Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 23 tháng 07 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một chính sách quốc gia nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn và hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, bảo đảm nguồn nước cho thủy điện và các hoạt động kinh doanh du lịch, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người làm nghề rừng. Tuy nhiên, cho đến nay, bên cạnh một số tỉnh thực hiện tốt thì ở nhiều địa phương, chính sách này vẫn chưa thật sự đi vào cuộc sống.
Lai Châu hiện là tỉnh dẫn đầu cả nước trong triển khai công tác chi trả DVMTR. Toàn xã Lản Nhì Thàng có hơn 4.700 ha rừng, năm 2012, tỉnh đã chi 1,3 tỷ đồng cho 513 hộ, trung bình mỗi hộ được nhận từ 2,6 đến 2,7 triệu đồng. Các hộ dân chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, Dao, kinh tế còn rất khó khăn nên số tiền nhận được tác động rất lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của họ.
Phó Chủ tịch UBND xã Hoàng Ích Ðiện phấn khởi cho biết: Từ khi được nhận tiền DVMTR, bà con các dân tộc rất phấn khởi. Các hộ dân giờ coi rừng như vườn nhà mình nên công tác chăm sóc, bảo vệ được thực hiện thường xuyên, liên tục, rất hiệu quả.
Tính đến hết năm 2012, toàn tỉnh Lai Châu thu được hơn 166 tỷ đồng, đạt 110% so với kế hoạch thu và đã chi gần 140 tỷ đồng cho hơn 50 nghìn hộ là chủ rừng, với tổng diện tích rừng được nhận chi trả là 433 nghìn ha, đạt 93% kế hoạch, đưa Lai Châu trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về công tác thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nguyễn Hữu Ái khẳng định: Thành công của chính sách này chính là do tỉnh đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, huy động được cả bộ máy chính trị, hệ thống chính quyền các cấp từ tỉnh đến huyện, xã vào cuộc, thực hiện đồng bộ phương án chi trả trên cơ sở xác định rõ đối tượng và quan trọng hơn là đã tạo ra tiếng nói đồng thuận trong các dân tộc anh em, sự đoàn kết và đồng đều về năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ thực hiện công tác này.
Cùng với Lai Châu, theo đánh giá của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, tính đến nay, cả nước đã có thêm nhiều tỉnh làm tốt công tác chi trả DVMTR. Nếu đầu năm 2012, mới có chín địa phương trong cả nước thành lập quỹ, thì đến nay, đã có 31 tỉnh tổ chức thành lập, vận hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, chủ yếu tập trung tại một số khu vực có tiềm năng về thủy điện như Tây Bắc, Tây Nguyên và miền trung. Sau khi thành lập, hầu hết các quỹ đã từng bước kiện toàn, củng cố bộ máy, triển khai các hoạt động, hoàn chỉnh các quy định quản lý, vận hành.
Có nhiều điểm chung với Lai Châu, nhưng tỉnh Ðiện Biên hiện còn nhiều tồn tại, vướng mắc trong triển khai công tác chi trả DVMTR, khiến tiền chưa đến được tay người bảo vệ rừng. Ðến nay, tỉnh mới ký được hai hợp đồng ủy thác thu tiền DVMTR, còn lại bốn Nhà máy thủy điện: Nà Nơi, Thác Trắng, Pa Khoang, Na Son chưa ký được với nhiều lý do khác nhau. Năm 2012, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh đã được Quỹ của Trung ương điều phối 100 tỷ đồng. Trong khi đó, thực tế việc chi trả tiền DVMTR tính đến nay mới được hơn 13 tỷ đồng cho 38 chủ rừng với diện tích được nhận chi trả là 38 nghìn ha.
Các chủ rừng được chi trả gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, cộng đồng dân cư, thôn bản thị xã Mường Lay; bản Chống Dình, bản Huổi Toong 2 thuộc huyện Mường Chà và hai bản Cò Chạy 2 và Mường Pồn 2 của huyện Ðiện Biên. Ðến một số xã của huyện Mường Chà, nơi có tới gần 90% số hộ nghèo, chúng tôi được biết hiện họ vẫn chưa được nhận tiền DVMTR và đang ngày đêm mong ngóng chính sách được triển khai.
Phó Chủ tịch UBND huyện Ðinh Xuân Tiến băn khoăn: "Mường Chà là huyện nghèo, hằng năm phải trông chờ vào ngân sách của Nhà nước. Do vậy, khi triển khai công tác chi trả DVMTR chúng tôi rất vui. Thế nhưng, muốn giải ngân hiệu quả, kịp thời thì phải sớm xác định đúng đối tượng chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng. Việc này huyện cũng đang gặp nhiều vướng mắc.
Chúng tôi rất mong lãnh đạo tỉnh sớm có chính sách chỉ đạo để các địa phương thực hiện, kịp thời hỗ trợ tiền cho người dân, giúp họ cải thiện cuộc sống, đồng thời có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ, chăm sóc rừng. Tiền dịch vụ môi trường rừng thu được rồi mà không đưa được đến người dân là có lỗi với dân bởi chúng tôi xác định, với bà con nơi đây, có thêm một đồng cũng quý".
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà, Nguyễn Tuấn Quang cũng mong muốn, địa phương sớm xác định rõ các đối tượng được thụ hưởng chính sách để hỗ trợ cho lực lượng kiểm lâm làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa bàn quản lý.
Việc chỉ giải ngân được 13 tỷ đồng là một tồn tại, yếu kém của tỉnh Ðiện Biên trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Nguyên nhân của việc chậm trễ trong triển khai chính sách này là do thiếu sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của chính quyền địa phương; chưa khơi dậy được sự quan tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị và thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cơ quan, ban, ngành trong tỉnh. Hơn lúc nào hết, các đối tượng được thụ hưởng từ chính sách này hiện đang ngày đêm mong chờ vào các quyết sách, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của lãnh đạo tỉnh!?
Tính đến nay, hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã cơ bản hoàn chỉnh, là căn cứ pháp lý rất quan trọng triển khai các hoạt động thực thi chính sách của Nhà nước. Dựa vào các văn bản đó, các địa phương hoàn toàn có thể chủ động triển khai vận hành Quỹ, tiến hành ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR để thu nộp, có kế hoạch triển khai chi trả tiền cho các chủ rừng.
Ngoài Ðiện Biên, một số tỉnh khác như Quảng Nam, Ðác Lắc, Kon Tum hiện cũng triển khai chính sách này rất chậm. Nguyên nhân nằm ở sự chậm trễ trong thành lập và vận hành bộ máy quỹ. Ở một số địa phương, chính sách chưa nhận được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền và chưa có sự hưởng ứng, đồng thuận của người dân. Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn thiếu chủ động trong việc huy động các nguồn lực để thực hiện chính sách, đặc biệt phần lớn các tỉnh chưa hoàn thành việc rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng.
Năm 2012, cả nước đã thu được hơn 1.170 tỷ đồng từ DVMTR. Năm 2013, kế hoạch thu từ các nhà máy thủy điện (không kể thủy điện nhỏ) toàn quốc có thể đạt 925 tỷ đồng, trong đó, thu qua Trung ương 716 tỷ đồng, thu trực tiếp tại tỉnh 209 tỷ đồng. Riêng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Trung ương, tính đến tháng 7-2013 đã ký được 31 hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR. (Nhân Dân 23/7)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
UBND tỉnh Quảng Nam vừa ra Quyết định “Phê duyệt kế hoạch thu, chi năm 2013 của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng”.
Theo đó, tổng dự toán chi năm 2013 là 36.444 triệu đồng. Trong đó, kinh phí hoạt động của bộ máy điều hành Quỹ 4.266 triệu đồng; chi lập các đề án và giao khoán bảo vệ rừng 5.103 triệu đồng; kinh phí chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng 24.408 triệu đồng; lập quỹ dự phòng bằng 5% số thu năm 2013, với số tiền 2.666 triệu đồng.
Được biết tổng dự toán thu Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2013 của Quảng Nam là hơn 109 tỷ đồng, trong đó, nguồn thu năm 2013 là 53.326 triệu đồng; chuyển nguồn năm 2012 sang năm 2013 là 56.394 triệu đồng. (Nông Nghiệp VN 22/7)đầu trang(
Thực hiện chương trình giao khoán quản lý rừng, từ đầu năm đến nay huyện Đạ Huoai đã thực hiện được trên 20 ngàn ha với tổng số 661 hộ, trong đó 339 hộ dân tộc và 322 hộ người kinh.
Nhìn chung các hộ nhận khoán đã thực hiện tốt việc trồng quản lý, bảo vệ, chăm sóc số diện tích được nhận khoán, phối hợp với các ban quản lý rừng trong thực hiện nhiệm vụ phòng cháy chữa cháy. Thông qua chương giao khoán quản lý bảo vệ rừng đã góp phần tạo điều kiện để người dân ở địa phương phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống.
Đồng thời hạn chế được trạng lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép. Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng, huyện Đạ Huoai cũng đã hoàn thành công tác trồng rừng, trồng cây phân tán trong năm 2013 với hơn 5000 cây phân tán dọc các tuyến đường ở địa phương. (Đài PT - TH Lâm Đồng 22/7)đầu trang(
Theo nhận định của các ngành chức năng, mặc dù số vụ có giảm nhưng trên thực tế công tác quản lý bảo vệ rừng ở Lạc Dương trong thời gian qua vẫn còn diễn biến phức tạp, trên địa bàn xuất hiện nhiều điểm nóng.
Trước thực trạng trên, UBND huyện đã và đang chỉ đạo các ngành liên quan và các đơn vị chủ rừng đẩy mạnh công tác phối hợp, tăng cường tuần tra kiểm soát và có biện pháp để mạnh xử lý kịp thời các trường hợp có tình phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép.
Bên cạnh đó, từ đầu năm 2013 đến nay huyện Lạc Dương đã tổ chức giao khoán quản lý bảo vệ gần 80ha rừng cho hơn 2.500 hộ nhận khoán, trong đó hộ đồng bào DTTS có trên 2.450 hộ và 14 tập thể, doanh nghiệp.
UBND huyện Lạc Dương, cho biết để công tác giao khoán rừng phát huy hiệu quả, huyện đang chỉ đạo các ngành liên quan phối hợp với các xã tổ chức rà soát đối tượng nằm trong diện được hưởng thụ, để từ nay đến cuối năm 2013 tiếp tục phân rừng để cho nhân dân nhận quản lý vào bảo vệ, đồng thời tiến hành tổ chức kiểm tra thường xuyên các địa bàn có diện tích rừng được giao. . (Đài PT - TH Lâm Đồng 21/7)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
"UBND tỉnh Đồng Nai, các bộ ngành, nhà khoa học đã có ý kiến dừng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A rất nhiều rồi. "
Ông Nguyễn Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, kiêm Trưởng ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển tỉnh chia sẻ với Đất Việt sau khi tỉnh này gửi tiếp một văn bản kiến nghị lên Quốc hội, Chính phủ về việc dừng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Theo ông Trí, đến lúc này lãnh đạo tỉnh và nhân dân Đồng Nai chờ quyết định cuối cùng của Thủ tướng và sẽ không bàn thêm gì nữa, dù rằng các nhà khoa học có gợi ý sẽ tổ chức một cuộc đánh giá lợi – hại từ hai dự án này có các bên cùng tham gia gồm: Đồng Nai, chủ đầu tư, chuyên gia và Chính phủ.
Ông Trí khẳng định, quan điểm của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai được thể hiện rất rõ trong các văn bản của Thường trực Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh gửi Ban Bí thư, Quốc hội và Thủ tướng kiến nghị dừng triển khai dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A.
Việc dừng triển khai 2 dự án trên phù hợp với Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Mới đây, UBND tỉnh Đồng Nai tiếp tục có văn bản kiến nghị một số nội dung cụ thể gồm: Xem xét lại tính pháp lý của 2 dự án; rà soát, đánh giá lại quy hoạch thủy điện trên lưu vực sông Đồng Nai một cách hợp lý; đánh giá tác động môi trường một cách chi tiết, cụ thể, khách quan thông qua một cơ quan tư vấn độc lập không phụ thuộc vào đơn vị lập dự án đầu tư;
Tham vấn một cách chính xác, đầy đủ cộng đồng vùng hạ du và nghiên cứu về động đất kích thích, không để lặp lại bài học của Thủy điện Sông Tranh 2 và Thủy điện Đắc Krông 3.
Trái với quan điểm của tỉnh cũng như các nhà khoa học xác định 2 dự án thủy điện này có thể ảnh hưởng đến 3 triệu dân của tỉnh, hàng chục triệu dân ở TP. HCM và các tỉnh hạ lưu sẽ bị mất rất nhiều về nguồn nước, môi trường sinh thái…chủ đầu tư lại lý giải rằng, hai thủy điện này làm theo kiểu đập dâng (không phải thủy điện hồ chứa), trả nước lại cho dòng sông ngay sau đập nên không gây đoạn sông chết.
Thủy điện sử dụng turbin Kaplan có khả năng phát điện với cột nước thấp, thậm chí với dòng chảy nhỏ hơn dòng chảy thấp nhất ở mùa kiệt hiện tại, nên có thể hoạt động 24/24 và không làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước ở hạ lưu.
Câu chuyện này cứ quăng đi, đá lại đã 6 năm qua. Tới ngày 27/6 vừa qua, Thủ tướng yêu cầu báo cáo về tình hình hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Tại cuộc họp này, Thủ tướng đã nhắc Bộ Tài nguyên Môi trường đốc thúc chủ đầu tư báo cáo bổ sung. "Đánh giá tác động môi trường được hay không thì cũng kết luận dứt điểm cho xong, không để thời gian kéo dài".
Theo ông Trí, từng đó thời gian (6 năm trời), qua nhiều lần chỉnh sửa, làm đi làm lại nhiều lần, đến nay bản báo cáo đánh giá tác động môi trường của chủ dự án vẫn thể hiện còn nhiều sai sót, chưa được Bộ TN-MT phê duyệt trình Thủ tướng xem xét, quyết định cũng đã thể hiện nhiều điều rồi.
Trước đó, ngày 9/5/2013, Ban Quản lý Khu dự trữ Sinh quyển tỉnh Đồng Nai có Công văn số 41/BC-BQLKDTSQDN gửi Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban KH-CN-MT Quốc hội và các bộ ngành liên quan, nêu các tác động tiêu cực của dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A.
Sau đó, Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai có Công văn 204/ĐLGL-TĐ ngày 25/5/2013 gửi UBND tỉnh Đồng Nai phúc đáp các ý kiến về dự án này.
Theo UBND tỉnh Đồng Nai và các nhà chuyên môn đánh giá, nội dung văn bản này đưa ra nhiều số liệu không đúng với thực tế và có nhiều vấn đề chưa được làm rõ.
Cụ thể, Công ty Đức Long vẫn khẳng định dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A đều nằm ngoài phạm vi Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên.
Theo ông Trí, điều này không đúng. Trên sơ đồ vị trí thủy điện Đồng Nai 6, 6A thể hiện đều nằm trong vùng lõi của VQG Cát Tiên. Trong đó, Thủy điện Đồng Nai 6 thuộc tiểu khu 506, còn thủy điện Đồng Nai 6A thuộc tiểu khu 497, do VQG Cát Tiên quản lý.
Theo Luật Di sản văn hóa, vùng lõi là khu vực bảo vệ 1 được nhiều văn bản pháp luật quy định là khu bất khả xâm phạm. 137 ha của 2 dự án này dự kiến xây dựng đều nằm trong vùng lõi - khu vực bảo vệ 1 của VQG Cát Tiên.
"Theo Luật là bất khả xâm phạm nhưng nhiều năm qua nhân danh chủ đầu tư, Công ty Đức Long đã mở đường, ra vào khảo sát tại đây mà không được sự đồng ý của chủ nhà là sai. Nhất là thời điểm hiện nay chưa có cơ quan thẩm quyền nào phê duyệt đầu tư 2 dự án này", ông Trí nói.
GS. TS Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi cho rằng, vấn đề còn lại là Chính phủ, vì trong nhiều năm qua phía chủ đầu tư và phía các nhà khoa học đã đưa ra nhiều lý lẽ phản bác nhau mà thông tin đại chúng đã nêu rất rõ. Những số liệu thiệt hại cũng như được lợi do 2 thuỷ điện đó gây ra tất cả đã biết. "Nếu quyết cho làm dự án thì những lý lẽ bảo vệ Vườn quốc gia của các nhà khoa học nhiều năm qua là không thành công", GS. Hồng e ngại. (Đất Việt 23/7)đầu trang(
Đã có 155 dự án thủy điện và 72 vị trí thủy điện tiềm năng với tổng công suất 800 MW tại khu vực Tây Nguyên bị loại khỏi quy hoạch. Bộ Công Thương đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tạm dừng xây dựng hàng loạt dự án thủy điện tại Tây Nguyên giai đoạn sau 2015.
Thông tin trên được ông Đỗ Đức Quân, Vụ trưởng Vụ thủy điện, Tổng cục Năng lượng thuộc Bộ Công Thương cho biết qua trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online chiều 22-7.
Hiện tại, khu vực Tây Nguyên có 118 dự án thủy điện đang vận hành với tổng công suất phát điện khoảng 5.800 MW và 75 dự án khác đang trong giai đoạn xây dựng.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, việc quy hoạch, đầu tư phát triển thủy điện ở Tây Nguyên và các huyện miền núi giáp Tây Nguyên vẫn còn gây nhiều bức xúc về môi trường, việc trồng rừng bù lại diện tích rừng bị mất do xây dựng thủy điện còn rất chậm, quản lý chất lượng các dự án thủy điện vừa và nhỏ bị buông lỏng để xảy ra nhiều sự cố nghiêm trọng.
Trước đó, vào cuối năm 2012, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phối hợp với Bộ Công Thương triển khai việc rà soát, đánh giá lại quy hoạch phát triển các công trình thủy điện gắn với việc sử dụng đất đai, tài nguyên, giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm không gian sinh sống của đồng bào các dân tộc ở các vùng dự án ở khu vực Tây Nguyên.
Theo đó, tỉnh Đắk Lắk đã chấm dứt chủ trương đầu tư 7 dự án thủy điện nhỏ. Mới đây, chính quyền tỉnh Lâm Đồng cũng đã loại khỏi quy hoạch gần 30 dự án thủy điện nhỏ kém hiệu quả, chậm triển khai. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 23/7)đầu trang(
Hiện toàn huyện Hàm Tân đã giao 1.622,3 ha rừng cho 50 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nhận khoán quản lý, bảo vệ, bình quân 32,44 ha/ 01 hộ. Các hộ nhận khoán bảo vệ rừng được chi trả 200.000đ/ 01 ha/ 01 năm. Ngoài ra, hàng năm Công ty Lâm nghiệp Hàm Tân trang bị cho mỗi hộ nhận khoán 01 bộ quần áo, mũ để đi rừng.
Hình thức tổ chức quản lý, bảo vệ rừng có sự phối hợp giữa chủ rừng với hộ nhận khoán. 50 hộ nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng thường xuyên tổ chức thành từng nhóm, tổ tuần tra, bảo vệ rừng. Tính từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2013, các hộ nhận khoán đã phát hiện và kết hợp với lực lượng chuyên môn bắt giữ 13 vụ đưa phương tiện vào rừng khai phá trái phép, xử phạt 14.000.000đ; bắt giữ 07 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ 7 xe máy, thu gom 9,2358 m3 gỗ vi phạm chuyển về Hạt Kiểm lâm huyện xử lý; phát hiện, lập biên bản 03 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp, xử phạt 1.500.000đ…
Nhìn chung, công tác giao khoán quản lý, bảo vệ rừng cho hộ đồng bào DTTS đạt kết quả tốt, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho đồng bào, hạn chế nạn phá rừng làm rẫy. Mối quan hệ giữa đồng bào với lực lượng bảo vệ rừng ngày càng gắn bó, nhận thức của đồng bào về công tác quản lý, bảo vệ rừng được nâng lên. Những năm qua không xảy ra việc các hộ DTTS tự phá rừng được giao khoán quản lý, bảo vệ.
Tuy nhiên theo nhận định sơ bộ, công tác phối hợp tuyên truyền, giáo dục, khảo sát diện tích rừng được giao khoán, nghiệm thu, thanh toán tiền công nhận khoán của một số đơn vị và còn chậm, thiếu kịp thời. Định mức tiền công nhận khoán bảo vệ rừng cần điều chỉnh phù hợp hơn so với mức giá còn quá thấp 200.000đ/01 ha/01 năm hiện nay. (Theo Binhthuancpv.org.vn 21/7)đầu trang(
Tính đến nay, huyện đã thu hút được 25 dự án (của 23 nhà đầu tư) liên quan đến rừng và đất lâm nghiệp, chiếm 60% tổng số dự án đầu tư trên địa bàn huyện.
Các dự án đầu tư vào lĩnh vực này gồm 20 dự án thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp, 2 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, 3 dự án thuộc lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Tổng vốn đăng ký đầu tư của các dự án này khoảng 3.000 tỷ đồng, với quy mô sử dụng đất hơn 6.900ha. Các dự án được tích cực triển khai nhất là các dự án trồng cao su và dự án đầu tư du lịch; từ đó, đã tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương. (Đại Biểu Nhân Dân 22/7)đầu trang(
21/7, ông Trần Văn Thức, Phó GĐ Sở NN&PTNT Cà Mau cho biết, dự án trồng 366 ha rừng bảo tồn tại tiểu khu 032, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ vừa khởi động.
Chính phủ Nhật bản cử cán bộ kỹ thuật trực tiếp quản lý, triển khai, dự kiến đến tháng 10/2013 sẽ hoàn thành và bàn giao cho Cty NTHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ quản lý, bảo vệ.
Mục đích của dự án trồng rừng tràm bảo tồn để lấy giống tràm, nuôi cá đồng, phục hồi hệ sinh thái rừng ngập lợ ở U Minh hạ.
Được biết, dự án trồng rừng bảo tồn của Chính phủ Nhật bản viện trợ không hoàn lại được triển khai tại Lai Châu, Lâm Đồng và Cà Mau với tổng vốn đầu tư khoảng 400.000 yên. (Tiền Phong 22/7)đầu trang(
Theo Công ty Lâm nghiệp Bảo Lâm, cùng với việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các tổ chức và cá nhân trên địa bàn huyện, đến nay công ty này đã tổ chức trồng mới và chăm sóc được hơn 75 ha rừng trồng từ nguồn ngân sách địa phương và nguồn vốn từ Chương trình 30a của Chính phủ.
Được biết, Công ty Lâm nghiệp Bảo Lâm hiện đang quản lý bảo vệ trên 22.000 ha rừng tại 24 tiểu khu tại địa bàn các xã: Lộc Lâm, Lộc Phú, B’Lá và một phần của Thị trấn Lộc Thắng. Công ty đã tiến hành giao khoán trên 18.850 ha rừng theo Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, với mức chi trả bình quân 300.000 đồng/ha/năm cho 94 tổ chức và gần 1.000 hộ dân quản lý bảo vệ, trong đó có gần 790 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương. (Đài PT - TH Lâm Đồng 20/7)đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định truy tặng danh hiệu liệt sĩ đối với ông Trần Thanh Tùng, kiểm lâm viên Đội cơ động Chi cục Kiểm Lâm Hà Tĩnh, đã tử nạn trong vụ truy đuổi xe chở gỗ lậu tại huyện Vũ Quang ngày 8/6/2012.
Thông tin trên được Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh Nguyễn Huy Lợi cung cấp cho PV Dân trí sáng nay, 22/7. Theo ông Lợi, kiểm lâm viên Trần Thanh Tùng – người đã tử nạn trong đợt truy đuổi xe ô tô vận chuyển gỗ lậu tại xóm Liên Sơn, xã Đức Bồng, huyện Vũ Quang vào sáng sớm ngày 8/6 - đã được Thủ tướng Chính phủ truy tặng danh hiệu liệt sĩ. Bằng Tổ quốc ghi công ghi rõ: “Liệt sĩ Trần Thanh Tùng, kiểm lâm viên Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh – nguyên quán xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh - đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Thủ tướng Chính phủ cũng ủy thác Bộ LĐ-TB&XH ký các quyết định cho mẹ, vợ và con của liệt sĩ này được hưởng chế độ chính sách thân nhân liệt sĩ theo quy định.
Trước đó, như Dân trí đã thông tin, sáng 8/6/2012, xe ô tô của lực lượng kiểm lâm cơ động Hà Tĩnh truy đuổi xe khách vận chuyển gỗ lậu, gặp đoạn đường xuống dốc, cua gấp nên đã lật nhào, tông thẳng vào gốc cây. Vụ tai nạn khiến kiểm lâm viên Trần Thanh Tùng chết ngay tại chỗ, kiểm lâm còn lại là ông Nguyễn Huy Hùng bị đa chấn thương, chịu thương tật vĩnh viễn 57%, đang được Sở LĐ-TB&XH Hà Tĩnh hoàn tất hồ sơ trình cục Người có công cho hưởng chế độ chính sách như thương binh.
Ông Nguyễn Huy Lợi cho hay, việc kiểm lâm viên Trần Thanh Tùng được Thủ tướng Chính phủ truy tặng danh hiệu liệt sĩ thể hiện trách nhiệm, sự ghi nhận của Đảng, nhà nước đối với người con đất Việt đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vệ Tổ quốc; cũng là sự động viên rất lớn về tinh thần đối với nỗi đau mà thân nhân liệt sĩ Tùng đã trải qua.
Ngoài ra, theo ông Lợi, việc kiểm lâm viên Trần Thanh Tùng được Thủ tướng truy tặng danh hiệu liệt sĩ cũng là một niềm động viên rất lớn về tinh thần đối với lực lượng kiểm lâm Hà Tĩnh nói riêng và lực lượng kiểm lâm trên cả nước nói chung. “Hơn ai hết, là người đứng đầu lực lượng kiểm lâm địa phương, tôi hiểu được những khó khăn, những nguy hiểm mà anh em phải đối mặt trong cuộc chiến với lâm tặc.
Thực tế, đã có nhiều anh em trong ngành trên cả nước đã tử nạn hoặc bị thương trong cuộc chiến ngăn chặn nạn phá rừng, buôn bán trái phép lâm sản, nhưng vẫn chưa được hưởng chế độ đãi ngộ tương xứng. Vì thế cá nhân tôi tin rằng, việc anh Tùng được truy tặng danh hiệu liệt sĩ sẽ là một sự động viên rất lớn cho anh em công tác trong ngành kiểm lâm”- ông Lợi nói.
Được biết, Đảng ủy, chính quyền phường Nguyễn Du (TP Hà Tĩnh – nơi gia đình liệt sĩ Tùng sinh sống) cùng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh sẽ tổ chức Lễ truy điệu, công bố quyết định truy tặng danh hiệu liệt sĩ của Thủ tướng Chính phủ cho liệt sĩ Tùng trước ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 năm nay. (Dân Trí 22/7)đầu trang(
Năm 2013, bằng nguồn vốn ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh, huyện Mường Lát triển khai trồng mới 4.000 ha rừng sản xuất.
Theo kế hoạch, 10 đơn vị là Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát, Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý trồng rừng 147 của huyện, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, các đồn biên phòng trên địa bàn... được giao nhiệm vụ trực tiếp tham gia chỉ đạo, vận động các hộ gia đình trồng mới rừng.
Đến trung tuần tháng 7-2013, gần 90% diện tích trồng rừng theo kế hoạch đã được các đơn vị thiết kế. Toàn huyện có 2.761 hộ (trong đó có 1.239 hộ đồng bào Mông, 1.175 hộ đồng bào Thái, còn lại là các hộ đồng bào Dao và Khơ Mú) trồng được gần 3.000 ha/trên kế hoạch 4.000 ha rừng.
Để hoàn thành mục tiêu kế hoạch trồng mới rừng năm 2013 và các năm tiếp theo, hiện nay Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội huyện Mường Lát đang phối hợp với cấp ủy, chính quyền huyện Mường Lát cử cán bộ về cơ sở tập trung chỉ đạo khẩn trương hoàn thành thiết kế, tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy nhanh tiến độ trồng mới rừng trong vụ thu. Hoàn tất các thủ tục cấp gạo cho các hộ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng năm 2013 (theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ cấp 3.000 tấn gạo dự trữ quốc gia hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số Mường Lát). (Báo Thanh Hóa 20/7)đầu trang(
Lâm nghiệp được xác định là thế mạnh của Bắc Kạn, tỉnh đã xây dựng quy hoạch đối với lĩnh vực này từ năm 2009 (giai đoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020). Với gần 400.000ha đất lâm nghiệp, hàng năm Bắc Kạn nỗ lực phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tuy nhiên vấn đề quản lý, khai thác và sử dụng đất lâm nghiệp hiện nay trên địa bàn vẫn còn những bất cập, chống chéo cần tháo gỡ nhất là trong vấn đề quản lý, sử dụng đất ở các lâm trường quốc doanh.
Theo thống kê tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn là 388.000ha, trong đó rừng đặc dụng là 25.582ha, gần 95.000ha rừng phòng hộ, còn lại là rừng sản xuất với gần 270.000ha. Hiện nay việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp được giao cho các đối tượng như: Đối với rừng đặc dụng do các Ban quản lý bảo vệ và phát triển rừng quản lý (Kiểm lâm); rừng phòng hộ do UBND các xã, rừng sản xuất một phần giao cho lâm trường, còn lại chủ yếu giao cho dân và phần nữa diện tích rừng cộng đồng thôn.
Tuy nhiên hiện nay có một tồn tại chồng chéo đó là: đất lâm nghiệp của lâm trường nhưng thực tế người dân đã sử dụng từ lâu, người dân và chính quyền địa phương đề nghị được trao lại quyền sử dụng đất số diện tích này bởi lâm trường được nhà nước giao đất nhưng vì nhiều lý do nên nhiều năm không tiến hành trồng rừng.
Ví dụ người dân các xã Quang Thuận, Đôn Phong, Dương Phong (Bạch Thông) đã sử dụng 250ha đất của lâm trường để trồng cây cam, quýt. Hay tại Ngân Sơn, trên địa bàn 4 xã Bằng Vân, Đức Vân, Vân Tùng và Thị trấn Nà Phặc có 3.000ha đất cấp trùng sổ đỏ, khiến diện tích đất này có 02 chủ sở hữu đó là lâm trường và hơn 318 hộ dân. UBND huyện Ngân Sơn đã ra hàng loạt các quyết định thu hồi, huỷ bỏ các quyết định, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân nói trên, nhưng có một nghịch lý đó là lâm trường có đất nhưng không trồng rừng, còn người dân sống lâu đời ở đây thì lại không có đất canh tác, sản xuất.
Tương tự UBND thị xã Bắc Kạn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa bàn xã Dương Quang với diện tích 105ha cho 48 hộ dân trùng vào đất quốc doanh do một công ty quản lý. UBND huyện Ba Bể cấp trùng cho các hộ dân là 115,6ha (tại các xã Chu Hương, Yến Dương, Mỹ Phương). UBND huyện Bạch Thông cấp trùng diện tích đất của Lâm trường huyện cho các hộ dân tại xã Cẩm Giàng là hơn 200ha.
Trước thực trạng đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo cơ quan chức năng rà soát toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đang có sự trùng chéo, tranh chấp giữa dân và doanh nghiệp này. Qua rà soát, Công ty Lâm nghiệp nay chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn đang tiến hành lập thủ tục trả lại địa phương số diện tích cấp trùng chéo nếu trên với diện tích 2.228ha gồm 228ha đất quốc doanh của lâm trường Ba Bể tại các xã Bành Trạch, Thượng Giáo và thị trấn Chợ Rã.
615ha của lâm trường Bạch Thông trên địa bàn các xã Nông Thương, Xuất Hoá (thị xã Bắc Kạn), Đôn Phong, Dương Phong, Quang Thuận, Nguyên Phúc (Bạch Thông) và trên 1.300ha đất của lâm trường Ngân Sơn trên địa bàn các xã Bằng Vân, Đức Vân, thị trấn Nà Phặc... Về vấn đề này, mặc dù doanh nghiệp không muốn nhưng việc bàn giao số diện tích trên là việc làm cần thiết bởi dân muốn trồng rừng thì không có đất trong khi doanh nghiệp có đất nhưng bỏ đấy không trồng.
Không thể phủ nhận được những kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn kể từ khi đổi mới sắp xếp lại từ năm 2006 đến nay. Tuy nhiên một số diện tích đất lâm nghiệp giao cho Công ty lâm nghiệp nhưng sử dụng chưa hiệu quả, việc đầu tư trồng rừng theo kế hoạch đạt tỷ lệ thấp, diện tích đất trống đồi trọc còn khá cao so với diện tích được giao. Cụ thể năm 2008 Công ty được phê duyệt dự án trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 7.500ha, nhưng đến nay mới trồng được 2.600ha, đạt trên 35%, còn gần 5.000ha trồng rừng theo quy hoạch chưa thực hiện được.
Một số diện tích khi giao khoán cho các hộ dân trồng rừng nhưng chưa quản lý chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng đất sai mục đích theo hợp đồng, không trồng rừng mà tự ý san gạt sử dụng vào mục đích khác như: Sử dụng để làm nhà ở trồng cây nông nghiệp và cây ăn quả và cho thuê lại trái quy định. Cụ thể 1.099m2 đất vườn ươm của lâm trường tại xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn đã cho Doanh nghiệp Đức Mạnh thuê. Trường hợp này, theo quy định tại Điều 38, Luật Đất đai năm 2003 thì cần xem xét, thu hồi.
Hiện nay Công ty còn 476,71ha đất trồng rừng theo các dự án 327 và 661 không hiệu quả, nhưng đơn vị chưa chủ động phối hợp với chính quyền địa phương khoanh định ranh giới, bàn giao mốc giới khu vực đất đã được giao để quản lý.
Công tác quản lý của một số chính quyền các cấp chưa chặt chẽ, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm chưa kiên quyết, còn để xảy ra tình trạng sử dụng đất rừng sản xuất để xây dựng nhà ở. Ví dụ: tại thị trấn Chợ Rã (huyện Ba Bể) một số hộ dân tự ý san ủi đất để làm nhà, làm bãi. 10 hộ dân ở xã Dương Phong, Đôn Phong, Quang Thuận tự ý xây dựng nhà trên đất Lâm trường quản lý.
Lâm trường Bạch Thông cho các hộ gia đình công nhân của Lâm trường mượn 2.000,0m2 đất để làm nhà ở từ năm 1990, hiện tại các hộ gia đình này đã xây dựng nhà ở kiên cố. Theo Quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 09/9/1991 thì số diện tích trên giao cho Công ty Lâm nghiệp để sử dụng vào mục đích xây dựng Đội Lâm nghiệp Huyền Tụng (nay là Trụ sở làm việc của Lâm trường Bạch Thông). Vì vậy, đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 8; khoản 2 Điều 13 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, nhưng đã hết thời hiệu nên không xem xét xử phạt.
Theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 cần phải lập thủ tục trả lại cho địa phương để thực hiện theo quy hoạch. Như vậy việc quản lý sử dụng đất lâm nghiệp của hệ thống các lâm trường sau khi chuyển đổi, sắp xếp lại vẫn còn những vấn đề tồn tại cần sớm được giải quyết. (Báo Bắc Kạn 21/7)đầu trang(
Hiện nay cơ chế trồng rừng đã thay đổi căn bản, trồng rừng không chỉ mục đích phòng hộ, cải thiện môi trường mà còn vì giá trị kinh tế, đem lại thu nhập cho chính người dân. T khi triển khai chương trình trồng rừng sản xuất (Chương trình 147), người dân đã ý thức được rằng rừng là của mình, mình phải được đứng tên chủ sở hữu diện tích đất rừng đó.
Xuất phát từ thực tế đó, trong công tác giao đất giao rừng, yêu cầu được xác lập quyền chủ sở hữu đối với diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh được đặt ra cho các cơ quan chức năng khá cấp thiết. Đây là vấn đề rất khó khăn, nhiều vướng mắc, trùng chéo bởi đất lâm nghiệp toàn tỉnh tương đối rộng, như đã đề cập nhiều diện tích người dân đã sử dụng lâu năm nhưng khi cơ quan chức năng kiểm kê thì đó lại là đất của lâm trường. Hoặc ranh giới đất giữa các hộ dân không rõ ràng dẫn đến tranh chấp khiếu kiện kéo dài… Hầu hết người dân chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Hiện nay việc quy hoạch sử dụng và giao đất lâm nghiệp được dự án 3PAD (Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn) thực hiện thí điểm tại 3 huyện Ba Bể, Pác Nặm và Na Rì.
Dự án đã hoàn thành đo, giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gần 3.395 hộ dân tại 26 xã dự án, 267 thôn bản với tổng diện tích gần 12.000ha. Năm 2013 dự án tiếp tục giao thêm 10.000ha đất lâm nghiệp cho người dân tại 9 xã thuộc 3 huyện dự án, nâng tổng số diện tích đất lâm nghiệp giao cho dân lên 22.000ha. Tuy nhiên số hộ dân cần được cấp sổ đỏ cho diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh còn khá nhiều.
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn xác định: Huy động mọi thành phần kinh tế tham gia trồng rừng lại đối với diện tích cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt và đất rừng sau khi khai thác trắng. Tuy nhiên đến thời điểm này, nhìn lại sau 3 năm tập trung trồng rừng sản xuất thì diện tích rừng trồng được chủ yếu là trong dân, các doanh nghiệp tham gia nhưng diện tích không đáng kể, ngoài ra còn một số diện tích trồng theo dự án, tổng diện tích trồng hàng năm chỉ vào khoảng gần 1.000ha/tổng số 12.000ha trồng rừng mới của toàn tỉnh.
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn được xem như là doanh nghiệp trồng rừng chuyên nghiệp, được nhà nước giao cho quỹ đất “sạch” nhưng cũng chỉ trồng được nhiều nhất là 500ha/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn đầu tư. Lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp cho biết: Nhiều năm làm thủ tục vay vốn ưu đãi của Ngân hàng Phát triển để trồng rừng nhưng không được, Công ty đành phải vay vốn ngắn hạn của ngân hàng thương mại với lãi suất cao để đầu tư trồng rừng, hàng tháng trả lãi cả tỷ đồng. Đây là khó khăn lớn nhất mà Công ty không thể triển khai trồng rừng theo kế hoạch.
Đối với chương trình trồng rừng sản xuất 147, người dân tỉnh Bắc Kạn cũng đang gặp khó khăn về vốn. Nhu cầu cho trồng mới, chăm sóc, bảo vệ rừng hàng năm vào khoảng 101 tỷ đồng, trong khi đó ngân sách Trung ương cấp cho tỉnh chỉ có 40 tỷ đồng, nghĩa là thiếu trên 60 tỷ đồng. Như vậy hiện nay tiền hỗ trợ nhân công chăm sóc rừng trồng tỉnh vẫn chưa có nguồn để trả cho dân. Vấn đề này đang được tỉnh đề nghị Trung ương bố trí cấp bổ sung.
Vượt qua những khó khăn, trồng rừng giờ đây đã trở thành phong trào làm kinh tế ở hầu khắp các thôn bản của tỉnh Bắc Kạn. Mục tiêu đến năm 2015 trồng mới 60.000ha rừng của tỉnh có thể thực hiện được trong tầm tay, bởi hiện nay trung bình mỗi năm toàn tỉnh đã trồng đạt trên 12.000ha, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. (Báo Bắc Kạn 22/7)đầu trang(
Trong quá trình điều tra, xét xử vụ án Huỳnh Văn Cư và Nguyễn Quang, cùng trú xã Quảng Phú, H.Krông Nô (Đắk Nông) vận chuyển và tiêu thụ gỗ lậu, các cơ quan tố tụng tỉnh Bình Phước phát hiện liên quan đến vụ án này có sự tiếp tay của một số cán bộ kiểm lâm ở Đắk Nông nên đã tách hồ sơ chuyển cho cơ quan chức năng tỉnh Đắk Nông tiếp tục làm rõ.
Trao đổi với Thanh Niên, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông cho biết vào ngày 6.10.2012, ông Cư vận chuyển hơn 16 m3 gỗ bằng lăng có nguồn gốc khai thác trái phép trên xe ô tô biển số 49H-6670, từ H.Krông Nô về tỉnh Tiền Giang tiêu thụ. Khi đến địa phận H.Đắk Rlấp (Đắk Nông) thì bị ông Huỳnh Quốc Bảo, kiểm lâm viên Đội Kiểm lâm cơ động số 2 (KLCĐ2) thuộc Chi cục Kiểm lâm Đắk Nông, buộc dừng lại để kiểm tra.
Khi phát hiện hồ sơ lâm sản không đúng quy định, ông Bảo báo cáo ông Lê Văn Tường, Đội trưởng Đội KLCĐ2. Liền đó, ông Cư đến nhà riêng của ông Tường ở thị trấn Kiến Đức, H.Đắk Rlấp, để trình bày. Ông Tường gọi điện thoại báo cho ông Đỗ Ngọc Trai, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H.Krông Nô về việc giấy tờ lâm sản của ông Cư không hợp lệ.
Ông Trai đề nghị ông Tường trả lại hồ sơ cho ông Cư để về làm lại theo đúng biểu mẫu và xác nhận. Sau đó, ông Trai gọi điện cho bà Nguyễn Thị Hải, Giám đốc Công ty TNHH Hải Sơn (Đắk Nông) đề nghị giúp ông Cư một bộ hồ sơ xuất lâm sản để hợp thức hóa số gỗ vận chuyển. Bà Hải đã chỉ đạo kế toán lập hóa đơn xuất cho ông Cư ghi tên một khách hàng ở Tiền Giang, khối lượng 16,144 m3 gỗ bằng lăng xẻ, giá trị 87 triệu đồng.
Sau khi có bộ hồ sơ từ công ty của bà Hải cung cấp, ông Trai chỉ đạo ông Hà Phú Hùng, cán bộ pháp chế, ghi ý kiến xác nhận, phương tiện vận chuyển vào bảng kê lâm sản, rồi ông ký tên, đóng dấu và giao lại cho ông Cư. Ngày 9.10.2012, khi ông Cư cho xe chở số gỗ trên đến H.Bù Đăng thì bị lực lượng chức năng bắt giữ. (Thanh Niên 22/7)đầu trang(
Trên 2 tạ vẩy tê tê có nguồn gốc từ châu Phi, là tang vật của 1 vụ buôn bán, vận chuyển sản phẩm động vật rừng hoang dã, đã bị Công an quận Hà Đông tạm giữ khi đang trên đường đem đi... tiêu hủy.
Vào hồi 13 giờ 45 phút ngày 18/7, trên đường Lê Văn Lương (đoạn qua địa bàn quận Hà Đông), Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Hà Đông đã tiến hành kiểm tra hành chính xe ô tô du lịch biển kiểm soát 30L - 3145.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe chở một số bao tải chứa hàng. Tại thời điểm kiểm tra, lái xe không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hàng hóa.
Tại cơ quan công an, danh tính lái xe đã được làm rõ là Đào Quang Hiếu. Hiếu khai hiện là cán bộ của Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, đang vận chuyển số vẩy tê tê đi... tiêu hủy.
Nguồn gốc của 263 kg vẩy tê tê này là tang vật của một vụ buôn bán, vận chuyển sản phẩm động vật rừng hoang dã, bị tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông số 8, Công an TP Hà Nội bắt giữ vào ngày 16/1/2013, trên đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ (đoạn qua địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội) và chuyển Chi cục Kiểm lâm Hà Nội xử lý theo thẩm quyền.
“Số phận” của 263 kg vẩy tê tê từ khi bị bắt giữ cho đến nay vẫn là một ẩn số với dư luận. Bởi trên thực tế, khi vụ việc đang được xử lý, số tang vật này đã được chấp thuận chuyển giao cho một số đơn vị bệnh viện theo cơ chế “xin - cho”. Nhưng trước "làn sóng" phản đối từ phía các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã, sự lên tiếng của dư luận, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã buộc phải đi nhận tang vật về để mang đi tiêu hủy trong sự hao hụt về trọng lượng!
Trở lại sự việc chiều ngày 18/7, chiếc xe chở tang vật 263 kg vẩy tê tê bị cơ quan công an tạm giữ đã thấy nổi lên một số điểm “tối” rất cần được làm rõ. Cụ thể: Vì sao quá trình vận chuyển tang vật, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội không sử dụng xe công vụ? Hồ sơ chứng minh nguồn gốc, cùng toàn bộ giấy tờ liên quan đến việc tiêu hủy lại không đi kèm trong quá trình vận chuyển? (Thanh Tra 22/7)đầu trang(
Công tác tái định canh, định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng của công trình hồ Tả Trạch (xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy, tỉnh TT-Huế) đã kéo dài hơn 10 năm qua nhưng tỉnh vẫn "nợ" dân hơn 1.000 ha đất sản xuất, chưa đền bù.
Ông Phạm Quốc Dũng, Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh TT-Huế cho biết, qua giám sát chương trình tái định canh, định cư các hộ dân ảnh hưởng bởi công trình hồ Tả Trạch, các hộ dân bị ảnh hưởng bởi công trình hồ Tả Trạch đã qua 10 năm, nhưng đến nay tỉnh Thừa Thiên - Huế vẫn còn nợ người dân 1.012 ha đất chưa được đền bù do chính sách “đất đổi đất” không thực hiện được, gây nhiều bức xúc cho người dân ở các khu tái định cư.
“Đất đổi đất” bị vướng mắc là do việc thu hồi đất của các công ty kinh doanh lâm nghiệp, các ban quản lý rừng phòng hộ để giao cho người dân, nhiều nơi thực hiện chưa tốt. Đất đã giao nhưng thực tế các địa phương chưa bố trí đầy đủ cho người dân tái định cư; có nơi chỉ giao trên giấy tờ còn trên thực địa không giao được do bị người khác xâm canh.
Hiện có gần 850 hộ dân nằm trong công trình hồ Tả Trạch được di dời đến nơi ở mới thuộc khu tái định cư xã Bình Thành (thị xã Hương Trà), Bến Ván (huyện Phú Lộc) và định cư tại chỗ ở Khe Sòng (xã Dương Hòa).
Trong kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh vừa diễn ra từ 17-19/7 vừa qua, Ban Kinh tế và Ngân sách đã đề nghị HĐND tỉnh và UBND tỉnh TT-Huế, chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục giải quyết đất sản xuất cho người dân tái định cư bị ảnh hưởng bởi công trình hồ Tả Trạch.
“Nên tổ chức rà soát các diện tích đất sản xuất của các ban quản lý rừng phòng hộ, các lâm trường để có cơ sở thu hồi giao đất cho người dân ở các khu tái định cư. Đồng thời, rà soát diện tích đất đã cho các tổ chức thuê để sản xuất nhưng đang sử dụng sai mục đích. Có biện pháp thu hồi giao lại cho các địa phương quản lý và giao đất cho người dân tổ chức sản xuất” – ông Dũng nhấn mạnh. (Dân Trí 22/7)đầu trang(
Liên quan đến vụ đốn hạ, phát dọn trắng hơn 25ha rừng ở xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, chiều 20/7, ông Trần Minh Thu, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa cho biết, cơ quan này đã ra quyết định khởi tố vụ án, đồng thời chuyển hồ sơ đến Công an huyện Khánh Vĩnh để điều tra và xử lý theo thẩm quyền.
Bước đầu, cơ quan chức năng nhận định, khu rừng bị tàn phá là địa bàn giáp ranh giữa xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa với xã Cư San, huyện M' Đrak, tỉnh Đắk Lắk, nên nhiều khả năng người dân ở hai xã Cư San và Khánh Bình đã triệt hạ gỗ rừng, đốt dọn để lấy đất làm nương rẫy. Điều đáng lưu ý là tại hiện trường vẫn còn hàng ngàn cây gỗ bị đốn hạ ngổn ngang bị đốt cháy đen, trong đó có nhiều cây gỗ có đường kính từ 15-50cm. (Công An Nhân Dân 22/7)đầu trang(
Ngày 21/7, tin từ UBND huyện Kon Plông cho biết, UBND tỉnh Kon Tum vừa ban hành Quyết định 464/QĐ-UBND phê duyệt phương án giao đất, giao rừng cho 358 hộ tại các xã Đắk Tăng, Đắk Ring, Đắk Nên, Pờ Ê huyện Kon Plông.
Đối tượng được ưu tiên giao đất, giao rừng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất theo Quyết định 132/CP, Quyết định 134/CP. (Tiền Phong 22/7)đầu trang(
Kết quả thanh tra của Thanh tra tỉnh Đăk Nông về Dự án trồng rừng theo Dự án trồng rừng theo Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn II (2005 - 2010) trên địa bàn tỉnh đã phát hiện nhiều sai phạm, gây thất thoát lớn ngân sách nhà nước. Đến nay, nhiều diện tích đã trồng rừng trước đây chỉ còn là bãi đất trống, trong khi các doanh nghiệp đã được thanh toán toàn bộ kinh phí.
Dự án trồng rừng theo Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng trên địa bàn tỉnh được ngành Nông nghiệp triển khai từ năm 2005. Sau 8 năm, lẽ ra đã phải có nhiều cánh rừng mọc lên, thế nhưng, theo kết quả thanh tra của Thanh tra tỉnh tại 19 đơn vị ký kết và thực hiện dự án thì hầu hết các nơi triển khai dự án có cây rừng là rất ít, thậm chí có chỗ chỉ toàn là đất trống.
Chỉ tính riêng tại Công ty TNHH MTV Thuận Tân (Đắk Song), trong 2 năm 2008 và 2009, đã nhận trồng mới hơn 22 ha rừng phòng hộ dọc Quốc lộ 14, đồng thời cũng nhận các khoản hỗ trợ của Nhà nước theo quy định. Thế nhưng, hiện nay, số diện tích hơn 22 ha này chỉ toàn là đất trống, hoặc đã bị người dân lấn chiếm, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước gần 216 triệu đồng. Còn tại Nông-Lâm trường cao su Tuy Đức trực thuộc Công ty TNHH MTV cao su Phú Riềng vào năm 2005 cũng ký hợp đồng nhận trồng mới gần 30 ha rừng trên địa bàn các xã Quảng Tâm, Quảng Tân cũng gần như bị mất trắng hoàn toàn.
Tuy nhiên, có lẽ kém hiệu quả nhất phải kể đến Dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2010 theo Quyết định 661/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng do Chi cục Kiểm lâm xây dựng và được tỉnh phê duyệt. Mục đích chính của dự án này là sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đất nương rẫy, đất đồi núi trọc, đất hoang hóa, phục hồi diện tích rừng đã bị phá...
Theo đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã hỗ trợ đầu tư về cây giống, chi phí vận chuyển cây giống, với mức hỗ trợ tối đa là 1,5 triệu đồng/ha cho các cá nhân, hộ gia đình trồng rừng tập trung. Qua báo cáo của ngành Nông nghiệp tỉnh thì chỉ tính riêng trong 3 năm từ 2006-2008, dự án đã thu hút được 1.134 cá nhân, hộ gia đình và 64 tổ chức tham gia và đã tiến hành trồng được 2.167 ha, với tổng kinh phí hỗ trợ là hơn 4,2 tỷ đồng.
Thế nhưng, qua kiểm tra, rà soát hiện trạng của các cơ quan chức năng mới đây thì tổng diện tích rừng trồng của dự án trong 3 năm này chỉ là hơn 944 ha, còn lại toàn bộ diện tích lên tới hơn 1.223 ha chỉ là đất trống, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước hơn 2,4 tỷ đồng. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là cây giống do Chi cục Kiểm lâm tỉnh hỗ trợ không phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng trên địa bàn.
Công tác hỗ trợ rừng sản xuất theo Quyết định số 147/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015 (Quyết định 147) do các hạt kiểm lâm làm chủ đầu tư cũng có kết quả thấp. Được biết, trong 2 năm 2009-2010, các hạt kiểm lâm đã triển khai kế hoạch trồng mới hơn 2.115 ha, thu hút 554 cá nhân, hộ gia đình tham gia, với số vốn hỗ trợ được nghiệm thu, quyết toán là hơn 3,1 tỷ đồng.
Qua kết quả kiểm tra thực tế, diện tích rừng sản xuất được hỗ trợ trồng chỉ có 1.268 ha, còn hơn 847 ha chỉ còn lại đất trống, làm thiệt hại cho ngân sách Nhà nước trên 524 triệu đồng. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do nhiều diện tích sử dụng không đúng mục đích của dự án. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 ở các doanh nghiệp ký hợp đồng với tỉnh thực hiện dự án cũng gây lãng phí và thất thoát lớn.
Theo ký kết của Hội đồng thẩm định tỉnh với 8 doanh nghiệp gồm: Công ty TNHH Biển Xanh, Công ty Cổ phần Thiên Sơn, Công ty TNHH Đỉnh Nghệ, Công ty Cổ phần địa ốc Ngọc Biển, Công ty TNHH Thiên Nhân II, Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Kiến Trúc Mới, Công ty TNHH Khải Vy và Công ty Lâm nghiệp Đắk N’Tao thì trong 3 năm từ 2010-2012, các đơn vị cam kết thực hiện trồng mới hơn 1.249 ha, triển khai băng phòng, chống cháy rừng là 178 ha, với tổng số tiền ngân sách hỗ trợ trên 2,8 tỷ đồng.
Tuy vậy, dự án triển khai trên thực tế đạt kết quả rất thấp, gây lãng phí lớn cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, hai đơn vị triển khai 2 vườn ươm sản xuất giống cây trồng phục vụ cho dự án là Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa và Công ty TNHH MTV Thuận Tân (Đắk Song) làm chủ đầu tư còn làm sai lệch so với hồ sơ thiết kế lên tới hơn 5.400 m2 để “rút ruột” tiền của Nhà nước.
Từ thực tế của dự án cũng cho thấy, việc khảo sát về điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của ngành Nông nghiệp còn chưa tốt dẫn đến nhiều loại cây trồng sau khi được trồng xuống đã không phù hợp, khiến cây chết hàng loạt. Ngoài ra, công tác kiểm tra, giám sát đối với từng hạng mục của dự án từ việc cấp giống, chi phí vận chuyển, tổ chức trồng rừng, rồi tiền hỗ trợ chăm sóc cũng làm chưa chặt chẽ khiến ngân sách Nhà nước bị thất thoát lớn. (Thời Nay/Báo Đăk Nông 22/7)đầu trang(
Cơ quan CSĐT, Công an huyện Khánh Vĩnh đã khởi tố Đặng Ngọc Hiền (SN 1985, ở xóm 4, thôn Láng Nhớt, Diên Tân, Diên Khánh, Khánh Hòa) về tội chống người thi hành công vụ. Thượng tá Lê Quang Thanh, Trưởng Công an huyện Khánh Vĩnh cho biết, chiều 22/7.
Bước đầu, Đặng Ngọc Hiền khai, anh ta được Phạm Văn Dần (SN1974, ở cùng xóm) thuê lái xe ben mang biển số 79C-02.010 chở gỗ từ xã Sơn Thái (Khánh Vĩnh) về Thành (Diên Khánh), cùng đi trên xe có một phụ xe.
Rạng sáng 13/7, khi bị công an truy đuổi trên đường Cầu Lùng - Khánh Lê, Hiền điều khiển xe ben ép xe máy của công an, làm hai chiến sĩ công an bị thương rồi nâng ben cho 63 hộp gỗ rơi đường để cản trở việc truy đuổi. Thấy không trốn thoát được pháp luật, ngày 17/7 Hiền ra trình diện.
Tại Công an Khánh Vĩnh, Phạm Văn Dần khai, anh ta được mấy người dân tộc ở xã Sơn Thái (Khánh Vĩnh) thuê chở gỗ về Thành với giá 3 triệu đồng, nên đã thuê xe ben của vợ cũ, rồi kêu Hiền chạy xe. (Tiền Phong 23/7)đầu trang(
Không chỉ treo biển hiệu tiếng Trung nhan nhản, từ lâu, Đồng Kỵ và Phù Khê đã nổi tiếng với chợ gỗ có rất nhiều thương lái người Trung Quốc qua lại.
Chợ gỗ Phù Khê, Đồng Kỵ (Bắc Ninh) mới xuất hiện gần đây, nhưng nhanh chóng trở thành chợ gỗ lớn nhất miền Bắc, và có lẽ là phiên chợ hiếm ở Việt Nam.
Sản phẩm duy nhất của chợ là… gỗ, nhưng rất đa dạng ở hình dạng, kích cỡ: gỗ xẻ, gỗ cục, gỗ thành khí, gỗ ván, thậm chí cả gỗ… que củi bán cân.
Rất nhiều khách mua hàng người Trung Quốc đến chợ gỗ Phù Khê. Chủ hàng (phần nhiều là phụ nữ) giao tiếp với khách mua bằng tiếng Trung Quốc khá thành thạo.
Sau khi cuộc ngã giá thành công, người khách Trung Quốc viết tên tuổi, ký hiệu riêng của mình bằng chữ Trung Quốc lên tấm gỗ vừa mua, sau đó tiếp tục đi tìm hàng ở các mối khác. Cuối phiên chợ, họ đi gom những sản phẩm vừa mua đã đánh dấu tên mình trước đó.
Cách đó không xa, chợ gỗ Đồng Kỵ họp ở các ngách đường xương cá dẫn vào sâu trong làng. Chợ này sầm uất,quy củ hơn nhiều về quy mô, chủng loại. Mỗi tiểu thương có một “kho hàng” riêng, ranh giới mỗi “kho hàng” được phân định bằng bốn chiếc cột khung, không cần tường bao, cửa sắt…
Theo lời người dân ở đây, mỗi ngày có tới cả ngàn thương lái Trung Quốc sang "ăn hàng". “Mỗi ngày có từ 2 – 3.000 thương lái Trung Quốc sang “sục sạo” ở chợ gỗ Đồng Kỵ, Phù Khê. Khách mua thuê nhà nghỉ, khách sạn… ở Từ Sơn, khu đô thị mới cách chợ chừng vài km. Sau khi gom đủ hàng, số gỗ này được đóng thành các container rồi làm thủ tục thông quan sang Trung Quốc”.
Anh Bùi Mạnh Hà, chủ xưởng gỗ vào loại lớn nhất Đồng Kỵ cho biết: hầu hết các chủ xưởng gỗ lớn ở Đồng Kỵ đều thành lập công ty để giao dịch, mua bán với khách Trung Quốc thuận tiện.
Một ngày, anh Hà mở cửa hàng từ khá sớm. Khách người Trung Quốc tự ý ra vào, lựa chọn thứ hàng cần mua… mà không cần người giám sát, trông coi cửa hàng.
“Có những hôm mình có việc phải đi, cửa hàng vẫn mở. Khách Trung Quốc tự vào nhà pha trà uống, xem hàng… Ưng ý món đồ nào thì đánh dấu, đợi chủ hàng về mới mua bán” – anh Hà cho biết.
Là một trong những người có nhiều năm trong nghề gỗ ở làng Đồng Kỵ, anh Hà, anh Kiếm khẳng định: Đồng Kỵ là một trong ít những làng nghề vẫn “sống khỏe” trong thời kỳ suy thoái, một phần nhờ hàng ngàn khách Trung Quốc thường xuyên buôn bán, qua lại Đồng Kỵ.
“Giá một bộ bàn ghế gỗ quý sản xuất tại Đồng Kỵ năm ngoái chừng 100 triệu, năm nay bán ra ở giá 150 triệu trở lên, không bao giờ giảm. Đồ gỗ Đồng Kỵ cũng chưa bao giờ xuống giá hay mất giá. Nhiều công ty có bạn hàng chủ yếu ở Trung Quốc, đó là lý do biển hiệu, quảng cáo… của họ được ghi bằng chữ Trung Quốc tràn ngập ngoài trung tâm đường đôi của làng Đồng Kỵ” – anh Kiếm cho biết. (Vietnamnet 23/7)đầu trang(
Mấy năm gần đây, tình trạng người dân địa phương vào rừng lấn chiếm đất lâm nghiệp thuộc quyền quản lý của các nông, lâm trường ngày càng trở nên phức tạp. Nguyên nhân chính do người dân thì thiếu đất sản xuất, trong khi các nông, lâm trường chưa làm tròn trách nhiệm được UBND tỉnh giao trong việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp.
Gần đây nhất là từ ngày 8/6 -14/6, hàng trăm người dân thuộc xã Châu Bình (Quỳ Châu) kéo nhau vào rừng thuộc đất của Lâm trường Cô Ba (Công ty TNHH MTV lâm nông nghiệp Sông Hiếu) quản lý để chặt phá nứa, cây cối khoanh chiếm đất rừng để sản xuất. Tổng diện tích đất rừng bị chặt phá là 56,3 ha tại các tiểu khu 200, 204, 205 (chủ yếu là rừng hỗn giao nứa, gỗ). Nguyên nhân chính xảy ra sự việc trên là do người dân thiếu đất sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Hường, xóm 32, xã Châu Bình cho biết: “Gia đình không có nổi một miếng đất sản xuất, trong khi 5 người con đều tuổi ăn học, 1 cháu học đại học, 1 cháu học cao đẳng, vợ phải vào miền Nam làm “ô sin”, còn tôi thì ai thuê gì làm nấy, từ phụ hồ đến chặt keo thuê cho lâm trường”. Ông Lê Văn Toan, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Bình cho biết: Tổng diện tích đất Lâm nghiệp trên địa bàn xã là 11.163,13 ha, nhưng đất lâm trường Cô Ba quản lý lên đến 7.174,7 ha. Hiện toàn xã vẫn đang còn khoảng 1.600 hộ dân chưa có đất sản xuất.
Tại huyện Quế Phong, lâu nay cũng “nóng” vấn đề tranh chấp, xâm hại đất rừng. Anh Đinh Văn Hải ở bản Phong Quang xã Quế Sơn cho hay: “Gia đình lên khai hoang phục hóa từ những năm 1980, nhưng đến nay không có đất để sản xuất, chỉ có đất để làm nhà và mảnh vườn nhỏ. Không có đất sản xuất nên vợ chồng tôi phải đi làm thuê đủ thứ nghề”.
Ông Hồ Hiếu, Trưởng bản Phong Quang cho biết: “Bản có 150 hộ dân với 677 nhân khẩu nhưng không có bìa đỏ, đất ruộng, đất lâm nghiệp …tất cả đều nằm trong bìa đỏ của Lâm trường Quế Phong. Riêng gia đình tôi đang phải thuê 0,3 ha đất để trồng mía sinh sống. Do đang ở trên đất của lâm trường nên nhiều bà con dân bản không dám xây dựng, đang ở nhà tạm rất khó khăn”.
Ông Nguyễn Tiến Dũng, Chủ tịch UBND xã Quế Sơn cho biết: Năm 2005 xã Quế Sơn được thành lập tách ra khỏi xã Mường Nọc với tổng diện tích đất 3.724 ha, trong đó đất lâm nghiệp 3.200 ha …Nhưng tất cả diện tích đất trên lại nằm trong bìa đỏ của lâm trường Quế Phong được cấp từ năm 2003. Do bức xúc vì thiếu đất sản xuất nên giữa người dân và lâm trường đã xảy ra nhiều lần xung đột. Như người dân đã thả trâu bò phá hoại một số keo mới trồng của lâm trường. Trước thực trạng dân “khát” đất, năm 2010, Lâm trường đã giao cho xã 20 ha đất ở bản Cọc, năm 2011 giao 40 ha nhưng độ dốc cao nên người dân không nhận. Mong muốn của người dân là được lâm trường cắt đất để người dân có đất sản xuất ổn định cuộc sống.
Tình trạng người dân lấn chiếm đất lâm nghiệp cũng đã diễn ra nhiều năm nay trên diện tích đất lâm nghiệp được UBND tỉnh giao cho Tổng đội TNXP 4 – XDKT Nghệ An (tạm gọi là Tổng đội 4) và nay là Công ty TNHH TNXP 4 – Sông Con quản lý. Theo Quyết định số 1204 của UBND tỉnh ngày 18/7/1998, tiến hành thu hồi 3.638 ha đất lâm nghiệp thuộc Lâm trường Tân Kỳ giao cho Tổng đội 4 (cũ) quản lý và sử dụng đúng mục đích. Trong đó, diện tích nằm trên địa giới hành chính thuộc xã Tân Hợp là 2.342 ha, nằm trên xã Giai Xuân là 1.296 ha.
Tuy nhiên, trên diện tích đất lâm nghiệp thuộc địa giới hành chính xã Giai Xuân đã bị người dân lấn chiếm từ lâu. Ông Nguyễn Hữu Triển, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: Ngoài diện tích đất khoảng 110 ha Tổng đội 4 (cũ) giao khoán cho 65 đội viên thì phần còn lại đều đã bị người dân lấn chiếm sản xuất từ những năm 1985-1987 và cho đến nay, họ vẫn đang sản xuất trên số diện tích đó. Tổng số hộ dân hiện đang sản xuất trên phần đất của Tổng đội 4 (cũ) là khoảng 150 hộ, ở bản Kẻ Mui, Đồi Chè, Xuân Tiến, Bàu Khe, Vạn Xuân… Giữa Tổng đội 4 và người dân trên địa bàn xã đã nhiều lần xảy ra tranh chấp đất đai, các cơ quan chức năng cũng đã nhiều lần về tổ chức gặp dân và Tổng đội 4 nhưng chưa đưa ra được một biện pháp nào để giải quyết.
Trong các bản, thì Kẻ Mui là bản có số hộ lấn chiếm đất lâm nghiệp nhiều nhất, khoảng 20 hộ. Hộ nhiều thì hơn 15 ha, còn hộ ít thì cũng đến 3-4 ha. Những hộ này sử dụng đất vào việc trồng keo, sắn, mía. Có hộ còn xây dựng thành trang trại, gồm ao nuôi cá, nuôi trâu bò, mở đường và dựng nhà ở trong rừng. Ông Nguyễn Văn Thẹo, người dân bản Kẻ Mui cho biết, ông bắt đầu vào phát bụi, trồng rừng từ những năm 1985. Đến nay, ông đang sản xuất trên 18 ha, trong đó có 3 ha trồng mía, 15 ha còn lại trồng keo và chăn nuôi trâu bò.
Theo ông Thẹo, ngoài diện tích đất lâm nghiệp thì các hộ trong bản không có đất nông nghiệp. Nếu thu hồi, người dân sẽ trắng tay vì dân không có nghề phụ nào cả. Đối với 7 nhân khẩu trong gia đình ông Thẹo, rừng là nguồn sống duy nhất nên dù thế nào, ông cũng cố gắng giữ lấy đất. Nhưng khi chúng tôi hỏi, nguyện vọng của người dân như thế nào, ông cho biết rằng, người dân rất cần được Nhà nước giao đất và tốt nhất là nên giao lại đất cho xã quản lý.
Đối với người dân xã Châu Lý (Quỳ Hợp), nhu cầu về đất cũng như “cơm ăn, áo mặc hàng ngày”. Từ những năm 1978, người dân tại 4 xóm: Khúa, Cồn, Ngọn, Pạn bắt đầu vào sinh sống và sản xuất trên diện tích đất lâm nghiệp do Lâm trường Quỳ Hợp quản lý. Năm 1998, các hộ dân này được UBND xã và Hạt kiểm lâm Qùy Hợp cấp sổ lâm bạ. Tuy nhiên, do sổ lâm bạ chưa được UBND huyện ký nên không có tính pháp lý. Bắt đầu từ năm 2000, Lâm trường Quỳ Hợp mới tiến hành “đòi” lại đất nhưng gặp phải sự phản đối quyết liệt từ phía người dân.
Ông Kim Văn Thuận, xóm trưởng bản Khúa cho biết: Năm 1998, 120 hộ trong xóm được giao đất với 2 vùng gồm: đất ở vùng xa thì tiến hành khoanh nuôi, bảo vệ. Còn khu vực gần thì tiến hành sản xuất để trồng ngô, sắn, mía. Đến năm 2000, người dân mới biết đây là đất thuộc sự quản lý của Lâm trường Quỳ Hợp. Năm 2004, dân đồng ý trả lại đất cho lâm trường nhưng trước đó đã tiến hành chặt phá hết những cây to vùng trong khe. Dân nghĩ rằng, sau khi lâm trường thu hoạch xong chu kỳ keo thì sẽ giao lại đất cho dân nhưng không được như mong muốn nên người dân tiếp tục vào tranh chấp, xâm lấn để trồng sắn, mía.
Tranh chấp kéo dài hơn 8 năm và UBND xã, huyện đã nhiều lần có văn bản đề nghị tiến hành giao đất cho người dân sản xuất để ổn định tình hình. Đến tháng 8/2012, UBND tỉnh đã tiến hành rà soát và có Quyết định số 212/QĐ-UBND-ĐC tiến hành thu hồi hơn 3.800 ha đất của Lâm trường Quỳ Hợp và Lâm trường Đồng Hợp giao lại cho 10 xã trên địa bàn huyện Qùy Hợp. Riêng đối với xã Châu Lý được giao lại 564,3 ha để tiến hành chia cho người dân. Tuy nhiên, trên thực tế, hàng trăm hộ dân của 4 bản trên vẫn tiến hành sản xuất trên diện tích đất họ đã xâm lấn trước đó. Nhưng trên văn bản, số diện tích này đang do xã quản lý mà chưa chia được cho người dân.
Điểm qua một vài địa phương để thấy rằng, vấn đề người dân vào rừng xâm lấn đất lâm nghiệp thuộc quyền quản lý của các tổ chức kinh tế đã diễn ra từ nhiều năm nay. Mấu chốt của vấn đề là do nhu cầu đất sản xuất của người dân chưa được giải quyết thỏa đáng. Nhu cầu này cần được các cấp chính quyền tiến hành giải quyết để người dân yên tâm sản xuất, nâng cao đời sống, giữ ổn định tình hình chính trị tại địa phương. (Báo Nghệ An 227)đầu trang(
Công an tỉnh Lào Cai vừa công bố quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Văn Xuyên, Chủ nhiệm HTX Ngọc Lợi có trụ sở tại thôn Liêm, xã Liêm Phú (Văn Bàn, Lào Cai) về “Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng”.
Theo thông tin từ Công an tỉnh Lào Cai, lợi dụng sơ hở trong việc làm hồ sơ, chứng từ mua bán và vận chuyển gỗ thanh lý, ông Nguyễn Văn Xuyên, Chủ nhiệm HTX Ngọc Lợi đã nhiều lần vận chuyển lậu gỗ quý đi tiêu thụ, trong đó chủ yếu là gỗ pơmu.
Ngày 27/4, ông Xuyên đã dùng xe tải BKS 24C - 005 87 chở lậu 15,258m3 gỗ pơmu (loại gỗ nhóm 1) đã xẻ sẵn thành hộp cắt ngắn mang về xuôi tiêu thụ thì bị bắt giữ.
Quá trình điều tra, Công an tỉnh Lào Cai xác định được số gỗ của HTX Ngọc Lợi bị thu giữ trên được khai thác trái phép ở rừng tự nhiên của huyện Văn Bàn và có hành vi lợi dụng các hồ sơ thanh lý gỗ tại huyện Văn Bàn hợp thức hóa các thủ tục giấy tờ để vận chuyển trái phép số gỗ khai thác lậu ra ngoài tỉnh khác tiêu thụ. (Công An Nhân Dân 22/7)đầu trang(
Hiện nay, tình trạng phá rừng làm nương rẫy ở huyện Sông Hinh (Phú Yên) diễn ra rất phức tạp, trải dài ở ba xã Sơn Giang, Đức Bình Đông, Sông Hinh.
Đối tượng tham gia phát rừng chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số và một số người dân ở các huyện giáp ranh như Sơn Hòa, Tây Hòa.
Các đối tượng này luôn tìm cách trốn tránh lực lượng kiểm lâm và chính quyền sở tại nên khi kiểm tra, rất khó phát hiện quả tang.
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm của huyện đã kiểm tra, phát hiện, xử lý 11 vụ phá rừng với diện tích 4,4 ha; lập biên bản 98 vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu trên 151 m3 gỗ các loại. (VOV 21/7)đầu trang(
"Săn" cây cu ly là một nghề rất lâu đời của các đồng bào dân tộc ở miền Tây tỉnh Nghệ An. Để lấy được cu ly không phải đơn giản, người ta phải trèo đèo lội suối vào trong rừng sâu mới có được tinh hoa của rừng.
Cụ Cụt Văn Tuất, người dân tộc Khơ Mú ở xã Nậm Cắn kể: "Thời còn nhỏ, tôi đã cùng bố mẹ lên núi lấy cây cu ly rồi. Hồi ấy không phải tìm cu ly bán mà chỉ để làm thuốc, cùng lắm là chuyển xuống tỉnh lỵ bán rẻ cho các thầy lang. Nhưng bây giờ lại khác, cu ly có giá nên ai cũng đi tìm kiếm cho bằng được".
Ở huyện biên giới Kỳ Sơn, ngoài Nậm Cắn, cây cu ly còn phân bố rất đa dạng ở các đỉnh núi cao thuộc các xã Mường Lống, Huổi Tụ và Na Loi. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ sức khoẻ để theo nghề "săn cu ly", mà nếu đủ sức cũng chưa chắc đã lấy được cây cu ly về. Vì thế, theo những "thợ săn" có tiếng ở Kỳ Sơn, để lấy được cây cu ly cần thiết phải có hai yếu tố: Sức khoẻ và kinh nghiệm.
Theo ông Lầu Tồng Pó, Chủ tịch UBND xã Nậm Càn: "Thợ "săn cu ly" cực nhọc lắm chứ không giản đơn như nhiều người vẫn nghĩ đâu. Ngoài những cây cu ly mọc ven rừng thì phần lớn cu ly sống trên những đỉnh núi có độ ẩm cao. Để lấy được cu ly, người ta phải cơm nắm cơm gói cả mấy ngày trời mới lấy được vài chục cân cu ly".
Trước đây, khi đang là cán bộ bản, ông Pó cũng là một thợ săn cu ly chuyên nghiệp. Vốn là người dân tộc Mông, lại leo rừng giỏi nên ông Pó cùng một nhóm thanh niên trong bản đi săn cu ly. Chỉ 3 ngày sau, nhóm của ông trở về với trên nửa tấn cu ly. Tuy nhiên, theo ông Pó, trước đây cây cu ly không có giá nên số tiền thu được chỉ đủ để anh em nhậu nhẹt vài bữa. Chứ như bây giờ, thì cu ly lại trở thành "vàng mười" của đất trời Kỳ Sơn.
Cu ly lên giá đã kéo theo rất nhiều người ở huyện Kỳ Sơn đua nhau lên núi "săn cu ly". Mùa thu hoạch cu ly chính thức từ sau Tết Nguyên đán, tuy nhiên lúc ấy cu ly còn non nên rất hiếm có người nào kỳ công lên núi hái lượm. Đến tháng 6 dương lịch, khi cây cu ly đã già và lớp lông màu vàng mịn đã phủ kín thân cây mới là thời điểm thích hợp để các thợ săn trổ tài.
Anh Lô Văn Hiếu ở xã Na Loi dẫn đầu một nhóm bốn người, tất cả đều đeo gùi trên lưng và mang theo dao phát rẫy. Anh Hiếu cho biết: "Lấy cây cu ly không khó, nhưng tìm vị trí cây cu ly sống mới kỳ công. Chúng tôi trèo đèo lội suối suốt cả ngày mà cũng chỉ lấy được trên 100kg cu ly mà thôi".
Cũng theo anh Hiếu, có ngày chỉ lấy được vài cây nhưng có ngày lại bắt gặp cả rừng cu ly, phải huy động tất cả anh em bạn bè lên núi gồng gánh cu ly về thị trấn Mường Xén để bán. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho nghề "săn cu ly" cũng không phải là rẻ, đã có rất nhiều thợ săn bị ngã núi hoặc bị rắn độc cắn. Tuy nhiên, cho đến nay các địa phương chưa có bất cứ một thống kê chính xác nào về hệ luỵ của công việc này.
Theo ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn: "Cu ly còn được gọi là kim mao cẩu tích, là một trong những thảo dược quý. Tuy nhiên, chúng tôi không thể xử lý người khai thác cây cu ly vì một lý do rất đơn giản, cu ly là một loại lâm sản ngoài gỗ, không nằm trong danh mục quý hiếm cần bảo vệ".
Cũng theo khảo sát của ông Minh, hiện ở huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) gần như rất khó để tìm được cây cu ly. Tình trạng khai thác quá nhiều đã dẫn đến sự cạn kiệt loài cây này. Giá cu ly ở Kỳ Sơn luôn dao động từ 2.000 - 3.000đ/kg, mà có khi một cây cu ly lớn đã nặng vài kg. Vì thế, ở một huyện nghèo tốp đầu cả nước như Kỳ Sơn thì việc người dân kiếm được vài chục nghìn mỗi ngày không chỉ là niềm vui, mà còn là kỳ tích. (Kienthuc.net.vn 21/7)đầu trang(
Người dân bản Cao Vều, huyện Anh Sơn (Nghệ An) đang nơm nớp lo sợ vì voi rừng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào... Trong một lần đi tiếp xúc cử tri về, anh Phan Văn Đức, Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Sơn đã bị voi rừng đuổi. Anh Đức kể về nỗi hoang mang lúc đó của mình và của người dân bây giờ!
Cũng theo anh Đức, trước đây đàn voi thường sợ ánh sáng, sợ tiếng khua chiêng gõ mõ, nhưng nay chúng tỏ ra “chai lì” và hung dữ hơn rất nhiều. Trong lúc đi tìm thức ăn, nếu bị làm phiền bằng tiếng xe máy, đèn điện, chúng sẽ quay lại để tấn công. Cuối năm 2012, trên đường đi tiếp xúc cử tri từ bản Cao Vều về qua đoạn dốc dài, anh Đức gặp đàn voi, dù cố gắng bật sáng đèn, nổ máy lớn nhưng vẫn bị voi đuổi theo. “Hôm đó, đàn voi 3 con lao thẳng vào xe máy khiến tôi phải quay xe bỏ chạy. Nếu chậm chân thì chắc chắn giờ này tôi đã nằm dưới đất sâu”, anh Đức rùng mình nhớ lại.
Trưởng bản Nguyễn Văn Châu kể, từ nhỏ đã được nghe các cụ trong làng kể chuyện voi ra Cao Vều đẻ con, xuất hiện trên các mé đồi nhưng rất sợ người… Bây giờ, chứng kiến những mảng đồi xung quanh ngày càng thưa dần, anh Châu nhận thấy đàn voi ngày càng hung dữ. Trước đây, mỗi năm đàn voi thường kéo nhau về bản từ 2 – 3 lần, vào các mùa măng, mùa mía nhưng từ mấy năm nay, voi về liên tục, không theo quy luật nào.
Ban ngày đang yên bình là thế nhưng ban đêm, chúng có thể về tận nhà dân để tìm muối, ăn măng, ăn mía, nếu gặp người, chúng sẵn sàng quật chết. Cuối năm 2006, đàn voi rừng gồm 5 con đã tràn về Bãi Lim phá hoại hoa màu của bà con và quật đổ ngôi nhà của anh Trần Văn Đường, tấn công anh Nguyễn Hữu Thân khiến anh Thân bị gãy xương phải đi cấp cứu. Năm 2011, bản Cao Vều cũng đã phải chứng kiến cảnh 2 người dân trong bản bị voi rừng quật chết thương tâm.
Nạn nhân của voi rừng không phải chỉ là người trong bản mà giữa tháng 4 vừa qua, đàn voi về khu vực Khe Ráy, quật chết anh Lương Văn May (SN 1982), ở xã Tam Thái, huyện Tương Dương, một phu gỗ đang đi bắt cá dưới khe. Trước đó, đêm 27/5/2011, khi đang ngủ trong lán ở khu vực rừng Bãi Cồi, anh Vi Văn Sinh (41 tuổi) ở xã Lục Dạ, Con Cuông và 2 người khác phát hiện có tiếng động lạ. Tưởng là trâu bò đến phá lán, anh Sinh và mọi người dậy đuổi thì bị những con voi rừng quật, 2 người chạy thoát, riêng anh Sinh bị voi giẫm chết.
Đàn voi thường xuyên về quấy rối người dân này là đàn voi của Vườn quốc gia Pù Mát. Ông Trần Xuân Cường, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Pù Mát cho biết, hiện đàn voi ở Nghệ An có khoảng 13 – 17 con, sinh sống làm 3 đàn ở 3 khu vực khác nhau. Tại những khu vực này đều xảy ra xung đột giữa voi – người và gây ra những thiệt hại về tài sản, hoa màu và cả tính mạng của người dân cũng bị đe dọa. Người dân, một phần vì lo sợ và hoảng loạn trước sự tấn công của đàn voi đã đặt mìn giết voi để trả thù, phần nữa là tình trạng săn bắn voi để lấy ngà dẫn đến tình trạng đàn voi bị suy giảm nghiêm trọng.
Từ 1995 đến nay đã có ít nhất 9 con voi bị bắn hoặc giết chết bằng mìn. Đó là Tết năm 1996, người dân Cao Vều đã đặt mìn giết chết 3 con voi khi chúng về tàn phá hoa màu, mùa màng. Ít năm sau đó, cũng gần khu vực rừng Cao Vều, cơ quan chức năng phát hiện 2 con voi đực bị giết để lấy ngà. Mới đây nhất, cuối năm 2010, tại khu vực giáp ranh giữa Cao Vều và huyện Thanh Chương, một con voi cũng bị giết với đôi ngà đã bị cưa mất.
Ông Nguyễn Thanh Nhàn, Giám đốc Vườn quốc gia Pù Mát cho biết, việc đàn voi thường xuyên ra khỏi rừng, phá hoại hoa màu, rừng trồng và thậm chí là tấn công người dân là tổng hợp của rất nhiều nguyên nhân. Đầu tiên là do thiếu thức ăn, thiếu muối nên chúng phải đi tìm. Ngoài ra, do nơi cư trú, sinh cảnh sống của voi bị con người tác động quá nhiều. Một số cánh rừng trước đây là nơi voi sinh sống và tìm thức ăn nay đã bị phá sạch khiến chúng phải tìm đến các khu dân cư để tìm thức ăn.
Đặc biệt, voi là loài vật rất thông minh, khi bị con người trêu ghẹo hoặc giết chết thì những con khác trong đàn sẽ tìm cách trả thù, xung đột với người. Đàn voi ngày càng suy giảm trong khi sự xung đột giữa voi và người ngày càng tăng thêm. Nỗi ám ảnh “voi trả thù người” vẫn bao phủ nơi đây mà mọi giải pháp xem ra vẫn... tắc! (Gia Đình&Xã Hội 23/7)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Có dịp ngang qua các trạm kiểm lâm ở nhiều địa phương, tận mắt chứng kiến hàng đống gỗ lậu thu giữ tại đây mới thấy xót và tiếc của rừng. Các bãi gỗ của trạm kiểm lâm đặt ở nhiều địa phương “cửa ngõ” miền núi thường xuyên lâm vào cảnh quá tải, lớp lớp bi gỗ quý chồng lên nhau ngổn ngang. Thế nhưng do không được che mưa nắng, nhiều khúc gỗ quý nứt toác, giá trị giảm sút; một số khác “hao hụt” trong quá trình vận chuyển, bảo quản…
Xót cho rừng bởi gỗ lậu vẫn chảy về xuôi bằng nhiều ngả đường, đây chỉ là một lượng nhỏ so với thực tế “của rừng” đang bị vơ vét; tiếc “của rừng” bởi một lượng lớn gỗ sau khi tịch thu không được xử lý kịp thời gây thất thoát, giảm sút giá trị.
Theo cơ quan chức năng, hiện việc xử lý tang vật trong quá trình khai thác lâm khoáng sản trái phép gặp rất nhiều khó khăn, trong đó quy định thời gian tổ chức thanh lý gỗ trái phép sau khi tịch thu, cơ chế tài chính, thẩm quyền đơn vị tổ chức thanh lý… chưa hợp lý đã gây “phiền phức” cho cơ quan chức năng, hệ lụy là nhiều bãi gỗ “trơ gan cùng tuế nguyệt”, giảm sút giá trị trong quá trình chờ xử lý.
Không ít trạm kiểm lâm phải “gom cho đủ chuyển lên trên” để xử lý vì mỗi lần tổ chức thanh lý phải thực hiện nhiều thủ tục; nhiều lô gỗ quý phải bán với giá rẻ như bèo chỉ vì trong quá trình thu giữ, bảo quản không đảm bảo... là những bất cập dễ thấy dẫn đến tình trạng lãng phí của rừng. Tại các lần đấu giá gỗ trái phép thanh lý, không ít “tư thương” rỉ tai nhau lý do mua lô gỗ này thực chất là mua giấy, tìm cơ hội hợp thức hóa các lô khác, qua mặt cơ quan chức năng... cũng là kiểu “nảy sinh vấn đề phức tạp” trong quá trình xử lý gỗ lậu.
Theo quy định, số tiền bán gỗ thanh lý ngoài chuyện đưa vào ngân sách nhà nước còn phải chi phần trăm cho các bên liên quan tham gia quá trình truy bắt, xử lý gỗ lậu. Do thất thoát nên không ít đơn vị than phiền về số tiền thực nhận quá ít, không kịp thời động viên các lực lượng xung kích giữ rừng...
Đại ngàn vẫn đang bị đục khoét từng ngày. Để ngăn chặn tình trạng chảy máu rừng, nhiều người phải bỏ công sức, thậm chí cả máu và nước mắt. Vì vậy, những khúc gỗ giành lại từ tay lâm tặc được xem là thành quả mang nhiều ý nghĩa, xin đừng lãng phí! (Báo Quảng Nam 23/7)đầu trang(

THẾ GIỚI
Một cặp báo Ba Tư quý hiếm được sinh ra tại công viên quốc gia Nga cuối tuần qua, trở thành sự kiện chưa từng có trong nửa thế kỷ qua.
Đây là kết quả của những nỗ lực của giới bảo tồn nhằm gia tăng số lượng báo Ba Tư - loài động vật quý hiếm, khi chúng chỉ còn khoảng hơn một nghìn cá thể tồn tại trong tự nhiên.
Hai báo con đang được nuôi tại Trung tâm phục hồi và bảo tồn báo Ba Tư, Công viên Sochi. Cha mẹ chúng được công viên này đưa về từ vườn thú Lisbon, Bồ Đào Nha năm ngoái. Hai báo con có chiều dài cơ thể khoảng 15 cm, và nặng chỉ mới 700 gram.
"Chúng sẽ được thả vào tự nhiên sau khi học tập các kỹ năng sống ở môi trường hoang dã", Natalia Dronova, điều phối viên của Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) tại Nga nói.
Báo Ba Tư là một trong những phân loài báo lớn nhất. Chúng từng sinh sống và được mệnh danh là "quái vật" ở khu tây nam dãy núi Kavkaz và phía nam biển Caspian. Tuy nhiên, nạn săn bắt và mất môi trường sống khiến số lượng loài này ngày càng suy giảm. Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) liệt kê chúng vào danh sách các loài nguy cấp, với khoảng 1.290 cá thể trong tự nhiên. (Vnexpress 23/7)đầu trang(
Hải quan Hồng Công (TQ) vừa phát hiện một vụ buôn lậu ngà voi tại cửa khẩu Kwai Chung và tịch thu 1.148 ngà voi. Tổng giá trị của lô hàng trên ước tính 17,46 triệu USD.
Thông qua việc kiểm tra ngẫu nhiên, các nhân viên hải quan đã lựa chọn 20 container chứa gỗ đến từ Togo (châu Phi) để kiểm tra. Với hình ảnh từ máy X-quang, các nhân viên Hải quan đã phát hiện tổng cộng 2.183 kg ngà voi được cất giấu trong các container nói trên. Toàn bộ tang vật được đóng gói trong 30 bao và ngụy trang bằng các thùng gỗ. Số hàng nói trên chưa được khai báo và cơ quan hải quan đã tịch thu để tiến hành điều tra để xác định danh tính và địa chỉ của những kẻ phạm tội.
Người chỉ huy các cửa khẩu và lực lượng hàng hải Hồng Công, Ng Kwok-leung cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với Cục Nông nghiệp, Thủy sản và Bảo tồn Hồng Công và các cơ quan thực thi khác nhằm thi hành triệt để Luật Bảo vệ các loài động vật, thực vật nguy cấp.
Theo Pháp lệnh Xuất khẩu và Nhập khẩu của Hồng Công, bất cứ cá nhân nào không khai báo hoặc không chứng minh được nguồn gốc của lô hàng dự định nhập khẩu sẽ phải chịu mức phạt tối đa là hai triệu USD và bẩy năm tù giam. Thêm vào đó, theo quy định của Luật Bảo vệ các loài động vật, thực vật nguy cấp, đối tượng nào có hành vi buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã vì mục đích thương mại sẽ bị phạt tối đa năm triệu USD và hai năm tù giam.
Theo WCO, trong khi voi châu Á Elephas maximus hầu như không bị buôn bán, ngà voi châu Phi Loxodonta africana bị buôn bán bất hợp pháp trên toàn thế giới và theo thống kê năm 2011, đã có 17 vụ vận chuyển trái phép ngà voi bị phát hiện trên toàn thế giới với tổng trọng lượng 26,4 tấn. (Nhân Dân 22/7)đầu trang(
Ngày 22/7 khói mù từ các đám cháy rừng ở Indonesia đã quay trở lại che phủ nhiều vùng ở Malaysia.
Bộ Môi trường Malaysia cho biết, ba khu vực, trong đó có hai khu vực ở bang Malacca miền Nam Malaysia và khu vực thứ ba ở Selangor gần thủ đô Kuala Lumpur – ghi nhận chất lượng không khí "không lành mạnh" với chỉ số ô nhiễm là 100 theo thang điểm của nước này.
Tại Malaysia, chỉ số ô nhiễm không khí từ 100-200 là "không lành mạnh". Phần còn lại của đất nước có chỉ số dưới 100 - "vừa phải".
Một quan chức của Bộ Môi trường cho biết, khói mù gây ra bởi các đám cháy rừng trên đảo Sumatra của Indonesia do người dân đốt rẫy khai hoang dự kiến sẽ tiếp tục trong 2-3 ngày nữa trước khi mưa xuống.
Tháng trước, Malaysia và nước láng giềng Singapore đã “nghẹt thở” với màn khói mù tồi tệ nhất trong hơn một thập kỷ, khi một số vùng ở Malaysia đo được mức ô nhiễm không khí lên đến hơn 300, mức “nguy hiểm”.
Tình trạng ô nhiễm không khí đã làm giảm lượng khách du lịch, buộc nhiều trường học phải đóng cửa và làm gia tăng căn bệnh hô hấp trong dân cư.
Ngày 22/7, Singapore vẫn quang đãng, và chỉ số ô nhiễm được coi là ‘không có vấn đề gì”, theo trang web của Cơ quan Môi trường Quốc gia nước này.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Tài nguyên nước và Môi trường Singapore Vivian Balakrishnan cho biết mặc dù Singapore đang được lợi về hướng gió, nhưng nước này đã liên lạc với Indonesia và trung tâm điều phối ASEAN "để tuyên bố mối quan ngại của mình”. (Phụ Nữ TPHCM 23/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa