|
Ngày 25 tháng 06 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Đây là thông tin được nêu tại Thông tư liên tịch số 80/2013/TTLT-BTC-BNN của Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện bảo vệ và phát triển rừng.
Thông tư nêu rõ, diện tích khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên bao gồm: rừng phòng hộ (rừng tự nhiên và rừng trồng đã hết thời kỳ xây dựng cơ bản nhưng vẫn cần bảo vệ); rừng giống, vườn giống thuộc sở hữu nhà nước đã được phê duyệt.
Khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên thực hiện thông qua hợp đồng khoán. Thời hạn hợp đồng là hàng năm, hoặc theo kế hoạch trung hạn 3 năm, hoặc 5 năm.
Mức khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên thực hiện theo quy định tại Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN giai đoạn 2011 – 2015, trong đó mức khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên bình quân là 200.000 đồng/ha/năm.
Mức khoán cụ thể do Bộ, ngành (đối với diện tích rừng thuộc các Bộ, ngành quản lý) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với diện tích rừng thuộc địa phương quản lý) quyết định cho phù hợp với tình hình thực tế và phải được công bố công khai hàng năm về mức khoán, diện tích khoán để bên nhận khoán biết.
Ngoài mức khoán chung theo quy định, tùy theo điều kiện cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hỗ trợ thêm kinh phí cho khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/7/2013 và áp dụng từ năm dự toán ngân sách 2013. (Chinhphu.vn 24/6)đầu trang(
Bộ Tài chính đề xuất miễn thuế xuất khẩu đối với mặt hàng da trăn gây nuôi có giấy phép của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.
Đề xuất trên được Bộ Tài chính đưa ra tại dự thảo Thông tư hướng dẫn miễn thuế xuất khẩu mặt hàng da trăn gây nuôi.
Bộ Tài chính hướng dẫn, khi làm thủ tục hải quan đối với mặt hàng da trăn xuất khẩu có nguồn gốc từ gây nuôi, người khai hải quan nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan hồ sơ hải quan, gồm: Tờ khai hải quan; hợp đồng mua bán hàng hóa; giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi sinh sản động vật hoang dã do Chi cục Kiểm lâm địa phương cấp; biên bản kiểm tra lâm sản đối với mặt hàng da trăn xuất khẩu và Giấy xác nhận số lượng da trăn được giết mổ có nguồn gốc từ gây nuôi sinh sản do Chi cục Kiểm lâm địa phương xác nhận mỗi lần làm thủ tục xuất khẩu…
Đặc biệt, Bộ Tài chính yêu cầu trong hồ sơ phải có 1 bản chính giấy phép CITES do Cơ quan quản lý CITES Việt Nam cấp theo quy định tại Nghị định số 82/2006/NĐ-CP về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Theo dự thảo, người nộp thuế phải tự tính, khai số tiền thuế được miễn cho từng tờ khai hải quan như đối với trường hợp phải nộp thuế. Cơ quan hải quan căn cứ hồ sơ miễn thuế, số tiền thuế đề nghị miễn, đối chiếu với các quy định hiện hành để làm thủ tục miễn thuế cho từng tờ khai hải quan theo quy định.
Trường hợp cơ quan hải quan kiểm tra, xác định hàng hoá xuất khẩu không thuộc đối tượng miễn thuế như khai báo thì thực hiện thu thuế xuất khẩu theo mức thuế xuất khẩu quy định và xử phạt vi phạm (nếu có) theo quy định. (Thiên Nhiên 24/6)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
24-6, Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) tại Việt Nam đã kêu gọi tất cả nhân viên cam kết không tiêu thụ động vật hoang dã đồng thời báo cáo các tội phạm liên quan. Đây là hành động nằm trong chiến dịch của tổ chức bảo tồn tự nhiên mang tên “Giáo dục vì thiên nhiên Việt Nam” (ENV) mà GIZ Việt Nam tham gia.
Ngay trong ngày phát động đầu tiên, đã có 159 nhân viên ghi trên thẻ cam kết nói không với việc tiêu thụ động vật hoang dã. Con số này tương ứng với hơn 50% tổng số nhân viên GIZ trên 40 tỉnh-thành tại Việt Nam. Chiến dịch tiếp tục được duy trì và GIZ hy vọng sẽ thu được nhiều thẻ cam kết hơn trong thời gian tới, cũng như nhân viên của GIZ sẽ nêu gương cho bạn bè và gia đình của họ trong việc bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam bằng cách từ chối các sản phẩm làm từ động vật hoang dã.
Bên cạnh đó, GIZ đã tham gia cùng một số cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức khác trên khắp Việt Nam trong khuôn khổ chương trình Khu vực an toàn cho động vật hoang dã của ENV nhằm nâng cao nhận thức về các mối đe dọa của động vật hoang dã tại Việt Nam. Các thành viên tiêu biểu của chương trình là Đại sứ quán Mỹ, nhóm đầu tư Việt Nam Dragon Capital và Ngân hàng Standard Chartered.
Đường dây nóng miễn phí toàn quốc của ENV (1800 1522) cho phép bất kỳ người nào đều có thể gọi đến để báo cáo các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã mà không cần để lại danh tính, như việc phát hiện các hoạt động chào bán động vật hoang dã hoặc sản phẩm làm từ động vật hoang dã trong các nhà hàng, các khu chợ hoặc khách sạn.
Là nơi sinh sống của hơn 11.000 loài động vật, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đa dạng sinh học nhất thế giới. Ngày nay, nhu cầu về động vật hoang dã và các sản phẩm làm từ động vật hoang dã đang đe dọa sự sống còn của muôn loài, khi rất nhiều loài động vật bị buôn bán đang có nguy cơ tuyệt chủng. (Hà Nội Mới 24/6)đầu trang(
Mũi Cà Mau là địa danh ở cực Nam của Tổ quốc, nơi được ghi nhận là vị trí quan trọng trong thư mục các vùng đất ngập nước của các nước Đông Nam Á và nhiều tư liệu bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường của thế giới.
Các đặc điểm của hệ sinh thái đất ngập nước nơi đây tiêu biểu cho vùng sinh thái ven biển, nên trở thành điểm du lịch và tham quan lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước.
Trước những giá trị nổi bật mà thiên nhiên ban tặng, ngày 26/5/2009, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được Ủy ban UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới, tiếp đó ngày 13/4 vừa qua, Vườn quốc gia này vinh dự đón nhận là Khu Ramsar thứ 5 của Việt Nam và là Khu Ramsar thứ 2.088 của Thế giới.
Hệ động, thực vật rừng Vườn quốc gia Mũi Cà Mau tuy không đa dạng về loài, nhưng do vị trí địa lý và đặc điểm riêng biệt về rừng đã tạo cho nơi đây một giá trị khoa học và sinh thái tiêu biểu. Hệ thực vật ở đây có 27 loài cây ngập mặn với quần thể gồm rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa cây đước, vẹt và rừng mắm; trong đó có 2 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam là đước đôi và quao nước.
Còn hệ động vật tiêu biểu là lớp chim với 93 loài, thuộc 33 họ và 9 bộ; có 11 loài chim quý hiếm, 7 loài đang bị đe dọa cấp quốc gia, 7 loài bị đe dọa cấp toàn cầu và 1 loài được nêu trong Nghị định 32 của Chính phủ. Đây là nguồn gen quý hiếm đang được ưu tiên bảo tồn. Khu hệ thú có 26 loài thuộc 11 họ và 8 bộ, trong đó có 11 loài thuộc diện quý hiếm, có 6 loài đang bị đe dọa cấp toàn cầu...
Đặc biệt, hai loài thú có trong sách đỏ IUCN là 2 loài linh trưởng (khỉ đuôi dài và cà khu). Lưỡng cư và bò sát đã phát hiện 43 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ; có 16 loài đang bị đe dọa, trong đó 13 loài bị đe dọa cấp quốc gia và 6 loài bị đe dọa cấp toàn cầu; 9 loài bò sát có tên trong Nghị định 32 của Chính phủ và 9 loài lưỡng cư thuộc 5 họ và 2 bộ, có 1 loài lưỡng cư cũng bị đe dọa diệt vong cấp quốc gia.
Về thủy sản đã xác định được 139 loài cá, thuộc 21 bộ, 55 họ, 89 giống với nhiều loài quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Hiện đã xác định được 53 loài thân mềm thuộc 9 bộ, 28 họ và 8 giống. Đáng lưu ý là các loài cá ngựa đen; cá cháo lớn thuộc họ cá cháo, bộ cá cháo biển là loài sống ven bờ và cửa sông đang có nguy cơ tuyệt chủng. Cũng như cá mòi không răng và sam ba gai đuôi số lượng giảm mạnh. Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu về các đối tượng này nhằm đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp.
Mục tiêu đặt ra cho Vườn quốc gia Mũi Cà Mau trước hết là bảo tồn lâu dài mẫu chuẩn sinh thái có tầm quan trọng quốc gia, khu vực và thế giới trên cơ sở các giải pháp khoa học, kinh tế và xã hội, để bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước vùng Đất Mũi đa dạng trong quá trình biến đổi của tự nhiên.
Mặt khác, Vườn quốc gia còn phục vụ các hoạt động tham quan, du lịch sinh thái và hợp tác quốc tế, xây dựng và thực nghiệm các mô hình bảo tồn và sử dựng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn, phát huy giá trị và chức năng kinh tế của hệ sinh thái đất ngập nước. Bảo vệ đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn, nơi cư trú của các loài sinh vật vùng ven biển, cung cấp dinh dưỡng cho các loài thủy sản, hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất ở vùng ven biển nơi đây.
Theo đó, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã chủ động tổ chức và phối hợp với chính quyền địa phương, các sở, ban, ngành có liên quan, dự án của các tổ chức quốc tế và trong nước thực hiện nhiều cuộc tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư sống ven địa bàn quản lý của Vườn quốc gia, về các văn bản pháp quy của Nhà nước, phổ biến pháp luật và thi hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, biển. Nhất là đối với đối tượng là học sinh về vấn đề quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn đất ngập nước...
Cho đến nay, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã thành lập được 12 trạm bảo vệ và tổ cơ động thường xuyên tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng và biển; phối hợp với địa phương vận động tuyên truyền nhân dân tham gia bảo vệ, phát hiện kịp thời và xử lý các vụ việc vi phạm; xúc tiến xây dựng “cơ chế đồng quản lý” dựa vào cộng đồng trên cơ sở thực tiễn của địa phương; tham mưu cho chính quyền địa phương sử dụng hợp lý một số tài nguyên đất ngập nước và giúp người dân sở tại cùng tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái của Vườn quốc gia.
