Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 25 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
24/6, Phòng Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Trật tự xã hội (PC45, Công an TP Hà Nội) phối hợp với Công an quận Cầu Giấy, Công an quận Hoàng Mai thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối tượng Lê Tiến Nguyện, Lương Đức Triều và Trương Văn Lâm về hành vi trộm cắp tài sản.
Từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 5/2014, trên địa bàn quận Cầu Giấy và Hoàng Mai liên tiếp xảy ra các vụ trộm cắp cây gỗ sưa đỏ. Thủ đoạn các đối tượng trộm sưa hết sức tinh vi, chúng thường lợi dụng đêm tối, mưa to để ra tay. Trước tình hình “sưa tặc” lộng hành, PC 45 cùng với công an các quận tổ chức điều tra.
19/6, cơ quan điều tra phát hiện một số đối tượng làm nghề chạm khắc mỹ nghệ ở huyện Đông Anh (Hà Nội) có dấu hiệu móc nối, tiêu thụ gỗ sưa đỏ với một số đối tượng ở tỉnh Thanh hóa và Ninh Bình do Lê Tiến Nguyện cầm đầu.
Ngay lập tức, Lê Tiến Nguyện được triệu tập đến cơ quan công an để làm rõ. Nguyện đã khai nhận về hành vi trộm cây gỗ sưa. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Tiến Nguyện tại Thanh Hóa, cơ quan chức năng thu 1 khúc gỗ sưa đỏ cùng dụng cụ, phương tiện dùng để cưa trộm cây.
Lê Tiến Nguyện khai nhận, đầu năm 2014, hắn dùng xe máy ra Hà Nội lang thang trên các tuyến đường để tìm mục tiêu trộm cắp gỗ sưa. Sau đó, Nguyện chuẩn bị cưa sắt và rủ Lâm, Triều cùng thực hiện hành vi trộm cắp.
Ngày 4/4/2014, Nguyện mang theo cưa sắt cùng Lâm và Triều thực hiện hành vi cưa gỗ trộm gỗ sưa đỏ tại khu vực đô thị Bắc Linh Đàm. Đến 23h cùng ngày, các đối tượng đã cưa 1 cây gỗ sưa đỏ dài khoảng 1,1m. Sau khi cưa đổ, chúng bị bảo vệ tòa nhà chung cư OTC phát hiện nên bỏ chạy.
Sau mỗi lần trộm sưa thành công, chúng thuê xe ô tô tải chở về nhà Nguyện cất giấu và bán cho cơ sở chạm khắc mỹ nghệ lấy tiền tiêu xài.
Hiện cơ quan công an đang tiếp tục làm rõ. (Petrotimes + An Ninh Thủ Đô + Công An Nhân Dân 25/6; VOV 24/6) đầu trang(
Các cơ quan chức năng miền Trung đang nỗ lực truy quét, ngăn chặn tình trạng triệt hạ rừng phòng hộ thu hoạch quả ươi non bán cho thương lái Trung Quốc.
Trao đổi với VnExpress.net sáng 25/6, ông Nguyễn Văn Hân, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Quảng Ngãi cho biết, Chi cục vừa gửi văn bản yêu cầu các Hạt kiểm lâm phối hợp với các địa phương tăng cường truy quét, nghiêm cấm tình trạng thu hoạch ươi xâm hại đến rừng phòng hộ.
"Tùy theo mức độ vi phạm chúng tôi sẽ xử phạt hành chính, đồng thời đề nghị cơ quan công an xử lý hình sự các trường hợp lợi dụng thu hoạch ươi để tàn phá rừng phòng hộ gây hậu quả nghiêm trọng", ông Hân nói.
Theo ông Hân, chưa bao giờ người dân lại đổ xô vào rừng phòng hộ ở các huyện Sơn Hà, Tây Trà và Sơn Tây cưa chặt cả cây cổ thụ, thu hoạch quả ươi non đáng lo ngại như năm nay. Có ít nhất 13 cây ươi cổ thụ hơn 40 năm tuổi ở các khu rừng đầu nguồn của Quảng Ngãi bị triệt hạ. Qua điều tra, Công an huyện Sơn Tây cho biết, hầu hết người dân thu hoạch quả ươi non để bán cho thương lái Trung Quốc.
Trong khi đó, tại Bình Định, liên tục trong 2 tháng qua, hàng trăm người dân đổ xô về khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Núi Một (xã Canh Liên, huyện Vân Canh) để khai thác trái ươi. Nhiều người sử dụng cưa máy đốn hạ cây ươi để hái quả khô lẫn quả tươi.
Ông Đoàn Văn Tây, Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Vân Canh xác nhận, việc người dân chặt hạ cây ươi lấy trái tại rừng Canh Tiến đang là thực trạng đáng lo ngại. "Mặc dù chúng tôi cùng với chính quyền địa phương huy động lực lượng, tổ chức truy quét thế nhưng hiện tại vẫn còn nhiều nhóm người lén lút vào rừng phòng hộ chặt hạ cây, khai thác hạt ươi", ông Tây cho hay.
Mới đây, ngày 23/6, trong khi tuần tra ở xã Ân Mỹ, lực lượng Công an huyện Hoài Ân phát hiện ông Huỳnh Tấn Bàn lái xe tải chở trái phép 5,5 tấn trái ươi tươi. Cơ quan chức năng tạm giữ, bàn giao cho Hạt Kiểm lâm Hoài Ân lập biên bản để xử lý.
Trước tình trạng người dân ồ ạt vào rừng phòng hộ chặt cây thu hoạch ươi non ở nhiều địa phương miền núi, UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã ban hành chỉ thị  tăng cường ngăn chặn, kiểm tra xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm. Theo đó, Tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng xử phạt nặng các trường hợp thu hái, mua bán, cất giữ, vận chuyển và chặt hạ cây ươi trái phép.Các địa phương, chủ rừng và các cơ quan liên quan phải chịu trách nhiệm trước Tỉnh nếu để xảy ra tình trạng chặt hạ cây ươi để khai thác hạt trong lâm phận, địa bàn quản lý.
Theo người dân địa phương, do hạt ươi thu hoạch bán cho thương lái có giá cao nên nhiều người đã bỏ nương rẫy, đổ xô vào rừng phòng hộ thu hoạch ươi. Mỗi kg hạt ươi tươi bán tại rừng khoảng 50.000 đồng, hạt ươi khô bán với giá hơn 200.000 đồng. Những năm trước, đến mùa thu hoạch người dân chỉ thu lượm hạt rơi dưới gốc mang về bán. Giờ đây do thương lái Trung Quốc mua cả hạt non với giá cao nên một số người đã mang cưa máy hạ cây để thu hoạch.
Cây ươi có tên khoa học là Sterclia lyhnophora, chỉ mọc chủ yếu ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Quả ươi dùng chữa trị các trường hợp bị đau họng, ho khan, chảy máu cam, khàn tiếng, mất tiếng, họng sưng đỏ và đau. Cách dùng thường là ngâm quả vào nước sôi cho nở ra rồi dùng. (VnExpress + Dân Việt 25/6) đầu trang(
Những ngày qua, hàng trăm người ùn ùn kéo lên tiểu khu từ 41 đến 45 rừng Bà Nà-Núi Chúa (thuộc địa phận xã Hòa Ninh, Hòa Vang, Đà Nẵng) khai  thác quả ươi trái phép.
Chủ tịch UBND xã Hòa Ninh Huỳnh Tân cho biết, các đối tượng khai thác mang theo dây, dao rựa và cưa máy đốn ngã cả cây để hái quả. Việc chặt hạ cả cây ươi đã xâm phạm nghiêm trọng, vi phạm Luật Bảo vệ và quản lý rừng.
Ngày 24-6, UBND xã Hòa Ninh phối hợp cùng các lực lượng chức năng truy quét, đẩy đuổi các đối tượng khai thác ươi trái phép, tạm giữ tại hiện trường 70 xe máy và nhiều phương tiện khai thác, chặt hạ cây ươi. (Công An Đà Nẵng 25/6) đầu trang(
UBND tỉnh Đăk Lăk vừa ban hành Chỉ thị số 05/2014/CT-UBND, ngày 18/6/2014 về tăng cường quản lý gây nuôi, mua bán, sử dụng động vật hoang dã trên trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.
Theo đó, UBND tỉnh chỉ thị UBND các huyện, thị xã và thành phố chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES) trên địa bàn, trong đó thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quy định của pháp luật về quản lý và gây nuôi động vật hoang dã;
Thống kê, rà soát, kiểm tra điều kiện nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nuôi động vật hoang dã trên địa bàn; triển khai tổ chức cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn ký cam kết không sử dụng, tiêu thụ, trưng bày, quảng cáo động vật hoang dã;
Kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Nhà nước về săn, bắt, mua bán, vận chuyển, nuôi, giết mổ, kinh doanh, tàng trữ các loài động vật hoang dã hoặc bộ phận, dẫn xuất của chúng trái quy định của pháp luật.
Sở NN&PTNT thẩm định điều kiện vệ sinh thú y và giám sát tình hình dịch bệnh của các trại, cơ sở nuôi động vật hoang dã; hướng dẫn kiểm tra, truy xuất nguồn gốc sản phẩm từ động vật hoang dã tiêu thụ trên địa bàn không đảm bảo chất lượng, VSATTP; rà soát, lập danh sách các đối tượng đã bị xử lý vi phạm quy định về bảo vệ và phát triển động vật hoang dã để có biện pháp tuyên truyền, giáo dục và chủ động phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật….
Theo nhận định của UBND tỉnh, thời gian gần đây ở một số địa phương của tỉnh Đăk Đăk sẽ có nhiều loài động vật hoang dã hoặc sản phẩm động vật hoang dã được sử dụng làm quá biếu hoặc bày bán, nuôi làm cảnh, giết mổ trái phép; nhiều cơ sở gây nuôi động vật hoang dã hoạt động một cách tự phát, chưa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nguồn gốc động vậy, điều kiện chuồng trại, an toàn vệ sinh môi trường… tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học. (Nông Nghiệp VN 25/6) đầu trang(
24.6, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cho biết vừa phát hiện bắt giữ gỗ hộp số lượng lớn tại nhà kho trên địa bàn TP.Pleiku và đã chuyển tang vật về chi cục.
Công an tỉnh Gia Lai ra lệnh bắt, tạm giam và tiếp tục củng cố hồ sơ truy tố đối tượng về tội danh tàng trữ gỗ trái phép.
Trước đó, ngày 19.6, Đội Kiểm lâm cơ động số 2 (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai) phối hợp Phòng PC46 (Công an tỉnh Gia Lai) kiểm tra hành chính nhà số 153 Nguyễn Văn Cừ, phường Ia Kring (TP.Pleiku) do ông Đỗ Hà Chánh (42 tuổi) thuê làm nhà kho. Qua khám xét, lực lượng chức năng phát hiện trong khuôn viên nhà, nhà vệ sinh và một lối hầm riêng có chứa 199 hộp gỗ xẻ loại gỗ căm xe (nhóm 2). Khối lượng gỗ đo được là 28,287m3.
Ông Chánh khai nhận là chủ của số gỗ trên, mua gom từ nhiều nơi không rõ nguồn gốc. (Dân Việt 25/6) đầu trang(
Chưa bao giờ, “cơn lốc” thu hái hạt ươi tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam lại hỗn loạn như bây giờ.
Với giá từ 130.000-250.000 đồng/kg hạt ươi bay khô, 15.000-40.000 đồng/kg hạt ươi tươi, hàng ngàn người dân tại địa phương và khắp các tỉnh, thành Bình Định, Phú Yên, Quảng Trị, Quảng Bình... đổ về rừng Quảng Nam hái lượm loại hạt này. Họ mang cưa máy thẳng tay triệt hạ các cây ươi cổ thụ không thương tiếc. Rừng ươi đổ máu, máu người đổ theo (cây đè chết trong lúc cưa hạ ươi), lực lượng kiểm lâm cùng chính quyền sở tại hầu như bất lực trước cảnh cây rừng bị “bức tử”!
Trên địa phận xã Phước Xuân (huyện Phước Sơn) trời còn chưa sáng, nhưng dòng người từ xuôi nối đuôi nhau đã đổ vào rừng như trẩy hội. Anh Ngô Văn Trông (46 tuổi, xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc) cho biết: “Đang hạn hán, đậu bắp héo queo, ở nhà chẳng biết làm gì có tiền, thấy được mùa ươi nên gia đình tôi tranh thủ. Vợ chồng tôi và hai con đi từ 3h sáng lên đây, đứng ngoài đường nhìn vào thấy chúp đỏ đỏ (màu lá cây ươi) là bà con tôi xẻ rừng đi thẳng đến lượm”.
Theo chân một nhóm người vượt qua sông Rô rồi băng vào rừng. Đi chưa đầy 30 phút thì cận cảnh những cây ươi cổ thụ bị “ươi tặc” cưa hạ nằm la liệt. Nhìn cảnh tượng này, anh Hoàng Tiến (45 tuổi, quê thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang) thốt lên: “Thế này thì cây ươi đâu ngày sau có còn không chú !”. Nói rồi, nhóm anh Tiến đến vị trí những cây ươi bị hạ đổ nhanh nhảu mót lượm.
Ông Nguyễn Văn Thành (64 tuổi, quê xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc) tâm sự: “ Thấy tụi trẻ đi, ở nhà cũng không yên, tôi cùng ông bạn hàng xóm rủ nhau lên đây lượm ươi, mắc võng ở lại hai ngày trong rừng, tụi tui mót lượm được khoảng 20 cân. Nhìn rừng ươi bị phá tan hoang như ri, đau lòng quá!”. Lẫn trong cuộc trao đổi của chúng tôi là tiếng cưa máy rít lên từng hồi như xé ruột.
Sau khi ghị lại hình ảnh tại khu vực này, PV tiếp tục có mặt tại xã Phước Hiệp (huyện Phước Sơn). Tại đây ông Nguyễn Tấn Lực (SN 1963, quê tỉnh Phú Yên), trong lúc hạ ươi bị cây ngã đè chết hôm 16.6. Chị Hồ Thị Kiều (người dân thôn 8, xã Phước Hiệp) mô tả: “Người đến đây “săn” ươi chủ yếu là dân ngoài địa phương, họ đi đông vô kể. Cách đây vài hôm, một người đàn ông đi ươi xin xăng xe hai con tôi đổ đi nhưng không được, ngay lập tức, ông này dùng cả rựa rượt hai con tôi chạy vào rừng".
Bà Nguyễn Thị Bích Xinh - Chủ tịch UBND xã Phước Hiệp - cho biết, từ khi người dân ồ ạt đổ xô vào địa bàn thu lượm ươi nhưng có biểu hiện cưa hạ cây lấy hạt, xã đã triển khai lực lượng chốt chặn, thu giữ 3 máy cưa tay và một số ươi tươi. Tuy vậy, bà Xinh cũng thừa nhận, lực lượng địa phương hiện quá mỏng, nay chạy thôn này, mai chạy thôn kia, công an thì đi tập huấn... nên người ta lén lút hạ chặt ươi, xã cũng không thể quản lý hết được”. Điều đáng nói, dù là thời gian cao điểm về việc khai thác hạt ươi, nhưng trong suốt buổi sáng 21.6, PV có mặt tại “điểm nóng” thôn 8 thì không thấy bất kỳ một lực lượng nào chốt chặn kiểm tra.
Kể từ khi "cơn lốc" hạt ươi tràn ngập huyện Phước Sơn, chính quyền sở tại đã triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn, bảo vệ cây ươi. Tuy nhiên, rừng ươi vẫn "đổ máu" hàng loạt. "Lâm tặc" vẫn vào rừng dựng trại, đốn hạ rừng ươi cổ thụ không thương tiếc trước sự bất lực, quản lý không xuể của chính quyền. Lúc 17h10 ngày 20.6, khi PV đang tác nghiệp tại khu vực cầu KM lý trình 1356+025 (đường Hồ Chí Minh) thì chứng kiến lực lượng kiểm lâm trạm Phước Xuân (đặt tại cầu KM lý trình 1353+085, thuộc Hạt kiểm lâm huyện Phước Sơn) bắt hơn 4kg ươi của chị Hứa Thị Bốn (xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc) bỏ lên xe tải chở về trạm.
Đáng nói, lúc 18h40 tối cùng ngày, PV có mặt điểm này thì không hề thấy bóng dáng lực lượng chức năng, kiểm lâm nào chốt để ngăn chặn hiện tượng chặt phá ươi. Hàng chục người trong rừng chui ra, vác trên vai từng bao tải ươi lớn ra đường thản nhiên bán cho các thương lái. Rõ ràng, không chỉ xử lý kiểu bắt cóc bỏ đĩa mà còn có hiện tượng buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý bảo vệ rừng đang trong “cơn sốt” tận thu hạt ươi.
Ông Nguyễn Văn Quang (xã Thăng Phước, huyện Hiệp Đức, đi lượm ươi tại xã Phước Hiệp) cay đắng chỉ ra vấn đề: “Ươi là nguồn lợi của thiên nhiên, núi rừng, người dân ai cũng có quyền được hưởng, người dân không lượm về bán lo toan cuộc sống gia đình thì để lâu ngày mưa xuống cũng hư. Chính những “lâm tặc” là con sâu làm rầu nồi canh của họ. "Lâm tặc" phá rừng lại không bắt được mà chờ những người dân vô tình mót lượm những hạt ươi từ cây bị hạ ra là chặn bắt. Thế là người phá rừng vẫn là phá rừng, còn người mưu sinh lương thiện thì “tự nhiên” đối mặt với bao khó khăn, cản trở. Tôi đề nghị các ngành chức năng phải bằng cách nào đó vừa bảo tồn được cây, vừa để đảm bảo cuộc sống mưu sinh của người dân".
“Việc bắt “lâm tặc” hạ ươi đâu có khó, cái khó ở đây là không có sự quyết tâm, quyết liệt tại hiện trường. Lực lượng chức năng chỉ cần chịu khó vào rừng, nghe tiếng cưa hay cây ngã, triển khai lực lượng đến liền là bắt tận tay ngay. Ngược lại, ngày ngày tôi chỉ thấy họ chủ yếu cứ dong xe đứng chờ ngoài đường, thế thì rừng ươi bị phá tan hoang cũng đúng thôi!” - ông Quang kết luận. (Lao Động 24/6) đầu trang(
Mùa hè năm nay, huyện Minh Hóa đang phải hứng chịu những đợt nắng nóng hết sức gay gắt, nhiệt độ luôn ở mức cao, độ ẩm thấp nên nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn. Trước tình hình trên, các cơ quan, ban, ngành, chủ rừng cùng toàn thể người dân Minh Hóa đã tập trung mọi lực lượng, phương tiện để sẵn sàng đối phó với “giặc lửa”.
Huyện Minh Hóa có tổng diện tích tự nhiên trên 141 nghìn héc ta. Trong đó, diện tích rừng và đất lâm nghiệp 120.485 ha, đất có rừng tự nhiên gần 106 nghìn héc ta, rừng trồng là 4.167 ha... được phân bổ khắp 16 xã, thị trấn. Địa hình nơi đây hết sức phức tạp, có nhiều khe suối và các dãy núi đá vôi chia cắt, nhiều bản làng và khu vực trong huyện chưa có đường giao thông đi tới.
Từ đầu năm 2014 đến nay, thời tiết trên địa bàn huyện diễn biến phức tạp. Trong tháng 5 vừa qua đã có những đợt nắng nóng gay gắt nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Từ đầu năm đến nay, đã xuất hiện những vụ cháy rừng nhỏ nhưng được các cơ quan chức năng cùng với người dân nhanh chóng dập tắt. Trên địa bàn huyện Minh Hóa có diện tích rừng trồng tương đối lớn. Hiện một số chủ rừng đang tích cực dọn vệ sinh rừng nhưng vẫn chưa quan tâm đến việc xử lý vật liệu cháy...
Trước tình hình trên, huyện Minh Hoá đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, chủ rừng, đặc biệt là lực lượng kiểm lâm và nhân dân tích cực tham gia bảo vệ rừng (BVR) và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR). UBND các xã, thị trấn và Ban quản lý rừng phòng hộ thành lập 16 BCH các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCCR cấp cơ sở với 205 người. Trên cơ sở đó, các BCH cấp cơ sở đã thành lập 42 tổ xung kích PCCCR với sự tham gia của 382 người, chủ yếu là lực lượng dân quân cơ động, nhằm thực hiện công tác tuyên truyền pháp luật BVR và PCCCR, sẵn sàng đối phó với “giặc lửa”.
Công tác tuyên truyền BVR và PCCCR cũng được huyện quan tâm thường xuyên. Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa đã phối hợp với Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật, các cơ quan báo chí, UBND các xã, thị trấn, chủ rừng tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến Luật bảo vệ và phát triển rừng để người dân nhận rõ tầm quan trọng của việc BVR và PCCCR. Đồng thời huyện xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng nhằm răn đe, ngăn chặn các trường hợp vi phạm; chỉ đạo lực lượng kiểm lâm làm công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp, thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác BVR và PCCCR của các chủ rừng, địa phương.
Lấy phương châm phòng là chính, huyện đã giao cho các cơ quan chức năng, cơ sở, chủ rừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, chủ động kinh phí trong vấn đề BVR và PCCCR như: làm đường ranh cản lửa ở những khu rừng dễ cháy, tu sửa bảng quy ước bảo vệ rừng, biển niêm yết cấm lửa... Các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện phương châm “bốn tại chỗ” là: chỉ đạo tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ.
Khi có cháy rừng xảy ra, người chỉ huy phải nắm được tính chất, quy mô, địa hình, tốc độ gió.... của đám cháy để huy động lực lượng và phương tiện ứng phó. Khi tiến hành chữa cháy rừng, lực lượng phải được tổ chức thành từng tổ, mỗi tổ có 8- 10 người. Tổ trưởng phải linh hoạt, nắm bắt được các kĩ thuật và yêu cầu trong việc chữa cháy. Nếu lực lượng ở địa phương không đủ sức cứu chữa, phải nhanh chóng báo cáo lên cấp trên để có biện pháp hỗ trợ, huy động thêm lực lượng, phương tiện từ nơi khác đến ứng cứu.
Tùy theo mức độ cháy rừng để có những biện pháp khác nhau như: giới hạn đám cháy bằng các băng trắng ngăn lửa, đốt trước đám cháy để cho hai nguồn lửa tương tác nhau và tự dập tắt. Ngoài ra phải sử dụng thêm các biện pháp trực tiếp như: sử dụng phương tiện thủ công, cơ giới. Nếu đám cháy nhỏ thì bố trí lực lượng sử dụng các vật dụng thô sơ, hoặc có thể sử dụng nước để dập tắt đám cháy...
Ông Trần Mạnh Luật, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Minh Hoá cho biết: “Hiện chúng tôi đang triển khai lực lượng đồng đều trên toàn huyện và có sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành và quần chúng nhân dân để sẵn sàng đối phó với “giặc lửa”. Chúng tôi luôn xác định rõ tầm quan trọng của công tác PCCCR, tuyệt đối không chủ quan lơ là, nhất là trong mùa khô này, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra”.
Một mùa khô nóng gay gắt đã đến, hàng trăm ngàn ha rừng ở huyện Minh Hoá đang đứng trước hiểm hoạ của “giặc lửa”. Nhưng với những phương án, giải pháp cụ thể, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, các cấp cơ sở, chủ rừng và quần chúng nhân dân, tin rằng Minh Hóa sẽ hạn chế đến mực thấp nhất các vụ cháy rừng cũng như thiệt hại do cháy rừng gay ra.  (Báo Quảng Bình 24/6) đầu trang(
An Nghĩa, An Lão, Bình Định: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng
Từ đầu năm đến nay, công tác tuyên truyền Luật bảo vệ và phát triển rừng tại xã vùng cao An Nghĩa được duy trì thường xuyên, quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng giữa UBND xã và các ngành chức năng ở huyện được triển khai chặt chẽ, xã tiếp tục củng cố, kiện tòan Ban Chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng cấp xã và 5 thôn với 60 thành viên tham gia.
Trong 6 tháng qua, UBND xã phối hợp tổ chức 5 đợt tuần tra, truy quét khu vực vùng rừng giáp ranh, qua đó bắt giữ đưa về xã trên 5 m3 gỗ nhóm 3 đến nhóm 5, làm thủ tục thanh lý, phá hủy tại rừng 2,628 m3 gỗ các lọai, phá hủy 7 láng trại của lâm tặc. Đồng thời tiến hành nghiệm thu, giao khóan 1.352,8 ha rừng cho người dân quản lý, bảo vệ. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết triệt để những tồn đọng trong khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại Tiểu khu rừng 57,58; việc phá rừng làm rẫy trái phép tại Tiểu khu 54B,59B. Đồng thời tổ chức trồng mới 60 ha rừng, trong đó trồng mới 40 ha và trồng sau khai thác 20 ha với tỷ lệ cây sống đạt trên 87%. (Anlao.binhdinh.gov.vn 24/6) đầu trang(
Vụ trộm chó vừa xảy ra ở Củ Chi (TP.HCM) một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng vì 3 người truy đuổi đã bị chính những kẻ trộm chó dùng súng kích xung điện bắn lại làm thiệt mạng. Có lẽ không đâu việc trộm chó lại ngang nhiên đến thế và chua xót hơn có đến 3 người bị thiệt mạng vì con chó.
Hành vi trộm chó ngày càng gây phẫn nộ trong dư luận, nhất là khi bọn trộm chỉ bị xử lý hành chính là xong. Không chỉ gọi là “cẩu tặc” mà người dân còn sẵn sàng “xử” bọn trộm chó thích đáng. Chính vì vậy, bọn trộm cũng liều lĩnh đáp trả, đánh người truy đuổi bằng hung khí để thoát mạng. Và chỉ vì con chó mà đã xảy ra những vụ cố ý gây thương tích, thậm chí giết người. Thật là chua chát!
Nói cho cùng thì luật pháp được xây dựng để giữ gìn an ninh trật tự, bình an cho cuộc sống người dân. Nhưng để dân bức xúc tự xử, tức là chế tài xử lý loại tội phạm này chưa nghiêm. Hành vi trộm chó thường diễn ra lén lút vào ban đêm, tang vật các vụ trộm chó thường chưa đến 2 triệu đồng, nhưng mỗi tên trộm chó nếu trót lọt có thể kiếm vài triệu mỗi đêm, trong khi có “sa lưới” cũng chỉ bị phạt như phủi bụi. Song song đó, những kẻ tiêu thụ chó trộm cũng chẳng ai sờ đến. Vậy nên, trộm chó cứ thế hoành hành và người dân càng căm ghét, sống mái với kẻ trộm chó.
Điều này không chỉ gây mất trật tự trị an trong xã hội mà còn gây xói mòn niềm tin vào sự nghiêm minh của pháp luật, vào chính quyền địa phương trong việc bảo vệ an ninh, trật tự cho người dân trước vấn nạn trộm chó.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều quốc gia đã ban hành đạo luật về bảo vệ động vật như luật Animal welfare của Mỹ vào năm 1966; Sắc lệnh 2004-416  của Pháp… Ngay Hàn Quốc, nước có số người dân có thói quen ăn thịt chó lớn, cũng ban hành những quy định như buộc phải nuôi chó riêng để làm thịt… Còn ở nước ta, việc “trộm chó chỉ bị xử hành chính” và “kẻ mua chó trộm hầu như vô can”, dẫn đến việc xử lý nạn trộm chó vô cùng khó khăn và là một nghịch lý cần sớm khắc phục.
Đã đến lúc, nhà nước cần có văn bản pháp luật quy định về việc bảo vệ động vật (không phải là động vật hoang dã, quý hiếm) với nội dung là xây dựng một kế hoạch khẩn cấp để bảo vệ vật nuôi; thiết lập quyền sở hữu vật nuôi (có giấy phép sở hữu vật nuôi, chứng nhận tiêm chủng hoặc đơn thuốc thú y để giúp chứng minh là họ sở hữu những vật nuôi đó); vật nuôi phải đăng ký để có mã số quản lý; quy định những trường hợp nào được giết động vật là vật nuôi làm thịt (như quy định phải nuôi chó riêng để làm thịt)... Đồng thời, xây dựng chế tài hình sự đối với hành vi vi phạm việc bảo vệ động vật thật nghiêm khắc cho tất cả đối tượng. Từ đó, những kẻ kinh doanh chó “lậu” sẽ không còn đất sống.
Chỉ khi có chế tài nghiêm khắc thì mới có thể giảm bớt và tiến đến chấm dứt tình trạng trộm chó đang xảy ra khắp nơi ở nước ta. Đồng thời, nó giúp pháp luật lấy lại niềm tin từ người dân và không còn việc dân phải “tự xử”. (Thanh Niên 24/6) đầu trang(
Với trên 70.000ha rừng các loại, nhiều diện tích rừng nằm xen kẽ với các khu dân cư, người dân lại có tập quán đốt nương làm rẫy nên công tác phòng cháy chữa cháy rừng ở Mù Cang Chải (Yên Bái) gặp nhiều khó khăn.
Qua thống kê những năm gần đây cho thấy các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn vùng cao này nguyên nhân chủ yếu do bà con đốt nương làm rẫy để cháy lan vào. Trước thực trạng trên, huyện chỉ đạo các ngành chức năng tổ chức tuần tra, kiểm tra việc phát rừng làm nương rẫy, hướng dẫn nhân dân cách đốt nương.
Bên cạnh đó, huyện tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, thực hiện thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trên cơ sở đó, huyện đã  chuyển đổi hơn 1.000 ha đất nương rẫy sang trồng ngô, đây được coi là giải pháp vừa góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước nâng cao đờì sống đồng bào, vừa hạn chế được lửa rừng. Nhờ kết hợp các giải pháp này nên tình trạng cháy rừng đã giảm đáng kể.
Tuy nhiên, tình trạng đốt nương để xảy ra cháy rừng lại nóng bỏng trong thời gian vừa qua. Tính từ mùa khô hanh đến nay, trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 108 ha,  trong đó có 3 vụ xuất phát từ hành vi đốt nương của người dân. Vụ cháy rừng tại tiểu khu 331 khu vực rừng gần bản Phình Hồ, xã Dế Xu Phình xuất phát từ hành vi đốt nương của người dân trong bản. Vụ cháy đã thiêu  trụi gần 29ha, trong đó có 8,4ha rừng thông, sơn tra trồng từ năm 2008, còn lại là hơn 20ha đồng cỏ. Có vụ cháy gây ra do đối tượng vị thành niên, như trường hợp vụ Giàng Thị Phua, 14 tuổi do bất cẩn trong quá trình đốt nương làm rẫy đã làm cháy 4,4ha rừng ở bản Rào Cu Nha, xã Lao Chải.
Ngoài tình trạng cháy rừng do bà con đốt nương làm rẫy thì đáng lo ngại hơn là hiện tượng người dân cố tình đốt rừng. Điển hình là vụ cháy ở bản Trống Khua, xã Lao Chải ngày 5/3/2014, không có diện tích nương rẫy ở gần nhưng vẫn xảy ra cháy. Qua xác minh, đây là vụ cố ý đốt rừng. Vụ cháy xuất phát từ hai điểm cháy xảy ra vào giữa trưa, do thời tiết khô hanh nên cháy lan rất nhanh, dù xã và các ngành chức năng đã huy động lực lượng dập lửa nhưng đám cháy đã lan rộng và chỉ dập tắt khi đã thiêu trụi 30,6ha rừng trồng từ năm 2011.
Theo lực lượng kiểm lâm thì việc người dân cố ý gây cháy rừng chủ yếu là do liên quan đến lợi ích từ việc thu hái quả sơn tra. Từ khi quả sơn tra có giá trị kinh tế cao dẫn đến các hộ dân đốt rừng để trồng sơn tra. Ngoài ra, do phân chia quyền lợi giữa việc quản lý, thu hái sơn tra ở các bản, các hộ gia đình không đồng đều dẫn đến những hành vi phá hoại rừng, thậm chí đốt rừng gây khó khăn cho chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.
Ông Vàng A Lử - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: “Thực tế từ các vụ cháy rừng năm nay, chúng tôi rút ra hai nguyên nhân chính, đó là do đốt nương làm rẫy và đáng ngại nhất là trường hợp người dân cố ý đốt rừng. Để hạn chế cháy rừng, đến tháng 9 này, chúng tôi tiến hành tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) rút kinh nghiệm, đồng thời kiện toàn lại Ban chỉ đạo PCCCR từ huyện đến các thôn bản cũng như đầu tư trang thiết bị PCCCR; làm tốt công tác quản lý nương rẫy, thống kê, chỉ đạo vận động đốt nương có kiểm soát; tuyên truyền các hộ gia đình cẩn trọng trong quá trình sử dụng lửa trong rừng; tổ chức ký cam kết và tuyên truyền người dân không phát rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy”.
Xuất phát từ các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn huyện trong thời gian qua cho thấy ý thức của người dân vẫn còn hạn chế, chưa nhận thức được hậu quả của việc đốt nương trong thời tiết khô hanh kéo dài.
Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương chưa bám sát cơ sở để chỉ đạo việc đốt nương rẫy của đồng bào vùng cao. Để hạn chế việc cháy rừng, lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân trong công tác PCCCR, đặc biệt là việc sử dụng lửa trong rừng. Lâu dài, cần hạn chế và giảm bớt tình trạng đốt nương làm rẫy bằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đối với các vụ cố tình đốt, cần điều tra xác minh và sớm tìm ra thủ phạm đưa ra xét xử để xử lý nghiêm minh làm gương cho người khác. (Báo Yên Bái 24/6) đầu trang(
Trong vòng 1 tháng, trên địa bàn huyện Phù Cát đã xảy ra 4 vụ cháy rừng làm thiệt hại hơn 16,5 ha rừng trồng, chủ yếu là rừng trồng của tổ chức kinh tế và hộ nông dân trồng theo dự án WB3, được 4 - 5 năm tuổi.
Ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng huyện đã kịp thời phối hợp với các địa phương và các ngành chức năng huy động lực lượng kiểm lâm, đội xung kích phòng cháy chữa cháy rừng tại chỗ và các chủ rừng kịp thời bao vây dập lửa. Nhưng do thời tiết nắng nóng, nguồn nước khan hiếm, việc chữa cháy gặp nhiều khó khăn.
Ở diện tích rừng bị cháy, tỉ lệ thiệt hại trên dưới 70%. Trong đó đáng kể là vụ cháy rừng tại xã Cát Nhơn, xảy ra vào ngày 10.6 làm thiệt hại 5,8 ha; tại xã Cát Thành xảy ra 2 vụ, ngày 16.6 cháy 5,2 ha và ngày 21.6 cháy 4,5 ha.
Trước tình hình thời tiết tiếp tục nắng nóng gay gắt, nguy cơ cháy rừng cao, huyện Phù Cát đang tập trung chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương, và chủ rừng tăng cường tuần tra kiểm soát, thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, đồng thời tiếp tục điều tra làm rõ nguyên nhân các vụ cháy rừng đã xảy ra. (Báo Bình Định 24/6) đầu trang(
Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), lực lượng kiểm lâm Tam Nông đã tập trung tăng cường các biện pháp PCCCR.
Xác định nguyên nhân gây cháy chủ yếu do ý thức chủ quan của người dân, Hạt Kiểm lâm đã chú trọng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng.  Trong 6 tháng đầu năm, Hạt đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT, Đài truyền thanh huyện, UBND các xã: Thọ Văn, Dị Nậu, Tề Lễ, Quang Húc, Hương Nộn, Phương Thịnh tổ chức tập huấn về công tác bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR  với 700 lượt người là cán bộ công chức xã; lực lượng công an, dân quân tự vệ; trưởng khu dân cư và các chủ rừng...
Lực lượng kiểm lâm còn tổ chức tuyên truyền công tác bảo vệ rừng, PCCCR cho giáo viên và học sinh  trường THCS: Thọ Văn, Tề Lễ, Phương Thịnh. Để chủ động PCCCR, Hạt Kiểm lâm đã tham mưu tích cực cho UBND huyện thường xuyên củng cố BCĐ thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, chỉ đạo trạm kiểm lâm địa bàn tham mưu cho UBND các xã củng cố Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã. Các tổ, đội PCCCR tại cơ sở được củng cố, lấy lực lượng dân quân tự vệ làm nòng cốt. Hạt Kiểm lâm cũng đã chỉ đạo Trạm Kiểm lâm địa bàn tham mưu cho chính quyền cấp xã thường xuyên thực hiện tốt phương án bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR. Cán bộ kiểm lâm địa bàn được phân công trực tại UBND các xã.
Trạm Kiểm lâm địa bàn còn cử  cán bộ xuống trực tiếp khu dân cư tuyên truyền về nguy cơ cháy rừng và các biện pháp phòng, chống. Hạt Kiểm lâm còn phối hợp với các phòng chuyên môn của huyện và Chi cục Kiểm lâm tỉnh  duy trì đều đặn dự báo thời tiết và cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn huyện, kịp thời thông báo tới các BCĐ thực hiện kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng cấp xã, Công ty Lâm nghiệp Tam Thanh biết và chủ động trong công tác PCCCR; đồng thời hướng dẫn các chủ rừng xử lý thực bì bằng phương pháp đốt theo Quyết định số 2231/2006/QĐ-UBND ngày 4/8/2006 của UBND tỉnh.
Do làm tốt công tác PCCCR nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn không xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên, nói về công tác PCCCR, ông Trần Xuân Mão - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm vẫn lo lắng: “Công tác PCCCR trên địa bàn còn nhiều khó khăn do ý thức của người dân còn hạn chế; trang bị chữa cháy còn thiếu; chính quyền cấp xã một số nơi chưa nhận thức về trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng, cho rằng bảo vệ rừng, PCCCR là nhiệm vụ của  kiểm lâm  là chính. Vì vậy chúng tôi xác định “phòng cháy hơn chữa cháy”; tiếp tục tăng cường tuyên truyền về BVR, PCCCR; bám sát địa bàn nhằm phát hiện và xử lý kịp thời khi có cháy rừng xảy ra”. (Báo Phú Thọ 24/6) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Định vừa có Quyết định phê duyệt phương án bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) phòng hộ và cảnh quan trong Khu kinh tế (KKT) Nhơn Hội giai đoạn 2014 – 2018, do Ban quản lý Dự án hạ tầng thuộc Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh đại diện chủ rừng thực hiện.
Với quy mô diện tích 288,8 ha, gồm khoảnh 1, 2, 3 và 4 tiểu khu 298 thuộc xã Nhơn Hội; khoảnh 1 và 2 tiểu khu 303 thuộc xã Nhơn Lý, TP. Quy Nhơn. Năm 2014 khoán bảo vệ rừng 277,8 ha, năm 201, khoán bảo vệ rừng 288,8 ha.
Mục tiêu của phương án là bảo vệ hệ thống rừng phòng hộ, môi trường cảnh quan trong KKT Nhơn Hội, góp phần điều hòa khí hậu, chống cát bay, giảm bụi, giảm tiếng ồn, giữ đất, giữ nước, và bảo vệ khu dân cư, khu đô thị, khu công nhiệp, phục vụ tham quan, du lịch. Đầu tư phương tiện, trang thiết bị, công cụ PCCCR cần thiết, đáp ứng được yêu cầu phòng cháy và chữa cháy rừng kịp thời, khẩn trương và có hiệu quả; xây dựng một số công trình PCCCR thiết yếu như chòi canh lửa, panô tuyên truyền, bảng quy ước bảo vệ rừng và PCCCR, bảng cấp dự báo cháy rừng, biển báo cấm lửa. Tổng kinh phí đầu tư cho công tác bảo vệ rừng và PCCCR phòng hộ và cảnh quan trong KKT Nhơn Hội giai đoạn 2014 – 2018 là hơn 835 triệu đồng. (Binhdinh.gov.vn 23/6) đầu trang(
UBND huyện Sông Hinh vừa có văn bản yêu cầu UBND các xã, đặc biệt là xã Ea Trol, Sông Hinh, Ea Bar và các ngành chức năng của huyện tổng kiểm tra, truy quét việc khai thác, thu mua, cất giữ, vận chuyển lâm sản là quả ươi trái phép; rà soát lập danh sách các đầu nậu thu mua quả ươi trái phép để xử lý nghiêm minh; triển khai lực lượng phối hợp cùng chủ rừng kiểm tra ngăn chặn tại các điểm phá rừng, khai thác lâm sản thu hái quả ươi trái phép.
Đồng thời, lực lượng chức năng cần tuyên truyền vận động nhân dân địa phương không được chặt hạ cây ươi để thu hái trái. Việc thu nhặt quả ươi (ươi bay - loại hạng 1 khi đủ độ chín tự rụng) phải xin phép và thực hiện đúng quy trình đề ra.
Cùng với đó, UBND huyện Sông Hinh cũng yêu cầu Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh và Tỉnh đội Phú Yên tăng cường công tác tuần tra bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, kiểm tra phát hiện và lập hồ sơ, tạm giữ tang vật phương tiện sử dụng vi phạm; Hạt kiểm lâm Sông Hinh phối hợp với các đơn vị trên tuần tra kiểm tra ngăn chặn việc khai thác, thu mua tiêu thụ cất giữ quả ươi và gỗ trái phép trên địa bàn huyện, kiên quyết đấu tranh xử lý theo quy định pháp luật.
Thời gian qua, việc thu hái quả ươi tại các lâm phần rừng ở các xã Ea Trol, Sông Hinh, Ea Bar diễn ra khá phức tạp. Hàng ngày có hàng trăm người vào rừng để thu hái quả ươi. Do cây ươi to cao, khi trưởng thành và kết trái thường có đường kính khoảng một người ôm và có chiều cao từ 20 đến 30m; vì vậy để thu hái được quả ươi, người dân dùng cưa lốc hoặc rìu đốn hạ cây, xâm hại đến tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. (Báo Phú Yên 24/6) đầu trang(
Trước nguy cơ cháy rừng cấp 5 (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên phạm vi toàn tỉnh, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Lê Văn Trúc vừa chỉ đạo UBND các địa phương chủ động phối hợp với các ngành chức năng thực hiện có hiệu quả những quy định của Nhà nước về bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
UBND tỉnh giao Sở NN-PTNT và UBND các địa phương rà soát lại phương án bảo vệ và PCCCR của các cấp, ngành, đơn vị chủ rừng.
Trong đó, các đơn vị xác định cụ thể các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao để bố trí các nguồn lực phù hợp theo phương châm bốn tại chỗ nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời các tình huống, không để xảy ra cháy rừng.
Các địa phương rà soát, hoàn thiện quy chế phối hợp trong bảo vệ và PCCCR giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội và bộ đội biên phòng; xây dựng quy chế phối hợp hoạt động giữa lực lượng kiểm lâm với lực lượng dân quân tự vệ, công an xã, phường, thị trấn cùng các lực lượng khác trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ rừng. Các ngành có liên quan lập đoàn công tác liên ngành tăng cường kiểm tra, đôn đốc các huyện, xã và chủ rừng thực hiện nghiêm phương án bảo vệ rừng và PCCCR; đồng thời tăng cường lực lượng tổ chức chốt, trạm ở cửa rừng và thường trực tại khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh tuần tra, kiểm soát, kiên quyết không để những đối tượng không có phận sự vào rừng trong thời kỳ cao điểm của mùa khô và chỉ đạo lực lượng kiểm lâm thường xuyên theo dõi, nắm bắt kịp thời thông tin về dự báo, cảnh báo cháy rừng, phát hiện sớm điểm cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng và website của Cục Kiểm lâm. Đơn vị này cần phải tổ chức ứng trực PCCCR 24/24 giờ trong những tháng cao điểm của mùa khô; chủ động triển khai lực lượng, phương tiện, trang thiết bị PCCCR, đảm bảo xử lý kịp thời các tình huống cháy rừng.
Theo Chi cục Kiểm lâm, toàn tỉnh có 119.683ha rừng tự nhiên, 62.300ha rừng trồng. Từ đầu năm đến nay, xảy ra 4 vụ cháy rừng trồng ở huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa và Đông Hòa, thiệt hại gần 51ha. Các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao là xã Phú Mỡ (Đồng Xuân), Rừng đặc dụng Krông Trai (Sơn Hòa), xã Sơn Thành Đông, Sơn Thành Tây, Hòa Phú (Tây Hòa), Ea Trol, Ea Bar (Sông Hinh), Hòa Định Đông, Hòa Định Tây (Phú Hòa). (Báo Phú Yên 24/6) đầu trang(
Trong chuyến công tác đến Điện Biên vào cuối tháng 5 vừa qua, PV được nghe bà con nơi đây kể lại câu chuyện về việc hơn 30 hộ dân ở bản Na Hai 1, xã Pom Lót (huyện Điện Biên) đã khôi phục, trồng lạl hơn 8ha rừng sản xuất đã phá để làm nương rẫy vào cuối năm 2013 tại khu vực Huổi Co Sản và Púng Min.
Dẫn PV lên thăm khu rừng, Trưởng bản Na Hai 1-Lò Văn Thiêm vừa kể nghe về nguyên nhân các hộ dân nơi đây phá rừng làm rẫy cũng như cách thức mà cán bộ nơi đây tuyên truyền để bà con hiểu vai trò quan trọng của rừng: “Vì thường xuyên thiếu ăn nên khi thấy rừng có đất đai màu mỡ là các hộ trong bản đã rủ nhau phá rừng để làm nương trồng ngô, lúa”.
Chỉ với suy nghĩ đơn giản ấy, bà con ở đây đã phá hơn 8ha rừng để trồng ngô, lúa. Bản có 65 hộ, phần lớn bị đói trong thời điểm giáp hạt. Cả bản chỉ có khoảng 9ha ruộng nước, nhưng chủ yếu là ruộng bậc thang, năng suất rất thấp, chỉ đạt khoảng 25 - 30 tạ/ha/năm (trung bình các xã trong huyện đạt 65-70 tạ/ha). Cả xã có 98 hộ nghèo thì riêng bản Na Hai 1 có số hộ chiếm gần nửa.
Trước thực trạng này, cán bộ kiểm lâm huyện đã phối hợp với lãnh đạo xã, Trưởng bản Na Hai 1 tố chức nhiều cuộc họp dân để tuyên truyền cho bà con hiểu, phá rừng làm nương là vi phạm pháp luật. Mất rừng cũng đồng nghĩa với việc bà con không có củ măng để sửa và làm nhà mới; mất rừng che chắn, lũ lụt sẽ tràn xuống bản, gây đổ cửa, đổ nhà khiến cuộc sống của bà con ngày càng khó khăn hơn.
Sau nhiều tháng tuyên truyền, vận động, bà con nơi đây đã nhận thức được lợi ích mà rừng mang lại và phá rừng là sai. Vì thế, không chỉ các hộ phá rừng mà các hộ sống gần rừng cũng đều tự nguyện góp công, góp tiền để mua cây keo giống trồng lại những diện tích dã phá trước đó.
Ông Thàm Văn Nọi, cán bộ kiểm lâm huyện Điện Biên chia sẻ: Rất may là sau quá trình thuyết phục, vận động, bà con đã nhận thức đúng về vai trò quan trọng của rừng đối với cuộc sống. Từ đó, bà con đã tự nguyện trồng lại và chãm sóc, bảo vệ rừng. Từ bài học này, chúng tôi đã tiến hành tuyền truyền rộng khắp cho các thôn, bản, xã có rừng trong huyện để bà con cùng nhau giữ và bào vệ rừng, tránh tình trạng xâm hại rừng, phá rừng làm nương như đã xảy ra với bản Na Hai. (Dân Tộc & Phát Triển 24/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
24-6, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tổ chức cuộc họp thông báo việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Gỗ Nhiệt đới Quốc tế (ITTO). Như vậy, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 69 của ITTO.
Phát biểu tại cuộc họp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi cho rằng, việc gia nhập tổ chức như ITTO tiếp tục thể hiện bước tiến của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế đồng thời thể hiện minh chứng cho sự sẵn sàng hợp tác của Việt Nam với các nước trong khu vực nói riêng và các nước trên thế giới nói chung trong hợp tác quốc tế về quản lý rừng nhiệt đới và thúc đẩy thương mại một cách có trách nhiệm về gỗ và sản phẩm gỗ nhiệt đới.
Việc Việt Nam tham gia vào nhóm "các nước sản xuất” của tổ chức ITTO theo ông Ngãi, sẽ mang lại lợi ích to lớn cho ngành lâm nghiệp Việt Nam nói chung và cho lĩnh vực thương mại gỗ và sản phẩm gỗ nói riêng. (Đại Đoàn Kết + Thời Báo Kinh Tế VN + Đại Biểu Nhân Dân 25/6; VOV + Chính Phủ + Kinh Tế & Đô Thị + Vietnam+ 24/6) đầu trang(
24.6, Công ty TNHH một thành viên lâm công nghiệp Long Đại (Quảng Bình) cho biết, vừa nhận Chứng chỉ quản lý rừng tự nhiên bền vững toàn phần FSC/FM/Coc của Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC).
Đây là một trong hai doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam được nhận Chứng chỉ này. Chứng chỉ FSC được xem như là một công cụ chứng nhận rừng được quản lý bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế và tạo thuận lợi cho sản phẩm gỗ của doanh nghiệp thâm nhập vào các thị trường quốc tế và đạt được giá cả tối ưu.
Hiện, Công ty TNHH một thành viên lâm công nghiệp Long Đại quản lý hơn 68 nghìn ha rừng tự nhiên. Đây là đơn vị quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tốt nhất tại tỉnh Quảng Bình, góp phần đưa độ che phủ rừng của tỉnh hơn 70% và cao nhất toàn quốc. (Nông Nghiệp VN 25/6; Nhân Dân 24/6) đầu trang(
Sáng 24/6, ông Đinh Văn Khiết – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo phát triển rừng của tỉnh đã chủ trì cuộc họp với các thành viên trong Ban Chỉ đạo, các Sở, ban, ngành liên quan nhằm đánh giá công tác kiểm kê rừng và các nội dung liên quan đến công tác thực hiện xử lý vi phạm về phá rừng, lấn, chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật.
Theo Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt dự án tổng kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 - 2016, Đắk Lắk là một trong 13 tỉnh triển khai thực hiện điều tra kiểm kê rừng. Tính đến nay, toàn tỉnh đã kiểm kê rừng trên thực địa đạt 80 % diện tích, đã thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng các cấp, tổ chức tập huấn phương pháp kiểm kê rừng cho các đối tượng có liên quan. Tổng số người tham gia vào công tác kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh là 655 người, ngoài ra còn có 200 chủ rừng là các tổ chức, doanh nghiệp và 5.272 chủ rừng là các hộ gia đình và cộng đồng.
Thực hiện Chỉ thị 03/CT-UBND, ngày 16/3/2012 của UBND tỉnh về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý vi phạm về phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, trong thời gian qua, các địa phương trong tỉnh đã chỉ đạo thực hiện phương án rà soát, thống kê, xử lý cưỡng chế để thu hồi rừng bị chặt phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật và phục hồi, trồng lại rừng. Tuy nhiên hiệu quả công tác trên vẫn còn nhiều hạn chế.
Để thực hiện tốt công tác trên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng dự thảo hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm về phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật với các nội dung quan trọng như đẩy mạnh công tác tuyên truyền; xác định rõ căn cứ pháp lý, phân loại hành vi để tiến hành xử lý vi phạm; trình tự các bước tiến hành xử lý vi phạm, thu hồi lại rừng bị phá và đất lâm nghiệp bị lấn chiếm; khắc phục hậu quả và đề phòng tái lấn chiếm trên diện tích đã được cưỡng chế, thu hồi; các giải pháp ổn định sản xuất của người dân trong vùng thu hồi đất lấn chiếm; kinh phí triển khai thực hiện…
Các đại biểu cho rằng kết quả thu hồi rừng hạn chế là do một số địa phương còn lúng túng, chưa thực hiện nghiêm túc việc chỉ đạo, xử lý vi phạm, thu hồi rừng bị phá, công tác phối hợp chưa tốt, chưa phân loại rõ hành vi, đối tượng, thời gian lấn, chiếm, chặt phá nên chưa có giải pháp xử lý phù hợp…
Phát biểu tại cuộc họp, ông Đinh Văn Khiết – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo phát triển rừng cho rằng việc đẩy mạnh xử lý vi phạm về phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép sẽ là cơ sở để tỉnh sắp xếp, đổi mới lại hoạt động của các nông, lâm trường; cần thống nhất chủ trương không thực hiện đền bù với những trường hợp xâm canh, lấn chiếm trái phép đất rừng, trong một số trường hợp cần xem xét trợ cấp cho các đối tượng khó khăn theo các chính sách, chương trình phù hợp; việc thực hiện xử lý vi phạm, thu hồi lại diện tích đất rừng cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật đối với từng trường hợp cụ thể; phân loại rõ hành vi lấn chiếm, phá rừng để có giải pháp xử lý phù hợp; cùng với việc giải tỏa, cưỡng chế, thu hồi đất, các địa phương cần chuẩn bị địa bàn để di dời, bố trí nơi sinh sống, sản xuất ổn định cho nhân dân. (Daklak.gov.vn 24/6) đầu trang(
Tính đến hết tháng 5/2014, toàn tỉnh Cao Bằng mới trồng được khoảng 800/2.083 ha rừng, đạt hơn 35% kế hoạch.
Nguyên nhân do vào vụ trồng rừng nhưng một số vườn ươm chưa đủ thời gian xuất giống; một số giống cây chủ lực còn thiếu như sa mộc, xoan hôi, bạch đàn…
Ngoài ra, diện tích đất rừng trồng nhỏ lẻ, manh mún, vị trí dốc nên rất khó khăn cho việc đốt, dọn, cuốc hố, xử lý thực bì. Giao thông cách trở, việc vận chuyển cây giống từ đường dân sinh đến nơi xuống giống chủ yếu bằng sức người là chính, đã đội giá ngày công lên cao, gây tốn kém cho nhà đầu tư trồng rừng...
Một số huyện chưa có Ban quản lý rừng phòng hộ nên phải thành lập mới, công tác bàn giao diện tích giữa chủ đầu tư cũ sang chủ đầu tư mới còn chậm, khiến việc trồng rừng không nhanh như mong muốn.
Qua trao đổi với một số người dân trồng rừng tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng được biết: Kinh phí cho DN và người dân trồng rừng chỉ đáp ứng được một phần phân bón, cây giống (khoảng 3 triệu đồng/ha) đối với các xã vùng đặc biệt khó khăn. Còn công trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trong cả chu kỳ đều do người trồng rừng tự lo.
Chính khó khăn từ địa hình hiểm trở đến cơ chế hỗ trợ thấp nên việc trồng rừng chưa được quan tâm đúng mức.
Còn ông Hoàng Tiến Trung, đại diện một DN tham gia trồng rừng tại tỉnh Cao Bằng phân tích: "Cao Bằng đang hỗ trợ cho công tác trồng rừng SX ở mức từ 2 - 3 triệu đ/ha là thấp so với giá thuê công lao động nên chưa khuyến khích được nhà đầu tư tham gia.
Bởi vì, để trồng 1 ha rừng SX, ngoài hỗ trợ của nhà nước, ngay từ năm đầu tiên các DN đã phải bỏ ra từ 5 - 7 triệu đồng/ha để trả công xử lý thực bì, vận chuyển cây giống. Sau đó, các năm tiếp theo nhà đầu tư vẫn phải thuê nhân công chăm sóc, bảo vệ rừng thường xuyên.
Trong khi đó, địa hình vùng cao cộng với khí hậu khắc nghiệt nên cây rừng không phát triển nhanh như các tỉnh vùng trung du, miền núi khác. Do đó, để có thu nhập từ trồng rừng, nhà đầu tư phải mất thời gian ít nhất cũng từ 9 - 10 năm mới được thu hoạch tỉa thưa cây gỗ.
Với quỹ thời gian dài như thế, nếu người dân hay DN phải vay 100% tiền vốn để trồng rừng thì sẽ lời rất ít. Chưa kể các rủi ro ngoài tầm kiểm soát khác như giá gỗ nguyên liệu xuống thấp, cháy rừng, dịch bệnh, gia súc phá hoại... có thể dẫn đến nguy cơ thua lỗ". (Nông Nghiệp VN 25/6) đầu trang(
Với hơn 63% diện tích đất tự nhiên là rừng và đất rừng, trong những năm qua, huyện Chợ Đồn xác định lâm nghiệp là tiềm năng lợi thế của địa phương. Phát triển kinh tế rừng đã và đang là hướng đi đúng, giúp người dân từng bước thoát nghèo, ổn định cuộc sống.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Chợ Đồn lần thứ XIX đã đặt ra mục tiêu mỗi năm trồng mới 2.000ha rừng trở lên và đến năm 2015 nâng độ che phủ trên 65%; coi phát triển kinh tế rừng là hướng phát triển kinh tế giúp người dân xóa đói giảm nghèo bền vững. Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra huyện Chợ Đồn đã thực hiện tốt chính sách giao đất, giao rừng đến từng hộ dân; đồng thời tuyên truyền, khuyến khích người dân tích cực trồng rừng.
Tính từ năm 2000 trở lại đây, thực hiện trồng rừng theo các Dự án 661, Chương trình trồng rừng 147, huyện Chợ Đồn đã trồng mới hơn 12.000 ha rừng, chưa kể hàng trăm ha rừng nhân dân tự bỏ vốn trồng. Trồng rừng ở Chợ Đồn đã trở thành một phong trào hầu khắp các xã như Bình Trung, Yên Mỹ, Yên Nhuận, Đại Sảo...Qua đó, từng bước nâng cao độ che phủ rừng trên địa bàn huyện. Năm 2010, tỷ lệ độ che phủ đạt 57,3% thì đến năm 2012 tăng lên 60,07% và trên 70% năm 2013.
Có thể nói, đến nay trên địa bàn huyện Chợ Đồn có hơn 70% số hộ ở nông thôn có thu nhập từ kinh tế rừng. Bình quân thu nhập từ kinh tế rừng của các hộ gia đình chiếm 40 - 50% tổng thu nhập hàng năm. Kinh tế rừng đã góp phần quan trọng trong xoá đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu cho người dân. Đại đa số nhân dân đã ý thức được nguồn lợi kinh tế to lớn từ rừng. Vì vậy, việc phát triển kinh tế rừng, chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế đã trở thành phong trào tự giác trong nhân dân.
Ngày càng xuất hiện nhiều hơn những mô hình phát triển kinh tế từ rừng tiêu biểu như: anh Hoàng Văn Ngụy, thôn Nà Quân, xã Bình Trung một trong những điển hình thành công với mô hình kinh tế rừng. Cơ duyên trồng rừng đến với anh chỉ sau một lần đi thăm quan ở tỉnh bạn, nhận thấy bà con ở đó làm giàu hiệu quả từ rừng; anh vừa học hỏi kinh nghiệm, vừa bắt tay vào ươm cây giống keo.
Chỉ từ năm 2005 – 2006 anh đã trồng được 10ha keo ở khu Khuổi Chang thuộc thôn Khuổi Đẩy, đất tốt nên cây keo sinh trưởng và phát triển nhanh. Năm 2009, anh bắt đầu đưa cây mỡ vào trồng, năm đầu anh trồng được 1,5ha, năm 2010 trồng thêm 1,5ha nữa, sau đó anh Ngụy quyết định đầu tư mua thêm 14ha đất tại khu Khuổi Tang, thôn Bản Pèo. Đến nay, anh có hơn 30ha rừng trồng, trong đó đã có diện tích keo được khai thác. Hay gia đình anh Ma Văn Đảo, thôn Bản Quang, xã Yên Nhuận tự bỏ vốn trồng được 2 ha quế, hồi từ những năm 90 và 3 ha rừng mỡ theo Dự án. Hiện nay, diện tích quế đã đến tuổi khai thác trắng giá trị thu về cũng khoảng vài trăm triệu đồng...
Theo ông Hà Sỹ Huân- Phó Chủ tịch UBND huyện: Lợi ích kinh tế từ rừng ở huyện Chợ Đồn đã được chứng minh từ thực tế, tư duy người dân đã thay đổi, bà con chú trọng phát triển và chăm sóc rừng trồng như những cây màu khác. Cùng với việc thành lập các Ban phát triển rừng cấp xã và cấp thôn, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, để hướng dẫn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nhân dân, huyện Chợ Đồn chỉ đạo lồng ghép nhiều Chương trình, Dự án để hỗ trợ nhân dân trồng và đầu tư chăm sóc rừng, có cơ chế chính sách vay vốn hỗ trợ lãi suất cho nhân dân đầu tư trồng và chăm sóc rừng, phát huy hiệu quả từ các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ trồng rừng của Nhà nước.
Bên cạnh đó, các ngành chuyên môn tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng tuyển chọn các loại giống cây trồng tốt, đủ tiêu chuẩn phù hợp với đất đai, khí hậu từng vùng để có giá trị kinh tế cao. Đồng thời, huyện đã có chủ trương quy hoạch từng vùng để phát triển cây trồng phù hợp.
Để trồng rừng là hướng phát triển bền vững, huyện Chợ Đồn đã có cơ chế, khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thành lập Công ty, Hợp tác xã sơ chế, chế biến lâm sản đóng trên địa bàn. Hiện nay, trên địa bàn huyện Chợ Đồn có hơn 25 doanh nghiệp, Hợp tác xã chế biến lâm sản. Trong đó, phải kể đến Công ty TNHH Trường Thành Bắc Kạn đóng trên địa bàn xã Bình Trung chuyên sản xuất đũa sơ chế bằng nguyên liệu các loại cây gỗ mỡ, keo, gỗ bồ đề để xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Điều này không những tạo động lực cho người dân yên tâm trồng rừng mà còn tạo việc làm cho nhiều người dân địa phương.
Chợ Đồn là địa phương có thế mạnh về phát triển cây mỡ, tuy nhiên mấy năm gần đây, tình trạng sâu ong hại cây mỡ là nỗi lo thường trực của chính quyền cũng như người dân. Mặc dù chính quyền cơ sở, ngành chuyên môn đã tích cực phối hợp trong theo dõi, chăm sóc rừng trồng cũng như nghiên cứu phương thức phòng trừ song diện tích bị sâu ong hại những năm qua là tương đối lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý người dân, cần có sự chung tay góp sức của các ngành chuyên môn trong việc nghiên cứu, tìm ra biện pháp phòng trừ triệt để tình trạng sâu ong gây hại mỡ, góp phần ổn định tâm lý, giúp người dân gắn bó lâu dài với nghề trồng rừng.
Có thể khẳng định rằng, với những định hướng đúng đắn của các cấp ủy, chính quyền và sự nỗ lực của người dân huyện Chợ Đồn trong phát triển kinh tế rừng, dựa vào rừng để làm giàu. Đây là giải pháp đã và đang góp phần từng bước xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc trong toàn huyện. (Báo Bắc Cạn 25/6) đầu trang(
Sáng 24/6, UBND tỉnh tổ chức hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tỉnh Hoà Bình (2011-2013). Ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Dự hội nghị có đại diện Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam; Sở NN&PTNT; Sở KH-ĐT; Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đà; Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Hang Kia-Pà Cò và đại diện các đơn vị, doanh nghiệp SX-KD sử dụng DVMTR.
Qua rà soát tỉnh có 17.756 chủ rừng, gồm 8 tổ chức và 17.585 hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, 163 hộ gia đình trên địa bàn 45 xã, phường, thị trấn thuộc 5 huyện và TP nhận khoán bảo vệ 73.802,41 ha rừng thực hiện cung ứng DVMTR trong lưu vực Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình.
Qua 3 năm triển khai chính sách chi trả DVMTR, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã được thành lập. Tổng nguồn tiền nhận uỷ thác và thu nội tỉnh là 23.997 triệu đồng trong đó, nhận uỷ thác từ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam là 23,6 tỉ đồng, thu nội tỉnh được trên 178 triệu đồng. UBND tỉnh đã phê duyệt chi trả tiền DVMTR trong 3 năm (2011-2013) là 21.369 triệu đồng. Đến nay đã giải ngân, thanh toán và chi phí hoạt động 20.017 triệu đồng trong đó chi trả các chủ rừng là 18.114 triệu đồng.
Tại hội nghị, các đại biểu đã nêu lên những khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách như: Kinh phí xây dựng các đề án, dự án rà soát diện tích rừng và chủ rừng đối với lưu vực nội tỉnh, liên tỉnh không có; công tác thu tiền DVMTR với các đối tượng sử dụng DVMTR trong lưu vực nội tỉnh còn gặp nhiều khó khăn; công tác tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR đến các đối tượng sử dụng, cung cấp dịch vụ môi trường rừng còn hạn chế; chênh lệch đơn giá chi trả DVMTR trên các lưu vực lớn ảnh hưởng đến ý thức của người dân...
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng đây là chính sách mới, tiền chi trả DVMTR là nguồn thu ổn định lâu dài để đầu tư cho công tác BVR, thực hiện xã hội hoá ngành lâm nghiệp. Mặc dù chính sách này mới triển khai được hơn 1 năm nhưng đã thu được những kết quả tích cực.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo ngành nông nghiệp tiếp tục thực hiện tốt chính sách này, xây dựng kế hoạch cụ thể năm 2014-2015. Tăng cường công tác tuyên truyền đến cơ sở, cộng đồng dân cư về chính sách này để người dân cùng giám sát trong quá trình lập kế hoạch đến từng chủ rừng, hộ dân. Tăng cường quản lý thu chi theo đúng chế độ chính sách. Tiếp tục ký hợp đồng với Ban quản lý rừng phòng hộ sông Đà thực hiện rà soát các đối tượng sử dụng, đối tượng cung cấp DVMTR, xây dựng dự án chi trả DVMTR. Phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng mẫu nghiệm thu thanh toán. Tiếp tục làm tốt thu đơn vị nội tỉnh, phối hợp với ngành thuế rà soát các đơn vị có nghĩa vụ nộp quỹ DVMTR.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị Sở KH-ĐT rà soát lại các doanh nghiệp trồng rừng, nếu doanh nghiệp chỉ nhận đất mà không trồng thì đề xuất với tỉnh thu hồi lại đất để giao cho bà con trồng rừng. Ngoài ra, cần nghiên cứu, hướng dẫn lồng ghép nguồn kinh phí DVMTR và nguồn kinh phí sự nghiệp BVR, khoanh nuôi, tái sinh rừng hàng năm để đảm bảo mức chi bình quân BVR theo qui định là 200.000 đồng/ha/năm. (Báo Hòa Bình 24/6) đầu trang(
Chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là chính sách mới về phát triển lâm nghiệp của Chính phủ trong việc nâng cao năng lực bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, tính đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của rừng.
Mục tiêu lớn là đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, khích lệ người dân gắn chặt với rừng, tạo nguồn tài chính cho công tác bảo vệ, phát triển rừng và giảm dần sự đầu tư từ ngân sách nhà nước, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
24/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Đầu năm 2011, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các sở, ngành, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh, các địa phương xây dựng “Đề án thực hiện Nghị định của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Cùng với đó, UBND tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh, ban hành quy chế hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy nhân sự, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn công tác thực thi chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh.
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện Nghị định, đã xây dựng được nguồn tài chính đáng kể và bền vững phục vụ công tác bảo vệ, phát triển rừng, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng. Cụ thể, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng hằng năm đạt gần 30 tỷ đồng và được tái đầu tư cho các chủ rừng đang quản lý, bảo vệ 2/3 diện tích rừng trên toàn tỉnh. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh được thành lập và đi vào hoạt động đã làm tốt nhiệm vụ huy động các nguồn lực để phân phối cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng. Từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đối tượng được hưởng lợi từ rừng, hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng của các chủ rừng được nâng lên.
Qua 3 năm triển khai, nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương về công tác bảo vệ, phát triển rừng đã được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ che phủ diện tích tự nhiên của rừng tiếp tục tăng lên, các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được hạn chế. Đây là những kết quả bước đầu nhưng rất tích cực, là tiền đề cho người trồng rừng và bảo vệ rừng yên tâm, có sinh kế bền vững từ rừng và góp phần quan trọng trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương.
Đặc thù của các nhà máy thủy điện tại tỉnh là công suất nhỏ, chủ yếu do tư nhân đầu tư, các nhà máy nằm rải rác tại vùng sâu, cao, vùng có địa hình khó khăn. Nỗ lực lớn của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh trong thời gian qua là khắc phục những khó khăn này để triển khai có hiệu quả chính sách với 100% các đơn vị sản xuất thủy điện, sản xuất nước sinh hoạt đã ký kết hợp đồng ủy thác và thực hiện nộp tiền dịch vụ môi trường rừng.
Nhờ việc đẩy mạnh tuyên truyền mà các tổ chức kinh doanh dịch vụ du lịch bước đầu có nhận thức đúng về trách nhiệm xã hội hóa nguồn quỹ dịch vụ môi trường rừng, tạo điều kiện trở lại cải tạo môi trường cảnh quan, đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Đến nay, công tác rà soát, xác định phạm vi ranh giới chủ rừng, phân loại, thống kê đối tượng sử dụng DVMTR của tỉnh cơ bản hoàn thành. Việc tổ chức giải ngân cho các chủ rừng đang được triển khai khẩn trương, hoàn thành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng của năm 2012, 2013 đúng tiến độ.
Trong thời gian tới, UBND tỉnh yêu cầu các ngành, địa phương và đơn vị có liên quan phối hợp tốt hơn nữa với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trong việc thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả DVMTR. Bên cạnh đó, tham mưu cho UBND tỉnh cụ thể hoá các quy định, hướng dẫn liên quan đến các nguồn thu khác như dịch vụ hấp thụ các-bon, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn con giống tự nhiên trong nuôi thủy sản, dịch vụ môi trường đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp, cho thuê dịch vụ môi trường rừng.
Trọng tâm là tập trung hoàn thành kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 bằng một số nhiệm vụ cụ thể như: Thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức và ý thức thực hiện của các bên liên quan trong thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng để xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, giới thiệu và biểu dương các tập thể, cá nhân điển hình có đóng góp lớn về lĩnh vực này.
Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ thuật, nghiệp vụ, nâng cao năng lực chuyên môn đội ngũ cán bộ, những người làm công tác triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tạo sự đồng thuận trong phối hợp giữa các sở, ban, ngành, địa phương có liên quan trong rà soát, thống kê các đối tượng phải chi trả, đôn đốc các đối tượng ký kết hợp đồng và thanh toán đầy đủ tiền DVMTR theo đúng quy định. Cần gắn việc hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch thu tiền DVMTR với tiêu chí thi đua - khen thưởng hằng năm tại các địa phương.
Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành và nghiệm thu dự án rà soát xác định phạm vi ranh giới chủ rừng, phân loại, thống kê đối tượng sử dụng DVMTR tỉnh. Trên cơ sở đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh phối hợp với các đơn vị liên quan nhanh chóng thực hiện thanh - quyết toán tiền DVMTR cho các chủ rừng theo đúng chế độ hiện hành. Đồng thời, thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành thường xuyên giám sát công tác chi trả tiền DVMTR rừng, nhất là những chủ rừng là hộ cá thể, cộng đồng dân cư, tránh tình trạng thắc mắc, khiếu kiện liên quan đến công tác này.
Về chỉ tiêu, kế hoạch thu - chi tiền DVMTR hằng năm cần linh hoạt hơn, bám sát với tình hình thực tế để đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu thu - chi tiền DVMTR do UBND tỉnh giao. (Báo Lào Cai 24/6) đầu trang(
Một trong những mục tiêu nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết phát triển kinh tế xã hội Đảng bộ huyện Ba Bể nhiệm kỳ 2011 - 2015 đã đề ra là đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, và dịch vụ trên địa bàn, trong đó có công nghiệp chế biến gỗ. Do vậy, hiện nay, huyện Ba Bể đang tích cực khuyến khích các nhà đầu tư phát triển công nghiệp chế biến gỗ gắn với tạo việc làm cho lao động trên địa bàn nhằm tăng thu nhập cho người dân.
Xưởng gỗ chế biến ván bóc tư nhân của gia đình bà Nguyễn Thị Đào đóng tại địa bàn thôn Nà Ngò xã Mỹ Phương hiện có 4 công nhân là người địa phương và các xã lân cận làm việc. Có thời điểm do nhu cầu mua gỗ ván bóc của các tư thương nhiều, xưởng của gia đình bà Đào phải tuyển thêm nhân công để kịp sản xuất hàng cho khách. Với mức lương trung bình 5- 6 triệu đồng/tháng, người lao động trên địa bàn rất yên tâm khi làm việc tại đây.
Anh Hoàng Văn Báo – Thôn Bản Chù, xã Chu Hương, huyện Ba Bể cho biết: Do chưa có công việc ổn định nên từ khi xưởng gỗ chế biến ván bóc được mở ở địa phương nên tôi xin vào làm việc tại đây. Lương công nhân ở đây cũng được, trung bình khoảng 6 triệu đồng, tôi rất yên tâm khi làm việc ở đây.
Bà Nguyễn Thị Đào – Chủ Xưởng chế biến gỗ ván bóc thôn Nà Ngò, xã Mỹ Phương cho biết: Gia đình tôi mới mở xưởng này được hơn 1 năm, chủ yếu là lấy lao động địa phương, tạo công ăn việc làm cho họ, các điều kiện về an toàn lao động cũng được đảm bảo nên công nhân yên tâm làm việc.
Là một huyện miền núi có tiềm năng về tài nguyên rừng và đất rừng, huyện Ba Bể có cả lợi thế về gỗ rừng tự nhiên và nguyên liệu gỗ rừng trồng đa dạng. Trong vài năm trở lại đây, với sự hỗ trợ của Nhà nước, diện tích rừng trồng của địa phương tăng đáng kể, đến nay độ che phủ rừng của huyện đã được nâng cao, đạt trên 60% nên  ngành công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn cũng có bước phát triển.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện nay tại huyện Ba Bể có hàng chục điểm cơ sở chế biến gỗ nhỏ lẻ, mặc dù quy mô không lớn nhưng đã giúp tạo việc làm cho rất nhiều lao động địa phương. Với các chính sách ưu đãi khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất chế biến gỗ trên địa bàn như: tạo điều kiện đăng ký kinh doanh, mặt bằng sản xuất, cấp giấy phép khai thác gỗ... đã góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp này phát triển mạnh mẽ, đồng thời tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương và cả lao động ở nhiều tỉnh thành khác.
Anh Nguyễn Văn Sùng – Công nhân Xưởng sản xuất đồ mộc Đức Mạnh, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể cho biết: Tôi thấy chế biến gỗ bây giờ phát triển, thị trường cũng ổn định, với lại thu nhập cũng được. Công nhân ở xưởng cũng được đào tạo, là thợ lành nghề.
Mặc dù có một nguồn tài nguyên rừng phong phú, số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ không ngừng tăng qua các năm, song ngành công nghiệp chế biến gỗ của huyện Ba Bể chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Phần lớn sản phẩm gỗ rừng trồng bị tư thương ép giá nên giá thành thấp, việc tìm đầu ra cho các cơ sở sản xuất chế biến gỗ gặp nhiều khó khăn do đó nhiều cơ sở hoạt động cầm chừng, lao động khi thì có việc khi lại nghỉ dài ngày khiến cho thu nhập họ bấp bênh, không ổn định.
Trước những khó khăn hiện này, huyện Ba Bể đang tích cực tìm nhiều giải pháp để thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển, trong đó chú trọng gắn trồng rừng với công nghiệp sản xuất chế biến gỗ; có chính sách thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh; Đồng thời chủ động trong việc giải quyết đầu ra cho sản phẩm từ rừng và đẩy mạnh phong trào trồng rừng và phát huy tiềm năng lợi thế về rừng để góp phần nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, tăng thu ngân sách trên địa bàn. (Đài PTTH Bắc Cạn 23/6) đầu trang(
Những năm gần đây, phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu ở Quảng Nam đã tạo động lực cho cả hai ngành công nghiệp và nông lâm nghiệp phát triển theo hướng ổn định và bền vững.
Là một tỉnh có tiềm năng về tài nguyên rừng và đất rừng, Quảng Nam có cả lợi thế về gỗ rừng tự nhiên và nguyên liệu gỗ rừng trồng đa dạng. Những năm gần đây, với sự hỗ trợ từ các chương trình trồng rừng của Chính phủ và các tổ chức quốc tế nên diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng tăng trưởng đáng kể. Nhờ vậy, độ che phủ rừng của Quảng Nam đã được nâng cao, đạt xấp xỉ 49%, là một trong những tỉnh, thành có độ che phủ rừng chiếm khá cao.
Những năm qua Quảng Nam đã tiến hành quy hoạch và hình thành những vùng rừng kinh tế tập trung trồng cây nguyên liệu cao su, keo lai... ở các huyện miền núi, không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập ổn định cho người dân địa phương mà còn đáp ứng nhu cầu cây nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ phát triển. Tính đến nay, riêng diện tích trồng cây cao su, keo lai trên địa bàn của tỉnh đã lên đến 28.500ha (cây cao su 10.000ha, keo lai 18.500ha). Cây cao su, keo lai hoàn toàn thích nghi với thổ nhưỡng, khí hậu, điều kiện tự nhiên và ngày càng được mở rộng lên các vùng rừng núi phía tây của tỉnh.
Sau hơn 10 năm tập trung đầu tư rừng trồng, hình thành các vùng nguyên liệu, nhiều làng quê nghèo thuộc Hiệp Đức, Nam Giang, Tây Giang, Nông Sơn, Núi Thành, Tiên Phước... trở nên sôi động bởi bạt ngàn rừng cây cao su, keo lai đang cho giá trị kinh tế cao. Việc hình thành các vùng rừng nguyên liệu tập trung đã tạo động lực cho nhiều công ty ươm giống, các nhà máy chế biến mủ, lâm sản ra đời, giải quyết nhiều lao động địa phương.
Cùng với Nhà máy chế biến mủ cao su Sông Trà do Tập đoàn Cao su Việt Nam đầu tư với công suất 1.000 tấn/năm, gần đây nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chế biến gỗ có quy mô lớn đã đầu tư ở nhiều huyện miền núi, tạo đột phá trong phát triển kinh tế rừng. Từ nhà máy băm dăm gỗ đầu tiên ở Quảng Nam được xây dựng ở Chu Lai của Công ty TNHH SX-TM&DV Nam Chu Lai, đến nay toàn tỉnh có đến 15 cơ sở chế biến băm dăm gỗ với quy mô lớn ra đời ở nhiều huyện miền núi.
Theo số liệu của Sở Công Thương, hiện nay ngành công nghiệp chế biến gỗ, giấy và lâm sản đã tạo việc làm và thu nhập ổn định cho trên 35 nghìn lao động, chiếm trên 22% tổng số lao động tham gia sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp toàn tỉnh với các loại sản phẩm chính là gỗ xẻ, đồ gỗ (dân dụng, xây dựng), hàng cói, hàng mây tre đan, sơn mài, tre nứa ghép, nguyên liệu giấy... Trong đó, các sản phẩm từ mây tre đan, cói và đồ gỗ mỹ nghệ có thế mạnh về xuất khẩu. Riêng giá trị sản xuất công nghiệp về gỗ 6 tháng đầu năm 2014 đạt hơn 1,3 triệu USD (tăng 314% so với cùng kỳ năm trước).
Mặc dù có một nguồn tài nguyên rừng phong phú, số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ tăng nhanh qua các năm, nhưng ngành công nghiệp chế biến lâm sản ở Quảng Nam vẫn còn điểm “nghẽn”. Số lượng cơ sở chế biến trên địa bàn khá nhiều, song cơ sở chế biến sâu, chế biến gỗ cao cấp còn rất hạn chế. Các sản phẩm từ gỗ như đồ mộc, gỗ xẻ, ván gỗ nhân tạo chưa có thương hiệu, chưa đáp ứng chất lượng theo nhu cầu của thị trường.
Riêng nguyên liệu dăm gỗ, trung bình mỗi năm sản xuất đạt trên 120 nghìn tấn nhưng chủ yếu để xuất khẩu chứ chưa chế biến sâu như sản xuất ván sợi, giấy, sản phẩm cao cấp… Phần lớn các loại gỗ rừng trồng đều sử dụng cho sản xuất dăm gỗ sẽ gây lãng phí tài nguyên, giảm giá trị nguyên liệu gỗ, thu nhập của người trồng rừng thấp, tính bền vững của rừng trồng giảm. Xét về tổng thể cơ cấu ngành nghề trong công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh cho thấy chưa thể hiện sự gắn kết hữu cơ giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chế biến liên tục gỗ rừng trồng. Sản phẩm của doanh nghiệp này chưa là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp tiếp theo.
Khắc phục tình trạng trên, UBND tỉnh đã khuyến cáo các địa phương hạn chế thu hút đầu tư các dự án chế biến lâm sản mà chỉ dừng lại ở chế biến băm dăm gỗ; ưu tiên khuyến khích, có cơ chế hỗ trợ, thu hút các doanh nghiệp, cơ sở chế biến gỗ đầu tư các dự án chế biến sâu về lâm sản. Hiện nay, Quảng Nam đang tạo mọi điều kiện cho Công ty CP Gỗ công nghiệp Quảng Nam triển khai xây dựng nhà máy chế biến gỗ MDF Quảng Nam tại xã Quế Thọ, huyện Hiệp Đức.
Mới đây, UBND tỉnh đã chính thức phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng nhà máy chế biến gỗ MDF Quảng Nam với quy mô hơn 11ha. Nhà máy này chuyên sản xuất các sản phẩm từ tre, gỗ với công suất 200.000m3 sản phẩm/năm. Giai đoạn 1 (từ nay đến hết tháng 6/2015), Công ty CP Gỗ công nghiệp Quảng Nam sẽ đầu tư xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng nhà máy sản xuất sản phẩm gỗ MDF công suất 80.000 m3/năm trong năm 2015 và sẽ triển khai đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất sản phẩm ván thanh công suất 40.000m3/năm trong năm 2015.
Đây được xem là dự án động lực, được đầu tư sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, góp phần giải quyết lợi ích hài hòa giữa người dân và doanh nghiệp vì mục đích phát triển kinh tế theo hướng ổn định và bền vững. (Báo Quảng Nam 25/6) đầu trang(
Cán bộ tiến hành thiết kế, đo đạc thực địa, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (bìa đỏ) cẩu thả, không tuân thủ quy trình đã được hướng dẫn theo quy định pháp luật. Người dân và chính quyền địa phương chủ quan, lơ là, nhận thức chưa đầy đủ trong việc tiếp nhận, sử dụng bìa đỏ cùng phần đất được giao.
Sau hơn thập niên, hậu quả từ việc làm trên vẫn gây căng thẳng, bức xúc trong cuộc sống, trở thành vấn đề nan giải của chính quyền xã Thượng Cửu huyện Thanh Sơn khi các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện vẫn kéo dài với những tình tiết rắc rối “do lịch sử để lại” chưa dễ giải quyết dứt điểm…
Được giao đất lâm nghiệp, cấp bìa đỏ từ những năm cuối thập niên chín mươi của thế kỷ trước theo chủ trương giao đất, giao rừng của Chính phủ, những năm gần đây, khi đất rừng có giá và khi những đồi cây nguyên liệu đã cao to phủ kín đất trống, hứa hẹn một khoản thu lớn, nhiều người dân xã Thượng Cửu mới ngã ngửa người khi cán bộ địa chính xã thông báo: Khu đất mình trồng rừng 15-16 năm nay không phải diện tích trong bìa đỏ được cấp.! Đối chiếu bản đồ với ô, thửa ghi trong bìa đỏ thì nó nằm cách đấy những 5,6 quả đồi! Rà soát, kiểm tra tổng thể đất lâm nghiệp xong, cả xã nháo nhào trước thực tế: Đất tưởng của mình mà không phải. Đất ông hàng xóm đang làm mới là của nhà mình. Diện tích trong bìa đỏ với diện tích đất thực tế đang làm… không liên quan gì đến nhau. Diện tích đất được cấp chênh với diện tích thực đến 2-3 lần; địa danh nhầm lẫn; địa điểm chồng chéo, có nơi 1 thửa đất mà có tới 2 bìa đỏ của hai xã khác nhau.
Anh Hà Văn Nam (xóm Tu Chạn, xã Thượng Cửu) bức xúc: “Gia đình tôi được giao 4,2 ha đất rừng tại số thửa 74, khu vực suối Loọng theo nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số 078335 do nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Sơn Sa Thị Quyết ký ngày 19-9-1998, nhưng thực tế hiện nay diện tích đất này vẫn do ông Đinh Công Xếp (khu Cảy, xã Thượng Cửu) canh tác. Chúng tôi đã kiến nghị lên xã, lên huyện nhiều lần và họ đều công nhận quyền lợi hợp pháp của gia đình tôi với thửa đất đó nhưng đến nay mọi chuyện vẫn chưa được giải quyết…”.
Ông Đinh Văn Dũng - Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Cửu chia sẻ: “Từ ngày tôi được điều chuyển về làm công tác uỷ ban (năm 2010), mỗi năm trung bình xã tiếp nhận và giải quyết khoảng 30 trường hợp tranh chấp dạng như thế này. Cá biệt có diện tích đất lâm nghiệp khoảng 15-16ha thuộc địa giới hành chính của xã đã được giao trong bìa đỏ cho các hộ dân thuộc khu Sinh dưới vậy mà chẳng hiểu lý do tại sao khi tiến hành đo đạc, giao đất sau đó, vẫn diện tích đấy lại được giao cho các hộ dân của xã Khả Cửu…”. Lý giải về nguyên nhân, bản chất của sự việc trên, ông Bùi Quang Doanh - Bí thư Đảng uỷ xã cho biết: “Thời điểm năm 1998-1999, thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng của Chính phủ, cán bộ về thực hành đo đạc, thiết kế trên giấy rồi đến từng khu vực, tập trung bà con trên ngọn đồi cao rồi phóng tay… chỉ áng khoảng diện tích của từng nhà với ranh giới cũng rất mơ hồ, dạng như “ven con suối”, “chân quả đồi”… Chỉ xong, ai về nhà nấy. Thời gian sau, xã nhận được một tập bìa đỏ có ghi tên, địa chỉ, diện tích cụ thể của từng gia đình. Ai có tên thì đến xã lấy. Cán bộ không về bàn giao thực địa cụ thể theo quy định và cũng không gia đình nào kiểm tra, thắc mắc diện tích đất được giao mà cứ thế canh tác trên thửa đất dựa theo… trí nhớ từ lần cán bộ khoát tay chỉ hôm nào…”.
Vẫn biết với diện tích lớn, địa bàn phức tạp, phương tiện kỹ thuật đo đạc thời bấy giờ chưa đáp ứng nhu cầu nên không thể đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối. Nhưng cung cách làm việc cẩu thả, thiếu tinh thần trách nhiệm, không tuân thủ quy định của cán bộ khi tiến hành thiết kế, hoàn tất thủ tục giao đất, giao rừng cho người dân Thượng Cửu thật khó chấp nhận. Hậu quả từ việc làm này giờ đang đè nặng trên vai người dân và chính quyền địa phương.
Với 5.352,67 ha đất lâm nghiệp, trong đó 1.160,27 ha rừng sản xuất, cuộc sống hiện tại của người dân Thượng Cửu chủ yếu dựa vào các hoạt động kinh tế từ rừng. Đất lâm nghiệp không những là tài sản giá trị lớn mà đóng vai trò tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng với mỗi gia đình. Giải quyết tranh chấp theo hướng “hợp lý thuận tình” vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mỗi người dân, duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện để các hoạt động sản xuất lâm nghiệp - tiềm năng thế mạnh địa phương phát triển bền vững được xác định là nhiệm vụ cần ưu tiên giải quyết của chính quyền Thượng Cửu trong thời gian qua.
Các tranh chấp đều được cán bộ xã đóng vai trò trung gian chủ động đến gặp các gia đình vận động tự hoà giải, dàn xếp trên cơ sở vừa đảm bảo quyền lợi mà vẫn duy trì tinh thần đoàn kết, thắt chặt tình làng nghĩa xóm. Theo đó, nhiều gia đình đã tự nguyện đổi lại diện tích canh tác sai so với bìa đỏ, thậm chí làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâm nghiệp để các nhà đã canh tác lâu năm, có trang trại nơi đất sai vị trí ổn định đời sống với mức kinh phí hỗ trợ đền bù thoả thuận. Đây cũng là hướng giải quyết hiệu quả nhất đang được các cấp chính quyền tính toán, cân nhắc trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Thượng Cửu.
Tuy nhiên, theo lời ông Đinh Văn Dũng - Phó Chủ tịch UBND xã: Việc hoà giải, tự thoả thuận chỉ có hiệu quả với các trường hợp có diện tích, vị trí và cây trồng khá tương đồng, các chủ hộ có tinh thần, thái độ thông cảm, hợp tác cao. Còn lại sẽ rất khó giải quyết ở cấp xã. Bởi lẽ, về nguyên tắc, căn cứ quan trọng nhất là bìa đỏ. Đất thực tế bắt buộc phải theo diện tích đã giao trên “giấy trắng, mực đen, con dấu đỏ”.
Nhưng các chủ hộ sử dụng  đất canh tác đã lâu, công sức, tiền của đầu tư lớn, thậm chí dọn cả nhà cửa đến cạnh khu vực đất rừng để tiện chăm sóc, bảo vệ; khi giao chỉ có đất trống, đồi trọc, nay bao gồm cả rừng đã khép tán thì muốn thu hồi, chuyển giao,  ngoài việc đợi đến chu kỳ khai thác phải tính đến mức hỗ trợ, đền bù. Mặt khác, bìa đỏ không ít hộ hiện vẫn nằm ở… ngân hàng theo hợp đồng thế chấp vay vốn.
Điều này lại phát sinh thêm rắc rối khi chuyển giao diện tích đất hoặc khi chủ hộ không thể thanh toán, ngân hàng phải thu hồi tài sản thế chấp trong khi trên thực tế đất trong bìa đỏ với đất rừng chủ hộ thế chấp không phải là một…! Thế nên trường hợp các chủ đất không thể thỏa thuận phải đưa nhau ra tòa án không phải là hiếm. Nhưng kết quả vẫn chưa được như mong đợi.
Đầu năm nay, gia đình anh Hà Văn Nam (khu Tu Chạn) có bìa đỏ ghi rõ thửa đất 74, diện tích 4,2 ha tại khu vực suối Loọng nhưng thực tế thửa đất này đang do ông Đinh Công Xếp canh tác đã nhiều năm (ông Xếp căn cứ vào bìa đỏ được cấp 1,4 ha nhưng ở khu vực khác không chịu chuyển giao) đã kiến nghị ra UBND xã. Sau nhiều lần giải quyết không có kết quả, anh Nam đã làm đơn gửi Toà án nhân dân huyện. Cán bộ Toà án đã gọi đương sự lên làm việc, về xã xác minh rồi…để đấy. Hai gia đình đợi cả năm nay vẫn chưa thấy sự việc được đưa ra xét xử, cũng không thấy cán bộ giải thích nguyên nhân hay trả lại hồ sơ…!.
Những bất hợp lý trong thủ tục cấp, giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp đang gây bức xúc, vướng mắc cho người dân và chính quyền xã Thượng Cửu rất cần được các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết dứt điểm, đúng quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng đất khó nhanh chóng sử dụng hiệu quả tiềm năng, thế mạnh phát triển bền vững…(Báo Phú Thọ 24/6) đầu trang(
Vừa qua, hơn 100 đoàn viên thanh niên của huyện Đức Trọng, Ban Quản lý rừng Đạ Quyn và sinh viên Trường Đại học Yersin Đà Lạt đã trồng 500 cây thông tại địa phận Đồi Cù, xã Đạ Quyn (huyện Đức Trọng).
Trong chiến dịch tình nguyện xanh hè 2014 sắp tới, sinh viên Trường Đại học Yersin Đà Lạt sẽ tiếp tục hoàn thành kế hoạch trồng 32 ngàn cây thông trên diện tích 20ha tại xã này trong thời gian 20 ngày. Kế hoạch trồng 20ha rừng thông do Tỉnh Đoàn Lâm Đồng phát động nhằm giáo dục cho đoàn viên thanh niên về chủ trương trồng rừng, đồng thời kêu gọi người dân tích cực trồng thêm nhiều cây xanh góp phần chung tay bảo vệ tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. (Báo Lâm Đồng 23/6) đầu trang(
2014, huyện Pác Nặm được giao chỉ tiêu  trồng 760ha theo Dự án trồng rừng 147. Toàn huyện đang tập trung khắc phục những khó khăn nhằm hoàn kế hoạch được giao.
So với các địa phương khác trong tỉnh, Pác Nặm là huyện được giao chỉ tiêu trồng rừng thấp nhất. Để công tác trồng rừng được theo đúng kế hoạch và bảo đảm chất lượng thì Ban Quản lý dự án 147 huyện Pác Nặm đã chỉ đạo các cán bộ phụ trách địa bàn phối kết hợp chặt chẽ với UBND các xã tổ chức rà soát các diện tích đã được thiết kế, vận động người dân khẩn trương xử lý thực bì. Tiến hành hướng dẫn kỹ thuật cuốc hố trồng cây cho từng hộ tham gia trồng rừng ngay tại thực địa, nhất là đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong cuộc họp giao ban với các đơn vị, địa phương trong toàn huyện ngày 20/6, lãnh đạo huyện Pác Nặm đã chỉ rõ, trồng rừng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cần sự vào cuộc của không chỉ ngành chuyên môn mà còn của toàn bộ hệ thống chính trị, nhất là đối với cấp uỷ, chính quyền địa phương trong việc vận động người dân xử lý thực bì diện tích còn lại và tập trung trồng rừng. (Báo Bắc Cạn 24/6) đầu trang(
Từ thế mạnh lâm nghiệp và kinh tế đồi rừng nên những năm gần đây công nghiệp chế biên gỗ phát triển mạnh ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, hầu hết các đơn vị chê' biến gỗ là những cơ sở sản xuất nhỏ của các hộ gia đình, khó khăn vể nguồn vốn khi đầu tư máy móc, thiết bị.
Trước những khó khăn của các cơ sở sản xuất chês biến gỗ, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Yên Bái đã phối hợp với các địa phương triển khai hỗ trợ vốn cho một số đơn vị đầu tư thiết bị, mở rộng sản xuất…
Anh Nguyễn Văn Hải (ở thôn 9, xã Thương Minh, thành phố Yên Bái) mở xưởng bóc gỗ ván ép từ năm 2010, ban đầu do không có vốn nên anh chỉ dám mua lại những chiếc máy bóc đã cũ và công nghệ lạc hậu. Vì vậy, máy móc thường xuyên bị sự cố, việc sửa chữa vất vả và mất nhiều thời gian, năng suất thấp, chất lượng sản phẩm không đảm bảo nên luôn bị khách hàng chê. Đầu năm 2014, được kinh phí khuyến công hỗ trợ 60 triệu đồng, anh Hải đã mạnh dạn mua máy ép ván gỗ trị giá 160 triệu đồng. Nhờ đó, công suất ép của cơ sở đã tăng lên 10 m3/ ngày...
Anh Nguyễn Vãn Hải chia sẻ, từ khi đầu tư máy móc, cơ sở đi vào sản xuất ổn định, gần chục lao động tại xưởng có việc làm thường xuyên với mức thu nhập khoảng 3,5 triệu đồng/người/tháng, năng suất luôn đảm bảo, đơn hàng nhiều hơn, những lao động thời vụ kết hợp với công ty cũng nhiều công việc hơn.
Không chỉ ở thành phố Yên Bái, mà nhiều địa phương như huyện Yên Bình, Văn Yên, Lục Yên... các cơ sở sản xuất chế biến gỗ cũng đã nhận được sự hỗ trợ tích cực từ nguồn kinh phí như các hoạt động hỗ trợ của trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Yên Bái.
Tại huyện Yên Bình, chương trình khuyến công đã hỗ trợ hiệu quả mô hình chế biến gỗ ván ép xuất khẩu tại Công ty TNHH Hối Thành (xã Bảo Ái, huyện Yên Bình) được trung tâm hỗ trợ 230 triệu đồng. Cùng nguồn vốn của đơn vị, Công ty Hối Thành đã đầu tư một dây chuyền sản xuất ván ép xuất khẩu với công suất 3.000 m3 sản phẩm/năm, tạo thêm việc làm trực tiếp cho trên 120 lao động với mức thu nhập gần 3 triệu đồng/người/tháng. Với dây chuyền hiện đại, đồng bộ, phát huy được tính năng, tác dụng, tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu, giá thành hạ, sản phẩm ván ép đảm bảo chất lượng phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu... (Kinh Tế VN & Thế Giới 22/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo Daily Mail (Anh), sau khi cha mẹ của mình biệt những kẻ săn trộm giết chết từ những năm 1970, chú voi Nzou đã được đưa về nuôi dưỡng tại khu bảo tồn động vật hoang dã Imire của Zimbabwe. Hiện chú voi Nzou đã 46 tuổi và luôn nhầm tưởng rằng mình là trâu, nên đã sống chung với đàn trâu ở đó.
Ban đầu, người sáng lập khu bảo tồn động vật hoang dã Imire, Norman Travers cho biết, họ đã đem Nzou và môt chú voi đực khác về nuôi dưỡng cùng với đàn trâu tại khu bảo tồn Imire.
Sau khi chú voi đực chết, Nzou đã quen với cuộc sống của những chú trâu cùng trong khu bảo tồn, thậm chí Nzou còn học rất nhiều đặc trưng của những chú trâu, từ đó Nzou dần dần mất đi những đặc trưng của voi.
Người phụ trách khu bảo tồn động vật hoang dã Imire, Judy Travers, cho biết: “Chú voi Nzou là ‘anh cả’ trong khu bảo tồn này, tuy nhiên chú voi này lại chọn cách sống chung bầy đàn với những chú trâu. Trước đây chúng tôi từng đưa Nzou trở về cuộc sống với bầy voi nhưng có vẻ như Nzou thích cuộc sống với những chú trâu hơn”.
Sau vô số lần đưa Nzou trở về với bầy voi không thành công, Norman Travers đành chấp nhận cho Nzou sống chung với lũ trâu cho tới ngày hôm nay. Kể từ đó chú voi Nzou không bao giờ mất đi bản năng của loài voi, đó chính là lòng trung thành.
Một lần khi một nhân viên chăm sóc đang cho những đàn trâu ăn thì bị một con trâu đực tấn công, chú voi Nzou đã bảo vệ người nhân viên đó, chặn không cho chú trâu đực tấn công cho tới khi nhân viên cứu hộ tới.
Nzou cũng có cách thức giao tiếp riêng với đàn trâu, đàn trâu hiểu những động tác của Nzou và ngược lại Nzou cũng hiểu được ý nghĩa âm thanh phát ra của đàn trâu. Nzou chưa bao giờ đáp lại tiếng gọi của bầy voi, hoặc cũng có thể nó đã không thể hiểu được ngôn ngữ của loài voi. (Dân Việt 24/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang