Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 23 tháng 08 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Sở NN & PTNT, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An vừa tổ chức Hội nghị triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn.
Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên 1 triệu 648 ngàn ha, trong đó hơn 1 triệu 173 ngàn ha rừng và đất lâm nghiệp; giá trị trực tiếp của rừng đem lại từ 20 – 30%, gián tiếp 7- 80%. Người lao động lâm nghiệp là chủ rừng trực tiếp đầu tư vốn, lao động để trồng rừng, bảo vệ rừng, các giá trị sử dụng của rừng; mọi thành viên trong xã hội thụ hưởng giá trị đó. Vì vậy, cần hình thành thị trường trao đổi giữa người sử dụng và người hưởng thụ.
Tháng 6/2011, UBND tỉnh thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Thực hiện Nghị định 05/ 2008 về quỹ bảo vệ và phát triển rừng và Nghị định số 99 của của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Nghị định số 99 của Chính phủ mục đích nêu rõ: Đổi mới cơ chế quản lý ngành lâm nghiệp, tạo nguồn tài chính cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; cải thiện và từng bước nâng cao thu nhập của những đối tượng trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng; xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng; góp phần bảo vệ rừng tốt hơn, theo đó nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gồm chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp.
Rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trường rừng gồm: rừng phòng hộ; rừng sản xuất; rừng đặc dụng. Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng có 5 nguyên tắc: tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ rừng; thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bằng tiền thông qua hình thức trực tiếp; tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng; đảm bảo công khai dân chủ, khách quan, công bằng, phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
Đối tượng và loại dịch vụ phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện. Mức chi trả là 20 đồng/KWh điện thương phẩm trong kỳ thanh toán. Các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch. Mức chi trả là 40 đồng/m3 nước thương phẩm trong kỳ thanh toán.
Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng, các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước; các đối tượng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Đối tượng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng gồm: Chủ rừng của các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng; Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước. (Theo Đài PT – TH Nghệ An 23/8)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Nhờ phát huy nội lực, khai thác thế mạnh của địa phương đó là phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nên đời sống của người dân xã vùng cao Noong U đang từng ngày khởi sắc...
Những năm qua, cấp ủy Đảng, Chính quyền xã Noong U, huyện Điện Biên Đông đã có nhiều giải pháp tích cực, chỉ đạo quyết liệt nhân dân tập trung phát triển lâm nghiệp, trong đó khâu quan trọng nhất là nhận khoán khoanh nuôi, tái sinh rừng, nhằm phát huy hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập từ rừng. Thông qua các chương trình, dự án: PAM, 327, 661 và gần đây là Nghị quyết 30a, xã Noong U được đầu tư, hỗ trợ nhiều tỷ đồng để trồng mới, khoanh nuôi, tái sinh rừng. Chính quyền xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tuyên truyền, vận động, ký cam kết tới từng hộ dân tham gia bảo vệ rừng, nhờ đó hạn chế tới mức thấp nhất các vụ cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Ông Cứ Chừ Chá, Phó Chủ tịch UBND xã Noong U, cho biết: Trước đây, cứ vào mùa khô là rất nhiều những cánh rừng của xã cháy rực, tro bụi bay mù mịt, không khí ngột ngạt, nhất là những ngày gió Lào. Đốt rừng, phá rừng nhiều để lấy đất sản xuất, nhưng cuộc sống người dân không thể nâng lên.
Nguyên nhân là bà con không được tiếp cận KHKT thâm canh cây lương thực, chỉ sản xuất theo kinh nghiệm, gieo giống cũ, năng suất thấp. Những năm gần đây, nhờ thay đổi tư duy, nhận thức cũng như giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương, với phương châm trồng gắn với chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, xã đã vận động, khuyến khích các hộ có đất rừng tập trung phát triển theo hướng nông - lâm kết hợp; chú trọng trồng rừng giá trị kinh tế cao và rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ.
Nhờ đó, đi về các bản của xã Noong U, chúng ta dễ dàng nhận thấy những mô hình trồng, khoanh nuôi, tái sinh rừng mang lại hiệu quả kinh tế. Phía trên cao, do độ dốc lớn, bà con tập trung phát triển rừng, nơi độ dốc vừa phải thì canh tác lương thực và phía gần khe, suối làm ao thả cá. Cả quả đồi rộng hàng chục héc ta, cây rừng đang độ khép tán, không khí mát mẻ, việc sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm theo đó cũng thuận lợi hơn, cho giá trị kinh tế cao hơn. Tính đến nay, toàn xã đã có hàng chục hộ dân áp dụng mô hình nông - lâm kết hợp, trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như gia đình ông Cứ Văn Sao; Cứ Văn Tuân; Lò Văn Thỉnh...
Bên cạnh tập trung phát triển kinh tế đồi rừng, người dân xã Noong U nhận thức được tác hại của việc chặt phá rừng bừa bãi là nguyên nhân làm cho môi trường sống bị thay đổi và nguồn nước sinh hoạt, sản xuất dần cạn kiệt. Cũng chính do phá rừng nên lũ ống, lũ quét xảy ra ngày càng nhiều, quy mô, mức độ phức tạp, khó lường. Do đó người dân xã Noong U đã vận động nhau bảo vệ rừng. Các quy ước, hương ước về công tác bảo vệ rừng đã hình thành, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, bà con nâng cao ý thức thực hiện. Với những cánh rừng gần bản, rừng đầu nguồn nước, nhân dân bảo vệ rất tốt.
Thời gian qua, mặc dù các hộ nghèo trong xã được hưởng lợi Quyết định 167 và Nghị quyết 30a về xoá nhà tạm, bà con cần lượng gỗ khá lớn để dựng nhà. Tuy nhiên, bà con phải vào các cánh rừng ở xa bản hàng chục cây số, nơi UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện cho phép, đánh dấu búa bài cây để lấy gỗ, tuyệt đối không xem xét cho bất kỳ hộ nào khai thác gỗ gần bản.
Ông Sùng Giống Dua, người dân bản Tìa Mùng, xã Noong U, cho biết: Xác định sống ở miền rừng thì phải dựa vào rừng, gắn bó với rừng, vì vậy trong khoảng 5 năm gần đây, phần lớn diện tích rừng bị chặt trước đó để làm nương đã được bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, cây rừng dần tươi tốt, trả lại môi trường sống trong lành và góp phần giữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Những diện tích ngô, lúa dưới chân rừng có nước tưới đều đặn, giữ ẩm tốt, nên phát triển xanh tươi, dồi dào sức sống hơn, năng suất theo đó cũng tăng lên.
Kiên quyết, bền bỉ, kết hợp với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã giúp Noong U thành công trong công tác bảo vệ rừng. Bài học kinh nghiệm là sự đồng thuận của cộng đồng trong công tác bảo vệ, phát triển vốn rừng. Hàng nghìn héc ta rừng của xã đã được phủ kín màu xanh, giúp môi trường trong lành, theo đó người dân xoá được đói, giảm được nghèo, từng bước vươn lên làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương. (Báo Điện Biên 22/8)đầu trang(
Rừng ngập mặn kéo dài ở 5 xã bãi ngang của huyện Hậu Lộc hiện đang phát triển khá tốt, nhiều loài hải sản như dắt, don, khều, cá bớp, cáy, cua... đã về sinh sống; một số loại chim như bói cá, thọc dun, vạc, cò... đã về sinh sống, trú ngụ.
Người dân địa phương cho biết: cách đây hơn 1 tháng, tại rừng ngập mặn này, một “thợ săn” đã bắn chết một con sếu đầu đỏ có gắn chíp điện tử. Hành vi này cần phải lên án. Việc rừng ngập mặn có cả sếu đầu đỏ về là rất đáng mừng, bởi vì “đất lành, chim đậu”, nghĩa là rừng ngập mặn đã trở thành môi trường sinh thái cho các loài sinh vật trú ngụ, sinh sống.
Đề nghị các lực lượng chức năng, như bộ đội biên phòng, công an các địa phương có rừng ngập mặn, cũng như mọi người dân kiên quyết ngăn chặn và có biện pháp nghiêm cấm săn bắn chim ở rừng ngập mặn. Trồng rừng gắn với bảo vệ rừng ngập mặn là nhiệm vụ của các cấp ủy, chính quyền và mọi người dân để rừng phát triển xanh tốt, vừa có tác dụng chắn sóng lại có nguồn thu từ khai thác thủy sản, xa hơn nữa, rừng ngập mặn có thể trở thành khu du lịch sinh thái lý tưởng. (Báo Thanh Hoá 22/8) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Địa bàn huyện Ngân Sơn giáp ranh với các huyện Na Rì, Bạch Thông và Ba Bể (Bắc Kạn) và hai huyện Nguyên Bình, Thạch An (Cao Bằng) với chiều dài toàn tuyến giáp ranh hơn 100km, trong đó có hàng trăm héc-ta rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Công tác bảo vệ rừng khu vực giáp ranh đã và đang được huyện đặc biệt quan tâm, bảo vệ.
Hiện nay hoạt động của lâm tặc ngày càng tinh vi, xảo quyệt, mức độ tàn phá rừng lớn chỉ trong thời gian ngắn, tình hình lấn chiếm đất lâm nghiệp, đốt nương, rẫy… cũng diễn biến hết sức phức tạp. Do đó việc bảo vệ khu vực rừng giáp ranh rất cần sự vào cuộc của các lực lượng của tỉnh bạn và huyện bạn.
Theo đó để đảm bảo công tác giữ và phát triển rừng, Hạt Kiểm lâm huyện Ngân Sơn đã tham gia cụm an ninh liên hoàn (phối hợp với các đơn vị, lực lượng chức năng ở các địa bàn giáp ranh) xây dựng và triển khai kế hoạch, phương án phối hợp quản lý, bảo vệ rừng giáp ranh trên từng địa phương cụ thể; đồng thời tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng đến các xã, thôn bản vùng giáp ranh, đặc biệt trú trọng công tác tuyên tuyền đến các thôn bản vùng giáp ranh là người dân tộc thiểu số; thực hiện trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp xử lý vi phạm.
Ông Hoàng Xuân Hải, Hạt trưởng hạt kiểm lâm Ngân Sơn: Mặc dù địa bàn giáp ranh đi lại xa xôi, lực lượng cán bộ kiểm lâm còn hạn chế, công cụ và phương tiện tác nghiệp còn nghèo nàn. Tuy nhiên trong thời gian quan việc bảo vệ rừng giáp ranh đã được đơn vị triển khai theo kế hoạch đã được xây dựng; đơn vị thường xuyên tuần tra những khu vực rừng giáp ranh, nơi có gỗ lớn để nắm bắt tình hình kịp thời. Trọng tâm vẫn là công tác tuyên truyền đến người dân lân cận khu vực giáp ranh.
Cùng với việc bảo vệ rừng giáp ranh, công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động khai thác gỗ được cấp phép trên địa bàn huyện cũng được triển khai thường xuyên. Từ đầu năm đến nay Hạt Kiểm lâm huyện đã cấp gần 80 giấy phép cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn khai thác gỗ với tổng khối lượng gỗ các loại được khai thác trên 8.000m3.
Trong đó xã cấp 49 giấy phép, huyện cấp 23 giấy phép, sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấp 04 giấy phép. Các giấy phép được cấp khai thác và khai thác tỉa thưa chủ yếu là gỗ thông. Qua công tác tuần tra, kiểm soát, lực lượng kiểm lâm huyện Ngân Sơn đã phát hiện và lập biên bản xử lý 10 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó có 5 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, đã tạm giữ 1 ô tô và 4 cưa xăng, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 90 triệu đồng.
Đồng chí Nông Thanh Bạch, Chủ tịch UBND xã Bằng Vân cho biết: Xã Bằng Vân là xã có đường biên giáp ranh với huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) với hơn 10 km. Trong những năm qua, ngoài việc phối hợp với các ngành chức năng thực hiện việc quản lý bảo rừng- đặc biệt là rừng giáp ranh, chính quyền xã còn thường xuyên quan tâm đến đời sống của đồng bào vùng giáp ranh để từ đó hiểu được những tâm tư nguyện vọng của bà con; tích cực tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về việc bảo vệ và phát triển rừng tới nhân dân... nên đến nay chưa xảy ra vụ việc nào việc lợi dụng khu vực rừng giáp ranh để phá hoại rừng.
Phát huy những kết quả đã đạt được, thời gian tới lực lượng kiểm lâm huyện Ngân Sơn xác định sẽ tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, duy trì các hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm lâm luật trên địa bàn. (Báo Bắc Kạn 23/8)đầu trang(
Việc quản lý đất lâm nghiệp đưa ra khỏi 03 loại rừng ở tỉnh Bình Thuận, giai đoạn 2006 - 2010 thực hiện khá chậm. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý đất đai.
Trong cuộc họp diễn ra vào hôm nay, 21/8, ông Lê Tiến Phương – Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, cơ quan chức năng và các địa phương phối hợp chặt chẽ và đẩy nhanh tiến độ công việc này.
Tính đến nay, toàn tỉnh có khoảng 20.740 ha được quy hoạch điều chỉnh đưa ra ngoài đất lâm nghiệp giai đoạn 2006 -2010, đã hoàn chỉnh về hồ sơ, thủ tục. UBND tỉnh có quyết định thu hồi diện tích này, giao về cho các địa phương và các thành phần kinh tế khác quản lý, sử dụng.
Tuy nhiên vẫn còn hơn 12.750 ha dù đã và đang được các địa phương xây dựng, phê duyệt phương án bố trí sử dụng đất nhưng chưa có quyết định thu hồi. Như vậy, đến cuối kỳ quy hoạch tỉnh vẫn chưa hoàn thành thủ tục thu hồi, giao đất về cho địa phương quản lý. Điều này gây ra những khó khăn cho công tác quản lý nhà nước; đồng thời dễ dẫn đến tình trạng người dân tiếp tục lấn chiếm đất lâm nghiệp.
Có nhiều nguyên nhân, trong đó sự chỉ đạo của địa phương cùng các ngành chức năng thiếu tập trung và kiên quyết là nguyên nhân trực tiếp. Đẩy nhanh tiến độ giao đất cho các địa phương sử dụng. Với yêu cầu này, ông Lê Tiến Phương – Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, cơ quan chức năng và các địa phương khẩn trương làm quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; đồng thời tiếp tục rà soát đất lâm nghiệp điều chỉnh đưa ra 03 loại rừng theo quyết định 674 của UBND tỉnh. Đối với diện tích đã giao thì phải quản lý sử dụng cho đúng mục đích, làm thủ tục giao đất cụ thể cho dân sản xuất.
Đối với diện tích chưa làm thủ tục giao cho các địa phương quản lý, Chủ tịch UBND tỉnh cũng đã có chỉ đạo cụ thể. Các sở, ngành, địa phương phải phối hợp chặt chẽ, tháo gỡ ngay những vướng mắc, giải quyết dứt điểm toàn bộ công việc trong năm 2012. Ông Lê Tiến Phương cũng yêu cầu các sở, ngành liên quan, cùng địa phương rà soát thực hiện nghiêm túc các sai sót cần phải khắc phục theo kiến nghị của Thanh tra tỉnh, đối với các dự án nông – lâm nghiệp. Tỉnh Bình Thuận sẽ rà soát và tiến tới thu hồi đối với một số dự án sử dụng đất không đúng quy định.
Giai đoạn 2011 – 2020, tỉnh Bình Thuận điều chỉnh đưa ra ngoài 03 loại rừng hơn 26.000 ha. Trong số diện tích này, có gần 18.800 ha đã bị xâm canh sản xuất nông nghiệp. (Đài PT-TH Bình Thuận 21/8) đầu trang(
21–8, ông Trần Văn Lương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng cho biết: Trong 8 tháng đầu năm, lực lượng kiểm lâm Đà Nẵng đã lập biên bản 92 vụ vi phạm hành chính về các hành vi vận chuyển, mua bán, tàng trữ trái phép lâm sản, xử phạt vi phạm hành chính và nộp ngân sách gần 550 triệu đồng.
Trong 8 tháng đầu năm đã tổ chức 158 đợt truy quét các hành vi phá rừng, vận chuyển, buôn bán lâm sản và động vật hoang dã trái phép trên địa bàn thành phố. Qua truy quét, lực lượng kiểm lâm đã thu giữ được 245 sợi dây bẫy làm bằng cáp, 8 lồng bẫy bằng sắt, hơn 61.000m3 gỗ các loại và nhiều loại động vật quý hiếm khác. Ngoài ra, 27 hầm khai thác than, 5 hầm khai thác vàng trái phép và nhiều vật dụng khác đã bị phá hủy trong các đợt truy quét. (Đại Đoàn Kết 22/8)đầu trang(
20/8, Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) tỉnh , Hội CTĐ huyện Tân Lạc đã phối hợp cùng UBND, Hội CTĐ xã Mãn Đức tổ chức lễ ra quân trồng rừng phòng hộ giảm thiểu rủi do, thảm họa tại xóm Định I. Hoạt động này nằm trong Dự án do Hội CTĐ Nhật Bản tài trợ thông qua Hiệp Hội CTĐ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.
Tại lễ ra quân đã có trên 30 đoàn viên, TNV CTĐ tham gia trồng 6 ha cây keo, lát của xã. Số diện tích rừng này phát triển có ý nghĩa phòng hộ, giảm rủi ro cho khu vực hồ và những hộ dân trong khu vực của xã, góp phần giảm tác động của bão, sạt, lở đồi; cải thiện môi trường sống; tạo nguồn lợi kinh tế từ rừng, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho người dân trong xã.
Dự án trong năm 2012 sẽ được triển khai trồng 15 ha tại 2 xã Thanh Hối và Mãn Đức (Tân Lạc). (Báo Hòa Bình 22/8)đầu trang(
UBND tỉnh Kon Tum đã quyết định xuất số tiền 2 tỷ đồng từ ngân sách địa phương cho Ban quản lý dự án 5 triệu ha rừng - Công ty Đầu tư và Phát triển nông-lâm-công nghiệp và dịch vụ huyện Đăk Tô.
Ngày 21.8, ông Nguyễn Văn Hùng - Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum - cho biết đã quyết định xuất số tiền 2 tỷ đồng từ ngân sách địa phương cho Ban quản lý dự án 5 triệu ha rừng - Công ty Đầu tư và Phát triển nông-lâm-công nghiệp và dịch vụ huyện Đăk Tô, để tiếp tục thực hiện dự án bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh.
Được biết số kinh phí này sẽ được dành để trồng mới 2ha vườn sâm giống và chăm sóc diện tích sâm đã trồng tại huyện Tu Mơ Rông. (Nông Thôn Ngày Nay 22/8)đầu trang(
23 năm tâm huyết với nghề dạy học, thầy giáo Phạm Văn Bé ở ấp Đức Ngãi I, xã Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa, Long An, còn có niềm say mê chăn nuôi.
Ngoài lương giáo viên, mỗi tháng thầy Bé còn thu lãi trên 42 triệu đồng từ bán sâu (sâu super Worm) và rắn mối.
Thầy Bé tâm sự, năm 2009 thấy phong trào nuôi chim cảnh ở TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận nở rộ, nhu cầu thức ăn cho chim rất lớn, thầy quyết định nuôi sâu để bán. Thầy lên mạng tìm tài liệu về nuôi sâu. Đến nay với 200m2 đất phía sau nhà, thầy làm 240 khay, để nuôi sâu.
Thầy Bé cho biết, sâu từ lúc đẻ trứng đến lúc bán khoảng 2 tháng, trung bình mỗi tháng thầy bán 400kg sâu, giá hiện nay khoảng 120.000 đồng/kg, trừ chi phí lãi khoảng 36 triệu đồng/tháng. Đầu ra của sâu chủ yếu ở các điểm bán thức ăn cho cá và chim cảnh ở TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận. Cũng cùng với thời điểm nuôi sâu, thầy Bé nuôi thử rắn mối trên diện tích 3.000m2 đất sau nhà.
Thầy cho biết, lúc đầu do hầu hết số rắn mối mua về đều từ nguồn đi câu, chúng bị thương ở miệng, khi thả nuôi, chúng không ăn mồi được, nên chết dần chết mòn. Thầy tìm tài liệu nói về đặc tính, cách sống, cách săn mồi của rắn mối để tìm cách nuôi đạt hiệu quả. Và thầy đã nuôi thành công rắn mối thương phẩm và rắn mối bố mẹ. Đến nay, thầy thả nuôi khoảng 40.000 con rắn mối thương phẩm và rắn mối giống.
Thầy Bé cho biết, rắn mối từ lúc đẻ đến lúc bán được và sinh sản khoảng 3,5 tháng, thức ăn chủ yếu là cá phân mua ở chợ về nấu nhừ với gạo, rồi cho rắn mối ăn. Khi phát hiện rắn mối mang thai, thì bắt ra nhốt ở một ngăn riêng, để phát triển nguồn giống, số còn lại thì bán rắn mối thịt. Hiện nay, trung bình mỗi tháng thầy bán khoảng 20kg rắn mối, mỗi kg giá khoảng 500.000 đồng, trừ chi phí thầy thu lãi trên 8 triệu đồng. Đầu ra của rắn mối chủ yếu là các nhà hàng đặc sản ở TP.Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Hoàng Tân- Phó Chủ tịch Hội Nông dân (ND) huyện Đức Hòa cho biết: "Thầy Bé vừa là một giáo viên giỏi, vừa là một ND chăn nuôi giỏi và là một Mạnh Thường Quân hay giúp đỡ các hộ nghèo trong vùng. Từ năm 2009 đến nay, thầy Bé được công nhận ND sản xuất kinh doanh giỏi cấp huyện và đang được đề nghị Hội ND tỉnh Long An công nhận ND sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh. (Nông Thôn Ngày Nay 22/8)đầu trang(
Mỗi năm, anh Long Anh bán khoảng 130 kg rắn thịt và 500 con rắn giống thu lãi hơn 150 triệu đồng. Giá rắn thịt hiện hành là 800.000 - 1 triệu đồng một kg.
Bản tính cần cù, chịu khó, sau khi phục viên về địa phương, anh Nguyễn Long Anh, sinh năm 1959, ngụ ấp 2, xã Mỹ Thạnh Bắc, Đức Huệ, Long An, đã cố gắng tích góp đầu tư chăn nuôi với mong muốn cải thiện kinh tế gia đình.
Nhiều năm phát triển mô hình nuôi gà cho thu nhập cao, đến năm 2004, gặp ảnh hưởng dịch bệnh nặng nề nên anh phải tìm hướng đi mới. Qua nghiên cứu và được sự hướng dẫn của cán bộ nông nghiệp huyện, anh Long Anh đã đến với nghề nuôi rắn ri voi. Mô hình này đã giúp anh có điều kiện phát triển kinh tế và nuôi con ăn học trong suốt 6 năm qua.
Ban đầu, anh nuôi khoảng 40 con rắn nhưng do chưa nắm vững kỹ thuật nuôi nên rắn chết gần hết. Sau đó, anh tìm đến cán bộ kỹ thuật để được hướng dẫn và rút kinh nghiệm thêm. Anh đầu tư xây bể xi măng với diện tích 300 m2, chia thành 10 bể nuôi bố trí đúng quy trình kỹ thuật: bể cao tối thiểu 1 m để đảm mực nước ít nhất là 0,5 m.
Đáy bể lót bùn đất dày 20-30 cm, có hệ thống van để cấp, xả nước. Mặt trong bể tráng xi măng thật bóng để tránh xây sát cho rắn nuôi.
Nguồn nước cấp vào bể lấy từ giếng khoan, sau đó xử lý hết các chất kim loại nặng mới bắt đầu thả rắn ri voi giống vào bể nuôi, cũng có thể tận dụng nguồn nước mưa cấp vào bể nuôi . Hiện tại, anh nuôi hơn 300 con rắn, trong đó có 40 cặp rắn bố mẹ.
Anh Long Anh cho biết, nuôi rắn ri voi không khó, nhất là ở vùng nông thôn, bởi thức ăn của rắn là các loài ếch nhái, cá con… rất dễ kiếm. Trung bình, mỗi con rắn phải hơn 10 ngày mới ăn một lần, sau đó thay da, rồi 3 ngày sau mới ăn tiếp.
Mỗi năm, rắn chỉ đẻ một lần vào mùa mưa, trung bình 10-20 con. Rắn cũng ít bị bệnh, người nuôi chỉ cần lưu ý thời gian sử dụng thuốc phòng ngừa theo mùa để rắn sinh trưởng tốt.
Hiện giá rắn thịt khoảng 800.000 đến 1 triệu đồng một kg. Bình quân, mỗi năm anh bán khoảng 130 kg rắn thịt và 500 con rắn giống, thu lãi hơn 150 triệu. Cùng việc phát triển kinh tế gia đình, anh Long Anh còn giúp người dân nghèo xung quanh về kỹ thuật nuôi và con giống trong chăn nuôi.
Ông Ngô Văn Nhã, Chủ tịch Hội Nông dân xã Mỹ Thạnh Bắc cho biết, mô hình nuôi rắn ri voi đang phát triển tại xã với trên 10 hộ tham gia. Trong thời gian tới, xã tiếp tục nhân rộng mô hình, giúp người dân cải thiện cuộc sống từ rắn ri voi. (Đất Việt 22/8)đầu trang(
Phòng công thương huyện Quảng Điền (TT- Huế) cho biết vừa tiến hành nghiệm thu dự án “Khảo nghiệm nuôi lợn rừng sinh sản tại xã Quảng Thái”.
Năm 2011, nhằm tạo điều kiện cho người dân trên địa bàn huyện phát triển kinh tế, huyện Quảng Điền đã tiến hành thử nghiệm mô hình chăn nuôi lợn rừng sinh sản trên vùng cát nội đồng của xã Quảng Thái. Theo đó, mô hình được triển khai trình diễn ở 2 hộ là ông Văn Vinh và ông Hồ Thúc Diêu, với số lượng giống đưa vào thả nuôi ban đầu là 6 con, bao gồm một lợn đực và 2 lợn cái giống/hộ với tổng kinh phí thực hiện gần 140 triệu đồng.
Qua thời gian thử nghiệm, lợn phát triển khá tốt đã cho sinh sản với tổng đàn lợn con 20 con. Kết quả của dự án cho thấy đầu tư nuôi lợn rừng lai là con lai giữa lợn rừng đực với lợn nái địa phương tạo con lai ưu thế lai cao của cả bố và mẹ, có sức đề kháng mạnh, khả năng chịu đứng sống với môi trương tự nhiên, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hút thấp. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/8)đầu trang(
22.8, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) cho biết, cuộc kiểm tra diễn ra trong vòng 5 tiếng đồng hồ vào đêm 21.8 với sự tham gia của 120 cán bộ kiểm lâm và cảnh sát môi trường tỉnh Lâm Đồng, tập trung vào những “địa chỉ đỏ” chuyên buôn bán động vật hoang dã tại các thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc và các huyện Lạc Dương, Đức Trọng.
Lực lượng kiểm tra đã thu giữ tang vật gồm 133kg thịt thú rừng và 123 cá thể sống. Đây là kết quả không quá bất ngờ, bởi lẽ 2 đợt truy quét quy mô lớn tương tự vào những năm 2010 và 2011, cũng tại những địa phương này, đội kiểm tra liên ngành đã từng phát hiện và thu giữ hàng trăm kilôgram thịt cùng cá thể động vật hoang dã. (Lao Động 23/8)đầu trang(
22-8, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) cho biết: Toàn bộ số động vật hoang dã (ĐVHD) vừa tịch thu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã được đưa về Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng và Hạt Kiểm lâm Bảo Lộc để lấy mẫu.
“Việc phân tích mẫu được thực hiện trên cả thú sống và chết nhằm tìm ra các bệnh có thể lây nhiễm từ ĐVHD sang người, từ đó chúng tôi sẽ đưa ra những cảnh báo cần thiết” - một cán bộ của WCS cho biết.
Trước đó, ngày 21-8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng kết hợp với lực lượng cảnh sát môi trường kiểm tra đột xuất 11 nhà hàng ở TP Đà Lạt, TP Bảo Lộc và huyện Đức Trọng (Lâm Đồng). Lực lượng kiểm tra phát hiện các nhà hàng trên lưu giữ trái phép 123 cá thể động vật rừng còn sống cùng 133 kg thịt thú rừng như tê tê, cầy hương… (Pháp Luật TPHCM 23/8)đầu trang(
Chiến dịch có sự tham gia của hơn 120 cán bộ kiểm lâm, phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường tỉnh Lâm Đồng nhằm ngăn chặn hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã tại tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 21-8, đồng thời trên toàn TP Đà Lạt, TP Bảo Lộc và huyện Lạc Dương, huyện Đức Trọng do Kiểm lâm Lâm Đồng kết hợp với Cảnh sát môi trường Lâm Đồng tiến hành đã diễn ra một cách thần tốc trong 5 tiếng đồng hồ, khiến các nhà hàng buôn bán trái phép động vật hoang dã (ĐVHD) không kịp trở tay.
Chiến dịch có sự tham gia của hơn 120 cán bộ kiểm lâm dưới sự điều phối của ô ng Trần Thanh Bình, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm và ông Võ Danh Tuyên, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường tỉnh Lâm Đồng nhằm ngăn chặn hoạt động buôn bán trái phép ĐVHD trái phép tại tỉnh Lâm Đồng, một trong những tỉnh có độ đa dạng sinh học cao của Việt Nam.
Kết quả ban đầu bao thu được 133kg thịt các loại và 123 cá thể động vật rừng còn sống tại 11 nhà hàng. trên toàn địa bàn. Một số hình ảnh ghi lại trong các nhà hàng:
Liên tiếp trong ba năm 2010, 2011, 2012, Kiểm lâm Lâm Đồng đều tiến hành các đợt truy quét bất ngờ đối với các nhà hàng buôn bán trái phép ĐVHD trên địa bàn Đà Lạt và các huyện lân cận, thu giữ hàng trăm cân ĐVHD và lập biên bản xử phạt hàng chục nhà hàng vi phạm. Chiến dịch ra quân thường xuyên với sự tham gia của hàng trăm kiểm lâm viên một lúc như vậy thay vì chỉ tiến hành các đợt kiểm tra lẻ tẻ quy mô nhỏ là một nỗ lực hiếm có đáng biểu dương của lực lượng kiểm lâm Lâm Đồng.
Ông Bình cho biết “Tài nguyên rừng đâu chỉ thuộc về chúng ta mà còn là của thế hệ con cháu chúng ta. Chúng tôi không dung tha những kẻ buôn bán trái phép ĐVHD và chúng tôi thực hiện điều đó bằng hành động.”
Trong chiến dịch này, hơn 100 cán bộ kiểm lâm chia làm hai đội, một đội thực hiện truy quét tại TP Đà Lạt và huyện Đức Trọng, cùng lúc đội thứ hai thâm nhập vào các nhà hàng nghi có buôn bán ĐVHD trái phép tại TP Bảo Lộc. Tang vật bao gồm các loài: tê tê, cầy vòi hương, rắn, dúi, cu đất… là các loài được pháp luật bảo vệ. Toàn bộ tang vật ngay sau khi được đưa về Chi cục Kiểm lâm và Hạt Kiểm lâm Bảo Lộc để tiến hành lấy mẫu phân tích chuẩn đoán dịch bệnh.
Chiến dịch diễn ra với sự hỗ trợ của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS), và hoạt động xét nghiệm chuẩn đoán dịch bệnh có sự tài trợ của USAID thông qua chương trình PREDICT cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật của WCS và Đại học Nông nghiệp Hà Nội. (Pháp Luật&Xã Hội 24/8)đầu trang(
Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An Hồ Ngọc Sĩ cho biết: “Sau phản ánh của báo Tuổi Trẻ về vụ phá rừng ở huyện Quế Phong, Hạt kiểm lâm Quế Phong đã đưa hơn 100m3 gỗ lậu ra khỏi rừng.
Công an Quế Phong đã khởi tố vụ án, khởi tố tám bị can, bắt tạm giam năm đối tượng. Hiện công an tiếp tục truy bắt ba đối tượng khác đang bỏ trốn”.
Cũng theo ông Sĩ, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An đã ra quyết định luân chuyển 11 cán bộ kiểm lâm, trong đó có hạt trưởng Hạt kiểm lâm Quế Phong Nguyễn Trọng Lễ, cảnh cáo đối với hai cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Thanh Chương. Hiện sở đang làm quy trình để xét kỷ luật tiếp bốn cán bộ của hai hạt kiểm lâm Quế Phong và Kỳ Sơn. (Tuổi Trẻ 23/8)đầu trang(
Liên quan đến vụ phá rừng giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Lắk - Phú Yên (Tuổi Trẻ 31-7), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) đang củng cố hồ sơ để khởi tố vụ án, khởi tố bị can ba đối tượng.
Đó là Y Tài Niê (trú tại xã Cư Prao, M’Đrắk, Đắk Lắk), Lê Tấn Lăng (trú tại xã Ea Ly, Sông Hinh, Phú Yên) và Đinh Văn Đệ (Tuy Hòa, Phú Yên). Theo kết quả điều tra ban đầu, Y Tài Niê khai nhận đã thuê máy ủi của Lê Tấn Lăng do tài xế Đinh Văn Đệ điều khiển để ủi đoạn đường dài khoảng 1.400m, rộng 5-6m từ tiểu khu 707 (M’Đrắk, Đắk Lắk) sang tiểu khu 296 (thuộc ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, Phú Yên).
Ông Lê Văn Ba, hạt trưởng Hạt kiểm lâm M’Đrắk (Đắk Lắk), cho biết ngày 16-5, Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk đã đo đạc, thống kê được 7.348m2 rừng bị phá và thu giữ 4,22m3 gỗ lâm tặc còn để lại hiện trường. (Tuổi Trẻ 23/8)đầu trang(
Khác với việc mua bán, chuyển nhượng đất trồng chè tại Nông trường Chè Long Phú được xác nhận của lãnh đạo Cty CP Chè Long Phú, ở Ba Vì, việc mua bán đất có giá trị tiền tỷ chỉ được đảm bảo bằng những mảnh giấy viết tay.
Tiếp tục hành trình đi “mua đất” tại các nông trường, chúng tôi đến xã Yên Bài (Ba Vì, Hà Nội). Thấy chúng tôi dừng xe đứng chỉ trỏ dọc con đường chạy vào xã Yên Bài, một thanh niên từ cửa hàng sửa xe máy bên đường lập tức phi ngay sang bắt chuyện. Qua màn “chào hỏi”, chúng tôi được biết anh thợ sửa xe tên Thông này có bố mẹ là công nhân của Nông trường Việt Mông trước kia. Gia đình anh có một mảnh đất được Nông trường giao khoán ở khu vực Đảo Dài và đang muốn tìm người để bán.
Theo chân anh Thông về Đảo Dài, chúng tôi được ông Minh, bố đẻ anh Thông, cho xem Hợp đồng khoán đất trồng cây lâu năm theo NĐ01 của Chính phủ. Theo đó thì hộ gia đình bà Doãn Thị Nguyên (vợ ông Minh) ở đội 4 được Nông trường Việt Mông giao cho 2.824 m2 ở thửa số 1 lô 35 tờ BĐGT 4 khu đất Đảo Dài kể từ ngày 10/8/2005. Thời hạn của hợp đồng là 50 năm.
Khi chúng tôi hỏi về thủ tục giấy tờ trong việc chuyển nhượng khu đất này, ông Minh cho biết: “Mọi giao dịch mua bán đều chỉ được ghi nhận bằng giấy viết tay giữa người bán và người mua. Hiện tại đất này là đất không ai quản lý nên cả Cty CP Việt Mông (tiền thân là Nông trường Việt Mông) và UBND xã Yên Bài đều không thể chứng nhận việc mua bán đất giữa các bên được”.
Cùng với tờ giấy chuyển nhượng viết tay có chữ ký của 2 bên, ông Minh cho biết khách hàng còn sẽ được nhận đầy đủ hồ sơ của thửa đất mà nông trường giao cho người dân gồm: 1 hợp đồng khoán đất trồng cây lâu năm theo NĐ01, 1 đơn xin nhận hợp đồng khoán sử dụng khai thác đất theo NĐ01, Trích lục bản đồ đất giao khoán, Biên bản bàn giao khoán đất hợp đồng khoán, Sổ thanh toán khoán hộ gia đình.
Không chỉ riêng gia đình ông Minh, từ trước đến nay, rất nhiều lô, thửa đất, nhiều quả đồi thuộc sự quản lý của Cty Việt Mông đã được chuyển chủ theo dạng “trao tay”. Hỏi tại sao không mang giấy đến chính quyền, hoặc đến thẳng Cty để xác nhận việc chuyển nhượng, những người dân đã chuyển nhượng đất khẳng định, chỉ có giấy mua bán trao tay, vì đất này hiện không có cơ quan nào quản lý, nói cách khác là vô chủ, nên chủ đất mặc nhiên… được bán.
Tìm hiểu của NNVN, được biết, tại đây, nhiều hộ dân và một số tổ chức đã xây dựng công trình và nhà kiên cố, xưởng sản xuất, cửa hàng dịch vụ… trên diện tích đất nhận khoán trồng cây, hoặc đất được đơn vị cho mượn. Không những vậy, diện tích đất, ao hồ giao khoán tại nhiều khu vực đã bị san ủi lấp, làm biến dạng đất, để sử dụng sai mục đích nhận khoán…
Theo như phần cam kết giữa bên giao khoán và bên nhận khoán tại bản hợp đồng giao khoán đất giữa Nông trường Việt Mông với các hộ gia đình mà chúng tôi được xem ghi rõ: “Quá 6 tháng hộ nhận đất khoán không khai thác và không làm nghĩa vụ của người nhận đất khoán, hoặc sử dụng đất sai mục đích, kém hiệu quả thì nông trường có quyền đình chỉ hợp đồng để giao khoán cho hộ khác”.
Thế nhưng về địa phận xã Yên Bài, nơi tập trung nhiều đất đai của Nông trường Việt Mông nhất, chúng tôi nhận thấy khá nhiều người dân ở đây đã tiến hành chuyển nhượng đất giao khoán 50 năm của nông trường cho người khác sử dụng sai mục đích.
Trên những mảnh đất khoán đó, thay vì hình ảnh những khu chăn nuôi, trồng trọt, nhiều biệt thự kiên cố đã mọc lên cho dù trong điều 8 Quy định việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước (Ban hành kèm theo NĐ 01/CP ngày 04/1/1995 của Chính phủ) nêu rõ: Người được giao đất chỉ được làm lán tạm để bảo vệ sản xuất, cất giữ dụng cụ, vật tư sản xuất...
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Mễ, Phó Chủ tịch UBND xã Yên Bài cho biết: “Năm 2009, việc mua bán bất động sản trên địa bàn xã Yên Bài rất ít. Năm 2010 thì nhiều hơn, song từ năm ngoái đến giờ thì giao dịch lại đình trệ. Tuy nhiên, thực trạng chung là cả người bán lẫn người mua đều không thông qua UBND xã mà tự chuyển nhượng đất cho nhau bằng giấy viết tay. Lộn xộn nhất vẫn là ở khu vực đất của Nông trường Việt Mông cũ”.
Theo ông Mễ thì khi nông trường giải thể, UBND xã mới chỉ được bàn giao quản lý 450 hộ dân, tương đương với 2.000 nhân khẩu, chưa được bàn giao quản lý đất đai mà công nhân của nông trường đang sinh sống, canh tác. Chính vì vậy, dù đã tạm đặt tên cho những cộng đồng dân cư mới là thôn Việt Yên và thôn Phú Yên nhưng thực tế suốt những năm qua, 2 thôn mới này vẫn chưa có quyết định thành lập và chưa được công nhận trên bản đồ hành chính. Chính vì chưa được quản lý đất nên UBND xã không thể xác nhận một trường hợp mua bán, chuyển nhượng nào liên quan đến đất của nông trường.
Ông Mễ cho biết thêm, trước tình hình người dân sinh sống trên địa bàn xã đua nhau rao bán đất khoán 50 năm của Nông trường Việt Mông, UBND xã chỉ có thể tổ chức các buổi họp, tuyên truyền cho bà con phải ý thức được việc giữ gìn tư liệu sản xuất. Nếu không khi bán đất trồng trọt đi rồi mà không chuyển đổi được ngành nghề thì sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng thất nghiệp, tiền tỷ rồi cũng sẽ hết, đấy là chưa kể những tệ nạn xã hội sẽ phát sinh khi người nông dân bỗng nhiên có quá nhiều tiền.
Trao đổi xung quanh vấn đề này, bà Đặng Thị Nguyệt, Chủ tịch HĐQT Cty CP Việt Mông cho biết: “Quản lý đất của Nông trường Việt Mông cũ quá lỏng lẻo. Có nhiều người ở nơi khác đến nhận khoán với GĐ Nông trường cũ 5.000 - 7.000 m2, giờ thấy đất lên giá thì đem rao bán. Có người gọi điện cho tôi nhờ tách sổ gốc thành nhiều sổ mới có diện tích nhỏ để bán và hứa cho tôi một khoản tiền lớn. Tôi đã trả lời rất rõ là Cty chỉ quản lý cho Nhà nước diện tích đất khoán trên và không được quyền tách sổ gốc như yêu cầu.
Chính vì thế khi mua bán, giao dịch đất khoán 50 năm với dân, nhiều khi các nhà đầu tư chỉ được nhận những tờ giấy mua bán viết tay và không có bất cứ sự chứng nhận nào của chính quyền hay nông trường, cũng như không có sổ đất kèm theo”. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/8)đầu trang(
Năm 2010, UBND tỉnh Phú Thọ có Quyết định buộc nhiều công ty lâm nghiệp đóng trên địa bàn phải trả lại cho các địa phương phần đất lâm nghiệp không sử dụng đúng mục đích. Đây được coi là một bước đi tiên phong của tỉnh này trong việc giải quyết những bất cập về quản lý đất đai ở các nông lâm trường. Chủ trương đúng, nhưng việc thực hiện nảy sinh quá nhiều bất cập.
Phú Thọ là địa phương có diện tích đất nông lâm trường khá lớn, ít nhất là hơn 40.000ha. Tuy nhiên thực tế sử dụng đất ở các nông lâm trường (nay là Cty lâm nghiệp) quá nhiều bất cập. Năm 2010, một đoàn kiểm tra liên ngành đã trực tiếp kiểm tra 3 huyện có diện tích đất nông, lâm trường lớn nhất tỉnh Phú Thọ là Yên Lập, Thanh Sơn và Tân Sơn.
Qua kiểm tra rà soát, đoàn kiểm tra kiến nghị thu hồi gần 19.000 ha đất, trong đó huyện Yên Lập 3.968,8 ha, Thanh Sơn 4.620,66 ha, Tân Sơn 8.501,39 ha. Ngay sau đó, UBND tỉnh Phú Thọ đã có quyết định thu hồi một diện tích lớn của các Cty lâm nghiệp giao lại cho chính quyền địa phương. Tuy nhiên, kể từ sau quyết định của UBND tỉnh, tình hình đất đai nông lâm trường vẫn diễn biến theo chiều hướng nóng.
Xã Kiệt Sơn thuộc huyện nghèo Tân Sơn có 806 hộ, hơn 3.000 nhân khẩu, nhưng đất lúa chỉ vào khoảng 153 ha. Cả Bí thư Đảng ủy xã Hà Thanh Minh và Chủ tịch UBND xã Nguyễn Tiến Dũng đều kêu thiếu đất để người dân canh tác. Mối lo ấy cứ tưởng sẽ được hóa giải vào năm 2011 khi xã Kiệt Sơn được UBND tỉnh Phú Thọ giao Cty Lâm nghiệp Tam Sơn phải trao trả 305 ha đất lâm nghiệp. Nhưng suốt gần hai năm trời, việc trao trả vẫn còn gây nhiều tranh cãi.
Cho đến tận bây giờ, diện tích đất lâm nghiệp của xã là bao nhiêu thì những cán bộ đứng đầu địa phương này như ông Minh, ông Dũng cũng không được biết. “Mang tiếng là trả đất nhưng là trả đểu. Họ toàn chọn những điểm núi cao, sông suối, những điểm họ không làm được để trả cho địa phương. Lệnh cấp trên, không lấy đất thì không được, lấy cũng chẳng ăn thua. Lấy về thì phải giao cho dân, nhưng bây giờ xã chẳng dám giao vì đất không thể phát triển rừng được nữa”, ông Dũng kêu ca.
Theo Quyết định của UBND tỉnh Phú Thọ, Cty Lâm nghiệp Tam Sơn phải trả 305 ha đất lâm nghiệp cho xã Kiệt Sơn. Tuy nhiên theo ông Dũng, trong số này chỉ có từ 150-160 ha là đất có thể canh tác. Số diện tích còn lại rơi vào ao hồ, sông suối, ruộng lúa của người dân địa phương. Hiện tại trên giấy tờ, xã Kiệt Sơn có khoảng 1.600 ha đất lâm nghiệp, nhưng diện tích sử dụng chỉ chừng một nửa. Và chưa có một đơn vị nào đi khảo sát để đưa ra được con số chính xác nhất.
Nhu cầu đất sản xuất của người dân bản địa ngày càng tăng nhưng đến nay, trong tổng số 806 hộ thì số hộ có bìa đỏ đất lâm nghiệp chỉ vào khoảng 1/3 mà thôi. Người dân Kiệt Sơn sống chủ yếu dựa vào đất rừng, nhưng tính bình quân mỗi hộ dân ở đây chỉ được khoảng 3-4 ngàn m2. Dễ hiểu vì sao số hộ nghèo của xã này còn chiếm tới hơn 50%.
Nhận được đất của Cty Lâm nghiệp Tam Sơn nhưng cũng chẳng giải quyết được nhu cầu sản xuất cho người dân, trong các cuộc họp, hội nghị, ông Dũng, ông Minh kêu ca rất mạnh mà vẫn chẳng có cơ quan nào đứng ra phân xử.
Chủ trương của UBND tỉnh Phú Thọ khi thực hiện việc trao trả diện tích đất đã giao cho các Cty lâm nghiệp trước đó lại cho các địa phương ngoài chuyện phát triển sản xuất, sử dụng đất đúng mục đích… thì còn có một mong muốn nữa. Đó là hi vọng sự kết hợp được nhu cầu của các DN trên địa bàn với lao động địa phương.
Nhưng thực trạng trả “đất xấu” cho địa phương của các Cty lâm nghiệp khiến mối quan hệ giữa các công ty này với người dân không được cải thiện. Những cuộc tranh giành, lấn chiếm vẫn xẩy ra kể cả thời điểm sau khi có quyết định trao trả của UBND tỉnh. Chính quyền thì đổ cho DN chơi đểu, DN lại quay sang tố chính quyền tham. Có lẽ chỉ người dân là thiệt thòi.
Cty Lâm nghiệp Tam Sơn (thuộc Tổng Cty Giấy Việt Nam), tiền thân là các Lâm trường Thạch Kiệt, Tam Sơn và Thu Cúc. Tổng diện tích đất lâm nghiệp của Cty này có thời điểm lên đến gần 11 ngàn ha. Sau khi có quyết định của UBND tỉnh Phú Thọ, Cty Tam Sơn đã từng bước trao trả đất cho 11 xã trên địa bàn các huyện Thanh Sơn và Tân Sơn. Theo thống kê của Cty Tam Sơn, trong tổng diện tích 10.903 ha đất lâm nghiệp được giao trước đây có khoảng 456,7 ha bị người dân địa phương lấn chiếm, 3.217,6 ha xẩy ra tranh chấp với 932 hộ dân.
Đây là đơn vị có diện tích tranh chấp thuộc loại lớn nhất ở tỉnh Phú Thọ. Dù được giao 10.903ha đất nhưng thực tế sử dụng của Cty chỉ vào khoảng hơn 4.000ha. Lý do? Theo như ông Nguyễn Xuân Luyện, Giám đốc công ty là vì ngày xưa đo đạc kém nên có sự chênh lệch giữa bản đồ với thực địa. Lý do thứ hai là có sự chồng chéo giữa các cấp trong quá trình cấp bìa đỏ cho các hộ dân trồng rừng. Đất của lâm trường ngày xưa nhưng không đủ vốn đầu tư nên bỏ không. Người dân thấy đất trống nên cứ việc vào canh tác. Thực trạng một mảnh đất có 2-3 sổ đỏ khiến việc tranh chấp đất đai diễn ra như cơm bữa.
Những ông địa chính xã không biết bản đồ là cái gì cả nên chính quyền tỉnh, huyện mới dẫm chân nhau trong chuyện cấp bìa đỏ cho người dân. Ở xã Kiệt Sơn, trước đây có ông cán bộ địa chính tên Dục cứ cắp quyển sổ sau đít, không có gì nhắm là đến nhà này nhà kia ký đơn xin cấp bìa, giải quyết kiếm tiền uống rượu. Tỉnh, huyện thì ở xa, không kiểm soát hết được. Hầu hết những bìa đỏ kiểu đấy đều nằm trên diện tích đất lâm nghiệp mà Cty đang sử dụng. Năm 2000, chính quyền quyết định thu hồi bìa đất của 80 hộ được cấp trên đất Cty nhưng từ bấy đến giờ không có kết quả vì hễ nhắc đến chuyện thu hồi là những hộ này đòi “nói chuyện bằng dao mác”.
Cũng theo ông Luyện, nhu cầu đất của các địa phương là có thực, nhưng việc chính quyền đòi thêm đất chưa chắc đã vì quyền lợi người dân. “Ngay cả những diện tích này, nếu trả cho địa phương thì việc tranh chấp vẫn diễn ra. Năm ngoái người dân còn kéo đến đòi phá trụ sở Cty, chính quyền thì đòi giao cho họ cả diện tích mà Cty đang sản xuất. Thực tế, chính quyền xã nhận đất về nhưng cán bộ chia nhau chứ không chia cho dân”, ông Luyện nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/8)đầu trang(
Trong số diện tích đất rừng trên đảo Phú Quốc đang bị chặt phá, có cả rừng tại các dự án du lịch sinh thái (DLST).
Trên đảo Phú Quốc có nhiều dự án DLST đã được chấp thuận đầu tư. Các dự án này có diện tích rộng lớn và hầu hết là đất rừng, có cả rừng nguyên sinh. Thế nhưng sau khi rừng được giao cho nhà đầu tư, chúng lại chặt phá bừa bãi.
Cty Lan Anh được UBND tỉnh Kiên Giang phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng khu DLST Vũng Bầu, diện tích 267 ha, tại xã Cửa Cạn (Phú Quốc) vào ngày 2-6-2008.
Đây là dự án DLST nên việc bảo vệ và phát triển rừng là bắt buộc. Dự án chưa được triển khai, nhưng tình trạng chặt phá rừng vô tội vạ đã diễn ra.
Theo điều tra của Tiền Phong, một khu rừng tại ấp IV nằm trong vùng dự án đã bị người dân chặt phá, phát dọn, trồng cây rộng trên 30.000m2. Mục đích là để nhận tiền bồi thường.
Phần rừng bị chặt phá trước khi giao cho Cty Lan Anh thuộc trách nhiệm của Vườn quốc gia Phú Quốc (VQGPQ) và xã Cửa Cạn quản lí.
Một nguồn tin của cơ quan điều tra cho biết sẽ thu hồi lại tiền bồi thường nói trên vì là đất rừng, không có thành quả lao động.
Cũng tại dự án DLST thuộc Cty Lan Anh nằm trên ấp IV, vào đầu năm 2011 hàng chục cây gỗ lớn, đường kính từ 30-50cm đã bị đốn hạ.
Đây là những cây gỗ thuộc nhóm V đến nhóm VII như: trâm, cầy, kim cang dầu… Trong một cuộc họp báo cáo sự việc vào cuối tuần qua với lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, ngành chức năng huyện Phú Quốc cho biết vụ việc được chính quyền xã và kiểm lâm huyện cho phép(!?)
Ông Nguyễn Văn Be - một người dân đã làm đơn tố cáo vụ việc phá rừng, trong đó có liên quan ông Bí thư xã Nhan Văn Truyền.
Đại diện Cty Lan Anh tại Phú Quốc - ông Nguyễn Phát Lực nói: “Tôi có nghe dư luận nói có việc lấn chiếm đất rừng trong dự án để nhận tiền bồi thường. Tuy nhiên do không trực tiếp chi trả tiền nên không biết cụ thể”.
Năm 2008 Cty TNHH Starbay Việt Nam được UBND tỉnh Kiên Giang cấp phép đầu tư tại Bãi Dài thuộc xã Ghềnh Dầu, diện tích 540 ha chủ yếu đất thuộc VQGPQ quản lý.
Siêu dự án này có số vốn lên tới 1,8 tỷ USD, với các hạng mục nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, sân golf và DLST rừng…, đang nằm bất động nhưng những cánh rừng nguyên sinh nơi đây đã bị chặt phá ào ạt.
Từ mé rừng ven biển lội sâu vào khoảng gần 1km là ngổn ngang cây rừng vừa bị đốn hạ, diện tích ước khoảng 5 ha. Các loại cây trâm, mè điếc, huỷnh, dầu mít, kiền kiền… nằm chồng chất.
Đi gần một tiếng đồng hồ nhưng vẫn chưa hết vùng rừng bị thảm sát. Chưa rõ thủ phạm phá rừng là ai và việc chặt phá nhằm mục đích gì.
Ông Quốc Anh - Phó ban quản lý phát triển đảo Phú Quốc cho biết: “Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang cũng muốn tìm gặp đại diện phía Starbay để trao đổi một số việc liên quan dự án nhưng chưa liên lạc được”. Kiểm lâm Phú Quốc nói khi rừng đã giao cho dự án thì không còn trách nhiệm của họ, dù đó là vùng lõi thuộc vườn quốc gia.
Trên đảo Phú Quốc, mấy năm qua, rừng và đất rừng đã bị chặt phá, bị bao chiếm một cách hỗn loạn. Chỉ cần vài chục triệu đồng là có thể mua được 1.000m2 đất rừng bằng giấy viết tay.
Người mua sau đó mặc sức trồng cây, rào khoanh lại để chờ… bồi thường hoặc hợp thức hoá. (Tiền Phong 23/8)đầu trang(
Tình trạng rừng bị tàn phá làm nương rẫy dù xảy ra với tốc độ chóng mặt nhưng chính quyền địa phương vẫn phản ứng một cách yếu ớt và có chiều hướng buông xuôi.
Rừng ở huyện Đăk Glei - Kon Tum bị triệt hạ hàng loạt để làm rẫy. Riêng ở xã Đăk Môn, năm 2012, cơ quan chức năng phát hiện 51 trường hợp phá hơn 5 ha rừng; năm 2011 xảy ra 58 vụ với hơn 8,3 ha rừng bị phá làm nương rẫy. Trung bình, mỗi năm huyện Đăk Glei mất khoảng 50 ha rừng nhưng các ban, ngành chức năng vẫn thờ ơ và hầu như bất lực, không có giải pháp cụ thể nào để giải quyết vấn nạn này.
Theo Hạt Kiểm lâm Đăk Glei, rừng mất chủ yếu là do người dân phá để làm nương rẫy. Khi giá nông sản ngày càng cao, tình trạng phá rừng làm rẫy ngày càng tăng, đến mức cơ quan chức năng không còn kiểm soát nổi. Những địa bàn có diện tích rừng bị phá nhiều nhất phải kể đến là xã Đăk Nhoong, xã Đăk Môn... Đặc biệt, thị trấn Đăk Gkei còn hơn 7.000 ha rừng, dù rất gần trụ sở nhiều cơ quan công quyền nhưng vẫn bị “xẻ thịt” không thương tiếc từng ngày.
Điều đáng nói là con số thống kê của cơ quan chức năng và thực trạng rừng bị tàn phá lại có sự chênh lệch rất lớn. Chẳng hạn ở Đăk Môn, trong 51 vụ xảy ra năm 2012 mà UBND xã phát hiện và lập biên bản xử lý, tất cả chỉ hơn 5 ha rừng nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi, chỉ 2 trường hợp đã hơn diện tích đó. Nhiều khoảnh rừng bị phá có chiều dài lẫn chiều rộng cỡ vài trăm mét.
Một hộ dân ở Đăk Môn cho biết khi họ đốn cây, đốt rẫy xong đâu vào đó mới thấy nhân viên kiểm lâm có mặt nhưng chỉ ngó xem rồi bỏ đi. Hôm chúng tôi đến, bà con đang tiến hành trỉa lúa. Gần 10 người trỉa cả ngày mà chưa hết một nửa diện tích đám rẫy. Điều này cho thấy diện tích rừng bị phá lớn đến mức nào. Vậy mà theo hồ sơ xử lý vi phạm do xã Đăk Môn cung cấp, những hộ như A Ngó, A Thang, A Or, A Biên… ở thôn Đăk Tum chỉ phá có 1.000 m2 rừng/hộ!
Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết có một thực tế là do ngại trách nhiệm, cơ quan chức năng và chính quyền địa phương đã xé lẻ, cào bằng diện tích vi phạm để dễ xử lý. Cũng có trường hợp đến vài trăm người trong làng cùng kéo nhau đi phá rừng, chỉ từ 4 đến 8 giờ sáng là đã san bằng cả chục hecta như đã từng xảy ra ở xã Đăk Nhoong khiến cơ quan chức năng đành bó tay!
Trước tình hình rừng bị tàn phá làm nương rẫy với tốc độ chóng mặt, chính quyền địa phương vẫn phản ứng một cách yếu ớt và có chiều hướng buông xuôi. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng diện tích rừng của huyện Đăk Glei quá lớn, gần 110.000 ha, nên có mất mỗi năm vài chục hecta thì cũng chẳng nhằm nhò gì!
Ông Lê Hải Lâm, Chủ tịch UBND xã Đăk Môn, thừa nhận tình trạng phá rừng ở địa phương là không thể kiểm soát được. Việc xử phạt hành chính cũng chỉ “làm cho có” vì không ít lần, người dân mang sổ hộ nghèo đến nộp phạt, hoặc cười trừ cho qua chuyện. “Chúng tôi cũng không thể tiến hành cưỡng chế vì tài sản của bà con chẳng có gì. Điều này khiến người dân ngày càng nhờn pháp luật và rừng bị phá ngày càng nhiều là không thể tránh khỏi” - ông Lâm băn khoăn.
Trong khi đó, ông Trần Tân Văn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đăk Glei, đổ lỗi cho phong tục tập quán sản xuất du canh, du cư phá rừng làm nương rẫy của người dân địa phương. Họ phá rừng làm rẫy vài mùa lại bỏ, rồi tiếp tục phá rừng làm rẫy mới. Một lý do được ông Văn nêu ra là lực lượng mỏng, phương tiện trang bị lạc hậu không thể đáp ứng yêu cầu, trong khi mỗi nhân viên kiểm lâm của Đăk Glei phải gánh khối lượng công việc gấp 4 lần so với quy định của ngành (mỗi người phải quản lý đến 4.000 ha rừng).
Với cách quản lý lỏng lẻo, “làm cho có” của chính quyền và cơ quan chức năng ở Đăk Glei, chuyện bất lực trước nạn phá rừng làm nương rẫy là điều dễ hiểu. Chừng nào huyện Đăk Glei còn chưa có giải pháp hữu hiệu để hạn chế nạn phá rừng làm rẫy thì rừng vẫn ngày ngày chảy máu. (Người Lao Động 23/8)đầu trang(
Rừng phòng hộ ven biển Gò Công là "tấm lá chắn" vững chắc trong việc bảo vệ đời sống, sản xuất, an toàn tính mạng cho người dân khu vực các huyện phía đông tỉnh Tiền Giang trong mùa mưa, bão hằng năm. Tuy nhiên, nhiều năm nay, "tấm lá chắn" này đã giảm, thậm chí không còn tác dụng, nguyên nhân chủ yếu là do tác động của thiên nhiên và con người tàn phá mà chưa có giải pháp hữu hiệu phục hồi.
Rừng ngập mặn ven biển Gò Công hình thành từ trước năm 1950, đai rừng dày từ vài trăm mét đến hơn một nghìn mét, diện tích gần 10 nghìn ha. Thế nhưng, theo thời gian rừng phòng hộ Gò Công cứ giảm và mỏng dần đến mức báo động.
Từ thực trạng trên, đến năm 2006, Tiền Giang thành lập Hạt Quản lý đê điều và rừng phòng hộ, thuộc Chi cục Thủy lợi và phòng, chống lụt, bão (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhằm trực tiếp quản lý, bảo vệ tuyến đê biển, đê cửa sông và sử dụng rừng phòng hộ theo đúng quy định của pháp luật. Hạt trưởng đê điều và rừng phòng hộ Võ Ðức Phong cho biết, năm 2006, số diện tích rừng phòng hộ bàn giao từ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Công Ðông là 1.677 ha, chủ yếu gồm các loại cây đước, mắm, bần, dừa nước...
Trong đó, rừng phòng hộ thuộc huyện Gò Công Ðông là 1.073 ha, huyện Tân Phú Ðông 604 ha. Trong tổng số diện tích rừng nêu trên có 350 ha rừng của khu vực ba thuộc các xã Vàm Láng, Kiểng Phước, Tân Thành, Tân Ðiền giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ an toàn cho 21 km đê biển.
Tuyến đê này bảo đảm ngăn mặn xâm nhập, giữ ngọt, phòng, chống thiên tai khi có bão, triều cường nhằm bảo vệ, phát triển đời sống sản xuất cho vùng Dự án ngọt hóa Gò Công với diện tích tự nhiên gần 55 nghìn ha. Trong đó, diện tích đất canh tác khoảng 35 nghìn ha, dân số gần 500 nghìn người thuộc các huyện Gò Công Ðông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công và một phần huyện Chợ Gạo. Riêng diện tích rừng phòng hộ thuộc hai xã Phú Ðông và Phú Tân, huyện Tân Phú Ðông cũng có chức năng tương tự, bảo vệ, phát triển sản xuất cho hơn 7.800 ha đất canh tác và hơn 30 nghìn người dân sinh sống trên cù lao Lợi Quan.
Chi Cục trưởng, thủy lợi Tiền Giang Nguyễn Thiện Pháp thừa nhận: Mặc dù nhiều năm qua, tỉnh Tiền Giang đã có nhiều cố gắng nhằm phục hồi, tái sinh rừng nhưng trên thực tế thì đai rừng vẫn tiếp tục mỏng vì bị biển xâm thực. Thống kê trong mười năm qua cho thấy, rừng phòng hộ ven biển Gò Công bị xâm thực ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt có những vị trí mất rừng trung bình từ 8 đến 10 m/năm.
Thậm chí có đoạn như đuôi cồn Cống, huyện Tân Phú Ðông, tốc độ xâm thực rất mạnh từ 10 đến 15 m/năm. Tại đoạn xung yếu, rừng bị xói lở, đê trực diện với biển nên nguy cơ bị vỡ đê là rất cao, nhất là khi có bão, áp thấp nhiệt đới. Hơn nữa, hiện nay dọc theo tuyến đê biển Gò Công, đai rừng phòng hộ còn lại rất mỏng. Ðặc biệt, từ cống Rạch Xẻo về cống Tân Thành nhiều nơi rừng đã mất trắng...
Cùng với xói lở, xâm thực từ thiên nhiên, con người cũng là nhân tố quan trọng góp phần tàn phá diện tích rừng phòng hộ. Theo báo cáo của Hạt Quản lý đê điều và rừng phòng hộ, từ năm 2007 đến nay, toàn tuyến ghi nhận được 64 vụ vi phạm rừng phòng hộ với tổng diện tích xâm hại lên đến hơn 221 ha. Trong đó, chỉ mới xử lý được 19 vụ, còn lại 45 vụ chưa được xử lý đến nơi đến chốn. Vi phạm phổ biến nhất là chặt phá rừng bừa bãi, khai thác đất rừng vào mục đích nuôi tôm hoặc trồng cây, xây nhà ở, làm bến bãi trái phép.
Ðáng chú ý, liên tiếp trong các năm 2010, 2011 và đến những tháng đầu năm 2012, do nghề nuôi tôm ven biển Gò Công đạt hiệu quả cao, nên tình trạng đào ao nuôi tôm diễn ra khá phức tạp, diện tích phá rừng lại liên tục tăng. Ngoài ra, còn một số nguyên nhân, các hộ nhận khoán rừng chưa thật sự quan tâm bảo vệ và quản lý rừng phòng hộ được giao, chưa hợp tác chặt chẽ với đơn vị chủ rừng để kịp thời ngăn chặn những hành vi chặt phá rừng do các đối tượng từ những nơi khác đến.
Một thực tế khác, hiện tại, rừng phòng hộ ven biển Gò Công Ðông lại tiếp tục giảm thêm gần 500 ha do quy hoạch các khu công nghiệp, nhưng hiện nay vẫn bỏ đất trống, chưa hình thành dự án nào. Theo các nhà khoa học, việc phá bỏ rừng phòng hộ duyên hải để làm khu công nghiệp cần cân nhắc kỹ vì tác hại là những khu vực này không còn khả năng giảm thiểu sức tàn phá của thiên tai (sóng, gió, triều cường, bão, nước biển dâng cao), hệ thống đê biển bị đe dọa nghiêm trọng. Những tác hại của tự nhiên và con người đối với rừng phòng hộ Gò Công thời gian qua đã lý giải vì sao nhiều năm nay tỉnh vẫn trồng mới hằng năm gần 100 ha rừng nhưng diện tích rừng không tăng mà còn giảm đáng kể.
Rừng phòng hộ ven biển Gò Công thực tế không còn là "tấm lá chắn" kiên cố, vững chắc trong việc bảo vệ phát triển đời sống, sản xuất của người dân các huyện phía đông của tỉnh trước những cơn bão lớn có thể xảy ra, vì đoạn đê xung yếu dài 21 km đang trơ trọi, lẻ loi trước tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng.
Qua khảo sát thực tế, tuyến đê biển từ cống Rạch Xẻo đến cống Rạch Bùn (huyện Gò Công Ðông) hiện nay tại một số vị trí bề dày đai rừng chỉ còn từ 4 đến 20 m, các vị trí còn lại đai rừng đang tiếp tục bị xói lở và thu hẹp dần, nếu không có giải pháp bảo vệ kịp thời thì trong thời gian tới đai rừng sẽ mất và sóng biển sẽ uy hiếp trực tiếp đến tuyến đê biển.
Từ thực tế trên, để giảm sự tác động trực tiếp của sóng biển vào đê, nhằm bảo vệ an toàn cho tuyến đê biển; đồng thời ngăn chặn kịp thời hiện tượng xói lở đai rừng phòng hộ còn lại, Tiền Giang đang có kế hoạch đầu tư công trình kè bảo vệ mái đê biển tại những đoạn mất rừng và công trình giữ bãi bảo vệ đai rừng ở những khu vực rừng đang bị xâm thực thuộc huyện Gò Công Ðông. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời.
Giải pháp căn cơ, hiệu quả, lâu bền vẫn là khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển. Do đó, đã đến lúc Tiền Giang cần phối hợp với các nhà khoa học, các viện, trường, các bộ, ngành có liên quan nhằm đưa ra những giải pháp kỹ thuật hiệu quả trong việc phục hồi và phát triển rừng phòng hộ để tránh đầu tư xử lý tạm thời, chắp vá, dàn trải gây lãng phí.
Ðồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức người dân trong công tác bảo vệ, phát triển rừng; tăng cường thực hiện quy chế phối hợp giữa các huyện ven biển với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong đó, có việc tăng cường quản lý, bảo vệ hệ thống đê điều và rừng phòng hộ... (Nhân Dân 23/8)đầu trang(
22.8, lãnh đạo Sở NN-PTNT Đắk Lắk cho biết đang tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trong ngành xử lý vụ phá rừng ở H.M’Đrắk gây xôn xao dư luận những ngày qua và sẽ chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra đề nghị khởi tố bị can nếu có dấu hiệu nghiêm trọng.
Bước đầu, lực lượng kiểm lâm H.M’Đrắk đã xác định và tạm giữ hành chính hai người liên quan trực tiếp đến vụ phá rừng là Đinh Văn Đệ (trú ở Tuy Hòa, Phú Yên) và Y Tài Niê (còn được gọi là Ma Huân, trú xã Cư Prao, H.M’Đrắk).
Đệ khai nhận đã điều khiển một xe múc để phá rừng, và chủ xe múc là L.T.L, trú ở xã Ea Ly, H.Sông Hinh (Phú Yên).
Còn Y Tài Niê khai nhận đã thuê xe múc nói trên ủi đường vào rừng để làm rẫy.
Diện tích rừng bị phá được xác định là 7.348 m2, phía địa bàn tỉnh Đắk Lắk là 5.670,5 m2, tỉnh phía Phú Yên: 1.677,5 m2; số gỗ bỏ lại hiện trường hơn 4 m3. (Thanh Niên 22/8)đầu trang(
Hồ Phú Ninh (tỉnh Quảng Nam) - một trong hai công trình thủy lợi lớn nhất tại miền Nam sau hồ Giàu Tiếng ở Tây Ninh, thế nhưng trong thời gian gần đây, hàng chục héc-ta rừng phòng hộ nơi đây đã bị người dân chặt phá trái phép. Vụ việc diễn ra công khai và kéo dài trước sự bất lực của chính quyền địa phương... (Công An Nhân Dân 22/8)đầu trang(
Hơn 30 hécta rừng trồng ở phường Long Bình, TP.Biên Hòa có hàng chục năm tuổi, bỗng dưng “biến” mất, thay vào đó là nhà ở được xây dựng san sát…
Dạo trước, rừng trồng cây nhiên liệu tại phường Long Bình là tràm bông vàng được phủ khắp các khu vực đất trống, tạo màu xanh bát ngát cho một vùng xưa kia là khu quân sự. Tuy nhiên, gần như toàn bộ những mảng xanh này giờ chỉ còn trên giấy.
Theo lãnh đạo UBND phường Long Bình, chỉ từ năm 2011 đến nay, hơn 30 hécta rừng trên địa bàn phường đã biến mất. Chính quyền địa phương cho biết, thời gian qua lực lượng chức năng đã cương quyết ngăn chặn việc lấn chiếm đất rừng, nhưng tình hình không mấy khả quan, thậm chí còn xấu đi. Trong khi đó, cơ quan quản lý rừng cũng khẳng định đã làm hết sức. Song, vì sao khu vực rừng trồng này vẫn bị lấn chiếm, rồi phát triển thành nhà, xưởng một cách ồ ạt, là điều dư luận đang thắc mắc.
Các cơ sở sản xuất ngang nhiên tồn tại, nhà dân mọc lên loạn xạ không theo quy củ… tất cả chỉ với mục đích là “biến” đất rừng thành tài sản cá nhân. Để đẩy nhanh quá trình “thâu tóm” đất rừng, chủ các xưởng sản xuất lẫn người dân đều tiến hành “thủ tục” sang nhượng đất bằng cách viết tay, coi như đó là hình thức hợp thức hóa chuyện mua bán.
“Lô 100m2 thì 2 triệu đồng tiền thuê mỗi tháng. Muốn rộng hơn, giá mềm hơn thì phải ở xa một chút. Tốt hơn là nên mua lại thì làm ăn mới lâu dài được. Nhưng đừng lo, sau này không sử dụng, bán lại cũng không lỗ” - bà H., một người sống tại khu vực này cho biết. Bà H. thừa nhận, gia đình bà cũng như hàng trăm hộ dân khác sinh sống trên đất rừng từ nhiều năm qua. “Mua đất nhưng chính quyền địa phương không chứng thực, có sao không bà?” - tôi hỏi. Bà H. vô tư phán: “Chẳng sao hết! Người ta làm hà rầm biết bao năm rồi, nhưng có ai bị gì đâu. Chú mà mua sớm, sau này Nhà nước có giải tỏa thì được đền bù, càng sướng”.
Nói về khu rừng trồng ở phường Long Bình, Giám đốc Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa Trần Đình Xướng-cơ quan quản lý diện tích rừng này nhấn mạnh: “Trên giấy tờ thì diện tích rừng là 30 héca, nhưng thực tế chỉ còn khoảng 4-5 hécta nằm rải rác. Khi người dân lấn chiếm đất rừng, chúng tôi tiến hành lập biên bản ngay. Thế nhưng, quyền hạn xử lý những trường hợp này thuộc chính quyền địa phương. Trước tình hình đất rừng bị lấn chiếm hàng ngày, chúng tôi chỉ biết ngồi nhìn mà đau xót”.
Ông Xướng cho biết, sở dĩ có tình trạng xây dựng trái phép trên đất rừng là vì chính quyền địa phương sau một hai lần xử lý mạnh tay thì không còn cương quyết, khiến mọi chuyện đâu lại vào đấy.
Song, Chủ tịch UBND phường Long Bình Tống Thanh Đa lại khẳng định: “Địa phương liên tục giải tỏa các trường hợp lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đất rừng. Chỉ tính từ đầu năm 2012 đến nay, chúng tôi đã xử lý 17 trường hợp vi phạm đến đất rừng, trong đó có 3 trường hợp là nhà xưởng. Trong thời gian tới, những trường hợp “cố đấm ăn xôi”, chúng tôi cương quyết không để tồn tại…”. (Báo Quảng Nam 23/8)đầu trang(
22-8, Hạt kiểm lâm Cam Lộ, Quảng Trị cho biết đơn vị vừa phối hợp với CAH Cam Lộ tiến hành bắt giữ một xe ô tô chuyên vận chuyển lâm sản trái phép trên tuyến quốc lộ 9.
Chiếc xe ô tô bị bắt giữ mang biển số 74C-00532 khi đang vận chuyển hơn 2m3 gỗ sú đá (thuộc gỗ nhóm IV). Trước đó, sau khi bị Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh và Hạt kiểm lâm Đakrông truy đuổi đến Km 27, QL 9, thuộc địa bàn thôn Thượng Lâm, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ, tài xế chiếc xe trên đã bỏ chạy, để lại xe và toàn bộ số lượng gỗ nói trên.
Mặc dù đây không phải là loại gỗ quý hiếm nhưng điều đáng nói, trong thời gian gần đây, chiếc xe này thường xuyên được bọn lâm tặc dùng để vận chuyển gỗ trái phép, lực lượng Kiểm lâm và Công an huyện Cam Lộ đã nhiều lần ra lệnh dừng xe để kiểm tra nhưng đối tượng này không những không chấp hành mà còn rất liều lĩnh, ngang nhiên chống đối, chạy bạt mạng, gây nguy hiểm đến tính mạng người và phương tiện tham gia giao thông trên tuyến QL 9.
Hiện vụ việc đang được tiếp tục làm rõ. (An Ninh Thủ Đô 22/8)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Giới chức vùng Castila và Leon cho biết, đợt cháy rừng năm nay là thảm họa tồi tệ nhất kể từ 10 năm qua tại khu vực này.
Chỉ trong 2 ngày kể từ khi bùng phát ở tỉnh Leon, miền Trung Tây Ban Nha, các đám cháy lớn đã thiêu rụi hơn 8.000 rừng và làm khô cháy nhiều diện tích đồng cỏ.
Giới chức vùng Castila và Leon cho biết, đợt cháy rừng năm nay là thảm họa tồi tệ nhất kể từ 10 năm qua tại khu vực này. Hơn 800 lính cứu hỏa, 200 máy bay trực thăng được huy động tham gia dập cháy rừng. Tuy nhiên, gió lớn, độ ẩm thấp, nhiệt độ cao cộng với việc thiếu máy bay chở bom nước khiến nỗ lực khống chế và dập tắt đám cháy gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, lệnh sơ tán cũng được triển khai nhằm đảm bảo an toàn cho người dân sau khi đám cháy "tấn công" các khu vực dân cư.
Theo thống kê ban đầu, các đợt cháy rừng bùng phát ở Tây Ban Nha từ đầu mùa hè này đã tàn phá hơn 140.000 ha cây rừng và cướp đi sinh mạng của một vài người. Trải qua một mùa Đông khô hạn nhất trong vòng 70 năm qua, Tây Ban Nha đang phải đối mặt với nguy cơ hỏa hoạn ở mức báo động. Những ngày gần đây, nhiệt độ không khí nhiều nơi đã chạm ngưỡng 40 độ C. (Vov.vn 22/8)đầu trang(
Hãng tin Reuters đưa tin ngày 22-8 (giờ địa phương), 3.000 dân gần thị trấn nhỏ Manton ở miền Bắc bang California (Mỹ) đã buộc phải sơ tán.
Cháy rừng do sét đánh bắt đầu lan rộng từ cuối tuần trước và đến giờ vẫn chưa được kiểm soát.
Diện tích cháy rộng khoảng 8.700 ha (ảnh). Lửa đã thiêu rụi 50 nhà dân, chuồng trại, nhà kho và vẫn còn khả năng đe dọa tới 200 hộ dân nơi đây. Báo Los Angeles Times cho biết 2.100 nhân viên cứu hỏa và 11 máy bay trực thăng đã được điều động chiến đấu với lửa. Tại bang California có hơn 581.000 người Việt sinh sống. (Pháp Luật TPHCM 23/8) đầu trang(
Các nhà khoa học đã phát hiện một loài chuột mới không có răng hàm ở Philippines. Đây là loài chuột duy nhất không có răng hàm được phát hiện trên thế giới từ trước tới nay.
Các nhà sinh vật học thuộc trường đại học McMaster (Canada) đã phát hiện thấy một loài chuột mới sau khi họ bắt được 2 con chuột bị sập bẫy trong rừng trên hòn đảo Sulawesi của Philippines. Loài chuột mới, được đặt tên là Paucidentomys vermidax, hoàn toàn không có răng hàm giống như những loài gặm nhấm khác.
“Khi bắt được 2 con chuột bị sập bẫy trong rừng, chúng tôi nhận thấy chúng có đặc điểm rất khác với những loài chuột mà chúng tôi từng biết”, tiến sĩ Jacob Esselstyn, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, cho biết trên Live Science. “Nhưng lúc đó chúng tôi chưa biết chúng không hề có răng hàm.
Các nhà khoa học phỏng đoán rằng loài chuột Paucidentomys vermidax có thể tiêu biến răng hàm trong quá trình tiến hóa. Điều này cho thấy rằng sự tiến hóa trong tự nhiên rất đa dạng hơn những gì chúng ta từng biết.
Tiến sĩ Jacob Esselstyn cho biết loài chuột Paucidentomys vermidax sông trong những khu rừng ẩm ướt và rập rạp trên những ngọn núi cao. Chúng di chuyển rất nhanh và rất khó bắt. Một trong 2 con chuột bị sập bẫy có dạ dày đầy giun và không có những thứ khác. Điều này cho thấy loài chuột Paucidentomys vermidax có thể chỉ ăn giun đất.
Điểm khác biệt của loài chuột Paucidentomys vermidax so với những loài chuột khác là chúng không hề có răng hàm để nghiền nát thức ăn. Ngoài ra, chúng cũng có răng cửa khác thường với 2 đầu nhọn thay vì có hình chữ V như những loài chuột khác.
Kiểu răng đặc biệt này giúp chúng xé những con giun thành nhiều mảnh nhỏ trước khi ăn, nhưng các nhà khoa học vẫn chưa biết cơ chế này hoạt động như thế nào. (Vietnamnet 23/8) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa