Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 25 tháng 03 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều 24/3, tại Hà Nội, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội nghị bàn tròn về buôn bán trái phép loài hoang dã qua biên giới”.
Hội nghị nhằm tăng cường khả năng phối hợp các sáng kiến về chính sách sách và các giải pháp của chính phủ với các tổ chức quốc tế, phi chính phủ và các nhà tài trợ nhằm tập trung nguồn nhân lực, tăng cường sự phối hợp và xác định những hành động ưu tiên nhằm đấu tranh với nạn buôn bán trái phép động vật hoang dã xuyên quốc gia.
Tại Hội nghị, các đại biểu đều chung nhận định, tình trạng buôn bán, vận chuyển, xuất nhập khẩu, sử dụng trái phép các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trong thời gian gần đây đang có diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, gây ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn tài nguyên thiên nhiên. Buôn bán trái phép động vật hoang dã làm giảm lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường, tạo doanh thu bất hợp pháp, gây bất ổn an ninh quốc gia và nguy cơ xuất hiện, lây lan các bệnh truyền nhiễm mới.
Vì thế, để giải quyết tình trạng này, nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đã đưa ra những sáng kiến quy mô toàn cầu và các cam kết hỗ trợ, hợp tác với những nước đang bị ảnh hưởng bởi nạn buôn bán trái phép loài hoang dã.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT kiêm Trưởng Ban chỉ đạo liên ngành thực thi pháp luật về kiểm soát buôn bán động vật hoang dã ngày nay Hà Công Tuấn cho biết, được đánh giá là một trong những quốc gia tích cực tham gia một cách có trách nhiệm các cam kết quốc tế, thời gian qua, hàng loạt các giải pháp đã được Việt Nam triển khai thực hiện, trong đó phải kể đến Chỉ thị số 03/CT-TTg do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành vào tháng 2/2014 yêu cầu tất cả các cơ quan chức năng, các địa phương tập trung mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác đấu tranh hiệu quả mọi hành vi vi phạm pháp luật về buôn bán loài hoang dã, tạo chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động thông qua các chiến dịch truyền thông.
Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, việc giết hại, buôn lậu và nhu cầu về động vật hoang dã ngày nay đã trở thành một vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có hành động kiên quyết và kịp thời ở cả cấp quốc tế và quốc gia. Việt Nam đặc biệt coi trọng và luôn sẵn sàng chủ động hoặc tham gia thực hiện các giải pháp cấp bách ở cả quốc gia, khu vực và quốc tế để đấu tranh, ngăn chặn các hành vi buôn bán trái phép qua biên giới các loài dộng vật, thực vật hoang dã nguy cấp và thực thi các quy định, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cũng khẳng định, Việt Nam nhận thức được rằng thế giới đang chú ý tới những cam kết và vai trò của Việt Nam trong mạng lưới buôn bán động vật hoang dã cũng như tổ chức đấu tranh chống lại loại hình tội phạm này.
Đại sứ Anthony Stokes, Đại sứ quán Vương Quốc Anh bày tỏ vui mừng trước những kết quả mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua đồng thời hoan nghênh những nỗ lực cũng như sự tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia và các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ để giaỉ quyết các mối đe dạo tiềm ẩn của nạn buôn bán động vật hoang dã.
Thực tế, Việt Nam là một trong những nước chịu nhiều ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã qua biên giới trên cả khía cạnh người vận chuyển, buôn bán và người tiêu dùng. Do đó, Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) đang tích cực và tiếp tục cam kết hợp tác lâu dài với Việt Nam để giải quyết triệt để tình trạng trên. (Dangcongsan.vn 24/3; Lao Động 25/3) đầu trang(
Cục Kiểm lâm cho biết, đến hôm nay (25/3), nhiều khu vực nhiều ngày không mưa, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Các khu vực đang ở cấp V, bao gồm: An Giang, Bình Phước, Bà Rịa, Bình Thuận, Cà Mau, Ðác Lắc, Ðồng Nai, Ðồng Tháp, Gia Lai, Long An, Lâm Ðồng, Ninh Thuận, Tây Ninh. Các khu vực có nguy cơ xảy ra cháy ở cấp IV: Bình Ðịnh, Quảng Trị.
Ban chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng yêu cầu các địa phương và chủ rừng thực hiện ngay các biện pháp phòng, chống cháy rừng. (Nhân Dân 25/3) đầu trang(
Mới chỉ bước vào đầu mùa khô, nhưng hàng chục nghìn hecta rừng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã nằm trong tình trạng báo động cấp IV, cấp nguy hiểm. Một số nơi có rừng đã ở tình trạng dự báo cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Là địa phương có diện tích đất rừng, rừng tự nhiên lớn nhất cả tỉnh, công tác phòng chống cháy rừng đang được huyện Bác Ái tập trung quyết liệt.
Theo thống kê, toàn huyện Bác Ái có trên 80.000 ha diện tích đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 65.000 ha, số còn lại phần lớn diện tích là rừng thông, khộp rất dễ xảy cháy lớn và cháy lan khi phát cháy.
Anh Trương Tấn Lành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bác Ái cho biết: Trước dự báo mùa khô năm nay đến sớm và kéo dài, ngay từ cuối năm 2013, Ban chỉ huy Bảo vệ rừng và Phòng cháy, chữa cháy rừng (BVR&PCCCR) huyện đã tích cực chủ động xây dựng các phương án đối phó với tình hình cháy rừng có thể xảy ra và công tác PCCCR luôn được đặt lên hàng đầu với sự tham mưu chặt chẽ của cơ quan thường trực là Hạt Kiểm lâm huyện.
Ngoài công tác tuyên truyền, thì hai đơn vị chủ rừng là Ban quản lý rừng Sông Sắt và Công ty Lâm nghiệp Tân Tiến cũng đã tiến hành đốt có điều khiển tại các khu vực trọng điểm và tiến hành phát dọn các đường ranh cản lửa. Ngoài ra, hơn 18.000 ha rừng được giao khoán cho các cộng đồng trên toàn địa bàn huyện cũng được đơn vị tập trung, phối hợp với bà con theo dõi diễn biến để có phương án phòng ngừa hợp lý.
Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm Bác Ái, từ đầu mùa khô đến nay toàn huyện xảy ra 1 vụ cháy tại tiểu khu 87 trên địa bàn xã Phước Chính và 8 điểm cháy nhỏ tại một số khu vực trọng điểm. Đa số diện tích cháy chủ yếu là thảm thực bì, không gây thiệt hại đến rừng.
Được biết, ngoài Ban chỉ huy PCCCR cấp huyện và 9 Ban chỉ huy cấp xã, hiện nay huyện Bác Ái đã thành lập được thêm 38 tổ, đội BVR và 17 tổ xung kích nhận khoán rừng. Trước tình diễn biến phức tạp và dự báo kéo dài của mùa khô năm nay, mặc dù đã thực hiện tốt các phương án PCCR nhưng để công tác này thật sự hiệu quả các đơn vị chủ rừng và lực lượng kiểm lâm địa bàn không nên chủ quan.
Ngoài các biện pháp như: tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về tận thôn xóm, tăng cường lực lượng kiểm tra, rà soát lửa rừng, hạn chế người dân vào rừng….thì kiểm lâm viên, kiểm lâm địa bàn và các lực lượng BVR cần trực nghiêm túc báo cháy 24/24 tại những điểm nóng để có hướng khắc phục kịp thời nếu xảy ra cháy rừng. (Báo Ninh Thuận 24/3) đầu trang(
Cùng với công tác phòng, chống phá rừng, lực lượng chức năng huyện Bắc Bình đang tập trung cho công tác phòng, chống cháy rừng, nhất là tại 7 xã thuộc dự báo cháy rừng cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm ...
Ông Võ Thái Hoà - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Bình cho biết, tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện vẫn xảy ra, nhất là tại vùng giáp ranh. Ở xã Phan Tiến, Phan Sơn... tình trạng sử dụng xe máy độ chế đi vào rừng để khai thác, vận chuyển gỗ diễn ra khá phổ biến và có chiều hướng gia tăng.Từ đầu năm 2014 đến nay, lực lượng bảo vệ rừng của huyện đã tổ chức 32 đợt kiểm tra, truy quét tại các khu vực trọng điểm và vùng giáp ranh, qua đó đã phát hiện và tịch thu 12,5m3 gỗ cất giấu trái phép.
Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm huyện còn thường xuyên kiểm tra các khu vực tuyến rừng nội huyện, phối hợp với lực lượng các xã, đơn vị chủ rừng tổ chức truy quét tại khu vực Sông Tho, Sông Ta Mai (xã Phan Sơn), khu vực Cà Cấu (xã Phan Lâm), khu vực Sông 6, Sông 7 (xã Phan Tiến). Bên cạnh đó, các tuyến đường Lương Sơn - Đại Ninh, Phan Tiến - Bình Tân, Hải Ninh - Phan Sơn cũng được tăng cường kiểm tra. Kết quả, đã phát hiện và xử lý hành chính 21 vụ vi phạm, tịch thu 13 xe máy, 10,106m3 gỗ tròn, 21,126m3 gỗ xẻ.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Bình cho biết, hành vi của những đối tượng rất manh động và liều lĩnh, sẵn sàng chống đối khi bị lực lượng kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng thuộc các đơn vị chủ rừng phát hiện, tổ chức truy bắt. Trong khi đó, một số vụ việc có hành vi chống người thi hành công vụ chưa được các cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm.
Để làm tốt công tác phòng, chống cháy rừng (PCCR), Hạt Kiểm lâm Bắc Bình đã tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ dân sống ven rừng cam kết bảo vệ rừng, không đốt rừng. Kết quả, có 229 hộ ký cam kết thực hiện. Nhằm thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ”, Hạt Kiểm lâm huyện đã bố trí lực lượng phối hợp với trạm kiểm lâm địa bàn và các đơn vị chủ rừng theo dõi chặt chẽ tình hình rừng vùng giáp ranh.
29 tổ, đội phòng, chống cháy rừng của các đơn vị chủ rừng cũng bố trí lực lượng phân công trực tại các chốt, trạm, khu vực trọng điểm có nguy cơ dễ xảy ra cháy rừng. Cơ cấu 722 hộ nhận khoán bảo vệ rừng thành các nhóm, tổ PCCR sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra, nhất là tại 7 địa phương: Phan Sơn, Phan Lâm, Hòa Thắng, Hồng Phong, Phan Điền, Bình An thuộc dự báo cháy rừng cấp 4, cấp 5… (Báo Bình Thuận 24/3) đầu trang(
Theo Trung tâm Bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk, hiện đàn voi nhà của tỉnh chỉ còn 53 con, trong số đó voi từ 15-45 tuổi còn sức khỏe tốt để sinh sản chỉ có 43 con, số còn lại là voi đã lớn tuổi và già yếu.
Khả năng sinh sản của voi nhà trong 30 năm trở lại đây đạt tỷ lệ rất thấp, chỉ đạt 0,6%/năm; thậm chí gần bằng 0% những năm gần đây, vì môi trường cho việc gặp gỡ và giao phối giữa voi đực và voi cái bị hạn chế do các chủ voi quản lý voi độc lập, ít thả voi cùng nhau mà chỉ tập trung chủ yếu cho khai thác du lịch. Với tốc độ voi chết như những năm gần đây, chỉ mươi năm nữa, nguy cơ đàn voi nhà ở Đăk Lăk bị xóa sổ là không tránh khỏi.
Bên cạnh đó, voi nhà Đăk Lăk vốn là voi rừng được săn bắt và thuần dưỡng, trong khi bản năng sống vẫn hoang dã, nhu cầu về thức ăn trong ngày rất lớn; khi về buôn làng, voi phải phục vụ cho nhu cầu du lịch của con người, khẩu phần ăn lại thấp, khi bị mắc bệnh không được chữa trị kịp thời…là những nguyên nhân khiến voi nhà suy giảm về thể chất và tuổi thọ nhanh chóng. (Tin Tức 24/3; Thể Thao&Văn Hóa 24/3) đầu trang(
Chiều 22-3, Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh phối hợp Câu lạc bộ Cán bộ trẻ TP Đà Nẵng tổ chức lắp đặt 100 poster quảng bá hình ảnh loài Voọc chà vá chân nâu tại 50 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch và lưu trú tại địa bàn TP Đà Nẵng.
