|
Ngày 26 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Sáng 23/12, Hạt Kiểm lâm huyện Sa Thầy phối hợp UBND xã Sa Sơn tổ chức diễn tập chữa cháy rừng năm 2016.
Theo Phương án diễn tập, trong lúc đi bắt ong lấy mật một số người dân đã vô ý gây cháy rừng tại lô 1, khoảnh 2, Tiểu khu 607 do lâm phần xã quản lý; quy mô đám cháy lúc khoảng 300-500m2.
Có 1 người dân đang làm rẫy gần đó phát hiện đám cháy và đã phát tín hiệu báo động và huy động những người xung quanh đến dập lửa và báo cáo trưởng thôn.
Nhận định đám cháy phức tạp, trưởng thôn vừa tiếp tục chỉ huy chữa cháy, vừa báo cáo Ban chỉ huy cấp xã đề nghị tăng cường quân số để khống chế đám cháy.
Sau khi nhận được thông tin báo, Trưởng Ban chỉ huy xã trực tiếp chỉ huy chữa cháy rừng chỉ đạo các lực lượng nòng cốt gồm Công an, Kiểm lâm địa bàn, xã đội, đoàn viên thanh niên và nhân dân xã tiếp tục dùng các dụng cụ thủ công sẵn có chữa cháy rừng; đồng thời, chuẩn bị điều kiện về hậu cần, y tế...
Sau 45 phút, các lực lượng đã khống chế, dập tắt đám cháy, tổ chức sơ cứu người bị thương đưa đi cấp cứu.
Nhờ chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, đợt diễn tập diễn ra theo đúng kế hoạch, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và tài sản; đạt kết quả yêu cầu đề ra. (Báo Kon Tum 23/12) đầu trang(
Ngày 22-12, tại lô 43, khoảnh 5, Tiểu khu 385, Trạm Thực nghiệm lâm nghiệp Tân Phú thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Nam bộ, nằm trên địa giới hành chính ấp Đồng Tân, xã Tân Hòa, Hạt kiểm lâm huyện Đồng Phú phối hợp với Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ rừng huyện tổ chức diễn tập chữa cháy rừng cấp xã năm 2016.
Tình huống diễn tập là nhân viên bảo vệ rừng của Trạm Thực nghiệm lâm nghiệp Tân Phú trong lúc đi tuần phát hiện có khói bốc lên nên tiếp cận và phát hiện đám cháy ven đường cấp phối. Do thời tiết hanh khô nên đám cháy đã lan nhanh vào rừng trồng. Lúc này, nhân viên bảo vệ nhanh chóng gọi điện thoại báo về ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng của trạm để chi viện.
Ngay sau khi khống chế được đám cháy, dập tắt ngọn lửa, lãnh đạo huyện cùng các lực lượng chức năng họp rút kinh nghiệm, đặc biệt là khả năng phối hợp theo phương châm “4 tại chỗ”. (Báo Bình Phước 23/12) đầu trang(
Sáng 23/12, UBND tỉnh hội nghị trực tuyến với các huyện, thị xã, thành phố nhằm sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết số 14 của Tỉnh ủy về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; đánh giá kết quả và triển khai nhiệm vụ bảo vệ và phát triển trong năm 2017.
Qua 5 năm thực hiện nghị quyết số 14 của Tỉnh ủy về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đã góp phần quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng trong đó diện tích rừng tự nhiên dần được quản lý tốt hơn. Qua 5 năm, toàn tỉnh có trên gần 1,2 lượt ha rừng được khoán, bảo vệ qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho trên 21.200 hộ gia đình của 70 xã/11 huyện, chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Những năm qua, Quảng Nam cũng đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp với diện tích trên 487.000 ha. Đáng chú ý, từ năm 2011-2016 toàn tỉnh trồng mới trên 66.700 ha trong đó diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng trồng mới trên 2.700 ha.
Bên cạnh đó, nhiều địa phương mạnh dạn triển khai nhiều đề án phát triển cây dược liệu dưới tán rừng, bảo tồn nguồn gen gốc, và ứng dụng nhiều kỹ thuật vào nhân giống phục vụ nhu cầu của người dân. Thực hiện nghị quyết số 14 của Tỉnh ủy về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, lực lượng kiểm lâm tỉnh được cũng cố, kiện toàn, các ban quản lý, hạt kiểm lâm được sắp xếp hợp lý trên tỉnh thần tinh giản nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các đơn vị trong bảo vệ rừng.
Hội nghị cũng triển khai những nhiệm vụ trọng tâm về quản lý bảo vệ rừng năm 2017, trong đó tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách khoán bảo vệ rừng, nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng, chấn chỉnh và xử lý nghiệm các hành vi vi phạm lâm luật; đồng thời triển khai thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016 -2020. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Nam 23/12) đầu trang(
Quản lý rừng truyền thống dựa vào cộng đồng là một giải pháp bền vững, chi phí ít nhưng hiệu quả cao. Tuy nhiên, quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 về trao quyền cho người dân, cộng đồng, thôn bản không còn phù hợp với thực tế.
Tại Hội thảo góp ý sửa đổi, bổ sung về dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng do Tổng Cục Lâm nghiệp, Bộ NN - PTNT tổ chức mới đây, một trong những tồn tại, hạn chế của Luật được nêu ra là hệ thống quy phạm pháp luật chưa khẳng định rõ địa vị pháp lý của cộng đồng trong tham gia quản lý rừng. Luật chưa công nhận cộng đồng thôn bản là chủ rừng, được giao rừng nhưng chưa có quyền sở hữu đối với rừng tự nhiên do hộ, cá nhân tự đầu tư khoanh nuôi phục hồi không quyền chuyển đổi, cho thuê, thế chấp, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao.
Thực tế Nhà nước giao rừng cho cộng đồng nhưng không có chính sách hưởng lợi từ rừng và chính sách hỗ trợ chưa rõ ràng, trong khi rừng giao cho cộng đồng là rừng tự nhiên nghèo hoặc rừng phục hồi, không có thu nhập từ rừng trong nhiều năm. Hiện tại, ngoài chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các thôn bản được giao quản lý rừng hầu như chưa được tiếp cận chính sách hỗ trợ khác như trồng rừng, phục hồi rừng…
Đa số hộ gia đình và thôn bản cho rằng, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường quá thấp không tương xứng với công sức tuần tra bảo vệ rừng và chưa công bằng giữa các thôn bản (do phụ thuộc vào quy mô lưu vực của các thủy điện). Trong khi đời sống kinh tế của các thôn bản còn khó khăn, cơ chế hưởng lợi cho cộng đồng lại không cụ thể nên không khuyến khích được người dân nêu cao tinh thần trách nhiệm. Ở một số cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng, vì bà con còn đói nghèo, không có kinh phí để phục hồi rừng, thiếu đất canh tác, nên đã xảy ra tình trạng phá rừng làm rẫy.
Trước thực trạng này, Thứ trưởng Bộ NN - PTNT Hà Công Tuấn cũng nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật để phù hợp với chủ trương chính sách mới của Đảng, Nhà nước, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là Hiến pháp 2013 và một số luật được Quốc hội mới thông qua; hài hòa với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đồng thời khắc phục những hạn chế, tồn tại của Luật hiện hành về phân loại rừng, căn cứ giao rừng, cho thuê rừng đối với cộng đồng dân cư, bổ sung các quy định về hỗ trợ sinh kế và hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ rừng cho các hộ, cộng đồng sinh sống trong rừng đặc dụng, quyền tiếp cận rừng tự nhiên của người dân tại chỗ…
Rõ ràng, rừng chỉ được bảo vệ và quản lý hiệu quả khi không tách rời vai trò tham gia của cộng đồng dân cư nơi có rừng, trong đó chủ rừng là lực lượng nòng cốt tham gia quản lý bảo vệ rừng gắn với luật tục. Do vậy, sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng theo hướng hợp thức hóa và bảo đảm tiếp cận đầy đủ quyền quản lý sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng truyền thống cho cộng đồng dân cư thôn bản các dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa là động lực để bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh nguồn nước và an ninh quốc phòng cho quốc gia.
Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trương Minh Hoàng, dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng cần quan tâm đến chủ thể rừng; phải tính toán chủ thể, người được giao đất giao rừng có thể làm giàu. Bên cạnh đó, hệ sinh thái rừng cần tiếp tục quy hoạch và phát triển theo kế hoạch, có tính toán định giá trong môi trường rừng. Nếu trồng rừng, phát triển môi trường rừng và tính được giá rừng cho hộ dân thì nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng sẽ đem lại hiệu quả rất lớn. Như vậy, sẽ thêm cơ hội cho người dân làm giàu từ rừng. (Đại Đoàn Kết 24/12) đầu trang(
Mùa này, rừng núi Xuân Sơn đẹp như một bức tranh. Những tán lá của nhiều loài cây cùng đan kín, tạo nên một màu xanh trải dài trong nắng. Màu xanh đó giống như một mái nhà chung khổng lồ che chở cho đồng bào người Dao, người Mường cùng hệ động, thực vật phong phú.
Vườn Quốc gia Xuân Sơn là vùng tam giác ranh giới của 3 tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình và Sơn La nên nhiều đối tượng lợi dụng điều đó để lén lút vào rừng khai thác lâm sản trái phép. Tuy nhiên, các hoạt động đó đều không qua mắt được cán bộ kiểm lâm nơi đây. Tình yêu rừng, sự gắn bó với bà con nhân dân bản địa đã giúp các anh bảo vệ an toàn rừng trên địa bàn.
Vườn Quốc gia Xuân Sơn thuộc lưu vực sông Bứa, là nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Sơn với những dãy núi đá kiến tạo nên hệ thống hang động và những thác nước tạo nên cảnh quan tự nhiên đa dạng kỳ thú, nơi đây có 1.230 loài thực vật, trong đó có 47 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam và quốc tế. Năm 2002, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn được chuyển hạng lên Vườn Quốc gia Xuân Sơn với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao quản lý trên 15.000ha, bao gồm 6 xã Xuân Sơn, Kim Thượng, Tân Sơn, Xuân Đài, Đồng Sơn, Lai Đồng của huyện Tân Sơn.
Nếu như trước đây, để đi đến được các điểm tuần tra xa nhất các cán bộ kiểm lâm phải mất 2-3 ngày, nhưng đến nay nhờ có giao thông thuận lợi nên cả đi và về chưa đến một ngày. Cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng, việc vận động cộng đồng địa phương cùng tham gia công tác này cũng được tích cực đẩy mạnh.
Đây là nhiệm vụ thiết yếu bởi lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng tại các trạm còn mỏng, trong khi đó diện tích rừng tự nhiên quản lý trải rộng trên 10.000ha. Từ năm 2004, Ban quản lý Vườn áp dụng giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên theo cộng đồng thôn, bản, lúc đầu áp dụng thử nghiệm tại 2/9 xóm trong Vườn. Hình thức này giúp công tác quản lý, bảo vệ rừng thực hiện hiệu quả, tạo sự gắn kết giữa người dân và Ban quản lý, không để xảy ra tình trạng vi phạm lâm luật.
Từ những kinh nghiệm trên, đến nay Vườn đã giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên cho 16 cộng đồng gồm trên 1.000 hộ thành viên. Các hộ dân trong Vườn Quốc gia Xuân Sơn ngày càng nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Họ đã tích cực xây dựng các mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp, lựa chọn cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao như: Mô hình nuôi gà nhiều cựa, trồng chè Shan Tuyết... giúp tăng thu nhập, mang lại cuộc sống ổn định cho người dân.
Điều thú vị ở đây là việc trồng và bảo vệ rừng ở các xã vùng đệm được chia lô, trồng và chặt luân phiên nên lúc nào rừng cũng xanh, vì trồng rừng với kỹ thuật cao nên chỉ khoảng một năm rưỡi đến hai năm tuổi đã khép tán. Cách làm rừng khoa học nên đất rừng luôn luôn được che phủ, cành rơi, lá rụng tự phân giải để nuôi cây chu kỳ mới.
Nhớ ngày 17-4-2002, Khu bảo tồn Xuân Sơn chính thức chuyển hạng thành Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Hồi ấy Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn cùng đoàn công tác lên Xuân Sơn có nói: Các đồng chí lãnh đạo tỉnh Phú Thọ cùng nhân dân phải giữ được rừng quý hiếm Xuân Sơn, rừng đa dạng sinh học bậc nhất nước ta. Song để Vườn Quốc gia Xuân Sơn phát huy được những giá trị tiềm năng vốn có của mình, trước tiên phải làm đường nhựa vào khu trung tâm và phải đưa điện lưới vào Xuân Sơn!
Từ năm 2002 đến nay đã hơn chục năm, hôm nay đến Xuân Sơn tỉnh lộ 32 phẳng lì, trùng điệp rừng xanh, không còn đất trống như trước nữa. Vào đến Xuân Sơn chúng tôi đi từ xóm Lạng qua xóm Dù, xóm Lấp đến tận xóm Cỏi với chiều dài trên 21km đường nhựa rộng 4m có cả góc tránh cho hai xe khi gặp nhau. Đây cũng là đường tuần tra rừng của kiểm lâm.
Hai bên đường, một bên là rừng núi đất thấp hơn, một bên là rừng núi đá. Cả hai loại rừng ở đây gần như nguyên sơ, cây rừng đường kính trên dưới 1m, cao từ 20m trở lên, còn tầng dưới cây cao trên dưới 15m, tầng che phủ cuối là tấm thảm xanh. Đặc biệt, núi đá ở đây có cây cao to, cổ thụ che phủ kín lớp đá, chỉ khi nào ta đi hẳn vào trong rừng mới thấy đá tảng, đá to. Đây là rừng núi đá đặc hữu của Việt Nam. Tại rừng núi đá này các nhà điều tra rừng phát hiện 36 hang động, trong số đó có hang Lạng dài hơn 700m, có chỗ cao tới 30m, rộng trung bình 10 đến 15m.
Hang Thổ Thần trên núi đá gần xóm Lấp, đường xuống của hang hẹp, nhưng trong hang có nơi rộng chứa được mấy trăm người, trong có nhiều nhũ đá lộng lẫy với nhiều màu sắc đẹp, có những nhũ đá cao 9 đến 10m, gõ vào phát ra những âm thanh vang động khác lạ. Vừa qua, quần thể 20 cây nghiến nghìn năm tuổi thuộc địa phận xóm Lấp đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) trao Bằng công nhận Cây Di sản Việt Nam.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân các xã trong vùng thực hiện nhiều dự án về rừng mà đời sống người dân vùng này được cải thiện rõ rệt, có đường giao thông thuận lợi, có trường học, trạm y tế có bác sĩ chăm sóc sức khỏe. Lại có những dự án trồng cây ăn quả, dự án chăn nuôi, đem lại lợi ích kinh tế. Người dân có ý thức bảo vệ, yêu rừng hơn, hiện tượng làm nương xâm hại vào đất rừng Vườn Quốc gia không còn nữa.
Họ còn cùng với Vườn Quốc gia Xuân Sơn trồng rừng bổ sung những vùng đồi thấp. Đến nay những cây bản địa như dổi, chò chỉ, re... cao gần 20m phủ xanh không còn khoảng trống. Nhiều nhà khoa học đã nhận xét Vườn Quốc gia Xuân Sơn đa dạng sinh học và cảnh quan rừng tự nhiên gần như nguyên vẹn. Đây cũng là sức hút để Xuân Sơn trở thành điểm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng nổi bật của tỉnh Phú Thọ cũng như khu vực phía Bắc, lượng khách đến với Vườn Quốc gia tăng theo từng năm, năm 2016 đạt 100 nghìn lượt người. (Báo Phú Thọ 25/12) đầu trang(
Liên quan đến vụ rừng Hóa Sơn bị tàn phá, UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ và tăng cường bảo vệ rừng.
Trước đó, PLVN có loạt bài phản ánh khu vực rừng tiểu khu 142 và 143, thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng ở xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa (Quảng Bình) do Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa (thuộc Cty TNHH MTV Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình) quản lý bị tàn phá nghiêm trọng. Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Bình đã có công văn đề nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh này kiểm tra, xác minh, sớm hồi đáp thông tin để ổn định dư luận.
Tiếp đó, Văn phòng UBND tỉnh có thông báo kết luận của UBND tỉnh nêu rõ: Thời gian qua, trên địa bàn xã Hoá Sơn thuộc lâm phận Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa quản lý xảy ra tình trạng người dân khai thác gỗ trái phép. Để xảy ra tình trạng này là do lực lượng quản lý, bảo vệ rừng, các chủ rừng, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm buông lỏng quản lý, chưa làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát quá trình thực thi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.
Khi báo chí phản ánh, dù Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo nhưng lãnh đạo Cty TNHH MTV Lâm công nghiệp (LCN) Bắc Quảng Bình chưa kịp thời kiểm tra, xử lý; việc báo cáo còn sơ sài, chưa nắm rõ đối tượng vi phạm, chủng loại, giá trị kinh tế, đường vận chuyển và nơi tiêu thụ số gỗ bị khai thác trái phép.
Để xảy ra các vấn đề nêu trên, trách nhiệm trước hết thuộc về chủ rừng là Giám đốc Cty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình, Giám đốc Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa, chính quyền địa phương trong công tác tổ chức, quản lý, bảo vệ rừng. Hạt Kiểm lâm Minh Hóa là cơ quan có trách nhiệm bảo vệ rừng, tham mưu cho chính quyền địa phương nhưng chưa thực hiện tốt trách nhiệm, chưa thể hiện được vai trò cầu nối và trung tâm phối hợp giữa các cơ quan chức năng.
UBND tỉnh Quảng Bình cũng yêu cầu Cty LCN Bắc Quảng Bình kiểm điểm nghiêm túc, làm rõ trách nhiệm, có hình thức xử lý (tuỳ mức độ vi phạm) lãnh đạo và các tổ chức, cá nhân có liên quan của công ty, Lâm trường Minh Hoá, Trạm Bảo vệ rừng Hoá Sơn. Chi cục Kiểm lâm tỉnh kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan của Hạt Kiểm lâm Minh Hoá, Trạm Kiểm lâm Hoá Sơn.
Huyện Minh Hoá chỉ đạo rút kinh nghiệm đối với Đảng ủy, UBND xã Hoá Sơn, đề ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém trong thời gian qua và tuỳ theo mức độ vi phạm của các tổ chức, cá nhân để có hình thức xử lý kỷ luật.
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Cty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình đã kiểm điểm, cách chức đối với ông Đinh Văn Cam – Giám đốc Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa và Trạm trưởng Trạm Bảo vệ rừng Hóa Sơn (thuộc lâm trường này). Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình cũng họp rút kinh nghiệm, kiểm điểm trách nhiệm các đơn vị, cá nhân không hoàn thành tốt nhiệm vụ để xảy ra nạn lâm tặc phá rừng và cách chức Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Hóa Sơn.
Trong cuộc họp xử lý việc phá rừng ở Hóa Sơn của UBND tỉnh Quảng Bình, ông Trần Quang Đảm – Giám đốc Cty LCN Bắc Quảng Bình thừa nhận: “Để xảy ra việc phá rừng có trách nhiệm của lãnh đạo cty. Chúng tôi rút ra bài học sâu sắc và xin chịu mọi hình thức kỷ luật”. Ông Đảm cũng cho biết sẽ có tờ trình gửi UBND tỉnh đề nghị có sự hỗ trợ linh hoạt cho đơn vị trong việc đưa gỗ đã bị lâm tặc triệt hạ ra khỏi rừng.
Để chấn chỉnh, tăng cường công tác bảo vệ rừng Hóa Sơn sau phản ánh của PLVN, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã thành lập tổ công tác chốt chặn, truy quét lâm tặc, kiểm tra, kiểm soát lâm sản tại địa bàn xã Hóa Sơn.
Trước đó, UBND tỉnh Quảng Bình cũng đồng ý việc lập barie trên đường để thuận lợi cho việc kiểm soát, kiểm tra lâm sản. Quyết định của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình lập chốt công tác gồm 4 cán bộ của Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa và 2 cán bộ khác của Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 2.
Quyết định cũng yêu cầu Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa tham mưu cho Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách huyện cử lực lượng bảo vệ rừng xã Hóa Sơn, Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa, Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Đồn Biên phòng Cà Xèng, Công an huyện tham gia chốt kiểm tra liên ngành này.
Chốt kiểm tra liên ngành được đặt tại bản Hóa Lương, xã Hóa Sơn và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình cũng đã ban hành quy định về quy chế hoạt động rõ ràng giữa các lực lượng. Ông Phạm Hồng Thái - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình khẳng định: “Sau gần 1 tháng hoạt động, chốt kiểm tra liên ngành đặt tại Hóa Sơn đã ổn định được tình hình, cơ bản ngăn chặn được tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép diễn ra khá phức tạp trước đó trên địa bàn xã này. Chi cục đã cắt cử Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa túc trực tại đây để phụ trách trực tiếp, chỉ đạo hoạt động tại chốt kiểm tra”.
Theo ông Thái, với trách nhiệm là người đứng đầu ngành Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, ông đã trực tiếp chỉ đạo lực lượng Hạt Kiểm lâm Minh Hóa, chốt kiểm tra lâm sản tích cực phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng liên quan thực hiện thường xuyên việc kiểm tra, kiểm soát không chỉ ở địa bàn Hóa Sơn mà còn mở rộng ra cả 2 bên cánh gà, các khu vực giáp ranh như Trung Hóa, Thượng Hóa, Trọng Hóa, Hóa Tiến… để tạo ra được một vành đai bảo vệ rừng ổn định cho cả khu vực này.
“Trong thời gian này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình không chỉ tập trung tăng cường công tác kiểm tra, bảo vệ rừng ở Hóa Sơn và huyện Minh Hóa nói riêng mà trong toàn tỉnh, toàn ngành kiểm lâm Quảng Bình đang triển khai chiến dịch truy quyét lâm tặc, kiểm tra, kiểm soát lâm sản trước, trong và sau Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017”, ông Thái cho biết thêm. (Pháp Luật Việt Nam 26/12) đầu trang(
Năm 2016, trên địa bàn tỉnh Lâm Ðồng đã phát hiện và lập biên bản 1.471 vụ vi phạm Luật BV&PTR, giảm 406 vụ (bằng 21,6%) và diện tích giảm 472.744 m2 (27,4%) so cùng kỳ năm 2015. Ðây là năm có thành tích quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) tốt hơn mấy năm gần đây; tuy nhiên, lại là năm diễn ra những vụ phá rừng và chống người thi hành công vụ hết sức nghiêm trọng.
Trong gần 1.500 vụ vi phạm Luật BV&PTR được phát hiện và lập biên bản, hành vi vi phạm chiếm tỉ lệ cao nhất phải kể đến: khai thác rừng trái phép (379 vụ, chiếm 25,76%); phá rừng trái pháp luật (347 vụ, 23,59% với 1.250.651 m2); mua, bán, cất, giữ lâm sản trái phép (351 vụ 23,86%) và vận chuyển lâm sản trái pháp luật (232 vụ, 21,96%).
Tổng số vụ vi phạm đã xử lý là 1.377 vụ, trong đó xử phạt hành chính 1.322 vụ và chuyển xử lý hình sự 55 vụ.
Trong số những vụ vi phạm này, nghiêm trọng nhất là vụ phá rừng phòng hộ tại địa bàn xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm diễn ra thời gian dài, gây thiệt hại hơn 300 m3 gỗ các loại. Vụ án này có quy mô phá rừng lớn, liên quan đến nhiều cá nhân, trong đó có cả những cán bộ trực tiếp và gián tiếp thực thi công tác QLBVR. Năm 2016, qua xử lý vi phạm, cơ quan chức năng đã tịch thu 502 phương tiện, dụng cụ các loại; 2.526 m3 gỗ các loại; 74 cá thể và 194 kg thịt động vật các loại; thu nộp ngân sách 13,337 tỷ đồng.
Năm 2016, mặc dù công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô 2015 - 2016 được ngành kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng chuẩn bị sớm, nhưng toàn tỉnh vẫn xảy ra 34 vụ cháy làm thiệt hại 118,16 ha. Trong đó, 11 vụ cháy rừng trồng (gần 71 ha); 16 vụ cháy rừng tự nhiên với 39,3 ha và cháy thảm cỏ cây bụi dưới tán 7 vụ (gần 8 ha). Đáng bàn hơn, so với mùa khô 2014 - 2015, đã tăng 1 vụ với diện tích cháy tăng tới 37,56 ha. Đặc biệt, cháy rừng tự nhiên tăng lên 16 vụ, diện tích cháy tăng 29,78 ha và diện tích rừng trồng bị cháy cũng tăng đến 43,78 ha.
Một vấn đề hết sức nhức nhối diễn ra trong công tác QLBVR năm 2016 là hiện tượng chống người thi hành công vụ xảy ra nghiêm trọng. Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 6 vụ, gồm ở Di Linh 2 vụ, Lâm Hà 2 vụ và Đạ Huoai, Đà Lạt mỗi địa bàn 1 vụ. So với năm 2015 tăng 1 vụ, nhưng nghiêm trọng nhất là đối tượng chống người thi hành công vụ tập trung đông người, có những hành động manh động, liều lĩnh, hung hãn và chủ động tấn công lực lượng chức năng.
Các đối tượng vi phạm không chỉ chống người thi hành công vụ để ngăn cản việc xử lý, chạy trốn khi bị bắt giữ mà còn ngang nhiên khiêu khích, thách thức, đe dọa lực lượng chức năng. Điển hình nhất là vụ vi phạm xảy ra ngày 8/8/2016 tại huyện Lâm Hà, trên 50 người đã sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ tấn công lực lượng bảo vệ của Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Ban khi làm nhiệm vụ, làm chết 1 người và 2 người bị thương. Cơ quan công an đang tạm giữ 11 người liên quan để tiếp tục mở rộng điều tra và xử lý.
Trao đổi với lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, Phó Chi cục trưởng Võ Danh Tuyên cho biết, sau khi đánh giá cụ thể trên các mặt được và chưa được, Chi cục đã đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm của năm 2017. “Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp, chương trình, dự án về QLBVR, PCCCR; phấn đấu năm 2017 giảm 20% số vụ vi phạm Luật BV&PTR so với năm 2016”, ông Tuyên nói. Theo đó, Chi cục đã chỉ đạo các phòng chuyên môn - nghiệp vụ, 2 Đội kiểm lâm cơ động - PCCCR và 12 Hạt kiểm lâm của 12 huyện, thành phố tập trung làm tốt các nội dung trọng tâm và cụ thể.
Vấn đề là đánh giá nghiêm túc những tồn tại, tìm nguyên nhân để khắc phục. Những tồn tại, hạn chế trong năm 2016 cụ thể như: công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia công tác BVR và PCCCR hiệu quả còn chưa cao; tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại khu vực giáp ranh; ken cây, kéo đông người là đồng bào dân tộc thiểu số ở Bảo Lâm và Lạc Dương phá rừng vẫn diễn ra phức tạp, chưa được ngăn chặn triệt để.
Bên cạnh đó, cháy rừng xảy ra nhưng đa số chưa phát hiện được đối tượng vi phạm nên không thực hiện được việc giáo dục và răn đe nghiêm. Và như đã nêu trên, tình trạng chống người thi hành công vụ với nhiều hình thức, liều lĩnh, manh động. Việc thi hành quyết định xử phạt còn đạt tỷ lệ thấp, cưỡng chế thi hành cũng rất khó thực hiện. Trong năm 2016 còn 390 vụ vi phạm chưa thi hành quyết định với tổng số tiền phạt lên đến 4,7 tỷ đồng...
Đáng lưu ý là trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của các cấp địa phương, các đơn vị chủ rừng và các cơ quan liên quan thực hiện chưa đồng bộ; chưa có giải pháp, biện pháp hợp lý trong công tác phòng ngừa, đấu tranh và xử lý các đối tượng vi phạm. Cùng đó, sự phối hợp giữa kiểm lâm, chủ rừng, chính quyền địa phương cấp xã và giữa kiểm lâm - công an ở một số địa bàn chưa tốt, vẫn hoạt động theo hình thức vụ việc và chưa đạt được mức độ triệt để trong công tác “đánh án”.
Vai trò, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, nhất là các doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng để thực hiện dự án đầu tư còn buông lỏng trong công tác BVR và PCCCR. Để khắc phục, ngoài giải pháp chính là chủ rừng, chủ doanh nghiệp phải nâng cao vai trò và trách nhiệm của mình; mặt khác, rất cần có chế tài xử lý nghiêm và kiên quyết từ phía các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. (Báo Lâm Đồng 26/12) đầu trang(
Tại Chỉ thị số 14/CT-UBND ngày 8/12/2016, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng đấu tranh, xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, công chức “tiếp tay” cho hành vi phá rừng.
Thời gian qua, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn tiếp tục xảy ra, với nhiều diễn biến phức tạp. Do đó, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, lực lượng chức năng, chủ tịch UBND các huyện, thị xã và các đơn vị chủ rừng tập trung thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng. Trước hết, phải tăng cường công tác quản lý Nhà nước và nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc quản lý, bảo vệ rừng.
Các cơ quan, đơn vị chức năng và chính quyền địa phương phải xem công tác quản lý, bảo vệ rừng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Lực lượng chức năng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng đầu nậu, các băng nhóm tội phạm liên quan đến phá rừng, lấn chiếm đất rừng; đấu tranh, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp cán bộ, công chức tiếp tay, bao che cho hành vi phá rừng, lấn chiếm và buôn bán đất rừng, tuyệt đối không được dung túng hay có ngoại lệ.
Đối với những vụ việc phá rừng nổi cộm, nghiêm trọng đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo trong thời gian qua, phải khẩn trương điều tra, xử lý theo quy định. Ngoài ra, các cơ quan chức năng phải thường xuyên tăng cường công tác tuyên truyền cho nhân dân biết về vai trò, chức năng, tác dụng của rừng cũng như các chính sách, pháp luật, các quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng… (Báo Đắk Nông 23/12) đầu trang(
Ba Vì là một huyện miền núi, có diện tích rừng và đất lâm nghiệp rộng tới 9.867ha, tương đương 40% tổng diện tích rừng của TP Hà Nội. Để đảm bảo cho rừng phát triển ổn định, không xảy ra cháy và khai thác tài nguyên bừa bãi, công tác tuyên truyền bảo vệ và phòng cháy chống cháy rừng (PCCCR) được huyện đặc biệt coi trọng.
Với diện tích rừng rộng, Ba Vì có nguồn tài nguyên rừng rất phong phú, đa dạng về động thực vật. Cụ thể, có khoảng trên 1000 loài thực vật quý hiếm, trong đó có nhiều loại gỗ quý hiếm như bách xanh, thông, dẻ, lát hoa… Chủng loại động vật cũng khá đa dạng với 45 loài thú, 115 loài chim, 61 loài bò sát và 27 loài ếch nhái; trong rừng còn có nhiều loài động vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới như gà lôi trắng, khỉ, báo, gấu, sóc bay…
Đặc biệt, địa danh du lịch Vườn quốc gia Ba Vì là quần thể rừng tập trung nhiều loại cây quý hiếm, mang tính đa dạng sinh học cao, là nơi bảo tồn nguồn gen quý hiếm của cây rừng, phục vụ cho công tác bảo tồn động thực vật rừng và nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh giá trị về kinh tế, khoa học, rừng của Ba Vì còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của huyện Ba Vì nói riêng và Thủ đô Hà Nội nói chung.
Theo đánh giá của một số nhà khoa học, hiện rừng của Ba Vì đang phải gánh chịu rất nhiều thách thức như tốc độ đô thị hóa nhanh, dân số gia tăng, ý thức bảo vệ, PCCCR của một bộ phận người dân tộc các xã có rừng còn hạn chế nên vẫn còn hiện tượng phá rừng, cháy rừng xảy ra. Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của rừng, Huyện ủy, UBND huyện Ba Vì đã tuyên truyền, vận động công tác trồng và bảo vệ rừng tới từng người dân trên địa bàn. Do đó, trong mấy năm qua, Ba Vì được đánh giá là địa phương có rừng thực hiện công tác PCCCR tốt nhất, ít xảy ra cháy rừng nhất so với các địa phương có rừng khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo ông Nguyễn Xuân Dung, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ba Vì, thử thách lớn nhất đối với Hạt Kiểm lâm là nhân lực của Hạt quá mỏng, có tổng 15 cán bộ công nhân viên trên 9.867ha diện tích rừng. Chỉ riêng việc tuần tra, kiểm soát, bảo vệ tài nguyên rừng để không xảy ra cháy nổ, thất thoát cũng đã là một khó khăn lớn. Chưa kể đến việc, không phải lúc nào việc tuần tra, kiểm soát cũng diễn ra thuận lợi, ngoài thiên tai, địch họa, còn lòng người nhiều lúc cũng “chưa thông”, nhiều đồng bào dân tộc sống kề cận rừng, hít thở, ăn ngủ cùng hơi thở của rừng nhưng cũng không nhận thức được hết tầm quan trọng của rừng, không biết bảo vệ rừng.
Chính vì vậy, để chuyển đổi nhận thức của người dân các xã có rừng trên địa bàn huyện, đặc biệt là các em học sinh ở các trường THPT và THCS trên địa bàn, công tác tuyên truyền được chú trọng triển khai. Theo đó, Hạt kiểm lâm Ba Vì đã phối hợp với cơ quan chức năng của huyện như Đài Truyền thanh, phòng Giáo dục đào tạo, Ban giám hiệu các trường trên địa bàn tổ chức các hoạt động tuyên truyền đến từng người dân, từng học sinh về tầm quan trọng của rừng, kêu gọi trách nhiệm của người dân trong việc trồng, bảo vệ và giữ gìn tài nguyên rừng.
