hoạch chọn lọc qua từng năm, sau thu hoạch chỗ nào trống thì trồng bổ sung cây con, tránh tình trạng để đất trống, đất hoang lãng phí. Mỗi năm trừ chi phí, gia đình chị cũng thu được gần 100 triệu đồng từ việc trồng rừng. Đầu năm, huyện, xã đều phát động trồng cây, trồng rừng gia đình chị đều tham gia để góp phần tạo màu xanh cho rừng…
Còn huyện Đoan Hùng là một trong những địa phương thực hiện có hiệu quả cao Chương trình hỗ trợ phát triển rừng sản xuất. Đến nay, huyện Đoan Hùng có hơn 12.700 ha rừng chủ yếu là rừng trồng. Mỗi năm bình quân trên địa bàn huyện trồng mới hơn 1.000 ha rừng. Riêng năm nay, huyện đã trồng mới 1.400 ha rừng tập trung, trong đó diện tích trồng keo thay thế bạch đàn là 420 ha, đạt 100% kế hoạch.
Trên địa bàn huyện chỉ còn khoảng hơn 1.000 ha bạch đàn. 5 năm gần đây, ngoài hỗ trợ cây giống từ Dự án bảo vệ và phát triển rừng, Đoan Hùng còn là huyện đầu tiên có cơ chế chính sách riêng hỗ trợ phân bón cho các hộ trồng rừng, đặc biệt là những hộ chuyển diện tích bạch đàn kém hiệu quả sang trồng keo hạt ngoại.
Gia đình ông Bùi Vĩnh Long, thôn 9 xã Vân Đồn, huyện Đoan Hùng cho biết, năm 2010 khi nhận được chủ trương chuyển đổi sang trồng keo lai, ông mạnh dạn thuê máy múc nhổ bỏ toàn bộ gốc bạch đàn tái sinh trên diện tích 1,5 ha để chuyển sang trồng keo lai. Nhờ tuân thủ theo đúng quy trình kỹ thuật, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 1,5m, trồng khoảng 2.000 đến 2.500 cây/ha.
Sau thời gian theo dõi, tỷ lệ cây sống đạt trên 90% sau khi trồng, cây phát triển nhanh, tán lá cân đối, rễ phát triển sâu và có các nốt sần cố định đạm giúp giữ được ẩm và cải tạo đất rất tốt. Chỉ hơn một năm nữa, rừng keo của gia đình ông sẽ cho thu nhập cả trăm triệu đồng, gấp 3 lần so với trồng bạch đàn tái sinh trước đây.
Nhằm triển khai hiệu quả tái cơ cấu lĩnh vực lâm nghiệp, góp phần phát triển lâm nghiệp bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, bền vững, tăng tính đa dạng sinh học và năng lực cạnh tranh, giai đoạn 2015 - 2020 tỉnh Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh phát triển và bảo vệ rừng, trong đó tập trung nâng cao năng suất chất lượng rừng, giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 3,5 - 4%.
Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu góp phần tạo việc làm, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu độ che phủ rừng đạt trên 53%.
Theo ông Đỗ Ngọc Đoàn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ, để đạt mục tiêu đã đề ra tỉnh Phú Thọ cần xem xét tăng mức hỗ trợ đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, sản xuất. Có chính sách cụ thể cho trồng rừng sản xuất cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ. Áp dụng đầy đủ chính sách trợ cước, trợ giá của Nhà nước về hàng hóa sản phẩm đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Cùng với đó, tỉnh cần tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật lâm sinh, cán bộ khuyến lâm cho huyện, xã để chỉ đạo trồng rừng, chọn tạo và sản xuất cây giống; đồng thời quản lý, giám sát kế hoạch và chất lượng trồng rừng. Áp dụng và nhân rộng các mô hình tiên tiến điển hình, đẩy mạnh tuyên truyền đưa những giống mới có năng suất cao, khả năng kháng bệnh vào trồng rừng.
Khuyến khích mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại hóa công nghệ tạo sự ổn định cho đầu ra sản phẩm, đặc biệt ưu tiên cho các huyện miền núi như có diện tích lớn như Yên Lập, Tân Sơn, Thanh Sơn, Đoan Hùng. (Tin Tức 26/2, Tạ Văn Toàn)đầu trang(
"Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” được phát động hàng năm đã tạo ra khí thế thi đua để các địa phương khu vực miền núi đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, đem lại nguồn lợi cho người dân.
Thực hiện lời kêu gọi Tết trồng cây của Bác Hồ, Xuân Đinh Dậu 2017, chính quyền và nhân dân huyện Như Thanh đã náo nức trồng cây, gây rừng. Với phương châm “Mỗi người dân tham gia Tết trồng cây, trồng từ 2 đến 5 cây, gắn với công tác chăm sóc, quản lý và bảo vệ cây trồng, rừng trồng trên địa bàn toàn huyện”.
Sau lễ phát động Tết trồng cây, chính quyền và nhân dân huyện Như Thanh đã trồng được hơn 17.300 cây xanh. Những cây xanh mà nhân dân trồng vào mỗi dịp đầu xuân đã và đang góp phần tăng thêm diện tích rừng kinh tế trên địa bàn huyện. Từ Chương trình trồng rừng 327 đến Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Chương trình trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Như Thanh đã trồng được hơn 18.500 ha rừng.
Kế thừa thành quả, kinh nghiệm từ việc thực hiện các dự án, chương trình trồng rừng, đầu năm 2016, huyện Như Thanh đã triển khai trồng rừng gỗ lớn. Đây được xem là bước phát triển đột phá, nhằm nâng cao sản lượng, giá trị rừng trồng, giải quyết việc làm tăng thu nhập và giúp người dân địa phương có thể làm giàu từ nghề rừng.
Tuy mới triển khai, toàn huyện đã quy hoạch được 306 ha rừng gỗ lớn. Năm 2017 này, huyện có kế hoạch trồng 1.200 ha rừng tập trung; trong đó, có 370 ha rừng gỗ lớn, tập trung trồng chủ yếu ở các xã Thanh Tân, Thanh  Kỳ, Hải Vân, Xuân Khang, Xuân Du. Huyện Như Thanh phấn đấu, hằng năm tỷ lệ trồng rừng gỗ lớn đạt 20% tổng diện tích trồng rừng mới.
Ngoài các địa phương, nhiều chủ rừng Nhà nước trên địa bàn tỉnh cũng đang tập trung trồng rừng gỗ lớn. Ban Quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Lang Chánh là đơn vị đầu tiên trong tỉnh thực hiện chuyển hóa rừng keo nguyên liệu sang rừng gỗ lớn. Từ năm 2007, Ban QLRPH Lang Chánh đã tổ chức cho nhân dân các xã: Giao An, Giao Thiện, Quang Hiến, Tân Phúc, Trí Nang trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh.
Anh Nguyễn Thành Công, Giám đốc Ban QLRPH Lang Chánh, cho biết: Để giúp người dân có thể tích lũy và làm giàu từ rừng, năm 2013, đơn vị đã xây dựng 2 mô hình kinh doanh rừng gỗ lớn ở xã Trí Nang, với diện tích 10 ha. Ban sẽ hướng dẫn người dân thực hiện biện pháp kỹ thuật tỉa thưa, điều chỉnh mật độ cây.
Chắc chắn rằng, khi rừng từ 12 – 15 năm tuổi sẽ cho sản lượng khoảng 450 m3 gỗ/ha, theo giá gỗ hiện nay, 1 ha rừng có giá trị khoảng 1,2 tỷ đồng. Mặc dù việc chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn phải kéo dài thời gian chăm sóc thêm khoảng từ 5-7 năm nhưng giá trị kinh tế mang lại cho người dân trồng rừng gấp nhiều lần so với trồng rừng gỗ nguyên liệu như hiện nay.
Những cánh rừng trồng mới từ Dự án 5 triệu ha rừng, Chương trình trồng rừng 147 đã tạo ra bước chuyển mạnh từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội và phát triển nghề rừng bền vững ở tỉnh ta. Trong giai đoạn 2011 - 2015, diện tích rừng trồng ở Thanh Hóa lan nhanh, tỏa rộng với khoảng 55.000 ha, bình quân mỗi năm trồng mới 11.000 ha. (Báo Thanh Hóa 25/2, Trần Thanh)đầu trang(
Để đảm bảo tiến độ trồng rừng năm 2017 theo đúng kế hoạch, hiện huyện Định Hóa đang tích cực chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động người dân chuẩn bị tốt những điều kiện cần thiết từ khâu thiết kế, xử lý thực bì đến cây giống… nhằm sẵn sàng cho vụ trồng mới.
Năm 2017, huyện Định Hóa có kế hoạch trồng mới 970ha rừng, trong đó, rừng sản xuất 570ha; rừng thay thế (phòng hộ và đặc dụng) 400ha với các loại cây chủ yếu là keo, quế, lát, lim xanh… Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng, ngay từ đầu tháng 10-2016, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa đã tiến hành rà soát lại toàn bộ diện tích đất trồng rừng của huyện; triển khai các chế độ chính sách đối với các hộ tham gia trồng rừng, thuê đơn vị tư vấn, thiết kế; tổ chức cho nhân dân đăng ký diện tích trồng rừng mới...
Đến nay, toàn huyện đã tổ chức khảo sát, thiết kế được gần 300 ha rừng sản xuất và gần 200 ha rừng thay thế (đạt trên 50% tổng diện tích). Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa đang phấn đấu hoàn thành xong công tác thiết kế trong tháng 3-2017 để bàn giao cho người dân tiến hành xử lý thực bì, cuốc hố trồng rừng theo đúng kế hoạch đề ra.
Rút kinh nghiệm từ vụ trồng rừng năm 2016, do triển khai trồng muộn vào đúng thời điểm nắng nóng nhất trong năm (tháng 5, 6) đã khiến một số diện tích rừng mới trồng của người dân bị chết. Mặt khác, do không chủ động được nguồn cây giống mà chủ yếu phải nhập từ ngoài tỉnh nên quá trình vận chuyển đã làm ảnh hưởng đến chất lượng cây giống khiến tỷ lệ cây sống đạt thấp.
Năm nay, UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tích cực triển khai công tác chuẩn bị trồng rừng từ rất sớm để đảm bảo khung thời vụ tốt nhất. Đồng thời, yêu cầu 5 vườn ươm lớn trên địa bàn huyện chủ động kế hoạch gieo ươm cây giống phục vụ bà con nhân dân và tiến hành các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cây giống để đảm bảo cho cây phát triển tốt sau khi người dân đem trồng đạt tỷ lệ sống cao nhất.
Đến nay, 5 vườn ươm đã chuẩn bị khoảng trên 3 triệu cây giống chủ yếu là các giống: keo tai tượng, quế, lát, lim xanh… cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trồng rừng của người dân trên địa bàn huyện. Ngoài ra, Ban quản lý Rừng ATK Định Hóa đã xây dựng vườm ươm của đơn vị với công suất gần 20 vạn cây/năm.
Nhờ vậy, nếu như năm 2016, huyện phải nhập trên 40% giống cây từ các địa phương khác thì nay huyện đã cơ bản chủ động được toàn bộ nguồn cây giống. Thời điểm này, tại các vườn ươm, cây giống đang được chăm sóc đúng kỹ thuật, công tác phòng trừ sâu bệnh được quan tâm thường xuyên đảm bảo cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Ông Trần Minh Hà, Trưởng ban Quản lý rừng ATK Định Hóa cho biết: Kể từ khi có vườn ươm đơn vị luôn quan tâm đến việc gieo ươm, sản xuất giống để phục vụ các dự án trồng rừng theo kế hoạch cũng như nhu cầu trồng rừng của nhân dân trên địa bàn. Có thể nói việc sản xuất cây giống đã giúp đơn vị chủ động được nguồn cây giống bảo đảm chất lượng, thích nghi tốt với điều kiện địa phương, góp phần nâng cao độ che phủ rừng trên địa bàn.
Cùng với sự chuẩn bị của ngành chức năng, người dân tại các xã, thị trấn cũng đang tích cực chuẩn bị cho công tác trồng rừng. Ông Phạm Văn Thành, xóm Khuổi Lừa, xã Tân Thịnh cho biết: Năm nay, gia đình tôi đăng ký trồng mới 2ha rừng sản xuất với 2 loại cây là keo và quế. Hiện nay, tranh thủ thời tiết thuận lợi, gia đình tôi đang tiến hành xử lý thực bì, cuốc hố sẵn chờ được nhận cây giống về trồng.
Không chỉ gia đình ông Thành mà các hộ dân khác trên địa bàn huyện cũng đang khẩn trương hoàn thành các bước để sẵn sàng cho vụ trồng rừng mới. Ông Hoàng Văn Hòa, Chủ tịch UBND xã Tân Thịnh cho biết: Năm nay, xã được giao chỉ tiêu trồng mới 80ha rừng gồm 60ha quế và 20ha keo. Hiện, chính quyền địa phương đang cử cán bộ lâm nghiệp hướng dẫn bà con phát dọn, xử lý thực bì, cuốc hố để chuẩn bị trồng cây.
Để có nguồn cây giống cho vụ trồng rừng, các vườn ươm trên địa bàn huyện cũng đã chủ động chuẩn bị đủ về số lượng và chất lượng cây giống. Bên cạnh đó, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa cũng thường xuyên cử cán bộ kiểm lâm địa bàn đi kiểm tra toàn bộ cây giống tại các vườn ươm từ khâu đóng bầu, gieo hạt đến quá trình chăm sóc, yêu cầu các chủ vườn ươm cam kết cây giống phải đạt tiêu chuẩn mới được phép xuất vườn để đưa lên rừng trồng.
Bà Đỗ Thị Xuyên, chủ vườn ươm tại xóm Bãi Á 2, thị trấn Chợ Chu cho biết: Năm nay, gia đình tôi đã chuẩn bị 90 vạn hom keo tai tượng và hơn 50 vạn hom quế. Đến nay, giống toàn bộ số cây giống đều phát triển tốt và đã được cán bộ kiểm lâm nghiệm thu để sẵn sàng cung cấp cho bà con...
Song song với việc chuẩn bị các điều kiện cho vụ trồng rừng mới, UBND huyện Định Hóa cũng chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với các xã, thị trấn khẩn trương rà soát những diện tích đất trống, diện tích rừng đến tuổi thu hoạch để đôn đốc chủ rừng đẩy nhanh tiến độ khai thác; khuyến cáo người dân thực hiện khai thác đến đâu thì tiến hành trồng rừng lại ngay đến đó, không để đất trống nhằm bảo đảm kế hoạch trồng rừng của năm. Đồng thời, tích cực chỉ đạo công tác chăm sóc rừng trồng của những năm trước, tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt chú ý công tác phòng cháy, chữa cháy rừng khi người dân xử lý thực bì để trồng rừng.
Công tác trồng rừng năm 2017 đang được huyện Định Hóa khẩn trương triển khai theo đúng kế hoạch đã đề ra. Với sự chỉ đạo sát sao của UBND huyện, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn và sự hưởng ứng tích cực của bà con nhân dân tham gia trồng rừng, huyện Định Hóa phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng trước tháng 6 năm nay. (Báo Thái Nguyên 26/2, Nguyễn Ngọc)đầu trang(
Ngày 23.2, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đã làm việc với Bộ NN-PTNT về một số nội dung trọng tâm của ngành trong năm 2017.
Tại cuộc họp, ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT), cho biết trong năm 2017 sẽ hoàn thiện quy hoạch để chuyển đổi 1,12 triệu ha rừng phòng hộ sang rừng sản xuất.
Theo ông Ngãi, qua điều tra khảo sát, 1,12 triệu ha rừng này là rừng phòng hộ ít xung yếu, trong đó chỉ có 0,5 triệu ha đất có rừng, còn lại chủ yếu là cây cỏ tầng thấp và đồi núi trọc. Các địa phương sẽ được phép chuyển đổi diện tích rừng này thành rừng sản xuất nhưng phải đảm bảo được chức năng phòng hộ.
Bộ NN-PTNT sẽ phối hợp với Bộ TN-MT hướng dẫn và giám sát các địa phương trong quá trình chuyển đổi để không gây tác động xấu đến môi trường, đảm bảo khai thác các nguồn lợi kinh tế từ diện tích rừng này.
Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết, ngoài việc chuyển đổi rừng, sắp xếp và tái cơ cấu doanh nghiệp quản lý rừng cũng là nhiệm vụ trọng tâm của lĩnh vực lâm nghiệp.
Trong đó phải bảo vệ diện tích rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn vì ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng hộ, ứng phó với mưa lũ, biến đổi khí hậu và khuyến khích người dân bảo vệ, trồng rừng và khai thác tài nguyên từ rừng theo hướng bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao.
Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, Bộ NN-PTNT cần nghiên cứu, đề xuất xây dựng cơ chế thu phí đối với những ngành nghề được hưởng lợi trực tiếp từ rừng.
“Đặc biệt là những doanh nghiệp thủy điện, thủy lợi sử dụng nguồn lợi từ rừng phải trả tiền cho những người giữ rừng, giữ nước trên nguyên tắc thị trường để vừa có nguồn đầu tư tái tạo và phát triển rừng, giúp người dân miền núi, vùng sâu vùng xa có thể sống được từ rừng”, ông Hiển nói. (Thanh Niên 24/2, P.Hậu)đầu trang(
Trong những năm qua, huyện Đầm Hà đã đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp để phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Đặc biệt, hiện nay huyện đang tích cực triển khai đề án giao đất, giao rừng, cho thuê đất, rừng đối với diện tích do UBND các xã, thị trấn đang quản lý cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, bản, khu phố trên địa bàn huyện giai đoạn 2015-2017, nhằm quản lý tốt diện tích rừng và đất rừng còn lại; khai thác, sử dụng có hiệu quả rừng và đất rừng, đảm bảo tất cả diện tích rừng, đất rừng đều có chủ sử dụng.
Theo thống kê của UBND huyện Đầm Hà, hiện nay, toàn huyện có 20.468ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất là 13.557ha, đất rừng phòng hộ là 6.910ha. Xác định kinh tế lâm nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của huyện nên trong những năm qua, huyện Đầm Hà đã tập trung chỉ đạo công tác giao đất lâm nghiệp cho nhân dân phát triển kinh tế đồi, rừng. Theo đó, UBND huyện đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, tăng cường công tác giao, cho thuê đất, quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp.
Đến nay, trên địa bàn đã có 6 tổ chức, doanh nghiệp được giao và thuê đất lâm nghiệp với tổng diện tích 7.844ha; cộng đồng dân cư thôn được giao với diện tích 67,2ha; 1.757 hộ gia đình được giao với diện tích 9.148ha; 30 hộ gia đình được thuê đất với diện tích 120,4ha. Kết quả này đã góp phần phát triển kinh tế – xã hội, phát huy thế mạnh về kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Nhiều cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp được nhận đất, rừng đã sử dụng có hiệu quả, đem lại thu nhập, làm giàu từ rừng.
Tuy nhiên, theo thống kê, hiện nay, trên địa bàn huyện còn 2.355ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao cho các chủ quản lý, điều này đã tạo áp lực rất lớn cho chính quyền các địa phương trong việc quản lý, bảo vệ trước tình trạng xâm lấn đất rừng hết sức phức tạp tại hầu hết các xã hiện nay.
Ông Trần Việt Dũng, Chủ tịch UBND huyện Đầm Hà, cho biết: Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp, từ cuối năm 2015, huyện Đầm Hà đã xây dựng đề án giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng đối với diện tích do UBND các xã, thị trấn đang quản lý cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, bản, khu phố trên địa bàn huyện giai đoạn 2015-2017 và đã được UBND tỉnh phê duyệt vào tháng 4-2016.
Theo đề án này thì huyện Đầm Hà có 1.312ha đất lâm nghiệp cần giao cho người dân, doanh nghiệp, trong đó có diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng và diện tích đất trống, đồi núi trọc. Ngay khi đề án được phê duyệt, huyện đã tổ chức đấu thầu công khai, rộng rãi để lựa chọn đơn vị triển khai đề án. Hiện đơn vị trúng thầu là Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp Quảng Ninh đã lập và triển khai phương án đến các xã và sẽ thực hiện xong công tác này trong năm 2017.
Mặc dù còn gặp một số khó khăn liên quan đến những tranh chấp đất rừng; một số diện tích nhỏ lẻ là đất trống, đồi núi trọc, những vị trí ở khu vực cao, xa; khó khăn trong đánh giá, xác định trữ lượng rừng tự nhiên nhưng đến nay các phòng, ban chuyên môn của huyện đã phối hợp với Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp Quảng Ninh hoàn thành phương án giao đất, giao rừng, cho thuê đất, rừng trên địa bàn các xã Quảng An, Quảng Lâm, Đầm Hà với tổng diện tích 1.054ha.
Huyện phấn đấu đến hết năm 2017 sẽ thực hiện giao đất, giao rừng, cho thuê đất, rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tổng diện tích còn lại là 258,32ha. (Báo Quảng Ninh 27/2, Hữu Việt)đầu trang(
Một trong những động lực để phát triển nền lâm nghiệp xã hội hóa là cần mở cơ hội cho tư nhân hóa, gỡ nút thắt đất đai trong phát triển rừng sản xuất.
Nếu cách đây chưa đến 10 năm, VN còn đang loay hoay khi nguồn nguyên liệu tại chỗ cho ngành gỗ chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu, giá trị xuất khẩu gỗ năm 2007 cũng chỉ mới đạt trên 2 tỷ USD. Nhưng đến 2016, giá trị xuất khẩu kỳ vọng lên đến 7,6 tỷ USD. Quan trọng hơn, VN đã có thể chủ động tới 70% nguyên liệu gỗ dành cho sản xuất.
Đất trồng rừng là tài sản của hộ gia đình và DN trồng rừng. Theo quy luật kinh tế thị trường, phát triển trồng rừng sản xuất và thị trường gỗ nguyên liệu tất yếu sẽ dẫn đến việc tích tụ đất đai của các đơn vị sản xuất lâm nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Theo định hướng của Chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2020, chúng ta cần trồng mới 2 triệu ha rừng để đáp ứng được nhu cầu gỗ nguyên liệu và có độ che phủ rừng toàn quốc 47%, nhu cầu vốn đầu tư lên tới hàng nghìn tỷ đồng, trong đó, khoảng 60% phải khai thác vốn trong dân và các nhà đầu tư.
Thế nhưng, hiện nay, các nhà đầu tư tiềm năng, cả trong và ngoài nước, có ý đồ đầu tư vào trồng rừng sản xuất với quy mô lớn lại rất khó tiếp cận với đất trồng rừng sản xuất. Do vậy, để đáp ứng đà tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm gỗ của ngành chế biến, nhu cầu nhập khẩu gỗ có xu hướng tăng lên trong tương lai và giá cả cũng tăng do chi phí vận tải tăng. Đây là một bất lợi lớn nhất làm giảm sức cạnh tranh của ngành chế biến xuất khẩu đồ gỗ của VN.
Nhiều DN chế biến gỗ trong nước rất muốn đầu tư trồng rừng để chủ động về nguồn nguyên liệu, giảm chi phí về nguyên liệu, tăng sức cạnh tranh, nhưng không dễ dàng tìm được đất để bỏ vốn đầu tư. Đến thời điểm hiện nay chỉ duy nhất Cty trồng rừng Quy Nhơn (100% vốn Nhật Bản) được thuê đất, đã trồng thành công gần 10.000 ha rừng, muốn mở rộng diện tích trồng rừng hơn nữa nhưng không thuê thêm được đất, kể cả lên Tây Nguyên.
Do vậy, để khắc phục thực trạng trên, các tỉnh cần phải công khai hóa đất trồng rừng sản xuất xuất được quy hoạch. Sau khi việc rà soát 3 loại rừng cấp tỉnh (rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng sản xuất) đã được phê duyệt phải đóng mốc ranh giới trên thực địa (trên từng địa bàn xã), ưu tiên đóng mốc trước ở những nơi có quỹ đất trồng rừng sản xuất tập trung, có thị trường gỗ nguyên liệu, sớm thực hiện việc cho thuê đất lâm nghiệp sản xuất đối với tất cả các tổ chức kinh tế.
Thông qua việc cho thuê đất mới thực sự thu hồi được hàng trăm ngàn ha đất không được sử dụng đang do các Cty lâm nghiệp nhà nước nắm giữ, tổ chức thường niên các hội nghị khách hàng (trong đó có các nhà đầu tư trồng rừng tiềm năng, trước hết nhằm đến các DN chế biến gỗ lớn, đang phải nhập khẩu gỗ) để DN có cơ hội thăm dò nhu cầu thuê đất lâm nghiệp và giới thiệu các dự án đầu tư lâm nghiệp của địa phương, tổ chức xây dựng các dự án lâm nghiệp để kêu gọi đầu tư.
Nếu xét về lợi ích kinh tế, nguồn thu từ xuất khẩu gỗ và chi trả dịch vụ môi trường ngày càng tăng, đó là chưa kể đến tiềm năng khai thác du lịch rừng cũng rất mạnh. Điều này cho thấy, rừng không chỉ khai thác hàng hóa trực tiếp mà còn khai thác nhiều giá trị khác.
Dự thảo Luật sửa đổi lần này đặt ra nhiều vấn đề về quyền của các bên liên quan, đặc biệt là các chủ hộ gia đình sống dựa vào rừng. Trong Luật đề cập đến 3 đối tượng sở hữu: Nhà nước, cá nhân và toàn dân, đồng thời, quyền sở hữu đối với các loại rừng cũng có những điều chỉnh khác nhau, đặt ra nhiều vấn đề làm sao gắn đất với rừng để người dân có thể sống được nhờ rừng. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 25/2, Vũ Long)đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk cần chú trọng phát triển các loại cây trồng chiến lược, tiếp tục tái canh cây cà phê, cây tiêu, cao su...; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh để gia tăng chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp.Đó là nội dung trong Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk.
Cũng tại Thông báo này, Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết Đại hội Đảng XII, các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của tỉnh đã đề ra.
Bên cạnh đó, thực hiện tái cơ cấu, tăng cường xúc tiến, thu hút đầu tư, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tăng cường công tác dự báo và đề ra giải pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai.
Làm tốt công tác quy hoạch thủy lợi đi đôi với bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng hệ thống hồ chứa, kênh mương tưới tiêu đồng bộ để sử dụng hiệu quả nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống; phòng chống có kết quả cả hạn hán và lũ lụt.
Là trung tâm vùng Tây Nguyên, Đắk Lắk có nhiều tiềm năng, lợi thế, Phó Thủ tướng yêu cầu tỉnh cần tập trung đề ra các giải pháp đột phá, mạnh mẽ, khuyến khích khởi nghiệp và phát triển nhanh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đủ sức cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, bảo đảm phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Tiếp tục triển khai quyết liệt Kế hoạch hành động của Tỉnh thực hiện các Nghị quyết số 19, 35, 60 của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, đẩy nhanh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh về điều kiện tự nhiên, danh lam thắng cảnh, bản sắc văn hóa các dân tộc; thu hút mọi nguồn lực đầu tư, xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng; tăng cường liên kết với các địa phương vùng Tây Nguyên, miền Trung và cả nước, qua đó phát triển nhanh và nâng cao tỷ trọng ngành du lịch, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh.
Tỉnh cũng cần giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nhất là đào tạo nghề, giải quyết việc làm, phát triển y tế, giáo dục, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục có các giải pháp giảm tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quan tâm chăm lo đời sống người có công, gia đình chính sách, người nghèo. Tiếp tục làm tốt công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc.
Các Bộ, ngành trung ương có đơn vị trực thuộc (nhất là các công ty nông, lâm nghiệp) đóng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chủ động phối hợp với tỉnh giải quyết đúng pháp luật và dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện có liên quan với nhân dân địa phương; phối hợp với tỉnh giải quyết đất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, đổi mới nông lâm trường theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ; trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định. (Chính Phủ 24/2, Chí Kiên)đầu trang(
Kết quả nghiệm thu chất lượng trồng rừng sản xuất năm 2016 trên địa bàn huyện Mường Ảng cho thấy, trong tổng số diện tích trồng mới là 356,2ha (đều là giống keo tai tượng), tỷ lệ cây sống đối với rừng sản xuất đạt trên 80%, đặc biệt tại các xã: Búng Lao, Mường Lạn, Mường Đăng tỷ lệ cây sống đạt hơn 90%. Người dân cơ bản trồng theo đúng thiết kế, cây trồng phát triển tốt, không bị sâu, mối phá hại.
Với mức hỗ trợ trồng rừng sản xuất 10 triệu đồng/ha cho công tác trồng mới và 4 năm chăm sóc, đến nay các xã được giao làm chủ đầu tư dự án trồng rừng đã chi trả toàn bộ tiền công trồng, chăm sóc năm đầu tiên cho người dân trồng rừng có tỷ lệ cây sống từ 85% trở lên. Đối với các diện tích tỷ lệ cây sống dưới 85%, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mường Ảng tiếp tục hướng dẫn người dân quy trình trồng giặm và chăm sóc để tiếp tục nghiệm thu. (Báo Điện Biên 24/2, Gia Kiệt)đầu trang(
Với hơn 13.000ha đất lâm nghiệp, Hạ Hòa là một trong những huyện có diện tích đất đồi rừng lớn của tỉnh nên việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng được chính quyền và người dân luôn coi trọng...
Nhiều gia đình nhờ đồi rừng mà đã thoát khỏi đói nghèo, trở thành triệu phú, tỷ phú. Trên địa bàn huyện ngoài một số doanh nghiệp, tư nhân thì đã có những làng nghề, HTX hoạt động trong lĩnh vực khai thác và chế biến lâm sản, tạo thuận lợi cho người trồng rừng.
Gia đình ông Nguyễn Huy Thọ ở khu 4 (xã Ấm Hạ) là 1 trong những gia đình đã đổi đời nhờ rừng. 20 năm trước, gia đình ông đầu tư mua hơn 20ha đất ở địa phương và bắt tay vào trồng rừng. Ban đầu, ông trồng xen các loại cây ngắn ngày để lấy vốn tái đầu tư. Có vốn, ông tái đầu tư mua thêm đất rừng. Đến nay, ông đã có gần 40ha trồng cây lâm nghiệp, 2ha cây ăn quả và hệ thống ao thả cá. Ngoài ra, tận dụng vườn đồi, gia đình ông còn chăn nuôi thêm bò, dê, gà…
Sẵn nguồn nguyên liệu gỗ dồi dào, ông đã mạnh dạn đầu tư mở xưởng chế biến lâm sản, tạo việc làm cho hàng chục lao động địa phương. Bình quân mỗi năm, gia đình ông có doanh thu từ 300 - 350 triệu đồng. Ông Thọ cho biết: “Nhờ rừng, gia đình tôi mới có được “bát ăn bát để” như ngày hôm nay. Vài năm gần đây, tuy giá gỗ có giảm nhưng nhờ đầu tư thâm canh kết hợp với chăn nuôi nên nguồn thu từ rừng đối với gia đình tôi tương đối ổn định”.
Theo kế hoạch được giao, năm 2017 Hạ Hòa sẽ trồng 1.150ha rừng tập  trung và khoảng 72.000 cây phân tán. Kế hoạch trồng rừng tập trung được chia làm 2 vụ. Vụ xuân bắt đầu từ Tết trồng cây sau Tết Nguyên đán (tháng 2) và kết thúc vào cuối tháng 4. Vụ thu bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 10. Những xã có diện tích rừng trồng tập trung tương đối lớn là: Đại Phạm, Hà Lương, Lệnh Khanh, Xuân Áng, Quân Khê… Bà con đã làm tốt công tác chuẩn bị hiện trường cho việc trồng rừng như đào hố, ủ phân, thu dọn thực bì; liên hệ địa chỉ mua cây giống…
Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi thời tiết, thời gian không có mưa kéo dài nên việc trồng rừng năm nay gặp khá nhiều khó khăn. Ông Đỗ Đức Chí  ở khu 4, xã Xuân Áng nhận xét: “Gia đình tôi có hơn 1ha trồng trong vụ xuân, cây đã được trồng trong dịp Tết trồng cây. Tuy nhiên, do trời không có mưa nên ảnh hưởng rất lớn đến việc chăm sóc. Gia đình tôi đã trồng xong nhưng còn rất nhiều hộ khác ở trong xã và các xã lân cận chưa thể trồng được do thiếu nước dưỡng ẩm”.
Trước đó, để đảm bảo cho việc trồng rừng hoàn thành chỉ tiêu được giao, UBND huyện Hạ Hòa đã chỉ đạo UBND các xã, thị trấn; Ban QLDA bảo vệ và phát triển rừng huyện Hạ Hòa (Hạt Kiểm lâm); các Công ty lâm nghiệp đóng trên địa bàn xác định địa điểm, diện tích trồng rừng tập trung phù hợp với quy hoạch từng loại rừng để triển khai kế hoạch một cách cụ thể và sát thực.
Đồng thời xử lý thực bì, công tác chuẩn bị hiện trường một cách chu đáo, đúng quy định; đảm bảo kế hoạch trồng rừng tập trung. Tận dụng bờ vùng, bờ thửa, trường học, công sở, khuôn viên nhà văn hóa, vườn hộ gia đình để trồng cây phân tán. Song song với việc triển khai trồng cây, trồng rừng cần làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, phòng chống, chữa cháy rừng. Triển khai chương trình phát triển lâm nghiệp theo chính sách hỗ trợ chương trình nông nghiệp trọng điểm của tỉnh.
Thời gian tới nếu trời tiếp tục không có mưa kéo dài dễ ảnh hưởng bất lợi đến kế hoạch trồng rừng của toàn tỉnh nói chung và huyện Hạ Hòa nói riêng, khó hoàn thành đúng thời gian. Trong khi đó, việc tưới dưỡng cho cây mới trồng khó khả thi do rừng trồng chủ yếu trên đồi, cách xa nguồn nước; chi phí để bơm nước tưới lớn nên khó triển khai. Vì vậy, trong khi chờ đợi thời tiết thay đổi, người trồng rừng ở Hạ Hòa cần chuẩn bị tốt các điều kiện kỹ thuật, xử lý hiện trường để có thể triển khai tốt việc trồng cây khi có điều kiện phù hợp. (Báo Phú Thọ 24/2, Hùng Cường)đầu trang(
Cùng với cây đót, mây... thì cây lô ô cũng được xem là nguồn lợi tự nhiên giúp người dân vùng cao có thêm nguồn thu nhập. Nhờ cây lồ ô mà cuộc sống của nhiều hộ dân ở vùng cao được cải thiện hơn.
Khi thời tiết nắng ấm, cũng là lúc người dân ở các huyện vùng cao trong tỉnh tranh thủ lên rừng thu hoạch lồ ô. Những ngày này, đi dọc các tuyến đường vùng cao, người đi đường dễ dàng bắt gặp những đống lồ ô được người dân khai thác vận chuyển từ trên núi về chất hai bên đường để bán cho thương lái. Trong những năm gần đây, giá lồ ô giữ ở mức ổn định từ 10.000- 12.000 đồng/cây nên người dân ở miền núi có nguồn thu nhập đáng kể từ nguồn lâm sản phụ này.
Ngồi nghỉ bên đống lồ ô tập kết bên vệ đường, quệt mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt đỏ bừng vì nắng, ông Hồ Văn Sên ở xã Trà Thọ (Tây Trà) cho biết: Hơn một tuần nay, gia đình tôi đang khẩn trương thu hoạch lồ ô trồng trên rẫy để bán cho thương lái kiếm thêm thu nhập. Gia đình tôi đã thu hoạch được hơn 500 cây lồ ô, nhờ lồ ô có giá nên cũng đã thu về được hơn 5 triệu đồng.
“Hiện tại, tôi vẫn còn 20 bụi lồ ô chưa thu hoạch, dự kiến nếu thu hoạch hết số lồ ô còn lại này, tôi sẽ thu về thêm được khoảng hơn 10 triệu đồng nữa. Có khoản tiền này vào những lúc giáp hạt nông nhàn, gia đình tôi có thể mua gạo, thức ăn, sắm sửa vật dụng trong trong nhà, cải thiện đời sống.”- ông Sên hồ hởi cho hay.
Cây lồ ô được xếp vào những lâm sản phụ của rừng, được phân bố nhiều ở các huyện miền núi Tây Trà, Trà Bồng, Sơn Tây… Theo tìm hiểu của chúng tôi, thông thường mùa thu hoạch lồ ô sẽ diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 9, tháng 10 trở đi cho đến tháng 5 năm sau. Cây lồ thu hoạch sẽ được các thương lái thu mua để  vận chuyển về xuôi  bán cho các cơ sở làm đồ thủ công mỹ nghệ, làm đũa, tăm…
Ông Đinh Văn Xuân ở xã Sơn Tân (Sơn Tây) cho biết: Đầu ra ổn định nên cây lồ ô khai thác về không bao giờ lo bị ế. Tuy nhiên, do nhiều diện tích lồ ô nằm sâu trong rừng nên việc vận chuyển lồ ô gặp không ít khó khăn.
“Ai đi khai thác lồ ô cũng có sẹo trên người. Bởi, kéo được một cây lồ ô dài ngoằng ra khỏi bụi nhiều khi phải sướt da, chảy máu. Rồi việc vác lồ ô băng rừng cả cây số để đưa ra đường tập kết cũng chẳng dễ dàng gì. Nhiều chuyến khai thác lồ ô kéo dài 2-3 ngày. Nếu gặp phải lúc thời tiết không thuận lợi thì cực gấp đôi, gấp ba bình thường”- vừa chỉ vào các vết sẹo trên cánh tay của mình, ông Xuân vừa chia sẻ.
Với giá trị kinh tế từ cây lồ ô mang lại, nên trong những năm gần đây, cùng với nguồn lồ ô còn lại trong tự nhiên, chính quyền địa phương các huyện miền núi cũng ưu tiên khuyến khích các hộ dân trồng cây lô ô vừa tăng thêm thu nhập, vừa chống xóa mòn, rửa trôi đất.
Điển hình như huyện miền núi Tây Trà, những năm qua, do khai thác quá mức, cộng với việc xâm lấn rừng để làm nương rẫy nên diện tích, trữ lượng rừng lồ ô ở các địa phương trong huyện suy giảm nghiêm trọng. Vì thế, với nguồn kinh phí 100 triệu đồng từ nguồn kinh phí sự nghiệp 30a năm 2015 được UBND huyện giao, Hội Nông dân huyện đã thực hiện phương án hỗ trợ, cấp phát 4.000 cây lồ ô giống cho hội viên nông dân trong huyện để triển khai trồng mới, phát triển rừng lồ ô.
So với cây quế, câu keo, thì lồ ô là loại cây dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, lại cho thu nhập tương đối khá trong vườn, trong rẫy nên cùng với việc sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, nhiều hộ gia đình ở miền núi còn tiến hành khoanh nuôi, bảo vệ và trồng lồ ô trên nương rẫy của mình. Hộ ít cũng 5- 10 bụi lồ ô, hộ nhiều cũng lên đến cả trăm bụi. Mỗi bụi thu hoạch được 50- 60 cây. Như vậy, cứ đến mùa thu hoạch lồ ô, bà con vùng cao đã có thêm thu nhập đáng kể.
Có thể nói, cây lồ ô không chỉ gắn chặt với đời sống hằng ngày với người dân miền núi như dùng để làm nhà sàn, các vật dụng trong gia đình… mà nó còn là nguồn lợi đáng kể để cải thiện đời sống cho những người sống gần rừng, gắn bó với nghề rừng. “Người dân chúng tôi ví cây lô ồ như của để dành giữa rừng. Mỗi khi túng thiếu chỉ cần lên rẫy chặt vài ba cây lồ ô bán cho thương lái cũng có được dăm ba chục ngàn để chi tiêu, trang trải cuộc sống hằng ngày”- ông Hồ Văn Niên ở xã Trà Quân (Tây Trà) cho biết. (Dân Việt 25/2, Bảo Khánh)đầu trang(
Năm 2016, dù ngành gỗ đã đóng góp tương đối lớn vào kim ngạch xuất khẩu (XK) với gần 7 tỷ USD, nhưng nếu so với năm trước, mức tăng trưởng kim ngạch XK của ngành chỉ khiêm tốn với hơn 1%. Kết quả này đặt ra không ít thách thức cho mục tiêu kim ngạch XK gỗ đạt 7,5 tỷ USD trong năm 2017.
Những khó khăn của XK gỗ vẫn đang duy trì đến đầu năm 2017 khi theo thống kê của Bộ Công Thương, tháng 1/2017, kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ chỉ đạt 620 triệu USD, tăng nhẹ 0,3% so với cùng kỳ năm 2016.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền – Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores) – nguyên nhân khiến kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ đang chững lại so với các năm trước đây là do những biến động về địa chính trị khiến nhu cầu mặt hàng này của thị trường châu Âu – một trong những thị trường hàng đầu của các sản phẩm đồ gỗ ngoài trời đang chững lại.
Trung Quốc cũng là thị trường nhập khẩu (NK) đồ gỗ lớn của Việt Nam, nhưng lại NK chủ yếu các sản phẩm thô, nguyên liệu sản xuất gỗ như gỗ dăm mảnh, trong khi XK các sản phẩm này đang bị hạn chế bởi nhiều lý do.
Khó khăn cũng đến từ việc thiếu hụt nguồn gỗ nguyên liệu phục vụ XK, bởi hiện gỗ từ rừng trồng của Việt Nam có chất lượng không đồng đều, chủ yếu là gỗ có đường kính nhỏ. Sản lượng gỗ cũng hạn chế, không đủ đáp ứng nhu cầu 31 triệu m3 gỗ phục vụ sản xuất trong nước và XK. Trong khi đó, nguồn gỗ NK cũng khó khăn khi các quốc gia láng giềng là Trung Quốc, Lào, Campuchia, Myanmar… đều đưa ra chính sách cấm XK gỗ tròn và gỗ xẻ từ rừng trồng. Chưa kể, khi Chính phủ Trung Quốc đã cấm khai thác và XK gỗ nguyên liệu, doanh nhân Trung Quốc sẽ tràn ra các nước trên thế giới để thu mua, gây áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp (DN) XK đồ gỗ.
Dù còn nhiều khó khăn nhưng bức tranh XK gỗ cũng có những mảng màu sáng. Cụ thể, kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang nhiều thị trường như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn có sự tăng trưởng đều đặn trong năm 2016 với con số lần lượt là 15%; 13% và 17,5%.
Năm 2017, trong khi Hoa Kỳ và Nhật Bản được đánh giá vẫn là thị trường chủ đạo cho đồ gỗ XK do nhu cầu còn khá cao thì Hàn Quốc cũng được đánh giá là thị trường tiềm năng nhờ động lực từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc. Một số DN còn mở rộng thị trường XK sang Trung Đông – khu vực thị trường đang có nhu cầu cao lại không khắt khe về chất lượng, mẫu mã và bước đầu có kim ngạch XK tăng trưởng khá khả quan.
Ngoài ra, từ cuối tháng 11/2016, Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi luật, quản trị rừng và thương mại gỗ và sản phẩm gỗ (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và EU đã kết thúc đàm phán. Dù những biến động chính trị tại EU sẽ khiến việc XK sang thị trường này gặp khó khăn hơn, nhưng với việc giảm thuế tương đối mạnh, hiệp định được kỳ vọng sẽ giúp tăng sức cạnh tranh của đồ gỗ XK sang EU.
Trong bối cảnh như vậy, ngành gỗ đặt mục tiêu năm 2017, kim ngạch XK sẽ tăng trưởng từ 8-10%, tương đương đạt khoảng 7,5 tỷ USD. Ông Nguyễn Tôn Quyền cho hay, để đạt mục tiêu này, 2 giải pháp lớn đã được ngành đề ra. Thứ nhất, chọn ưu tiên phát triển cho mặt hàng ván nhân tạo vì mặt hàng này hoàn toàn sử dụng gỗ rừng trồng trong nước.
Nhiều DN trong nước cũng đủ điều kiện, công nghệ để sản xuất sản phẩm này. Thứ hai, đa dạng hóa thị trường XK theo hướng chuyển sang các thị trường mới nhưng đang có tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Đông… thay vì chỉ tập trung vào các thị trường lớn nhưng đang gặp khó khăn là châu Âu, Trung Quốc…
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), nền kinh tế thế giới được nhận định sẽ còn nhiều khó khăn trong năm 2017 và những năm tiếp theo khiến tốc độ tăng trưởng XK gỗ sẽ chậm lại. Do đó, các DN XK gỗ Việt Nam cần tính toán để xây dựng lộ trình phát triển, giá thành hợp lý để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm. (Công Thương 25/2)đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một vườn thú ở miền bắc Nhật Bản vừa giết chết 57 con khỉ tuyết bằng cách tiêm thuốc độc. Vườn thú Thiên nhiên Takagoyama ở Chiba cho biết xét nghiệm ADN cho thấy những con khỉ này đã bị lai với khỉ Rhesus. Khỉ Rhesus là một giống khỉ không phải bản địa ở Nhật và hiện bị luật pháp nước này cấm nuôi, vận chuyển.
Một quan chức địa phương cho biết khỉ tuyết bị giết nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên. Giám đốc điều hành sở thú đã tổ chức một lễ tưởng niệm cho linh hồn của những con khỉ tuyết tại một ngôi chùa Phật giáo gần đó, BBC đưa tin.
Khỉ Nhật Bản, thường được gọi là khỉ tuyết, có nguồn gốc từ Nhật Bản và là một trong những yếu tố giúp thu hút du lịch của quốc gia Mặt Trời mọc. Một quan chức của Văn phòng Quản lý động vật ngoại lai thuộc Bộ môi trường Nhật Bản nói rằng việc giết khỉ là không thể tránh khỏi vì chúng có thể trốn thoát và sinh sản trong môi trường hoang dã.
Junkichi Mima, phát ngôn viên của tổ chức bảo tồn WWF Nhật Bản cho biết các loài vật xâm lấn sẽ gây ra nhiều vấn đề "vì chúng được lai với động vật bản địa, đe dọa môi trường tự nhiên và hệ sinh thái". (VTC News 25/2,Hường Nguyễn)đầu trang(
Các công ty có nhu cầu nhập gỗ của Brazil nếu không muốn vô tình tiếp tay cho nạn chặt phá rừng ở nước này thì đã có một nền tảng công nghệ trợ giúp họ.Ứng dụng công nghệ có tên Responsible Timber Exchange do nhóm bảo vệ môi trường BVRio xây dựng với mục tiêu cung cấp thông tin truy xuất nguồn gốc gỗ, để đảm bảo các loại gỗ khai thác bằng con đường phi pháp không có cơ hội lọt vào những chuỗi cung cấp ra thị trường toàn cầu.
Ứng dụng này được xây dựng từ cơ sở dữ liệu của Chính phủ Brazil và các bản đồ vệ tinh bắt đầu đưa vào sử dụng từ tháng 11 năm ngoái. Nó giúp cả người bán lẫn người mua gỗ đều có thể kiểm tra nguồn gốc xuất xứ cũng như giấy chứng nhận hợp pháp của các mặt hàng gỗ.
Theo đó, người dùng có thể theo dõi được lộ trình của gỗ từ lúc ở rừng đến khi đưa tới những xưởng cưa, xẻ và tới lúc có mặt ở thị trường xuất khẩu.
Ông Mauricio de Moura Costa, giám đốc phụ trách các hoạt động của Tổ chức BVRio, chia sẻ: “Nền tảng công nghệ này có khả năng xác định được các yếu tố phi pháp trên toàn chuỗi cung cấp. Theo đó, chúng tôi muốn tạo ra một môi trường kinh doanh giúp người mua có thể mua được sản phẩm gỗ hợp pháp theo cách dễ dàng hơn, khi việc xác minh tính hợp pháp của một doanh nghiệp là rất khó khăn”.
Theo cơ quan bảo vệ môi trường của Brazil, nạn khai thác rừng trái phép là nguyên nhân gây ra tới 90% số vụ phá rừng ở Brazil, quốc gia sở hữu những cánh rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới. Còn theo ông Costa, hơn một nửa số gỗ khai thác từ các cánh rừng ở vùng nhiệt đới đang buôn bán toàn cầu được cho là do các nhóm lâm tặc tuồn ra thị trường.
Không những phá rừng, các công ty chuyên khai thác gỗ trái phép cũng thường xuyên liên đới với các loại hình tội phạm khác như bóc lột lao động, thâu tóm đất đai phi pháp, phá hoại môi trường và lấn chiếm diện tích sinh sống của các nhóm người thiểu số.
Nền tảng ứng dụng BVRio cũng cung cấp đường link thông tin tham khảo chéo về các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh gỗ tới những dữ liệu chính thức, để biết họ có bị chính quyền địa phương hay nhà nước xử phạt vì các sai phạm như bóc lột lao động, không nộp thuế hay gây hại môi trường không.
Ứng dụng công nghệ của BVRio phân tích các bản kế hoạch mà doanh nghiệp đã nộp lên cơ quan quản lý, cộng thêm các dữ liệu thông tin khác để đảm bảo những doanh nghiệp nào là đơn vị được cấp phép kinh doanh khai thác gỗ tại Brazil.
Một trong số hơn 200 doanh nghiệp có mặt trên ứng dụng Responsible Timber Exchange là Công ty Amata, chuyên cung cấp gỗ cho các khách hàng ở Mỹ và châu Âu.
Ông Dario Guarita Neto, giám đốc điều hành của Amata, chia sẻ lý do vì sao doanh nghiệp của ông sẵn sàng cung cấp dữ liệu cho BVRio: “Lợi ích của Công ty Amata trong nền tảng của BVRio là rất rõ ràng: tìm được những người mua tốt nhất cho các sản phẩm gỗ đã được chứng nhận của chúng tôi”.
Có tới 90% sản phẩm của Amata xuất đi thị trường các nước vì theo ông Neto, doanh nghiệp của ông không cạnh tranh nổi ở thị trường nội địa vốn đã bão hòa với các loại gỗ khai thác trái phép có giá rẻ hơn nhiều.
Trong khi một số doanh nghiệp làm ăn chân chính đặt nhiều kỳ vọng vào sự giúp ích của nền tảng ứng dụng mới, cũng có những người cho rằng BVRio hiện vẫn đang lệ thuộc quá nhiều vào dữ liệu thông tin do chính phủ cung cấp, mà những thông tin này rất có thể bị thao túng bởi các dạng thức tội phạm khác.
Chuyên gia bảo vệ rừng Daniel Brindis của Tổ chức Greenpeace đặt vấn đề: “BVRio có thể khẳng định được thông tin trên các dữ liệu của họ, nhưng vấn đề ở chỗ liệu những dữ liệu đó có được cung cấp chính xác không?”.
Bởi theo ông Brindis, tại Brazil gỗ phi pháp cũng thường xuyên được “rửa” theo như cách rửa tiền tại các quốc gia khác, khi nó được “bơm” vào thị trường thông qua các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp. (Tuổi Trẻ 26/2, D.Kim Thoa)đầu trang(./.