Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 25 tháng 01 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Vào lúc 17h45’ chiều 24/1, đã xảy ra vụ cháy lớn tại khu đồi Vạn Yên, phường Việt Hưng, TP Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh). Lửa bùng phát kèm theo gió mạnh khiến cho đám cháy lan rộng, thiêu rụi nhiều hecta rừng.
Những người di chuyển trên tuyến đường 279 đoạn đi qua địa phận phường Việt Hưng đều nhìn thấy một diện tích lớn rừng đang “phát hỏa”. Nhiều người tưởng do bà con đốt nương rẫy, nhưng đây là một vụ cháy rừng, vì dải lửa dài hàng trăm mét đang bốc cháy ngùn ngụt.
Theo ghi nhận của phóng viên có mặt tại hiện trường lúc 18h30, ngọn lửa vẫn đang cháy lan rất nhanh. Vào thời điểm trên, gió thổi mạnh, khiến cho ngọn lửa phát tán càng đáng lo ngại tại khu đồi này.
Liên quan đến sự việc trên, ông Hồ Quang Huy, Phó Chủ tịch TP Hạ Long cho biết, sau khi tiếp nhận thông tin, thành phố đã nhanh chóng chỉ đạo địa phương huy động lực lượng tiến hành dập lửa. Đến 19h, ngọn lửa vẫn đang lan rộng và có nguy cơ lan sang các khu đồi khác. (VOV 24/1)đầu trang(
Việc nâng cấp Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh trở thành Vườn Quốc gia, bổ sung 2 tiểu khu rừng Lim Xanh và rừng di sản Pơmu trong vườn Quốc gia được kỳ vọng sẽ có thêm cơ chế để bảo vệ nghiêm ngặt hơn cho khu vực này...
Chiều ngày 23.1, tại TP. Tam Kỳ( Quảng Nam) đã diễn ra hội nghị triển khai một số nhiệm vụ phát triển ngành nông nghiệp trong năm 2017.
Ông Lê Trí Thanh- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, Bộ trưởng bộ NNPTNT đã thống nhất đồng ý chủ trương nâng cấp Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh trở thành Vườn Quốc gia. Đề nghị các ngành chức năng của tỉnh tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, bám theo văn bản chỉ đạo của bộ NNPTNT để sớm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
Theo đó, việc thành lập Vườn Quốc gia Sông Thanh trên cơ sở diện tích lâm phận cũ đang quản lý là 75.274ha. Bổ sung khu vực rừng Lim Xanh( 1.000 ha) và rừng di sản Pơmu( 7.000ha) thành 2 tiểu khu của Vườn Quốc gia để công tác bảo tồn đa dạng sinh học được thực hiện nghiêm ngặt hơn. (Lao Động 24/1)đầu trang(
Những khu rừng mộ đá cổ khổng lồ có từ hơn 500 năm trước nằm dọc sông Mã phía thượng nguồn huyện biên viễn Quan Hóa (Thanh Hóa) ẩn chứa nhiều điều kỳ bí mà cho đến giờ kể cả người bản địa cũng không lý giải được.
Xã Trung Thành, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nằm cách trung tâm TP Thanh Hóa khoảng 200 km, đây là một trong những xã xa xôi cách trở nhất của huyện Quan Hóa. Để đến với vùng đất của những ngôi mộ đá bí ẩn, chúng tôi phải rất vất vả vượt qua hàng chục km đường rừng với núi non hiểm trở.
Theo ông Phạm Bá Ngọc (ngụ bản Phai, xã Trung Thành), xưa kia không chỉ ở Trung Thành mà các xã khác như Trung Sơn, Thành Sơn (Quan Hóa) có rất nhiều thú dữ. Hổ (người bản địa gọi là cọp) đã trở thành nỗi khiếp sợ của người dân bởi đã có rất nhiều người bị loài thú hung dữ này vồ, ăn thịt. “Ngày trước, chúng tôi chẳng dám đi rừng hay làm nương một mình, còn trâu bò thì cho vào gầm nhà sàn rào kỹ lại không sợ cọp về tha. Nghe các cụ kể lại, dòng họ nhà tôi đã có 3 người bị hổ vồ, ăn thịt”- ông Ngọc kể.
Theo người dân bản Phai, người hiểu núi rừng và vùng đất này chẳng ai ngoài ông Phạm Bá Ngoằng (74 tuổi). Gặp chúng tôi, người đàn ông với nước da trắng, cao gầy sẵn sàng dẫn chúng tôi đi khám phá rừng mộ đá cổmà chính ông cũng mất nhiều công sức để giải những điều đang còn bí ẩn. Ông kể: “Dãy núi Khò Hùng tại bản Cá của xã giống hình dáng con rồng cuộn. Từ xưa, ai đến vùng đất này lập nghiệp cũng đều khá giả. Tuy ở nơi rừng thiêng hiểm trở nhưng sống ở mạch đất rồng nên đời sống bà con đều khấm khá”.
“Vùng đất này rất lạ, lạ từ hòn đá bốn chân được coi là thuỷ thần, đến tảng đá Han dưới dòng suối Quýt linh thiêng, rồi những cánh rừng mộ đá cổ vẫn hiện hữu giữa khu dân cư... Tất cả đều được dân bản chúng tôi tôn thờ. Trong đó, có những ngôi mộ cổ kỳ bí bên dòng suối Tàu đổ về sông Mã”- ông Ngoằng kể.
Theo chân ông Ngoằng, chúng tôi đến khu mộ trên đồi nhà anh Hà Minh Tâm ngay đầu bản Phai. Đây là một quần thể hơn chục ngôi mộ nằm rải rác dưới những tán cây rừng. Không như mộ người Kinh và một số dân tộc khác như Mường, Thổ, Mông... vì nhiều ngôi mộ cổ ở đây rất dài, từ 5-7 m. Ngay điểm đầu và cuối các mộ đều được chôn các tảng đá lớn theo hướng dựng đứng. Đá phần đầu thường lớn hơn và cao từ 2-4 m, rộng hơn 1 m, dày khoảng từ 10-20 cm.
Rất nhiều ngôi mộ trong vườn nhà anh Tâm và những rừng mộ đá cổ dọc thượng nguồn sông Mã ở khu vực suối Phai, suối Tàu, suối Quýt (xã Trung Thành), bản Co Me (xã Trung Sơn)... đều có đặc điểm tương tự. Điều chúng tôi khó hiểu là đá này được lấy ở đâu vì trong vùng không có loại đá này. Đây là mộ của tộc người nào? Những ngôi mộ có từ bao giờ? Không biết người xưa đã vận chuyển những tảng đá này từ đâu về và bằng cách nào…
Ông Ngoằng và một số người dân đều khẳng định từ thế kỷ XVII, tổ tiên của ông là người Thái xứ Ca Da (thuộc thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa ngày nay) mới đến vùng đất này lập nghiệp cai quản nhưng đã thấy những ngôi mộ đá này.
Được biết, hiện qua khảo sát, trên địa bàn hai xã Trung Thành, Trung Sơn có khoảng 6 khu rừng mộ đá cổ, mỗi khu có từ 4-8 ngôi mộ nằm gần nhau. Tất cả các khu rừng mộ đá cổ này đều nằm ở các khu vực triền đồi và gần với những con suối đổ ra sông Mã.
Theo ông Ngoằng, khi còn nhỏ, ông được nghe ông bà kể lại những ngôi mộ trên chính là những ngôi mộ chôn người Dưới (có nghĩa là người khổng lồ). "Nghe cũng có lý vì tìm khắp vùng đất này không thể phát hiện ở đâu có loại đá để làm mộ này. Không biết những tảng đá lớn nặng cả tấn chôn ở đầu các khu mộ được vận chuyển từ đâu và bằng cách nào tới đây. Phải chăng người khổng lồ xuất hiện ở vùng đất này là có thật”- ông Ngoằng nhận định.
Người dân bản địa cho biết những ngôi mộ cổ này rất linh thiêng, nếu ai đó đập những tảng đá quanh ngôi mộ sẽ bị thần linh trừng trị, nhẹ thì gãy tay, gãy chân, nặng thì bị thú rừng ăn thịt… Vì thế, người dân tại những rừng mộ đá coi đó là chốn linh thiêng, cần được bảo vệ.
“Trước đây, một ngôi mộ lớn đã được đào thử, xuống khoảng 1 m, người ta thấy có lớp than đen. Do sợ vấn đề tâm linh, người dân đã lấp lại. Cách đây ít năm, cũng có thông tin một nhóm người dưới xuôi lên, dùng máy dò kim loại và đã khai quật trộm một ngôi mộ. Không biết có lấy được vàng bạc gì không, nhưng có người trong bản đi qua thấy có nồi đất dưới mộ được họ đào lên”- ông Phạm Bá Ngọc kể lại.
Bà Trịnh Thị Lan, công tác tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, người phát hiện khu mộ đá Co Me (xã Trung Sơn) trong một lần điền dã vào năm 2000, cho rằng việc dựng những phiến đá lớn xung quanh khu mộ là hình thức mai táng theo quan niệm của những cư dân Việt - Mường cổ.
“Nhìn những phiến đá lớn dựng thẳng xếp theo vòng tròn, những dòng chữ Nho ngay ngắn, tôi biết ngay đây là hình thức táng tục của địa phương. Theo hình thức này, người chết được chôn chính giữa và những khối đá xung quanh được sắp xếp một cách có chủ ý. Mỗi người con trai sẽ đặt bên mộ cha mình một viên đá, con cả đặt phía đầu, con út đặt phía chân, các con thứ sẽ đặt xung quanh. Nếu người chết có bao nhiêu con trai thì bên mộ sẽ có bấy nhiêu viên đá”- bà Lan cho biết.
Được biết, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa cũng đã có văn bản yêu cầu kiểm tra những ngôi mộ đá cổ ở Quan Hóa để bảo vệ, đồng thời sẽ mời các chuyên gia khảo cổ tiến hành thám sát những khu mộ đá cổ để có phương án bảo tồn thích hợp. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một nhà khoa học nào về nghiên cứu những ngôi mộ này, khiến người dân và chính quyền địa phương lo lắng bởi khi thủy điện Trung Sơn tích nước thì những rừng mộ đá này sẽ biến mất. (Người Lao Động 24/1)đầu trang(
Nhờ được chăm sóc, bảo vệ tốt nên những cánh rừng của xã biên giới Hua Bum (huyện Nậm Nhùn) phát triển tốt với tỷ lệ che phủ đạt 60,69% (năm 2016).
Được nghe nói nhiều chuyện Hua Bum là xã có diện tích rừng nhiều nhất huyện, nhưng khi chúng tôi vượt gần trăm cây số tới đây mới thấy điều đó quả không ngoa. Bởi rừng nơi đây phát triển rất tốt, quanh các bản, xã đồi núi đều phủ màu xanh của rừng.
Được biết, bà con người Hà Nhì, Mông, Mảng ngoài làm nông nghiệp cuộc sống đều gắn bó chặt chẽ với rừng vì vậy dân bản luôn coi rừng là nguồn sống cần bảo vệ, giữ gìn. Ông Nguyễn Văn Cao - Chủ tịch UBND xã Hua Bum cho biết: Để chủ động bảo vệ, phát triển rừng, xã xây dựng kế hoạch bảo vệ rừng, từ đó triển khai tới các bản, người dân.
Đồng thời, phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện thực hiện đảm bảo đúng, đủ quyền lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thành lập, kiện toàn tổ, đội xung kích bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm lâm luật.
Với 410 hộ dân sinh sống ở 6 bản, tỷ lệ hộ nghèo cao và sản xuất nông nghiệp là chủ đạo, các bản xa nhau, nhận thức của một bộ phận Nhân dân còn hạn chế... cũng khiến công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng đôi lúc gặp khó khăn.
Do vậy, công tác vận động, tuyên truyền được cấp ủy, chính quyền xã coi là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng. Xã phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ, Hạt Kiểm lâm huyện tuyên truyền thông qua các hình thức: trực tiếp, pa nô tài liệu liên quan đến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng…
Anh Chẻo Sần Phạ (bản Nậm Cười) cho hay: “Vui lắm! Từ khi có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cuộc sống chúng tôi khác hẳn. Ngày trước dù làm nương, kiếm củi, măng, rau trong rừng nhưng cuộc sống vẫn thiếu thốn. Được cán bộ xã, huyện tuyên truyền, chúng tôi nhận trồng, bảo vệ rừng. 2 lần/năm được nhận chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, chúng tôi có thêm tiền để trang trải cuộc sống”.
Các tổ, đội xung kích tuần tra bảo vệ rừng ở các bản được trang bị cuốc xẻng, gậy, đèn pin, áo mũ,... có nhiệm vụ cùng Công an xã, Kiểm lâm cắm địa bàn tuần tra 24/24h, nhất là những khu vực rừng già, rừng phòng hộ; tuyên truyền, vận động người dân không canh tác gần rừng, khi đốt nương phải thông báo cho chính quyền xã để cử người túc trực, nhiều bản còn đưa việc bảo vệ, phát triển rừng vào quy ước, hương ước để thực hiện.
Anh Phùng Chứ Gía (bản Chang Chảo Pá) cho biết: “Dân bản chúng tôi luôn có ý thức bảo vệ rừng, khi đốt nương hoặc có người lạ vào rừng đều thông báo cho chính quyền xã, kiểm lâm cắm địa bàn biết. Bản cũng đưa nội dung bảo vệ rừng vào quy ước, nếu ai vi phạm sẽ xử lý nghiêm khắc. Tôi thường xuyên giáo dục con cháu có ý thức bảo vệ “lá phổi” xanh”.
Chính quyền xã cũng ký cam kết với các bản bảo vệ, phát triển rừng. Trong 3 năm qua, rừng ở Hua Bum được bảo vệ tốt, diện tích rừng tăng lên 15.818,5ha (rừng phòng hộ 12.939,1ha, rừng sản xuất 2.868,5ha…), độ che phủ 60,69% (năm 2016), tăng 3.110,6ha và 11,89% độ che phủ so với năm 2015.
Năm 2016, hơn 3 tỷ tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả cho bà con. Đã có nhiều bản làm tốt công tác bảo vệ rừng: Nậm Nghẹ, Nậm Tảng, Chang Chảo Pá, Nậm Cười. Đặc biệt, với thành tích đạt được, năm 2015, xã Hua Bum được UBND tỉnh tặng Bằng khen về làm tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng. (Báo Lai Châu 24/1)đầu trang(
Trước, trong và sau Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 là thời điểm “lâm tặc” thường lợi dụng để khai thác gỗ trái phép, săn bắn động vật, vận chuyển, kinh doanh trái phép lâm sản. Đồng thời, cũng là thời điểm diễn ra nhiều lễ hội, tham quan du lịch tại các đền, chùa, khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở các khu vực trong và ven rừng, nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Hiện nay, toàn tỉnh có 590.366,54 ha rừng (trong đó 384.221,5 ha rừng tự nhiên; 206.145,04 ha rừng trồng). Mặc dù, trong thời gian qua công tác bảo vệ rừng (BVR), phòng chống cháy rừng (PCCR) đã có nhiều chuyển biến.
Tuy nhiên, trong năm 2016, tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép vẫn xảy ra ở một số địa bàn trọng điểm, như các huyện Thường Xuân, Bá Thước, Lang Chánh và Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông… Hơn nữa, chính quyền một số địa phương còn buông lỏng quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Một số chủ rừng chưa quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng được giao khoán.
Để bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch BVR, PCCR, đấu tranh chống buôn lậu lâm sản trước, trong và sau Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017.
Đồng thời, các địa phương đã tổ chức thực hiện ký cam kết BVR với người dân địa phương tại các xã vùng trọng điểm có nhiều rừng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã bố trí 100% xã, phường, thị trấn có cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác quản lý BVR, quản lý lâm sản và PCCR; chỉ đạo các hạt kiểm lâm, đội kiểm lâm cơ động và PCCR tăng cường lực lượng để ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trái phép tại các khu vực rừng phòng hộ, rừng giáp ranh giữa các huyện và tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp.
Để thực hiện tốt công tác quản lý, BVR trong những ngày trước, trong và sau Tết Nguyên đán, các hạt kiểm lâm đã xây dựng kế hoạch, bố trí lực lượng tuần tra, kiểm soát nhằm xử lý kịp thời các tình huống. Cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể, các chủ rừng, chính quyền các địa phương tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân sống gần rừng về các quy định bảo vệ rừng, PCCR bằng nhiều hình thức, để người dân hiểu và chấp hành.
Các Hạt kiểm lâm cũng đã chủ động phân công cán bộ bám sát địa bàn, phối hợp với chính quyền các địa phương tích cực tuần tra, kiểm soát BVR. Ngoài ra, các đơn vị kiểm lâm đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương cơ sở, chủ rừng tăng cường tuần tra, kiểm tra các khu rừng trọng điểm còn giàu tài nguyên cũng như các địa bàn trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao.
Trong thời gian nghỉ tết, tổ chức phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ kiểm lâm, bảo đảm quân số trực có thể cơ động ngay để xử lý kịp thời các tình huống xảy ra trên địa bàn. Ngoài ra, phương án PCCR cũng thực hiện quyết liệt tại cơ sở theo phương châm “4 tại chỗ” để chủ động kiểm soát tình hình, kịp thời khống chế nhanh nhất các trường hợp cháy rừng.
Bên cạnh sự nỗ lực của lực lượng kiểm lâm trong công tác BVR, PCCR, chính quyền các cấp, các chủ rừng tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức cho người dân tham gia BVR, PCCR. (Báo Thanh Hóa 24/1)đầu trang(
Ba đối tượng ngang nhiên dùng xe máy chở 4 khúc gỗ lậu lớn chạy trên quốc lộ 9, tỉnh Quảng Trị như chốn không người.Những hình ảnh dưới đây được PV Dân Việt ghi lại vào chiều 24.1 tại km 52 quốc lộ 9, đoạn đi qua thôn Vùng Kho, xã Đakrông, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
Ba thanh niên ngang nhiên điều khiển xe máy chở 4 khúc gỗ lậu to trên quốc lộ 9, sau đó rẽ vào ngôi nhà của người có tên Hồ La (trú thôn Vùng Kho).
Điều đáng nói, địa điểm sự việc xảy ra chỉ cách Trạm kiểm lâm Đakrông, thuộc Hạt kiểm lâm huyện Đakrông khoảng 2km.
Ông Phạm Văn Hùng, Phó Chủ tịch UBND, Trưởng Ban chỉ huy bảo vệ và phát triển rừng huyện Đakrông đã cùng lực lượng kiểm lâm và PV Dân Việt đến nhà ông Hồ La để kiểm tra.
Ông Đinh Thiên Hoàng, Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Đakrông cho biết, sau quá trình kiểm tra lực lượng đã thu giữ tại nhà ông La 1,1 m3 gỗ nhóm 6 và 7. Bước đầu ông La khai đã lấy số gỗ trên ở khu vực rừng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ Đakrông.
Ông Phạm Văn Hùng cho biết, khi lực lượng chức năng đến làm việc, ông La có biểu hiện chống đối. Với tư cách là Trưởng Ban chỉ huy bảo vệ và phát triển rừng huyện Đakrông, ông Hùng khẳng định đã có trách nhiệm cao trong công tác giữ rừng, không huyện nào bằng, được tỉnh khen. (Dân Việt 25/1)đầu trang(
Giáp Tết Nguyên Đán, nạn chặt phá cây rừng quý hiếm làm cây cảnh chơi tết xảy ra nhiều. UBND tỉnh Lào Cai đã ra văn bản chỉ đạo giải quyết tình trạng này.
Những ngày giáp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, một số người dân vùng cao tỉnh Lào Cai, nhất là ở gần khu vực Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) và Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên (Văn Bàn), Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát (Lào Cai) rủ nhau vào rừng tìm kiếm các loài cây rừng quý hiếm bán cho người sưu tầm cây cảnh hoặc để chơi tết.
Trước tình trạng này, vừa qua, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành công văn khẩn gửi các cấp, các ngành hữu quan có biện pháp ngăn chặn kịp thời tình trạng khai thác trái phép các loại thực vật hoang dã quý hiếm trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Công văn nêu rõ, gần dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 một số đối tượng vào rừng tự nhiên khai thác trái phép các loài thực vật hoang dã quý hiếm như cành cây, gốc cây Vân Sam Fan Si Pan, thông tre, đỗ quyên tự nhiên, các loại lan rừng... để buôn bán, sử dụng vào dịp tết, gây ảnh hưởng xấu tới công tác quản lý, bảo vệ rừng nói chung và bảo tồn thiên nhiên nói riêng.
Do đó UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các cấp, các ngành trong tỉnh tuyên truyền sâu rộng tới mọi người thực hiện nghiêm công tác bảo vệ, quản lý, phát triển rừng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên theo đúng quy định của pháp luật. Không được khai thác, vận chuyển, buôn bán và sử dụng trái phép các loài thực vật hoang dã quý hiếm, đặc biệt là cây và cành cây Vân Sam Fan Si Pan, thông tre, cây và gốc cây hoa đỗ quyên tự nhiên để trưng bày làm cảnh chơi trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017.
Ngành Nông nghiệp & Phát triển nông thôn phối hợp với ngành Công an và UBND các huyện, thành phố Lào Cai quản lý chặt chẽ việc khai thác cây rừng tự nhiên, xử lý nghiêm các đối tượng khai thác trái phép, vận chuyển, buôn bán, sử dụng các loài thực vật hoang dã quý hiếm. (Người Đưa Tin 25/1)đầu trang(
TP.HCM thu giữ 4 tấn ngà voi trong năm 2016
Các cơ quan chức năng TP.HCM đã thu giữ gần 4.000 kg ngà voi, 871 động vật hoang dã bên cạnh các loại ma tuý tổng hợp, cần sa, thuốc tân dược có chất gây nghiện.
UBND TP.HCM vừa có báo cáo công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả năm 2016.
Theo thống kê, năm 2016, TP.HCM đã phát hiện gần 30.000 vụ vi phạm, tăng 38% so với năm 2015. Trong đó, số vụ vi phạm liên quan đến gian lận thương mại chiếm tỷ lệ cao nhất, hơn 25.000 vụ.
Số vụ việc khởi tố hình sự trong năm 2016 giảm hơn 34% so với năm 2015. Đồng thời, số bị can bị khởi tố cũng giảm từ 166 xuống còn 111.
Theo báo cáo của UBND TP.HCM từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 124 sửa đổi bổ sung nghị định số 185 quy định hình thức xử phạt về thuốc lá, hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập với số lượng 500 trở lên phải chuyển cơ quan điều tra thay vì 1.500 bao như trước. Từ đó, làm giảm đáng kể số lượng người vi phạm về vận chuyển, kinh doanh, chứa trữ hàng cấm (thuốc lá điếu nhập lậu).
Cũng trong năm 2016, các lực lượng đã kiểm tra, xử lý số lượng lớn tang vật gồm: hơn 13 kg cocain, heroin, 2.864 kg cần sa, lá cây khô chứa chất gây nghiện, các loại ma tuý tổng hợp, thuốc tân dược có chất gây nghiện...
Đáng chú ý, cơ quan chức năng cũng thu được gần 4.000 kg ngà voi, 871 động vật hoang dã... (Zing News 24/1)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chiều 24/1, đồng chí Đặng Huy Hậu - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chúc tết tại Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh. Thăm chúc tết Chi Cục kiểm Lâm tỉnh, đồng chí Đặng Huy Hậu - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh ghi nhận những thành tích của lực lượng kiểm lâm trong năm 2016.
Đồng chí nhấn mạnh: Hiện thời tiết đang vào mùa hanh khô vì vậy công tác phòng chống cháy rừng cần phải được đặc biệt quan tâm. Lực lượng kiểm lâm từ cấp Chi cục đến cơ sở cần duy trì nghiêm chế độ trực, sẵn sàng lực lượng, phương tiện kịp thời ứng cứu khi có sự cố xảy ra, nhất là trong dịp tết Nguyên Đán Đinh Dậu 2017.
Chi cục Kiểm Lâm tỉnh phối hợp chặt chẽ với các địa phương tham mưu, tổ chức tốt Tết trồng cây dịp đầu xuân năm mới. Trong năm 2017, lực lượng kiểm lâm đẩy mạnh công tác thực hiện chủ đề công tác năm “Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh. (Đài PTTH Quảng Ninh 24/1)đầu trang(
Những năm qua, nông dân, các thành phần kinh tế đã đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp. Bằng nhiều nỗ lực, đến nay, tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,5 % diện tích đất lâm nghiệp; kinh tế rừng đã và đang góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo và làm giàu.
Với trên 479.626 ha đất lâm nghiệp, Yên Bái được xếp vào tốp đầu các tỉnh miền núi phía Bắc có lợi thế về lâm nghiệp. Phát huy thế mạnh này, những năm qua, tỉnh đã rà soát, quy hoạch 3 loại rừng, giao đất, giao rừng cho người dân; quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến; đổi mới cơ chế, mô hình quản lý trong lĩnh vực lâm nghiệp; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng.
Nhờ đó, phong trào trồng rừng phát triển mạnh mẽ từ vùng thấp đến vùng cao. Trung bình hàng năm, toàn tỉnh trồng mới trên 15.000 ha rừng, đưa độ che phủ rừng đạt 62,5%.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2016, các chỉ tiêu của ngành lâm nghiệp đều đạt kết quả cao so với năm 2015; trong đó, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 1.587.796 triệu đồng, tăng 3,38% so với năm 2015, riêng giá trị trồng rừng, nuôi rừng tăng 19,23%; giá trị thu nhặt sản phẩm từ rừng tăng 26,56%; giá trị các hoạt động dịch vụ lâm nghiệp tăng 21,85%. Sản xuất lâm nghiệp đã tạo việc làm cho hàng nghìn hộ dân và kinh tế lâm nghiệp đã góp phần nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo cho người dân.
Hiện tại, đã xuất hiện nhiều trang trại rừng cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm như trang trại của gia đình ông Nguyễn Hữu Khánh, huyện Văn Chấn; Nguyễn Văn Minh, Hoàng Đình Lâm, huyện Trấn Yên; Nguyễn Thế Bình, Triệu Tiến Lợi, Nguyễn Văn Hiền, huyện Yên Bình; Bàn Văn Minh, Triệu Tài Thăng, huyện Văn Yên. Tỉnh Yên Bái đã tạo sự đột phá sản xuất lâm nghiệp bằng việc triển khai Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành mạng lưới sản xuất và cung ứng giống cây trồng lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia và chất lượng cây giống ngày càng được quản lý chặt chẽ, nâng cao.
Nếu như trước đây, trong cơ cấu cây trồng thì cây keo chiếm tới 50% diện tích, nhưng khi triển khai tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, cây trồng đang chuyển dịch từ những cây có hiệu quả kinh tế thấp sang những cây đa tác dụng và hiệu quả kinh tế cao hơn như: quế, sơn tra...
Nguồn giống đưa vào trồng rừng với các loài cây lâm nghiệp chính, cơ bản được kiểm soát và đảm bảo chất lượng theo quy định. Bên cạnh phát triển vốn rừng, để nâng cao giá trị sản phẩm lâm nghiệp, thông qua chính sách thu hút đầu tư, nhiều doanh nghiệp chế biến đi vào sản xuất nâng cao giá trị gỗ rừng trồng và khép kín chu trình tạo lập sự gắn kết trong sản xuất giữa vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến. Hiện, trên địa bàn tỉnh có gần 400 cơ sở chế biến gỗ rừng trồng các loại.
Cùng với đó, các dự án đầu tư chế biến gỗ đang được đẩy nhanh tiến độ nhằm thực hiện tái cơ cấu trong hoạt động sản xuất, chế biến nâng cao giá trị từ gỗ rừng trồng của tỉnh như: dự án xây dựng nhà máy sản xuất ván MDF, ván ghép thanh xuất khẩu công suất 80.000 m3 ván MDF/năm, 20.000 m3 ván ghép thanh/năm tại Khu Công nghiệp phía Nam; nhà máy sản xuất bột giấy công suất 50.000 tấn sản phẩm/năm tại Khu Công nghiệp Minh Quân.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì tỷ trọng giá trị so với toàn ngành nông nghiệp còn hạn chế (chiếm 22,6%). Rừng trồng tăng lớn về diện tích nhưng chất lượng rừng không đồng đều; rừng trồng từ các công ty lâm nghiệp do được đầu tư thâm canh nên trữ lượng đạt từ 80 - 100m3/ha, còn rừng trồng của các hộ dân đầu tư thấp, nguồn giống kém chất lượng, trồng quảng canh nên chất lượng rừng không đồng đều và chỉ đạt khoảng 50 - 70m3/ha.
Với năng suất như vậy, tính theo giá thị trường 1.200 ngàn đồng/m3 thì mỗi héc-ta chỉ mang lại 60 triệu đồng. Cùng với đó, do đời sống người trồng rừng còn khó khăn nên nhiều hộ bán rừng non từ 5 - 7 năm tuổi dẫn đến sản lượng gỗ thấp.
Để phát triển kinh tế lâm nghiệp thời gian tới, nên thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển rừng; khuyến khích các hình thức đổi điền, liên doanh liên kết và thành lập các trang trại nông lâm nghiệp; tận dụng tối đa diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp để hình thành các khu rừng trồng nguyên liệu tập trung.
Nâng cao năng suất rừng trồng thông qua áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong khâu chọn giống, kỹ thuật thâm canh rừng, khuyến khích người dân trồng rừng gỗ lớn. Ngoài ra, để nâng cao giá trị cho sản phẩm gỗ rừng trồng, cần tiếp tục phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu. (Báo Yên Bái 24/1)đầu trang(
"Quy hoạch này có thể là nhằm hợp thức hóa cho dự án xây dựng. Vì chủ đầu tư họ muốn vào đó, nên dù là rừng phòng hộ, thì ông cũng cố xin để phục vụ họ".
Liên quan tới dự án "siêu nghĩa trang" đang nhăm nhe xóa sổ cả trăm ha rừng phòng hộ tại khu núi Ngang, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, sáng 24/1, trao đổi với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Phạm Hoàng Anh, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc cho biết, việc tỉnh này đồng ý cho chủ đầu tư nghiên cứu làm quy hoạch nghĩa trang được thực hiện trên cơ sở định hướng quy hoạch chung mà... Thủ tướng đã phê duyệt.
"Hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc chỉ mới đồng ý cho họ (nhà đầu tư) nghiên cứu và đề xuất làm quy hoạch triển khai dự án. Định hướng của tỉnh là như thế. Còn tất cả mọi cái, kể cả phạm vi nghiên cứu, lẫn địa điểm thì chúng tôi cũng chưa trình lãnh đạo. Tuy nhiên, trong định hướng quy hoạch chung của Thủ tướng có khu vực đó (khu vực làm nghĩa trang) thì chúng tôi đề xuất thôi. Còn chi tiết như thế nào thì chúng tôi còn phải nghiên cứu và làm đúng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, đơn vị có thẩm quyền chưa điều tra, khảo sát, xin ý kiến công đồng về dự án, nên chúng tôi khó trả lời cụ thể với các anh được!", ông Phạm Hoàng Anh cho biết.
Giám đốc Sở Xây dựng Vĩnh Phúc cho biết thêm: "Từ trước tới nay có rất nhiều nhà đầu tư tới Vĩnh Phúc để nghiên cứu, khảo sát đầu tư nhưng họ đến rồi lại đi, không có nhà đầu tư nào làm dứt điểm cho mình cả".
Tuy nhiên, cần phải nói rõ ràng rằng quy hoạch Thủ tướng đã phê duyệt cho Vĩnh Phúc chỉ xác định địa điểm xây dựng nghĩa trang thuộc địa phận xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo chứ trước nay chưa từng có chuyện Thủ tướng phê duyệt cho Vĩnh Phúc chuyển đổi rừng phòng hộ để làm nghĩa trang ở xã này! Vì vậy không thể nói Vĩnh Phúc chuyển đổi rừng phòng hộ để làm nghĩa trang là chủ trương phù hợp với quy hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt!
Ngoài ra, trái với những gì ông Hoàng Anh nói (chưa trình lãnh đạo phạm vi nghiên cứu và địa điểm xây dựng nghĩa trang), trên thực tế, từ ngày 4/1/2017, cấp trên của ông Hoàng Anh là ông Vũ Chí Giang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ký Tờ trình số 02/TTr-UBND gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc đề nghị cho triển khai quy hoạch, xây dựng khu công viên nghĩa trang tại núi Ngang (xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo).
Nội dung Tờ trình thể hiện rõ đã có nhà đầu tư là Công ty CP Đầu tư Bình Minh Xanh có văn bản đề xuất với UBND tỉnh xin được đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang trên phạm vi diện tích hàng trăm ha đất rừng phòng hộ tại khu vực núi Ngang, xã Bồ Lý.
Mặt khác, trong quy hoạch Tổng thể kinh tế xã hội huyện Tam Đảo đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của UBND huyện Tam Đảo ghi rõ: Tại Tam Đảo hiện có 537,66ha đất rừng phòng hộ, trong đó rừng đặc dụng là 12.328,41ha. Đất rừng phòng hộ và đặc dụng của Tam Đảo vừa làm chức năng phòng hộ, vừa làm chức năng bảo tồn đa dạng sinh học.
“Vì vậy, trong những năm tới, cần nâng cao chất lượng và bảo tồn (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) trước nguy cơ khai thác của dân và xâm lấn trước một số công trình hạ tầng, du lịch trong kế hoạch mở rộng Tam Đảo 2 và khai thác khoáng sản”, bản Quy hoạch Tổng thể kinh tế xã hội huyện Tam Đảo nhấn mạnh định hướng này.​
Đối với đất rừng phòng hộ tại xã Bồ Lý, bản quy hoạch chỉ rõ: Xã Bồ Lý thuộc cụm xã tiểu vùng 2, là vùng đệm rừng quốc gia Tam Đảo mang đặc trưng điển hình của xã miền núi có độ dốc cao, kinh tế xã hội chậm phát triển nhưng lại có mức độ ảnh hưởng lan tỏa đến các xã xung quanh.
Định hướng phát triển của tiểu vùng này là nông, lâm nghiệp và dịch vụ du lịch (không có việc "xóa sổ" hàng trăm hecta rừng phòng hộ ở vùng đệm rừng quốc gia Tam Đảo để xây dựng nghĩa trang).
Như vậy, việc lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc ủng hộ cho nhà đầu tư nghiên cứu làm nghĩa trang trên đất rừng phòng hộ liệu có trái với định hướng quy hoạch của huyện du lịch Tam Đảo?
Cần phải nhắc lại rằng, vị trí đất rừng phòng hộ được nhắm đến cho “siêu nghĩa trang” là khu vực núi Ngang thuộc xã Bồ Lý, đây cũng là khu vực đã được đánh giá là có trữ lượng khoáng sản felspat hết sức dồi dào.
Như vậy, có hay không việc ai đó quan tâm tới dự án này nhằm mục đích chính là khai thác khoáng sản hơn là việc làm nghĩa trang?
Trả lời vấn đề này, ông Phạm Hoàng Anh cho biết: "Báo chí viết như vậy, nhưng chúng tôi chưa điều tra khảo sát nên chưa biết dưới lòng đất là cái gì".
Cuối cùng, ông Hoàng Anh nói lời cảm ơn báo chí đã có những ý kiến phản biện để giúp địa phương quản lý nhà nước tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng.
Bình luận về vấn đề này, Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho rằng, tỉnh Vĩnh Phúc nên cân nhắc vị trí khi làm "siêu dự án" nghĩa trang.
"Phải khẳng định rằng, việc xây dựng nghĩa trang nói chung là cần thiết. Việc có nhà đầu tư muốn thực hiện dự án này thì tôi không có gì phản đối cả, mà ngược lại còn hoan nghênh mới đúng, bởi có cầu ắt phải có cung.
Nhưng, vấn đề đặt ra là phải chọn địa điểm thực hiện dự án cho phù hợp để không ảnh hưởng tới quy hoạch chung, để đảm bảo môi trường, cuộc sống người dân xung quanh, chứ không phải địa phương đó chạy theo dự án để hợp thức hóa quy hoạch mà bất chấp các quy định của pháp luật, dẫn đến những hệ lụy xấu.
Phải phân biệt rõ rằng, chủ trương “xin” đất rừng phòng hộ để làm nghĩa trang là của tư nhân, chứ không phải tỉnh Vĩnh Phúc đưa ra chủ trương và bỏ tiền (ngân sách) xây dựng nghĩa trang tại khu vực đó. Hay nói thẳng ra là nhà đầu tư đã muốn vào rừng phòng hộ để làm nghĩa trang và đề nghị tỉnh Vĩnh Phúc hợp thức hóa cho họ khoảnh đất đó.
Trong khi đó, việc đầu tư vào "bất động sản nghĩa trang" sẽ mang lại lợi nhuận lớn, chi phí bồi thường đất rừng phòng hộ thấp hơn các loại đất khác. Cho nên, khi có chủ trương đầu tư, nhà đầu tư thấy dự án có lợi nhuận họ mới làm.
Do đó, bản chất của việc quy hoạch này có thể là nhằm hợp thức hóa cho dự án xây dựng. Vì chủ đầu tư họ muốn vào đó, nên dù là rừng phòng hộ, thì ông cũng cố phục vụ họ. Đến đây, người ta có quyền đặt nghi vấn, có hay không chuyện đồng tiền điều khiển chính sách?, Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm băn khoăn.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng đưa ra cảnh báo, đối với những dự án lớn, có tác động tới môi trường, cuộc sống người dân thì tỉnh Vĩnh Phúc nên hết sức cẩn trọng.
"Tôi bất ngờ vì lãnh đạo tỉnh chấp thuận về chủ trương cho nhà đầu tư nghiên cứu quy hoạch nhanh đến vậy. Thông thường đối với dự án đầu tư xây dựng trước khi thực hiện phải có báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi, khảo sát, thiết kế, đánh giá tác động môi trường… Với một dự án lớn như vậy thì đơn vị chủ đầu tư đã có báo cáo tiền khả thi chưa? Do đó, đối với dự án này, cần sớm có ý kiến của các Bộ ngành có liên quan như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp..., các nhà khoa học trong việc thực hiện đánh giá, thẩm định tính khoa học của dự án. Trong thực tế, không ít chủ đầu tư vì lợi nhuận mà còn bất chấp, làm trái quy hoạch. Tỉnh Vĩnh Phúc cũng nên lưu ý điều này", Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm nói. (Giáo Dục Việt Nam 24/1)đầu trang(
Trong khi nhiều diện tích rừng bị phá chưa được khôi phục lại, thì tại sao chúng ta phải chọn rừng mà đặc biệt là rừng phòng hộ để thực hiện dự án mà không phải chỗ khác?.
Đó là chia sẻ thẳng thắn của PGS.TS Bùi Thị An, Viện trưởng viện Tài nguyên, môi trường và phát triển cộng đồng, nguyên Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội liên quan đến việc hơn 100 ha rừng phòng hộ tại núi Ngang, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo Vĩnh Phúc có nguy cơ bị "xóa sổ" nếu đơn vị có thẩm quyền phê duyệt đầu tư dự án “siêu nghĩa trang” đang thực sự khiến dư luận quan tâm.
Nói về dự án "siêu nghĩa trang", PGS.TS Bùi Thị An cho rằng, việc lo chỗ chôn cất cho người chết là việc làm nhân văn. Tuy nhiên, cần xác định vị trí xây dựng nghĩa trang cho phù hợp nhằm tránh những hệ lụy có thể xảy, ảnh hưởng tới môi trường, và các yếu tố kinh tế, xã hội khác.
PGS.TS Bùi Thị An nhấn mạnh: “Trong những năm gần đây, đất nước chúng ta đã chịu rất nhiều thiên tai do biến đổi khí hậu, môi trường ô nhiễm gây hậu quả nặng nề kinh tế, xã hội. Một trong những nguyên nhân gây ra những hệ lụy nêu trên là nạn phá rừng, khai thác rừng bừa bãi.
Thậm chí Thủ tướng đã lệnh đóng cửa rừng tự nhiên ở một số địa phương, xử lý nghiêm tình trạng phá rừng để đảm đảm bảo môi trường, môi sinh tránh tái diễn những bài học đau đớn do thiên tai gây ra.
Do đó, việc bố trí vị trí xây dựng nghĩa trang (đặc biệt là với một dự án lớn, ảnh hưởng tới cả trăm hecta diện tích rừng phòng hộ như ở Vĩnh Phúc) cho phù hợp để không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng tới đời sống của người dân, là những vấn đề rất hệ trọng cần được tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng”.
Liên quan đến việc chỉ sau 02 ngày nhận được tờ trình dự án, Ban thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã thống nhất, đồng ý. Vậy với thời gian trên liệu đã đủ để cơ quan có thẩm quyền bàn bạc, nghiên cứu tính khả thi, tính khoa học của dự án? Đề cập tới vấn đề này, PGS.TS Bùi Thị An tỏ vẻ ngạc nhiên: “Nếu đúng như thông tin báo chí phản ánh thì tôi thật sự hết sức ngạc nhiên.
Tại sao một dự án lớn và có mức độ ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh như vậy lại được thông qua nhanh đến vậy, đặc biệt là những dự án có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường, đời sống dân sinh? Trong khi nhiều diện tích rừng bị phá chưa được khôi phục lại, thì tại sao chúng ta phải chọn rừng mà đặc biệt là rừng phòng hộ để thực hiện dự án mà không phải chỗ khác?.
Có lẽ chỉ có những trận đánh ở chiến trường, có tính chất sống còn, người ta mới đưa ra quyết định nhanh đến thế!", PGS.TS Bùi Thị An ví von.
Cũng theo PGS.TS Bùi Thị An: "Một dự án được thực hiện trên đất có rừng nếu muốn thực hiện cần phải có đề án đánh giá lại các tác động về môi trường, xã hội, kinh tế.
Từ đó phân tích mặt lợi, hại, và những tác động xấu có thể xảy ra từ dự án. Nếu dự án  có lợi cho nhà nước, người dân, doanh nghiệp, mà không ảnh hưởng tới môi trường, môi sinh mới nên thực hiện.
Còn nếu không, đến lúc chúng ta có muốn hoàn trả lại hiện trạng như ban đầu thì rất khó vì khi đó, hệ lụy đã xảy ra rồi.
Do đó, nếu phải đổi rừng, đất rừng thì công bố công khai. Việc công khai này để hậu thế chúng ta không phải ân hận. Các đồng chí ký quyết định dự án cũng không phải áy náy gì cả".
Từ những phân tích trên, PGS.TS Bùi Thị An đề nghị: “Cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ, công khai minh bạch về thẩm quyền trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng?
Khi nào thì được chuyển đổi, trong trường hợp nào được chuyển đổi...? nhằm làm rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể nếu xảy ra những hệ lụy có thể phát sinh sau dự án.
"Có lẽ, với “siêu dự án” này, các đồng chí cũng nên tranh thủ ý kiến cộng đồng, đặc biệt là các nhà khoa học, các chuyên gia về rừng, các chuyên gia về môi trường, quy hoạch để có cái nhìn tổng thể, khái quát hơn…
Vấn đề quan trọng nhất khi thực hiện quy hoạch, triển khai dự án là công khai minh bạch cho người dân, các cơ quan thông tấn báo chí được biết, để giám sát".
"Do đó, trước khi thông qua về mặt chủ trương của dự án, đề nghị lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc thẩm tra lại một cách kỹ càng dự án và các yếu tố có thể phát sinh đi kèm", PGS.TS Bùi Thị An cho biết.
Theo phản ánh của nhiều hộ dân thôn Tây Sơn, xã Bồ Lý (Tam Đảo), từ 6 - 7 năm trở lại đây, tại khu vực đồi rừng Đoài nằm trên địa bàn thôn, do phát hiện có tiềm năng đất cao lanh nên một số đối tượng đã tiến hành hoạt động đào bới, khai thác và vận chuyển nhằm thu lợi.
Trong những ngày gần đây, với sự tăng giá vật liệu xây dựng, các tổ chức trên càng đẩy mạnh tần suất khai thác.
Một người dân (xin được dấu tên) cho biết: Việc hoạt động khai thác đất ở khu vực xã Bồ Lý đã diễn ra từ lâu. Vậy nên, từ một khu đồi xanh tốt, hiện nay, đồi rừng Đoài đang bị khoét sâu và ngày càng thu hẹp diện tích.
"Tình trạng khai thác liên tục cùng với việc vận chuyển đất ra khỏi địa phương, gây tiếng ồn lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân. Nguồn nước của bà con trong thôn đều bị vẩn đục do ảnh hưởng từ hoạt động khai thác này. Vào mùa khô bụi mù mịt. Mùa mưa bão, quá trình khoét đồi đã tạo ra nhiều ao hồ sâu, gây nguy hiểm và làm tăng nguy cơ sạt lở đất"- Người dân cho hay.
Bên cạnh đó, theo đánh giá trữ lượng khoáng sản, trên địa bàn tỉnh hiện có mỏ felspat thôn Nghĩa Lý, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo: Số hiệu: F09; Diện tích 115 ha, chiều dày trung bình 5m; trữ lượng tài nguyên dự báo: 8.356.141 tấn.
Mỏ Felspat núi Ngang, huyện Tam Đảo; số hiệu: F10; Vị trí, đặc điểm phân bố: thuộc thôn Sơn Thanh, xã Đại Đình và thôn ngọc Thụ, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo; Diện tích 120ha, chiều dày trung bình 4m.
Trữ lượng (Tài nguyên dự báo): 6.915.427 tấn; Chất lượng và giá trị sử dụng: Kết quả mẫu hoá K2O: 4,01%, Na2O: 3,28%,T.Fe: 3,15%; Felspat đảm bảo yêu cầu sản xuất đồ gốm sứ, nguyên liệu xương và men cho sản xuất gạch ceramit, granit nhân tạo.
Với thực tế trên có thể thấy, có một sự trùng hợp khó hiểu rằng, vị trí đất rừng phòng hộ được nhắm đến cho dự án xây dựng công viên nghĩa trang là khu vực núi Ngang thuộc xã Bồ Lý, đây cũng là khu vực có trữ lượng khoáng sản hết sức dồi dào.
Xin được nhấn mạnh rằng, trước đó, ngày 4/3/2012, UBND tỉnh Vĩnh Phúc khi đó đã chủ trì cùng lãnh đạo các sở, ngành và UBND huyện Tam Đảo… chọn một địa điểm khác làm nghĩa trang. Trong đó dãy núi Ngang được xác định như một “lá chắn cảnh quan” ngăn cách giữa địa điểm xây nghĩa trang với Khu du lịch danh thắng Tây Thiên.
Thế nhưng, UBND tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ này lại ủng hộ xây dựng nghĩa trang và lò hỏa táng tại chính “lá chắn cảnh quan” núi Ngang, nơi có hơn 150ha rừng phòng hộ. Từ thực tế trên, dư luận đặt ra nghi vấn, có hay không việc tỉnh Vĩnh Phúc thông qua việc quy hoạch khu công viên nghĩa trang nhằm mục đích chính là khai thác khoáng sản hay phục vụ cho mục đích tâm linh? (Gia Đình VN 24/1)đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi.
Trong đó, các quy định về quản lý rừng sản xuất thu được nhiều sự quan tâm của dư luận. Các quyền của chủ rừng đối với rừng sản xuất hiện nay đã được Dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi ghi nhận, song rất nhiều các quyền này vẫn ghi “theo quy chế quản lý rừng”.
Mặc dù tinh thần chung của Dự thảo và Quyết định 49/2016/QĐ-TTg về quy chế quản lý rừng sản xuất là khuyến khích mạnh mẽ việc đầu tư vào rừng sản xuất, tuy nhiên, các quy định cụ thể lại không thể hiện được điều này.
Đặc biệt, tại Quyết định 49 vẫn có quy định yêu cầu chủ rừng sản xuất phải có hồ sơ thiết kế khai thác rừng được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hàng năm trước khi được khai thác rừng của chính mình. Nhiều ý kiến cho rằng, quy định này cần được xóa bỏ và việc ghi nhận quyền tự chủ quyết định khai thác gỗ trên rừng sản xuất thuộc sở hữu tư nhân cần được ghi nhận trong Luật.
Các chuyên gia pháp luật cũng nhận định, có thể sẽ có ý kiến cho rằng việc trao quyền quá lớn cho chủ rừng là sự buông lỏng quản lý của Nhà nước, ví dụ, trao quyền khai thác gỗ cho chủ rừng sản xuất mà không có sự kiểm soát của Nhà nước sẽ dẫn đến tình trạng chủ rừng chặt phá rừng quá mức để khai thác lấy gỗ, làm suy giảm diện tích rừng của Việt Nam.
Tuy nhiên, cần thống nhất quan điểm rõ ràng rằng, chỉ khi nào Nhà nước trao toàn bộ quyền sở hữu, hưởng dụng mới có thể khiến chủ rừng yên tâm đầu tư rừng sản xuất.
Một trong những yếu tố quan trọng để nhà đầu tư quyết định bỏ vốn là họ phải nhìn ra cơ hội rút lui khỏi thị trường khi cần thiết. Đơn cử như việc gửi tiền vào ngân hàng, nếu người dân biết rằng rút tiền ra có thể sẽ gặp khó khăn thì họ sẽ hạn chế gửi tiền.
Hay như trước đây Nhà nước có quy định muốn mổ trâu, mổ bò phải xin phép với lý do bảo vệ sức kéo và chính quy định này làm giảm động lực đầu tư nuôi trâu bò của người dân và doanh nghiệp, bởi họ không thể chắc chắn rằng khi cần tiền gấp họ có thể bán con trâu, con bò đó để mổ thịt.
Đầu tư vào rừng cũng vậy, nếu các quyền của chủ rừng như bán lại, sang nhượng, quyền thế chấp để vay vốn, quyền khai thác lâm sản (cả gỗ và lâm sản ngoài gỗ), quyền cho thuê lại phục vụ du lịch, nghiên cứu khoa học,… không được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thì chính là sự cản trở nhà đầu tư bỏ tiền vào lâm nghiệp.
Việc ghi nhận vững chắc quyền tự quyết định việc khai thác gỗ của chủ rừng sản xuất không chỉ có ý nghĩa thu hút đầu tư mà còn giúp cung cấp thêm gỗ cho các hoạt động chế biến, thị trường gỗ từ các khu rừng sản xuất.
Điều này làm giảm áp lực lên hoạt động khai thác gỗ trái phép tại các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, nơi mà cây gỗ có ý nghĩa cho lợi ích công cộng.
Thực tế nhiều doanh nghiệp phản ánh là việc xin Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt kế hoạch khai thác gỗ rừng sản xuất hàng năm rất khó khăn. Do chỉ tiêu độ che phủ rừng là một trong những chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nên các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường tìm cách gây khó khăn khi doanh nghiệp có nhu cầu khai thác tài sản của chính mình.
Chính sách này những tưởng theo hướng “khuyến khích trồng, hạn chế chặt” rừng sản xuất sẽ có tác dụng tăng độ che phủ rừng. Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp và người dân đã chuyển hướng đầu tư sang lĩnh vực khác, thay vì đầu tư vào rừng vì quyền rút lui khỏi thị trường của họ bị gây khó dễ. (Con Người & Thiên Nhiên 24/1)đầu trang(
Trong 2 ngày 22 và 23/01, Hạt Kiểm lâm Mai Sơn đã chi trả hỗ trợ 1,6 tỷ đồng cho nhân dân 4 xã Phiêng Cằm, Chiềng Nơi, Phiêng Pằn và Nà Ớt theo Nghị quyết 75/2015 của Chính Phủ về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, huyện Mai Sơn có 70 hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng bản, tổ chức chính trị - xã hội được nhận hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng theo Nghị quyết 75 của Chính phủ, với đơn giá 400.000 đồng/ha. Đây là những hộ gia đình là người dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh sinh sống tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và cộng đồng dân cư thôn bản có tham gia một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương.
Trong tổng số 30.000 ha được nhận mức hỗ trợ Bảo vệ và phát triển rừng theo Quyết định số 2851 ngày 29/11/2016 của UBND tỉnh, huyện Mai Sơn được chi hỗ trợ với 4.000 ha rừng cho nhân dân 4 xã vùng cao là Phiêng Cằm, Chiềng Nơi, Phiêng Pằn và Nà Ớt.
Đây là những khu rừng đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi mưa tuyết và băng giá đầu năm 2016. Mức hỗ trợ này sẽ góp phần khuyến khích người dân và các chủ rừng tham gia vào các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, nhất là làm tốt công tác PCCCR trong mùa khô hanh 2016-2017.
Việc chi trả hỗ trợ Bảo vệ và phát triển rừng vào những ngày giáp Tết Nguyên đán sẽ là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân trong việc vui tết đón xuân, tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Đài PTTH Sơn La 24/1)đầu trang(
Nhờ thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã tạo sự chuyển biến tích cực trong nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng của Nhân dân các dân tộc huyện Tam Đường. Đặc biệt, việc chi trả tiền vào dịp tết còn giúp nhiều gia đình trang trải cuộc sống, mua sắm đồ dùng sinh hoạt, đón tết đủ đầy hơn.
Những ngày cận kề tết Nguyên đán, có mặt tại trụ sở UBND xã Giang Ma, chúng tôi cảm nhận không khí nhộn nhịp khi bà con tranh thủ về nhận tiền chi trả DVMTR. Trên khuôn mặt người dân ánh lên niềm vui mừng, phấn khởi khi tết này có thêm thu nhập để trang trải, sắm tết.
Anh Giàng A Cha - Trưởng bản Giàng Tả, xã Giang Ma vừa nhận tiền chi trả DVMTR chia sẻ: “Gần 6 năm nay, cứ trước tết Nguyên đán, bà con lại được nhận tiền DVMTR. Trung bình mỗi hộ nhận được gần 2 triệu đồng, mừng nhất là hộ nghèo khi có thêm điều kiện chăm lo tết. Nhờ bảo vệ rừng mà dân bản thêm ấm no nên mọi người đều quan tâm, chú trọng nâng cao ý thức trong bảo vệ rừng; tích cực thực hiện hương ước bảo vệ rừng, thường xuyên tuần tra, canh gác không để xảy ra tình trạng đốt nương, chặt phá rừng bừa bãi”.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, năm 2016, xã Giang Ma có 670 hộ được nhận 870 triệu đồng tiền chi trả DVMTR. Đây là động lực để bà con các thôn bản tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Cũng nhờ làm tốt việc bảo vệ rừng nên những cánh rừng của xã ngày càng phát triển xanh tốt, tình trạng cháy rừng hay chặt phá rừng làm nương giảm hẳn.
Được biết, xã Giang Ma có 10 bản với 662 hộ dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Để làm tốt công tác bảo vệ rừng, phủ xanh đồi núi trọc, cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể phối hợp Mặt trận Tổ quốc xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, chính sách chi trả DVMTR. Đồng thời, thành lập tổ xung kích phòng cháy chữa cháy rừng; thường xuyên phối hợp với cán bộ kiểm lâm cắm xã, thôn, bản tuần tra, canh gác, bảo vệ rừng.
Ngoài ra, các bản cũng tổ chức họp bàn xây dựng quy ước, hương ước về bảo vệ rừng, nếu ai xâm hại, phá rừng hay đốt rừng làm nương rẫy sẽ bị bản phạt. Hàng năm mỗi khi bước vào mùa khô hanh, ngành chức năng của huyện cùng với xã tổ chức cho bà con ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Các tổ xung kích phòng cháy chữa cháy rừng thôn bản thường trực canh gác tại các cửa rừng, nơi giáp ranh đất canh tác của người dân.
Cũng như xã Giang Ma, tại các xã vùng cao của huyện Tam Đường như: Tả Lèng, Khun Há, Sơn Bình, chúng tôi đều cảm nhận được niềm vui khi tiền chi trả DVMTR đến tận tay người dân đúng dịp tết đến xuân về. Bình quân mỗi hộ nhận được 1,9 triệu đồng/năm, nhiều hộ thu nhập trên 5 triệu đồng từ việc bảo vệ rừng. Số tiền này góp phần giúp bà con cải thiện cuộc sống, giảm tỷ lệ hộ nghèo, đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện.
Theo anh Phạm Danh Tuyên - Phó Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tam Đường: “Hiệu quả lớn nhất từ việc chi trả DVMTR là nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương, đặc biệt ý thức người dân về công tác bảo vệ và phát triển rừng được nâng lên rõ rệt. Công tác bảo vệ, tuần tra, kiểm tra, phòng cháy chữa cháy rừng được thực hiện chủ động, thường xuyên và hiệu quả hơn. Qua đó góp phần giảm các vụ phạm pháp liên quan đến rừng, cháy rừng xảy ra. Cũng từ chính sách chi trả DVMTR, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể, tỷ lệ che phủ rừng năm sau cao hơn năm trước”.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chi trả DVMTR, huyện cũng gặp không ít khó khăn vì địa hình đồi núi cao, hiểm trở, dụng cụ chữa cháy rừng thô sơ, máy móc hỗ trợ điều tra rừng còn hạn chế nên việc xác định vị trí rừng, diện tích rừng để chi trả rất khó. Bên cạnh đó, tình trạng tranh chấp đất rừng giữa các bản, các xã vẫn còn xảy ra; ý thức bảo vệ rừng của một bộ phận đồng bào còn hạn chế.
Vì vậy, để giữ màu xanh cho các cánh rừng, thời gian tới huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của chủ rừng, các đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng để nâng cao hiệu quả sử dụng tiền chi trả DVMTR.
Thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung phương án khoán bảo vệ rừng phù hợp với tình hình địa phương, làm tốt công tác trồng, chăm sóc bảo vệ rừng. Số tiền chi trả sẽ được niêm yết tại trụ sở xã và thôn bản để Nhân dân biết kiểm tra, giám sát.
Giao khoán rừng để chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Tam Đường có ý nghĩa quan trọng đối với chủ trương quản lý rừng bền vững, làm cho rừng thật sự có chủ và người dân được hưởng lợi khi quản lý bảo vệ rừng. Từ đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của Nhân dân góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, nâng tỷ lệ che phủ rừng của huyện đạt 44%.
Hiện nay, huyện Tam Đường có 34.200ha rừng phòng hộ và rừng sản xuất được chi trả từ nguồn DVMTR với gần 8.000 gia đình được hưởng lợi từ nhận khoán, bảo vệ rừng. Chỉ tính riêng năm 2016, tổng kinh phí chi trả cho người dân gần 16,3 tỷ đồng. (Báo Lai Châu 24/1)đầu trang(
Những ngày cận kề Tết Nguyên đán, nhiều người dân Quảng Bình đổ xô vào rừng săn “lộc rừng”. Nhờ vậy, họ cải thiện thu nhập trong những dịp này.
Những ngày cuối năm, tiết trời Quảng Bình giá lạnh kèm theo mưa lất phất. Dù vậy, các “thợ lá” ở các xã Quảng Kim, Quảng Hợp, Quảng Châu… vẫn băng rừng ngược lên dãy Hoành Sơn, huyện Quảng Trạch (Quảng Bình) để hái lá rừng.
Món “quà tết” giữa đại ngàn không gì khác đó là những loại lá rừng như lá dong, lá chuối rừng (dùng để gói nhiều loại bánh cổ truyền) hay ống tre nứa (vật liệu được chẻ nhỏ để làm lạt gói bánh) được người dân tìm về phục vụ làm bánh để đón Tết cổ truyền, nơi giúp họ cải thiện thu nhập từ việc khai thác lá.
Sau nhiều giờ ‘trèo đèo, lội suối”, chúng tôi cũng đặt chân đến đỉnh Ông Bô là đỉnh núi cao nhất, nhì ở dãy Hoành Sơn nằm giữa biên giới 2 tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Từ đỉnh núi, nhìn xuống về phía biển chúng ta có thể thấy rõ Vũng Chùa – Đảo Yến nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang an giấc ngàn thu.
Theo ông Chu Đức Thanh, một người chuyên hái lá rừng ở xã Quảng Kim, mỗi bạt lá chuối được bán với giá từ 10- 15 ngàn đồng, mỗi chùm lá dong khoảng 10 đọt có giá khoảng 20 ngàn đồng. “Mỗi chuyến lên rừng khoảng 1 – 2 ngày nếu trúng lá rừng, anh em chúng tôi kiếm xấp xỉ gần triệu bạc. Đây xem như là quà tết rừng ban” – ông Thanh vui vẻ nói.
Theo các thợ rừng, giai đoạn từ ngày 20 đến 27 tháng 12 (Âm lịch) họ bắt đầu đi hái lá rừng. Ngoài hái lá rừng, để tăng thêm thu nhập trong dịp giáp tết các thợ lá cũng tranh thủ săn các lâm sản khác như: chổi lau, chổi trành, lá vằng để bán.
“Nhờ đi rừng hái lá mà chúng tôi kiếm bạc triệu trong dịp Tết nhưng để hái được lá rừng cũng khổ lắm, len lỏi trong rừng sâu cực lắm” – chị Đặng Thị Hương (30 tuổi, ở xã Quảng Châu) nói. Còn chị Đàm Thị Huế (50 tuổi, ở xã Quảng Kim) mỗi năm đến mùa lá tết, gia đình chị cũng kiếm được 5 – 7 triệu đồng. “Không nhiều nhưng cũng đủ sắm thêm mấy đồ tết, áo quần mới cho các con. Ai cũng vui cả, lộc rừng mà...”, chị Huế tâm sự. (Người Lao Động 24/1)đầu trang(
Trong xu hướng hội nhập, ngành công nghiệp chế biến gỗ đối mặt nhiều rủi ro nhưng lại là “thời cơ vàng” với người trồng rừng và doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ.
Vì sao doanh nghiệp trong nước cũng như ở Quảng Nam phải nhập khẩu gỗ trong khi mình là xứ rừng trồng? Ngành công nghiệp chế biến gỗ thiếu nguồn nguyên liệu? Câu trả lời: trong nước thừa và đa dạng chủng loại gỗ, nhưng thiếu điều doanh nghiệp cần là nguồn gốc gỗ hợp pháp và đạt chuẩn quốc tế về quản lý rừng bền vững (FSC).
Ngay cả doanh nghiệp có truyền thống trồng rừng trong tỉnh như Công ty CP Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam cũng phải nhập khẩu gỗ từ Malaysia với giá 145 - 150 USD/m3 thì mới đủ nguyên liệu đầu vào.
Theo báo cáo của Sở Công Thương, tổng giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm chế biến gỗ 11 tháng đầu năm 2016 đạt 74,5 triệu USD. Thị trường tiêu thụ chính là Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và các nước châu Âu. Tại Quảng Nam có ít nhất 4 doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu gỗ chế biến (gồm Công ty CP Cẩm Hà, Công ty CP Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam, Công ty CP Gỗ Minh Dương Chu Lai, Công ty TNHH Innovgreen Chu Lai) đều có thị trường tiêu thụ ổn định, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động.
Theo quy định của FLEGT (Tăng cường thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ”), sản phẩm gỗ xuất khẩu sang EU phải có chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm, nếu gỗ không rõ nguồn gốc sẽ bị trả về nước xuất khẩu.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thắng - Giám đốc Dự án quản trị rừng bền vững (thuộc Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế - WWF), trong xu thế hội nhập, chuẩn bị ký kết các hiệp định thương mại tự do với châu Âu về ngành gỗ, doanh nghiệp và người trồng rừng ở Quảng Nam sẽ có thuận lợi hơn. Bởi, nhiều doanh nghiệp đã, đang liên kết với người dân trồng rừng gỗ lớn và tăng quy mô diện tích đạt chứng nhận FSC.
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), gỗ là ngành có tiềm năng phát triển trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Quyết định 889/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã tạo đà chuyển cơ cấu xuất khẩu dăm gỗ sang cung cấp nguyên liệu cho chế biến gỗ, giảm dần nhập khẩu nguồn nguyên liệu.
Ở Quảng Nam đề án tái cơ cấu sản xuất lâm nghiệp cũng đã ưu tiên phát triển rừng đạt tiêu chuẩn FSC và có chính sách hỗ trợ chế biến sâu ván nhân tạo thay thế dần sản xuất nguyên liệu dăm giấy xuất khẩu như hiện nay.
Nhiều năm nay, Công ty CP Gỗ Minh Dương - Chu Lai (nhà máy hoạt động tại Khu công nghiệp Bắc Chu Lai) sản xuất chế biến gỗ để xuất khẩu ổn định qua thị trường Anh, Nhật, Mỹ. Nguồn nguyên liệu công ty mua chủ yếu từ gỗ rừng trồng của nước ngoài đạt tiêu chuẩn FSC và gỗ cây cao su trong nước đã thanh lý. Ông Nguyễn Mạnh, Giám đốc Công ty CP Gỗ Minh Dương - Chu Lai cho biết, mỗi năm công ty giải quyết việc làm thường xuyên cho 500 lao động, đạt doanh thu hơn 130 tỷ đồng. Các đối tác đều là “bạn hàng” truyền thống nên doanh số ổn định.
Năm 2016, dự kiến doanh thu cao hơn 2015 từ 10 đến 15%. “Trong bối cảnh hội nhập, vì xác định chiến lược làm ăn lâu dài nên doanh nghiệp đều mua, nhập khẩu nguồn nguyên liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng” - ông Mạnh khẳng định. Còn lãnh đạo Công ty CP Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam cho rằng, nếu thị trường châu Âu, Nhật, Mỹ... quản lý FLEGT chặt chẽ, chính phủ sẽ có những giải pháp căn cơ đầu tư hỗ trợ phát triển rừng gỗ lớn, đáp ứng tiêu chuẩn FSC.
Khi đó doanh nghiệp sẽ không phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài, giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả kinh doanh. Doanh nghiệp sẽ liên kết, hướng dẫn người dân quy trình kỹ thuật trồng rừng, đáp ứng các tiêu chí khắt khe về gỗ xuất khẩu. (Báo Quảng Nam 24/1)đầu trang(./.