Các hình thức tuyên truyền chủ yếu được sử dụng như tuyên truyền cổ động bằng xe ô tô, tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh các xã, thị trấn. Đặc biệt, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với 10 trường THCS tổ chức cho 22 lớp với 4.045 học sinh tham gia chương trình tuyên truyền giáo dục bảo vệ rừng – PCCCR gắn với bảo vệ môi trường, phát 5.600 tờ rơi có nội dung tuyên truyền bảo bệ rừng – PCCCR.
Bên cạnh đó, Hạt cũng đã phối hợp với phòng Kinh tế, Công ty Sông Đà Kinh Bắc tổ chức được 17 lớp tập huấn nghiệp vụ nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của lực lượng bảo vệ rừng – PCCCR giai đoạn 2015 – 2020 của thành phố Hà Nội và dự án tuyên truyền tập huấn xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào PCCCR trên địa bàn thành phố Hà Nội với 780 người tham dự. Trong những ngày nắng nóng, nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn cao, đơn vị đã phối hợp với Đài truyền thanh huyện kịp thời thông báo cấp dự báo cháy rừng và nhắc nhở chính quyền địa phương các xã có rừng, các chủ rừng tăng cường, chủ động trong công tác PCCCR trên địa bàn
“Với chiến lược “mưa dầm thấm lâu”, song song với công tác tuyên truyền, các cán bộ kiểm lâm đã tích cực, chủ động bám sát cơ sở, tham mưu, hướng dẫn, giúp đỡ chính quyền địa phương các xã có rừng, các chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng – PCCCR, trong nhiều năm qua, công tác PCCCR và ý thức bảo vệ rừng của người dân đã có những chuyển biến tích cực, góp phần làm giảm tải gánh nặng cho công tác bảo vệ rừng cho các cán bộ kiểm lâm, trở thành địa phương thực hiện công tác PCCCR và bảo vệ rừng tốt nhất. Năm qua, tập thể và những cá nhân xuất sắc của Hạt Kiểm lâm đã được Cục phòng chống cháy rừng và Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đánh giá cao, tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen”, ông Dung chia sẻ. (Lao Động Thủ Đô 24/12) đầu trang(
Trong quá trình tuần tra kiểm soát, lực lượng CSGT Công an tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh phát hiện và bắt giữ 48 bê gỗ lậu, trên đường đi tiêu thụ.
Ngày 25/12, thông tin từ phòng CSGT Công an tỉnh Hà Tĩnh, trong quá trình tuần tra, kiểm soát, đơn vị phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh phát hiện và bắt giữ 48 bê gỗ không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc.
Theo đó, khoảng 21h30 ngày 24/12, tại Km485 - Quốc lộ 1A, thuộc địa bàn phường Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tổ tuần tra kiểm soát giao thông phía Bắc, phòng Cảnh sát giao thông phối hợp với đội Kiểm lâm cơ động Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện xe BKS: 37C - 024.46 do Trần Tùng Ngọc (SN 1984, trú tại xã Hương Vĩnh) và Phạm Thị Vỹ (SN 1975, trú ở xã Phú Phong, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) điều khiển có nhiều biểu hiện nghi vấn.
Tiến hành dừng xe kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe có 48 bê gỗ (khoảng 5m3) thuộc từ nhóm V đến nhóm VIII. Tại thời điểm kiểm tra, lái xe tải không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc đối với số gỗ trên.
Lái xe Trần Ngọc Tùng khai số gỗ này nhận chở thuê cho một người tên Cường ở thị trấn Vũ Quang, huyện Vũ Quang xuống huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tiêu thụ.
Sau khi lập biên bản, lực lượng chức năng đã thu giữ toàn bộ số gỗ trên cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh xử lý theo quy định. (Người Đưa Tin 25/12) đầu trang(
Người dân xã Thanh Hoá, huyện Tuyên Hoá, Quảng Bình bức xúc trước việc nhiều ô tô chở gỗ keo bị bao vây, ngăn chặn mà không xử lý.
Thời điểm phóng viên có mặt tại Đèo K48 trên đường mòn Hồ Chí Minh đoạn qua xã Thanh Hoá được chứng kiến nhiều xe ô tô tải chở gỗ keo nguyên liệu dừng đỗ bên đường. Qua quan sát tại hiện trường có đến hàng chục người gồm các lực lượng: Công an, Kiểm lâm và cán bộ xã Thanh Hoá đang bao vây nhiều xe ô tô chở gỗ keo trong một thời gian dài mà không xử lý.
Chị Nguyễn Thị Hương, một người dân xã Thanh Hoá bức xúc cho biết: Vào khoảng 14h chiều ngày 23/12 khi xe ô tô chở gỗ keo của gia đình vừa ra khỏi rừng thì thấy các lực lượng đến bao vây, ngăn chặn không cho lưu thông. Sự việc được giằng co cho đến khoảng 23h cùng ngày toàn bộ gỗ keo trên xe được bốc dỡ xuống bên đường.
"Xe ô tô chở gỗ keo của tôi bị bao vây suốt ngày đêm mà không hề biết nguyên nhân, bởi các lực lượng chức năng không lập biên bản xử lý cũng như giải thích cho tôi rõ tại sao xe phải dừng lại. Để khai thác được gỗ keo tôi đã phải bỏ tiền ra thuê nhân công, máy móc và rất nhiều khoản chi phí khác, tôi quá bức xúc trước việc làm mờ ám, khuất tất này". Chị Hương nghẹn ngào nói!
Trước những bức xúc của người dân phóng viên đã liên lạc qua điện thoại với lãnh đạo huyện Tuyên Hoá, lãnh đạo ngành Công an và Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình nhưng các vị này đều bất ngờ về vục việc và cho rằng cấp trên không hề chỉ đạo xã Thanh Hoá cũng như các lực lượng chức năng bao vây xe chở gỗ keo nguyên liệu mà không giải thích lý do cho người dân biết. Chúng tôi sẽ kiểm tra và xử lý dứt điểm vấn nạn này, các vị trên bày tỏ quan điểm với phóng viên.
Đường mòn Hồ Chí Minh đoạn qua xã Thanh Hoá đèo dốc quanh co, bên núi cao bên vực thẳm. Việc nhiều xe ô tô chở gỗ keo dừng đỗ bên đường khiến cho hàng trăm phương tiện tham gia giao thông theo hướng từ Quảng Bình ra Hà Tĩnh và ngược lại gặp muôn vàn khó khăn, trở ngại thậm chí bị ách tắc hàng giờ đồng hồ.
Được biết, gần đây vào mùa thu hoạch gỗ keo nguyên liệu người dân và đồng bào dân tộc các xã miền núi, vùng cao của tỉnh Quảng Bình hết sức bất bình trước những sự việc tương tự nêu trên. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 24/12) đầu trang(
Công an tỉnh Gia Lai, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phối hợp Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Bang và Công an huyện Kbang vừa tổ chức thực nghiệm hiện trường vụ án 8 đối tượng sát hại 1 cán bộ bảo vệ rừng tại xã Sơn Lang, huyện Kbang.
Theo hồ sơ vụ án: vào ngày 20-10-2016, tại xã Sơn Lang, Đinh Văn Hợp, 24 tuổi, trú cùng xã đến trạm bảo vệ rừng thuộc Công ty TNHH – MTV Kon Hà Nừng đến xin anh Nguyễn Văn Thịnh và Võ Đức Huy - Cán bộ kiểm lâm phụ trách trạm cửa rừng được xẻ gỗ rừng về làm nhà. Nhưng Anh Thịnh không đồng ý, 2 bên cãi nhau, Hợp bị đuổi ra khỏi trạm.
Cho rằng anh Thịnh xúc phạm mình, Hợp đã về nhà rủ Đinh Văn Nội, Đinh Văn Nớt, Đinh Sơn, Đinh Văn Túc, Đinh Văn Thợ, Đinh Văn Lịch và Đinh Văn Thuận mang theo 3 dao nhọn và 3 gậy gỗ đến đánh anh Huy và anh Thịnh. Hậu quả, anh Thịnh tử vong tại chỗ, anh Huy bị thương nhẹ.
Kết quả thực nghiệm hiện trường là cơ sở để cơ quan điều tra xác định tội danh từng đối tượng trong vụ án. (ANTV 23/12) đầu trang(
Sáng 24/12, trao đổi với Đất Việt, Thiếu tướng Hồ Sỹ Tiến - Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an cho biết trong chiều 23/12, cơ quan điều tra đã làm việc với đại diện công ty Công ty TNHH Long Sơn (Đắk Nông) liên quan đến vụ nổ súng khiến 3 người chết, 16 người bị thương và làm rõ hành vi san ủi cây trồng của nhiều hộ dân.
“Cơ quan công an đã bắt tạm giam Giám đốc Công ty TNHH Long Sơn, khởi tố vụ án về tội hủy hoại tài sản, phá rừng”, Thiếu tướng Tiến khẳng định.
Chiều 23/12, thông tin với Đất Việt, ông Nguyễn Ngọc Long, Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức, Đăk Nông cho biết, vụ án liên quan đến Công ty TNHH Long Sơn, Bộ Công an đã nhận hồ sơ điều tra toàn diện về đất đai, về các vấn đề an sinh, xã hội và cả vấn đề tranh chấp.
“Tôi đã chỉ đạo và cho công ty Long Sơn và những công ty khác cùng người dân đang canh tác trên đó phải giữ nguyên hiện trạng, không được tác động lẫn nhau. Đất của Công ty thì họ sử dụng, đất của đồng bào thì tiếp tục sử dụng. Những vùng đất tranh chấp không được động vào. Từ đó đến nay không có sự tranh chấp giữa các bên để chờ kết quả điều tra chính thức của cơ quan điều tra”, ông Long nhấn mạnh.
Ông Long cũng khẳng định, sau khi được chính quyền địa phương và huyện tuyên truyền, giải thích đến nay bà con tình hình đã ổn định, không có vấn đề gì xảy ra.
Cũng liên quan đến vụ việc này ngày 4/11, trao đổi với Đất Việt, ông Ngô Xuân Lộc, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Đắk Nông xác nhận, trong quá trình làm việc, kiểm tra tại Công ty TNHH Long Sơn, đoàn công tác sơ bộ phát hiện có hiện tượng phá rừng.
“Việc này hiện các cơ quan đang làm. Tuy nhiên cũng có hiện tượng phá rừng nhưng phải chờ kết quả chính thức, có số liệu rõ ràng”, ông Lộc nhấn mạnh.
Trước đó, theo phản ánh của báo chí, ngày 13/12/2007, UBND tỉnh Đắk Nông cho Công ty TNHH Long Sơn (huyện Tuy Đức) thuê 1.079 ha đất và rừng tại tiểu khu 1535 (xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức) đầu tư dự án nông lâm nghiệp cũng như quản lý, bảo vệ rừng.
Trong số đó, rừng tự nhiên chiếm hơn 539 ha, số còn lại (540 ha) là đất không có rừng. Thời hạn được giao quyền sử dụng đất đến ngày 28/2/2058. UBND tỉnh cũng phê duyệt phương án hoạt động của Công ty Long Sơn như sau: Trồng 441,1 ha cao su; 62,2 ha rừng; 68,0 ha điều. Còn đối với diện tích 539 ha rừng tự nhiên, Công ty Long Sơn có trách nhiệm quản lý, bảo vệ theo quy định.
Tuy nhiên, báo cáo ngày 24/10/2016 của UBND huyện Tuy Đức cho biết, đến nay công ty này chỉ mới trồng được 92,3 ha cao su. Trong khi đó, diện tích rừng được giao cho công ty đã bị tàn phá là 501,7 ha. Đối với diện tích rừng còn lại (khoảng 38 ha) chỉ là rừng nghèo kiệt. (Đất Việt 24/12; Nông Nghiệp Việt Nam 24/12; Người Lao Động 24/12) đầu trang(
"Huyện và xã yêu cầu muốn bán phải thành lập ban đấu giá nên chúng tôi cũng chẳng có quyền bán đành phải nhìn cây nó khô, mục nát đi hàng ngày", ông Ngợi nói.
Từng ví là "khối vàng ròng lộ thiên", hai cây sưa ở chùa làng Phụ Chính (Hòa Chính, Chương Mỹ, Hà Nội) đã được định giá không dưới 150 tỷ đồng, trong đó, gốc sưa lớn giá không dưới 100 tỷ còn gốc sưa nhỏ giá cũng không dưới 50 tỷ.
Nhưng như ông Nguyễn Xuân Ngợi, đại diện Chi hội người cao tuổi của thôn thì cũng từ "hai khối vàng ròng này" mà khung cảnh yên ả của ngôi làng ven "từng được coi giàu nhất" bờ sông Đáy đã mất dần đi và thay vào đó là sự lo lắng, bất an.
Mọi chuyện, theo ông Ngơi bắt đầu từ rằm tháng 7/2010, khi các cụ và người dân Phụ Chính đang tế lễ trong chùa bỗng dưng một cành sưa to bằng cổ chân bị mối đục từ trên cao rơi xuống.
Các cụ cao niên trong làng đã họp đưa vấn đề khai thác những cành sưa già cỗi để tránh nguy hiểm khi gió bão, đồng thời có thêm kinh phí xây đình, tu sửa chùa và 100% biểu quyết tán thành đề xuất khai thác.
Sau đó, ông Dương Văn Thái, người ở làng Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh) đã trúng đấu giá 2,506 m3 với số tiền 20,5 tỷ đồng.
Trước khi tổ chức bán đấu giá số gỗ sưa, theo ông Ngợi, dân làng Phụ Chính đã tìm hiểu cặn kẽ pháp luật.
UBND xã Hòa Chính cũng trực tiếp xác nhận nguồn gốc lâm sản. Hạt Kiểm lâm huyện Chương Mỹ cũng đã có dấu búa vào số gỗ buôn bán giữa làng Phụ Chính và ông Dương Văn Thái
Vậy nhưng khi xe chở số gỗ trên vừa ra khỏi địa phận xã Hòa Chính, sang xã Đồng Phú thì bị công an huyện Chương Mỹ kiểm tra, tạm giữ. Số tiền 20,5 tỷ đồng bán gỗ sưa được chuyển thành 11 sổ tiết kiệm cũng bị phong tỏa.
Trong quá trình điều tra, ngày 5/5/2011, Công an Hà Nội có công văn gửi Tổng cục Lâm nghiệp xin ý kiến xử lý số gỗ.
Ngày 25/5/2011, Tổng cục Lâm nghiệp có văn bản khẳng định, số gỗ sưa này là cây trồng phân tán, do cộng đồng thôn Phụ Chính quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì việc khai thác, sử dụng do cộng đồng thôn tự quyết định.
Ngày 26/3/2013, cơ quan công an đã ra kết luận "chưa có cá nhân nào được hưởng lợi từ số tiền mua, bán 2,5 m3 gỗ sưa" và không khởi tố vụ án hình sự số 78/03/2013 vì không có hành vi phạm tội.
"Chúng tôi đã đi rất nhiều các cơ quan từ Trung ương đến thành phố để khiếu nại việc vì sao lại bắt giữ như vậy và các cơ quan đều trả lời là số gỗ sưa thuộc quyền khai thác và sử dụng của dân làng Phụ Chính.
Khi cơ quan công an xác định không khởi tố vụ án, không có dấu hiệu vi phạm hành chính và số tiền ông Thái dùng để mua gỗ là hợp pháp thì tưởng chừng số gỗ sưa sẽ được trao trả cho người mua, số tiền phong tỏa sẽ được trả lại cho làng, nhưng thực tế lại khác...", ông Ngợi cho hay.
Theo ông Ngợi, đến ngày 18/5/2015, số gỗ sưa bị tạm giữ lại được giao cho UBND huyện Chương Mỹ phối hợp với Trung tâm bán đấu giá thu về số tiền hơn 31,1 tỷ đồng.
Sau khi trừ các chi phí theo quy định, số tiền còn lại là hơn 31 tỷ đã được chuyển về tài khoản của UBND xã Hòa Chính để đầu tư các công trình phúc lợi, công cộng ở thôn Phụ Chính.
Cũng theo ông Ngợi, từ đó đến nay, câu chuyện về hai khoản tiền này vẫn "lình xình" chưa có hồi kết, khi các cụ trong làng vẫn giữ số tiền 20,5 tỷ và lãi của ông Thái trả mua gỗ còn số tiền hơn 31 tỷ bán đấu giá vẫn đang nằm tại ngân sách xã.
"Về hơn 31 tỷ đồng bán đấu giá số gỗ sưa đó, các cụ cũng thống nhất là sẽ lấy nhưng khi công an tạm giữ có 28 khúc gỗ, đến lúc bán đấu giá lại chỉ có 26 khúc vậy còn 2 khúc thiếu phải trả lại cho làng.
Nếu làm được như thế thì làng sẽ nhận số tiền đó, tuy nhiên đến nay vẫn chưa cơ quan nào giải quyết và tiền vẫn nằm ở xã.
Với số tiền của ông Thái mua gỗ được chia thành 11 sổ tiết kiệm đến nay cả gốc cùng lãi gửi cũng lên tới hơn 30 tỷ đồng.
Khi huyện bán đấu giá xong, ông Thái cũng có cam kết là chỉ lấy 20,5 tỷ tiền gốc, không lấy lãi nhưng đến giờ, ông ấy lại về đòi tất cả lãi, khi không được chấp nhận thì thậm chí còn chửi bới, đe dọa các cụ trong làng.
Chính vì những lằng nhằng như vậy nên đến nay, cả hai số tiền hàng chục tỷ này vẫn nằm im bất động còn dân làng thì mang tiếng có tiền nhiều như vậy nhưng chẳng thể tiêu và chúng tôi đi mãi rồi mà không biết ai sẽ giải quyết rõ việc này, hồi kết bao giờ mới đến...", ông Ngợi bày tỏ.
Còn theo cụ Vũ Viết Binh, khi quyết định bán gỗ sưa, các cụ mong mỏi là sớm có tiền để kiến thiết lại các công trình và đến giờ này, rất nhiều thứ đang chờ, từ kiến thiết lại chùa, trả tiền công bảo vệ hai cây sưa nhưng "tiền thì nhiều thế đấy mà chưa biết đến khi nào được tiêu".
Các cụ trong làng cũng cho hay, cây gỗ sưa lớn trị giá 100 tỷ đã bị trộm, chỉ còn lại phần gốc và cũng đang có dấu hiệu bị khô, chết nhưng việc xin phép để khai thác, bán vẫn còn quá nhiều rắc rối.
"Huyện và xã yêu cầu muốn bán phải thành lập ban đấu giá nên chúng tôi cũng chẳng có quyền bán đành phải nhìn cây nó khô, mục nát đi hàng ngày và cứ thế này, cả trăm tỷ có khi chỉ còn là củi để đun", ông Ngợi chua xót nói.
Và trong lúc chờ các cơ quan chức năng quyết định, thì tổ bảo vệ của ông Trần Anh Tú vẫn phải túc trực ngày đêm cùng lớp "áo giáp sắt" để chống lại những kẻ "sưa tặc". (Trí Thức Trẻ/ Soha News 23/12) đầu trang(
Ngày 25/12, TP Đà Nẵng đã tổ chức “Tour xe đạp - Hành trình khám phá Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà”, là hoạt động nằm trong khuôn khổ chương trình “Thành phố Xanh quốc tế”; với sự tham gia của gần 1.000 người...
Đối tượng tham gia là các tình nguyện viên thuộc các sở, ban ngành, trường đại học, tổ chức, đoàn thể và các thành viên Hội Xe đạp thể thao Đà Nẵng; cùng du khách trong và ngoài nước…
Hành trình tour xe đạp dài khoảng 35km, xuất phát từ Công viên Biển Đông, đường Võ Nguyên Giáp đi Chùa Linh Ứng đến Hố Sâu, Tiên Sa, Yết Kiêu và đường Lê Đức Thọ.
Chương trình “Thành phố Xanh quốc tế” là sáng kiến của Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), nhằm kêu gọi các TP trên thế giới hãy hành động và hướng tới một hành tinh tương lai thân thiện với môi trường; đồng thời xây dựng và thực hiện các kế hoạch để giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tại Việt Nam, Chương trình được thực hiện nhằm mục tiêu tập trung vào giao thông bền vững, phát triển xanh, thân thiện môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Năm 2016, Huế là TP đầu tiên của Việt Nam tham gia Chương trình và trở thành “Thành phố Xanh quốc gia”.
Hiện nay, TP Đà Nẵng đã đăng ký tham gia Chương trình “Thành phố Xanh quốc gia” cho giai đoạn 2017 - 2018. “Tour xe đạp - Hành trình khám phá Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Đà Nẵng”, là sự kiện chuẩn bị sẵn sàng cho chương trình này năm sau.
Thông qua hành trình đi xe đạp sẽ nâng cao nhận thức, xây dựng thói quen cho cộng đồng về giao thông xanh, bền vững, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học; đặc biệt là bảo tồn Voọc Chà vá chân nâu, loài sinh vật đặc hữu của bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng; Tour xe đạp sẽ mở ra một “sân chơi” thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư, du khách, doanh nghiệp và những người có sở thích đi xe đạp; đồng thời là đội ngũ tuyên truyền tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường, cảnh quan và đa dạng sinh học trong lộ trình xây dựng TP môi trường.
Phát biểu tại buổi lễ khai mạc, bà Huỳnh Thị Liễu Hoa, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Đà Nẵng cho biết, Tour xe đạp có gần 100 tình nguyện viên, trong đó có 35 tình nguyện viên tham gia suốt hành trình để chinh phục đỉnh cao Sơn Trà, mang thông điệp đầy ý nghĩa về bảo vệ môi trường hướng đến cộng đồng và du khách trong xây dựng thói quen giao thông xanh. (Thanh Tra 26/12) đầu trang(
Sau 2 giai đoạn triển khai, Dự án Bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tủng (Đồng Văn) đã tạo ra 15 nghìn cây giống của 4 loài thông quý hiếm, có nguy cơ tiệt chủng.
Thành công của dự án đã đưa Thài Phìn Tủng trở thành “khu vườn” đa dạng sinh học kỳ thú, nơi lưu giữ các nguồn gen quý, hiếm vào loại bậc nhất trên Cao nguyên đá Đồng Văn, đồng thời cũng đang mở ra cơ hội thoát nghèo cho người dân nơi đây.
Mặc dù đã bước sang tuổi “Thất thập cổ lai hy”, nhưng Tiến sỹ Lê Trần Chấn - Trung tâm Đa dạng và an toàn sinh học vẫn có đôi mắt tinh anh, nước da dám nắng chắc khỏe, cùng dáng đi nhanh nhẹn như con hổ, con báo trên rừng. Ông cho biết, đã vào cái tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng mình vẫn giữ được phong độ chính là nhờ những năm tháng leo núi, khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu về các loài gen thực vật quý, hiếm trên địa bàn xã Thài Phìn Tủng. Ngay từ năm 1999, ông đã đặt chân đến Thài Phìn Tủng theo diện mời tham gia thực hiện Chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển để phát triển nông thôn miền núi.
Nhớ lại quãng thời gian cách đây gần 20 năm, Tiến sỹ Lê Trần Chấn không thể quên hình ảnh đập vào mắt đầu tiên khi đến Thài Phìn Tủng chỉ 4 bề đá núi, sau đó là những cụ già, những thiếu niên vai trĩu nặng gùi đựng can nước được lấy từ thị trấn Đồng Văn, xa hơn nơi ở cả chục cây số để phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Thài Phìn Tủng thiếu nước, không chỉ do hiện tượng ka-xtơ, một nguyên nhân không kém phần quan trọng do nơi đây hầu như không có rừng.
Diện tích tự nhiên của xã hơn 3 nghìn ha, chỉ có 9 ha rừng, đất rừng, còn lại hầu hết núi đá trọc hoặc cây bụi, trảng cỏ. Qua tìm hiểu, Tiến sỹ Lê Trần Chấn được người dân cho biết, nơi đây đã từng có rừng với nhiều loài cây gỗ lớn, quý, hiếm như Nghiến, Trai... Tuy nhiên, vì nhiều lý do, đến năm 1999 Thài Phìn Tủng hầu như không còn rừng.
Trong những ngày khảo sát tại Thài Phìn Tủng, Tiến sỹ Lê Trần Chấn đã phát hiện có loài Thông đỏ bắc, vào thời điểm này hầu như mới chỉ ghi nhận sự xuất hiện tại Hang Kia - Pà Cò (Mai Châu - Hòa Bình). Sau đó, ông còn phát hiện được cây Dẻ tùng sọc nâu - loài đặc hữu hẹp trước đó mới chỉ ghi nhận sự tồn tại ở Lũng Cú (Đồng Văn). Đặc biệt, còn phát hiện được Hoàng đàn rủ - loài cây được xem đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Riêng Thông tre lá ngắn thì có vài chục cá thể. Cả 4 loài cây này đều nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 1996.
Sau những phát hiện có tính bước ngoặt, Tiến sỹ Lê Trần Chấn đã bén duyên và có thêm nhiều năm gắn bó với mảnh đất này khi Quỹ Môi trường toàn cầu - Chương trình Tài trợ các dự án nhỏ (GEF SGP) đã triển khai Dự án Bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học xã Thài Phìn Tủng. Chỉ trong vòng 3 năm thực hiện (2003-2006), dự án đã phát hiện thêm nhiều loài thực vật quý, hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định 32 của Chính phủ như: Thông 5 lá Pà Cò, Thiết sam giả lá ngắn, Thiết sam núi đá, Du sam đá vôi, Mã hồ, Bảy lá một hoa, Hà thủ ô đỏ, Trai lý, Bạch huệ núi, Đỉnh tùng.
Từ kết quả nghiên cứu đầy triển vọng này, Tiến sỹ Lê Trần Chấn rất vui mừng khi GEF SGP quyết định tài trợ giai đoạn 2 để tiến hành xây dựng vườn ươm, tạo cây giống bằng phương pháp giâm cành, thực hiện ước mơ lập lại màu xanh trên vùng núi đá của xã Thài Phìn Tủng bằng chính nguồn gen quý hiếm của địa phương. Gắn bó với những loài gen quý, hiếm từ khi vẫn còn là chồi non, Tiến sỹ Lê Trần Chấn càng vui hơn khi được chứng kiến có những cây Hoàng đàn rủ, Thông tre lá ngắn cao đến 4m, đường kính 10cm; cây Thông đỏ tuy chậm hơn một chút, nhưng cũng tràn đầy sức sống với cành lá xum xuê; tỷ lệ cây sống sau khi đưa ra khỏi vườn ươm đạt tới 70%.
Trao đổi với chúng tôi trong chuyến lên kiểm tra thực tế tại Thài Phìn Tủng cuối tháng 11 vừa qua, chị Nguyễn Thị Thu Huyền, Điều phối viên Quỹ Môi trường toàn cầu - Chương trình phát triển Liên hợp Quốc cho biết: Năm 2003, Quỹ Môi trường toàn cầu quyết định tài trợ, thực hiện dự án nhằm bảo tồn, phát triển nguồn gen quý, hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tủng. Dự án do Hội Liên hiệp Phụ nữ Đồng Văn thực hiện với sự hỗ trợ của các chuyên gia Viện Môi trường phát triển bền vững, Trung tâm Đa dạng và an toàn sinh học. Dự án được triển khai khá bài bản với tiêu chí nâng cao nhận thức của người dân, các đoàn thể, chính quyền cùng vào cuộc bảo tồn, phát triển các giống cây quý.
Dự án có mục tiêu rõ ràng là bảo vệ, phát triển nguồn gen 4 loài thực vật quý, hiếm có nguy cơ đe dọa tiệt chủng gồm Thông đỏ, Hoàng đàn rủ, Dẻ tùng sọc nâu và Thông tre lá ngắn. Trong quá trình triển khai, dự án đưa ra 3 mô hình bảo tồn theo hộ gia đình, vườn sưu tập nhóm hộ gia đình và mô hình cộng đồng rải rác trong phạm vi xã Thài Phìn Tủng. Đến nay, dự án đã tạo ra được 15 nghìn cây giống của 4 loài thông quý hiếm, số cây giống được các hộ dân trồng trên vườn rừng có tỷ lệ sống khá cao, sinh trưởng phát triển tốt.
Chị Huyền cho biết thêm, cùng với việc bảo tồn đa dạng sinh học, Quỹ Môi trường toàn cầu đã quyết định tài trợ Dự án Bảo tồn giống bò vàng vùng cao, nhằm giúp các gia đình tham gia bảo tồn nguồn gen quý hiếm có thêm điều kiện cải thiện mức sống, đồng thời nâng cao nhận thức về bảo tồn nguồn gen vật nuôi cho người dân Thài Phìn Tủng. Dự án đã tài trợ cho 26 hộ, mỗi hộ vay 10 triệu đồng để nuôi bò, 4 hộ vay 15 triệu đồng mua bò đực giống.
Đến nay, đàn bò của các hộ dân đã tăng được 72 con, bình quân mỗi hộ nuôi đã thu được 50 triệu đồng từ tiền bán bê con. Ngoài ra, Quỹ Môi trường toàn cầu còn chuyển giao lại cho Thài Phìn Tủng quản lý Quỹ vốn vay xoay vòng với số tiền trên 382 triệu đồng để phát triển đàn bò vàng.
Vừa qua, Quỹ Môi trường toàn cầu đã tiến hành khảo sát, đánh giá tính bền vững của dự án. Kết quả khảo sát khẳng định, dự án đã phát triển bền vững không chỉ về mặt bảo tồn mà cả về mặt nâng cao đời sống cho cộng đồng. Sức sống mãnh liệt, tốc độ sinh trưởng rất nhanh trong điều kiện thiên nhiên, thời tiết khắc nghiệt của các loài Thông tre lá ngắn, Hoàng đàn rủ, Thông đỏ... đã đưa Thài Phìn Tủng trở thành “khu vườn” thiên nhiên kỳ thú, nơi lưu giữ, bảo tồn, phát triển các loài gen quý, hiếm - Tiến sỹ Lê Trần Chấn nói. (Báo Hà Giang 24/12) đầu trang(
Thời gian gần đây, xung đột giữa voi hoang dã với con người ngày càng nhiều, do diện tích rừng bị thu hẹp, khiến môi trường sống của voi bị ảnh hưởng. Đặc biệt, trước đây voi rừng bị săn bắn, sát hại nên ngày càng trở nên hung giữ, tăng nguy cơ voi tấn công người.
Trung Tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk vừa tổ chức Hội nghị triển khai chính sách bảo tồn voi và Hội thảo các giải pháp giảm thiểu xung đột voi với người tại huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
Từ tháng 6/2012 đến nay, có trên 80 đợt voi hoang dã đến khu đến khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp của dân và doanh nghiệp. Riêng năm 2016, có 25 đợt voi hoang dã xuất hiện phá hoa màu, chòi rẫy, lán tạm... Tại huyện Buôn Đôn, đàn voi rừng đã tấn công làm chết 1 voi nhà đang thả kiếm ăn trong Vườn quốc gia Yok Đôn; phá hoại hơn 10 ha hoa màu của người dân buôn Đrang Phốc gây thiệt hại hơn 284 triệu đồng. Ở huyện Cư M’gar đàn voi đã kéo về khu vực xã Ea Kiết kiếm ăn, 1 cá thể voi rơi xuống giếng nước chết. Ở huyện Ea Súp, đàn voi 34 cá thể kéo về phá hoại nhiều hoa màu và làm 1 người bị gãy chân.
Theo điều tra của Trung tâm Bảo tồn voi hiện ở Đắk Lắk, hiện Đắk Lắk có khoảng 5 đàn voi hoang dã với số lượng từ 60 đến 70 cá thể, trong đó huyện Ea Súp một đàn khoảng 30-34 cá thể, huyện Buôn Đôn khoảng 4 đàn từ 30 đến 36 cá thể. Số lượng đàn voi đang suy giảm, cấu trúc tuổi voi già chiếm đa số, tỷ lệ đực - cái mất cân đối, voi cái nhiều hơn voi đực.
Tại Hội nghị, lãnh đạo Trung tâm Bảo tồn voi thông qua Nghị quyết về quy định một số chính sách bảo tồn voi của HĐND tỉnh, Quyết định về trình tự, thủ tục thực hiện các chính sách về bảo tồn voi trên địa bàn tỉnh… Hướng dẫn người dân cách thức bảo vệ mình và tài sản trước sự tấn công của voi hoang dã và chung tay cùng bảo tồn, phát triển đàn voi rừng và voi nhà trên địa bàn. (Dân Sinh 24/12) đầu trang(
Sáng 23/12, lực lượng chức năng của Hà Tĩnh phát hiện và thu giữ một con hổ bỏ trong tủ đông nặng 160 kg tại nhà một người dân ở huyện Hương Sơn.
Theo thông tin, sáng ngày 23/12, Phòng Cảnh sát môi trường phối hợp với Công an huyện Hương Sơn kiểm tra nhà riêng anh Nguyễn Văn Thành (trú xã Sơn Quang, Hương Sơn) phát hiện một con hổ nặng khoảng 160 kg. Con hổ này được bảo quản trong tủ đông.
Sau khi lập biên bản, lực lượng chức năng thu giữ để tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Tiền Phong 24/12) đầu trang(
Cuối năm, tình trạng buôn lậu ngà voi ngày càng “nóng”; lực lượng chức năng phát hiện khối lượng lớn ngà voi nhập lậu được ngụy trang tinh vi.
Chỉ trong vòng hai tháng cuối năm 2016, lực lượng Hải quan tại TPHCM liên tục phát hiện nhiều vụ buôn lậu ngà voi với tổng khối lượng hơn 5 tấn nhập khẩu qua cảng Cát Lái. Các đối tượng buôn lậu sử dụng các khối gỗ lớn, đục rỗng ruột cho ngà voi vào rồi phủ keo, dán lại nguyên trạng nhằm qua mắt cơ quan chức năng. Vụ buôn lậu hơn 2 tấn ngà voi châu Phi trị giá hàng trăm tỷ đồng do Cty TNHH-TM-DV Diệu Tiên (quận Tân Bình, TPHCM) nhập về cảng Cát Lái bị Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực 1 phát hiện.
Theo Cục Hải quan TPHCM, ngày 5/10, nhân viên của Cty Diệu Tiên đến Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực 1 để mở tờ khai hải quan cho 2 container gỗ xoan đào có xuất xứ Mozambique. Theo tờ khai, lô hàng này được vào hệ thống phân luồng Vàng, tức chỉ kiểm tra hồ sơ mà không cần kiểm tra thực tế. Tuy nhiên, khi nhân viên hải quan soi chiếu thì phát hiện vật lạ bên trong các khối gỗ nên giữ lại.
Khi mở các container này để kiểm tra thực tế các khối gỗ, Hải quan phát hiện hàng trăm khúc ngà voi có trọng lượng hơn 2 tấn, ước tính trị giá hàng trăm tỷ đồng. Theo quan sát của phóng viên, các khối gỗ có đường kính khoảng 50cm được đục rỗng ở giữa, ba bên chỉ còn một lớp vỏ mỏng, ngà voi được cho vào trong rồi đậy nắp, hàn lại như một khối gỗ bình thường, nhìn bằng mắt thường rất khó phát hiện. Đây là vụ buôn lậu ngà voi lớn nhất được hải quan phát hiện thời gian qua.
Theo giấy tờ kê khai hải quan, chủ lô hàng là Cty Diệu Tiên, có địa chỉ tại quận Tân Bình, nhưng người đến làm thủ tục mở tờ khai lại không phải nhân viên của Cty này mà là một Cty khác chuyên nhận việc lo thủ tục hải quan thuê. Nhân viên đến mở tờ khai hải quan khai báo với lực lượng chức năng rằng, Cty nhận khai thuê hải quan để nhập lô gỗ xoan đào với giá 4 triệu đồng. Toàn bộ hồ sơ, giấy giới thiệu, giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật và cả tiền nộp thuế cho lô hàng… đều do người của Cty Diệu Tiên cung cấp. Tuy nhiên, khi bị phát hiện, giám đốc và nhân viên của Cty Diệu Tiên đã “biến mất”, địa chỉ đăng ký kinh doanh cũng là địa chỉ “ma”.
Theo tìm hiểu, Cty Diệu Tiên được Sở KH&ĐT TPHCM cấp Giấy phép kinh doanh ngày 9/11/2015. Địa chỉ Cty đăng kí kinh doanh là số 66/8, đường Tái Thiết, phường 11, quận Tân Bình, TPHCM. Tuy nhiên, khi phóng viên tìm đến thì đây chỉ là một tiệm tạp hóa nhỏ, không thấy tên Cty nào.
Ngày 26/10, thêm 1 tấn ngà voi nhập lậu bị thu giữ. Chiều 1/11, lực lượng chức năng phát hiện thêm 500kg ngà voi. Ngày 24/11, phát hiện hơn 600kg ngà voi. Ngày 29/11, phát hiện gần 1 tấn ngà voi nhập vào cảng Cát Lái…
Ông Lê Đình Lợi, Phó cục trưởng Cục Hải quan TPHCM, cho biết: “Lượng gỗ nhập khẩu về cảng Cát Lái rất lớn. Đây cũng là nơi các doanh nghiệp lợi dụng để buôn lậu ngà voi. Vì vậy, Cục Hải quan tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với các mặt hàng gỗ nhập từ châu Phi về. Để ngụy trang, các đối tượng giấu ngà voi trong khối gỗ rỗng ruột và phủ một lớp sáp bên ngoài, sau đó chèn thạch cao trộn với cát để tạo ra một chất có trọng lượng tương đương với gỗ rồi đóng đinh như khúc gỗ đặc bình thường. Như vậy, khó phát hiện bằng máy soi nên lực lượng Hải quan phải sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ, soi chiếu bí mật trước và đợi khi doanh nghiệp lên mở tờ khai để yêu cầu kiểm tra”, ông Lợi nói.
Theo ông Lợi, với các chiêu thức ngụy trang ngà voi rất tinh vi và buôn lậu với số lượng lớn nên chắc chắn có đường dây buôn lậu chứ không phải các đối tượng buôn lậu lẻ tẻ. “Cục Hải quan TPHCM đang phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Công an để điều tra làm rõ nhưng doanh nghiệp đứng sau các vụ buôn lậu ngà voi này”, ông Lợi nói.
Trung tướng Đồng Đại Lộc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát- Bộ Công an, cho biết, các vụ buôn lậu ngà voi lớn có thủ đoạn cực kì tinh vi, được các đối tượng chuẩn bị rất kĩ lưỡng từ phía nước ngoài cho đến việc thuê vận chuyển về Việt Nam. Doanh nghiệp đứng tên nhập khẩu lô hàng lập Cty “ma”, địa chỉ “ma”, các doanh nghiệp nhập lậu không lộ diện khiến việc truy tìm chủ nhân thực sự của lô hàng rất khó.
Bên cạnh đó, Việt Nam không phải là thị trường tiềm năng để buôn bán ngà voi, các đối tượng buôn lậu chọn làm nơi trung chuyển để tuồn qua các nước khác. Vụ buôn lậu gần 300kg ngà voi bị Hải quan phát hiện chiều 29/11 cho thấy, các đối tượng buôn lậu giấu ngà voi trong gỗ nhập từ cảng Lome, ghé qua cảng Tanjung Pelepas, Malaysia sau đó quá cảnh qua cảng Cát Lái để đưa về cảng Phnompenh của Campuchia.
Luật sư Nguyễn Đức Chánh, Giám đốc Cty Luật TNHH Đức Chánh, cho biết, theo Điều 190 Bộ luật Hình sự hiện hành, người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp như có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm; Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm; Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. (Tiền Phong 25/12) đầu trang(
Nhiều địa phương ở ĐBSCL đã lên tiếng cảnh báo điều này và cho rằng nguyên nhân chủ yếu do phần lớn bị giảm không gian sinh sống, nơi cư trú và việc mở rộng diện tích nuôi thủy sản.
Theo số liệu báo cáo điều tra của các địa phương và phỏng vấn người dân, nhiều loại sinh vật quý hiếm, trong đó có những loài sinh vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Tại An Giang, theo báo cáo, có 6 nhóm sinh vật quý hiếm gồm: thực vật, chim, cá, động vật có vú, bò sát và lưỡng cư.
Theo thống kê năm 2012, nơi đây có 17 loài sinh vật bị đe dọa, trong đó có số loài sinh vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam là 17 loài, Sách đỏ IUCN (danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới) là 10 loài.
Tuy nhiên, đến năm 2016, tổng số loài sinh vật nằm trong danh sách bị đe dọa tăng lên đến 72 loài. Trong đó, có số loài sinh vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam là 63 loài, Sách đỏ IUCN là 40 loài.
Tại Vĩnh Long, bao gồm 6 nhóm: thực vật, chim, cá, bộ cánh thẳng, bò sát, lưỡng cư. Năm 2016, tổng số loài sinh vật bị đe dọa có xu hướng tăng lên 27 loài, trong đó số loài nằm trong Sách đỏ của Việt Nam là 25 loài, Sách đỏ IUCN là 15 loài.
Còn tại Đồng Tháp, năm 2012 trong 7 nhóm sinh vật quý hiếm thì có 30 loài sinh vật bị đe dọa. Đến năm 2016, số loài sinh vật bị đe dọa đến 35 loài (Sách đỏ Việt Nam là 34 loài, Sách đỏ IUCN là 21 loài).
TS. Dương Trí Dũng- Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (ĐH Cần Thơ), đại diện nhóm nghiên cứu về các sinh vật quý hiếm ở ĐBSCL (do Tổ chức phi Chính phủ WWF- Việt Nam tài trợ) cho biết, giai đoạn 2012- 2016, vùng ĐBSCL có 129 loài sinh vật quý hiếm đang bị đe dọa.
Trong quá trình thu thập thông tin, nhóm nghiên cứu phát hiện một số loài sinh vật rất cần được tìm hiểu thêm hoặc có kế hoạch, hành động bảo vệ như: An Giang có loài mang lớn, TP Cần Thơ và Hậu Giang có lúa ma, Kiên Giang và Cà Mau có nưa chân vịt. Đặc biệt ở Long An còn có cả rùa vàng.
PSG.TS. Nguyễn Văn Công- Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (ĐH Cần Thơ), nguyên nhân các loài sinh vật bị đe dọa phần lớn là bị giảm không gian sống, nơi cư trú từ việc mở rộng diện tích nuôi thủy sản.
Quá trình chuyển sử dụng đất hiện có sang ao nuôi thủy sản khi bơm bùn, cải tạo ao đã làm ảnh hưởng đến môi trường sống của thủy sinh vật quý hiếm. Ngoài ra, quá trình nuôi người dân mắc lưới tại ao, các sinh vật tìm thức ăn đã bị vướng chết hoặc không an toàn nên di cư.
Để bảo vệ, PSG.TS. Nguyễn Văn Công cho rằng, cần trồng, duy trì thảm thực vật ở những khu vực hợp lý nhất trong trang trại nuôi thủy sản để tạo nơi cư trú tạm thời cho các loài quý hiếm.
Đại diện của Tổ chức WWF- Việt Nam cũng khuyến cáo, phải làm rõ các quy định trong việc xử lý vi phạm trong việc bắt, vận chuyển các loài sinh vật quý hiếm cũng như có chế tài cụ thể để các cơ quan chức năng dễ xử lý.
Bên cạnh, nhiều ý kiến cũng đề xuất, Nhà nước cần ban hành những quy định và hướng dẫn cứu hộ các loài, nâng cao nhận thức cứu hộ sinh vật quý hiếm cho các địa phương.
Đồng bằng cũng cần phải có các nghiên cứu về khu vực sống thích hợp của từng loài sinh vật, để từ đó có sự phân bố rõ ràng, hợp lý và tránh trường hợp không biết đưa về đâu khi phát hiện có một loài sinh vật nào đó xuất hiện sau thời gian dài… mất tích.
Tại hội thảo “Sự phân bố và bảo tồn các loài đang bị đe dọa ở ĐBSCL đáp ứng yêu cầu các tiêu chuẩn nuôi trồng thủy sản bền vững” do Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) tổ chức mới đây tại TP Cần Thơ, nhiều chuyên gia cho rằng, cần có biện pháp quản lý chất thải đúng quy định, có bố trí ao trữ nước thải cũng như có nơi trữ bao bì hóa chất sử dụng trong quá trình nuôi. (Báo Vĩnh Long 24/12) đầu trang(
Vừa qua, Tổ Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Phú phối hợp Ban bảo vệ phát triển rừng xã Tân Lợi, lực lượng Kiểm lâm Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai đã kiểm tra khu vực giáp ranh dọc Sông Mã Đà đến tại khoảnh 4, tiểu khu 363 Nông Lâm trường Tân Lập thuộc Công ty TNHH MTV cao su Bình Phước.
Qua kiểm tra, đoàn đã phát hiện hai đối tượng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93M1-122.80 chở theo một bao đựng đồ màu trắng có biểu hiện nghi vấn, tiến hành dừng phương tiện kiểm tra. Ngay lập tức, một đối tượng bỏ chạy, đối tượng còn lại bị tổ công tác khống chế. Khám xét bao đựng đồ phát hiện có một con Tê tê, một con Kỳ đà và một con Chồn (đã chết). Đối tượng khai nhận tên Thạch Riêng (tên thường gọi Bảy Miên) sinh năm 1966 chỗ ở hiện nay tổ 5, ấp Thạch Màng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Hiện Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Phú đã hoàn tất hồ sơ khởi tố vụ án chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Phú tiếp tục điều tra làm rõ. (Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bình Phước 22/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau 3 năm triển khai Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 - 2016, Thanh Hóa là một trong những địa phương hoàn thành sớm nhất trong cả nước. Đây là cơ sở quan trọng để trong những năm tới rừng, đất rừng của tỉnh được quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả hơn.
Để thực hiện tốt công tác kiểm kê rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các ngành chức năng, các huyện, thị xã, các xã mở 2 lớp tập huấn cấp tỉnh về công tác kiểm kê rừng và đất rừng, 12 lớp cấp huyện, 21 lớp cấp xã. Công tác kiểm kê rừng được triển khai thực hiện trên phạm vi 383 xã, phường, thị trấn có rừng, đất trong quy hoạch lâm nghiệp và 38 xã, phường, thị trấn có rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp thuộc 27 huyện, thị xã và thành phố, với diện tích kiểm kê 684.020,9 ha (trong quy hoạch lâm nghiệp 647.677,1 ha, ngoài quy hoạch lâm nghiệp 36.343,8 ha).
Ngoài ra, còn xây dựng hệ thống bản đồ kiểm kê, bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ chủ quản lý các cấp với tỷ lệ 1/10.000, 1/50.000, 1/100.000; hệ thống bản đồ kiểm kê chủ quản lý rừng và hiện trạng rừng chủ quản lý nhóm 2. Các cơ sở dữ liệu kết quả kiểm kê rừng được lưu, quản lý dưới dạng hồ sơ bản giấy và bản mềm, đã xác định chính xác diện tích, chất lượng, thiết lập hồ sơ quản lý rừng và đất lâm nghiệp hàng năm, làm căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Vì thế, kết quả kiểm kê rừng không chỉ có ý nghĩa trong chiến lược bảo vệ và phát triển rừng bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, mà còn góp phần thực hiện hiệu quả giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu (REDD+), xây dựng khu dự trữ sinh quyển.
Để quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy tốt kết quả kiểm kê rừng đã công bố, UBND tỉnh giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh quản lý toàn bộ cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng của tỉnh theo đúng quy định của dự án. Đồng thời, tổ chức công bố số liệu kiểm kê rừng không chỉ ở cấp tỉnh, mà ngay ở cấp huyện và xã một cách sâu rộng nhằm giúp chính quyền, chủ rừng, cán bộ, nhân dân theo dõi giám sát, có trách nhiệm quản lý tốt hơn.
Chỉ đạo các đơn vị chủ rừng trên địa bàn có trách nhiệm quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng phục vụ cho công tác quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng và quản lý tài nguyên rừng, theo dõi diễn biến rừng hàng năm theo quy định. Hạt kiểm lâm các huyện có trách nhiệm quản lý toàn bộ hồ sơ kết quả kiểm kê rừng bao gồm cả bản giấy và bản mềm. Khai thác ứng dụng cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng vào các mục đích quản lý rừng, quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng; giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp và tổ chức theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp.
Kết quả kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh góp phần đánh giá đúng thực trạng, tìm ra các giải pháp đột phá thực hiện có hiệu quả các chương trình đề án đã đề ra, tạo bước phát triển cho nghề rừng. (Báo Thanh Hóa 25/12) đầu trang(
Chiều 23/12, UBND tỉnh tổ chức họp Hội đồng Quản lý Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng để đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2016; phương hướng nhiệm vụ trọng tâm của năm 2017. Đồng chí Đinh Viết Hồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.
Năm 2016 là năm thứ 5 tỉnh Nghệ An tổ chức vận hành Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng gắn với thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Cho đến nay, nguồn thu huy động đạt gần 300 tỷ đồng (chiếm khoảng 5% tổng thu của cả nước). Trong đó kết quả thu của năm 2016 (tính đến ngày 15/12) đạt trên 53 tỷ đồng.
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, năm 2016, Quỹ đã tiếp tục giải ngân được trên 75,4 tỷ đồng. Trong đó, chi tiền dịch vụ môi trường rừng trên 65,9 tỷ đồng cho 6.559 chủ rừng (11 chủ rừng là tổ chức, 51 UBND xã, 6.497 hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng được giao đất lâu dài); chi tiền trồng rừng thay thế cho các dự án trên 9,4 tỷ đồng.
Với nguồn lực tài chính thu từ dịch vụ môi trường rừng, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với tạo việc làm, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập nâng cao đời sống cho người làm nghề rừng và đồng bào các dân tộc miền núi được tốt hơn; đã góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn các địa phương, nhất là tại các khu vực miền núi, vùng cao biên giới.
Tuy nhiên, có một số những tồn tại, bất cập trong thực hiện chính sách dịch vụ môi trường rừng. Đó là việc đơn giá chi trả tại các lưu vực không đồng nhất, một số lưu vực thủy điện Khe Bố, Sao Va, Nậm Pông… có mức chi trả rất thấp, chỉ được từ 20.000 - 60.000 đồng/ha; dẫn đến tình trạng có sự suy bì, so sánh từ các chủ rừng, khó động viên người dân tích cực bảo vệ, phát triển rừng.
Bên cạnh đó, việc truy thu tiền chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác theo Nghị định số 05/2008/NĐ-CP từ năm 2012 trở về trước còn gặp nhiều khó khăn; việc triển khai nguồn thu từ các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn nước còn gặp nhiều trở ngại; Thông tư 26/2015/TT-BNNPTNT quy định trồng rừng thay thế chỉ được bố trí trồng rừng phòng hộ, đặc dụng dẫn đến ảnh hưởng tiến độ…
Năm 2017, cơ quan điều hành quỹ dự kiến tổng thu dịch vụ môi trường rừng là khoảng 52,7 tỷ đồng (trong đó, thu từ nguồn ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt khoảng 49,7 tỷ đồng); kế hoạch chi là 52,7 tỷ đồng.
Từ thực tế trong hoạt động thu chi dịch vụ môi trường rừng, các thành viên Hội đồng quản lý Quỹ đã tập trung thảo luận về kế hoạch thu chi tài chính năm 2017; vấn đề các dự án chậm thực hiện nghĩa vụ; việc xử lý các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng nhưng chưa thực hiện nộp tiền trồng bù rừng; phương án sử dụng nguồn kinh phí dự phòng hỗ trợ bổ sung đơn giá năm 2016 cho các lưu vực có đơn giá thấp dưới 200.000 đồng/ha; rà soát nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng thuộc các lưu vực thủy điện tồn dư; thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp xã tại những nơi đủ điều kiện…
Kết luận cuộc họp, đồng chí Đinh Viết Hồng cơ bản thống nhất với các nội dung báo cáo và kế hoạch của cơ quan điều hành quỹ và nội dung các thành viên quỹ tham gia thảo luận. Phó Chủ tịch tỉnh yêu cầu cơ quan điều hành quỹ xây dựng lại kế hoạch thu chi năm 2017 theo hướng phấn đấu nâng cao mức thu, sớm trình các sở liên quan thẩm định để UBND tỉnh phê duyệt; nhắc nhở quan tâm công tác thanh, kiểm tra việc chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Bên cạnh đó, chỉ đạo rà soát lại các quy định của pháp luật hiện hành để tham mưu kiện toàn thành viên Hội đồng Quỹ, Ban Kiểm soát và xử lý các nội dung tồn tại, bất cập. (Báo Nghệ An 23/12) đầu trang(
Đó là chủ đề của Diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp năm 2016 được tổ chức tại Hòa Bình vừa qua. Đối với địa phương có diện tích và độ che phủ rừng cao như tỉnh ta, diễn đàn đã đưa ra giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), từ đó góp phần bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) bền vững, thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR.
Tại diễn đàn, lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết: Chính sách chi trả DVMTR là chính sách đầu tiên về lâm nghiệp đã coi việc BV&PTR, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của rừng là các dịch vụ, nguồn lực mới, cơ hội đầu tư lớn để góp phần phát triển ngành lâm nghiệp, thông qua thực hiện cơ chế tài chính “những người được hưởng lợi từ rừng có trách nhiệm đóng góp nhằm BV&PTR”.
Đây là một trong những hướng đi mới ở nước ta nhằm thực hiện mục tiêu BV&PTR bền vững, nâng cao thu nhập cho người bảo vệ rừng và chính sách chi trả DVMTR được xem là hình thức huy động vốn đầu tư cho rừng theo cách “lấy rừng nuôi rừng”. Đồng thời góp phần cùng với những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong viêc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, chống suy thoái rừng, ngăn chặn các tác hại của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Sau 5 năm (2011 – 2016), chính sách chi trả DVMTR đã được triển khai khá đồng bộ trên phạm vi cả nước và cho thấy những hiệu quả tích cực: Nhận thức và hành động của người dân về bảo vệ tài nguyên rừng được nâng lên, tạo động lực để các hộ nhận khoán nhận thức rõ trách nhiệm, từ đó quản lý, bảo vệ rừng tốt hơn; góp phần cải thiện đời sống sinh kế của người làm nghề rừng; góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong BV&PTR; nâng cao chất lượng và tỷ lệ che phủ rừng trên toàn quốc…
Là tỉnh có tỷ lệ che phủ rừng thuộc nhóm cao nhất cả nước (51,2% vào cuối năm 2016), Hòa Bình luôn tích cực thực hiện các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác BV&PTR. Theo thống kê của Sở NN&PTNT, toàn tỉnh hiện có 267.302 ha rừng (gồm 158.813 ha rừng tự nhiên và 108.489 ha rừng trồng), ngoài ra còn có trên 95.811 ha đất trống, đồi núi chưa có rừng được quy hoạch cho lâm nghiệp.
Trong quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR, tỉnh đã rà soát, xác định đối tượng sử dụng DVMTR gồm 2 lưu vực liên tỉnh, nội tỉnh và 6 phụ lưu với tổng diện tích chi trả khoảng 110.994 ha, chiếm 42% tổng diện tích rừng của tỉnh. Từ năm 2011 đến nay, Quỹ DVMTR đã thu được 53.740 triệu đồng, trong đó 52.562 triệu đồng tiền DVMTR và 795 triệu đồng tiền trồng rừng thay thế.
Sử dụng nguồn quỹ trên, hàng năm, UBND tỉnh đã quyết định phê duyệt mức chi trả tiền DVMTR làm căn cứ thực hiện. Theo đó, đã chi trả cho các chủ rừng tổng kinh phí 41.179 triệu đồng. Cụ thể, chủ rừng là BQL rừng phòng hộ, đặc dụng 4.446 triệu đồng; chủ rừng là Công ty Lâm nghiệp 1.162 triệu đồng; chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư 35.462 triệu đồng; chủ rừng khác 107 triệu đồng.
Đồng chí Vương Đắc Hùng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT khẳng định: Sau 5 năm triển khai, có thể thấy chính sách chi trả DVMTR đã có tác động mạnh mẽ đến ý thức, trách nhiệm quản lý, BV&PTR của người dân. Vì nếu rừng được bảo vệ tốt, chất lượng rừng đảm bảo thì ngoài môi trường sinh thái được cải thiện người dân còn được chi trả tiền DVMTR hàng năm, góp phần gia tăng thu nhập cải thiện đời sống.
Thông qua thực hiện chính sách chi trả DVMTR, hàng năm chúng ta đã huy động được nguồn tài chính ổn định để hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ rừng của các chủ rừng là tổ chức, cộng đồng dân cư; hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động của tổ đội bảo vệ rừng thôn, xóm, hoạt động công ích tại cộng đồng dân cư thôn…
Đây là nguồn tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn như vùng sâu, vùng xa – những nơi thường có diện tích rừng tự nhiên nhiều nhưng người dân chưa được hưởng lợi trực tiếp từ rừng, ngoài tiền chi trả DVMTR thì chưa có nguồn thu nào khác.
Mặc dù số tiền chi trả không cao nhưng đã góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân, tạo nguồn thu để có chi phí cho các hoạt động bảo vệ rừng tại cộng đồng. Đó chính là giải pháp căn cơ để các địa phương trong tỉnh nâng cao hiệu quả DVMTR, từ đó góp phần BV&PTR bền vững. (Báo Hòa Bình 23/12) đầu trang(
Vừa qua, đoàn công tác Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk do ông Võ Minh Quân – Phó Giám đốc, đã có chuyến công tác tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước nhằm trao đổi kinh nghiệm về quá trình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại 2 địa phương.
Tại buổi làm việc, các Quỹ đã trao đổi về cơ cấu tổ chức, bộ máy điều hành Quỹ, những kết quả đạt được trong thực hiện công tác thu nộp tiền, chi tiền cho các chủ rừng, cũng như các mặt công tác về nghiệp vụ quản lý Quỹ, công tác tuyên truyền, việc cụ thể hóa các quy định của Trung ương,.... và những khó khăn, vướng mắc từ khi triển khai Nghị định 99 của Chính phủ đến nay.
Qua buổi trao đổi, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Bình Phước đã chia sẻ với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk về quản lý sử dụng tiền DVMTR, thanh toán tiền chi trả DVMTR,…
Chuyến công tác không chỉ có ý nghĩa là cơ hội quý báu để trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau mà đây còn là dịp giúp tăng cường, nâng cao tinh thần đoàn kết, sự gắn kết giữa các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng địa phương trong việc triển khai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Nhân dịp này, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk có món quà tặng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước kỷ niệm chuyến công tác bổ ích, đáng nhớ. (Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng 22/12) đầu trang(
Từ nay đến năm 2020, tỉnh Kiên Giang tập trung nguồn lực đầu tư phát triển lâm nghiệp đa chức năng để thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, nâng cao hiệu quả về môi trường và kinh tế rừng.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, đất lâm nghiệp của tỉnh hiện có 86.292 ha, trong đó đất có rừng khoảng 68.620 ha, tập trung ở vùng U Minh Thượng, Tứ giác Long Xuyên, hai huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải. Tỉnh quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2020 là 79.218 ha, gồm: rừng sản xuất 10.959 ha, rừng phòng hộ 30.121 ha và rừng đặc dụng 38.138 ha; độ che phủ của rừng 12%.
Ông Mai Anh Nhịn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang cho biết, trên cơ sở quy hoạch này, tỉnh tăng cường quản lý, bảo vệ diện tích rừng hiện có, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng cây mới những khu vực rừng nghèo, đất chưa thành rừng để làm giàu tài nguyên rừng. Tăng tỷ lệ rừng kinh tế trên tổng diện tích rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng sản xuất theo hướng phát triển lâm nghiệp đa chức năng.
Tỉnh đầu tư trồng rừng những khu vực đất trống, đất chưa sử dụng vùng ven biển trên các lâm phần và trồng lại rừng sau khai thác với tổng diện tích 15.638 ha. Trong đó, rừng sản xuất hơn 4.000 ha ở vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Thượng nhằm tạo nguồn nguyên liệu cung ứng cho Nhà máy chế biến gỗ MDF, công suất 75.000 m ³ /năm tại Khu công nghiệp Thạnh Lộc (Châu Thành).
Trồng rừng phòng hộ trên đất bãi bồi ven biển thuộc địa bàn 4 huyện An Minh, An Biên, Hòn Đất, Kiên Lương để phòng chống xâm thực, sạt lở và tăng khả năng phòng hộ, bảo vệ đê biển dài hơn 200 km từ Mũi Nai (Hà Tiên) đến Tiểu Dừa (An Minh), ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Bảo vệ nghiêm ngặt kết hợp với phát triển rừng đặc dụng ở các khu vực Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc, Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Chông (Kiên Lương) và rừng trên các đảo.
Tỉnh cũng đẩy mạnh phong trào trồng hơn 12,5 triệu cây phân tán trên đất vườn tạp, đất hoang hóa, ven kênh rạch, vừa phủ xanh đất trống, tạo nguồn nguyên liệu gỗ cho Nhà máy chế biến gỗ MDF, vừa khai thác hiệu quả quỹ đất, tăng thêm thu nhập cho nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường, phòng chống sạt lở đất bờ kênh mương.
Cùng với đó, tỉnh tiến hành giao khoán rừng cho hộ dân, doanh nghiệp khoảng 15.000 ha đầu tư sản xuất theo các mô hình lâm - ngư kết hợp, rừng - du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm.
Cụ thể là khôi phục nguồn lợi cá đồng kết hợp trồng, quản lý bảo vệ rừng tràm U Minh Thượng; sản xuất rừng - tôm - cua - cá khu vực rừng phòng hộ An Biên - An Minh; Phát triển rừng kết hợp du lịch sinh thái ở U Minh Thượng, Phú Quốc và một số xã đảo. Hằng năm, khai thác 30% diện tích rừng sản xuất và 10% diện tích rừng phòng hộ đến tuổi khai thác theo phương thức “khai thác đến đâu trồng lại rừng đến đó”; cung cấp ổn định từ 30.000 m ³ gỗ tràm, bạch đàn và 80.000 - 90.000 m ³ củi cùng một số lâm sản khác cho nhu cầu thị trường.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Mai Anh Nhịn khẳng định, quy hoạch khôi phục và phát triển rừng nhằm bảo vệ vùng biên giới biển - đảo, an ninh - quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn tài nguyên rừng. Rừng Kiên Giang với sự đa dạng về loại rừng và đặc sắc về cảnh quan không những hấp dẫn về du lịch sinh thái mà còn là điều kiện thuận lợi phát triển mạnh rừng sản xuất, kiến tạo nhiều những giá trị to lớn cho xã hội, nhất là kinh tế dân sinh cho cư dân làng rừng, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, từ nay đến năm 2020, Kiên Giang tập trung thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án như: Bảo vệ và khai thác rừng, phát triển du lịch sinh thái, trồng rừng phòng hộ ven biển, củng cố hệ thống đê biển, khôi phục nguồn lợi cá đồng Vườn Quốc gia U Minh Thượng, phát triển cây hồ tiêu dưới tán rừng tràm… và một số dự án khác, tạo việc làm ổn định cho lao động nông thôn và tăng thu nhập, cải thiện đời sống cư dân làng rừng.
Phát triển rừng phòng hộ ven biển, đẩy mạnh trồng rừng trên đất trống trong lâm phần sẽ giúp cải thiện môi trường, phòng chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu, tạo môi trường bền vững cho các hệ sinh thái động thực vật sinh sống và phát triển. (Tin Tức 25/12) đầu trang(
Còn nhớ, trận lụt lịch sử ở huyện Cam Lộ (Quảng Trị) đầu tháng 11 khiến nhiều người bàng hoàng. Ai nấy đều bất ngờ nước sông Hiếu dâng lên quá nhanh, nhiều người trở tay không kịp. Và nguyên nhân quan trọng đầu tiên mà người ta nghĩ đến là chuyện mất rừng.
Tới Cam Lộ, sẽ thấy người dân bàn tán nhiều về chuyện đất rừng và chuyện Công ty lâm nghiệp Đường 9 đang ráo riết thu hồi khiến hàng trăm hộ dân bức xúc.
Một doanh nghiệp có vốn điều lệ nhà nước 100% được giao quản lý và sử dụng hơn 4.000 ha rừng và đất rừng trên địa bàn huyện Cam Lộ bỗng hốt hoảng thông báo thất thoát theo thống kê sơ bộ gần cả 1.000 ha rừng, trong đó có hơn 200 ha rừng phòng hộ đầu nguồn, còn lại là rừng sản xuất khiến ai nấy thất kinh. Câu chuyện đã trở nên rất nghiêm trọng và căng thẳng.
Ông Nguyễn Hồng Thái- Giám đốc Công ty lâm nghiệp Đường 9 ta thán về tình trạng xâm lấn rừng và đất rừng của người dân trên địa bàn huyện Cam Lộ.
Trả lời câu hỏi vì sao lại để xảy ra thất thoát rừng và đất rừng với diện tích lớn như vậy mà bây giờ công ty mới vào cuộc? ông Thái trả lời: Thời gian qua đơn vị cũng đã có một vài biện pháp ngăn chặn, nhắc nhở nhưng không hiệu quả nên phải nhờ chính quyền can thiệp. Lực lượng công an cũng đã được huy động vào cuộc nhằm giải tỏa điểm nóng.
Chúng tôi lại tìm gặp những người dân đang trồng rừng và hoa màu trên đất được coi là của công ty. Đưa cánh tay chỉ về khu vực rừng trồng phía bắc sông Hiếu, ông Trần Văn Thiệu cho biết, hàng chục hộ dân ở xã Cam Thành đã canh tác từ lâu, có người đã sang chu kỳ thứ hai trong thu hoạch thì đột nhiên được tin thu hồi đất.
Ông nói :”Khi chúng tôi làm không hề thấy lực lượng nào ngăn cản, kể cả lâm trường (Công ty lâm nghiệp Đường 9 hiện nay), có người làm hơn chục năm trời rồi. Nay bỗng dưng họ đòi lại đất, thật là vô lý! Chúng tôi cày đường, khai hoang phục hóa rồi trồng cây bao lâu nay vì nghĩ đất đai để trống thì dân mình tận dụng khai phá, trồng rừng kiếm cơm. Nay nói thu hồi khác nào lấy mất nồi cơm của dân”.
Một người khác, ông Mai Văn Pháp cũng bức xúc không kém: “Đất rừng bỏ trống, chúng tôi ở gần thấy thế vay tiền, bỏ công làm ăn mong xóa đói giảm nghèo bền vững.
Nay nói thu hồi đất thì khác nào đẩy chúng tôi trở lại đói nghèo”. Ông Trần Minh Dũng nói thêm: “Tiếng là ở rừng nhưng xung quanh là các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân nên đất canh tác bình quân mỗi gia đình chỉ có một vài sào đất vườn. Người dân sống chủ yếu nhờ rừng trồng. Bây giờ thu hồi đất thì làm đủ ăn cũng đã khó, nói chi đến chuyện vươn lên khấm khá”.
Khu vực xã Cam Thành theo báo cáo của Công ty lâm nghiệp Đường 9 bị xâm lấn một diện tích rừng phòng hộ hơn 65 ha. Khi doanh nghiệp này dùng biện pháp mạnh cho bảo vệ công ty hộ tống xe ủi phá luôn hoa màu và cây rừng của dân thì vấp phải sự phản đối kịch liệt của người dân.
Xung đột đã xảy ra và doanh nghiệp phải nhờ đến chính quyền huy động lực lượng công an can thiệp tình hình mới tạm yên. Vậy là sự tranh chấp đất rừng trở nên quyết liệt giữa người dân với Công ty lâm nghiệp Đường 9.
Kể lại chuyện này, anh Ngô Nhật Huynh còn đưa cả clip mà người dân quay được bằng điện thoại cầm tay cảnh máy ủi phá hủy cây trồng của họ ra để làm chứng.
Vượt sông Hiếu rồi lội rừng, chúng tôi đến điểm nóng xảy ra tranh chấp. Người dân chỉ cho thấy những cây tràm họ trồng cách đây hơn mười năm còn sót lại sau khi khai thác. Thân cây khá lớn chứng tỏ việc trồng rừng đã diễn ra trong nhiều năm nay một cách công khai.
Đến với xã Cam Tuyền, địa bàn theo báo cáo của chủ rừng là Công ty lâm nghiệp Đường 9 thì có đến hơn 250 hộ dân xâm lấn một diện tích lên đến 875 ha rừng, trong đó có hơn 150 ha rừng phòng hộ.
Ông Nguyễn Văn Tâm ở thôn Tân Lập, xã Cam Tuyền khẳng định dân ở đây trồng rừng từ năm 1977, 1978 trước cả khi lâm trường Đường 9 ra đời.
Nay Công ty lâm nghiệp Đường 9 họp dân nói thu hồi đất thì bà con cả bốn thôn có rừng trồng trong khu vực này hầu hết không đồng tình.
Còn ông Phạm Văn Thành thì ưu tư: “Thôn Tân Lập chúng tôi có đến 90% số hộ đã trồng rừng ở đây từ lâu lắm rồi mà cũng không thấy ai nói gì. Nay vào năm 2016 Công ty lâm nghiệp Đường 9 đòi thu hồi đất thì thật làm khó cho dân. Tôi đề nghị Nhà nước phải có cách gì đó để đảm bảo đời sống cho dân”.
Vẫn còn ước tính hơn 50 ha rừng sản xuất bị người dân xâm lấn theo báo cáo của Công ty lâm nghiệp Đường 9.
Chúng tôi đã chuyển thông tin về thất thoát rừng và đất rừng đến với lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Trị. Sau đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị- ông Hà Sỹ Đồng đã có công văn chỉ đạo việc kiểm tra, xử lý tình hình xâm lấn rừng và đất rừng của Công ty lâm nghiệp Đường 9. Một cuộc họp đã diễn ra với sự tham gia của Sở TN&MT, Sở NN&PTNT phối hợp UBND huyện Cam Lộ và các xã liên quan.
Tại cuộc họp này, đại diện các ngành và địa phương huyện Cam Lộ đều có chung cảm nhận phát hoảng khi nghe báo cáo của doanh nghiệp chủ rừng diện tích xâm lấn quá lớn lên đến gần 1.000 ha.
Và họ cũng đặt ra câu hỏi về tìm nguyên nhân sự việc. Chính ông Nguyễn Hồng Thái cũng đã thừa nhận Công ty lâm nghiệp Đường 9 đã yếu kém trong công tác quản lý rừng và đất rừng trong thời gian qua mới để xảy ra tình trạng xâm lấn nói trên.
Ông Nguyễn Thế Hiếu, PGĐ Sở TN&MT có ý kiến rằng công ty sắp tới cần làm rõ việc xâm lấn đã xảy ra bao lâu rồi mà diện tích lên đến cả ngàn ha. Ông Hiếu bộc bạch: “Qua nghe báo cáo cáo của Công ty lâm nghiệp Đường 9 thấy diện tích rừng bị xâm lấn đến gần cả ngàn ha thì tôi thấy hoảng. Tình hình như thế là nghiêm trọng”. Và theo ông, công ty cũng cần làm rõ việc có tay trong là công nhân lâm trường cũng sai phạm trong xâm lấn đất rừng hay không để xử lý nghiêm.
Ông Lê Văn Quý- Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh thì cho rằng, trước hết phải xác định rằng Nhà nước giao rừng và đất rừng cho công ty quản lý và sử dụng nên trách nhiệm chính phải thuộc về công ty.
Do công ty quản lý, bảo vệ không bài bản nên mới xảy ra hậu quả. Ví dụ dân người ta dựng lều trại trong rừng khai hoang cả ha đất mà công ty bảo không biết thì đúng là không chấp nhận được.
Ông Quý còn nói thêm, theo Luật thì nếu phá rừng phòng hộ với diện tích chỉ cần 3.000 mét vuông là có thể khởi tố vụ án. Như vậy chỉ tính riêng diện tích rừng phòng hộ thất thoát ở huyện Cam Lộ cũng đã lên đến hàng trăm ngàn mét vuông và cũng chưa thấy ai bị xử lý hình sự.
Ông Lê Văn Thanh- Phó Chủ tịch UBND huyện Cam Lộ khẳng định, do Công ty buông lỏng quản lý trong một thời gian dài và không loại trừ việc có sự tham gia người của công ty trong chuyện xâm lấn đất rừng. Công ty phải xử lý nghiêm từ trong nội bộ của mình.
Từ đó chính quyền mới có thể có những biện pháp hỗ trợ công ty thu hồi đất. Việc này cũng cần phải có lộ trình và không hề đơn giản.
Ông Hà Sỹ Đồng- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cũng đã nhìn nhận tình hình xâm lấn dẫn đến thất thoát rừng và đất rừng là do chủ rừng quản lý còn lỏng lẻo, các cơ quan thừa hành pháp luật xử lý chưa nghiêm, chưa dứt điểm, chưa quyết liệt, việc xử lý những nguyện vọng bức xúc về đất đai của người dân chưa được quan tâm đúng mức.
Như vậy, sự việc xảy ra thật sự nghiêm trọng. Nhiều ý kiến cho rằng, trước khi nói đến chuyện khắc phục hậu quả bằng cách thu hồi đất rừng của Công ty lâm nghiệp Đường 9 thì cần có sự vào cuộc để thanh tra, kiểm tra chuyện thất thoát đất rừng, kể cả với những cán bộ đã về hưu.
Từ đó xử lý trách nhiệm cá nhân và tập thể cũng như làm rõ việc có hay không vai trò của cán bộ, công nhân công ty hay bàn tay của các “đại gia” trong xâm lấn đất rừng như dư luận đã và đang rộ lên.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, việc xử lý thất thoát rừng vẫn chưa có bước tiến nào được ghi nhận. Tất cả vẫn im lặng. Vì sao?
Theo thông tin từ UBND tỉnh Quảng Trị, thì ngày 5-10 chính quyền tỉnh này đã có công văn 4078/UBND-TCD gởi Sở NN&PTNT yêu cầu kiểm tra ý kiến công dân phản ánh việc phá rừng phòng hộ, báo cáo UBND tỉnh.
Trước đó,trong buổi tiếp công dân định kỳ vào tháng 9/2016, ông Đào Văn Lưu, trú tại thôn Cam Phú 1, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị phản ánh việc phá rừng phòng hộ tại tiểu khu 775 thuộc địa bàn miền núi huyện Cam Lộ.
Ông Lưu cũng đã đề nghị UBND tỉnh xử lý 22 biên bản vi phạm đến rừng phòng hộ vẫn chưa được giải quyết. Được biết khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn này thuộc địa bàn thôn Thượng Lâm, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ do Công ty lâm nghiệp Đường 9 được Nhà nước giao cho quyền quản lý và sử dụng. (Đại Đoàn Kết 25/12) đầu trang(
Trước đòi hỏi của thị trường, nhu cầu giống cây chất lượng cao để trồng rừng nguyên liệu và rừng phòng hộ ngày càng tăng, trong khi nguồn hạt giống cây rừng tự nhiên cạn kiệt và hạn chế của phương pháp nhân giống hữu tính, việc áp dụng phương pháp nhân giống bằng giâm hom, nhân mô là bước ngoặt của ngành SX giống lâm nghiệp.
Phương pháp giâm hom đã được áp dụng khá rộng rãi ở trong nước gồm cả trang trại, hộ gia đình, song mới chỉ thành công và đạt hiệu quả khi nhân giống một số loài cây dễ ra rễ và mọc nhanh (keo, bạch đàn, thông). Phương pháp nhân mô tạo được nguồn giống chất lượng cao với số lượng rất lớn nhưng cần công nghệ cao nên giá thành đắt, nay mới chỉ áp dụng được cho một số loài cây bạch đàn, keo...
Với thiết bị nhà ươm hiện có trong nước và nhà kính nhập nội, không SX được trong mùa gió Lào và mùa lạnh kèm theo thiếu nắng kéo dài bởi mây mù, mưa, đặc biệt không giâm hom được cây bản địa khó ra rễ do không tạo được môi trường nuôi dưỡng phù hợp khi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt và biến động
Hiện các vườn ươm cây giống lâm nghiệp phổ biến ở quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, trang thiết bị nghèo nàn, sử dụng giá thể chủ yếu là đất, các khâu SX thực hiện bằng thủ công. Một số ít cơ sở SX có máy nghiền sàng đất cỡ nhỏ song tính năng đơn giản, năng suất và chất lượng thấp. Chỉ riêng khâu tưới nước được bán cơ giới hóa bằng máy bơm, tưới bằng ống cao su cầm tay, mặc dù chi phí đầu tư nhỏ song chất lượng tưới rất thấp, không đều, dễ gây úng nước và dập nát cây non, khó điều chỉnh chế độ tưới theo yêu cầu và tiêu tốn nhiều nước.
Bên cạnh đó, nhà giâm hom hiện có tồn tại rất nhiều nhược điểm khi chỉ có giàn che nắng cố định bằng tấm nhựa hoặc lưới che cây chuyên dụng có độ bền thấp đã gây nên thiếu sáng trầm trọng, không đủ sáng cho cây quang hợp ngay cả khi trời có nắng yếu. Hệ thống tưới nước có chất lượng rất thấp: Độ phun tơi sương mù không cao, không đều, tiêu tốn nhiều nước và điện năng, chỉ tưới phun tự động theo yêu cầu thời gian nhưng rất khó điều chỉnh chế độ tưới phun và sai số rất lớn, thường gây ra úng nước giá thể và nấm bệnh cho cây khi nắng nóng.
Thông qua đề tài, dự án cấp Bộ, TS Lê Xuân Phúc - Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã tạo mới, hoàn thiện công nghệ che sáng di động, tưới phun tự động cho hệ thống nhà ươm trồng cây lâm nông nghiệp ở vùng nhiệt đới và 2 thiết bị nhà ươm cải tiến.
Theo đó, nhà giâm hom cây lâm nghiệp cải tiến và nhà lưới huấn luyện cây giống cải tiến có độ bền cao được thiết kế theo mô đun công nghiệp với hệ thống che sáng di động, hệ thống tưới phun tạo ẩm và các hệ thống phụ trợ điều tiết tiểu khí hậu môi trường nuôi dưỡng cây giống được điều khiển bán tự động hoặc tự động hoàn toàn, phù hợp với điều kiện SX lâm nghiệp Việt Nam.
Cụ thể, hệ thống che, điều tiết ánh sáng bằng lưới che cây chuyên dụng có độ bền trên 4 - 5 năm ở điều kiện gió Lào và giông bão mạnh, điều chỉnh được 4 mức che. Đóng mở 2 tầng lưới che phía trên luống cây và lưới che xung quanh theo yêu cầu mức ánh sáng trong môi trường nuôi dưỡng được tự động hoàn toàn bằng rơ le điều khiển và cảm biến ánh sáng mặt trời, bán tự động bằng ấn nút công tắc điện và quay bằng tay.
Tiếp đến, hệ thống luống ươm cây và vòm nilon che luống được cải tiến, đảm bảo rất thuận tiện trong sử dụng: Dễ tháo lắp khung vòm và xếp gọn khi đóng bầu, chăm sóc cây giống và vận chuyển cây, tăng độ bền của tấm phủ vòm che từ 4 - 5 lần, giảm 20 - 25% công lao động, không cần lật mở vòm che để xả khí nóng.
Bên cạnh đó, hệ thống phụ trợ điều tiết môi trường ươm cây bổ sung cho nhà giâm hom ở vùng khí hậu khắc nghiệt đảm bảo SX đạt hiệu quả cao để có cây giống trồng rừng ngay từ đầu mùa mưa như: Hệ thống phun sương làm mát không khí trong vùng gió Lào, giàn che nilon di động để che gió lạnh và sương muối ở vùng cao, bể chứa nước chìm và trạm bơm cải tiến tự điều tiết nhiệt độ nước, hệ thống hâm nóng nước tưới tự động theo yêu cầu khi rét đậm, rét hại…
Khi sử dụng nhà lưới huấn luyện cây giống cải tiến, TS Lê Xuân Phúc cho biết, không làm dập nát cây non như phương pháp tưới bán cơ giới trong SX, không cần phải di chuyển cây giống từ vườn có giàn che sang vườn không che nên tiết kiệm rất nhiều công lao động, không làm tổn thương cây non và có thể đảm bảo nuôi dưỡng được cây giống quanh năm trong cả mùa gió Lào, mùa lạnh,
Nhà giâm hom cây lâm nghiệp cải tiến và nhà lưới huấn luyện cây giống cải tiến đã được ứng dụng vào SX ở Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An, Vĩnh Phúc và Tuyên Quang chứng minh tính ưu việt hơn hẳn các hệ thống nhà ươm công nghệ cũ trong nước và nhà kính nước ngoài. SX được cây giống của nhiều loài cây rừng kể cả cây bản địa quý hiếm khó ra rễ như bách xanh trong mùa trái vụ, đạt tỷ lệ ra rễ cao hơn rất nhiều trong SX và rất hiệu quả khi sử dụng nhân giống bằng mô. Hệ thống nhà ươm cải tiến này phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa và điều kiện SX lâm nghiệp Việt Nam, đảm bảo độ bền cao, chi phí SX thấp, chế tạo lắp đặt được tại địa phương với vật tư, thiết bị thông dụng, dễ dàng sử dụng và bảo trì kỹ thuật.
+ Tổng kết cho thấy, so với các nhà giâm hom công nghệ cũ hiện có trong nước, khi sử dụng nhà giâm hom cây lâm nghiệp cải tiến đạt tỉ lệ hom ra rễ và đủ tiêu chuẩn xuất vườn cao hơn từ 10 - 15%, giảm thời gian một chu kỳ giâm hom từ 3 - 5 ngày, tăng công suất SX cây giống từ 2 - 3 lần, so với công nghệ cũ, tiết kiệm từ 50 - 70% nước tưới cho hệ thống phun sương tạo ẩm ở giai đoạn giâm hom và 20 - 25% nước tưới trong giai đoạn huấn luyện, đồng thời SX được cây giống quanh năm.
+ Với những ưu việt đó, công nghệ che sáng di động và tưới phun tự động cho hệ thống nhà ươm cây lâm nghiệp và nhà giâm hom cây lâm nghiệp cải tiến đã được Bộ NN-PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời khuyến cáo áp dụng trong phạm vi cả nước. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/12) đầu trang(
Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (gọi tắt là Ban quản lý) cho biết, bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ hơn 26.000ha rừng tự nhiên khu vực giàu tài nguyên động, thực vật nhất ở Đà Nẵng, đơn vị này còn tích cực phát triển rừng.
Trong năm 2016, Ban quản lý đã khảo sát, thu hái hạt giống và ươm tạo thành công 55.000 cây chò đen, loại cây bản địa có giá trị lớn về lâm sản. Hiện số cây này phát triển tốt, đáp ứng nhu cầu trồng rừng thay thế và trồng bổ sung cho các khu rừng nghèo trên địa bàn Đà Nẵng.
Ngoài ra, Ban quản lý đã nhập hạt giống từ địa phương khác về và ươm tạo 8.000 cây lát hoa, 7.500 cây sâm ba kích tím - các loại cây cho gỗ quý và dược liệu quý phục vụ phát triển kinh tế rừng tại các xã miền núi; hoàn thành việc chăm sóc 10ha rừng lát hoa tại xã Hòa Phú (huyện Hòa Vang); chuyển 20ha rừng trồng chò đen tại tiểu khu 30 thành rừng tự nhiên. (Báo Đà Nẵng 24/12) đầu trang(
Xây dựng đầu mối cung cấp nguyên liệu gỗ phục vụ phát triển làng nghề, thúc đẩy thương mại dịch vụ; tạo việc làm cho NLĐ là một trong mục tiêu Dự án Chợ nguyên liệu gỗ Vân Hà, Đông Anh đang nhận được đồng thuận, tạo ra sự phấn khởi của nhiều người dân.
Vân Hà là xã nằm ở phía Đông huyện Đông Anh, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 22 km về phía Đông Bắc. Cùng với các xã Liên Hà, Thụy Lâm Vân Hà có nghề gỗ truyền thống từ lâu đời.
Đặc biệt, Vân Hà đã bảo tồn được hệ thống di tích lịch sử văn hoá khá phong phú nhưng cái đáng quý nhất ở đây là các mảng chạm khắc trong di tích có tuổi đời vài trăm năm còn gìn giữ được đến ngày nay đều của nghệ nhân Vân Hà như đình, chùa Thiết Úng, nhà thờ họ Đỗ, nhà thờ họ Đồng. Đó là dấu ấn một thời của nghệ nhân xưa đã gửi gắm cả tấm lòng mình, thổi hồn vào những bức tranh sống động để rồi lớp con cháu ngày nay tự mình suy ngẫm với niềm tự hào về quê hương - một làng nghề truyền thống.
Tuy nhiên, trong quá trình bảo tồn và phát triển sản phẩm truyền thống trong cơ chế thị trường, giống như nhiều làng nghề khác, Vân Hà cũng phải đối diện với nhiều khó khăn thách thức đe doạ sự sống còn của làng nghề như vốn, mặt bằng, công nghệ, chảy máu chất xám, vấn đề xử lý môi trường, đặc biệt nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao, với thị hiếu ngày càng đa dạng. Thậm chí, có thời điểm nhiều người không còn xa lạ với khái niệm “chảy máu” ở Làng nghề Vân Hà khi những người thợ tài hoa lần lượt bỏ nghề, rời làng đi kiếm ăn.
Song, Vân Hà với sức sống mãnh liệt đã vượt qua giai đoạn khó khăn không ngừng phát triển vươn lên. Xác định cần chú trọng việc đa dạng hoá các sản phẩm làng nghề, các nghệ nhân, những người thợ giỏi đã biết phát huy và chắt lọc tinh hoa của nghề truyền thống với hiện đại để tạo ra những sản phẩm có chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Chính vì vậy những năm trước đây doanh thu đồ gỗ mỹ nghệ chỉ là nghề thu nhập phụ, nay doanh thu sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã chiếm 60 % doanh thu của toàn xã, ngày công lao động đã nâng lên, bộ mặt nông thôn được đổi mới .
Hiện nay, Vân Hà đã hình thành được mạng lưới phân phối ổn định cho đầu ra cho sản phẩm bao gồm gần 20 Công ty TNHH chuyên buôn bán chế biến gỗ và sản xuất, tiêu thụ các mặt hàng đồ gỗ. Trong đó có 7 Công ty TNHH chuyên sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ phục vụ trong nước và xuất khẩu. Các mặt hàng của Vân Hà được xuất khẩu sang Trung Quốc và Đài Loan.
Làng nghề Vân Hà hiện đã được chuyên môn hoá các sản phẩm như ở Thiết Bình chủ yếu buôn bán và chế biến gỗ phục vụ các cơ sở sản xuất trong xã. Thôn Cổ Châu - Hà Khê chuyên sản xuất đồ gia dụng phục vụ đời sống như như: giường, tủ, bàn ghế … đặc biệt ở Thiết Úng (làng Ống ) và Vân Điềm (làng Đóm) vẫn giữ được nghề cổ truyền của cha ông đó là nghề chạm khắc mỹ nghệ và tạc tượng.
Có thể nói, Sản phẩm đồ gỗ Vân Hà đã và đang có mặt rộng rãi trên khắp thị trường trong nước và quốc tế. Tự hào đã bảo tồn và phát huy được nghề truyền thống của cha ông, đáng quý hơn cả là lớp lớp con cháu Vân Hà hôm nay đã yên tâm sống được với nghề do cha ông truyền dậy.
Nhưng Vân Hà vẫn còn đó không ít khó khăn. Nhu cầu về trao đổi sản phẩm, nguyên liệu gỗ trên thị trường ngày càng cao trong khi, trên địa bàn Vân Hà cũng như các xã lân cận trong vùng chưa có một địa điểm được đầu tư xây dựng tập trung và quản lý một cách bài bản, khoa học, đúng quy hoạch là một trở ngại không nhỏ. Khó khăn này cũng đã được cử tri đã kiến nghị nhiều lần tại các kỳ tiếp xúc đại biểu HĐND xã, huyện và thành phố.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của nhân dân địa phương, căn cứ vào quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển kinh tế- xã hội của xã Vân Hà, UBND huyện Đông Anh nhận thức rõ việc cần thiết phải xây dựng Dự án chợ nguyên liệu gỗ tại thôn Cổ Châu, xã Vân Hà.
Mục tiêu của dự án là xây dựng đầu mối cung cấp nguyên liệu gỗ phục vụ phát triển làng nghề gỗ thủ công mỹ nghệ tại Vân Hà và các xã lân cận, tạo mối giao thương trong vùng; chuyên doanh cung cấp nguồn hàng, giải quyết nhu cầu về địa điểm kinh doanh cho các hộ kinh doanh, thúc đẩy hoạt động thương mại dịch vụ; tạo việc làm cho lao động dôi dư; giới thiệu, quảng bá sản phẩm truyền thống nhằm bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống làng thủ công mỹ nghệ; cải thiện cảnh quan quy hoạch kiến trúc đúng chủ trương xây dựng nông thôn mới.
Đây là dự án phục vụ phát triển kinh tế, thực hiện chủ trương đẩy mạnh việc huy động nguồn vốn xã hội hóa trong toàn xã hội nên UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt và ghi danh mục cho dự án này là một trong các dự án thực hiện theo hình thức xã hội hóa trên địa bàn huyện Đông Anh đồng thời giao UBND huyện Đông Anh là đơn vị mời thầu. Nguồn vốn để thực hiện dự án là vốn huy động hợp pháp của nhà đầu tư trúng thầu.
Tổng chi phí thực hiện dự án: 106.340.431.000 đồng (Trong đó: Nộp ngân sách nhà nước 3.907.624.000 đồng; Nộp tiền bồi thường, HT, GPMB 42.179.430.000 đồng; còn lại là kinh phí đầu tư xây dựng theo dự án được duyệt). Thời gian thực hiện hợp đồng: 50 năm. Nhà đầu tư trúng thầu dự án là Công ty Cổ phần phát triển đầu tư xây dựng Việt Nam. Thời gian thực hiện dự án 1.310 ngày; thời hạn hoàn thành các thủ tục theo quy định: 910 ngày; thời gian hoàn thành xây dựng công trình 400 ngày kể từ ngày bàn giao mặt bằng.
Để đảm bảo công tác quản lý Nhà nước được thực hiện một cách hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân trong quá trình xây dựng cũng như vận hành chợ, trong hồ sơ mời thầu UBND huyện Đông Anh đã yêu cầu nhà đầu tư phải thực hiện các nội dung: Cam kết với UBND huyện là ưu tiên sử dụng lao động tại địa bàn xã Vân Hà vào làm việc sau khi đầu tư xây dựng xong.
Sau khi đầu tư xây dựng nhà đầu tư phải thực hiện 6 nội dung sau để UBND huyện Phê duyêt mới được hoạt động, bao gồm: Phương án sắp xếp ngành nghề kinh doanh; phương án quản lý điểm kinh doanh và phương án quản lý nhân sự chợ; phương án nội quy chợ; phương án tổ chức các dịch vụ; phương án tài chính; phương án quản lý và sử dụng đất đai.
Đối với dự án này, UBND huyện đã thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Đông Anh để thực hiện dự án. UBND huyện cũng đã có Quyết định thành lập tổ công tác GPMB xã Vân Hà để tổ chức điều tra, kê khai, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án theo Quyết định số 4818/QĐ-UBND ngày 11/11/2016; giao Ban quản lý dự án huyện là cơ quan thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB và bàn giao đất cho nhà đầu tư trúng thầu theo quy định.
Để phục vụ công tác GPMB, Ban Quản lý dự án huyện đã thực hiện xong các thủ tục pháp lý: Xác định ranh giới thu hồi đất của dự án; có biên bản xác định mốc giới của sở Tài nguyên và Môi trường; có bản vẽ chỉ giới đường đỏ của Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội; bản vẽ quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500; bản vẽ hiện trạng 1/500 của Trung tâm ứng dụng và phát triển công nghệ Đo đạc và Bản đồ; phối hợp với UBND xã Vân Hà và các phòng, ban liên quan thu thập thông tin có đất nằm trong ranh giới thu hồi đất thực hiện dự án; tiến hành trích lục thửa đất và trình UBND huyện ra thông báo thu hồi đất của từng hộ gia đình theo quy định để gửi cho các hộ.
Để thực hiện dự án, 249 hộ có đất nông nghiệp sẽ nằm trong diện phải thu hồi, trong đó, thôn Thiết Bình có 121 hộ, thôn Thiết úng 99 hộ; thôn Cổ Châu 29 hộ. Toàn bộ các văn bản pháp lý liên quan đến dự án và chế độ chính sách phục vụ công tác GPMB đã được gửi tới các bộ phận chức năng để tuyên truyền, vận động nhân dân cũng như niêm yết công khai tại trụ sở xã để nhân dân nắm rõ; đã tổ chức họp dân tại 3 thôn có đất trong phạm vi GPMB để thực hiện dự án, các văn bản pháp lý liên quan đến dự án như: Thông báo kế hoạch tiến độ chi tiết, phổ biến các chính sách liên quan… đều được công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật.
Hiện nay, huyện đang tiến hành thu nhận tờ khai của các hộ sau đó sẽ tiến hành điều tra hiện trạng, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm và triển khai thực hiện các bước tiếp theo của quy trình giải phóng mặt bằng theo quy định.
Dư luận nhân dân trong huyện phấn khởi đồng tình với việc thực hiện triển khai dự án trên của UBND huyện Đông Anh, bởi tất cả là vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự phát triển bền vững của một làng nghề truyền thống không chỉ riêng của huyện Đông Anh mà là của cả thành phố Hà Nội.
Dự án Chợ nguyên liệu gỗ Vân Hà, Đông Anh có tổng diện tích nghiên cứu lập dự án 48.725m2, trong đó: Diện tích ngoài hàng rào là 9.265 m2 tạm giao cho nhà đầu tư làm đường theo quy hoạch để sử dụng chung (tuyệt đối không xây dựng công trình); diện tích trong hàng rào chợ là 39.460 m2.
Dự án gồm 5 nhà cầu chợ 1 tầng có kết cấu thép là nơi kinh doanh các sản phẩm về gỗ; nhà trung tâm điều hành, giới thiệu sản phẩm 2 tầng có kết cấu khung bê tông cốt thép, dầm sàn liền khối là nơi điều hành và kinh doanh các sản phẩm về gỗ có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, dự án còn có các công trình hạ tầng kỹ thuật: Xây dựng đồng bộ đường giao thông nội bộ trong chợ và đường giao thông quy hoạch xung quanh dự án; trạm biến áp; hệ thống xử lý nước thải; cây xanh, thảm cỏ, sân vườn; hệ thống PCCC trong và ngoài nhà; nhà vệ sinh công cộng; hệ thống cấp, thoát nước và chiếu sáng… (Công Lý 23/12) đầu trang(
Sản phẩm gỗ phải cải tiến, sáng tạo, đáp ứng được các yêu cầu về nguồn gốc mới có thể mở rộng và phát triển thêm thị trường xuất khẩu.
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã trở thành ngành đứng thứ 7 trong Bảng xếp hạng các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, ước đạt khoảng 7,3 tỷ USD trong năm 2016, chiếm hơn 4,4% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), từ năm 2008 đến nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp chuyển sang sản xuất đồ gỗ nội thất để có thể thích ứng với nhu cầu mới của thị trường xuất khẩu. Các sản phẩm gỗ ngày càng đa dạng hơn, mẫu mã và chất lượng sản phẩm ngày càng phù hợp hơn với thị trường xuất khẩu.
Mặc dù gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt ở nhiều quốc gia, trong đó Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, tuy nhiên thị phần đã giảm từ trên 40% năm 2010 xuống còn 38,3% năm 2015. Tỷ trọng xuất khẩu sang EU - thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam trước đây đã giảm từ 18,2% năm 2010 xuống còn 11,3% trong năm 2015.
Theo ThS. Hoàng Thị Vân Anh, Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương), có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Nguyên nhân chủ yếu tập trung vào sự thay đổi về nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng gỗ trên thế giới, điều kiện kinh tế, giá cả và thu nhập của người tiêu dùng, đặc biệt là sự thay đổi trong chính sách thương mại gỗ của các nước nhập khẩu chính.
“Các thị trường nhập khẩu gỗ lớn của thế giới đã và đang tăng cường các hàng rào kỹ thuật liên quan tới nguồn gốc hợp pháp của gỗ nguyên liệu sử dụng để chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu. Nếu Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu về nguồn gốc gỗ đồng nghĩa với việc có thể mở rộng và phát triển thêm thị trường xuất khẩu”, ThS. Hoàng Thị Vân Anh cho biết.
Bên cạnh đó, hiện có rất nhiều doanh nghiệp chế biến đang sử dụng công nghệ, thiết bị chế biến lạc hậu, cũ, khó có thể sản xuất được các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, trong khi không có khả năng về vốn cũng như hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị chế biến.
“Việc nghiên cứu, thiết kế, công nghệ chế biến chưa tương xứng với nhu cầu đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị cũng như chưa đáp ứng các quy định ngày càng khắt khe của thị trường thế giới”, ThS. Hoàng Thị Vân Anh nhận định.
Thời gian qua, Việt Nam đã ký kết và thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới. Việc thực hiện các cam kết hội nhập sẽ giúp các doanh nghiệp gỗ Việt Nam tăng cường năng lực quản trị và sản xuất kinh doanh, giúp cải thiện cuộc sống cho người trồng rừng, góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường thông qua việc sử dụng nguồn gỗ từ rừng trồng và kích thích đầu tư trở lại rừng trồng.
ThS. Hoàng Thị Vân Anh cho rằng, để có thể tận dụng được những cơ hội và hạn chế những thách thức từ hội nhập, đặc biệt khi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, FLEGT/VPA được ký kết và thực thi, doanh nghiệp gỗ phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu, trong đó yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ và các sản phẩm gỗ. Đây một trong những thách thức lớn nhất của ngành gỗ Việt Nam.
Đặc biệt, các doanh nghiệp cần tìm hiểu về nội dung cam kết như thuế quan, quy tắc xuất xứ, biện pháp kỹ thuật và biện pháp phòng vệ để có chiến lược thâm nhập hiệu quả vào các thị trường đã tham gia FTAs.
Bên cạnh đó, một số hạn chế của các sản phẩm gỗ Việt Nam cần phải được nhanh chóng khắc phục. Các sản phẩm gỗ của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào nhu cầu của người đặt hàng, rất ít sản phẩm được xây dựng và cải tiến theo sáng tạo. Các sản phẩm của Việt Nam có mẫu mã giống nhau, đặc biệt là các sản phẩm ngoại thất do thiếu những nghiên cứu đầy đủ và hỗ trợ phát triển đối với việc chế biến gỗ.
“Để tăng khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho thị trường, các nhà sản xuất và xuất khẩu gỗ cần cải tiến mẫu mã, chất lượng, công nghệ và xây dựng thương hiệu sản phẩm nói riêng của mình với chất lượng cao và giá cả phù hợp”, ThS. Hoàng Thị Vân Anh chỉ rõ.
Về lâu dài, ThS. Hoàng Thị Vân Anh đề xuất, nhà nước cần xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, thân thiện với môi trường. Hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, CoC... cho doanh nghiệp chế biến và người trồng rừng.
Quan trọng hơn là nhà nước cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật để kiểm soát gỗ nhập khẩu vào Việt Nam nhằm đảm bảo nguyên liệu gỗ tốt, gỗ hợp pháp phục vụ sản xuất xuất khẩu. Đồng thời, kiểm soát, ngăn chặn sản phẩm gỗ chế biến chất lượng kém nhập khẩu vào thị trường Việt Nam, tạo cơ hội cho gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam thâm nhập mạnh hơn vào thị trường thế giới. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 26/12) đầu trang(./.
|
|||