Chương trình là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cho du khách về hoạt động bảo tồn Voọc chà vá chân nâu ở bán đảo Sơn Trà và nằm trong Chiến dịch bảo tồn loài Voọc chà vá chân nâu tại bán đảo Sơn Trà (TP Đà Nẵng) do Công ty cổ phần truyền thông và giải trí Galaxy tài trợ. Qua đó cung cấp thông tin và quảng bá hình ảnh về Voọc chà vá chân nâu ở bán đảo Sơn Trà, kêu gọi sự chung tay của cộng đồng trong việc bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm này.
Theo đó, sẽ lắp đặt 100 poster quảng bá hình ảnh loài Voọc chà vá chân nâu tại 50 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch và lưu trú tại địa bàn TP Đà Nẵng và cung cấp 25.000 stickers dán và bookmarks với thông tin, hình ảnh về loài Voọc chà vá chân nâu và những khuyến cáo không nên làm khi đi du lịch trên bán đảo Sơn Trà cho du khách.
Được biết, năm 2013, đã có gần 500 nghìn lượt lượt khách du lịch tham quan Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà. Nhưng hiện khu bảo tồn này vẫn chưa có các bảng biểu cung cấp thông tin về đa dạng sinh học, đặc biệt các khuyến cáo dành cho khách du lịch nhằm tránh ảnh hưởng đến các loài động thực vật trong quý hiếm tại đây.
Trong khi đó, việc đi lại tham quan của khách du lịch tự do bằng xe máy, ô-tô trên bán đảo rất khó kiểm soát, đây cũng là nguyên nhân mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp tới loài Voọc chà vá chân nâu quý hiếm trên bán đảo Sơn Trà. (Nhân Dân 24/3) đầu trang(
Một con hổ Đông Dương được nuôi dưỡng tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn (Q.1, TP.HCM) vừa sinh 5 hổ con khỏe mạnh - điều hiếm thấy hơn 20 năm qua tại Thảo cầm viên.
Cặp hổ vừa sinh 5 con (cách đây gần 1 tháng) là cặp hổ có nguồn gốc từ Huế (con mẹ, 10 tuổi) và vườn thú Hà Nội (con bố, 7 tuổi). Hổ mẹ mang thai 104 ngày thì sinh hổ con. Trước đó, hổ mẹ đã được nhân giống với hổ đến từ một số quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á nhưng không thành công.
Theo ông Phan Việt Lâm, giám đốc Công ty TNHH một thành viên Thảo Cầm Viên Sài Gòn, hổ sinh con tại các vườn thú ở VN không phải là mới, tuy nhiên bình thường hổ chỉ sinh 2-3 con mỗi lứa, nhiều chỉ 4 con chứ sinh 5 thì hiếm.
Khi hổ sinh nhiều con trong quá trình nuôi con hổ mẹ sẽ “loại dần” những con yếu, nhỏ, chỉ giữ lại khoảng 2-3 con khỏe mạnh nhất trong đàn. Chính vì vậy, đội nuôi thú của Thảo Cầm Viên phải cách ly 2 con hổ nhỏ nhất trong đàn ra để nuôi riêng. Hiện tại cả 5 hổ con đều khỏe mạnh, cân nặng từ 2-4kg/con.
Ngoài ra, một con hổ Đông Dương khác ở Thảo Cầm Viên hiện đang mang thai chuẩn bị giai đoạn sinh nở. (Tuổi Trẻ 22/3) đầu trang(
Thống kê của cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh cho thấy: Từ đầu năm đến nay, hiện tượng xuất lậu các mặt hàng thuộc loại quý, hiếm như gỗ quý, hải sản quý hiếm sang bên kia biên giới cũng đã có dấu hiệu tăng dần với những diễn biến rất phức tạp.
Xác định đây là những mặt hàng được Nhà nước bảo vệ nghiêm ngặt nên các đối tượng thường lợi dụng đêm tối, lén lút tập kết hàng hóa tại khu vực biên giới, chờ cơ hội thuận lợi thật an toàn mới xuất lậu sang Trung Quốc.
Điển hình trong đêm 14/3/2014, các lực lượng chức năng gồm: Công an, Hải quan, Biên phòng đã phối hợp điều tra phát hiện và bắt giữ 3 vụ xuất lậu 450kg hải sản quý (nghi là san hô đen); 68 vỏ trai tai tượng; 23.420kg gỗ (nghi là gốc gỗ hương). Đây là hàng hoá có trong danh mục cấm khai thác, vận chuyển, mua bán.
Theo cơ quan chức năng giám sát biên giới, cửa khẩu, một khi loại hàng hoá này đã xuất hiện trong tư thế chờ tuồn sang bên Trung Quốc thì cũng có nghĩa là đã hình thành cung đường mới về vận chuyển hàng lâm sản, hải sản đặc biệt quý hiếm. Do đó, các đơn vị đều phải có phương án riêng để đối phó với loại tội phạm đem tài nguyên quý của đất nước bán ra nước ngoài. (Công An Nhân Dân 24/3) đầu trang(
​UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành văn bản số 902 ngày 21/3/2014 yêu cầu các Sở, ban, ngành liên quan và các địa phương tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm theo Chỉ thị số 03/CT-TTg của Thủ tướng.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố phải thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các quy định của pháp luật về quản lý và bảo tồn động vật hoang dã; tổ chức kiểm tra, ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về săn, bắt, mua bán, vận chuyển, nuôi, giết mổ, kinh doanh, tàng trữ, xuất nhập khẩu, tái xuất khẩu các loài động vật hoang dã và sản phẩm các loài động vật hoang dã.
Tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật của Nhà nước và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES); cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng vận chuyển trái phép mẫu động vật hoang dã qua biên giới.
Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về săn, bắt, mua, bán, vận chuyển, nuôi, giết mổ, kinh doanh, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu các loài động vật hoang dã và sản phẩm, dẫn xuất trái pháp luật và các quy định của CITES... (Báo Gia Lai 24/3) đầu trang(
Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho biết, đơn vị này vừa trao bằng công nhận cây di sản Việt Nam cho hai cây cổ thụ của xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Hai cây được vinh danh gồm một cây bàng, một cây bồ đề với tuổi đời hơn 500 tuổi. (Nhân Dân 23/3) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy hiện quản lý 11.654 ha đất, trong đó diện tích có rừng hơn 7.518 ha, nằm trên địa bàn 4 xã: Ea Wy, Cư Mok, Ea Ral, Cư Amung, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk.
Trong vùng có khoảng 26.000 nhân khẩu và gần 7.000 lao động, với hơn 80% người dân trong vùng chủ yếu sản xuất (SX) nông nghiệp.
Là các xã vùng sâu vùng xa, vì vậy, cuộc sống người dân nơi đây còn rất nhiều khó khăn, nhất là khi đất đai ngày càng bị xói mòn bạc màu, năng suất cây trồng giảm.
Nhằm tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho bà con, những năm qua Cty đã chủ động giao đất, giao rừng nhằm tạo thêm việc làm cho bà con trong vùng. Đến nay, đã có 1.427 hộ dân trong vùng nhận khoán theo Nghị định 135/NĐ-CP được hơn 2.066 ha và theo Nghị định 01/CP là 509,87 ha. Để người nhận khoán rừng và đất rừng SX, quản lý hiệu quả, Cty đã xây dựng nhiều mô hình trồng cây lâm nghiệp để người dân làm theo.
Bên cạnh đó, Cty đã phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến sâu rộng đến người dân đang canh tác trên lâm phần hiểu rõ lợi ích của việc trồng rừng theo hướng hàng hoá tập trung. Làm tốt công tác quản lý đất đai, mọi trường hợp cây trồng lâu năm trên đất trồng rừng, đất SX nông nghiệp hàng năm sau kiểm kê phải được lập biên bản và ký hợp đồng thoả thuận với Cty theo Nghị định 135/NĐ-CP. Những trường hợp cố tình không chấp hành thì lập biên bản gửi đến các cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Trong thời gian qua, Cty TNHH MTV lâm nghiệp Ea Wy được đánh giá là một trong những doanh nghiệp đóng vai trò “bà đỡ” tích cực và quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân thông qua các dự án trồng rừng, chăm sóc QLBVR ở địa phương.
Ông Phạm Tấn Việt, GĐ Cty cho biết: Cty đang liên kết với 1.000 hộ dân để chuyển đổi 1.500 ha đất SX sang trồng cây tếch, đây là loại cây có giá trị kinh tế cao, trong đó Cty cung cấp cây giống, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ tiền công ban đầu với tổng số vốn trên 2 tỷ đồng. Thấy có lợi nên người dân địa phương đã nhiệt tình tham gia dự án. Mặc dù mới triển khai nhưng trong 2 năm (2012 - 2013) đã trồng được 400 ha và dự kiến năm nay tiếp tục trồng thêm 200 ha.
Theo tính toán của ông Việt, mỗi ha trồng được 1.100 cây tếch, chỉ sau 10 năm là cho khai thác, nếu gỗ đạt năng suất và chất lượng thì mỗi ha tếch có thể thu được 500 - 700 triệu đồng. Sau khi khai thác ngoài thu hồi vốn đầu tư ban đầu, Cty chỉ được hưởng lợi 10% giá trị sản phẩm, còn lại 90% lợi nhuận thuộc về người dân.
Mặc dù định suất trồng rừng và nhận khoán QLBVR hiện nay còn thấp, chưa thực sự thu hút nhiều hộ gia đình tham gia nghề rừng, nhưng có thể nói giá trị kinh tế mà người dân các đại phương sống trong lâm phần của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy nhận được và hưởng lợi từ rừng thông qua việc nhận khoán, bảo vệ và liên kết trồng cây lâm nghiệp những năm qua đã góp phần đáng kể trong việc cải thiện đời sống.
Theo ông Việt, cái được lớn nhất là không còn tình trạng người dân vào rừng chặt phá khai thác gỗ trái phép như trước kia, rừng ở đây thật sự đã có chủ, được người dân nhận khoán bảo vệ rừng rất tốt. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/3) đầu trang(
Đầu mùa khô, ngoài công tác phòng chống cháy rừng, kiểm lâm của các huyện miền núi và trung du Quảng Nam còn chú trọng tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm luật bảo vệ rừng. Từ đầu năm đến nay, kiểm lâm huyện Đại Lộc đã thu giữ nhiều phương tiện và tịch thu hơn 20 mét khối gỗ các loại.
Hơn 4 mét khối gỗ này vừa được Hạt Kiểm lâm huyện Đại Lộc thu giữ mới đây tại xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, Quảng Nam. Trong lúc đi tuần tra, Đội kiểm lâm cơ động đã phát hiện một xe tải ben chở gỗ lưu thông trên quốc lộ 14B đi từ hướng Nam Giang về Đà Nẵng. Mặc dù ra hiệu lệnh dừng xe nhưng lái xe vẫn cho xe chạy tốc độ cao, đồng thời rải toàn bộ số gỗ này xuống để cản đường kiểm lâm. Không có tai nạn xảy ra, nhưng lái xe đã tẩu thoát.
Cũng theo Hạt kiểm lâm huyện Đại Lộc, thời gian gần đây, tình trạng khai thác rừng và vận chuyển gỗ trái phép diễn ra rất phức tạp cả đường bộ lẫn đường sông. Từ đầu năm đến nay đã có gần 20 héc ta rừng trên địa bàn huyện bị khai thác trái phép, số tiền xử phạt gần 15 triệu đồng. Tuy có cố gắng nhưng sự phối hợp giữa kiểm lâm với các ngành chức năng và địa phương chưa chặt chẽ và đã phần nào hạn chế năng lực bảo vệ rừng. (VTV9 ngày 22/3) đầu trang(
Ông Đoàn Văn Phú - Trưởng Công an xã Quỳnh Trang, thị xã Hoàng Mai xác nhận, trên địa bàn vừa xảy ra một vụ chặt phá rừng. Điểm chặt phá nằm ở khu vực Eo Đá thuộc rừng phòng hộ hồ Vực Mấu. Dư luận cho rằng, sự việc có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp đất rừng giữa 2 hộ nhận khoanh nuôi, bảo vệ.
Ngày 8/3/2014, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Quỳnh Lưu nhận được tin báo, có một số đối tượng đến chặt phá, khai thác rừng phòng hộ hồ Vực Mấu thuộc địa phận xã Quỳnh Trang. Các đối tượng được tổ chức, đem theo cưa xăng tiến vào khu vực Eo Đá ngang nhiên chặt phá giữa ban ngày. Nghe tiếng cưa xăng phát ra từ khu rừng nhận khoanh nuôi, chủ rừng và người dân đã báo sự việc với lực lượng chức năng. Khi Tổ công tác đến hiện trường, các đối tượng nhanh chóng bỏ chạy, toàn bộ số gỗ bị chặt phá cũng được tẩu tán từ trước đó.
Khu vực bị khai thác được xác định là Tiểu khu 338 B, khoảnh 1, xã Quỳnh Trang. Đây là khu vực thuộc Dự án trồng rừng phòng hộ 661, do ông Lê Công Hải nhận khoán trồng rừng. Lực lượng chức năng ghi nhận, có khoảng 50 cây keo đã bị khai thác, có đường kính 5 - 6 cm, trên diện tích 80 m2. Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu đã đề nghị UBND xã Quỳnh Trang, Hạt Kiểm lâm Quỳnh Lưu, Công an thị xã Hoàng Mai, UBND thị xã Hoàng Mai vào cuộc điều tra làm rõ và xử lý các đối tượng.
Ông Dương Minh Ngọc - Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu cho biết, ông Lê Công Hải, công dân xã Quỳnh Trang được giao khoanh nuôi 10,69 ha, ông Hồ Văn Luận được giao 5 ha rừng phòng hộ. Năm 2010, số diện tích nhận khoanh nuôi của 2 hộ này đã được Dự án trồng rừng 661 đầu tư trồng mới, chủ yếu là cây keo.
Trong thời gian khoanh nuôi, giữa 2 hộ này đã xảy ra tranh chấp trên diện tích khoảng 3 ha. Các bên đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng không thành. Ngày 8/3/2014, có một số đối tượng lạ mặt vào ngang nhiên chặt phá. Đến thời điểm này, lực lượng chức năng chưa tìm ra thủ phạm nên chưa thể kết luận được điều gì.
Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã Quỳnh Trang tiếp tục mời 2 hộ dân lên làm việc và hòa giải. Theo đó, hai bên đã tìm được tiếng nói chung. Thực tế, trong quá trình khoanh nuôi, bảo vệ, ông Lê Công Hải đã trồng lấn lên 3,5 ha đất được giao cho ông Hồ Văn Luận. Vì vậy, ông Hải đồng ý trả lại toàn bộ diện tích trên, đồng thời ông Luận nhất trí hỗ trợ gia đình ông Hải 25 triệu đồng hỗ trợ chăm sóc trồng cây trong mấy năm qua (?).
Hiện nay, tại Quỳnh Trang xuất hiện nhiều luồng dư luận khác nhau. Người cho rằng, một trong hai hộ nhận khoán rừng này đã chủ động thuê người chặt phá rừng, người suy đoán có một số đối tượng đến khai thác trộm gỗ. (Công an Nghệ An 22/3) đầu trang(
Trong thời gian chờ đợi việc thanh lý tang vật, tài sản do vi phạm trong lĩnh vực khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, những năm qua, hàng trăm m3 gỗ và các phương tiện bị tạm giữ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã bị hư hỏng do không có nhà kho cất giữ.
Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm huyện Na Rỳ, tỉnh Bắc Kạn, trước khi có chủ trương thanh lý, đấu giá trở lại, đơn vị đang phải trông coi, quản lý 29 m2 gỗ nghiến; 72 cục nghiến dạng thớt và gần 100 xe máy, ô tô là tang vật của những vụ vi phạm. Trong số này, có những tang vật tạm giữ phải chờ kết quả xử lý. Tuy nhiên, phần lớn những tài sản ở đây đã bị tịch thu trong nhiều năm. Không có nhà kho, chính vì vậy, các tài sản có giá trị như thế này đều hư hỏng, xuống cấp rất nhanh.
Cũng giống như huyện Na Rỳ, huyện Chợ Đồn được coi là điểm nóng về khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Tuy nhiên, sau tịch thu thì việc bảo quản tang vật cũng gặp rất nhiều khó khăn.
Ông Hà Ngọc Bảo, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn cho biết: Sau nhiều năm không được đấu giá nhiều tài sản do việc khai thác, vận chuyển lâm sản cũng đã hư hỏng, đặc biệt là với huyện Chợ Đồn không có nhà kho.
Mặc dù UBND tỉnh Bắc Kạn đã có văn bản về việc xử lý gỗ quý hiếm là tang vật, vật chứng vi phạm hành chính. Tuy nhiên, đến nay huyện Chợ Đồn vẫn còn tồn trên 30 m3 gỗ nhóm 2A, chủ yếu dạng thớt. Một trong những khó khăn của huyện Chợ Đồn đó chính là việc không có nhà kho cất giữ, bảo quản. Thế nên, những hư hỏng đã làm cho những loại gỗ tại đây giảm giá trị từ hàng chục, thậm chí là hàng trăm lần so với giá trị ban đầu.
Ông Hà Ngọc Bảo, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn cho biết: Với những gỗ bị nứt như hiện nay có giá trị rất thấp. Nếu như 1 cục thớt còn mới có giá trị từ 500.000đ-600.000đ thì sau thời gian không được bảo quản sẽ chỉ giá trị như củi đốt.
Thực tế cho thấy, việc sớm hoàn thành các thủ tục thanh lý, đấu giá tài sản đã tịch thu là những giải pháp tích cực, tránh lãng phí về tiền của nhà nước. Theo báo cáo của Chi cục kiểm lâm Bắc Cạn, ngay sau khi có văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh về việc cho phép đấu giá, thanh lý gỗ quý hiếm trở lại đã có trên 200 m3 gỗ quý hiếm nhóm 2A được thanh lý, góp phần tích cực trong việc tăng thu ngân sách.
Ông Hoàng Văn Trường, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn cho biết: Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với các cấp ngành trong việc lập hồ sơ thanh lý. Trong khi vẫn còn rất nhiều khó khăn về điều kiện nhà kho, nơi tập kết thì việc cho phép đấu giá trở lại cũng là việc quan trong giúp kiểm lâm trong việc bảo quản gỗ trái phép. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 22/3) đầu trang(
Rừng đặc dụng An Toàn đặc biệt quý hiếm của tỉnh Bình Định và cả khu vực. Thế nhưng, nạn lâm tặc khai thác gỗ rừng đã và đang xảy ra với cấp độ ngày càng nghiêm trọng.
Theo Ban quản lý rừng đặc dụng An Toàn và Hạt kiểm lâm huyện An Lão, từ đầu năm đến nay có nhiều đối tượng ở trong và ngoài huyện vào rừng đặc dụng An Toàn khai thác gỗ hương trái phép.
Mới đây, một nhóm người quê Quảng Bình cấu kết với một số người dân ở huyện An Lão, đã lẻn vào phân khu của rừng đặc dụng, dựng lán trại và đốn hạ gỗ quý.
Ông Nguyễn Thanh Tùng – Chủ tịch UBND huyện An Lão tỉnh Bình Định bức xúc trước vấn đề, cả mấy năm nay một tên lâm tặc có thể khai thác đến cả chục khối gỗ nhưng không có bất kỳ một biên bản nào (?).
Trước tình hình đó, huyện An Lão đã tiến hành truy quét lâm tặc tại rừng đặc dụng, phát hiện 13 đối tượng nhưng do bọn chúng quá liều lĩnh nên chỉ bắt được 1 đối tượng, 12 đối tượng khác bỏ chạy. Đoàn công tác thu giữ dụng cụ khai thác lâm sản, 12 bao đồ dùng tư trang và lương thực thực phẩm.
Qua đấu tranh khai thác đối tượng, đơn vị chức năng đã thu giữ tang vật tại tiểu khu 72 thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng An Toàn. Việc lâm tặc dám qua mặt trạm bảo vệ, vào rừng sâu chặt trộm gỗ quý là một thách thức đòi hỏi chính quyền địa phương và các ngành chức năng phải tăng cường các biện pháp quản lý bảo vệ rừng sao cho có hiệu quả, không để xảy ra những vụ việc tương tự.
Rừng đặc dụng An Toàn có tổng diện tích tự nhiên 22.450 ha, bao gồm 24 tiểu khu, được chia thành các phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích hơn 6 ngàn ha, chiếm hơn 27%; phân khu phục hồi sinh thái trên 16 ngàn 3 trăm ha, chiếm gần 73%. Đây là nguồn sinh thủy của các dòng sông trong tỉnh, là tài nguyên quý hiếm của Bình Định nói riêng và các tỉnh trong khu vực nói chung. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 24/3) đầu trang(
Đó là khẳng định của ông Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc điều hành khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng (quận Hoàng Mai, Hà Nội) với Đại Đoàn Kết chiều 23-3, khi đến nay không một cơ quan chức năng nào "dám” nhận con ba ba quý hiếm này về nuôi, vì sợ… trách nhiệm.
Ngày 17-3, sau khi bắt được con ba ba, nhìn vào kích thước và trọng lượng gần 40kg của con ba ba này, "nhà rùa học”- PGS Hà Đình Đức nhận định "ba ba này khoảng 50 tuổi, là loại ba ba quý, chủ yếu sống ở miền Trung và ĐBSCL”. Có khách đã đến khu du lịch sinh thái Vĩnh Hưng trả giá 50 triệu đồng nhưng ông Quốc Anh không bán, và mong tặng con ba ba cho Hà Nội thả xuống Hồ Gươm. Nhưng mong muốn không thành khi nhiều chuyên gia lo ngại thả vào Hồ Gươm ảnh hưởng đến môi trường của cụ Rùa.
Quyết định tìm "nhà mới” cho "cua Đinh” (tên gọi khác của con ba ba), ông Quốc Anh đã làm việc với Trung tâm cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm Cúc Phương (VQG Cúc Phương) mong cá thể quý hiếm này được chăm sóc với điều kiện tốt nhất, tránh bị săn bắt, nâng cao tuổi thọ, được bảo tồn, bớt ốm đau bệnh tật trong môi trường nuôi nhốt. Song thời gian trôi qua, con ba ba ngày càng sút cân và yếu đi, ông Quốc Anh mỏi mệt vì chờ đợi nhưng… không có cơ quan chức năng nào nhận nuôi.
Mọi việc như chìm trong vô vọng. Ngày 23-3, ông Quốc Anh trong tâm trạng lo âu, buồn bã khi đã gần một tuần kể từ khi khu sinh thái bắt được cá thể quý hiếm này, không có cơ quan chức năng nào "dám” nhận con ba ba về chăm sóc.
Quan sát thì khá nhiều cá được thả làm thức ăn cho ba ba. Nhưng mực nước cao, lòng hòn non bộ khá sâu nên không thể nhìn rõ con ba ba. Ông Quốc Anh cho biết, nhân viên nơi đây đã hút hết nước máy trong hòn non bộ ra, dùng máy bơm nước đưa nước từ hồ sinh thái vào để ba ba trở về đúng với môi trường sinh sống trước đó. Một đường ống đã được nối thông từ hồ sinh thái với hòn non bộ để lưu lượng nước luôn tuần hoàn.
"Vườn thú Hà Nội cho biết không dám nhận nuôi vì e rằng môi trường chuồng trại nuôi không đảm bảo, lại chưa có chuyên môn sâu về loài động vật này. Do con ba ba yếu quá nên chúng tôi không dám thả xuống hồ ngay. Để vài ngày sẽ thả nó về hồ”, ông Quốc Anh nói. (Đại Đoàn Kết 24/3) đầu trang(
Ngày 22/3, Phòng PC49 Công an tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp Công an TP Móng Cái phát hiện, bắt giữ vụ vận chuyển 182 kg rắn ráo trâu không có giấy tờ; thu giữ 105 kg rắn ráo trâu; 126kg rùa do đối tượng bỏ chạy để lại; đã bàn giao kiểm lâm Móng Cái xử lý. (Nhân Dân 24/3) đầu trang(
Tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh ngày 24-3 cho biết cơ quan này vừa tiến hành quyết định kỷ luật đối với năm cán bộ kiểm lâm do thiếu kiểm tra, không giám sát chặt chẽ công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, để hộ dân đưa gỗ không có nguồn gốc hợp pháp vào làm nhà ở.
Trước đó, trong lúc đi kiểm tra về công tác bảo vệ rừng, đoàn công tác của tỉnh phát hiện tại hộ gia đình ông Đoàn Đình Lục (xã Hương Lâm, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) cất giữ trên 21 m3 gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 8. Khi đoàn công tác yêu cầu xuất trình giấy tờ chứng minh nguồn gốc của số gỗ trên thì ông Lục không đưa ra được. (Pháp Luật TPHCM 25/3; Nông Thôn Ngày Nay 25/3) đầu trang(
Từ đầu năm 2013 đến nay, tỉnh Quảng Trị đã có công văn chỉ đạo các cơ quan chức năng kiên quyết xử lý xe quá khổ, quá tải lưu thông trên các tuyến quốc lộ. Nhưng, xe quá khổ quá tải vẫn ngang nhiên tung hoành.
Nhóm phóng viên Báo Lao Động đã kiên trì bám trụ trên tuyến quốc lộ 9 - nơi có hàng trăm chiếc xe tải chở gỗ quá tải ngày đêm về xuôi và đã phát hiện một “mắt xích” quan trọng để trả lời cho câu hỏi - ai “bảo kê” xe chở gỗ quá tải trên tuyến giao thông xuyên Á này.
Những ngày này, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) có hàng trăm xe ôtô chở gỗ từ Lào làm thủ tục vào Việt Nam. Số lượng xe quá nhiều nên phải xếp thành những hàng dài hai bên cánh gà của cổng A tại khu cửa khẩu này. Sau khi hoàn thành các thủ tục, những xe ôtô tải sơmi rơmoóc chở theo mỗi xe một khối lượng gỗ rất lớn lên đến cả trăm tấn lần lượt nối đuôi nhau từ cửa khẩu về TP.Đông Hà (tỉnh Quảng Trị).
Đặc điểm chung của những xe chở gỗ này đều rất cồng kềnh, toàn bộ thùng xe được phủ bạt kín để che gỗ, nhưng phía đuôi xe gỗ vẫn thòi ra ngoài, có xe phần gỗ thừa này dài cả mét. Vì trọng tải trên xe quá lớn, nên khi vượt dốc xe này chỉ chạy được với tốc độ “rùa bò”.
Thậm chí, ghi nhận của phóng viên cho thấy, cứ 10 xe chở gỗ quá tải lưu thông từ cửa khẩu về đến khu vực cổng B (cách cửa khẩu cổng A khoảng 25km) thì có đến phân nửa đã gặp sự cố. Vào ngày 20.3, xe chở gỗ kéo theo rơmoóc 43R-006.12 khi đang vượt dốc đoạn qua thị trấn Khe Sanh (huyện Hướng Hóa) thì bị tắt máy, xe chiếm gần như cả lòng đường, khiến việc lưu thông của các phương tiện trên tuyến đường này gặp nhiều khó khăn.
Đến ngày 21.3, xe tải mang BKS UN-1340 (Lào) gặp sự cố đoạn qua xã Tân Liên (huyện Hướng Hóa), tài xế xe này đã dùng thân cây gỗ chặn đầu và đuôi xe để cảnh báo người đi đường, nhưng vô tình tạo thành “bẫy” gây tai nạn. Không ít xe gắn máy đã va quệt với chướng ngại vật này. Trong ngày 21.3, có đến 5 xe gặp sự cố phải dừng lại để sửa chữa như UN-2797, UN-2492...
Thời gian những xe xuất phát từ cửa khẩu lưu thông trên QL9 thường từ 16h40 cho đến khuya. Từng chiếc xe xuất phát cách nhau tầm vài phút, chạy thành từng tốp, tiếng xe gầm rú mỗi lúc leo dốc làm người dân sống ven QL luôn trong tình trạng lo lắng, bất an.
Vào dịp Tết Nguyên đán năm 2013, lúc 20h ngày 15.2, tại Km66 trên QL9 đoạn qua khóm 4 (thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa) xe ôtô tải chở gỗ BKS 74K – 0569 bị mất lái đã đâm gãy một số cột, phá vỡ cửa rồi lao vào nhà dân.
Trước đó, vào tháng 4.2012, một xe chở gỗ quá tải bị lật trên QL9 đoạn qua huyện Đak Rông (Quảng Trị), đến 7h sáng hôm sau, khi đang bốc dỡ số gỗ bị tràn ra đường thì phát hiện một người đi đường đã bị gỗ đè chết. Rồi rất nhiều vụ tai nạn xảy ra trên tuyến đường này mà nguyên nhân chủ yếu là do xe chở gỗ quá tải, quá khổ so với quy định, lái xe không làm chủ tốc độ và phương tiện không bảo đảm an toàn.
Người dân và chính quyền địa phương vô cùng bức xúc trước thực trạng này đã nhiều năm nay, và thực tế UBND tỉnh Quảng Trị cũng đã chỉ đạo cơ quan chức năng quyết liệt xử lý. Nhưng xe quá tải vẫn cứ thong dong về xuôi, để lại phía sau là cầu, đường tan nát, tính mạng người dân “lơ lửng” khi cả trăm tấn gỗ nguy cơ đổ ụp xuống đầu bất cứ lúc nào.
Lo lắng của người dân là có cơ sở, 23h ngày 22.3, khi người dân ở ven QL9 đoạn qua thôn Lương Lễ (xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa) đang say giấc ngủ, thì một tiếng động lớn vang lên. Xe ôtô mang BKS 16N-9305 chở cả trăm tấn gỗ mất lái, xe cày nát cả một đoạn đường rồi lật úp, gỗ trên xe tràn ra cả lòng đường... (Lao Động 25/3) đầu trang(
Ngày 24-3, Công an TP Đà Nẵng đã khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Trường (phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng) về tội trộm cắp tài sản.
Theo điều tra, Trường là nghi can nằm trong nhóm chuyên cạy cửa container trộm gỗ của các công ty xuất nhập khẩu. Như Pháp Luật TP.HCM đã thông tin, ngày 15-2, Ngô Tá Vũ và Phạm Minh Cảnh điều khiển hai xe container chở gỗ thuê cho Công ty Hồng Duy Bảo (trụ sở tại Đông Hà, Quảng Trị) từ cảng Cửa Việt về cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) để xuất khẩu. Vũ và Cảnh ghé vào bãi đổ xe ô tô số 307 Trường Sơn (phường Hòa Thọ Tây) để cho nhóm của Trường “rút ruột” container, lấy gỗ.
Trường cùng đồng bọn dùng xà-beng cạy cửa container, lấy cắp gỗ bên trong rồi xúc cát đổ vào cho cân bằng trọng lượng. Tổng cộng, nhóm này đã trộm hơn 11 m3 gỗ giáng hương và cẩm lai, trị giá hơn 800 triệu đồng. Được biết Trường là đối tượng có tiền án, tiền sự về tội cướp và cướp giật tài sản.
Liên quan đến đường dây rút ruột container, trước đó cơ quan điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam Ngô Tá Vũ, Phạm Minh Cảnh và Nguyễn Văn Mỹ về tội trộm cắp tài sản. (Pháp Luật TPHCM 25/3) đầu trang(
Từ tin báo của người dân, ngày 22-3, lực lượng Cảnh sát môi trường CA tỉnh Hà Tĩnh tiến hành chốt chặn tại xã Kỳ Lâm (H. Kỳ Anh, Hà Tĩnh) và phát hiện ô-tô BKS 38N- 5405 đang vận chuyển gỗ về xuôi có dấu hiệu khả nghi.
Qua kiểm tra, ô-tô trên có chở 47 bê gỗ các loại (gần 7m3) không có giấy tờ hợp lệ. Tài xế Lê Thanh Sơn khai nhận số gỗ nói trên là của người dân mua gom trên địa bàn xã Kỳ Lâm sau đó thuê chở về H. Kỳ Anh. (Công an TP Đà Nẵng 25/3) đầu trang(
Sáng 24-3, trong lúc đánh bắt thủy sản trên phá Tam Giang, ông Nguyễn Vân ở tại thôn Vĩnh Tu, xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế phát hiện cá thể rùa “khủng” mắc ngư cụ với chiều dài 1,2m, rộng 70cm, cân nặng 85kg.
Lập tức ông Vân tháo gỡ đưa cá thể rùa này vào bờ và báo cáo với chính quyền địa phương triển khai phương án chăm sóc.
Trước mắt, chính quyền xã Quảng Ngạn phối hợp với Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Thừa Thiên - Huế triển khai chăm sóc, bảo vệ cá thể rùa này theo quy định bảo vệ động vật hoang dã để có thể đưa cá thể rùa này trở lại môi trường tự nhiên. Theo các nhà chuyên môn, cá thể rùa này được xác định là loài vích Cheloniidae, mai cứng, màu xanh, có đốm đen. Đây là loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. (Sài Gòn Giải Phóng 25/3; Nông Thôn Ngày Nay 25/3; Lao Động 25/3) đầu trang(
Ngày 24.3, nguồn tin từ Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) cho biết sau một thời gian gửi mẫu giám định 40 kg xương động vật nghi là xương hổ được vận chuyển từ Nga về Việt Nam, mới đây, Viện Hàn lâm khoa học và xã hội Việt Nam gửi kết quả cho biết là xương sư tử.
Một cán bộ Cục Điều tra cho biết sẽ tiếp tục gửi mẫu đi giám định ở một cơ quan khác cho khách quan trước khi xử lý dứt điểm vụ việc.
Trước đó, ngày 8.1, Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Bắc (Đội 1) - Cục Điều tra chống buôn lậu tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ 40 kg xương động vật hoang dã nghi là xương hổ được đựng trong thùng xốp trên chuyến bay SU290 từ Nga về sân bay quốc tế Nội Bài. (Thanh Niên 25/3) đầu trang(
Ngày 23/3 , Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã phát hiện xe khách tuyến Nam Cường - Chợ Đồn - Bắc Kạn – Thái Nguyên có dấu hiện vận chuyển gỗ trái phép.
Qua kiểm tra cho thấy: Xe khách Huyndai loại 24 chỗ ngồi biển kiểm soát 97B – 001 – 83 , thuộc Công ty cổ phần vận tải dịch vụ và xây dựng Bắc Kạn, do lái xe Hoàng Ngọc Hoàn sinh năm 1982, trú tại thôn Nà Lình, xã Nam Cường điều khiển có chở 06 thanh gỗ nghiến dạng khuôn với khối lượng 0, 217 m3, thuộc nhóm 2A.
Theo khai báo của lái xe Hoàng Ngọc Hoàn, số gỗ trên được mua lại và vận chuyển đi tiêu thụ. Toàn bộ số gỗ này được cất giấu dưới sàn xe ở phần phía sau của xe ô tô khách rồi hàn lại và nguỵ trang các mối hàn bằng bụi bẩn để qua mặt lực lượng chức năng.
Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã lập biên bản vi phạm, tạm giữ toàn bộ số tang vật và phương tiện ô tô để xử lý theo quy định của pháp luật. (Đài PT - TH Bắc Kạn 25/3) đầu trang(
Bộ NN&PTNT cho biết, từ đầu năm đến nay toàn quốc xảy ra gần 1.000 vụ vi phạm các quy định của nhà nước về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, bằng 2% so với cùng kỳ năm 2013.
Trong đó có 51 vụ phá rừng; 142 vụ khai thác rừng trái phép; 42 vụ vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy rừng; 2 vụ vi phạm quy định về sử dụng đất lâm nghiệp; 22 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ động vật hoang dã; 392 vụ vận chuyển, buôn bán trái pháp luật gỗ và lâm sran; 32 vụ vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản…
Tổng số vụ vi phạm đã được xử lý là 900 vụ, trong đó xử phạt hành chính 892 vụ, xử lý hình sự 8 vụ, tịch thu 694m3 gỗ các loại. (Hà Nội Mới 24/3) đầu trang(
Thời gian gần đây, dư luận bạn đọc hết sức lo lắng về việc nhập, nuôi một số loài sinh vật ngoại lai (SVNL). Bằng nhiều con đường khác nhau, nhiều loài SVNL như ốc bươu vàng, chuột hamste, rùa tai đỏ... và gần đây nhất là gián đất, đã có mặt ở Việt Nam. Mất kiểm soát SVNL, gây mất cân bằng sinh thái, đe dọa các loài sinh vật bản địa, gây nhiều thiệt hại cho nông dân.
Trong khi ở nhiều địa phương người nông dân vẫn phải đang gánh chịu những hệ lụy từ ốc bươu vàng, cá dọn bể, bèo tây... phát triển tràn lan, ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp, thì mới đây tại hai huyện Gia Bình và Lương Tài (Bắc Ninh), tiếp tục xuất hiện mô hình nuôi gián đất xuất khẩu. Do kỹ thuật nuôi gián đất dễ, không phải đầu tư cầu kỳ, thức ăn lại dễ kiếm, chỉ cần cám, bí, rau băm nhỏ, một kg trứng gián có thể sinh sôi nảy nở thành 16.000 con. Thương lái nước ngoài sẽ sang tận nơi chuyển giao kỹ thuật nuôi, đồng thời cũng là đối tác nhận thu mua toàn bộ gián thương phẩm về để làm thuốc.
Được biết giá gián khô lên tới hàng chục triệu đồng/kg. Không chỉ xuất hiện ở miền bắc, gián đất còn được nuôi ở một số tỉnh phía nam. Do lợi nhuận mang lại cao, đầu tư trong thời gian ngắn cho nên nhiều hộ gia đình đã đầu tư nuôi gián đất. Tuy nhiên, theo ý kiến của các chuyên gia khẳng định: Gián là loại côn trùng gây hại cho xã hội, là trung gian truyền nhiều bệnh nguy hiểm như dịch tả, tiêu chảy... Hằng năm, trong danh mục thuốc diệt côn trùng của Bộ Y tế cũng đã có quy định cụ thể các loại thuốc để tiêu diệt gián. Do vậy, đây là loài sinh vật bị cấm nuôi ở nước ta.
Trước tình hình này, Bộ NN&PTNT vừa có văn bản đề nghị UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về việc tự ý nhập khẩu và gây nuôi gián đất trên địa bàn, đồng thời kiểm điểm rút kinh nghiệm về trách nhiệm quản lý của các cá nhân có liên quan. Cũng theo Bộ NN&PTNT, về cơ sở khoa học, cho đến nay chưa có tài liệu chính thức nào khẳng định tính có lợi của gián đất và hiệu quả gây nuôi gián đất. Trong khi đó, thực tế các gia đình Việt Nam vẫn phải tốn rất nhiều tiền để tiêu diệt loại côn trùng này.
Mới đây nhất ngày 18-3-2014, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh có công văn chỉ đạo các cơ quan chức năng, UBND các xã: Quảng Phú, Xuân Lai, thị trấn Thứa, các hộ nuôi gián đất phải tiêu hủy ngay toàn bộ số gián đất, trứng, giá thể nuôi gián đất bằng biện pháp đốt sau đó chôn dưới đất, xong trước ngày 21-3-2014. Đồng thời, UBND tỉnh chỉ đạo UBND các xã, phường liên quan tăng cường kiểm tra, nếu phát hiện việc nuôi gián đất phải xử lý nghiêm theo quy định.
Thực tế, gián đất chỉ là một trong nhiều loài sinh vật nguy hại mới du nhập vào nước ta trong thời gian gần đây. Còn nhớ những năm trước, một loạt SVNL đã có mặt tại Việt Nam và gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế, môi trường. Nhất là vào những năm 1990, trào lưu nhập cá trê phi, ốc bươu vàng, hải ly... về Việt Nam diễn ra ồ ạt với mong muốn tạo ra giống vật nuôi mới. Những lợi ích kinh tế ban đầu như nặng cân, sinh sản nhanh... khiến người ta chưa kịp tính đến những tác hại của loài với nguồn gien bản địa.
Và thực tế là nhiều loài ngoại lai đã lấn át hoàn toàn loài bản địa. Cá trôi Ấn Độ là một thí dụ. Sau khi được nhập về, nó đã trở thành đối tượng thủy sản phổ biến, người dân gần như tẩy chay hoàn toàn cá trôi ta, mặc dù thịt cá trôi ta rất thơm và ngon. Hay cá trê phi cũng vậy, từ nam tới bắc, phong trào nuôi đã phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên, loại cá này có đặc điểm ăn phàm nên khi nuôi cá trê phi hầu như các loài sinh vật khác đều bị chúng ăn thịt, môi trường sinh thái mất cân bằng.
Với tham vọng nhập khẩu ốc bươu vàng vào Việt Nam để trở thành nguồn thực phẩm, cung cấp cho người và động vật nuôi nhằm phát triển kinh tế nhưng loại này đã phát triển nhanh và trở thành ác mộng đối với đồng ruộng Việt Nam, gây dịch hại trên nhiều loại cây trồng, nhất là lúa và rau muống.
Thầm lặng nhưng không kém phần nguy hiểm là cây mai dương (Mimosa pigra). Loài này được ghi nhận lần đầu tiên ở ĐBSCL vào khoảng năm 1979 và đến nay, cây mai dương đã xuất hiện ở khắp cả nước. Nơi nào mai dương mọc thì không cây nào có thể cạnh tranh nổi, trừ vài loài cỏ lá nhọn rất dễ cháy vào mùa khô.
Ở nhiều nơi như Vườn Quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), Cát Tiên (Lâm Đồng) hay hồ Trị An (Đồng Nai), loài cây này đang xâm lấn nhanh và chiếm lĩnh dần các thảm thực vật tự nhiên, đe dọa sự sống của các loài chim... Mặc dù tại một số tỉnh Đông Nam Bộ, đã nghiên cứu và có những phương án áp dụng để tiêu diệt như nuôi dê để ăn cây mai dương. Song, kết quả thu được là không khả quan. Và trong khi những bài học đắt giá trên vẫn còn nóng hổi thì Việt Nam lại xuất hiện rùa tai đỏ.
Được xếp vào danh sách 206 loài xâm hại toàn cầu và 100 loài xâm hại nguy hiểm nhất trên thế giới, nhưng rùa tai đỏ đã tràn vào Việt Nam một cách dễ dàng và nhanh chóng xuất hiện phổ biến ở các ao hồ, sông, kênh rạch. Mức độ sinh sản của chúng rất lớn, chỉ trong vòng một vài tháng đã có thể nhân nuôi từ một vài con thành một quần thể. Chương trình bảo tồn rùa châu Á cảnh báo, đây là loài rùa xâm hại đến sự sống của các sinh vật khác, làm tổn hại môi trường.
Theo thống kê của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường), số lượng thực vật ngoại lai xâm hại có khoảng 94 loài; trong đó, có 42 loài xâm hại thuộc họ thực vật; 48 loài động vật thủy sinh ngoại lai. Đáng lo ngại là có những trường hợp du nhập những loài thủy sinh vật ngoại lai vào Việt Nam với số lượng lớn nhưng do không được kiểm tra và kiểm soát chặt chẽ đã để xảy ra tình trạng bùng phát trong tự nhiên và gây ra tác hại nặng nề. Thậm chí, không ít loài SVNL đã xâm nhập vào nước ta gây hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái.
Trước sự phát triển và lan rộng của SVNL xâm hại, mặc dù cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực để ngăn ngừa và kiểm soát các loài này, tuy nhiên hiệu quả rất hạn chế. Điều đáng lo ngại là có những trường hợp du nhập những loài SVNL vào Việt Nam một cách có chủ ý với số lượng lớn nhưng do không được kiểm tra và kiểm soát chặt chẽ với những chế tài nghiêm khắc nên đã xảy ra tình trạng nhiều loài được nhập khẩu hoặc du nhập bằng các con đường khác nhau, gây nên những tổn thất lớn về kinh tế và đa dạng sinh học.
Việc quản lý đa dạng sinh học, trong đó có thủy sinh vật ngoại lai được quy định trong Luật Đa dạng sinh học năm 2008. Tuy nhiên, nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành vẫn chưa được phân công rõ ràng. Năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ chuyên trách còn nhiều hạn chế. Các công trình nghiên cứu khoa học về các loài SVNL xâm hại còn quá ít, chưa dự báo được những loài có nguy cơ xâm hại hoặc nguy cơ du nhập. Điều này dẫn tới sự chồng chéo, thiếu thống nhất, kém hiệu quả trong việc thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát đối với các loài SVNL xâm hại.
Để ngăn chặn, xử lý nghiêm tình trạng nuôi gián đất trái phép nói riêng và các loài SVNL xâm hại ảnh hưởng hệ đa dạng sinh học tại Việt Nam nói chung, các ngành và cơ quan chức năng cần nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về ngăn ngừa và kiểm soát loài SVNL xâm hại.
Áp dụng có hiệu quả các giải pháp khoa học và công nghệ để ngăn ngừa, kiểm soát và quản lý loài SVNL. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức cho cộng đồng, doanh nghiệp trong việc ngăn ngừa, kiểm soát và diệt trừ SVNL xâm hại. Đồng thời, đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho công tác phòng ngừa, kiểm soát và tăng cường hợp tác quốc tế về ngăn ngừa các loài SVNL xâm hại. (Nhân Dân 24/3) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Xây dựng và củng cố hệ thống thông tin quản lý ngành Lâm nghiệp là một trong 21 đề án ưu tiên trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp VN giai đọan 2006 - 2020.
Sau 3 năm triển khai, giai đoạn I dự án Phát triển hệ thống thông tin quản lý ngành Lâm nghiệp (dự án FORMIS) đã hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo trong công cuộc phát triển KT-XH của VN. Đây chính là cơ sở để tiếp tục thực hiện những chương trình tiếp theo.
Đó là nhận định chung của nhiều đại biểu tại hội nghị "Khởi động dự án Phát triển hệ thống thông tin quản lý ngành Lâm nghiệp tại VN, giai đoạn II (FORMIS II) do Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức vào cuối tuần qua tại Hà Nội.
Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi, xây dựng và củng cố hệ thống thông tin quản lý ngành Lâm nghiệp là một trong 21 đề án ưu tiên trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp VN giai đọan 2006 - 2020.
Việc thực hiện dự án FORMIS I (2009 - 2012) do Bộ NN-PTNT phối hợp với Bộ Ngoại giao Phần Lan thực hiện là một bước tiến quan trọng cho việc đặt nền móng cho một hệ thống thông tin lâm nghiệp hiện đại. Giai đoạn I của dự án FORMIS được triển khai thực hiện tại cấp Trung ương và 3 tỉnh thí điểm là Quảng Ninh, Thanh Hóa và TT - Huế.
Từ những kết quả đạt được của giai đoạn I, giai đoạn II của dự án sẽ được thực hiện trong 5 năm (2013-2018) nhằm xây dựng một hệ thống thông tin quản lý được tích hợp đầy đủ để hỗ trợ công tác quản lý ngành Lâm nghiệp và áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn quốc.
Dự án FORMIS II do Chính phủ Phần Lan và Chính phủ VN hỗ trợ về tài chính. Cty Niars Oy Phần Lan phối hợp với GFA và Green Field cung cấp dịch vụ kỹ thuật. Ngân sách dự án do chính phủ Phần Lan tài trợ là 9,7 triệu Euro, vốn đối ứng của Chính phủ VN là 437,530 Euro, tương đương 11,7 tỷ đồng.
Mục tiêu tổng quát của FORMIS II là sẽ cung cấp một hệ thống nền công nghệ thông tin truyền thông thống nhất cho các đơn vị lâm nghiệp để tích hợp các dữ liệu và ứng dụng của các đơn vị đó vào trong hệ thống; đảm bảo các nguồn tài nguyên rừng được quản lý bền vững dựa trên nền tảng thông tin cập nhật và góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo trong công cuộc phát triển KT-XH chung của VN.
Trong quá trình thực hiện dự án FORMIS II sẽ tập trung các mục tiêu sau: Xây dựng các quy trình, tiêu chuẩn và cơ chế trao đổi thông tin giữa các cơ quan của VN. Trao đổi dữ liệu điện tử trong nội bộ Tổng cục Lâm nghiệp với các cơ quan liên quan bên ngoài và các cơ sở dữ liệu của FORMIS.
Thông tin về thực hiện hoạt động lâm nghiệp sẽ được cung cấp đến các cơ quan quan trọng bao gồm cả chủ rừng; Vận hành hệ thống quản lý thông tin tài nguyên rừng ở tất cả các tỉnh, tập trung ở các tỉnh có rừng. Đó là thông tin tài nguyên rừng, tác động vào rừng, báo cáo về các hoạt động, sự cố, thông tin liên quan đến các sản phẩm lâm nghiệp và quản lý tài chính; Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu ngành lâm nghiệp và đưa vào cơ sở dữ liệu chuẩn của FORMIS; Tăng cường năng lực thu thập và quản lý thông tin.
Ở FORMIS I chưa có ở cấp Trung ương, nhưng ở giai đoạn II sẽ tập trung ở những đối tượng sử dụng chính ở cấp Trung ương và cấp tỉnh sẽ có đủ khả năng sử dụng và duy trì hệ thống. Bên cạnh đó, việc thành lập Trung tâm Thông tin ngành lâm nghiệp hoặc đơn vị công nghệ thông tin lâm nghiệp sẽ được thực hiện và đưa vào hoạt động.
Theo ông Ngãi, tầm quan trọng của hệ thống thông tin về tài nguyên rừng sẽ được củng cố hơn tron dự án FORMIS II. Chương trình tổng điều tra và kiểm kê rừng toàn quốc sẽ tạo ra một cơ sở dữ liệu vè lâm nghiệp toàn quốc phục vụ nhiều mục đích khác nhau, như thi hành luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) cũng như chương trình giảm thiểu khí thải nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng (REDD+).
Trong chương tình khởi động thì dự án đã hoàn thành thí điểm tại 2 tỉnh là Bắc Kạn và Hà Tĩnh, hiện tại đang triển khai thực hiện ở 13 tỉnh thuộc Tây Nguyên và Tây Nam bộ.
Ngoài ra, BQL dự án đã có được những thỏa thuận với các đối tác chính như Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Trường ĐH Lâm nghiệp về cách tích hợp và công bố dữ liệu thông tin phục vụ Dự án Tổng điều tra và kiểm kê tài nguyên rừng toàn quốc trên Cổng thông tin Tổng cục Lâm nghiệp.
Đại diện cho đơn vị thí điểm trong giai đoạn I, đại diện Chi cục Lâm nghiệp tỉnh TT - Huế chia sẻ: Hiệu quả được thể hiện rõ tại TT - Huế. Đó là, dự án đã giúp đào tạo đội ngũ cán bộ tư vấn và giảng viên, tổ chức 16 đợt tập huấn cho cán bộ lâm nghiệp cấp xã, huyện về việc quản lý thông tin; thực hiện thí điểm tại xã Lộc Thủy việc tích hợp kiểm kê rừng và đưa vào hệ thống phần mềm FORMIS. Tại đây người dân có thể biết được diện tích, sản lượng, tài nguyên rừng của các chủ rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/3) đầu trang(
Trong năm 2014, tỉnh Thái Nguyên đã đặt ra mục tiêu trồng 5.000ha rừng tập trung.
Để hoàn thành mục tiêu, 20 vườn ươm trong tỉnh đã chuẩn bị hơn 11 triệu cây giống, gồm 3,7 triệu cây keo tai tượng hạt giống nội và hơn 7,7 triệu cây keo tai tượng hạt giống Australia. Ngoài ra, một số cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp trong tỉnh cũng chuẩn bị khoảng 1 triệu cây mỡ và 1,2 triệu cây quế để phục vụ kế hoạch trồng rừng mới. Toàn tỉnh phấn đấu đến cuối tháng 5 sẽ hoàn thành việc trồng rừng.
Trong năm 2013, tỉnh Thái Nguyên trồng được trên 6.400ha rừng tập trung, vượt 20,3% so với kế hoạch, trong đó trồng cây phân tán được 474.000 cây; khoán bảo vệ được gần 5.900ha; khoanh nuôi tái sinh 1.250ha. (Đại Biểu Nhân Dân 23/3) đầu trang(
Nhiều tháng nay, cơ sở chế biến lâm sản Sơn Lâm và Hợp tác xã Thành Phát ở xã Tân Thành, huyện miền núi Thường Xuân (Thanh Hóa) đã, đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc cho người dân địa phương.
Dù chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường, không có hệ thống xử lý nước thải theo đúng quy định của pháp luật, nhưng suốt nhiều tháng nay, hai cơ sở chế biến lâm sản nêu trên tại xã Tân Thành vẫn hàng ngày sản xuất đũa ăn một lần, ngâm ủ bột giấy…
Nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất từ nhiều khâu có hóa chất độc hại, không được xử lý đã được hai cơ sở này xả trực tiếp xuống sông Đằn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Việc gây ô nhiễm môi trường này đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt của người dân địa phương. Bên cạnh đó, nguồn nước sông Đằn bị ô nhiễm lại chảy ra sông Chu- nguồn nước cung cấp cho Nhà máy nước Hàm Rồng (TP Thanh Hóa), sản xuất ra nước sinh hoạt cấp cho TP Thanh Hóa và các huyện, thị lân cận.
Ông Hà Văn Thức- phó chủ tịch UBND xã Tân Thành cho biết: “Chính quyền xã đã nhiều lần kiểm tra, đề nghị UBND huyện xử phạt vi phạm hành chính hai cơ sở chế biến lâm sản này, vì hành vi gây ô nhiễm môi trường; đồng thời, yêu cầu hai cơ sở không được xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường.
Chủ hai cơ sở trên cũng nhiều lần hứa không tái phạm, nhưng vẫn lén lút xả nước thải chưa qua xử lý xuống sông Đằn. Việc xử lý nghiêm khắc hơn và đình chỉ hoạt động hai cơ sở này thuộc thẩm quyền của UBND huyện và Sở TNMT Thanh Hóa”.
Được biết, vừa qua Sở TNMT Thanh Hóa đã kiểm tra, lấy mẫu nước thải của hai cơ sở chế biến lâm sản nêu trên để đánh giá mức độ ô nhiễm; lập biên bản, yêu cầu hai cơ sở dừng ngay việc xả nước thải chưa xử lý ra sông Đằn; đồng thời báo cáo UBND tỉnh ra quyết định tạm dừng hoạt động khâu ngâm ủ bột giấy của hai cơ sở trong ba tháng (kể từ ngày 15- 3), để xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay hai cơ sở trên vẫn hoạt động. (Tuổi Trẻ 23/3) đầu trang(
Trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp càng phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn khi gần như đơn vị nào cũng đang có tiềm lực yếu lại luôn trong tình trạng khan vốn.
Qua 10 năm sắp xếp đổi mới các nông lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị, toàn tỉnh Đắk Lắk hiện có 15 công ty TNHH MTV lâm nghiệp, quản lý 197.721 ha rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó diện tích được giao không thu tiền sử dụng đất 31.053 ha, diện tích phải chuyển sang thuê là 14.991 ha.
Thực trạng chung của các công ty lâm nghiệp hiện nay là vẫn chưa tạo được sự chuyển biến mang tính đột phá, vì vậy chưa nâng cao được hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng, đất đai. Rừng do các công ty quản lý tiếp tục bị phá, đất đai bị lấn chiếm, xâm canh ngày càng nhiều, phức tạp, tranh chấp kéo dài.
Nguyên nhân chính vẫn xuất phát từ tiềm lực tài chính của các đơn vị này sau sắp xếp, đổi mới còn yếu. Ngay như một số đơn vị được đánh giá là làm ăn có hiệu quả như: Công ty Lâm nghiệp Krông Bông, M’Drak, Ea Kar… cũng phải chật vật tự xoay xở đồng vốn mới bảo đảm được hoạt động sản xuất, đời sống người lao động.
Ông Bùi Quốc Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (Krông Bông) cho biết: Sau sắp xếp đổi mới, cơ chế hoạt động mới giúp các công ty lâm nghiệp tự chủ hơn, tuy nhiên, các công ty chỉ có mỗi thế mạnh về quỹ đất, nhưng cũng chẳng thế nào phát huy được thế mạnh ấy. Bởi ngay cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của công ty cũng như các đơn vị khác hiện vẫn nằm ở Sở Tài nguyên và Môi trường, vì hầu hết các đơn vị đều không có khả năng tài chính để nộp thuế.
Riêng đối với Công ty, mặc dù diện tích được thuê là 19.000 ha gồm đất rừng và lâm nghiệp, đã có Quyết định của UBND tỉnh, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Sở Tài nguyên – Môi trường, nhưng doanh nghiệp không thể nhận về, bởi không kiếm đâu ra tiền để trả tiền thuế thuê đất lên đến 2 tỷ đồng/năm. Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng nghĩa với việc không có tài sản thế chấp nếu muốn vay vốn. Đây chính là lý do vì sao các công ty lâm nghiệp khó tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng.
Thiếu vốn nên doanh nghiệp không thể nào tạo được bước đột phá trong phát triển sản xuất kinh doanh. Hoạt động sản xuất vẫn chỉ là duy trì những gì đã có, vốn phát triển rừng hằng năm chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ từ Dự án Flitch. Năm 2012, để phát triển sản xuất nhưng không tìm đâu ra nguồn vốn, ban giám đốc Công ty đã phải dùng tài sản cá nhân thế chấp để vay vốn ngân hàng”.
Tương tự, trong những năm qua, bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar cũng đã đa dạng hóa các hình thức phát triển kinh tế theo hướng nông lâm kết hợp, nhưng cũng như các đơn vị khác, vì thiếu vốn mà khó có những hoạch định cho chiến lược phát triển lâu dài. Để có vốn giúp công ty duy trì hoạt động, ông Nguyễn Hùng Mạnh, giám đốc Công ty cũng phải dùng tài sản cá nhân thế chấp vay vốn ngân hàng.
Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về sắp xếp đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh của tỉnh cũng đã nêu rõ những khó khăn về cơ chế tài chính đối với các công ty nông – lâm nghiệp gặp phải, nhất là đối với công ty lâm nghiệp còn nhiều vướng mắc. Các công ty lâm nghiệp thành lập với mục tiêu chủ yếu là quản lý bảo vệ và kinh doanh rừng sản xuất, nhưng không được tự chủ khai thác gỗ theo phương án kinh doanh. Diện tích rừng chưa được xác định giá trị để giao vốn cho doanh nghiệp.
Việc vay vốn của ngân hàng thương mại để trồng rừng sản xuất rất khó khăn (lãi suất cao, thời hạn vay ngắn trong khi chu kỳ sản xuất dài). Tình trạng này kéo dài trong nhiều năm đã đặt doanh nghiệp vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc, có đất, có lao động nhưng không phát triển được sản xuất, dẫn đến việc sử dụng đất đai kém hiệu quả. Bên cạnh đó, nguồn kinh phí quản lý bảo vệ diện tích rừng sản xuất và rừng tự nhiên không được khai thác gỗ, các doanh nghiệp lâm nghiệp phải tự cân đối theo nguồn thu của đơn vị và tính theo định mức bình quân chi phí bảo vệ là 200.000 đ/ha/năm thì không thể đủ để trả lương và chi phí khác.
Tại nhiều hội nghị về lâm nghiệp, các kiến nghị đề xuất với UBND tỉnh từ phía doanh nghiệp đều mong muốn Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các công ty lâm nghiệp trong việc tiếp cận các nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại. Tài sản duy nhất mà những doanh nghiệp này có là diện tích đất rừng Nhà nước giao, nhưng ngay cả giấy chứng nhận quyền sử dụng cũng chưa đơn vị nào có đủ khả năng tài chính thực hiện nghĩa vụ nộp thuế để có thể sở hữu, vì vậy các đơn vị này đã kiến nghị với chính quyền địa phương thực hiện những giải pháp: hoặc cho thuê đất không thu tiền, hoặc nếu có thu tiền thì cho ghi nợ thuế hoặc giãn thời gian nộp thuế sử dụng đất.
Bởi vậy, chỉ khi tháo gỡ được “nút thắt” về vốn thì mới giúp loại hình doanh nghiệp này chủ động vừa phát triển tổ chức sản xuất kinh doanh vừa thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng và từng bước nâng cao chất lượng rừng. (Báo Đắk Lắk 24/3) đầu trang(
Trong những năm qua, phong trào trồng cây gây rừng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc luôn được ngành chức năng và cấp ủy Đảng, chính quyền triển khai quyết liệt, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương, bảo đảm quốc phòng - an ninh.
Xác định được tầm quan trọng và giá trị của rừng đối với các hoạt động kinh tế- xã hội và môi trường sinh thái, hàng năm Hạt Kiểm lâm Phúc Yên đã phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia trồng rừng; nhân rộng các mô hình trồng rừng có hiệu quả.
Với phương châm “Khai thác rừng tới đâu phải trồng rừng ngay tới đó”; ngay từ khâu gieo ươm, các đơn vị sản xuất giống đều thực hiện nghiêm túc quy trình kỹ thuật, tạo ra cây con đảm bảo đúng tiêu chuẩn chất lượng khi xuất vườn nên tỷ lệ cây lâm nghiệp sống cao. Hàng năm. Trung tâm khoa học lâm nghiệp Đông bắc bộ sản xuất bình quân từ 30-50 vạn cây thông Caribê; 20 vạn cây keo, 10 vạn cây bản địa: cây Dầu nước; Sao đen, Lim ba, Sấu…phục vụ nhu cầu trồng rừng trên địa bàn thị xã.
Để trồng rừng đạt hiệu quả, cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và đưa các giống cây mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, Hạt đã phân công cán bộ kiểm lâm thường xuyên bám sát địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn người dân trồng rừng theo đúng quy trình kỹ thuật với mật độ cây trồng hợp lý. Từ khâu: phát dọn thực bì, cuốc hố, bón phân, lấp đất đến chăm sóc. Vì vậy, hầu hết diện tích rừng trồng của các hộ dân đều sinh trưởng, phát triển tốt, cho sản lượng gỗ cao, góp phần nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất rừng.
Theo kế hoạch, năm 2014, toàn tỉnh trồng 770ha rừng, trong đó Lập Thạch: 250ha; Bình Xuyên: 50ha; Tam Dương: 20ha; Sông Lô: 70ha; Tam Đảo: 230ha; thị xã Phúc Yên: 100ha; Trung tâm phát triển lâm nông nghiệp Vĩnh Phúc: 50ha. Để đạt được mục tiêu đề ra, Chi cục Kiểm lâm đã xây dựng kế hoạch và giao chỉ tiêu cho các huyện có rừng; chỉ đạo Hạt kiểm lâm cơ sở cùng với các xã thực hiện việc rà soát quy hoạch đất trồng rừng.
Hiện nay, công tác chuẩn bị hiện trường như xử lý thực bì, cuốc hố đã được các chủ rừng thực hiện theo đúng kỹ thuật; các công ty sản xuất giống đã chuẩn bị hàng triệu cây giống cung ứng cho các địa phương đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng tốt, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng được đánh giá nghiệm thu trước khi đưa vào trồng rừng. Cùng với trồng rừng, lực lượng kiểm lâm hướng dẫn người dân tập trung chăm sóc tốt diện tích rừng đã trồng… (Báo Vĩnh Phúc 25/3) đầu trang(
Tận dụng khoảng đất trống trong vườn rừng, ông Nguyễn Duy Mẫn (ấp An Hòa, xã An Hảo, Tịnh Biên) đã trồng cỏ voi để nuôi nai và bò vỗ béo, thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Đây được xem là mô hình chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao ở miền núi Tịnh Biên, góp phần bảo vệ và phát triển rừng.
Với ông Mẫn, trồng rừng không chỉ là một cái nghề để mưu sinh trên vùng núi Cấm, mà còn là niềm say mê đặc biệt do từ thuở nhỏ ông mong ước được trồng và bảo vệ rừng. Làm được bao nhiêu, ông quyết định lấy hết số tiền dư để tiếp tục mua đất trồng rừng. Đến nay, diện tích đất rừng của ông lên đến 15 héc-ta, gồm: Cây sao, bạch đàn, xà cừ, keo… chạy dài từ chân lên tới đỉnh núi Cấm.
Ông Mẫn tâm sự: “Trồng rừng rất dễ, ai làm cũng được, không cần phải xịt sâu, phun thuốc, chăm chút như trồng rau, màu. Nhưng, để hưởng lợi từ cây rừng thì rất lâu, nhất là đối với đất rừng đã từng bị khai thác đến bạc màu, phải mất nhiều thời gian để chăm sóc, bón phân cải tạo lại đất”.
Lấy ngắn nuôi dài, cây lớn nuôi cây nhỏ, ông xin phép khai thác những cây đúng độ tuổi cần tỉa thưa, thu về 30 – 40 triệu đồng mỗi năm, lấy số tiền này mua cây giống và phân bón tiếp tục trồng, cải tạo đất rừng. Song song đó, ông còn trồng xen 400 gốc xoài “bán khoán” cho người dân trong vùng chăm sóc khi ra bông, thu hoạch trái với giá 30 triệu đồng/mùa, tạo điều kiện để người dân quanh rừng kiếm thêm thu nhập.
Không chỉ trồng rừng và cây ăn trái, ông Mẫn còn tận dụng những khoảng trống dưới tán rừng để trồng cỏ voi nuôi nai và nuôi bò vỗ béo. Năm 1999, ông được Chi cục Kiểm lâm An Giang hỗ trợ vay vốn bằng cặp nai (với giá 18 triệu đồng), thời hạn hoàn trả vốn và lãi sau 3 năm để cải thiện cuộc sống. Nhưng chỉ sau 2 năm, khi nai sinh sản và bán con giống, ông Mẫn đã có thể thu hồi vốn và có lời....
Theo ông Mẫn, nai rất dễ nuôi, dễ chăm sóc, lại ít bệnh, mỗi ngày chỉ cần cho ăn 2 – 3 buổi, khi cho uống nước pha chút muối hoặc chút cám để đảm bảo đủ chất. Thức ăn của nai chủ yếu là các loại cỏ dại hay cỏ voi được trồng xen dưới tán rừng, các phụ phẩm nông nghiệp (vỏ và thân cây bắp, rau muống, khoai lang…) dễ kiếm tại các chợ.
Bên cạnh việc chăm lo kinh tế gia đình, bước vào mùa khô, ông Mẫn cùng mọi người tham gia tích cực công tác phòng, chống cháy rừng, phát hoang cỏ rậm, thường xuyên đi tuần tra và nhắc nhở ý thức bảo vệ rừng đối với những người cào lá làm chất đốt, mưu sinh dưới tán rừng… (Báo An Giang 24/3) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Ðể thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, thời gian qua, Nhà nước đã cho phép nhiều địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang thực hiện các dự án xây dựng công trình thủy điện, giao thông, thủy lợi, khai thác khoáng sản...
Theo đó, một diện tích lớn đất rừng đã được chuyển đổi mục đích sử dụng. Theo quy định, nơi nào được Nhà nước cho phép lấy đất rừng để sử dụng vào mục đích khác, phải trồng bù rừng thay thế. Tuy vậy, thực tế việc trồng bù rừng hiện đạt tỷ lệ rất thấp, khoảng 3,7% diện tích rừng chuyển đổi.
Muốn thực hiện hiệu quả việc trồng rừng sau khi chuyển đổi, cùng với quản lý, cần có các biện pháp, chế tài xử lý vi phạm. Thực tế công tác này thời gian qua còn bị buông lỏng tại nhiều nơi và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chưa thật sự quan tâm, vào cuộc mạnh mẽ thông qua các công cụ chính sách phù hợp, hiệu quả.
Mới đây, để bảo đảm hiệu lực của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, buộc các cá nhân, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về trồng bù rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định 157/2013/NÐ-CP, trong đó quy định các chế tài xử lý vi phạm. Theo đó, cá nhân vi phạm quy định về trồng bù rừng sẽ bị xử phạt tiền đến 500 triệu đồng, tổ chức vi phạm bị xử phạt gấp đôi cá nhân. Trường hợp được Nhà nước giao, cho thuê đất để trồng rừng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư 100% nhưng thực hiện trồng rừng không đúng quy định của Nhà nước cũng bị xử phạt đến 100 triệu đồng.
Ngoài các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật, Nghị định cũng quy định các tổ chức, cá nhân buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng theo suất đầu tư được áp dụng ở địa phương tại thời điểm vi phạm hành chính; buộc trả lại diện tích rừng bị lấn, chiếm và buộc thực hiện ngay việc hoàn thổ.
Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang sử dụng mục đích khác. Yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ chức rà soát các dự án đầu tư có chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác trên địa bàn. Ðồng thời, yêu cầu chủ đầu tư phải trồng lại rừng theo đúng quy định về việc trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác.
Thủ tướng cũng chỉ đạo, đối với các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đã chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác, phải thực hiện trồng rừng thay thế ngay trong năm 2014 và bảo đảm hoàn thành toàn bộ trong năm 2015.
Ðối với các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đang thực hiện quy trình, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác, phải có phương án trồng rừng thay thế và hoàn thành việc trồng rừng thay thế ít nhất bằng diện tích rừng được chuyển mục đích sử dụng cho dự án trong thời gian 18 tháng kể từ khi phương án trồng rừng thay thế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Ðối với các dự án đầu tư mới, khi xem xét phê duyệt dự án đầu tư phải đồng thời phê duyệt phương án trồng rừng thay thế.
Mọi trường hợp không có phương án trồng rừng thay thế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, thì kiên quyết không phê duyệt phương án đầu tư. Chính phủ yêu cầu vào tháng 1 hằng năm, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức đánh giá việc thực hiện trồng rừng mới thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác trên địa bàn, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng.
Cùng với các quy định của pháp luật, việc Chính phủ vừa ban hành hàng loạt các chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, hy vọng thời gian tới rừng sẽ được quản lý tốt hơn, các tổ chức, cá nhân sẽ có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng đất rừng hiệu quả, hạn chế tới mức thấp nhất việc phá rừng để thực hiện các dự án phục vụ lợi ích trước mắt. (Nhân Dân 25/3) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Nhu cầu về gỗ dự đoán sẽ tăng nhanh trong những thập kỷ tới, trong khi tốc độ phát triển những đồn điền mới hiện vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu này.
Bài viết dưới đây của nhà tư vấn chính sách lâm nghiệp Sepul K. Barua và cán bộ cấp cao Petri Lehtonen thuộc Công ty tư vấn độc lập Indufor Oy (Phần Lan) đăng trên tạp chí khoa học Tropical Forest sẽ xem xét nhu cầu về gỗ, sức tăng trưởng kỳ vọng đối với lĩnh vực đồn điền và các giải pháp đề xuất cho các cơ sở trồng rừng quy mô vừa và nhỏ nhằm đảm bảo việc mở rộng đồn điền bền vững về cả kinh tế, xã hội cũng như môi trường.
Theo Ngân hàng dữ liệu rừng trồng Indufor công bố năm ngoái, tổng diện tích cây công nghiệp toàn cầu năm 2012 đã đạt 54,3 triệu héc-ta. Các nước chiếm diện tích lớn nhất (trên 5 triệu héc-ta/nước) là Mỹ, Trung Quốc và Brazil, xếp sau (trên 2,5 triệu héc-ta/nước) là Ấn Độ và Indonesia. Xét theo khu vực thì châu Á là khu vực dẫn đầu về tổng diện tích cây công nghiệp, kế đến là Bắc Mỹ và Mỹ Latinh. Con số này ở châu Phi, châu Đại dương và châu Âu không hơn nhau là mấy.
Cứ theo đà tăng trưởng hiện tại, Indufor dự đoán, diện tích trồng cây công nghiệp toàn cầu sẽ tăng lên 91 triệu héc-ta vào năm 2050. Châu Á và Mỹ Latinh là hai khu vực được kỳ vọng đạt mức tăng trưởng cao nhất với diện tích lần lượt là 17 triệu héc-ta và 15 triệu héc-ta tính đến năm 2050.
Cũng theo Indufor, lượng cung cấp gỗ tròn từ các đồn điền công nghiệp có khả năng sẽ tăng từ hơn 500 triệu mét khối năm 2012 lên tới khoảng 1,5 tỷ mét khối năm 2050. Mức tăng trên được dự đoán trên cơ sở sự mở rộng diện tích cũng như chất lượng của các đồn điền lớn nhờ những cải tiến vượt bậc về giống, kỹ thuật và quản lý.
Động lực chính thúc đẩy nhu cầu về gỗ, từ đó dẫn đến xu hướng mở rộng các đồn điền công nghiệp nằm ở tốc độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển của nền kinh tế, nhất là ở các nền kinh tế mới nổi như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ. Sự phát triển cơ sở hạ tầng, bao gồm các cảng biển đang giúp các nước sản xuất gỗ có cơ hội tiếp cận những thị trường quốc tế rộng mở với lượng cầu khổng lồ.
Đồng thời, việc nhiều nước thay đổi chính sách khí hậu và năng lượng, từng bước từ bỏ nền kinh tế dựa chủ yếu vào nhiên liệu hóa thạch để chuyển dần sang nền kinh tế các-bon thấp cũng làm tăng nhu cầu sử dụng sinh khối gỗ cho các lĩnh vực năng lượng, xây dựng, chế phẩm sinh học…, từ đó đẩy nhu cầu tiêu thụ gỗ lên cao.
Hiện tại, các đồn điền gỗ mới chỉ đáp ứng được khoảng 1/3 nhu cầu gỗ tròn công nghiệp toàn cầu. Báo cáo đánh giá chiến lược về tương lai các đồn điền trồng rừng trên thế giới do Indufor công bố năm 2012 ước tính rằng năm 2050, lượng cung cấp gỗ từ các đồn điền có khả năng đáp ứng khoảng 35% tổng nhu cầu về gỗ công nghiệp.
Nói cách khác, tỷ lệ tăng lượng cung cấp gỗ từ các đồn điền sẽ ở mức tương đương với tỷ lệ tăng nhu cầu về gỗ tròn công nghiệp. Theo đó, nếu chỉ dựa vào các đồn điền cây công nghiệp sẽ không thể đáp ứng nhu cầu về gỗ tròn công nghiệp mà cần phải hướng tới quản lý hiệu quả các đồn điền hiện có, đồng thời mở rộng mạng lưới đồn điền một cách bền vững.
Để mở rộng các đồn điền trồng rừng lớn, những quốc gia có tiềm năng mở rộng như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil… cần phải vượt qua một loạt thách thức liên quan tới các vấn đề đất đai, môi trường, xã hội, quản trị và đầu tư.
Theo dự đoán, trong vài thập kỷ tới, số lượng các cơ sở trồng rừng quy mô vừa và nhỏ ở những quốc gia nói trên sẽ tăng lên. Điểm yếu lớn nhất của họ chính là thiếu năng lực và vị thế để có thể đứng ra đàm phán, giao dịch với những người vận hành thị trường, đại lý trung gian và những khách hàng lớn. Ngoài ra, họ thường không có đầy đủ thông tin về thị trường và dựa chủ yếu vào các đại lý trung gian để tiến hành giao dịch.
Một thách thức khác mà đa phần các nước đều gặp phải là tình trạng trưng dụng đất và cạnh tranh về vấn đề sử dụng đất. Ở nhiều quốc gia châu Á và châu Phi, đất đai phần lớn thuộc quyền sở hữu của nhà nước, do đó việc đạt được quyền sở hữu đất không hề dễ dàng, thậm chí còn dễ châm ngòi cho những xung đột xã hội, ảnh hưởng xấu đến vị thế quốc gia, nhất là trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài.
Đặc biệt, trong bối cảnh nhu cầu về lương thực, gỗ và nhiên liệu sinh học không ngừng gia tăng, cuộc cạnh tranh đất đai giữa các đồn điền trồng rừng và nông nghiệp càng trở nên căng thẳng. Điều này trực tiếp đẩy giá đất lên cao, khiến các đồn điền trồng rừng buộc phải chuyển hướng dần sang những vùng đất mới.
Thêm nữa, việc mở rộng đồn điền trồng gỗ còn dễ dẫn đến tình trạng mất rừng tự nhiên hay các bãi than bùn, làm phát thải một lượng các-bon đáng kể ra bầu khí quyển; đồng thời gây nguy cơ thiếu nước do thường xuyên phải sử dụng nước để tưới tiêu.
Chưa kể, hoạt động quản trị yếu kém ở nhiều quốc gia châu Á và châu Phi cũng khiến xu hướng phát triển này càng thêm rủi ro, nhất là về vấn đề thực thi pháp luật. Đơn cử như ở Uganda – nơi đã thiết lập được một hệ thống pháp luật bảo vệ rừng tương đối mạnh, công tác thực thi pháp luật lại bộc lộ những yếu kém do thiếu ngân sách hoạt động, hạn chế về thể chế và năng lực của cán bộ thực thi…
Từ những thách thức trên, nhóm tác giả đề xuất một vài giải pháp để hoạt động mở rộng các đồn điền lớn trên toàn cầu diễn ra thuận lợi và phát triển theo hướng bền vững nhất.
Trước hết, các cơ sở trồng rừng quy mô vừa và nhỏ nên xây dựng các hiệp hội, liên minh, tổ hợp tác để hỗ trợ lẫn nhau trong việc mở rộng quy mô, tiếp cận thông tin và đàm phán thành công với khách hàng cũng như các nhà cung cấp.
Kế đến, các nước có tiềm năng mở rộng diện tích đồn điền cần tạo ra những nguồn đầu tư hoặc cho vay bền vững, có trách nhiệm. Ở nhiều quốc gia đang phát triển, tình trạng các cơ sở trồng rừng thiếu vốn đầu tư dài hạn được nhìn nhận là một rào cản lớn đối với quy hoạch phát triển đồn điền. Theo đó, chính phủ cần tạo điều kiện cung cấp cho họ những khoản vay cần thiết từ hệ thống ngân hàng phát triển trung ương hay các thể chế tài chính khác, nhất là với các cơ sở quy mô vừa và nhỏ vốn không đủ khả năng vay vốn nước ngoài.
Về phần mình, trước khi quyết định đầu tư hoặc cho vay, các thể chế tài chính cũng nên cân nhắc, đánh giá kỹ những rủi ro có thể gặp phải bởi loại hình đầu tư này còn khá mới, nếu không cẩn thận sẽ rất khó thu hồi vốn.
Thứ nữa, chính phủ các nước có ý định đầu tư mở rộng đồn điền cần thúc đẩy quản trị hiệu quả và tăng cường tính minh bạch thông qua các sáng kiến cải cách quản trị toàn diện. Điều đó cũng sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ tham nhũng và tệ quan liêu, ngoài ra còn rút ngắn được các quy trình, thủ tục đầu tư phiền hà.
Cùng với quá trình cải cách quản trị, các nước cần chú trọng cải thiện chính sách, pháp luật liên quan tới các quy trình trưng dụng và cho thuê đất, sắp xếp lại hệ thống địa chính và bản đồ phân bố đất đai trên lãnh thổ của mình, đồng thời xây dựng năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm tạo ra và ứng dụng thành công các mô hình đồn điền thử nghiệm trước khi triển khai thực tiễn.
Đặc biệt, sẽ thành công hơn nếu chính phủ các quốc gia có tiềm năng mở rộng đồn điền triển khai hiệu quả quy hoạch về thuế và những cơ chế khuyến khích. Nhiều cơ chế khuyến khích trồng rừng cũng đồng thời thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến gỗ. Đổi lại, các dòng đầu tư vào ngành chế biến cũng thúc đẩy đầu từ vào lĩnh vực trồng rừng bằng cách đảm bảo đầu ra cho gỗ.
Tuy nhiên, các khoản khuyến khích trồng rừng như vậy không nên do chính phủ khởi xướng mà nên được vận hành bởi thị trường cạnh tranh. Đồng thời, cũng cần chú trọng việc đánh giá và loại bỏ các tác động tiêu cực của các khoản hỗ trợ, khuyến khích trong lĩnh vực khác có thể gây trở ngại cho lĩnh vực lâm nghiệp (chẳng hạn các khoản hỗ trợ nông nghiệp có thể dẫn đến phá rừng).
Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, nhóm tác giả khuyến cáo rằng các chương trình khuyến khích, hỗ trợ nên là các chương trình dựa trên kết quả triển khai thực tế – chú trọng vào tỷ lệ cây sống cao và sản lượng; chỉ nên là chương trình ngắn hạn; kết hợp được cả hai hình thức hỗ trợ trực tiếp – gián tiếp; hỗ trợ được nhiều nhóm đối tượng; và tuân thủ nghiêm ngặt những tiêu chuẩn tốt nhất về môi trường – xã hội. Xây dựng được cơ chế hiệu quả sẽ hỗ trợ các nước rất nhiều trong quá trình phát triển và quản lý bền vững các đồn điền trồng gỗ.
Ngoài ra, đầu tư trồng rừng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do sâu bệnh, cháy rừng và các nguy cơ khác. Chính vì thế việc phát triển các hình thức giảm nhẹ rủi ro như chương trình bảo hiểm hoặc quỹ đảm bảo rủi ro là rất cần thiết. Các cơ chế bảo hiểm như vậy có thể giảm nhẹ rủi ro đổ vỡ tài chính, đồng thời cũng tháo gỡ bớt những cản trở trong đầu tư vào lĩnh vực trồng rừng.
Bên cạnh tất cả các giải pháp trên, các giải pháp dài hạn như những cải cách trong và ngoài ngành lâm nghiệp, tăng cường ổn định chính trị, kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh chắc chắn sẽ có những tác động tích cực đáng kể nhằm phát triển bền vững ngành trồng rừng. (Thiên Nhiên 24/3) đầu trang(
Lực lượng chức năng ở hai khu bảo tồn tư nhân tại tỉnh Laikipia, Kenya đang truy tìm kẻ đã sát hại một cá thể tê giác trắng (có tên gọi Dennis) vào đêm 18-3.
Sự việc xảy ra khi những kẻ săn trộm nổ súng hạ sát tê giác tại khu bảo tồn được bảo vệ nghiêm ngặt Ol Jogi tại tỉnh miền Bắc Kenya, Laikipia. Cá thể tê giác trắng bảy tuổi đã bị bắn hạ khi đang gặm cỏ. Trong khi đó, một cá thể tê giác khác có tên Wasiwasi cũng bị ngắm bắn nhưng chỉ bị thương.
Phát biểu tại khu bảo tồn Ol Jogi, Wycliffe Ogallo, Ủy viên tỉnh Laikipia cho biết các nhân viên thực thi sử dụng chó nghiệp vụ đang truy tìm những kẻ tình nghi.
Cuộc truy tìm được một lực lượng đặc biệt của Cơ quan bảo tồn các loài hoang dã Kenya (KWS) tiến hành với sự phối hợp chỉ huy của trưởng nhóm Richard Chepkwony, Cảnh sát trưởng Angelus Karuru và Giám đốc Abdallah Komesha.
John Weller, Giám đốc khu bảo tồn Oljogi, cho biết tê giác bị bắn hạ vào khoảng 7 giờ tối. Tuy nhiên, những kẻ săn trộm đã không thể lấy sừng của các cá thể tê giác.
Trong một diễn biến khác, các kẻ săn trộm đã bắn hạ một cá thể voi cũng ở khu vực tỉnh Laikipia. Những kẻ phạm pháp này đã kịp mang ngà voi đi. Richard Chepkwony khẳng định: “Họ (những kẻ săn trộm) có thể đang được huấn luyện dở dang thông qua việc chỉ cắt được nửa ngà. Chúng tôi sẽ nhanh chóng tìm ra những kẻ phạm tội”.
Tình hình ngày càng tồi tệ hơn sau khi một cá thể tê giác khác bị sát hại và bị lấy sừng tại khu bảo tồn Olpejeta. Vụ việc trên xảy ra vào lúc 7 giờ tối ngày 21-3. Các vụ việc trên đang được tiến hành điều tra với sự trợ giúp của cảnh sát.
Theo thông tin của KWS, những người quản lý khu bảo tồn Oljogi đã có thông tin về khả năng tê giác bị săn trộm song đã không thực hiện các biện pháp bảo vệ kịp thời. Họ cũng được thông báo 4 giờ trước khi những tay săn trộm thực hiện các hành động sát hại ghê tởm tại khu bảo tồn. Đặc biệt, nguồn tin cho biết những kẻ bị tình nghi có khả năng đã bắt tay với các nhân viên bảo vệ tại khu bảo tồn.
Trước tình hình trên, Richard Leakey, Cựu giám đốc KWS cảnh báo Kenya cần phải thực hiện hành động dứt khoát với tình trạng săn bắt bất hợp pháp voi và tê giác. Ông cho rằng những kẻ săn trộm đã đạt đến tầm của tội phạm quốc tế với việc tự do hoành hành, sát hại voi và tê giác ở mức độ có thể dẫn đến tuyệt chủng. Đó là thảm họa quốc gia và phải ngăn chặn tình trạng này tiếp diễn.
Nghiên cứu mới nhất của Wildlife Direct cho thấy chỉ có 4% các đối tượng xâm hại các loài hoang dã bị phạt tù trong giai đoạn từ 2008 đến giữa năm 2013. Báo cáo của KWS cho biết trong khi số lượng tê giác và voi bị biết hại ở Kenya tăng trong năm 2013, quốc gia Đông Phi này chỉ còn khoảng 1.030 cá thể tê giác và 38.000 cá thể voi.
Tuy nhiên, Paula Kahumbu, giám đốc điều hành Wildlife Direct khẳng định số lượng động vật hoang dã bị giết hại thực tế còn còn cao hơn thống kê của các cơ quan chức năng. Ông cũng cho biết các nhà bảo tồn đã dự đoán chỉ còn khoảng hơn 600 cá thể tê giác tồn tại ở Kenya.
Có 70% trong số 743 vụ bị truy tố bị bỏ qua. Điều tra của Interpol cho thấy rất nhiều ngà voi bị vận chuyển quá cảnh thông qua các cảng ở Mombasa song chưa có vụ việc nào được đưa ra xét xử ở Mombasa.
Trong khi đó, ở khu vực Đông Phi, nhiều chính phủ và cơ quan quản lý các loài hoang dã đã thực hiện các biện pháp quyết liệt, đặc biệt là tổng thống Kaguta Museveni của Uganda đã ra lệnh cho các cơ quan chức năng nước này bắn hạ ngay bất cứ kẻ săn trộm nào bị bắt quả tang nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đem lại nguồn thu cho đất nước. (Nhân Dân 24/3) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa