Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều 23-11, thông tin từ Hạt kiểm lâm huyện Đăk G’Long, tỉnh Đắk Nông cho biết đã chuyển hồ sơ cho công an đề nghị làm rõ vụ hủy hoại rừng tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long.
Trước đó, Hạt kiểm lâm huyện Đắk G’Long phát hiện tại lô 6, tiểu khu 1658 thuộc địa phận xã Quảng Sơn do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý, có hàng trăm cây thông bị rủ lá, héo khô và chết dần một cách bất thường.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng thống kê có 400 cây thông (khoảng từ 25 – 30 năm tuổi) đã bị vạc vỏ, khoét vào thân gốc cây rồi đổ hóa chất vào, khiến cây chết từ từ. Trong đó có có 25 cây đã bị đốn hạ, cưa gốc. Hầu hết các cây thông bị đầu độc đều có chiều cao từ 20-25m, đường kính 25 – 30cm.
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện tại tiểu khu 1646, thuộc xã Quảng Sơn cũng có hơn 100 cây thông  đã bị “hạ độc” với thủ đoạn tương tự. Tại hầu hết vị trí thông bị đốn hạ, mặt bằng đều đã được san ủi, chuẩn bị dựng nhà ở và lều lán trại.
Thống kê từ hạt kiểm lâm huyện Đăk G’Long cho thấy từ năm 2013 đến nay đã có hơn 2.500 cây thông đầu độc với thủ đoạn như trên. (Tuổi Trẻ 24/11, tr2) đầu trang(
21-11, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Phùng Tấn Viết đã có văn bản chỉ đạo Sở NN&PTNT khảo sát, lập dự trù kinh phí xây dựng Trạm quản lý bảo vệ rừng mới trên lâm phận thành phố thay cho Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông.
Theo đó, Sở NN&PTNT phải khẩn trương xây dựng và hoàn thành Trạm trước ngày 30-5-2015 để tổ chức di dời về vị trí mới và hoàn trả mặt bằng cho tỉnh Quảng Nam trước ngày 30-6-2015.
Như đã đưa tin, tại khu vực rừng giáp ranh giữa Quảng Nam và Đà Nẵng thì Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông đã có bảy cán bộ quản lý, bảo vệ và kiểm lâm bị kỷ luật cách chức vì để xảy ra tình trạng phá rừng quy mô lớn nhất từ trước tới nay tại TP Đà Nẵng.
Ngoài ra, TP cũng yêu cầu cơ quan chuyên môn lập thủ tục bàn giao lại nguyên trạng khoảng 6,5 ha đất lâm nghiệp mà Lâm trường Sông Nam cũ (nay là Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa) đã giao cho các hộ dân là người Đà Nẵng sản xuất cho huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam quản lý.
Phó Chủ tịch Phùng Tấn Viết cũng chỉ đạo Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa phối hợp với UBND huyện Hòa Vang xử lý tình trạng người dân vào rừng trái phép dựng lán trại làm ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng theo phản ánh của UBND tỉnh Quảng Nam. Báo cáo kết quả thực hiện cho Chủ tịch UBND TP trước ngày 30-11-2014.
Giao Sở Nội vụ TP chủ trì làm việc với Quảng Nam để cùng xây dựng phương án cắm mốc ranh giới giữa hai địa phương. (Pháp Luật TPHCM 22/11) đầu trang(
21-11, Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, cho biết Công an huyện Cư Kuin đã ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với Thiếu tá Võ Ngọc Quang, Đội trưởng Đội CSĐT tội phạm về TTXH Công an huyện Cư Kuin, để kiểm điểm hành vi rút súng dọa bắn tổ liên ngành.
Ông Quang bị tố cáo có hành vi tàng trữ, buôn bán gỗ lậu, mở xưởng gỗ trái phép... Theo tìm hiểu, cuối tháng 10-2014, một người dân tố cáo đến cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk rằng ông Quang có các hành vi tổ chức khai thác, vận chuyển, tàng trữ, buôn lậu gỗ… Thanh tra Công an tỉnh Đắk Lắk lập tổ xác minh làm rõ.
Công an tỉnh Đắk Lắk đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện Krông Ana (quản lý cả địa bàn huyện Cư Kuin) phối hợp xác minh. Trong quá trình xác minh, cơ quan chức năng nhận thông tin tại nhà ông Quang và cha vợ của ông đang cất giấu gỗ bất hợp pháp nên UBND huyện Cư Kuin ra hai quyết định kiểm tra nhà ông Quang và cha vợ của ông.
Để triển khai quyết định của huyện, tổ liên ngành (kiểm lâm, tư pháp, VKS, Phòng NN&PTNT, công an huyện, công an tỉnh, công an hai xã Dray Bhăng và Ea Tiêu) mời ông Quang đến UBND huyện Cư Kuin để thông báo hai quyết định trên.
Sáng 13-11, ông Quang mặc cảnh phục đến dự. Sau khi nghe tổ kiểm tra công bố quyết định, ông Quang phản ứng: “Nếu tổ khám xét vào nhà tôi thì tôi chỉ đưa từng người vào khám xét chứ không thể vào cả tổ được. Trong nhà tôi có 200 lít xăng, nếu cần tôi sẽ đốt nhà…”.
Ngay sau đó, ông Quang phanh ngực áo, tỏ thái độ hung hăng, có lời lẽ hăm dọa các thành viên, gây náo loạn cuộc họp. Bất ngờ ông Quang rút súng ngắn ra định bắn các thành viên trong đoàn ngay tại phòng họp làm cả tổ hoảng loạn… Trước thái độ trên của ông Quang, đoàn liên ngành thống nhất dừng thực hiện hai quyết định của huyện. Báo cáo của tổ kiểm tra nêu.
Trao đổi với PV, ông Nguyên Quang Khoa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Ana nói: “Ông Quang là người thực thi pháp luật mà có hành động chợ búa, côn đồ, manh động…”.
Về sự việc trên, Thượng tá Hà Hồng Bôn - Phó Chánh thanh tra Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết: “Thanh tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã nhận báo cáo của tổ công tác liên ngành. Công an tỉnh đã lập một tổ công tác khác gồm ba người để xác minh việc Thiếu tá Quang rút súng dọa bắn. Công an huyện Cư Kuin đã niêm phong khẩu súng (bắn đạn hơi cay) để xác minh, xử lý. Nếu đúng như nội dung báo cáo của tổ công tác liên ngành thì chúng tôi sẽ xử lý nghiêm. Ông Quang cũng đã có bản tường trình về vụ việc gửi Công an tỉnh Đắk Lắk. Trong đó, ông tường trình rằng: “Trong lúc bức xúc, khẩu súng rơi ra khỏi túi quần khiến anh em hiểu nhầm”.
Cũng theo Thượng tá Bôn, tổ đang tiến hành xác minh một cách khẩn trương, tỉ mỉ, khách quan, không bao che việc rút súng dọa bắn này. Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi cho biết: Sau khi tổ kiểm tra có kết luận vụ việc, công an tỉnh sẽ xử lý nghiêm cán bộ vi phạm.
Ngày 21-11, PV liên lạc với ông Nguyễn Bường - Trưởng Công an huyện Cư Kuin, tuy nhiên ông này cúp máy với lý do bận họp. PV cũng đã liên lạc với Thiếu tá Quang để tìm hiểu thông tin nhưng ông cho biết đang đi công tác. “Mọi việc để cơ quan chức năng làm rõ, tôi không được phép thông tin” - ông Quang nói. (Pháp Luật TPHCM 22/11; Người Lao Động 22/11) đầu trang(
Ngày 22-11, ông T.M.L. (ở huyện Cư Kuin, Đắk Lắk) là người tố cáo thiếu tá Võ Ngọc Quang (Đội trưởng Đội CSĐT Tội phạm về Trật tự xã hội - Công an huyện Cư Kuin) có hành vi tàng trữ, buôn bán gỗ lậu đã gửi đơn lên cơ quan chức năng can thiệp vì liên tiếp nhận được tin nhắn đe dọa.
Vào tối 20-11, máy điện thoại ông L. nhận được tin nhắn từ số điện thoại 0947224870 với nội dung đe dọa: “Mày cứ đợi đấy, chưa biết mèo nào cắn mỉu nào đâu. Tao thề không lấy được cái đầu mày tao không làm người. 1 tạ TNT (thuốc nổ) vào nhà mày là quá đủ, đừng vội mừng L. ạ. Xem mày còn sống được mấy ngày nữa”.
Đến tối 21-11, ông L. tiếp tục nhận được tin nhắn từ số điện thoại trên với lời đe dọa khác: “Mày nên nhớ 30 chưa phải là tết đâu. Cờ bạc ăn nhau về sáng@quân tử trả thù 10 năm chưa muộn. Cái mạng mày, gia đình mày tao sẵn sàng trả giá 10 tỷ không tiếc nuối. Mày cứ đợi đấy xem tao nói đúng kg mày nhé”.
Ngoài ra, ông L. cũng nhận được nhiều tin nhắn đe dọa từ nhiều số máy điện thoại khác nhau. Vì thế, ông L. đã gửi đơn đến cơ quan chức năng đề nghị bảo vệ gia đình ông và điều tra, xác minh chủ nhân những tin nhắn nói trên. (Sài Gòn Giải Phóng 23/11, tr7) đầu trang(
Rừng Nà Giệt, thôn Ba Bàu, xã Hàm Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam những ngày này ầm ầm tiếng cưa máy, tiếng cây đổ, tiếng kêu hốt hoảng của muông thú bỏ đi tìm nơi ở mới. Tất cả là do lâm tặc vào rừng khai thác gỗ trái phép.
Lâu nay, rừng Nà Giệt có tiếng là khu rừng còn những cây gỗ quý hiếm, bán kính của gỗ đủ kiểu, lớn khoảng 2 người ôm, nhỏ thì một người ôm. Tuy nhiên, từ ngày được một số cán bộ của Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam tiếp tay, lâm tặc ngay lập tức đã có mặt ở khu vực này và ra tay tàn phá khu rừng.
Theo phản ánh của người dân, sáng 20-11, phóng viên đã đến tận rừng Nà Giệt để mục sở thị. Từ TP. Phan Thiết lên đến khu rừng Nà Giệt khoảng hơn 50 cây số; từ đây, muốn vào được “thánh địa” của nhóm khai thác gỗ lậu phải cuốc bộ luồn rừng mất nửa ngày ròng. Đến địa điểm hẹn trước, PV chờ anh Nguyễn Minh Phúc, một “thổ địa” của vùng này ra đón và dẫn vào bãi tập kết. Nhóm 3 người chúng tôi cắm cúi đi theo sự chỉ dẫn của anh Phúc.
Quen thuộc đường, lại thông tỏ về khu rừng, anh cứ đi theo hướng đã định sẵn. Trời trưa đứng bóng, mọi người mới đến được nơi cần đến. Đứng giữa khu rừng, PV không khỏi kinh ngạc khi tận mắt chứng kiến cảnh tượng một khoảnh rừng có diện tích lên đến nhiều hecta bị triệt hạ, nay chỉ còn trơ gốc; một vài cây, cành nhánh còn ngổn ngang, thân vẫn đang tươm nhựa.
Đường kính của các cây từ 20 đến 30cm, phần nhiều gỗ đã được bổ ra theo “đơn đặt hàng” và vận chuyển đi. Tuy nhiên, vẫn còn những cây “lâm tặc” đang “xẻ thịt” để phân loại chưa xong, gỗ dạng hộp có đường kính rộng 20cm, dày từ 10, dài khoảng 60cm đến 1 mét; gỗ thanh vuông 10cm, dài 1,5 mét và gỗ tròn dạng thớt có đường kính từ 25cm trở lên vẫn còn la liệt. Ước tính lên đến hàng trăm cây bị tàn phá, chủ yếu là gỗ quý như: dầu, lim, căm liên, gáo... Không chỉ đốn hạ cây để lấy gỗ, lâm tặc còn tận thu những cành, nhánh nhỏ, đem ra khỏi rừng để làm củi.
Chứng kiến cảnh rừng “chảy máu”, anh Phúc lắc đầu ngao ngán: “Mới hôm trước, tôi đến đây tìm mấy cây thuốc về nấu để uống chữa bệnh gút vẫn thấy còn mấy cây gỗ to khoảng 2 người ôm không hết mà hôm nay đã mất ráo trọi rồi…”.
Anh Phúc vừa chỉ tay về hướng khu rừng thuộc lâm phần của Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Móng – Ca Pét, nói thêm: “Mấy anh thấy đấy, chúng tôi không vu oan cho những cán bộ ở đây đâu. Chỉ cách vài bước chân là đến rừng Sông Móng, bên đó, cây cối um tùm, những cây cổ thụ đang vươn sức sống lên cao bao cả khu vực; còn bên này chỉ còn cây bụi rậm, dường như gỗ thuộc khu vực đã bị triệt hạ gần hết. Nếu chính quyền địa phương không can thiệp kịp thời, khoảng 1 tháng tới nữa, khu vực này có thể thành rừng... “trọc đầu”.
Đứng xem hiện trường trong vài phút, đã nghe những tiếng máy cưa gầm rú, rền vang inh ỏi cả khu rừng. Đến gần,  thấy từng tốp người đang thu gom những cành cây vừa mới triệt hạ. PV hỏi: “Mấy chú phá rừng vậy, không sợ kiểm lâm bắt à?”. Một người trong nhóm kia đáp: “Bắt gì chú ơi! Mấy ông cán bộ Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam “bảo kê” cho bọn lâm tặc khai thác rầm rộ chưa bị bắt mà sao bắt dân như tụi tôi được. Tụi tôi chỉ thu lượm “phụ phẩm” của mấy tay lâm tặc để lại, gồm những cành cây nhỏ, đem về bán cho các lò gạch, kiếm đồng bạc mua gạo nuôi con thôi! Một ngày tụi tui bán củi cũng kiếm được vài trăm ngàn. Nhưng không biết vài năm sau có củi để gom nữa không”.
Từ bao đời nay, đường vào Nà Giệt chỉ là những con đường mòn cho dân làng đi lại, làm rẫy... Song từ ngày lâm tặc lộng hành, chúng đã mở một con đường rộng vài mét để tạo điều kiện đưa ô tô vào tận cửa rừng, vận chuyển gỗ về xuôi.
Tiến sâu vào rừng, bắt gặp cảnh lâm tặc đang dùng xe máy chở gỗ khai thác trong rừng ra bãi tập kết như chốn không người. Trong lúc tác nghiệp, PV bị vài đối tượng lạ mặt từ đâu trong bụi cây nhảy ra chặn đường, hất hàm dọa nạt, hạch sách vì sao lại chụp ảnh khu vực này?!. “Chúng tôi là những lương y lên trên này tìm cây thuốc nên chụp ảnh về làm tư liệu, chứ không có ý gì hết”, PV mau miệng trả lời.
Những gã đàn ông trong nhóm kia đảo mắt liếc nhìn, nghe PV nói về cây thuốc nên hắn ra hiệu mấy người đi cùng bỏ đi, không quên buông lời đe dọa: “Mấy đứa tụi mày mau mà biến đi, bọn tao còn thấy luẩn quẩn ở đây sẽ cắt tai, xẻo thịt cho thú dữ trong rừng ăn. Rừng sâu núi thẳm, chết mất xác cũng không ai biết đâu. Lúc đó, đừng trách tụi này không nói trước”.
Tại các khu vực rừng Tà Nớ (thôn 1, thôn 2) và Giếng Cọp (thôn 3, xã Hàm Cần) giáp ranh với rừng Nà Giệt (cũng thuộc lâm phần quản lý của Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam), thực trạng rừng bị tàn phá cũng diễn ra tương tự, với diện tích và một lượng lớn cây rừng bị triệt hạ lấy gỗ chỉ còn trơ lại gốc. Lâm tặc cũng chỉ lựa chọn những loại gỗ quý có giá trị cao như lim, dầu, căm liên để đốn hạ vận chuyển đi…
Theo những người dân địa phương, thực trạng rừng khu vực này bị khai thác trái phép diễn ra rầm rộ từ năm 2012 và chỉ do một nhóm người có tổ chức điều hành khai thác, có dấu hiệu bảo kê của chủ rừng cùng cơ quan chức năng địa phương. Chúng khai thác vào ban ngày, ban đêm cho xe vận chuyển gỗ ra khỏi rừng trong thời gian từ 0 giờ đến 3 giờ sáng.
Bọn chúng khai thác và vận chuyển gỗ liên tục trong thời gian 2 tháng. Trung bình mỗi ngày có 2 lượt xe cải tiến và 4 máy cưa ngang nhiên vào rừng chặt phá cây lấy gỗ và củi. Đến nay, khu vực đầu rừng Nà Giệt chỉ còn lại gốc cây, gỗ và củi chúng vận chuyển đi hết, không để lại bất cứ thứ gì.
Lúc đầu thấy các đối tượng khai thác, người dân làm rẫy tại địa phương nghĩ là hợp pháp và Nhà nước có chủ trương bởi trong thành phần khai thác ấy có cán bộ quản lý đương chức của các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm bảo vệ rừng. Do đó, họ không nghĩ đến chuyện trình báo chính quyền địa phương. Tuy nhiên, qua cách thức tận diệt và tổ chức khai thác ban ngày, vận chuyển lén lút vào ban đêm cùng với những hành động bất thường, người dân khu vực này sinh nghi và bắt đầu theo dõi.
Theo một người dân trong khu vực, qua dò hỏi các lâm tặc, được các đối tượng này cho biết, khai thác dưới sự chỉ đạo của một đối tượng tên Dương. Đối tượng này có quan hệ quen biết với một số lãnh đạo có chức năng quản lý, kiểm tra lâm sản tại địa phương và được bật đèn xanh, bảo kê cho khai thác.
Anh Phúc chia sẻ: “Tôi từng đi vác gỗ, vác thớt thuê cho đầu nậu, nhìn những cây gỗ hàng trăm năm tuổi hàng ngày bị triệt hạ mà thấy đau lòng”. Việc khai thác gỗ ở đây không phải nhỏ lẻ mà có “tổ chức”. Cưa hạ cây vào thời điểm nào, vận chuyển vào thời điểm nào đều có sự chỉ đạo. Những trường hợp bị bắt chỉ là những người không thuộc nhóm được chỉ đạo thôi”.
Mặc dù các diện tích rừng bị phá thuộc lâm phần quản lý của Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam, cán bộ của xí nghiệp luôn được phân công canh giữ rừng trực 24/24 giờ nhưng thực trạng tàn phá vẫn diễn ra phức tạp. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lộn xộn này, nhưng có một nguyên nhân mà dư luận địa phương thường xuyên nhắc tới là sự “bảo kê” cho việc khai thác gỗ trái phép.
Vậy, ai “bảo kê” để lâm tặc lộng hành trong suốt thời gian dài, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân? Câu hỏi này xin nhường lại cho chính quyền, ngành chức năng sở tại. (Kinh Tế Nông Thôn 21/11) đầu trang(
Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắc Lắc đang bị chặt phá ở mức báo động. Quanh khu vườn này, nhiều nhóm lâm tặc cũng đang âm thầm ngày đêm khai thác gỗ quí để bán và vận chuyển về xuôi. Thế nhưng, không hiểu lý do gì mà các đơn vị chủ rừng cùng với kiểm lâm và chính quyền địa phương ở đây lại “không hề hay biết”?
Trụ sở Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm sát Quốc lộ 27, thuộc địa bàn xã Yang Reh, huyện Krông Bông. Lô gô khu vườn này là một vòng tròn, dòng thác trắng chảy giữa hai dãy núi. Nhưng có lẽ điểm nhấn đầy ấn tượng hơn là dòng chữ nằm phía dưới: Lưu giữ giá trị Tây Nguyên. Cũng vì thế mà khi nói về mình, cán bộ, nhân viên Vườn quốc gia Chư Yang Sin ai cũng thấy tự hào về điều đó.
Bởi vậy, khi được hỏi về dổi và ươi trong vườn bị người dân chặt phá nghiêm trọng chỉ để lấy hạt, ông Lộc Xuân Nghĩa, Phó Giám đốc Vườn quốc gia chỉ coi đó là tin đồn!? Còn ông Tống Ngọc Chung, Giám đốc Vườn quốc gia Chư Giang Sin thì thận trọng hơn; vì theo ông, trong vườn rừng quốc gia này không chỉ có nhiều cây dổi cổ thụ mà còn vô vàn loại cây khác hàng trăm tuổi luôn phải đối mặt với nguy cơ bị lâm tặc chặt phá. Chính vì vậy mà đơn vị luôn “đề cao cảnh giác” và “phối hợp chặt chẽ” với các xã trong vùng để bảo vệ kỹ lưỡng các loại cây này nên khả năng rừng bị phá là rất thấp.
Cũng theo ông, vùng dổi bị chặt phá rất có thể nằm trong những lâm phần đã được giao khoán cho các hộ dân xã Hoà Lễ, huyện Krông Bông, theo Quyết định 178: “Rừng của chúng tôi đương nhiên là có dổi, không ít, thậm chí nhiều nữa. Đây cũng là vấn đề phức tạp, nên chúng tôi đã ngăn chặn rất nhiều. Không riêng chúng tôi mà cả chính quyền các xã, các cơ quan trong huyện. Thế nên, tôi sợ có sự nhầm lẫn giữa rừng 178 và rừng quốc gia”- Ông Tống Ngọc Chung khẳng định.
Thế nhưng, khi làm việc với chính quyền xã Hòa Lễ thì câu hỏi: Liệu trên địa bàn có xảy ra việc chặt phá rừng lấy hạt dổi, hạt ươi hay không? đã được ông Nguyễn Minh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã trả lời chắc nịch: Rừng bị phá không thể nằm trong phạm vi trách nhiệm của mình. Vì những tiểu khu rừng do xã quản lý đã được khai thác cách đây vài ba năm, gỗ dổi hầu như không còn nữa.
Ông Sơn thừa nhận: “Rừng của xã quản lý có một số dổi thì nó nằm ở tiểu khu 1158, nhưng những tiểu khu mà các anh phản ánh đó là tiểu khu 1159 và 1174. Có lẽ nó không có bao nhiêu trong phần rừng do các nhóm hộ giữ cả. Trước đây thì Vườn Quốc gia Chư Yang Sin cũng có một văn bản đề nghị Ủy ban xã tổ chức phối hợp kiểm tra. Tuy nhiên, anh em trong trạm 1, trạm 2 báo là không có hiện tượng chặt dổi lấy hạt, nên Vườn đã không tiến hành tuần tra chung với chúng tôi nữa”.
Cùng với hơn 58.000 ha rừng của Vườn quốc gia Chư Yang Sin, gần 25.000 ha rừng sản xuất của huyện Krông Bông, hình như cũng không ai quản lý được. Chính vì vậy, khi đề cập về vấn đề này, ông Đoàn Văn Thành, Trưởng Phòng Quản lý bảo vệ rừng, Công ty Lâm nghiệp Krông Bông đã một mực khẳng định, việc cưa dổi lấy hạt không xảy ra trong lâm phần do mình quản lý. Vì gỗ dổi ở đây đã được khai thác hết từ lâu.
Ông Thành cho biết: “Trong lâm phần của chúng tôi thì còn gì nữa đâu, chúng tôi khai thác hết rồi, khai thác mấy chục năm rồi mà. Nếu còn cây dổi thì chắc chắn là bị chặt chứ tránh sao khỏi được. Người dân bây giờ manh động lắm, không có trèo lên hái đâu. Bây giờ cưa lốc có triệu mốt, triệu hai một cái. Họ dứt một phát là cây to cỡ nào cũng đổ xuống để họ lượm thôi”.
Lưu giữ giá trị Tây Nguyên. Vâng! Việc tìm cách để lưu giữ cho đời sau những giá trị của Tây Nguyên như tiêu chí đặt ra của Vườn Quốc gia Chư Yang Sin là vô cùng cần thiết. Không chỉ riêng về giá trị của thiên nhiên, chim muông, cây cỏ…mà các cấp chính quyền và đơn vị quản lý rừng ở đây cũng cần phải phối hợp chặt chẽ hơn để giữ được cả những giá trị tinh thần về bản sắc văn hóa đặc thù của các dân tộc bản địa. Tuy nhiên, muốn lưu giữ được những giá trị ấy, trước hết, với vườn rừng quốc gia phải bảo vệ được diện tích rừng.
Thế nhưng, rừng ở đây đang bị chặt phá dữ dội. Hàng chục, hàng trăm cây dổi bị đốn hạ trong vòng vài ba tháng mà dường như các nhà quản lý ở đây không ai dám nhận trách nhiệm về mình.
Vườn quốc gia Chư Yang Sin và các khu rừng đệm ở đây đang kêu cứu. Nếu chính quyền tỉnh Đắc Lắc không thành lập ngay một đoàn liên ngành đến thực địa kiểm tra và xác định đúng sai. Thì tình trạng chặt phá rừng không chỉ dừng lại là những cây dổi, cây ươi, mà nhiều loại gỗ quí hơn rất nhiều như: Giáng hương, Pơ mu, Kim giao, Bách xanh…và các loại lâm đặc sản quí hiếm khác ở rừng Chư Yang Sin sẽ sớm chịu chung số phận. (VOV 21/11) đầu trang(
Vụ việc Công ty lâm nghiệp Sơn Động "núp bóng" trồng rừng phá bán hơn 20 ha từng tự nhiên đã lộ rõ hàng loạt sai phạm nghiêm trọng. Thế nhưng chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang chỉ biết khi việc "đã rồi". Và hình thức xử lý kỷ luật hầu hết cũng chỉ ở mức...nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm!
Loạt bài điều tra của báo Dân trí về việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng (Công ty Lâm nghiệp Sơn Động) lợi dụng việc được giao thực hiện dự án cải tạo rừng tự nhiên để nhập nhèm phá, bán hơn 20ha rừng trên địa bàn xã Bồng Am - Sơn Ðộng (Bắc Giang) đã đi gần đến hồi kết khi hàng loạt sai phạm đã được làm rõ.
Tuy nhiên, điều khiến dư luận vẫn bất bình là đi kèm sai phạm nghiêm trọng thì trách nhiệm của hàng loạt cơ quan chức năng tỉnh này được "chốt" bằng hình thức nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
Trước trách nhiệm của Chi cục kiểm lâm huyện Sơn Động trong việc hơn 20 ha rừng tự nhiên bị phá, Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NNPTNT) tỉnh Bắc Giang đã chỉ đạo Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang kiểm điểm trách nhiệm.
Cụ thể: Ông Dương Xuân Bánh - Phó giám đốc Sở NNPTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang đã thay mặt tập thể lãnh đạo chi cục nhận hình thức nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm. Việc xử lý cán bộ chỉ được thực hiện với Hạt kiểm lâm Sơn Động, đơn vị trực tiếp phụ trách quản lý hơn 20 ha rừng bị Công ty lâm nghiệp Sơn Động phá bán.
Tuy nhiên, vị hạt trưởng Hạt kiểm lâm Sơn Động Nguyễn Văn Hiệu cũng bị chịu hình thức kỷ luật: Nghiêm túc kiểm điểm tự phê bình, rút kinh nghiệm trước đơn vị và lãnh đạo chi cục kiểm lâm.
Hai cán bộ kiểm lâm là ông Ngô Văn Xuân, nguyên trạm trưởng trạm kiểm lâm địa bàn Tuấn Đạo và ông Bùi Mạnh Thưởng, nguyên cán bộ kiểm lâm địa bàn Tuấn Đạo bị kỷ luật chuyển vị trí công tác sang trạm khác.
Kết quả của vụ việc công ty lâm nghiệp "núp bóng" trồng rừng để phá bán hơn 20 ha rừng tự nhiên tại tỉnh Bắc Giang là hàng loạt "án": Nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm với các cơ quan chức năng buông lỏng quản lý. Vị giám đốc công ty lâm nghiệp "ra lệnh" phá bán rừng tự nhiên cũng thoát "mất chức" vì nghiêm túc kiểm điểm.
Làm việc với PV về hình thức kỷ luật với vị giám đốc công ty lâm nghiệp mở đường phá rừng chỉ ở mức cảnh cáo, ông Bùi Ngọc Sơn - Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang cho biết: Xét tính chấp và mức độ của hành vi vi phạm của ông Nghĩa phải áp dụng đến hình thức cách chức. Tuy nhiên, Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang cho rằng sau khi xem xét nhận thấy cá nhân ông Nghĩa không có biểu hiện trục lợi cá nhân, không có mục đích hủy hoại rừng. Cá nhân ông Nghĩa đã nghiêm túc kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật "cảnh cáo", được tập thể lãnh đạo chủ chốt của công ty nhất trí nên Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang đã đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang xét mức kỷ luật cảnh cáo với ông Nghĩa.
Ông Nguyễn Văn Khái - Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang cho rằng chịu trách nhiệm quản lý lĩnh vực lâm nghiệm trên địa bàn tỉnh thuộc về Chi cục kiểm lâm do ông Dương Xuân Bánh, phó giám đốc Sở kiêm nhiệm. Và đơn vị này đã thực hiện xử lý kỷ luật cán bộ liên quan theo quy định.
Trong khi đó, làm việc với PV, ông Dương Xuân Bánh cho rằng việc rừng bị phá trách nhiệm trước hết thuộc về đơn vị được giao rừng là Công ty lâm nghiệp Sơn Động. Như PV thông tin, theo Kết luận nội dung tố cáo của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang, năm 2008, Công ty Lâm nghiệp Sơn Ðộng được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt dự án cải tạo rừng tự nhiên giai đoạn 2008-2012, với tổng diện tích 390 ha.
Đến hết năm 2012, Công ty này đã thực hiện cải tạo, khai thác được 351,7 ha trên tổng số 390,6 ha được cấp phép. Tuy nhiên, kết quả thanh tra của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang đã khẳng định ngoài việc cải tạo diện tích rừng trên, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động còn...tiện thể phá luôn 23 ha rừng tự nhiên với thủ đoạn chuyển sang trồng rừng kinh tế. Diện tích Công ty này phá rừng nằm tại khu vực Khe Rào (xã Bồng Am) và khoảnh 19, đội Ðá Bờ 2, đều nằm trên diện tích Công ty được giao quản lý, khai thác và bảo vệ.
Đặc biệt, cùng với việc phá một diện tích rừng tự nhiên rộng lớn như vậy, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động còn lén lút mở hẳn một con đường dài gần 4km chạy xuyên rừng để tẩu tán lâm sản chặt phá núp dưới lí do lấy đường để trồng rừng trên khu núi trọc. Công ty này cũng rất "chuyên nghiệp" khi ký hẳn hợp đồng thuê 2 xe tải để đưa lâm sản khỏi rừng. (Dân Trí 21/11) đầu trang(
Rừng Sa Thầy đang “kêu cứu” Sa Thầy là huyện biên giới của tỉnh Kon Tum, có lượng rừng lớn với nhiều loại gỗ quý, có Vườn Quốc gia Chư Mom Ray với nhiều sinh, động vật quý hiếm cần bảo vệ nghiêm ngặt.
Sa Thầy là nơi đầu nguồn sinh thuỷ của một số hệ thống sông, suối, có diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn quan trọng nhất của Thuỷ điện Ya Ly, một trong những công trình trọng điểm quốc gia.
Vì vậy, Sa Thầy có vị trí rất quan trọng về bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh Kon Tum và khu vực Tây nguyên. Thế nhưng, thời gian qua, rừng ở Sa Thầy vẫn luôn bị tàn phá không thương tiếc. Mỗi năm có hàng trăm vụ phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra ở các khu rừng Sa Thầy, Kon Tum mà không thấy ai phải chịu trách nhiệm cụ thể. Các chủ rừng như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy liên tục để mất rừng nhưng cũng chỉ ở mức xử lý nhẹ.
Cuối tháng 10/2014, Giám đốc Công an tỉnh Kon Tum đã triển khai kế hoạch tăng cường lực lượng Công an về cơ sở địa bàn huyện Sa Thầy để đảm bảo an ninh, trật tự. Từ ngày 29/10 đến ngày 19/11, Đội công tác tăng cường cơ sở Nam Sa Thầy (Công an Kon Tum) đã tiến hành đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, phát hiện, bắt giữ hàng chục vụ vi phạm pháp luật về lâm luật, thu giữ hàng trăm m3 gỗ các loại, 3 xe ôtô, 1 khẩu súng bắn đạn hoa cải, phá dỡ nhiều lán trại trong rừng của bọn lâm tặc, bắt giữ 12 đối tượng chuyển giao cho Công an huyện Sa Thầy tiếp tục điều tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Điển hình như vụ khai thác gỗ có tổ chức tại khoảnh 7, tiểu khu 739, xã Ia Tơi, thuộc lâm phần quản lý của Lâm trường Sê San, trực thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy. Khối lượng gỗ còn sót lại hiện trường bị khai thác trái phép hơn 34m3. Các đối tượng khai thác gỗ trái phép bị bắt giữ gồm: Nguyễn Quang Ngọc (nhóm trưởng); Bùi Gia Ngọc; Nguyễn Văn Quyết; Nguyễn Văn Sỹ và Nguyễn Ty Út đều ở Tân Hợp, Tân Kỳ, Nghệ An vào đây tổ chức khai thác gỗ trái phép cho một đối tượng “đầu nậu” tên Hải, thường gọi “Hải Điếc”, trú tại Gia Lai.
Vụ khai thác gỗ phát hiện ngày 7/11, tại tiểu khu 744, xã Ia Tơi, lâm phần quản lý của Lâm trường Sê San, thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy được tổ chức bài bản. Lâm tặc lập lán trại dưới rừng ăn nghỉ do các đối tượng Dương Văn Sáu, Lê Văn Hoàn ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai trông coi lán trại và nấu cơm để phục vụ. Các đối tượng khai nhận khai thác gỗ cho một đối tượng tên Lợi ở khu vực Nam Sa Thầy.
Mở rộng kiểm tra tại khoảnh 16, tiểu khu 740, xã Ia Tơi, lâm phần quản lý của Lâm trường Sê San, cơ quan chức năng nhận thấy có khá nhiều điểm tập kết gỗ gần nhau, với hàng chục hộp gỗ được xẻ vuông vắn chưa kịp vận chuyển.
Ngày 11/11, tại khoảnh 1, tiểu khu 739, xã Ia Tơi, lâm phần quản lý của Lâm trường Sê San, thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy, tổ công tác phát hiện 47 hộp gỗ xẻ, với tổng khối lượng 54,257m3. Phát hiện tại khoảnh 10, tiểu khu 758, xã Ia Tơi thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy có 53 hộp gỗ xẻ, khối lượng 40,753m3.
Cùng ngày, tại tiểu khu 740, xã Ia Tơi, thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy, tổ công tác còn phát hiện các đối tượng Văn Đình Duy, Lê Bá Hải, Lê Bá Liễu, Dương Quang Trí và Đào Văn Quang cùng 3 xe máy cày, đang di chuyển trong rừng. Trên xe có 1 khẩu súng bắn đạn hoa cải nhưng không có giấy tờ nên tổ công tác đã đưa về trụ sở xã Ia Tơi để làm việc và bàn giao cho Công an huyện Sa Thầy tiếp tục điều tra, xử lý.
Từ khi có lực lượng Công an tăng cường trên địa bàn Nam Sa Thầy, tình trạng khai thác gỗ trái phép ở đây có phần tạm lắng. Tuy nhiên, để giữ rừng Sa Thầy về lâu dài cần phải làm trong sạch đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý bảo vệ rừng ở đây và có giải pháp giao khoán rừng hợp lý để người dân giữ rừng có thể sống được với công việc của mình. (Công An Nhân Dân 22/11, tr7) đầu trang(
Tính đến chiều 21/11, các lực lượng chức năng tại Khánh Hòa đã kiểm đếm được gần 5.000 cá thể rùa biển và các sản phẩm của chúng. Cơ quan chức năng cũng phát hiện thêm các bể chứa “khủng” ngâm rùa biển trong hóa chất, nhiều cán bộ, chiến sỹ khi tham gia kiểm đếm đã bị dị ứng hóa chất.
Theo Đại tá Vũ Duyên Hải, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (PCTP về môi trường), Trưởng Ban chuyên án cho biết, từ nhiều tháng nay, các trinh sát Phòng 3 phát hiện một đường dây chuyên mua bán trái phép, cất giữ, chế tác cá thể rùa biển trên địa bàn TP Nha Trang.
Kế hoạch triệt xóa đường dây nêu trên được lãnh đạo Cục Cảnh sát PCTP về môi trường giao cho tổ công tác Phòng 3 phía Bắc phối hợp với lực lượng Phòng 3 đại diện phía Nam phối hợp với Công an tỉnh Khánh Hòa.
Xâm nhập thị trường mua bán, chế tác rùa biển, các trinh sát đã phát hiện dân buôn bán đồ chế tác vích, đồi mồi, rùa biển… hay nhắc tới một người tên là Hoàng Mạnh Cường, biệt danh “Cường đồi mồi”, trú tại TP Nha Trang, là ông trùm chuyên mua bán  hải sản và chế tác sản phẩm từ rùa biển. Ông trùm này có hệ thống kho đông lạnh ở nhiều nơi để chứa các loại hải sản đông lạnh, nhất là rùa biển, ốc tai tượng.
Kho này được ngụy trang trong xưởng chế biến gỗ “Hoàng Cường” tại thôn Phước Trung, xã Phước Đồng, TP Nha Trang, Khánh Hòa. Tuy nhiên, xưởng chế tác các sản phẩm từ rùa biển lại được bố trí tại thôn Phước Lợi, xã Phước Đồng. Một kho đông lạnh lớn được đặt tại thôn Phước Hạ, xã Phước Đồng, cách xưởng gỗ khoảng 1km.
Hiện tại, theo người dân, Cường đã giao việc thu mua, vận chuyển, chế tác và quản lý rùa nước mặn, ốc tai tượng bán sang Trung Quốc cho em trai là Hoàng Tuấn Hải, 42 tuổi, trú tại thôn Phước Lợi, xã Phước Đồng, TP Nha Trang.
Cường đã từng bị cơ quan chức năng bắt và xử phạt hành chính về hành vi nuôi trái phép rùa biển. Vào cuối tháng 10/2014, có khoảng 30-40 công nhân làm việc tại xưởng chế tác rùa. Thời gian gần đây, có lẽ phát hiện cơ quan chức năng đang theo dõi hoạt động của mình, nên chủ xưởng đã cho nhiều công nhân nghỉ, đến nay chỉ còn khoảng 5-7 công nhân là bà con của Cường còn làm việc tại xưởng chế tác rùa biển.
Ngày 19/11, lực lượng chức năng đã bất ngờ đột kích vào cơ sở sản xuất đồ mỹ nghệ của ông Hoàng Tuấn Hải và tại hai kho nguyên liệu sản xuất đồ mỹ nghệ của cơ sở này ở thôn Phước Lợi và thôn Phước Hạ, xã Phước Đồng, TP Nha Trang. Từ bên ngoài nhìn vào, cơ sở chế biến đồ mỹ nghệ của ông Hoàng Tuấn Hải có vẻ rất hoang sơ, cây cối um tùm và được bao bọc bằng tường xây, nhưng bên trong cơ sở có bể hóa chất, khu vực giết mổ chế tác rùa, vích.
Ngoài số lượng lớn rùa biển còn có nhiều loại vỏ ốc cũng được tàng trữ ở đó. Điều đáng nói là trong số hàng ngàn xác rùa biển đã thu giữ, có một số rùa biển trên thân vẫn còn “chíp” do các nhà khoa học gắn trước đó để theo dõi, nghiên cứu. Và đây là cơ sở tàng trữ xác rùa biển có số lượng lớn nhất từ trước đến nay.
Các lực lượng đã bắt giữ một số lượng lớn rùa biển, đồi mồi, vích và ốc tai tượng (số lượng gần 5.000 cá thể và các sản phẩm của chúng) tại các địa điểm nêu trên. Ngay sau đó, chuyên gia Viện Hải dương học đã đến hiện trường, xác định sơ bộ số tang vật bắt giữ. Bước đầu ông Hoàng Tuấn Hải đã thừa nhận hành vi mua các sản phẩm về chế tác thành đồ mỹ nghệ để bán đi thị trường Trung Quốc.
Theo ông Lê Văn Dũng, Chánh Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa, chủ cơ sở không xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và nguồn gốc hợp pháp lô hàng nêu trên. Với số lượng cá thể rùa biển rất lớn nêu trên, chủ cơ sở này không chỉ thu mua ở Khánh Hòa mà mở rộng đến nhiều địa phương khác trong nước.
Trao đổi với PV chiều 21/11, Đại tá Đào Văn Toản, Trưởng phòng Cảnh sát PCTP về môi trường, Công an tỉnh Khánh Hòa cho biết, cùng với việc tiếp tục kiểm đếm, thu giữ hàng ngàn xác rùa biển vừa bắt giữ, cơ quan này đang phối hợp với Cục Cảnh sát PCTP về môi trường, Bộ Công an xác minh, đấu tranh làm rõ nguồn gốc lô hàng đặc biệt này…
Trong quá trình kiểm đếm, thu giữ, mặc dù cán bộ, chiến sĩ Công an đã sử dụng khẩu trang nhưng vẫn phải chịu mùi hôi của xác rùa biển, hóa chất từ các bể chứa gây dị ứng da… (Công An Nhân Dân 22/11, tr4; Tuổi Trẻ 22/11, tr8) đầu trang(
Theo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, ngà voi do Hải quan Hải Phòng bắt giữ cuối tháng 10 là ngà voi châu Phi có tên khoa học là Loxodonta Africana thuộc Phụ lục I, Phụ lục II Công ước CITES và Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT vi phạm Nghị định 82/2006 về quản lí hoạt động XNK, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cây nhân tạo các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Kết quả giám định trọng lượng của Vinacontrol Hải Phòng, tổng số tang vật gồm 1.288 khúc, tổng trọng lượng 1.732,4 kg.
Đây là vụ bắt giữ ngà voi lớn thứ 3 kể từ đầu năm 2014 đến nay do Hải quan Hải Phòng thực hiện. Theo Cục Hải quan Hải Phòng đây là vụ vi phạm phức tạp liên quan đến nhiều đối tượng. HIện lãnh đạo Cục đã giao Đội Kiểm soát Hải quan tiếp tục điều tra, xác minh. (Hải Quan 18/11, tr4) đầu trang(
“Sọ khỉ, 208”. Dòng chữ viết bằng phấn trắng lên vết thương non của khúc cây bên đường  Tôn Đức Thắng (Hà Nội) là lời cuối trên tấm bia mộ cho phận cây già.
Khúc cây bị lưỡi cưa máy rất mới và rất sắc cắt thật ngọt, nhói lên màu đỏ của vết bã trầu “ăn” vôi. Những đường vân mịn màng gợn sóng số năm tuổi của cây. Thớ thịt dậy lên mùi thơm nồng của thứ gỗ cổ thụ. Gỗ xà cừ quý và bền. Người ta đem nó về, hẳn bán được giá.
Bạn đã bao giờ thấy một cái cây bị đau chưa? Cây to. Gốc nó phải 2 tới 3 người nối tay nhau mới ôm hết. Những mảnh vảy xù xì dính vào thân nó, nếu nạy ra cũng bằng cái vỏ sò. Tán nó rộng và cao, xanh nhức nhối.
Cả chục lần đi dưới con đường này, PV đã ngửa cổ lên săm soi mà chưa bao giờ thấy hết các tán lá-bàn tay “nó” vẫy. Để “hạ” được nó, vài chục người của công ty công viên cây xanh phải đến đây từ sáng sớm. Họ tỉa từng cành, cắt từng đoạn thân cây, ròng dây thả xuống. Cái cây cuối cùng thành trăm đoạn, nằm ngổn ngang bên gốc cây đã bị bật tung lởm chởm rễ chùm.
Rất đông người mới nạy nổi cái gốc đó lên. Họ đào đất, lần lượt cưa đứt những cái rễ mà mỗi rễ to bằng cả khúc cây, dùng xà beng dài nạy từng cái rễ như những ngón tay ra khỏi con đường. Thòng một vòng xích sắt to vào gốc cây, đầu kia móc vào xe cẩu, người ta hô: Một hai ba... kéo! Gốc cây to nhất như người khổng lồ thất thủ từ từ nằm xuống. Nó không bị đốn hạ cái rầm với tiếng nấc chấn động cả khu rừng như trong phim người ta khai thác gỗ. Cái cưa máy màu cam xông tới, kêu ro ro.
Mạt cưa như đường ống nước bị bể tức tưởi, văng ra ào ạt, đỏ gay. Rồi người ta viết ký hiệu phấn trắng lên mỗi vết thương đó để chờ xe tải tới mang đi. Thế là xong!
Trong một cơn mưa cuối mùa, lá cây non bị giẫm bét gí vào đất đỏ. Người đi đường đều nhìn về phía những chiếc áo xanh hì hục phạt lá, đốn cành. Những con người chỉ là cùng quen một cái cây, đứng lại bên đường, thảng thốt khi thớ thịt đỏ au hiện ra. Người bán cà phê, bán vé số, người làm công sở chở con đi học về, lặng lẽ rất lâu nhìn mỗi cành cây ngã xuống. Nhìn họ rồi bỗng nhiên thấy hổ thẹn, có cảm giác như nhìn thấy phút giây riêng tư của ai đó mà mình không nên và không được phép cần biết. Còn những người khác, dường như cố gắng đi thật nhanh để né những phút yếu lòng.
Đã có những buổi trưa đi bộ dưới đoạn đường xà cừ cổ thụ đó và phát hiện nhiều người cũng đi bộ như mình, phát hiện ra đoạn đường đã đi vào nhiều bộ phim. Những cô, những bác làm việc ở khu văn phòng quanh đây thong thả một lúc buổi trưa giao phó mình cho những bước chân, cố gắng tận hưởng một chút lắng dịu trước khi phải chạy tới một cuộc họp đâu đó. Những người qua đoạn đường đó, đã quen mỗi ngày mở ra một hành trình trên con đường khi thì xanh thắm, khi thì bâng khuâng lá rụng, có mùa chỉ mộc mạc cành khô.
Giờ đây đường trơ trọi một mình đón gió mưa, đổi tính nết từ nhu mì thành con đường bực bội. Và sáng mai, nhiều khuôn mặt qua đây sẽ thảng thốt nhận ra cây và người đã không kịp vẫy tay chào nhau lần cuối.
Nhớ đến hàng cây xà cừ cổ thụ ở con đường Nguyễn Trãi tít tận Hà Nội, nó cũng vừa bị hạ vì xây đường sắt trên cao. Ở phòng ngủ khi PV về, có khi lòng cồn cào nổi sóng và bất chợt thức dậy mở cửa ra nhìn xuống là đụng tán xà cừ xanh ngắt. Được cúi xuống thật gần một tán cây mới hay nếu đủ gần để chạm được vào tâm hồn của thiên nhiên, mình sẽ biết mở ra những không gian mới trong lòng mình, không gian của núi cao, của biển xa, của vực thẳm, sự rộng dài của đất trời.
Nhớ những mùa hoa tháng Ba của hàng xà cừ, khi còn đi học. Hoa xà cừ li ti màu trắng và thơm dịu dàng tới nỗi rất nhiều người khẳng định nó không có mùi gì chỉ vì chẳng ai ngửi được mùi của nó khi lao sầm sập ngoài đường. Giờ đây xem tin tức về hàng xà cừ ở nhà, thấy tiếc nuối gì đâu một tiếng ve đã qua đời. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 20/11, tr54) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tại rừng đặc dụng Hữu Liên, huyện Hữu Lũng xuất hiện hiện tượng lâm tặc dùng mìn phá đá để lấy rễ cây hoàng đàn, làm ảnh hưởng hệ sinh thái, nguy hiểm tính mạng người dân. (Nhân Dân 22/11, tr7) đầu trang(
Những năm đầu thập niên 1990, làn sóng dân cư ồ ạt đổ về rừng ngập mặn Cà Mau mưu sinh. Riêng khu vực rừng phòng hộ ven biển Đất Mũi có hơn 6.000 hộ. Trước tình hình đó, Cà Mau thực hiện chính sách giao đất giao rừng, hợp thức hóa dân cư bao chiếm đất rừng và cấp mới cho nhiều hộ khác thuộc diện chính sách, hộ đồng bào DTTS, hộ không đất sản xuất.
Chủ trương giao đất giao rừng đã tạo điều kiện cho hàng ngàn hộ nghèo có đất sản xuất. Tuy nhiên, không ít người không phải là đối tượng được giao đất giao rừng cũng được chia. Một số lâm trường và các công ty lâm nghiệp lợi dụng chủ trương giao đất giao rừng để chia chác đất rừng. Ở khoảng rừng nào cũng có đất của những người có trách nhiệm quản lý rừng. Trong thực tế, hiện nay ở Cà Mau có không ít người không liên quan đến rừng nhưng lại được hưởng lợi từ rừng.
Nhìn chung, hộ nhận giao đất giao rừng hay hộ nhận khoán đều là hộ nghèo, sau nhiều năm đời sống vẫn nghèo khó. Cuộc sống hằng ngày chủ yếu bằng săn bắt những sản vật có sẵn dưới chân rừng. Người nhận khoán hay nhận giao đất giao rừng phải có trách nhiệm giữ cây rừng cho lâm trường, đến kỳ khai thác mới hy vọng được chia phần. Trong thời gian chờ hơn chục năm đến kỳ khai thác, không ít người giữ rừng phải... chặt cây rừng để sống. (Dân Tộc & Phát Triển 21/11, tr5) đầu trang(
1.575ha là diện tích rừng bị mất bình quân mỗi năm của nước ta. Số liệu do Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp-Bộ Nông nghiệp&Phát triển nông thôn) đưa ra ngày 22/10/2014.
Cũng theo Cục này, từ năm 2009 đến nay, trên cả nước, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 33.938 vụ phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật, gây thiệt hại trên 8.000ha rừng.
Chúng ta đã có Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, có Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011của Thủ tướng Chính phủ để bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ. Nhưng xem ra, tình trạng “nhờn” luật, “lách” luật, coi thường kỷ cương trên lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng còn phổ biến, dẫn tới vi phạm tràn lan mà xử lý chưa triệt để.
Trong khi hằng năm, ngân sách chi ra để quản lý, bảo vệ rừng là không nhỏ, nhưng rừng vẫn mất với số lượng lớn mà những tổ chức, cá nhân có trách nhiệm liên quan không bị xử lý nghiêm khắc.
Tục ngữ có câu “Thuốc đắng dã tật”. Chỉ khi nào pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được thực thi nghiêm túc, người đứng đầu địa phương, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và hộ gia đình được giao đất lâm nghiệp, giao rừng nhưng để rừng bị tàn phá, lấn chiếm phải chịu trách nhiệm cá nhân và bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật, không còn tình trạng “xuê xoa, bỏ qua” thì mới hy vọng tài nguyên rừng được bảo vệ. (Dân Tộc & Phát Triển 21/11, tr5) đầu trang(
Ít ai biết rằng, Khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên Xuân Nha (Vân Hồ - Sơn La) từng được người bản địa gọi với cái tên “rừng chim thú”. Bởi, chim và các loại thú quý hiếm như hổ, gấu, vượn, khỉ hay bò tót nơi đây nhiều vô kể. Những câu chuyện về hổ ăn thịt người, rồi tay không giết lợn nòi, khuất phục gấu dữ... từng diễn ra ở đây.
8 giờ tối, người dân quanh rừng chim thú Xuân Nha đã cửa đóng then cài. Nhà nhà bảo nhau tắt đèn, đóng cửa. Trong màn đêm, họ luôn bị ám ảnh bởi “ông ba mươi”. Họ bảo, "ông ba mươi" một đêm đi 9 bản, một tuần đi 9 xã. Kể chuyện hổ dữ về bản ăn thịt người, dù đã nhiều năm nhưng trong ánh mắt của họ vẫn in hằn nỗi sợ hãi....
Đường vào KBT Xuân Nha giờ được trải nhựa phẳng lì, dù còn ít đoạn bùn trộn đất đá do sạt lở. Trong kí ức của ông Bàn Văn Quang, Phó hạt trưởng KBT thì chỉ khoảng vài chục năm trước, đây vẫn là vùng rừng núi hoang sơ. Từ thị trấn Mộc Châu đi vào toàn là đường đất. Nơi trụ sở của Hạt Kiểm lâm đóng chân trước đây thuộc nông lâm trường chứ… chưa lên xã. 8 giờ tối, cả bản không ai bảo ai, cửa nhà đều đóng kín như bưng, một ánh đèn dầu leo lét cũng không còn.
Quá giờ này, ai còn lảng vảng ngoài đường thì chắc gan bằng trời. Một tiếng hổ gầm rung chuyển cả núi rừng. Xưa ở rừng chim thú, chuyện hổ ăn thịt người không hiếm. Nhưng không một ai nhớ tên người mất cũng như ngày tháng năm nào. Một phần, chuyện đã quá lâu. Một phần, đó là kí ức của nỗi đau và sự sợ hãi. Thực sự, không ai muốn nhớ. Anh Vi Văn Thiệp, Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng Xuân Nha rùng mình kể lại câu chuyện cụ nội của anh bị hổ dữ ăn thịt. Anh nghe được qua lời kể của ông nội....
Hôm đó, bà đi vào rừng lấy củi như thường ngày. Đi cùng là ông nội anh và một người em trai khi đó chừng 10 tuổi. Bỗng từ bụi rậm, một con hổ xuất hiện, nhằm người phụ nữ gầy gò đang lấy củi mà tấn công. Chỉ trong chớp mắt, con hổ biến mất, tha luôn người phụ nữ xấu số vào rừng sâu. Hai anh em không hiểu chuyện gì xảy ra, băng rừng đuổi theo hổ dữ. Lát sau thì đuổi kịp. Con hổ đứng giữa khoảng đất trống, miệng ngậm chặt xác người mẹ. Hai anh em không chút nghĩ suy lao vào kéo mẹ khỏi miệng hổ dữ.
Con hổ ghì chặt, quyết không buông. “Nó giận dữ, phì một cái thật mạnh. Máu từ miệng con hổ bắn ướt hết người hai ông. Hai ông bị mất đà ngã ngửa ra sau. Sau đó chạy quay lại bản báo mọi người trong nhà. Con ngựa nó nuốt mất mẹ rồi, hai ông khi đó còn nhỏ nên không biết đó là con hổ”, anh Thiệp kể lại. Cả bản, người cầm gậy, người cầm súng kíp, dao quắm chạy theo hai anh em vào rừng. Tới nơi, "ông ba mươi" đã bỏ đi.
Trên nền đất, máu vương vãi khắp nơi. Mọi người nhặt được một mảnh váy, một vòng bạc đeo tay của người xấu số. Cũng từ đó trở đi, không ai trong bản dám bén mảng đến khu vực đó lấy củi nữa. Thỉnh thoảng, nghe tiếng gầm từ khoảng rừng xa vọng lại, ai nấy đều giật mình thảng thốt. Chuyện không xa xôi, đầu năm nay, người dân ở cánh rừng Xuân Nha khu vực xã Lóng Sập lại được một phiên kinh hồn bạt vía vì được "ông ba mươi" ghé thăm.
Một lần nghe tiếng hổ gầm chắc cả đời không thể quên nổi. Ông Bàn Văn Quang cho biết, tại Lóng Sập, dấu vết của hổ đã được ghi nhận đầu năm nay. Quanh khu vực ruộng gần nhà dân có nhiều vết chân hổ to như cái ấm chuyên. Nhưng mọi người mới chỉ nghe tiếng gầm như chưa ai được giáp mặt. Không nhìn thấy, nhưng ai nấy bảo nhau, đêm tối hạn chế ra ngoài, tránh chuyện không may.
Người hùng bản Ngà Hổ ăn thịt các loài động vật khác, đó là lẽ tự nhiên. Lợn khổng lồ đuổi giết hổ thì có lẽ là chuyện xưa nay hiếm. Tình cờ gặp ông Vi Văn Thướng (60 tuổi). Người dân bản Ngà gọi ông là người hùng. Hỏi chuyện ông Thướng giết lợn khổng lồ, người dân bản Ngà và cả cánh rừng Xuân Nha đều kể rành rọt như chuyện của mình....
Sớm tinh mơ, khi những làn hơi sương còn chưa tan, Vi Văn Thướng khi đó mới 15 tuổi đã vào con suối Quanh tận rừng sâu bắt cá. Khi chiếc giỏ đã lưng lửng cá, Thướng ngồi nghỉ trên tảng đá ven suối. Gràooooo… Tiếng hổ gầm lên giận dữ. Thướng đảo mắt nhìn. Hổ dữ phi thân từ bụi rậm tấn công một con lợn nòi đen trùi trũi đang lững thững kiếm ăn ngày bờ suối. Con lợn nòi to không kém "ông ba mươi" là mấy, cặp răng nanh sáng bóng, quặp vào nhau như chiếc gọng kìm.
Sau cú táp hụt của hổ dữ, con lợn quay vòng, lao vào chiến đấu với chúa sơn lâm. Trận chiến giữa hai mãnh thú rừng xanh diễn ra khoảng nửa tiếng. Bãi đất đá ven suối bị hai con vật cày nát như vừa có lũ ống quét qua. Thướng núp sau tảng đá, tim đập thình thình, đôi mắt không dám chớp. Thật bất ngờ, chiến thắng không thuộc về con vật vốn được mệnh danh là chúa tể của muôn loài. Con hổ có vẻ bị thương nặng hơn, lầm lũi quay trở lại rừng. Tưởng mọi chuyện đã xong, Thướng nhổm dậy, bất chợt bị con lợn nhìn thấy. Kẻ chiến thắng đang hăng tiết, mài mạnh móng chân xuống đấy, lao thẳng về phía Thướng.
“Tôi vội vàng nhảy xuống suối, vứt cả giỏ cá mà chạy nhưng không kịp. Tôi liền rút con dao đeo bên hông tấn công lại con lợn”, ông Thướng dùng con dao nhỏ huơ huơ thuật lại động tác đánh nhau với lợn nòi. Người – lợn vật nhau hồi lâu. Con lợn bị thương, máu me ướt đầm nên càng hăng máu. Thướng luồn người xuống dưới, siết chặt cổ con lợn, hòng tránh đôi nanh sắc lẹm. Con lợn bị ghì chặt liền dùng hai chân trước đạp mạnh vào bụng, vào lưng Thướng....
Móng vuốt của con vật cắm mạnh bụng Thướng. Máu tuôn ra. Chàng thiếu niên tuột tay. Con vật được đà lao tới cắn mạnh vào tay phải, đoạn giữa khủyu tay Thướng. Máu từ lưng, bụng thấm đỏ quần áo. “Con lợn nặng hai tạ rưỡi, da nó dày và cứng như đá, tôi đâm nhiều nhát vào người nó mà nảy cả dao. Biết cứ vật lộn thế này kiểu gì mình cũng chết nên tôi nhằm điểm yếu của nó mà đâm”.
Thướng chờ lúc con lợn sơ hở, lao đến đâm một nhát thật mạnh vào mang tai. Lưỡi dao cắm mạnh, xuyên qua hàm con lợn. Con lợn rống lên thảm thiết rồi đổ vật xuống lòng suối, nước bắn tung tóe. Thướng loạng choạng bò lên bờ, lột chiếc áo trên người quấn ngang bụng để cầm máu. Không hiểu bằng cách nào, Thướng đi thêm gần chục cây số đường rừng để quay về bản báo tin. Cũng lúc đó, chàng thiếu niên 15 tuổi ngã quỵ. Thầy lang đến nhà băng bó, cho Thướng uống thuốc. Ba tuần sau, Thướng mới tỉnh dậy, khắp người vẫn băng bó. ...
“Tôi nghe mọi người kể lại, hôm sau cả bản vào rừng khiêng con lợn về làm thịt chia nhau. Con lợn nặng chừng hai tạ rưỡi, riêng cái đầu cân được 25 cân. Chắc nó là lợn thành tinh rồi. Có cho chắc tôi cũng chẳng dám ăn đâu”, ông Thướng kể. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/11, tr5) đầu trang(
Hiện nay đã bước vào mùa khô, nguy cơ cháy rừng đang ở mức độ cao. Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, huyện Sốp Cộp đã chủ động kiểm tra, đôn đốc triển khai nhiều biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.
Sốp Cộp hiện có trên 74.200 ha; trong đó, có trên 40.000 ha rừng phòng hộ, trên 27.000 rừng sản xuất và trên 6.300 ha rừng đặc dụng, độ che phủ trên 51%. Là huyện có địa hình hầu hết là đồi núi cao, hiểm trở, dốc đứng; trong khi nhận thức của người dân còn hạn chế, lực lượng kiểm lâm mỏng, cơ sở vật chất cũng như kinh phí cho công tác PCCCR tại địa phương lại rất hạn chế.
Tuy nhiên, những năm gần đây, cùng với việc đẩy mạnh phát triển nghề rừng, huyện triển khai các hoạt động bảo vệ rừng; xây dựng phương án PCCCR, phát dọn thực bì; khoanh vùng trọng điểm rừng dễ cháy. Ngay từ đầu năm, Hạt kiểm lâm huyện đã phối hợp tổ chức tuyên truyền tại các xã trọng điểm về công tác quản lý, bảo vệ rừng, họp bản, cụm dân cư thu hút hơn hàng nghìn lượt người tham gia, góp phần nâng cao nhận thức của bà con, giảm đáng kể số vụ cháy rừng so với những năm trước.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 1 vụ cháy rừng do đốt nương, thiệt hại trên 1.000m2 rừng phòng hộ. Đến nay, huyện đã kiện toàn 9 ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã; thành lập 159 tổ, đội bảo vệ rừng, PCCCR  ở cấp bản với 2.288 người tham gia.
Tuy nhiên, hiện nay lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách mới được trang bị một số phương tiện, thiết bị, công cụ PCCCR như: 2 xe ô tô bán tải, 1 máy thổi gió, 16 loa cầm tay, 7 ống nhòm, 4 máy định vị GPS, 1 máy cắt thực bì và hàng trăm dao phát, cuốc, xẻng…
Trao đổi về công tác bảo vệ rừng, ông Lò Văn Chiển, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện, cho biết: Cùng với công tác trồng và chăm sóc rừng, Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã tập trung chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ rừng tại các cơ sở xã, bản, rút kinh nghiệm từ những vụ cháy rừng trước đây.
Ngoài việc vận động, tuyên truyền cho người dân về Luật Bảo vệ và phát triển rừng huyện còn giao đất, giao rừng đến từng hộ dân để quản lý và ký hợp đồng với người dân về chăm sóc, bảo vệ rừng, trong đó các cán bộ xã, bản làm trước để cho nhân dân noi theo, nhờ đó, số vụ cháy rừng, chặt phá rừng đã giảm hẳn, ý thức trách nhiệm người dân được nâng cao.
Vào thời điểm này, các xã đang gấp rút chuẩn bị mọi phương án đối phó với giặc lửa, các bản đã xây dựng đường băng cản lửa giữa các khu vực làm nương rẫy với khu có rừng. Tổ chức ký cam kết với từng bản và 100% hộ dân về bảo vệ rừng.
Hạt kiểm lâm cùng với các ngành liên quan vừa tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng, vừa triển khai các phương án PCCCR, phối hợp với công an, bộ đội, chính quyền các xã… trong công tác kiểm tra, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Sơn La 21/11) đầu trang(
PGS.TS.BS Trần Quang Bính, Trưởng khoa bệnh Nhiệt đới, BV Chợ Rẫy TP.HCM cho biết gần như ngày nào cũng có người bị rắn lục đuôi đỏ cắn chuyển đến BV Chợ Rẫy.
Những người bị rắn lục đôi đỏ cắn khi họ đang lao động, đang đi học, hoặc do đi bắt rắn... Những người dân bị rắn lục đuôi đỏ cắn ở H.Củ Chi, Q.Thủ Đức (TP.HCM) và ở các tỉnh như Tây Ninh, Long An, Đồng Nai… chuyển lên BV Chợ Rẫy, hầu hết đều được cứu sống.
Theo PGS Bính, cách phòng bệnh tốt nhất là người dân đừng để bị rắn cắn. Rắn lục đuôi đỏ thường bám ở trên cây và trên mặt cỏ, do vậy khi người dân đi vào vùng cây cỏ cần có cái cây khua động để rắn chạy đi. Còn những công nhân, nông dân làm ở những vùng có khả năng dễ bị rắn cắn thì nên mang ủng để tránh những con rắn nằm ở dưới đất. Những người thích đi bắt rắn để ngâm rượu cũng nên bỏ ý thích này.
Người bị rắn cắn sẽ rất hốt hoảng, lo sợ nên việc đầu tiên cần làm là phải trấn an người bị rắn cắn yên tâm trước, sau đó cần rửa ngay vết thương bị rắn cắn với nước sạch và xà bông.
Tiếp đó, là dùng băng ép nhẹ, chứ không dùng garô thắt vào rất nguy hiểm vì làm chân tay rất dễ bị thiếu máu, có thể phải đoạn chi. Cuối cùng, đưa ngay người bị rắn cắn đến cơ sở y tế để được chích huyết thanh kháng nọc rắn. (Tuổi Trẻ 23/11, tr9) đầu trang(
23-11, tại khoa Y học nhiệt đới (BV Đà Nẵng) có hơn 10 bệnh nhân đang điều trị do bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Ông Nguyễn Hoa (ngụ tổ 32, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, Đà Nẵng) kể vào tối 17-11, khi ông vừa đi bộ ra ngõ thì giẫm phải đuôi một con rắn lục đuôi đỏ nên bị cắn vào gót chân.
“Sau khi bị cắn, tôi nhờ người băng garô, chở đến bệnh viện. Vết rắn cắn nhỏ như mũi kim châm nhưng nhức và đau buốt”. Do không được garô đúng cách nên nọc độc lan nhanh trong máu của nạn nhân. Các bác sĩ phải truyền dịch liên tục để tống chất độc ra ngoài.
Cùng cảnh ngộ, ông Ngô Văn Hùng (trú phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) cũng bị rắn cắn ở chân. Ông Hùng kể khi đi qua một dự án khu dân cư đang xây dựng dở dang, cỏ mọc um tùm thì bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Bệnh viện phải liên tục kiểm tra máu của bệnh nhân để xem chất độc đã được đẩy hết ra ngoài chưa. “Thời gian gần đây ai cũng dễ dàng bắt gặp loài rắn này. Mới đây, hàng xóm của tôi cũng phát hiện ba con rắn lục nằm ở góc bếp” - ông Hùng nói.
Trước tình hình rắn lục đuôi đỏ xuất hiện ngày càng nhiều, tràn vào các khu dân cư, ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng, cho biết TP đã cử cán bộ kiểm lâm xuống các khu dân cư để truy tìm rắn lục đuôi đỏ.
Tại BV Đa khoa tỉnh Quảng Nam cũng đang điều trị cho tám bệnh nhân. Ông Võ Văn Toán (ngụ thị trấn Hà Lam, Thăng Bình, Quảng Nam) cho biết ông bị rắn cắn vào tối 13-11 và được đưa vào bệnh viện chữa trị gần một tuần nay. “Chúng tôi rất lo lắng vì rắn lục đuôi đỏ xuất hiện, tấn công người khắp nơi. Giờ đi lại ngoài đường, qua các khu vực cây cỏ rậm rạp rất nguy hiểm” - ông Toán nói.
Ngày 23-11, BV Đa khoa tỉnh Phú Yên cho biết chỉ trong hai tháng qua bệnh viện này tiếp nhận cấp cứu, điều trị 41 trường hợp bị rắn lục cắn, chủ yếu là rắn lục đuôi đỏ, nhiều nhất là bệnh nhân đến từ huyện Tây Hòa.
Theo BV Đa khoa huyện Tây Hòa, bệnh viện này đã cấp cứu, điều trị 22 ca bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Trong đó có năm người ở thôn Xuân Thạnh 2, xã Hòa Tân Tây. Tại khu phố Mỹ Lệ Tây, thị trấn Phú Thứ, chỉ trong ba đêm liên tiếp, ba người dân đã phát hiện, đập chết 25 con rắn lục đuôi đỏ tại cùng một địa điểm.
Bà Nguyễn Thị Điền (ngụ thôn Xuân Thạnh 2), nạn nhân mới nhất bị rắn lục đuôi đỏ cắn, cho biết cách đây gần một tuần, trong khi đang hái rau ở vườn nhà, bà bị con rắn thân màu xanh lá chuối non, đuôi đỏ to bằng ngón tay trỏ từ trong bụi rau tấn công. Sau khi cấp cứu tại BV Đa khoa huyện Tây Hòa, bà Điền được chuyển đến BV Đa khoa tỉnh Phú Yên điều trị. Cũng theo bà Điền, trước đó mấy ngày trong khi đang làm vườn, bà phát hiện và đập chết năm con rắn lục đuôi đỏ.
Ngoài ra, tại một số địa phương ở huyện Tây Hòa còn xuất hiện tin đồn có người lạ mặt mang cả bao rắn lục đuôi đỏ đi thả tại các vùng quê. Công an các xã thuộc huyện Tây Hòa khẳng định đây là tin đồn thất thiệt.
Còn tại Quảng Ngãi, từ đầu tháng 11 đến nay, bệnh viện đa khoa của địa phương này đã tiếp nhận hơn 40 trường hợp nhập viện do rắn lục đuôi đỏ cắn. Trong đó, có nhiều bệnh nhân bị nhiễm độc máu nặng phải chuyển đến BV Đà Nẵng chữa trị.
Cũng tại địa phương này xuất hiện tin đồn có người mang rắn thả vào nhà dân. Ngày 21-11, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi đã yêu cầu công an tỉnh khẩn trương vào cuộc điều tra, xác minh làm rõ thực hư để tránh gây hoang mang trong dân. (Pháp Luật TPHCM 24/11; Người Lao Động 24/11, tr2) đầu trang(
Trước tình trạng nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có người bị rắn cắn, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã có văn bản gửi UBND tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các cơ quan chuyên trách về việc triển khai các biện pháp hạn chế tình trạng người dân bị rắn cắn.
Tỉnh ủy Quảng Ngãi yêu cầu UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, xác định loài rắn cắn nhiều người trong thời gian qua có phải là rắn lục đuôi đỏ; nguyên nhân rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều bất thường trên địa bàn để kịp thời xử lý.
Công an tỉnh nắm tình hình, xác minh thông tin phản ánh của người dân về các đối tượng thả rắn ở một số địa phương có chính xác không. Sở Y tế tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng, sơ cấp cứu khi bị rắn cắn, đặc biệt là rắn lục; phát động phong trào toàn dân dọn vệ sinh, phát quang bụi rậm để tiêu diệt, xua đuổi rắn.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các hội đoàn thể có kế hoạch tuyên truyền đề cao cảnh giác về sự xuất hiện của rắn lục đuôi đỏ và chủ động có biện pháp phòng, tránh hiệu quả.
Theo thống kê của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi, từ đầu tháng 11 đến nay, trung bình mỗi ngày Bệnh viện tiếp nhận và điều trị từ 1 đến 2 ca bị rắn cắn. Địa phương có người bị rắn cắn nhiều như Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành và Tư Nghĩa.
Sáng 21.11, tại xã Nghĩa Trung, huyện Tư Nghĩa, Hạt kiểm lâm huyện đã phối hợp cùng lực lượng công an, người dân và đoàn viên thanh niên tổ chức phát quang bụi rậm và truy tìm rắn lục đuôi đỏ.
Trước đó, nhiều người dân xã Nghĩa Trung phát hiện rắn lục đuôi đỏ xuất hiện trong khu dân cư, có người phải nhập viện vì bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Sau khi rắn lục đuôi đỏ xuất hiện, nhiều người dân địa phương đã chủ động phát quang bụi rậm, trồng sả, mua củ nén để đuổi rắn.
Việc một số người đi hái cà gai leo (một loài thảo dược) trùng hợp với thời điểm rắn lục đuôi đỏ xuất hiện đã khiến người dân nghi ngờ đối tượng lạ thả rắn vào khu dân cư. Thời gian qua, câu chuyện này đã bị thổi phồng, thêu dệt quá mức.
Ông Nguyễn Văn Trung - Hạt trường Hạt kiểm lâm Tư Nghĩa khẳng định đến giờ này vẫn không phát hiện đối tượng nào thả rắn đuôi đỏ. “Bà con không nên hoang mang trước những tin đồn không có cơ sở”, ông Trung nói.
Theo khuyến cáo của bác sĩ, khi bị rắn cắn, cách tốt nhất là chuyển bệnh nhân vào bệnh viện để được truyền huyết thanh lọc độc tố. Những trường hợp khu vực bị rắn cắn cách xa bệnh viện thì phải sơ cứu bằng cách dùng vải quấn chặt phần trên vết cắn 10 đến 15cm. (Tin Tức 22/11; Lao Động 22/11) đầu trang(
19-11, tại đảo Ba Mùn (Vân Đồn), Ban Quản lý Vườn Quốc gia Bái Tử Long phối hợp với Chi cục Kiểm Lâm tỉnh tổ chức thả động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên.
Đợt thả động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên lần này bao gồm 12 cá thể rùa Răng, tên khoa học là Hieremys annandalii và 4 cá thể rùa Trung bộ, tên khoa học là Mauremys annamensis do ngành chức năng bắt giữ tại Móng Cái vào tháng 8 năm nay.
Ông Khúc Thành Liêm, Giám đốc Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Vườn Quốc gia Bái Tử Long cho biết: 16 cá thể rùa trên được Trung tâm tiếp nhận tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh từ ngày 12-8 và đã cứu hộ thành công. Sau thời gian 3 tháng, toàn bộ số cá thể rùa đều khỏe mạnh.
Đây là lần thứ 3 trong năm, trung tâm thả động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên bao gồm 162 cá thể, thuộc 6 loài khác nhau (mèo rừng; kỳ đà vân; diều hoa Miến Điện; rùa 3G, rùa đầu to, rùa Răng, rùa Trung bộ). Tỷ lệ cứu hộ sống đạt trên 85%, cao nhất so với các Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã trong cả nước. 16 cá thể rùa này đã được thả tại suối Vạn Lau, đảo Ba Mùn.
Việc thả cá thể động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên trên đảo Ba Mùn để tăng số lượng cá thể loài động vật rừng, góp phần tăng tính bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long. (Báo Quảng Ninh 19/11) đầu trang(
21-11, Phòng CSĐT tội phạm về môi trường Công an tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành kiểm tra kho chứa hàng của gia đình ông Nguyễn Văn Hải, SN 1969, ở tại thôn Mỏ Cầy, xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng, phát hiện và thu giữ lâm sản trái phép gồm nhiều thanh gỗ nghiến, gỗ tạp các loại.
Tổng cộng số gỗ không có nguồn gốc ở đây ước khoảng hơn 2 mét khối, với 90 hộp gỗ dài 1,7m x 0,7cm x 12cm và nhiều cục gỗ nghiến. Tất cả số gỗ này đều không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc. (An Ninh Thủ Đô 23/11) đầu trang(
Trước tình trạng hủy hoại rừng vẫn tiếp diễn khá tinh vi và phức tạp trên địa bàn (như ken gốc, bơm hóa chất vào thân cây…), UBND tỉnh Lâm Đồng làm việc với UBND thành phố Đà Lạt, UBND huyện Lạc Dương cùng các cấp ngành chức năng, đã thông qua các biện pháp tiếp tục tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Theo đó, mỗi tháng ít nhất 2 lần, lãnh đạo UBND cấp huyện phải trực tiếp đi kiểm tra những hiện trường trọng điểm về quản lý, bảo vệ rừng, kịp thời triển khai giải tỏa mọi trường hợp lấn chiếm rừng, đất rừng trái phép. Đồng thời hàng tháng tổ chức giao ban giữa lãnh đạo UBND cấp huyện với các cơ quan công an, kiểm lâm, tài nguyên môi trường, nhằm xác định từng vấn đề trọng tâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng để chỉ đạo giải quyết dứt điểm.
Về cơ quan chuyên trách quản lý, bảo vệ rừng phải huy động tối đa lực lượng tuần tra, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng khi vừa mới phát sinh; phối hợp với các cơ quan thẩm quyền nhanh chóng hoàn tất hồ sơ xử phạt nghiêm minh theo pháp luật đối với các đối tượng vi phạm đã bị lập biên bản quả tang hoặc qua điều tra khám phá… (Báo Lâm Đồng 21/11) đầu trang(
21/11, Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UN - REDD tổ chức Hội thảo Phương pháp phân tích không gian được sử dụng để hỗ trợ công tác lập kế hoạch REDD+ (đa lợi ích).
Tham dự hội thảo, có các đại biểu đến từ Ban Quản lý chương trình UN-REDD Việt Nam, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường lâm nghiệp thuộc Viện Điều tra - Quy hoạch rừng, Tổ chức Môi trường, Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc tại Việt Nam và đại diện ban quản lý rừng phòng hộ các huyện, thành phố, Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung phân tích không gian trong lập kế hoạch REDD + ở địa phương; các sáng kiến nhằm giảm phát khí thải nhà kính thông qua các hoạt động bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao độ che phủ và giá trị của rừng.
Cũng tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận để đi tới thống nhất kế hoạch thực hiện nội dung phân tích không gian hỗ trợ xây dựng Kế hoạch REDD + cấp tỉnh (PRAP). (Báo Lào Cai 21/11) đầu trang(
Nghị định 74 ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định sự phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh trong công tác bảo vệ rừng, và đến nay Quy chế phối hợp hoạt động giữa hai ngành này sẽ tạo sự gắn kết hơn, trách nhiệm hơn trong công tác bảo vệ rừng.
Từ trước đến nay, có thể nói lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ, PCCCR… Tuy nhiên ngoài Nghị định 74 của Chính phủ, hai ngành này vẫn chưa có một quy chế phối hợp hoạt động rõ ràng, cụ thể, thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ…
Ngày 4/11/2014, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký Quy chế hoạt động trong công tác bảo vệ rừng giữa lực lượng kiểm lâm với lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng khác, nhằm thống nhất hành động, huy động sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn có hiệu quả các vụ pha srừng, khai thác, vận chuyển, mua bán và kinh doanh trái phép lâm sản…
Các lực lượng này sẽ có nhiệm vụ phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ động vật hoang dã, bảo tồn thiên nhiên, pháp luật về PCCCR…
Phối hợp tuần tra, kiểm tra, truy quét kịp thời, phát hiện những tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về rừng; bắt giữ người, dẫn giải đối tượng vi phạm, thu giữ tang vật, bảo vệ hiện trường, lập biên bản vi phạm, thi hành quyết định vi phạm hành chính, lập hồ sơ vi phạm, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng ngành và quy định pháp luật.
Đồng thời tham mưu UBND các cấp xây dựng các phương án bảo vệ rừng và PCCCR; lập kế hoạch tổ chức truy quét các điểm nóng vi phạm; hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân có rừng xây dựng phương án, kế hoạch bảo vệ rừng và PCCCR trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; kiểm tra, thẩm định việc bố trí lực lượng, trang bị dụng cụ, phương tiện kỹ thuật, xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng…
Ở Quy chế này, ngoài việc quy định trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh trong việc chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện thực hiện và phân cấp thực hiện các công việc trong giáo dục, tuyên truyền, phát hiện xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phát triển, bảo vệ rừng…
Quy chế còn tập trung vào phân rõ trách nhiệm phối hợp giữa Hạt Kiểm lâm và Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện như khi xảy ra cháy rừng cần phải huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy thì cơ quan kiểm lâm chủ trì phối hợp với cơ quan quân sự tham mưu UBND huyện điều động lực lượng, phương tiện tham gia chữa cháy rừng, khắc phục hậu quả.
Lực lượng kiểm lâm chủ trì phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ, chủ rừng và các lực lượng khác trên địa bàn tổ chức tuần tra, truy quét các trọng điểm vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng; bố trí lực lượng tại các trạm, chốt, điểm lưu thông, chế biến kinh doanh lâm sản tập trung; truy bắt đối tượng vi phạm có hành vi trốn chạy, tẩu tán tang vật, chống người thi hành công vụ.
Khi phát hiện vi phạm lực lượng kiểm lâm chủ trì phối hợp với Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã để bắt giữ người, thu giữ tang vật, bảo vệ hiện trường, xác minh thông tin liên quan, làm căn cứ xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Đối với lực lượng kiểm lâm cấp xã và Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã: Kiểm lâm địa bàn phải thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin cho Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã về từng loại rừng trên địa bàn; chủ trì phối hợp với Ban Chỉ huy quân sự cấp xã tham mưu Chủ tịch UBND xã xây dựng phương án bảo vệ rừng thuộc phạm vi của mình, xử lý những hành vi vi phạm. Lực lượng kiểm lâm địa bàn phải nắm chắc từng loại rừng trên địa bàn, phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng và tham gia giải quyết các điểm nóng về bảo vệ rừng.
Lực lượng dân quân tự vệ phải phối hợp với lực lượng kiểm lâm và các lực lượng khác thực hiện việc mai phục, truy bắt, dẫn giải những đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, áp tải tang vật, phương tiện vi phạm, tuần tra kiểm tra việc bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương án do kiểm lâm địa bàn chủ trì soạn thảo, dưới sự điều hành của Chủ tịch UBND xã. Trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội phải kết hợp với nhiệm vụ bảo vệ rừng; khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng phải ngăn chặn và báo cáo ngay cho Chủ tịch UBND xã.
Quy chế còn quy định khi phối hợp hoạt động với các lực lượng khác phải đảm bảo đoàn kết, hỗ trợ với nhau trong khi làm nhiệm vụ nhưng không ảnh hưởng đến chức năng, nhiệmv ụ của từng lực lượng; phải giữ bí mật về phương án và các biện pháp xử lý theo quy định của người chỉ huy có thẩm quyền. (Kontum.gov.vn 21/11) đầu trang(
Phù Ninh có 3.212ha đất lâm nghiệp, chiếm 20% diện tích đất tự nhiên.  Diện tích rừng không nhiều, mà chủ yếu là rừng trồng nên thường chịu sự tác động của con người. Vì vậy, Hạt Kiểm lâm Phù Ninh xác định tuyên truyền là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ và phát triển rừng.
Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ rừng PCCCR, Hạt Kiểm lâm Phù Ninh  đã tham mưu cho UBND huyện củng cố, kiện toàn BCH các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, PCCCR cấp huyện và cấp xã. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 12/2003/Ct-TTg và Chỉ thị 08/Ct-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng.
Ông Phạm Thành Đô - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Phù Ninh cho biết: “Hàng năm, chúng tôi  tham mưu UBND huyện ban hành triển khai các văn bản về quản lý bảo vệ rừng PCCCR để tuyên truyền phổ biến đến các xã, thị trấn. Kiểm lâm địa bàn đã tham mưu cho chính quyền địa phương các xã xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng, PCCCR, củng cố kiện toàn, duy trì hoạt động các tổ đội phòng chống chữa cháy rừng ở cơ sở.
Đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng cán bộ hợp đồng bảo vệ rừng các xã nắm địa bàn, tăng cường tuần tra, kiểm tra rừng tuyên truyền trực tiếp, nhắc nhở nhân dân sống ven rừng, gần rừng không mang lửa vào rừng, khoanh vùng rừng trọng điểm, rừng giáp ranh dễ xảy ra cháy, thực hiện nghiêm túc trực 24/24 giờ nhằm phát hiện sớm, kịp thời ngăn chặn nếu có xảy ra cháy rừng.
Để làm tốt công tác bảo vệ phát triển rừng PCCCR, Hạt Kiểm lâm Phù Ninh luôn chú trọng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng trong cộng đồng dân cư thông qua các lớp  tổ chức tại các cụm xã. Hạt cũng đã phối hợp với Đài truyền thanh huyện và các xã tổ chức tuyên truyền qua băng đĩa về công tác bảo vệ rừng, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, thông tin cảnh báo cháy rừng. Tuyên truyền theo hình thức phát tờ rơi, tờ gấp…”.
Chỉ tính riêng 9 tháng, Hạt đã tổ chức 4 buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng, PCCCR tại khu dân cư với 200 người tham gia; phối hợp với Đài truyền thanh huyện và các xã tổ chức tuyên truyền qua băng đĩa 10 buổi về công tác bảo vệ rừng và hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, thông tin dự báo, cảnh báo cháy rừng tại các xã: Phù Ninh, Tiên Phú, Trạm Thản, Phú Lộc, Phú Mỹ, Liên Hoa, Trung Giáp. Hạt cũng đã xây mới 1 pa nô áp phích cảnh báo cháy rừng tại xã Tiên Phú; phát 1.000 tờ rơi, tờ gấp đến các hộ tham gia trồng rừng dự án, các chủ rừng, cộng đồng dân cư sống ven rừng, gần rừng.
Vào mùa hanh khô, lực lượng kiểm lâm Phù Ninh đã tổ chức kiểm tra đối với các chủ rừng, UBND các xã, các đơn vị, lâm trường đóng trên địa bàn việc thực hiện phương án bảo vệ rừng, PCCCR mùa hanh khô, tuyên truyền, nhắc nhở các đơn vị, chủ rừng chủ động PCCCR.
Do làm tốt công tác tuyên truyền nên  cùng với bảo vệ rừng, công tác phát triển rừng trên địa bàn ngày càng  được chú trọng. Trước đây trình độ canh tác còn lạc hậu, năng suất cây trồng không cao, đặc biệt việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm, đời sống người dân các xã có rừng còn gặp nhiều khó khăn.
Bằng hình thức tuyên truyền vận động, tổ chức cho cán bộ chủ chốt đi tham quan học tập kinh nghiệm, hỗ trợ giống cây con cho các hộ dân, xây dựng mô hình trình diễn… đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc trồng rừng. Bên cạnh việc mở các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, PCCCR  ngay tại khu dân cư, còn  biên soạn cấp phát tài liệu và tăng cường tuyên truyền trên hệ thống đài truyền thanh huyện, xã.
Phong trào trồng rừng phát triển mạnh vào những năm gần đây. Đặc biệt, nhờ có sự quan tâm hỗ trợ của nhà nước qua dự án 661, chương trình bảo vệ và phát triển rừng đã tạo điều kiện cho bà con được chuyển giao tiến bộ KHKT áp dụng vào sản xuất, có điều kiện đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng. Nếu như trước đây bà con canh tác theo kiểu cũ, lạc hậu thì những năm gần đây đã được áp dụng tiến bộ KHKT,  mạnh dạn đầu tư vốn trồng rừng thâm canh.
Nhiều hộ tích cực đưa cơ giới hóa vào trồng rừng như: Máy cày, cuốc hố. Cùng với đó, cơ cấu cây trồng đã thay đổi, nhiều diện tích bạch đàn chồi kém hiệu quả đã dần được thay thế bằng cây keo lai hạt ngoại hoặc bạch đàn mô. Nhờ vậy năng suất, chất lượng rừng trồng tăng lên đáng kể. Trước đây bạch đàn không đầu tư chăm sóc chỉ đạt năng suất 30-35m3/ha thì nay keo có đầu tư thâm canh cho năng suất bình quân 80m3/ha. Hiệu quả kinh tế tăng lên rõ rệt. Mặc dù quỹ đất không nhiều nhưng mỗi năm huyện trồng mới 100-150ha rừng. Trên địa bàn huyện không còn đất trống, đồi núi trọc.
Cùng với phát triển rừng, trên địa bàn huyện đã phát triển chăn nuôi, chế biến gỗ đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nghề rừng đã  góp phần xóa đói, giảm nghèo cho bà con nơi đây, nhiều gia đình vươn lên thoát nghèo và làm giàu trên chính mảnh đất quê hương. (Báo Phú Thọ 21/11) đầu trang(
UBND huyện Phú Lương tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Phú Lương năm 2014.
Năm 2014, trên địa bàn huyện Phú Lương, tình trạng khai thác rừng và mở đường trái phép tràn lan trong khu vực rừng phòng hộ có chiều hướng gia tăng, gây tác động xấu đến công tác quản lý bảo vệ rừng. Nổi bật là 2 vụ việc khai thác rừng phòng hộ trái phép quy mô lớn tại xóm Bản Cái, xã Ôn Lương, và một số vụ khai thác trái phép xảy ra tại xã Yên Ninh, Yên Lạc…
Tại Hội nghị, đại diện các địa phương, cũng như chủ rừng đã chỉ ra những nguyên nhân để dẫn đến tình trạng trên là do: việc áp dụng chính sách khai thác rừng phòng hộ còn rườm rà, không phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương dẫn đến việc người dân ngại làm thủ tục xin cấp phép khai thác, nhất là đối với diện tích nhỏ lẻ; do nhận thức của người dân còn hạn chế về tầm quan trọng của rừng phòng hộ trong sinh hoạt và sản xuất; mặt khác do diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn rộng khó khăn trong công tác tuần tra, kiểm soát…
Để hạn chế tình trạng khai thác rừng trái phép, trong thời gian tới, 6 xã có rừng phòng hộ cần tuyên truyền sâu rộng tới người dân về luật bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản về quản lý, bảo vệ khai thác rừng phòng hộ. Bên cạnh đó, cần có chính sách thay đổi cơ cấu cây trồng trong rừng phòng hộ, trồng những loại cây có chức năng phù hợp với phòng hộ của rừng. (Đài PTTH Thái Nguyên 20/11) đầu trang(
21/11, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hoá và tỉnh Nghệ An đã tổ chức hội nghị giao ban công tác phối hợp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng vùng giáp ranh 2 tỉnh năm 2014.
2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An có 141km chiều dài giáp ranh, địa bàn chủ yếu nằm ở đầu nguồn sông Chu và sông Hiếu. Đây là khu vực có nguồn tài nguyên rừng tương đối phong phú, tuy nhiên, địa hình phức tạp, công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng gặp nhiều khó khăn.
Trong những năm qua, lực lượng kiểm lâm 2 tỉnh Thanh Hoá - Nghệ An đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động xâm canh, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép và phối hợp xây dựng được nhiều mô hình bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng có hiệu quả...
Trong thời gian tới, lực lượng kiểm lâm 2 tỉnh tiếp tục bám sát chức năng, nhiệm vụ, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tích cực tham mưu cho chính quyền các địa phương vùng giáp ranh xây dựng phương án bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, tăng cường phối hợp công tác nghiệp vụ, làm tốt việc tuần tra, canh gác, xây dựng và mở rộng những mô hình tốt về bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, hướng đến xã hội hoá công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng. (Nghean.gov.vn 21/11) đầu trang(
20/11, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN& PTNN) phối hợp với tổ chức UN-REDD tổ chức hội thảo đánh giá nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng và xác định giải pháp thích hợp đối với các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Khai mạc hội thảo, ông Tô Mạnh Tiến, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT phân tích nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng, từ đó xác định các hoạt động hạn chế tình trạng trên, nâng cao chất lượng và độ che phủ rừng để lập kế hoạch cấp tỉnh cho Chương trình UN-REDD giai đoạn II, kết quả phân tích sẽ trở thành căn cứ xác định địa điểm thực hiện các hoạt động REDD+, hiện Lào Cai là một trong 6 tỉnh của Việt Nam thí điểm triển khai hoạt động REDD+.
Tại hội thảo, đại diện các huyện, xã đã tập trung thảo luận về nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng và đề xuất giải pháp hạn chế thực trạng trên tại các địa phương. Qua đó, xác định nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng là do chuyển đổi rừng sang đất nông nghiệp, thu hoạch và quản lý rừng tự nhiên không bền vững, cháy rừng, khai thác khoáng sản, trồng thảo quả.
Giải pháp hạn chế mất rừng, suy thoái rừng và hoạt động REDD+ được lựa chọn đó là đánh giá, phân loại và thực hiện phân bổ rừng, nâng cao năng suất và hỗ trợ tạo ra các môi trường thuận lợi, phát triển sinh kế bền vững, lập kế hoạch quản lý rừng bền vững trong cộng đồng. (Báo Lào Cai 20/11) đầu trang(
Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia, mùa khô hanh năm 2014 – 2015 tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp. Để chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, UBND tỉnh vừa có Công điện số 19/CĐ-UBND về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2014 – 2015.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban ngành, đoàn thể, UBND các địa phương trong tỉnh và các chủ rừng cần tập trung triển khai thực hiện một số nội dung: Chủ tịch UBND các huyện, thị, thành phố cần triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; kiện toàn hệ thống Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên gắn với địa bàn được giao nhiệm vụ; chỉ đạo các xã, phường, thị trấn tăng cường quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Những địa phương nào để xảy ra cháy rừng thì Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với các địa phương tăng cường kiểm tra công tác quản lý bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng, đặc biệt là những nơi có nguy cơ cháy rừng cao; bố trí cán bộ, công chức tổ chức thường trực 24/24 giờ tại các vùng trọng điểm để theo dõi và nắm bắt tình hình, kịp thời xử lý khi có cháy rừng xảy ra; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát người ra vào địa bàn các xã và người ra vào rừng, nhất là các huyện thường có dân di cư tự do đi, đến như: Mường Nhé, Nậm Pồ, Mường Chà, Điện Biên Đông, Tủa Chùa.
Ngoài ra, Giám đốc Sở NN&PTNT cũng cần chỉ đạo Chi cục Lâm nghiệp tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các chủ rừng, các Ban quản lý rừng phòng hộ trong thiết kế trồng rừng phải xây dựng các công trình phòng cháy, xử lý thực bì để trồng rừng đảm bảo an toàn tuyệt đối về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Các cơ quan báo chí, lực lượng vũ trang tỉnh và các sở, ban ngành, đoàn thể, tổ chức doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần tăng cường thời lượng phát sóng, thông tin tuyên truyền các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng và kịp thời biểu dương gương “người tốt, việc tốt”; rà soát quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương các cấp; tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục nâng cao ý thực phòng cháy, chữa cháy rừng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị… (Đài PTTH Điện Biên 20/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ giữa tháng 11 đến nay, tại tiểu khu 227a, thuộc địa bàn thôn Đạ Nghịt, xã Lát, H.Lạc Dương (Lâm Đồng) diễn ra cảnh triệt hạ rừng thông phòng hộ xung yếu để khai thác đá.
Theo Trạm kiểm lâm Suối Cạn Đạ Nghịt (Lạc Dương), khu rừng trên do Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim (Ban Quản lý rừng Đa Nhim) quản lý bảo vệ. Từ năm 2011, UBND tỉnh cho Công ty TNHH Vạn Trường Đức (Công ty Vạn Trường Đức) thuê 1,5 ha trong 5 năm để khai thác đá xây dựng thông thường, đến năm 2013 diện tích cho thuê nâng lên 2,5 ha.
Việc khai thác đá trong rừng phòng hộ là vi phạm pháp luật. Vì theo điểm b, khoản 1, điều 28 luật Khoáng sản, thì “Khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản là khu vực đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ hoặc đất quy hoạch trồng rừng phòng hộ, khu bảo tồn địa chất”. Nhưng Sở NN-PTNT đã lập tờ trình đề nghị UBND tỉnh cho chuyển đổi khu rừng phòng hộ này ra ngoài... đất rừng. Ngày 24.7.2014, UBND tỉnh có quyết định đồng ý cho chuyển đổi 2,5 ha rừng đặc dụng xung yếu sang mục đích khác, không phải đất lâm nghiệp, để Công ty Vạn Trường Đức khai thác đá.
Từ quyết định trên, Công ty Vạn Trường Đức làm thủ tục mua đứt 265 cây thông trong khu rừng phòng hộ trên (đường kính từ 25 đến 80 cm); rồi bán cho Công ty Phương Thành (Đà Lạt) chặt hạ để giải phóng mặt bằng khai thác đá. Người dân địa phương bức xúc vì khu rừng thông phòng hộ tuyệt đẹp bên dòng Suối Cạn Đạ Nghịt bị triệt hạ không thương tiếc.
Theo ông Phạm Triều, Phó chủ tịch UBND H.Lạc Dương, trước khi cho chuyển đổi khu rừng trên ra “ngoài rừng”, đã có nhiều ban, ngành đến kiểm tra, “còn đồng ý hay không là ở Sở TN-MT Lâm Đồng”.
Ông Lê Văn Minh, Giám đốc Sở NN-PTNT thì nói: “Mọi thủ tục giao đất rừng cho doanh nghiệp khai thác đá đều do Sở TN-MT làm. Sở NN-PTNT chỉ điều chỉnh lại đất rừng cho phù hợp theo chỉ đạo của cấp trên thôi”.
Quyết định số 1564/QĐ-UBND của UBND tỉnh yêu cầu đơn vị thuê rừng khai thác đá tại tiểu khu 227a phải hoàn nguyên diện tích và giao lại cho Ban Quản lý rừng Đa Nhim sau thời gian thuê; nhưng một cán bộ lâm nghiệp cho rằng việc hoàn nguyên cả một quả đồi sau khi khai thác đá là điều không tưởng.
Ông Nguyễn Văn Thành, đại diện Công ty An Phu Lacue (đơn vị liên doanh với Nhật Bản mở “làng thần kỳ”, chỉ cách mỏ đá 200 m), chuyên sản xuất xà lách Mỹ công nghệ cao, bức xúc: “Việc phá rừng để khai thác đá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của người dân quanh vùng và của làng”. (Thanh Niên 24/11) đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND tỉnh Bình Phước kiểm tra việc giao đất, cho thuê đất sản xuất nông lâm nghiệp cho các đối tượng có liên quan trên địa bàn; đề xuất biện pháp xử lý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo UBND tỉnh Bình Phước thực hiện nghiêm túc văn bản số 586/VPCP-KTN ngày 24/1/2014 về việc rà soát các dự án chuyển đổi rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước theo Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Trước đó, PV đã đăng loạt bài phản ánh về việc cấp đất rừng trồng cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Theo như phản ánh, trong khi rất nhiều người dân thiếu đất sản xuất nhưng không tìm ra quỹ đất mới thì một số cán bộ, vợ, con... giám đốc các sở, ngành của tỉnh Bình Phước lại được “ban phát” hàng chục hecta đất rừng để trồng cao su.
Cũng theo PV phản ánh, Bình Phước là một tỉnh có nhiều người nghèo, thiếu đất sản xuất. Mặc dù Bình Phước cũng triển khai các chính sách giao đất, hỗ trợ đất sản xuất cho các hộ dân này nhưng tới nay việc thực hiện còn hạn chế do tỉnh thiếu quỹ đất. Nhiều hộ dân có nhu cầu sản xuất đã đi lấn chiếm đất của lâm trường, chặt phá rừng... để sản xuất.
Theo báo cáo của Thanh tra tỉnh Bình Phước về tình hình cấp đất sản xuất cho các hộ dân theo chính sách an sinh xã hội, tính đến tháng 7/2014, tổng số hộ có nhu cầu cấp đất sản xuất tới hơn 8.000 hộ, với diện tích có nhu cầu hơn 6.148ha. (Chính Phủ 21/11; Nông Thôn Ngày Nay 22/11, tr2) đầu trang(
Với diện tích rừng tương đối lớn, Việt Nam có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều loài lâm sản ngoài gỗ chưa được khai thác, bảo tồn hiệu quả, thậm chí có nguy cơ biến mất.
Tại Diễn đàn Khuyến nông-nông nghiệp chuyên đề “Phát triển cây lâm sản ngoài gỗ vùng miền núi phía Bắc” được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức mới đây, các chuyên gia đã đưa ra nhiều giải pháp cũng như những định hướng giúp khai thác, phát triển lâm sản ngoài gỗ một cách hiệu quả.
Với 2.000 loài lâm sản ngoài gỗ là cây thân gỗ; 3.000 loài cho dược liệu; 400 loài cho lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc; 500 loài cho tinh dầu, lâm sản ngoài gỗ được coi là lĩnh vực có vị trí quan trọng trong ngành lâm nghiệp (chiếm 20-25% giá trị sản xuất lâm nghiệp hàng năm).
Lâm sản ngoài gỗ gắn liền với cuộc sống của 24 triệu đồng bào miền núi sống trong và gần rừng, có nơi nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 10-20% trong thu nhập kinh tế hộ gia đình.
Gây trồng lâm sản ngoài gỗ trên diện tích đất lâm nghiệp được giao hoặc khai thác, thu hái lâm sản ngoài gỗ từ rừng tự nhiên và chế biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng vạn lao động khu vực nông thôn.
Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến năm 2014, có khoảng 36/63 tỉnh gây trồng, thu hái lâm sản ngoài gỗ với diện tích 1,6 triệu ha, chiếm 13% diện tích đất có rừng trong phạm vi toàn quốc, trong đó diện tích lâm sản ngoài gỗ có khả năng khai thác, thu hái từ rừng tự nhiên là 1,1 triệu ha; diện tích lâm sản ngoài gỗ được trồng là 469.794ha.
Cơ cấu các loại cây lâm sản ngoài gỗ chủ yếu là tre, nứa, trúc hơn 769.400ha (chiếm 47%); song, mây hơn 381.900ha (22,4%); thông nhựa hơn 255.700ha (15,6%); quế gần 81.000ha (4,9%). Lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ.
Hiện, ở Việt Nam có gần 4.000 loài cây có giá trị cung cấp nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe cho con người, 216 loài tre trúc và 30 loài song mây có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hiện có ít nhất 150 mặt hàng lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại như mật ong, nấm, các loại hương liệu, song, mây, tre, trúc... Đây cũng là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế.
Theo phó giáo sư-tiến sỹ.Nguyễn Huy Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên nhiệt đới chiếm chưa tới 50% tổng sinh khối của rừng, còn lâm sản ngoài gỗ có thể chiếm hơn 50% tổng sinh khối. Vì thế, lâm sản ngoài gỗ có vai trò hết sức quan trọng trong các hệ sinh thái rừng, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu như hiện nay.
Tuy nhiên, ông Sơn nêu một thực tế do cách khai thác theo kiểu tận diệt, chưa có các biện pháp bảo tồn nguồn gen hiệu quả nên nhiều loài lâm sản ngoài gỗ đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng.
Theo các nhà khoa học, thì cứ sau 20 phút, trên phạm vi toàn cầu lại có thêm một loài động vật hoặc thực vật bị tuyệt chủng. Trong vòng 50 năm gần đây, tốc độ tuyệt chủng của các loài vi sinh vật đã tăng lên 40 lần so với thời kỳ cách mạng công nghiệp.
Tại Việt Nam, ghi nhận trong những năm qua có tới 10 loài quý hiếm đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên; ngoài ra còn có 882 loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng.
Để giúp người dân khai thác hiệu quả các loài lâm sản ngoài gỗ, từ đó góp phần bảo vệ rừng, nâng cao thu nhập, từ nhiều năm qua, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và hệ thống khuyến nông các địa phương đã xây dựng nhiều mô hình trồng các loài cây lâm sản ngoài gỗ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, như trồng cây mây K83, macca, quế, thảo quả, sở, sơn ta.
Đơn cử như mô hình trồng cây mây K83 được triển khai tại Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh với diện tích 454ha, 420 hộ tham gia. Cây mây K83 trồng một lần cho thu hoạch thời gian từ 30-40 năm sau, sợi mây K83 bóng trắng tự nhiên, dẻo bền, mịn thớ. Sau 4-5 năm có thể thu hoạch được 3-4 tấn/ha, với giá thu mua hiện tại là 3,5 triệu đồng/tấn thì 1ha có thể thu được 10-14 triệu đồng.
Dự án trồng cây lâm sản ngoài gỗ dược liệu ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Giang với các loài như ba kích, kim tiền thảo, sa nhân (diện tích 180ha, 940 hộ tham gia) cũng thu được kết quả khả quan. Tỷ lệ cây sống đạt trên 85%, cây sinh trưởng, phát triển tốt, không có sâu bệnh hại.
Cụ thể như ba kích, sau năm đầu cây bắt đầu bám giá thể, sang năm thứ hai 100% số cây đã leo giàn. Hiện, 100% số cây trong mô hình đã có củ. Theo tính toán sơ bộ, với 1ha cây ba kích, sau 5 năm trồng, người dân sẽ thu được lợi nhuận khoảng 228 triệu đồng, mô hình trồng kim tiền thảo đạt khoảng 79 triệu đồng/ha.
Theo tiến sỹ Nguyễn Viết Khoa, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, mô hình trồng kim tiền thảo giúp bà con nâng cao thu nhập vì kim tiền thảo được trồng chủ yếu dưới đồi vải hoặc diện tích cây ăn quả vườn nhà, góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân.
Dự án trồng cây lâm sản ngoài gỗ làm thực phẩm triển khai ở ba tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái (diện tích 213,6ha, 270 hộ tham gia) với các loại cây thảo quả, măng Bát độ cũng đang phát triển tốt.
Với cây thảo quả, tỷ lệ cây sống đạt 88%, cây sinh trưởng phát triển tốt và đã cho quả bói, dự kiến sau 5 năm trồng, năng suất đạt 150 kg quả/ha. Với cây măng tre Bát độ, tỷ lệ cây sống đạt 86%, năng suất bình quân sau 5 năm dự kiến đạt 70-80 tấn/ha.
Từ hiệu quả của những mô hình trên, có thể khẳng định phát triển lâm sản ngoài gỗ là một trong những hướng đi để khai thác bền vững tài nguyên rừng, vừa góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, vừa là giải pháp thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Vì vậy, theo ông Sơn, việc quản lý tài nguyên lâm sản ngoài gỗ phải được chú trọng tương đương với các loại lâm sản khác và phải được đưa vào Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Bên cạnh đó, việc khai thác, sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm ngoài gỗ cũng phải được kiểm soát chặt chẽ.
Ngoài ra, cần có phương án đánh giá, phân loại lâm sản ngoài gỗ theo thứ tự ưu tiên, từ những loài có giá trị cao đến thấp theo từng vùng sinh thái hoặc theo từng địa phương để có phương án bảo tồn, phát triển, nhất là những loài có nguy cơ tuyệt chủng.
Cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chọn tạo giống, gây trồng, khai thác, sơ chế, bảo quản sản phẩm, chuyển giao cho nông dân để bà con gây trồng, khai thác hiệu quả; đề xuất các cơ chế, chính sách để khuyến khích bảo tồn và phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ gắn với bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời nghiên cứu thị trường và tiêu chuẩn chất lượng của từng loại lâm sản ngoài gỗ để đảm bảo giá cả ổn định.
Theo tiến sỹ Trần Văn Khởi, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, trên cơ sở kết quả của những mô hình đã xây dựng, trong thời gian tới, lực lượng khuyến nông sẽ tăng cường năng lực cho người dân để phát triển một số loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị hàng hóa theo các nhóm loài như làm dược liệu, thực phẩn, nguyên liệu chế biến; nâng cao năng suất, chất lượng thông qua giới thiệu tiến bộ kỹ thuật về giống mới có năng suất, chất lượng cao, sản xuất bằng phương pháp mô, hom thích ứng với điều kiện kập địa trồng khác nhau, đồng thời giới thiệu các kỹ thuật canh tác để tăng năng suất, chất lượng cây trồng.
Ngoài ra, các địa phương, ngành chức năng cũng cần tạo mối liên kết giữa các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm với nông dân nhằm tạo ra vùng sản xuất hàng hóa ổn định cho một số loài lâm sản ngoài gỗ, gắn phát triển với bảo tồn lâm sản ngoài gỗ, nâng cao nhận thức cho người dân để bảo tồn các loài lâm sản ngoài gỗ quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam 2006-2020, định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đến năm 2020 dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ).
Đến năm 2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong những ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu tăng bình quân 15-20%, thu hút khoảng 1,5 triệu lao động, thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 15-20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn. (VietnamPlus 22/11) đầu trang(
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đặc thù hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), trong đó có chính sách giao đất lâm nghiệp và giao rừng (GĐGR) cho hộ gia đình và cộng đồng buôn làng là đồng bào DTTS, nhằm tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và góp phần bảo vệ rừng.
Nhưng quá trình thực hiện còn nhiều bất cập, người DTTS chưa sống được bằng nghề rừng.
Theo tiến sĩ Đặng Kim Sơn, một trong các chuyên gia tham gia Tiểu dự án Hỗ trợ giảm nghèo PRPP-UBDT do Chương trình phát triển LHQ (UNDP) hỗ trợ thực hiện, cho biết: Qua nghiên cứu hiệu quả các chính sách GĐGR đối với đồng bào DTTS tại bốn khu vực thuộc các tỉnh miền núi phía bắc, miền trung, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ gồm các xã: Xuân Đài (huyện Tân Sơn, Phú Thọ, nơi có vườn quốc gia Xuân Sơn); Xuân Thọ (huyện Như Thanh, Thanh Hóa; có rừng phòng hộ SIM); Thượng Lộ (huyện Nam Đông, Thừa Thiên-Huế); Gung Ré (huyện Di Linh, Lâm Đồng)... hầu hết người dân được hỏi đều có biết chính sách GĐGR, nhưng chưa rõ quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như các chính sách hỗ trợ; thông tin về nguồn quỹ đất...
Trong khi đó, chính quyền và các tổ chức khi GĐGR lại chưa căn cứ vào nhu cầu, khả năng quản lý, tập quán sinh kế, văn hóa truyền thống của mỗi DTTS mà thường giao cho hộ gia đình, không phân biệt DTTS; hộ ở đâu giao đó; hộ có điều kiện chi trả chi phí GĐGR thì được giao nhiều; hộ dám nghĩ dám làm, có khả năng được nhận nhiều đất...
Vì vậy, có hộ không dám nhận đất, đến khi muốn nhận thì không còn, hoặc đất đã được giao cho các hộ ngoài địa phương khác, như trường hợp tại xã Xuân Sơn (Phú Thọ) có gần 100 ha rừng sản xuất được Ban quản lý rừng phòng hộ giao cho người ở xã khác quản lý.
Diện tích đất giao cho DTTS thường rất nhỏ lẻ, nhất là tại các tỉnh miền núi phía bắc, miền trung, mỗi hộ thường chỉ được giao từ hai đến ba ha, nên không đáp ứng được đặc thù của nghề rừng. Đã thế nhiều phần diện tích đất được giao có kết cấu địa chất xấu, nằm trên vùng sườn núi dốc, hay đất thuộc rừng nghèo, tiếng là rừng nhưng chỉ còn lau lách, tre nứa, hệ sinh thái và khu hệ động thực vật đã bị tác động. Tệ hơn, có nơi giao đất rừng cho các hộ dân không hợp lý, cách nơi ở tới 10km, như ở xã Phan Dũng, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Quản lý yếu kém Quá trình triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ người dân chưa gắn với GĐGR, nhất là định mức thấp. Hiện mức chi trả tiền khoán bảo vệ rừng trung bình là 200 nghìn đồng/ha/năm cho một hộ có trung bình bốn khẩu và nếu có thêm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thì được 350 nghìn đồng/ha/năm.
Trong khi đó, theo thống kê tại Quyết định số 3322/QĐ-BNNTCLN ngày 28-7-2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hiện trạng rừng toàn quốc, hiện quỹ đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý là gần 2,3 triệu ha, nếu chia cho 22 triệu người DTTS đang sinh sống thì được khoảng 1,2 ha/người. Với mức khoán như hiện nay, không kể "nguồn lợi" hết sức khiêm tốn từ rừng như củi cành, giò phong lan, ngọn măng... mỗi năm mức hưởng lợi từ rừng của người dân cao nhất cũng chỉ đạt khoảng ba đến bốn triệu đồng, nên người dân không có động lực để bỏ thêm chi phí đầu tư phát triển rừng.
Người được GĐGR thì như vậy, còn ban quản lý rừng thì thiếu trang thiết bị, công cụ, phương tiện phục vụ bảo vệ rừng, xử lý tranh chấp đất đai, nhất là thiếu kinh phí cho công tác đo đạc, cắm mốc, dẫn đến GĐGR không đúng giữa bản đồ và thực tế nên không quản lý được.
Do không bố trí được kinh phí từ cả trung ương và địa phương nên nhiều chính sách hỗ trợ không triển khai được hoặc không liên tục, như Ban quản lý rừng phòng hộ SIM (Thanh Hóa) có năm chỉ "xin" được 50% kinh phí. Hay thiếu tiền hỗ trợ tái định cư cho người dân như cam kết ban đầu, dẫn đến "quỵt" tiền của dân như trường hợp 30 hộ đồng bào Dao Tiền tái định cư từ vùng lõi Vườn quốc gia Xuân Sơn được phổ biến mỗi hộ sẽ được trợ cấp 50 triệu đồng khi di dời, nhưng thực tế chỉ được nhận năm triệu đồng/hộ!
Một số cán bộ quản lý rừng năng lực quản lý kém, không làm tròn trách nhiệm theo dõi, quản lý bảo vệ và trồng rừng, lợi dụng sự thiếu thông tin của người dân để trục lợi. Đó là cung cấp cây giống giá cao hơn thị trường, và có trường hợp lạm thu các khoản phí trong khi không cung cấp dịch vụ nào cho người dân, thậm chí dung túng cho hành vi chuyển đổi đất rừng phòng hộ sang rừng sản xuất, hoặc các mục đích khác... gây mâu thuẫn giữa các hộ và giữa ban quản lý rừng với các hộ.
Như trường hợp xảy ra tại xã Như Thanh (Thanh Hóa), Ban quản lý rừng phòng hộ SIM thu 600 nghìn đồng/ha/năm trồng rừng keo; 400 nghìn đồng/ha/năm trồng luồng. Ngoài ra, khi người dân muốn trồng keo, luồng trên các diện tích rừng khoán phải nộp cho ban quản lý rừng một khoản tiền từ hai đến ba triệu đồng/ha.
Mới là giải pháp tình thế Theo Phó Trưởng ban Nội chính tỉnh Hà Giang Triệu Là Pham, chính sách GĐGR cho người DTTS trong những năm qua đã bước đầu góp phần cải thiện thu nhập, nhưng chưa đạt mục tiêu là hỗ trợ cải thiện đời sống người DTTS, cũng như bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng.
Hiện tỷ lệ hộ nghèo DTTS là gần 60%, cao gấp gần ba lần tỷ lệ nghèo chung của cả nước, và gấp năm lần tỷ lệ nghèo của nhóm dân tộc đa số. Cá biệt có một số DTTS tỷ lệ nghèo tới 90%. Nguyên nhân chủ yếu do thu nhập từ rừng chỉ chiếm khoảng 8,5%, do vậy người dân chưa thể dựa vào rừng để sống.
Qua khảo sát tại các địa phương cho thấy có một nghịch lý là trong kết cấu thu nhập, địa phương nào có tỷ lệ thu nhập từ lâm nghiệp cao 40 đến 50% thì tổng thu nhập bình quân hộ gia đình lại thấp.
Điển hình như các hộ DTTS ở xã Xuân Thọ (Thanh Hóa), hay Xuân Đài (Phú Thọ) có thu nhập từ lâm nghiệp chiếm 60 đến 70% cơ cấu sản xuất, thì tổng thu nhập chỉ có khoảng 17 triệu đồng/hộ/năm. Trong khi ở xã Gung Ré (Lâm Đồng) thì ngược lại, tỷ lệ thu nhập từ lâm nghiệp chỉ trên dưới 10%, nhưng tổng mức thu nhập lại đạt khoảng 83 triệu đồng/hộ/năm. Điều này cho thấy chính sách GĐGR giúp người DTTS được hưởng lợi và hỗ trợ từ rừng chỉ là giải pháp tình thế, ngắn hạn và chưa hiệu quả.
Được biết, để khắc phục hạn chế này, cũng là thực hiện Nghị quyết số 64/NQ-CP ngày 4-9-2014 tại phiên họp thường kỳ tháng 8 của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang khẩn trương cùng với các bộ, ngành tổ chức soạn thảo trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020, với tổng kinh phí dự kiến là 6.708 tỷ đồng. Hy vọng, với những giải pháp cụ thể, dài hơi hơn, người DTTS sẽ sống được bằng nghề rừng. (Nhân Dân 22/11) đầu trang(
Chỉ bằng một quyết định không có căn cứ pháp lý, UBND tỉnh Đắk Lắk đã thu hồi trái luật hơn 400ha rừng và đất lâm nghiệp do các hộ dân nhận trồng, chăm sóc, bảo vệ hơn 10 năm nay để giao cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư trồng mới. Việc làm này khiến dư luận hết sức bức xúc.
Đây là thực tế đang xảy ra tại huyện Krông Năng, nơi có hàng chục hộ dân đã trồng những thảm rừng thông, keo, bạch đàn hơn 10 năm nay nhưng giờ đang đứng trước nguy cơ mất trắng để dành cho doanh nghiệp chặt phá, trồng mới lại từ đầu.
Ngược dòng thời gian 13 năm về trước, hưởng ứng phong trào trồng rừng theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, 28 hộ dân ở xã Ea Tam và Cư Klông đã mạnh dạn nhận hàng trăm hecta đất trống, đồi núi trọc để trồng rừng.
“Việc giao khoán đất rừng giữa Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ và các hộ dân được thực hiện rất bài bản, có tính pháp lý theo Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ “về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng”. Trong đó có 12 hộ được giao khoán ổn định, lâu dài với thời hạn 50 năm”, ông Phan Khắc Văn, một trong những hộ dân nhận liên kết trồng rừng cho biết.
Tin tưởng vào hợp đồng giao khoán ổn định lâu dài, hàng chục hộ dân nghèo nơi đây đã huy động gia đình, người thân trồng rừng. “Xem rừng như nhà, cây rừng như con”, bà con mạnh dạn vay vốn ngân hàng, đầu tư kinh phí cải tạo đất, đắp hồ thủy lợi, khai mở đường đi nhằm bảo vệ, phòng chống cháy rừng.
Tâm sự với PV, ông Võ Văn Nam, ở xã Ea Tam cho biết, năm 2001, được BQL vận động, cộng với quyết tâm phát triển kinh tế rừng, ông là 1 trong 28 hộ dân tiên phong làm đơn và được BQL giao khoán đất trồng rừng 50 năm. “Ngày đó, chúng tôi rất hồ hởi, sẵn sàng bỏ vốn của gia đình và vay thêm ngân hàng để trồng rừng. Ngoài mức đầu tư của Nhà nước thời bấy giờ, chúng tôi còn đầu tư thêm kinh phí với mức bình quân 30 triệu đồng/ha mới đảm bảo cây rừng lên xanh tốt như hiện nay”, ông Nam nói.
Cũng như ông Nam, nhóm 4 hộ liên kết trồng rừng do ông Phan Khắc Văn, ở xã Cư Klông đứng đầu cũng mạnh dạn thế chấp nhà cửa, vay vốn ngân hàng để đầu tư trồng rừng trên diện tích 61ha được giao khoán ổn định, lâu dài. Với tầm nhìn của một cựu quân nhân từng “ăn rừng, ở rú”, cùng với nhãn quan của cán bộ được đào tạo bài bản, ông Văn đã động viên 3 hộ trong nhóm đầu tư hơn 5 tỷ đồng để đắp hồ đập thủy lợi, làm đường nội bộ phục vụ công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Không phụ tâm sức, trí tuệ và tiền của bỏ ra của hàng chục hộ dân, chỉ sau 10 năm trồng, hàng trăm hecta thông, keo, bạch đàn,... như một tấm thảm xanh mướt phủ khắp các triền đồi, thuộc các tiểu khu 311, 314, 316 ở 2 xã Ea Tam và Cư Klông. Thành quả lao động miệt mài đó của người dân đã khẳng định chủ trương, chính sách giao đất rừng cho dân là đúng đắn.
Cứ tưởng người dân nơi đây sẽ được hưởng thành quả lao động của mình sau nhiều năm trồng rừng và chăm bón, bảo vệ nhưng công sức, mồ hôi và nước mắt của họ trong phút chốc có nguy cơ đổ xuống sông xuống biển khi Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk có quyết định thu hồi diện tích đất trên giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành thuê, sử dụng với lý do... trồng rừng (!?)
“Hàng trăm hecta rừng chúng tôi bỏ công sức, tiền của ra trồng, chăm bón và bảo vệ, đến chu kỳ “hái quả” thì Công ty Trường Thành ở đâu nhảy vào đòi khai thác, cướp trắng công sức, tiền của bao năm trời dân nghèo chúng tôi bỏ ra”, ông Văn bức xúc cho biết.
Dẫn PV đi xuyên qua những thảm rừng thông, keo tươi tốt ở tiểu khu 316, ông Văn đọc vanh vách cho nghe những quy định trong Luật bảo vệ và phát triển rừng, cũng như quy định “về quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp” theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Ông Văn nói: “Không có bất kỳ căn cứ pháp lý nào làm cơ sở cho UBND tỉnh ra quyết định thu hồi đất rừng đã giao khoán cho chúng tôi để dành đất cho doanh nghiệp. Còn chiếu theo Quyết định 178 của Chính phủ thì chúng tôi phải được hưởng lợi trực tiếp trên mảnh đất mà mình đã bỏ công sức ra trồng, cụ thể, hưởng lợi 100% sản phẩm phụ, 80-90% sản phẩm chính khi rừng đến tuổi khai thác và được trích 20% chỗ đất đẹp mà chưa trồng rừng để làm cây nông nghiệp hoặc ngư nghiệp”.
Quy định là vậy nhưng năm 2007- 2008, chỉ bằng một số “thủ thuật” như lập “biên bản khảo sát đất trồng rừng nguyên liệu cho Công ty cổ phần Trường Thành”, cùng với một số biên bản khảo sát, phúc tra khác, UBND tỉnh Đắk Lắk đã đơn phương ra Quyết định 2572/QĐ-UBND ngày 3/10/2008 thu hồi 568,43ha của BQL, chồng lấn lên 418,6ha đất rừng đã giao khoán cho các hộ dân, giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành mà không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, quyền lợi của hàng chục hộ dân.
Ông Nam bức xúc: “Muốn thu hồi khu rừng này thì phải mời chúng tôi đến và hỏi chúng tôi điều kiện như thế nào. Đùng một cái đến năm 2008 thì bảo rằng thu hồi hết diện tích rừng này. Trong khi lúc giao đất rừng cho chúng tôi thì cam kết ổn định, lâu dài, làm đúng theo quy trình của pháp luật”.
Những hộ gia đình đang lưu giữ được hồ sơ gốc giao khoán như ông Nam, ông Văn, ông Vực, ông Việt... còn bị đối xử như vậy, thì các hộ gia đình không lưu giữ được hồ sơ gốc ở vào tình cảnh “sống dở, chết dở” khi cơ hội khiếu kiện để đòi lại quyền lợi của mình cũng bị tước đoạt.
Điển hình là hộ ông Vũ Đình Triều ở thôn Tam Hà, xã Cư Klông. Trước năm 2008, gia đình ông nhận khoán trồng 31ha rừng theo Chương trình 661. Gia đình ông và một số hộ khác có hồ sơ đầy đủ nhưng không hiểu sao khi tỉnh thu hồi thì hồ sơ giao khoán bị BQL làm thất lạc.
Ông Triều nói: “Đến tận năm 2009-2010 gì đó tôi mới nghe diện tích đất rừng này đã chuyển đổi cho Công ty Trường Thành. Chúng tôi không biết chuyển đổi như thế nào, thu hồi ra sao. Hỏi giám đốc BQL dự án mới về, ông này cũng không biết. Ra BQL dự án hỏi hồ sơ giấy tờ gốc thì không còn một giấy tờ gì cả”.
Thất lạc hồ sơ, đồng nghĩa với việc mất luôn quyền lợi đáng ra ông Triều phải được hưởng vì đã bỏ công sức ra trồng 31ha rừng thông từ năm 2001 đến năm 2008, nay Công ty Trường Thành mặc nhiên được “hái quả” mà không mất một tí công sức nào. Trong khi đó, gia đình ông Triều vẫn còn nợ hơn 200 triệu đồng tiền vay ngân hàng để đầu tư trồng, chăm sóc rừng. Giờ không còn rừng, không còn nguồn thu từ rừng để trả nợ nên ngôi nhà ông đang ở đã bị ngân hàng kê biên.
Còn phía Công ty Trường Thành lại được UBND tỉnh Đắk Lắk ưu ái “dâng đất”, “dâng rừng”, trong đó có hàng vạn cây thông, cây keo đã đến tuổi khai thác thì chỉ phải nộp ngân sách một khoản rất ít ỏi là 5,242 tỷ đồng. (Kinh Tế Nông Thôn 21/11) đầu trang(
Huyện miền núi Hương Khê có diện tích rừng và đất rừng lớn nhất tỉnh Hà Tĩnh, với trên 100.608 ha. Lợi dụng sự lỏng lẻo trong quản lý của các cơ quan chức năng, nhiều hộ dân ở các xã Hương Liên, Hòa Hải, Hương Lâm... đã tranh nhau lấn chiếm hàng trăm hécta đất rừng tự nhiên và đất lũng sản xuất đã được cấp phép của các doanh nghiệp trên địa bàn.
Về xã Hòa Hải, một “điểm nóng” về tình trạng người dân ngang nhiên lấn chiếm đất rừng trái phép của huyện Hương Khê. Theo ông Phạm Hữu Nhân, Chủ tịch UBND xã Hòa Hải, thời gian qua, trên địa bàn có hàng chục hộ dân tự ý bao chiếm đất rừng tự nhiên của xã. Đến nay, số diện tích bị người dân lấn chiếm trái phép lên đến 460ha. Có nhiều vùng bị lấn chiếm nhiều như tại Tiểu khu 193 vùng đập Tắt- Khe Mán diện tích bị chiếm dụng là 85ha; Tiểu khu 179 là gần 20ha..
“Điều đáng lo ngại là việc lấn chiếm đất rừng trở thành phong trào, nhà này thấy nhà kia lấn chiếm được, thế là họ cứ làm theo, bất chấp sự ngăn cấm của chính quyền”-ông Nhân lo lắng nói.
Việc người dân ngang nhiên lấn chiếm đất rừng, kể cả rừng phòng hộ cũng diễn ra phức tạp tại xã Hương Lâm. Điểm khác ở Hương Lâm là đất rừng bị người dân ở xã bên-xã Hương Lâm, sang bao chiếm, với diện tích hơn 100ha. Chính quyền vào cuộc thì một số đối tượng quá khích chống đối.
Ông Đinh Viết Mạnh, Chủ tịch UBND xã Hương Liền, cho biết: “Việc người dân xã Hương Liên ngang nhiên lấn chiếm đất rừng trên địa bàn xã đã làm mất an ninh trật tự; đã có sự xô xát xảy ra giữa người dân hai xã. Một số đối tượng chống đối đã phải vào vòng lao lý, nhưng vì không hiểu được luật pháp nên một số hộ dân vẫn bất chấp tất cả, tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật”.
Không chỉ lấn chiếm đất rừng do chính quyền địa phương quản lý mà nhiều hộ dân còn lấn chiếm cả diện tích đất rừng đã được cấp phép cho các doanh nghiệp. Riêng Công ty TNHH MTV cáo sự Hương Khê-một doanh nghiệp Nhà nước, cũng đã mất gần 250ha đất rừng, gồm 170ha tại Tiểu khu 192, gần 80ha tại Tiểu khu 200 và Tiểu khu 195.
Ông Trần Thanh Hà-Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê, cho biết: “Để được cấp phép sử dụng diện tích đất này, Công ty đã lập dự án trình UBND tỉnh Hà Tĩnh, nộp 1,8 tỷ đồng lệ phí môi trường cho tỉnh và 1,6 tỷ đồng cho xã. Giờ đất bị các hộ dân lấn chiếm trồng cây hết rồi. Báo cáo chính quyền các cấp đã lâu, nhưng hiện vẫn chưa giải quyết được”.
Mặc dù tình trạng lấn chiếm đất rừng trái phép diễn ra trên diện rộng, trong suốt thời gian dài nhưng chính quyền địa phương ở đây hình như bất lực. Theo Trưởng Công an xã Hòa Hải, Trương Quốc Hiến, công an xã đã phối hợp với các đoàn thể khác huy động lực lượng để tuyên truyền, kiểm tra, giám sát. Nhưng do lực lượng mỏng nên khi rút, người dân lại đổ xô vào rừng để khai quang khoanh thửa. Thậm chí, một số người dân manh động, sẵn sàng chống đối lại lực lượng làm nhiệm vụ.
Còn ông Ngô Xuân Ninh, Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Khê, cho rằng: Để xảy ra tình trạng người dân ồ ạt lấn chiếm và chiếm dụng đất rừng thì, trách nhiệm đầu tiên thuộc về chính quyền cấp xã. Sự buông lỏng và thiếu sự giám sát của lãnh đạo các địa phương vô tình đã tiếp tay cho những việc làm trái pháp luật của một số người dân.
Các cơ quan chuyên môn cũng chưa làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến về các chủ trương, quy định về đất đai để người dân hiểu, đồng thuận và chấp hành. Khi xảy ra lấn chiếm, tranh chấp, chính quyền cấp xã, huyện vào cuộc chậm, không xử lý kịp thời, dứt điểm nên tình hình ngày càng phức tạp.
Nguyên nhân không chỉ dừng lại như ông Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Khê lý giải. Qua tìm hiểu, việc lấn chiếm đất rừng ở các xã diễn biến ngày càng phức tạp, thậm chí coi thường kỷ cương phép nước, còn do sự dung túng bao che của lãnh đạo địa phương.
Đa phần những hộ cố tình chiếm dụng đất rừng đều có mối quan hệ anh em họ hàng với cán bộ xã. Thậm chí, việc giao đất rừng ở Hương Khê cũng lộ rõ mối quan hệ “thân tộc”. Đơn cử như xã Hòa Hải, có tới 8 trường hợp là người thân của cán bộ chủ chốt xã được giao đất, với tổng diện tích trên 41ha. Đây là nguyên nhân khiến người dân mất niềm tin với chính quyền sở tại.
Dư luận và người dân trên địa bàn đề nghị chính quyền tỉnh Hà Tĩnh cần chỉ đạo huyện Hương Khê và UBND các xã nghiêm khắc chấn chỉnh tình trạng xâm canh trái phép đất rừng. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cũng cần vào cuộc thanh kiểm tra toàn diện việc quản lý, giao đất rừng ở Hương Khê, nếu phát hiện sai phạm thì cần xử lý nghiêm, mang tính răn đe, đem lai niềm tin cho nhân dân. (Dân Tộc & Phát Triển 21/11, tr5) đầu trang(
20/11, Ban Quản lý Chương trình UN-REDD giai đoạn II tỉnh Lào Cai phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Sở Tư pháp tổ chức lớp tập huấn nâng cao năng lực cho lực lượng kiểm lâm tỉnh Lào Cai trong việc thực thi luật xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý lâm sản, động vật hoang dã trong khu vực Lào Cai (Việt Nam) - Vân Nam (Trung Quốc).
Tham gia lớp tập huấn có 53 học viên là cán bộ thanh tra Sở NN&PTNT, Chi cục Thú y, Chi cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Kiểm lâm, hạt kiểm lâm các huyện, thành phố, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) và Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn.
Lớp tập huấn diễn ra trong hai ngày 20 và 21/11, các học viên sẽ được học tập nghiên cứu những quy định, nghị định, văn bản hướng dẫn của Chính phủ về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản; các biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả, áp dụng luật xử phạt hành chính đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; cập nhật các thông tin mới và chia sẻ kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác tại cơ sở.
Qua đó, nâng cao kiến thức, năng lực xử lý vi phạm cho lực lượng làm công tác quản lý lâm sản, động vật hoang dã để đáp ứng nhu cầu công tác trong tình hình mới. (Báo Lào Cai 20/11) đầu trang(
Bỏ ra gần chục tỷ đồng để gieo hạt cây rừng bằng phương thức dùng máy bay "rải thảm” nhằm phủ xanh núi rừng xứ Lạng. Tuy nhiên, hàng chục năm trôi qua, cây rừng chẳng thấy đâu mà chỉ thấy toàn… cỏ dại.
Dự án thất bại, nhiều tỷ đồng ngân sách Nhà nước bị thất thoát một cách vô ích mà vẫn không cơ quan, đơn vị, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm về sự lãng phí trên. Để góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, từ năm 1995 Bộ Lâm nghiệp (Nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã phê duyệt dự án thử nghiệm trồng rừng gieo hạt thẳng bằng máy bay.
Dự án do Viện Điều tra quy hoạch rừng thực hiện, chủ yếu là gieo hạt Thông Mã Vĩ, cây keo lá tràm và keo tai tượng. Theo đó, dự án được triển khai trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn với tổng diện tích là 2.500 ha tại các huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Chi Lăng.
Khi triển khai xong xuôi việc gieo hạt cây rừng bằng máy bay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký hợp đồng và giao cho các lâm trường ở huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Chi Lăng quản lý, bảo vệ. Năm 1999, Cục Phát triển Lâm nghiệp tiến hành nghiệm thu, đánh giá Dự án trồng rừng gieo hạt bằng máy bay tại Lạng Sơn là dự án đạt loại khá.
Nhưng chớ trêu thay, sau khi nghiệm thu, dự án gieo hạt trồng rừng bằng máy bay dường như bị bỏ quên và không ai quan tâm đến hiệu quả của nó sao nữa. Mãi đến năm 2007 (tức10 năm sau khi thực hiện dự án), Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lạng Sơn mới có công văn gửi Viện điều tra quy hoạch rừng đề nghị cung cấp hồ sơ Dự án gieo hạt bằng máy bay. Khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lạng Sơn đã thành lập Đoàn phúc tra Dự án.
Theo báo cáo của Đoàn phúc tra tỉnh Lạng Sơn cho biết, trong 2.500 ha diện tích được gieo hạt bằng máy bay, gieo hạt thẳng tại Lạng Sơn thì diện tích không có cây thông và cây keo là 2.350 ha (chiếm 94%), hiện chỉ có cỏ dại và cây bụi. Diện tích còn lại 150 ha có cây thông mọc rải rác với mật độ quá thấp, dao động từ 90 cây đến 200 cây/ha phân bố không đều. Như vậy, có thể nói dự án thử nghiệm gieo hạt cây rừng bằng máy bay đã phá sản.
Đến tháng 6 năm 2010, UBND tỉnh Lạng Sơn đã có quyết định thanh lý  Dự án thử nghiệm trồng rừng gieo hạt thẳng bằng máy bay trên diện tích 2.500 ha trên địa bàn 3 huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Chi Lăng. Cũng từ đó đến nay, có lẽ do dự án "cha chung không ai khóc” nên không ai biết dự án đã thanh lý ra sao và hiệu quả thế nào.
Trong báo cáo kết quả rà soát đánh giá hiện trường gieo hạt bằng máy bay của Lạng Sơn thì Khu vực gieo của huyện Lộc Bình là 1000 ha, gồm các xã: Lợi Bác, Ái Quốc và Đông Quan, thì cả 1.000 ha không có cây.
Trao đổi về vấn đề thanh lý dự án trên, ông Đặng Anh Phúc, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lộc Bình cho biết, bản thân ông làm ở Phòng Nông nghiệp huyện đã nhiều năm nhưng chưa được nghe về biên bản thanh lý diện tích rừng gieo bay trên địa bàn huyện. Tại huyện Chi Lăng có diện tích gieo 500ha, thì 487 ha không có cây, 13 ha mật độ 90 cây/ha.
Mặc dù UBND tỉnh Lạng Sơn đã có quyết định thanh lý dự án này từ năm 2010 nhưng đến nay người dân vẫn phản ánh đã nhiều lần kiến nghị lên ngành chức năng cho dân sử dụng diện tích rừng trong dự án mà cây không mọc nhưng ngành chức năng địa phương không có hồi âm.
Trao đổi với phóng viên về dự án trên, ông Hoàng Quang Chinh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lạng Sơn thừa nhận, diện tích gieo hạt cây rừng bằng máy bay trên địa bàn hiệu quả rất thấp, không phát triển thành rừng nên coi như dự án thất bại hoàn toàn.
Cũng theo ông Chinh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu, đề xuất việc thanh lý dự án và UBND tỉnh Lạng Sơn đã có quyết định thanh lý dự án từ năm 2010. Nhưng đến nay, kết quả thanh lý thế nào thì các huyện không báo cáo với Sở nên Sở không nắm được thông tin.
Cũng theo ông Chinh, dự án trên là do Viện Điều tra quy hoạch rừng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) triển khai thực hiện, nên Viện Điều tra quy hoạch rừng phải chịu trách nhiệm chính vì sự lãng phí nêu trên.
Dự án gieo hạt bằng máy bay thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn rất  "hoành tráng” nhưng thu được kết quả gần như bằng không. Các ngành chức năng cần nghiêm túc xem xét, kiểm điểm trách nhiệm các đơn vị liên quan, đừng đổ tiền thuế của dân xuống sông, xuống biển một cách lãng phí như vậy. (Đại Đoàn Kết 22/11) đầu trang(
Không chỉ là tỉnh trồng rừng mạnh nhất miền Trung, Bình Định còn được Bộ NN-PTNT đánh giá là một trong những tỉnh quản lý chất lượng và số lượng giống cây lâm nghiệp tốt nhất trên cả nước....
Trong những năm gần đây, diện tích rừng trồng ở Bình Định tăng rất nhanh. Theo báo cáo của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh này, hàng năm diện tích rừng trồng khai thác, trồng mới và trồng lại của tỉnh là trên 10.000 ha. Theo đó, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng khá lớn. Chỉ tính riêng năm 2014, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng của Bình Định đạt đến 600.000 tấn/năm.
“Nhờ những năm qua người trồng rừng ở Bình Định đã rất kỹ càng trong việc chọn cây giống nên năng suất, sản lượng được tăng cao như thế”, ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bình Định cho biết.
Hiệu quả kinh tế của rừng trồng cho thấy rất rõ, năm 2014 Bình Định đã chấm dứt khai thác gỗ rừng tự nhiên, thế nhưng các Cty lâm nghiệp Hà Thanh, Sông Kôn và Quy Nhơn vẫn đang sống tốt, vừa đảm bảo đời sống của CBCNV mà còn thu lãi hàng năm rất khá nhờ từ rất sớm đã quan tâm đến trồng rừng SX. “Nước lên thuyền lên”, khi phong trào trồng rừng mạnh thì ắt nhiên SX cây giống lâm nghiệp cũng sẽ mạnh theo.
Chỉ tính riêng năm 2014, tổng số cây giống lâm nghiệp được SX trên địa bàn là 145 triệu cây, chủ yếu keo và bạch đàn. Trong khi nhu cầu trồng rừng hàng năm ở Bình Định với 10.000 ha thì chỉ cần số lượng cây giống khoảng 20 triệu cây. Như vậy 125 triệu cây giống lâm nghiệp của Bình Định có điều kiện đi khắp nước, nhất là các tỉnh Tây Nguyên. Thậm chí một số DN thuê đất ở các nước Lào, Campuchia trồng rừng cũng tìm về Bình Định mua cây giống.
“Trong tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của Bình Định, chúng tôi đặt nặng phải làm sao nâng cao thu nhập cho gỗ rừng trồng. Sau các dự án, DN, từng bước chúng tôi sẽ hướng dẫn cho hộ gia đình trồng rừng làm thủ tục để được cấp chứng chỉ FSC. Chắc chắn, đến khi ấy, số lượng tỷ phú rừng trồng ở Bình Định còn nhiều hơn”, bà Trần Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định.
Trước thực tế này, Bình Định đang nghĩ đến chuyện khai thác hết tiềm năng kinh tế của gỗ rừng trồng. Bằng cách, đưa vào đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp vấn đề chủ chốt sẽ không khai thác rừng non xuất thô, chuyên cung cấp cho nhà máy SX dăm gỗ mà sẽ nuôi rừng lâu hơn, nhằm khai thác gỗ lớn phục vụ cho ngành chế biến lâm sản.
Ông Dũng phân tích: “Hiện rừng trồng 6 - 7 năm khai thác bán cho các nhà máy chế biến dăm gỗ chỉ có giá 1,2 triệu đ/tấn, trong khi đó gỗ rừng trồng nuôi từ 10 - 12 năm mới khai thác, cây gỗ có đường kính từ 15 cm trở lên sẽ được các DN chế biến gỗ XK mua đến giá hơn 1,5 triệu đ/tấn. Thêm vào đó, từ 7 năm trở về sau, người trồng rừng không phải đầu tư gì thêm, nhưng nếu 7 năm khai thác thì năng suất chỉ cho khoảng 100 tấn/ha thì nuôi rừng 10 - 12 năm mới khai thác thì năng suất sẽ lên đến 180 - 200 tấn/ha. Nuôi rừng, chỉ cần bảo vệ tốt không để rừng bị thất thoát là hốt bạc”.
Rừng trồng ở Bình Định còn đang đi xa hơn, đó là những cánh rừng trồng theo dự án WB 3 ở 2 huyện Phù Cát và Tây Sơn. Đơn cử ở Phù Cát, 200 ha rừng WB3 ở 2 xã Cát Lâm và Cát Hiệp (Phù Cát) đã được cấp chứng chỉ FSC. Quy định của chương trình trồng rừng WB3 là đúng 7 năm mới khai thác, đang có một số diện tích thu hoạch.
Ông Phan Sỹ Hùng, Phó phòng NN-PTNT huyện Phù Cát cho biết: “Rừng đã được cấp chứng chỉ FSC khi thu hoạch luôn được thị trường thu mua cao giá hơn rừng trồng chưa có chứng chỉ FSC 300.000 đ/tấn, vì khi gỗ rừng có chứng chỉ FSC khi xuất sang Mỹ và các nước châu Âu rất thong dong”.
Ông Đỗ Văn Sỹ, Phó Chủ tịch UBND huyện Tây Sơn cho biết thêm: “Khoảng 200 ha rừng trồng trong dự án WB3 ở Tây Sơn cũng đang làm thủ tục để được cấp chứng chỉ FSC. Đến khi được cấp, những người trồng rừng ở Tây Sơn sẽ còn có mức thu nhập cao hơn hiện nay nhiều”.... (Nông Nghiệp Việt Nam 21/11, tr17) đầu trang(
Những năm qua, tỉnh Quảng Trị triển khai tốt công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Phong trào trồng rừng đã tạo ra sức sống mới cho nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
Lên vùng gò đồi phía tây huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ mới thấy hết sự đổi thay của vùng đất một thời bị bom đạn hủy diệt. Hàng trăm ha rừng trồng với các loại cây cao-su, keo tai tượng, tràm hoa vàng... xanh ngút ngàn phủ lên các mỏm đồi chằng chịt hố bom, hố pháo năm xưa.
Các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống như: xã Linh Thượng, Vĩnh Trường (huyện Gio Linh); Vĩnh Hà, Vĩnh Ô (huyện Vĩnh Linh) trước đây đời sống của người dân hết sức khó khăn, tập quán canh tác chủ yếu là "phát, cốt, đốt, trỉa", du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy, thì nay họ đã định canh, định cư, phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, trong đó nhiều hộ gia đình đồng bào DTTS vươn lên, trở thành những triệu phú nhờ trồng rừng và cây cao-su.
Anh Hồ Văn Tế, ở thôn Tà Lang, xã Hải Phúc (huyện Ða Krông), có hơn tám ha rừng tràm cho biết, trước đây cuộc sống gia đình luôn bị đói, nghèo đeo bám. Ðời sống sinh hoạt của gia đình phụ thuộc vào hơn một sào rẫy lúa, ngô thường xuyên mất mùa. Từ trong nghèo khó, anh đã nghĩ ra cách làm mới, học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, vẫn khai thác rừng nhưng không theo phương pháp truyền thống như săn bắt thú, khai thác gỗ mà phải trồng rừng để thoát nghèo.
Mỗi năm, gia đình anh thu nhập hàng chục triệu đồng từ khai thác rừng trồng và chăn nuôi. Kinh tế gia đình ngày càng phát triển, anh có điều kiện chăm lo cho các con ăn học và mua sắm các vật dụng phục vụ sinh hoạt trong gia đình. Mô hình kinh tế của gia đình anh Tế là một điển hình trong việc thay đổi tập quán khai thác rừng được nhân rộng trên địa bàn miền núi huyện Ða Krông.
Ðến bản Ðá Bàn, xã Ba Nang (huyện Ða Krông) hỏi về chuyện trồng rừng kinh tế, ai cũng nhắc đến ba anh em Hồ Văn Trung, Hồ Văn Hòa và Hồ Văn Hinh. Ðể thoát nghèo, vươn lên làm giàu, ba anh em đã hợp sức nhau lại mở một con đường từ bản lên đến đỉnh núi Ka Niêng, cao hơn 1.000 m so với mực nước biển khai thác đất trống, đồi núi trọc trồng hơn 50 ha sắn, 50 ha rừng và cây cao-su, mỗi năm thu về hơn 300 triệu đồng. Ðến nay, toàn bộ khu đất hoang hóa rộng hơn 100 ha đã được phủ kín bạt ngàn mầu xanh. Phong trào trồng rừng kinh tế đã mở hướng làm ăn mới cho bà con đồng bào DTTS Vân Kiều, Pa Cô ở xã Ba Nang và huyện Ða Krông.
Theo Chi Cục trưởng Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị Hoàng Ðức Doanh, đến nay, toàn tỉnh có hơn 15.500 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC (quốc tế), theo các tiêu chí hiện đại, rừng được quản lý bền vững, đất đai được bảo vệ, hạn chế xói mòn, môi trường sinh thái được cải thiện...
Theo đó, giá gỗ rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC cao hơn so với giá gỗ bình thường từ 30 đến 50%. Trên cơ sở những kết quả đạt được, hiện nay Tập đoàn IKEA Thụy Ðiển tài trợ kinh phí cho tỉnh Quảng Trị mở rộng dự án trên địa bàn, với diện tích rừng trồng ngày càng nhiều hơn. Theo đó, tỉnh Quảng Trị phấn đấu đến năm 2020, toàn tỉnh có hơn 42 nghìn ha rừng trồng theo tiêu chí FSC.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị Nguyễn Văn Bài cho biết: Toàn tỉnh hiện có 75 nghìn ha rừng sản xuất (hơn 40 nghìn ha rừng thuộc về các hộ gia đình) cùng hàng triệu cây phân tán, nâng độ che phủ của rừng đạt 49%. Mục tiêu phát triển lâm nghiệp của tỉnh là duy trì sự ổn định đến năm 2020 nâng độ che phủ của rừng đạt 50%.
Ðể công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng có hiệu quả, ngành nông nghiệp đã phối hợp các địa phương triển khai tốt việc giao đất, giao rừng cho người dân; thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức của người dân về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; nhân rộng các mô hình trồng rừng có hiệu quả để nâng cao đời sống của người dân và tỷ lệ độ che phủ của rừng...
Ông Hồ Văn Bình, ở thôn Xa Vi, xã Hướng Hiệp, huyện Ða Rông nhận hơn 1.250 kg gạo hỗ trợ trồng rừng, chia sẻ: Nhờ có chương trình trồng rừng thay thế nương rẫy bạc màu cho nên gia đình mình vừa có gạo ăn, vừa được hỗ trợ tiền mua cây giống và phân bón, cả nhà phấn khởi tập trung trồng rừng mới. Ðến nay, gần bốn ha rừng trồng đã đâm chồi nảy lộc, phủ xanh cả một mỏm đồi. Mùa trồng rừng năm nay, ông Bình tiếp tục đăng ký trồng thêm rừng ở vùng đồi núi trọc còn lại trên địa bàn để tăng thêm diện tích rừng của gia đình.
Còn ông Côn Quyết, ở thôn Tăng Quan, xã A Xing, huyện Hướng Hóa vui mừng khi cả nhà trồng được bốn ha rừng, nhận được rất nhiều gạo lại chia sẻ: "Ðồng bào cảm ơn Ðảng và Nhà nước nhiều lắm, có gạo rồi, no cái bụng thì phấn khởi trồng rừng và chăm sóc rừng tốt hơn thôi và cũng không phá rừng tự nhiên như những năm trước nữa...".
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Ðức Chính khẳng định, việc hỗ trợ trồng rừng trên những diện tích nương rẫy sản xuất kém hiệu quả đã tạo ra bước đột phá lớn trong thay đổi tư duy, tập quán và cung cách sản xuất lạc hậu trước đây của bà con DTTS.
Qua đó, không chỉ nhằm tổ chức lại sản xuất, khai thác hết tiềm năng đất đai, nâng cao đời sống của người dân, hạn chế và tiến tới chấm dứt việc phát rừng tự nhiên làm nương rẫy mà còn góp phần rất lớn trong việc bảo vệ và phát triển rừng, cải thiện môi trường sinh thái. Ðây chính là hướng đi đúng trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở vùng đồng bào DTTS tỉnh Quảng Trị. (Nhân Dân 23/11) đầu trang(
Chiều 19.11, Ban Quản lý Các dự án lâm nghiệp Trung ương và Ban Quản lý Dự án phát triển lâm nghiệp (WB3) và Sở NN&PTNT đã triển khai Mô hình quản lý rừng cộng đồng tại xã Đắk Mang (huyện Hòai Ân).
Mô hình được thực hiện với diện tích 953ha, ở 4 thôn T6, O6, O10 và O11 của xã Đắk Mang. Mục tiêu của mô hình là: quản lý và kinh doanh rừng tự nhiên theo hướng bền vững tại cộng đồng nhằm tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và bảo tồn đa dạng sinh học.
Quyền lợi của cộng đồng tham gia là được giao đất, giao rừng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 50 năm; được khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ một cách bền vững; được nhận tiền vật tư hỗ trợ từ chương trình, được thừa hưởng mọi thành quả lao động từ diện tích rừng được giao quản lý.
Cộng đồng bảo vệ rừng có trách nhiệm: Sử dụng diện tích rừng đúng mục đích; xây dựng phương án quản lý, bảo vệ,  khai thác và phân phối sản phẩm từ rừng trong nội bộ; xây dựng hương ước, qui ước bảo vệ rừng cộng đồng; không phân chia rừng cho thành viên trong cộng đồng, không được chuyển nhượng, không được làm suy thoái rừng… (Báo Bình Định 20/11) đầu trang(
Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu Dự án Hỗ trợ thương mại và đầu tư của châu Âu (EU - MUTRAP) về ngành gỗ Việt Nam tại hội thảo mới đây, các biện pháp chính sách đối với ngành này còn khá rời rạc, thiếu tính hệ thống và hạn chế hiệu quả.
Đặc biệt, trong bối cảnh Chính phủ đang thực hiện đàm phán các hiệp định thương mại tự do với các đối tác lớn như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngành gỗ đang lúng túng khi chưa đưa ra được các đề xuất phương án đàm phán tổng thể cho ngành. Vì vậy, ngành gỗ chưa tận dụng hiệu quả cơ chế tham vấn trong đàm phán thương mại quốc tế mà Thủ tướng Chính phủ đã cho phép.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do ngành thiếu định hướng phát triển về sản phẩm, thị trường cũng như năng lực sản xuất phù hợp với năng lực, nhu cầu của doanh nghiệp. Dù ngành gỗ đã được Chính phủ xây dựng và thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển nhưng hầu hết là các mục tiêu chủ quan từ góc độ quản lý nhà nước, không có các biện pháp hỗ trợ thực hiện cụ thể và không gắn trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. (Sài Gòn Giải Phóng 22/11, tr3) đầu trang(
Công ty sẽ khởi công xây dựng nhà máy sản xuất ván vơ nia, công suất 12.000m3 gỗ/năm tại mặt bằng vườn ươm xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô. Khi nhà máy đi vào hoạt động, toàn bộ số gỗ tỉa thưa sẽ được Công ty chế biến tại chỗ, không còn phải đưa xuống nhà máy MDF Gia Lai tiêu thụ, như vậy, sẽ đạt được hiệu quả kinh tế hơn.
Ông Tống Hữu Chân – Chủ tịch kiêm giám đốc Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam cho biết: Trong tháng 11 này, Công ty sẽ khởi công xây dựng nhà máy sản xuất ván vơ nia, công suất 12.000m3 gỗ/năm tại mặt bằng vườn ươm xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô. Khi nhà máy đi vào hoạt động, toàn bộ số gỗ tỉa thưa sẽ được Công ty chế biến tại chỗ, không còn phải đưa xuống nhà máy MDF Gia Lai tiêu thụ, như vậy, sẽ đạt được hiệu quả kinh tế hơn.
Trải qua nhiều khó khăn, trên địa bàn tỉnh Kon Tum, Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam (thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam) hiện còn gần 9.000ha thông nguyên liệu giấy chuẩn bị đến chu kỳ khai thác. Tuy nhiên, nếu khai thác trắng toàn bộ diện tích thông này bán cho Nhà máy MDF ở Gia Lai, doanh nghiệp sẽ lỗ khoảng 148 tỷ đồng. Trước thực tế trên, nhiều phương án “giải cứu” gần 9.000ha thông nguyên liệu giấy trước nguy cơ thua lỗ đang được triển khai…
Diện tích rừng thông nguyên liệu giấy của Công ty nằm rải rác tại 33 xã, thị trấn thuộc 8 huyện trong tỉnh. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, rừng thông của Công ty sinh trưởng phát triển tốt. Hiện tại bình quân đã đạt trên 100m3 gỗ/1ha.
Ấn tượng hơn, dãy Sạc Ly vốn nổi danh là “vùng đất chết” vì bị Mỹ rải chất độc hóa học, hàng chục năm sau chiến tranh vẫn cằn cỗi, gần như không có loài thực vật nào sinh trưởng nổi đã hồi sinh với hàng nghìn héc ta thông xanh tốt. Hầu hết mọi người đều có cái nhìn lạc quan về hiệu quả kinh tế mà gần 9.000ha thông đem lại.
Thế nhưng, sau gần 15 năm, điều mong đợi ấy đã không đến với những người “ươm mầm xanh trên đất chết” bởi sự khắc nghiệt của thị trường. Nếu thực hiện đúng phương án kinh doanh ban đầu, rừng được khai thác sau 15 năm trồng sẽ không mang hiệu quả kinh tế thậm chí là lỗ nặng.
Ông Tống Hữu Chân - Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty cho biết: Hiện nay, mặc dù mới thực hiện tỉa thưa rừng thông nhưng doanh nghiệp đã thua lỗ. Do địa bàn tỉnh Kon Tum chưa có nhà máy bột giấy, số gỗ này được đưa xuống Nhà máy MDF Gia Lai tiêu thụ; giá thu mua tại nhà máy là 820.000 đồng/tấn, trong khi chi phí công vận chuyển đã mất từ 420.000- 450.000 đồng/tấn.
Với giá bán và cách tiêu thụ này, nếu thực hiện khai thác trắng toàn bộ diện tích theo phương án kinh doanh ban đầu, doanh nghiệp sẽ lỗ gần 17 triệu đồng/ha. Với tổng diện tích gần 9.000ha hiện có, tổng lỗ sẽ lên tới khoảng 148 tỷ đồng.
Phương án sản xuất ván ghép thanh còn lỗ khủng hơn vì thông mới được 15 năm tuổi, chất lượng gỗ kém, nếu đưa vào sản xuất sẽ tiêu hao nguyên liệu lớn, dự kiến lỗ trên 200 tỷ đồng.
Trước nguy cơ thua lỗ cận kề, Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam đã khẩn trương báo cáo Tổng công ty, đồng thời đưa ra phương án “giải cứu” thua lỗ cho gần 9.000ha thông. Phương án này được Tổng công ty Giấy Việt Nam chấp thuận và trình Bộ Công thương để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, để giải bài toán thua lỗ, Tổng công ty Giấy Việt Nam xin phép chuyển đổi mục tiêu kinh doanh đối với diện tích thông trồng tại Kon Tum từ trồng cây nguyên liệu giấy sang trồng cây gỗ lớn. Nghĩa là thực hiện phương án khai thác sau 25 năm thay vì phương án 15 năm khai thác như hiện nay.
Những con số tính toán về hiệu quả kinh tế cho thấy, rừng thông sau 25 năm trồng sẽ cho chất lượng gỗ cao, sử dụng được trong nhiều lĩnh vực chế biến, lượng tiêu hao nguyên liệu gỗ tròn trên một đơn vị sản phẩm chế biến thấp, chất lượng sản phẩm cao… và kết quả cuối cùng là mang lại lợi nhuận.
Cụ thể nếu bán gỗ tại rừng (giá cây đứng) chưa qua chế biến, lợi nhuận thu được khoảng 11 triệu đồng 1ha, tổng lãi cho toàn bộ diện tích là gần 100 tỷ đồng. Nếu gỗ được đưa vào chế biến thành ván ghép thanh, lợi nhuận thu được cao hơn, gần 22 triệu đồng 1ha, tổng lãi cho toàn bộ diện tích  gần 200 tỷ đồng.
Chưa biết phương án “giải cứu” nguy cơ thua lỗ cho diện tích rừng thông trồng tại Kon Tum của Tổng công ty Giấy Việt Nam có được phê duyệt hay không, song rõ ràng việc xin chuyển mục tiêu kinh doanh từ trồng cây nguyên liệu giấy sang trồng cây gỗ lớn của Tổng công ty Giấy Việt Nam là có cơ sở, phù hợp với chủ trương của Chính phủ thể hiện tại Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”.
Trong khi chờ đợi quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Giấy Việt Nam cũng đã chủ động triển khai một số giải pháp để hạn chế thua lỗ đối với diện tích thông đang tỉa thưa. Đó là, Công ty sẽ xây dựng nhà máy sản xuất ván vơ nia, công suất 12.000m3 gỗ/năm toàn bộ số gỗ tỉa thưa sẽ được Công ty chế biến tại chỗ, không còn phải đưa xuống Nhà máy MDF Gia Lai tiêu thụ, như vậy, sẽ đạt được hiệu quả kinh tế hơn.  (Báo Kon Tum 21/11) đầu trang(
20/11, tại Quảng Ngãi, đã diễn ra Lễ ký kết hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ngãi (Vietcombank Quảng Ngãi) với Công ty TNHH Thương mại sản xuất và dịch vụ Tân Thành Phú  (Công ty Tân Thành Phú) thuộc Tập đoàn Hào Hưng với giá trị hợp đồng tín dụng là 100 tỷ đồng.
Đây là dự án sản xuất gỗ viên  nén làm chất đốt sinh học thứ 2 được triển khai tại tỉnh Quảng Ngãi, là dự án gỗ viên  nén đầu tiên được hệ thống Vietcombank tham gia tài trợ vốn . Quy mô công suất của nhà máy là 200.000 tấn gỗ viên nén/năm, với tổng mức đầu tư là 140 tỷ đồng và Vietcombank tham gia tài trợ 71% nhu cầu vốn tương đương 100 tỷ đồng.
Quảng Ngãi hiện là địa phương có diện tích rừng trồng  tương đối lớn và dồi dào, đảm bảo cho nhà máy hoạt động đúng công suất, ổn định và bền vững. Đầu ra của nhà máy sẽ được xuất khẩu sang Hàn Quốc và Nhật Bản - là các thị trường sử dụng nhiên liệu sạch làm chất đốt thân thiện với môi trường.
Phát biểu tại Lễ ký kết, bà Phạm Thị Thuý Kiều - Giám đốc Vietcombank Quảng Ngãi nhấn mạnh: Trong thời gian qua, Vietcombank Quảng Ngãi là ngân hàng hàng đầu trên địa bàn với thị phần tín dụng chiếm hơn 30%;các dự án do Vietcombank đầu tư đều phát huy hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phương. Vietcombank Quảng Ngãi cũng rất vinh dự là chi nhánh đầu tiên trong hệ thống Vietcombank đầu tư vào lĩnh vực sản xuất gỗ viên  nén của Công ty Tân Thành Phú.
Dự án đi vào hoạt động sẽ tiêu thụ được nguồn nguyên liệu dồi dào của địa phương, tăng kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh. Việc tham gia tài trợ vốn  cho Công ty Tân Thành Phú làm thắt chặt thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa Tập đoàn Hào Hưng với Vietcombank Quảng Ngãi và hy vọng rằng Công ty Tân Thành Phú cũng như Tập đoàn Hào Hưng sẽ gia tăng việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của Vietcombank trong thời gian tới và mong muốn dự án sớm được triển khai  để giải ngân vốn vay ngay  trong năm 2014.
Thay mặt cho Công ty Tân Thành Phú và Tập đoàn Hào Hưng, ông Thang Văn Hoá, Chủ tịch HĐTV đánh giá cao tính chuyên nghiệp của Vietcombank và khẳng định việc cung ứng vốn của Vietcombank sẽ giúp công ty đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy, đồng thời có điều kiện để mở rộng phát triển kinh doanh trong thời gian tới.
Có thể nói, việc ký kết Hợp đồng tín dụng giữa Vietcombank Quảng Ngãi và Công ty Tân Thành Phú trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần tăng trưởng tín dụng đúng định hướng và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước và của Vietcombank Trung ương. (Tạp Chí Tài Chính 21/11) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường (DVMT) rừng theo Nghị định 99/2010/NÐ-CP của Chính phủ được kỳ vọng góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời, nâng cao sinh kế, cải thiện thu nhập cho người làm nghề rừng.
Sau một thời gian triển khai, có thể khẳng định: Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song, chính sách đã đi vào cuộc sống của người dân Hà Tĩnh… Theo cách hiểu đơn giản, rừng có vai trò điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu, tạo ra môi trường cảnh quan… do đó, các doanh nghiệp, cơ sở SXKD, cá nhân hưởng lợi từ DVMT rừng như thủy điện, nước sạch, du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, nước phục vụ sản xuất công nghiệp, các nhà máy phát thải khí CO2... phải trả phí DVMT rừng.
Nguồn thu này dùng để chi trả cho các chủ rừng là tổ chức, cá nhân, hộ trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng... góp phần ổn định đời sống người làm nghề rừng.
Năm 2012, Ban chỉ đạo và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh được thành lập. Thời gian qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã rà soát, tham mưu UBND tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách các đối tượng mức giá, thời điểm chi trả tiền DVMT rừng trên địa bàn; tham mưu Sở NN&PTNT triển khai chính sách chi trả DVMT rừng theo Nghị định 99. Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tham mưu đấu nối và ký hợp đồng ủy thác tại 6 đơn vị.
Ông Nguyễn Hữu An - Trưởng BQL Rừng phòng hộ sông Ngàn Phố (Hương Sơn) - đơn vị nhận tiền chi trả nhiều nhất tỉnh, chia sẻ: "Theo kế hoạch đã được thông qua, đơn vị chúng tôi được nhận hơn 1,7 tỷ đồng từ chính sách DVMT rừng. Đây thực sự là nguồn tài chính lớn để đơn vị đầu tư vào công tác bảo vệ rừng. Theo đó, sau khi nhận tiền sẽ bổ sung lực lượng trực tiếp bảo vệ tại địa bàn, mua sắm trang thiết bị phục vụ công việc… Đặc biệt, đây cũng là nguồn động viên rất lớn để anh em yên tâm công tác".
Nhìn chung, các chủ rừng, đặc biệt là người dân rất phấn khởi, hào hứng khi thành quả lao động, kết quả công tác trồng, bảo vệ rừng của mình lâu nay đã được xã hội ghi nhận và bước đầu được hưởng lợi từ những thành quả đó.
Mặc dù triển khai được gần 2 năm, nhưng đến nay, tiền chi trả vẫn chưa đến được với đối tượng hưởng lợi. Nguyên nhân chủ yếu do quy trình triển khai thực hiện còn nhiều bất cập. Một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã ký hợp đồng ủy thác nhưng chậm thực hiện việc chuyển tiền về quỹ.
Công tác rà soát, thống kê, lập hồ sơ chi trả DVMT rừng đối với từng chủ rừng gặp nhiều khó khăn do những bất cập, tồn tại trước đây trong công tác giao đất lâm nghiệp và tình trạng tự ý chuyển đổi quyền sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của người dân. Thủy điện là nguồn thu chính của tiền DVMT rừng hiện nay, trong khi đó, Hà Tĩnh chưa có nhiều công trình thủy điện, đây là khó khăn lớn khi triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng…
Chính sách chi trả DVMT rừng là phù hợp với việc khuyến khích người có rừng sống được bằng nghề rừng, giúp họ bảo vệ rừng hiệu quả, song, việc chi trả hiện nay còn quá thấp, chưa tương xứng với công sức người dân bỏ ra. Trao đổi với một số hộ dân ở xã Hương Lâm (Hương Khê), được biết, bình quân mỗi gia đình mới nhận được gần 20.000 đồng/ha/năm tiền bảo vệ rừng. Đây thực sự là số tiền quá ít và người dân không thể sống được nếu chỉ trông chờ vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng.
Có thể nói, chi trả DVMT rừng là một chính sách vô cùng ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay. Ðây chính là "lối thoát" trong việc huy động nguồn lực tài chính ngoài ngân sách nhà nước cho các chủ rừng là tổ chức. Còn đối với các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, thì số tiền chi trả chính là động lực để họ cải thiện cuộc sống, từ đó, nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng.
Để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, tỉnh ta đang đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng, cho thuê rừng; sớm phê duyệt kế hoạch thu - chi, đẩy mạnh việc tuyên truyền triển khai thực thi chính sách, nhất là việc cụ thể hóa các quy định, hướng dẫn của các bộ, ngành T.Ư phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhằm giải ngân đầy đủ, kịp thời tiền DVMT rừng đến từng chủ rừng, các hộ, cá nhân được thụ hưởng.
Đồng thời, tích cực rà soát, thống kê các đơn vị sử dụng phải chi trả để tăng nguồn thu, tăng mức chi trả cho đơn vị, cá nhân cung ứng, góp phần thực hiện chính sách đúng với phương châm "lấy rừng nuôi rừng"… (Báo Hà Tĩnh 23/11) đầu trang(
Sau hơn 3 năm thực hiện, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã và đang tạo sự chuyển biến tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và huyện Phong Thổ nói riêng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn có rừng.
Ông Nguyễn Đình Hòa, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phong Thổ, cho biết: Trong 3 năm (2012, 2013, 2014) tổng diện tích giao khoán toàn huyện là 157.409 lượt hecta rừng, đến nay đã có 104.827ha được nghiệm thu, thanh toán chi trả DVMTR với tổng số tiền lên đến gần 36 tỉ đồng.
Theo báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR huyện Phong Thổ, từ nguồn DVMTR, thu nhập của các chủ rừng, hộ nhận khoán đã tăng lên đáng kể, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện. Ngoài ra, chính sách này còn giúp nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
Từ đó, nhiều bản đã xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng. Không chỉ có người dân được hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR mà còn giúp chuyên môn và năng lực quản lý của cán bộ bảo vệ rừng được nâng lên thông qua các lớp tập huấn, các buổi tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng.
Từ khi thực hiện chính sách này, chính quyền các cấp ở Phong Thổ đã yên tâm hơn khi rừng được giao đến từng hộ. Đặc biệt, số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy giảm rõ rệt, số vụ vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng năm 2013 giảm xuống còn 2 vụ so với 10 vụ năm 2012.
Trên địa bàn tỉnh không có tụ điểm lớn về phá rừng. “Hầu hết các vụ vi phạm về phá rừng trái phép và vận chuyển lâm sản trái phép đều được cán bộ quản lý bảo vệ rừng cùng người dân nhận khoán phát hiện và ngăn chặn kịp thời!”, ông Hòa khẳng định.
Ông Nguyễn Thế Hải, Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Phong Thổ nói thêm: “Qua thực hiện chính sách chi trả DVMTR, cái được lớn nhất là nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, các đơn vị quản lý và bảo vệ rừng dễ dàng hơn trong việc xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng”.
Trao đổi với phóng viên Báo Kinh tế nông thôn, ông Lý Quang Minh, Phó chủ tịch UBND huyện, cho biết: “Để việc chi trả đúng đối tượng, đúng diện tích thì công tác rà soát xác định chủ rừng, diện tích được chi trả tiền DVMTR và lập hồ sơ quản lý rất quan trọng. Hiện nay, việc xác định chủ rừng và diện tích được chi trả tiền DVMTR tại Phong Thổ được cơ quan chuyên môn tổ chức rà soát hàng năm và được thực hiện rất chặt chẽ, nghiêm túc, đúng với quy định. Bên cạnh công tác kê khai, rà soát xác định diện tích ranh giới rừng phải chính xác, đúng đối tượng thì công tác tuyên truyền, vận động cũng cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, hiệu quả, nhất là ở các bản vùng sâu,  vùng xa”.
Có thể nói hiệu quả thiết thực của chính sách chi trả DVMTR đã, đang và sẽ là tiền đề cho người dân Phong Thổ tiếp tục phát huy nguồn lợi từ rừng, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo nguồn lực vững chắc cho phát triển lâm nghiệp trên địa bàn. (Kinh Tế Nông Thôn 21/11) đầu trang(
21.11, ông Nguyễn Văn Yên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, cho biết vừa có văn bản yêu cầu Sở NN-PTNT tổ chức cho cán bộ, công chức, viên chức khai báo diện tích đất đang canh tác trên địa bàn, để nắm thông tin và xử lý vi phạm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Với lực lượng kiểm lâm và lực lượng quản lý bảo vệ rừng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp để đủ sức “đề kháng” với tiêu cực, không bao che, tiếp tay cho các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép.
Thời gian gần đây, ở tỉnh Lâm Đồng xảy ra nhiều vụ lấn chiếm đất rừng, ken cây rừng... cạnh các trạm quản lý bảo vệ rừng nhưng chưa tìm ra thủ phạm. (Thanh Niên 22/11, tr5) đầu trang(
Căn cứ vào quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp, kế hoạch trồng rừng năm 2014, ngay từ đầu năm, huyện Thạch Thành đã giao kế hoạch trồng rừng cụ thể đến từng xã; chỉ đạo các phòng, ban có liên quan phối hợp với các xã hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây trồng cho bà con nông dân; huy động nhân dân đào hố trồng cây theo quy hoạch, bảo đảm hoàn thành diện tích theo kế hoạch được giao.
Phối hợp với các ban quản lý dự án trồng rừng nhằm bảo đảm các điều kiện phục vụ cho công tác trồng, chăm sóc rừng. Đến hết tháng 10 – 2014, huyện Thạch Thành trồng được 595 ha rừng, tăng 49% so với kế hoạch; trong đó, trồng theo Dự án WB3 là 541 ha, dự án Jica là 54 ha. Ngoài ra, huyện tiếp tục chỉ đạo chăm sóc 2.020 ha rừng đã trồng các năm trước.
Hiện huyện Thạch Thành đang tập trung rà soát quỹ đất, xây dựng kế hoạch trồng rừng năm 2015, trong đó trọng tâm là trồng cây mắc ca. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Thanh Hóa 21/11) đầu trang(
21-11, UBND tỉnh Bình Phước phối hợp với Công ty Bureau Veritas Việt Nam tổ chức hội thảo dự án quản lý và phát triển rừng bền vững. Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi và ông Trịnh Tuấn Dũng, Tổng giám đốc Công ty Bureau Veritas Việt Nam đồng chủ trì.
Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, ông Trịnh Tuấn Dũng đã đưa ra 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí để quản lý và phát triển rừng bền vững. Theo ông Dũng, nếu các chủ rừng được cấp chứng nhận quản lý rừng bền vững thì giá trị các sản phẩm có xuất xứ từ rừng sẽ được nâng cao từ 15 đến 30% trên thị trường.
Bình Phước hiện có trên 179.000 ha rừng, nếu được cấp chứng nhận FSC (Hội đồng quản lý rừng bền vững) thì chuỗi giá trị từ rừng sẽ tăng cao. Tuy nhiên từ trước tới nay, Bình Phước chưa có đơn vị chủ rừng nào được cấp chứng nhận FSC.
Tại hội thảo, Công ty Bureau Veritas Việt Nam cùng Công ty cổ phần Hải Vương đã ký kết hợp đồng hỗ trợ thực hiện “Dự án quản lý và phát triển rừng bền vững”. Dự án được thực hiện trong vòng hai năm 2015 và 2016 trong tổng diện tích 3.000 ha rừng của Công ty cổ phần Hải Vương trên địa bàn tỉnh.
Phát biểu kết luận hội thảo, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Lợi cho rằng, việc ký kết hợp đồng thực hiện dự án quản lý và phát triển rừng bền vững sẽ giúp các đơn vị chủ rừng và người dân nâng cao nhận thức, hiểu biết đúng hơn giá trị của rừng.
Phó chủ tịch UBND tỉnh đề nghị Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn công bố quy hoạch rừng của từng huyện, thị nhằm tạo tiền đề cho việc hợp tác phát triển rừng bền vững tại Bình Phước. (Báo Bình Phước 21/11) đầu trang(
Cùng với việc triển khai các biện pháp đồng bộ bảo vệ an toàn diện tích rừng trên địa bàn, sau 5 năm (2009-2013) triển khai chương trình trồng rừng theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hạt Kiểm lâm Quan Hóa (thuộc chi cục kiểm lâm) đã tập trung chỉ đạo, tổ chức cho các hộ nhận khoán trồng được 1.925 ha rừng sản xuất, chủ yếu là xoan ta, lát hoa, luồng.
Riêng 10 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm Quan Hóa đã cung ứng vật tư, cây giống “đầu vào”, chỉ đạo, tổ chức cho các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp các xã như Thành Sơn, Trung Thành, Phú Xuân, Nam Động trồng mới được 200 ha (hoàn thành kế hoạch trồng rừng sản xuất năm 2014 do UBND tỉnh giao). (Báo Thanh Hóa 21/11) đầu trang(
Theo báo cáo của UBND huyện Ba Chẽ, từ đầu năm đến nay, huyện đã thẩm định 3.713 hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Đến thời điểm này đã cấp được 3.548 giấy, đạt tỷ lệ trên 95% giấy cần cấp. Còn lại 165 hồ sơ xin cấp giấy chưa đủ điều kiện để cấp đang được phòng chức năng huyện thẩm định lại, qua đó sẽ tiếp tục hướng dẫn, bổ sung hoàn thiện thủ tục để cấp giấy cho người dân.
Như vậy, đến thời điểm này công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Ba Chẽ đang đạt kết quả tốt. (Báo Quảng Ninh 20/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Khắp châu Phi, tệ trạng tàn sát voi đang tăng tốc kinh khủng. Theo ước tính gần đây, số voi bị giết đã lên tới 100.000 con chỉ trong vòng ba năm, đang đe dọa hiểm họa tuyệt chủng loài động vật này.
Lò mổ voi cũng có sẵn ở Tanzania, nguồn cung cấp ngà voi lậu lớn nhất. Cứ một trong ba con voi bị săn lậu ở châu Phi nằm trong phạm vi theo dõi của Tổng thống Tanzania, ông Jakaya Kikwete.
Chính phủ của ông đã thực hiện một số biện pháp công khai chống lại nạn săn bắn lậu trong năm qua. Một trong số đó là kế hoạch phá hủy 112 tấn ngà voi, trị giá 50 triệu USD, thay vì bán chúng. Những nhóm săn bắn vũ trang đã được gửi đến các công viên quốc gia để xua đuổi bọn săn lậu. Tuy vậy, những cuộc săn ngà vẫn tăng lên.
Vấn đề có thể là do chính phủ thất bại trong quá trình điều tra và truy tố những nghi phạm cấp cao. Một số trong bọn chúng được biết có quan hệ thân cận với đảng Cách mạng (CCM) cầm quyền, đang chi phối chính trị ở Tanzania từ khi đất nước giành được độc lập.
Tình trạng tham nhũng có mặt trên khắp các thương vụ đen ở Tanzania về ngà voi từ thảo nguyên ra nước ngoài. Ở đáy của mạng lưới săn trộm là những kẻ trợ giúp được thuê, những người này thường xuất thân từ quân đội. Nếu có bị bắt, các sĩ quan được thuyên chuyển sang các nơi làm việc mới thay vì bị sa thải. Một số người tố cáo những người lính đã cung cấp súng cho những kẻ săn trộm. Cách đây ba năm, Andre de Kock, một thợ săn hợp pháp, phát hiện thấy một nhóm săn trộm và anh đã bị giết với vũ khí thuê từ một sĩ quan.
Thậm chí được biết cảnh sát còn hộ tống những đoàn xe chở ngà voi lậu. Năm ngoái, một cảnh sát đụng độ một xe quân đội phía ngoài Arusha, ở bắc Tanzania, với một chồng các ngà voi và một khẩu súng có bộ phận hãm thanh. Theo sau cuộc phân tích quá trình những cuộc gọi của người này, nhà chức trách phát hiện một lãnh đạo thuộc cơ quan truy tìm tội phạm khu vực dính líu trực tiếp vào hoạt động buôn lậu ngà voi, cùng với các quan chức thâm niên trong thành phố. Tuy vậy, không có một người nào bị truy tố cả.
Cáo buộc tham nhũng có liên quan đến những chính khách chóp bu trong đảng cầm quyền Tanzania hiện được xem là mối quan tâm lớn nhất. Trong năm qua, các cuộc phỏng vấn quan chức, thợ săn, nhà bảo tồn thiên nhiên, dân làng, nhà buôn và những nhà điều tra, cho thấy giới chức cấp cao đều có ăn chia lợi nhuận từ săn lậu ngà voi. Có thể nói buôn bán ngà voi đang ở vào giai đoạn cực thịnh vì có dính dáng với giới chính khách, nên nó càng khó bị phát hiện. (Công An TPHCM 20/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng