Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 26 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, việc chuyển đổi ồ ạt rừng sang trồng cao su, thực hiện các dự án thủy điện, áp lực di dân tự do cùng với tập quán canh tác nương rẫy, nạn phá rừng lấy gỗ và lấy đất trồng cà phê… đã khiến diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp nghiêm trọng.
Tại Tây Nguyên, nơi có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất nước (với khoảng 2,6 triệu ha, độ che phủ dao động từ 39,9% – 60,1%), mỗi năm có khoảng 26.000ha rừng bị mất.
Như một quy luật tất yếu, khi rừng bị mất, “cỗ máy” thanh lọc không khí giảm công suất, bức tường thiên nhiên che chắn mưa bão bị thủng thì tác động xấu của thiên nhiên đối với đời sống con người ngày một gia tăng. Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC), nạn mất rừng và suy thoái rừng trên thế giới đã làm phát thải khoảng 18% tổng lượng khí gây hiệu ứng nhà kính, chỉ đứng sau ngành năng lượng.
Tại Việt Nam, tình trạng mất rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp ước tính làm phát thải 19,3 triệu tấn CO2, chiếm hơn 18% tổng lượng khí phát thải. Độ che phủ rừng thấp, chất lượng rừng suy giảm đã làm ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu ở các vùng miền trong cả nước.
Từ đó, thiên tai xảy ra ngày càng nhiều hơn, mức độ nghiêm trọng hơn. Đó là những trận mưa lũ khủng khiếp nhấn chìm hàng ngàn nhà dân ở các tỉnh miền Trung; các trận siêu bão càn quét làng mạc; những trận lũ ống ở miền núi phía Bắc làm hàng chục người chết; những trận mưa gây ngập nặng tại Hà Nội hoặc triều cường biến nhiều tuyến đường TPHCM thành sông…
Ngay cả Đà Lạt – Lâm Đồng, nơi được coi là có thời tiết, khí hậu khá ôn hòa, nhưng gần đây cũng liên tiếp xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, trong đó phải kể đến những trận mưa đá tàn phá rau hoa tại Đà Lạt, hoặc những đợt mưa lũ liên tiếp tại huyện Lạc Dương, Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng) gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng.
Theo đánh giá, thiệt hại do thiên tai gây ra ở Việt Nam thuộc loại lớn trên thế giới, mỗi năm có hàng trăm người chết. Riêng năm 2013, thiên tai làm gần 300 người chết và mất tích, 1.150 người bị thương, gây thiệt hại khoảng 30.000 tỷ đồng. Ngoài những con số có thể đo đếm được, việc mất rừng, biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, nhất là ngành trồng trọt.
Theo Viện Khoa học nông lâm nghiệp Tây Nguyên, sự thay đổi về thời tiết có xu hướng nóng lên làm cho sâu bệnh hại cây trồng phát triển nhanh và khó dự báo, đáng chú ý là rệp sáp và tuyến trùng hại cà phê, bệnh chết nhanh, chết chậm cây tiêu, rầy nâu hại lúa, bọ xít muỗi hại điều và ca cao… làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng ở nhiều địa phương.
Hệ lụy, tác hại của việc mất rừng đối với đời sống con người đã quá rõ ràng. Bởi vậy, để hạn chế điều đó thì không còn cách nào khác là phải bảo vệ rừng. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên rừng.
Chủ trương xã hội hóa nghề rừng được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật và các chính sách (như chính sách giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, chính sách giao khoán bảo vệ rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng…) đã tạo được những chuyển biến quan trọng.
Tuy nhiên, thực tế thì việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật về bảo vệ phát triển rừng ở nhiều nơi còn chưa tốt, dẫn đến rừng vẫn bị tác động.
Vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 30-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp.
Theo đó, các công ty nông, lâm nghiệp sẽ có sự phân định rõ ràng hơn giữa chức năng quản lý nhà nước với chức năng sản xuất, kinh doanh, tạo cơ sở cho việc điều chỉnh đất nông – lâm nghiệp và rừng một cách rạch ròi, hợp lý hơn; tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ rừng mà các công ty lâm nghiệp đang gặp phải. (Sài Gòn Giải Phóng 26/9) đầu trang(
Các công ty lâm nghiệp Tây Nguyên được chuyển đổi từ lâm trường sang, nhưng hoạt động không hiệu quả như kỳ vọng khi rừng bị mất hàng loạt. Để cứu rừng, các công ty lâm nghiệp Tây Nguyên cần tiếp tục sắp xếp, đổi mới phương thức hoạt động.
Nói về việc để mất rừng, các công ty lâm nghiệp thường biện hộ rằng: “Lực lượng bảo vệ rừng ít, trong khi diện tích rừng quản lý rộng lớn; kinh phí hỗ trợ bảo vệ rừng không đủ, nợ lương kéo dài nên nhiều lúc anh em chưa làm hết mình…”.
Trong khi đó, ông Vũ Minh Khôi, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Nông, lại nói rằng: “Chính sách quản lý đất đai còn nhiều bất cập. Chính quyền địa phương không quản lý chặt chẽ nên người dân dễ dàng vào xâm chiếm đất rừng”.
Còn theo ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Đắk Lắk, ngoài những lý do các công ty lâm nghiệp trình bày trên, việc ngành chức năng chưa xử lý nghiêm, triệt để, tận gốc các đối tượng xâm hại rừng… là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc phá rừng, xâm chiếm đất rừng tràn lan.
Theo ông Trần Đức Thanh, Phó vụ trưởng Vụ Kinh tế – Ban chỉ đạo Tây Nguyên, sở dĩ các công ty lâm nghiệp Tây Nguyên chuyển đổi không đạt như kỳ vọng là việc chuyển đổi diễn ra nửa vời, thực chất chỉ thay đổi về tên gọi để hoạt động theo luật doanh nghiệp, còn cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động vẫn như cũ… Bên cạnh đó, có quá nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức có thể chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến việc công ty lâm nghiệp không được tự chủ.
Phân tích về tính tự chủ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các công ty lâm nghiệp, ông Nguyễn Quốc Hưng cho rằng: “Một công ty lâm nghiệp muốn hoạt động được thì phải có tư liệu sản xuất (gồm rừng, đất rừng) và vốn. Lúc chuyển từ lâm trường sang, các công ty chỉ có rừng và đất rừng, còn vốn không có. Bây giờ muốn kêu gọi vốn phải xin chủ trương liên doanh liên kết đủ thứ. Trong khi cơ chế nhà nước chưa rõ ràng nên chưa làm được”.
Trước những hạn chế của các công ty lâm nghiệp, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết  30 về việc “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp”.
Theo tinh thần của Nghị quyết 30, tùy theo tình hình thực tế mà các công ty lâm nghiệp sẽ được sắp xếp, đổi mới theo các dạng “tiếp tục duy trì, củng cố, phát triển các công ty lâm nghiệp 100% vốn nhà nước”; duy trì công ty lâm nghiệp công ích 100% vốn nhà nước hoặc chuyển sang ban quản lý rừng; cổ phần hóa công ty lâm nghiệp sản xuất giống cây lâm nghiệp; thành lập công ty lâm nghiệp TNHH 2 thành viên trở lên hoặc giải thể các công ty lâm nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài, các công ty thực hiện khoán trắng, giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai…
Theo ông Trần Đức Thanh, Nghị quyết 30 nêu rất rõ các tiêu chí để chuyển đổi các công ty lâm nghiệp và nếu làm theo nghị quyết này thì công ty lâm nghiệp sẽ sống được. Ông Thanh phân tích: “Nếu công ty nào được cấp chứng chỉ rừng quốc tế thì được khai thác, được sản xuất kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp. Nơi nào không đủ điều kiện thì chuyển thành doanh nghiệp hoạt động công ích. Khi đó, Nhà nước sẽ cấp toàn bộ kinh phí để công ty triển khai công tác bảo vệ rừng…”.
Còn ông Vũ Minh Khôi cho rằng: Nghị quyết 30 ra đời trong bối cảnh các mô hình công ty lâm nghiệp hoạt động không hiệu quả nên đã tạo sự phấn khởi rất lớn.
“Theo tinh thần Nghị quyết 30, Nhà nước sẵn sàng đặt hàng để các đơn vị giữ rừng có đủ kinh phí bảo vệ rừng. Lúc đó các công ty lâm nghiệp chỉ tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ rừng nên chắc chắn tình trạng mất rừng tại các công ty lâm nghiệp sẽ từng bước được chặn lại. Nhưng việc này đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn”, ông Khôi cho hay.
Hiện tỉnh Đắk Lắk đang chờ các văn bản hướng dẫn triển khai Nghị quyết 30 để có hướng sắp xếp, đổi mới 15 công ty lâm nghiệp. Theo ông Nguyễn Hoài Dương, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Đắk Lắk, căn cứ vào thực tế địa phương có thể sẽ có 12 hoặc 13 (chiếm 80%) công ty lâm nghiệp được tổ chức lại theo dạng doanh nghiệp công ích, số còn lại là cổ phần hóa hoặc chuyển thành ban quản lý rừng.
Ông Dương khẳng định: “Cần phải hiểu rằng việc tiếp tục sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp không phải chỉ để cứu các công ty lâm nghiệp, điều quan trọng nhất là để cứu rừng Tây Nguyên. Dù chuyển đổi thành hình thức nào thì cũng phải quy định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của các công ty lâm nghiệp, gắn trách nhiệm của chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng thì mới giữ rừng được”. (Sài Gòn Giải Phóng 26/9) đầu trang(
Tổ công tác thuộc phòng cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường - Công an tỉnh vừa phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động số 1 Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang, tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ tang vật, phương tiện trong vụ vận chuyển lâm sản trái phép tại km 7, Quốc lộ 4C, đường Hà Giang - Đồng Văn.
Vào hồi 11h 30’ ngày 22/9, tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường - Công an tỉnh Hà Giang phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động số 1 Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang – Chi cục kiểm lâm tỉnh, kiểm tra tại Km7- Quốc lộ 4C đường Hà Giang - Đồng Văn phát hiện có một nhóm gồm 07 người đang vận chuyển lâm sản trái phép bằng xe máy.
Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra đối với các trường hợp này, trong quá trình làm việc 02 người đã bỏ chạy, để lại hiện trường 01 xe máy BKS: 23H2- 8027, 02 khúc gỗ nghiến và một số giấy tờ tùy thân; 5 người còn lại gồm Phàn Thị Mẩy; Phàn Thị Rằm; Phàn Thị Minh; Tần Thị Lan; Tẩn Văn Minh đều thường trú tại thôn Khâu Khà, xã Minh Tân, huyện Vị Xuyên.
Tổ công tác đã phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động số 1 Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang, tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ tang vật, phương tiện đưa về trụ sở để làm rõ. Số tang vật thu giữ: 07 khúc gỗ nghiến dạng thớt nhóm IIA; 06 xe máy.
Vụ việc đang được tiến hành xác minh làm rõ. (Đài PTTH Hà Giang 25/9) đầu trang(
Hiện nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã (ĐVHD) làm thực phẩm, làm thuốc và đồ trang trí đang ngày càng gia tăng.
Theo kết quả khảo sát về nhận thức và thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm động vật hoang dã tại Hà Nội do Viện Xã hội học thực hiện cho thấy, hành vi tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã phục vụ cho nhu cầu ăn uống, chữa bệnh, trang trí vẫn còn khá phổ biến.
Kết quả phỏng vấn do Viện Xã hội học thực hiện đối với hơn 1.000 người trong độ tuổi từ 20-69 tại Hà Nội, trong thời gian từ tháng 11-2013 đến tháng 4-2014 cho thấy, hành vi tiêu thụ các sản phẩm làm từ ĐVHD vẫn còn khá phổ biến. Tỷ lệ người đã từng sử dụng các sản phẩm làm từ ĐVHD thực phẩm chiếm 69%, thuốc 67% và đồ trang trí 12%.
Trong số những người đã từng sử dụng thực phẩm từ động vật hoang dã, có 64% nói rằng họ sử dụng vì được mời, hoặc được cho, biếu. Trên 34% người trả lời do “mới lạ” chính là lý do họ sử dụng, chỉ có 8% tin rằng những thực phẩm này là thực phẩm bổ dưỡng cho sức khỏe. Như vậy, có thể thấy đa số người sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ ĐVHD là theo phong trào vì “mốt thời thượng” thay vì để chữa bệnh hay bồi bổ sức khỏe.
Đối với sản phẩm làm từ ĐVHD sử dụng làm thuốc có 3 lý do chính để người dân sử dụng là: Mục tiêu chữa bệnh chiếm tới 71%, bồi bổ sức khỏe chiếm 27%  và do được biếu, được mời chiếm 21%.
Một thực tế nữa cũng cho thấy việc tiêu thụ các sản phẩm từ ĐVHD không chỉ còn ở nhóm có thu nhập hay địa vị xã hội cao, mà còn có những người kinh doanh, buôn bán nhỏ và người cao tuổi, hưu trí.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy hiện việc mua bán sử dụng ĐVHD dưới dạng thực phẩm, thuốc, đồ uống, khá phong phú và dễ dàng. Nguồn cung cấp ĐVHD chủ yếu ở các nhà hàng, khách sạn, bạn bè, người thân và công khai qua các trang mạng. Người tiêu dùng chỉ cần gõ từ khóa “mua ĐVHD” trên Google có thể ra hàng trăm địa chỉ mua bán.
Ông Đặng Nguyên Anh, Viện trưởng Viện Xã hội học cho biết: “Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù sản phẩm làm từ ĐVHD có giá thành đắt, thậm chí rất đắt nhưng nhiều người vẫn muốn sử dụng vì tin tưởng vào hiệu quả của chúng”.
Qua kết quả khảo sát cho thấy kiến thức về pháp luật bảo vệ ĐVHD của người dân còn rất hạn chế. Gần 35% cho rằng pháp luật Việt Nam không quy định xử phạt người tiêu thụ sản phẩm làm từ ĐVHD, 62% cho rằng chưa có ai tiêu thụ sản phẩm làm từ ĐVHD bị xử phạt trong thực tế, 2/3 số người được hỏi cho rằng mức xử phạt tiêu thụ sản phẩm làm từ ĐVHD theo pháp luật còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe.
Như vậy, kiến thức về pháp luật bảo vệ ĐVHD của người dân còn thấp. Nhiều người vẫn cho rằng, pháp luật không quy định xử phạt người tiêu thụ sản phẩm từ ĐVHD. Qua đây cho thấy, chế tài xử lý việc tiêu thụ các sản phẩm làm từ ĐVHD vẫn chưa nghiêm.
Ông Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên - Môi trường cho rằng, nhận thức của người dân vẫn thấp về mối liên quan giữa việc mua, sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ ĐVHD.
Ông Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hiệp hội Động vật Việt Nam cho biết:  Hiện Nhà nước cấm sử dụng, buôn bán ĐVHD, lại cho phép nuôi ĐVHD. Mà đã cho phép nuôi ĐVHD phải bán và  tiêu thụ ra thị trường để kiếm lợi nhuận. Hiện Việt Nam có trên 400 cơ sở nuôi động vật hoang dã. Hà Nội có ít nhất nửa huyện thị có các cơ sở nuôi khỉ, sao, ếch, trăn, rắn... Việc chăn nuôi ĐVHD giúp cho nhiều người có cơ hội tiêu thụ ĐVHD.
Như vậy, Nhà nước cần có chế tài quản lý thật chặt các cơ sở chăn nuôi ĐVHD, để giảm tình trạng buôn bán sản phẩm từ ĐVHD ra ngoài thị trường. Đồng thời, tăng cường hoạt động thanh kiểm tra các hoạt động về cứu hộ, tái thả và nguồn gốc ĐVHD; ban hành các quy định về hướng dẫn kỹ thuật, trình tự, thủ tục, nâng cao nhận thức và tăng cường sự hỗ trợ của cộng đồng và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong việc tuân thủ và cưỡng chế pháp luật.
Đặc biệt, cần ban hành các quy định về hướng dẫn kỹ thuật, trình tự, thủ tục đối với cơ sở gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm, không khuyến khích gây nuôi vì mục đích thương mại; cần hướng tới việc thiết lập cơ chế quỹ cho việc quản lý và bảo tồn ĐVHD. (Hải Quan 26/9) đầu trang(
Ông Nguyễn Huy Lợi, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Khoảng 16h ngày 20/9, sau khi nhận được thông tin về việc có một xe tải mang BKS 38C-018.23 đang tập kết gỗ lậu tại khối 14, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, anh Phan Châu Thức-Phó trạm trưởng trạm kiểm lâm Hương Phố, thuộc hạt kiểm lâm huyện Hương Khê, được giao nhiệm vụ lên phương án theo dõi và tổ chức lực lượng và phương tiện để bắt giữ.
Quá trình theo dõi chiếc xe trên, lúc ra đến đoạn cầu Phụ Lão, cách hiện trường khoảng 700m, anh Thức bị đối tượng Võ Văn Hùng (SN 1981, trú thị trấn Hương Khê) đánh đuổi.
Sau khi dùng sống dao đánh mạnh vào gáy rồi đạp ngã anh Thức xuống đường, Hùng tiếp tục dùng chân đá liên tiếp vào đầu, ngực khiến nạn nhân trọng thương. Rất may nhiều người dân địa phương đã chạy đến căn ngăn và đưa anh Thức vào Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê cấp cứu.
Trao đổi với PV, anh Phan Châu Thức cho biết, khi phát hiện anh đang gọi điện thoại báo cáo về vị trí và hướng di chuyển của chiếc xe chở lâm sản trái phép, Võ Văn Hùng buông lời thách thức. Sau đó, Hùng cùng một đối tượng nữa dùng xe máy đuổi theo và dùng sống dao đánh mạnh vào phần gáy anh Thức. Tiếp đó Hùng lao vào đấm đá, dẫm lên vùng ngực anh Thức.
“Sau khi đánh ngã tôi, Hùng chưa chịu dừng lại. Đối tượng dùng dao cứa ngang miệng tôi rồi gọi điện cho đồng bọn lấy dây thừng quàng vào cổ tôi siết mạnh”, anh Thức nói.
Biết tin anh Thức bị tấn công, anh Nguyễn Cự Duẫn-Hạt trưởng hạt kiểm lâm Hương Khê, nhanh chóng huy động các lực lượng kịp thời xuống hỗ trợ. Lực lượng kiểm lâm có mặt, phối hợp cùng người dân đưa anh Thức đi cấp cứu, đồng thời báo cáo nội dung vụ việc với cơ quan công an.
Nhận được thông tin, lực lượng công an huyện và công an thị trấn Hương Khê đã phối hợp với lực lượng kiểm lâm có mặt tại hiện trường lập biên bản vụ việc để điều tra.
Được biết, từ năm 2012 đến 2014, Võ Văn Hùng đã 3 lần bị cơ quan kiểm lâm bắt quả tang về việc buôn bán và vận chuyển lâm sản trái phép. Đối tượng này bị phạt tiền tới 47.500.000 đồng, tịch thu 5,690 mét khối gỗ các loại. Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Tiền Phong 26/9, tr11) đầu trang(
Ông Lê Thế Long, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa cho biết, từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm thanh Hóa đã kiểm tra, phát hiện, lập biên bản xử phạt hành chính 648 vụ vi phạm buôn lậu lâm sản, tịch thu 450m3 gỗ các loại, trên 600kg động vật rừng, thu nộp ngân sách nhà nước 16 tỷ đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 26/9, tr2) đầu trang(
Thời điểm này, Vườn quốc gia Yok Đôn (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk) đang bước vào mùa mưa. Đây là mùa đẹp nhất trong năm nhờ những cánh rừng xanh bát ngát và những kỳ thú mà thiên nhiên ban tặng riêng cho Yok Đôn.
Vườn quốc gia Yok Đôn được xem như một bảo tàng sinh động về nguồn gốc lịch sử tiến hoá, các mối quan hệ giữa các kiểu rừng thường xanh, rừng bán thường xanh và rừng thưa cây lá rộng rụng lá khô nhiệt đới (rừng khộp).
Điểm đặc biệt, các loài thú quý ở đây sống thành những quần thể lớn, tập trung như bò tót, bò rừng, heo rừng, mang lớn, sói đỏ, voọc và đặc biệt phải kể đến loài voi châu Á. Những loài thú quý đã gắn Vườn quốc gia Yok Đôn là khu vực duy nhất ở Việt Nam bảo tồn kiểu rừng khô cây họ dầu, tất cả đã tạo thành một thảm rừng rộng lớn phủ kín hơn 90% diện tích toàn Vườn quốc gia Yok Đôn.
Vườn quốc gia Yok Đôn đang nổi lên là điểm du lịch duy nhất trong hệ thống 30 vườn quốc gia ở Việt Nam có dịch vụ cưỡi voi. Tham gia dịch vụ này, du khách được cưỡi voi trong rừng nguyên sinh, quan sát hoạt động thú vị của những chú voi rừng.
Trải nghiệm cùng voi, du khách được cưỡi voi băng qua dòng sông Sêrêpôk, những con suối trong Vườn quốc gia Yok Đôn, ngắm nhìn những ghềnh thác, cảnh sinh hoạt của người dân địa phương. Du khách được khám phá những điều kỳ thú về phong tục, tập quán, những điều kiêng kỵ của những người làm nghề quản tượng...
Đến với Vườn quốc gia Yok Đôn, du khách có thể tham gia tour du lịch đi bộ xuyên rừng để khám phá thiên nhiên kỳ thú, rèn luyện sức khỏe, tìm hiểu những điều bí ẩn của rừng khộp.
Ông Nguyễn Văn Long- Giám đốc Trung tâm Du lịch và dịch vụ sinh thái, Vườn quốc gia Yok Đôn cho biết, Vườn đang tổ chức rất nhiều tour du lịch sinh thái, cùng du khách trải nghiệm cuộc sống thiên nhiên trong rừng già và được đắm chìm trong những kỳ quan kiệt tác của thiên nhiên. Tham quan thác Bảy Nhánh bên dòng sông Sêrêpôk huyền thoại, suối Đăklau, suối Đăkte, suối Đăkken uốn lượn, khi mùa khô, nước trong vắt như những chiếc gương khổng lồ trau chuốt cho những cánh rừng già.
Núi Yok Đôn, biểu tượng tâm linh huyền thoại được chọn để đặt tên cho Vườn quốc gia. Hồ Buôn Đrang Phốk là hồ đẹp nhất trong Vườn quốc gia Yok Đôn, được bao quanh bằng những ngọn núi Chư Minh rất hùng vĩ. Ngoài ra, du khách còn được trải nghiệm cuộc sống của bà con dân tộc ở Buôn Jang Lành, Drang Phok, Buôn Đôn, là những buôn định cư khá lâu trên vùng đệm Vườn quốc gia Yok Đôn.
Đồng bào thiểu số ở đây chủ yếu là Ê Đê, M’Nông và một số đồng bào từ nơi khác di cư tới như Lào, Tày, Mường… tạo ra một nền văn hóa đa sắc tộc. Họ có những phong tục, tập quán khác biệt, có những lễ hội truyền thống rất đặc biệt mang đậm nét Tây Nguyên. (Dân Việt 26/9) đầu trang(
Đêm cuối tháng 8/2014, đại tá Nguyễn Chí Long - Tổng Biên tập Tạp chí Lang Bian (Hội VH-NT Lâm Đồng) phôn: Này, Hội tổ chức đợt đi thực tế Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà vào hai ngày cuối tuần làm số chuyên đề về rừng, thu xếp được không? Thấy không vướng bận những ngày này nên tôi đồng ý ngay…
Mấy ngày nữa mới trèo dốc, xuyên rừng nhưng đêm ấy cứ nôn nao, trằn trọc… Lọ mọ lục kiếm cuốn sổ tay tìm mấy trang ghi chép từ mồng 7 Tết Giáp Ngọ 2010 khi tháp tùng nguyên Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng Huỳnh Phong Tranh “xông đất” đầu năm kiểm tra tình hình phòng, chống cháy rừng ở Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà.
Nghe ti-vi dự báo mùa khô này rừng Lâm Đồng nguy cơ cháy ở cấp độ 5 khiến đang nghỉ tết ở Hậu Giang mà đứng ngồi không yên, phải lên Đà Lạt ngay..! - nguyên Bí thư Huỳnh Phong Tranh tâm sự.
Theo đường 723 tới xã Đạ Nhim (huyện Lạc Dương), đoàn rẽ vào ngả đường rừng chông chênh, gập ghềnh ổ trâu, ổ voi để tới Trạm kiểm lâm Dưng Lar Riêng. Tại đây, Giám đốc Vườn Lê Văn Hương cùng hơn chục đồng bào dân tộc Chil, K’Ho trong đội canh phòng, bảo vệ, phòng chống cháy rừng đã tề tựu.
Trạm trưởng Võ Hồng Dương báo cáo: Trạm quản lý trên 13.000ha rừng, những ngày này hàng chục hộ đồng bào tại chỗ tham gia lập 13 chốt canh gác rừng chứ không chỉ với 5 kiểm lâm rất khó chống lại khi “bà Hỏa” bùng phát.
Nghe Giám đốc Vườn trình bày phương án tổ chức, huy động nguồn nhân lực tại các xã giáp Vườn ngày đêm túc trực các điểm nguy cơ cháy, cách thức chủ động phòng, chống cháy rừng khi xảy ra, Bí thư Tỉnh ủy yên tâm, và vui mừng thăm hỏi, chúc tết từng đồng bào. Bắt chuyện một cán bộ kiểm lâm là người dân tộc thiểu số, anh phấn khởi bộc bạch: Mình là Donggur Ha Bình, người K’Ho, nhà ở Đạ Sar. Làm lâm nghiệp từ 1994, trụ nhiều cánh rừng trong vùng, về Trạm đây cho gần nhà được đôi năm… Ha Bình không giấu niềm tự hào: Mình cũng mới trở thành đảng viên từ tháng 7/2009 đấy!
Rời Trạm kiểm lâm Dưng Lar Riêng, đoàn ghé thăm khu quy hoạch xây dựng Văn phòng Ban quản lý Vườn. Tại cánh rừng thưa, Giám đốc Lê Văn Hương, khoát tay: Đã quy hoạch tại khu này! Vườn đang triển khai thi công tuyến đường từ Tỉnh lộ 723 vào để thuận tiện cho việc chuyên chở nguyên vật liệu xây dựng. Chắc đôi năm nữa mới hiện vóc dáng bề thế được…
Bí thư Tỉnh ủy thân tình vỗ vai giám đốc: Có khó khăn, vướng mắc thì điện thoại nghen! Giờ cho đi thăm cây pơmu đại thụ. Nghe nói hơn 1.300 tuổi, cao 40m, tán 20m, chu vi 13,5m, gốc 8 người ôm mới xuể, đúng không? Tài sản vô giá đấy, quý lắm, phải ráng giữ gìn! Giám đốc Vườn phấn chấn: - Khi nghe thông tin khoa học về cây pơmu, một giáo sư Canada ước đến xem một lần rồi chết cũng mãn nguyện, hạnh phúc. Vừa qua, ông nhiều lần bay sang để chiêm ngưỡng, nghiên cứu loài cây chứng tích thời tiền sử này.
Tính tình cởi mở, náo hoạt, thích phân tích và tranh luận, nhân chuyến đi, Giám đốc Hương tranh thủ, say sưa “tiếp thị”: Vườn có 1.923 loài thực vật (1.468 loài thực vật bậc cao phân bố trong 29 họ thực vật khác nhau, nằm trong cấp đánh giá về mức độ quý hiếm của Sách Đỏ Việt Nam năm 2000. Trong đó có quần thể rộng lớn thông hai lá dẹt 500 tuổi, 96 loài thực vật đặc hữu, 62 loài thuốc quý, 14 loài lá kim… Bidoup - Núi Bà là một trong 221 trung tâm chim đặc hữu thế giới và một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học quốc gia. Đó là: Khu vực miền núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, Khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, Khu vực rừng mưa Pù Mát ở Bắc Trung Bộ và cao nguyên Lang Biang ở phía Nam.
Tiếp tục ngược lên đỉnh Bidoup, vượt những cua dốc 15, 20 độ và có nhiều đoạn tới 40 độ, trơn trượt. Dưới Đà Lạt, nắng chang chang song ở đây mịt mờ sương lạnh giăng, mưa bụi. Cây ken cây, tầng che tầng, hiếm gặp tia nắng. Không gian tràn ngập âm thanh sinh động bản nhạc giao hưởng của rừng xanh. Có người nhận xét: Trong từng cm2 rừng có tới ngàn sự sống quả là cũng không quá ngoa ngôn!
Thăm Trạm kiểm lâm Liêng Ka (thuộc địa bàn xã Đạ Sar) nằm trên đỉnh Vườn, đang trò chuyện với anh em kiểm lâm chợt có bàn tay vỗ mạnh vai tôi. Một trung niên chừng 50 tuổi, dáng thấp đậm trong bộ đồ bảo hộ xanh bạc phếch, ngó râu ria dữ dằn nhưng ánh mắt ngời thân tình, nụ cười rạng rỡ: - Nhớ không? Thoáng ngỡ ngàng, chợt thốt: - Trời Trực, vẫn ở đây à? Trực cười khà khà: - Thì còn ở đâu nữa, mấy chục năm gắn bó với cánh rừng này rồi! “Đỉnh trời, cuối đất” gặp nhau sau hơn 20 năm thật kỳ ngộ. PV với Trực không xa lạ, khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, cơ quan có chị bạn làm kế toán, vào chiều thứ bảy hay ngày chủ nhật thường rủ mấy thằng em đơn thân, quê tít ngoài Bắc vô nhà ở Trại Hầm chơi, bữa chiêu đãi nồi mỳ hay khoai lang luộc, lâu lâu có món bánh canh...
Thi thoảng có cậu em về, đồng niên dễ đồng cảm, được biết: Học xong 12, hoàn cảnh gia đình khó khăn, Trực xin vào Lâm trường Đà Lạt, làm công nhân trồng rừng tận Đăng Kia, Suối Vàng, rồi Hồ Tiên… Ngày nghỉ ít ra vì mải lo cuốc đất, trồng và chăm mấy sào cà phê xen đậu đỗ với hy vọng phụ giúp kinh tế gia đình, lo cho mấy cô, cậu em ăn học. Đôi tháng mới ra phố mua ít kg đường, bịch thuốc rê, cá mắm…
Ở rừng nên tính lành như đất, ít nói. Mê rừng, thích canh nông nên đôi năm sau xin đi học trung cấp lâm nghiệp… Về phố lấy vợ, xây được nhà trên đỉnh dốc Huyền Trân Công chúa… Cứ ngỡ, Trực yên bề ở một cơ quan thuộc ngành nông - lâm nghiệp dưới phố từ lâu, ai ngờ… vẫn là người gác rừng nơi “thâm sơn cùng cốc”…! “Được cái mấy sắp nhỏ đều học và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh, “bả” xã miết xuống chăm cháu nên mình yên tâm “rừng ơi, ta cứ ở đây” thêm mấy năm nữa thì về Đà Lạt nghỉ hưu luôn!” - Trực bộc bạch khi trò chuyện gia cảnh và đều rưng rưng mừng vì mọi chuyện tạm ổn cả. Biết tôi thích lan rừng, Trực hẹn bữa nào sẽ tặng ít loài “bảng độc”.
Trực khoe: Ông biết không, với 297 loài lan, rất nhiều loài đặc hữu - Vườn xứng đáng là “Vương quốc Hoa Lan” của Việt Nam đấy! Mới 7 giờ kém 10’ sáng, hơn hai mươi hội viên đã tề tựu ở trụ sở Hội VH-NT Lâm Đồng. Được đi rừng có khác, ai cũng lo dậy sớm, chả bù thường những ngày cuối tuần nằm nướng tới hơn 8 giờ. Chuyến đi do Tổng Biên tập Lang Bian làm Trưởng đoàn, quần tụ có các nhà văn, nhà thơ: Chu Bá Nam,Vương Tùng Cương, Phạm Vĩnh, Nguyễn Mộng Sinh, Thái Bi… và thêm cả họa sĩ Vi Quốc Hiệp, nhạc sĩ  Dương Toàn Thắng…
Trụ sở Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà nằm phía bắc, cách thành phố Đà Lạt trên 40km trên Tỉnh lộ 723 đi Nha Trang. Từ Tỉnh lộ có đường nhựa đưa vào tận Ban quản lý, nơi khoảng rừng thưa trơ trọi năm xưa thuộc xã Đạ Nhim mà từng đến nay đã mọc lên nhiều dãy nhà làm việc khang trang. Ở đây có Trung tâm Du lịch Sinh thái và giáo dục Môi trường hàng ngày tổ chức đón khách tham quan và tìm hiểu về rừng, hệ thống nhà nghỉ mi-ni, nhà hàng dưới rừng thông, được nối với nhau bằng những ngả đường ngang dọc đang hoàn công…
Gặp lại Giám đốc Lê Văn Hương, sau cái choàng vai thân mật PV hỏi: - Từ năm 2012, Vườn kết hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, các chuyên gia quốc tế xây dựng hồ sơ công nhận “Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang”, nay ra sao rồi? Với nụ cười phấn chấn, Giám đốc sôi nổi: - Ngày 4/9/2014 hồ sơ trình ra Hà Nội và 30/9 sẽ đệ trình Unesco thế giới công nhận. Nếu được công nhận, “Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang” sẽ là Khu dự trữ sinh quyển thế giới thứ 8 ở Việt Nam.
Theo dự thảo hồ sơ, khu rộng 260.000ha. Trong đó, vùng lõi ôm trọn Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái) hơn 56.000ha; vùng đệm gần 85.569ha ở các xã tiếp giáp vùng lõi thuộc hai huyện Lạc Dương, Đam Rông; vùng chuyển tiếp trên 117.670ha thuộc TP. Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Đức Trọng, Đơn Dương… Như vậy, cùng với Vườn quốc gia Cát Tiên được công nhận năm 2006, Lâm Đồng sẽ có hai khu dự trữ sinh quyển thế giới! Quả là niềm tự hào cho tỉnh mình, các bác văn nghệ sĩ ạ!
Tìm hiểu “lý lịch” Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, ngược dòng lịch sử: Vào năm 1986, trước tiềm năng rất lớn của rừng Lâm Đồng, Hội đồng Bộ trưởng ký Quyết định thành lập 3 vùng rừng đặc dụng là Bidoup, Lang Biang và Cổng Trời. Sau đó, tỉnh thành lập Ban Quản lý rừng đặc dụng Bidoup - Núi Bà. Ngày 19/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 1240/QĐ-TTg “Chuyển giao Khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup - Núi Bà thành Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà”, là vườn thứ 29 của Việt Nam.
Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà là trung tâm bảo tồn quốc gia về đa dạng sinh học có 127 loài động, thực vật quý hiếm trong Sách Đỏ, trong tổng số hơn 2.000 loài thực vật và 400 loài động vật. Vườn ra đời nhằm bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học của các hệ sinh thái tự nhiên và hỗ trợ cộng đồng bản địa phát triển bền vững. Vườn giữ chức năng: Bảo tồn gắn với phát triển, phát triển gắn với bảo tồn.
Theo đó, Vườn có 9 chương trình: Bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học; Phục hồi sinh thái rừng; Phòng cháy, chữa cháy rừng; Nghiên cứu khoa học; Phát triển du lịch sinh thái; Tuyên truyền về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; Hỗ trợ phát triển KT-XH trên địa bàn vùng đệm; Xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật; Hợp tác quốc tế. Hiện trạng, Vườn được phân thành ba vùng: Vùng lõi với mục đích bảo tồn, bảo tàng; đệm phục vụ phát triển kinh tế (nằm trên địa bàn Lạc Dương, Đơn Dương); vùng chuyển tiếp là Đà Lạt mở rộng. Nếu không có vùng đệm, vùng chuyển tiếp thì nguy cơ xâm hại vùng lõi rất cao.
Để làm tròn chức trách, nhiệm vụ của Vườn, Giám đốc Lê Văn Hương khi đưa đoàn văn nghệ sĩ đi tìm hiểu thực tế nhiều lần nhấn mạnh: Sologan của chúng tôi là “Giữ gìn thiên nhiên, giữ gìn văn hóa là giữ gìn tương lai”! Ở Hà Lan cũng vậy, người ta xác định phải “bảo vệ rừng bằng văn hóa”… Thế nhưng, để thực hiện châm ngôn này không dễ dàng chút nào khi đời sống nhân dân còn khó khăn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn tồn tại quá nhiều tập quán canh tác, sản xuất lạc hậu; đời sống vẫn dựa dẫm, ỷ lại vào rừng.
Mặt khác, là phải đối chọi với các thách thức mà đói nghèo là nguyên nhân trực tiếp, đó là: Việc mở rộng đất canh tác; khai thác rừng trái phép, săn bẫy thú, cháy rừng; xây dựng và phát triển du lịch tràn lan, khai thác lâm sản phụ… Vì vậy, lúc mới thành lập, Vườn có 3 trạm kiểm lâm thì trạm bị phá, nhân viên bị đánh và mỗi năm có khoảng 500 vụ vi phạm pháp lệnh bảo vệ rừng. (Báo Lâm Đồng 18/9) đầu trang(
Qua tìm hiểu, được biết: Những năm qua, Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà chú trọng công tác khoán quản lý bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng.
Đến nay, Vườn đã khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng được 50.896ha/1.456 hộ với mức chi trả gần 20 tỷ đồng/năm. Bên cạnh công tác vận động, tuyên truyền, Vườn thiết lập được hai hệ thống bảo vệ rừng. Đó là trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm tại 10 trạm (trên 70 người, trong đó có 6 người là đồng bào dân tộc bản địa) trong việc tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào giữ rừng.
Bà con tham gia nhận rừng để bảo vệ lại có nghĩa vụ giám sát, kiểm tra ngược xem kiểm lâm có “móc ngoặc” cho ai vào rừng chặt cây, bẫy thú, khai thác lâm sản phụ trái phép không? Tại xã Đạ Chais, bình quân mỗi hộ được nhận 50ha rừng. Có hộ thu nhập 25 triệu đồng/năm (với mức thu này thì ở đồng bằng Bắc bộ tương đương với giá trị 5 tấn lúa).
Việc giao rừng cho cộng đồng được thực hiện công khai, dân chủ. Những hộ có lao động được trưởng thôn xác nhận, xã ký trình lên Ban quản lý Vườn và Vườn ký với từng hộ. Trên cơ sở đó, Trạm Kiểm lâm từng địa bàn phân công, hướng dẫn công việc và chấm công cho đồng bào hàng ngày. Có 2 sổ, 1 Ban giữ, 1 dân giữ. Mỗi quý trả tiền công một lần.
Bên cạnh đó, Vườn vận động các tổ chức quốc tế thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại (ODA) hỗ trợ thêm cho cộng đồng. Từ khi thành lập đến nay đã có các dự án TFF, VCF, JICA BIDOUP NÚI BÀ… thực hiện các hoạt động như: thành lập Quỹ hỗ trợ cộng đồng, cung cấp cây giống, con giống, phân bón, mở lớp tập huấn, hướng dẫn bà con kỹ thuật canh tác cà phê, thành lập mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, khôi phục các ngành nghề truyền thống… Các dự án hỗ trợ quốc tế được đánh giá cao, hiệu quả và thiết thực.
Đi thăm Vườn quốc gia rồi dừng chân tại Trạm Kiểm lâm trên đỉnh Hòn Giao (xã Đạ Chais), nơi có tấm pano ghi dòng chữ khá tâm đắc: “Đến thăm Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà: không để lại gì ngoài những dấu chân. Không lấy gì ngoài những tấm ảnh. Không giết gì ngoài thời gian!”, tình cờ gặp một tổ trưởng giữ rừng. Kon Sa Ha Siêng, dân tộc Cill, 31 tuổi (thôn K’Long K’Lanh) cho hay: Toàn xã lập 22 tổ nhận giữ, bảo vệ rừng; có tổ 7 và có tổ tới 14 người.
Khi có việc lớn liên quan đến bảo vệ rừng, các tổ họp bàn cùng nhau giải quyết. Tổ Ha Siêng có 9 tổ viên, thành lập cách đây 9 năm. Tổ quản lý tiểu khu 86, khoảnh 5 và 6, diện tích trên 410ha. Mỗi tổ viên nhận 45ha rừng, tổ trưởng 50ha, mức khoán 400 ngàn đồng/ha/năm. Phần lớn diện tích rừng của tổ nằm bên sông Krông Nô (đi bộ tới mất gần 5 tiếng). Một lần đi kiểm tra rừng phải 2 ngày. Mỗi lần đi đều có các tổ viên và cán bộ trạm kiểm lâm. Cùng với thu nhập từ việc giữ và bảo vệ rừng được giao, gia đình Ha Siêng còn có 5 sào cà phê... nên đời sống cơ bản ổn định.
Theo anh: Bây giờ đồng bào có ý thức bảo vệ rừng rồi, không phá rừng làm nương rẫy, săn bắt thú trái phép như trước nữa. Từ lâu, người Cill thường truyền nhau: Rừng thiêng lắm! “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, không được phá rừng bừa bãi, nhất là xâm phạm đến cây cổ thụ… Năm 1993, có đồng bào dám lén chặt một cây pơmu khu vực đường 124 đi Ninh Thuận, khi cây đổ là đột tử ngay tức khắc… Ai cũng bảo đó là do Thần Rừng trừng phạt!... Nay Đảng, Nhà nước lo cho nhiều thứ để phát triển kinh tế - xã hội, đời sống dần cải thiện, lại sống được nhờ nhận thêm việc quản lý, bảo vệ rừng, do vậy, đồng bào càng hiểu thêm giá trị, sự thiêng liêng của đại ngàn đối với cuộc sống…!
Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đặt tên theo hai ngọn núi cao nhất cao nguyên Lang Biang là Bidoup (2.287m) và Lang Biang (Núi Bà, 2.167m). Về sự tích Bidoup và Lang Biang? Theo đồng bào dân tộc bản địa tương truyền: Ngày xưa Bidoup và Lang Biang là anh em. Bidoup là em nhưng lại cao hơn anh Lang Biang. Lang Biang không ưng cái bụng, bắt Bidoup úp mặt xuống mà Bidoup vẫn cứ cao hơn Lang Biang.
Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà trải rộng trên 70.000ha (rừng đặc dụng 56.436ha, rừng phòng hộ trên 13.600ha); trong đó diện tích rừng thông chừng 20 ngàn ha. Vườn có vùng đệm 32.300ha nằm trên địa bàn 5 xã, thị trấn ở Lạc Dương và một phần xã Đạ Tông (Đam Rông). Vườn là mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia gồm các kiểu rừng đặc trưng của vùng Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Có 5 tầng tán cây rừng. Sự đa dạng sinh học ở đây thể hiện có các loại rừng: Rừng kín thường xanh; rừng hỗn giao lá rộng - lá kim (Pơmu còn hàng ngàn cây); rừng lùn đỉnh núi, kiểu phụ rừng rêu…
Vườn có 3 vùng chim quan trọng (Cổng Trời, Lang Biang, Bidoup) trong 63 vùng chim quan trọng của Việt Nam với hơn 226 loài khác nhau. Hội Chim thế giới đánh giá cao các loài chim đặc hữu Mi Lang Biang, Khướu đầu xanh má xám, Sẻ thông họng vàng (Lô gô Vườn có biểu trưng chim Mi Lang Biang, thông hai lá dẹt, cồng chiêng…), Chim mỏ chéo… Sự hấp dẫn của vùng chim khiến một chuyên gia người Anh 3 lần bay sang xem, nghiên cứu về các loài chim ở Bidoup - Núi Bà.
Với nhiều lợi thế so sánh hiếm nơi có, Đà Lạt sẽ là một trung tâm du lịch lớn, hấp dẫn trên bản đồ du lịch Việt Nam và thế giới. Chính vì vậy, theo ý tưởng của Giám đốc Lê Văn Hương, trong tương lai Đà Lạt cần phải phát triển theo hướng thành phố thông minh và lấy kinh tế xanh làm chủ đạo. Muốn vậy, cần phải đặt Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà vào đúng vị trí của nó như một công viên quốc gia của các nước phát triển.
Theo Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên quốc tế (IUCN), có 5 loại rừng đặc dụng. Đó là: Khu dự trữ thiên nhiên - bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên thiên nhiên (như một số khu vực thuộc rừng Amazon, Brazin); Công viên quốc gia: Bảo tồn và du lịch; Khu bảo tồn loài và sinh cảnh - bảo tồn một số sinh cảnh và loài; Khu đất ngập nước (Ramsar) - bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và Khu văn hóa lịch sử, môi trường - bảo vệ văn hóa, môi trường, du lịch.
Từng đi nghiên cứu ở nhiều nước và có 1 tháng tham quan 6 vườn quốc gia ở Mỹ, Giám đốc Hương thổ lộ: Khi có thắng cảnh đẹp thì phải có hạ tầng tốt để thu hút du khách. Chúng ta không sợ diện tích rừng bị thu hẹp mà vấn đề đặt ra là phải chuyển đổi một phần rừng làm hạ tầng sao cho hợp lý để thu lại nguồn lợi đầu tư lại cho rừng.
Ở Mỹ, vườn quốc gia được phép xây dựng khách sạn 5 sao, phải đặt phòng trước 3 tháng, khách đến lưu trú 2,8 ngày. Vườn quốc gia Banff National Par ở Canada rộng 669ha, đón 4,7 triệu lượt du khách/năm, giải quyết lao động cho 5.165 nhân viên. Còn ở Việt Nam, các vườn quốc gia mới ở giai đoạn đầu tư ban đầu nên hạ tầng phục vụ du lịch còn giản đơn, doanh thu vẫn khiêm tốn.
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng doanh thu 30 tỷ đồng/năm với 470 nhân viên nhờ danh hiệu di sản thiên nhiên quốc tế; Vườn quốc gia Cát Tiên doanh thu 4 tỷ đồng, 180 nhân viên; Vườn quốc gia Cúc Phương 3 tỷ đồng; Bạch Mã 1 tỷ 800 triệu đồng… Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đang đầu tư phát triển mô hình du lịch cộng đồng với các hoạt động: Tổ chức tour du lịch tham quan thiên nhiên, đi bộ leo núi, cắm trại, mạo hiểm, nghiên cứu khoa học.
Trong đó có tour đi rừng hai ngày, đêm ngủ giữa rừng và chinh phục đỉnh Bidoup, tour này rất hào hứng đối với du khách TP. HCM cũng như giới sinh viên, học sinh ở Đà Lạt và khách quốc tế. Từ đầu năm đến nay đã đón 4.480 lượt khách (khách nước ngoài 40%, tăng 25% so với 2013). Vườn đang xây dựng vườn thực vật, liên kết để lập vườn thú bán hoang dã ở Cổng Trời… và dự tính đón khoảng 1 triệu lượt khách vào năm 2025… Hy vọng Vườn sẽ là vườn quốc gia đứng đầu Việt Nam về nhiều mặt chứ không chỉ để du khách đến du ngoạn!
Đêm ở lại Vườn, Giám đốc mời đoàn thưởng thức chương trình cồng chiêng do nhóm du lịch cộng đồng xã Đạ Nhim do dự án JICA BIDOUP NÚI BÀ thành lập. Vườn mời nghệ sĩ – nhạc sĩ Krajan Plin từ huyện vào luyện tập, phục vụ du khách, Giám đốc Hương và cánh văn nghệ sỹ vào vòng múa quanh ngọn lửa rừng rực đam mê với bước nhún nhịp nhàng, phong thái say sưa.
Trong các Vườn quốc gia, duy nhất Bidoup - Núi Bà thành lập Trung tâm nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới với 9 người (100% là thạc sĩ khoa học). Thời gian qua, Vườn tiến hành hợp tác nghiên cứu với 21 nước trên thế giới và hiện đang có 6 dự án hợp tác quốc tế, nâng tổng số từ trước tới nay lên 10 dự án… Mỗi năm tổ chức khoảng 6 hội thảo quốc tế, từ năm 2012 đến nay đã có 140 đoàn khách quốc tế đến trao đổi, nghiên cứu trong Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà.
Một lần thăm Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, PV cảm nhận: Thiên nhiên mang đến cho mỗi người những bài học, sự chiêm nghiệm quý giá về cuộc sống; giúp con người hướng về chân, thiện, mỹ… Hệ sinh thái diệu kỳ, tinh tế ở rừng ban tặng cho ta nhận thức: Như những sợi chỉ đan dệt nên tấm thảm kỳ thú, con người và những sinh vật khác - thú, chim, côn trùng, cây cỏ, vi sinh vật, nấm hợp với đất đá, nước tạo nên một hệ thống kết nối với nhau, trong đó, tất cả các thành tố đều phụ thuộc qua lại để sống còn…
Đến với Bidoup - Núi Bà, được chiêm ngưỡng cây pơmu ngàn năm tuổi, quan sát loài Ếch Ma cà rồng bay là loài đặc hữu chuyên sống trên cây, lấy tên từ loài nòng nọc có răng nanh khác thường…, ta như sống trong một thế giới thu nhỏ và cảm tưởng mình đang du hành ngược về với kho tàng vô giá của quá khứ hàng nghìn năm linh thiêng - nơi lưu giữ những chứng tích thời tiền sử, ghi nhận sự đổi thay bí ẩn, tiến hóa của sự sống, môi trường…
Chia tay Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà trong một chiều mưa, thầm ước mong Vườn luôn được trân trọng giữ gìn, sớm được Unesco thế giới công nhận Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang nhằm kết nối văn hóa với vùng Tây Nguyên và sử dụng văn hóa để bảo tồn thiên nhiên, thể hiện triết lý con người với thiên nhiên.
Đây cũng chính là sự kết nối đa dạng cảnh quan sinh học với không gian văn hóa bản địa trong bảo tồn và phát triển. Trong tương lai gần, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang được công nhận, vùng đất linh thiêng này sẽ mãi xứng tầm với những giá trị lịch sử kể cả về tự nhiên và văn hoá. Bidoup - Núi Bà sẽ là nơi thu hút du khách, nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, là một trong những điểm nhấn phát triển kinh tế - xã hội của Đà Lạt - Lâm Đồng. (Báo Lâm Đồng 25/9) đầu trang(
Đại bàng, loài chim được mệnh danh là "chúa tể của trời xanh". Chúng thường bay trên không trung và chỉ ở trên ngọn núi cao, rừng già nên con người rất khó phát hiện và săn bắt.
Thế nhưng, những người thợ săn ở huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn vẫn "tóm gọn" được chúng, đem chúng về thuần dưỡng như gà nuôi trong chuồng nhà.
Phải mất cả ngày, thậm chí cả tuần ngủ rừng, ăn cơm chung với con vắt, thợ săn mới đến được khu rừng có đại bàng sinh sống. Có khi, họ phải nằm quan sát, theo cả tháng trời mới đủ tự tin để quyết định giăng bẫy, "tóm" đại bàng.
Khó khăn lắm mới tìm được vài người thợ chuyên săn đại bàng ở khu vực huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn và vùng giáp ranh huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Theo lời đồn, đó là những thợ săn nức tiếng với những chiến tích "độc hành vạn dặm" đến những nơi thâm Sơn, cùng cốc. Họ ngủ rừng hàng tháng trời, nhiều thời gian trong năm, họ ngủ rừng nhiều hơn ngủ nhà, để theo dõi, giăng bẫy, bắt đại bàng.
Nhờ có người quen ở xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, Lạng Sơn, PV đã thuyết phục được một số thợ săn cho đi theo săn đại bàng. Ông Lý Sùng Tỉn, 60 tuổi, là người nhiều kinh nghiệm đường rừng cũng như kỹ nghệ săn bắt đại bàng nhất nên đã được các thợ săn tôn làm "trưởng đoàn".
Nói về công việc vất vả, nguy hiểm này, ông Tỉn cười tủm: "Đó là cái thú của những người thợ săn. Cách đây hơn 20, lúc đó tôi còn trẻ, một mình vẫn cầm dao băng rừng, lội suối, ăn sương, nằm gió bám dấu vết đại bàng. Bây giờ tuổi già sức yếu, vào rừng lại rất nguy hiểm nên cần rủ thêm nhiều người".
3h sáng ngày hôm sau, khi bản làng còn chìm sâu trong giấc ngủ thì ông Tỉn dẫn PV cùng các thợ săn, đùm cơm cùng với nước uống, sẵn sàng vượt cung đường gần 100km đến xã Kiên Mộc, Lạng Sơn để săn "chúa tể bầu trời".
Cái lạnh thấu sương, đứt tủy của rừng thiêng nước độc và sương sớm phủ mờ chốn thâm sơn cùng cốc vẫn không cản được bước chân của cánh thợ săn đang căng tràn khí huyết sục sạo rừng xanh tìm đại bàng. Cưỡi trên chiếc xe máy "Min - khơ" xẻ toạc màn đêm băng qua những cung đường vằn viện giống thác nước được ngụy trang bởi những tảng đá khổng lồ lô nhô như những cái bẫy của vực thẳm.
Ông Tỉn cho biết: "Xã Kiên Mộc là nơi duy nhất ở vùng này, có nhiều chim đại bàng. Tuy nhiên, ở đây chỉ còn mỗi một loại đại bàng đất, sải cánh dài hơn 1m, nặng khoảng 4 - 5 kg/con, lông khoang, mắt vàng, mỏ quặp, móng vuốt sắc, nhọn.
Mấy năm trước, loại đại bàng này còn rất nhiều và có thể tìm thấy chúng ở bất cứ cánh rừng hoang vu nào, hoặc là những dãy rừng núi đá cao, hiểm trở trong vùng. Do bị con người săn, bắt nhiều nên nó cũng dần biến mất.
Trước đây trong rừng Kiên Mộc còn có cả đại bàng lửa - loại đại bàng được coi là "chúa" của đại bàng. Đại bàng lửa có trọng lượng nặng hơn đại bàng đất, khoảng 10kg. Sải cánh dài gần 3m, móng dài, sắc và nhọn hoắt, trên đầu có mào, đặc biệt, nó có đặc điểm dễ nhận biết nhất, là mắt màu đỏ... Loại đại bàng này rất tinh nên ít người săn, bắt được chúng".
Trời tảng sáng, PV đã vượt qua trung tâm xã Kiên Mộc. Để xe ở bìa rừng, chuẩn bị leo lên đỉnh núi cao nhất vùng. Anh bạn đồng nghiệp tỏ vẻ lo lắng: "Để xe ở đây, lỡ trộm cuỗm mất, biết kêu ai?". Ông Tỉn cười đáp: "Mày có để xe cả tháng ở đấy, cũng không ai thèm lấy, ở đây không có trộm cắp gì đâu". Nói rồi, ông lôi đùm cơm nắm ra ăn, uống xong ngụm nước, ông vớ lấy cái điếu cày, rít sòng sọc mấy hơi, nhìn rất sảng khoái.
Mặt trời le lói sau cánh rừng già cũng dần dần xua tan sương sớm. Ông Tỉn dẫn PV leo đỉnh núi được coi là cao nhất vùng. Lên đến đỉnh rừng già, mặc dù mùa đông lạnh lẽo nhưng đoàn người vẫn bị mồ hôi thấm ướt áo. Câu chuyện về "chúa tể của bầu trời" mà ông Tỉn kể đã giúp chúng tôi quên mệt mỏi. "Đôi mắt tinh tường của đại bàng giúp chúng có thể nhìn thấy một con gà khi đang bay trên không trung cách xa mặt đất đến gần 3km.
Khi bắt mồi, đại bàng thường bay theo hướng ngược nắng để con mồi chói mắt không thể phát hiện. Đại bàng có bộ móng vuốt sắc nhọn, giúp chúng dễ dàng "tóm" gọn con mồi, dù nó là rắn trườn dưới đất, cá bơi dưới nước hay chim đang bay trên trời. Đại bàng bay với vận tốc lên đến gần 300km/h. Nó có sức mạnh lớn như vậy nên phạm vi sinh sống của đại bàng rộng lên đến 60km2.
Thấy sốt ruột và thắc mắc, chẳng thấy đại bàng đâu, ông Tỉn trấn an: "Săn đại bàng phải kiên trì, hôm nay chưa thấy chúng thì mai đi tiếp, đi cho đến khi nào thấy được đại bàng mới thôi. Người thợ săn cũng giống như người lính trinh sát trong quân đội, công an vậy, phải kiên trì tìm, đợi "mục tiêu" chứ!".
Ông Tỉn tiếp lời: "Cũng như các loài chim thuộc bộ cắt, đại bàng sống tình cảm. Trong những tháng chuyển cành đầu tiên, đại bàng con chỉ đi theo mẹ để học cách săn mồi. Mồi săn được chim mẹ sẽ trực tiếp mớm cho chim con. Khoảng 12 tháng sau, khi chin non thuần thục cách săn mồi thì mới được chim mẹ cho ra sống tự lập".
Chính vì vậy, muốn bắt đại bàng, phải hiểu được đặc tính của chúng. "Nhìn cánh chim đại bàng chao nghiêng giữa cánh rừng hay khi chúng quắp mồi mà vút lên cao theo tọa độ bao nhiêu và nghiêng về hướng nào thì thợ săn dựa vào đó mà tìm mỏm núi đá hay cây cổ thụ để tìm dấu vết của chúng, thì kiểu gì cũng săn được" - ông Tỉn bật mí.
Theo kinh nghiệm của ông Tỉn, thì việc theo dõi này có thể kéo dài hàng tháng, nhưng khi bắt thì chỉ trong vòng tích tắc. Khi biết đại bàng làm tổ ở đâu, người thợ săn phải nằm dài theo dõi. Khi thấy chúng tha rác về làm tổ thì cũng có nghĩa là đợt sinh sản sắp đến. Đợi khi nào đại bàng sinh nở xong, lũ chim non đòi ăn nhiều thì cặp "vợ chồng" đại bàng cùng bay đi kiếm mồi, đó là thời cơ để thợ săn giăng bẫy "thắt chân" đại bàng trên những cành cây gần tổ. Như vậy, có thể "tóm" gọn cả con đại bàng trống và mái, sau đó bắt luôn cả tổ con non về để nuôi ở nhà.
Ông Tỉn bật mí: Đánh bẫy đại bàng đi lẻ, khi chưa vào mùa kết đôi, thợ săn phải có mẹo riêng. Sau khi phát quang, dọn sạch một khoảng đất, ông Tỉn lôi trong bao tải ra những chiếc quặp sắt, có những chiếc răng cưa nhọn hoắt đan xen "khít khìn khịt". Chiếc bẫy chỉ bé bằng lòng bàn tay nhưng ông Tỉn phải dùng một chân đạp chốt, còn hai tay kéo hai cánh mới mở ra được.
Trước khi đặt bẫy, ông Tỉn lấy giẻ cuốn quanh gọng bẫy để che những chiếc răng cưa lại, phòng khi đại bàng dính bẫy chúng không bị gãy chân... Ông Tỉn đặt bốn chiếc bẫy quanh một mô đất nhỏ, lấy lá cây rừng trùm lên những chiếc bẫy rồi tiếp tục phủ lên bên trên lớp lá một lớp đất mỏng để ngụy trang.
Bên cạnh những chiếc bẫy ông Tỉn buộc vào một con gà để làm mồi nhử. "Khi đại bàng lao xuống quắp mà không giật được con mồi, nó sẽ đậu xuống đất. Khi đó, đôi chân bị nạn của chúng sẽ sa vào bẫy đã được giăng sẵn" - ông Tỉn kể về thủ thuật săn đại bàng lẻ với vẻ rất đắc ý.
Giăng bẫy xong, ông Tỉn cùng PV luồn vào gốc cây khác cạnh đó nghỉ ngơi và theo dõi. Đến chiều tối, có một con chim chao liệng tìm mồi. Ông Tỉn bảo: "Đại bàng đấy! Nó đã phát hiện ra con mồi".
Con đại bàng liệng hai vòng quanh khu rừng gần con mồi rồi lại tung cánh bay vút lên trời cao. Ông Tỉn tiếc nuối: "Đại bàng là loài khôn lắm. Nó bay liệng vài vòng để quan sát. Thấy không có gì nguy hiểm mới sà xuống bắt mồi. Lúc nãy nó liệng qua đã nhìn thấy áo của mày có màu lạ, nó biết có nguy hiểm nên đã bay mất hút". (Người Đưa Tin 25/9) đầu trang(
Trong Di chúc của Hồ Chủ tịch, phần nói về nhân dân lao động, Bác đã viết: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
Trong những chính sách ưu tiên ấy phải kể đến việc tỉnh Yên Bái đã ưu tiên cho Trạm Tấu một đội ngũ cán bộ được đào tạo căn bản về chuyên môn trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp với mục tiêu khai thác tiềm năng, thế mạnh đất đai, nhân lực để giải bài toán thiếu đói lương thực kinh niên ở huyện vùng cao này.
Vì thế, chỉ tính riêng đội ngũ đảng viên thuộc Đảng bộ Khối Nông - lâm nghiệp của huyện gồm các cơ quan: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Chuyển giao khoa học kỹ thuật, Hạt Kiểm lâm đã có tới 42 người.
Cũng nhờ chính sách tăng cường cán bộ nên tuổi đời bình quân của đội ngũ cán bộ cũng như đảng viên thuộc Khối còn khá trẻ. Những năm qua, Đảng bộ Khối Nông - lâm nghiệp huyện Trạm Tấu đã thực hiện tốt nhiệm vụ chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, bố trí sử dụng giống có năng suất cao, phù hợp với điều kiện địa phương; tập trung thực hiện tốt việc chuyển giao khoa học kỹ thuật trên cơ sở xây dựng mô hình trình diễn, mô hình thử nghiệm và thực hiện các đề tài khoa học.
Công tác quản lý lâm sản, Đảng bộ Khối đã tham mưu với UBND huyện ban hành chỉ thị về triển khai các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng cùng các văn bản khác về tăng cường quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản; phân công cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn gắn với trách nhiệm của lãnh đạo Hạt Kiểm lâm và vai trò cá nhân trong chi ủy, chi bộ.
Năm 2013, đã phát hiện, xử lý 74 vụ vi phạm hành chính, tăng 24 vụ so với cùng kỳ năm 2012, trong đó có 51 vụ cất giữ lâm sản trái phép, tăng 36 vụ và 18 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, giảm 16 vụ. Trạm Tấu từ một điểm nóng về cháy rừng trước đây thì nhiều năm liên tục gần đây không xảy ra cháy rừng.
Trong công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, đã thực hiện tốt việc bảo vệ 29.190,997ha rừng tự nhiên, 10.159,723ha rừng trồng, độ che phủ đạt 52,94%, tăng 3,4% so với năm 2012. Huyện đã xây dựng xong Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2012 - 2015 để HĐND huyện thông qua và trình UBND tỉnh phê duyệt.
Công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng đến nay đã chi trả xong ở 9 xã, tổng số tiền là 77.208.613 đồng với diện tích chi trả là 2.733,4ha; số hộ được chi trả là 211 hộ, không có cá nhân vi phạm chính sách…
Bên cạnh đó, việc thực hiện điều chỉnh sắp xếp đất nông nghiệp đang được triển khai tích cực và phấn đấu hoàn thành điều chỉnh, sắp xếp đất nông nghiệp trong năm 2014. Tiến độ lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 đến nay đã hoàn thành cơ bản khối lượng công việc.
Ngoài những kết quả cụ thể, toàn bộ hệ thống chuyên môn của Đảng bộ Khối Nông - lâm nghiệp huyện Trạm Tấu còn phát huy tốt vai trò tham mưu với huyện về các giải pháp phát triển nông - lâm nghiệp. Những thành tựu đó là minh chứng sống động về tinh thần học tập và làm theo Bác vì cuộc sống ấm no của nhân dân. (Báo Yên Bái 25/9) đầu trang(
9 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm huyện Trùng Khánh phát hiện, xử lý 33 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong đó, 17 vụ vi phạm về công tác bảo vệ rừng, 11 vụ buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép, 3 vụ vi phạm về cháy rừng, 1 vụ phá rừng trái phép, 1 vụ khai thác rừng trái phép, thu giữ 2,4 m3 gỗ.
Xử phạt các vụ vi phạm thu nộp ngân sách nhà nước trên 83 triệu đồng, trong đó, phạt hành chính trên 78 triệu đồng, thanh lý tài sản trị giá trên 4 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Trùng Khánh tổ chức 43 cuộc tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, trên 1.500 lượt người nghe... (Báo Cao Bằng 26/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Các địa phương đang sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Chính sách này được triển khai trên phạm vi cả nước vào đầu năm 2011 thông qua Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ, nội dung cốt lõi là giao rừng cho tổ chức, cá nhân quản lý, bảo vệ; các doanh nghiệp trực tiếp sử dụng dịch vụ môi trường rừng như thủy điện, du lịch sinh thái, nhà máy nước, nuôi trồng thủy sản sử dụng trực tiếp nguồn nước từ rừng... phải đóng tiền để trả cho chủ rừng.
Theo thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp, cả nước hiện có khoảng 4,1 triệu héc-ta rừng được áp dụng chính sách này với tổng số tiền chi trả hằng năm trên 800 tỷ đồng.
Qua 3 năm thực hiện, chính sách chi trả DVMTR được coi là bước đột phá của ngành lâm nghiệp Việt Nam, bởi đây là lần đầu tiên pháp luật quy định việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của rừng là các dịch vụ.
Về mặt môi trường, chính sách đã giúp tăng khả năng cung cấp các giá trị từ rừng như điều tiết nguồn nước, chống lũ, lụt, bồi lắng lòng hồ, tạo cảnh quan du lịch, hạn chế tình trạng phá rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Hiện nay, các nguồn thu trực tiếp từ rừng ngày càng ít đi, nhất là sau khi Chính phủ có chủ trương hạn chế khai thác gỗ rừng, do đó chính sách chi trả DVMTR được xem là giải pháp “lấy rừng nuôi rừng” thiết thực, hiệu quả. Với mức giá khoán từ 300.000-400.000 đồng/ha/năm và diện tích khoán trung bình từ 25-30ha/hộ đã góp phần nâng cao thu nhập cho hàng trăm nghìn hộ gia đình, đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; thúc đẩy xóa đói, giảm nghèo và xã hội hóa nghề rừng.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, chính sách chi trả DVMTR thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Bản chất của chính sách là xác lập các quan hệ kinh tế giữa người cung ứng và người sử dụng dịch vụ, nhưng nhiều người tham gia vẫn coi đây là sự hỗ trợ của nhà nước, từ đó ý thức, trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ rừng chưa cao.
Tại một số địa phương, nhiều cánh rừng mặc dù đã được giao khoán nhưng tình trạng phá rừng vẫn diễn biến phức tạp, chất lượng rừng tiếp tục bị suy giảm. Thậm chí, nhiều chủ rừng còn thực hiện hành vi phá rừng, chiếm đất sản xuất, khai thác lâm sản trái phép. Nhiều doanh nghiệp sử dụng DVMTR không chịu đóng tiền chi trả DVMTR...
Để chính sách "lấy rừng nuôi rừng" thực sự phát huy hiệu quả, thời gian tới các địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giúp người dân hiểu đúng trách nhiệm, quyền lợi khi tham gia chính sách chi trả DVMTR; tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Ban chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại các tỉnh, thành phố; chỉ giao rừng cho các tổ chức, cá nhân thực sự có trách nhiệm và năng lực; tăng giá khoán bảo vệ rừng bởi mức giá như hiện nay còn thấp, chưa khuyến khích được các tổ chức, cá nhân tham gia nghề rừng...
Đặc biệt, rất cần có chế tài xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm, bảo đảm tính công bằng, công khai trong giao khoán, chi trả nhằm động viên cộng đồng dân cư tham gia quản lý, bảo vệ rừng. (Quân Đội Nhân Dân 26/9) đầu trang(
Theo kết luận thanh tra, từ cán bộ (CB) bảo vệ rừng đến huyện đều tìm cách "xí phần" đất rừng và ăn chặn mồ hôi nước mắt của dân nghèo.
Năm 2013, sau khi Báo CATP có loạt bài về những "địa chủ mới" ở rừng U Minh Hạ, Thanh tra Nhà nước tỉnh Cà Mau đã vào cuộc. Kết quả cho thấy báo phản ánh đúng sự thật, hàng loạt tiêu cực của CB quản lý rừng bị phát hiện.
Theo kết luận thanh tra, ông Nguyễn Hữu Phước - Phó giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ (gọi tắt là Công ty UMH) sở hữu đến 4 thửa đất với gần 36 ha thuộc Lâm phần UMH. Năm 2012, ông Phước mua lại của ông Võ Thanh Sinh 5,5 ha để lên liếp trồng thanh long, đu đủ.
Hợp đồng (HĐ) chuyển nhượng này được  phía UMH đồng ý. Thấy đất rừng còn nhiều, ông Phước không bỏ qua cơ hội, tiếp tục sở hữu 3 thửa không giấy tờ hợp lệ. Trường hợp ông Lê Việt Triều - Trưởng phân trường Sông Trẹm - cũng được giao khoán vượt quy định của tỉnh.
Theo đoàn thanh tra, khi đời sống người dân ở các lâm phần còn nhiều khó khăn, không có đất sản xuất phải thuê của CB đã tạo nên nghịch lý dưới tán rừng UMH. Ông Trần Minh Cảnh - cán bộ Phân trường Sông Trẹm - đưa cả gia đình bên vợ đứng tên giấy tờ để sở hữu đất rừng. Thanh tra cho thấy ông này nắm trong tay 7 thửa với gần 70 ha; trong đó, hai vợ chồng đứng tên 3 thửa, còn lại là gia đình bên vợ, trong khi hợp đồng giao khoán (HĐGK) không đúng quy định.
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - nguyên Giám đốc Lâm ngư trường Sông Trẹm - được xem như địa chủ dưới tán rừng khi cùng 3 người con nắm trong tay 5 thửa đất với gần 50ha. Làm việc với đoàn thanh tra, ông Tuấn cho rằng bản thân chuyển nhượng HĐGK với dân đúng quy định, nhưng kiểm tra hồ sơ thấy lập luận này không thuyết phục.
Năm 1995 được giao 17 ha, đến năm 2003 ông Tuấn chuyển nhượng cho ông Phan Văn Nhã. Để đối phó với cơ quan chức năng, ông Tuấn lập lại HĐGK cho ông Nhã vào năm 1995 do ông Phạm Thành Văn - Phó giám đốc - ký, nhưng không có giá trị pháp lý bởi thời điểm ấy ông Văn chưa có quyết định bổ nhiệm chức vụ trên.
Tương tự, ông Nguyễn Văn Hoàng - cán bộ Phân trường Sông Trẹm - sở hữu thửa đất 17 ha. Năm 1995, ông Hoàng ký HĐ liên doanh với Lâm ngư trường Sông Trẹm và năm 2003 chuyển nhượng cho ông Nhã. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng này không đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, các ông: Phạm Chí Đoàn - nguyên Trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng Vồ Dơi, nay là cán bộ Hạt kiểm lâm Biển Tây; Nguyễn Quốc Khải -  nguyên cán bộ kỹ thuật Ban quản lý rừng Vồ Dơi; Dương Thanh Đệ, kiểm lâm viên; Nguyễn Văn Liêm -  Trưởng phòng Kế hoạch - Hợp tác quốc tế vườn quốc gia; Nguyễn Quang Của - nguyên Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm; Nguyễn Văn Thế - nguyên Giám đốc vườn quốc gia; Tạ Vĩnh Thắng - nguyên Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm; Nguyễn Hoàng Đông - nguyên Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm... đều được giao khoán sai quy định từ 2 - 5 ha đất rừng.
Một số CB Vườn quốc gia UMH được giao khoán đất sai quy định đến hai lần gồm các ông: Nguyễn Việt Phước, Tạ Vũ Linh, Dương Thanh Đệ, Hồ Văn Ràng, Đoàn Văn Đồng, Nguyễn Văn Liêm để sang nhượng trái phép. Trường hợp ông Lê Văn Hải còn được ưu tiên giao khoán 1 thửa thuộc vùng đệm Vườn quốc gia UMH.
Để phát triển rừng, từ năm 2008 - 2010  Công ty UMH thực hiện dự án 661 với kinh phí hơn 1,2 tỷ đồng. Thế nhưng khi bắt tay vào lại để xảy ra nhiều sai phạm: về chi phí khảo sát, thiết kế, công ty hỗ trợ vượt định mức hơn 90 triệu, cụ thể chi phí thiết kế trồng rừng 50.000đồng/ha nhưng chi 168.720 đồng/ha; trong khi đó phần nghiệm thu được thanh toán thoải mái, không chứng từ hóa đơn...
Đối với các hộ được hỗ trợ chi phí trồng rừng thì bị cắt xén. Năm 2008 - 2009, 98 hộ ở các xã Khánh Lâm, Khánh Thuận (huyện U Minh) và Khánh Bình Tây Bắc (huyện Trần Văn Thời) trồng gần 57 ha rừng. Theo Quyết định 164/2006/QĐ/TTg ngày 11-7-2006 của Thủ tướng Chính phủ thì mức hỗ trợ các hộ trồng rừng 2 triệu đồng/ha, nhưng công ty chỉ trả từ 1,1 triệu đồng/ha. Bị khiếu nại, năm 2010 đơn vị này tăng lên 1,8 triệu nhưng còn "ém" lại một ít.
Trước những sai phạm trên, Thanh tra kiến nghị UBND tỉnh thu hồi phần đất rừng đã giao khoán sai quy định; kỷ luật các cá nhân, tập thể liên quan; thu hồi nộp ngân sách hơn 100 triệu đồng và xem xét chi trả cho những hộ chưa được hỗ trợ chi phí trồng rừng đúng quy định. (Công An TPHCM 25/9) đầu trang(
Quảng Ninh là tỉnh công nghiệp, nhu cầu về gỗ trên địa bàn là rất lớn, việc trồng rừng tuy đã có bước phát triển nhưng vẫn chủ yếu là trồng quảng canh, hiệu quả kinh tế thấp.
Để nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng, trong những năm qua Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp trong việc phát triển trồng rừng thông qua các mô hình cụ thể, trong đó có mô hình trồng rừng thâm canh keo tai tượng do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Ninh triển khai từ năm 2012 tại 3 xã: Quảng Đức (huyện Hải Hà), xã Điền Xá (huyện Tiên Yên) và xã Thuỷ An (huyện Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh, với diện tích 70 ha.
Mô hình được chia thành 2 giai đoạn: năm thứ nhất (2012) trồng mới 70 ha rừng và thực hiện công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng cho 75 hộ tham gia; đào tạo nhân rộng mô hình cho 80 hộ ngoài mô hình thuộc 2 huyện Hoành Bồ và Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Sang năm 2013, tiếp tục thực hiện chăm sóc diện tích rừng trồng, duy trì công tác bảo vệ rừng, thực hiện sơ kết mô hình; tổ chức hội thảo đầu bờ cho 100 người tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Mô hình đã cung cấp cho các hộ dân tham gia 127.820 cây giống và 23.240 kg phân bón NPK; trong đó, Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí mua cây giống và 50% kinh phí mua phân bón.
Để mô hình được triển khai thuận lợi, đúng tiến độ và đạt kết quả cao, các cán bộ của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Ninh đã hướng dẫn bà con áp dụng kỹ thuật từ khâu chọn giống, làm đất, bón phân, chăm sóc bảo vệ rừng cho đến khi khai thác.
Quá trình chăm sóc và theo dõi cho thấy, năm thứ nhất cây keo đã bắt đầu sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt trên 95%, chiều cao trung bình đạt 2m, đường kính trung bình đạt 2cm. Bước sang năm thứ 2, cây keo đã bắt đầu sinh trưởng và phát triển nhanh, chiều cao trung bình đạt 3 – 5,5m; đường kính trung bình đạt 4-5 cm. Dự kiến, sau 5 năm cây keo sẽ cho thu hoạch với năng suất trên 120m3/1 ha.
Ông Nông Văn Kiên, Cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tiên Yên cho biết: Việc triển khai thực hiện các mô hình bước đầu đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong vùng dự án về kỹ thuật trồng thâm canh cây keo, hướng tới kỹ thuật trồng thâm canh các cây gỗ lớn, phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ.
Cùng với đó, các buổi hội thảo đầu bờ cũng đã góp phần giúp người dân tham gia mô hình, cũng như các hộ dân ngoài mô hình tiếp thu thêm kiến thức về kỹ thuật chăm sóc rừng trồng cây phân tán thâm canh nói chung, keo tai tượng nói riêng năm thứ 2, từ đó rút ngắn chu kỳ kinh doanh rừng và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Với tốc độ sinh trưởng nhanh, đồng đều và ổn định, nếu được đầu tư thâm canh tốt, giai đoạn khai thác có thể đạt trữ lượng lớn.
Hiện nay xu hướng trồng rừng thâm canh keo tai tượng cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ đang được nhiều địa phương trong tỉnh tập trung phát triển, nhằm khai thác ngày càng hiệu quả tiềm năng của rừng.
Với kết quả ban đầu đạt được, mô hình trồng rừng thâm canh keo tai tượng là cơ sở cho việc ứng dụng và nhân rộng sản xuất theo hướng trồng cây lâm nghiệp với mục đích trồng rừng tập trung qui mô lớn.
Mô hình đã góp phần giúp người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh mạnh dạn sản xuất kinh doanh trên đất rừng theo phương thức thâm canh, tạo công ăn việc làm ổn định, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững cũng như nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. (Khuyến Nông VN 25/9) đầu trang(
Là một tỉnh có tiềm năng về tài nguyên rừng và đất rừng, thời gian qua, tỉnh Quảng Nam luôn chú trọng việc giao rừng cho người dân, cộng đồng làng quản lý, bảo vệ.
Nhờ vậy, độ che phủ rừng của Quảng Nam đã được nâng cao, đạt xấp xỉ 49%, là một trong những tỉnh, thành có độ che phủ rừng cao.
Thực hiện có hiệu quả công tác này phải kể đến huyện Nam Trà My. Giao rừng cho cộng đồng làng ở Nam Trà My vừa giúp người dân hưởng lợi vừa tạo điều kiện cho những cánh rừng được bảo vệ nghiêm ngặt.
Với diện tích 43.000ha, nơi diện tích rừng tự nhiên còn khá lớn, hệ động thực vật khá phong phú, trong đó phải kể đến vùng Ngọc Linh, vùng thác 5 tầng, vùng Trà Nam, Trà Leng, Trà Cang... Nhờ được hỗ trợ kinh phí chi trả cho hoạt động quản lý bảo vệ rừng với mức bình quân 200 nghìn đồng/ha cũng như được hưởng lợi các nguồn lâm sản phụ từ rừng nên ý thức giữ gìn của người dân bản địa được nâng lên rõ rệt.
Nhiều người tham gia bảo vệ rừng cho biết, từ khi được Nhà nước giao rừng, dân làng đã nêu cao ý thức quản lý, bảo vệ. Người dân không chặt hạ rừng già để lấy đất canh tác nương rẫy như trước đây nữa mà thay vào đó là cải tạo lại các rẫy cũ để sản xuất.
Không chỉ ở Nam Trà My mà các địa phương khác, sau hơn 10 năm tập trung đầu tư rừng trồng, hình thành các vùng nguyên liệu, nhiều làng quê nghèo như Hiệp Đức, Nam Giang, Tây Giang, Nông Sơn, Núi Thành, Tiên Phước... trở nên sôi động bởi bạt ngàn rừng cây cao su, keo lai đang cho giá trị kinh tế cao. Phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu ở Quảng Nam đã tạo động lực cho cả hai ngành công nghiệp và nông lâm nghiệp phát triển theo hướng ổn định và bền vững.
Chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) hay còn gọi “lấy rừng nuôi rừng” là chính sách về phát triển lâm nghiệp của Chính phủ trong việc nâng cao năng lực bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, tính đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của rừng.
Mục tiêu lớn là đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, khích lệ người dân gắn chặt với rừng, tạo nguồn tài chính cho công tác bảo vệ, phát triển rừng và giảm dần sự đầu tư từ ngân sách nhà nước, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Không nằm ngoài mục tiêu đó, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã đạt được những thành quả đáng kể, đóng góp quan trọng vào nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Năm 2011, chính sách được triển khai thí điểm tại 2 thôn: A Bông và A Xờ, xã Mà Cooih, huyện Đông Giang. Đến nay, tỉnh Quảng Nam đã triển khai đồng thời việc xây dựng 7 đề án chi trả DVMTR tại các lưu vực thủy điện, như Phú Ninh, Sông Kôn 2, An Điềm 1 - An Điềm 2, Sông Tranh 2 - Trà Linh - Tà Vi, ĐăK Mi 4, A Vương - Za Hung, Khe Diên với tổng diện tích cung ứng DVMTR là 180.543,74ha/9 huyện của tỉnh Quảng Nam.
Theo kết quả nghiệm thu rừng từ 2011 - 2013, toàn tỉnh có gần 16000 hộ được nhận khoán với diện tích được nghiệm thu thanh toán là 201.577ha. Trong đó, năm 2013, tổng diện tích lập hồ sơ giao khoán rừng thực hiện chi trả DVMTR là 177.281,33ha/827 nhóm hộ/15.911 hộ trên địa bàn 10 huyện của tỉnh Quảng Nam, được thực hiện tại 9 đơn vị chủ rừng và 3 đơn vị quản lý rừng (hạt kiểm lâm).
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện đề án chi trả DVMTR, Quảng Nam đã xây dựng được nguồn tài chính đáng kể và bền vững phục vụ công tác bảo vệ, phát triển rừng, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng miền núi.
Năm 2014, tỉnh Quảng Nam lập mới 5 đề án chi trả DVMTR tại các lưu vực thủy điện Nam Sông Bung, Bắc Sông Bung, Sông Cùng, Đại Đồng và Trà My 1-Trà My 2. Tổng số tiền thu ủy thác về DVMTR tại các đơn vị, doanh nghiệp đến quý 1 năm nay là hơn 125 tỷ đồng; chi trả DVMTR hơn 49 tỷ đồng...
Bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng không phải của riêng một đơn vị, tổ chức nào. Việc bảo vệ rừng tất yếu phải gắn với đời sống của người dân bản điạ. Khi người dân được hưởng lợi từ rừng thì họ sẽ góp sức bảo vệ rừng. Tạo sinh kế cho người dân bằng văn hóa bản địa gắn với môi trường rừng là cách làm bền vững. (Tài Nguyên & Môi Trường 25/9, tr14) đầu trang(
25/9, UBND huyện Mèo Vạc tổ chức hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Dự có Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ huyện; lãnh đạo các cơ quan chuyên môn; đại diện Công ty cổ phần Bitexco Nho Quế; đại diện quỹ Dịch vụ môi trường rừng của tỉnh; Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND, cán bộ khuyến nông và các hộ dân tiêu biểu trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của 18 xã, thị trấn.
Tính đến năm 2014, huyện Mèo Vạc có 21.159,5 ha rừng. Trong đó, diện tích rừng thuộc các lưu vực của các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), gồm: Lưu vực thuộc Nhà máy thủy điện Chiêm Hóa và Nhà máy thủy điện Na Hang đều là 21.195,5ha; lưu vực thuộc Nhà máy thủy điện Nho Quế 3 là 10.020,3ha; lưu vực thuộc Trung tâm cấp nước sinh hoạt huyện Mèo Vạc chiếm 199ha.
Trong 3 năm (2011-2013) triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, các đơn vị đã giải ngân chi trả  3.191,62 triệu đồng, cho các chủ rừng nhận giao, khoán bảo vệ rừng; tạo công ăn việc làm cho hơn 10.000 lao động, tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Từ đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng của người dân, góp phần đưa tỷ lệ che phủ rừng từ 31% năm 2011 tăng lên 38,1% năm 2014.
Tuy nhiên, việc thực hiện và triển khai chính sách vẫn còn gặp một số khó khăn, hạn chế như: việc thu tiền DVMTR từ các nhà máy thủy điện, trung tâm cấp nước sinh hoạt còn vướng mắc, không đảm bảo thời gian dẫn đến phân bổ nguồn vốn về huyện còn chậm.
Một số hướng dẫn về các thủ tục nghiệm thu, thanh quyết toán còn chồng chéo, rườm rà. Tiến độ thành lập tổ đội, thôn bản bảo vệ rừng ở các xã, thị trấn còn chậm. Một bộ phận người dân vẫn lén lút khai thác gỗ, củi làm chất đốt đã ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ của rừng đầu nguồn,…
Các đại biểu tham gia hội nghị đã bày tỏ sự ủng hộ, đồng tình cao đối với sự hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR của Nhà nước và chủ trương hỗ trợ nhân dân triển khai thực hiện bếp đun cải tiến đã giảm thiểu tình trạng chặt phá rừng, đồng thời thảo luận, chia sẻ những kinh nghiệm hay về các biện pháp triển khai chính sách bảo vệ và phát triển rừng, chính sách chi trả DVMTR tại cơ sở,… (Hagiang.gov.vn 25/9) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2011 đến nay đã hoàn thành chi trả tiền dịch vụ môi trường cho các chủ rừng (hộ gia đình cá nhân, nhóm hộ, cộng đồng xóm) tại 3 huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình, số tiền trên 8 tỷ 476 triệu đồng.
Gieo ươm thử nghiệm 2 kg hạt giống cây Mao Trúc, hiện đang sinh trưởng và phát triển tốt trong vườn ươm; đã gieo ươm 380,6 vạn cây các loại: thông, sa mộc, keo, mỡ, hồi. Cấp giấy chứng nhận nguồn gốc giống lô cây con cho 9 vườn ươm với số lượng 253,35 vạn cây các loại: hồi, mỡ, thông, sa mộc, keo, tông dù, lát.
Phối hợp với đơn vị tư vấn Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ mở hội nghị báo cáo kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng; quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2013 - 2020 tại 12 huyện và thành phố. (Báo Cao Bằng 25/9) đầu trang(
Tờ trình số 15/CV-TC ngày 19/9/2014 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thành Công về việc xin chủ trương khảo sát, xây dựng dự án đầu tư trồng rừng phòng hộ tại tỉnh Lạng Sơn, ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến:
Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/10/2014.
Văn phòng UBND tỉnh thông báo để Sở Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan liên quan biết, thực hiện. (Langson.gov.vn 25/9) đầu trang(
Thời gian qua, trong bối cảnh khó khăn của kinh tế thế giới và trong nước, các doanh nghiệp (DN) chế biến lâm sản xuất khẩu (CBLSXK) trên địa bàn tỉnh đã nỗ lực vượt qua những trở ngại, thách thức để ổn định và phát triển.
Hiện các DN CBLSXK tiếp tục nỗ lực thực hiện hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2014. Có thể nói, năm 2013 là “năm hạn” của Công ty CP công nghệ gỗ Đại Thành. Chỉ riêng vụ hỏa hoạn xảy ra vào trung tuần tháng 12.2013 đã gây thiệt hại cho Đại Thành hàng chục tỉ đồng.
Với những thiệt hại trên, khó ai có thể nghĩ rằng Công ty Đại Thành có thể hồi phục trong năm 2014. Trước tình cảnh bề bộn khó khăn, bên cạnh việc khắc phục thiệt hại, tập thể lãnh đạo và cán bộ, công nhân Công ty CP công nghệ gỗ Đại Thành đã chung sức, chung lòng vượt qua khó khăn, thử thách.
Theo ông Lê Văn Lương, Giám đốc Công ty, bên cạnh việc củng cố, sắp xếp lại tổ chức, các dây chuyền sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu, công ty đã tập trung cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu (XK). Kết quả, 9 tháng đầu năm 2014, giá trị kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của Công ty Đại Thành ước thực hiện trên 8,8 triệu USD, đạt gần 129% so với cùng kỳ năm 2013.
Theo ông Ngô Văn Tổng, Phó Giám đốc Sở Công Thương, thời gian qua, do cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu (EU), nhiều quốc gia đã thực hiện chính sách “thắt lưng, buộc bụng”, cắt giảm chi tiêu, nhất là đối với những mặt hàng cao cấp (trong đó có sản phẩm đồ gỗ).
Và, dư âm của cuộc khủng hoảng vẫn còn tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN CBLSXK trong nước và DN Bình Định nói riêng. Bên cạnh đó, các DN CBLSXK còn phải đương đầu trước những “hàng rào kỹ thuật” do các nước nhập khẩu áp đặt, nhất là Đạo luật “Tăng cường luật pháp, quản lý và thương mại lâm sản” (còn gọi là Đạo luật FLEGT) của EU.
Điều đáng nói là nhiều DN CBLSXK trên địa bàn đã nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách, bố trí lại sản xuất, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế.
Nhờ vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh, XK của các DN CBLS trên địa bàn ngày càng ổn định và đạt được những kết quả khả quan. Theo thống kê của Sở Công Thương, 9 tháng đầu năm 2014, giá trị KNXK toàn tỉnh ước thực hiện gần 444 triệu USD, đạt gần 66% kế hoạch năm và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, giá trị KNXK của nhóm hàng lâm sản ước thực hiện gần 198 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ.
Theo Sở Công Thương, tiêu biểu trong số DN CBLSXK có KNXK đạt khá là: Công ty TNHH Phước Hưng (giá trị KNXK 9 tháng đầu năm 2014 ước thực hiện gần 6,1 triệu USD, đạt trên 217% so với cùng kỳ năm 2013); Công ty CP Kỹ nghệ gỗ Tiến Đạt (trên 26,3 triệu USD, đạt trên 103%); Công ty CP Lâm nghiệp 19 (gần 6,6 triệu USD, đạt trên 160%); Công ty CP Chế biến gỗ nội thất PISICO (gần 2,8 triệu USD, đạt trên 176%); Công ty Liên doanh sản xuất dăm gỗ Bình Định (gần 12 triệu USD, đạt gần 108%); Công ty TNHH Nguyên liệu giấy Hồng Hải (trên 5,2 triệu USD, đạt gần 134%)…
Có thể nói, kết quả trên chính là cơ hội để các DN CBLSXK trên địa bàn tỉnh tiếp tục nỗ lực hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2014. Ông Ngô Văn Tổng cho biết, trên cơ sở đánh giá, phân tích tình hình, triển vọng của kinh tế thế giới, trong nước, cũng như hoạt động của ngành CBLSXK nói riêng, Sở Công Thương đã xác định phấn đấu trong quý IV-2014 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 8,5%, để cả năm 2014 tăng 7,5% so với năm 2013; giá trị KNXK ước thực hiện 232 triệu USD, tăng 19,23% để tổng giá trị KNXK năm 2014 đạt 675 triệu USD, tăng 8,9% so với năm 2013.
Để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ mục tiêu trên, Sở Công Thương đã đề ra một số giải pháp, như: Hoàn thiện và triển khai thực hiện “Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm chế biến từ nông, lâm, thủy sản và các ngành dịch vụ XK Bình Định giai đoạn đến năm 2020”; chủ động theo dõi tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, XK, nắm bắt những khó khăn, vướng mắc của DN; tích cực hướng dẫn giúp đỡ cụ thể về mặt chuyên môn nghiệp vụ và giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các DN thuộc các nhóm ngành CBLSXK.
Đồng thời, Sở Công Thương sẽ tích cực triển khai thực hiện Quyết định số 16/2014/QĐ-UBND về “Chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất sản phẩm gỗ nội thất trên địa bàn tỉnh”, như hỗ trợ 100% chi phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm gỗ nội thất; hỗ trợ 15% so với tổng chi phí đầu tư xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường của dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm gỗ nội thất; hỗ trợ một lần bằng 70% kinh phí đào tạo nghề cho lao động phổ thông của các DN đầu tư sản xuất sản phẩm gỗ nội thất trên địa bàn tỉnh…
Sở Công Thương sẽ nỗ lực hoàn thiện Sàn giao dịch thương mại điện tử chuyên ngành đồ gỗ Bình Định, tiến tới xây dựng Trung tâm đồ gỗ mang thương hiệu “Đồ gỗ Bình Định”. (Báo Bình Định 25/9) đầu trang(
Theo Cục Thống kê Đồng Nai, xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ trong tháng Tám ước đạt gần 88,3 triệu USD, tăng 11,2 triệu USD so với tháng trước.
Tính chung 8 tháng, xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ của tỉnh đạt gần 602 triệu USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2013.
Ông Lê Văn Dành, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh cho biết hiện xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ là một trong ba nhóm mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Đồng Nai, chỉ sau giày dép và dệt may.
Các thị trường lớn về sản phẩm gỗ của Đồng Nai là Hoa Kỳ, Canada, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản... đều tăng nhu cầu nhập khẩu. Ngoài ra, một số thị trường mới thuộc châu Mỹ Latinh, châu Phi cũng sang tìm hiểu và đặt hàng. (Công Thương 26/9, tr6) đầu trang(
Sau 9 năm triển khai thực hiện Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (còn gọi là Dự án WB3), huyện Phù Cát đã có 2.634 hộ ở 9 xã, tham gia trồng hơn 3.973 ha rừng.
Huyện đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2.322 hộ, với diện tích 3.487 ha. Ban quản lý dự án đã giải ngân gần 43 tỉ đồng cho 4.589 lượt hộ  vay để đầu tư trồng và chăm sóc rừng. Hiện có gần 1.000 ha rừng trồng trong 3 năm đầu từ 2005 - 2008 cho thu hoạch.
Từ đầu năm đến nay, người trồng rừng đã khai thác 950 ha rừng WB3, tập trung ở các xã Cát Lâm, Cát Hiệp, Cát Sơn, Cát Hanh, Cát Nhơn, Cát Khánh… Bình quân 1 ha rừng đạt 80 đến 120 tấn gỗ, cho thu nhập 80 triệu đồng.
Qua thực hiện dự án, diện tích đất trồng đồi trọc được khai thác có hiệu quả, tạo việc làm và thu nhập cho người dân, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Được biết, trong năm 2014, huyện Phù Cát có kế hoạch trồng 208 ha rừng theo Dự án WB3. (Báo Bình Định 25/9) đầu trang(
Được sự đồng ý của UBND huyện, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh đã triển khai dự án trồng thí điểm cây sa nhân dưới tán rừng phòng hộ tại làng Canh Tiến, xã Canh Liên.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Vân Canh, việc trồng thí điểm cây sa nhân sẽ được triển khai làm 2 đợt; đợt 1 bắt đầu trồng từ cuối tháng 9.2014 với diện tích 0,5 ha, đợt 2 sẽ trồng thêm 0,5 ha trong năm 2015.
Sở dĩ đơn vị chọn Canh Liên để triển khai mô hình vì đây là xã có diện tích rừng tự nhiên lớn, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào rừng.
Sau khi thí điểm thành công mô hình, đơn vị sẽ mở rộng diện tích nhằm phát huy tính hiệu quả của mô hình, tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế, tăng thu nhập, tích cực bảo vệ rừng và giúp người dân gắn bó với rừng hơn.
Cây sa nhân có tên khoa học Amomum longiligulare T.L.Wu, thuộc họ gừng, sống dưới tán rừng, là một loại cây thuốc dùng để chữa các bệnh về đường tiêu hóa... (Báo Bình Định 25/9) đầu trang(
Sau khi xem xét Công văn số 1509/ONRC-CV ngày 15/9/2014 của Công ty cổ phần Phát triển tài nguyên thiên nhiên Đại Dương về việc báo cáo tiến độ thực hiện dự án và đề xuất tham gia xây dựng phương án sắp xếp lại 02 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đình Lập và Lộc Bình, ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến như sau:
Giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra việc thực hiện trồng rừng của Công ty cổ phần Phát triển tài nguyên thiên nhiên Đại Dương tại huyện Lộc Bình; đề xuất việc mở rộng quy mô diện tích trồng rừng của Công ty, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/10/2014.
Yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương báo cáo nội dung UBND tỉnh đã chỉ đạo tại Công văn số 869/UBND-KTN ngày 22/8/2014.
UBND huyện Lộc Bình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân trong vùng dự án, có biện pháp xử lý các trường hợp cố tình lấn chiếm đất đã cho Công ty thuê; tạo điều kiện cho Công ty để tiếp tục trồng rừng trên diện tích đã thuê với Nhà nước.
Công ty cổ phần Phát triển tài nguyên thiên nhiên Đại Dương chủ động phối hợp với UBND huyện Lộc Bình và các cơ quan chức năng của tỉnh để giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án, tiếp tục triển khai đẩy nhanh tiến độ trồng rừng trên diện tích đất của dự án.
Văn phòng UBND tỉnh thông báo để Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Lộc Bình, Công ty cổ phần Phát triển Tài nguyên thiên nhiên Đại Dương và các cơ quan liên quan thực hiện. (Langson.gov.vn 25/9) đầu trang(
25/9, dưới sự chủ trì của ông Lê Văn Tạo - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh có buổi giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 11 ngày 20/7/2012 của HĐND tỉnh, thông qua Đề án Giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp(gọi tắt là Đề án) tỉnh giai đoạn 2012-2015.
Dự  hội nghị còn có ông Hoàng Xuân Nguyên - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các Ban của HĐND tỉnh, Văn phòng đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, cùng các thành viên Ban chỉ đạo thực hiện Đề án.
Theo kế hoạch Đề án giai đoạn 2012-2015, tỉnh Yên Bái giao và cho thuê 88.574 ha, bao gồm: giao cho hộ gia đình và cộng đồng dân cư 54.329 ha, diện tích cho thuê 34.244 ha. Diện tích cho thuê bao gồm đất có rừng 17.935 ha, đất trống đồi núi trọc 16.309 ha.
Để thực hiện Đề án này, từ tỉnh tới cơ sở đã thành lập Ban chỉ đạo; các cấp các ngành, các huyện, thị xã, thành phố làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện Đề án.
Đến nay, đã tiến hành kiểm tra, rà soát được 90.582,2ha/181.604,3 ha rừng và đất sản xuất lâm nghiệp; 9/9 huyện, thị xã, thành phố đã hoàn thành Đề án Giao rừng, cho thuê rừng và trình UBND tỉnh phê duyệt. Ở các huyện cũng đã có 10 xã xây dựng được phương án giao đất, giao rừng. Ban chỉ đạo Đề án đã phối hợp với UBND các huyện, thị xã cơ bản xác định được quỹ đất rừng dự kiến cho doanh nghiệp thuê.
Tuy nhiên, quỹ đất này hiện không cho thuê được do còn vướng mắc với Luật đất đai năm 2013 mới ban hành. Riêng đối với 2 xã điểm Y Can (Trấn Yên) và Vũ Linh (Yên Bình) đã xây dựng xong phương án giao rừng cho thuê rừng và đang thực hiện triển khai trên thực địa.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện Đề án đang gặp phải những khó khăn cần tháo gỡ. Nguyên nhân chính, do số liệu thống kê về diện tích rừng, đất rừng giữa sổ sách quản lý sai khác nhiều so với thực tế; việc quản lý nhà nước về quản lý quy hoạch đất sản xuất lâm nghiệp còn nhiều lỗ hổng, đất đai bị người dân lấn chiếm nhiều; diện tích dự kiến cho doanh nghiệp thuê không phù hợp với Luật Đất đai năm 2013.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Đề án. Trong đó, các ý kiến đều cho rằng, cần tiếp tục việc thực hiện Đề án, tuy nhiên phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế và Luật Đất đai năm 2013.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Lê Văn Tạo - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh chỉ rõ trong quá trình triển khai Đề án còn nảy sinh nhiều khó khăn vướng mắc. Để tiếp tục thực hiện Đề án đạt hiệu quả đúng quy định cần tập trung theo hướng, đối tượng được giao và cho thuê đất được ưu tiên theo hướng lấy giao đất cho dân là chính, giao rừng cho cộng đồng dân cư để bảo vệ môi trường nguồn nước; cho thuê đối với diện tích mà các hộ gia đình đã vượt quá định mức để tạo công bằng với người ít đất, sau cùng mới đến các doanh nghiệp.
Ông đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo xây dựng điều chỉnh Đề án cho phù hợp với điều kiện thực tế và có tính khả thi. Sau khi xây dựng Dự thảo Dự án điều chỉnh, cần tổ chức hội thảo, khảo sát, lắng nghe ý kiến trước khi trình HĐND tỉnh. (Báo Yên Bái 25/9) đầu trang(
Thành công từ mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi đã giúp gia đình ông Nguyễn Thế Hòa từ một gia đình khó khăn của xã Phú Sơn vươn lên thoát nghèo.
Phú Sơn là xã nghèo nằm ở vùng gò đồi của thị xã Hương Thủy. Những năm gần đây, nhiều hộ dân đã biến vùng đất đồi cho thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi năm.
Gia đình ông Nguyễn Thế Hòa, ở thôn 2, xã Phú Sơn là một điển hình. Ngôi nhà của ông Hòa nằm giữa rừng, chính từ mảnh đất cằn cỗi này, ông đã vươn lên khá giả từ 2 bàn tay trắng. Gốc ở xã Thủy Tân (thị xã Hương Thủy), sau giải phóng, ông lên Phú Sơn làm kinh tế mới.
Ban đầu, cuộc sống hết sức khó khăn, làm việc vất vả nhưng vẫn không đủ ăn. Song, gia đình ông vẫn quyết tâm bám trụ nơi vùng quê mới. Được chính quyền địa phương tạo điều kiện, vợ chồng ông nhận hơn 10 ha đất để trồng rừng.
Ông kể: Nếu nói cuộc sống gia đình khấm khá lên nhờ trồng rừng phải kể đến khoảng từ năm 2005, đó là vụ thu hoạch keo lai hiệu quả đầu tiên. Việc trồng rừng càng trở nên thuận lợi khi có sự hỗ trợ của dự án WB3, đã giúp ông và những hộ gia đình khác được vay vốn, tư vấn mua cây giống chất lượng tốt và được chính quyền tạo điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng.
Sau gần 20 năm trồng rừng, hiện nay gia đình ông Hòa đang sở hữu 10 ha cây keo lai. Bình quân mỗi năm, gia đình ông thu hoạch khoảng 2 ha rừng với giá bán từ 70-80 triệu đồng/ha. Ông Hòa cho biết, việc trồng và thu hoạch xen kẽ như vậy vừa giúp cho gia đình năm nào cũng có thu nhập và dễ quay vòng vốn tái đầu tư...
Để lấy ngắn nuôi dài, ngoài trồng rừng, ông Hòa còn chăn nuôi thêm 500 con gà thả vườn, 200 vịt xiêm, 8 con lợn nái. Doanh thu từ trồng rừng kết hợp chăn nuôi bình quân mỗi năm khoảng 150 triệu đồng, trừ các khoản chi phí, gia đình ông thu lãi trên dưới 80 triệu đồng.
Với sự thành công từ mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi đã giúp gia đình ông Hòa vươn lên khá giả, nhà cửa khang trang. Cách đây 2 năm, ông Hòa đã tậu một chiếc ô tô tải 3,5 tấn để vừa phục vụ khai thác rừng trồng của gia đình, vừa kinh doanh dịch vụ cho những hộ trên địa bàn.
Sắp tới, ông có kế hoạch trồng thêm khoảng 1.000 cây trầm gió trên diện tích đất vườn có sẵn. Đã có một số hộ trồng giống cây này cho năng suất cao, tỷ lệ sống sót lên đến 90%. Ông nhẩm tính, nếu trồng chừng này, chỉ sau khoảng 6-7 năm, bình quân mỗi cây bán được 1,5 triệu đồng, ông thu về hơn tỷ bạc. (Báo Thừa Thiên Huế 25/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo một nghiên cứu mới của Đại học bang Oregon, việc trợ cấp cho chủ sở hữu đất khi chuyển đổi đất nông nghiệp thành rừng sẽ là chìa khóa để tăng lượng hấp thụ các-bon và bảo tồn môi trường sống của động vật hoang dã.
Ông David Lewis, đồng tác giả của nghiên cứu và một nhà kinh tế môi trường ở Khoa Khoa học nông nghiệp trường Đại học bang Oregon cho biết: “Xu hướng sử dụng đất hiện nay ở Mỹ sẽ làm tăng đáng kể diện tích đất đô thị vào giữa thế kỷ cùng với mức giảm hơn 10% môi trường sống của gần 50 loài có nguy cơ cao, bao gồm cả động vật lưỡng cư, động vật ăn thịt lớn và các loài chim”.
Lewis nói: “Một trong những thách thức lớn của thời đại chúng ta là con người phải tạo ra thực phẩm, gỗ và nhà ở, trong khi vẫn phải bảo vệ môi trường. Các mô hình mô phỏng của chúng tôi cho thấy nhu cầu lương thực thực phẩm của con người gây tác động đối với động vật hoang dã và các chức năng quan trọng khác của tự nhiên. Việc hoạch định chính sách giúp đưa ra các công cụ như thuế và các khoản trợ cấp khuyến khích để tăng độ che phủ rừng và hạn chế quá trình phát triển đô thị”.
Các nhà nghiên cứu cho biết: Việc trợ cấp cho chủ đất 100 USD /mẫu Anh mỗi năm để chuyển đổi đất rừng thành đất lâm nghiệp sẽ làm tăng 14% diện tích đất rừng và 8% lượng các-bon lưu trữ vào giữa thế kỷ. Sản lượng gỗ sẽ tăng gần 20% và môi trường sống của một số loài động vật hoang dã quan trọng sẽ tăng ít nhất là 10%.
Một chính sách khác là phạt chủ đất 100 USDcho mỗi mẫu đất rừng bị chặt phá làm đất đô thị, đất canh tác hoặc đồng cỏ sẽ tạo ra doanh thu 1,8 tỷ USD mỗi năm cho chính phủ Mỹ. Hơn 30% các loài quan trọng sẽ có được môi trường sống.
Tuy nhiên, lượng các-bon lưu trữ và sản lượng lương thực sẽ giảm nhẹ. Trong mô phỏng của các nhà nghiên cứu, đến năm 2051, chính sách này sẽ làm giảm 24% tốc độ phát triển của đô thị nhưng nó sẽ mang lại lợi ích cho môi trường sống và giúp lưu giữ lượng các-bon lớn hơn. (Bộ NNPTNT 25/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng