Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 22 tháng 11 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Quỹ Môi trường toàn cầu đã chấp thuận tài trợ cho Hội liên hiệp phụ nữ phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang thực hiện dự án “Tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân nghèo ven vịnh từ nguồn lợi rong mơ để tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học vùng đệm khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”, kể từ tháng 1/2016.
Dự án có mức đầu tư gần 1,3 tỷ đồng, với mục tiêu xây dựng mô hình cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua hoạt động quản lý, khai thác hợp lý nguồn lợi rong mơ trong vùng đệm Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, góp phần sử dụng lâu dài nguồn lợi rong mơ, cải thiện một phần sinh kế cho các nhóm phụ nữ thuộc ngư dân nghèo.  Theo đó, Hội liên hiệp phụ nữ phường Vĩnh Nguyên phối hợp cùng Ban quản lý vịnh Nha Trang xây dựng các mô hình phát triển rong mơ tại khu vực Bãi Rạn Hòn Tre có diện tích rong trồng 14,5ha và 9 ha tại mũi Nam Hòn Tre.
Những thành viên tham gia sẽ tuân thủ quy trình trồng, quản lý và khai thác hợp lý nguồn lợi từ rong mơ, đảm bảo thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững loài rong biển này… (Báo Ảnh Dân Tộc Và Miền Núi 20/11) đầu trang(
Nghị định 160/2013 ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, trong Nghị định này quy định trách nhiệm và quyền lợi của tổ chức, cá nhân trong bảo tồn loài thuộc danh mục loài được ưu tiên bảo vệ như sau:
1. Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên có trách nhiệm và quyền lợi:
a) Tuân thủ các quy định tại Điều 29 Luật Đa dạng sinh học và quy định của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học;
b) Điều tra, quan trắc, đánh giá hiện trạng loài được ưu tiên bảo vệ; kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, xác nhận mẫu vật được khai thác tại khu bảo tồn thiên nhiên trong phạm vi quản lý của mình và báo cáo cơ quan quản lý trực tiếp theo quy định của pháp luật;
c) Được hỗ trợ kỹ thuật, trang thiết bị thực hiện các giải pháp bảo tồn loài được ưu tiên bảo vệ tại khu bảo tồn thiên nhiên;
d) Được hỗ trợ tài chính cho hoạt động bảo tồn loài được ưu tiên bảo vệ theo các quy định pháp luật về đa dạng sinh học, bảo vệ và phát triển rừng, thủy sản.
2. Chủ cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học có trách nhiệm và quyền lợi:
a) Tuân thủ các quy định tại Điều 43 Luật Đa dạng sinh học;
b) Đăng ký, khai báo nguồn gốc loài tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Lập hồ sơ theo dõi các cá thể loài được ưu tiên bảo vệ được nuôi, trồng tại cơ sở;
c) Trường hợp có thay đổi số lượng cá thể nuôi, trồng tại cơ sở, trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, chủ cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học phải thông báo cho cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xác nhận;
d) Lập kế hoạch, xây dựng và thực hiện phương án quản lý, bảo vệ và phát triển cá thể loài được ưu tiên bảo vệ tại cơ sở do mình quản lý;
đ) Phối hợp với các cơ quan quản lý, nghiên cứu khoa học có liên quan để thực hiện công tác bảo tồn và phát triển loài tại cơ sở do mình quản lý;
e) Tháng 12 hàng năm, chủ cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình trạng loài thuộc Danh mục loài ưu tiên bảo vệ tại cơ sở;
g) Được Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, các chính sách ưu đãi khác theo quy định của pháp luật;
h) Được cơ quan có thẩm quyền quản lý trực tiếp hỗ trợ nguồn nhân lực, hướng dẫn kỹ thuật bảo tồn các loài được ưu tiên bảo vệ.
3. Các tổ chức, cá nhân khi phát hiện cá thể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bị mất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương hoặc bị bệnh phải thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở cứu hộ nơi gần nhất; các hành vi khai thác, lưu giữ, vận chuyển, trao đổi, mua bán, tặng cho trái phép phải báo cho các cơ quan thực thi pháp luật nơi gần nhất để kịp thời xử lý.
Nhà nước có chính sách khuyến khích, khen thưởng đối với những tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, khai báo các hành vi vi phạm pháp luật về loài được ưu tiên bảo vệ. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/11) đầu trang(
Trải qua biết bao thăng trầm cùng những tán rừng, con nước, họ vẫn bám trụ, bảo vệ “lá phổi xanh” của TP. Đối với họ, đó là hoàn thành mục tiêu noi theo gương Bác Hồ kính yêu. Họ gieo mầm tinh thần học tập ấy dưới từng tấc đất phèn ở nơi xa xôi nhất TPHCM.
Màn đêm phủ xuống rừng phòng hộ. Ghe máy của đội quản lý bảo vệ rừng Lôi Giang (thuộc Xí nghiệp Dịch vụ công cộng, Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ công ích Thanh niên xung phong TPHCM) cập sát mé một nhánh sông. Trên ghe, đội trưởng Vũ Đức Thắng cùng một số anh em ngồi đốt nhang muỗi, uống trà. Đây là nhiệm vụ tuần tra đêm quen thuộc của những người giữ rừng phòng hộ Cần Giờ. Họ gọi nhiệm vụ trên bằng cái tên địa phương thân thuộc: “đi kích đêm”.
Vừa uống trà mọi người vừa chăm chăm quan sát, lắng nghe tiếng động trên sông và trong rừng, đợi thủ phạm chặt phá rừng ra là bắt quả tang ngay. Bỗng nhiên, một ghe lạ chạy ngang. Nghi ngờ trên đó có lâm sản trái phép, các anh lập tức nổ máy, quay đầu đuổi theo. Ghe tuần tra cặp sát ghe lạ, các anh nhanh chóng tiếp cận và kiểm tra.
Anh Thắng nói thời gian này là mùa nước lên, lâm tặc dễ hoạt động nên người giữ rừng tăng cường tuần tra, canh gác. Người phá rừng chực chờ chiều xuống, nước đầy trên những nhánh sông là bắt đầu len lỏi vào chặt cây. Củi chặt ra để sẵn ở mé rừng, đợi đến đêm cho ghe vào chuyển ra ngoài tiêu thụ.
Đội tuần tra thường phục kích ở những nơi thuyền có thể thẩy neo. Có tiếng ghe lạ là các anh rọi đèn pha sáng cả khúc sông. Nói nghe trơn tru thế nhưng có chứng kiến hay đụng đúng chuyện thì gian truân lắm. Khi tiếp cận kiểm tra, có nhiều đối tượng sống chết bảo vệ tài sản nên không ngần ngại quăng cây đước thẳng về hướng các anh. Không ít thành viên trong đội bị thương chảy máu đầu, trầy xước mặt.
Vậy mà cũng có lần các anh bắt trọn 5 - 7 ghe có 20 người chở củi lậu. Gắn bó với “lá phổi xanh” từ năm 1992, giống nhiều thành viên trong đội, anh Thắng tích lũy vô số kinh nghiệm từ những lần kích đêm, tuần tra, canh phòng. “Cuối năm, nhu cầu củi nấu tăng cao nên người ta hay đi ăn trộm trong rừng.
Vì vậy, từ thời điểm này trở đi, các đội, chốt giữ rừng phải đi kích đêm nhiều. Đội Lôi Giang có 30 người chia nhau giữ 20 chốt (hộ gia đình, cá nhân) nằm rải rác, mỗi chốt cách nhau khoảng 3 cây số đường sông. Để công tác tuần tra, trực chốt đạt hiệu quả cao, hai chốt giáp nhau phối hợp khi đi kích đêm. Từ sông lớn, người dân thường quẹo vô rạch gần đó chặt trộm cho dễ vác ra. Được cái, tiếng dao, búa chặt đước có thể vang từ 2 - 3 cây số.
Nước càng ngập thì vang càng xa. Mình cứ theo tiếng động, dấu chân người mà tìm vào. Hoặc khi mình thấy mé bờ trống, in nhiều dấu chân thì tấp vô, lội lên xem ngay”, anh Thắng chia sẻ.
Ngót 31 năm canh rừng phòng hộ, ông Tống Bá Toàn nhớ có lần trong lúc tuần tra đêm, ông và một người đi chung phát hiện cây trong rừng bị giẫm nát. Lần theo dấu vết, ông Toàn thấy hai người đang lén lút đốn cây. Trong tay họ có dao, búa, trong khi ông và đồng đội không một tấc sắt trên tay.
Suy tính tới lui, ông không công khai đối chọi mà cử người cùng đi về đội báo tin, nhờ hỗ trợ. Bằng cánh xử trí thực tế, người vi phạm bị bắt quả tang, chịu phạt. Những lần nước lớn, lâm tặc đưa ghe vào vận chuyển gỗ. Các chốt phải thức canh sáng đêm.
Đúng như lời ông Toàn nói, không chỉ hoạt động tuần tra, canh gác mà cuộc sống của những người giữ rừng nơi đây cũng phụ thuộc vào con nước. Khi nước ròng (nước lên) thì mọi việc thuận lợi hơn mùa nước cạn.
Vào lúc 1 giờ, vợ chồng chị Trương Thị Quý, anh Huỳnh Mộng Anh thức dậy, chuẩn bị đi soi con nha (một loại cua nước lợ, còn gọi là con ba khía). Anh cầm đèn cùng dụng cụ lên ghe, chị ở nhà chuẩn bị nhóm lửa. Soi nha, bắt chem chép, cua… là việc làm thêm hầu như gia đình nào cũng làm kết hợp trong lúc tuần tra. Bơi ghe vào rạch nhỏ, anh Huỳnh Mộng Anh bắt đầu soi đèn vô mấy gốc cây.
Con nha thấy ánh đèn bu vào đấy. Chị Quý kể nếu mỗi gốc cây có 5 - 7 con thì xem như người bắt trúng đậm. Từ ngày 15 - 19 trong tháng, nha mới xuất hiện. Ngày xưa, nha trong rừng phòng hộ bắt mỏi tay không hết. Giờ các gia đình phải đi xa lắm mới mong kiếm được vài ba kilôgam. Soi từ 1 - 5 giờ sáng, anh chị kiếm được nhiều nhất 300.000 đồng.
“Tháng trước gia đình tôi còn chiếc ghe gỗ từ thời ba tôi giữ rừng để lại. Ghe lủng tới đâu, lấy sơn trét vô tới đó. Máy cứ hư hoài. Vừa rồi, chúng tôi được nhận vỏ lãi nên việc đi lại thuận tiện hơn nhiều. Qua tết, nước hạ, chúng tôi lại không biết mần chi thêm”, chị Quý nói.
Hai con đi học, cha bị tai biến nên thu nhập từ cánh rừng không đủ giúp quang gánh trên vai anh chị hết nặng. Anh chị phải tranh thủ làm thêm để tăng thu nhập. Hầu như những gia đình trẻ nhận các chốt rừng đều nối nghiệp cha mẹ. Như chị Quý, từ nhỏ chị đã theo cha bơi xuồng đi tuần tra, canh giữ xuyên đêm. Chị thông thuộc đường đi lối lại trong rừng là bởi thế.
Vợ chồng anh Nguyễn Thanh Xuân, Trần Thị Cẩm cũng vậy. Anh Xuân hay nói vui mình thừa kế “sản nghiệp vô giá” từ cha, đó là công việc canh giữ cánh rừng bạt ngàn. Cha anh vào rừng từ năm 1997, đến năm 2003 thì chuyển giao cho gia đình anh. Hai vợ chồng anh sống trong chốt, gửi con về bà nội. Hàng ngày, hai vợ chồng vừa đi tuần vừa tranh thủ bắt chem chép, ốc.
Mùa nước ròng, ban đêm anh chị đi soi nha như mọi người. Nửa tháng, anh chị mới về thăm con, luân phiên người đi, người ở lại trực chốt. Anh Xuân cho hay trong lúc tuần tra, anh phát hiện người lạ vô rừng rải thuốc hại cá, tôm cho dễ đánh bắt thì anh đuổi ra ngay. Họ thấy rừng có người giữ thì không quay lại lần nào nữa.
Bảo vệ an toàn rừng phòng hộ không chỉ là canh phòng, kích đêm mà còn là giám sát, theo dõi diễn biến rừng. Khi đi tuần, tất cả mọi người luôn để ý cây sâu bệnh, ngã đổ, chết do hiện tượng tự nhiên, rồi về báo cáo cấp trên.
Theo anh Vũ Đức Thắng, khó khăn từ bao năm qua mà người giữ rừng đối mặt là tình trạng thiếu nước ngọt. Cứ qua Tết Nguyên đán thì các chốt phải mua 100.000 đồng/m3 nước. Dùng tiết kiệm lắm thì một năm mỗi chốt xài hết 20m3. Mùa khô, mọi người tắm, giặt nước mặn xong lên bờ xối qua ít nước ngọt. (Sài Gòn Giải Phóng 21/11) đầu trang(
Báo NNVN có bài viết "Rừng tự nhiên Quảng Bình bị tàn phá vô tội vạ, như không có chủ!" phản ánh tình trạng rừng ở tiểu khu 142 (địa phận xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, Quảng Bình) bị lâm tặc đốn hạ. Ngay sau đó, UBND tỉnh Quảng Bình đã rốt ráo chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc.
Theo ông Trần Quang Đảm, Giám đốc Cty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình, ngay sau sự việc xảy ra, Cty đã thành lập đoàn công tác do Phó Giám đốc Cty làm trưởng đoàn thực hiện kiểm tra rừng tại các tiểu khu 142,143 (rừng Hóa Sơn).
Đoàn đã tổ chức kiểm tra khu vực, sử dụng máy định vị GPS để xác định tọa độ và đối chiếu trên bản đồ, đo đếm khối lượng gỗ còn trên hiện trường. Kết quả kiểm tra cho thấy, ngoài số lượng gỗ như đoàn kiểm tra liên ngành do Chi cục Kiểm lâm chủ trì đã phát hiện, đoàn công tác của Cty phát hiện thêm 4 gốc cây bị hạ, trong đó có 3 cây bài lài và 1 cây gội.
Đoàn tiếp tục đi sâu vào hiện trường kiểm tra tại các khoảnh 2, 4 (tiểu khu 143) và phát hiện 14 gốc cây gỗ bị chặt hạ. Trong đó, có 11 cây gội, 3 cây bài lài còn nguyên chưa bị xẻ gỗ. Số gỗ ước tính gần 19 m3.
Cùng với công tác kiểm tra, Cty yêu cầu Giám đốc Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa (thuộc Cty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình) chủ động phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với Hạt Kiểm lâm Minh Hóa, Biên phòng, UBND xã Hóa Sơn và các đơn vị liên quan tổ chức kiểm tra, truy quét, trao đổi thông tin để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng. Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa bố trí lực lượng bảo vệ tang vật tại hiện trường, không để mất mát và khảo sát xây dựng phương án thu hồi số gỗ ở rừng.
Trong cuộc họp xử lý việc phá rừng ở Hóa Sơn do UBND tỉnh tổ chức vào chiều ngày 18/11, ông Trần Quang Đảm đã thẳng thắn: "Để xảy ra việc phá rung có trách nhiệm của lãnh đạo Cty. Chúng tôi rút ra bài học sâu sắc và xin chịu mọi hình thức kỷ luật".
Đề cập đến vấn đề thu hồi số lượng gỗ ở rừng, ông Đảm cũng cho biết sẽ có tờ trình gửi UBND tỉnh đề nghị có sự hỗ trợ linh hoạt cho đơn vị trong việc đưa gỗ ra khỏi rừng. "Làm sao để việc thu hồi gỗ có tác dụng ngăn chặn việc phá rừng", ông Đảm nói thêm.
Sau khi có thông tin, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã vào cuộc nhanh chóng. Đoàn công tác đã kiểm tra thực tế khu vực rừng ở tiểu khu 142 để đánh giá mức độ thiệt hại và ảnh hưởng của việc phá rừng.
Từ đó, làm tốt công tác tham mưu cho UBND tỉnh xử lý vụ việc. Một tổ công tác của lực lượng Kiểm lâm (do Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa làm tổ trưởng) đã tăng cường lên địa bàn xã Hóa Sơn để ổn định tình hình và triển khai các nhiệm vụ khác.
Ông Phạm Hồng Thái - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình cho biết: “Tổ công tác sẽ chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị, chính quyền địa phương cơ sở để ngăn chặn việc phá rừng, vận chuyển lâm sản, truy tìm lượng gỗ lậu đã bị khai thác, điều tra, xác định người vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật".
Qua việc điều tra, vận động, tổ công tác đã phát hiện các ông Đinh Thanh Hơn, Đinh Thanh Thìn (ở thôn Tăng Hóa, xã Hóa Sơn), cất giữ trái phép trên 5m3 gỗ thanh. Ông Thìn khai nhận: "Mấy anh em chúng tôi đã vào rừng tiểu khu 142 dùng cưa xăng khai thác trộm một số cây gỗ lớn sau đó xẻ thành gỗ hộp, gỗ thanh để đưa về cất giấu dự định sửa chữa nhà cửa. Một số gỗ đã được đưa về, nhiều cây gỗ khác còn để nguyên ở trong rừng".
Chi cục Kiểm lâm vùng 2 (Bộ NN-PTNT) cũng đã thành lập đoàn công tác tiến hành kiểm tra xác minh việc khai thác gỗ tại Hóa Sơn. Sau 2 ngày kiểm tra rừng, đoàn đã kết luận só gỗ khai thác ở tiểu khu 142 là 16 cây, thời gian khai thác khác nhau...
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu UBND tỉnh ra quyết định thành lập chốt liên ngành có gác chặn baire trên con đường độc đạo vào ra xã Hóa Sơn để kiểm soát, ngăn chặn việc phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo ông Trần Mạnh Luật - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Minh Hóa: "Lực lượng liên ngành bố trí hoạt động ở chốt đủ mạnh để ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả việc khai thác và vận chuyển lâm sản trên địa bàn Hóa Sơn".
Tại cuộc họp do UBND tỉnh tổ chức chiều ngày 18/11, ông Lê Minh Ngân- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình nghiêm khắc phê bình lãnh đạo đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương huyện Minh Hóa, các cơ quan có liên quan đã lơ là quản lý để dẫn đến việc phá rừng.
UBND tỉnh giao trách nhiệm cho các đơn vị liên quan nhanh chóng ổn định tình hình và ngăn chặn có hiệu quả việc khai thác lâm sản trên địa bàn. "Sau đó sẽ xem xét trách nhiệm của cá nhân, tập thể để xảy ra vụ việc và xử lý nghiêm", ông Ngân nhấn mạnh. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/11) đầu trang(
Ngành văn hóa đã quyết định triển khai dự án điều tra xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc bảo vệ môi trường này.
Cách đây nhiều năm, ngành văn hóa Bình Định nghiêm túc đã đặt ra vấn để bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.Theo đại diện tỉnh Bình Định, di tích thắng cảnh Ghềnh Ráng với một diện tích khá rộng, lại nằm trên một địa bàn phức tạp, nơi thường xuyên xảy ra các vụ xâm phạm cảnh quan môi trường, nên việc bảo vệ môi trường tại đây cũng gặp nhiều khó khăn.
Để triển khai việc bảo vệ môi trường, đơn vị quản lý và khai thác du tích thắng cảnh Ghềnh Ráng đã có sự phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương như lực lượng kiểm lâm, công an, chính quyền địa phương truy quét các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng, khai thác lâm sản, xây dựng trái phép... đồng thời thường xuyên thực hiện báo cáo đánh giá tác động của môi trường đến dự án đầu tư khu du lịch.
Trong những năm qua, công tác giữ gìn môi trường sinh thái, đảm bảo vệ sinh môi trường trong Di tích lịch sử Đền Hùng luôn được Khu di tích lịch sử Đền Hùng quan tâm, chú trọng nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ, giữ gìn môi trường trong di tích luôn sáng - xanh - sạch - đẹp.
Khu di tích thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân trong khu vực Đền Hùng chấp hành các quy định về quản lý, bảo vệ di tích và rừng quốc gia Đền Hùng; đồng thời triển khai ký cam kết với 34 hộ dân đang sinh sống trong khu vực rừng quốc gia Đền Hùng thực hiện công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên và phòng chống cháy rừng.
Để đảm bảo công tác vệ sinh môi trường trước, trong và sau thời gian tổ chức lễ hội, Khu Di tích lịch sử Đền Hùng đã thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường như tổ chức thu gom, vận chuyển rác thải tại các khu vực trong di tích và tập kết đúng nơi quy định, kịp thời vận chuyển đến nơi xử lý đảm bảo cảnh quan, môi trường luôn sạch, đẹp.
Tuy nhiên, đó chỉ là một vài điểm sáng trong công tác bảo vệ môi trường tại các địa phương. Rất nhiều nơi, công tác này chưa được quan tâm đúng mức.
Dự án Điều tra xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia; đã được Bộ VHTTDL triển khai; nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ môi trường trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch nói chung và tại các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia nói riêng; góp phần phát triển du lịch bền vững, cũng như công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa.
Đơn vị điều tra gồm các Sở VHTTDL/Sở Du lịch; Ban Quản lý di tích các tỉnh/thành phố; Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và khu/điểm du lịch quốc gia. Cuộc điều tra được thực hiện trên phạm vi toàn quốc trong hai năm 2016 - 2017. Đối tượng điều tra của Dự án gồm: Khu, điểm du lịch cấp quốc gia, Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, Danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.
Nội dung điều tra tập trung vào đánh giá hiện trạng bảo vệ môi trường đối với các khu di sản thiên nhiên, cảnh quan, nét đẹp thiên nhiên thuộc các khu điểm du lịch, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. (Tin Tức 22/11) đầu trang(
Ngoài hệ sinh thái đa dạng, là lá phổi khổng lồ, tấm ngực ưỡn ra biển lớn, bán đảo Sơn Trà còn là nơi bảo bọc hình ảnh nhận diện của thành phố tại APEC 2017-Nữ hoàng linh trưởng, voọc chà vá chân nâu.
Nhiều chuyên gia quốc tế nói rằng, các nước tiên tiến cần khoảng nửa thế kỷ mới có được một khu bảo tồn nguyên sinh như Sơn Trà. Được thiên nhiên ban tặng, vấn đề còn lại là bảo vệ và khai thác lợi thế nửa thế kỷ đi trước ấy ra sao.
Còn nhớ, năm 2013, một góc núi Sơn Trà bỗng nhiên rầm rập vì máy móc, phương tiện cơ giới kéo vào xây dựng. Một gia đình voọc chà vá chân nâu gồm 7 thành viên trong hành trình phiêu lưu hoang dã của mình đã bị cô lập bên taluy âm của một con đường bê-tông mới mở thần tốc nối từ Nhà Vọng Cảnh lên Bàn Cờ Tiên.
Một cán bộ của Ban Quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch khi đó nói rằng, "chúng đã hoảng loạn và tìm bầy trong tuyệt vọng". Thay vì nhảy nhót cùng bầy đàn trong khu rừng nguyên sinh thì nhiều ngày trời chúng bị chặn đường về vì con đường bê-tông, bị "tấn công" bởi tiếng con người, máy móc, xe cộ.
Mãi đến khi nữ tiến sĩ người Đức Ulrike Simonne Streicher trình ý tưởng xây cầu cây xanh để dẫn voọc trở về, gia đình thú quý này mới được giải cứu. Nhưng cũng từ đó, ngôi nhà rộng lớn của khoảng 400 cá thể voọc chà vá chân nâu bị thu hẹp dần.
Cũng vào thời điểm này, một Cty du lịch bỗng nảy ra "tối kiến" thành lập trường bắn súng sơn, biến một vùng lõi của Núi Khỉ (Monkey Mountain, theo cách gọi của người Mỹ trước đây) thành "trận địa" cho những xạ thủ du lịch. Những bước chạy đánh trận giả với tiếng đì đùng, bèm bẹp của súng sơn khiến không chỉ voọc mà nhiều loài thú quý hiếm nơi đây như khỉ đuôi lợn, trăn gấm, gà tiền mặt đỏ, cu li... một phen lo sợ.
Sau những ngày nháo nhác tháo chạy, chúng thu mình co ro không dám bén mảng tách bầy bay nhảy bằng những vũ điệu hoang dã giữa chốn rừng xanh. Khi thành phố quyết định hủy tour du lịch này, người ta lại tổ chức đi khảo sát, tiền trạm để hình thành một biến thể của nó là tổ chức tour "ngắm voọc"!
May mắn là trong các cuộc "đổ bộ" một cách vồn vã vào Sơn Trà, chính quyền và ngành chức năng thành phố đã lắng nghe ý kiến của các nhà nghiên cứu, các tầng lớp nhân dân để sớm ngăn chặn những nguy cơ biến nơi đây thành khu vui chơi giải trí kiểu "mì ăn liền"!
Nhưng, khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà còn đối mặt với một vấn nạn khác, đó là thế trận liên hoàn từ những chiếc bẫy lạnh lùng của các đối tượng săn bắt trái phép. Những kẻ đi săn còn lập lán, cố thủ trong vùng lõi của Sơn Trà để "truy sát" những con thú có tên trong sách đỏ. Cho đến bây giờ, hình ảnh một nhóm "thợ săn" quê Nghệ An xẻ thịt voọc ngay trong khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà vẫn còn là nỗi ám ảnh với những người làm công tác quản lý, bảo tồn và người dân thành phố...
Rừng Sơn Trà có lẽ là khu rừng dễ bảo vệ nhất vì địa hình không quá phức tạp, với hầu hết các mặt là biển, chỉ có duy nhất một hướng để tiếp cận, như cái cổ chai ở P. Thọ Quang. Thế nhưng trong vòng nửa năm trời, lá phổi này bị "rạch" 2 nhát thô bạo mà cơ quan kiểm lâm và chính quyền cơ sở không hề hay biết.
Để đến nỗi khi đi kiểm tra hiện trường, ông Phùng Tấn Viết lúc đó là Phó Chủ tịch UBND thành phố phải chua chát thốt lên là "quản lý rừng quá hời hợt". Đầu tiên là vào cuối tháng 2-2016, mạng xã hội xuất hiện một video clip quay lại cảnh cây rừng tại Tiểu khu 62, 63 thuộc khu bảo tồn thiên nhiên này bị phá tan hoang bởi các hộ dân nhận đất rừng giao khoán.
Vụ việc lòi ra, khi bị lãnh đạo thành phố truy trách nhiệm thì đại diện Chi cục Kiểm lâm cho rằng lỗi phần lớn là do Hạt Kiểm lâm và chính quyền P. Thọ Quang, Q. Sơn Trà thiếu sâu sát nên mới dẫn đến tình trạng phá rừng trong thời gian dài. Trong khi đó, lãnh đạo địa phương lại cho rằng, chính quyền có một phần trách nhiệm nhưng vụ việc xảy ra không thể không nhắc đến vai trò của Hạt Kiểm lâm. Lãnh đạo Hạt lại "đá bóng" rằng đây là đất rừng đã được giao cho UBND P. Thọ Quang nên việc kiểm tra, quản lý không được thường xuyên. Một khu rừng đặc dụng bị băm nát trong thời gian dài, được phát hiện bởi một người dân, trong khi các cơ quan đùn đẩy trách nhiệm kể ra là chuyện rất nghịch nhĩ.
Chỉ vài tháng sau, cũng từ nguồn tin của quần chúng, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra hiện trường và phát hiện thêm một vụ xâm hại rừng nghiêm trọng. Vị trí rừng bị xâm hại này có tọa độ trung tâm là 560.505E - 1.784.649N, nằm trong phạm vi nhận khoán của ông Phạm Hùng Mạnh theo Hợp đồng khoán số 110/HĐGK ngày 19-8-1998, diện tích 18ha, do Ban Quản lý Khu Bảo tồn Sơn Trà lập theo Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 4-1-1995 của Chính phủ.
Kết quả kiểm tra cho thấy, khoảng 63,4m3 gỗ gồm các loại Chò, Nhội, Dẻ, Sồi, Lim xẹt, Lòng mang đã bị đốn hạ. Kiểm tra tại kho của cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Trường Mai, lực lượng chức năng phát hiện tại đây cất giữ 3,027m3 gỗ xẻ các loại có hồ sơ mua bán gỗ nhưng chưa xác định được chủng loại so với hóa đơn.
Chủ cơ sở này thừa nhận đã tự ý khai thác tận thu số cây gỗ bị ngã đổ trong rừng do bị bão trong năm 2015 để sử dụng tại chỗ nhưng chưa được cơ quan thẩm quyền cho phép (!?). Còn số gỗ xẻ là ông mua của các doanh nghiệp để đóng bàn ghế phục vụ du lịch.
Vụ xẻ thịt "nữ hoàng linh trưởng" đã được cơ quan điều tra khởi tố, truy tố, xét xử. Các vụ xâm hại rừng, ngoài việc luân chuyển ekip cán bộ Hạt Kiểm lâm Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, cơ quan chức năng cũng đã khởi tố vụ án để điều tra và xử lý nghiêm những cá nhân liên quan.
Đó là động thái quyết liệt, nhưng có xử lý đến đâu nữa thì hình ảnh những bộ xương voọc, những chiếc bẫy lạnh lùng hay những gốc cây cổ thụ ứa nhựa cũng sẽ còn ám ảnh. Hiện Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Trong kế hoạch sẽ tiến tới đưa bán đảo Sơn Trà  trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp, đặc sắc của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước. Nếu nói Sơn Trà là kho báu thì ắt hẳn không để nó ngủ quên, nhưng đánh thức như thế nào thì phải thực sự cẩn trọng và thấu đáo. Chứ không phải đùng một cái là mở đường hay xây khu du lịch, cũng không thể để cho những "tối kiến" hình thành rồi quay lại xử lý hậu quả.
Trở về sau hội thảo về bảo tồn thiên nhiên, linh trưởng, anh Bùi Văn Tuấn, chủ nhân của video clip phá rừng Sơn Trà, dẫn lời các chuyên gia quốc tế cho biết: "Có 5 nguyên nhân cản trở công cuộc bảo tồn thiên nhiên, động vật hoang dã. Đó là mất rừng, nạn săn bắt trái phép, suy giảm diện tích đất, nhận thức hạn chế của người dân và thiếu sự hỗ trợ của chính quyền. Để bảo vệ được báu vật của mình, Đà Nẵng cần giải quyết tốt 5 vấn đề này".
Mới đây, trao đổi với phóng viên Báo Công an TP Đà Nẵng về những ý tưởng "khai phá Sơn Trà", Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ khẳng định, quan điểm của thành phố là xem Sơn Trà như lá phổi xanh, như báu vật mà thiên nhiên ban tặng. Mọi việc liên quan đến bán đảo Sơn Trà phải là vì lợi ích chung của người dân thành phố nên các ý tưởng, đề xuất cần phải xem xét hết sức cẩn trọng.
Đó cũng là mong muốn, mong muốn đến khắc khoải của người dân, những người yêu Sơn Trà, yêu thương hiệu thành phố môi trường mà họ đang chung tay hướng đến. (Công An TP. Đà Nẵng 21/11) đầu trang(
Sáng 20 -11 tại TP Đà Nẵng đã diễn lễ triển khai kế hoạch khảo sát hệ sinh thái vùng biển lần thứ 5 bằng tàu hải dương Oparin (Nga).
Đây là chương trình nằm trong kế hoạch hợp tác nghiên cứu hải dương học giữa Viện Hàn lâm khoa học, công nghệ Việt Nam và Phân viện Viễn Đông, thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga triển khai trên vùng biển từ Quảng Trị đến Bình Thuận trong thời gian một tháng
Tham gia chuyến khảo sát lần này có 15 nhà học Việt Nam và 20 nhà khoa học Nga đang hoạt động trong các Viện khoa học về biển.
Mục tiêu của chuyến khảo sát hỗn hợp lần này là bổ sung, cập nhật tư liệu về đa dạng sinh học và cấu trúc quần xã sinh vật, thu thập mẫu vật phục vụ nghiên cứu hóa sinh và môi trường biển.
Với những thiết bị chuyên ngành phục cho nghiên cứu biển, tàu hải dương Oparin có 5 phòng thí nghiệm, giàn thiết bị lặn Scuba và các thiết bị thu mẫu hiện đại sẽ giúp các nhà khoa học lấy mẫu vật ở độ sâu hơn 400 mét dưới lòng biển phục vụ cho việc nghiên cứu.
Được biết trong 4 chuyến khảo sát trước đó, các nhà khoa học đã thu thập được các kết quả về các lĩnh vực đa dạng sinh học rạn san hô, thu thập được nhiều mẫu về thực vật, động vật không sương sống ở đáy mềm biển sâu.
Những kết quả nghiên cứu này đã góp phần rất lớn trong công tác bảo tồn sinh vật biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam. (Tuổi Trẻ 21/10) đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn cả nước đã xảy ra nhiều vụ cháy lớn gây thiệt hại nhiều về người và tài sản, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an sinh xã hội. Điển hình như vụ cháy mới đây tại quán karaoke ở số 68 đường Trần Thái Tông, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội làm chết 13 người.
Đánh giá cho thấy, nguyên nhân chủ yếu các vụ cháy là do sự cố thiết bị điện, không chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy (PCCC), thắp hương thờ cúng... Ngoài sự thiếu ý thức, kiến thức về PCCC của người dân thì người đứng đầu các cấp, ngành, đơn vị, cơ sở chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình đối với công tác PCCC, còn thiếu sự quan tâm, coi nhẹ công tác PCCC, thậm chí có nơi còn cố tình vi phạm quy định về PCCC.
Trong công tác PCCC rừng, các cấp đã quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Tuy nhiên, do nhận thức về hậu quả và tính tàn khốc của cháy rừng cũng như ý thức, trách nhiệm của một bộ phận nhân dân còn chưa cao, cùng với tình hình thời tiết khắc nghiệt, khô hanh, gió lớn dẫn đến nhiều vụ cháy rừng lớn đã xảy ra tại nhiều địa phương.
Đối với tỉnh Yên Bái, thời gian qua, tình hình cháy nổ tương đối ổn định, không xảy ra các vụ cháy lớn gây thiệt hại về người và tài sản; công tác PCCC đã được duy trì thường xuyên; hiệu quả, quản lý nhà nước về công tác PCCC đã được tăng cường. Tuy nhiên, thời gian tới, tình hình thời tiết dự báo diễn biến bất thường, khô hanh; các nguy cơ xảy ra cháy nổ ở một số cơ sở như: chợ, cơ sở kinh doanh khí gas, xăng dầu; đặc biệt là các cơ sở kinh doanh karaoke còn nhiều tiềm ẩn phức tạp.
Thời gian tới, các cấp, các ngành, nhất là chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân cần quan tâm thực hiện một số vấn đề, công tác trọng tâm như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về PCCC trên các phương tiện thông tin đại chúng, hướng dẫn các kiến thức, kỹ năng chữa cháy, thoát nạn, đặc biệt là với các khu vực đông dân cư, các cơ sở có nguy cơ cháy nổ cao... nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, người dân, nhất là người đứng đầu các cơ sở hiểu rõ trách nhiệm cũng như quyền lợi của mình về công tác chữa cháy; tăng cường công tác phối hợp giữa các ngành chức năng với các sở, ban, ngành, địa phương để đẩy mạnh hơn nữa Phong trào “Toàn dân tham gia PCCC”.
Đẩy mạnh chức năng quản lý nhà nước về PCCC, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về PCCC tại các cơ sở có nguy cơ cháy nổ cao trên địa bàn để kịp thời phát hiện và khắc phục ngay các sai phạm, sơ hở, thiếu sót là nguyên nhân gây cháy lan, cháy lớn đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác thanh tra, kiểm tra cả về ý thức trách nhiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Đối với công tác PCCC rừng, các cấp, các ngành, các chủ rừng cần tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện các quy định về PCCC rừng; tổ chức thực tập phương án PCCC rừng; gắn trách nhiệm của các chủ rừng và nhân dân trong công tác bảo vệ rừng; thường xuyên làm mới, tu sửa đường băng cản lửa ở những khu vực có nguy cơ cháy cao, thường trực 24/24 giờ trong thời gian nắng nóng, khô hanh; tiến hành kiện toàn, củng cố lực lượng, phương tiện PCCC rừng, phát huy có hiệu quả công tác PCCC rừng với phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ).
Các cấp, các ngành, người đứng đầu cơ sở thường xuyên quan tâm đầu tư kinh phí, trang bị các hệ thống, phương tiện PCCC, cải tạo, bổ sung hệ thống cấp nước chữa cháy cho các khu đô thị, khu đông dân cư nhằm bảo đảm duy trì các điều kiện an toàn PCCC; tuyên truyền, vận động nhân dân trang bị các bình bột, bình bọt chữa cháy ban đầu để bảo vệ tài sản của chính mình khi có sự cố cháy, nổ xảy ra.
Trên cơ sở kế hoạch công tác đã được phê duyệt, lực lượng cảnh sát PCCC và cứu nạn, cứu hộ thực hiện thường xuyên và mở các đợt cao điểm thanh tra, kiểm tra an toàn PCCC trên địa bàn toàn tỉnh, tập trung vào các cơ sở có nhiều nguy hiểm cháy nổ như: chợ, trung tâm thương mại, các cơ sở kinh doanh xăng dầu, vật liệu nổ công nghiệp, khí đốt hóa lỏng, điện, nhà hàng, karaoke, khách sạn, khu dân cư tập trung... Tổ chức ký cam kết bảo đảm an toàn PCCC ở các đơn vị trọng điểm về PCCC.
Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn xây dựng, củng cố, huấn luyện các đội dân phòng, đội chữa cháy cơ sở bảo đảm xử lý kịp thời các tình huống cháy nổ xảy ra ngay từ khi mới phát sinh. Tổ chức thường trực bảo đảm về lực lượng, phương tiện 24/24 giờ trong ngày, nhanh chóng kịp thời chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có hiệu quả khi có cháy nổ và các tình huống đột xuất xảy ra.
Mỗi người dân nâng cao ý thức trách nhiệm PCCC sẽ góp phần giữ gìn sự bình yên cuộc sống, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy nổ gây ra. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Yên Bái 21/11) đầu trang(
Liên quan đến vụ việc chặt phá gần 2ha rừng trạng thái 1c tại lô 1, khoảnh 5, tiểu khu 197 NaPha Văng Đoọng (khu vực Nặm Bông, xã Châu Hạnh) hồi tháng 4/2016, UBND huyện Quỳ Châu đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối 2 đối tượng, trong đó có một cán bộ huyện.
Hai đối tượng bị UBND huyện Quỳ Châu xử phạt gồm bà Vũ Thị Bằng và bà Trần Thị Hải Vân, cùng trú tại bản Kẻ Bọn, xã Châu Hạnh.
Bà Trần Thị Hải Vân là cán bộ thuộc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của UBND huyện Quỳ Châu
Quyết định xử phạt hành chính số 3986 và 3897/QĐ-XPVPHC nêu rõ cả hai đối tượng này đã thực hiện hành vi phạm hành chính: Phá rừng trái pháp luật.
Được biết, khoảng đầu tháng 4/2016, Hạt Kiểm lâm huyện Quỳ Châu và lực lượng chức năng trên địa bàn đã phát hiện một nhóm người thực hiện hành vi chặt phá gần 2ha rừng trạng thái 1c tại thửa 35, lô 1, khoảnh 5, tiểu khu 197 Na Pha Văng Đoọng (khu vực Nặm Bông, xã Châu Hạnh).
Sau khi lập biên bản, đình chỉ việc chặt phá rừng, các cơ quan chức năng huyện Quỳ Châu đã thực hiện điều tra, xác minh; qua đó phát hiện các bà Vũ Thị Bằng và Trần Thị Hải Vân là những người đã đứng ra tổ chức vụ phá rừng nêu trên.
Với hành vi phá rừng trái pháp luật, cá nhân bà Trần Thị Hải Vân bị UBND huyện xử phạt 21 triệu đồng; bà Vũ Thị Bằng, bị xử phạt 20 triệu đồng. (Báo Nghệ An 21/11) đầu trang(
Chiều 19/11, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74B) - Bộ Công an cho biết, đơn vị vừa phối hợp cùng Cảng vụ Hàng không miền Nam, Công an quận Tân Bình bắt giữ vụ vận chuyển sừng tê giác qua đường hàng không tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Trước đó, bằng các biện pháp nghiệp vụ, các đơn vị phối hợp nói trên tiến hành kiểm tra hành khách Nguyễn Đức Nguyên (quê Nghệ An) khi người này vừa đáp chuyến bay từ Nghệ An xuống sân bay Tân Sơn Nhất (TPHCM).
Qua kiểm tra trong hành lý xách tay của Nguyên, cơ quan chức năng có thu giữ 1 sừng tê giác, trọng lượng khoảng 4kg.
Ước tính, sừng tê giác trên ở thị trường chợ đen có giá khoảng 4 tỷ đồng.
Hiện các cơ quan chức năng đang tiếp tục mở rộng điều tra. (Tiền Phong 21/11) đầu trang(
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé (Điện Biên), từ năm 2015 đến thang 6/2016 đã co 313 vụ phá rừng trái phép, diện tích rừng bị phá lên tới 296,3ha.
Bản Phứ Ma thuộc xã vùng cao biên giới Leng Su Sìn. Bản có 49 hộ dân Hà Nhì sinh sống với nghề nông, làm nghiệp.
Ông Sừng Go Long, Trưởng bản Phứ Ma cho biết, từ bao đời nay, dân bản sống nhờ rừng và luôn tìm cách báo vệ rừng. Nhưng năm 2011, có 36 hộ di cư tự do đến lập bản ngay cạnh bản Phứ Ma. Không có đất sản xuất nên các hộ di cư nhảy vào phá rừng làm nương rẫy. Ban đầu họ còn chặt trộm, bây giờ họ công khai chặt phá giữa ban ngày.
Từ khi có các hộ dân di cư đến, rừng Phứ Ma ngày càng bị thu hẹp. Số liệu của Hạt Kiểm lâm Mường Nhé cho thấy, trước năm 2011, Phứ Ma có khoảng 1.000ha rừng. Nhưng tính đến tháng 6/2016, diện tích rừng còn chưa đầy 400ha. Thay thế cho diện tích rừng bị phá là những nương lúa nằm rải rác, xen kẽ giữa những quả đồi trơ trọc.
Tình trạng dân di cư tự do ngang nhiên phá rừng làm nương rẫy ở bản Phứ Ma cũng là tình trạng chung ở xã Leng Su Sìn. Theo trích lục Biếu tổng hợp che phủ rừng năm 2010, xã Leng Su Sìn có hơn 11.000ha rừng tự nhiên, đến hết năm 2014 chỉ còn chưa đầy 8.000ha. Như vậy, trong 5 năm, xã Leng Su Sìn mất hơn 3.000ha rừng.
Mở rộng ra toàn huyện, năm 2010, Mường Nhé có gần 88 nghìn ha rừng. Nhưng tính hết năm 2014, Mường Nhé còn khoảng 72 nghìn ha. Vị chi, trong 5 năm, Mường Nhé mất khoáng 16 nghìn ha rừng.
Lý giải nguyên nhân mất rừng, ông Lù Văn Thanh, Chủ t|ch UBND huyện Mường Nhé cho rằng, những năm gần đây, số lượng dân di cư tự do về sinh sống trên địa bàn huyện "ước sơ sơ" cũng phải hàng nghìn hộ. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến những cánh rừng Mường Nhé "không cánh mà bay".
Từ năm 2008, Mường Nhé đã được bố trí nguồn lực để triển khai các đề án nhằm ngăn chặn tình trạng di cư tự do, giúp người dân an cư, lạc nghiệp. Đó là Đề án 141 "Sắp xếp, ổn định dân di cư tự do huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2008-2012", với tổng nguồn vốn 447 tỷ đồng. Đầu năm 2012, Mường Nhé được bố trí thêm 1.500 tỷ đồng để thực hiện Đề án số 79 "Sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đến năm 2015". Nguồn lực lớn nhưng đến nay, tiến độ sắp xếp, ổn định dân di cư tự do ở Mường Nhé vãn rất chậm.
Với Đề án 79, mục tiêu hết năm 2015, huyện Mường Nhé ổn định đời sống cho gần 11 nghìn hộ dân bản địa; sắp xếp chỗ ở mới cho hơn 900 hộ, chủ yếu là dân tộc Mông, từ các địa phương khác di cư đến huyện Mường Nhé. Nhưng đến nay, các muc tiêu của Đề án mới chỉ đạt hơn 20% kế hoạch đề ra.
Tính riêng các hộ di cu tự do, không những chưa sắp xếp ổn định được 900 hộ theo kế hoạch mà hiện số lượng dân di cư ở Mường Nhé đã nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương. Chỉ ở xã Leng Su Sìn hiện có hơn 350 hộ dân di cu tự do được xã thống kê, ngoài ra còn một lượng rất lớn nhân khẩu mà ngay cả các trưởng bản trong xã cũng không thể nắm bắt được.
Ông Lù Văn Thanh, Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé thừa nhận, việc sắp xếp chậm cũng đồng nghĩa với việc rừng tiếp tục bị xâm lấn: "Dân di cư tự do vào kéo theo hệ lụy rất nhiều đến phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn".
Việc chậm sắp xếp, ổn định cho các hộ di cư tự do ở huyện Mường Nhé đã để lại nhiều hệ lụy, trước mắt là nhiều diện tích rừng ở đây đang dần bị biến mất. Đây là vấn đề mà huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên cần sớm có giải pháp tháo gỡ. (Dân Tộc Và Phát Triển 18/11) đầu trang(
Liên quan đến việc ông Nguyễn Đức Lý, Giám đốc Sở Khoa học và Công Nghệ (KH-CN) tỉnh Quảng Bình đưa 35 hộp gỗ chua mua được của gia đình về cất giữ tại trụ sở của 2 đơn vị trực thuộc khiến dư luận bất bình, chiều 22/11, trao đổi với Đất Việt ông Nguyễn Hữu Hoài – Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình đã xác nhận thông tin trên.
Ông Hoài cho biết đã cử các lực lượng chức năng có liên quan tiến hành báo, kiểm tra lại sự việc báo chí phản ánh tại địa phương.
“Chúng tôi đang cho các cơ quan như lực lượng kiểm lâm, sở NN-PTNT cùng các ngành kiểm tra. Hiện chưa nhận được báo cáo và tỉnh sẽ xử lý theo đúng các quy định của pháp luật”, ông Hoài nhấn mạnh.
Ông Hoài cũng khẳng định, khi có các kết luận chính thức sẽ thông tin cụ thể cho báo chí.
Trước đó, lên tiếng giải thích với Đất Việt, ông Lý cho biết vợ ông là bà Nguyễn Thị Ái Trinh đã mượn kho của cơ quan để cất gỗ vì kho này đang để trống, chưa có nhu cầu sử dụng.
“Đó là kho thừa, chưa có nhu cầu sử dụng. Vợ tôi thấy vậy nên để nhờ gỗ. Đây là kho cơ quan làm để cất giữ ô tô, tuy nhiên, hiện nay cơ quan mới có một chiếc nên thừa một kho”, ông Lý giải thích.
Về việc dư luận nghi ngại cán bộ nhà nước chiếm dụng tài sản nhà nước để trưng dụng vào việc cá nhân, Giám đốc Sở KH-CN Quảng Bình phân trần: “việc dư luận nói chắc là ý tôi dùng kho của cơ quan cũng là sử dụng tài sản nhà nước để làm việc riêng. Họ nói như vậy thì tôi cũng không thể nói lại được gì. Nhưng tôi nghĩ đó là kho để không, chưa sử dụng nên vợ tôi để nhờ”.
Về quyết định xử phạt vi phạm hành chính do không có bảng kê lâm sản hay xác nhận của kiểm lâm theo quy định, trên gỗ cũng không hề có dấu búa kiểm lâm. Ông Lý cho hay, là do lúc mua đã không để ý.
Vị giám đốc Sở khẳng định việc mua bán gỗ không sai mà chỉ có công ty bán gỗ cho ông sai nên đã bị xử phạt 30 triệu đồng vì đã thực hiện hành vi bán lâm sản trái quy định của Nhà nước.
Ngoài ra, phía công ty trên cũng phải đền lại số tiền ông Lý đã bỏ ra mua gỗ do số gỗ trên đã bị cơ quan kiểm lâm tịch thu để điều tra. (Báo Đất Việt 22/11) đầu trang(
Liên quan đến vụ tấn công, làm trọng thương 2 kiểm lâm viên của Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị xảy ra trên khu vực sông Thác Ma thuộc địa bàn thôn Lương Sơn, xã Hải Chánh tối 17/11 (Tiền Phong số 326 đã phản ánh), chiều 21/11, Thượng tá Phan Thanh Liêm - Phó trưởng Công an huyện Hải Lăng cho hay, đã có 9 đối tượng ra trình diện cơ quan chức năng.
Các đối tượng đều là người dân ở thôn Lương Sơn.
Do nhiều người dân tham gia vào vụ tấn công, gây thương tích các kiểm lâm viên, nên Công an Hải Lăng đang tích cực xác minh cụ thể đối tượng nào có hành vi tham gia trực tiếp, đối tượng nào có hành vi tham gia gián tiếp để xử lý. (Tiền Phong 22/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là chính sách đầu tiên về lâm nghiệp coi việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của rừng là các dịch vụ.
Tuy nhiên, hiện nay, việc thực hiện chính sách vẫn còn một số khó khăn, tồn tại cần tháo gỡ, trong đó có việc điều chỉnh mức chi trả tiền DVMTR để khuyến khích người dân gắn bó với rừng.
Thung Nai là xã miền núi thuộc huyện Cao Phong (Hòa Bình), có tổng diện tích tự nhiên 3.639ha. Năm 2016, tổng diện tích rừng được chi trả phí DVMTR là 1.248ha. Theo ông Bùi Văn Nhàn, Chủ tịch UBND xã, qua 5 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, ý thức của người dân trong công tác trồng và bảo vệ rừng được nâng lên, trên địa bàn không xảy ra cháy rừng, chặt phá rừng, diện tích rừng ngày càng tăng. Hàng năm, bà con đã cải tạo và trồng mới được hơn 100ha rừng.
Để thực thi có hiệu quả chính sách chi trả DVMTR, xã Thung Nai đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng về chính sách này và các văn bản có liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp tới các chủ rừng; đồng thời phối hợp với các ngành chức năng quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có là 705ha; quản lý tốt diện tích, ranh giới các khu rừng; chỉ đạo cộng đồng dân cư xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với quy định của pháp luật.
Thung Nai chỉ là một trong số nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR. Theo thống kê, sau khi rà soát xác định đối tượng sử dụng dịch vụ trên các lưu vực nhà máy thủy điện làm cơ sở tổ chức thực hiện chính sách DVMTR, gồm 2 lưu vực liên tỉnh, nội tỉnh và 6 phụ lưu (lưu vực Nhà máy thủy điện Hòa Bình và 4 phụ lưu, lưu vực Nhà máy thủy điện Bá Thước II và 1 phụ lưu, lưu vực Nhà máy thủy điện Định Cư - huyện Lạc Sơn) thì tổng diện tích chi trả là 110.994ha, chiếm 42% diện tích rừng của tỉnh Hòa Bình.
Trong 5 năm (2011 – 2015), tổng số tiền thu về Quỹ DVMTR tỉnh Hòa Bình đạt 53.740 triệu đồng, trong đó đã trực tiếp chi trả và làm kinh phí hoạt động 46.072 triệu đồng (chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được hưởng 35.462 triệu đồng).Ông Nguyễn Hồng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hòa Bình, đánh giá, tuy việc triển khai có nhiều khó khăn nhưng chính sách chi trả DVMTR đã có tác động mạnh mẽ đến ý thức trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của người dân.
Vì nếu rừng được bảo vệ tốt, chất lượng rừng đảm bảo thì ngoài môi trường sinh thái được cải thiện, người dân còn được chi trả tiền DVMTR hàng năm, góp phần cải thiện cuộc sống.
Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong khu vực châu Á thực hiện chính sách mới này. Thực tế cho thấy, chính sách được đánh giá triển khai hiệu quả trên cả nước và nhận được sự đồng thuận rất lớn của các cơ quan ban ngành Trung ương, địa phương và nhân dân.
Hiện, toàn quốc đã hình thành hệ thống Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ Trung ương đến địa phương. Số lượng quỹ được thành lập tăng dần theo thời gian, nếu như năm 2009 chỉ có 4 tỉnh thành lập (Lâm Đồng, Sơn La, Lai Châu, Đắk Nông) thì nay đã có 41 tỉnh, trong đó có 38 quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức, đi vào hoạt động.
Chính sách chi trả DVMTR đã từng bước thúc đẩy, tạo lập cơ chế thị trường có sự định hướng và thể hiện vai trò điều tiết của Nhà nước; thể hiện mối quan hệ trong giao dịch kinh tế giữa một bên mua là bên sử dụng DVMTR (đối tượng thụ hưởng DVMTR) và bên bán là bên cung ứng (chủ rừng).
Tính đến ngày 30/6/2016, cả nước đã ký được 464 hợp đồng ủy thác tiền chi trả DVMTR với các cơ sở sử dụng DVMTR. Trên cơ sở các hợp đồng ủy thác ký kết được, nguồn tiền DVMTR của cả nước hàng năm đạt trên 1.000 tỷ đồng, lũy kế đến ngày 30/6/2016 là 5.744,792 tỷ đồng, từ 3 nhóm đối tượng sử dụng DVMTR là cơ sở thủy điện, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch và cơ sở du lịch, số tiền phải chi trả cho chủ rừng và các tổ chức không phải chủ rừng là 4.549,620 tỷ đồng.
Đến nay, tỷ lệ giải ngân đạt 86,71%, đã có hơn 500.000 hộ dân được nhận tiền chi trả DVMTR. Số tiền DVMTR mà hộ dân nhận được bình quân chung cả nước đạt khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm. Nguồn chi trả DVMTR chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả khả quan nhưng theo ông Lượng, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR còn nhiều hạn chế do mức chi trả quá thấp, không phù  hợp với biến động thị trường. Hiện nay, mức chi trả DVMTR theo số tuyệt đối, cố định đối với cơ sở sản xuất thủy điện 20 đồng/kWh, cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch 40 đồng/m3 quy định tại Nghị định 99/NĐ-CP về chính sách chi trả DVMTR ban hành ngày 2/9/2010 đến nay không còn phù hợp với tình hình lạm phát và biến động tăng giá, không đảm bảo thu nhập và tạo ra động lực, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Việc chi trả DVMTR theo từng lưu vực của từng cơ sở sử dụng DVMTR đã tạo ra sự chênh lệch lớn. Có lưu vực mức chi trả trên 600.000 đồng/ha/năm nhưng cũng có lưu vực chỉ trả 800 đồng/ha/ năm, làm cho thu nhập của người làm nghề rừng có sự khác biệt rất lớn.
Đơn cử như tại Hòa Bình, theo ông Nguyễn Hồng Tuấn, hiện mức thu nhập từ cung ứng dịch vụ môi trường rừng của hộ gia đình vào khoảng 600.000 đồng/hộ/năm với diện tích thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Hòa Bình; 21.000 đồng/hộ/năm với lưu vực Nhà máy Thủy điện Bá Thước II và gần 120.000 đồng/hộ/năm với lưu vực Nhà máy Thủy điện Suối Nhạp A, còn thấp so với các địa phương khác trong cùng hệ thống sông, hồ thủy điện sông Đà và cả nước.
Tại Tuyên Quang, đơn giá chi trả tiền DVMTR bình quân năm 2015 là 46.000 đồng/ha; thu nhập bình quân từng hộ năm 2015 là 95.000 đồng/hộ nên chưa thu hút được sự quan tâm của người dân về chính sách này.
Trong khi đó, tại Lào Cai, có một số nơi đơn giá chi trả bình quân trên 1ha rừng đạt khá cao, cao hơn cả mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho công tác bảo vệ rừng (200.000 đồng/ha), như: lưu vực Nhà máy Thủy điện Nậm Khóa 3, Nhà máy Thủy điện Nậm Tha có đơn giá chi trả đạt từ 518.000 - 733.000 đồng/ha/năm.
Trong 5 loại DVMTR được quy định tại Nghị định 99, hiện mới có 3 loại dịch vụ đã thực hiện, gồm: Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, sông, suối; dịch vụ điều tiết nước và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; dịch vụ bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ du lịch. Còn 2 dịch vụ vẫn chưa triển khai là: Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản; dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng.
Chế tài xử lý vi phạm đối với các đối  tượng phải chấp hành chi trả tiền DVMTR còn chưa phân cấp, giao rõ trách nhiệm cho đơn vị nào xử lý, dẫn đến một số đơn vị phải trả tiền DVMTR vẫn còn né tránh, không thực hiện trách nhiệm chi trả.
Ông Phạm Hồng Lượng cho biết, để thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR, các địa phương, ngành chức năng cần đảm bảo thu đúng, thu đủ các loại dịch vụ đã quy định đối tượng thu, mức thu; kiện toàn bộ máy Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, kịp thời xử lý những vướng mắc, khó khăn ở địa phương; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, đôn đốc các đơn vị thực hiện nghiêm túc việc thu nộp tiền DVMTR và các khoản đóng góp bắt buộc theo quy định.
Phát hiểu tại Diễn đàn khuyến nông @ nông nghiệp chủ đề: “Giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ môi trường rừng” vừa được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức tại Hòa Bình, TS.Trần Văn Khởi, quyền Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh, để thực hiện hiệu quả chính sách này, cần khuyến khích các chủ rừng thực hiện quản lý bảo vệ rừng theo cộng đồng dân cư hoặc nhóm hộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chi trả DVMTR cho chủ rừng, đánh giá chất lượng rừng để đảm bảo đúng đối tượng và tiêu chuẩn chi trả theo quy định; tăng diện tích giao khoán cho các hộ gia đình để ổn định thu nhập cho người dân.
Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ sớm ban hành thông tư quy định, hướng dẫn về tiêu chí thành lập bộ máy và mô hình phân cấp quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, giữ rừng đã trở thành nhiệm vụ sống còn, vì vậy, việc hoàn thiện chính sách chi trả DVMTR để nâng cao ý thức bảo vệ rừng của các cơ sở, cộng đồng dân cư là đòi hỏi bức thiết. (Kinh Tế Nông Thôn 21/11) đầu trang(
Hướng dẫn chúng tôi đi thăm những cánh rừng sản xuất ngút ngàn trên địa bàn các xã: Phượng Nghi, Xuân Thọ (Như Thanh) và xã Thượng Ninh (Như Xuân), đồng chí Trịnh Ngọc Lương, giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Sim, phấn khởi cho biết: trong 3 năm vừa qua, ban đã tổ chức cho các hộ công nhân, nông dân nhận khoán đất lâm nghiệp trồng được 315 ha rừng sản xuất,chủ yếu là keo tai tượng.
Mô hình chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại xã Phượng Nghi (Như Thanh) do Ban quản lý rừng phòng hộ Sim tổ chức thực hiện.
Ban đã tuyên truyền, hướng dẫn cho các hộ chăm sóc, bảo vệ theo đúng quy trình kỹ thuật để chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn nhằm nâng cao thu nhập cho chủ rừng.
Ngoài ra,  Ban quản lý rừng phòng hộ Sim đã xây dựng được mô hình trồng rừng gỗ lớn với diện tích 70 ha tại một số xã của huyện Như Thanh và xã Thượng Ninh (Như Xuân). Do trồng và chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật của rừng gỗ lớn nên cây sinh trưởng, phát triển rất tốt.
Chia sẻ với chúng tôi, nhiều chủ rừng ở một số xã thuộc huyện Như Thanh, Như Xuân, cho biết: mấy tháng nay có nhiều người đến hỏi mua gỗ nhỏ băm gỗ dăm hoặc làm bột giấy giá  khoảng 1,1 triệu đồng/1 tấn. Người làm nghề rừng đã trăn trở suy nghĩ trước thực tế để rừng keo phát triển thêm vài năm nữa mới khai thác sẽ cho hiệu quả kinh tế  cao nhưng hiện tại gia đình đang khó khăn về kinh phí lo cho cuộc sống trước mắt.
Hơn nữa, chuyển hóa thành rừng gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài nên chủ rừng thường gặp rủi ro như cháy rừng, thiên tai gió bão, lốc,vv… gây thiệt hại.
Ông Lê Văn Tập (thôn Tiến Hưng II, xã Luận Thành), chủ rừng keo 20 ha trồng từ năm 2008, chia sẻ với chúng tôi: gia đình ông đã đầu tư bình quân 15  triệu đồng cho 1 ha keo tai tượng.
Vừa qua, tư thương đến “gạ” khai thác gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy giá hơn 1,1 triệu đồng/1 tấn. Theo tính toán của ông, lợi nhuận chưa trừ chi phí khoảng 70 triệu đồng/1 ha. Từng có kinh nghiệm nhiều năm làm công nhân ngành lâm nghiệp nên ông Tập nhẩm tính nhanh: 5 năm tới là giai đoạn rừng keo của gia đình tăng sinh khối nhanh (từ 80 m3/ha thời điểm hiện tại lên 200-250 m3 /ha) và giá bán gỗ lớn tăng khoảng 3-4 lần, lợi nhuận (chưa trừ chi phí) khoảng 400-500 triệu đồng/ha.
Tuy nhiên, làm thế nào giải bài toán để rừng keo phát triển thêm vài năm nữa mới khai thác sẽ cho hiệu quả kinh tế cao với việc trước mắt phải giải quyết  là trả nợ nguồn vốn đã vay mượn đầu tư cho 20 ha rừng và trang trải cuộc sống, nuôi con ăn học, khiến gia đình đang phải suy nghĩ…
Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng, điều kiện thuận lợi về sinh thái, đất đai, lao động và thị trường để phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn.
Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ trung bình phù hợp với nhiều loại cây trồng lâm nghiệp có khả năng phát triển thành rừng gỗ lớn. Trong những  năm gần đây, phong trào trồng rừng sản xuất đã và đang phát triển rộng khắp, bước đầu giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng vạn lao động nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ làm nghề rừng.
Tuy nhiên, hầu hết diện tích trồng rừng là gỗ nhỏ, trồng theo phương thức quảng canh, năng suất, hiệu qủa kinh tế thấp. Sản phẩm gỗ lớn cho hiệu qủa kinh tế cao chưa được quan tâm phát triển.
Cụ thể, đến tháng 11-2016, toàn tỉnh có 173.365 ha rừng trồng sản xuất, trong đó có 102.400  ha rừng gỗ. Nhìn chung, rừng gỗ trồng trên địa bàn tỉnh không đồng đều, chủ yếu là rừng trồng nguyên liệu gỗ nhỏ, hiệu qủa kinh tế chưa cao. Trên cơ sở tính toán chi phí đầu tư và giá bán gỗ (theo giá thị trường hiện nay) của một số cây trồng phổ biến cho thấy hiệu qủa kinh tế rừng kinh doanh gỗ nhỏ chỉ từ 50 đến 65 triệu đồng/chu kỳ kinh doanh (7 năm) đối với trồng quảng canh và 80 đến 95  triệu đồng /chu kỳ kinh doanh đối với trồng thâm canh.
Lợi nhuận như vậy mới đáp ứng được nhu cầu đời sống trước mắt mà chưa có khả năng tích lũy, làm giàu từ rừng.
Trước thực trạng đó, các năm vừa qua Chi cục lâm nghiệp tỉnh đã phối hợp với Tổng cục lâm nghiệp triển khai xây dựng hàng chục mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn trên địa bàn các huyện Thạch Thành, Thường Xuân, Như  Xuân, Như Thanh, Lang Chánh… để tuyên truyền, hướng dẫn người dân nhân ra diện rộng. Qua theo dõi đánh giá của các cơ quan chuyên môn cho thấy rừng trồng gỗ lớn đạt tốc độ tăng trưởng lớn nhất vào giai đoạn từ 8 – 12 năm tuổi.
Thông qua mô hình chuyển hóa rừng keo kinh doanh gỗ lớn trữ lượng rừng bình quân dự kiến đạt từ  250-300 m3/ha, theo thị trường giá bán gỗ lớn  khoảng 3 triệu đồng/m3, bình quân  đạt từ 450 – 500 triệu đồng/ha/chu kỳ.
Trong khi đó, gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy (băm dăm) khoảng 1.100.000 đồng/tấn, bình quân đạt từ 90 -130 triệu đồng/ha/2 chu kỳ gỗ nhỏ. Việc chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn kéo dài thêm khoảng từ 5-7 năm so với 1 chu lỳ gỗ nhỏ nhưng giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần so với việc thực hiện liên tục 2 chu kỳ kinh doanh gỗ nhỏ.
Điển hình như mô hình trồng rừng gỗ lớn tại Ban quản lý rừng phòng hộ Lang Chánh, Ban quản lý rừng phòng hộ Sim và các hộ gia đình tại huyện Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân,vv…
Nhằm tháo gỡ khó khăn, thực hiện đồng bộ các giải pháp, huy động mọi nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn, ngày 27-10-2016, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 4170/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020. Với mục tiêu đến năm 2020 hình thành và phát triển ổn định vùng kinh doanh gỗ lớn quy mô 55.932 ha, đáp ứng nhu cầu gỗ lớn phục vụ chế biến sâu và xuất khẩu.
Trong đó, chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng rừng trồng gỗ lớn hiện có khoảng 30.500 ha; trồng rừng gỗ lớn 20.259 ha; chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn 5.173 ha.
Để thực hiện mục tiêu đề ra, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành chức năng và UBND các huyện triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp từ khâu quy hoạch cho đến tổ chức trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến lâm sản; tuyên truyền, vận động nhân dân huy động mọi nguồn lực xã hội cho công tác phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn.
Thực hiện quyết định nêu trên, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã và đang phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan và các địa phương tham mưu xây dựng, bố trí quỹ đất phát triển vùng kinh doanh gỗ lớn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng. Hướng dẫn kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn; chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn; cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, rừng trồng kém chất lượng để kinh doanh rừng gỗ lớn; quy định tiêu chuẩn chất lượng cây giống trồng gỗ lớn; xác định cơ cấu cây trồng gỗ lớn,vv…
Với quyết tâm chỉ đạo của UBND tỉnh, sự “vào cuộc” của các ngành và địa phương liên quan , hy vọng  Đề án phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn sớm được triển khai thực hiện  nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tạo đột phá trong phát triển kinh tế lâm nghiệp, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích,  góp phần  tái cơ cấu đầu tư ngành lâm nghiệp, giải quyết việc làm và tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình, thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. (Báo Thanh Hóa 21/11) đầu trang(
Do giá sắn thấp nên nhiều hộ nông dân ở tỉnh Phú Yên đã chuyển sang trồng rừng kinh tế. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là họ không chỉ trồng rừng trên đất gò đồi mà còn trồng trên cả đất nông nghiệp.
Hiện giá gỗ nguyên liệu từ 1,2 - 1,5 triệu đồng/tấn với năng suất trung bình từ 60 - 70 tấn/héc-ta, nông dân có thể lãi được 40 - 50 triệu đồng/héc-ta sau chu kỳ từ 5 - 7 năm trồng. Còn đối với cây sắn, thương lái mua tại chân ruộng chỉ còn 500.000 - 700.000 đồng/tấn. Với mức giá này, sau khi trừ toàn bộ chi phí như phân bón, cày bừa, vận chuyển, nông dân gần như không có lãi.
Chính vì vậy, nhiều hộ gia đình đã chuyển diện tích trồng sắn sang trồng rừng. Thậm chí, một số hộ còn trồng rừng lấn cả xuống đất nông nghiệp lâu nay trồng sắn.
Phong trào trồng rừng tuy mang lại thu nhập cao cho nông dân, nhưng nguy cơ phá vỡ vùng quy hoạch sắn, mía vốn cung cấp nguyên liệu chế biến cho các nhà máy trên địa bàn. Vì vậy, huyện đã khuyến cáo người dân không nên chạy theo giá cả, nay trồng mai chặt mà tuân thủ quy hoạch đã được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt.
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Yên cũng cho biết, diện tích sắn niên vụ năm nay là 20.504 héc-ta, giảm hơn 2.450 héc-ta so với niên vụ trước. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất là nông dân trong vùng quy hoạch trồng sắn lại chuyển sang trồng rừng kinh tế nên có nguy cơ phá vỡ quy hoạch.
Để nhanh chóng khắc phục tình trạng này, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến cáo, vận động người dân không nên chạy theo lợi nhuận trước mắt mà đổ xô trồng cây nguyên liệu, phá vỡ quy hoạch. Đồng thời, các nhà máy sắn cần có giá thu mua hợp lý để khuyến khích nông dân đảm bảo diện tích. (Báo Công Thương 19/11) đầu trang(
Trong thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Mường Nhé gặp phải không ít khó khăn. Giữ rừng đã khó, việc trồng mới rừng cũng là bài toán không hề đơn giản cho các cấp, ngành quản lý rừng của địa phương này.
Mường Nhé có diện tích rừng hơn 71.000 ha (rừng sản xuất 11.724,49ha; rừng phòng hộ 21.841,34ha; rừng đặc dụng là 35.019,12ha, tỷ lệ che phủ rừng là 45,3%. Đa số diện tích rừng nằm ở khu vực đầu nguồn các con sông lớn như Sông Đà, Sông Mê Kông… Cung cấp nước chủ yếu cho các hệ thống thủy điện lớn: Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Sông Đà, Thủy điện Lai Châu.
Vai trò của rừng đối với việc phát triển kinh tế xã hội của Điện Biên nói chung và huyện Mường Nhé nói riêng là không thể phủ nhận. Song, mặc dù các cấp chính quyền huyện Mường Nhé đã có nhiều cố gắng, trong nhiều năm trở lại đây, nhiều cánh rừng đại ngàn của Mường Nhé đã bị “chảm” không thương tiếc.
Chỉ tính riêng từ năm 2015 đến tháng 6/2016, Mường Nhé đã phát hiện 313 vụ vi phạm phá rừng trái pháp luật, diện tích rừng bị phá là 296,3ha rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tổng diện tích rừng tàn phá là gần 300ha. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng mới chỉ xử lý được 46 vụ vi phạm, thu giữ trên 16m3 gỗ các loại, thu nộp trên 400 triệu đồng.
Nguyên nhân chính của các vụ vi phạm được chính quyền địa phương này xác định là do tình trạng dân di cư tự do đến địa bàn huyện ngày càng phức tạp. Không có đất sản xuất, người dân vô tư chặt phá rừng trước sự bất lực của chính quyền địa phương. Hiện nay, các cơ quan chức năng của huyện Mường Nhé xác định trên địa bàn huyện vẫn còn 355 hộ, với trên 2.000 nhân khẩu là dân di cư tự do.
Ông Lù Văn Thanh, Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé, cho biết: Mường Nhé đang là điểm nóng của tình trạng khai thác, chặt phá rừng trái phép. UBND huyện Mường Nhé đang tiến hành thu hồi toàn bộ diện tích đất rừng bị phá và giao lại cho UBND cấp xã quản lý để lập phương án trồng bù lại toàn bộ diện tích rừng đã bị phá.
“Giữ rừng đã khó thì việc trồng mới rừng đối với huyện Mường Nhé là không hề dễ” – ông Lù Văn Thanh nhận định.
Được biết, năm 2016, huyện Mường Nhé thực hiện kế hoạch trồng 2.000 ha rừng. Đến thời điểm này, đã có 900 hộ dân thuộc 9/11 xã đăng ký tham gia trồng rừng với tổng diện tích trên 1.600 ha. Huyện đã ươm được trên 4 triệu cây giống để cấp cho các hộ dân tiến hành trồng rừng. Thực hiện giao đất, giao rừng cho 77 cộng đồng dân cư, thôn, bản và 10 hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn 11/11 xã của huyện quản lý, bảo vệ với diện tích 36.024,26 ha rừng. Tính đến nay, huyện đã  trồng được 811ha, đạt 40% kế hoạch do HĐND huyện giao.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong công tác trồng mới rừng ở Mường Nhé chính là việc thay đổi tư duy, nếp nghĩ vốn tồn tại trong tiềm thức của người dân. Từ trước đến nay, phương thức sản xuất chủ yếu của người dân là làm nương rẫy, sống phụ thuộc vào nương rẫy. Người dân chỉ biết phá rừng làm nương chứ đâu nghĩ đến việc trồng mới rừng, trong khi đó trên 2/3 dân số của huyện là dân di cư tự do, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế, dẫn đến khó khăn trong công tác tuyên truyền vận động người dân.
Cùng với đó, năng lực tổ chức triển khai của các cơ quan chuyên môn vẫn còn nhiều hạn chế, việc thay đổi tư duy của các nhà quản lý cũng gặp phải không ít khó khăn. Nếu như trước đây, các cán bộ quản lý chỉ thực hiện nhiệm vụ khoanh nuôi tái sinh bảo vệ rừng thì bây giờ chuyển sang trồng rừng vẫn còn nhiều lúng túng. Công tác kỹ thuật, gieo ươm, đảm bảo chất lượng cây giống vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu khiến chất lượng trồng rừng bị suy giảm.
Ông Trần Trung Kiên, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Mường Nhé cho biết: Đơn vị gặp nhiều khó khăn trong triển khai kế hoạch trồng rừng. Người dân chưa hiểu rõ chính sách, chưa tin tưởng vào vai trò của trồng rừng. Ý thức chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng của người dân còn nhiều yếu kém. Bên cạnh đó, việc giao nhiệm vụ trồng rừng trục tiếp cho các hộ gia đình có đất nương rẫy dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, bởi các chủ rừng còn hạn chế về năng lực bảo vệ rừng được giao.
Không chỉ thế, người dân thường so sánh suất đầu tư trồng rừng trên địa bàn bởi giá thành trồng rừng khác nhau. Giá trồng rừng sản xuất trên địa bàn là 10 triệu đồng/ha, rừng phòng hộ là 15 triệu đồng/ha, tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có kinh phí để hỗ trợ thực hiện trồng rừng…
Trong giai đoạn 2016 – 2020, UBND huyện Mường Nhé đặt ra mục tiêu thực hiện thành công Dự án trồng 10.000ha rừng sản xuất, đồng thời kết hợp với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ trồng rừng sản xuất để được hưởng các chính sách hỗ trợ trồng rừng.
Tăng cường công tác tuyên truyền về lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cho người dân tại các xã trên địa bàn huyện. Đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng cho các tổ chức, cá nhân, cộng đồng theo quy định của pháp luật. Điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng sao cho phù hợp để xác định vị trí đất trồng rừng…
Để bài toán trồng rừng trên địa bàn huyện Mường Nhé nói riêng và trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung đạt được hiệu quả tốt nhất, trước hết, cần phải thay đổi nhận thức của người dân, giúp người dân thấy được vai trò của rừng và ý nghĩa quan trọng của việc trồng rừng. Đồng thời, có những thay đổi về cơ chế, chính sách để thu hút người dân tham gia trồng rừng.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là phải có những chính sách ổn định dân cư trên địa bàn, ngăn chặn tình trạng dân di cư tự do tham gia chặt phá rừng trái phép. Nếu tình trạng người trồng, kẻ phá vẫn tiếp tục xảy ra thì chẳng bao lâu nữa Mường Nhé sẽ không còn rừng để mất. (Tài Nguyên Và Môi Trường 21/11) đầu trang(
Bất cứ ai đến thăm mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình chị Seo Thị Nhúc (dân tộc Giáy) ở thôn Đá Đinh, xã Tả Phời, TP Lào Cai đều có phần choáng ngợp với một trang trại rộng lớn, kết hợp giữa trồng rừng với chăn nuôi gia cầm, lợn và cá.
Đây là một trong những mô hình cho hiệu quả kinh tế ở Tả Phời sau quy hoạch dồn điền, đổi thửa.
Người dân thôn Đá Đinh dành nhiều sự cảm mến xen lẫn khâm phục khi nhắc đến gia đình chị Seo Thị Nhúc. Sau gần 20 năm chung sống, trải qua nhiều vất vả, vợ chồng chị đã có trong tay một trang trại tổng hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, cho thu nhập 1 - 2 tỷ đồng/năm.
Trước đó, năm 2008, chị Seo Thị Nhúc được hội viên tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng. Cũng lúc đó, phong trào xây dựng nông thôn mới của xã Tả Phời đang diễn ra mạnh mẽ. Chị Nhúc bàn với chị em trong Chi hội lựa chọn mô hình chuyển đổi đất ruộng 1 vụ kém hiệu quả và đất đồi bạc màu sang đào ao nuôi trồng thủy sản và xây dựng chuồng trại để phát triển kinh tế. Nói là làm, chị Nhúc cùng chồng mở rộng quy mô trang trại của gia đình theo hướng chú trọng áp dụng kỹ thuật mới, giống mới vào sản xuất, chăn nuôi.
Chị Nhúc cho biết, mô hình chuyển đổi cho thu nhập gấp 10 lần trồng lúa. Với diện tích 5.000m2 mặt nước, hàng năm, chị xuất ra thị trường 9 tấn cá, thu lời 130 - 150 triệu đồng. Lấy ngắn nuôi dài, ngoài chăn nuôi tổng hợp, chị còn mạnh dạn nhận đất đầu tư trồng rừng, kết hợp với đàn gà ta, đàn ngan vài trăm con. Dư dả đồng vốn, gia đình chị Nhúc đầu tư gần 200 triệu đồng mua đàn trâu 11 con cho một số hội viên nghèo trong Chi hội nuôi giẽ, tạo việc làm và thu nhập cho hội viên.
Hiện, gia đình chị tiếp tục mở rộng hệ thống chuồng trại để thời gian tới tăng đàn lợn thêm 40 con nữa nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng tăng cao tại Lào Cai và các tỉnh lân cận.
Chị Seo Thị Nhúc chia sẻ: “Chính cái nghèo đã khiến vợ chồng tôi đồng cam cộng khổ bảo ban nhau xây dựng kinh tế, dạy bảo các con ăn học. Giờ đây, tuy có “bát ăn bát để” nhưng chúng tôi vẫn giữ thói quen cũ, vẫn làm việc luôn tay, chồng việc này, vợ việc nọ. Điều này không chỉ để giữ gìn thành quả bao năm gây dựng mà việc hằng ngày vui vẻ cùng nhau lao động, sản xuất cũng là cách vun đắp tình cảm vợ chồng, san sẻ yêu thương”.
Ông Trần Văn Hưng, Phó Bí thư xã Tả Phời cho biết, với vai trò là Chi hội trưởng phụ nữ thôn, chị Seo Thị Nhúc dành nhiều tâm huyết trong công tác Hội, tạo dựng niềm tin yêu trong chị em, góp phần đưa phong trào phụ nữ thôn Đá Đinh có nhiều chuyển biến tích cực. Hai con của anh chị cũng đều thi đỗ vào trường đại học, cao đẳng.
Chị Nhúc trở thành tấm gương “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, tiến bộ, xây dựng gia đình bình đẳng, ấm no, hạnh phúc”. (Đại Biểu Nhân Dân 20/11) đầu trang(
Theo UBND huyện rẻo cao Đakrông ngày 21/11, hiện toàn huyện đã thực hiện giao 9.650 ha rừng cho 728 hộ gia đình nhận khoán chăm sóc và bảo vệ; trong đó hạt kiểm lâm huyện giao khoán 3.090 ha, ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa-Đakrông giao 2.830ha và Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông giao 3.730 ha.
Đây là số diện tích rừng tự nhiên đặc dụng có địa bàn hiểm trở song lại có nguy cơ xâm hại cao, dễ bị lấn chiếm, khai thác trái phép gỗ. (Tiền Phong 22/11) đầu trang(
“100% chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại, chất thải rắn y tế được thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế và tái sử dụng đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.
Áp dụng công nghệ tái chế, làm phân compost, đốt 40% và chôn lấp hợp vệ sinh 60% rác thải sinh hoạt”. Đây là một trong số nhiều chỉ tiêu được đặt ra trong kế hoạch của UBND TP.HCM về việc thực hiện chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần thứ X.
Theo kế hoạch này, 100% số bãi chôn lấp chất thải phải đáp ứng yêu cầu và hợp vệ sinh; thu gom và tái chế 50% túi nylon phát sinh trong sinh hoạt. Về nước thải, kế hoạch đặt chỉ tiêu thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn 100% nước thải bệnh viện, nước thải công nghiệp (kể cả ở các khu công nghiệp, khu chế xuất). Đặc biệt, 80% tổng lượng nước thải sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt chuẩn trước khi thải ra môi trường...
Để đạt được các chỉ tiêu trên, UBND TP đặt ra nhiều nhiệm vụ cho các sở, ngành, quận, huyện, trong đó Sở TN&MT được giao thực hiện nghiêm các quy định về đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường đối với các quy hoạch, các dự án đầu tư có liên quan đến môi trường. Đồng thời ngăn ngừa các nguồn ô nhiễm mới phát sinh.
Về việc xử lý rác thải sinh hoạt, Sở TN&MT phải xem xét, lựa chọn và thông qua chủ trương đầu tư các dự án có công nghệ tiên tiến, hiện đại với công suất từ 1.000 đến 2.000 tấn/ngày. Cạnh đó phải xây dựng, hoàn chỉnh vành đai cây xanh cách ly ở khu xử lý chất thải và nghĩa trang Đa Phước (huyện Bình Chánh) với kinh phí khoảng 1.159 tỉ đồng, Khu xử lý chất thải rắn Tây Bắc (huyện Củ Chi) với kinh phí khoảng 966 tỉ đồng. “Sở TN&MT tham mưu cho UBND TP đề ra biện pháp chế tài, đủ sức răn đe đối với các hành vi xả rác xuống kênh rạch, miệng cống thu nước” - kế hoạch nêu.
“Chúng tôi đang phối hợp với các sở, ngành đưa các ý tưởng, góp ý của các chuyên gia, trí thức doanh nhân kiều bào góp ý tại hội nghị kiều bào vừa tổ chức sớm ứng dụng vào thực tiễn để xây dựng TP.HCM phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế”. Ông Nguyễn Trường Nhân, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM, nói tại buổi họp mặt kiều bào Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước vào chiều 18-11.
Ông David Dương, Tổng Giám đốc VWS, cho biết sắp đưa vào sử dụng thêm nhà máy xử lý nước rỉ rác công suất 2.000 m3/ngày, nâng tổng công suất xử lý lên gần 3.300 m3/ngày. Nước thải sau xử lý sẽ đạt tiêu chuẩn quy định, được tái sử dụng cho sinh hoạt.
“Về mùi hôi, nếu nói bãi rác không có là không đúng mà vấn đề là mức độ nào. Chúng tôi đang thuê một nhóm tư vấn độc lập để xác định cái nào đã làm tốt và cái nào có thể làm tốt hơn cho việc xử lý mùi, khử mùi…
Tuy nhiên, để xử lý triệt để, tránh ảnh hưởng cho người dân xung quanh thì TP.HCM cần giải tỏa, thực hiện vành đai cây xanh theo quy hoạch” - ông David Dương nói. (Pháp Luật TP.HCM 19/11) đầu trang(
Đây cũng là dự án đầu tiên của TP Hà Nội thực hiện giải phóng mặt bằng cây xanh bằng cách đánh chuyển, di dời chứ không chặt hạ.
Như Báo Hànộimới đã đưa tin, sau khi được đánh chuyển, di dời phục vụ dự án đường sắt đô thị, hàng cây xanh trên đường Kim Mã hiện đang được chăm sóc kỹ lưỡng ở vườn ươm tại xã Đa Tốn (huyện Gia Lâm) để chuẩn bị cho cuộc hồi sinh trên những tuyến đường mới của Thủ đô. Sau khi hồi phục, cây xanh sẽ được trồng lại ở địa điểm thích hợp trên địa bàn TP Hà Nội. (Hà Nội Mới 20/11) đầu trang(
Anh Đỗ Xuân Kỳ – Giám đốc Công ty Cổ phần chế biến và xuất khẩu lâm sản Tracimexco cho biết: “Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa keo lai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Đây là giống cây thích hợp khi sinh trưởng trên vùng đất rừng ở Bắc Cạn”.
Qua nhiều năm làm rừng thuê anh cũng tích góp cho mình kinh nghiệm trồng rừng kha khá, đến năm 2014 anh mua lại của công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn với tổng diện tích theo hồ sơ thiết kế là 98,63ha, do điều kiện kinh tế khó khăn, công ty không đủ nguồn vốn để đầu tư trồng cây lâu niên nên anh đã mạnh dạn đầu tư trồng keo tai tượng (keo lai).
Hiệu quả trồng rừng của công ty đã góp phần tăng tỷ trọng ngành lâm nghiệp của bà con nơi đây, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân ở nông thôn. Trong thời gian tới, Công ty sẽ tiếp tục mở rộng diện tích phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.
Bên cạnh đó, nhờ có sự tuyên truyền, vận động, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng chống cháy hàng năm của cán bộ Hạt Kiểm lâm chính quyền địa phương, nên Công ty của anh đã có được thành công bước đầu từ trồng rừng keo nguyên liệu.
Theo anh Kỳ chia sẻ, trồng keo vừa có lợi về kinh tế vừa có lợi về môi trường. Trồng cây keo đầu tư chi phí thấp, dễ chăm sóc và mang lại hiệu quả kinh tế cao; đồng thời phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng trên địa bàn, lại có thời gian thu hoạch nhanh, khoảng 3 - 4 năm có thể thu hoạch. Với diện tích 98,63 ha đất rừng trong đó có 55ha đã trồng anh Kỳ đã có những kế hoạch trồng và khai thác luân phiên hàng năm. Năm 2015 Công ty đã thu hoạch những keo đầu tiên và đã thu về hàng trăm triệu thậm chí là hàng tỷ đồng.
Anh Kỳ chia sẻ: “Từ những kết quả đã đạt được, bản thân tôi và tập thể cán bộ công nhân viên công ty nhận thức được việc trồng cây phủ xanh đất trống đồi trọc và góp phần bảo vệ nguồn nước, ổn định khí hậu và là việc làm “Tốn kém ít mà lợi ích nhiều” như lời Bác đã dạy. Nghề này tuy thấy dễ nhưng lại khó làm nếu mình không hiểu được đặc tính, quy trình của cây. Nghề trồng rừng không khó, nhưng đòi hỏi người trồng rừng phải chịu khó…”.
Chọn cho mình hướng đi riêng từ nghề trồng rừng, anh Đỗ Xuân Kỳ đã làm giàu từ nghề này khi những cánh rừng mang lại cho Công ty nguồn thu đáng kể. Trải qua quãng thời gian dài vất vả, những cố gắng của anh trong nghề trồng rừng đã được đền đáp xứng đáng. (Dân Trí 21/11) đầu trang(
Thời gian qua cây keo lai đã chứng minh được hiệu quả kinh tế, mang lại cho người dân vùng rừng U Minh Hạ (Cà Mau) hàng trăm triệu đồng/ha sau mỗi đợt thu hoạch.
Tuy nhiên, do phát triển nhanh về diện tích, cộng với một số nơi trồng ngoài quy hoạch dẫn đến nỗi lo cung vượt cầu và giá giảm. Năm 2009, tỉnh Cà Mau được Bộ NN-PTNT cho phép bổ sung thêm cây keo lai trồng ở khu vực đất sản xuất của rừng tràm. Ngay sau đó, một số doanh nghiệp đã thuê đất và cùng người dân chuyển sang trồng keo lai.
Năm 2015, lứa keo lai đầu tiên được thu hoạch và bước đầu cho thấy loại cây này có giá trị về kinh tế, góp phần làm thay đổi vùng đất nghèo U Minh Hạ. Theo nhận định, ưu điểm dễ thấy của cây keo lai là phát triển tốt và giá bán cao.
Anh Phan Văn Đằng, ngụ xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, cho biết: “Đầu năm 2010, khi mô hình manh nha và có doanh nghiệp đầu tư nên tôi thuê cơ giới chuyển 2ha đất trồng tràm sang trồng keo lai. Loại cây này trồng rất đơn giản, chỉ cần lên liếp sau đó mua cây giống về đặt xuống. Khi cây còn nhỏ, nếu gặp trời nắng nóng mới tưới nước, không cần bón phân thuốc nhưng cây vẫn lớn trên mặt đất phèn; sau  4 - 5 năm sẽ đến kỳ thu hoạch”.
Anh Đằng tính toán, mỗi hécta keo lai cho sản lượng 200 - 250m3 gỗ (mỗi mét khối khoảng 800kg). Giá gỗ dao động trên dưới 1.000 đồng/kg; riêng các phụ phẩm cành, nhánh cũng bán được giá 500 đồng/kg… Đợt thu hoạch đầu tiên, gia đình anh Đằng bán gỗ được gần 400 triệu đồng, trừ chi phí còn lời 200 triệu đồng. Đây là nguồn thu nhập cao nhất từ trước tới nay ở xứ rừng tràm U Minh Hạ.
Theo ông Nguyễn Văn Liêu, Phó Chủ tịch xã Nguyễn Phích, bình quân mỗi hécta keo lai thu về khoảng 200 triệu đồng; trừ hết các khoản chi phí còn lời hơn 50%. So với cây tràm truyền thống thì giá trị kinh tế của keo lai cao gấp đôi, thời gian trồng cũng rút ngắn được 2 năm trên mỗi chu kỳ thu hoạch.
Từ hiệu quả ban đầu như trên nên thời gian qua, cây keo lai phát triển nhanh đến chóng mặt, dẫn đến nguy cơ phá vỡ quy hoạch. Nếu như năm 2014, diện tích keo lai ở Cà Mau khoảng 4.000ha thì nay đã tăng lên khoảng 8.500ha. Trong đó, các doanh nghiệp đầu tư chiếm đa số, với hơn 5.500ha; còn nông hộ trồng nhỏ lẻ với khoảng 3.000ha.
Tuy số hộ gia đình trồng keo lai tăng mạnh nhưng lại chưa liên kết với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra nên dự báo gặp khó trong khâu tiêu thụ. Ông Trần Trọng Nghĩa, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, bộc bạch: “Gia đình tôi đầu tư trồng 5ha keo lai được gần 3 năm, ước tính 2 năm nữa sẽ thu hoạch. Vấn đề đang lo là không biết tới đó giá cây keo lai có còn duy trì tốt như hiện nay hay không, bởi nhiều nơi đang phát triển mạnh loại cây này”.
Do nhiều hộ đổ xô trồng keo lai khiến nguồn giống không cung cấp đủ yêu cầu. Dẫn tới thực trạng giống chất lượng thấp, chưa được chọn lọc…
Ông Trần Văn Thức, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Cà Mau, cho biết: “Theo quy hoạch của tỉnh đến năm 2020 sẽ trồng khoảng 12.000 - 14.000ha keo lai tại U Minh Hạ. Hiện gỗ cây keo lai lớn được bán cho các cơ sở sản xuất đồ gỗ ở Bình Dương, Đồng Nai; còn cây nhỏ cung cho các nhà máy giấy.
Tuy nhiên, quan điểm chung của tỉnh là không khuyến khích trồng ào ạt, nhất là những nơi ngoài quy hoạch vì dễ dẫn tới tình trạng cung vượt cầu, giảm giá…”. (Sài Gòn Giải Phóng 21/11) đầu trang(
Khẳng định này được đưa ra tại Tọa đàm cấp cao về thực hiện sáng kiến giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) ở Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội.
Việt Nam đã đi tiên phong triển khai thực hiện REDD+ từ năm 2010, là một nước đầu tiên xây dựng Chương trình hành động quốc gia về REDD+ (NRAP), đi tiên phong trong nỗ lực lượng hóa các giá trị môi trường rừng, thực hiện thành công cơ chế chi trả cho môi trường rừng... Tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam đã tăng lên đáng kể từ 27% năm 1993 lên gần 41% vào năm 2015.
Tuy nhiên, cơ hội và thách thức phát triển trong giai đoạn mới đòi hỏi Việt Nam phải có những thay đổi thích ứng về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng bền vững, tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Lĩnh vực lâm nghiệp hiện được coi là một trụ cột trong chiến lược tăng trưởng xanh và đạt các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. REDD+ được coi là một sáng kiến, cơ hội để Việt Nam thay đổi cách tiếp cận quốc gia về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Để thích ứng với bối cảnh mới, Việt Nam đang tiến hành sửa đổi NRAP đưa ra tầm nhìn, tham vọng, định hướng mới về phát triển, quản lý và bảo vệ rừng theo hướng tiếp cận liên ngành để giải quyết các nguyên nhân và rào cản thực thi REDD+, dự kiến sẽ thông qua trong năm 2016. Tầm nhìn REDD+ Việt Nam đặt ra cho giai đoạn 2016-2020 là: Đảm bảo rừng có chất lượng cao được quản lý bền vững để tăng cường hấp thụ cac-bon từ các loại hình sử dụng đất; đóng góp vào việc tạo dựng nền kinh tế xanh và phát thải thấp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững và toàn diện; nâng cao đời sống người dân.
REDD+ là một cơ chế đa phương quốc tế Việt Nam cam kết tham gia giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, bảo tồn trữ lượng các-bon rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng và tăng cường trữ lượng cac-bon rừng, qua đó làm giảm thiểu biến đổi khí hậu toàn cầu, củng cố tiềm năng mang lại các lợi ích về môi trường, xã hội cho các quốc gia thực hiện.
Để thực hiện tầm nhìn REDD+ 2016-2020, Việt Nam dự kiến 3 gói giải pháp: Thứ nhấtlà giảm mất rừng. Với gói giải pháp này, Việt Nam sẽ rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tổng thể để đạt được mục tiêu 16,24 triệu ha đất cho lâm nghiệp vào năm 2020; thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản bền vững không gây mất rừng; cải thiện quản trị rừng và sinh kế cho người dân sống trong và gần rừng; tăng cường thực thi pháp luật về rừng.
Thứ hai là bảo tồn, nâng cao trữ lượng cac-bon rừng và quản lý rừng bền vững. Theo đó, Việt Nam sẽ nhân rộng các mô hình kinh doanh rừng có hiệu quả; thí điểm mô hình làm giàu rừng tự nhiên bền vững, bảo vệ và bảo tồn rừng; cải thiện môi trường kinh doanh và tài chính cho lâm nghiệp.
Thứ ba là thực hiện REDD+ và từng bước cải thiện, Việt Nam sẽ hoàn thiện và nâng cấp các công cụ REDD+ theo lộ trình; thực hiện các cơ chế quản lý cho REDD+; tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực để thúc đẩy REDD+, làm giảm nguy cơ dịch chuyển phát thải; điều phối, hỗ trợ, tuyên truyền, nâng cao năng lực thực hiện và giám sát tiến trình thực hiện NRAP.
Dự kiến trong năm 2017, kế hoạch đầu tư và khung huy động nguồn lực cho NRAP bao gồm cả các chỉ tiêu định lượng sẽ được xây dựng. Kế hoạch này sẽ huy động các đối tác để triển khai các hoạt động cụ thể, tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về đảm bảo an toàn xã hội và môi trường theo các cam kết quốc tế trong REDD+. Chính phủ Việt Nam cam kết thiết lập các cơ chế tài chính, thể chế hiệu quả, minh bạch nhằm tiếp nhận các khoản chi trả cho các kết quả đạt được, tái đầu tư cho các mục tiêu lâm nghiệp giai đoạn 2020.
Tại cuộc tọa đàm, bà Louise Chamberlain - Giám đốc quốc gia Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) - khẳng định: Việt Nam đã có những tiến bộ đáng ghi nhận trong thực thi REDD+; là quốc gia đi đầu thực hiện các sáng kiến giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng. Chính phủ Việt Nam đã nhận thức rõ các thách thức và đang nỗ lực tìm các nguồn lực, cách tiếp cận mới cũng như giải pháp bảo vệ rừng hiệu quả, bền vững, chống lại với biến đổi khí hậu.
UNDP cam kết tiếp tục là đối tác tin cậy gắn bó với Việt Nam thực hiện REDD+, hỗ trợ Việt Nam triển khai NRAP. (Báo Công Thương 21/11) đầu trang(
Ngành Gỗ Việt Nam là một trong những ngành phát triển mạnh. Kim ngạch xuất khẩu của Ngành đã tăng 6 lần trong vòng 10 năm (2004- 2014) và là Ngành duy nhất cán đích mục tiêu kim ngạch xuất khẩu trước 5 năm (năm 2015 đã đạt kim ngạch xuất khẩu 6,9 tỷ USD trong khi mục tiêu năm 2020 là 7 tỷ USD).
Hội nhập quốc tế chính là cơ hội, song cũng là những thách thức đặt ra đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp thiếu nguồn lực và kỹ năng cần thiết để thay đổi… Bối cảnh chung cho thấy, cần có chính sách để góp phần hỗ trợ ngành Chế biến xuất khẩu gỗ hội nhập hiệu quả.
Thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp cho thấy, năm 2015 Việt Nam có 4.000 doanh nghiệp (DN) chế biến và kinh doanh lâm sản. Trong số này có 3.000 DN trực tiếp chế biến, số còn lại là các DN thương mại.
Theo khảo sát của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) các sản phẩm gỗ từ Việt Nam hiện đang được tiêu thụ tại trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của toàn Ngành đạt 6,9 tỷ USD, tăng 10% so với kim ngạch của năm 2014 và 23% so với năm 2013.
Kim ngạch từ xuất khẩu nhóm các mặt hàng gỗ đạt 2,11 tỷ USD, chiếm 30,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm sản phẩm gỗ đạt 4,97 tỷ USD, tương đương 69,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2015 ngành Chế biến gỗ xuất khẩu chiếm vị trí thứ 6 về kim ngạch trong số những nhóm mặt hàng xuất khẩu của quốc gia.
Trong ngành Chế biến gỗ, hiện có 80% DN là sở hữu tư nhân; các DN có vốn đầu tư nước ngoài - FDI (khoảng 14%) và DN có vốn sở hữu nhà nước (4%). Mặc dù, số lượng các DN FDI chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu của các DN này rất lớn, chiếm khoảng 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của cả nước.
Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong quý I/2016, tổng kim nghạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của các DN FDI đạt 720 triệu USD, chiếm 47,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước.
Hiện ngành Chế biến gỗ đang thu hút được khoảng 300.000 lao động. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 1-2% trong tổng số là lao động có trình độ đại học; 20-30% trong tổng lao động được đào tạo bài bản, còn lại là lao động phổ thông (70-80%). Điều này dẫn đến chất lượng và năng suất lao động của ngành Gỗ Việt Nam thấp, chỉ bằng 50% năng suất lao động trong ngành gỗ của Philipin, 40% của Trung Quốc và 20% của Liên minh châu Âu (EU).
Về trình độ công nghệ, Báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp cho thấy, đa số các cơ sở chế biến gỗ trong nước ở quy mô nhỏ, có trình độ công nghệ thấp, máy móc thiết bị lạc hậu nên sản phẩm sản xuất đạt chất lượng thấp, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường mà đa số chỉ thực hiện gia công ở công đoạn sơ chế…
Theo phân tích của giới chuyên gia, khi tham gia hội nhập các cam kết có thể ảnh hưởng tới ngành Chế biến gỗ đều tập trung ở nhóm các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), mà chủ yếu là các nghĩa vụ trong khuôn khổ Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) và Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (TRIMS); các cam kết trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do đã hoặc sắp có hiệu lực phần nhiều không ảnh hưởng nhiều tới ngành Gỗ.
Sau khi rà soát các cam kết trong WTO, Báo cáo nghiên cứu “Các rủi ro chính đối với ngành Chế biến xuất khẩu gỗ trong bối cảnh hội nhập– Thực trạng và Đề xuất giải pháp chính sách” khẳng định rằng: Không gian chính sách chung cho ngành Chế biến xuất khẩu gỗ (với tính chất là một ngành sản xuất hàng hóa) là không nhiều. Bởi vì:
(i) Hiệp định SCM: Quy định rất nhiều các ràng buộc về các biện pháp trợ cấp/hỗ trợ tài chính cho DN và là khung khổ cơ bản giới hạn các chính sách hỗ trợ nói chung của một quốc gia thành viên với các ngành nội địa của mình. Hiệp định áp dụng cho hàng hóa phi nông nghiệp, do đó toàn bộ các quy định của Hiệp định này sẽ áp dụng cho ngành Gỗ. Như vậy, Hiệp định chỉ cho phép các nước thành viên, trong đó có Việt Nam thực hiện một số hình thức trợ cấp sau:
- Trợ cấp không cá biệt, tức là các loại trợ cấp không hướng tới một hoặc một nhóm DN/ngành/khu vực địa lý nào. Tiêu chí để hưởng trợ cấp là khách quan; không cho cơ quan có thẩm quyền cấp khả năng tùy tiện xem xét và không tạo ra hệ quả ưu đãi riêng đối với bất kỳ đối tượng nào;
- Trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu do các công ty, tổ chức nghiên cứu tiến hành (với một số điều kiện về loại trợ cấp và mức trợ cấp cụ thể);
- Trợ cấp cho các khu vực khó khăn (với các tiêu chí xác định cụ thể về mức thu nhập bình quân hoặc tỷ lệ thất nghiệp);
- Trợ cấp để hỗ trợ điều chỉnh các điều kiện sản xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới.
Đối với các trường hợp trợ cấp xuất khẩu hoặc trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu sẽ không được phép áp dụng. Tất cả các biện pháp trợ cấp khác ngoài những nhóm trên vẫn có thể thực hiện nhưng nếu gây thiệt hại cho các nước thành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của các nước thành viên thì có thể bị kiện ra WTO.
(ii) Hiệp định TRIMS: Quy định cụ thể về một số biện pháp liên quan tới đầu tư mà WTO cấm các nước thành viên áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Phần nhiều các biện pháp này hướng tới bảo đảm quyền được đối xử công bằng và quyền tự chủ trong các quyết định kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong các ngành sản xuất. Các quy định này của TRIMS đã được nội luật hóa trong Luật Đầu tư. Do đó, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc trong Luật Đầu tư, Việt Nam không bị ràng buộc nào khác từ TRIMS đối với ngành Chế biến, xuất khẩu đồ gỗ.
Rà soát các chính sách liên quan, trong một báo cáo mới đây của VCCI khẳng định, ngành Chế biến xuất khẩu gỗ là đối tượng của một số chính sách hỗ trợ chung cho nhiều nhóm chủ thể nhưng chỉ mang tính thời điểm (trong một số giai đoạn kinh tế khó khăn/khủng hoảng). Điển hình như:
- Quyết định 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009 về hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung và dài hạn ngân hàng để thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất – kinh doanh;
- Quyết định 131/QĐ-TTg ngày 23/1/2009 về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh;
- Nghị định 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước (được sửa đổi, bổ sung sau đố bởi Nghị định 54/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 và Nghị định 133/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013). Theo Nghị định này, sản xuất đồ gỗ xuất khẩu được xếp trong nhóm hàng thủ công mỹ nghệ, trong Danh mục mặt hàng được vay vốn tín dụng xuất khẩu; tuy nhiên, để phù hợp với các cam kết quốc tế, lãi suất vay được quy định là phải xác định theo nguyên tắc phù hợp với lãi suất thị trường. Vì vậy, về mặt nguyên tắc đây không phải là chính sách ưu đãi tín dụng.
Trên cơ sở xác định không gian chính sách khả thi còn lại theo các cam kết quốc tế và hiện trạng chính sách nội địa đối với ngành Chế biến xuất khẩu gỗ, VCCI đã đề xuất một số khuyến nghị về chính sách, chủ yếu tập trung vào 3 nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, hỗ trợ DN vượt qua rủi ro liên quan tới tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu.
Về nguyên tắc, khi các yêu cầu về tính hợp pháp của gỗ có hiệu lực toàn bộ, nếu hàng hóa đã được chuyển tới biên giới nước nhập khẩu mà DN không thể bảo đảm các yêu cầu về tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu, DN sẽ đứng trước nguy cơ hoặc là phải trả tiền lưu kho tại cảng trong lúc tìm kiềm bằng chứng chứng minh gỗ hợp pháp, hoặc là phải chuyển hàng về lại Việt Nam. Ở hai khả năng, DN đều chịu rủi ro, thiệt hại lớn.
Trong khi đó, Việt Nam lại chưa có cơ chế nào giúp DN có thể kiểm soát, giảm thiểu nguy cơ rủi ro nói trên trước khi xuất khẩu.
Giải pháp đặt ra là cần thiết lập cơ chế kiểm tra tự nguyện cho DN trước khi họ xuất hàng đi. Cơ chế này giống như một hình thức thử nghiệm giúp DN đánh giá được khả năng tuân thủ quy định về tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ ngay tại Việt Nam, từ đó có thể xử lý ngay trước khi hàng hóa sang đến thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, để cơ chế đạt được hiệu quả như mong muốn cần đảm bảo các yêu cầu sau:
(i) Cơ chế kiểm soát phải hoàn toàn tự nguyện, tránh việc tạo thêm các thủ tục mới không cần thiết cho DN;
(ii) Việc kiểm soát được thực hiện theo yêu cầu riêng của từng thị trường, nhằm tránh tình trạng DN xuất đi một thị trường nhưng lại phải đánh giá sự phù hợp của hàng hóa với yêu cầu của nhiều thị trường;
(iii) Việc kiểm soát được thực hiện miễn phí, thúc đẩy các DN thực hiện việc kiểm soát tự nguyện; đồng thời, đây cũng là hình thức hỗ trợ cho DN từ phía Nhà nước;
(iv) Kết quả kiểm soát/đánh giá chỉ có giá trị tham khảo với DN, không phải là loại giấy tờ bắt buộc mà DN phải có trước khi xuất khẩu.
Thứ hai, hỗ trợ DN xây dựng hệ thống kiểm soát chuỗi cung hiệu quả.
Cụ thể là xây dựng hệ thống kiểm soát chuỗi cung hiệu quả thông qua việc tổ chức chuỗi sản xuất đáp ứng một số tiêu chuẩn cấp chứng chỉ liên quan tới đảm bảo gỗ nguyên liệu có xuất xứ từ rừng và kinh tế như: ISO 9001/2008, FSC FM/COC, BSCI và SA 8000 là một trong những nhân tố cơ bản để DN đáp ứng các yêu cầu về tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu ở các thị trường xuất khẩu phát triển. Tuy nhiên, việc điều chỉnh chuỗi sản xuất, chuỗi cung nguyên liệu để đáp ứng các tiêu chuẩn để được cấp các chứng chỉ trên lại rất tốn kém, nhất là đối với các DN ngành Gỗ phần lớn là DN vừa và nhỏ.
Giải pháp cho vấn đề này là hỗ trợ tài chính hoặc kỹ thuật từ Nhà nước, cụ thể như:
(i) Hỗ trợ một phần chi phí xây dựng chứng chỉ: DN có các chứng chỉ được liệt kê có thể xuất trình hồ sơ chi phí xây dựng chứng chỉ để hỗ trợ một phần theo tỷ lệ cố định (ví dụ khoảng 30-50%). Trường hợp nguồn ngân sách không đủ hỗ trợ, có thể giới hạn hỗ trợ ở các DN nhỏ và vừa theo từng tiêu chí cụ thể;
(ii) Ưu đãi thuế thu nhập DN đối với DN gỗ có một trong các chứng chỉ liệt kê;
(iii) Cơ quan Nhà nước cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật như tư vấn chuyên môn, hướng dẫn việc thực hiện miễn phí cho các DN đang xin một trong các chứng chỉ trên.
Thứ ba, hỗ trợ DN xử lý rủi ro về lao động.
Khảo sát cho thấy, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho DN ngành Gỗ cải thiện chất lượng lao động là không nhiều, do vậy Nhà nước có thể hỗ trợ hoặc hỗ trợ một phần chi phí đào tạo lao động nghề mộc cho DN/trung tâm đào tạo nghề; khuyến khích tuân thủ pháp luật lao động thông qua biện pháp ưu đãi đãi về thuế. Qua đó, khuyến khích và thu hút lao động nghề này, đồng thời tạo điều kiện để người lao động học nghề mộc một cách bài bản với chi phí hợp lý.
Thứ tư, hỗ trợ DN nâng cao nhận thức, hiểu biết, thông tin về thị trường xuất khẩu. Cụ thể gồm:
(i) Thiết lập một hoặc các đầu mối thông tin về quy định pháp luật bắt buộc của thị trường xuất khẩu gỗ trọng điểm. Nội dung thông tin cung cấp phải bao hàm đầy đủ về quy định của từng thị trường xuất khẩu lớn hoặc có nguy cơ cao. Trường hợp các quy định dẫn chiếu tới quy định khác thì cần nêu cả nội dung của các quy định được dẫn chiếu. Do vậy, các thông tin cung cấp phải là những thông tin được xử lý phù hợp với trình độ và sự quan tâm của DN.
(ii) Tổ chức các khóa đào tạo, xuất bản các cẩm nang hướng dẫn DN về quy định của thị trường xuất khẩu về tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu.
Thứ năm, thúc đẩy việc tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật Việt Nam về nguồn gốc gỗ.
Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế trong vấn đề này, có một số giải pháp nên cân nhắc để tăng cường hiệu quả tuân thủ pháp luật như sau:
(i) Tăng mức xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật về khai thác, lưu thông, chế biến gỗ sao cho lợi nhuận thu được từ nhiều hành vi vi phạm/nhiều lần vi phạm không đủ bù đắp cho một lần bị xử phạt;
(ii) Xem xét các cơ chế khoan hồng trong trường hợp tự nguyên thông báo về hành vi vi phạm với cơ quan có thẩm quyền;
(iii) Có cơ chế thưởng xứng đáng cho cá nhân và các cơ quan chức năng cho các trường hợp phát hiện vi phạm hoặc tố giác hành vi vi phạm;
(iv) Công khai các trường hợp vi phạm trên các website của cơ quan quản lý để làm gương… (Tạp Chí Tài Chính 20/11) đầu trang(
Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 14% trong 10 tháng đầu năm nay, nhờ nhu cầu nhập khẩu mặt hàng đồ gỗ nội thất tại thị trường này tăng mạnh.
Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối dẫn số liệu ước tính của Tổng cục Hải quan cho biết, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc trong 10 tháng đầu năm tăng 14% so với cùng kỳ năm trước, lên 760 triệu USD.
Ước tính riêng trong tháng 10, xuất khẩu gỗ tăng nhẹ 3% lên 84 triệu USD.
Thống kê từ Bộ Công thương cũng cho thấy, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 28% lên 5,5 triệu USD trong tuần đầu tiên của tháng 11 năm nay.
Cục nhận định xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc trong thời gian tới tiếp tục được hỗ trợ từ các yếu tố là sự suy giảm của ngành gỗ Trung Quốc do Chính phủ nước này tập trung vào các ngành công nghiệp khác.
Mặt khác, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ nội thất tại thị trường Trung Quốc tăng do điều kiện sống của người dân tốt hơn. Ngoài ra, đô thị hóa là chính sách hàng đầu kích thích nhu cầu tiêu thụ tại nội địa Trung Quốc trong những năm tới. Theo đó, xu hướng tiêu dùng chính của người Trung Quốc là sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường. (Vietnambiz 20/11) đầu trang(
Ngày 21-11, tại Hội thảo tham vấn về bộ tiêu chí, phương pháp và mô hình đánh giá nguy cơ đối với các loại gỗ nhập khẩu trong hệ thống do Cục Kiểm lâm tổ chức, với sự tham gia của Hải quan cửa khẩu cảng biển và Kiểm lâm 8 tỉnh, thành phía Nam, các đại biểu đã đánh giá và đưa ra giải pháp quản lý gỗ nhập khẩu theo mô hình quản lý rủi ro.
Ông Đỗ Trọng Kim, Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm Việt Nam cho biết, hiện nay cả nước có 4.800 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng gỗ. Hoạt động xuất, nhập khẩu lâm sản diễn ra hàng ngày liên tục. Bình quân mỗi năm kim ngạch nhập khẩu gỗ đạt khoảng 1,5-1,7 tỷ USD, với khoảng 4,5 triệu m3 gỗ, tương đương 20-25% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam.
Chỉ tính riêng năm 2015, Việt Nam nhập khẩu gỗ với kim ngạch 7,1 tỷ USD, dự kiến năm 2016 sẽ đạt khoảng 7,6 tỷ USD. Đối với gỗ trong nước, khai thác gỗ rừng trồng 14 triệu m3, diện tích rừng trồng ở Việt Nam hiện nay khoảng 3.886.000 ha… đáp ứng cơ bản gỗ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Ông Hoàng Liên Sơn, Trung tâm nghiên cứu kinh tế Lâm Nghiệp- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cho biết, thống kê cùa Tổng cục Hải quan cho thấy, từ năm 2013-2015, Việt Nam đã nhập khẩu 413 loài gỗ từ 118 nước. Gỗ nhập khẩu gồm 2 loại gỗ tròn và gỗ xẻ.
Theo phân tích của ông Đỗ Trọng Kim, nhìn chung về cơ bản các cơ quan quản lý đã quản lý nguồn gỗ nhập khẩu, xuất khẩu, tuy nhiên vẫn còn tình trạng các đối tượng lợi dụng đưa nguồn gỗ bất hợp pháp vào gia công chế biến, xuất khẩu. Gỗ nhập lậu thường được vận chuyển qua các con đường tiểu ngạch tại biên giới.
Theo thống kê của Cục Kiểm lâm, năm 2014, 2015 và 9 tháng năm 2016, tại 56 tỉnh thành phố, có trên 400 loài gỗ được nhập khẩu vào các tỉnh. Các tỉnh đã phát hiện 516 vụ nhập khẩu gỗ trái phép, với khối lượng gỗ vi phạm trên 1.772 m3. Mặc dù, số vụ vi phạm về nhập khẩu gỗ giảm dần qua các năm, nhưng khối lượng gỗ vi phạm biến động không đều.
Trong đó, năm 2015, khối lượng gỗ vi phạm nhiều nhất, với gần 1 triệu m3 gỗ lậu bị phát hiện và thu giữ, gần gấp đôi so với năm 2014, gấp 3 lần số lượng gỗ thu giữ trong 9 tháng năm 2016.
Theo ông Hoàng Liên Sơn, Trung tâm nghiên cứu kinh tế Lâm Nghiệp- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, phần lớn các vụ vi phạm và lượng gỗ vi phạm thuộc các loài gỗ đã được định danh, với hồ sơ không hợp pháp. Trong đó, 10 loại gỗ có khối lượng vi phạm nhiều nhất là sồi trắng, lim xanh, căm xe, táu mật, giáng hương quả lớn, gõ đỏ...
Tại hội thảo các đại biểu đã tập trung phân tích và cho ý kiến trong việc định danh tên, loài gỗ nhập khẩu vào Việt Nam; tiêu chí phân loại gỗ; tiêu chí phân loại rủi ro; triển khai quản lý gỗ nhập khẩu sau khi hiệp định VPA/FLEGT có hiệu lực; cơ chế phối hợp quản lý gỗ nhập khẩu giữa cơ quan Kiểm lâm, Hải quan, Bộ Đội biên phòng để hạn chế tình trạng lợi dụng nhập lậu gỗ; khai thác gỗ trái phép…
Theo phân tích của các đại biểu, việc nhập khẩu gỗ cũng đi kèm nhiều thách thức, rủi ro. Trong bối cảnh hội nhập, ngành gỗ Việt Nam là một bộ phận trong chuỗi cung ứng quốc tế. Vì vậy, phải bắt buộc tuân thủ luật chơi quốc tế, trong đó yếu tố minh bạch, tính hợp pháp về nguồn gốc, xuất xứ chứng nhận pháp lý về nguồn gốc nguyên liệu gỗ là một đỏi hỏi cấp bách đối với các doanh nghiệp, nhất là việc xuất khẩu sang các thị trường lớn.
Chính vì vậy, trong thời gian tới cần phải thực hiện phân loại gỗ nhập khẩu và phải định danh cụ thể. Gỗ nhập khẩu được chia làm 2 nhóm: nhóm rủi ro và không rủi ro. Tất cả các loại gỗ nhập khẩu vào Việt Nam đều phải thực hiện bảng kê khai, đối với loài gỗ rủi ro và đến từ quốc gia rủi ro thì trong hồ sơ nhập khẩu, ngoài giấy phép, phải kèm theo hồ sơ tại nơi khai thác mới được phép nhập khẩu vào Việt Nam.
Đồng thời, việc đánh giá đúng cơ hội, xác định đúng những rủi ro, bao gồm: rủi ro về loài gỗ nhập khẩu, rủi ro về thị trường và các rủi ro pháp lý của việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu, sẽ giúp cơ quan quản lý hiệu quả đối với gỗ XNK, giúp doanh nghiệp hiểu biết rõ ràng và xây dựng hướng đi thích hợp cho sự phát triển của ngành gỗ trong hội nhập. (Báo Hải Quan 21/11) đầu trang(
Nhiều năm qua, ngành gỗ xuất khẩu của Việt Nam thường tăng trưởng 2 con số. Tuy nhiên năm nay, dự báo mức tăng trưởng sẽ giảm xuống còn một con số
Sau gần một năm hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN, thị trường đồ gỗ trong nước vẫn chưa bị tác động nhiều. Đồ gỗ nhập khẩu từ khu vực này cũng chưa tăng như nhiều người từng lo lắng. Theo nhận định từ Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, đây là yếu tố giúp các doanh nghiệp (DN) trong ngành nội thất yên tâm mở rộng thị trường trong nước, khẳng định tên tuổi của mình đối với người tiêu dùng cũng như bảo vệ thị trường nội địa trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.
Được biết năm 2009, tiêu thụ đồ gỗ nội địa tăng mạnh lên đến 2,9 tỉ USD. Tuy nhiên sau đó, do kinh tế khó khăn nên mức tiêu thụ giảm mạnh, còn 1,75 tỉ USD. Đến năm 2014, tăng lên 2 tỉ USD. Năm 2015, mức tiêu thụ trong nước không biến động nhiều. Theo Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, mức tiêu thụ đồ gỗ năm nay sẽ tăng hơn 10% do tác động từ thị trường bất động sản khá sôi động.
Từ cuối năm ngoái, thuế suất các mặt hàng gỗ trong khu vực AFTA sẽ được điều chỉnh còn 0%, theo lý thuyết, sản phẩm gỗ từ các nước trong khu vực sẽ tràn sang Việt Nam, trong đó có cả ASEAN + 1 (có cả Trung Quốc tham gia sân chơi này với giá rẻ và đa dạng sản phẩm). Nhiều năm qua, Thái Lan đã âm thầm thu gom các hệ thống phân phối lớn tại Việt Nam để chi phối thị trường sau này.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, cho biết trong khu vực chỉ Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines có khả năng xuất khẩu sản phẩm gỗ vào Việt Nam. Trong đó Thái Lan và Malaysia đã có nhà máy sản xuất đồ gỗ tại Việt Nam nên không cần phải đưa hàng từ nước họ sang Việt Nam; còn Indonesia và Philippines không có khả năng cạnh tranh với hàng Việt Nam nên không đưa hàng sang.
Cũng theo ông Hạnh, cho đến thời điểm này, cũng chưa thấy có làn sóng hàng ngoại tràn sang Việt Nam như dự đoán trước đây. Điều này đã giúp DN trong nước tự tin hơn. Bằng chứng là một số DN đã bắt đầu thực hiện dự án cho thị trường nội địa như tìm kiếm các nhà thiết kế riêng cho thị trường trong nước, sản xuất những mẫu thử nghiệm, phát triển dòng sản phẩm cho thị trường trong nước; thuê showroom nội thất hoặc mua mặt bằng để xây dựng kênh phân phối...
Trong khi đó, theo số liệu thống kê cũng như ước tính của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 10 tháng của năm khoảng 5,76 tỉ USD, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo đó, dự báo xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ cả năm 2016 sẽ đạt 7,2 tỉ USD, tăng 7,5% so năm trước. Theo giới kinh doanh, đây là mức tăng trưởng thấp so với mọi năm.
Được biết, những năm trước, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ thường có mức tăng 2 con số, có năm tăng trên 15%. Tuy nhiên năm nay, khả năng chỉ tăng nhẹ 7,5%. Nguyên nhân được Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM nhận định là do những năm trước, Trung Quốc nhập khẩu dăm gỗ của Việt Nam với số lượng lớn nhưng nay giảm mạnh. Năm nay chỉ có 2 thị trường đạt tăng trưởng tốt là Mỹ và Nhật Bản; còn thị trường châu Âu, Trung Quốc lại tăng trưởng âm.
Sở dĩ xuất khẩu không tăng mạnh là do nền kinh tế thế giới vẫn chưa thể phục hồi. Một số thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trước đây đang có xu hướng giảm. Thị trường châu Âu chưa có tăng trưởng do suy thoái kinh tế còn kéo dài chưa thể phục hồi được. Nhiều nhà máy sản xuất, chế biến gỗ tại Đức, Ý phải đóng cửa.
Theo thông tin từ Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM, sắp tới Trung Quốc sẽ đóng cửa rừng thiên nhiên. Do đó họ sẽ đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu gỗ trong thời gian tới. Đây là cơ hội để có thể tăng xuất khẩu cho các DN.
Năm 2014 và 2015, mỗi năm Việt Nam nhập khẩu đồ gỗ chỉ khoảng 56 triệu USD. Tuy nhiên, 10 tháng của năm 2016, các DN nhập khẩu 1,44 tỉ USD gỗ, ván, đồ gỗ, tăng 18,9% so cùng kỳ năm ngoái, riêng đồ gỗ có giá trị nhập khẩu là 54 triệu USD. (Người Tiêu Dùng 22/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế lần thứ 3 về chống buôn bán trái pháp luật các loài động vật, thực vật hoang dã diễn ra tại Hà Nội ngày 17 và 18-11, hổ là một trong những chủ đề đưa ra thảo luận.
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới khuyến nghị nên đóng cửa tất cả các trang trại hổ ở châu Á trong vòng 3 năm tới.
Việc nuôi nhốt hổ với mục đích thương mại tại châu Á hiện đang đe dọa tương lai sống còn của những cá thể hổ còn lại ngoài tự nhiên.
Theo báo cáo tổ chức TRAFFIC (Mạng lưới giám sát buôn bán động, thực vật hoang dã toàn cầu), khoảng 30% số lượng hổ bị bắt giữ từ năm 2012 đến 2015 có nguồn gốc từ chính các trại nuôi sinh sản.
Ngoài việc gây khó khăn cho các cơ quan thực thi pháp luật, các trại hổ cũng hợp pháp hóa việc buôn bán trái phép các bộ phận và sản phẩm làm từ hổ, dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đối với loại hàng này.
Ông Michael Baltzer, người đứng đầu Sáng kiến vì sự sống của loài hổ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) cho rằng: "Chính các trại nuôi nhốt hổ đang tiếp tay và mở rộng việc buôn bán hổ trái phép, do đó cần phải đóng cửa tất cả các trại hổ. Hội nghị tại Hà Nội sẽ là tiền đề lý tưởng để các nước cam kết đóng cửa toàn bộ trại nuôi hổ trên khắp châu Á. Điều này sẽ góp phần đáng kể vào việc giúp hổ hoang dã sống sót và hồi phục quần thể".
Bất chấp những nỗ lực trong khu vực để ngăn chặn nạn săn bắt và buôn lậu, báo cáo cập nhật năm 2016 “Chỉ còn Da và Xương” cho thấy từ năm 2000 trở lại đây, trung bình mỗi năm có khoảng 109 cá thể hổ bị giết và buôn bán. Con số thực tế chắc chắn còn cao hơn bởi đây chỉ là số liệu từ những vụ bắt giữ được, trong khi đó có nhiều vụ buôn lậu không bị phát hiện.
Việt Nam cũng đang là một điểm nóng về buôn bán trái phép hổ nuôi sinh sản với số lượng trại hổ ngày càng tăng khi gần 40% số vụ bắt giữ tại Việt Nam có nguồn gốc từ các trại này, trong khi Việt Nam chỉ cho phép nuôi sinh sản vì mục đích nghiên cứu khoa học.
Vai trò của Việt Nam trong buôn bán hổ trái phép đã được Ủy ban Công lý Động thực vật hoang dã (Wildlife Justice Commission) nhấn mạnh trong phiên điều trần công khai diễn ra tuần này tại Tòa án Quốc tế La Hay. Châu Á hiện có hơn 7.000 trại nuôi hổ, chủ yếu tập trung tại Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Việt Nam.
Tác giả báo cáo của TRAFFIC, bà Kanitha Krishnasamy cho biết: "Số lượng hổ bị nghi là có nguồn gốc từ các trại nuôi sinh sản ngày càng gia tăng là một dấu hiệu chắc chắn cho thấy các trại đang lách luật. Phần lớn các hoạt động này tập trung tại Lào, Thái Lan và Việt Nam".
Lần đầu tiên trong một thế kỷ, quần thể hổ trong tự nhiên trên thế giới đã gia tăng. Nhưng với số lượng chỉ vào khoảng 3.890 cá thể trong tự nhiên, quần thể này vẫn đang bị đe dọa, nhất là khi nạn săn bắt không có dấu hiệu giảm. Ấn Độ cho biết năm nay đã có 76 con hổ bị săn bắt trộm, cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây.
Chính phủ Ấn Độ đề xuất xây dựng một cơ sở dữ liệu cấp khu vực về các mẫu vân lông hổ để có thể so sánh hình ảnh những cá thể hổ bị bắt giữ, với hình ảnh từ máy ảnh cảm biến chụp hổ ngoài tự nhiên và hình ảnh hổ nuôi; tổng hợp bộ chỉ thị phân tử ADN của quần thể hổ tự nhiên lẫn hổ nuôi nhốt tại nước sở tại; thực hiện các chương trình thay đổi hành vi dựa vào nguồn thông tin này nhằm giảm nhu cầu tiêu thụ các bộ phận và sản phẩm từ hổ. Tất cả các nước nên hỗ trợ đề xuất này.
Tháng trước, Lào thông báo nước này sẽ đóng cửa các trại nuôi hổ. Thái Lan bắt đầu điều tra tất cả các trại hổ trên toàn quốc, sau khi phát giác vụ việc kinh hoàng về xác 40 con hổ con bị cất giữ trong bình tại Đền Hổ đầu năm nay.
Theo tiến sĩ Văn Ngọc Thịnh, Giám đốc Quốc gia Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới, Thái Lan và Lào đã có dấu hiệu dừng hoạt động nuôi nhốt hổ. Việt Nam cũng cần hành động tương tự và đi đầu trong những nỗ lực cấm nuôi nhốt hổ với mục đích thương mại tại châu Á. Không có lý do nào để bao biện cho sự tồn tại của các trại hổ này. Chứng cớ đã rõ ràng, nguồn lực về kỹ thuật và tài chính cũng đã sẵn sàng - điều chúng ta cần chính là quyết tâm chính trị.
Cùng với kế hoạch đóng cửa các trại hổ, chính phủ các nước châu Á cũng có thể tiến hành ngay những hành động cụ thể để đảm bảo hổ đang nuôi nhốt không bị buôn bán trái phép, trước khi lệnh cấm nuôi nhốt có hiệu lực.
Theo ông Michael Baltzer: "Hàng thập kỷ truyền thông và hành động để ngăn chặn nạn săn bắt hổ đã thu được một số thành công nhưng nguy cơ chính vẫn hiện hữu. Việc chấm dứt hoạt động nuôi hổ sinh sản có thể giảm sức ép, giúp các cơ quan thực thi pháp luật tập trung xử lý những đối tượng săn bắt và buôn bán hổ hoang dã".
Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới, ngày 23-11 năm nay, thế giới sẽ kỷ niệm 6 năm sự kiện quan trọng mang tính đột phá - Hội nghị Thượng đỉnh về hổ tại thành phố St. Petersburg (Nga) và đánh dấu nửa chặng đường của chiến dịch Tx2, nhằm nhân đôi số lượng hổ trong tự nhiên vào năm 2022.
Đây là chương trình tham vọng và quyết đoán nhất từ trước đến nay để phục hồi một loài đơn lẻ. (Tuổi Trẻ 21/11) đầu trang(./.