Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 23 tháng 02 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Mới đây, Cục Kiểm lâm ban hành công văn về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng và quản lý động vật hoang dã.
Theo đó, Cục Kiểm lâm đề nghị chi cục kiểm lâm các tỉnh, thành phố tham mưu UBND các cấp thực hiện quyết liệt, có hiệu quả Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; Chỉ thị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Cùng với đó, chỉ đạo hạt kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng địa phương tăng cường công tác kiểm tra, rà soát các trại nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng động vật hoang dã trên địa bàn, thống kê số lượng, nguồn gốc động vật hoang dã tại các trại nuôi, xử lý các vi phạm về động vật hoang dã không có xuất xứ, nguồn gốc.
Bên cạnh đó, phối hợp với lực lượng Công an, Quản lý thị trường tổ chức kiểm tra, kiểm soát tại các quán ăn, nhà hàng, chợ, các điểm kinh doanh, khu dân cư, hộ có mua, bán, nuôi nhốt, sử dụng động vật hoang dã, đặc biệt tại các điểm tham quan lễ hội.
Mặt khác, tăng cường phối hợp với các cơ quan báo chí, đài truyền thanh truyền hình địa phương tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về các quy định của Nhà nước về quản lý, khai thác, gây nuôi, mua bán vận chuyển động vật hoang dã, đồng thời tổ chức ký cam kết về không sử dụng, tiêu thụ, giết mổ, trưng bày, quảng cáo động vật hoang dã tại các nhà hàng khách sạn, hộ, cá nhân tại các điểm lễ hội… (Báo Khánh Hòa 21/2) đầu trang(
Mặc dù đã có quy định của pháp luật về cấm săn bắt buôn bán động vật hoang dã, đặc biệt là động vật đã được đưa vào sách đỏ thế nhưng thực trạng này không những chưa giảm mà còn có dấu hiệu gia tăng.
Sở thích ăn uống để “chứng minh đẳng cấp” hay những tin đồn về tác dụng của động vật hoang dã đang tạo ra một nhu cầu lớn đẩy nhiều loại thú rừng đến nguy cơ bị tận diệt.
Tại phố Lãn Ông - con phố kinh doanh thuốc Đông y lớn nhất Hà Nội, khách hàng có thể tìm thấy đủ các sản phẩm được cho là quý hiếm vì nó được sản xuất từ những loài động vật quý, thậm chí là những động vật có nguy cơ tuyệt chủng, được đưa vào sách đỏ như cao khỉ, cao hổ cốt, vảy tê tê, sừng tê giác…
Dù không treo biển quảng cáo, nhưng hầu như tất cả các cửa hàng đều có bán ít nhiều các chủng loại sản phẩm trên. Tại một cửa hàng thuốc Đông y, khi chúng tôi ngỏ ý muốn mua cao khỉ, người bán hàng khẳng định ngay: “600.000 đồng/lạng, hàng có sẵn, không phải đặt trước. Cái này chữa được nhiều bệnh lắm, nhất là bệnh về xương khớp”.
Cùng mặt hàng trên, cửa hàng bên cạnh cũng báo mức giá tương tự và lập tức đưa cho khách hàng xem những gói nhỏ màu đen đóng sẵn và khẳng định, cần bao nhiêu cũng có. Khi hỏi về vảy tê tê, chủ hàng này cũng nhanh chóng đưa ra một túi chứa rất nhiều vảy nhỏ giải thích cho khách hàng đây chính là vảy tê tê, có tác dụng “thông mạch, chữa tắc sữa” và rất nhiều công dụng khác, có giá lên tới 1.600.000 đồng/lạng.
Không chỉ được bán thậm thụt tại các cửa hàng thuốc Đông y, trên những trang mạng Internet, cao khỉ cũng được đăng bán công khai khắp nơi. Liên hệ với một số điện thoại đăng quảng cáo bán cao khỉ “loại sạch, tốt nhất”, chúng tôi tìm đến một địa chỉ trên phố Kim Giang (Hoàng Mai, Hà Nội).
Người mà chúng tôi gặp là một đầu nậu chuyên cung cấp cao khỉ nhiều năm nay. Theo người này, cao khỉ của anh ta được nấu tại Nghệ An, sau đó mới vận chuyển bằng xe khách ra Hà Nội bán. “100% nấu từ khỉ rừng, mỗi lần giết thịt nấu cả chục con. Hàng hiếm, nấu đến đâu bán hết đến đó, có khi chả có mà bán” - người này khẳng định.
Không chỉ cao khỉ mà ngang nhiên hơn, tại nhiều nơi, những cá thể khỉ rừng sống cũng được mua bán công khai. Một ngày cuối năm 2015, chúng tôi có mặt tại Bến xe khách Mỹ Đình, khi xe khách H.C chạy tuyến Nghệ An - Hà Nội vừa cập bến. Sau khi trả hết khách, phụ xe đưa ra một chú khỉ được nhốt trong một hộp cartone và cuộc ngã giá diễn ra ngay tại bến xe. Hàng chục người xúm vào để được chiêm ngưỡng chú khỉ rừng, trong khi chú khỉ tội nghiệp thì tỏ ra hoảng sợ.
Người phụ xe cho biết, cá thể khỉ này được chủ hàng ở Nghệ An thuê vận chuyển ra Hà Nội để bán cho khách với giá 2,5 triệu đồng, đã bao gồm cả cước vận chuyển. Anh ta khẳng định đây là khỉ rừng bị sập bẫy và “nếu chết em mang đến đây anh trả lại tiền, nhà xe anh đảm bảo cho”, bởi theo anh ta, nhà xe này đã nhiều lần vận chuyển khỉ rừng thuê cho các đầu nậu Nghệ An ra Hà Nội bán.
Lần theo địa chỉ được giới thiệu, chúng tôi liên hệ với một cơ sở chuyên nấu cao khỉ ở xã Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Theo tìm hiểu của chúng tôi, tại Nghệ An không chỉ có cơ sở này mà còn rất nhiều cơ sở nấu cao khỉ khác. Ngay trong vườn quốc gia - nơi mà việc kiểm soát lẽ ra phải diễn ra nghiêm ngặt thế nhưng việc săn bẫy động vật hoang dã trái phép vẫn đang diễn ra thường ngày.
Trước đó, qua điện thoại, chủ cơ sở giới thiệu gia đình anh ta “chuyên thịt khỉ già, khỉ to” nên người mua cứ yên tâm, chất lượng cao khỉ ở đây là đảm bảo nhất. Có mặt tại Nghệ An, chúng tôi được chủ cơ sở cho xem một nồi cao đang nấu dở và cho biết trong nồi này là toàn bộ xương của 2 cá thể khỉ vừa mới giết, thịt đã được bán cho các nhà hàng, còn xương thì nấu cao.
Sau khi nấu xong, cao sẽ được cô đặc và đưa đi tiêu thụ ở khắp nơi. Nếu khách có nhu cầu, chỉ cần đặt qua điện thoại hàng sẽ được đưa đến tận tay thông qua xe khách hoặc chuyển phát nhanh. Chắc chắn từ những lò nấu cao như thế này, đã rất nhiều chú khỉ bị giết, bởi bây giờ mua một gói cao khỉ cũng chẳng mấy khó khăn.
Không chỉ có khỉ mà các loại thú rừng khác như cầy hương, hươu, nai, hoẵng, ba ba tự nhiên… cũng không khó để tìm thấy trong các… quán nhậu. Theo quảng cáo của một nhà hàng ở xã Đức Thượng, Hoài Đức, Hà Nội, chúng tôi đã đến tận nơi để mục sở thị việc kinh doanh các loại động vật rừng. Tại đây có rất nhiều động vật rừng quý hiếm, trong đó có nhiều loại nằm trong danh sách hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.
Sản phẩm được bày công khai là rượu ngâm xác động vật rừng. Nhưng nếu người mua có nhu cầu mua động vật sống thì sẽ được dẫn đến một nơi khác. Chủ hàng cho biết, những cá thể động vật rừng như cầy hương, ba ba sống được bắt ở các khu rừng Cúc Phương, Sơn La… khách hàng muốn bao nhiêu cũng có.
Chợ Cốc Lếu thành phố Lào Cai từ lâu đã nổi tiếng là khu chợ buôn bán đủ loại hàng hóa. Đáng nói là động vật quý hiếm ở đây được giết mổ và buôn bán một cách công khai. Du khách dễ dàng nhìn thấy những giỏ hàng trên những chiếc xe máy bày bán đủ loại thú rừng như cầy hương, chồn, dúi, hươu, nai, hoẵng… Giá thịt thú rừng ở đây tương đối rẻ, cầy hương khoảng 800.000 đồng/kg, dúi 600.000 đồng/kg…
Một người bán dúi cho biết, những con dúi mà anh ta bán đều được bắt từ trong rừng sâu. Giá của chúng thay đổi tùy thời điểm khác nhau, đầu năm có thể rẻ nhưng cứ vào dịp cuối năm giá lại được đẩy lên do nhu cầu của người mua ăn nhậu, biếu Tết rất cao. Người này cho biết để bắt được dúi hay những động vật hoang dã họ phải vào tận rừng sâu và mỗi ngày việc săn bắt càng trở nên khó khăn hơn do người đi săn nhiều, thú thì ngày một hiếm.
Tại quốc lộ 4D, nối từ TP Lào Cai tới Sa Pa, những con nai rừng sau khi sập bẫy được xẻ thịt bày bán công khai ngay mặt đường với giá 300.000 đồng/kg… Còn nội tạng cũng được nấu ngay tại chỗ để bán. Theo những người bán hàng, để tránh sự kiểm soát của lực lượng chức năng, nai phải xẻ thịt bán lẻ chứ không để nguyên con. Anh Lý Láo San (xã Tòng Sành, huyện Bát Xát, Lào Cai) đang xẻ thịt nai bẫy bằng dây nói: “Phải xẻ thịt ra chứ không kiểm lâm sẽ bắt ngay”.
Tại đây, săn thú rừng được coi là một nghề của nhiều người dân bản địa. Không chỉ người lớn mà ngay cả những đứa trẻ cũng có thể tự tay làm bẫy thú. Chúng tôi được chứng kiến thao tác làm bẫy thuần thục của những đứa trẻ, trong chưa đầy 20 phút đã xong một chiếc bẫy. Hầu như trong nhà nào cũng có hàng chục chiếc bẫy để phục vụ cho việc đi săn thú rừng.
Một thợ săn chỉ một mớ bẫy bằng tre và giới thiệu với chúng tôi rằng loại bẫy này có khả năng bẫy được hàng loạt loại thú rừng, kể cả các thú lớn như cầy hương, hươu, nai, hoẵng... Người này cho biết, dân ở đây ban đêm thì dùng bẫy, còn ban ngày thì dùng súng. Địa bàn đi săn chủ yếu là những cánh rừng già, rừng thảo quả cách nhà hàng chục cây số.
Trong những chuyến công tác, chúng tôi thực sự cảm thấy xót xa khi ở những vùng cao, nhiều người vẫn coi việc săn thú rừng như một nghề mưu sinh. Giá thú rừng ngày càng tăng khiến những thợ săn càng ráo riết săn bắt để phục vụ nhu cầu “thể hiện đẳng cấp” của nhiều thực khách.  Dư luận nhức nhối với câu hỏi, liệu nạn săn bắt, tận diệt thú rừng sẽ còn tiếp diễn đến bao giờ? Rất mong các cơ quan chức năng vào cuộc quyết liệt hơn nữa để chấm dứt tình trạng này. (An Ninh Thủ Đô 21/2) đầu trang(
Việt Nam được biết đến như một trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới, với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên, do áp lực gia tăng dân số, tình trạng khai thác quá mức tài nguyên sinh vật, công tác quản lý bảo tồn ĐDSH còn nhiều bất cập, nhất là ý thức bảo vệ ĐDSH của cộng đồng chưa cao… là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tài nguyên ĐDSH của Việt Nam tiếp tục trên đà suy thoái.
PGS, TS Lê Xuân Cảnh (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) cho biết: Năm 1992, Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới xếp Việt Nam là một trong 16 quốc gia có ĐDSH cao nhất thế giới; đứng thứ tư thế giới về các loài linh trưởng, với năm trong số 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất. Trong khi đó, theo số liệu báo cáo quốc gia về ĐDSH (năm 2011) cho thấy, tại Việt Nam ghi nhận được khoảng hơn 49 nghìn loài sinh vật, bao gồm: Khoảng 7.500 loài/chủng vi sinh vật; 20 nghìn loài thực vật trên cạn và dưới nước; 10.500 loài động vật trên cạn; hơn 11 nghìn sinh vật biển...
Đáng chú ý, nước ta còn có nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn, là môi trường sống và phát triển của các loài sinh vật, đã và đang đóng góp cho việc bảo tồn loài hoang dã, cũng như các loài nguy cấp, quý, hiếm. Tuy nhiên, đa dạng về loài của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, một số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như: Sao la, voọc mũi hếch, voọc Cát Bà, cá nóc, bò biển…
Điển hình như loài hổ sống trong các khu rừng ở Việt Nam giảm từ khoảng 1.000 con (trước năm 1970) xuống còn 80 đến 100 con vào năm 2005 và đến năm 2010, số lượng này giảm xuống chỉ còn khoảng 30 con…
Theo Phó Tổng cục trưởng Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), TS Nguyễn Thế Đồng: ĐDSH ở Việt Nam mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, nhất là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gien tạo giống vật nuôi, cây trồng; điều tiết khí hậu, bảo vệ môi trường…
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn ĐDSH, Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cực các hiệp ước quốc tế về ĐDSH như: Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (RAMSAR); Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)…
Việt Nam cũng ban hành nhiều bộ luật quan trọng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Thủy sản; Luật ĐDSH… Đáng chú ý, để định hướng cho công tác bảo tồn ĐDSH , Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng trong lĩnh vực này như: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030…
Qua đó, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH như: Hệ thống khung pháp luật và chính sách quốc gia về bảo tồn ĐDSH ngày càng được củng cố, hoàn thiện; nhận thức xã hội và sự tham gia của các bên liên quan vào công tác bảo tồn ĐDSH có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhất là các dịch vụ hệ sinh thái trọng yếu tiếp tục được duy trì và cung cấp các dịch vụ quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, tài nguyên ĐDSH của Việt Nam hiện vẫn đang tiếp tục trên đà suy thoái; các hệ sinh thái thu hẹp, bị chia cắt và suy giảm chất lượng; các loài nguy cấp đang gia tăng; nguồn gien bị thất thoát, mai một… Theo các chuyên gia về ĐDSH và bảo vệ môi trường, nguyên nhân của tình trạng này là do áp lực gia tăng dân số, kéo theo nhu cầu tiêu thụ, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi bảo tồn với phát triển kinh tế.
Trong khi đó, công tác quản lý bảo tồn ĐDSH thời gian qua còn nhiều bất cập về quy định pháp luật, chính sách, thể chế và tổ chức bộ máy quản lý. Việc đầu tư kinh phí thực hiện công tác bảo tồn ĐDSH còn dàn trải, thiếu trọng điểm; công tác xã hội hóa về bảo tồn ĐDSH chưa được đẩy mạnh, ý thức bảo vệ ĐDSH của cộng đồng chưa cao.
Ngoài ra, nạn săn bắn, buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã, thói quen tiêu thụ động vật hoang dã không ngừng gia tăng; việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đối với lâm sản và thủy sản làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, không bảo đảm cho việc tái tạo lại các nguồn tài nguyên trong tự nhiên… gây ra sự tuyệt chủng của các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm.
Phó Tổng cục trưởng Môi trường, TS Nguyễn Thế Đồng cho rằng: Để tăng cường công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH, thời gian tới, Việt Nam cần triển khai và thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Tiếp tục thực hiện rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật về ĐDSH, nhất là các luật và hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Thủy sản, Luật ĐDSH, để bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả.
Củng cố và phát triển hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo tồn ĐDSH, trong đó chú trọng đến việc tăng cường hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở cấp tỉnh. Đẩy mạnh hướng dẫn thực hiện các chế tài về ĐDSH, xử lý nghiêm các vụ vi phạm về ĐDSH nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của việc thực thi pháp luật; thúc đẩy công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến pháp luật về ĐDSH từ T.Ư đến địa phương và cộng đồng…
Các nhà bảo tồn ĐDSH cũng cho rằng: Để nâng cao hiệu quả tài nguyên ĐDSH cần đa dạng hóa nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước, từ nguồn tài trợ quốc tế và các nguồn thu khác. Trong đó, cần chú trọng huy động sự đóng góp của khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng cho công tác này.
Lồng ghép các yêu cầu về bảo vệ ĐDSH trong đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược; tiếp tục phát huy và nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn ĐDSH như cộng đồng tham gia tuần tra, bảo vệ, giám sát ĐDSH tại các khu bảo tồn; tiếp tục nghiên cứu và tạo cơ chế để huy động sự tham gia của khu vực tư nhân trong công tác bảo tồn ĐDSH. (Nhân Dân 21/2) đầu trang(
Trước sức nóng của thị trường buôn bán nanh, vuốt, da động vật quý hiếm, nhiều người từng làm nghề này đã phải thốt lên “ở đâu ra mà rao bán nanh hổ, báo, thậm chí cả da của chúng nhiều đến thế?”.
Trong quá trình tìm kiếm tư liệu thực hiện loạt bài này, PV được một số người từng buôn bán động vật quý hiếm bắt mối cho gặp ông H. – cao nhân đã giải nghệ. Theo dân trong nghề, ông H. là cả một kho tư liệu sống về buôn bán hàng cấm không chỉ ở khu vực miền Đông, Tây Nguyên mà cả bên Lào, Campuchia về. Xin được địa chỉ, PV lên đường đi Bình Phước, nơi ông H. đang sinh sống.
Điều kỳ lạ, đến địa phận huyện Bù Gia Mập, hỏi thông tin về ông H., người dân nơi đây không ai biết. Phải lân la mãi, PV mới tìm được nơi cư ngụ của ông. Lúc chúng tôi đến, ông H. đang hàn mái che cho một người gần nhà. Biết PV muốn hỏi chuyện ngày xưa về mua bán động vật hoang dã, ông cười chua chát: “Chuyện có gì đâu, xưa lắm rồi nhắc lại làm gì. Hồi xưa, thiếu hiểu biết, lại khó khăn nên đâm đầu vào món hàng hóa ấy, chứ có ai muốn. Tuy nhiên, hồi đó tôi cũng chỉ mua bán khỉ, trăn thôi, còn hổ, báo, thì không”.
Được biết, ông H. (năm nay đã ngoài 60 tuổi) từng là một tay sành sỏi trong nghề buôn bán động vật hoang dã (khỉ và trăn) vào những năm 80 của thế kỷ trước tại khu vực Sông Bé xưa (tỉnh Bình Dương, Bình Phước ngày nay), Lâm Đồng. Dù không buôn bán hổ, báo nhưng ông cũng biết được khá nhiều chuyện về mặt hàng này.
Ông H. kể: Ngày xưa còn có hổ, báo, người dân tộc thỉnh thoảng còn săn bắn được. Dân săn bắn chuyên nghiệp mới mong hạ được nó nhưng cũng là chuyện hết sức hi hữu. Vì thế để mua được da hổ, da báo hoặc nanh hổ, nanh báo thật là chuyện rất khó khăn.
Theo lời ông H., ở vùng này có nhiều người Stiêng sinh sống. Họ sống gần những bìa rừng, một số còn sống cả trong rừng. Họ mưu sinh chủ yếu bằng săn bắn, hái lượm, sau có trồng được một số cây
ăn trái như bắp, lúa. “Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi đó nghe bà con dân tộc nói, còn thấy hổ về trong đêm nhưng cũng không thấy ai hạ được con nào. Bà con đồng bào dân tộc cũng có nhiều người săn bắn giỏi, họ làm nỏ, cung... thì tuyệt vời. Tuy nhiên, hổ cũng đâu có đùa, nó nhanh và ranh, tinh dữ lắm”, ông kể.
Nhắc lại chuyện xưa để nói rằng, bây giờ mà kiếm được nanh hổ, báo là hết sức hiếm hoi (chứ không phải không có). Cách đây khoảng 10 năm về trước, ông H. có mấy người bạn hay đi sang Lào và Campuchia, họ săn được một số nanh nhưng chủ yếu là của heo rừng. Còn móng gấu thì nhiều hơn, nhưng cũng khó tìm. Vì một phần gấu được nuôi nhốt nhiều để chích lấy mật, có những con chết đi người ta bán móng, vuốt của nó mà thôi.
“Nhiều người nói, kiếm được da hay nanh hổ, báo, thật sự tôi không biết họ tìm đâu ra. Cũng có thể lý giải là nhiều vườn thú mọc lên, một số người cũng nuôi hổ, báo nhưng không có chuyện họ nuôi để bán nanh, bán da. Chuyện này rất khó xảy ra, vì họ nuôi không phải vì mục đích đó”, ông H. đặt câu hỏi.
Theo ông H., hổ, báo trong các cánh rừng ở Việt Nam hầu như rất ít. Chắc nhiều người còn nhớ, cách đây vài năm, tại Lâm Đồng, người ta nháo nhác bàn tán xôn xao chuyện báo hoa mai xuất hiện tại đây. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những dấu chân mà nó để lại, chứ thực sự không ai nhìn thấy tận mắt.
Nhắc đến chuyện này để nói rằng, báo, hổ... như đang vào miền cổ tích và mỗi khi nhắc đến hoặc xuất hiện cũng trở thành sự kiện hết sức lạ lùng. “Vì vậy, chuyện mua da hổ, báo hoặc nanh hổ, báo... là chuyện hoang đường, hầu hết đều là hàng giả. Chúng chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc, được đúc, ép bằng nhựa tổng hợp trông rất giống với đồ thật”, ông H. cho biết.
Quyết tìm cho được người cung cấp mặt hàng trên, sau buổi trò chuyện, chúng tôi đề nghị ông H. (vốn là người Nghệ Tĩnh) giới thiệu cho một đầu mối mà ông biết để trực tiếp liên hệ mua hàng. Khi giới thiệu, ông H. cũng “dặn” không được tiết lộ danh tính của ông ta.
Có được đầu mối, PV liên hệ thử và được người phụ nữ tên L. ở đầu dây bên kia bắt chuyện. Ban đầu bà ta hỏi han khá nhiều, sau một hồi trò chuyện làm tin, chúng tôi ngỏ ý muốn mua một bộ da hổ để trưng trong phòng khách. Bà L. cho biết, hiện nay tại TP.HCM không còn hàng, nếu cần thì đặt trước rồi có người chuyển hàng vào.
Theo bà L., nguồn hàng từ Nghệ An hoặc Hà Tĩnh, vì ở đó gần Lào, nhiều người còn mang hàng về được, chứ trong này thì không có. Đặc biệt, hàng của Việt Nam hầu như kiếm không ra. Để tạo lòng tin, bà L. cho biết, vừa rồi bà mới giao một bộ đi Trung Quốc cho khách đặt.
Nói về giá cả và cách thức xem hàng, bà L. nói: “Nếu em thật lòng muốn mua thì có hai cách, một là bay ra ngoài đó (ý nói Hà Tĩnh, Nghệ An) xem hàng, được thì mua luôn. Hai là, chị sẽ chụp hình gửi cho em xem trước rồi quyết định sau cũng được”.
PV đề nghị được xem mẫu hàng qua email, bà L. nói: “Hàng đang ở Lào, ít hôm nữa mới về, khi nào tới chị sẽ gửi cho em. Còn giá thì chốt là 200 triệu đồng cho bộ da hổ nguyên hình, nguyên vẹn cực đẹp, dài khoảng 2m. Bộ này còn nguyên bốn chân và cả đuôi, không sứt mẻ gì cả”.
Thấy chúng tôi thắc mắc về giá, bà L. cho biết: “Nếu em có thiện chí mua thật, chị sẽ nói họ bớt chút đỉnh làm quen, chứ không bớt nhiều đâu. Vì thứ này vừa nguy hiểm, vừa hiếm lại có nhiều người mua. Nếu em không lấy thì về Việt Nam sẽ có người lấy đó, đại gia bây giờ chơi dữ lắm. Đây là hổ Đông Dương nên rất quý”. Câu hỏi mà PV băn khoăn “nữ chúa” này là ai? Và, 200 triệu đồng có mua được bộ da hổ thật không? Nhân vật này xem ra là một ẩn số.
Theo chia sẻ của những người từng buôn bán mặt hàng này, hiện nay, da hổ, da báo thuộc dạng hết sức quý hiếm, đặc biệt là những con có tuổi thọ lâu năm. Dù được dân sành sỏi không tiếc công sức, tiền bạc săn lùng nhưng, thực tế, nanh, vuốt hay da hổ, báo cũng không có những công năng siêu phàm như người ta vẫn đồn thổi.
Theo lời kể của ông H., năm 1991, tại quê ông (Hà Tĩnh) có một anh đi xẻ gỗ ở Lào về tậu được một chiếc nanh hổ to, đeo vào đi đâu cũng khoe đạn bắn không thấu, làm ăn thì như cá gặp nước... Thế nhưng được mấy năm, anh ta chết vì nghiện ma túy.
Trao đổi với PV về tình trạng buôn bán nanh, vuốt, da động vật quý hiếm, ông Nguyễn Xuân Lưu, Chi cục trưởng chi cục Kiểm lâm TP.HCM xác nhận, thời gian qua đã phát hiện, bắt giữ và xử phạt một số trường hợp buôn bán da, nanh, xương động vật hoang dã. Về quy trình, khi tiến hành lập biên bản tịch thu xong, cơ quan chức năng sẽ đem mẫu đi giám định.
Nếu kết quả đúng là động vật hoang dã sẽ tiến hành xử lý người vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. Nếu những lô hàng: Lông, da, xương, nanh… khi lưu hành mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ, thì có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự, tùy theo mức độ vi phạm. (Người Đưa Tin 23/2) đầu trang(
Tối 22/02, Vườn Quốc gia U Minh Thượng sẽ chính thức được công nhận là khu Ramsar.
Trong hệ sinh thái rừng tràm úng phèn của ĐBSCL, chỉ còn duy nhất hệ thực vật rừng của Vườn Quốc gia U Minh Thượng có đặc điểm của rừng cực đỉnh nguyên sinh. Đó là các ưu hợp của rừng hỗn giao và rừng tràm trên đất than bùn, trở thành một hệ sinh thái có tầm quan trọng đặc biệt, là nơi nuôi dưỡng, trú ngụ của nhiều động vật hoang dã, quý hiếm. Nơi đây còn có diện tích gần 3.000 ha đất đầm lầy và đồng cỏ ngập nước.
Bên cạnh cây tràm, Vườn quốc gia U Minh Thượng có hơn 40 loài động thực vật quý hiếm đã được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Hơn nữa, Vườn Quốc gia U Minh Thượng không chỉ là khu vực có các hệ sinh thái đặc trưng của vùng đất than bùn mà còn là khu di tích lịch sử của tỉnh Kiên Giang. (Đài Truyền Hình Việt Nam 22/2) đầu trang(
Sau gần 2 tháng đi vào hoạt động, Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật hoang dã Vinpearl Safari Phú Quốc đã đón chào những cá thể thú quý đầu tiên chào đời và đang chuẩn bị đón thế hệ F1 từ các loài động vật quý hiếm khác.
Các “công dân đầu tiên” của Vinpearl Safari Phú Quốc là 01 cá thể Linh dương Bongo (tên khoa học Tragelaphus Eurycerus, xuất xứ từ Mỹ) và 04 cá thể Mèo đốm châu Phi (tên khoa học Leptailurus serval, xuất xứ Nam Phi). Các con non được các chuyên gia và bác sỹ thú y quan tâm, chăm sóc đặc biệt, có sức khỏe đảm bảo và đang có tiến triển tốt.
"Khi mới đi vào vận hành, do ảnh hưởng của quá trình vận chuyển dài và chưa quen với môi trường mới, Vinpearl Safari đã tổn thất một số rất ít cá thể.  Tuy nhiên sau một thời gian thích nghi với khí hậu và thổ nhưỡng tại Phú Quốc, cùng với sự chăm sóc đặc biệt của các chuyên gia và nhân viên Vinpearl Safari, tình hình đã ổn định nhiều. Đa số động vật đã thích nghi tốt với môi trường mới, khí hậu và thức ăn trong điều kiện chăm sóc tại đây. Kết quả là đã có thú sinh sản tại Vinpearl Safari” –Bác sỹ thú y Phạm Diệp Ngân, Giám Đốc Động vật của Vinpearl Safari cho biết.
Chính thức khai trương ngày 24/12/2015, mỗi ngày Vinpearl Safari đón hàng ngàn lượt khách tham quan, đặc biệt lượng khách tăng mạnh vào thời gian cao điểm Tết Nguyên Đán vừa qua.
Bên cạnh việc phục vụ du lịch, Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari còn đặt mục tiêu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao nhận thức và phối hợp hành động trong lĩnh vực Bảo tồn động vật, thực vật hoang dã địa phương, đồng thời là giáo cụ trực quan cho hoạt động Giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng.
Vinpearl Safari Phú Quốc hiện đã là thành viên của các tổ chức uy tín trong và ngoài nước như Hiệp hội vườn thú Việt Nam (VZA); Hiệp hội Vườn thú Đông Nam Á (SEAZA) và Hệ thống thông tin loài quốc tế (International Species Information System). (Lao Động 22/2) đầu trang(
Đợt rét kỷ lục kéo dài trong và ngoài tết Nguyên đán tại các huyện miền Tây Nghệ An gồm: Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong... làm nhiều cánh rừng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi nhiệt độ xuống thấp từ 0-7 độ c, xuất hiện sương muối, tuyết phủ trắng các đồi rừng khiến cây không thể quang hợp được và chết.
Sau Tết, nhiệt độ bất ngờ tăng cao cộng thêm việc người dân đốt rừng dẫn đến nhiều vụ cháy rừng, cộng với việc người dân đốt rừng làm nương rẫy, hàng chục ha rừng đã bị hủy diệt.
Ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng hạt Kiểm Lâm huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) cho biết: giá rét dài ngày cộng với việc đồng bào dân tộc đốt rừng khiến hàng chục hec ta rừng bị hủy diệt rất khó khả năng để trở lại nguyên vẹn như cũ.
“Hiện các cơ quan liên quan đang thống kê, rà soát lại diện tích rừng bị chết cháy để có một con số chính xác. Tuy nhiên, việc phục hồi lại diện tích rừng bị chết cũng sẽ gặp nhiều khó khăn” - ông Minh nói. (Infonet 22/2) đầu trang(
Trong quá trình tuần tra, kiểm soát lâm sản, khoáng sản trái phép dịp Tết Bính thân, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam đã phát hiện và lập biên bản 15 vụ vi phạm, tạm giữ và phá hủy nhiều dụng cụ khai thác, vận chuyển.
Ông Phan Tuấn- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, cho biết: “Trước và sau tết Bính Thân, các đội kiểm tra phối hợp cùng các Hạt Kiểm Lâm đã tổ chức tuần tra 35 lượt, phát hiện xử lý vi phạm và lập biên bản 15 vụ, tang vật và phương tiện thu giữ để xử lý gồm 15,690m3gỗ xẻ, 12,896m3 gỗ tròn, 2 xe ô tô vận chuyển. Phá hủy 5 máy nổ và 300m ống dây nước, 1 lán trại".
Trong quá trình tuần tra, Chi cục Kiểm lâm cũng kiểm tra tình hình thu gom gỗ tại Hạt Kiểm lâm rừng Phòng hộ Sông Tranh. Theo đó, Hạt Kiểm lâm RPH Sông Tranh đã phát hiện 3 vụ khai thác trái phép trên 100m3 gỗ.
Vụ việc được Hạt Kiểm lâm khởi tố hình sự, trong đó có 19 vụ xử lý hành chính. Hạt Kiểm lâm RPH Sông Tranh đã thuê 2 đơn vị vào thu gom gỗ. Khối lượng gỗ xẻ xử lý hành chính đã vận chuyển tại Hạt là 31 hộp với 7,112m3  gỗ, tại Trạm Kiểm lâm Trà Bui là 26 hộp với 5,968m3 gỗ, gỗ xử lý hình sự là 180 hộp. Việc thu gom gỗ sẽ hoàn thành dự kiến vào cuối tháng 2 này.
Tại các địa bàn huyện miền núi như huyện Phước Sơn, Hạt Kiểm lâm đã phát hiện 4 tổ khai thác làm vàng sa khoáng trái phép trong dịp tết vừa qua, tuy nhiên các đối tượng này đã nghỉ tết, chỉ còn 6 người ở lại canh giữ tài sản. Đoàn công tác đã đập phá 4 máy nổ, 1 lán trại và đẩy đuổi các đối tượng ra khỏi rừng.
Các địa bàn còn lại như Núi Thành, Phú Ninh, Tiên Phước, Nông Sơn, Đông Giang, Duy Xuyên, Điện Bàn, ...kiểm tra nhưng không phát hiện vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Tuấn cho biết: “So với năm trước, số vụ giảm đến 60%. Tình trạng khai thác khoáng sản cũng giảm hơn năm trước. Đến nay, tình hình an ninh trật tự đã ổn định, an toàn. Sắp đến, chúng tôi sẽ tăng cường tuần tra để tránh tình trạng những các đối tượng quay lại rừng tiếp tục khai thác”. (Dân Sinh 21/2) đầu trang(
Từ nhiều đời nay, người Cơtu tại huyện Tây Giang, Quảng Nam luôn tự hào và quyết tâm bảo vệ cánh rừng Pơ mu cổ thụ. Do đó, quần thể Pơ mu này còn nguyên giá trị của nó với hàng nghìn cây cổ thụ được bảo vệ nghiêm ngặt.
Kể từ khi rừng cây Pơmu quý hiếm được phát hiện, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ. Với địa bàn quản lý rộng hơn 31.000 ha nên công tác tuần tra bảo vệ rừng nói chung và quần thể pơ mu nói riêng gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, lực lượng chức năng trên địa bàn huyện đã nỗ lực bám rừng để bảo vệ. Hiện quần thể rừng Pơmu trải rộng khoảng 400 ha, nhiều cây được xác định khoảng 1.000 năm tuổi. Quần thể pơ mu cổ thụ ngày được đánh giá là một trong những rừng cây gỗ quý hiếm nhất còn sót lại ở vùng miền Trung - Tây Nguyên.
Một cách làm hiệu quả của chính quyền địa phương chính là gắn việc bảo vệ rừng với văn hóa làng, văn hóa giữ rừng. Theo đó, ngoài các chốt trực của lực lượng kiểm lâm địa bàn, huyện Tây Giang còn huy động và phối hợp với lực lượng dân quân, người có uy tín của đồng bào bản địa cùng tham gia bảo vệ, tránh để rừng cây pơmu bị xâm hại.
Suốt hàng trăm năm, rừng cây vẫn xanh tươi bóng mát, minh chứng cho công sức gìn giữ của chính quyền và đồng bào dân tộc ở Tây Giang. “Vương quốc pơmu” bây giờ không còn xa, khi con đường mới được mở vào rừng. Vào mùa nắng xe ô tô có thể vào rất gần với quần thể pơ mu. Tương lai không xa, “vương quốc pơ mu” ở Tây Giang sẽ là điểm đến của những người yêu rừng, quý rừng, xem rừng là sự sống. (ANTV 21/2) đầu trang(
Phia Bôn là ngọn núi có độ cao hơn 900 mét nằm trên địa bàn xã Khâu Tinh (Nà Hang). Để lên được đỉnh núi này, từ chốt bảo vệ rừng Lũng Vai, lực lượng kiểm lâm và nhân viên tuần rừng phải đi bộ từ 2 đến 3 tiếng đồng hồ, còn người ít đi rừng thì phải đi bộ mất 4 đến 5 giờ.
Từ Phia Bôn có 5 tuyến chính và 6 tuyến phụ bảo vệ rừng của cán bộ kiểm lâm và nhân viên tuần rừng. Đá tai mèo nhọn hoắt, dựng đứng chỉ chực chờ bước chân người sơ suất. Vậy mà một tuần, cán bộ kiểm lâm và nhân viên tuần rừng ở chốt bảo vệ rừng Lũng Vai đi tuần lên đỉnh núi này từ 3 đến 4 lần, ngày đêm đấu tranh với các thủ đoạn liều lĩnh của lâm tặc.
Lũng Vai là chốt bảo vệ rừng thuộc Trạm Kiểm lâm Bắc Vãng. Chiếc Cát - lốt của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang đưa chúng tôi đến nhà bè Phe Lườn. Rồi từ đây mất một tiếng đi bộ nữa mới đến chốt bảo vệ rừng Lũng Vai. Đây là một trong 5 chốt bảo vệ rừng khó khăn nhất của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang do không ở gần nhà dân, địa hình trắc trở, diện tích rừng bảo vệ lớn, nhiều loài gỗ, động vật, thực vật rừng quý hiếm.
Một nhân vật mà chúng tôi gặp gỡ đó là ông Lê Hồng Binh, hiện là nhân viên tuần rừng ở chốt bảo vệ rừng Lũng Vai. Ông được lực lượng kiểm lâm ở đây xem như “người hùng” trong bảo vệ rừng. Ông Binh đã 64 tuổi, nguyên Hạt Phó Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang, nguyên Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung. Năm 2008 ông nghỉ hưu, nhưng đôi chân ông không chịu đứng yên.
Được Hạt mời, ông trở thành nhân viên tuần rừng ở chốt Lũng Vai từ năm 2013 đến nay. Ông Lê Hồng Binh thuộc tên từng loài cây trong rừng, từng tuyến rừng, ước chừng thời gian đi tuần chính xác gần như tuyệt đối. Bởi vậy, ông được anh em ở đây gọi vui là “nhà thực vật học”.
Đời bảo vệ rừng của ông Binh đã nhiều lần chết hụt. Có lần đang họp thôn cùng bà con thì một tên trước đây từng bị ông bắt khi đang phá rừng vác súng đến tìm. Nhưng may mắn lúc ấy, ông thoát chết do được cán bộ thôn, bà con che chở. Một lần khác, trời sẩm tối, khi nghe có tiếng cưa xăng phát ra lưng chừng Phia Bôn, ông Binh và đồng nghiệp tức tốc băng rừng.
Lên đến nơi thì cây nghiến gần 500 tuổi sắp bị xẻ thịt, ông bị lâm tặc bắn trượt nhưng vẫn cứu được nghiến. Một lần khác khi đang đi tuần từ đỉnh Phia Bôn xuống Phia Tạ, ông bị trượt chân ngã, may mà không rơi xuống vực. Quyết liệt, nhiều hiểm nguy là thế, nhưng ông Binh chỉ nói đơn giản về nghề của mình: “Làm nghề này phải có gan chứ sợ thì không làm được. Vì mỗi bước chân nếu không cẩn thận thì không bị lâm tặc hại thì cũng bị ngã xuống vực, bị rắn độc cắn”.
Cán bộ kiểm lâm và nhân viên tuần rừng ở chốt Lũng Vai chỉ được nghỉ 5 ngày còn 25 ngày phải đi tuần ở 5 tuyến tuần rừng chính đó là từ đây đi suối Kẹm Pan, khu Thôm Bấc rồi lật núi quay về Lũng Vai; từ Lũng Vai đi qua Pù Để đến chốt Tát Kẻ; từ Lũng Vai lên đỉnh Phia Bôn qua Yên Ngựa xuống Phia Tạ và từ nhà bè Phia Lườn đi bằng thuyền lên suối Kẹm Pan.
Trong các tuyến này thì tuyến từ Lũng Vai lên đỉnh Phia Bôn và xuống đến Pắc Tạ là nguy hiểm, khó khăn nhất vì nơi đây địa hình hiểm trở. Lâm tặc thường tìm mọi cách để lên được đây chặt các cây gỗ quý.
Trưởng trạm Kiểm lâm Bắc Vãng Hoàng Văn Lập chỉ lên bản đồ nói, lâm tặc chủ yếu dùng thuyền hoặc bơi, không phát ra tiếng động đổ bộ lên rừng ở bất kỳ lúc nào. Chúng thường chọn cách đi bằng thuyền vào lòng hồ rồi lên đỉnh Phia Bôn, xuống Phia Tạ. Đây cũng là nơi dễ tẩu thoát đồng thời có sóng điện thoại di động để dễ liên lạc với nhau. Do đó, Trạm phải trang bị một chiếc thuyền đi động, gồm cả chăn màn để tuần đêm. Nhiều đêm phải dừng thuyền, ngủ ở ven hồ.
Bên cây nghiến cổ vẫn còn vết cắt dở của cưa xăng mà nhân viên tuần rừng ở đây đã cứu được, ông Binh bảo, nếu dùng cưa xăng thì cây nghiến cao 10 mét, có chiều rộng 400 vanh thì chỉ cần 5 phút sau cây đổ và cần 1 tiếng là chúng có thể xẻ nhỏ. Có đêm mưa rừng xối xả, nghe tiếng động lạ, anh em ở chốt lại cắt rừng để đi, cứ theo tiếng động phát ra mà đi. Nhưng đi rừng ban ngày đã khó, đêm còn khó hơn vì đường nào cũng giống đường nào.
Trong trí nhớ của ông Lê Hồng Binh một kỷ niệm theo mãi. Đó là sự hy sinh của một nhân viên tuần rừng khi ông đang là lãnh đạo của Hạt. Ông kể: “Lúc tôi nhận được tin đồng nghiệp bị lâm tặc bắn chết ở gần đỉnh Phia Bôn là 6 giờ tối. Tôi giục anh em đi bộ một mạch không nghỉ nhưng phải đến tận 2 giờ sáng hôm sau chúng tôi mới tới nơi đồng nghiệp hy sinh và đến 8 giờ sáng chúng tôi mới đưa được thi hài của đồng nghiệp xuống núi”.
Nhân viên tuần rừng là người dễ tiếp cận, phát hiện lâm tặc nhất nhưng lại không được phép sử dụng vũ khí phòng vệ. Trong khi lâm tặc thì có rất nhiều loại vũ khí nguy hiểm đối phó. Khó khăn, hiểm nguy là thế nhưng diện tích rừng mà chốt Lũng Vai bảo vệ nhiều năm qua vẫn an toàn. Nhiều vụ chặt phá rừng của lâm tặc bị ngăn chặn kịp thời để các loài cây gỗ quý luôn vững vàng.
Trưởng trạm Kiểm lâm Bắc Vãng Hoàng Văn Lập cho hay, với số lượng cán bộ kiểm lâm quá ít, diện tích rừng lớn, địa hình đồi núi trắc trở nên việc quản lý, bảo vệ rừng phụ thuộc rất nhiều vào nhân viên tuần rừng. Họ chẳng khác nào những dũng sỹ của rừng xanh, đội quân nòng cốt bảo vệ rừng. Chốt bảo vệ rừng Lũng Vai nằm ở lưng chừng đỉnh Phia Bôn. Chốt không có điện lưới, không có ti vi, đài, sóng điện thoại.
Ở đây, câu chuyện dò sóng điện thoại, gọi và nhận điện thoại hay tin nhắn của người thân thì cực kỳ khó khăn. Chỉ có hai điểm duy nhất có thể dò được sóng điện thoại. Đó là chòi mà các nhân viên tuần rừng ở đây gọi là “bốt điện thoại” trên cây xoan. Điểm thứ hai là gắn điện thoại trên 3 chiếc đinh ở tường. Phải đứng ở hai điểm này khoảng 30 phút mới dò được một vạch sóng nhưng lúc được lúc mất.
Chốt Lũng Vai chỉ thắp sáng được một bóng đèn bằng điện năng lượng mặt trời. Muốn gọi điện về nhà cho người thân, anh em ở chốt phải treo mình trên cây xoan gần 1 tiếng mới gọi được điện về nhà. Điện thoại thì phải đời cũ mới bắt được sóng, còn màn hình cảm ứng thì đành chịu. Rau của anh em ở chốt chủ yếu từ rừng như: Rau sắng, dớn, nấm rừng, măng nứa, thầm lầm, hoa chuối, giảo cổ lam, núc nác…
Nếu muốn ăn thịt thì phải nhờ người dân ở ngoài thị trấn mang vào, rang mặn ăn mấy ngày. Anh Ma Văn Thắng làm nhân viên tuần rừng được 3 năm nay. Mẹ già, vợ và hai con nhỏ ở tận thôn Nà Thuôn, xã Thượng Lâm (Lâm Bình) nhưng có tháng anh về được 1 lần, có tháng không. Ngày vợ anh bị mổ u, anh cũng chỉ xin phép về chăm sóc vợ được 1 tuần rồi lại lên rừng.
Anh bảo: “Mình muốn gọi về nhà cho vợ, con nhưng phải lựa hôm sáng trăng, chèo thuyền ra tận hồ mới dò được sóng. Tin nhắn vợ gửi có khi hai, ba hôm sau mới nhận được”.
Đi xa biền biệt là thế nhưng mỗi tháng anh Thắng cũng chỉ gửi về cho vợ con được hơn 1 triệu đồng. Trừ tất cả các khoản bảo hiểm thì mỗi tháng, anh Thắng cũng chỉ được trả 2, 3 triệu đồng. Nghe vợ bảo: “Thôi mình ạ, về với vợ con làm gì thì làm, đừng trên núi nữa”, anh Thắng cũng nản nhưng được đồng nghiệp động viên, anh Thắng lại tiếp tục làm.
Trưởng trạm Kiểm lâm Bắc Vãng Hoàng Văn Lập bày tỏ muốn được chuyển chốt bảo vệ rừng Lũng Vai lui xuống bên dưới khoảng 1 cây số, gần với suối Lũng Vai, dòng điện khỏe hơn cho anh em xem ti vi, nghe đài. Mong muốn của anh và cán bộ kiểm lâm ở các chốt bảo vệ rừng có lẽ chẳng thấm gì so với gian truân, thiếu thốn mà họ đang phải vượt qua.
Chúng tôi mang theo nỗi niềm của nhân viên tuần rừng ở lưng chừng đỉnh Phia Bôn xuống núi trong cơn mưa chiều xối xả. Trong lòng nuôi hy vọng, rồi đây các chốt bảo vệ rừng ở đây sẽ có điện, anh em được xem ti vi, nghe đài, đời sống và thu nhập của họ được nâng cao hơn…. (Báo Tuyên Quang 22/2) đầu trang(
Dịp Tết Nguyên đán vừa qua, tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại huyện Khánh Vĩnh hết sức phức tạp. Đội Kiểm lâm cơ động, thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa đã tích cực tuần tra, kiểm soát và phát hiện nhiều vụ vi phạm.
Chỉ trong hơn 10 ngày, từ ngày 6-18/2, lực lượng kiểm lâm cơ động của Chi cục đã phát hiện và bắt giữ 8 vụ vận chuyển gỗ. Tịch thu hơn 21 m khối gỗ các loại, cùng với nhiều phương tiện, trong đó, có lượng lớn gỗ thuộc nhóm quý hiếm. Hầu hết, các vụ khai thác vận chuyển đều tập trung tại khu vực Thác Hòm, xã Khánh Thượng. Theo đại diện của Đội Kiểm lâm cơ động, số vụ vận chuyển gia tăng là do các đối tượng lợi dụng tình hình những ngày nghỉ Tết, lực lượng kiểm soát hạn chế.
Tuy nhiên, với sự đề cao cảnh giác, kế hoạch tổ chức chốt trực hết sức chặt chẽ, lực lượng chức năng đã ngăn chặn các vụ vận chuyển. Bên cạnh đó, lực lượng cũng đã tích cực đi sâu vào rừng, phát hiện lượng lớn gỗ được các đối tượng cất giữ, chờ cơ hội để vận chuyển. Hiện, lực lượng kiểm lâm vẫn tiếp tục tăng cường tuần tra, kiểm soát để ngăn chặn các vụ việc phá rừng ở Khánh Vĩnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Khánh Hòa 20/2) đầu trang(
Vụ buôn lậu gỗ trắc “khủng” ở tỉnh Quảng Trị mà TAND thành phố Đà Nẵng sau 2 ngày xét xử 30 và 31/10/2014, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đến ngày 25/1/2016, Viện KSNDTC có cáo trạng. Ngày 16/2, ông Trương Huy Liệu gửi đơn khiếu nại tới bà Nguyễn Thị Cảnh, Chánh tòa hình sự TAND thành phố Đà Nẵng, đề nghị “không chấp nhận cáo trạng”.
Ông Liệu giải thích với phóng viên Tiền Phong, gửi khiếu nại đến bà Cảnh vì bà còn là chủ tọa hội đồng xét xử đã trả cáo trạng cuối năm 2014. Trong lúc, cáo trạng lần này “không có gì mới, khác so với cáo trạng đã bị tòa án trả lại”. Hơn thế, cáo trạng lần này theo ông Liệu, vẫn dựa vào bản giám định “không có giá trị pháp lý” và những “hồ sơ giả mạo”.
Vụ án mở ra cuối năm 2011. Hồi đó, DNTN Ngọc Hưng ở thị trấn Lao Bảo (Hướng Hóa, Quảng Trị) của vợ chồng ông Liệu, mua gỗ trắc từ Lào tại cửa khẩu Lao Bảo, hai ngày sau xuất nguyên lô sang Hồng Kông. Trên đường chở gỗ xuống tàu ở cảng Đà Nẵng, một xe bị kiểm tra, phát hiện có lẫn gỗ giáng hương nên bị giữ lại. Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Bộ Công an.
Ông Liệu liên tục khiếu nại, giải thích rằng, lô gỗ 535,8 m3 đóng trong hàng chục container, chỉ lẫn 23,828 m3 giáng hương “là do gỗ nhỏ, lẫn trong lượng gỗ trắc quá lớn, tôi không phát hiện ra”. Hơn nữa, giá gỗ giáng hương thấp hơn gỗ trắc, nên khi đóng thuế nhập khẩu gỗ trắc là đã đóng thuế cao hơn lẽ ra phải đóng, nên không gây thiệt hại cho nhà nước.
Tuy nhiên, uẩn khúc lớn nhất trong vụ án này là, việc kết tội được căn cứ “Bản kết luận giám định” số 783/STTNSV ngày 26/11/2012 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Bản kết luận giám định này, ông Liệu cũng như nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng “không có giá trị pháp lý”. Bởi vì, theo quy định của pháp luật hiện hành, Viện Sinh thái và Tài nguyên để có đủ tư cách pháp lý giám định, phải được Bộ NN&PTNT đề nghị và “Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc”.
Còn ở đây, Kết luận điều tra bổ sung lần cuối thừa nhận: “Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ NN&PTNT chưa có đề nghị Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc đối với Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật”. Nghĩa là, trong vụ này, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật chưa được giao nhiệm vụ giám định tư pháp, không có tư cách pháp nhân về giám định tư pháp!
Phương pháp giám định cũng sai, đã cân gỗ để quy ra khối lượng. Trong lúc, Thông tư 01, ngày 4/1/2012, của Bộ NN&PTNT quy định: “Chỉ được đo (kể cả đo theo đơn vị ste), không được cân trọng lượng để quy đổi ra khối lượng”. Vì giám định sai nên đưa ra số lượng gỗ “buôn lậu” hoàn toàn khác với thực tế mua bán.
Trong đơn khiếu nại, ông Liệu còn chỉ ra, ông mua gỗ trắc từ Lào theo điều khoản hợp đồng là nhận gỗ tại cửa khẩu Lao Bảo. Ngày 17/12/2011, ông nhận gỗ tại cửa khẩu Lao Bảo, khai báo hải quan và đóng thuế đầy đủ. Thế nhưng, hồ sơ truy tố ông lại căn cứ vào những bộ hồ sơ photo sai sự thật của cửa khẩu phía Lào (đối diện cửa khẩu Lao Bảo) là không đúng quy định của pháp luật.
Cũng như những khiếu nại trước, lần này, ông Liệu vẫn đề nghị làm rõ việc C44 (Bộ Công an) đã bán tang vật vụ án là lô gỗ của ông. Lô gỗ tang vật bị C44 bán vào tháng 1/2014, đang trong quá trình điều tra. Kết luận điều tra cho biết, lô gỗ trên đã được bán với giá 63 tỷ 920 triệu đồng. Ông Liệu khẳng định, theo thời giá, lô gỗ bị bán rẻ khoảng 250 tỷ đồng. (Tiền Phong 22/2) đầu trang(
Ngày 20-2, tại tiểu khu 105a thuộc xã Ma Nới (huyện Ninh Sơn), Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức diễn tập phương án chữa cháy rừng tình huống giả định mùa khô năm 2015 – 2016 quy mô cấp tỉnh.
Tham gia buổi diễn tập có trên 150 người thuộc các lực lượng: Quân sự tỉnh, huyện Ninh Sơn; Phòng Cảnh sát PCCC thuộc Công an tỉnh, công an huyện Ninh Sơn; Đội Kiểm lâm cơ động & PCCCR tỉnh; cán bộ y tế; cán bộ kiểm lâm các Hạt: Ninh Sơn, Bác Ái; lực lượng quản lý BVR thuộc Công ty Lâm nghiệp Ninh Sơn và các đội dân quân tự vệ, nhân dân hai xã Hòa Sơn, Ma Nới.
Tại buỗi diễn tập, lực lượng các đơn vị và nhân dân địa phương đã cùng tham gia chữa cháy 3 đám cháy khác nhau với quy mô đám cháy từ cấp xã đến cấp tỉnh. Với sự chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng của Ban tổ chức, sự tham gia nhiệt tình, nghiêm túc các lực lượng và quần chúng, buỗi diễn tập đã diễn ra thành công, tốt đẹp. Các đám cháy theo tình huống giải định đều được khống chế và dập tắt theo đúng với phương án diễn tập đã đề ra.
Buỗi diễn tập nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm cho cán bộ, công chức, viên chức kiểm lâm, lực lượng BVR của các chủ rừng, các lực lượng công an, quân đội và nhân dân địa phương trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Nâng cao khả năng chỉ đạo, chỉ huy, điều hành chữa cháy rừng của các cấp khi xảy ra cháy rừng, nhằm tổ chức nhanh chóng dập tắt đám cháy, không để xảy ra cháy lớn.
Đồng thời nâng cao khả năng phối hợp giữa các lực lượng và nhân dân địa phương trong việc huy động lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ trong phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Ninh Thuận 20/2) đầu trang(
Tỉnh Đác Nông có hơn 250 nghìn ha rừng và hai khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng (huyện Đác G’Long), Nam Nung (huyện Đác Song) và rừng thông cảnh quan đường Hồ Chí Minh.
ể chủ động phòng, chống cháy rừng trong mùa khô 2015 - 2016, tỉnh Đác Nông đã phê duyệt phương án phòng, chống cháy rừng và chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương, các chủ rừng đầu tư thêm hàng nghìn phương tiện chữa cháy rừng như máy bơm nước, máy quạt gió, cưa lốc, bình CO2… và ký cam kết phòng, chống cháy rừng trên địa bàn.
Cùng với đó, các đơn vị đã xây dựng được gần 170 ha đường băng cản lửa, xây dựng thêm hai chòi canh lửa rừng, tổ chức phát dọn, đốt non thực bì ở những nơi dễ xảy ra cháy… (Nhân Dân 21/2) đầu trang(
UBND huyện Sóc Sơn vừa báo cáo nhanh vụ cháy rừng xảy ra khu vực rừng giáp ranh giữa xã Ngọc Thanh, Phúc Yên (Vĩnh Phúc) và xã Minh Trí, Sóc Sơn (Hà Nội).
Theo đó, vụ cháy xảy ra lúc 1h 45 ngày 15/2/2016, kết thúc vào hồi 7h cùng ngày. Địa điểm xảy ra cháy thuộc diện tích ở xã Ngọc Thanh giáp ranh với rừng phòng hộ môi trường do xã Minh Trí quản lý.
Sau khi phát hiện cháy, huyện Sóc Sơn đã chỉ huy nhanh chóng huy động lực lượng và phương tiện tại chỗ để tham gia chữa cháy nhanh nhất, đảm bảo an toàn. Cụ thể, huy động lực lượng 250 người tham gia chữa cháy và phương tiện để thực hiện công tác chữa cháy rừng.
Qua đánh giá sơ bộ vụ cháy: Điểm cháy bắt đầu từ xã Ngọc Thanh sau đó lan ra kéo dài khoảng 3km giáp với rừng của xã Minh Trí. Cháy rừng xảy ra trong điều kiện khô hanh, gió to trên cấp 5, đám cháy lan nhanh kéo dài nguy cơ cháy sang rừng Minh Trí là rất lớn.
Sau hơn 5 giờ, Ban Chỉ huy Phòng cháy chữa cháy rừng tập trung chỉ đạo và thực hiện đồng bộ các biện pháp chữa cháy đã khống chế dập tắt đám cháy ở vùng giáp ranh giữa xã Ngọc Thanh và Minh Trí, không có thiệt hại về rừng xã Minh Trí. Nguyên nhân cháy do cháy lan từ rừng xã Ngọc Thanh.
Sau khi kết thúc đám cháy, huyện Sóc Sơn đã tổ chức họp rút kinh nghiệm và thống nhất và chỉ đạo một số ngành liên quan thực hiện một số nội dung như: Giao UBND xã Minh Trí tiếp tục phân công người trực, canh gác, tổ chức phát dọn sạch thực bì (cỏ, guột, thảm mục...) đường băng cản lửa không để cháy lan; chủ nhận khoán trực ban, canh gác, tiếp tục thực hiện phòng chống cháy lại, dọn dẹp các tàn lửa còn sót lại.
Đồng thời giao UBND xã Minh Trí, Hạt Kiểm lâm Sóc Sơn làm việc với UBND xã Ngọc Thanh và Hạt Kiểm Lâm Phúc Yên triển khai công tác phối hợp, ngăn chặn các hành vi làm cháy rừng và tham gia chữa cháy khi cháy rừng xảy ra. (Cổng Giao Tiếp Điện Tử Thành Phố Hà Nội 21/2) đầu trang(
Đến nay, huyện U Minh đã nạo vét 90 km kinh, mương tạo điều kiện lưu thông dễ dàng cho việc tuần tra bảo vệ rừng trên toàn lâm phần rừng tràm U Minh Hạ trong mùa khô 2015 – 2016.
Kinh phí đầu tư cho việc nạo vét kinh, mương lên đến hàng tỷ đồng. Đây là hệ thống kinh, mương phục vụ cho công tác tuần tra, quản lý, bảo vệ cho hơn 29.000 ha rừng tràm. Một số tuyến kinh bị thảm thực bì bồi lấp gây khó khăn trong việc lưu thông trước đây, nay cũng đã được khắc phục. Hệ thống kinh, mương này còn có vai trò trữ nước để phục vụ cho việc chữa cháy rừng khi có sự cố xảy ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 21/2) đầu trang(
Ông Đinh Việt Sơn, Phó Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam cho biết, trong dịp Tết vừa qua, các đơn vị trực thuộc Cục đã liên tiếp phát hiện 5 vụ việc liên quan đến buôn lậu, gian lận thương mại, hàng cấm bằng đường hàng không.
Cụ thể, vào ngày 30-1, tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, lực lượng kiểm soát an ninh hàng không đã phối hợp với hải quan Nội Bài phát hiện 180kg ngà voi được vận chuyển từ Kualalumpur Malaysia trên chuyến bay VN680 hạ cánh tại Nội Bài lúc 21h40 ngày 29-1.
Phó Cục trưởng Cục Hàng không cũng cho biết thêm, trong thời gian tới, Cục sẽ tiếp tục theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống vận chuyển, buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực hàng không trong năm 2016. (Giao Thông 22/2) đầu trang(
Đến trưa 22/2, nhiều đám cháy nhỏ lẻ dọc triền núi Minh Đạm thuộc tiểu khu 13, rừng phòng hộ Phước Hải (huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) đã được lực lượng chức năng của tỉnh dập tắt.
Theo lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, từ 15 giờ ngày 20/2 đã xảy ra một số đám cháy nhỏ tại tiểu khu 13 và đã được lực lượng Phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy số 4, kiểm lâm, dân quân, dân phòng, bộ đội đóng trên địa bàn huyện dập tắt.
Tuy nhiên, do nắng hạn kéo dài, lớp cỏ bụi, lá khô có nơi dày hơn 30 cm và nằm giữa các khe đá nên đã xảy ra tình trạng cháy âm ỷ. Đồng thời, do núi Minh Đạm ở sát biển nên gió biển thổi mạnh vào khiến ngọn lửa bùng cháy trở lại. Trong ngày 21 và sáng 22/2, các điểm cháy đã 2 lần phát cháy trở lại. Tại các điểm cháy có địa hình dốc, cao nên rất khó khăn cho lực lượng chữa cháy. Cảnh sát phòng cháy chữa cháy phải kéo khoảng 400 m ống bơm nước tới gần vị trí cháy, sau đó sử dụng các can nhựa để chuyển tới dập lửa.
Chỉ đạo tại hiện trường, ông Lê Tuấn Quốc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu các lực lượng bố trí người, phương tiện tiếp tục ứng trực, sẵn sàng dập lửa nếu phát cháy trở lại.
Ngày 22/2, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã huy động gần 400 người với 7 xe chữa cháy của lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy, một số xe tưới nước và xe chữa cháy của doanh nghiệp cùng nhiều phương tiện với quyết tâm dập tắt hoàn toàn đám cháy. (Tin Tức 22/2; Tuổi Trẻ 22/2; Lao Động 23/2) đầu trang(
Ngày 22/2, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết, hiện mực nước tại các lâm phần rừng tràm trên địa bàn đang rút rất nhanh, có nơi cảnh báo cháy rừng đã lên đến cấp bốn.
Toàn lâm phần rừng tràm Cà Mau có diện tích hơn 43.000ha. Trong đó, đang có hơn 20.300ha được dự báo cháy cấp ba, gần 23.000ha dự báo cháy cấp hai. Đặc biệt, đã có 163ha rừng chuyển từ báo cháy cấp ba lên cấp bốn.
Diện tích rừng khô hạn tập trung chủ yếu tại lâm phần trực thuộc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ, có hơn 13.500ha báo cháy cấp ba và gần 10.000ha báo cháy cấp hai. Phần diện tích trong dự báo cháy cấp bốn thuộc Trung tâm Thực nghiệm LN Tây Nam Bộ (xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời).
Ông Đỗ Văn Đồng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau nhận định, tình hình khô hạn năm nay đến sớm hơn và cao điểm có thể kéo dài hơn năm trước khoảng 1 tháng.
“Nước rút rất nhanh, chỉ sau vài ngày rừng ở mức báo cháy cấp ba đã có thể lên cấp bốn, chúng tôi phải rất sát sao. Các trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác PCCCR đã sẵn sàng… Điều đáng lo ngại nhất hiện nay, nếu hạn hán kéo dài, một số điểm rừng sẽ thiếu nước phục vụ công tác PCCCR”, ông Đồng nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/2) đầu trang(
Mười một năm trước đây, con trăn khi đó mới bé xíu, không rõ “gốc gác” ở đâu, được một công ty sản xuất mì tôm đưa về “dự” lễ động thổ công ty này, sau đó phóng sinh. Hiện con trăn ngày càng to lớn, được người dân "tôn thần tôn thánh", với những câu chuyện đồn đại hãi hùng.
Con trăn bò vào nghĩa địa “định cư”, cả đời chẳng ai cho ăn, nhưng vẫn lớn nhanh như thổi. Dài nửa mét, nặng hàng cân; rồi cả mét, nặng chục cân. Sợ hãi thả trăn, “vận đen” vẫn chưa buông tha người đàn ông bắt trăn phóng sinh. Anh chết tức tưởi khi tự gây tai nạn giao thông cho mình.
Những người tham lam tìm cách bắt trăn sau đó cũng đều gặp những chuyện đen đủi trùng hợp. Người lăn ra ốm. Người đã bán trăn cho cửa hàng “đặc sản”, cũng phải sợ hãi quay lại trả tiền chuộc trăn.
Con trăn từ ấy cứ luẩn quẩn trong khu nghĩa địa thôn Trai Trang (thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), vẫn lớn nhanh như thổi, nay đã dài 3m, nặng 40kg, thường dịp Tết mới “tái xuất giang hồ”.
Đến ngày 25/1/2016 vừa qua, trăn chui vào một ngôi mộ, bị mắc kẹt. Sự việc “kinh thiên động địa” khiến người địa phương phải đập mộ đưa trăn ra ngoài, tôn kính gọi con trăn bằng “cụ”, bảo vệ, thắp hương, sì sụp quỳ lạy làm lễ trước “cụ” trăn.
Sự việc bắt đầu từ khoảng 14h30 ngày 25/1, ông Đỗ Văn Phiêu (54 tuổi, ngụ thôn Trai Trang) phát hiện con trăn đang cố chui vào ngôi mộ tại nghĩa trang. Người đàn ông hốt hoảng rút điện thoại báo tin cho nhiều người dân trong thôn biết. Hàng chục người kéo đến, làm nhiều cách để kéo con trăn ra nhưng bất thành.
Ông Phiêu kể lại: “Tôi là thợ chuyên xây mương, xây cống. Hôm đó tôi đang đi làm gần nghĩa trang, phát hiện có vật gì đó động đậy ở ngôi mộ phía trước. Thấy lạ tôi mới chạy tới xem, thấy con trăn lớn đang chui xuống mộ được nửa thân mình. Tôi đứng đó quan sát một lúc, biết con trăn này đang cố thoát ra nhưng bị mắc kẹt. Tôi không biết làm cách nào để giúp, nên gọi điện cho một số người ở cạnh nghĩa trang hợp lực cùng nhau bàn cách giải cứu”.
Dân làng kéo đến càng lúc càng đông. Anh Nguyễn Bảo Thanh (38 tuổi) vốn khỏe mạnh, được nhiều người đánh giá “có nhiều mưu mẹo”, nên làng cử anh trực tiếp “cứu hộ”.
Anh Thanh kể lại: “Có thể do thời tiết đợt này quá giá rét nên trăn không chịu được ở tổ cũ, phải bò ra ngoài đi tìm nơi trú mới rồi bị mắc kẹt.Tôi biết “cụ” trăn này lâm vào thế “tiến thoái lưỡng nan”, chui sâu vào không được, ra ngoài cũng không xong. Thế là tôi đánh liều vác phần thân sau của trăn kéo ra, nhưng kéo mấy cũng không được”.
Bất lực, người làng tìm chủ ngôi mộ, xin phá phần trên để đưa trăn ra ngoài. Thân nhân người dưới mộ không chịu vì sợ “động mồ động mả”. Đêm hôm đó dân làng che tấm bạ, đắp chăn sưởi ấm cho trăn, có người không ngủ, thức cả đêm ngoài nghĩa trang xem động tĩnh của trăn như thế nào.
Sự việc “dẫm chân tại chỗ” cho đến trưa ngày 26/1. Được sự đồng ý của gia đình chủ ngôi mộ, mọi người thắp hương cầu khấn trước khi phá phần trên ngôi mộ, quyết đưa trăn ra bằng được. Được đưa ra bên ngoài, con trăn khi ấy vẫn không có chút gì tỏ ra yếu sức. Người ta đo đếm, thấy trăn dài gần 3m, nặng gần 40 kg.
Hàng trăm người làng người hào hứng, người tò mò, người thành kính quan sát con trăn, trong khi ông Nguyễn Bảo Hiển (63 tuổi, ngụ thôn Trai Trang, thân nhân người nằm dưới ngôi mộ) xuýt xoa bên mộ bố: “Ngôi mộ mà “cụ” trăn chui vào là của bố đẻ tôi chôn từ năm 1969. Do mộ xây đã lâu, ở dưới nhiều cát, đồng thời phần “cụ” trăn chui xuống là nơi trước đây để bát nhang nên toáng khí”.
Theo ông Hiển: “Khoảng 3h chiều ngày 25/1, cả chục người ở làng báo tin mộ bố tôi bị trăn bò xuống. Nghe điều này tôi liền thốc tháo chạy lên nghĩa trang xem tình hình. Người làng bắt tôi phải phá bỏ phần trên ngôi mộ, nhưng tôi không chịu, hi vọng cứ để “cụ” trăn vậy, biết đâu “cụ” tự bò được ra”.
Ông Hiển than thở tiếp: “Đến trưa hôm sau, dân làng gây sức ép lớn quá, tôi chấp nhận làm lễ, cúng vái xin bố cho mọi người phá mộ. Giấy tiền, vàng mã, trái cây dân làng mang tới rất nhiều, cầu may mắn từ “cụ” trăn. Đến chiều 27/1, gia đình tôi tiếp tục làm lễ và sửa lại nơi an nghỉ của bố”.
Ông nói vẻ buồn rầu: “Phong tục làng tôi từ xưa đến nay, cuối năm không có ai sửa chữa mồ mả, nhưng gia đình chúng tôi vì “cụ” trăn nên phải bất đắc dĩ làm điều này. “Cụ” bỗng nhiên chui vào mồ mả bố tôi, không biết nên buồn hay nên vui; nhưng trước mắt tiền để làm lễ cúng, tiền sửa chữa mộ đã tốn khá nhiều”.
Sau khi giải cứu, mọi người đưa trăn vào nhà tang lễ ở trước nghĩa trang để “hồi sức”. Có người tìm mọi cách giữ ấm cho trăn, có người còn tới cúng vái sì sụp vì cho rằng đó là “trăn thần, trăn thánh”. Thậm chí tối 26/1, một nhóm các bà còn làm lễ, thắp nhang, cúng trái cây mong trăn khỏe mạnh, đồng thời “tạ tội, cầu may” cho gia đình mình.
Người làng sợ “cụ” trăn là có nguyên cớ. Người ta biết con trăn này sinh sống tại nghĩa trang đã lâu, nhưng cứ “lờ” đi. Nghĩa trang này nhiều năm qua không có người hung táng, chỉ có những ngôi mộ cải táng từ lâu, thế nên vắng vẻ, từ ngày có chú trăn đến “định cư” thì lại càng vắng vẻ hơn.
Không ai biết nguồn gốc chú trăn là từ đâu, chỉ biết cách đây 11 năm, một công ty sản xuất mì tôm cách nghĩa địa chừng 15km đặt móng xây dựng xưởng, mang chú trăn khi nhỏ ấy còn nhỏ xíu tới “dự lễ”, sau lễ thả phóng sinh.
Một thanh niên ở thôn Trai Trang sinh năm 1986 khi đó biết chuyện nên táo tợn tìm kiếm, bắt chú trăn đó về nhốt, “vỗ béo” đợi lớn sẽ bán.
Nhưng từ ngày có chú trăn về nhà, tình cờ gia đình anh này gặp nhiều bất trắc, bản thân anh ốm đau quặt quẹo phát sốt phát rét nhiều ngày. Thế là người thanh niên phải thả chú trăn ra khu nghĩa trang gần nhà. Con trăn chỉ luẩn quẩn bò quanh nghĩa trang, không ai cho ăn, vẫn lớn nhanh như thổi.
Đã thả trăn, nhưng vận đen vẫn đeo bám người bắt trăn phóng sinh. Khoảng đầu năm 2015, anh này tự gây tai nạn giao thông cho mình rồi tử vong, để lại hai đứa con nhỏ cùng người vợ trẻ.
Trước đây, một số người mê tín ở địa phương đã gọi con trăn là “cụ”, đến lúc anh thanh niên kia chết một cách đột ngột, người ta có thêm những lời đồn thổi ma mị xung quanh con trăn “vật chết người”.
Người địa phương cho biết chú trăn này bình quân mỗi năm xuất hiện một lần vào dịp giáp Tết Nguyên Đán, còn quanh năm chỉ luẩn quẩn trong các hốc đất, bụi cỏ, chưa khi nào chui vào mộ.
Bà Trần Thị Lượt (68 tuổi) cho rằng: “Tôi ở cạnh nghĩa trang đã lâu, hiện đang giữ chìa khóa của nhà tang lễ nơi “cụ” ở tạm thời. Cả làng này ai cũng bảo vệ, không ai dám giết “cụ”. Nhiều lời đồn đại rằng “cụ” tai ương, nhưng “cụ” hiền lắm, không tấn công ai bao giờ.
Năm ngoái, vào 30 Tết âm lịch, “cụ” xuất hiện ở nghĩa trang, có anh thanh niên SN 1976 bắt được, anh ta còn hôn, chụp ảnh “cụ” rồi thả ra. Theo quan sát của tôi, so với năm ngoái thì năm nay “cụ” to hơn rất nhiều, đẹp hơn”.
Bà lão cũng cho rằng: ““Cụ” hiền vậy nhưng rất “thiêng”, tôi đã chứng kiến bốn trường hợp có người bắt “cụ” đi với ý định bán hoặc làm thịt nhưng không thành”.
Bà lão liệt kê ra một số trường hợp phải “trả giá” vì định bắt “cụ trăn” như sau: Ngoài người thanh niên đã nói ở trên, trường hợp thứ hai là một thanh niên người làng Tân Lập (xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ) đi đánh cá, bắt được “cụ” ở gần miếu Thiên Đế.
Người này định mang đi bán nhưng ngay đêm hôm đó anh ta bất ngờ lăn ra ốm, phải nhang khói sì sụp quỳ lạy thả trăn đi.
Ở làng Trai Trang, theo bà lão, có hai trường hợp đi chăn vịt, bắt được “cụ”, và sau đó cũng có những hành động bất thường, phải thả trăn.
Trường hợp thứ năm bắt trăn hôm trước, hôm sau cả nhà ốm, không ăn không thở được, phải ôm trăn ra nghĩa địa, về nhà đi cúng lễ mới khỏi.
Rồi năm 2013, cặp vợ chồng ở làng Hào Xuyên (xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ) đi đánh cá bắt được “cụ”, đã bán cho nhà hàng 700 nghìn định “xẻ thụ”. Thế nhưng không hiểu sao chỉ hôm sau vợ chồng này quay lại nhà hàng mua lại “cụ” rồi đem ra nghĩa trang thả. Cho đến khi xảy ra cái chết của người đàn ông vào đầu năm 2015, chẳng ai còn dám có ý nghĩ “mạo phạm” nữa.
Ông Nguyễn Trần Sơn (Trưởng thôn Trai Trang) nói cụ thể hơn: “Nhiều người nói đó là dòng trăn gấm. Nghe thông tin, tôi đã báo sự việc lên Chủ tịch UBND thị trấn. Có một số người dân vì mê tín xem đó là “trăn thần” nên mang vàng mã, nhang ra cúng vái. Biết được điều này nên chúng tôi đã có mặt để giữ gìn an ninh trật tự, đồng thời khuyên mọi người bình tĩnh giải quyết”.
Hỏi chuyện thông tin người bắt trăn gặp “vận đen” mất mạng có đúng hay không, vị trưởng thôn cho hay chuyện này khó có thể kiểm chứng.
Ông chỉ có thể nói trên địa bàn thị trấn Yên Mỹ không có người dân nào nuôi, buôn bán động vật hoang dã, nên khó có chuyện con trăn bị sổng chuồng ra nghĩa trang, mà “khả năng con trăn này trú ngụ ở đây khá lâu rồi. Còn việc con trăn này từng có người bắt được định mổ thịt hoặc bán nhưng đều gặp bất trắc phải thả lại, tôi cũng có nghe. Đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên”.
Thạc sỹ Nguyễn Thế Anh (Trung tâm truyền thông Pháp luật Việt Nam) cho hay: Trăn cộc, trăn đất, trăn gấm thuộc Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm II B được quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
Theo đó, đối với loài động vật này, Nhà nước nghiêm cấm người dân: Săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi nhốt, giết mổ, vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu. Nhà nước chỉ cho phép khai thác loài trăn vì mục đích nghiên cứu khoa học (kể cả để tạo nguồn giống ban đầu phục vụ nuôi sinh sản), quan hệ hợp tác quốc tế.
“Theo Điều 21 Nghị định 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thì người có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt, giết, lấy dẫn xuất từ trăn gấm sẽ bị tịch thu tang vật vi phạm, đồng thời bị phạt tiền từ 500 ngàn đồng đến 500 triệu đồng tùy theo giá trị tang vật”. (Pháp Luật Việt Nam 23/2) đầu trang(
Những ngày sau Tết, cái rét vẫn chưa thôi quấn lấy tấm voan xanh xám núi rừng Đông Giang (Quảng Nam), hoang sơ gió. Gặp lại các anh - những người canh giữ cho rừng bình yên trong những ngày Tết nơi miền biên ải của núi rừng Đông Giang (Quảng Nam) sau “hai năm” tay bắt mặt mừng xiết bao.
Năm nào cũng vậy, những ngày đón Tết cổ truyền của dân tộc, cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn (thôn Phú Son, xã Ba, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) lại bận rộn, vất vả khi phải túc trực 24/24 giờ trong rừng sâu để quản lý, bảo vệ rừng. Tiết trời của rừng già vẫn lạnh buốt, những người làm nhiệm vụ giữ rừng ở Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn vẫn miệt mài canh giữ những tấc rừng, để rừng được bình yên trong dịp Tết Bính Thân vừa qua.
Có mặt tại Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn chừng 8 giờ sáng, cái lạnh và khí ẩm của miền biên ải vẫn u ám bám vào thân. “Ở đây tiết trời lạnh lắm, không như dưới xuôi các cậu đâu, ban ngày còn đỡ, về đêm mới thấm thía hơn nữa kia” - anh Hồ Văn Minh - Giám đốc Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn nói với tôi.
Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn được giao quản lý và bảo vệ  25580.04 ha rừng trên địa bàn 9 xã: Tà Lu, Sông Kôn, Jơ Ngây, A Tin, xã Ba, xã Tư, Za Hung, Cà Dăng (Đông Giang) và xã Đại Hưng (Đại Lộc). “Tình trạng dân di cư tự do lấn chiếm rừng làm nương rẫy trong hàng chục năm qua đã gây áp lực lớn cho công tác giữ rừng của chúng tôi. Rừng ở đây lại giáp ranh với các địa bàn sâu với nhiều đường đi xuyên rừng, nhất là về mùa khô, vì thế lâm tặc dễ dàng xâm nhập vào rừng để lấn chiếm đất, khai thác lâm sản” - anh Hồ Văn Minh - Giám đốc Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn nói thêm.
Hiện nay, để quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao, Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn đã bố trí bốn trạm bảo vệ rừng, thành lập thêm các đội tuần tra bảo vệ cơ động với số lượng hàng chục người để bảo vệ rừng. “Với địa thế trạm đóng biệt lập, xa trung tâm, nên ngoài nhiệm vụ giữ rừng, cánh đàn ông chúng tôi còn kiêm luôn nội trợ, đi chợ, giặt giũ. Để chủ động thực phẩm, ngoài mua dự trữ, các anh em trong trạm còn trồng thêm rau xanh, nuôi gà, câu cá dưới hồ để cải thiện bữa ăn” - anh Minh kể.
Trong bữa cơm trưa đạm bạc, các anh em trong trạm vui vẻ ôn lại chuyện nghề. Anh Trương Cara Den, Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng số 1 (Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn), có thâm niên hơn 6 năm giữ rừng chia sẻ về công tác tuần rừng những ngày Tết: “Do người dân thường xuyên lợi dụng dịp Tết để phá rừng, nên năm nào tôi cũng tình nguyện cùng anh em giữ rừng. Vẫn biết là Tết vắng nhà, vợ con cũng buồn nhưng đã chọn nghề này rồi thì phải tận tâm làm việc”.
“Mọi người vẫn thường gọi đùa chúng tôi là “anh quần đùi”, giống như loài vạc “ăn đêm”, vì thường phải lội sông, lội suối làm nhiệm vụ. Những ngày giá rét, anh em phải nằm mình trong rừng sâu, suốt đêm để canh gác, bởi đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển gỗ về xuôi. Có những chuyến đi tuần tra dài ngày lên tận miền biên ải, giáp ranh giữa Đông Giang và Nam Giang, cách Trạm đóng chân hàng chục cây số. Đoạn nào có sông, có suối thì chèo ghe; gặp những đoạn khô, dốc thì vác ghe cuốc bộ” - anh Trương Cara Den hồn hậu nói.
Anh Trương Cara Den còn cho biết thêm nghề này cũng rất nguy hiểm, bởi các đối tượng phá rừng rất manh động. Tết năm 2012, trong một lần đi tuần trong hoẻn sâu phát hiện nhóm lâm tặc đang phá rừng lấy gỗ, anh Trương Cara Den cùng các anh em trong đội đã tổ chức bắt giữ. Song, do lực lượng mỏng nên các anh bị lâm tặc tẩu tán.
Trao đổi với chúng tôi, ông Hồ Văn Minh - Giám đốc Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn cho hay: “Hiện Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn có nhiệm vụ chủ động phối hợp với lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ rừng; triển khai nhiều đợt truy quét, phá dỡ và đốt cháy hàng chục láng trại, thu, phá hủy nhiều dụng cụ khai thác gỗ, khoáng sản trái phép, đẩy đuổi lâm tặc ra khỏi rừng; mới đây Ban quản lý Rừng Phòng hộ cũng đã tịch thu 25m3 các loại gỗ chuyển cho cơ quan chức năng xử lý; thực hiện tốt công tác dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, với tổng diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng là 18.070,24 ha, trong đó có 166 hộ nhận khoán15.144,39 ha, tự quản lý bảo vệ 1.928,28 ha, dự án CarBi 997,62 ha/09 nhóm hộ; vận động nhân dân trồng và chăm sóc rừng đúng thời vụ, kịp tiến độ, đảm bảo số lượng và chất lượng kế hoạch hàng năm; thực hiện tốt công tác dân quân tự vệ, an ninh chính trị, vệ sinh môi trường tại địa phương”.
Cũng theo ông Hồ Văn Minh, những ngày Tết Bính Thân, Ban quản lý chúng tôi thường tổ chức lực lượng trực 24/24 giờ, chốt chặn ở những điểm nóng thường xảy ra hiện tượng phá rừng, có kế hoạch bồi dưỡng, động viên và hỗ trợ xăng xe tuần rừng cho anh em.
Mùa mưa thì chống chặt phá, vận chuyển gỗ rừng, mùa hè phải đặc biệt kiêm thêm phòng chống cháy rừng. Trong quá trình làm nhiệm vụ, không ít người gặp nạn dưới đôi ba lần, không vì người hại thì cũng do rủi ro khách quan như bị rắn độc cắn, vắt đeo, côn trùng có nọc độc chích hút...
Hay không ít trường hợp bị thương trong lúc tham gia chữa cháy rừng. Dù âm thầm, nhẫn nại với mong muốn đem lại sự bình yên trọn vẹn, song cuộc chiến giữ rừng, bảo vệ tài nguyên rừng, đa dạng sinh học vẫn còn là thách thức đối với những chiến sỹ giữ rừng của Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn này. (Tài Nguyên Và Môi Trường 22/2) đầu trang(
Chiều 22/2, Zing.vn đã liên hệ văn phòng CITES Việt Nam, cơ quan hướng dẫn và giám sát các hoạt động nuôi thú hoang dã, và được lãnh đạo ở đây trả lời rằng Vinpearl Safari Phú Quốc chưa hề được cấp phép nhập khẩu tê giác.
Thông tin này được ông Vương Tiến Mạnh, phó giám đốc CITES, khẳng định trong trả lời Zing.vn chiều 22/2. “Phú Quốc safari chưa hề được cấp phép nhập khẩu tê giác, dù bên này có ý định”, ông Mạnh nói. Ông cho biết “việc này còn phụ thuộc vào đối tác bạn (phía Nam Phi)”.
Hiện chưa rõ là số tê giác mà safari ở Phú Quốc có được là từ nguồn nào. Trước đó, một số bức ảnh mà phía safari cung cấp có hình ảnh của tê giác đi lại trong vườn thú.
Theo ông Mạnh, các tê giác có thể là do safari Phú Quốc “mượn, trao đổi từ số tê giác có sẵn, ở các vườn thú trong nước đã được cấp phép từ trước.”
Về số lượng thú của safari, bà Hà Thị Tuyết Nga, Giám đốc CITES cho biết, tổng số cấp phép của Phú Quốc safari chưa tới 500 con. Với con số này, bà Nga cho rằng con số ông Peter Dickinson, một chuyên gia về sở thú, nói safari Phú Quốc có tới 700 thú chết là không chính xác.
“Tổng số cấp phép chưa tới 500 con, làm sao số thú chết lên tới 700 con được,” bà Nga nói vớiZing.vn.
Bà Nga cũng cho biết, hiện CITES đang đợi báo cáo của các cơ quan địa phương và doanh nghiệp về tình trạng thú nhập khẩu tại safari Phú Quốc.
Ông Mạnh thì cung cấp thông tin trước đó, từ trước Tết Nguyên đán, CITES cũng đã có văn bản yêu cầu Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang và safari Phú Quốc báo cáo về tình trạng thú được nhập về, và tỷ lệ chết, nhưng vẫn chưa có trả lời.
Về con số cụ thể từng loài hiện chưa có số liệu chính xác và CITES hiện đang tổng hợp số liệu. Dự kiến khoảng 1-2 ngày tới cơ quan này sẽ có số liệu chính xác về từng loài thú tại safari. Theo công bố hôm khai trương, safari Phú Quốc có tới 3.000 cá thể thú.
Trao đổi với Zing.vn cũng trong chiều nay, 22/2, ông Trương Thanh Hào, Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang cho biết, ngày 23/2 chi cục sẽ cử đoàn vào làm việc với Hạt Kiểm lâm Phú Quốc và Safari Phú Quốc về tình hình nuôi, nhốt động vật tại safari, làm rõ con số những con thú đã chết.
Ông Hào cũng khẳng định đã có số cá thể động vật tại Safari chết theo như báo cáo đến hết 31/12/2015. Tuy nhiên ông Hào không nhớ được trong báo cáo nêu bao nhiêu cá thể đã chết và cho biết đang yêu cầu kiểm tra, tổng hợp vì số liệu ở mỗi thời điểm có sai lệch khác nhau.
Cùng ngày, một lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NNPTNT cũng xác nhận con số hơn 100 cá thể chết. Ông cho biết Tổng cục đang chờ báo cáo của Kiên Giang và doanh nghiệp về tình hình này. Riêng với việc nhập khẩu động vật do CITES quản lý, phía CITES sẽ có tổng hợp báo cáo.
Lãnh đạo này cho biết thêm tình hình nuôi nhốt được đánh giá là tốt. Tuy nhiên, cơ quan này chưa có kế hoạch kiểm tra tại safari này vì không được vào. Đây là nơi của doanh nghiệp nuôi nên vào không dễ, phải có kế hoạch. Vì vậy, việc quản lý phân cấp trách nhiệm cho địa phương, cụ thể là Sở NN&PTNT cùng Chi cục Kiểm lâm Kiên Giang chịu trách nhiệm. (Zing News 22/2) đầu trang(
TS. Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường - Trưởng đoàn Việt Nam vừa tham dự Hội nghị Đa dạng sinh học các nước ASEAN lần thứ 2. Sự kiện này do Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN (ACB) phối hợp với Chính phủ Hoàng gia, các nước thành viên ASEAN tổ chức tại Thái Lan.
Thay mặt cho đoàn Việt nam, TS. Nguyễn Thế Đồng đã có bài phát biểu chào mừng tại Lễ giới thiệu cuốn sách “Viễn cảnh đa dạng sinh học của ASEAN”. Bên cạnh đó, đoàn Việt Nam còn đóng góp các bài tham luận cho hội nghị về các nội dung tài chính bền vững cho bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam; đồng chủ trì triển khai thành công 4 phiên họp và thảo luận về chủ đề “Tiếp cận dựa vào hệ sinh thái (EbA) nhằm quản lý hiệu quả đa dạng sinh học”, đồng thời, chia sẻ kinh nghiệm về bối cảnh áp dụng EbA tại Việt Nam.
Tại Hội nghị, trên 500 đại biểu đến từ các nước thành viên ASEAN, tổ chức quốc tế, các nhà khoa học trên thế giới đã trao đổi về triển vọng giải quyết các vấn đề đa dạng sinh học trong khu vực ASEAN; thảo luận lộ trình sắp tới về Chương trình Nghị sự Đa dạng sinh học ASEAN trong bối cảnh thực hiện Mục tiêu Đa dạng sinh học 2010 nhằm giảm tốc độ suy thoái đa dạng sinh học.
Trong 5 ngày làm việc (từ 15 – 19/2/2016), đã diễn ra các phiên họp chuyên đề về các vấn đề cơ bản của bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm: tiến độ đạt được mục tiêu đa dạng sinh học Aichi; tiếp cận dựa vào hệ sinh thái; tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích; kinh doanh và đa dạng sinh học; sức khỏe và đa dạng sinh học; biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học… (Tài Nguyên Và Môi Trường 22/2) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Vùng đất U Minh Hạ từ xưa đã nổi tiếng giàu sản vật, nhưng đời sống kinh tế địa phương vẫn mãi trong cái vòng lẩn quẩn là vùng trũng nghèo. Bởi sản vật mang nhiều giá trị đặc trưng địa phương hơn là kinh tế, còn đời sống người dân bao đời vẫn gắn liền dưới tán tràm – loại cây một năm chẳng sinh lợi bao nhiêu.
Bước ngoặt kinh tế của địa phương bắt đầu khi cây keo lai được phép trồng vào những năm 2009. Hiệu quả kinh tế đã rõ nhưng người dân vẫn rất lo lắng keo lai rất có thể lại rơi vào vòng lẩn quẩn “được mùa mất giá” giống như nhiều sản phẩm nông nghiệp khác.
Năm 2009, tỉnh Cà Mau được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép bổ sung thêm cây keo lai trồng trong vùng rừng sản xuất lâm phần rừng tràm. Ngay sau đó, một số doanh nghiệp trên địa bàn đã thuê đất cùng một số hộ gia đình trên lâm phần đi đầu trồng keo lai, nhằm rút ngắn chu kỳ thu hoạch và tăng hiệu quả kinh tế.
Theo thống kê, năm 2014, diện tích keo lai của vùng U Minh Hạ vào khoảng 4.000 ha thì đến nay đã tăng lên khoảng 6.600 ha. Giá trị mỗi héc-ta keo lai mang lại cao gấp nhiều lần và lấn át hẳn cây tràm. Khoảng thời gian để trồng keo lai chỉ 4-5 năm sẽ cho thu hoạch, mỗi héc-ta cho sản lượng khoảng 200-250 m3 gỗ. Giá bán 1.000 đồng/kg, kèm theo phụ phẩm (cành, nhánh bán 500 đồng/kg) bình quân mỗi héc-ta cho tổng thu khoảng 200 triệu đồng.
Ông Huỳnh Ngọc Cung, Trưởng ấp Vồ Dơi, huyện Trần Văn Thời cho biết, địa phương có 863 ha, thì có đến hơn 130 ha đất canh tác bị nhiễm phèn nặng dẫn đến chỉ canh tác 1 vụ lúa nhưng hiệu quả không cao. Chỉ 1/3 diện tích ở đây là có thể canh tác lúa 2 vụ. Do đó, cây keo lai đang là niềm hy vọng mới của bà con. Tại ấp 15, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, khoảng hai năm nay, diện tích keo lai tăng từng ngày. Đến nay, diện tích trồng keo thâm canh của địa phương đã hơn 50 ha.
Trước đây gia đình anh Quách Văn Hải chỉ trồng keo lai quanh vườn nhà. Đến năm 2010, khi có chủ trương cho triển khai, gia đình anh đã thu hoạch nhanh hơn 2 ha rừng tràm truyền thống, đưa cơ giới vào lên liếp trồng keo lai. Sau năm năm, diện tích keo lai giờ đã cho thu hoạch với nguồn thu gần nửa tỷ đồng, sau khi trừ chi phí vẫn còn lãi khoảng 300 triệu đồng.
Toàn lâm phần U Minh Hạ hiện có trên 70.000 ha; trong đó diện tích có rừng trên 38.000 ha, tập trung ở ba huyện U Minh, Thới Bình và Trần Văn Thời với trên 5.000 hộ dân đang sinh sống dưới tán rừng. Việc đưa cây keo lai vào danh mục cây trồng chính trên đất rừng vùng U Minh Hạ tạo nên đột phá mới trong vấn đề sản xuất rừng kinh tế, góp phần quan trọng xóa nghèo địa phương.
Ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cà Mau cho biết, loại cây này không chỉ rút ngắn chu kỳ kinh doanh, trồng rừng, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao mà còn góp phần cân bằng, làm phong phú thêm nguồn tài nguyên rừng U Minh Hạ. Thời gian tới, Cà Mau sẽ phát triển trồng keo lai ở những vùng thích hợp trên lâm phần rừng tràm gắn với chế biến lâm sản xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho bà con địa phương.
Cà Mau vừa công bố quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020. Theo đó, địa phương sẽ giữ ổn định diện tích là 114.305 ha, đất rừng đặc dụng 24.905 ha, đất rừng phòng hộ 27.196 ha, đất rừng sản xuất 62.204 ha. Vùng U Minh Hạ sẽ phát triển trồng rừng thâm canh từ 18.000-20.000 ha; trong đó keo lai, keo lá tràm chiếm khoảng 60%.
Thực tế tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ và một số hộ dân đi đầu đã chứng minh, trồng keo lai lợi nhuận gấp khoảng bốn lần tràm quảng canh, hơn hai lần tràm thâm canh. Cây keo lai đang là định hướng thoát nghèo của miệt rừng U Minh hạ, giúp cư dân nhận đất trồng rừng và giữ rừng sống được với rừng, có cuộc sống ổn định hơn.
Tuy số lượng keo lai tại địa phương đã tăng mạnh, nhưng chủ yếu là mới trồng, chưa đến chu kỳ khai thác. Trong khi đó, thương lái các tỉnh đang đổ xô xuống thu mua, dẫn đến cung không đủ cầu. Một bộ phận người dân đến kỳ thu hoạch thì vui mừng vì được giá, người có keo lai chưa đến tuổi khai thác thì tiếc rẻ. Nhiều người không trồng vì thiếu vốn đầu tư thì chỉ biết ngậm ngùi.
Ông Nguyễn Văn Liêu, Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phích, cho biết, giá trị của cây keo lai đã được khẳng định. Đây là loại cây rất dễ trồng, ai cũng muốn tham gia. Địa phương cũng khuyến khích trồng để thay đổi diện mạo kinh tế địa phương thiếu vốn đang là bài toán khó phải giải.
“Để đầu tư trồng mỗi héc-ta keo lai mất khoảng 35-40 triệu đồng. Trong đó, tiền kê liếp đã chiếm hơn phân nửa, còn lại là tiền giống cùng công trồng trọt... Khi được trồng keo lai thay thế tràm vào rừng sản xuất, gia đình không có tiền để lên liếp hết toàn bộ diện tích nên chỉ cải tạo bờ bao xung quanh để trồng thử, nhưng vừa qua đã cho thu hoạch hơn 30 triệu đồng. Trong khi đó, với toàn bộ diện tích còn lại của hơn 2 ha tràm thì cao lắm cũng chỉ cho thu nhập khoảng 40 triệu đồng”, ông Lâm Văn Đoàn, ngụ huyện Trần Văn Thời chia sẻ.
Dù thấy được hiệu quả từ cây keo lai là rất lớn, nhưng gia đình ông Đoàn cũng như nhiều hộ dân nơi đây cố gắng lắm vẫn chỉ chuyển đổi một phần. Nếu đầu tư cải tạo cho 2,5 ha đất cũng phải tốn từ 60– 70 triệu đồng, nhưng đa phần người dân ở đây đều thuộc diện nghèo thì đó là số tiền quá lớn. Nếu không có sự giúp sức từ các ngành chức năng thì người dân khó lòng nắm bắt được cơ hội để thoát nghèo.
Trong khi đó, một số hộ dân đã đầu tư trồng thì lại lo lắng, không biết đến khi thu hoạch giá có còn được như hiện nay, hay lại rơi vào cảnh “được mùa mất giá” như những nông sản khác.
“Gia đình tôi trồng gần 10ha keo lai đã được hai năm nay, hiện keo phát triển rất tốt, dự tính đến năm thứ tư đã có thể thu hoạch. Điều tôi sợ nhất bây giờ là mô hình đang phát triển mạnh, người dân ai nấy đều tranh thủ trồng đến lúc đó giá lại giảm. Thời gian trồng cây lại tính bằng năm, không ai biết trước được những biến động của thị trường sẽ như thế nào, tới đó đôi khi lại không bán được như củ gừng, cây mía… thì nông dân như tôi không biết tính sao”, ông Nguyễn Hoàng Tia, ngụ huyện U Minh lo ngại.
Ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ cho biết Công ty sẽ triển khai trong dân trồng rừng thâm canh đại trà, nhằm nâng cao giá trị kinh tế lâm nghiệp, mặt khác còn là giải pháp tốt để phòng chống cháy rừng. Công ty sẽ kết hợp với các ngân hàng hỗ trợ bà con có vốn tái trồng rừng theo phương pháp thâm canh.
Một số chuyên gia kinh tế nhận xét, sở dĩ người dân sống dưới tán rừng còn nghèo là vì bấy lâu nay cơ chế quản lý còn chồng chéo, chưa phân định rõ ràng giữa rừng bảo tồn và rừng kinh tế dẫn đến việc thiếu hỗ trợ, đầu tư. Hệ lụy là cả một vùng đất rừng rộng lớn chỉ mới dừng lại ở mức tiềm năng, còn người dân nơi đây thì cứ loay hoay để tìm sinh kế.
Giờ đây, người dân dưới tán rừng U Minh Hạ đã có hướng đi, hy vọng các ngành chức năng liên quan có sự đầu tư, hỗ trợ hợp lý cùng cơ chế tạo đầu ra ổn định thì người dân nơi đây mới có cơ hội vươn lên thoát nghèo bền vững. (Tin Môi Trường 20/2) đầu trang(
Sáng 22-2 (tức ngày 15 tháng Giêng), đồng bào dân tộc Dao, ở xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tổ chức Lễ cúng rừng, trồng cây đầu Xuân.
Đây là lễ hội truyền thống, đồng thời là nét đẹp văn hóa nhằm khuyến khích bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường sinh thái “xanh - sạch - đẹp”, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống, cầu mong mùa màng tươi tốt, bội thu của đồng bào ở Lào Cai.
Trong lễ cúng rừng, đồng bào tỏa ra khu rừng cấm của thôn Đông Căm, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai để trồng cây đầu Xuân, cầu mong “thần rừng” chứng giám lòng thành, góp sức trồng cây, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, giữ gìn môi trường sinh thái ở địa phương. Mọi người trồng các cây bản địa như: kháo, kè, ba soi, mỡ, mít rừng…, đây là những loài cây có giá trị kinh tế, phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng ở địa phương, tỷ lệ cây sống rất cao.
Trước đó, thầy tế Triệu Hữu Phấu, dân tộc Dao, là người cao tuổi, có uy tín trong cộng đồng đã thực hiện nghi thức tế lễ thần rừng, tại gốc cây đa to lớn ở khu rừng cấm Đông Căm, cầu mong sức khỏe cho mọi người, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu.
Sinh sống gắn bó với rừng từ nghìn đời nay, mỗi độ Xuân về, đồng bào dân tộc Dao ở đây lại tri ân rừng bằng lễ “song nam”, “nào sồng” hay “nhặn sồng” (lễ cúng rừng) độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa bản địa, nhằm giáo dục con, cháu không ngừng bảo vệ, phát triển rừng; xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc gắn với bảo vệ môi trường sống trong lành, bền vững. (Nhân Dân 22/2) đầu trang(
Đó là khẳng định của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải về tình hình trồng rừng thay thế tại các dự án thuỷ điện hiện nay.
Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 62/2013/NQ-QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội về tăng cường quản lý công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 2046/QĐ-BCT ngày 10 tháng 3 năm 2014 về việc ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương triển khai Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.
Trong đó giao Cục Điều tiết điện lực thực hiện rà soát, chưa cấp hoặc thu hồi giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phát điện đối với những dự án đã hoàn thành phần xây dựng nhưng chưa thực thiện đủ các quy định phát luật hiện hành về quản lý chất lượng công trình, an toàn đập, trồng rừng thay thế, quy trình vận hành hồ chứa, dịch vụ môi trường rừng, các yêu cầu về môi trường.
Cục Điều tiết điện lực đã phối hợp, đôn đốc các đơn vị là chủ đầu tư nhà máy thủy điện thực hiện nghĩa vụ trồng bù rừng thay thế, chi trả dịch vụ môi trường rừng trong năm 2015, cụ thể như sau:
Công tác trồng rừng thay thế đối với các dự án thủy điện có sử dụng đất rừng chuyển đổi: Khi có đề nghị của UBND các tỉnh về phối hợp chỉ đạo các đơn vị thủy điện thực hiện nghĩa vụ trồng bù rừng thay thế.
Cục Điều tiết điện lực đã có các văn bản yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc về nghĩa vụ trồng bù rừng, cụ thể văn bản đến một số đơn vị như: Công ty cổ phần Thủy điện Cao nguyên Sông Đà 7, Công ty cổ phần Thủy điện Đăk Mê, Công ty cổ phần Thủy điện Miền Nam, Công ty cổ phần Thủy điện Trung nam Krông Nô, Công ty cổ phần Điện Bảo Tân.
Sau khi nhận được văn bản đôn đốc của Bộ Công Thương, các đơn vị thủy điện đều nghiêm túc triển khai việc thực hiện quy định của pháp luật về trồng bù rừng thay thế.
Đối với các dự án thủy điện có sử dụng đất rừng chuyển đổi và chuẩn bị đi vào vận hành thương mại, Cục Điều tiết điện lực yêu cầu phải xây dựng các phương án trồng bù rừng trình UBND tỉnh phê duyệt và bổ sung tài liệu có liên quan đến việc thực hiện trồng bù rừng trước khi cấp giấy phép hoạt động điện lực.
Phối hợp chỉ đạo với các cơ quan có thẩm quyền và văn bản đôn đốc của Cục Điều tiết điện lực, tình hình thực hiện quy định về trồng bù rừng của các dự án thủy điện tại các địa phương có nhiều tiến triển rõ rệt, các dự án thủy điện đều đã và đang thực hiện nghiêm túc theo quy định.
Công tác thực hiện nghĩa vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng: Cục Điều tiết điện lực thường xuyên phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Tổng cục Lâm nghiệp), Quỹ bảo vệ và phát triển rừng để cập nhật thông tin, rà soát tình hình thực hiện quy định về dịch vụ môi trường rừng của các đơn vị thủy điện để phối hợp đôn đốc thực hiện.
Trong năm 2015, Cục Điều tiết điện lực đã có nhiều văn bản gửi các nhà máy thủy điện còn nợ tiền dịch vụ môi trường rừng.
Qua báo cáo của các đơn vị, phần lớn các đơn vị đều có đã triển khai thực hiện nộp phí dịch vụ môi trường rừng khi có đôn đốc của Bộ Công Thương. Các đơn vị còn nợ một phần tiền dịch vụ môi trường rừng đều có cam kết sẽ thực hiện việc nộp phí trong thời gian tới, một số đơn vị đã làm việc với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng để có tiến độ thực hiện việc nộp phí.
Trong quá trình thẩm định hồ sơ cấp giấy phép hoạt động điện lực cho các nhà máy thủy điện, Cục Điều tiết điện lực đều yêu cầu các đơn vị phải có Hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng và tài liệu, chứng từ chứng minh việc thực hiện tiền nộp phí dịch vụ môi trường rừng.
Sau khi có văn bản đôn đốc các nhà máy thủy điện, qua báo cáo của các đơn vị cho thấy đa số các nhà máy thủy điện thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về nộp phí dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, vẫn còn một số đơn vị chưa thực hiện đầy đủ với lý do khó khăn về tài chính. Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để đôn đốc các đơn vị thực hiện nộp phí dịch vụ môi trường rừng theo quy định.
Ngay sau khi đoàn công tác của tỉnh Bình Thuận kiểm tra đột xuất, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân đã có văn bản số 134/NĐVT-AT ngày 26 tháng 1 năm 2016 gửi UBND tỉnh Bình Thuận báo cáo tình hình môi trường tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, trong đó có nêu rõ nguyên nhân, tình trạng và các hành động kịp thời để kiểm soát đảm bảo môi trường hoạt động bãi thải xỉ.
Năm 2015, Bộ Công Thương đã nhiều lần kiểm tra thực tế, có văn bản yêu cầu Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân thực hiện các giải pháp trước mắt và lâu dài đảm bảo các yêu cầu về môi trường theo quy định.
Các dự án tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân đều được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, chủ đầu tư các dự án phải có trách nhiệm thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường giai đoạn xây dựng cũng như quá trình vận hành, đáp ứng các thông số được phê duyệt. Các trường hợp vi phạm cần phải được xem xét, làm rõ trách nhiệm và xử lý theo quy định.
Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường, tránh ảnh hưởng đến môi trường và cư dân khu vực. (Lao Động 22/2) đầu trang(
Trường Sĩ quan Lục quân 1 vừa tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” – Xuân Bính Thân 2016.
Ngay sau lễ phát động, cán bộ giảng viên, học biên nhà trường đã trồng hàng nghìn cây xanh trong khuôn viên đơn vị. Thời quan qua, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã tham gia hàng ngàn ngày công lao động, trồng hàng vạn cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây bóng mát, cùng hàng chục nghìn mét vuông thảm cỏ các loại... góp phần xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp. (Quân Đội Nhân Dân 22/2) đầu trang(
Năm 2016, tỉnh Tuyên Quang có kế hoạch trồng mới 10.500ha rừng, trong đó có 9.900ha rừng sản xuất, số còn lại là rừng đặc dụng và rừng cây phân tán.
Theo Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang, toàn tỉnh có 5.352ha diện tích đất trống, đất rừng đã khai thác nằm trong kế hoạch trồng rừng vụ xuân. Người dân đang thu dọn thực bì và tiến hành cuốc hố trồng cây. Các vườn ươm cây giống cơ bản được bảo đảm cả về số lượng và chất lượng.
Để đảm bảo chất lượng cây giống khi xuất vườn, Chi cục Kiểm lâm đã cử cán bộ kiểm tra bộ cây giống theo chuỗi hành trình do Bộ NN-PTNT quy định, từ khâu đóng bầu, gieo hạt đến quá trình chăm sóc. Đồng thời yêu cầu các vườn ươm cam kết cây giống phải đạt tiêu chuẩn 30 cm, đường kính 0,3 cm mới được phép xuất vườn để đưa lên rừng trồng... (Nông Nghiệp Việt Nam 22/2) đầu trang(
Chiều 20/2, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thành Phong đã tham dự và phát động Lễ trồng cây tại Công viên Bia Rạch Chiếc (phường An Phú, quận 2).
Trước đó, các cơ sở Đoàn thuộc ĐH Giao thông Vận tải TP HCM và Đoàn khối ngành Giao thông vận tải TP HCM cũng đã tham gia trồng 10.000 cây xanh dọc theo tuyến đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây.
Dịp này, các trường học tại TP HCM, như Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trường THCS Trần Văn Ơn (Quận 1)… cũng triển khai thực hiện mô hình vườn rau sạch trong khuôn viên trường để các em học sinh trồng và tự tay chăm sóc, thu hoạch. Qua đó, giúp các em biết trân trọng, yêu lao động và có thêm bài học thực hành bổ ích. (Đại Đoàn Kết 22/2) đầu trang(
Nhằm hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016, huyện Pác nặm đã chủ động chuẩn bị 700.000 cây giống cho vụ trồng rừng mới.
Trong đó, mỡ là trên 300.000 cây, lát hoa là 250.000 cây, còn lại là xoan ta và keo úc. Để đảm bảo chất lượng cây giống, hiện nay, các vườn ươm trên địa bàn huyện Pác nặm đang tiến hành  chăm sóc, kiểm tra sự sinh trưởng và phát triển của cây thường xuyên.
Theo đánh giá của ngành chuyên môn, hầu hết cây giống tại  vườn ươm đều đang sinh trưởng và phát triển tốt, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng  phục vụ kịp thời cho công tác trồng rừng của các xã trên địa bàn huyện trong năm 2016. Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 22/2) đầu trang(
Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…
Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất, rừng tốt tạo ra đất tốt và ngược lại đất tốt lại nuôi rừng tốt... Ngoài chức năng và vai trò trên, rừng đặc dụng Hoa Lư-Vân Long còn có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, bảo vệ cảnh quan môi trường, phục vụ cho phát triển du lịch của tỉnh.
Đồng chí Lê Sỹ Dương, phó Phòng quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên (chi cục Kiểm lâm) cho biết: Để quản lý, phát triển rừng đặc dụng theo hướng bền vững, mới đây UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch phát triển rừng đặc dụng Hoa Lư-Vân Long đến năm 2020.
Theo đó thì khu rừng Văn hóa, Lịch sử, Môi trường Hoa Lư có tổng diện tích là 2.859,4 ha được chia làm 2 phân khu: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt diện tích 669,5 ha, chiếm 23,4%; nằm trong địa bàn xã Trường Yên 113,8 ha, Ninh Hải 443,2 ha, Ninh Xuân 112,5 ha.
Phân khu phục hồi sinh thái và tham quan du lịch diện tích 2.189,9 ha, chiếm 76,6%; nằm trong địa bàn xã Ninh Vân 69 ha, Ninh Xuân 286,7 ha, Ninh Hòa 125 ha, Ninh Nhất 79 ha, Trường Yên 801,6 ha, Ninh Hải 828,6 ha. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long có tổng diện tích 2.736 ha được chia làm 3 phân khu.
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái và các loài sinh vật sống trong đó có loài Vooc quần đùi trắng; diện tích quy hoạch là 1.270,6 ha, chiếm 46,4% trong đó có tới 99,6% là rừng tự nhiên.
Phân khu phục hồi sinh thái được quản lý cùng với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để bảo tồn và kết hợp tham quan, du lịch; tổng diện tích phân khu 1.463,4 ha, chiếm 53,4% trong đó có khoảng 50,5% là rừng tự nhiên. Phân khu hành chính, diện tích 2 ha là nơi làm việc, nghiên cứu, thực nghiệm, sinh hoạt của Ban quản lý rừng.
Đồng chí Bùi Công Chính, Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư-Vân Long cho biết: Nội dung của quy hoạch không chỉ đề cập đến công tác bảo vệ rừng  với việc khoán bảo vệ rừng; tuần tra phát hiện ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác trái phép lâm sản, săn bắt động vật hoang dã; phòng, chống cháy rừng; nghiên cứu khoa học; phát triển du lịch trong các khu rừng; phát triển vùng đệm cho từng khu vực; xây dựng cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị; đào tạo nguồn nhân lực...mà còn có công việc trồng rừng và cải tạo rừng.
Việc trồng rừng được thực hiện chủ yếu ở phân khu phục hồi sinh thái trên vùng đất trống khoảng 15 ha và vùng  đất bán ngập (20 ha) thuộc khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.
Cây trồng phải có phẩm chất tốt, cao từ 0,8-1,2m với các giống cây: Lát, Lim xanh...mật độ 1.000 cây/ha ở vùng đất trống;  trồng cây Tràm, mật độ 6.000 cây/ha ở vùng đất bán ngập. Thực hiện trồng rừng vào mùa xuân, tổ chức chăm sóc trong 4 năm với việc ký kết hợp đồng trồng, chăm sóc, bảo vệ với nhân dân địa phương.
Ban quản lý khu bảo tồn chịu trách nhiệm thu hái hạt giống, chăm sóc cây con, hướng dẫn kỹ thuật trồng, kiểm tra nghiệm thu rừng và nâng cấp cải tạo vườn ươm cây giống tại thôn Tập Ninh, xã gia Vân.
Việc cải tạo rừng được thực hiện cả ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (48 ha) và rừng Văn hóa- Lịch sử- Môi trường Hoa Lư (12,2 ha) với trước đó được trồng chủ yếu là cây Keo. Sử dụng các giống cây bản địa như: Sưa, Lim xanh, Lát...phù hợp với vị trí, địa hình, cảnh quan chung trong khu vực để thay thế cây Keo.
Điều tra chi tiết đến từng lô rừng, có kế hoạch và thiết kế cải tạo cho từng lô (Cây chặt đi, cây để lại, số cây trồng bổ sung...). Tiến hành chặt bỏ những cây sinh trưởng phát triển kém, cây rỗng ruột, cây gãy đổ; giữ lại những cây có thân hình đẹp, sinh trưởng tốt; khi cây bản địa thay thế đã khép tán thì cải tạo tiếp các cây đã giữ lại. (Báo Ninh Bình 20/2) đầu trang(
Trong năm 2015, xuất khẩu của ngành gỗ cả nước đạt 6,9 tỷ USD. Năm 2016 được xem là “khúc cua” quan trọng cho ngành gỗ trong việc chinh phục cột mốc 10 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới.
Trước khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) có hiệu lực, ngành gỗ cả nước đã chịu áp lực lớn khi các tập đoàn của Malaysia, Thái Lan… đang từng bước chinh phục thị trường nội địa. Tập đoàn Index Interfurn (Thái Lan) đã mở siêu thị bán lẻ đồ gỗ đầu tiên tại TP.Hồ Chí Minh với diện tích trên 7.000m2, theo mô hình nhượng quyền.
Sắp tới, tập đoàn này dự kiến sẽ cho ra đời 5 chuỗi siêu thị gỗ tại TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng. Tập trung vào thị trường gỗ tại Việt Nam của người Thái cho thấy tham vọng của họ muốn giành thị phần ngay trên sân nhà của Việt Nam.
Lãnh đạo Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.Hồ Chí Minh (HAWA), nhận định trong lĩnh vực đồ gỗ, Thái Lan và Malaysia là hai nước có nhiều lợi thế thâm nhập sâu rộng thị trường Việt Nam, bởi hiện tại nhiều doanh nghiệp (DN) của hai nước này đang có nhà máy sản xuất tại nước ta.
Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển quốc tế giảm cũng là lợi thế cho Thái Lan và Malaysia chinh phục thị trường trong nước. Trong khi đó hiện nay, đại đa số DN chế biến gỗ của nước ta là DN vừa và nhỏ, chiếm đến 97% tổng số DN nếu dựa vào tiêu chí nguồn lao động và vốn. Các DN này còn thiếu công nghệ, năng lực cạnh tranh và tiếp cận thị trường.
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore), công bố báo cáo cho thấy có tới 76% DN Việt Nam không biết gì về AEC và 94% DN không nắm bắt được thông tin về “Biểu đánh giá AEC”… Chính vì thế, có tới 63% DN trong nước cho rằng AEC không có ảnh hưởng gì hoặc ảnh hưởng rất ít đến việc sản xuất, kinh doanh của họ. Đây là một nhận thức rất sai lầm về chiến lược hội nhập lâu dài của nền kinh tế nước ta đối với khối AEC.
Theo tính toán của các chuyên gia, trong thời gian tới bình quân mỗi năm ngành gỗ cần khoảng 40 triệu m3, nhu cầu nhập khẩu gỗ nguyên liệu sẽ khoảng 20 triệu m3 mỗi năm. Hiện tại, nhiều DN xuất khẩu gỗ của Bình Dương nhập nguồn nguyên liệu từ Mỹ, sau đó cho tái xuất sang Mỹ. Đây là một lựa chọn sáng suốt, bởi nhập nguồn nguyên liệu từ nước này bảo đảm tính hợp pháp về nguồn gốc gỗ, Mỹ cũng chính là thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam.
Tuy nhiên, về lâu dài đây chưa phải là cách thức an toàn, do nguồn nguyên liệu chiếm tới 70% giá trị của đồ gỗ. Vì thế, việc tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ chính là cách tốt nhất để giúp DN giảm bớt chi phí, đủ sức cạnh tranh với DN các quốc gia khác.
Nghiên cứu của các chuyên gia cho thấy hiện có tới 80% sản phẩm gỗ tại Việt Nam làm từ gỗ cao su tham gia thị trường xuất khẩu vào Liên minh châu Âu (EU). Trong khi đó, dự kiến tới năm 2030, nguồn gỗ cao su trong nước mới chỉ cung ứng khoảng 6 triệu m3 gỗ nguyên liệu.
Chính vì vậy, trồng thêm cao su làm nguyên liệu đối với tỉnh Bình Dương cũng là một phương án hữu hiệu giúp các DN an tâm về nguồn nguyên liệu trong chiến lược dài hơi của ngành gỗ tỉnh nhà. Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, cây cao su trồng trên đất rừng sẽ được coi là rừng cao su.
Còn theo quy định của EU, gỗ rừng phải tuân thủ theo quy trình gỗ hợp pháp, phải có giấy phép của cơ quan chức năng, kèm theo các giấy tờ khác như quyền sử dụng đất, giấy phép đầu tư trồng rừng…
Đại diện Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) cho biết hiện nay, đa số DN đều quen ứng xử cây cao su là cây công nghiệp, chứ không phải cây lâm nghiệp nên việc khai khác diễn ra hết sức tùy tiện. Sắp tới, gỗ cao su được đưa vào Định nghĩa gỗ hợp pháp và hệ thống bảo đảm tính hợp pháp của gỗ.
Các cơ quan chức năng cần sớm có những bước đi thích hợp, “cởi trói” cho cây cao su để giúp các địa phương chuyên canh cây cao su giải quyết bài toán vừa bảo đảm đầu ra cho người trồng rừng, vừa bảo đảm nguồn nguyên liệu cho các DN tỉnh nhà sản xuất. (Báo Bình Dương 22/2) đầu trang(
Tạo mọi điều kiện để cho người dân các xã miền núi huyện Quế Phong giảm nghèo, thoát nghèo là bài toán mà nhiều năm nay lãnh đạo tỉnh Nghệ An luôn đau đáu.
Mang đất sản xuất, giao đất, giao rừng cho người dân trực tiếp quản lý, sản xuất, vừa giúp người dân có thu nhập về kinh tế vừa giúp giữ rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng được xem là lời giải cho nút thắt thoát nghèo của người dân miền núi huyện Quế Phong.
Huyện Quế Phong đã thực hiện triệt để chính sách giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp đối với cá nhân, tổ chức sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP, ngày 16/11/1999 của Chính phủ. UBND huyện Quế Phong đã giao hàng nghìn hecta đất lâm nghiệp cho từng hộ gia đình tại địa phương để họ có thể sản xuất, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển kinh tế.
Riêng tại địa bàn xã Nậm Giải (huyện Quế Phong) hầu hết mỗi hộ gia đình được giao bình quân trên dưới 12 ha, thời hạn là 50 năm. Tìm hiểu của PV cho thấy, các hộ gia đình tại xã Nậm Giải sau khi được giao đất rừng cũng đã được chính quyền sở tại làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng có một “làn sóng ngầm” đang diễn ra ở đây.
Đó là xuất hiện một nhóm người tìm đến từng gia đình được giao đất rừng đặt vấn đề thu mua phần đất mà các gia đình được giao với giá bình quân từ gần 10 triệu đồng đến 40 triệu đồng/ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tùy theo diện tích lớn nhỏ.
Nhiều gia đình thấy tiền liền bán trao tay, đưa giấy chứng nhận cho người mua. Có được ít tiền, họ tổ chức ăn uống, mua sắm vật dụng gia đình chỉ được hơn một tháng là hết. Đất sản xuất, trồng rừng không còn đồng nghĩa với cơ hội thoát nghèo cũng khép dần trước mắt họ.
Ông Lương Văn Hồng (nguyên Trưởng bản Mờ, xã Nậm Giải) cho biết, sau khi hàng chục hộ dân trong bản được nhà nước giao đất rừng để bảo vệ và sản xuất thì diễn ra tình trạng có nhóm người vào từng hộ dân được giao rừng để vận động, mua lại đất rừng mà họ được giao. Đến nay đã có hàng trăm hecta rừng nhà nước giao cho dân nhằm mục đích phát triển kinh tế rơi vào tay những người không đúng đối tượng.
Về hiện tượng mua bán đất rừng, ông Sầm Văn Thành - Chủ tịch UBND xã Nậm Giải khẳng định có hiện tượng này và có dấu hiệu đầu cơ để trục lợi. Cụ thể, người được giao bảo vệ phát triển rừng sẽ được nhận khoản tiền trợ cấp khoanh nuôi, bảo vệ, sản xuất rừng theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện.
Khi tiền trợ cấp này được thực hiện, được chi trả cho người dân thì những chủ đầu nậu thu gom rừng lại được hưởng. Người dân địa phương chỉ đứng danh nghĩa nhận và ký xác nhận nhận khoản tiền trợ cấp chi trả môi trường rừng, còn tiền thì họ phải trả cho những người đã mua.
Hơn nữa, tại xã Nậm Giải có dự án phát triển thủy điện cho nên việc mua gom đất rừng cũng là để “hứng” tiền đền bù từ dự án. Thực tế, có người thu gom đất rừng đã đòi chủ dự án thủy điện phải đền bù tới hơn 100.000 đồng/m2 đất rừng để làm nhà điều hành dự án thủy điện. (Gia Đình Và Xã Hội 22/2) đầu trang(
Bị UBND xã tự tiện lấy đất giao cho những hộ khác sử dụng khiến gia đình ông Sơn bị gián đoạn quá trình sử dụng đất, ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này dẫn đến việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài của gia đình ông Sơn khi Nhà nước thu hồi đất sau này.
Như PLVN đã đưa tin trong Nghệ An: Dân "trắng tay" sau gần 20 năm nhận khoán đất rừng , ngày 22/01/1995, ông Sơn ký “Khế ước giao khoán đất rừng tự nhiên, có thảm thực vật cần bảo vệ thuộc rừng phòng hộ” số 49 KU/UB với UBND huyện Quỳnh Lưu đại diện là Hạt trưởng Nguyễn Xuân Chất). Theo nội dung Khế ước này, ông Sơn được Nhà nước giao khoán tổng diện tích là 145 ha với thời hạn giao đất là 50 năm để sử dụng vào mục đích xây dựng rừng phòng hộ.
Ngày 16/5/2003, UBND tỉnh Nghệ An đã có Quyết định số 1805/QĐ-UBND, theo đó quyết định chuyển đổi một số diện tích đất lâm nghiệp sang đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có phần diện tích đất rừng của gia đình ông Sơn.
Triển khai thực hiện quyết định trên, tháng 10 và tháng 12 năm 2003, UBND xã Tân Thắng đã lấy toàn bộ diện tích đất rừng thuộc trong phạm vi chuyển đổi của gia đình ông Sơn đang quản lý, sử dụng (khoảng 20ha) để giao cho 2 xóm (xóm 26/3 và xóm 2/9) thầu khai hoang sản xuất trồng dứa với thời hạn là 05 năm mà không có bất cứ một văn bản thu hồi đất nào.
“Việc UBND xã Tân Thắng lấy một phần diện tích đất của gia đình ông Sơn giao cho cá nhân khác sản xuất nông nghiệp là hành vi vi phạm quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự giao đất cho hộ gia đình khác quản lý sử dụng đất đồng thời vi phạm cam kết giữa các bên tại Khế ước đã giao kết bởi tại Điều 21, Luật đất đai năm 1993 đã quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”- luật sư Nguyễn Hoàng Việt – Công ty Luật TNHH Đông Hà Nội cho biết.
Tiếp lời, luật sư Việt cho biết: Để giao đất cho hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng thì trước hết, cơ quan có thẩm quyền (UBND tỉnh Nghệ An và UBND huyện Quỳnh Lưu) phải thu hồi đất đã giao cho gia đình ông Sơn quản lý, sử dụng. Do đó, việc UBND huyện và UBND tỉnh chưa có Quyết định thu hồi đất mà chỉ có Quyết định về việc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng UBND xã Tân Thắng đã tự ý lấy đất do gia đình ông Sơn đang quản lý, sử dụng để giao cho các hộ gia đình khác trồng dứa là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, tại Điều 15 Nghị định 02/CP đã quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất lâm nghiệp (người được giao đất lâm nghiệp) thì gia đình ông Sơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích đất lâm nghiệp được giao; Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất lâm nghiệp được giao theo luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án quản lý, dự án đầu tư hoặc theo khế ước, theo hợp đồng khoán; Được đền bù, bồi hoàn thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất lâm nghiệp được giao theo thời giá thị trường và hiện trạng của rừng, đất trồng rừng trong trường hợp bị thu hồi theo qui định của pháp luật..
Như vậy, gia đình ông Sơn được Nhà nước giao đất rừng và được bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp trên diện tích đất lâm nghiệp được giao. Theo quy định trên thì chỉ khi Nhà nước thu hồi đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác theo quy định của pháp luật hoặc khi người được giao đất chết mà không có người thừa kế hoặc khi khế ước không thực hiện được do có sự kiện bất khả kháng thì khế ước giao đất giữa Nhà nước với người được giao mới bị hủy bỏ.
Trong trường hợp này, UBND tỉnh Nghệ An mới chỉ ban hành chính sách về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng rừng sang đất nông nghiệp tại Quyết định 1805 chứ chưa có quyết định về việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Điều này có nghĩa là Khế ước về việc giao đất rừng của gia đình ông Sơn vẫn còn hiệu lực. Do đó, UBND xã Tân Thắng không được quyền lấy đất của gia đình ông Sơn để giao cho người khác được quản lý, sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Việc việc UBND xã tự ý lấy đất do gia đình ông Sơn đang quản lý, sử dụng giao cho các hộ khác theo hình thức nhận thầu để sản xuất nông nghiệp trong thời hạn 05 năm vừa trái với quy định của pháp luật và vi phạm các thỏa thuận tại Khế ước.
Sau một thời gian dài gia đình ông Sơn có đơn thư khiếu nại, đề nghị các cơ quan chức năng giải quyết thì đến ngày 4/8/2010, UBND huyện Quỳnh Lưu có Quyết định số 2026/QĐ trả lời cho người dân bị mất đất rừng là: “...UBND xã Tân Thắng thu hồi đất là trái với Quyết định 1805/QĐ.UBND ngày 16/5/2003 của UBND tỉnh Nghệ An” (Quyết định 1805 là Quyết định về việc cho phép chuyển đất rừng kém hiệu quả sang đất sản xuất cây ngắn ngày như dứa, ngô, khoai… ).
Vì vậy, sau khi kết thúc thời hạn 05 năm cho các hộ khác sử dụng, UBND xã Tân Thắng đã sửa sai bằng cách trả lại toàn bộ số đất đã thu hồi cho người dân.
Tuy nhiên, chính từ việc tùy tiện lấy và giao đất trái pháp luật của UBND xã Tân Thắng đã làm gián đoạn quá trình sử dụng đất của gia đình ông Sơn, ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xâm phạm nghiêm trọng quyền – lợi ích hợp pháp của công dân và dẫn đến việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài khi Nhà nước thu hồi đất sau này.
Đây là các sai phạm cần được làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức và cần có biện pháp xử lý nghiêm để không xảy ra các vụ việc tương tự góp phần vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất đồng thời đảm bảo các chính sách của nhà nước được thực thi đúng pháp luật. (Pháp Luật Việt Nam 22/2) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Khu rừng thuộc vùng sông Mekong ở Thái Lan đã trở thành trận địa trong cuộc chiến của lực lượng kiểm lâm cứu những cây gỗ trắc quý hiếm khỏi tay lâm tặc.
Trong một buổi sáng sớm yên bình, tiếng giày của lực lượng kiểm lâm sột soạt vang vọng cả khu rừng ở vườn quốc gia Ta Phraya, phía Đông Thái Lan.
Họ là những kiểm lâm đang tham gia khóa học chiến thuật chống lâm tặc. Họ được đào tạo bởi Hasadi, đội kiểm lâm ưu tú được hình thành vào tháng 6/2015 với nhiệm vụ là ngăn chặn việc gỗ trắc bị những tên lâm tặc đưa tới bờ vực tuyệt chủng. Các nhà bảo tồn cảnh báo rằng với tỉ lệ khai thác trái phép tăng 850% trong những năm gần đây, gỗ trắc có thể bị tuyệt chủng trong vòng một thập kỷ.
Trong cuộc chiến chống lại nạn khai thác gỗ trắc lậu, lực lượng kiểm lâm được đào tạo kỹ càng về kỹ năng tự vệ, tuần tra, bắt giữ, rà soát, sử dụng vũ khí, xem bản đồ GPS và phân biệt các thiết bị nổ.
Những cây trắc lớn trong rừng được bảo vệ đã trở thành nguyên nhân khiến các nhóm lâm tặc ngày càng liều lĩnh, sẵn sàng nổ súng để có thêm những thớ gỗ máu đầy giá trị. Kiểm lâm Piroon Pilaphop kể lại: “Bọn chúng không quan tâm chúng tôi là kiểm lâm, nếu phải đối mặt và có vũ khí trong tay thì chúng sẽ lập tức khai hỏa mà không cảnh báo”.
Hiện tại số lâm tặc đã vượt qua cả lực lượng kiểm lâm. Trong rừng sâu những khúc gỗ trắc phải vận chuyển thủ công do vậy, Booncherd Jaroensuk, lãnh đạo của vườn quốc gia Ta Phraya cho biết: “Nếu muốn có 60 khúc gỗ thì chúng phải mang theo 60 người bởi vì mỗi người chịu trách nhiệm vận chuyển một khúc gỗ. Chúng còn dẫn theo cả hoa tiêu và những đối tượng canh gác”.
Theo Cơ quan Điều tra Môi trường (EIA), ngành buôn bán sinh lời phạm pháp này đã thu 1,2 tỉ USD gỗ trắc xuất khẩu sang Trung Quốc từ năm 2000 cho tới 2014. Gỗ trắc được bán với giá 200 baht (5,1 USD) một kg ngay tại rừng và khi về đến các chợ đầu mối của Trung Quốc thì đạt mức giá 42,6 USD/kg. EIA báo cáo rằng một chiếc giường bằng gỗ trắc có giá 1 triệu USD tại Thượng Hải năm 2011.
Gỗ trắc được liệt kê vào danh sách thuộc Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites) năm 2013. Tuy nhiên theo một thành viên cấp cao tại EIA thì vấn đề lớn nhất hiện nay để bảo tồn loại gỗ này là nhu cầu tiêu thụ, nếu người ta không còn sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để mua thì sẽ không còn những tên lâm tặc liều mạng để cướp đi loại gỗ quý từ rừng. (Tin Tức 22/2) đầu trang(
Theo trang Sina, 2 con công có thể đã chết vì sốc cuối tuần qua sau khi bị du khách bắt chụp hình và nhổ lông ở Côn Minh, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc.
2 “nạn nhân” nói trên nằm trong số khoảng 6.800 con công trú ngụ tại công viên động vật hoang dã Vân Nam. Một khu vực của công viên này – với hàng trăm con công sinh sống – mở cửa cho du khách tham quan và chụp hình.
Cuối tuần qua, một số hình ảnh xuất hiện trên mạng, trong đó chụp du khách chơi công viên dịp Tết Nguyên đán qua đã “động thủ” mạnh tay với lũ chim. Sau đó, công viên xác nhận 2 con công tử vong.
Dù điều tra chưa kết thúc song giới chức tin rằng chúng từ giã cõi đời vì “hành vi bạo lực” của du khách. Không chỉ nắm chặt lũ chim, những người thiếu ý thức còn nhổ lông chúng.
Cũng như nhiều lần khác, cư dân mạng Trung Quốc lại nổi giận đùng đùng, lên tiếng đòi trừng phạt những du khách “lỡ dại”, thậm chí “trù ẻo” họ chịu chung số phận với 2 con công đáng thương. “Nhổ hết tóc trên đầu cô gái kia đi, từng sợi từng sợi một, coi thử cô ta thấy thế nào” – một dân mạng giận dữ.
Chuyện này không phải mới xảy ra lần đầu ở Côn Minh, nơi đón tiếp hàng ngàn con chim mòng biển từ Siberia bay về trú đông mỗi năm. Vào tháng 12 năm ngoái, dân chúng thành phố này cũng háo hức hơi quá khi chụp hình mòng biển.
Hình ảnh trên mạng cho thấy nhiều người tóm chặt chân chim để ghi lại khoảnh khắc này. Khi bị người khác ngăn cản, một người đàn ông xuê xoa: “Tôi chụp 1 tấm thôi mà, tôi không bắt chúng nữa đâu”. Kết quả là họ bị cư dân mạng “nguyền rủa”, kiểu như “Cầu cho ông ta bị cúm chim” hay “Mấy người đó mới là thú vật thực sự chứ không phải lũ chim”…
Báo The Telegraph (Anh) ngày 22-2 đưa tin một người đàn ông lôi một con cá mập nhỏ lên bờ ở Palm Beach, bang Florida – Mỹ để… chụp hình với nó hồi cuối tuần trước.
Sau khoảng 1 phút, anh ta cùng 1 người khác cố đưa con cá mập – rõ ràng là “mất phương hướng” - trở về biển, theo phóng viên của kênh WPTV. Con cá mập không ngoi lên trong nhiều phút sau đó.
Trước đó, một con cá heo con thiệt mạng vì bị du khách ở Buenos Aires – Argentina lôi lên bờ chụp hình. (Người Lao Động 22/2) đầu trang(
Một loài thực vật có hoa được phát hiện tại Nhật Bản dành phần lớn thời gian sống ẩn mình dưới lòng đất và đánh cắp chất dinh dưỡng từ nấm để tồn tại thay vì quang hợp như các loài thông thường.
Theo New Scientist, trong tháng 10/2015, giáo sư Suetsugu Kenji tại Đại học Kobe phát hiện loài thực vật chưa được ghi nhận trước đây khi khảo sát rừng thường xanh trên đảo cận nhiệt đới Yakushima, Nhật Bản. Sau đó, Kenji tiến hành kiểm tra và phân tích chi tiết đặc điểm hình thái của cây.
Trong nghiên cứu công bố trên tạp chí Thực vật học Nhật Bản ngày 20/2, loài thực vật có hoa mới mang tên Sciaphila yakushimensis, đặt theo nơi phát hiện ra nó là đảo Yakushima. Ban đầu, các nhà khoa học nhầm Sciaphila yakushimensis với một loài khác tên Sciaphila japonica. Sau khi phân tích tổng thể, họ rút ra kết luận chúng là hai loài hoàn toàn khác nhau.
Sciaphila yakushimensis có thân dài 3 - 9 cm và chỉ xuất hiện trên mặt đất khi cây ra hoa. Trong quá trình bung nở, những bông hoa hình sao màu tím được đẩy nhú lên khỏi mặt đất. Mỗi cây có từ 9 - 15 bông hoa.
Loài thực vật này không quang hợp và lấy lượng cacbon cần thiết từ vật ký sinh là nấm. Theo đó, cây sẽ hút chất dinh dưỡng từ sợi rễ nấm ở gần nó và hấp thụ vào bên trong thân cây thông qua những rễ cây nhiều lông. Đây là trường hợp cực hiếm gặp mà các nhà khoa học gọi là thực vật dị dưỡng cộng sinh nấm (mycoheterotrophs).
Theo Kenji, Sciaphila yakushimensis tiến hóa theo lối sống ký sinh nhằm thích nghi với môi trường sống dưới tán rừng, nơi ánh sáng Mặt Trời rọi tới nền đất rất ít, không đủ để cây tiến hành quang hợp. Việc phát triển dưới lòng đất còn giúp cây giảm nguy cơ trở thành mục tiêu của động vật ăn cỏ.
Phát hiện góp phần tái khẳng định giá trị sinh thái của rừng thường xanh đất thấp trên đảo Yakushima. Kenji cho biết ông chỉ tìm thấy hai khoảnh nhỏ Sciaphila yakushimensis đang phát triển nên liệt kê loài cây này vào nhóm "cực kỳ nguy cấp". (VnExpress 22/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang