|
Ngày 24 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phê duyệt nội dung điều chỉnh, phân bổ lại vốn của Hiệp định tài trợ cho dự án "Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn" vay vốn Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD).
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính thông báo cho Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế và làm thủ tục điều chỉnh Hiệp định theo quy định.
UBND tỉnh Bắc Kạn tiến hành các thủ tục phê duyệt điều chỉnh văn kiện dự án theo Bảng điều chỉnh phân bổ lại vốn của Hiệp định tài trợ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Được biết, Mục tiêu của dự án "Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn" là xoá đói giảm nghèo bền vững và xoá đói giảm nghèo một cách công bằng cho các hộ trên cơ sở sử dụng bền vững đất dốc được giao, thông qua phương thức tiếp cận mới. Theo đó, dự án sẽ tạo ra môi trường và thể chế đầu tư để người dân tiếp cận với thị trường và khoa học kỹ thuật để sản xuất hàng hoá.
Biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu xoá đói giảm nghèo bền vững là người dân sẽ được quyết định đầu tư kết cấu hạ tầng trên địa bàn, tiếp cận với các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm trên cơ sở nhu cầu thực tiễn, hình thành các nhóm sở thích để tăng cường hợp tác, liên kết trong quá trình sản xuất hàng hoá ; tăng cường năng lực chống chọi với các tác động dễ bị tổn thương như thiên tai, dịch bệnh...
Dự án được thực hiện trên địa bàn 3 huyện Pác Nặm, Ba Bể và Na Rì từ năm 2009 đến hết năm 2014. Sẽ có khoảng 11 nghìn hộ nghèo ở ba huyện trên, chiếm 50% số hộ nghèo của toàn tỉnh Bắc Kạn, bằng khoảng 30% tổng số hộ trên địa bàn tỉnh được hưởng lợi từ dự án. (Chinhphu.vn 22/12) đầu trang(
Phần lớn trong tổng diện tích gần 11.000ha rừng trồng kinh tế do các doanh nghiệp được thuê đất rừng để làm kinh tế ở Lâm Đồng trồng mới trong mùa trồng rừng 2012 là keo lá tràm và cây cao su – ngày 20.12, Sở NNPTNT Lâm Đồng cho biết.
Đây là loại rừng cho khai thác nhanh; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có được nguồn thu ngay tức thời. Cũng theo thông tin từ sở này, hiện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 345 doanh nghiệp thuê rừng và đất rừng với diện tích 61.866ha. (Nông Thôn Ngày Nay 21/12) đầu trang(
21-12, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị đánh giá kết qủa thực hiện Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị (khóa IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh. Đồng chí Bùi Văn Hạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh dự và phát biểu ý kiến.
Ngay sau khi Nghị quyết số 28-NQ/TW được ban hành, công tác sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh đã được UBND tỉnh và các cấp, ngành quan tâm thực hiện nghiêm túc, bảo đảm mục tiêu, chế độ chính sách và tiến đọ thời gian theo quy định. Trong quá trình chuyển đổi đã xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của từng doanh nghiệp, ban quản lý rừng, từ đó có sự điều chỉnh hình thức tổ chức, bộ máy, lực lượng lao động, quản lý và sử dụng rừng, đất lâm nghiệp; xây dựng phương án phát triển ở mỗi công ty.
Đến nay đã giải thể hai nông trường quốc doanh (nông trường Bố Hạ và Yên Thế) theo phương án được phê duyệt, bàn giao lại toàn bộ diện tích đất cho địa phương quản lý. Chuyển đổi 6 lâm trường quốc doanh thành 5 công ty TNHH MTV lâm nghiệp và 1 ban quản lý rừng phòng hộ (Sơn Động) với tổng diện tích hiện đang quản lý, sử dụng hơn 21 nghìn ha.
Một số công ty sau chuyển đổi đã xây dựng được phương án sản xuất, kinh doanh hiệu quả; mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thâm canh trồng rừng, góp phần nâng cao năng suất rừng trồng, rút ngắn chu kỳ sản xuất, doanh thu năm sau cao hơn năm trước, bảo toàn được vốn, bước đầu có lãi, bảo đảm thu nhập của người lao động, diện tích rừng được chăm sóc và bảo vệ tốt hơn.
Qua thảo luận, nhiều ý kiến đã nêu ra những vấn đề hạn chế, đó là bộ máy tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh ở một số công ty, đơn vị còn bất cập, chưa tinh giản triệt để, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất; các công ty TNHH MTV lâm nghiệp hiện nay đều có vốn kinh doanh thấp, chưa thực hiện được công tác đo đạc, cắm mốc lộ giới và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Chưa đa dạng về chủng loại sản phẩm, chủ yếu là trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và khai thác gỗ nguyên liệu; gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn nên giá trị thấp. Việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến chưa rõ ràng, vì vậy hiệu quả kinh tế còn thấp; đời sống, thu nhập của người lao động tại các công ty, doanh nghiệp lâm nghiệp có nhiều khó khăn…
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Hạnh ghi nhận những kết quả đạt được sau sắp xếp, chuyển đổi nông, lâm trường quốc doanh; trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng; xử lý dứt điểm những vấn đề tồn tại, tạo sự chuyển biến thật sự về năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lâm nghiệp. Bảo vệ diện tích rừng, đất lâm nghiệp, phát triển vốn rừng được giao, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập của người lao động.
Trước mắt, Sở NN&PTNT phối hợp với Sở Tài chính, Kế hoạch-Đầu tư, Tài nguyên và môi trường, UBND các huyện xem xét, đề xuất với UBND tỉnh phương án giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp. Tập trung vào việc đo đạc, cắm mốc lộ giới và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bố trí vốn bổ sung; tạo điều kiện vay vốn thuận lợi.
Các doanh nghiệp cần chủ động đổi mới, năng động hơn nữa trong sản xuất kinh doanh, không trông chờ, thụ động theo tư duy sản xuất, kinh doanh cũ. Tổ chức làm thí điểm cổ phần hóa tại một công ty, sau đó rút kinh nghiệm để nhân ra diện rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. (Báo Bắc Giang 24/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Chiều 21/12, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tổng kết Dự án “Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học Tiểu vùng Mekong mở rộng, giai đoạn 2” năm 2012, để đánh giá tình hình thực hiện Dự án cũng như để các bên liên quan thảo luận, đề xuất cách thức tổ chức thực hiện Dự án đúng tiến độ, đạt hiệu quả.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Nguyễn Thế Đồng cho biết Dự án “Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học Tiểu vùng Mekong mở rộng, giai đoạn 2” là một dự án khu vực được triển khai cùng với 2 dự án khác tại Lào và Campuchia.
Dự án của Việt Nam (Dự án BCC) được triển khai tại ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nhằm thiết lập hệ thống hành lang đa dạng sinh học, phục hồi và duy trì tính liên kết của hệ sinh thái trong khu vực, bảo đảm dịch vụ hệ sinh thái rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Trung Trường Sơn, đem lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Qua một năm triển khai, Dự án đã đạt được một số kết quả ban đầu như hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy ở Trung ương và địa phương; tuyển dụng Công ty tư vấn và các tư vấn cá nhân; mua sắm hàng hóa; triển khai bước đầu rà soát quy hoạch sử dụng đất lồng ghép hành lang bảo tồn đa dạng sinh học và cập nhật hồ sơ đầu tư xã. Đây là những nội dung chuẩn bị quan trọng cho các hoạt động tiếp theo của Dự án, tập trung vào việc thiết lập hành lang bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cho người dân.
Dự án BCC được thực hiện từ năm 2011 đến năm 2019, với 4 hợp phần: Tăng cường năng lực thể chế và cộng đồng về quản lý hành lang đa dạng sinh học; phục hồi hành lang đa dạng sinh học, bảo vệ hệ sinh thái và quản lý bền vững nguồn tài nguyên; hỗ trợ cải thiện sinh kế và cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ; quản lý dự án và dịch vụ hỗ trợ.
Dự án sẽ cung cấp an toàn sở hữu rừng cho các hộ nghèo và các nhóm dân tộc thiểu số về việc quản lý có chọn lọc các tài nguyên rừng; khôi phục lại môi trường sống tại các vùng đất rừng bị suy thoái thông qua việc trồng các loại cây bản địa và các mô hình nông lâm kết hợp với các nguồn lâm sản ngoài gỗ được cải thiện; cải thiện sinh kế và thu nhập nâng cấp cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ, thu lợi hơn 1 triệu ngày công lao động thông qua các hoạt động dự án.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2013 sẽ là năm quan trọng, tập trung vào các hoạt động liên quan đến thiết lập hành lang, cải thiện sinh kế và cơ sở hạ tầng. Bởi vậy, cần đẩy mạnh các hoạt động trọng tâm như: Nghiên cứu, quy hoạch hành lang bảo tồn đa dạng sinh học, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên khu vực hành lang dự kiến, rà soát, xây dựng, cập nhật Quy hoạch sử dụng đất có lồng ghép hành lang bảo tồn đa dạng sinh học; tuần tra, bảo vệ rừng, kiểm kê và quản lý rừng cộng đồng; cải thiện sinh kế liên quan đến vườn nhà, khuyến nông, vườn ươm, thành lập Quỹ phát triển xã… (VietnamPlus.vn 21/12) đầu trang(
Nhận thức được tầm quan trọng của rừng đối với đời sống con người và môi trường sinh thái, những năm qua, cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành chức năng, chủ rừng và người dân trên địa bàn huyện Tĩnh Gia đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Hạt Kiểm lâm Tĩnh Gia đã tham mưu cho chính quyền các cấp trong huyện xây dựng phương án BVR , PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ).
Từ huyện, đến các xã, thị trấn, chủ rừng trên địa bàn đã kiện toàn và bổ sung ban chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 12/2003 của Thủ tướng về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR trong các tháng trước, trong và sau Tết Quý Tỵ 2013; xây dựng quy chế hoạt động, phương án, kế hoạch BVR, PCCCR cho 24 xã trọng điểm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho 271 thành viên trong ban chỉ đạo.
Ngoài lực lượng nòng cốt và các phương tiện phục vụ BVR, PCCCR ở cấp huyện, cấp xã và các chủ rừng có 91 tổ, đội với 1.124 người tham gia PCCCR, 24 đội thanh niên xung kích với 946 người. Kiểm lâm viên địa bàn đã tham mưu cho chính quyền các cấp phối hợp với các đoàn thể bằng nhiều hình thức tuyên truyền như tổ chức hội nghị, phát tin trên hệ thống loa truyền thanh, tuyên truyền cơ động trên xe ô tô, băng zôn, biển báo... để phổ biến các quy định của Nhà nước về BVR, PCCCR. Đến nay, đã có hơn 3.000 hộ dân các xã có rừng cam kết thực hiện các quy định về BVR và PCCCR.
Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Tĩnh Gia vẫn còn gần 3.000 ha rừng thông thuần loài, lá thông rụng phân hủy chậm dẫn đến thảm thực bì dầy, hơn nữa lượng nước trong lá thông ít, thân cây lại có dầu kết hợp với ràng ràng, sim mua, rất dễ xảy ra cháy rừng trong những ngày thời tiết nắng nóng, khô hanh...
Trong khi đó, hầu hết các vụ cháy rừng trên địa bàn huyện Tĩnh Gia thời gian qua là do người dân đốt nương làm vườn rừng, đốt than, tổ ong, vv... thiếu ý thức dùng lửa nên lửa cháy lan vào rừng. Điển hình như trong tháng 8 -2012, đã xảy ra vụ cháy dưới tán rừng thông tại xã Tân Dân, đám cháy đã được các lực lượng chức năng phát hiện và huy động lực lượng, phương tiện dập lửa kịp thời, không thiệt hại đến tài nguyên rừng. Nguyên nhân được xác định là do người dân sống trong và ven rừng thiếu ý thức sử dụng lửa gây nên.
Để công tác BVR, PCCCR mang tính bền vững theo hướng xã hội hóa, huyện Tĩnh Gia, hạt kiểm lâm và các đơn vị liên quan đang tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số giải pháp, trong đó trọng tâm là tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về PCCCR; tăng cường thực hiện các biện pháp quản lý Nhà nước về BVR, PCCCR, trong đó cốt lõi là công tác chỉ đạo, điều hành của ban chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 12/2003/CT-TTg; đầu tư đồng bộ trang thiết bị, công cụ, phương tiện phục vụ PCCCR... (Báo Thanh Hoá 22/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Nguyễn Văn, công tác tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bình Thuận (TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận) đề nghị cơ quan chức năng giải đáp một số câu hỏi về xác định, phân loại rừng và quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản.
Ngày 2/11/2009 Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Ông Văn muốn được biết Nghị định này có được áp dụng để xử phạt đối với một số diện tích còn cây gỗ tự nhiên thuộc khu vực đã được quy hoạch đưa ra ngoài 3 loại rừng không?
Về vấn đề này, Cục Kiểm lâm - Tổng cục Lâm nghiệp trả lời như sau: Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 2/11/2009 của Chính phủ áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản.
Trường hợp sau khi rà soát quy hoạch rừng, chuyển diện tích đất có rừng sang sử dụng cho mục đích khác (đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng), nhưng khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng thì hành vi chặt phá rừng là trái pháp luật, người có hành vi vi phạm phải bị xử lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ rừng đối với hành vi phá rừng sản xuất trái phép.
Ông Văn thắc mắc: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng thì các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa… không được coi là rừng.
Vậy, diện tích đã có quyết định đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng để trồng cây công nghiệp, cây cao su có được coi là một trong những hệ sinh thái nông nghiệp không?
Về vấn đề này, theo Cục Kiểm lâm, hệ sinh thái nông nghiệp được hiểu là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì dựa trên các quy luật của tự nhiên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người, là các đơn vị sản xuất nông nghiệp.
Theo Quyết định số 2855/QĐ-BNN-KHCN ngày 17/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cây cao su là cây đa mục đích, có thể sử dụng cho cả mục đích nông nghiệp và lâm nghiệp.
Do vậy, cây cao su trồng trên diện tích đất đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng để trồng cây công nghiệp là một thành phần trong hệ sinh thái nông nghiệp. (Chinhphu.vn 22/12) đầu trang(
Sự nóng lên của khí hậu Trái Đất là nguyên nhân gia tăng nhanh chóng nồng độ khí nhà kính, bao gồm khí cácbonníc (CO2), mêtan (CH4) và khí nitơôxít (N2O).
Do đó, bên cạnh việc tăng cường trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cần phải hạn chế mất rừng và suy thoái rừng bởi thực vật hấp thụ CO2 trong quá trình sinh trưởng và phát triển làm giảm đáng kể nồng độ loại khí này.
Tiến sỹ Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường-Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết giảm phát thải khí nhà kính thông qua các nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển là sáng kiến được đưa ra tại Hội nghị lần thứ 11 (COP11) các bên tham gia Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu năm 2005. Sáng kiến này xuất phát từ thực tiễn tình trạng mất rừng và suy thoái rừng, chiếm khoảng 15-20% tổng lượng khí nhà kính do hoạt động của con người gây ra. Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới tham gia thực hiện sáng kiến này.
Theo báo cáo phân tích chi phí giảm phát thải (MACC) trong lĩnh vực lâm nghiệp của Trung tâm nghiên cứu sinh thái môi trường, mất rừng và suy thoái rừng là nguồn gốc gây phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Trung tâm đã đề xuất quy hoạch lại sử dụng đất để trồng rừng, phục hồi rừng đến năm 2020, nhằm tạo ra tiềm năng hấp thụ khoảng 40,2 triệu tấn CO2/năm với 9 phương án lâm sinh. Các phương án là trồng 500.000ha rừng keo luân kỳ 10 năm; trồng 500.000ha rừng keo luân kỳ 15 năm; trồng 300.000ha cây bản địa luân kỳ 40 năm; trồng 150.000ha rừng thông luân kỳ 45-50 năm; trồng 100.000ha rừng tràm luân kỳ 12 năm; trồng 200.000ha rừng cao su trên đất rừng nghèo kiệt luân kỳ 30 năm; trồng 2 triệu cây phân tán luân kỳ 15 năm; làm giàu 2 triệu ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên luân kỳ 20 năm và quản lý bền vững 400.000ha rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, luân kỳ 20 năm.
Ngoài lợi ích về giảm phát thải khí nhà kính, việc phục hồi và phát triển tài nguyên rừng còn mang lại lợi ích như điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển du lịch sinh thái, cung cấp bền vững các sản phẩm lâm sản nhất là gỗ, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. (VietnamPlus.vn 21/12) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh vừa chuyển giao hơn 310.000 cây bạch đàn và tràm úc 1 tháng tuổi cho 7 xã trong huyện Tam Nông để tổ chức trồng cây phòng hộ năm 2012.
Theo đó, các xã: An Long, Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Ninh… sẽ được nhận 20.000 cây giống các loại để giao cho người dân trồng ở cái máy taluy và lưu không của các bờ bao bảo vệ lúa mới thi công. Sau 1 tháng trồng, Chi cục kiểm lâm và địa phương sẽ tổ chức nghiệm thu và bàn giao cho người dân quản lý, chăm sóc và khi cây trưởng thành sẽ được khai thác.
Mục đích của việc trồng cây phòng hộ nhằm bảo đảm tốt cho môi trường sinh thái và phòng, chống sạt lở hiệu quả tại các ô bao canh tác lúa 3 vụ của huyện. (Đại Biểu Nhân Dân 24/12) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp Bình Định, đến nay, trên địa bàn tỉnh có 69 đơn vị, cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp được Sở NNPTNT cấp phép sản xuất, kinh doanh, với diện tích vườn ươm trên 24ha.
Trong năm 2012, các cơ sở đã sản xuất được hơn 56 triệu cây giống các loại, gồm keo lai giâm hom, keo lai cấy mô, bạch đàn cấy mô, sao đen, phi lao... Ngoài việc đủ lượng cây giống cung cấp cho người trồng rừng trong tỉnh, các cơ sở đã mở rộng thị trường cung ứng cho các tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên, các tỉnh Nam Lào. (Nông Thôn Ngày Nay 22/12) đầu trang(
Sau 4 năm (2009 - 2012) triển khai thực hiện, Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tại 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) của Chính phủ bước đầu đã mang lại hiệu quả đáng khích lệ.
Dự án đã góp phần nâng độ che phủ rừng, bảo tồn các loài thực vật quý hiếm; duy trì được nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đặc biệt, dự án đã góp phần cải thiện môi trường sinh thái, tạo không gian xanh cho vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Thông qua chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng sản xuất, đã giải quyết được một phần vấn đề an ninh lương thực trong những ngày giáp hạt cho bà con dân tộc thiểu số sống liền kề với rừng.
Triển khai từ năm 2009 đến nay, dự án đã giao khoán, quản lý, bảo vệ được trên 319.000 lượt ha rừng; giao khoán khoanh nuôi phục hồi rừng được trên 106.000 lượt ha; trồng mới được trên 11.000 ha rừng và thực hiện lồng ghép với dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 2008-2010 được 8.720 ha; chăm sóc được gần 16.000 lượt ha rừng; trồng rừng cảnh quan (rừng phòng hộ môi trường) được 500 ha; cải tạo và nâng cấp được 8 vườn ươm, cung cấp cây giống trồng rừng cho vùng dự án tại 4 huyện trên Cao nguyên đá.
Tại 4 huyện đã xây dựng được 429 bảng nội quy, 1.509 bảng, biển báo tuyên truyền bảo vệ rừng. Các biển báo này được cắm tại các khu rừng thuộc dự án nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân về việc quản lý, bảo vệ rừng; lợi ích và trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Từ việc triển khai thực hiện dự án, 100% các thôn, bản tại 4 huyện trên Cao nguyên đá đã xây dựng được hương ước bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Đức Vinh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang cho biết: Sau 4 năm triển khai thực hiện dự án, độ che phủ rừng của toàn vùng đã tăng lên, đạt tỷ lệ 39,7%, đạt 56% so với mục tiêu của dự án đề ra đến năm 2015 là 46,7%. Dự án đã từng bước cải thiện môi trường sinh thái trong vùng và khu vực lân cận. Bảo tồn các loài thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng như: Thông đỏ, bách vàng, bách xanh, tùng la hán...
Thông qua dự án, đã hình thành được ý thức bảo vệ rừng trong từng bà con dân tộc thiểu số ở địa phương, đặc biệt là ý thức bảo vệ rừng cộng đồng. Đến nay, ở các địa phương này không còn tình trạng phá rừng tràn lan, số vụ cháy rừng giảm mạnh; công tác phòng chống cháy rừng đã được đông đảo nhân dân cùng tham gia.
Tổng nguồn vốn dự án đã hỗ trợ cho bà con là gần 148 tỷ đồng; bình quân mỗi hộ nhận trên 1 triệu đồng/hộ/năm. Ngoài ra, các hộ tham gia dự án còn được nhận gần 6.500 tấn gạo (bình quân mỗi hộ được hỗ trợ 50 kg gạo/năm). Đây là nguồn hỗ trợ đáng kể đối với đời sống của bà con dân tộc thiểu số. Dự án đã góp phần quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo tại 4 huyện trên Cao nguyên đá. Trên 4.583 ha rừng trồng sản xuất khi khai thác sẽ cung cấp trên 275.000 m3 (tính bình quân 60 m3/ha) sẽ là nguồn thu đáng kể về chất đốt, gỗ gia dụng đối với các hộ gia đình.
Bên cạnh đó, dự án cũng đã thu hút được trên 28.000 hộ gia đình trên địa bàn 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc của Hà Giang tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm cho trên 50.000 lao động. Các chính sách hỗ trợ của dự án đối với bà con dân tộc thiểu số đã cho thấy rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với các dân tộc ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang: Trong giai đoạn 2013-2015, tỉnh Hà Giang sẽ tiếp tục phát huy tối đa tiềm năng thế mạnh của rừng; nguồn lực đất đai, lao động, vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách của dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng trên Cao nguyên đá. (Tin Tức 24/12)đầu trang(
Các địa phương miền núi, trung du đang trong giai đoạn tăng tốc để phủ xanh đất trống đồi trọc cho kịp tiến độ. Chưa bao giờ không khí trồng cây gây rừng lại sôi động như năm nay.
Người miền núi luôn hưởng lợi từ tài nguyên rừng. Họ có thể khai thác lâm sản phụ trong rừng, tận dụng diện tích đồi núi hoang trọc để trồng rừng, có thù lao nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng khi nhà nước giao...
Các nghị quyết, chương trình hành động phát triển bền vững miền núi cũng lấy kinh tế rừng làm bước đột phá, mũi nhọn. Năm nay, người dân “thong thả” trồng rừng phân tán do ít bị áp lực từ các dự án, chương trình trồng rừng của nhà nước và các tổ chức khác. Vì thế, nhiều nơi chuẩn bị sớm các khâu chọn giống chất lượng, phát dọn thực bì, thuê nhân công...
Ở Tiên Phước, thời gian qua, đa số các xã hưởng lợi trồng rừng dự án 661, WB3, FAO, Jibic... Lần đầu tiên, đồng bào Co trên địa bàn xã Tiên Lập được tiếp cận mô hình trồng cây mây, tạo sinh kế lâu dài. Đồng bào dân tộc thiểu số ở Tiên Lập, Tiên An còn được Nhà nước cấp gạo trồng gần 40ha rừng trong chương trình trồng rừng thay thế nương rẫy. Nghề rừng đã giúp cho bộ phận lao động làm thuê khắp nơi phải quay về địa phương làm công việc phổ thông như trồng, phát dọn thực bì, vận chuyển cây...
Thống kê của ngành nông nghiệp huyện Tiên Phước cho biết, gần 2.000 hộ trên toàn huyện vào “biên chế” nghề trồng rừng và khai thác lâm nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng tác động vào rừng tự nhiên... Phó Chủ tịch UBND huyện – ông Lê Trí Hiệu khẳng định, mùa vụ này huyện phủ xanh 1.761ha, vượt gần 200ha kế hoạch năm, chủ yếu nhân dân trồng rừng phân tán. Trong khi nhiều ngành nghề sản xuất, kinh doanh khác gặp khó khăn, thì kinh tế rừng vẫn đứng vững. Gỗ rừng trồng năm 2012 khai thác gần 158 nghìn tấn.
Ngược lên miền cao Bắc Trà My, Hiệp Đức, Đông Giang..., những ngày này thường thấy xuất hiện các loại xe tải nặng nhẹ chuyên vận chuyển cây giống phục vụ mùa trồng rừng và cả các “chợ di động” bày bán cây con. Cây giống len lỏi khắp bản làng xa xôi, thời điểm cuối năm trở thành mặt hàng bán “chạy” nhất ở miền núi.
Chủ tịch UBND xã Phước Hiệp – Trần Thị Bích Xinh phấn khởi: “Khác hẳn với trước đây chính quyền phải đi thuyết phục, vận động nhân dân nhận đất trồng rừng... thì bây giờ chính họ lại xin thuê đất trồng cây. Bao quả đồi cao ngất, không ai dám bén mảng đến thì nay đã được che phủ”.
Gần đây, các dự án trồng rừng từ Trung ương đến địa phương đã triển khai nhanh chóng do nhận được sự đồng thuận từ phía người dân. Cơ chế quản lý và các chính sách liên quan đến phát triển vốn rừng đã từng bước đổi mới, phù hợp hơn với chủ trương xã hội hóa về lâm nghiệp. Mặc dầu đẩy mạnh phong trào trồng rừng là hướng đi phù hợp của miền núi hiện nay nhưng không vì thế mà phát triển ồ ạt, phá vỡ quy hoạch. Nếu không có cảnh báo, dự báo về tiềm năng lẫn rủi ro của thị trường, thì hậu quả sẽ rất khó lường. Thực tế, có một thời gian cây keo nguyên liệu bị ép giá, nhiều nơi cây keo và cao su trồng “chồng lấn”.
Phải thừa nhận rằng, hệ lụy của kiểu mạnh ai nấy làm, quản lý lỏng lẻo của cơ quan nhà nước khiến chất lượng vườn ươm cây giống phục vụ mùa trồng rừng năm 2012 không đạt như mong muốn.
Ngành lâm nghiệp thống kê, trong số hơn 4 triệu cây giống (keo tai tượng, sao đen, keo lưỡi liềm, keo lai hom), chỉ có hơn 2,2 triệu cây được chứng nhận nguồn gốc rõ ràng (đạt gần 55%). Trong khi đó, các dự án trồng rừng thực hiện với tỷ lệ rất thấp (chiếm 50%) ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển rừng năm 2012. Tiến độ trồng rừng thay thế nương rẫy với đồng bào các dân tộc thiểu số triển khai chậm. Những khoảnh rừng được đầu tư trồng theo tiêu chuẩn quốc tế, cấp “chứng chỉ rừng” ở Quảng Nam đến nay chỉ mới dừng lại ở mô hình thí điểm.
Thêm nữa, ngành công nghiệp chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, chưa gắn kết với vùng nguyên liệu, sản phẩm làm ra (chủ yếu là xuất thô) dẫn đến giá cả bấp bênh, thiếu ổn định. Ngoài ra, đường vận chuyển tiêu thụ sản phẩm xa làm cho giá đầu vào sản phẩm cao nên chưa thu hút các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư trồng rừng.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang cho biết, tỉnh chỉ đạo hình thành vùng nguyên liệu tập trung để phát triển bền vững miền núi. Quy hoạch đã rõ vùng nào thì ưu tiên trồng cây gì, có cân nhắc hài hòa lợi ích kinh tế và tác động xã hội của từng loại cây, từng vùng miền; chẳng hạn cây cao su có giá trị cao nhưng không phải địa phương nào cũng trồng được.
Cũng theo ông Quang, trồng có trọng điểm, trọng tâm và có lộ trình phù hợp, dự đoán được thị trường cũng là “chìa khóa” nâng cao giá trị rừng trồng. Do vậy, các địa phương tuyệt đối không được phá vỡ quy hoạch, khẩn trương rà soát 3 loại rừng để đầu tư hiệu quả, khoa học. (Báo Quảng Nam 22/12) đầu trang(
Vừa qua, tại xã Lâm Giang, Trung tâm dạy nghề huyện Văn Yên đã tổ chức bế mạc lớp dạy nghề ngắn hạn chế biến gỗ rừng trồng.
Đây là lớp học theo quyết định số 570 của Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Yên Bái, ngày 10/9/2012 về lựa chọn cơ sở dạy nghề tham gia đặt hàng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo mô hình thí điểm tỉnh Yên Bái năm 2012
Khóa học đã có 24 học viên là nhân dân trên địa bàn xã Lâm Giang, huyện Văn Yên tham gia. Qua hai tháng học tập các giáo viên trung tâm dạy nghề huyện Văn Yên đã phối hợp với giáo viên trường cao đẳng nghề Yên Bái đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo hình thức Cầm tay chỉ việc, giới thiệu lý thuyết đến đâu hướng dẫn thực hành đến đó, phù hợp với đối tượng lao động nông thôn.
Các học viên đã tiếp thu được những kiến thức cơ bản nhất về quy trình chế biến gỗ rừng trồng, từ đó học viên có khả năng vận dụng vào thực tế sản xuất một số loại ván nhân tạo như ván bóc, ván dán, ván ghép thanh, đồ mộc dân dụng nhằm nâng cao giá trị sử dụng nguồn nguyên liệu từ gỗ sẵn có tại địa phương.
Ngoài ra các học vien còn biết cách lựa chọn và chuẩn bị được nguyên liệu đầu vào cho mỗi loại dây cuyền chế biến gỗ cụ thể, xác định được phương pháp gia công chế biến thích hợp để nâng cao tỷ lệ sử dụng gỗ và tạo sản phẩm theo yêu cầu; thực hiện các thao tác kỹ thuật trong dây chuyền chế biến gỗ, hiểu biết các nguyên lý hoạt động và vận hành được một số loại máy chế biến gỗ chuyên dùng, đảm bảo an toàn trong sản xuất; biết cách bảo quản và khắc phục một số khuyết tật, sâu nấm thông thường ảnh hưởng tới chất lượng của gỗ trong quá trình gia công chế biến.
Kết thúc khóa học Trung tâm dạy nghề Văn Yên đã tổ chức thi và trao chứng chỉ nghề chế biến gỗ rừng trồng cho 24 học viên. Trong đó có 10 học viên đạt loại giỏi, 11 học viên đạt loại khá, số học viên còn lại đạt loại trung bình khá. Một điều đáng mừng đối với lớp học là sau khi khóa học kết thúc tất các các học viên của lớp học đã được hai chủ xưởng chế biến gỗ tại thôn 5 và thôn 11 của xã Lâm Giang nhận vào là việc với công việc và đồng lương ổn định. (Theo Yenbai.gov.vn 24/12)đầu trang(
Ngày 23.12, Trạm kiểm lâm địa bàn Thanh Sơn - Ngọc Định (Hạt Kiểm lâm Định Quán) cho biết, gần 1 tuần trở lại đây, đàn voi rừng từ 7 - 11 cá thể voi liên tục quần phá hoa màu (xoài, mía) và phá chòi của người dân ấp 4, xã Thanh Sơn, H.Định Quán.
Đàn voi này cách đây khoảng 1 tháng hoạt động tại khu vực ấp 7, xã Thanh Sơn để ăn bắp và chuối, nhưng gần đây lại chuyển địa bàn hoạt động sang ấp 4. Đàn voi di chuyển và hoạt động chủ yếu từ tối khuya tới sáng, gây thiệt hại về nhà cửa, tài sản, nương rẫy của gần 100 hộ dân.
Trạm kiểm lâm Thanh Sơn Ngọc Định phối hợp với lực lượng công an xã, các lâm trường và người dân tiến hành xua đuổi voi, tránh xảy ra xung đột giữa voi và người, nhưng đàn voi ngày càng trở nên lỳ lợm. (Pháp Luật TPHCM 24/12; Thanh Niên 24/12)
Hơn 150 cá thể cá bản địa các loài gồm lòng tong sọc (Rasbora trilineata), lòng tong đá (Rasbora paviana) lia thia (Betta splendens) vừa được thả về kênh Nhiêu Lộc (đoạn gần cầu Điện Biên Phủ 2, quận Bình Thạnh) trong khuôn khổ chương trình “Nhân giống và thả cá bản địa về thiên nhiên” tại văn phòng tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã (WAR) từ tháng 2.2010.
Trong lần thả này, thêm một loài cá bản địa là lòng tong sọc với hơn 50 cá thể được nhân giống thành công và thả về thiên nhiên. Cá lòng tong sọc phân bố chủ yếu ở miền Nam, sống phổ biến trong môi trường nước chảy chậm như ao hồ, đầm lầy, và sông suối. Thức ăn ưa thích của chúng là côn trùng nhỏ, đặc biệt là ấu trùng muỗi. Loài này cũng ăn các chất hữu cơ, giúp làm sạch nguồn rác hữu cơ từ nước thải sinh hoạt.
Dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của WAR, gần 20 thành viên Chiến dịch 350 Việt Nam đã tham gia thả cá nhằm góp phần khôi phục quần thể cá bản địa tại thành phố và khuyến khích người dân địa phương sử dụng cá bản địa làm cảnh.
Tính đến nay, hơn 1.300 cá thể thuộc bốn loài cá bản địa bao gồm lia thia, lòng tong đá, bã trầu và lòng tong sọc đã được thả về các phụ lưu của sông Sài Gòn. (Sài Gòn Tiếp Thị 22/12)đầu trang(
Hàng ngàn héc ta đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Ngân Sơn (Bắc Kạn), do cấp trùng cho dân và doanh nghiệp trồng rừng từ những năm 1990 đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, ảnh hưởng tới kế hoạch trồng và khai thác gỗ rừng. Đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến việc trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc năm 2013 của huyện Ngân Sơn.
Sự việc cấp trùng đất này được phát hiện từ năm 2007, khi Công ty TNHH Lâm nghiệp Bắc Kạn tổ chức quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cho Lâm trường Ngân Sơn giai đoạn 2007 – 2015, mới thấy trong tổng số 5.247 ha đất đã cấp cho Lâm trường Ngân Sơn có đến 3.000 ha được cấp cho dân. Việc cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho dân để trồng rừng từ những năm 1993 – 1994, theo Quyết định 64/QĐ- UBND, ngày 13/2/1993 của UBND tỉnh Cao Bằng.
Như vậy là 3.000 ha đất này hiện có hai chủ sở hữu. Phần đất cấp trùng trên thuộc địa bàn của 4 xã là Bằng Vân, Đức Vân, Vân Tùng và thị trấn Nà Phặc. Tiếp đó đến năm 2009, UBND huyện Ngân Sơn đã ra hàng loạt quyết định thu hồi, hủy bỏ các quyết định, Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất của 318 hộ dân thuộc các xã nói trên với lý do cấp sai, trái với quy định của Luật Đất đai.
Có một nghịch lý khi thu hồi đất của dân nơi đây là người dân đã sống lâu đời ở vùng này, nếu bị thu hồi sẽ không có đất canh tác, sản xuất. Điều này đã được phản ánh nhiều trong các cuộc tiếp xúc cử tri của huyện, tỉnh. Nhà nước có nhiều chương trình, dự án khuyến khích, kêu gọi người dân trồng rừng, vừa để bảo vệ môi trường, vừa là phát triển kinh tế rừng.
Tuy nhiên, người dân ở 4 xã Bằng Vân, Đức Vân, Vân Tùng và thị trấn Nà Phặc của Ngân Sơn muốn trồng rừng lại không có đất, còn doanh nghiệp thì không đủ người để triển khai trồng rừng. Ngoài ra số đất rừng đã được người dân trồng theo các dự án 661, 327 đến nay đã đến tuổi khai thác, nhưng không thực hiện được do có tranh chấp.
Người dân thôn Nặm Làng, xã Đức Vân phản ánh: Thôn Nặm Làng có 32 hộ dân và tất cả đều thiếu đất sản xuất. 32 hộ dân của thôn này chỉ có hơn 1 ha đất ruộng, không có đất vườn, đất rừng để phát triển kinh tế gia đình. Trong khi thực tế tại Ngân Sơn diện tích đất trống, đồi trọc trên địa bàn vẫn còn rất nhiều, nhưng không thể triển khai trồng rừng theo kế hoạch của tỉnh và của huyện được do vướng việc cấp trùng Sổ đỏ.
Chủ tịch UBND huyện Ngân Sơn Trần Đình Thất cho biết: Nhu cầu sử dụng đất để trồng rừng, phát triển kinh tế của người dân là chính đáng và cấp thiết. Vì vậy UBND huyện đang chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn của huyện tổng hợp các văn bản liên quan đối với đất lâm trường; căn cứ Luật Đất đai để đề nghị UBND tỉnh xem xét, giải quyết. (Tài Nguyên&Môi Trường 22/12)đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu UBND 2 tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận kiểm tra sự việc nêu trên báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh qua bài viết "Cạo trọc rừng giáp ranh Lâm Đồng - Ninh Thuận".
Trước đó, báo Pháp Luật TPHCM ra ngày 10/12/2012 đăng bài: "Cạo trọc rừng giáp ranh Lâm Đồng - Ninh Thuận", phản ánh khu vực rừng Ya Hoa (xã Ka Đô, Đơn Dương, Lâm Đồng) thuộc lâm phần của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đơn Dương vốn là rừng nguyên sinh, nay không còn rừng.
Theo ghi nhận tại tiểu khu 329 Ka Đô, cả ngàn hecta rừng bị tàn phá, giờ cây rừng đang tái sinh, cao chừng năm, ba mét. Bên trong, hàng ngàn cây rừng bị đốn hạ còn trơ gốc, hàng trăm lóng gỗ tròn bỏ lại hiện trường.
Cũng theo bài báo phản ánh, vùng giáp ranh giữa Ninh Thuận và Lâm Đồng tập trung nhiều gỗ hương (thuộc nhóm I) nên rất nhiều lâm tặc đến nhòm ngó. Các cơ quan chức năng (kiểm lâm, công an) liên tục truy quét, bắt giữ nhiều vụ khai thác, vận chuyển gỗ lậu nhưng nạn khai thác trộm không giảm.
Về vấn đề này, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận kiểm tra sự việc báo nêu trên, nếu đúng phải có biện pháp xử lý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/1/2013. (Chinhphu.vn 22/12; Pháp Luật TPHCM 24/12)đầu trang(
Xác định lâm nghiệp có vị trí quan trong trong việc phát triển kinh tế và chống lại biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tỉnh Cà Mau đã tận dụng mọi nguồn lực để khôi phục, trồng mới lại từng ha rừng phòng hộ ven biển.
Cà Mau là tỉnh duy nhất có 3 mặt giáp biển, với chiều dài bờ biển 254 km. Do đó, địa phương này ít nhiều phải chịu sự tác động của BĐKH. Theo tính toán của các chuyên gia, do tác động của BĐKH nếu mực nước dâng cao thêm 1 m thì hơn 1/3 dân số và khoảng 16% diện tích đất sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.
Theo thống kê của Sở NN-PTNT Cà Mau, rừng ở Cà Mau có hai hệ sinh thái là rừng ngập mặn và rừng nước lợ. Tổng diện tích ổn định khoảng 105.000 ha, bao gồm 3 loại rừng gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng SX.
Ngành nông nghiệp địa phương này cũng nhìn nhận, muốn chống lại tình trạng nước biển dâng và sự xâm lấn của nước mặn ngày càng tăng và muốn cải tạo lại đất đai để SX thì nhất thiết phải dựa vào các hệ sinh thái ven biển.
Trong đó, việc sử dụng chính những loài cây đủ sức chịu đựng, đủ sức chống chọi lại với những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên là quan trọng nhất. Do đó việc khôi phục và phát triển lại những cánh rừng phòng hộ ven biển chính là giải pháp cụ thể và hữu hiệu nhất nhằm ngăn chặn và từng bước chống lại BĐKH.
Thực tế cho thấy, cây rừng mang lại hiệu quả rất lớn trong việc đối phó với sự BĐKH. Bên cạnh việc tạo ra các giá trị đa dạng về mặt sinh học, rừng còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, hạn chế tối đa bão lũ, triều cường. Rừng phòng hộ ven biển Cà Mau thuộc loại rừng chắn sóng, lấn biển.
Đây là loại rừng có chức năng hết sức quan trọng như ngăn ngừa, làm giảm xói lở và bảo vệ đất; giảm tác động của BĐKH, góp phần làm giảm ô nhiễm nguồn nước. Bên cạnh đó, rừng còn cung cấp rất nhiều lợi ích cho con người, động vật và những hệ sinh thái xung quanh.
Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, đai rừng phòng hộ với các loài cây rừng ngập mặn như đước, sú, vẹt, mắm, bần… có hệ thống rễ chằng chịt là những yếu tố cần và đủ làm chậm tốc độ dòng chảy, tăng nhanh sự bồi lắng của phù sa, nâng dần mặt đất ven biển và làm giảm áp lực của sóng biển khi tiến vào bờ.
Trước diễn biến phức tạp, khó lường của thiên tai, nhiệt độ trái đất đang dần ấm lên, mực nước biển dâng ngày càng cao. Do đó, vấn đề được đặt ra hiện nay là làm sao để bảo vệ được rừng ngập mặn, rừng phòng hộ, khôi phục và trồng lại những khu vực rừng đã bị tàn phá do thiên nhiên hay bàn tay con người.
Trước đây rừng phòng hộ ven biển ở địa phương này có nhiều khu vực bồi lắng phù sa tự nhiên như khu vực bãi bồi mũi Cà Mau (Ngọc Hiển), Mỹ Bình (Phú Tân), Khánh Hội (U Minh)… Nhưng do ảnh hưởng của BĐKH nên nhiều dải rừng phòng hộ ven biển đã không còn. Theo kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng đến ngày 31/12/2011, diện tích rừng phòng hộ trong tỉnh Cà Mau là 27.205 ha, trong đó diện tích có rừng là 27.005 ha và chưa có rừng là 200 ha.
Thời gian qua, Cà Mau đã thực hiện nhiều giải pháp khôi phục và phát triển lại rừng phòng hộ nhằm ứng phó với BĐKH. Ông Nguyễn Như Độ, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Cà Mau cho biết, để trồng lại rừng, ngành chức năng đã đánh giá một cách hết sức chi tiết về mức độ thiệt hại ở những nơi không có rừng do gió, sóng biển gây ra.
Từ đó đề ra kế hoạch trồng, quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ. Đồng thời, tập chung nghiên cứu sâu các yếu tố về môi trường, đất đai, thủy triều, hướng gió, hiện tượng bồi lở bờ biển, tốc độ bồi lắng để đề ra chính sách phù hợp và những giải pháp cụ thể có hiệu quả nhất trong việc phát triển lại rừng phòng hộ.
Tập trung đầu tư và kêu gọi đầu tư từ các tổ chức quốc tế quan tâm đến rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển và BĐKH toàn cầu. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã xây dựng các chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người dân sống dưới tán rừng nhằm tiến tới xóa bỏ triệt đệ nạn chặt phá rừng, đánh bắt thủy sản ven bờ làm ảnh hưởng bất lợi đến việc phát triển rừng, tác động xấu đến đai rừng phòng hộ ven biển.
Theo tìm hiểu của Nông Nghiệp Việt Nam, hiện tượng sạt lở ở Cà Mau đang diễn ra rất mạnh và có khuynh hướng tăng dân theo từng năm. Có những khu vực hàng năm sạt lở sâu vào đất liền từ 30 - 40 m. Đặc biệt là khu vực biển Tây. Diện tích rừng phòng hộ ven biển bị mất do sạt lở từ năm 2006 - 2011 khoảng 1.848 ha.
Để khôi phục lại rừng phòng hộ, tỉnh Cà Mau đã chủ động vận dụng mọi nguồn kinh phí để trồng mới hàng trăm ha rừng phòng hộ ven biển. Chỉ tính trong vòng 3 năm từ năm 2009 - 2011 có gần 1.500 ha rừng phòng hộ ven biển được phục hồi.(Nông Nghiệp Việt Nam 21/12)đầu trang(
Đó là lời tự hào của ông Hồ Thanh Kiệt, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng) khi nói về vai trò của cây bần giữ đất và mở đất ở cù lao này.
Theo quốc lộ 91B, đường Nam Sông Hậu xuôi về biển, chúng tôi đến cù lao Dung những tháng ngày cuối năm. Cù lao này ngày nào nhà văn Sơn Nam ghé chơi để viết tác phẩm “Bên rừng cù lao Dung”, giờ đã trở thành một đơn vị hành chính cấp huyện, thuộc tỉnh Sóc Trăng, diện tích tự nhiên khoảng 250 km2.
Cứ mỗi năm thiên nhiên bồi đắp cho cù lao này khoảng 50 ha, khiến bờ thềm rộng thêm mỗi ngày. Ngoài diện tích đất ở, hạ tầng, cù lao có được đất trồng trọt gần 15.000 ha và 1.640 ha rừng phòng hộ, trong đó 250 ha rừng ven sông, chủ yếu là rừng đặc sản bần và một ít đước. Ngoài rừng phòng hộ, nhờ bần mà cù lao này còn lồi ra biển thêm một bãi bồi trên 10.000 ha mà người dân địa phương khai thác nghêu giống. Hợp tác xã nghêu giống tổ chức khai thác bán được vài tỷ mỗi năm.
Dân gian có câu nói về đặc tính gỗ của cây: “Bần giòn, ổi dẻo, me dai”. Bần mọc ở thềm đất và nước gặp nhau mỗi ngày theo con nước thủy triều. Gỗ bần rất giòn, nên thân, nhánh dễ gãy, chỉ cần một tác động không quá mạnh của gió, con người là bần có thể ngã đổ trôi theo dòng nước.
Thiên hạ cũng không đốn bần vì đất mà bần mọc, con người chưa “dòm ngó”; vả lại, gỗ bần cũng không làm được gì ngoài việc làm củi. Nhưng ngày nay, người ta cũng không quan tâm đến loại chất đốt này nữa. Còn trái bần với con người chỉ có giá trị “ăn đỡ nghiền”, hoặc làm nước mắm thay me, vì trái có vị chua, chát cũng hấp dẫn, lạ miệng với ai chưa từng ăn mà chỉ quen ăn nước mắm chanh.
Tương truyền, chúa Nguyễn Ánh (Gia Long) những năm gian khổ chiến tranh đối đầu với nhà Tây Sơn - Nguyễn Huệ, được người dân phương Nam đùm bọc và có lần chúa ghé nhà một người dân được cho thưởng thức món nước mắm bần. Chúa ăn khen ngon, không muốn để tên cúng cơm “bần” nghe “bần hàn”, kham khổ nên đổi tên là “Thủy Cúc”; một cái tên kiêu sa, nhưng không mấy người dân Nam Bộ nhớ tên khai sinh mà chúa đặt cho cây bần.
Vì lẽ, cây bần không bị “triệt hạ”, mặt khác được sự quản lí của chính quyền địa phương, kiểm lâm, rừng cù lao Dung mỗi năm được mở rộng thêm ra. Theo báo cáo của Phòng NN-PTNT huyện Cù Lao Dung, trung bình mỗi năm diện tích rừng bần được thêm ra khoảng 30 - 40 ha.
Rừng bần không có giá trị gỗ, nhưng nó rất hữu ích ở nhiều phương diện. Ngoài việc điều tiết tự nhiên của vai trò rừng cây xanh, lá phổi của thiên nhiên giúp cho con người có được một môi trường tốt, trong lành trong điều kiện biến đổi khí hậu thất thường, bần còn giúp mở rộng “bờ cõi, giang sơn”; mặt khác, dưới tán rừng bần là một nguồn lợi thiên nhiên vô giá.
Anh Nguyễn Văn Hai, nông dân kiêm thêm nghề câu, đánh bắt cá bông lau ở khu rừng bần cho biết: “Cá bông lau rất thích bông bần và trái bần. Vì vậy, dưới tán rừng bần có thể xem đây là giang sơn của chúng. Mùa cá bông lau, nhiều người đi câu đêm hoặc quy mô hơn thì tổ chức đánh bắt. Tôi cũng đi câu, bình quân đêm kiếm được 1 - 2 con, mỗi con trên dưới 3 kg, thì cũng kiếm được khoảng 500.000 đ/đêm.
Ngoài ra, tùy theo mùa, người dân ở đây có thể khai thác cá bống sao, cá kèo con, cá đối, cua biển con, dọp, hến, đồm độp (một loại như con sâm đất, sống dưới gốc bần), ba khía, ong mật… Ông Trần Văn Vinh ở ấp An Thạnh Nam cho biết: “Mùa cá kèo con, thiên hạ đi bắt mỗi ngày cũng được 1 li cá con, bán lại cho người nuôi cũng kiếm bạc triệu. Còn bắt cua biển con cũng được 400.000 - 500.000 đ/ngày. Mùa ba khía, họ cũng kiếm được 200.000 - 300.000 đ/ngày...".
Chúng tôi hỏi thăm, anh Lê Thành Tâm ở ấp An Thạnh Ba đang chuẩn bị “tóm” một ổ ong ruồi vừa tìm thấy trong khu rừng: “Kiếm ong mật, mỗi ngày anh được bao nhiêu?”. Anh Tâm đáp: “Cũng tùy, có ngày nhiều ngày ít. Nhưng nếu vào mùa, tôi cũng có thể kiếm được 3 lít, bán được 300.000 đ”.
Như vậy, người dân ở đây cũng sống được dưới sự che chở của rừng bần nên họ cũng biết quý rừng mà bảo về lại chúng. Tùy theo hoạt động, tuổi tác, sự thành thạo nghề, mùa vụ… mà họ có thể kiếm được “công nhật” từ vài trăm ngàn đến cả triệu đồng, có ngày may mắn cũng có thể được hơn thế.
Cũng phải thấy, khoảng mười mấy năm trở lại đây, Nhà nước đã đầu tư cho Cù Lao Dung 3 đê bao kiên cố, giá trị với nhiều tỉ đồng. Ông Hồ Thanh Kiệt cho biết: “Ba đê bao bảo vệ gồm đê biển dài 24 km, cao trình 3.6; dự án năm 2013 sẽ nâng đê này lên cao trình 4.0 (tương đương 4 m cao so với mực nước biển). Ngoài đê biển, còn có 2 đê “tả - hữu” cồn. Hai đê này có chiều dài tổng cộng trên 81 km, cao trình chung 3.2. Vào những thời điểm nước dâng cao như tháng 9, tháng 10, những chỗ đê tả hữu có cao trình từ 2.8 - 3.0 thì mức nước cũng chỉ lé mé”.
Kể ra nhờ các con đê này, người dân yên tâm sinh sống và cũng không phải lo việc SX bị thất bại, đình đốn, mất trắng. Như một số người dân sinh sống cạnh rừng cho biết, hệ động vật rừng ở đây chỉ còn khỉ, rái cá, dơi quạ và một số loài chim cò. Tuy nhiên, chúng không còn nhiều, nhất là quần thể khỉ, chỉ còn vài chục con mỗi đàn, thường chúng sống trong vùng lõi.
Có thể cộng đồng loài khỉ không còn nhiều như thời Sơn Nam ghé qua. Nhưng hi vọng với sự quản lí của kiểm lâm, chính quyền, cùng ý thức của người dân địa phương trong việc bảo vệ tự nhiên, bảo vệ rừng, khỉ và nhiều loài sinh vật khác không bị sự truy bắt của con người, có điều kiện phát triển, sinh sôi nẩy nở bầy đàn. Và rừng cù lao Dung cũng sẽ là điểm du lịch được nhiều du khách thập phương tới thăm.
Ông Phạm Hồng Văn, Phó chủ tịch UBND huyện Cù Lao Dung cho biết: "Khoảng mười mấy năm nay, ngoài thềm bờ biển cù lao có hiện tượng tự nhiên nổi lên một vùng đất, có tên Cồn Văn, nên hiện tượng bồi lắng tại Cồn Văn, nói chung của huyện Cù Lao Dung, mỗi năm rộng thêm ra 50 - 60 ha. Tính chung trong thời gian này, Cù Lao Dung có được một diện tích đất phát triển vào khoảng 400 - 500 ha.
Như vậy, nhìn chung rừng bần cũng phát triển được thêm đáng kể, một phần tự mọc và một phần do chúng ta trồng thêm. Nhưng nhìn từ một hướng ngược lại, chính rừng bần phòng hộ đã giúp cù lao này không những tồn tại giữa bốn bề sông nước, mà còn phát triển ngày rộng thêm ra. Vì vậy, chúng tôi luôn vận động người dân ý thức bảo vệ rừng nghiêm ngặt".
Mặt khác, theo ông Văn, việc chặt phá rừng ở đây có thể nói gần như không đáng kể. Vì 2 lí do, ý thức bảo vệ rừng phòng hộ của người dân khá cao. Hơn nữa, dưới tán rừng bần, người dân cũng hưởng được quyền lợi, nên họ cũng ý thức nhiều hơn. Chẳng hạn, họ có thể vào rừng để bắt cua, bắt cá; tùy theo mùa mà khai thác con giống cua biển, cá kèo, thòi lòi, cá bóng, cá ngác, cá đối…
Vả lại, công tác quản lí rừng của Hạt Kiểm lâm cũng rất nghiêm ngặt. Một điểm đáng mừng là trong rừng bần dần phát triển một hệ động vật phong phú, nhất là chim, dơi, cũng có chồn, rái cá và cả khỉ... (Nông Nghiệp Việt Nam 21/12)đầu trang(
Không được công nhận là lực lượng chính quy như những cán bộ trong ngành kiểm lâm, nhưng những người giữ rừng phòng hộ đầu nguồn Ðồng Xuân (Phú Yên) đang phải đối mặt với muôn vàn gian truân, vất vả. Người ít, rừng nhiều, không có công cụ hỗ trợ, lại gặp vướng bởi nhiều quy định bất cập, họ đang "gồng mình" bảo vệ từng mảnh rừng vì mầu xanh và sự sống còn của hạ du.
Phú Yên có các Ban QLRPH Ðồng Xuân, sông Bàn Thạch, Sông Cầu, Sơn Hòa, Sông Hinh và Nam Sông Hinh, quản lý gần 110.000 ha, chiếm 21,6% diện tích toàn tỉnh. Huyện miền núi Ðồng Xuân là địa bàn có diện tích rừng phòng hộ lớn nhất với 24.000 ha, trong đó hơn 400 ha rừng trồng, chủ yếu tập trung ở Phú Mỡ.
Ông Nguyễn Lộc, Trưởng Ban QLRPH Ðồng Xuân cho biết: Ðơn vị có 30 biên chế, trong đó phân bổ cho các Trạm QLBVR Phú Ðồng, Chín Bếp và Phú Tiến 17 người trực tiếp quản lý, bảo vệ hơn 24.000 ha rừng. Hiện, đơn vị đang bàn giao 2.000 ha rừng cho UBND xã Phú Mỡ và Xuân Quang 1 quản lý. Tuy nhiên, nghe thông tin này, nhiều người dân "tranh thủ" vào rừng chặt phá khiến công tác bảo vệ rừng càng gian nan. Ðau xót là khi giao trả 407 ha cho UBND xã Xuân Quang 1, thực tế rừng chỉ còn 140 ha, mà thủ phạm phá rừng chủ yếu là dân bản địa.
Nạn lấn chiếm, phá rừng trồng không hạ nhiệt mà còn càng nóng bỏng. Diện tích rừng trồng thuộc dự án 327, Lâm sinh và 661 bị người dân thường xuyên chặt phá chiếm đất để canh tác, tập trung chủ yếu ở các khu vực gần khu dân cư Suối Cối, Kỳ Lộ, Phú Tâm (xã Xuân Quang 1) và Phú Tiến, Phú Giang, Phú Ðồng (xã Phú Mỡ)... Lợi dụng đêm tối, bọn lâm tặc vào rừng chặt phá, vận chuyển lâm sản trái phép, đe dọa, chống đối cán bộ QLRPH nên việc giáo dục, răn đe người dân thiếu ý thức phá rừng làm rẫy trái phép gần như không mang lại tác dụng.
Ông Lộc than thở, từ đầu năm đến nay, 80 ha đất lâm nghiệp đã bị lấn chiếm trái phép, chủ yếu là rừng trồng. Các vụ vi phạm bị phát hiện được chuyển kịp thời cho UBND các xã, nhưng hầu hết chậm giải quyết dẫn đến tồn đọng, hồ sơ chất đống. Năm 2010, Ban QLRPH Ðồng Xuân từng lập hồ sơ đề nghị Hạt Kiểm lâm cùng cấp xử lý 31 trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, nhưng cơ quan này không thể xử lý vì theo ba tiêu chí xác định rừng quy định tại Ðiều 3 của Thông tư 34/2009/TT-BNN&PTNT, không có lâm sản tạm giữ, chỉ có gốc cây đã chặt còn lại ở hiện trường nên chưa đủ cơ sở để xử lý hành vi phá rừng trái pháp luật.
Mặt khác, quy định rừng trồng có chiều cao trung bình hơn 1,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm như dầu rái, xà cừ, hơn 3 m đối với các loài cây sinh trưởng nhanh như keo lá tràm, với mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là rừng.
Tuy nhiên, ông Lộc cho rằng, việc áp dụng tiêu chí xác định rừng để xử lý vi phạm như trên cũng chưa thuyết phục và thiếu căn cứ. Diện tích trồng rừng từ năm 1989 - 1998 và dự án 327, Lâm sinh... chủ yếu là trồng keo lá tràm và hỗn loài theo băng hiện không bảo đảm mật độ coi là rừng do nạn xâm lấn và cây trồng bị chết vì nắng hạn, thực bì chèn ép mạnh, yếu kém và hạn chế về mặt kỹ thuật... nên tỷ lệ cây sống có mật độ dưới 1.000 cây/ha, có nơi dưới 500 cây/ha. Lợi dụng quy định trên, người dân vào rừng trồng, xâm chiếm chặt phá rừng để làm rẫy.
Mặc dù Ban QLRPH Ðồng Xuân đã lập rất nhiều hồ sơ vụ việc gửi cơ quan Kiểm lâm sở tại, đồng thời liên tục "kêu" tới các cấp có thẩm quyền nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Trưởng trạm Ðoàn Xuân Minh xót xa: Mấy năm gần đây, người dân thiếu đất canh tác nên càng lấn rừng, hạ gục hàng chục ha toàn cây có đường kính từ 20 đến 30 cm. Anh em cố giữ nhưng "lực bất tòng tâm", đành ngậm ngùi khi rừng bị triệt hạ. Sáu tháng đầu năm đã xảy ra gần 120 vụ phá, xâm lấn rừng trồng hơn 10 năm tuổi và đất lâm nghiệp, gây thiệt hại gần 40 ha rừng và 2.000 cây dầu, keo bị triệt hạ...
Ông Lộc than thở, từ đầu năm đến nay, 80 ha đất lâm nghiệp đã bị lấn chiếm trái phép, chủ yếu là rừng trồng. Các vụ vi phạm bị phát hiện được chuyển kịp thời cho UBND các xã, nhưng hầu hết chậm giải quyết dẫn đến tồn đọng, hồ sơ chất đống.
Theo Sở NN và PTNT tỉnh Phú Yên, diện tích rừng phòng hộ hiện có 67.684 ha, chiếm gần 50% diện tích đất có rừng toàn tỉnh. So với năm 2010, diện tích đất có rừng tăng 411 ha, nhưng rừng tự nhiên giảm hơn 240/52.479 ha. Hiện nay, mỗi cán bộ Ban QLRPH Ðồng Xuân đang "ôm" hơn 1.400 ha rừng (theo quy định của Bộ NN và PTNT là 1.000 ha) nằm trên núi cao, hiểm trở, đi lại khó khăn và nguy hiểm. (Nhân Dân 23/12)đầu trang(
Huyện Phú Tân có hơn 2.600ha rừng phòng hộ, có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, chống sạt lở, bảo vệ môi trường và giúp nghề nuôi trồng thủy sản bền vững. Tuy nhiên, tình trạng chặt phá rừng trái phép diễn ra thường xuyên. Một mô hình không mới nhưng phát huy tốt hiệu quả là giao đất cho người dân nuôi ốc len dưới tán rừng, vừa giúp người dân có nguồn thu nhập ổn định vừa nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng.
2006, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cà Mau cho phép huyện Phú Tân hợp đồng giao đất rừng phòng hộ để dân quản lý bảo vệ rừng và kết hợp nuôi ốc len dưới tán rừng.
Đến nay, tổng diện tích được giao khoán là 61,5ha, gồm 17 hộ thuộc ấp Cơi 6B, xã Nguyễn Việt Khái và thị trấn Cái Đôi Vàm. Qua hơn 6 năm triển khai thực hiện, mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao, đồng thời rừng được bảo vệ tốt hơn, tạo nguồn thu nhập ổn định cho các hộ dân thuê đất quản lý bảo vệ rừng, kết hợp nuôi ốc len dưới tán rừng.
Ông Nguyễn Văn Tấn, ở ấp Cơi 6B, xã Nguyễn Việt Khái hợp đồng 6ha đất rừng được giao khoán từ năm 2006. Mỗi vụ nuôi, anh thả khoảng 2 tấn ốc len giống, trong 5 - 7 tháng cho thu hoạch, có lãi trên 100 triệu đồng. Ông Tấn cho biết: Con giống ở địa phương phù hợp với rừng ở đây nên rất dễ nuôi, thả ốc giống vô rừng, chỉ cần quản lý thôi, không cần chăm sóc, không cần cho ăn.
Hiệu quả kinh tế từ mô hình này mang lại rất khả quan, bởi hệ sinh thái rừng ngập mặn là nơi lý tưởng để ốc len phát triển, mức hao hụt thấp và chất lượng ốc thương phẩm cao. Ốc len thương phẩm tại địa phương thương lái mua với giá 50 ngàn đồng/kg trở lên, như vậy bình quân 1ha đất rừng nuôi ốc len, người dân thu lãi trên 10 triệu đồng. Ngoài ốc len, người dân còn có thể nuôi thêm cá kèo, cua… Từ đó, giúp bà con có thu nhập ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo; mặt khác họ còn thực hiện cam kết gìn giữ và bảo vệ có hiệu quả diện tích rừng phòng hộ được giao.
Ông Dương Đặng Vinh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phú Tân, cho biết: Đến nay, mô hình đạt hiệu quả tương đối, thứ nhất giải quyết được công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân. Kết quả quản lý bảo vệ rừng, qua tuần tra kiểm tra, tình trạng chặt phá đối với khu vực nuôi ốc len này hầu như không xảy ra. Cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt.
Việc giao đất rừng cho dân nuôi ốc len và bảo vệ rừng là một trong những hướng đi có hiệu quả, bởi “dân được lợi, rừng được bảo vệ”. Mô hình này bước đầu cho thấy đã góp phần giảm thiểu tình trạng chặt phá cây rừng trái phép. Một khi đời sống của người dân được ổn định, kinh tế phát triển thì ý thức bảo vệ rừng cũng được nâng lên. Nuôi ốc len hay các loài thủy sản khác dước tán rừng cần được quy hoạch phát triển. Đây còn có thể là một hướng mở cho mô hình du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Phú Tân. (Báo Đất Mũi 23/12)đầu trang(
Càng về cuối năm, giới kinh doanh thịt thú rừng “rởm” càng làm ăn phát đạt khi nhu cầu mua loại “đặc sản” này tăng cao. Chi cục Kiểm lâm TP.HCM khẳng định, các món như heo rừng, chồn, cheo, sóc, vú dê… quảng cáo, bày bán trên thị trường hầu hết là hàng giả, được ngụy trang bằng nhiều công đoạn ngâm tẩm hóa chất độc hại.
Ông Nguyễn Đình Cương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM khẳng định: “Chỉ cần hành vi quảng cáo, giới thiệu món thịt rừng trên thực đơn hay biển hiệu (không cần bị phát hiện mua bán, kinh doanh) cũng đã bị xử phạt nặng rồi. Chính vì thế, thời gian gần đây, khi Chi cục tiến hành kiểm tra một số nơi nghi có kinh doanh thịt rừng, hầu hết đều phát hiện họ kinh doanh thịt rừng giả, đánh lừa người tiêu dùng”.
Trong số này, chợ thịt rừng Phạm Viết Chánh nằm ngay trung tâm quận 1, TP.HCM luôn trở thành tâm điểm chú ý của giới ham nhậu hàng “độc”. Có mặt tại đây lúc xế chiều, PV ghi nhận gần chục quán với đội ngũ nhân viên hùng hậu vài chục người tràn ra đường mời chào, níu kéo khách đi đường và công khai giới thiệu thịt nai, heo, chồn hương, cheo, nhím… 100% bắt tại các khu rừng có tiếng trên Tây Nguyên, Đông Nam bộ.
Đặc biệt, tất cả các quán kinh doanh này chỉ quảng cáo bán thịt thú rừng bằng… miệng, hoàn toàn không có bất cứ biển hiệu, bảng quảng cáo nào phạm luật. Thậm chí đơn giản đến mức, các quán chỉ đặt tên Cô Sáu, Dì Năm, Chị Ba, Bích Ngọc… để không bị đội cơ động kiểm lâm “hỏi thăm”. Kiểm chứng món thịt rừng “đểu”, PV đã mua 1 ký thịt heo rừng với giá 150.000 đồng tại quán Bích Ngọc và đem hỏi một cán bộ kiểm lâm. Nhìn miếng thịt săn chắc, da vàng rộm, huyết tươi còn thấm ướt đẫm, vị này nói ngay: “Đích thị miếng ba rọi thịt heo nái được khò gas cho vàng da, săn mỡ, sau đó ướp thêm phooc-môn cho cứng thịt và có thể tươi vài ngày”.
Đặc biệt, món thịt “độc” là chồn, cheo có giá 400.000 - 500.000 đồng/kg hầu hết được làm từ thịt thỏ hoặc mèo. Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM khẳng định, rất nhiều lần đội kiểm lâm cơ động bất ngờ kiểm tra tại đây đã phát hiện họ dùng thỏ để giả làm thịt cheo và chồn hương. “Bằng cách nào đó, họ đã khò gas và kéo dài con thỏ ra để cho giống cheo, chồn và bán với giá rất cao”.
Theo tiết lộ của một cán bộ thú y thì việc kéo dài con vật ra và làm thịt săn chắc, ít mỡ, có màu sắc bắt mắt không quá khó. Đơn cử như thỏ và mèo, trước khi làm thịt sẽ bị bỏ đói cho teo tóp, bớt mỡ, sau đó cắt tiết, mổ bụng moi hết bộ lòng và quết phooc-môn cho thịt săn cứng lại (do thịt thỏ và mèo khá mềm). Công đoạn tiếp theo là chặt bỏ hai tai (có nơi cắt bỏ luôn đầu), sau đó dùng gas để khò da cho vàng ruộm.
Dưới sức nóng, hai người sẽ kéo căng con vật ra (tạo hình dáng dài như cheo, chồn hương), sau đó dùng phẩm màu vàng quết lên toàn thân để “hô biến” thành đặc sản có giá trị cao gấp cả chục lần! Các con vật khác hầu hết cũng được làm theo công đoạn tương tự để đánh lừa người tiêu dùng ham món lạ như heo rừng làm từ heo nái, nai rừng làm từ thịt bò tơ; mang, mễnh (chó rừng) làm từ chó nhà đánh bả…
Để tiếp cận đường dây đưa vú heo thối từ Trung Quốc vào VN, PV NNVN đã được một nguồn tin cung cấp số điện thoại di động 0916.9384… của một đối tượng tên Hải Đăng chuyên chở vú dê “đểu” chạy từ Bắc Giang vào TP.HCM. Khi PV liên hệ hỏi mua một lượng lớn vú heo Trung Quốc cho quán dê mới mở, lập tức giọng một người đàn ông đầu dây bên kia tỏ ra nghi ngờ, hỏi đi hỏi lại: Lấy số điện thoại của ai, ở đâu, tại sao biết xe này chở vú heo? Sau khi nhận được câu trả lời hợp lý, tay này nói: “Trước đây người ta thuê chở nhiều, nhưng dạo này bị kiểm tra gắt lắm. Nếu anh muốn mua số lượng lớn để tôi báo cho mối nhập hàng từ Trung Quốc về…”.
Theo một cán bộ thú y, đây chỉ là một trong hàng chục đối tượng chuyên chở vú heo thối có nguồn gốc từ Trung Quốc vào VN. Các trạm kiểm dịch động vật tại cửa ngõ ra vào TP.HCM thời gian qua đã bắt được nhiều lô hàng vú heo bốc mùi hôi thối vận chuyển từ Trung Quốc vào phía Nam tiêu thụ. Điều đáng nói, số vú heo này sau khi vào các chợ hay quán nhậu đều được “hô biến” thành món vú dê đặc sản, có giá trị cao gấp vài lần.
Trạm KDĐV Thủ Đức từng bắt giữ một lô hàng cực lớn lên tới trên 3 tấn vú heo đã thối rữa, bên trong dòi bò lúc nhúc, được một đối tượng vận chuyển từ Nam Định vào TP.HCM để bán cho các nhà hàng giả làm món… vú dê nướng. Để xử lý hết mùi thối và dòi, các nhà hàng thường dùng bột tẩy trắng sodium hyposulfite, sau đó “tráng” qua nước tẩm hàn the để đảm bảo món vú heo thối sẽ giòn, dai như món vú dê xịn!
Tiếp tục kiểm chứng thực tế, PV đã đến hai chợ Hoàng Hoa Thám (quận Tân Bình) và chợ Phú Lâm (quận 6) để tìm mua món vú dê “đểu”. Điều lạ là hầu hết các sạp bán thịt đều không trưng món “đặc sản” này lên bàn, chỉ khi nào khách hỏi mới đi lấy.
Tại chợ Phú Lâm, PV đã đi theo một chủ sạp bán thịt vòng ra phía sau vài chục mét để “chộp” được nơi cất giữ vú heo Trung Quốc là một thùng đá ướp lạnh bẩn thỉu. Sau khi trả 100.000 đồng để lấy 5 lạng vú dê “đểu”, PV thắc mắc tại sao có mùi hăng hắc, tái nhợt và chất nhờn nhiều thế? Chị này liền nói: “Thì người ta giao sao tôi bán vậy. Anh cứ về rửa nước muối thật kỹ vài lần là… hết ngay thôi!”.
Theo tìm hiểu của PV, dê không phải vật nuôi chủ lực của VN, chỉ được nuôi rải rác ở một số vùng, trong đó dê nái chỉ chiếm một lượng nhỏ. Thông thường, để có món vú dê thì buộc phải mổ dê nái và trung bình chỉ có khoảng 1 kg vú/con. Chính vì thế, món vú dê cực hiếm, dân nhậu bình thường khó có cơ hội được thưởng thức.
Một cán bộ thú y khẳng định: “Gần như 100% quán thịt dê trên địa bàn TP.HCM đang lừa thực khách ăn toàn món vú dê Trung Quốc ngâm tẩm hóa chất. Nếu là vú dê thật, có lẽ giết mổ sạch bách đàn dê nái của tỉnh nuôi nhiều dê nhất phía Nam là Ninh Thuận cũng không đủ cung cấp cho dân nhậu TP.HCM được… 1 tuần!”. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/12)đầu trang(
21/12, trên tuyến Quốc lộ 1A, đoạn đi qua địa phận huyện Phong Điền, lực lượng CSGT Công an Thừa Thiên - Huế đã phát hiện và bắt giữ chiếc xe khách vi phạm luật giao thông và vận chuyển trái phép động vật rừng quý hiếm.
Chiếc xe khách 45 chỗ mang BKS 51B - 019.49 do do lái xe Hồ Trọng Thế (SN 1980, trú tại Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An) điều khiển theo hướng Nam - Bắc, khi đến địa điểm nói trên thì bị tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an Thừa Thiên - Huế ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra do vi phạm lỗi chạy không đúng phần đường quy định.
Qua kiểm tra, lực lượng cảnh sát phát hiện trên xe có 6 cá thể khỉ đuôi lợn vẫn đang còn sống. Tuy nhiên, lái xe Hồ Trọng Thế không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc và giấy phép vận chuyển những động vật rừng quý hiếm này.
Tổ cảnh sát giao thông tịch thu toàn bộ số tang vật và bàn giao cho Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên - Huế xử lý theo chức năng, đồng thời tiến hành lập biên bản xử phạt xe khách 51B - 019.49 vi phạm trật tự an toàn giao thông. (Dân Trí 22/12)đầu trang(
Lãnh đạo UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu đơn vị đã để xảy ra tình trạng tài nguyên rừng được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ bị phá.
UBND tỉnh đề nghị Công an tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công an các tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên điều tra làm rõ, củng cố chứng cứ truy bắt các đối tượng còn lại.
Như báo Tiền Phong đã phản ánh, tại tiểu khu 89 Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà (Lâm Đồng) có hàng chục cây pơ mu quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới bị xẻ thịt. (Tiền Phong 22/12)đầu trang(
Liên quan đến vụ Bắt 3 m3 gỗ quý lậu rồi… “bỏ quên” trong rừng (Báo Người Lao Động ngày 25-10 đã đưa tin), ngày 21-12, ông Bùi Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Ninh Thuận, cho biết đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh thuyên chuyển công tác và kiểm điểm trách nhiệm đối với 5 kiểm lâm của Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn (trong đó có một hạt phó) trực tiếp thu giữ số gỗ nói trên.
“Sở đang xem xét điều chuyển công tác lãnh đạo hạt kiểm lâm này” - ông Tuấn nói.
Như tin đã đưa, đêm 16-10, nhóm tuần tra của Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn chở khoảng 3 m3 gỗ hương từ rừng Ma Nới về đổ xuống bãi của trạm bảo vệ rừng rồi bỏ đi nhưng không lập biên bản. Đến ngày 20-10, khi dư luận lên tiếng thì Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn mới đưa số gỗ trên về trụ sở để… chờ xử lý. (Người Lao Động 22/12)đầu trang(
Sau khi thu giữ một khối lượng gố Pơ mu lớn từ lòng hồ đập Đá Hàn, trên đường vận chuyển về thì Đoàn liên ngành tỉnh Hà Tĩnh đã bị lâm tặc dàn trận, cướp gỗ một cách trắng trợn.
Sau khi báo Pháp luật & xã hội đăng tải loạt bài viết liên quan tới thực trạng vườn quốc gia Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh) đang ngày đêm bị lâm tặc tàn phá, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định thành lập một lực lượng liên ngành. Lực lượng này do một Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh làm Trưởng đoàn, bên cạnh đó có các cơ quan, thành viên khác như biên phòng, quân sự, công an…tham gia hỗ trợ thực hiện công tác.
Sau gần một tháng đi vào hoạt động, lực lượng liên ngành đã thu giữ được hàng chục mét khối gỗ quý các loại mà lâm tặc đốn hạ trong rừng quốc gia Vũ Quang. Tuy nhiên, nạn phá rừng vẫn diễn ra hàng ngày tại vườn quốc gia Vũ Quang. Gỗ rừng vẫn bị “xẻ thịt”, theo con đường độc đạo đi qua xã Hòa Hải (Hương Khê, Hà Tĩnh) hàng chục khối gỗ vẫn được lâm tặc ngang nhiên tuồn ra khỏi bìa rừng, bất chấp cả lực lượng liên ngành tỉnh Hà Tĩnh.
Đỉnh điểm, tối ngày 6/12 mới đây, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc lâm tặc chuẩn bị tuồn ra khỏi bìa rừng khối lượng lớn gỗ Pơ mu, lực lượng liên ngành nhanh chóng lên đường vào trung tâm đạp nước Đá Hàn phục kích để bắt giữ lâm tặc cùng tang vật. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đoàn liên ngành đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của bọn lâm tặc.
“Nhận được tin báo, chúng tôi lập tức vào tận nơi khu vực đập Đá Hàn để truy quét. Tuy nhiên, đã vấp phải sự chống cự của bọn lâm tặc, chúng cho người đào đường, dùng xe tải nặng chặn đường,..để xe của lực lượng liên ngành mất nhiều thời gian trong việc tiếp cần hiện trường, chúng dùng nhiều thủ đoạn nhằm kìm chân lực lượng liên ngành thực hiện công tác. Bọn lâm tặc hết sức lỳ lợm” – Ông Hoàng Quốc Huấn – Phó Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Hà Tĩnh, Trưởng đoàn liên ngành cho biết.
Đến 12 giờ trưa ngày hôm sau, tức vào ngày 7/12, trong khi lực lượng liên ngành đang vận chuyển khoảng hơn 3 m3 gỗ vừa thu giữ được của lâm tặc trong lòng hò đập Đá Hàn, khi ra tới chân đập Đá Hàn thì bị bọn lâm tặc ào ào kéo tới, uy hiếm và trắng trợn cướp gỗ.
Nhiều người chứng kiến cho biết, vào thời điểm xảy ra sự việc mặc dù lực lượng liên ngành có khoảng trên 20 người bao gồm lực lượng Công an, Biên phòng, Kiểm lâm…còn bọn lâm tặc có trên 20 kẻ hết sức bặm trợn, mặt đằng đằng sát khí. Khi lực lượng liên ngành định chuyển gỗ lên xe chuyên dụng để chở về trụ sở thì bất ngờ một đoàn xe gắn máy, mỗi xe chở 3 tới 4 người ồ ạt xuất hiện, phía sau đoàn xe máy có xe tải chạy theo.
Chưa định thần được chuyện gì thì lực lượng liên ngành tá hỏa khi thấy hàng chục kẻ bặm trợn lao vào cướp gỗ. Trước hành động ngang ngược, lỳ lợm của các đối tượng, phía lực lượng liên ngành đã ra sức ngăn cản bằng, tuyên truyền trực tiếp,…Tuy nhiên, trước sự manh động, liều lĩnh của bọn lâm tặc cướp gỗ, Đoàn liên ngành đã không giữ được gỗ.
Sau khi cướp gỗ cho lên xe tải xong thì bọn lâm tặc mới chịu rút khỏi hiện trường trước sự bất lực của lực lượng chức năng. Tổng khối lượng gỗ phía Đoàn liên ngành thu giữ được bị bọn lâm tặc dàn trận cướp đi ước tính khoảng 3m3, tất cả đều là gỗ Pơ mu.
Được biết, ngay sau khi sự việc xảy ra, phía UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản chỉ đạo cụ thể đối với Đoàn liên ngành và các cơ quan chức năng khẩn cấp xử lý vụ việc. Phía UBND huyện Hương Khê cũng đã có văn bản hỏa tốc số 1289, ngày 8/12 gửi Cơ quan CSĐT CA huyện Hương Khê yêu cầu nhanh chóng làm sáng tỏ những kẻ liều lĩnh gây ra vụ cướp gỗ nói trên.
Trong văn bản báo cáo vụ việc gửi các cấp ngành chức năng liên quan, Đoàn liên ngành cũng đã nêu cụ thể việc nhận dạng được bển số xe máy, xe ô tô tải mà bọn lâm tặc sử dụng trong quá trình chúng thực hiện cướp gỗ, cùng với một số đối tượng cụ thể. Hiện, môt số đối tượng liên quan đang được cơ quan CSĐT CA huyện Hương Khê triệu tập, điều tra làm rõ.
Lâm tặc dàn trận cướp gỗ không còn là chuyện hiếm tại khu vực địa bàn xã Hòa Hải (Hương Khê, Hà Tĩnh). Trước đây đã từng xảy ra việc bọn lâm tặc bao vây cán bộ Kiểm lâm, đánh và ngang nhiên cướp gỗ ngay tại trạm kiểm soát của Kiểm lâm vườn quốc gia Vũ Quang đóng tại địa bàn xã Hòa Hải, trước sự chúng kiến của không chỉ lực lượng Kiểm lâm mà còn có cả lượng lượng đồn Biên phòng 569. (Pháp Luật&Xã Hội 22/12)đầu trang(
Thời gian gần đây, có nhiều thông tin cho rằng ở xã An Thành (huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai) xảy ra tình trạng các khu nhà mồ của đồng bào dân tộc bị đào trộm để tìm gỗ sưa làm quan tài chôn người chết.
Theo tin đồn thì tại đây, có mộ bị một số đối tượng đào một hố nhỏ, khi phát hiện đúng quan tài làm bằng gỗ sưa, bọn chúng đào luôn cả ngôi mộ để lấy gỗ; nếu không có thì chúng bỏ đó và đi đào các mộ khác. Bà con dân tộc trên địa bàn rất hoang mang lo lắng, sợ một ngày gần đây mộ phần người thân của mình sẽ bị đào bới và ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của cả dòng họ.
Phóng viên TTXVN đã có dịp "mục sở thị" tại làng Kúk Kon - nơi có thông tin về khu nhà mồ bị đào bới để tìm gỗ sưa. Tại đây không còn dấu vết gì của một khu nhà mồ của người Bahnar cả, mà chỉ là một khu rừng tái sinh với nhiều loại cây cối mọc um tùm. Gần cả trăm ngôi mộ cũ của người Bahnar nằm xen lẫn giữa khu rừng này, có rất nhiều ngôi mộ chỉ còn là những mỏm đất nhô lên với đầy rẫy cây cỏ dại. Và tại đây cũng có khá nhiều ngôi mộ bị đào bới, có mộ bị đào một lỗ nhỏ, có mộ bị đào bới hết cả phần với độ sâu từ 30 - 50cm.
Phần mộ nào cũng chỉ còn lại vài ba cái ghè rượu và một số mảnh vỡ sành sứ của các loại chén bát bị đập vụn nằm lăn lóc trong khuôn viên ngôi mộ. Ông Đinh Sen - Phó làng Kúk Kon cho biết: Cách đây hơn 20 năm, đây là khu nhà mồ của làng với khoảng gần 100 ngôi mộ và đã được dân làng làm lễ bỏ mả từ lâu lắm rồi, bà con không còn ra chăm sóc hàng ngày nữa và coi như hết trách nhiệm. Làng đã hình thành khu nhà mồ mới gần ngay bên cạnh trên quỹ đất rộng và bằng phẳng, các phần mộ đều được bà con giữ gìn sạch đẹp.
Còn gỗ đóng quan tài chôn người chết cũng chỉ bằng các loại gỗ tạp thôi, có nhà khá hơn thì vào rừng tìm được gỗ quý như căm xe, cà chít...chứ làm gì có gỗ sưa. Các loại vật dụng chôn theo người chết cũng chỉ là dao, rựa, xoong nồi, chén bát, ghè...và những thứ này cũng bị đập bể, đập méo trước khi chôn theo người chết.
Ngoài khu nhà mồ cũ của làng Kúk Kon bị đào bới, các khu nhà mồ còn lại của các buôn làng dân tộc khác trong xã An Thành đều "bình yên vô sự", không có tình trạng như ở làng KúK Kon. Bởi các khu nhà mồ này vẫn còn có sự chăm sóc của người sống đối với người đã chết, hàng ngày họ đều tranh thủ thời gian ra nhà mồ để cho người chết ăn uống và sửa sang lại từng phần mộ. Theo quan niệm của người Bahnar, người chết nhưng linh hồn của họ vẫn còn sống và thường xuyên về làng sinh hoạt chung với cộng đồng, nên phải biết chăm sóc cho cẩn thận cho đến khi làm lễ bỏ mả.
Ông Phạm Mạnh Tiền - Phó Bí thư Đảng uỷ xã khẳng định: Các đối tượng đào bới ở khu nhà mồ cũ của làng Kúk Kon không phải để tìm gỗ sưa như tin đồn thất thiệt, mà chính là đào để lấy sắt vụn như xoong nồi, dao rựa... vốn được chôn theo người chết để mang bán kiếm tiền tiêu xài. Cũng có thể các đối tượng này tưởng rằng, các vật dụng chôn theo người chết có cả cồng, chiêng quý nên ra sức đào bới để tìm kiếm. Có những phần mộ mới phát hiện bị đào bới trong thời gian gần đây, và cũng có không ít ngôi mộ đã bị đào bới từ những năm trước.
Dù thế nào thì các đối tượng đào bới các phần mộ tại khu nhà mồ cũ hay mới, để tìm lấy gỗ sưa hay sắt vụn đều là xâm phạm đến tập quán, đạo đức của con người và vi phạm pháp luật cần phải được trừng trị nghiêm khắc. Công an huyện Đăk Pơ đã cùng với các cấp chính quyền địa phương "vào cuộc" và đang thực hiện các biện pháp ngăn chặn tình trạng đào trộm mộ.
Được biết, không riêng gì ở trên địa bàn huyện Đăk Pơ mà trước đây ở một số địa bàn khác cũng có tình trạng này, nhưng không nhiều và cơ quan chức năng cũng đã bắt được một số đối tượng và đưa ra khởi tố trước pháp luật. (Tin Tức 22/12)đầu trang(
Ngày 21.12, Công an huyện Đakrông (tỉnh Quảng Trị) cho biết vừa phối hợp với Công an tỉnh phát hiện và bắt một vụ vận chuyển động vật quý hiếm trái phép, chống người thi hành công vụ.
20.12, CSGT Công an tỉnh làm nhiệm vụ tuần tra tại km32, QL9 thuộc địa bàn xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông thì phát hiện xe môtô mang BKS 74H-05702 chạy hướng Lao Bảo - Đông Hà có biểu hiện nghi vấn. CSGT yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra thì bất ngờ tài xế điều khiển xe lao thẳng vào đồng chí Nguyễn Đăng Tuyên.
Không dừng lại ở đó, đối tượng tiếp tục điều khiển phương tiện để tẩu thoát thì gặp Công an huyện Đakrông chốt chặn cách đó không xa. Quay đầu xe chạy ngược hướng Đông Hà - Lao Bảo, đối tượng lại đâm vào xe ôtô tuần tra mang BKS 74B-2718 của lực lượng CSGT tỉnh.
Đối tượng điều khiển xe môtô bị thương nặng và được đưa vào viện cấp cứu. Quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 20kg tê tê (thuộc nhóm 2B) trên xe môtô.
Thông tin ban đầu, đối tượng điều khiển xe chở động vật hoang dã trái phép và chống người thi hành công vụ là Nguyễn Phi Cường - SN 1990, trú tại thôn Lương Lễ, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. (Lao Động 22/12; Pháp Luật&Xã Hội 22/12)đầu trang(
Để thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, thời gian qua, kiểm lâm huyện Quan Hóa đã phối hợp với chính quyền cơ sở và các chủ rừng tập trung thực hiện các biện pháp cấp bách để ngăn chặn và hạn chế thấp nhất việc mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo quy định.
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm Quan Hóa đã lập biên bản và xử lý 71 vụ vi phạm, trong đó có 3 vụ vận chuyển động vật hoang dã với trọng lượng 133kg; khai thác gỗ vô chủ 14 vụ; mua bán, tàng trữ 45 vụ; thu giữ 15,1028m3 gỗ xẻ và 18,9332m3 gỗ tròn các loại, thu nộp ngân sách Nhà nước 512,828 triệu đồng. (Báo Thanh Hoá 22/12)đầu trang(
Liên quan ba cây sưa bị lâm tặc chặt hạ tại hung Trí, ngày 23-12 Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, sau nhiều tháng điều tra, tổ công tác của vườn do ông Hoàng Hải Vân (PGĐ) đã có kết luận bước đầu về nghi vấn một số người cấu kết với lâm tặc.
Theo kết luận này, đã xác định ông Nguyễn Hữu Trí, Hạt phó Kiểm lâm Phong Nha chỉ đạo một nhóm gồm 7 nhân viên dưới quyền gùi một phách gỗ sưa nặng chừng 70 kg ra khỏi hung Trí.
Tổ công tác kiến nghị lên cấp trên chuyển toàn bộ hồ sơ sang Công an để điều tra. (Tiền Phong 24/12)đầu trang(
22-12, Trạm kiểm dịch động vật Thủ Đức, TP.HCM và Chi cục Kiểm lâm TP.HCM đã lập biên bản với bà Phùng Thị Huyền (31 tuổi, quê Bắc Giang) về hành vi vận chuyển trái phép động vật hoang dã.
Lô hàng vi phạm gồm 60 con dúi con được đựng trong 10 lồng nhựa. Tất cả được vận chuyển bằng chiếc xe khách loại 50 chỗ ngồi do bà Huyền làm chủ đi từ tỉnh Bắc Giang vào tỉnh Bình Dương tiêu thụ.
Tối 21-12, khi chiếc xe đang chạy trên quốc lộ 1A (đoạn qua ngã tư 621, Q.Thủ Đức) thì bị tổ kiểm tra liên ngành phát hiện và bắt giữ.
Qua kiểm tra, chủ hàng đã không xuất trình được các giấy tờ liên quan, không chứng minh được nguồn gốc lô hàng.
Được biết, giá một cặp dúi con dao động từ 800.000-900.000 đồng.
Theo ông Võ Văn Đức - đội trưởng đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM, 60 con dúi bị phát hiện sẽ bị thu giữ và đưa về Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã của Chi cục Kiểm lâm TP.HCM.
Lực lượng chức năng cũng đã tiến hành phạt hành chính đối với chủ lô hàng với số tiền xử phạt tổng cộng 11.750.000 đồng. (Tuổi Trẻ 22/12)đầu trang(
23-12, Trạm kiểm soát liên ngành đường sông Sê San 4 thuộc Nam Sa Thầy, huyện Sa Thầy (Kon Tum) đã bắt vụ vận chuyển sáu hộp gỗ gõ (nhóm gỗ 1), khối lượng 2,624m3.
Toàn bộ số gỗ này do lâm tặc khai thác và vận chuyển theo đường sông để đưa đi tiêu thụ.
Theo ông Ngụy Đình Phúc - trạm trưởng Trạm kiểm soát liên ngành đường sông Sê San 4, hiện nay việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên sông Sê San đang diễn ra hết sức nóng bỏng. Trước đó, đơn vị đã bắt được khoảng chục vụ vận chuyển gỗ theo đường này. (Tuổi Trẻ 24/12)đầu trang(
Là tỉnh nằm trong “tốp nghèo” của cả nước, nhưng trên mặt đất và trong lòng đất Bắc Kạn lại có cả một “kho” tài nguyên phong phú, đa dạng không mấy đâu có được… Bởi thế, “cuộc chiến” giữ gìn, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo vệ nguồn “của để giành”… ngày càng khốc liệt.
Theo các tài liệu đáng tin cậy, riêng vàng gốc, vàng sa khoáng, Bắc Kạn có tới 17 điểm mỏ, tại 6/8 huyện, thị xã với trữ lượng khoảng 30 tấn. Trong đó, riêng huyện Ngân Sơn đã tập trung tới 7 điểm mỏ lớn như mỏ vàng Pác Lạng (xã Thượng Quang) có trữ lượng khoảng 22,26 tấn.
Tiếp đó là huyện Na Rì với 3 điểm vàng sa khoáng tập trung dọc theo dòng sông ngầm, chạy dưới các dãy núi đá vôi, kéo dài từ khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ ra sông Bắc Giang, qua địa phận các xã Kim Hỷ, Lương Thượng, Tân An, Lương Thành với trữ lượng khoảng 5,694 tấn.
Ngoài ra, Bắc Kạn đang “ôm” trong mình 165 điểm mỏ khoáng vật có giá trị kinh tế cao như 70 mỏ và điểm quặng chì, kẽm với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn, 13 mỏ và điểm mỏ quặng sắt, trữ lượng khoảng 22 triệu tấn; 150 triệu m3 đá vôi, đá làm xi măng, 460 triệu m3 đá trắng, đá Thạch Anh, trên 10 triệu m3 đất sét xi măng… Bắc Kạn cũng là địa phương có diện tích rừng khá lớn với hàng chục loại gỗ quý, giá trị kinh tế cao.
Vì thế, từ nhiều năm nay, Bắc Kạn là một trong những địa phương tập trung lực lượng “vàng tặc”, “lâm tặc” đông nhất nhì cả nước... Do đó, “cuộc chiến” giữ gìn, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, “của để giành”, bảo vệ kỷ cương, phép nước ở Bắc Kạn ngày càng trở nên quyết liệt.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh, trong năm 2001, các cấp, ngành quản lý chức năng cấp tỉnh, UBND các huyện đã tổ chức tới 27 đợt kiểm tra, truy quét tại các điểm mỏ, tháo dỡ, phá hủy 397 lán, trại, tịch thu, tiêu hủy 447 phương tiện, máy móc, 40.000m vòi dẫn nước, thu giữ hàng trăm kg thuốc nổ, kíp mìn, dây cháy chậm, đẩy đuổi 500 lượt đối tượng tham gia khai thác, chế biến lâm sản, khoáng sản trái phép.
8 tháng đầu năm 2012, tiếp tục kiểm tra, tháo dỡ 88 lán trại, thu giữ hàng chục máy xúc, máy ủi, tiêu hủy gần 150 phương tiện (máy nổ, máy khoan, máy bơm, máy phát điện, sên hút nước…), 23.200m vòi dẫn nước, 780 lít xăng dầu, đẩy đuổi 600 lượt đối tượng.
Trước những diễn biến phức tạp, có chiều hướng ngày càng gia tăng các hoạt động khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép, ngày 2/7/2012, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Chỉ thị 08-CT-TƯ về ngăn chặn, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép trên địa bản toàn tỉnh.
Chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện Chỉ thị 08 của Tỉnh ủy, tình hình quản lý các hoạt động khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép trên địa bàn toàn tỉnh đã có chuyển biến rõ nét, đặc biệt là ở hai “trọng điểm” Na Rì và Ngân Sơn.
Tại Na Rì, ngoài các hình thức tuyên truyền, vận động sâu rộng từ các cơ quan, đoàn thể tới từng thôn, bản, từ tháng 10/2012 đến nay, các lực lượng chức năng đã tổ chức kiểm tra, phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính 198 vụ vi phạm lâm luật, chuyển công an khởi tố 2 vụ, thu giữ 73m3 gỗ, 78 xe, máy, 38 cưa máy, thu nộp ngân sách 687 triệu đồng.
Riêng tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Kim Hỷ, được sự tăng cường của các ban, ngành cấp tỉnh, UBND huyện thành lập 3 tổ chốt chặn liên ngành, hoạt động 24/24 giờ, tổ chức 37 đợt truy quét tại 38 lũng núi, thiêu hủy 230 lán trại, 200 máy móc phương tiện, 300 lít dầu, hàng nghìn mét vòi dẫn nước, đẩy đuổi trên 400 đối tượng...
Tại huyện Ngân Sơn, đã huy động lực lượng kiểm tra, tạm giữ, xử lý, tịch thu hàng chục máy móc, phương tiện, phạt hành chính (đến 70 triệu đồng/vụ) đối với các đối tượng có hành vi khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép. Đặc biệt, ngày 29/11/2012, lực lượng liên ngành gồm trên 70 cán bộ, chiến sĩ công an, dân quân đã tập trung phong tỏa mỏ vàng Pác Lạng.
Tại đây, đã tổ chức thiêu hủy 52 lán trại, 34 đầu nổ, máy nghiền, bơm cao áp, hàng trăm tấm ván gỗ, hàng nghìn mét dây dẫn điện, ống dẫn nước. Sau đó, tổ chức lực lượng chốt giữ, ổn định an ninh trật tự trên địa bàn.
Cùng với hai trọng điểm Na Rì, Ngân Sơn, UBND các huyện, thị xã còn lại và Ban Giám đốc Vườn Quốc gia Ba Bể cũng đồng loạt ra quân quản lý lâm sản, khoáng sản, điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật các vụ việc xâm hại nghiêm trọng môi trường và các đối tượng tiếp tục cố tình khai thác, vận chuyển, tiêu thụ lâm, khoáng sản trái phép. (Thanh Tra 22/12)đầu trang(
Cuối tháng 10 vừa qua, tại thôn A Đền, xã Mà Cooih, huyện Đông Giang (Quảng Nam) đã diễn ra cuộc họp kiểm điểm các đối tượng vi phạm pháp luật, phá rừng phòng hộ Thủy điện A Vương, để làm rẫy.
Nhà Gươl hôm đó chật kín người với sự có mặt của hơn 100 đồng bào Cơ Tu của 2 khu tái định cư Pachêpalanh và Cutchơrun, thuộc xã Mà Cooih.
Trước đó, tổ công tác liên ngành huyện Đông Giang kiểm tra và phát hiện người của 27 hộ dân ở xã Mà Cooih đã phá rừng phòng hộ Thủy điện A Vương, với tổng diện tích rừng thiệt hại là 13,6ha. Các đối tượng phạm tội lần đầu, đều thuộc những gia đình nghèo, gia đình chính sách, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, vi phạm vì trình độ nhận thức pháp luật kém.
Mục đích phá rừng của họ là để làm rẫy, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cải thiện cuộc sống chứ không phải lấy gỗ... Do đó, các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam đã thống nhất là sẽ kiểm điểm toàn bộ 27 đối tượng trước nhân dân, yêu cầu ký cam kết không tái phạm.
Tại buổi kiểm điểm, 27 đối tượng này đều nhận thức được việc làm sai trái của mình, đã xâm phạm đến rừng phòng hộ. Họ cũng bày tỏ sự biết ơn trước chính sách khoan hồng độ lượng của Nhà nước ta và ký cam kết không tái phạm cũng như không xâm phạm vào rừng phòng hộ. “Việc phá rừng làm rẫy của bà con là một sai phạm rất lớn. Không bỏ tù là mừng lắm” - ông A Ta Đum - Phó thôn A Đền nói.
Một câu hỏi lớn là vì sao những hộ dân quanh năm sống với núi rừng, luôn coi rừng là mái nhà chung của mình, lại xâm hại rừng phòng hộ?
Năm 2006, khi Nhà nước thực hiện tái định cư Thủy điện A Vương, theo quy định, mỗi hộ dân được cấp diện tích 1ha đất để sản xuất nông nghiệp. Nhưng trên thực tế, mỗi hộ dân ở 2 khu tái định cư Pachepalanh và Cutchơrun chỉ được nhận từ 0,3 - 0,5ha. Không những thế, đất mà người dân được cấp không đảm bảo canh tác và sản xuất vì không có hệ thống thủy lợi, đất đai thì bạc màu; các cơ quan chủ rừng, kiểm lâm trên địa bàn còn thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, ngăn chặn các vụ phá rừng làm rẫy của người dân ngay từ đầu...
Cũng liên quan đến vấn đề chuyển đổi đất đai tại khu tái định cư Cutchơrun, nhiều người dân sinh sống tại đây rất bức xúc.
Ông Hốih Bách - Trưởng ban công tác mặt trận thôn A Đền đặt câu hỏi: Tại sao các cán bộ của Ban quản lý rừng phòng hộ A Vương ở đồng bằng lên đây lại có đất để trồng keo với diện tích lên đến vài chục ha, còn bà con địa phương tại chỗ, nhường đất sản xuất, đất ở làm Thủy điện A Vương, về nơi ở mới lại không được bố trí đất sản xuất?
Để có thể ổn định đời sống cho dân cư ở 2 khu tái định cư nói trên, ông Lê Văn Luyến - Phó Chủ tịch huyện Đông Giang đưa ra giải pháp: Nuôi cá lồng, bè trên lòng hồ Thủy điện A Vương, quy hoạch các giống cây trồng phù hợp với điều kiện thổ những, hỗ trợ người dân trồng cây mây nguyên liệu dưới tán rừng. Tiến tới giao đất rừng cho bà con quản lý theo mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng... (Nông Thôn Ngày Nay 24/12)đầu trang(
Mấy tháng trở lại đây, nhiều thương lái từ đồng bằng đã tìm đến núi Ngọc Linh (Nam Trà My) để tìm mua cây sâm nhung bán sang Trung Quốc. Sâm nhung thuộc họ địa lan, dân địa phương gọi là cây lá vàng, được dùng để chữa bệnh đau phổi, suy nhược thần kinh, mọc rất nhiều ở vùng Ngọc Linh.
Giá mỗi ký hiện nay thương lái mua là 700.000đ, xuống trung tâm huyện bán hơn một triệu đồng/kg, từ đây có đầu nậu lớn thu mua và chuyển sang Trung Quốc. Người dân địa phương đã và đang săn tìm ráo riết loại cây trên, vì họ cho rằng nếu không nhổ bán thì heo rừng cũng ăn hết. Sâm nhung được liệt vào nhóm dược liệu quý hiếm nguy cấp thuộc nhóm 1A. Theo ông Trần Văn Tuấn, Phó Chủ tịch xã Trà Linh thì việc mua bán trên cũng... bình thường vì chẳng ai ngăn cấm. (Phụ Nữ TPHCM 24/12) đầu trang(
Phát triển bền vững cơ sở hạ tầng để ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ hết sức quan trọng bởi Việt Nam thường xuyên bị thiên tai đe dọa. Nhiều dạng thiên tai xảy ra liên quan đến các yếu tố khí hậu, trong đó phải kể đến bão, nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở đất, cháy rừng…
Hậu quả của các loại hình thiên tai liên quan đến khí hậu là vô cùng lớn, do thiên tai ngày càng gia tăng về tần suất và cường độ. Cùng với hàng loạt các nhân tố kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái, thiên tai và các hình thái thời tiết bất thường đã làm tăng tính dễ bị tổn thương của Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện của biến đổi khí hậu.
Sự gia tăng những hình thái thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu, đã đang và sẽ còn nhiều công trình cơ sở hạ tầng bị thiệt hại nghiêm trọng và có nguy cơ cao về mất độ an toàn. Tại Việt Nam, khu vực 15 tỉnh miền núi phía Bắc đã trải qua nhiều áp lực và thách thức liên quan đến khí hậu. Đặc biệt là:
Ngoài ra, lũ tăng lên với cường độ mạnh và thường xuyên hơn, gây ra nhiều mất mát và thiệt hại về đời sống và tài sản của người dân và cộng đồng. Nghiêm trọng hơn cả là các tổ hợp thiên tai xảy ra. Điển hình là các trận lũ đặc biệt là lũ ống, lũ quét xảy ra khi có mưa lớn kéo dài đi kèm sau bão nhiệt đới;
Cùng với đó, nguy cơ sạt lở đất ngày càng tăng lên, với tác động và tần suất ngày càng thường xuyên, dẫn đến những hư hại về cơ sở hạ tầng, đặc biệt gây ra nhiều hậu quả trong ngành giao thông thủy lợi. Nguyên nhân chính cũng là do ảnh hưởng của các đợt mưa lớn và bão nhiệt đới;
Theo Bộ NN&PTNT, biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, điển hình là các khu vực miền núi phía Bắc. Nhiều chương trình dự án nhằm xây dựng khả năng phục hồi và giảm tính dễ bị tổn thương của địa phương, cơ sở hạ tầng kinh tế quan trọng trong khu vực miền núi phía Bắc của Việt Nam do tác động xấu của biến đổi khí hậu và hỗ trợ một khuôn khổ chính sách thuận lợi để thúc đẩy khu vực phát triển miền núi phía Bắc đã được triển khai.
Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đầu tư các công trình hạ tầng nhằm giảm bớt thiệt hại của thiên tai. Tuy nhiên, do điều kiện địa hình, địa chất và vị trí địa lý của khu vực miền núi phía Bắc, yêu cầu cấp thiết là cần đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng cần mang tính bền vững. Việc đầu tư dự án hỗ trợ kỹ thuật này nhằm đưa ra các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu là cần thiết để tăng hiệu quả đầu tư và tăng tuổi thọ công trình và tăng hiệu quả đầu tư.
Trước thực tế đó, Bộ NN&PTNT đã xây dựng dự án Tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu cho các cơ sở hạ tầng các tỉnh miền núi phía Bắc.
Dự án có mục tiêu nhằm tăng cường khả năng phục hồi và giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của cơ sở hạ tầng kinh tế quan trọng của các địa phương ở vùng núi phía Bắc Việt Nam đối với những tác động bất lợi do biến đổi khí hậu và hỗ trợ một khuôn khổ chính sách thuận lợi để nâng cao sự phát triển bền vững cho các tỉnh ở vùng núi phía Bắc.
Các kết quả chủ yếu sẽ đạt được là thích ứng với biến đổi khí hậu lồng ghép vào chiến lược, chính sách và lập kế hoạch có liên quan đến cơ sở hạ tầng nông thôn - đặc biệt là nông nghiệp, thủy lợi và đường giao thông nông thôn; Nâng cao năng lực thích ứng/ chống chịu với khí hậu trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn và quy hoạch ở địa phương và tỉnh; Thông qua các biện pháp chính có chi phí thấp dựa trên tài nguyên địa phương để làm giảm tác động của biến đổi khí hậu; Những bài học kinh nghiệm và những tập quán tốt rút ra từ các nội dung trên của dự án được phổ biến cho các bên tham gia và các đối tác phát triển.
Nguồn vốn dự án là 3,74 triệu USD, trong đó nguồn vốn ODA là 3,4 triệu USD và vốn đối ứng của chính phủ là 0,34 triệu USD.
Dự án đã được Quỹ môi trường toàn cầu GEF có thư phê duyệt khoản viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam, sẽ được thực hiện tại Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hòa Bình, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Yên Bái.
Cũng liên quan đến vấn đề hạ tầng, hôm 17/12 vừa qua, hội thảo do Hội Địa chất công trình và Môi trường Việt Nam phối hợp với trường Đại học Khoa học Huế tổ chức. Trên 200 đại biểu là các nhà quản lý, nhà khoa học và chuyên gia, đại diện cho các Bộ, Ban, ngành, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham dự.
Hội thảo tập trung vào 4 nội dung chính: Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam; địa công trình trong ứng phó và giảm thiểu thiệt hại do biến đổi khí hậu - lý thuyết và thực tiễn; các giải pháp và chính sách, kỹ thuật ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển hạ tầng; kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và các nước khác trong khu vực.
Các tham luận tại hội thảo tập trung làm rõ: Biến đổi khí hậu đang là một vấn đề thời sự toàn cầu bởi nó tác động nghiệm trọng đến kinh tế - xã hội và các hệ sinh thái trên toàn thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. Vì vậy, việc xây dựng các chiến lược ứng phó với những hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra đóng vai trò rất quan trọng ở bất kỳ quốc gia nào. Từ đó, các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý cùng trao đổi các ý tưởng, kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu, đưa ra các giải pháp thích ứng, đặc biệt là vai trò của lĩnh vực địa công trình trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng. (Theo Vnmedia 24/12)đầu trang(
Khu rừng nguyên sinh bỗng chốc trở thành đất trống, đồi trọc, cây ngắn hạn bởi công cuộc chặt rừng nguyên sinh để... trồng rừng tái sinh.
Mang theo nhiều nỗi bức xúc, người dân và trưởng thôn Ba, xã Mông Hóa, Kỳ Sơn, bà Nguyễn Thị Thìn không chỉ cung cấp cho đoàn công tác rất nhiều tài liệu, thông tin về "kỳ án" phá rừng đầu nguồn để... trồng rừng tại địa phương, mà người dân còn lặn lội đưa đoàn công tác đi vào sâu trong rừng để chứng kiến tận mắt một vùng rừng nguyên sinh đã bị biến thành đường đất đỏ và những quả đồi trọc trơ như thế nào.
Theo bà Thìn, sự việc phá rừng đầu nguồn Suối Kẻ thuộc địa phận hai xã Dân Hạ và Mông Hóa, Kỳ Sơn diễn ra đã nhiều năm. Không chỉ là rừng phòng hộ mà Suối Kẻ còn là nguồn cung cấp nước chính cho hai xã này nên người dân ý thức "hết sức giữ gìn"
Nhưng bắt đầu từ 2000, UBND Tỉnh Hòa Bình quyết định giao rừng và đất lâm nghiệp cho Công ty lâm nghiệp Hòa Bình khai thác với diện tích là 17,594 ha. Từ năm 2008, Công ty lâm nghiệp Hòa Bình ký hợp đồng trồng rừng bằng nguồn vốn hỗ trợ sản xuất cho ông Nguyễn Văn Thiên, ông Mai Trọng Ánh xóm Bằm, xã Dân Hạ tổng cộng 29,7 ha rừng để trồng rừng.
Kết quả trồng rừng của hai ông này là sau một thời gian ngắn đã biến cả một vùng rừng nguyên sinh lớn thành đồi trọc và đồi keo thu hoạch ngắn. Người dân trong xã hết sức bức xúc đã nhiều cần kiến nghị lên chính quyền đề nghị ngăn chặn và giải quyết dứt điểm sự việc.
Giữa năm 2008, Hạt kiểm lâm Kỳ Sơn đã làm việc và ra văn bản đình chỉ việc "phát" rừng đối với ông Thiên và ông Ánh. Ngày 19/12/2008 thanh tra huyện Kỳ Sơn tiếp tục kiến nghị Hạt kiểm lâm Kỳ Sơn ngăn chặn và xử phạt nghiêm các hành vi đốt, phá rừng.. và đốt gỗ rừng lấy than ở khu vực Suối Kẻ. Tuy nhiên có vẻ như các văn bản này không phát huy được hiệu lực. Rừng vẫn tiếp tục bị "phát" với diện tích rộng hơn.
"Noi gương" hai người đi trước, ông Đinh Văn Thiệp, xóm Ba, xã Mông Hóa, và ông Đinh Quang Kỳ, Phó Chủ tịch HĐND xã Mông Hóa tiếp tục "phát" rừng trồng mới.
Năm 2009, UBND huyện Kỳ Sơn kết luận sự việc người dân tố cáo là đúng. Riêng trường hợp ông Đinh Quang Kỳ, huyện Kỳ Sơn kết luận "không đúng" vì "chỉ có vợ ông Kỳ tham gia chứ bản thân ông Kỳ không trực tiếp phá rừng". Ông Kỳ không vi phạm Luật Đất đai nhưng vi phạm Luật Khiếu nại tố cáo vì "yêu cầu Đoàn (thanh tra) phải cung cấp đơn tố cáo, ai tố cáo ông".
Huyện Kỳ Sơn yêu cầu Phòng Tài nguyên - Môi trường lập hồ sơ trao trả toàn bộ diện tích đất rừng Suối Kẻ về Tỉnh Hòa Bình quản lý, ngừng mọi hoạt động khai thác, phá rừng; kiểm điểm Đảng với những cá nhân tham gia phá rừng (cả 4 người bị tố cáo đều là Đảng viên); kiểm điểm trách nhiệm cá nhân cán bộ kiểm lâm viên...Đến ngày 7/12/2012, phóng viên Tuần Việt Nam cùng đoàn tham vấn được người dân đưa vào nơi (vốn là) khu rừng đầu nguồn, nay là rừng keo tai tượng, hoặc là đồi trọc cùng đất đỏ.
Người dân cho biết, trong suốt tuần đó, cụ thể sáng hôm 7/12 có nhóm khoảng 20 người tiếp tục "phát" rừng (phát ở đây được hiểu là từ địa phương dùng phát nương rẫy, nhưng trong trường hợp này, đối tượng được phát có cả những cây nguyên sinh có đường kính vài chục đến hàng trăm cm, thậm chí để nhanh hơn người ta đốt luôn cả đồi).
Ngay từ bên ngoài bìa rừng, người viết đã có thể cảm nhận rõ nét kết quả "trồng rừng" ở đây bằng những con đường đất đỏ được san ủi để ô tô, công nông có thể đi vào. Dọc đường đi, những khúc gỗ chưa được chuyển đi vứt lăn lóc.
Nhiều thửa ruộng ngay bìa rừng bị bỏ hoang khô cháy vì rừng trơ trụi không còn cung cấp nước được nữa. Chưa dừng lại đó, trâu bò của người dân địa phương được chăn thả trong khu rừng đã bị những nhóm "phát" rừng cho uống thuốc mê và chém chết lấy thịt bán. Trong 2 năm, người dân xóm Ba đã bị mất 8 con trâu bằng hình thức này.
Bà Thìn cho biết, một trong những khe hở chính của việc phá rừng ngang nhiên này là vùng rừng Gốc Đa - Suối Kẻ nằm giữa ranh giới hai xã Dân Hạ và Mông Hoá nên khi người dân Mông Hoá cùng lên tiếng phản đối và ngăn chặn thì các đối tượng phản ứng: dân Mông Hoá không có quyền vì đây là đất Dân Hạ, và ngược lại.
Nhưng thật kỳ lạ, nếu người dân "không có quyền", chẳng nhẽ chính quyền cũng không có nốt?
Một người dân, anh Đinh Văn Bình, người dân xóm Ba cho biết anh đã gửi đơn kiến nghị lên ông Chủ tịch tỉnh Hòa Bình tiếp tục hỏi về những khiếu nại của người dân về vụ phá rừng lại tiếp diễn. Anh Bình cũng cho biết thêm đã có một đoàn kiểm tra quy hoạch của tỉnh và huyện Kỳ Sơn về làm việc với dân.
Nhưng cuộc họp này "đã không có kết quả" Theo anh Bình, là vì "ông Khang chủ tọa cuộc họp (ông Khang, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Kỳ Sơn - PV) nói dân không phải phát biểu vì thời gian các ông có hạn không cho phép kéo dài. Sau đó ông phát biểu một hồi để dân nghe rồi ông xin phép dân không còn thời gian lắng nghe ý kiến của dân nữa, rồi ông rủ các ông cán bộ về huyện còn nhiều việc"
"Đau xót lắm các anh chị ạ, nhìn thấy người ta ào ào lên rừng đốt phá, rừng teo tóp hàng ngày mà không làm gì được. Thậm chí chúng tôi phản ứng còn bị họ doạ nạt, thách thức. Người dân chúng tôi bất lực. Chẳng nhẽ đến cả Tỉnh, cả Trung ương cũng không ngăn chặn được sao?", bà Thìn trăn trở. (Theo Vietnamnet 23/12)đầu trang(
Những năm gần đây, lâm tặc đã gây ra hàng chục vụ phá rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham - thuộc 2 xã Sơn Hạ và Sơn Thành, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Nay, rừng bị phá tan hoang, hàng ngàn gốc cây gỗ trơ trọi. (Công An Nhân Dân 23/12)đầu trang(
Theo chân đoàn để bẫy chim, các “thầy” (thợ săn chim” căn dặn không được quay phim, chụp hình vì sợ lộ bí quyết, với lại đây là nghề “không hay ho gì”, trước sau cũng bị cấm!
Đoàn thợ săn chim đến từ H.Bến Cát (Bình Dương) tới H.Bù Đăng và Bù Gia Mập (Bình Phước) để bẫy chim. Thợ săn tên H. chỉ nghề: “Ở vùng đất này, một số loại chim quý hiếm có giá bán cao rất trên thị trường như chích chòe lửa, chào mào, cu đất... Để bắt được chúng không hề đơn giản chút nào, cần có công nghệ săn bắt tinh vi và tốn nhiều công sức, thời gian (trung bình 3 ngày đến 1 tuần/chuyến đi), nhưng ngược lại có lời vài triệu đồng”.
Đi cùng đoàn, thợ săn T. cho biết: “Chim rừng bị đuổi bắt nhiều nên bây giờ tinh ranh lắm. Trong chuyến đi cần mang nhiều loại lưới, lồng bẫy, chim mồi, radio phát tiếng chim… để bắt chim trên những vùng đất mình đi qua. Muốn bẫy thành công, chúng tôi còn nghiên cứu kỹ đặc tính của từng loài chim rừng, từ đó có biện pháp dụ chim, nếu không chuyến đi công cốc”.
Theo các “thầy”, lưới bẫy chim thường là lưới có nguồn gốc sản xuất từ Trung Quốc mới đa dạng chủng loại và bén chim. Lưới có nhiều khổ khác nhau, từ 10x20m đến 100x200m. Còn chim mồi thì phải đủ bộ, gặp chim rừng nào là có loại tương ứng gài bẫy ngay.
Chia sẻ về đặc tính của chim rừng, một thầy trong nhóm nói: “Mỗi cặp chim thường trú ngự ở những khu rừng nhất định. Chích chòe than thường sống thành cặp ở ven rừng hoặc các quả đồi; khi bị một cặp chim khác xâm phạm lãnh địa, chúng lập tức đến xua đuổi. Chim cu đất đi kiếm ăn theo bầy ở những vùng đất trống (rẫy mì/sắn mới thu hoạch, cánh đồng vừa gặt xong). Hiểu được đặc tính các loài, sau khi xác định khu vực chúng cư trú, việc bắt chỉ còn là thời gian”.
Theo quan sát của PV, khi phát hiện cặp chích chòe lửa đậu trên ngọn cây cao, các thầy lập tức dàn trận. Một chiếc lồng có chim mồi được đặt cạnh khóm cây đó. Chú chim mồi nhảy nhót, hót líu lo. Nhưng ngay lập tức im tiếng khi thầy chim búng ngón tay. Một thầy chim khác ẩn nấp trong bụi rậm gần đó, rồi bật đài lên. Ít phút sau, cặp chích chòe lửa từ đâu bay lại đậu trên lồng, đòi “ăn thua” với chú chim mồi và lập tức bị sập bẫy.
Bẫy thành công cặp chích chòe lửa, các thầy lại dẫn đi bẫy đàn cu đất. Xác định khoảng bãi đất mì (sắn) mới thu hoạch xong và có vài chú chim cu đất ve vãn gần đó. Như lập trình sẵn, các thầy không cần bàn tính, mỗi người một việc. Hai thầy căng bẫy (Bẫy cu đất được làm bằng lưới dù, hai đầu tấm lưới được cố định bởi hai thanh gỗ, ở hai đầu lưới khác được cố định bởi hai sợi dây thừng: Một đầu buộc cố định, còn đầu kia có một thầy điều khiển để giật dây -PV). Một thầy khác đem chim mồi (đã được may mù hai mắt, chân cột dây) đặt ở giữa 2 cánh lưới. Chim mồi nhảy nhấp nhới, đàn chim cu rừng sà xuống theo. Các thầy liền giật dây, làm sập 2 cánh lưới, đàn chim đè dí xuống đất. (Thanh Niên 23/12)đầu trang(
Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm Hà Tĩnh Hoàng Quốc Huấn cho biết: Từ đầu tháng 12 đến nay, đoàn Kiểm tra liên ngành của tỉnh phối hợp với các hạt kiểm lâm đã tổ chức truy quét gỗ lậu tại các địa bàn nhạy cảm, thuộc các địa phương của các huyện miền núi: Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh và bước đầu đã thu giữ 60 m3 gỗ các loại.
Trong đó, Đoàn Kiểm tra liên ngành tỉnh phát hiện và thu giữ gần 25 m3 gỗ (từ nhóm 2 đến nhóm 8); các Hạt Kiểm lâm phát hiện 23 vụ, thu 35 m3 gỗ các loại….
Đáng nói, vào ngày 7-12, tại đập Đá Hàn, xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, một số đối tượng đã tổ chức cướp 25 bê gỗ pơ mu, có khối lượng khoảng 2,5 m3 do Đoàn liên ngành tỉnh cùng các đơn vị liên quan thu giữ trước đó. Hiện Công an Hương Khê đang tổ chức điều tra làm rõ.
Tại huyện Hương Khê đã có tiền lệ, lâm tặc xông vào trạm kiểm lâm, cướp cả xe và gỗ tang vật, rồi húc đổ tường rào để tẩu thoát… (Nhân Dân 22/12)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
- Thế là họ cũng quyết liệt đấy chứ!
- Ông nghe ở đâu?
- Thì trên truyền hình
- Ông ấy nói thế nào?
- Ông ấy nói là đã giao cho các cơ quan có liên quan giải quyết quyết liệt, triệt để tình trạng phá rừng!
- Thế nạn phá rừng đã bị xóa bỏ chưa? Cũng không dám trông chờ sự xóa bỏ ngay mà chỉ mong giảm bớt.
- Ông cứ xem trên truyền hình thì biết!
- Có ông nào "quyết liệt" nữa không?
- Thì trên truyền hình, một ông lãnh đạo trả lời chất vấn của Hội đồng nhân dân tỉnh, nói đã ra văn bản chỉ đạo quyết liệt bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong các bữa ăn của công nhân khu công nghiệp. Thì cũng hy vọng!
- Ông thật dễ tính. Mới chỉ nghe "quyết liệt trên ti-vi, trên các văn bản" mà đã hý hửng. Còn phải chờ sự quyết liệt trong thực hiện. Cũng chẳng cần nói to tát làm gì, cốt sao các quyết định, các chỉ thị đó có hiệu lực để các việc làm có hiệu quả cho dân nhờ! (Nhân Dân 23/12)đầu trang(
Chuyện người dân một số địa phương phía đông tỉnh Quảng Ninh (các huyện Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và TP Móng Cái) đổ xô vào rừng khai thác và thu mua lá cây chu ka - một loại cây thân gỗ mọc tự nhiên trong các cánh rừng về bán cho thương lái chưa lắng xuống, lại đến việc người dân ở xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước thu nhặt lá điều khô bán cho cánh lái buôn... Mới đây nhất lại là chuyện nhiều người dân ở Hậu Giang ồ ạt trồng sắn để lấy ngọn và lá bán cho thương lái.
Lá cây chu ka tươi có giá từ 3.000 đến 5.000 đồng/kg, lá khô từ 14.000 đến 22.000 đồng/kg. Người dân kéo nhau vào rừng, nhiều người dân tự ý chặt hạ hàng loạt cây để tuốt lá. Còn giá lá điều khô rẻ hơn rất nhiều, chỉ khoảng 700 đồng/kg, vậy mà không chỉ có chuyện nhặt lá, người ta còn chặt cành, tuốt lá, phơi khô đem bán.
Nguồn thu từ việc làm này không được bao nhiêu, nhưng năng suất, sản lượng của cây điều bị ảnh hưởng là chuyện thấy rõ. Nguồn dinh dưỡng cho cây cũng có nguy cơ bị cạn kiệt vì có thể xảy ra tình trạng xói mòn đất. Nhớ lại, chuyện người dân ào ạt trồng sắn ở Hậu Giang không mới, diễn ra vài năm trước. Ngành nông nghiệp địa phương đã khuyến cáo bà con không nên nhân rộng diện tích nhưng mọi việc cũng chỉ dừng lại ở đó. Hiện nay không ít vườn sắn đã có "thâm niên" nhưng buồn là không thấy thương lái đến mua…
Các vụ việc nêu trên đều có một số đặc điểm chung, đều là các "phong trào" tự phát do người dân hám lợi, không biết thiệt hại thế nào, cũng không biết thương lái thu mua để làm gì? Ngoại trừ việc trồng sắn ở Hậu Giang, các vụ thu mua lá cây chu ka, lá cây điều… đều là chuyện lạ, thậm chí chưa từng có nhưng chính quyền ở các địa phương xảy ra sự việc nêu trên đều phản ứng rất chậm chạp và đều không lật tẩy được thủ phạm.
Cũng giống như những vụ thương lái thu mua lá vải hay rễ sim những năm gần đây, hoạt động ngầm của cánh thương lái không chỉ gây bất ổn cho thị trường, gây thiệt hại cho người sản xuất, mà còn ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại các địa phương… Thế nhưng, các cơ quan chức năng không thể xử lý triệt để vì thiếu văn bản quy phạm pháp luật liên quan, vả lại trách nhiệm của ai, ngành nào cũng chưa được nhận định rõ ràng. Để ngăn chặn tình trạng này, cơ quan hữu trách chỉ có thể khuyến cáo bà con nâng cao cảnh giác, tránh vì cái lợi trước mắt mà đánh mất sự phát triển bền vững lâu dài…
Khuyến cáo thôi chưa đủ và nếu chỉ dừng lại ở đó, cánh thương lái còn tiếp tục gây nhiễu thị trường, gây hại cho sản xuất. Do vậy, cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm ngăn chặn những hành vi nhũng nhiễu thị trường thì việc xây dựng một nền nông nghiệp bền vững để người nông dân sống được trên chính mảnh vườn của mình, đồng ruộng của mình với thu nhập ổn định là hết sức cần thiết. Khi người dân có thu nhập đủ sống và hướng tới tương lai ổn định, chắc chắn cánh thương lái không thể mua chuộc họ bằng lối thu mua "trời ơi" như vậy. (Hà Nội Mới 23/12)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Các nhà hoạt động môi trường tại Mông Cổ ngày 21/12 đã kêu gọi nước này sớm có những biện pháp bảo vệ tốt hơn các loài chim quốc gia đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Nhóm các nhà hoạt động môi trường nhấn mạnh, để bảo vệ loài chim ưng Saker, loài chim được coi là biểu tượng của Mông Cổ, chính phủ nước này cần hạn chế hoạt động xuất khẩu chim, đồng thời trừng trị nghiêm khắc các hành vi săn bắn.
Hoạt động xuất khẩu được cho là nguyên nhân chính khiến số lượng loài chim này giảm sút.
Từ năm 1993, khi Mông Cổ bắt đầu hoạt động xuất khẩu chim ưng Saker, hơn 4.000 con đã được bán với giá khoảng 12.000 USD/con.
Những con chim này chủ yếu được đưa tới Kuwait, Qatar, Arập Xêút, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất và các nước Arập khác, nơi chim ưng đã được thuần hóa, tượng trưng cho phong cách, sự giàu có và địa vị cao.
Số liệu thống kê của Cơ quan bảo vệ môi trường Mông Cổ cho biết, hiện chỉ còn khoảng 6.800 con chim ưng Saker sống ở Mông Cổ.
Liên minh Bảo tồn Thế giới (WCU) đã đưa chim ưng Saker vào danh sách đỏ những loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Hiện trên thế giới có hơn 60 loài chim ưng Saker, trong đó có hơn 10 loài sống tại Mông Cổ.
Chim ưng Saker, chủ yếu sống ở những vùng núi cao và cao nguyên với thức ăn là các loài động vật và loài chim nhỏ, thường thấy ở Mông Cổ, Trung Quốc và Ấn Độ. (VietnamPlus.vn 23/12)đầu trang(
Các nhà nghiên cứu cho biết họ đã tìm thấy hóa thạch của loài chó sói đã tuyệt chủng ở gần Las Vegas, đây là bằng chứng đầu tiên cho thấy loài có vú này từng sống ở Nevada.
Theo hãng tin UPI, một nhà địa chất học đã phát hiện hóa thạch xương chân hồi cuối năm ngoái, qua phân tích xác nhận nó là loài sói Dare. Loài này có họ hàng với sói xám, sống ở Bắc và Nam Mỹ trong hơn 1 triệu năm.
Giáo sư Josh Bonde người phát hiện ra hóa thạch này cho biết sói Dare từng có môi trường sống rộng rãi ở Bắc Mỹ và Nam Canada nhưng đây là lần đầu tiên tìm thấy bằng chứng sự có mặt của chúng tại Nevada. Các nhà khoa học ước tính hóa thạch này có chừng 10.000 - 15.000 năm trước. Loài sói Dare được cho là đã tuyệt chủng khoảng 10.000 năm trước, thời kỳ cuối kỷ Pleistocene. Gần đây tại khu vực tây bắc Las Vegas cùng tìm thấy hóa thạch của loài mèo rừng với những chiếc răng như lưỡi kiếm cong.
Vào cuối kỷ Pleistocene thì vùng đất này có mùa xuân ấm áp, khu vực đầm lầy với nguồn thực vật dồi dào là nơi lý tưởng cho động vật ăn thực vật và rồi chúng trở thành con mồi của động vật ăn thịt. (Thanh Niên 22/12)đầu trang(
Các nhà khoa học làm việc ở miền nam Ấn Độ đã phát hiện loài mới thuộc cá mèo mù. Loài cá này cùng một số động vật mới khác được xác định trong vũng sâu ở bang Kerala phía nam Ấn Độ.
Cá mèo mù mới có cơ thể thon, dài, toàn thân màu đỏ, dài 3,8 cm. Nó được đặt tên khoa học là Horaglanis abdulkalami theo tên của cựu Tổng thống Ấn Độ - tiến sĩ APJ Abdul Kalam - nhằm tôn vinh ông qua những đóng góp cho khoa học và giáo dục.
Cá Horaglanis abdulkalami có điểm độc đáo là có thể ăn được chất hữu cơ trong lòng đất. Kerala là vùng đất ngập nước cung cấp môi trường sống lý tưởng cho những động vật như vậy. Các loài da trơn là chìa khóa để duy trì các hệ sinh thái, phân của chúng cung cấp nuôi dưỡng những loài khác. Các nhà nghiên cứu đang xem xét trình tự bộ gien của con cá da trơn mới này để xác định xem nó có liên quan đến loài nào khác ở Ấn Độ hoặc nước ngoài.
Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện loài cá chình mù mới và đặt tên cho nó là Monopterus trichurensis, theo tên quận Trichur nơi tìm ra nó. Theo BBC, các nhà khoa học cho rằng do sự phân bổ cũng như số lượng hiếm nên cả hai loài cá cần được đưa vào danh sách sinh vật bị đe dọa của IUCN. Tiến sĩ Nandan cho biết đang tiếp tục nghiên cứu để xác định tuổi thọ của chúng. (Thanh Niên 23/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||