Song điều cấp thiết nhất hiện này là cần phải tiến hành nghiên cứu tài nguyên động, thực vật rừng; xây dựng kế hoạch kiểm kê, giám sát đa dạng sinh học, giám sát đất ngập nước và xuất bản Sách hướng dẫn thực địa nhận dạng thú, chim, bò sát, ếch nhái và cá; nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ của Vườn quốc gia. Đặc biệt là xây dựng Đề án quy hoạch cho Vườn quốc gia Mũi Cà Mau giai đoạn 2012-2016 và tầm nhìn đến năm 2030. (VietnamPlus.vn 24/6)đầu trang(
Hiện nay, toàn tỉnh có trên 240 nghìn ha rừng tự nhiên, nếu làm tốt công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng thì đây sẽ là nguồn lợi khổng lồ có nhiều giá trị về kinh tế, xã hội, môi trường và nghiên cứu khoa học...
Suối Lông, Suối Mỷ là hai thôn đặc biệt khó khăn của xã vùng III Hữu Lân, huyện Lộc Bình. Tại các địa phương này còn khá nhiều các cánh rừng tự nhiên nhưng theo điều tra, khảo sát của các đơn vị chuyên môn cách đây dăm năm thì những khu rừng này hầu hết là rừng trung bình, thậm chí là nghèo kiệt. Năm 2006, Hữu Lân được chọn để triển khai dự án lâm nghiệp cộng đồng, dự án này do quỹ ủy thác ngành lâm nghiệp (TFF) hỗ trợ thực hiện, trong đó triển khai trực tiếp tại cộng đồng 2 thôn Suối Lông và Suối Mỷ.
Mục tiêu của dự án là tạo điều kiện thúc đẩy sự tham gia tích cực của các cộng đồng địa phương vào việc quản lý tài nguyên rừng tự nhiên bền vững về mặt sinh thái. Trong giai đoạn đầu, dự án tập trung vào hỗ trợ, tuyên truyền nâng cao nhận thức và kiến thức về bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên cho người dân để thiết lập mô hình. Kết quả sau gần 3 năm triển khai thực hiện, giai đoạn I của dự án lâm nghiệp cộng đồng đã triển khai được hàng chục cuộc tập huấn, tuyên truyền cho hàng trăm lượt người dân tham gia.
Trước đây vốn là khuyến nông viên cơ sở, anh Nguyễn Văn Uyên, Chủ tịch Hội Nông dân xã Hữu Lân rành rọt: Khi ấy, tôi là tổ viên tổ Lâm nghiệp cộng đồng của xã, cùng đi khảo sát thực trạng rừng và trực tiếp chuyển giao các nội dung dự án cho người dân. Rất khó có thể định lượng những kết quả đạt được nhưng theo khảo sát, đánh giá của ngành chuyên môn thì từ rừng nghèo, rừng trung bình, sau khi triển khai dự án, rừng Suối Lông, Suối Mỷ đã dần chuyển thành rừng giàu với hàng chục loài cây được bảo vệ, tái sinh. Và điều mà người dân Suối Lông, Suối Mỷ dễ nhận thấy nhất là sau khi kết thúc giai đoạn I của dự án, những nguồn sinh thủy trước kia gần như cạn kiệt thì nay trở lại dồi dào.
Bà Nguyễn Thúy Minh, điều phối viên dự án lâm nghiệp cộng đồng cho biết: Ngoài xã Hữu Lân, giai đoạn I của dự án lâm nghiệp cộng đồng cũng đồng thời triển khai ở 2 thôn Noóc Mò và Nà Mìu của xã Mẫu Sơn (Lộc Bình) và hiệu quả đạt được cũng rất khả quan. Trong đó quan trọng nhất là bước đầu hình thành cho cộng đồng các thôn trong dự án ý thức bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên và cụ thể hóa bằng việc xây dựng quy ước, hương ước thôn bản về quản lý, bảo vệ rừng.
Năm 2009, giai đoạn I kết thúc, đến năm 2012, dự án lâm nghiệp cộng đồng giai đoạn II đã tiếp tục khởi động. Dựa trên nền tảng của giai đoạn I, giai đoạn này được coi là giai đoạn tăng cường và tiếp tục triển khai thực hiện ở 4 thôn trên địa bàn xã Mẫu Sơn, Hữu Lân. Ông Hoàng Quang Chinh, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, Trưởng Ban quản lý dự án cho biết: Mục tiêu của giai đoạn II là đánh giá cụ thể và củng cố hiệu quả hoạt động của các mô hình lâm nghiệp cộng đồng trong giai đoạn I... đồng thời hình thành các mô hình kinh tế dưới tán rừng.
Đến thời điểm này đã có 143 hộ gia đình tham gia vào dự án với diện tích triển khai là trên 500ha. Từ khi khởi động giai đoạn II đến nay, ngoài công tác tập huấn, tuyên truyền, Ban quản lý dự án đã khảo sát và tiến hành hỗ trợ nhân dân xây dựng các mô hình kinh tế. Qua khảo sát, mô hình được chọn là trồng ba kích và chanh rừng dưới tán rừng tự nhiên. Ông Hoàng Quang Chinh cho biết: Thời điểm này công tác chuẩn bị đã cơ bản hoàn tất, sẵn sàng khởi động mô hình, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ và phát triển vốn rừng là một trong những mục tiêu rất quan trọng mà dự án hướng tới.
Thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh có khá nhiều địa phương triển khai tốt công tác bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, ví dụ điển hình như việc hình thành các tổ, đổi tự quản bảo vệ rừng tại thôn Đông Đằng, xã Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn. Kết quả là rừng nguyên sinh Đông Đằng vẫn tiếp tục được bảo vệ với quy mô hơn 13ha cùng hàng chục loại cây gỗ quý hiếm cổ thụ.
Theo thống kê, hiện nay toàn tỉnh có trên 240 nghìn ha rừng tự nhiên, nếu mô hình lâm nghiệp cộng đồng có thể nhận rộng thì diện tích này sẽ được bảo vệ và đây sẽ là nguồn lợi khổng lồ có ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội, môi trường, khoa học. (Báo Lang Sơn 22/6)đầu trang(
Ngày 23/6, ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, cho biết vừa thả 106 cá thể động vật hoang dã các loại vào Vườn Quốc gia U Minh Hạ gồm còng cọc, quốc, trích ré, trích cồ, cúm núm và cu ngói.
Số chim này do Đội kiểm lâm cơ động- phòng cháy chữa cháy rừng số 1 phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Cà Mau phát hiện và tịch thu của 3 hộ mua bán trái phép ở xã Hồ Thị Kỷ. (Tiền Phong 24/6)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ trưa 24-6, vùng biển Nha Trang (Khánh Hòa) xuất hiện lớp khói mờ giống sương mù khiến tầm nhìn bị hạn chế.
Đám khói mờ này tiếp tục lan tỏa và đến 16g chiều cùng ngày, khu vực ven biển và nhiều nơi khác trong TP Nha Trang cũng có hiện tượng trên. Đứng tại quảng trường 2-4 không thể nhìn thấy được các đảo Trí Nguyên, Hòn Tre… dù trời trong xanh.
Ông Võ Anh Kiệt - phó giám đốc Đài khí tượng thủy văn Nam Trung bộ - cho hay đài không ghi nhận tình hình thời tiết bất thường nào ở Nha Trang thời điểm xảy ra hiện tượng trên.
“Chúng tôi cũng quan sát thấy có hiện tượng giống sương mù xảy ra ở Nha Trang. Tuy nhiên, theo các cán bộ chuyên môn, ngày hôm qua tại khu vực biển Trường Sa và biển Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) cũng xảy ra hiện tượng tương tự do khói cháy rừng từ Indonesia lan sang. Có thể việc chiều 24-6, TP Nha Trang xuất hiện hiện tượng này là do khói của đám cháy rừng từ Indonesia” - ông Kiệt nhận định. (Tuổi Trẻ 25/6)đầu trang(
Phó giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (Thanh Hóa) Nguyễn Phương Đông cho biết: Gần đây cán bộ, hệ thống quan sát, nhân dân địa phương ghi nhận có nhiều loài động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam như bò tót, gấu chó, gấu ngựa, gà lôi, gà tiền xuất hiện trong thảm thực vật ở Pù Hu.
Kết quả khảo sát cho thấy, tại vùng lõi của khu bảo tồn xuất hiện dấu chân, phân của bò tót - một loài động vật đặc hữu. Trên các thân cây trong rừng Pù Hu thuộc địa bàn xã Trung Lý (huyện Mường Lát) và các xã Trung Sơn, Hiền Chung (huyện Quan Hóa), cán bộ kiểm lâm ghi nhận có dấu móng vuốt của gấu chó, gấu ngựa.
Đồng bào dân tộc Mông, Thái ở các xã trên khẳng định nhìn thấy các loài động vật này xuống bẻ ngô của đồng bào trồng trên đồi tại vùng đệm khu bảo tồn để ăn. Trong lúc tuần tra rừng, cán bộ kiểm lâm còn ghi nhận nhiều đàn gà lôi, gà tiền cùng các loài động vật hoang dã khác như lợn rừng, nai, hoẵng, khỉ cũng xuất hiện.
Cơ quan chuyên môn lý giải, nguyên nhân có nhiều loài động vật quý hiếm, hoang dã xuất hiện ngày càng nhiều tại rừng Pù Hu là do tình hình an ninh rừng ở đây được giữ vững. Tình trạng khai thác rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn trái phép đã được ngăn chặn có hiệu quả và tập quán săn bắn động vật hoang dã dần xóa bỏ.
Nhiều năm qua, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu đã vận động đồng bào địa phương giao nộp hơn 300 khẩu súng săn, chuyển cho cơ quan chức năng xử lý. (Nhân Dân 24/6)đầu trang(
Với sự hỗ trợ của Nhật Bản cho các dự án trồng rừng ở Bắc Kạn, người dân sẽ được hưởng lợi nhuận 100% khi tham gia.
Khu đồi của nhà anh Vũ Mạnh Tuân, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn có diện tích hơn 10ha. Tuy nhiên, đã hàng chục năm nay toàn bộ diện tích này không được canh tác. Nguyên nhân là bởi gia đình anh vẫn chưa tìm được loại cây nào thích hợp, mang lại hiệu quả kinh tế.
“Khu đồi nhà tôi bỏ hoang hàng chục năm nay rồi vì trồng cây gì cũng không phát triển được”, anh Tuân nói.
Kể từ năm nay, diện tích bỏ hoang này của gia đình anh Tuân và gần 500 ha đất trống đồi trọc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn sẽ được tiến hành trồng rừng phủ xanh. Toàn bộ tiền giống cây trồng, hỗ trợ kĩ thuật và một phần tiền phân bón, chi phí chăm sóc sẽ được hỗ trợ miễn phí bởi nhà tài trợ Nhật Bản. Điểm đặc biệt là các hộ dân tham gia dự án sẽ được hưởng lợi 100% từ việc bán sản phẩm gỗ sau khi thu hoạch.
Ông Masayuki Igarashi, đại diện nhà tài trợ Nhật Bản cho biết: “Kế hoạch lâu dài của chúng tôi là chung tay gìn giữ màu xanh Việt Nam. Chúng tôi không muốn dự án chỉ dừng lại ở việc trồng rừng lần này, mà muốn sau này người dân có thể tiếp tục việc trồng và chăm sóc rừng lâu dài. Vì thế, dự án dành toàn bộ lợi nhuận cho người dân địa phương, để họ tiếp tục triển khai trồng rừng”.
Sau 8 năm nữa, dự án trồng rừng các địa phương Bắc Kạn sẽ bước vào thời gian thu hoạch. Và theo dự kiến, số tiền lợi nhuận thu được từ những vùng đất vốn được đánh giá là “đất trồng đội trọc” vào khoảng 50 tỷ đồng. (VTV 25/6)đầu trang(
Trong tháng 6/2013 (thời điểm mùa mưa ở khu vực Tây Nguyên), Công ty TNHH một thành viên Innovgreen Kon Tum đã triển khai trồng mới gần 400ha rừng nguyên liệu giấy tại các tiểu khu 152, 153 thuộc địa phận xã Đắk Ang, huyện biên giới Ngọc Hồi.
Trước đó, trong năm 2012, để phát triển vùng nguyên liệu giấy, UBND tỉnh Kon Tum đã phê duyệt Quy hoạch trồng rừng nguyên liệu giấy phục vụ Nhà máy Bột giấy và giấy Tân Mai - Kon Tum, với diện tích quy hoạch là 74.550ha. Trong đó, trồng rừng tập trung là 66.310ha, trồng rừng phân tán là 8.240ha. (Thanh Tra 24/6)đầu trang(
Theo Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát, vụ trồng rừng Thu Đông 2013, huyện có kế hoạch trồng 300 ha rừng kinh tế theo Dự án trồng rừng WB3 do Ngân hàng Thế giới cho vay ưu đãi. Tuy nhiên, đến nay, các xã tham gia dự án chỉ mới chuẩn bị được 140 ha đất để trồng rừng, trong khi quỹ đất trồng rừng đã hết nên khả năng việc triển khai trồng rừng không đạt kế hoạch.
Được biết, từ năm 2005 đến nay, huyện Phù Cát đã trồng được 3.781 ha rừng nguyên liệu giấy theo Dự án trồng rừng WB3, có 2.507 hộ gia đình tham gia. Qua đó, Ngân hàng Thế giới đã giải ngân cho vay với tổng số tiền 41,149 tỉ đồng; mỗi ha rừng trồng nông dân được vay từ 10-15 triệu đồng, thời gian vay 15 năm, mức lãi suất 0,65%/tháng. (Nông Thôn Ngày Nay 25/6)đầu trang(
UBND TP vừa ban hành Chỉ thị số 10/CT-UBND về việc tăng cường biện pháp quản lý cây giống lâm nghiệp và quản lý khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh lâm sản.
Theo đó, Sở NNPTNT, thủ trưởng các sở, cơ quan, ban, ngành và chủ tịch UBND các quận - huyện phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền vận động sâu rộng để người dân nhận thức được tầm quan trọng trong công tác quản lý cây giống lâm nghiệp và quản lý khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh lâm sản.
Sở NNPTNT chủ trì, phối hợp với Chi cục Kiểm lâm xây dựng kế hoạch và quy chế phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường, Chi cục Quản lý thị trường, Cục Hải quan, Cảng Cái Cui... tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các cơ sở chế biến, cửa hàng kinh doanh cây giống lâm nghiệp, gỗ - lâm sản; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý cây giống lâm nghiệp và quản lý, khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh lâm sản; đồng thời theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chỉ thị này... (Lao Động 24/6)đầu trang(
Sau 3 năm thực hiện Đề án Phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2011 - 2015, toàn tỉnh đã trồng được 14.966 ha rừng, trong đó có 1.893 ha rừng phòng hộ, 13.073 ha rừng sản xuất và 2.605 ha rừng sau khai thác; khoanh nuôi tái sinh rừng được 2.600 ha, góp phần nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên 52,14%.
Phần lớn diện tích trồng rừng sản xuất được thực hiện theo hướng thâm canh, đồng thời có sự chỉ đạo hợp lý thời vụ trồng cũng như nguồn giống, có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ, vì vậy năng suất và giá trị của rừng trên một đơn vị diện tích tăng lên. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đã được tổ chức hiệu quả, chặt chẽ và từng bước đi vào nền nếp.
Việc bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng đã được chỉ đạo quyết liệt bằng các giải pháp cụ thể, sát với thực tiễn, nên số vụ cháy rừng giảm rõ rệt. Tổ chức tốt việc rà soát, kiểm tra toàn bộ các cơ sở chế biến lâm sản trên toàn tỉnh để đề ra các biện pháp quản lý chặt chẽ về vùng nguyên liệu cũng như tiêu thụ sản phẩm lâm sản.
Công tác xã hội hóa nghề rừng được đẩy mạnh, bước đầu đã thu hút các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, sản xuất lâm nghiệp. Từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung theo hướng chuyên canh, phát triển rừng nguyên liệu gắn với quy hoạch các cơ sở chế biến. Các nhà máy chế biến đang được đầu tư với công nghệ tiên tiến, nâng cao giá trị của sản phẩm lâm nghiệp. Tài nguyên rừng được bảo vệ, các nguồn gen quý hiếm và đặc hữu của tỉnh được bảo tồn và phát triển. Hệ thống tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp từ tỉnh xuống cơ sở được kiện toàn.
Tuy nhiên, kinh tế lâm nghiệp vẫn còn những vấn đề cần quan tâm, đó là diện tích rừng tuy có tăng, nhưng chất lượng của rừng không cao, chưa tạo thành vùng nguyên liệu đủ lớn có cơ cấu loài cây phù hợp với công nghệ chế biến. Công tác quản lý giống tuy đã đi vào nền nếp nhưng chưa có những loài cây năng suất, giá trị kinh tế cao. Công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp ở địa phương chưa chặt chẽ, còn xảy ra việc lấn chiếm, tranh chấp, sử dụng chưa đúng mục đích, chưa theo quy hoạch.
Việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình còn chồng chéo, diện tích giao manh mún, nhỏ lẻ. Công tác bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện, tuy nhiên, các vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép chưa giảm. Tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương như Sa Pa, Bát Xát, Văn Bàn, thành phố Lào Cai. Một số doanh nghiệp chưa tích cực triển khai thực hiện, hoặc thực hiện rất chậm việc phát triển vùng nguyên liệu như: Công ty Cổ phần Giấy An Hoà (Tuyên Quang), Công ty trách nhiệm hữu hạn Toàn Thắng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Á...
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của đề án, trong thời gian tới cần thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, nắm chắc hiện trạng tài nguyên rừng để bổ sung rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng cho phù hợp. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, ổn định, đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến lâm sản.
Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng rừng như: Phát triển vùng nguyên liệu tập trung theo hướng chuyên canh; bố trí các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện của địa phương và nhu cầu của thị trường lâm sản. Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh thực hiện giải pháp khoanh nuôi tái sinh rừng đối với vùng cao, vùng quy hoạch cho rừng phòng hộ… (Báo Lào Cai 22/6)đầu trang(
Nhằm bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng, Hà Nội đã Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Hương Sơn (Hà Nội) đến năm 2020.
Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn Nguyễn Duy Giáp nói: Việc lập quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững khu rừng đặc dụng Hương Sơn đến năm 2020 là rất cần thiết. Rừng là vàng, rừng là máu thịt, nếu chúng ta biết giữ gìn, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái của rừng.
Hiện nay, để bảo vệ rừng cũng như khai thác hợp lý nguồn lợi từ rừng đem lại, nhất là Việt Nam đang phải ứng phó với hiện tượng trái đất nóng lên (biến đổi khí hậu), công tác bảo vệ rừng ngày càng được đặc biệt quan tâm. Năm 2008, chỉ trong 6 tháng đầu năm thiên tai đã gây thiệt hại 814 tỷ đồng. Riêng trận lụt lịch sử tháng 11, cả Hà Nội ngập chìm trong biển nước, thiệt hại vật chất hơn 3.000 tỷ đồng và 20 người chết.
Rừng đặc dụng Hương Sơn là bảo tàng đa dạng về cuộc sống, có núi, hồ, hang động cùng cả rừng cây, rừng thú. Quy hoạch với vùng chính 4.355ha và 1.191ha vùng đệm, hệ thực vật rừng đặc dụng Hương Sơn có 185 họ, 577 chi, 873 loài; trong đó có 25 loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ. Hệ động vật của rừng có 288 loại thuộc 84 họ, 26 bộ; trong đó có 40 loài động vật quý hiếm có giá trị kinh tế cao và một loài mới phát hiện trong năm 2011.
Làm sao để rừng Hương Sơn luôn giữ được những giá trị vốn có - đây là bài toán khó đối với Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn trong suốt những năm qua. Vì vậy, nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, quản lý lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường cũng như công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đặt ra khá nặng nề đối với Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn.
Trước thực trạng đó, Ban Quản lý đã phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền địa phương có rừng, thường xuyên làm công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển bền vững rừng. Ngoài ra, Ban Quản lý còn thành lập 14 tổ công tác quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên trách, đồng thời làm tốt nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, canh coi, bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng và là lực lượng chính trong phòng cháy chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng.
Ngoài chức năng bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, bảo vệ môi trường cho Thủ đô Hà Nội, rừng đặc dụng Hương Sơn còn có tác dụng phòng hộ, bảo tồn cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ hiếm có, mang lại hiệu quả kinh tế thông qua các hoạt động phát triển rừng và du lịch sinh thái, trong đó du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. (Công An Nhân Dân 24/6)đầu trang(
Để đảm bảo các quy định về nuôi động vật hoang dã (ĐVHD), Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa đã triển khai nhiều biện pháp quản lý.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 204 cơ sở gây nuôi ĐVHD đã được cấp giấy chứng nhận với hơn 26.900 cá thể các loại. Trong đó, 17 cơ sở nuôi 22.970 cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm; 182 cơ sở nuôi 3.917 cá thể ĐVHD thông thường và một số cơ sở nuôi các loại ĐVHD khác. Các loài được nuôi chủ yếu gồm: gấu, khỉ, rắn, cá sấu nước ngọt, nhím, heo rừng, hươu sao...
Ngoài 3 trại nuôi của Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú, Khu du lịch và giải trí Nha Trang, Công viên Du lịch Yang Bay nuôi ĐVHD để phục vụ khách du lịch thì 201 cơ sở còn lại đều nuôi ĐVHD với mục đích thương mại. Hiện nay, số ĐVHD được các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nuôi chiếm hơn 80% tổng đàn. Các hộ gia đình và cá nhân chủ yếu nuôi theo phong trào, số lượng cá thể ĐVHD của mỗi gia đình không nhiều.
Theo ông Lê Thanh Hóa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, sở dĩ thời gian gần đây, hoạt động gây nuôi các loài ĐVHD ở hộ gia đình và cá nhân giảm nhiều so với trước là do vốn đầu tư rất lớn; trong khi đó, giá cả đầu ra của một số loài ĐVHD xuống thấp, nhất là nhím, heo rừng...
Việc gây nuôi sinh sản ĐVHD là một trong những biện pháp để bảo tồn nguồn gen, hạn chế khai thác từ tự nhiên, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế, tạo việc làm cho nhiều lao động. Tuy nhiên, nếu quản lý không tốt sẽ rất dễ xảy ra tình trạng các đối tượng xấu lợi dụng để buôn bán ĐVHD trái phép. Đối với các cơ sở gây nuôi ĐVHD hung dữ, nếu không đảm bảo được các yếu tố an toàn về chuồng trại thì rất dễ gây nguy hiểm tới tính mạng con người...
Một vấn đề khác được ngành Kiểm lâm tỉnh quan tâm là việc phòng ngừa dịch bệnh cho ĐVHD nuôi tại các cơ sở. Hiện nay, công tác này gặp không ít khó khăn do chưa có quy định cụ thể, việc phòng, chống dịch bệnh trong chăn nuôi các loài ĐVHD chưa có sự quản lý của cơ quan Thú y.
Qua kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay, chỉ có các trại nuôi ĐVHD của các đơn vị thành viên Tổng Công ty Khánh Việt và cơ sở nuôi ĐVHD của Khu du lịch và giải trí Nha Trang là có cán bộ thú y chuyên theo dõi tình hình dịch bệnh của thú nuôi; còn lại, kiến thức phòng, ngừa dịch bệnh các loài ĐVHD ở các cơ sở nuôi ĐVHD thuộc phạm vi quản lý của hộ gia đình, cá nhân rất hạn chế.
Để quản lý tốt các cơ sở nuôi nhốt ĐVHD, Chi cục Kiểm lâm tỉnh chỉ đạo Hạt Kiểm lâm các địa phương phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, cơ sở, ngành chức năng nắm chắc tình hình gây nuôi ĐVHD trên địa bàn, thẩm định các điều kiện gây nuôi trước khi cấp giấy đăng ký trại nuôi. Bên cạnh đó, Chi cục kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để đưa hoạt động gây nuôi ĐVHD đi vào nề nếp.
Ông Trần Minh Thu - Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, đến nay, Chi cục đã cấp 100% sổ theo dõi khai báo xuất nhập ĐVHD đến từng tổ chức, cá nhân, hộ nuôi ĐVHD; kiểm tra định kỳ về điều kiện chuồng trại an toàn cho người và vật nuôi nhốt, công tác vệ sinh môi trường, kỹ thuật chăm sóc, ngăn ngừa dịch bệnh, việc ghi chép sổ sách theo dõi đàn ĐVHD nuôi; xử lý nghiêm những trường hợp mua ĐVHD không có nguồn gốc hợp pháp đưa vào nhập đàn.
Bên cạnh đó, Chi cục còn tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý, bảo vệ ĐVHD cho cán bộ, công chức kiểm lâm, cán bộ, công chức ở các cơ quan chức năng, nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân tham gia nuôi ĐVHD theo quy định của pháp luật. (Báo Khánh Hòa 25/6)đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm thuộc Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, tỉnh hiện có 700 hộ dân nuôi trăn với số lượng gần 20.000 con; trong đó có gần 100 hộ nuôi trăn đẻ, trăn mẹ có trọng lượng từ 70- 100 kg/con.
So với cách đây 10 năm, con số này đã giảm đi 2/3. Nguyên nhân nghề nuôi trăn giảm mạnh là do không có đầu ra ổn định, giá cả xuống thấp, trong khi vốn đầu tư rất lớn. Hiện nay, trăn không có thị trường tiêu thụ. Gía trăn thương phẩm hiện nay là 30.000 đồng/kg nhưng hiếm người mua. Trăn con giá 20.000 đồng/con vẫn ế ẩm.
Ông Huỳnh Biên Cương, một cán bộ nghỉ hưu ở đường Nguyễn Trãi thành phố Cà Mau cho biết, ông có kinh nghiệm hơn 10 năm nuôi đàn trăn gần 100 con, trong đó có 20 con trăn đẻ. Thời điểm từ năm 1990 đến năm 2005, trăn con giá 100.000 đồng/con. Trăn thương phẩm giá 120.000 đồng/kg. Nhiều thương lái khắp nơi đổ về Cà Mau mua trăn xuất khẩu, nhiều người thi nhau nuôi trăn. Nhiều hộ nhờ nuôi trăn mà khá giả. Nuôi trăn trở thành nghề nuôi phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Có người vay ngân hàng hàng trăm triệu đồng để đầu tư nuôi trăn. Gia đình ông cũng vay ngân hàng 50 triệu đồng để đầu tư nay đã quá hạn nhưng không có khả năng trả. Cà Mau có không ít trường hợp nuôi trăn rơi vào hoàn cảnh này.
Qua sự việc một số cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp hiện nay không có thị trường tiêu thụ cho thấy đã đặt ra cho người nông dân nhiều bất lợi. Để khắc phục tình trạng này thiết nghĩ cơ quan chức năng cần làm tốt chức năng khuyến nông khuyến ngư. Đặc biệt khuyến cáo bà con nông dân dù trồng cây gì, nuôi con gì cũng phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch. Nếu cứ tiếp tục nuôi trồng theo kiểu tự phát như hiện nay thì thiệt thòi trước hết vẫn thuộc bà con nông dân. (Công An Nhân Dân 24/6)đầu trang(
Công ty Honda Việt Nam phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bắc Kạn triển khai dự án Trồng rừng sản xuất tại hai xã Nông Thượng và Xuất Hóa của thị xã Bắc Kạn, trong giai đoạn 2013-2020.
Với tư cách là nhà tài trợ duy nhất, Honda Việt Nam sẽ hỗ trợ 4,9 tỷ đồng cho dự án, tập trung vào các hoạt động như xây dựng dự án, đào tạo kỹ thuật trồng rừng mới cho cán bộ khuyến nông, khuyến lâm và người dân địa phương, 1mua giống cây trồng chất lượng cao, hỗ trợ nhân công chăm sóc và phân bón.
Dự án trồng rừng sản xuất tại thị xã Bắc Kạn, có tổng vốn đầu tư 17 tỷ đồng, là dự án do Sở Nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn xây dựng dưới sự tư vấn kỹ thuật của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA) và sự hướng dẫn về chuyên môn của Đại học Lâm nghiệp.
Tổng thời gian của dự án là tám năm, trong đó hoạt động chủ yếu bốn năm đầu (từ 2013 – 2016) là phủ xanh 490ha rừng phòng hộ tại hai xã Nông Thượng, Xuất Hóa. Những năm tiếp theo, dự án sẽ bước vào giai đoạn chăm sóc, tỉa thưa, bảo vệ cây trồng và khai thác từ năm 2020.
Hai loài cây chính của dự án là cây mỡ và keo tai tượng, hai loài cây được nghiên cứu là phù hợp với tính chất của đất ở Bắc Kạn, chịu được khí hậu nơi đây và mang lại lợi ích kinh tế cao. Trong đó cây mỡ là cây trồng chính – 380 ha và cây keo tai tượng là 110 ha.
Trong khuôn khổ của dự án, sẽ có khoảng 350 hộ dân của hai xã trên tham gia trực tiếp vào dự án bằng việc ký hợp đồng trồng rừng, bảo vệ, chăm sóc và khai thác cây trồng.
Sau tám năm triển khai, ước tính dự án sẽ thu được 73.500m3 gỗ mang lại lợi nhuận khoảng 50 tỷ đồng. Điểm đặc biệt là các hộ dân tham gia dự án sẽ được hưởng lợi 100% từ việc bán sản phẩm gỗ sau khi thu hoạch, trực tiếp nâng cao đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương. (VietnamPlus.vn 24/6)đầu trang(
Các ý kiến về hai dự án thuỷ điện ĐN 6 và 6A hiện không đồng nhất, thậm chí đối lập và báo Lao Động rất mong muốn làm cầu nối giữa các bên và cùng với “trọng tài” là Bộ TNMT để có thể sớm đưa ra phán quyết cuối cùng về số phận của dự án thuỷ điện gây ra quá nhiều tranh cãi này.
Chủ tịch HĐQT Cty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai: Rất mong được đối thoại với lãnh đạo Đồng Nai từ thực địa
Dự án thuỷ điện ĐN 6 và 6A được triển khai theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, được Thủ tướng phê chuẩn, ĐLGL đã mất hơn 7 năm để khảo sát, lập dự án đầu tư. Tuy vậy, không thể tránh những sai sót bước đầu nên khi dư luận quan ngại, ĐLGL đã thực hiện nhiều bước để làm rõ, khắc phục, bổ sung, hiệu chỉnh nội dung dự án.
Cụ thể, dự án đã qua nhiều lần rà soát... và đến nay, được xem là dự án giảm thiểu thấp nhất diện tích đất rừng bị ảnh hưởng (song hiệu quả kinh tế thuộc loại cao) so với hệ thống thủy điện cả nước; phương án kiến nghị và giải pháp thiết kế được hiệu chỉnh để giảm đến mức thấp nhất tác động môi trường sông Đồng Nai và VQG Cát Tiên.
Tôi khẳng định và cam kết rằng khi có các thủy điện ĐN 6 và ĐN 6A thì chế độ dòng chảy sông Đồng Nai sau khi đã qua các thủy điện bậc trên sẽ được điều hòa, cải thiện tốt hơn cho hạ du và khu Bàu Sấu so với trường hợp không có các thủy điện này.
Đến nay, dự án đã được sự đồng tình của 8 bộ và UBND các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Bình Phước. Tập đoàn Điện lực, VQG Cát Tiên cũng đã có ý kiến, thẩm định, phê duyệt và đưa vào 5 quy hoạch. Thông tin dự án cũng được cung cấp công khai, minh bạch trong các cuộc họp của Chính phủ, các bộ, ngành, các địa phương và các cuộc hội thảo khoa học, các phương tiện truyền thông báo chí... Các hội thảo khoa học gần đây cũng chỉ ra rằng dự án không làm ảnh hưởng đến cuộc sống, văn hóa của người dân khu vực. Đồng thời, kết quả khảo sát còn cho thấy sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân với việc bảo tồn và bảo vệ môi trường.
Gần đây nhất (24.4.2013), sau chuyến đi thực địa của đoàn giám sát thuộc Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội, cũng đã ghi nhận những thông tin tích cực về tính hiệu quả của TĐ ĐN 6 và 6A. Một số vướng mắc đã được điều chỉnh sau khi tách công trình thành 2 bậc TĐ ĐN 6 và 6A đã giúp tăng công suất và giảm tác động đến môi trường.
Ông Võ Đại Hải - Tổng Cục phó Tổng cục Lâm nghiệp - có mặt trong chuyến khảo sát đã khẳng định: Dự án không làm thay đổi tiêu chí, mục tiêu xác lập VQG Cát Tiên, nhất là khu ngập nước Bàu Sấu và khu phòng hộ Nam Cát Tiên.
Theo Chủ tịch HĐQT Cty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai: Thời gian qua, ĐLGL đã trực tiếp làm việc 2 lần và báo cáo với lãnh đạo UBND, HĐND, Đoàn ĐBQH và các sở, ngành tỉnh Đồng Nai vào tháng 8.2012 và tháng 4.2013, đã nhiều lần có văn bản giải trình và đăng ký làm việc chính thức với lãnh đạo tỉnh Đồng Nai - tỉnh ở vùng hạ du sông Đồng Nai và có phản ứng mạnh nhất trong việc xây dựng TĐ ĐN 6 và 6A. Tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh vẫn chưa đi thực tế hiện trường. Trong chuyến khảo sát thực địa của đoàn giám sát của Quốc hội, phía Đồng Nai cũng chỉ có các Phó Giám đốc sở tham dự.
Thực sự tôi rất tiếc và mong muốn trong thời gian tới đây, cùng với những chuyến đi thực tế của Bộ TNMT trước khi bộ này đưa ra quyết định về báo cáo tác động môi trường của ĐLGL về TĐ ĐN 6 và 6A, sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đồng Nai tại thực địa là rất quan trọng và cần thiết. Đương nhiên sẽ có sự tham gia của các nhà khoa học thuộc nhiều luồng ý kiến khác nhau và với công sức và tâm huyết đã theo đuổi đối với TĐ ĐN 6 và 6A, ĐLGL chúng tôi hết lòng cầu thị và sẵn sàng cho các cuộc đối thoại mang tính xây dựng giữa nhà đầu tư với lãnh đạo tỉnh Đồng Nai cùng các nhà khoa học và bộ, ngành liên quan...
Ông Trần Văn Tư - Chủ tịch HĐND, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai: Điện rất quý cho phát triển KT-XH của đất nước, tuy nhiên cũng không thể phát triển và đánh đổi bằng mọi giá, phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường thì mới bền vững. Hiện nay nếu tiếp tục triển khai các công trình thuỷ điện sẽ gây những tác động xấu cho dòng sông Đồng Nai, nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống của gần 20 triệu dân đang dùng nguồn nước của dòng sông này. Đề nghị trung ương nên quyết định không cho triển khai 2 dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A trên thượng nguồn sông Đồng Nai.
Ông Nguyễn Văn Sang - Chủ tịch UBND xã Phú Ngọc, H.Định Quán, tỉnh Đồng Nai: Phú Ngọc vốn là xã “khát” nước sạch nhiều năm nay do nguồn nước ngầm cạn kiệt. Hiện người dân vẫn trông chờ vào nguồn nước từ sông Đồng Nai phục vụ cho sản xuất các loại cây ăn trái và nước sinh hoạt hằng ngày. Toàn xã Phú Ngọc có tới 4.000 hộ dân nhưng chỉ lác đác vài hộ sử dụng nước giếng khoan còn đa phần phải mua nước và sử dụng nước từ sông Đồng Nai. Bởi vậy, khi thủy điện ĐN 6 và ĐN 6A được xây lên thì nguy cơ người dân phải đối mặt với tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn do thủy điện tích nước sẽ ảnh hưởng tới việc sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng hạ lưu.
Ông Trần Văn Tuấn (52 tuổi, ngụ xã La Ngà, H.Định Quán): Nước sông Đồng Nai là nguồn nước tôi sử dụng hằng ngày phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu 4ha xoài, do địa bàn xã La Ngà thiếu nước sạch. Tuy nhiên, sắp tới nếu thủy điện ĐN 6 và ĐN 6A được xây dựng lên thì gia đình không biết lấy nước ở đâu để sinh hoạt cũng như trồng trọt khi 2 nhà máy thủy điện này tích nước.
Chị Nguyễn Thị Tuyết Nhung, làng bè Thống Nhất, P.Thống Nhất, TP.Biên Hòa: Tôi chưa được phổ biến về 2 dự án thủy điện ĐN 6, 6A. Tuy nhiên, nếu xây dựng 2 dự án thủy điện đó thì cũng không ảnh hưởng tới việc nuôi trồng thủy sản của gia đình chị tại hạ lưu sông Đồng Nai, mà chỉ lo ngại xây dựng nhà máy xả thải và hóa chất từ thượng nguồn xuống hạ lưu. Tuy nhiên, đây là nhà máy thủy điện nên khả năng đó khó xảy ra. Việc xây dựng thủy điện tạo điều kiện cho người dân có được nguồn điện khỏe để sử dụng và dù xây dựng thủy điện thì thiếu nước ở hạ lưu cũng không thể xảy ra. (Lao Động 25/6)đầu trang(
Ngày 23.6, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, vừa có văn bản gửi Sở NNPTNT chỉ đạo xử lý vụ phá rừng tại huyện Di Linh, trên phần đất lâm nghiệp do Cty TNHH Phát Lâm (P.1, TP.Bảo Lộc) thuê.
Theo báo cáo của Sở NNPTNT, trên diện tích đất cho Cty Phát Lâm thuê vừa xảy ra vụ chặt hạ cây rừng với tổng số 98 cây các loại, khối lượng gỗ bị thiệt hại là 40m3. Tại Di Linh, Cty TNHH Phát Lâm đã được tỉnh cho thuê 378ha rừng để làm nông lâm kết hợp từ năm 2009 nhưng đến nay chỉ trồng được 39ha; tỉ lệ cây sống của diện tích rừng trồng này chỉ đạt không đến 25%. Trong văn bản nói trên, UBND tỉnh đã yêu cầu Cty Phát Lâm nộp tiền bồi thường giá trị tài nguyên rừng đối với 98 cây gỗ bị chặt hạ... (Lao Động 24/6)đầu trang(
Năm 2013, dự án Bảo vệ và Phát triển rừng huyện Ba Bể được giao trồng 1.900ha rừng, đến nay, tiến độ trồng rừng đạt gần 89% kế hoạch.
Tổng diện tích thiết kế trồng rừng của huyện Ba Bể là 2.256 ha, đạt 119% kế hoạch. (Đài PT - TH Bắc Kạn 22/6) đầu trang(
Năm 2013, tỉnh Bắc Kạn có kế hoạch trồng mới 12.500 ha rừng, trong đó rừng sản xuất trên 10 nghìn ha. Thời điểm này, người dân các huyện, thị xã trong tỉnh đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ trồng rừng. Tuy nhiên, theo đánh giá của Ban quản lý dự án 147 các địa phương, tỷ lệ loài cây trồng rừng năm 2013 vẫn chưa hợp lý.
Năm 2013, cây mỡ vẫn là ưu tiên lựa chọn số 1 của nhiều hộ dân với tỷ lệ chiếm 74% diện tích trồng rừng. Trong khi đó, keo tai tượng là cây nguyên liệu chính phục vụ cho công nghiệp chế biến lâm sản của tỉnh thì chỉ chiếm 19%, còn lại cây thông và trúc chiếm 7%.
Qua khảo sát thực tế cho thấy, người dân vẫn còn tâm lý e ngại về thị trường và giá cả đầu ra cho cây keo nguyên liệu dù về thời gian sinh trưởng so với các loài khác, cây keo có những ưu thế vượt trội. Ngoài ra, người dân cho rằng cây keo chỉ có thể trồng và khai thác trắng còn cây mỡ có thể khai thác tỉa, chặt được một vài năm lại có thể khai thác các chồi mỡ từ gốc ban đầu.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tỉnh đang phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến lâm sản, trong đó cây keo đóng vai trò nguyên liệu chính như hiện nay thì thực tế trên là điều không hợp lý, có thể gây ra những hệ lụy về thiếu nguồn nguyên liệu cho công nghiệp. (Đài PT - TH Bắc Kạn 24/6)đầu trang(
Bắt đầu từ tháng 4/2013, người dân trên địa bàn thị xã Bắc Kạn đã bắt đầu trồng rừng. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng kéo dài, một số diện tích rừng mới trồng bị chết, gây thiệt hại cho người dân. Ngành chức năng đang khẩn trương đôn đốc đơn vị cung ứng giống tiếp tục cung ứng cây con để người dân trồng dặm.
Năm 2013, gia đình bà Triệu Thị Trình- Thôn Nà Kẹn, xã Nông Thượng, Thị xã Bắc Kạn đăng kí trồng rừng gần 1 ha. Trong tháng 5, được sự hướng dẫn của cán bộ kiểm lâm, gia đình bà đã tiến hành trồng hết 1,5 nghìn cây giống mỡ. Không may, khi cây vừa trồng xuống thì gặp ngay 2 đợt nắng nóng kéo dài làm nhiều cây con bị vàng lá, héo úa dần.
Theo ước tính của bà Trình, số cây con bị chết đến nay đã bằng 1/3 tổng số cây đã trồng. Có nghĩa là gia đình bà sẽ phải mua thêm 500 cây giống để trồng dặm lại diện tích cây đã chết do nắng nóng. Tại xã Nông Thượng, không ít hộ dân cũng bị thiệt hại như gia đình bà Trình.
Trước tình hình trên, Hạt kiểm lâm Thị xã đã thống kê, rà soát số diện tích cây bị chết, đồng thời chỉ đạo đơn vị cung ứng giống tiếp tục cung ứng bổ sung, hỗ trợ thêm khoảng 2 nghìn cây giống cho bà con nông dân, tập trung chủ yếu ở 2 xã Xuất Hóa và Nông Thượng.
Ông Nguyễn Phúc Định- Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm thị xã cho biết: Trước lúc trồng, Hạt kiểm lâm đã cung ứng đủ giống cho bà con nông dân trồng đủ 500 ha theo kế hoạch giao và cung ứng thêm đủ số cây trồng dặm bằng 10% diện tích đăng kí. Tuy nhiên, do tâm lý chủ quan nên các hộ gia đình không giữ lại nguồn cây con trồng dặm mà trồng hết số cây giống được cung ứng. Do vậy, khi gặp 2 đợt nắng nóng kéo dài trong tháng 5, cây bị chết thì thiếu nguồn cây con để trồng dặm. Đây cũng là một điều bà con nông dân cần rút kinh nghiệm trong các vụ trồng rừng tiếp theo. (Đài PT - TH Bắc Kạn 22/6)đầu trang(
Báo Quảng Nam có bài “Vụ khiếu nại quyền khai thác rừng trồng ở Bình Minh (Thăng Bình): Ai là chủ nhân của rừng?”. Sau khi báo đăng, ông Hoàng Ngọc Triển (trú thôn Hà Bình, xã Bình Minh) tiếp tục có đơn gửi đến các cơ quan chức năng yêu cầu làm rõ bản chất đúng - sai của vụ việc.
Trong đơn gửi Báo Quảng Nam lần hai, ông Hoàng Ngọc Triển trình bày: Vào năm 1988, UBND huyện Thăng Bình đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng và đất rừng (bìa trắng) cho ông với diện tích sử dụng, quản lý là 0,3ha. Do diện tích chung quanh khu vực này còn bỏ hoang, ông tiếp tục khai hoang trồng cây. Năm 2002, chính quyền xã đồng ý với đề án phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại của ông với diện tích 4ha, nhưng dự án không đem lại kết quả như mong đợi.
Theo ông Triển, trên diện tích hơn 4ha tại khu vực Tân An, xã Bình Minh, ông đã trồng hàng nghìn cây dương liễu, đào lộn hột, keo nhưng bị kẻ gian chặt hạ; còn lại gần 2.000 cây keo đang tuổi khai thác. Năm 2013, ông Triển xin khai thác số cây còn lại đã đến tuổi thu hoạch (keo trồng năm 2003), nhưng chính quyền xã Bình Minh không đồng ý cho khai thác, gây thiệt hại kinh tế cho ông. Ngày 28.3.2013, ông Triển đã khiếu nại về hành vi hành chính với UBND xã Bình Minh để giải quyết theo đúng trình tự quy định pháp luật.
Để tìm hiểu lý do từ chối không cho ông Triển khai thác rừng keo, phóng viên Báo Quảng Nam đã làm việc với ông Trương Công Bảy - Phó Chủ tịch UBND xã Bình Minh. Ông Bảy cho biết, thời gian qua, địa phương có nhận đơn xin khai thác keo của ông Triển và 2 hộ dân khác cũng với số lượng cây trồng trên cùng diện tích đó. Toàn bộ cây trồng nằm trên đất xã Bình Dương nên không thể khẳng định quyền sở hữu rừng là của ai. Vì vậy, xã đã thành lập tổ xác nhận đơn thư của ông Triển.
Ông Nguyễn Văn Hùng, cán bộ địa chính xã Bình Minh khẳng định, hai hộ khác đang tranh chấp quyền khai thác keo với ông Triển là ông Phan Ngọc Đại (nguyên Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Thăng Bình) và ông Trương Công Minh (nguyên Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Minh).
Ông Hùng thông tin, trước đây địa phương đã xác nhận cho những hộ có nhu cầu làm kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Thấy đất bỏ hoang hóa, nên người dân đã lấn sang trồng rừng trên đất Bình Dương, giáp ranh với xã Bình Minh.
“Hai hộ ông Đại, ông Minh không hề được cấp bìa trắng, hay bìa đỏ gì. Thế nhưng, trước đây, địa phương có ký xác nhận cho hai ông có đơn xin phát triển kinh tế trang trại. Phía Bình Dương xác nhận hai ông Đại, Minh có trồng cây trên đất của họ. Còn việc làm dự án kinh tế vườn, trang trại như ông Triển trên địa bàn xã nhan nhản nhiều lắm...” - ông Hùng nói.
Ông Cao Thành Phiện - Chủ tịch UBND xã Bình Dương cho biết, địa phương không có giao đất cho ông Đại, ông Minh trồng rừng. Chúng tôi đang tích cực chỉ đạo bộ phận chuyên môn xác định vị trí, ranh giới rừng trồng đang tranh chấp trên thuộc địa giới của Bình Dương hay Bình Minh và đang chờ kết quả”. Đại diện lãnh đạo Phòng Tài nguyên - môi trường huyện Thăng Bình cho rằng, huyện không có văn bản, hồ sơ giao đất trồng rừng nào cho ông Đại, ông Minh. Việc xác nhận nguồn gốc rừng và đất rừng thì thuộc chức năng, thẩm quyền của hội đồng tư vấn đất đai cấp xã, cộng đồng dân cư.
Ông Triển cho rằng, trong Bản án số 03/2009/DSST, ngày 29.7.2009 của Tòa án nhân dân tỉnh về việc tranh chấp quyền sở hữu tài sản, ông Phan Ngọc Đại và Trương Công Minh đã thừa nhận ông Triển có trồng thêm số cây keo lá tràm. Thêm vào đó, năm 2007, Công ty TNHH Tân Bình (trụ sở đóng tại TP.Tam Kỳ) khi thi công đường dây điện đã ảnh hưởng đến cây trồng (nằm trong khu vực cây trồng hiện đang tranh chấp - PV) của ông Triển, đơn vị thi công này đã bồi thường tiền cho ông, và không có hộ dân nào tranh chấp cả.
“Lúc đó, UBND xã Bình Minh cũng đã thừa nhận là cây dương liễu, keo là của tôi trồng nên đã thống nhất bồi thường, nhưng hiện nay lại không xác nhận cho tôi khai thác là điều hết sức vô lý” - ông Triển bức xúc. Giai đoạn 1999 - 2001, ông Triển được công nhận là nông dân sản xuất kinh doanh giỏi. Theo ông Triển, từ trước đến nay, ông chỉ có loại đất trồng cây lâu năm. Nếu diện tích trên không do ông quản lý, sử dụng trồng cây thì sản xuất, kinh doanh cái gì, ở đâu để Hội Nông dân tỉnh tặng danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi.
Tại bản án ngày 29.7.2009 của Tòa án nhân dân tỉnh, các ông Phan Ngọc Đại, Trương Công Minh khai được UBND xã Bình Minh giao đất và đo vẽ xác nhận năm 2002. Nhưng khi trả lời Báo Quảng Nam, Chủ tịch UBND xã Bình Minh Trần Công Minh lại cho rằng, vị trí rừng của 2 hộ dân này được UBND xã Bình Dương xác nhận quản lý, chăm sóc. Thêm nữa, UBND xã Bình Minh nói rừng trồng tranh chấp nằm trên đất Bình Dương, nhưng chính quyền xã Bình Dương khẳng định, chưa có câu trả lời chính thức về rừng trồng thuộc ranh giới nào. (Báo Quảng Nam 24/6)đầu trang(
Công ty lâm nghiệp Quảng Tín thực hiện liên doanh liên kết với 9 doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tuy Đức. Tuy nhiên, mới đây, công ty Quảng Tín phải chấm dứt hợp đồng với 4 doanh nghiệp. 5 doanh nghiệp còn lại cũng đang trong quá trình kiểm tra, đánh giá hiệu quả.
4 Công ty bị chấm dứt hợp đồng gồm: Long Phát Đạt, Lê Gia, Đại Phát Lợi, HTX Hiệp Thành. Theo Công ty lâm nghiệp Quảng Tín, nguyên nhân chấm dứt hợp đồng là do các công ty này không thực hiện đúng cam kết về quản lý bảo vệ rừng, để nhiều diện tích rừng bị phá và lấn chiếm.
Công ty lâm nghiệp Quảng Tín có nhiệm vụ quản lý, khoanh nuôi bảo vệ 5.699 ha rừng. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát mới nhất, thì diện tích này giảm xuống chỉ còn gần 2.000 ha. Theo Công ty lâm nghiệp Quảng Tín, một trong những nguyên nhân gây mất rừng là do có quá nhiều dự án nông lâm nghiệp thực hiện trên địa bàn, trong khi thực tế, các dự án này đều chưa mang lại hiệu quả, thậm chí để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tràn lan. (Báo Đăk Nông 24/6)đầu trang(
24/6, UBND tỉnh Kon Tum cho biết, vừa ra Quyết định số 419 về việc phạt tiền trồng lại rừng đối với Công ty cổ phần xây dựng và quản lý công trình giao thông Kon Tum do đã tự ý sử dụng đất lâm nghiệp chuyển đổi mục đích với diện tích 2,65 ha để khai thác khoáng sản đá làm vật liệu xây dựng thông thường.
Số tiền trồng lại rừng nhà đầu tư phải nộp là 115.940.150 đồng; nộp một lần vào tài khoản của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum. Sau thời hạn 03 tháng kể từ khi ban hành quyết định này, nếu doanh nghiệp không nộp tiền trồng lại rừng UBND tỉnh sẽ xem xét thu hồi chủ trương đầu tư khai thác và chế biến mỏ đá Sao Mai, thôn 4, xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum. (Sài Gòn Giải Phóng 24/6)đầu trang(
PRH Long Đại, Quảng Bình “chảy máu”- Bài 2: Tận diệt thú rừng!
Rừng phòng hộ Long Đại, Quảng Bình bị “xẻ thịt”, còn thú rừng đang dần bị tận diệt. Thực trạng này diễn ra công khai, ngang nhiên như không có ai quản lý.
Theo ghi nhận của PV, có một lò mổ và bày bán công khai thịt thú rừng ngay trên con đường độc đạo đi vào bản Na Lâm, làng Thanh niên lập nghiệp của xã Trường Xuân và cũng là con đường duy nhất đi vào Trạm bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại và chốt Kiểm lâm của Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh tăng cường để bảo vệ rừng. Thế nhưng, không hiểu vì sao vẫn vô tư hoạt động, buôn bán mà không bị xử lý?
Không phải chỉ riêng lợn rừng đang bị săn bắt, giết mổ mà cả khỉ, chồn, sóc, gà rừng, rắn… cũng đều phải chung số phận. Ngay trên trục đường mòn Hồ Chí Minh đoạn đi qua xã Hiền Ninh, thi thoảng chúng tôi vẫn có bắt gặp những chiếc lồng nuôi nhốt thú rừng để bán cho thực khách. Ngay cả Tê-tê, một trong những loài thú quý hiếm sắp bị tuyệt chủng nằm trong sách đỏ của Thế giới cũng có. (Pháp Luật&Xã Hội 24/6)đầu trang(
Lãnh đạo Sở NN-PTNT Lâm Đồng cho biết, UBND tỉnh Lâm Đồng vừa chính thức có văn bản “chưa xem xét việc thực hiện khai thác nhựa thông ba lá trên địa bàn tỉnh” bắt đầu từ cuối tháng 6 này trở đi. Có thể hiểu, việc khai thác nhựa thông ở Lâm Đồng đã tạm dừng!
Trong khi đó, tại quyết định “Phê duyệt đề án quản lý, sử dụng và phát triển bền vững rừng sản xuất thông 3 lá tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020”, UBND tỉnh Lâm Đồng đã đề cập đến vấn đề khai thác “nhựa thông tận dụng” với một phụ lục đính kèm (mặc dầu không nêu cụ thể về sản lượng nhựa thông tận dụng).
Lý do chính để UBND tỉnh Lâm Đồng “chưa xem xét việc thực hiện khai thác nhựa thông ba lá” là: “Thời gian qua, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, ken cây hủy hoại cây rừng, khai thác, vận chuyển, tiêu thụ lâm sản trái pháp luật diễn biến rất phức tạp (cả về tính chất vi phạm và mức độ thiệt hại) tại một số địa phương trong tỉnh…”.
Và nữa “…quá trình tổ chức khai thác, thu mua, tiêu thụ nhựa thông, công tác quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng và quản lý lao động liên quan đến khai thác nhựa thông đã bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót; ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, ảnh hưởng đến dư luận xã hội và tình hình an ninh trật tự nông thôn”.
UBND tỉnh Lâm Đồng lập luận: Việc tạm ngưng khai thác nhựa thông ba lá là để “các đơn vị chủ rừng tập trung chấn chỉnh, củng cố lực lượng, có phương án, giải pháp cụ thể, chủ động, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng trên diện tích rừng được giao quản lý”.
Trong khi đó, theo quyết định “Phê duyệt đề án quản lý, sử dụng và phát triển bền vững rừng sản xuất thông ba lá tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020” (quyết định số 280/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 22/2/2013) thì ngay trong năm 2013 này, trên địa bàn toàn tỉnh sẽ có 543ha rừng thông được khai thác, trong đó có 446ha rừng thông ba lá thành thục (còn lại là rừng thông ba lá nghèo) với sản lượng gỗ dự kiến là 87.827m3.
Cũng theo quyết định này, đến năm 2014 liền kề, trên địa bàn Lâm Đồng tiếp tục có 906ha rừng thông ba lá được khai thác với sản lượng gỗ ước đạt 142.295m3. Như vậy, chỉ tính riêng trong hai năm đầu thực hiện đồng thời quyết định 280 và công văn 2841/UBND-LN ngày 27/5/2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng thì có đến 1.449ha rừng thông ba lá bị lãng phí vì không được khai thác nhựa.
Ở Việt Nam, rừng thông ba lá thuần loại chỉ phân bố tại những khu vực có độ cao trên 1.000m so với mực nước biển; nhiều nhất là Lâm Đồng, kế đến là Gia Lai và Kon Tum.
Tại Lâm Đồng, diện tích rừng thông ba lá được thống kê ở con số 132.966ha trong tổng số 610.000ha rừng toàn tỉnh. Trong diện tích thông ba lá (132.966ha) hiện có, theo kế hoạch khai thác từ nay đến 2020, sẽ có 6.720ha (sản lượng 1.173.107m3 gỗ) được chặt trắng (và sau đó sẽ được tổ chức trồng lại theo hình thức cuốn chiếu trên tinh thần chặt đến đâu trồng đến đó).
Thực tế trong những năm qua, việc khai thác nhựa thông trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã gây không ít hệ lụy đúng như UBND tỉnh này đã nhận xét là “đã bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót; gây ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, ảnh hưởng đến dư luận xã hội và tình hình an ninh trật tự nông thôn”.
Tuy nhiên, vì lý do này mà “đóng cửa” khai thác nhựa trước khi khai thác gỗ theo phương án đã phê duyệt (quyết định 280) thì lại là vấn đề cần được xem lại! Trong quyết định 280 của UBND tỉnh Lâm Đồng đã tính đến chuyện khai thác nhựa với nội dung cụ thể là “Tổ chức lại việc khai thác nhựa trước khi khai thác gỗ” (trong phần “Các giải pháp chủ yếu”) và “Tổng sản lượng nhựa thông tận dụng 1.212ha/năm/1.147ha/năm” (trong phần “Nội dung thực hiện”).
Theo các nhà lâm học, ở Việt Nam chỉ có 3 loài thông được sử dụng khai thác nhựa là thông nhựa, thông ba lá và thông đuôi ngựa (trong tổng số 5 loài thông được phân bố tự nhiên). Với riêng thông ba lá, mỗi năm có thể khai thác từ 3 – 4kg/nhựa/cây.
Nhựa thông khi được chế biến sẽ cho ra 70% colophan (nguồn nguyên liệu cần thiết của nhiều ngành công nghiệp như chế biến cao su, sơn, sản xuất giấy, vật liệu cách điện, nhựa hàn, keo dán, tạo bọt xà phòng, công nghiệp in…), 20% tinh dầu thông (dùng trong sản xuất thuốc diệt khuẩn đường hô hấp, chữa cảm lạnh, sản xuất mỹ phẩm…) và số còn lại là nước và một số tạp chất khác. Trên thị trường thế giới, giá 1 tấn colophan dao động khoảng 800 – 900USD và 1 tấn tinh dầu thông là 850 – 950USD.
Theo đề án đã được phê duyệt, từ nay đến 2020, bình quân mỗi năm Lâm Đồng có 840ha rừng thông ba lá được khai thác với sản lượng lượng gỗ thu được bình quân mỗi năm 146.638m3.
Đáng tiếc đề án này chỉ nêu chung chung là “nhựa thông tận dụng” và “khai thác nhựa thông trước khi khai thác gỗ” chứ không đưa ra con số cụ thể về sản lượng nhựa thông cho toàn bộ 6.720ha rừng thông ba lá sẽ khai thác từ nay đến 2020, cũng như không đưa ra quy trình khai thác nhựa một cách tối ưu nhất (chích dưỡng, chích rút và chích kiệt) nên khó hình dung hiệu quả kinh tế của việc khai thác nhựa trước khi khai thác gỗ (thường thì chích kiệt trước khi chặt cây).
Tuy nhiên, với “quy chuẩn kỹ thuật” cho nhựa từ 3 – 4kg/cây/năm và với mật độ khai thác 60 – 80 cây/ha, chúng ta vẫn có thể hình dung về mức độ của sự lãng phí vì không được khai thác nhựa nếu như văn bản số 2841/UBND-LN ngày 27/5/2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc “chưa xem xét việc thực hiện khai thác nhựa thông ba lá trên địa bàn tỉnh” còn có giá trị pháp lý.
Nói tóm lại, cây thông không có lỗi; mà, lỗi là ở người quản lý và sử dụng nó! (Nông Nghiệp VN 24/6)đầu trang(
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã xuất hiện loài cá Đầu sấu hay còn gọi là Cá sấu hỏa tiễn, cá Phúc Lộc Thọ… loài cá cảnh ngoại lai nguy hại đang được bày bán rộng rãi tại các cửa hàng cá cảnh. Con nhỏ nhất giá từ 160.000 - 200.000 đồng/con, loại 400 gram – 1 kg giá từ 500.000-800.000 đồng/con.
Kỹ sư Lê Hoàng Vũ, Chi Cục trưởng Chi cục thủy sản tỉnh Đồng Tháp cho biết: Cá Đầu sấu là loài cá cảnh ngoại lai rất nguy hiểm, thân hình tròn, mõm nhọn và dài tựa đầu cá sấu, hàm răng tương tự loài cá sấu và rất hung dữ, chúng thích nghi trong ao đục hoặc nước bẩn, thức ăn là các loài cá nhỏ, nếu loài cá này phát tán ra môi trường, chúng sẽ tiêu diệt các loài thủy sản khác.
Hiện Chi cục thủy sản tỉnh Đồng Tháp đang đề ra phương án xử lý nghiêm cấm mua bán hoặc thả loài cá ngoại lai này ra sông để tránh tình trạng như cá lau kiếng đang phát tán mạnh trên các ao, hồ, sông, rạch làm ảnh hưởng đến các loài cá bản địa. Ai có hành vi thả loài cá ngoại lai nguy hại này vào vùng nước tự nhiên sẽ bị phạt từ 10-20 triệu đồng, thả vào vùng nước thuộc khu bảo tồn sẽ xử phạt 20-30 triệu đồng…
Cá đầu sấu có tên khoa học Lepisosteus Oculatus Winchell có nguồn gốc từ Bắc Mỹ. Đây là loài sinh vật dưới nước rất nguy hiểm, chúng không chỉ ăn các loại cá con mà còn ăn thịt thủy cầm và cả cá sấu khác. Anh Nguyễn Văn Quốc ở phường 11, thành phố Cao Lãnh nuôi 2 con cá đầu sấu cho biết, anh thường gọi là cá Phúc Lộc Thọ để đem điềm lành cho gia đình, nhưng không ngờ nó rất phàm ăn, mau lớn, hung dữ, mỗi ngày anh tốn từ 5-10 ngàn đồng để mua cá con cho chúng ăn, sau khi được ngành thủy sản cảnh báo đây là loại cá nguy hại, anh đã nhanh chóng tiêu diệt, mặc dù đã mất gần 2 triệu đồng để mua cặp cá này.
Ngành thủy sản tỉnh Đồng Tháp đã cảnh báo đến người nuôi cá cảnh để tiêu diệt, đề phòng loài cá này không chỉ gây nguy hại cho các loài cá bản địa mà còn có thể tấn công các loài thủy cầm được thả nuôi trên các ao, hồ, sông, ngòi... (Đảng Cộng Sản VN 24/6)đầu trang(
Tây Nguyên vốn được xem là biểu tượng về rừng của Việt Nam với những cánh rừng bạt ngàn, hùng vĩ… Thế nhưng, tỉ lệ che phủ rừng tại khu vực này hiện nay lại thấp hơn mức trung bình của cả nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải vừa có văn bản chỉ đạo công tác bảo vệ, phát triển rừng Tây Nguyên. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2015, tỉ lệ che phủ rừng cả nước đạt khoảng 42%-43% và đến năm 2020 khoảng 45%. Tuy nhiên, hiện nay, công tác bảo vệ rừng Tây Nguyên đang đối mặt với nhiều thách thức.
Tình trạng suy giảm diện tích rừng Tây Nguyên diễn ra ở mức độ cao (giảm 25.737 ha/năm). Chất lượng rừng cũng suy giảm rõ rệt: Diện tích rừng có trữ lượng rất thấp, chỉ khoảng 1,7 triệu ha, tỉ lệ che phủ 32,4%; diện tích còn lại là rừng chưa có trữ lượng hoặc trữ lượng thấp.
Trong 5 năm trở lại đây, các tỉnh Tây Nguyên đã trồng hơn 72.000 ha cao su. Theo Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, chủ trương phát triển cao su là phù hợp. Tuy nhiên, việc trồng cao su hiện nay chủ yếu là chuyển từ đất lâm nghiệp có rừng (chiếm 79%), chủ dự án chưa chú ý khai thác các loại đất không có rừng, đất nông nghiệp và đất kém hiệu quả. Một số chủ đầu tư còn lợi dụng việc trồng cao su để xâm lấn đất rừng, khai thác gỗ trái phép, gây ra tình trạng mất an ninh trật tự.
Ngoài ra, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), trong 6 năm qua, Tây Nguyên cũng là khu vực chuyển đổi đất rừng để xây dựng thủy điện nhiều nhất cả nước. Đã có 8.162 ha rừng (hơn 3.100 ha là rừng đặc dụng, phòng hộ đầu nguồn) bị chuyển đổi để phục vục hơn 50 dự án thủy điện.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đánh giá rừng Tây Nguyên có ý nghĩa vô cùng quan trọng về kinh tế, môi trường, xã hội, an ninh, quốc phòng. Thế nhưng, Tây Nguyên cũng là vùng trọng điểm về vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng với hàng chục ngàn vụ bị phát hiện hằng năm. Một số trọng điểm, tụ điểm nghiêm trọng đã hình thành đường dây phá rừng có hệ thống. Nhiều xưởng gỗ gần rừng không tuân theo quy hoạch, không có nguồn nguyên liệu ổn định, do đó trở thành nơi tiêu thụ gỗ khai thác bất hợp pháp.
Trong khi đó, công tác quản lý, xử lý còn bộc lộ nhiều yếu kém. Nhiều nơi, chính quyền địa phương chưa thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý rừng và đất nông nghiệp, khi phát hiện vi phạm thì xử lý thiếu kiên quyết, thậm chí tiếp tay cho người phá rừng.
Tây Nguyên hiện có 53 ban quản lý rừng phòng hộ, 6 vườn quốc gia và 5 khu bảo tồn với tổng diện tích 1,5 triệu ha rừng và đất rừng. Đa số ban quản lý rừng phòng hộ không đủ năng lực bảo vệ nơi được giao; thiếu kinh phí bảo vệ rừng; rừng và đất lâm nghiệp bị xâm lấn, phá hoại nhưng chưa có giải pháp quản lý hiệu quả; tình trạng khai thác gỗ quý hiếm có xu hướng gia tăng khiến chất lượng rừng bị suy giảm.
Trước tình hình đó, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo UBND các tỉnh Tây Nguyên phối hợp với Bộ NN- PTNT và Bộ Công an tăng cường quản lý chặt chẽ, kiểm tra đột xuất và kiên quyết đình chỉ các cơ sở chế biến gỗ vi phạm; thu hồi, không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với cơ sở chế biến gỗ không đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc không phù hợp quy hoạch.
Đồng thời, phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam rà soát lại toàn bộ quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020, báo cáo Thủ tướng. Ngoài ra, đến năm 2014, rừng tự nhiên sẽ tạm đóng cửa. (Người Lao Động 25/6)đầu trang(
24.6, Cơ quan CSĐT- Bộ Công an (C44) đã tiến hành lệnh bắt tạm giam đối với 2 cán bộ hải quan thuộc Cục Hải quan Quảng Trị là Đỗ Lý Nhi và Lê Xuân Thành về tội “thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Ngay trong buổi sáng 24.6, khi lệnh bắt 2 cán bộ này được công bố, các điều tra viên đã tiến hành khám xét nơi ở, nơi làm việc của các bị can tại Chi cục Hải quan cảng Cửa Việt.
Trước đó- tháng 11.2012, C44 đã khởi tố vụ án buôn lậu, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với ông Trương Huy Liệu - Phó giám đốc Cty TNHH Ngọc Hưng (trụ sở tại Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị), khởi tố bị can bà Trần Thị Dung - Giám đốc Cty Ngọc Hưng (vợ ông Liệu, cho tại ngoại).
Cơ quan điều tra cho rằng trong vụ nhập khẩu gỗ từ Lào về do Cty Ngọc Hưng thực hiện qua cảng Cửa Việt vào cảng Đà Nẵng, Cty Ngọc Hưng đã có dấu hiệu phạm vào tội buôn lậu. Hai cán bộ hải quan nói trên là những người có liên quan trong vụ nhập khẩu gỗ này khi đang còn công tác tại Chi cục Hải quan cảng Cửa Việt. (Lao Động 25/6)đầu trang(
THẾ GIỚI
24/6, cảnh sát Indonesia đã bắt giữ 2 nông dân nằm trong số các nghi phạm gây thảm họa cháy rừng khủng khiếp trong lịch sử nước này, khiến khói mù lan sang cả 2 nước láng giềng Singapore và Malaysia.
Ông Agus Rianto, người phát ngôn của cảnh sát quốc gia Indonesia cho biết họ đã bắt giữ 2 nông dân ở khu vực Riau thuộc đảo Sumatra vì tội châm lửa đốt rừng để lấy đất làm nông nghiệp. Hai người này đều không có mối liên hệ với 8 công ty Malaysia bị tình nghi dính líu đến các vụ cháy rừng tại Sumatra.
Theo luật pháp Indonesia bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào gây ra các vụ cháy rừng bất hợp pháp phải chịu mức án 10 năm tù và khoản tiền phạt 5 tỉ rupia (tương đương 503.800 USD). (VOV 25/6)đầu trang(
Theo Roi-tơ, ngày 24-6, Bộ trưởng Môi trường In-đô-nê-xi-a B.Cam-bu-ây-a cáo buộc tám công ty của Ma-lai-xi-a dính líu các vụ cháy rừng ở Xu-ma-tơ-ra, đồng thời tuyên bố nước này đang điều tra và sẽ khởi kiện nếu có đủ bằng chứng.
Kết quả điều tra sẽ được chuyển cho Bộ trưởng Môi trường Ma-lai-xi-a trong kỳ họp sắp tới tại Gia-các-ta. Chính phủ In-đô-nê-xi-a đã điều máy bay quân sự để thả bom nước và tạo mưa để dập tắt các đám cháy.
Trong khi đó, Bộ Môi trường Ma-lai-xi-a lại cho rằng, nguyên nhân gây khói bụi tại nước này và Xin-ga-po là do các đám cháy rừng và đám cháy do người dân trên đảo Xu-ma-tơ-ra của In-đô-nê-xi-a đốt cây để lấy đất. Hiệp hội dầu cọ Ma-lai-xi-a cho biết, doanh nghiệp đầu tư ngành cọ dầu nước này tại In-đô-nê-xi-a luôn tuân thủ nguyên tắc không đốt cây cho nên những doanh nghiệp này không liên quan tình trạng ô nhiễm khói bụi do đốt rừng của In-đô-nê-xi-a gây nên.
Chính phủ Xin-ga-po đã phát miễn phí khẩu trang cho những người thu nhập thấp. Hiện, số lượng khẩu trang trong kho của Bộ Y tế Xin-ga-po còn chín triệu chiếc và Bộ Y tế sẽ nhanh chóng đưa số khẩu trang này đến các cơ sở chữa bệnh, hiệu thuốc và cửa hàng bán lẻ, nếu cần thiết sẽ nhập khẩu trang từ nước ngoài. Trước đó, Thủ tướng Lý Hiển Long đã quy trách nhiệm cho In-đô-nê-xi-a gây ô nhiễm môi trường và kêu gọi người dân Xin-ga-po hạn chế ra đường do tình trạng ô nhiễm khói bụi ở mức báo động. (Nhân Dân 25/6)đầu trang(
Nghẹt thở vì khói cháy rừng từ Indonesia, Singapore và Malaysia ngày 24.6 đề nghị hội nghị ASEAN về ô nhiễm không khí diễn ra trước hạn gần 2 tháng.
“Chúng tôi đang đề nghị hội nghị cấp bộ trưởng về ô nhiễm khói bụi xuyên biên giới của tiểu vùng diễn ra vào ngày 2.7”, thay vì 20 - 21.8 theo kế hoạch của ASEAN, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Malaysia G.Palanivel nói. Ông này cũng cho biết Malaysia tình nguyện tổ chức cuộc họp tại Kuala Lumpur và “đang chờ phản hồi từ Indonesia, Brunei cũng như Thái Lan”. Còn Bộ trưởng Y tế S.Subramaniam cho hay Malaysia dự định sẽ đưa ra “thông điệp mạnh mẽ” đối với Indonesia về vụ việc.
Giữa lúc đó, Bộ trưởng Tài nguyên và Năng lượng Indonesia Jero Wacik tuyên bố Singapore và Malaysia “cần biết người biết ta”. “Hãy để tôi nhắc những người bạn từ Singapore và Malaysia đừng vì khói bụi mà kể lể với cả thế giới. Đã gọi là chia sẻ, đã vui vẻ cùng nhau, thì đừng có làm ầm ĩ khi khốn khó. Cũng như vợ chồng, đừng cãi vã trước người ngoài”, ông Wacik nói. Tuy nhiên, trong cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp tối qua, Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono đã chính thức “xin lỗi và mong được thông cảm” bởi người dân Singapore và Malaysia.
Cùng ngày, Indonesia bắt 2 nông dân đốt rừng làm rẫy trên đảo Sumatra. Họ không liên quan gì đến các đại công ty sản xuất dầu cọ và bột giấy, được cho là đứng sau các vụ đốt rừng quy mô lớn gây ra tình trạng khói bụi nói trên. Không khí Singapore hôm qua tiếp tục được cải thiện, trong lúc phần lớn bán đảo Malaysia “ngợp thở” khiến hàng loạt trường học phải đóng cửa. (Thanh Niên 25/6) đầu trang(
Báo Straits Times (Singapore) đưa tin ngày 24-6 tại Malaysia, hơn 1.000 trường học ở các bang Malacca, Selangor, Pahang, Negeri Sembilan và thủ đô Kuala Lumpur phải đóng cửa vì khói mù do cháy rừng từ tỉnh Riau (Indonesia) lan sang.
Bộ trưởng Y tế S. Subramaniam cho biết chỉ số ô nhiễm không khí ở một số khu vực tại bang Johor đã vượt mức 750 (từ mức 300 được xem là độc hại). Hôm trước đó, Indonesia đã ban bố tình trạng khẩn cấp ở hai thị trấn Ledang và Muar tại bang Johor.
Bộ trưởng Môi trường và Tài nguyên Datuk Seri G. Palanivel cho biết Malaysia và Singapore đang đề xuất Ban chỉ đạo cấp bộ trưởng tiểu khu vực về ô nhiễm khói mù xuyên biên giới (gồm Malaysia, Singapore, Indonesia, Thái Lan và Brunei) tổ chức sớm hội nghị vào ngày 2-7 tới ở Kuala Lumpur thay vì chờ đến ngày 20-8.
Trong sáng 24-6, 11 chuyến bay đến và đi từ sân bay Syarif Kasim II ở tỉnh Riau (Indonesia) bị hoãn hoặc phải chuyển hướng do tầm nhìn bị hạn chế vì khói mù. (Pháp Luật TPHCM 25/6)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||