|
Ngày 22 tháng 10 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Trồng, kinh doanh cây cảnh không chỉ là một thú chơi tao nhã của những gia đình có điều kiện mà còn là một nghề hái ra tiền của nhiều gia đình. Vì thế, từ lâu đã hình thành một thị trường cây cảnh sôi động không kém thị trường bất động sản.
Thời gian qua, việc sản xuất, mua bán cây cảnh vẫn còn khá tự do và thiếu bàn tay quản lý của nhà nước. Đã có cả các loại cây cảnh có nguồn gốc từ rừng được mua bán khá tự do; thậm chí, có những cây rừng khá lớn được “bứng” về trồng trong vườn làm… đại cảnh sau đó được rao bán với giá hàng chục, thậm chí là hàng trăm triệu đồng mà hầu như không chịu một sự quản lý nào từ phía Nhà nước.
Ngày 5/10 vừa qua, Thủ tướng đã ký Quyết định 39/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý cây cảnh, cây bóng mát và cây cổ thụ - văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về quản lý việc vận chuyển, kinh doanh cây cảnh, cây bóng mát và cây cổ thụ.
Sự ra đời của quy chế này không chỉ là sự tăng cường quản lý nhà nước đối với một loại lâm sản khá đặc biệt để tránh việc “triệt hạ” rừng làm cây “đại cảnh” như thời gian vừa qua. Luật sư Nguyễn Hữu Cường, Phó Chủ nhiệm ĐLS tỉnh Lạng Sơn trao đổi thêm về nội dung Quy chế này:
Ông Cường cho hay: Theo Điều 1 của Quy chế thì Quy chế này được ban hành để quản lý việc vận chuyển, cất giữ và kinh doanh cây cảnh, kể cả các loại cây cảnh được nhập khẩu, tạm nhập tái xuất hay chuyển khẩu.
Với mục đích như trên, trong Quy chế có ban hành các quy định cụ thể của việc quản lý, như: cơ quan quản lý, thủ tục quản lý đối với các loại cây cảnh, cây bóng mát và cây cổ thụ có nguồn gốc do trồng, khai thác từ rừng tự nhiên hoặc là nhập khẩu. Tôi thấy, thủ tục quản lý mà Quy chế quy định chủ yếu là buộc các chủ sở hữu, người vận chuyển và cất giữ cây cảnh phải lập hồ sơ cây và khai báo với cơquan quản lý về số lượng, chủng loại, kích thước của cây.
Đánh giá nào về vai trò của Quy chế này đối với việc sản xuất, kinh doanh các loại cây cảnh, ông Cường cho rằng: Việc ban hành Quy chế quản lý cây cảnh, cây bóng mát và cây cổ thụ là rất cần thiết đối với một loại sản phẩm hàng hóa khá đặc biệt như cây cảnh. Đây là sản phẩm hàng hóa vừa có tính chất là lâm sản, vừa có tính chất nông sản lại là một loại hàng hóa mang tính nghệ thuật. Việc quản lý tốt hơn đối với mặt hàng này một phần góp phần bảo vệ rừng, tránh tình trạng khai thác rừng bừa bãi để làm cây cảnh, nhưng quan trọng hơn là từng bước đưa việc quản lý, kinh doanh cây cảnh vào nề nếp.
Hiện việc sản xuất, kinh doanh cây cảnh khá tự do. Ngoài các DN sản xuất, kinh doanh cây cảnh và dịch vụ cây cảnh được quản lý thông qua hệ thống quản lý DN như đăng ký kinh doanh và thuế thì các hộ nông dân sản xuất cây cảnh hoặc những cá nhân sở hữu cây cảnh hầu như không chịu sự quản lý nào từ phía Nhà nước.
Do thiếu quy chế quản lý nên có hiện tượng phá rừng để “bứng” đại thụ về làm đại cảnh trong thời kỳ mà các “đại gia” thích chơi “đại cảnh”. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng không kiểm soát được nhiều hoạt động kinh doanh cây cảnh khác dẫn đến tình trạng nhiều cá nhân, hộ gia đình hoạt động kinh doanh nhưng không đăng ký.
Quy định trong Quy chế quản lý cây cảnh không hạn chế đối với loại hình sản xuất, kinh doanh mặt hàng này và cũng không hạn chế thú chơi tao nhã của người dân. Ngược lại, với việc quy định tăng cường việc quản lý càng giúp cho người sở hữu cây cảnh an tâm hơn vì ngoài chiếm hữu thực tế đối với cây, các cá nhân này còn chứng minh quyền sở hữu tài sản bằng các giấy tờ đăng ký, kê khai sở hữu cây với cơ quan nhà nước. (Pháp Luật Việt Nam 22/10) đầu trang(
Hội thảo "Giới thiệu một số quy định về quản lý mẫu vật hoang dã” diễn ra ngày 19-10 tại Hà Nội, do Cơ quan quản lý CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp), Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) tổ chức.
Theo ông Đỗ Quang Tùng - Phó Giám đốc phụ trách Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, dù đã có một hệ thống các quy định pháp luật quản lý động, thực vật hoang dã khá hoàn chỉnh, song vẫn còn một số quy định chưa thực sự rõ ràng đã gây khó khăn trong công tác xử lý mẫu vật sau tịch thu. Đáng báo động là số lượng voi rừng và voi nhà tại Việt Nam hiện đang suy giảm nghiêm trọng. Đến nay ước tính cả nước chỉ còn khoảng 70 – 130 cá thể phân bố tại 10 khu vực. Nhiều hoạt động bảo tồn voi đã được triển khai tại Việt Nam , song đến nay chưa có giải pháp nào mang lại hiệu quả rõ rệt.
Để đảm bảo ít nhất 3 khu vực có voi sinh sống được bảo tồn, phát triển trong thế kỷ 21, các đại biểu kiến nghị: khẩn cấp hành động bảo tồn voi ở Việt Nam, tăng cường thực thi pháp luật, ngăn chặn tình trạng giết hại voi. Các cấp, các ngành khẩn trương thực hiện Đề án đến năm 2020 để bảo tồn voi châu Á tại Việt Nam. Các tổ chức, cá nhân và cộng đồng quốc tế giúp sức tăng cường năng lực bảo tồn voi ở Việt Nam... (Đại Đoàn Kết 20/10) đầu trang(
Giữa tháng 10/2012, UBND huyện Phong Điền đã phối hợp với công ty cổ phần đầu tư Hương Điền tổ chức họp dân để bàn phương án xử lý diện tích cao su và rừng WB3 tại xã Phong Sơn, huyện Phong Điền bị ngập sau khi thủy điện tích nước
Trong buổi họp, những vướng mắc về công tác đền bù trong quá trình xây dựng thủy điện Hương Điền tại xã Phong Sơn cũng được nêu ra cùng với việc giải quyết dứt điểm phương án đền bù cao su cho bà con.
Theo đó, Dự án thủy điện Hương Điền triển khai xây dựng từ 5/2005, với tổng mức đầu tư 1.620 tỷ đồng do công ty cổ phần đầu tư Hương Điền làm chủ đầu tư. Tuy nhiên trong quá trình triển khai xây dựng và tích nước lòng hồ, Ban quản lý Dự án thủy điện Hương Điền và các đơn vị liên quan đã không thực hiện việc kiểm tra kết quả đo đạt bản đồ của Trung tâm Kỹ thuật, Sở Tài nguyên môi trường tỉnh TT-Huế.
Khi bàn giao lòng hồ, các đơn vị đã cắm mốc quá ít so với tính phức tạp của bản đồ, không kiểm soát hết diện tích đất lòng hồ trước và sau khi bàn giao, gây ngập úng 58,3 ha cao su thuộc “Chương trình mục tiêu quốc gia về đa dạng hóa nông nghiệp, phát triển cao su tiểu điền”. Số diện tích cao su này được bà con nông dân xã Phong Sơn gieo trồng vào năm 2006, cùng với 28,2 ha rừng sản xuất theo Dự án WB3 được cấp quyền sử dụng đất và trồng rừng vào năm 2006. Trách nhiệm này thuộc về công ty đầu tư Hương Điền.
Tại buổi làm việc, các hộ dân rất bức xúc trước việc ban quản lý dự án thủy điện Hương Điền và các đơn vị liên quan đã không tuân thủ triệt để các quy tắc trước khi tích nước lòng hồ gây ngập úng các diện tích cao su và rừng nói trên; chây ỳ trong công tác đền bù thiệt hại.
Qua đó, yêu cầu Công ty cổ phần thủy điện Hương Điền và những đơn vị liên quan có trách nhiệm đưa ra những phương án bồi thường, hỗ trợ theo 2 phương án mà các hộ dân đã thông qua là “đất đổi đất” hay “quy ra toàn bộ bằng tiền” để bà con nông dân yên tâm phát triển sản xuất, tránh tình trạng nhiều hộ dân của xã Phong Sơn rơi vào cảnh nợ nần và tái nghèo.
Cho đến đầu tháng 11/2012, huyện Phong Điền sẽ thống nhất với Công ty cổ phần thủy điện Hương Điền để đưa ra phương án đền bù cuối cùng cho dân.
Như Dân trí đã đưa tin, do sự chồng chéo của các cơ quan chức năng trong quá trình quy hoạch lòng hồ thủy điện, và sự thiếu sâu sát khi cắm mốc, không kiểm tra vệ sinh lòng hồ trước lúc xả nước từ phía thủy điện Hương Điền nên khi tích nước vào lòng hồ đã gây ngập một diện tích lớn trồng cao su và trồng rừng WB3 của bà con xã Phong Sơn. Tổng cộng có gần 90ha rừng đã bị ngập, hư hại với trị giá hàng chục tỷ đồng. Cũng trong quá trình kiểm tra của đoàn Bộ NN&PTNT tại đây cũng đã chỉ rõ “thủy điện tuy có lợi nhưng hại cũng khá nhiều”. (Dân Trí 22/10) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo UBND tỉnh, đề án tổ chức thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng lưu vực sông, lòng hồ của các nhà máy thủy điện (đã phát điện) đang được triển khai xây dựng; trong đó bước đầu thí điểm giao khoán rừng cho người dân tại 2 thôn A Bông, A Sờ (xã Mà Cooih, huyện Đông Giang) thuộc lưu vực lòng hồ thủy điện A Vương.
Cụ thể, đã có 2.520ha rừng giao khoán cho 111 hộ nhận bảo vệ và hưởng lợi theo chính sách của Nhà nước, với mức hỗ trợ nhận khoán 274.000 đồng/ha/tháng; bình quân mỗi hộ được hỗ trợ 5,6 triệu đồng/năm. UBND tỉnh cũng chỉ đạo hoàn chỉnh đề án giao rừng gắn với giao đất cho các Ban quản lý rừng, dự kiến tổ chức thực hiện từ năm 2013. (Đại Biểu Nhân Dân 20/10) đầu trang(
Dự án Thiên nhiên tôi chọn với chủ đề “Vì động vật hoang dã” do Ban điều phối Phong trào toàn cầu chống biến đổi khí hậu 350.org Việt Nam triển khai từ nay đến cuối năm 2013 tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước.
Đây là hoạt động nâng cao nhận thức của mọi người đối với vấn nạn săn bắt, buôn bán và tiêu thụ trái phép động vật hoang dã; thông qua những việc làm ý nghĩa như: vận động các nhà hàng, quán ăn ký cam kết không buôn bán, tiêu thụ sản phẩm động vật hoang dã... (Thanh Niên 20/10) đầu trang(
18/10, tại xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội xảy ra cháy rừng. Chính quyền, cơ quan quân sự, công an, kiểm lâm, dân quân… huy động lực lượng gồm hơn 500 người tham gia chữa cháy. Sau hơn hai giờ, đám cháy được dập tắt, thiệt hại gần 3ha thảm thực vật và rừng thông.
Nguyên nhân do đám cháy ngày 17-10 chưa được dập tắt triệt để, tàn lửa đã bùng phát trở lại. Sau vụ cháy, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm đã cắt cử lực lượng tăng cường theo dõi, phát hiện kịp thời đám cháy có thể bùng phát trở lại, nhất là trong điều kiện thời tiết hanh khô. (Quân Đội Nhân Dân 20/10) đầu trang(
9 tháng đầu năm, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 3 vụ cháy rừng với diện tích 15,8 ha, tăng 2 vụ, thiệt hại gấp 5 lần diện tích cháy so với năm 2011. Trước diễn biến thất thường của thời tiết, đặc biệt vào mùa khô hanh sẽ là tác nhân dễ gây ra những vụ cháy rừng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tích cực triển khai nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những thiệt hại do hỏa hoạn gây ra.
Hiện Quảng Ninh có 428.378 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó tổng diện tích đất có rừng là 316.578,7ha, độ che phủ đạt 47,7% (theo tiêu chí mới của Bộ NN và PTNT), nếu tính cả rừng trồng chưa khép tán trong 3 năm thì đạt độ che phủ 51,8%, tăng 1,2% so với năm 2010. Với diện tích rừng lớn như vậy, cộng với đang vào đầu mùa khô, các nhân tố khí hậu, thủy văn như bốc hơi, thoát nước, dưới các tán rừng có thảm thực bì khô, nỏ dễ bắt lửa đã gây ảnh hưởng đến nguồn vật liệu dễ cháy trong rừng và ven rừng.
Thêm nữa, phần lớn rừng trong tỉnh tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trong khi, đây lại là thời gian bà con nông dân sản xuất vụ đông xuân, phương thức canh tác còn lạc hậu, vẫn còn những trường hợp phát nương, đốt rẫy, xử lý thực bì không có sự kiểm soát khiến nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Khi xảy ra cháy trong điều kiện địa hình phân bố phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, nguồn nước xa sẽ dễ lây lan trên diện rộng, khó kiểm soát.
Có thể điểm đến: mặc dù ngay từ đầu năm, các ngành chức năng trong tỉnh đã chủ động tổ chức tuyên truyền và có kế hoạch PCCCR đến các các địa phương trong tỉnh. Song vẫn để xảy ra 3 vụ cháy rừng tại TP Móng Cái, TP Cẩm Phả và TP Uông Bí với diện tích 15,8 ha, tăng 2 vụ, thiệt hại gấp 5 lần diện tích cháy so với năm 2011 (năm 2011 toàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy tại địa phận giáp ranh TX Quảng Yên với huyện Hoành Bồ với diện tích 3ha). Lực lượng Kiểm lâm và chính quyền địa phương đã phải huy động gần 500 người tham gia chữa cháy.
Theo Chi cục kiểm lâm: Các vụ cháy lớn thời gian qua đều tập trung tại các rừng thông. Quảng Ninh có hơn 40.000 ha rừng trồng thông, trong đó có hơn 16.000 ha thuộc dự án trồng thông được đầu tư bằng kinh phí nhà nước trong 3 năm đầu. Sang năm thứ 4 các diện tích thông này không còn kinh phí để xử lý thực bì, giảm vật liệu cháy, không xây dựng, tu sửa hệ thống đường băng cản lửa chống cháy lan… đã khiến một phần diện tích rừng trên bị lửa thiêu cháy.
Xác định được tầm quan trọng của rừng trong việc giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường sinh thái. Do vậy, công tác phát triển và bảo vệ rừng, chủ động PCCCR đang được các cấp chính quyền trong tỉnh, đặc biệt lực lượng Kiểm lâm tập trung, đẩy mạnh. Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã lập đề cương đầu tư xây dựng Dự án xử lý thực bì giảm vật liệu cháy bảo vệ diện tích rừng thông đã hết giai đoạn đầu tư cơ bản thuộc các dự án rừng đặc dụng, rừng phòng hộ do nhà nước đầu tư trên địa bàn tỉnh và được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 2491/QĐ-UBND ngày 2-10-2012.
Theo quyết định: Tổng diện tích rừng được bảo vệ là 16.870,8 ha, trong đó rừng đặc dụng có 612 ha còn lại là rừng phòng hộ với tổng số tiền 748 triệu đồng. Đây là một trong những hướng tích cực nhằm bảo vệ diện tích rừng thông hiện có, góp phần nâng cao độ che phủ của rừng, hạn chế xói mòn, tăng cường khả năng phòng hộ, bảo vệ cảnh quan môi trường đồng thời cũng có ý nghĩa giảm chi phí khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra và góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng.
Để hạn chế cháy rừng từ các nguyên nhân chủ quan do người dân tự ý mang lửa vào rừng, đốt nương làm rẫy không tuân thủ quy trình… Ban chỉ đạo PCCCR các địa phương trong tỉnh trong đó có lực lượng Kiểm lâm đã chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật bảo vệ rừng, tổ chức ký cam kết thực hiện nội quy, quy chế PCCCR, nâng cao nhận thức của người dân và chủ rừng.
Ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm phối hợp các ngành liên quan tổ chức được hơn 100 lớp tập huấn và tuyên truyền công tác PCCCR trong Dự án nâng cao năng lực phòng, chữa cháy rừng. Phối hợp chính quyền địa phương, cơ quan thông tấn, báo chí tổ chức diễn tập, tuyên truyền PCCCR, thường xuyên cử cán bộ xuống tận địa bàn hướng dẫn nhân dân chấp hành nghiêm túc những quy định phát đường băng cản lửa, đốt nương rẫy vào buổi sáng, khi trời lặng gió và trước khi thực hiện đốt phải báo cáo chính quyền địa phương để chủ động lực lượng khi sự cố xẩy ra…
Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh còn tổ chức các đoàn kiểm tra diện tích rừng có nguy cơ cháy cao nhằm hướng dẫn các chủ rừng về công tác vệ sinh, chăm sóc rừng trồng và mang các vật liệu dễ cháy ra khỏi phạm vi rừng. Chủ động phối hợp với ngành chức năng tại địa phương thực hiện phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ), đặc biệt là các vùng giáp ranh liên xã, liên huyện. Cương quyết phát hiện và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng…
Chi cục còn thường xuyên phối hợp với các địa phương, đơn vị doanh nghiệp trồng và kinh doanh rừng tổ chức các buổi diễn tập để lấy kinh nghiệm thực tế khi đối phó với sự cố cháy rừng.
Đi đôi với các biện pháp trên là tinh thần nêu cao trách nhiệm của thành viên Ban chỉ đạo PCCCR các cấp và cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn. Các đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan dự báo khí tượng thuỷ văn nắm chắc diễn biến thời tiết để thông tin kịp thời cho các địa phương, chủ rừng, chủ động trong công tác PCCCR, nhằm tránh những thiệt hại đáng tiếc từ cháy rừng gây ra.
Để công tác PCCCR hiệu quả, thiết thực, rất cần có sự tham gia của cả cộng đồng, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành chức năng và nhân dân. Đặc biệt là sự hưởng ứng tích cực của các doanh nghiệp trồng và kinh doanh rừng sản xuất trong việc đầu tư trang thiết bị, tổ chức các buổi diễn tập để lấy kinh nghiệm thực tế khi đối phó với sự cố cháy rừng. Với người dân, nhất là người dân sống bằng nghề rừng, sống gần rừng, cần nâng cao hơn nữa ý thức chăm sóc và bảo vệ rừng. Đây sẽ là giải pháp hiệu quả nhất trong công tác PCCCR, bảo vệ màu xanh cuộc sống, phục vụ cho nhu cầu sống của chính người dân xung quanh. (Báo Quảng Ninh 20/10) đầu trang(
Bạc Liêu được thiên nhiên ban tặng một vườn chim rộng lớn nằm ngay trong lòng thành phố - điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong ngoài nước.
Từ trung tâm TP.Bạc Liêu, du khách chỉ cần đi vài cây số về hướng biển Đông là đã đến vườn chim. Ông Nguyễn Trung Chánh, Giám đốc Ban quản lý Vườn chim Bạc Liêu (VCBL), cho biết vườn rộng hơn 130 ha, có trên 100 loài chim, cò với tổng lượng cá thể khoảng 60.000 con. Trong đó, có nhiều loài chim quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam, như: giang sen, cốc đế, diệc, bồ nông, sếu đầu đỏ…
Ngoài ra, còn có 150 loài động vật, 109 loài thực vật tạo nên một quần thể đa dạng sinh học rất độc đáo. VCBL cũng có tên trong danh mục các vùng đất ngập nước châu Á, có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế. Đặc biệt, VCBL còn được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên cấp quốc gia. Chính hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên, hoang dã này là tiềm năng quan trọng cho phát triển du lịch sinh thái.
Nằm trong tổng thể phát triển du lịch Bạc Liêu, vườn chim đã kết nối với một số dự án phát triển du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu du lịch - dịch vụ cụm nhà Công tử Bạc Liêu; Khu du lịch bãi biển Nhà Mát; Khu du lịch nhãn cổ; Khu du lịch sinh thái rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ven biển… Thời gian gần đây, tỉnh Bạc Liêu đã quy hoạch mở rộng diện tích, trồng thêm rừng, xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên VCBL. Đồng thời kêu gọi các nhà đầu tư từng bước xây dựng vườn chim trở thành khu du lịch sinh thái, độc đáo hấp dẫn tại vùng ĐBSCL.
Dù tiềm năng, lợi thế là không nhỏ nhưng thời gian qua, VCBL chưa được khai thác một cách tốt nhất. Đã có không ít doanh nghiệp triển khai đầu tư phát triển du lịch sinh thái tại đây, nhưng do nhiều nguyên nhân nên không phát huy hiện quả. Đơn cử, tháng 10.2010, Sở NN-PTNT Bạc Liêu hợp đồng cho nhà đầu tư là Công ty CP đầu tư và du lịch Rồng Việt (Công ty Rồng Việt) thuê để xây dựng khu du lịch sinh thái tại VCBL. Nhà đầu tư cam kết sẽ đầu tư nhiều hạng mục công trình với tổng kinh phí hơn 100 tỉ đồng để biến vườn chim trở thành điểm du lịch hấp dẫn nhất ở miền Tây.
Tuy nhiên, sau khi dự án được khởi công “hoành tráng”, đến nay Công ty Rồng Việt chỉ trồng ít hoa kiểng trong khuôn viên vườn chim, xây dựng chuồng nuôi heo rừng, nuôi nai; sửa chữa đài quan sát chim cò; sửa vườn chim thu nhỏ để thuần dưỡng chim hoang dã cho du khách xem; xây chuồng nuôi cá sấu; bãi đỗ xe… Hiện hầu hết các hạng mục nêu trên đều không phát huy tác dụng và đã hư hỏng.
Theo báo cáo của ban quản lý vườn, đơn vị đã nhiều lần đề nghị Công ty Rồng Việt xem xét về việc xây dựng đề án du lịch sinh thái vườn chim nhưng không được công ty phản hồi. Việc điều hành, quản lý của Công ty Rồng Việt ban đầu có 12 người nay đã nghỉ 10 người, chỉ còn lại 2 nhân viên bán vé. Mặc dù, trong thời gian dài Công ty Rồng Việt không tiếp tục đầu tư, nhưng vẫn lợi dụng phong cảnh hiện có ở vườn chim để bán vé cho khách tham quan. Hầu hết những người sau khi tham quan cảnh ngổn ngang trong khu du lịch sinh thái này đều tỏ thái độ bức xúc. Bởi theo họ khu du lịch vườn chim không có gì đáng để xem, cơ sở vật chất thì cũ kỹ, xuống cấp nghiêm trọng.
Để bảo tồn và phát huy tiềm năng du lịch, Ban quản lý vườn chim đã đề nghị Sở NN-PTNT lựa chọn nhà đầu tư mới có năng lực hơn hoặc trả lại hiện trạng cho đơn vị quản lý, bảo tồn khu thiên nhiên cấp quốc gia này. (Thanh Niên 20/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
UBND huyện Phú Quốc vừa có văn bản báo cáo UBND tỉnh Kiên Giang về tình trạng chặt phá và bao chiếm đất rừng tại địa bàn xã Cửa Cạn và thị trấn An Thới, đảo Phú Quốc, được một số phương tiện thông tin đại chúng phản ánh trong thời gian gần đây.
Theo UBND huyện Phú Quốc, phần lớn diện tích đất bị người dân bao chiếm, chặt phá cây gỗ không phải là đất rừng mà là đất do UBND cấp xã quản lý hoặc đất thuộc diện giải phóng mặt bằng giao cho doanh nghiệp đầu tư dự án. Tuy nhiên, việc người dân bao chiếm đất xảy ra đã lâu nhưng UBND xã Cửa Cạn không xử lý, không báo cáo cấp trên là thiếu trách nhiệm trong quản lý nhà nước về đất đai. Cũng theo UBND huyện, trong số 19,026ha rừng bị chặt phá có 16,53ha rừng phòng hộ. (Tuổi Trẻ 20/10) đầu trang(
Theo thông tin từ hội thảo “Giới thiệu một số quy định về quản lý mẫu vật hoang dã,” tổ chức ngày 19/10 tại Hà Nội, số lượng voi rừng và voi nhà tại Việt Nam đang suy giảm nghiêm trọng.
Từ 1.500-2.000 cá thể voi hoang dã phân bố khắp cả nước trong những năm 1975-1980, đến nay ước tính cả nước chỉ còn khoảng 70-130 cá thể phân bố ở 10 khu vực, trong đó, số lượng cá thể và cơ cấu tốt nhất còn ở ba tỉnh là Nghệ An (13-17 cá thể), Đồng Nai (1 đàn 10 cá thể), Đắk Lắk (10 đàn voi có 83-110 cá thể).
Tại hội thảo, các đại biểu đã tìm hiểu các quy định trong buôn bán ngà voi và công tác bảo tồn loài voi tại Việt Nam.
Theo ông Ngô Lê Trụ, Vụ Bảo tồn Thiên nhiên-Tổng cục Lâm nghiệp, nguyên nhân voi rừng bị suy giảm là do diện tích rừng bị phá, chuyển đổi mục đích làm thu hẹp vùng sống của voi; voi đực bị săn bắn lấy ngà; người dân giết voi trong những cuộc xung đột giữa voi và người. Ngoài ra, người Tây Nguyên có phong tục bắt voi rừng thuần dưỡng thành voi nhà.
Trong khi đó, tổng số voi nhà hiện nay còn chủ yếu ở Đắk Lắk là 51 cá thể. Voi nhà bị suy giảm do một số nguyên nhân chủ yếu như tình trạng khai thác sức voi quá mức; thiếu kinh nghiệm chăm sóc dinh dưỡng và sinh sản cho voi; voi bị bán đi nơi khác để kiếm lời; voi bị bắn trộm để lấy ngà, lông đuôi và xương...
Nhiều hành động bảo tồn voi đã được triển khai tại Việt Nam song đến nay chưa có giải pháp nào mang lại hiệu quả rõ rệt.
Với mục tiêu bảo tồn, phát triển bền vững những quần thể voi hoang dã và voi nhà hiện có ở Việt Nam, đồng thời bảo tồn và khôi phục các vùng sinh cảnh nơi có quần thể voi đang sinh sống, đảm bảo ít nhất 3 khu vực có voi sinh sống được bảo tồn, phát triển trong thế kỷ 21, các đại biểu đã thống nhất kiến nghị khẩn cấp hành động bảo tồn voi ở Việt Nam.
Theo các đại biểu, cần tăng cường thực thi pháp luật, ngăn chặn tình trạng giết hại voi; các cấp, các ngành khẩn trương thực hiện Đề án đến năm 2020 để bảo tồn voi châu Á tại Việt Nam; các tổ chức, cá nhân và cộng đồng quốc tế giúp sức tăng cường năng lực bảo tồn voi ở Việt Nam...
Cũng tại hội thảo do Cơ quan quản lý CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp)-Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) phối hợp tổ chức, ông Đỗ Quang Tùng, Phó giám đốc phụ trách Cơ quan quản lý CITES Việt Nam cho biết gần đây, các cơ quan chức năng đã tịch thu nhiều mẫu vật các loài quý hiếm như ngà voi, sừng tê giác, tê tê có xuất xứ từ nước ngoài.
Việc xử lý các mẫu vật không có nguồn gốc từ Việt Nam đòi hỏi phải tuân thủ theo các quy định trong nước, luật pháp quốc tế và những cam kết liên chính phủ mà Việt Nam đã tham gia. Mặc dù đã có một hệ thống các quy định pháp luật quản lý động, thực vật hoang dã khá hoàn chỉnh, song vẫn còn một số quy định chưa thực sự rõ ràng đã gây khó khăn trong công tác xử lý mẫu vật sau tịch thu. (VietnamPlus.vn 19/10; Sài Gòn Giải Phóng 20/10; Thanh Niên 20/10; Pháp Luật TPHCM 20/10; Đất Việt 20/10) đầu trang(
Tính đến hết ngày 15/10, toàn tỉnh Yên Bái đã trồng mới trên 14 ngàn ha rừng, đạt gần 94% kế hoạch, trong đó có 5.798 ha keo hạt, keo lai, 2.792 ha quế, 2.440 ha bồ đề, mỡ còn lại là tre Bát độ, sơn tra và trồng cây phân tán.
Song, với những cơ chế chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh, sự chỉ đạo sát sao của ngành nông nghiệp, các huyện, thị, thành phố cùng với sự nỗ lực của các thành phần kinh tế, đến ngày 15/10/2012, toàn tỉnh đã trồng được trên 14 ngàn ha rừng, đạt trên 94% kế hoạch, nhiều địa phương đạt trên 100% kế hoạch đề ra.
Ông Kiều Tư Giang - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh phấn khởi: “Dẫu gặp nhiều khó khăn nhưng do làm tốt công tác chuẩn bị đất, giống cây, cùng với cơ chế chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh và sự nỗ lực của bà con nông dân nên tiến độ trồng rừng vẫn đảm bảo. Hiện nay, bà con nông dân, cùng các nông - lâm trường, công ty lâm nghiệp và các tổ chức xã hội đang tích cực trồng nốt diện tích còn lại.
"Với khí thế, tốc độ như hiện nay chắc chắn hết tháng 10 toàn tỉnh sẽ trồng đạt và vượt mức kế hoạch đề ra. Hiện đã có 3 huyện, thị trồng đạt và vượt mức chỉ tiêu là: Trấn Yên, Trạm Tấu và Lục Yên. Không chỉ trồng đạt kế hoạch mà chất lượng rừng trồng năm nay cũng rất đảm bảo, từ giống cây cho đến kỹ thuật trồng, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%” - ông Giang nói.
Tính đến hết ngày 15/10/2012, toàn tỉnh đã trồng mới trên 14 ngàn ha rừng, đạt gần 94% kế hoạch, trong đó có 5.798 ha keo hạt, keo lai, 2.792 ha quế, 2.440 ha bồ đề, mỡ còn lại là tre Bát độ, sơn tra và trồng cây phân tán.
Một số huyện đã trồng đạt và vượt mức kế hoạch cao là: Trấn Yên 2.794/2.150ha, đạt 130% kế hoạch giao, Trạm Tấu 559/520ha, đạt 104% kế hoạch, Lục Yên đạt 100% kế hoạch, các huyện, thị khác cũng đã trồng đạt gần 100% kế hoạch.
Hiện chỉ còn huyện Văn Chấn mới đạt 77% kế hoạch và huyện Yên Bình 88% kế hoạch nhưng các huyện này cũng đang nỗ lực và phấn đấu trồng hoàn thành xong trong tháng 10.
Để đạt được kết quả đó, ngay từ cuối năm 2011 Chi cục Phát triển lâm nghiệp đã chỉ đạo các huyện thị, ban quản lý các huyện, thị, nông lâm trường chuẩn bị 18 triệu cây giống các loại, đáp ứng đủ giống cho trồng rừng vụ xuân.
Bên cạnh đó, Chi cục còn phối hợp cùng với các huyện, thị, thành phố tiến hành rà soát, thiết kế, chuẩn bị đất và xây dựng kế hoạch giao cụ thể tới các xã. Song song với đó là tỉnh đã có cơ chế hỗ trợ 1 triệu đồng/ha đối với trồng rừng sản xuất ở các thôn, bản đặc biệt khó khăn của các xã vùng II và xã vùng III.
Mặc dù gặp khó khăn chung của nền kinh tế, ngân hàng thắt chặt tín dụng nhưng từ những tháng đầu năm 2012 thị trường lâm sản đã diễn ra rất sôi động, đặc biệt là gỗ nguyên liệu giấy và gỗ phục vụ cho ván bóc. Có thời điểm giá gỗ nguyên liệu giấy cũng đạt 700 ngàn đồng/m3, gỗ ván bóc lên tới 1,1 triệu đồng đến 1,4 triệu đồng/m3.
Nông dân phấn khởi khai thác và thấy rõ hiệu quả kinh tế rừng mang lại nên bà con tích cực lên đồi phát cỏ, cuốc đất trồng rừng. Không chỉ trồng rừng mà người dân còn biết gắn với chế biến để nâng cao giá trị kinh tế, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động.
Chưa bao giờ việc trồng và chế biến gỗ rừng trồng lại phát triển mạnh như hôm nay, huyện, thị nào cũng có hàng trăm cơ sở chế biến gỗ rừng trồng. Xe máy, nhà xây, con em được học hành đầy đủ cũng một phần nhờ trồng rừng, chế biến gỗ rừng trồng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì công tác trồng rừng cũng gặp không ít khó khăn. Đó là vốn cho trồng rừng, nhất là trồng, bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phải cần đến trên 90 tỷ đồng nhưng Trung ương mới cấp 65 tỷ đồng, tỉnh cũng chỉ cấp được 12 tỷ đồng.
Không chỉ có vậy mà trong số 65 tỷ đồng do Trung ương cấp thì đã có tới 30 tỷ đồng dành chi trả nợ cho trồng 1.600 ha rừng phòng hộ và bảo vệ, chăm sóc của năm 2011. Hiện nay các địa phương đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn cho trồng rừng, chăm sóc năm 1, năm 2 của diện tích rừng phòng hộ.
Một vấn đề nữa là nếu chúng ta nhìn tổng thể thì kế hoạch trồng rừng năm 2012 sẽ đạt kế hoạch nhưng tính từng địa phương, từng ngành kinh tế thì cũng sẽ có nơi không hoàn thành kế hoạch. Lý do rất đơn giản là đất để trồng rừng ở vùng thấp đã cơ bản được phủ kín, muốn có đất trồng mới thì chủ yếu dựa vào khai thác mà muốn khai thác được lại hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường, nếu giá nguyên liệu người dân sẽ không khai thác vội mà còn chờ thời.
Thiết nghĩ, tỉnh và ngành nông nghiệp cần rà soát, đánh giá cụ thể hiện trạng đất đai, rừng để ra kế hoạch cho trồng rừng năm 2013 phù hợp. Song song với đó cũng cần có những cơ chế, chính sách hỗ trợ cũng như chính sách thu hút đầu tư “đặc thù” cho ngành chế biến lâm sản, nhất là chế biến sâu để nâng cao giá trị gỗ rừng trồng. (Báo Yên Bái 20/10) đầu trang(
Xã Bình Trung (Chợ Đồn) đã chú trọng chỉ đạo công tác bảo vệ và phát triển rừng, vận động nhân tham gia phủ xanh đất trống đồi núi trọc... Từ phong trào phát triển kinh tế rừng, nhiều hộ dân đã có cuộc sống ổn định, từng bước vươn lên làm giàu nhờ trồng rừng.
Xã Bình Trung hiện có 709 hộ, gần 3.000 nhân khẩu bao gồm 6 dân tộc cùng sinh sống trên 15 thôn bản, nguồn thu nhập chính của nhân dân nơi đây chủ yếu từ sản xuất nông - lâm nghiệp. Phát huy thế mạnh của địa phương, những năm qua, cấp ủy, chính quyền xã đã lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng, tạo công ăn việc làm, mang lại hiệu quả, thu nhập cho người dân.
Ông Bàn Văn Bình- Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã cho biết: Xác định tầm quan trọng của phát triển kinh tế rừng, trong những năm qua, Đảng bộ xã đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển trồng rừng. Nhờ đó giúp nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời góp phần nâng cao độ che phủ rừng của địa phương.
Điểm xuất phát bắt đầu từ năm 1997, nhân dân xã Bình Trung tham gia trồng rừng theo Dự án Pam 5322. Trong 4 năm, cả xã trồng được 547,7 ha rừng theo dự án. Sau khi đến kỳ khai thác từ trồng rừng theo dự án này, nhiều hộ dân đã có thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi năm. Đến năm 2003 - 2004, thực hiện dự án trồng rừng nguyên liệu giấy, người dân tiếp tục trồng được 148 ha rừng, chủ yếu là cây keo.
Qua dự án này, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư, mở rộng diện tích trồng rừng đến hàng chục ha và mỗi năm cho thu nhập hàng chục triệu đến hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Điển hình trong phong trào này là các hộ như: Ông Chu Văn Thành, Trần Tất Thắng, Nông Đình Dung ở thôn Pác Pạu; Quản Trọng Huỳnh thôn Đon Liên, ông Ngô Văn Hanh thôn Bản Tuốm, Bàn Văn Duẩn thôn Bản Ca…
Từ năm 2006 đến nay, nhân dân xã Bình Trung tiếp tục trồng thêm được hơn 960 ha rừng mới bằng các cây keo, mỡ; trong đó trồng theo Chương trình 147 là hơn 500 ha, dân tự bỏ vốn trồng 398 ha. Hiện nay, cây trồng phát triển tốt, hứa hẹn trong những năm tới người dân nơi đây sẽ có nguồn thu nhập đáng kể, cải thiện đời sống.
Không chỉ thu lợi từ việc trồng rừng, một số hộ dân trong xã còn chủ động liện hệ với Xí nghiệp Lâm nghiệp Chợ Đồn, xây dựng các vườn ươm hộ gia đình, vừa chủ động giống cây trồng cho gia đình, vừa cung ứng giống cho bà con trong xã và các xã lân cận để trồng rừng. Trong những năm qua, trên địa bàn xã đã xuất hiện nhiều mô hình ươm cây giống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập mỗi hộ trên 30 triệu đồng/năm. Điển hình như các hộ: Hoàng Văn Mười thôn Nà Oóc, Hoàng Văn Ngụy thôn Nà Quân, Bàn Thị Khuyên, Hoàng Thị Uyên, Ma Đức Vượng thôn Pác Nghiên…
Để việc trồng rừng phát triển đạt hiệu quả cao, xã phối hợp với ngành chức năng, các đoàn thể, các tổ chức hội thường xuyên tổ chức tuyên truyền, động viên nhân dân tích cực trồng rừng và bảo vệ rừng, mở nhiều lớp tập huấn trồng, chăm sóc cây rừng, phổ biến chủ trương chính sách, pháp luật, nghĩa vụ và lợi ích từ rừng mang lại, qua đó, nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng của mỗi người dân. Bên cạnh đó, để người dân có vốn tham gia phát triển kinh tế từ rừng, nhất là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, xã đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể chủ động nhận ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện. Vì vậy, đến nay xã Bình Trung đã có 619 lượt hộ nghèo được vay vốn để trồng rừng, với số dư nợ gần 4 tỷ đồng.
Có thể nói, sau hơn 10 năm trồng rừng theo các chương trình, dự án, không chỉ góp phần nâng cao đời sống, mà còn làm thay đổi nhận thức của đồng bào dân tộc Mông, Dao. Người dân không phát phá rừng làm nương rẫy như trước đây, thay vào đó là ý thức chủ động bảo vệ, chăm sóc, trồng rừng hằng năm để phát triển kinh tế gia đình. Xã đang phấn đấu hằng năm trồng mới từ 150 ha rừng trở lên, để đến năm 2015 nâng độ che phủ rừng của địa phương đạt 80%. (Báo Bắc Kạn 20/10) đầu trang(
UBND tỉnh Kiên Giang vừa phê duyệt dự án (DA) đầu tư lâm sinh VQG U Minh Thượng từ nay đến năm 2015 với tổng mức đầu tư trên 23 tỉ đồng.
Mục tiêu của DA nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái và gia tăng độ che phủ rừng, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; bảo tồn mẫu chuẩn quốc gia về hệ sinh thái rừng tràm úng phèn trên đất than bùn; bảo tồn sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập nước.
Dự án triển khai 4 hạng mục lớn về trồng và chăm sóc rừng; khoanh nuôi và hồi phục rừng trồng; trồng cây phân tán và chuyển hoá rừng giếng. (Lao Động 20/10) đầu trang(
18.10, huyện Hoài Ân đã tổ chức Hội nghị Sơ kết thực hiện Chương trình trồng rừng thuộc Dự án WB3 và triển khai nhiệm vụ trong thời gian đến, với sự tham dự của gần 100 đại biểu.
Từ đầu năm đến nay, Ban Quản lý Dự án WB3 huyện đã thực hiện đo đạc, hoàn thành hồ sơ diện tích tham gia dự án 468,7 ha; tổ chức 7 lớp tập huấn hướng dẫn nông dân kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng. Bên cạnh đó, phối hợp với UBND các xã, cơ quan chức năng hướng dẫn cho 126 hộ làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khảo sát, lập quy hoạch mở đường lâm sinh phục vụ sản xuất với chiều dài 6.816 mét.
Dự kiến, trong thời gian tới, BQL sẽ thành lập tổ công tác tại các xã tham gia dự án, hướng dẫn nông dân làm thủ tục vay vốn hỗ trợ sản xuất, xây dựng và thực hiện Đề án khuyến lâm giai đoạn 2013 - 2014. (Báo Bình Định 20/10) đầu trang(
Do Ban Quản lý dự án, hạt kiểm lâm các huyện tích cực khảo sát, thiết kế, vận động các hộ gia đình chuẩn bị tốt hiện trường, tranh thủ thời tiết thuận lợi để trồng rừng, nên tính đến tháng 10-2012, toàn tỉnh đã trồng được hơn 4.300 ha rừng tập trung, vượt gần 108% kế hoạch năm; khoán bảo vệ 35.244 ha; chăm sóc 12.680 ha, đạt 120,8% kế hoạch; trồng gần 483 nghìn cây phân tán, chủ yếu ở huyện Sơn Động và Lục Ngạn.
10 tháng qua, toàn tỉnh đã khai thác gần 1.300 ha rừng với gần 62 nghìn m3 gỗ các loại và nhiều lâm sản khác. Việc khai thác, sử dụng được các hạt kiểm lâm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các chủ rừng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến lâm sản. (Báo Bắc Giang 20/10) đầu trang(
Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên là khu bảo tồn thiên nhiên được Thủ tướng Chính phủ cấp phép thành lập năm 1992 nhằm mục đích bảo vệ rừng, bảo vệ muông thú. Nhờ có sự hiện diện của những cánh rừng nguyên sinh và các loài mãnh thú có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới mà VQG Cát Tiên từng một thời được xem là niềm tự hào của hệ thống VQG tại Việt Nam. Thế nhưng niềm tự hào ấy giờ đây đang đứng trước nguy cơ “phá sản” khi không ít người ám chỉ đây là “rừng chết”, là “mồ chôn mãnh thú”, “tử địa giữa đại ngàn”... Vì đâu nên nỗi?
Những ngày này, thông tin về VQG Cát Tiên được dư luận dành cho sự quan tâm đặc biệt. Giữa cái thời người khôn của khó, doanh nghiệp phá sản vì làm ăn thua lỗ, vật giá leo thang, tội phạm cướp giật, lừa đảo có chiều hướng gia tăng... mà thiên hạ lại hướng tầm ngắm đến khu rừng nằm cách xa thành phố, chẳng ăn nhập gì đến miếng cơm manh áo của mình thì quả là chuyện... đặc biệt.
Thực ra sự quan tâm ấy bắt nguồn từ việc ngày 5-10-2012, một con bò tót có tên trong sách đỏ Việt Nam lẫn thế giới bị đám đông hè nhau tấn công và xẻ thịt. Đây quả là cú sốc với những người làm công tác bảo tồn và những ai quan tâm đến số phận, sự tồn vong của các loài thú hoang quý hiếm trên đất Việt.
Cách đây không lâu trước sự kiện bò tót nói trên, chúng tôi có chuyến xuyên rừng già Cát Tiên tìm hiểu về công tác bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm nơi đây. Sau khi chẻ rừng, trầy trật với đủ thứ tai ương do đường trơn, chúng tôi đặt chân đến Trạm kiểm lâm Đất Đỏ (khu vực giáp ranh giữa xã Tà Lài và xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai). Tại đây, những anh em kiểm lâm giàu tâm huyết bảo vệ rừng thổ lộ những chông gai, hiểm nguy khi phải giữ rừng giữa hàng ngàn ánh mắt cú vọ và họng súng manh động của cánh phường săn. Nói có sách mách có chứng, anh Phạm Tuấn Đạt, Trạm phó trạm kiểm lâm, liền bày ra hàng loạt súng săn có tính sát thương cao, dư sức hạ gục cả mãnh hổ, đa phần là súng săn tự chế. Sau này, qua trao đổi với lãnh đạo Hạt kiểm lâm Cát Tiên, chúng tôi được biết phường lâm tặc còn sử dụng cả súng AK47, súng AR15, súng calip...
Rời Trạm kiểm lâm Đất Đỏ, mang theo quyết tâm bám rừng giữ thú của những người lính giữ rừng, chúng tôi trở về Hạt kiểm lâm Cát Tiên. Trong câu chuyện hôm ấy, chúng tôi nhớ mãi thông điệp hàm chứa nhiều sự trăn trở của ông Nguyễn Văn Minh - Hạt phó thường trực Hạt kiểm lâm Cát Tiên. Ông Minh nói rằng Cát Tiên có đến 40 loài thú nằm trong sách đỏ thế giới và để bảo vệ muông thú ở vườn, đó là nhiệm vụ trần ai mà nếu không yêu rừng, không can đảm thì khó bám trụ được: “Chúng tôi đã nỗ lực hết sức, ngày đêm bám rừng nhưng với quân số 127 người (chiếm 67% nhân lực toàn vườn) mà phải bảo vệ gần 72.000ha rừng trong tầm ngắm của trên 18 vạn người đã và đang sinh sống tại vùng đệm và vùng lõi của rừng thì không thể nào quản lý xuể...”.
Là đơn vị trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), VQG Cát Tiên có nhiệm vụ bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên rừng được giao. Cứ nghĩ cái cảnh mình sống chết với rừng trong sự lăm le triệt phá, bắn giết của kẻ khác mà thấy thương cho những người tâm huyết trong việc giữ rừng ở VQG Cát Tiên. Một tháng sau chuyến đi xuyên rừng, vào tháng 10-2011 câu chuyện lâm tặc lộng hành, “tử thần” tiến công vào rừng cấm Cát Tiên trở nên nóng bỏng khi Quỹ quốc tế Bảo tồn thiên nhiên (WWF) và Quỹ Bảo tồn quốc tế tê giác (IRF) công bố rừng cấm Cát Tiên đã tuyệt chủng tê giác.
Theo hai tổ chức này, con tê giác cuối cùng ở Việt Nam tại Vườn quốc gia Cát Tiên là con tê giác được tìm thấy xác vào tháng 4-2010. Để đưa đến kết luận đáng buồn này, các chuyên gia đã đưa chó đặc nhiệm săn tìm dấu vết tê giác, phân tích gen của 22 mẫu phân được nhóm khảo sát của VQG Cát Tiên và WWF thu thập từ năm 2009 - 2010. Sau quá trình kiếm tìm, phân tích, kết quả cho thấy các mẫu phân đều thuộc về xác cá thể tê giác được tìm thấy tại vườn Cát Tiên vào tháng 4-2010.
Thông tin được WWF và TRF đưa ra khiến chúng tôi sốc. Sốc bởi trước đó một tháng, lúc trò chuyện về số lượng tê giác ở vườn, lãnh đạo hạt kiểm lâm lạc quan cho rằng còn 2 - 4 cá thể nhưng cũng lưu ý tê giác đang đối mặt với hiểm nguy vì lòng tham của phường lâm tặc. Người ta tin sừng tê giác là thần dược chữa bá bệnh, và chính niềm tin này đã đẩy giá sừng tê giác lên đến tiền tỷ. Sát hại một con tê giác cắt lấy sừng, lột lấy da bán được số tiền khổng lồ nên cánh thợ săn không từ bất kỳ thủ đoạn nào để giương nòng khạc đạn săn con thú “quý tộc” này.
Chúng tôi gọi điện cho lãnh đạo hạt kiểm lâm Cát Tiên hỏi thăm sự thể và nhận được tiếng thở dài. Lúc này trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng người ta nói ra rả, dồn dập thông tin buồn về con vật được xem như là linh hồn của VQG Cát Tiên: “Tê giác tuyệt chủng tại VQG Cát Tiên là tê giác Java hay tê giác một sừng, là loài từng được ghi nhận phạm vi phân bố rộng ở toàn khu vực Đông Nam Á, cả Trung Quốc và Ấn Độ, đặc biệt nhiều ở các đảo của Indonesia. Hiện chỉ còn một quần thể tê giác 1 sừng khoảng 40 con sống ở Vườn quốc gia Ujung Kulo trên đảo Java ở Indonesia”.
Hôm ấy, ông Minh khép lại câu chuyện tuyệt chủng của loài tê giác một sừng bằng tâm sự buồn: “Là linh hồn của rừng Cát Tiên, nay tê giác vĩnh viễn không còn nữa, rừng đau mà anh em chúng tôi cũng đau”. Tuyên bố của WWF và IRF đồng nghĩa với việc từ đây Việt Nam nói chung, rừng cấm Cát Tiên nói riêng vĩnh viễn mất đi một thực thể giống loài, như thế hỏi sao rừng không rưng rưng nước mắt?
Còn chưa nguôi ngoai đến sự ra đi vĩnh viễn của con tê giác một sừng người ta lại “sốc” khi biết được ngay giữa VQG Cát Tiên, một vụ giết hại thú hoang quý hiếm bậc nhất xảy ra. “Nạn nhân” lần này là một con bò tót. Theo ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc VQG Cát Tiên, ngày 5-10 ngay khi nhận được thông tin của quần chúng về việc một con bò tót đang bị đám đông sát hại tại thôn Phước Sơn, xã Phước Cát 2 (huyện Cát Tiên, Lâm Đồng), ông cùng đồng nghiệp lập tức đến hiện trường nhưng không kịp cứu nguy cho con vật nặng hơn 3,5 tạ. Tại hiện trường, cơ quan chức năng chỉ thu giữ bộ đồ lòng của con vật quý hiếm.
Qua điều tra ban đầu, cơ quan chức năng biết được con bò bạc mệnh bị bắn chết gần khu vực dân cư thuộc vùng đệm VQG Cát Tiên và thu được “thủ cấp” của con vật từ hai người đàn ông ngụ xóm Cầu Treo, xã Phước Cát 2. Từ lời khai của hai người này, đến ngày 9-10 đã có 15 nghi can được Công an huyện Cát Tiên triệu tập. Khoảng một tháng trước khi hung tin bò tót quý hiếm bị giết hại được hé mở, VQG Cát Tiên công bố đoạn video hiếm hoi một con bò tót đực sống đơn độc được nhân viên của vườn là Võ Trọng Duyến quay vào ngày 18-7 tại khu vực núi Tượng. Sự kiện này khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu con bò bị sát hại chính là con bò đực đơn độc?
Rừng cấm Cát Tiên có từ 19-22 đàn bò tót với số cá thể ngoài 100 con, chiếm khoảng 1/4 số lượng cá thể bò tót của cả nước. Trước khi hung tin con bò tót bị sát hại loan truyền, những người bảo vệ rừng đã tỏ ra âu lo cho số phận của đàn bò trước quá nhiều họng súng, bẫy bọng nằm trong số 18 vạn người sống trong vùng lõi, vùng đệm của vườn. Và sau bi kịch tuyệt chủng của loài tê giác, nỗi âu lo đàn bò tót bị xâm hại của những người giữ rừng đã được cánh phường săn biến thành hiện thực.
Trước nỗi cám cảnh voi chết, gấu chết, tê giác bị giết hại đến tuyệt chủng, bò rừng bị xẻ thịt bán công khai đã có người đau lòng gọi VQG Cát Tiên là “khu rừng tử thần”. Nếu đổ lỗi cho lực lượng kiểm lâm khi buông lỏng quản lý để xảy ra thực trạng buồn lòng trên thì quả là đổ tội oan bởi ngần ấy anh em, chưa đến 130 con người mà phải đối phó với 18 vạn người, đối phó chỉ bằng lòng quả cảm thì dẫu có nhiệt tâm đến cỡ nào đi nữa anh em chẳng thể nào cứu được thú, giữ được rừng.
Cứ với đà tương quan lực lượng, kiểm lâm “hẻo” quân trong khi phường săn tứ phía, vừa đông vừa trang bị vũ khí tận răng kết thành những binh đoàn cú vọ lăm le cưa chặt, khạc đạn... thì không chỉ tê giác và bò tót, các loài thú hoang ở VQG Cát Tiên sẽ còn bị hạ gục dài dài. Thực trạng này nếu không có liệu pháp đặc trị thì e rằng sớm muộn gì VQG Cát Tiên - nơi từng được mệnh danh “thiên đường của thú hoang” trở thành “khu rừng tử thần”, “khu rừng chết”... là điều khó tránh khỏi! (Công An TPHCM 20/10) đầu trang(
Với diện tích trên 3 nghìn héc-ta, hệ thống rừng phòng hộ ven biển thị xã Vĩnh Châu vừa là lá phổi xanh, vừa là tấm lá chắn bảo vệ đê tránh sự xâm thực của nước biển. Nhưng, hiện nay những cánh rừng này đang bị con người xâm hại…
"Hơn chục năm trước, rừng ở đây rậm rạp, phía ngoài đê, rừng lấn ra biển vài ki-lô-mét, nhưng giờ thì tan hoang lắm rồi"- anh Lý Trường Phong, người dân sinh sống ở khu vực Hồ Bể, ấp Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu vừa trò chuyện vừa điều khiển chiếc xe Honda 67, đưa chúng tôi tiến ra phía biển. Nhà anh Phong cách bờ biển khoảng 3km, thế nhưng phải mất gần 20 phút, qua con đường gập ghềnh tôi mới đặt chân tới thân đê.
Đây là một trong những đoạn đê xung yếu nằm trên địa bàn xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, có chiều dài vài trăm mét. Hiện nay, cát đã lấn tới tận chân đê tạo thành bãi biển rộng hàng chục héc-ta. Mỗi khi thủy triều lên, sóng biển đánh gây sạt lở trên diện rộng. Trước tình hình trên, chính quyền địa phương đã dùng hàng nghìn khối đá và lưới thép để đắp bảo vệ tuyến đê này.
Anh Phong cho biết thêm: Đầu những năm 1990, khi tui về đây sinh sống, người dân còn dựng nhà ở tít đằng xa kia, còn từ thân đê đến đó là cánh rừng đước trên chục năm tuổi.
Dọc theo bờ biển, chúng tôi quan sát thấy cánh rừng phòng hộ xung yếu rộng hàng trăm héc-ta phía ngoài đê đang bị tàn phá nghiêm trọng. Rừng thưa thớt có thể đếm từng gốc cây. Hàng nghìn gốc đước bị chặt phá chết khô, những cây còn lại bị sóng đánh bật gốc đang nằm “hấp hối”, có những cây cố bám rễ nhưng nguy cơ bị cuốn trôi ra biển bất kỳ lúc nào.
Cũng trong tình trạng trên, những cánh rừng đước, rừng mắm phía trong đê cũng đang gánh chịu sự xâm hại của con người. Do điều kiện kinh tế khó khăn, người dân nơi đây thường xuyên vào rừng chặt trộm cây, đào sâm đất (hay còn gọi là đồn đột) để bán kiếm tiền.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Hoàng Vũ, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm thị xã Vĩnh Châu cho biết: Rừng phòng hộ ven biển thị xã Vĩnh Châu có diện tích 3.079ha, trong đó, khoảng 82% diện tích là rừng trồng. Hầu hết các hộ dân sinh sống tại địa bàn có rừng đều là hộ nghèo. Đặc biệt, có nhiều hộ dân sống cặp mé biển thường đi đánh bắt khai thác nhỏ lẻ, nay chuyển vào khu tái định cư sinh sống, lại không có nghề nghiệp nên thường xuyên vào rừng khai thác trái phép nên rất khó ngăn chặn và quản lý.
Từ đầu năm đến nay, Hạt kiểm lâm đã lập và xử lý 54 biên bản (10 biên bản kiểm tra, 3 biên bản vi phạm hành chính, ra 2 quyết định thu hồi cây đước, 39 biên bản kiểm tra, giáo dục và làm cam kết). Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng phối hợp chặt chẽ cùng chính quyền địa phương xử lý nghiêm những hành vi gây tổn hại đến rừng phòng hộ và tăng cường công tác vận động, tuyên truyền để người dân hiểu rõ về hành vi phạm pháp và hậu quả của việc tàn phá rừng.
Ông Nguyễn Hoàng Vũ cho biết thêm: Hiện nay, Hạt kiểm lâm thị xã làm tham mưu có hiệu quả cho chính quyền địa phương trong bảo vệ rừng như: Những hộ gia đình nào có hành vi xâm hại đến rừng sẽ được kiểm lâm gửi danh sách cho chính quyền địa phương và hộ đó sẽ không được đưa vào danh sách hộ nghèo hay danh sách được hưởng những phúc lợi xã hội khác. Nhờ biện pháp này, thời gian qua, tình trạng phá rừng giảm đáng kể.
Những biện pháp quyết liệt của hạt kiểm lâm cùng chính quyền địa phương các cấp thị xã Vĩnh Châu đã phần nào ngăn chặn được tình trạng phá rừng. Thế nhưng, khi đến các khu tái định cư trên địa bàn ấp Giồng Nổi và Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải, chúng tôi bắt gặp rất nhiều căn nhà cửa đóng then cài, vài ổ khóa đã có dấu hiệu gỉ sét. Người dân ở đây cho biết, vì hạn chế vào rừng và không có công ăn việc làm nên người dân kéo nhau lên thành phố hoặc đi các nơi để làm mướn kiếm sống. (Quân Đội Nhân Dân 20/10) đầu trang(
19.10, một cán bộ của Trạm bảo vệ cửa rừng Ma Nới, H.Ninh Sơn (Ninh Thuận) cho biết, cách đây 4 ngày, lực lượng kiểm lâm Ninh Sơn đã chở một số lượng lớn gỗ hương (nhóm 1, ảnh) đến “gửi” tại trạm này.
Cán bộ này kể, khi lực lượng kiểm lâm đưa gỗ vào thì chỉ nói đây là gỗ truy bắt của lâm tặc và đổ ào xuống bãi rồi lái xe về.
Vì lý do đêm tối nên hai bên không có lập biên bản. Tuy nhiên, đến trưa 19.10, vẫn chưa thấy lực lượng kiểm lâm vào lập biên bản nên không xác định rõ số lượng gỗ đang giữ ở đây bao nhiêu mét khối.
Cùng ngày, ông Nguyễn Hữu Hoán, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận, cho biết: “Sau khi nghe thông tin, tôi có cho anh em (ông Chi cục phó - PV) lên kiểm tra rồi. Chắc không có vấn đề gì, gỗ lậu mà…”.
Tuy nhiên, trả lời câu hỏi vì sao gỗ bắt giữ hơn 4 ngày và “gửi” tại trạm cửa rừng mà không lập biên bản, ông Hoán nói sẽ cho kiểm tra lại. (Thanh Niên 19/10) đầu trang(
Trưa 20.10, Hạt kiểm lâm Ninh Sơn (Ninh Thuận) đã đưa khối lượng gỗ nhóm I “gửi tạm” tại Trạm bảo vệ cửa rừng Ma Nới thuộc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ninh Sơn về trụ sở Hạt chờ xử lý.
Theo ông Lê Văn Thắng, Tổ trưởng tổ Kiểm lâm cơ động, số gỗ nhóm I “gửi” tại trạm này gần 3 m3. Đây là số gỗ đã bắt giữ của lâm tặc ở khu vực rừng Tà Nôi, xã Ma Nới, H.Ninh Sơn, Ninh Thuận. Do trên đường vận chuyển, xe bị hư hỏng nên đã đưa vào “gửi” tại Trạm cửa rừng Ma Nới.
Ông Thắng cho biết, vì đêm tối và tin cậy anh em ở trạm nên không lập biên bản tạm “gửi” giữa lực lượng kiểm lâm và Trạm bảo vệ cửa rừng Ma Nới.
Trong khi đó, dư luận đặt câu hỏi, liệu gỗ hương có bị “bốc hơi” vì không lập biên bản tạm “gửi”?
Như đã phản ảnh, cách đây 5 ngày lực lượng kiểm lâm Ninh Sơn chở số lượng lớn gỗ hương (nhóm I) đưa vào Trạm cửa rừng Ma Nới nói là gỗ đã bắt được của lâm tặc.
Ông Nguyễn Hữu Hoán, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận, cho biết: “Sau khi nghe thông tin, tôi có cho anh em lên kiểm tra rồi. Chắc không có vấn đề gì, gỗ lậu mà…” (Thanh Niên 20/10) đầu trang(
19-10, UBND tỉnh Kon Tum cho biết vừa thống nhất đề cương quy hoạch vùng phát triển cây sâm Ngọc Linh trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.
Theo đó, vùng quy hoạch là 2 huyện nằm ở hướng Bắc và Đông Bắc của tỉnh Đăk Glei và Tu Mơ Rông; phấn đấu giai đoạn 2012 - 2015 trồng tập trung khoảng 500ha sâm Ngọc Linh (trong đó, diện tích sâm đưa vào khai thác 100ha); đến năm 2025, trồng tập trung khoảng 7.000ha trên diện tích đã quy hoạch và khuyến khích người dân 2 huyện Đăk Glei và Tu Mơ Rông trồng phân tán khoảng 1.500ha.
Mục tiêu của quy hoạch nhằm bảo tồn, phát triển cây sâm Ngọc Linh theo hướng là cây hàng hóa chủ lực, có tính bền vững và đạt hiệu quả kinh tế. (Sài Gòn Giải Phóng 20/10) đầu trang(
Với giá bán lên đến 10-12 triệu đồng/lạng (loại khô), cây kim cương đang được người dân một số xã ở huyện Kon Plong, Kon Tum đổ xô vào rừng tận thu để bán cho các thương lái người Trung Quốc.
Nhiều năm nay, cây lá kim cương luôn được các thương lái Trung Quốc thu mua với giá ngày càng cao. Nếu năm ngoái giá mỗi kg cây lá kim cương tươi từ 600-700 nghìn đồng, thì năm nay giá đã hơn 1 triệu đồng/kg. Cái giá này đã khiến cho hàng trăm hộ gia đình ở các xã Hiếu, Pờ Ê, Măng Bút… của huyện Kon Plong không ngại khó khăn, gian khổ để vào tận rừng sâu tận thu dược liệu quý về bán cho các thương lái. Kéo theo đó là hệ lụy khiến cây kim cương đang rơi vào tình trạng bị tận diệt.
Có mặt ở xã Hiếu khi con gà rừng mới ngừng tiếng gáy, chúng tôi đã chứng kiến hàng trăm cặp vợ chồng cơm đùm, gạo nắm và dao, rựa đang chuẩn bị kéo nhau vào rừng, bắt đầu một cuộc hành trình tận thu cây lá kim cương.
Với sức hút của giá bán lá kim cương, dù năm nay đã gần 60 mùa rẫy, nhưng vợ chồng ông Đinh Hồng Gió (59 tuổi)- nguyên Bí thư Đảng ủy xã Hiếu cũng đã có thâm niên cùng vợ con săn tìm cây kim cương hơn 10 năm nay. Và cũng như mọi năm, vợ chồng ông Gió lại chuẩn bị xoong nồi, gạo và mắm muối để vào rừng sâu săn tìm cây lá kim cương. Ông Gió cho biết, mấy ngày trước, 2 vợ chồng ông vất vả đi một ngày trời vào rừng, phát từng lùm cây rậm để tìm những cây kim cương (cao chừng 10cm) mang về bán. Sau một ngày tìm kiếm vất vả, vợ chồng ông Gió chỉ tìm được 12 cây kim cương với cân nặng chưa đầy nửa lạng.
Tưởng chừng sau chuyến đi ấy, vợ chồng ông Gió sẽ bỏ cuộc. Nhưng vì cuộc sống khó khăn, sức hút của giá bán cây kim cương khá hấp dẫn nên vợ chồng ông Gió không chỉ dừng lại ở nhà làm rẫy mà quyết định đi vào rừng sâu hơn để mong tìm được nhiều hơn: “Tìm cây lá kim cương không phải dễ, muốn tìm được nó thì phải phát các bụi rậm mới thấy được nó mọc dưới đất. Năm ngoái cây kim cương nhiều hơn nên tìm được nhiều hơn, có ngày may mắn vợ chồng tôi tìm được 3-4 lạng. Nhưng năm nay nó ít đi rồi, khó tìm lắm, người ta phải vào tận rừng sâu đi mấy ngày mới về”, ông Gió chia sẽ.
May mắn hơn vợ chồng ông Gió, vợ chồng anh Tham (34 tuổi) và chị Y Rái (33 tuổi) tâm sự, sau một ngày dầm mưa lặn lội trong rừng liên tục tìm kiếm cây kim cương, vợ chồng anh Tham đã tìm được 2 lạng, bán với giá 200 nghìn đồng. Hôm nay, vợ chồng Tham quyết định mang theo đồ ăn và xoong để vào rừng sâu hơn, với kế hoạch ở lại rừng vài ba ngày: “Mấy năm trước, vợ chồng mình tìm được cây kim cương nhiều hơn. Nhưng năm nay tìm khó quá, cây kim cương nó không có mọc kịp để người dân mình hái bán đâu. Năm nay, vợ chồng mình cũng phải đi vào rừng sâu hơn mới tìm được, những ai già quá không đi sâu mãi vào rừng được thì tìm được ít hơn”, anh Tham nói.
Ông Đinh Xuân Rường (44 tuổi), trưởng thôn Vigơlơng cho biết: Trong thôn hiện có 96 hộ dân và tất cả 96 hộ này đến hẹn lại lên (từ tháng 9- tháng 12 âm lịch hàng năm) lại kéo nhau vào rừng, núi để tìm cây kim cương. Thậm chí, có cặp vợ chồng huy động toàn bộ con cái để cùng nhau vào rừng tìm loại dược liệu này.
Và cũng như những người dân trong thôn mình, không nằm ngoài “cơn lốc” tìm cây kim cương, bản thân vợ chồng ông Rường cũng lặn lội vào rừng săn tìm dược liệu quý: “Vợ chồng mình năm nào cũng đi vào rừng tìm cây kim cương. Những năm trước còn kiếm được vài lạng mỗi ngày, bây giờ nhiều người đi lấy quá nên cây kim cương sắp hết rồi. Chính quyền xã, huyện cũng nhắc nhở mình không cho người dân đi, nhưng đó là cuộc sống của họ làm sao mình ngăn cản được. Với lại cả thôn cùng đi thì làm sao mình ngăn cản họ được”, ông Trưởng thôn thật thà bộc bạch.
Dù chưa ai biết giá trị thực sự của loại dược liệu này được dùng để làm gì, nhưng giá bán hấp dẫn của nó đã khiến cho hàng trăm hộ gia đình không quản khó khăn, nguy hiểm để vào tận rừng sâu săn tìm. Và cứ theo “cơn lốc” này, hẳn rằng sẽ không bao lâu nữa loài dược liệu này sẽ đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, mà người được sử dụng nó lại không phải là những người dân đang sở hữu nó.
Để tìm hiểu thêm về tác dụng của cây kim cương, trong vai một người dân tìm mua loại dược liệu quý này, chúng tôi được một chủ thu mua tên Nguyễn Thị Thu Diễm (20 tuổi, trú xã Pờ Ê, Kon Plong) chào giá bán: Đối với loại kim cương đất (mọc trên đất) giá bán là 1,2 triệu đồng/kg; còn kim cương đá (mọc trên đá) giá chỉ 250 nghìn đồng/1kg.
Không chỉ vậy, chị Diễm còn cho biết thêm, mỗi ngày chị đi thua mua của người dân ở xã Hiếu và các xã khác cũng được vài chục kg: “Mình thu mua đến đâu, các thương lái người Trung Quốc và Đài Loan sẽ mua hết đến đó. Mình mới chỉ thua mua 3 năm nay thôi, còn chồng mình thua mua cả chục năm nay rồi, hiện nay mỗi ngày ông xã mình thu mua cả trăm kg, mua đến đâu bán đến đó. Vợ chồng mình đang là chủ thu mua cây kim cương lớn nhất huyện Kon Plong này”, chị Diễm khoe.
Không chỉ bán cây kim cương tươi, mà vợ chồng chị Diễm còn bán loại dược liệu này sấy khô để gửi đi Trung Quốc, Hàn Quốc với giá bán 10-12 triệu đồng/lạng kim cương khô.
Về công dụng của cây kim cương, một số người kháo nhau cho biết, sở dĩ loại dược liệu này có giá cao như vậy là vì “nghe đâu người ta dùng để chữa bệnh ung thư”. Còn thực hư của tin đồn này chưa ai xác thực. (Dân Trí 19/10) đầu trang(
Từ tháng 4/2012, người Việt bị cấm đến Nam Phi săn tê giác, nhưng trước đó thống kê cho thấy, người Việt đã chi tới 22 triệu USD để có được giấy phép săn tê giác tại nước này, kể từ năm 2003.
Con số trên được đưa ra tại buổi tập huấn cho các nhà báo về tình trạng chống buôn bán động vật hoang dã, ngày 18/10, tại Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), do Trung tâm nghiên cứu khoa học, nghiệp vụ và tư liệu (Ban Tuyên giáo T.Ư), phối hợp với các tổ chức quốc tế, tổ chức.
Theo Mạng lưới kiểm soát buôn bán các loại động thực vật hoang dã - Traffic, số liệu từ cơ quan Cites quốc tế (Cơ quan quản lý Công ước quốc tế về buôn bán quốc tế về các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp), từ năm 2003 đến 2010, có 657 chiếc sừng tê giác được xuất khẩu hợp pháp từ Nam Phi về Việt Nam dưới dạng “chiến lợi phẩm”. Tuy nhiên, số liệu từ cơ quan nhập khẩu Việt Nam, chỉ ghi nhận chỉ có 170 chiếc.
Như vậy, có thể thấy thấy, 74% số sừng tê giác còn lại chưa được khai báo với cơ quan chức năng. Nếu tính thuế, con số này phải lên tới 2 triệu USD.
TS Naomi (Trưởng đại Traffic Đông Nam Á) cho biết, ngoài các “chiến lợi phẩm”, mạng lưới buôn bán bất hợp pháp còn cung cấp cho Việt Nam hàng trăm chiếc sừng tê giác từ những nguồn bất hợp pháp khác ở châu Phi.
Hiện sừng tê giác vẫn tiếp tục vào Việt Nam thông qua nhiều kênh, trong đó đường hàng không từ Jonamnesburg (Nam Phi) qua Bangkok, Hồng Kông, Kuala Lumpur và Singpore về Hà Nội hoặc TPHCM.
Một con đường khác mới nổi lên là sừng tê giác từ Thủ đô Maputo của Mozambique về Việt Nam. Còn đường bộ, Traffic, cho rằng, sừng tê giác cũng được chuyển từ Lào (có thể từ Thái Lan) vào Việt Nam.
Theo các tổ chức quốc tế, từ năm 2007 đến năm 2009, các thợ săn Việt Nam chỉ xếp sau các đồng nghiệp từ Mỹ về số lượng tê giác săn bắn tại Nam Phi.
Trong thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 5/2012, người Việt Nam chiếm tới 185 người (chiếm gần 50%) trong số 384 người nước ngoài đi săn tê giác tại Nam Phi.
Theo ước tính, từ năm 2003, các sợ săn Việt Nam đã chi hơn 22 triệu USD phục mua giấy phép săn tê giác ở Nam Phi. (Tiền Phong 19/10) đầu trang(
19-10, tại Hà Nội, Cơ quan quản lý Cites Việt Nam và Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) đã tổ chức hội thảo về việc bảo tồn loài voi, những chính sách xử lý các tang vật, mẫu vật ngà voi thu giữ được từ các vụ buôn bán và vận chuyển ngà voi nhập lậu.
Theo Cites, trong hơn 20 năm qua, số lượng voi hoang dã ở châu Á đã và đang bị sụt giảm nghiêm trọng. Từ khoảng 1.500-2.000 con vào năm 1984 giảm xuống chỉ còn 200-230 con vào năm 1995 và cho tới năm 2004 thì chỉ còn khoảng 57-82 cá thể, rải rác tại 11 địa điểm.
Còn tại Việt Nam, Cites khẳng định hiện tính cả voi nhà và hoang dã thì tổng cá thể chỉ còn khoảng 70 con, trong đó khoảng 51 con là voi đang được nuôi tại buôn làng, còn lại là voi sống hoang dã nhưng rõ ràng không còn nhiều.
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan, lần đầu tiên Việt Nam phát hiện và bắt giữ lô ngà voi nhập lậu vào nội địa là năm 2004. Sau khi đột nhập vào một nhà kho ở quận Long Biên (Hà Nội), cơ quan điều tra đã phát hiện có 750kg ngà voi được nhập lậu từ châu Phi. Từ đó tới nay, các cơ quan chức năng liên tục bắt giữ thêm 25 vụ ngà voi khác, với tổng số ngà voi thu giữ được là hơn 23000kg, tương đương khoảng 1550-4660 ngà của khoảng 775-2330 con voi (tính theo số cân nặng dự kiến là 5-15kg/ngà).
Trong đó, có tới 23 vụ nhập lậu ngà vào Việt Nam là thông qua cảng Hải Phòng. Lớn nhất là vụ nhập tới 7 tấn ngà voi vào cảng Hải Phòng hồi tháng 3-2009. Gần đây mới có hiện tượng nhập lậu ngà voi về cảng Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất (TPHCM). Vụ mới đây nhất là 2475kg ngà voi nhập lậu từ Mozambique về cảng Phước Long vào tháng 7-2012.
Theo ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Cites Việt Nam, tổng cộng chúng ta đã bắt được 24 tấn ngà voi, hiện đang lưu giữ trong kho chờ xử lý theo quy định của Cites.
Trước tình trạng trên, các chuyên gia dự hội thảo đều đề nghị, cần có giải pháp cứng rắn xử lý các vụ nhập lậu ngà voi trái phép, đồng thời đưa ra chính sách bảo tồn đàn voi đang lưu giữ tại Việt Nam trước những nguy cơ bị săn bắn trái phép để khai thác ngà, buôn bán vì lợi nhuận. (Sài Gòn Giải Phóng 19/10) đầu trang(
Trước thông tin về việc Việt Nam và Nam Phi dự kiến ký kết thỏa thuận trong lĩnh vực quản lý đa dạng sinh học, ngày 20-10 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, Bộ NN&PTNT Việt Nam và Bộ Môi trường và tài nguyên nước Nam Phi đã tiến hành đàm phán và đang trong quá trình hoàn tất các thủ tục pháp lý, để tiến tới ký kết “Biên bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực quản lý đa dạng sinh học và thực thi pháp luật”.
Đây là văn kiện được nhiều người mong đợi trong bối cảnh dư luận quốc tế lo ngại về tình trạng tê giác Nam Phi bị săn trộm ngày càng nhiều (tính đến ngày 16-10-2012 đã có 455 con bị săn trộm, gần vượt mức kỷ lục năm 2011 là 488 con).
Trả lời Tuổi Trẻ qua email, bà Roopa Singh, quyền giám đốc truyền thông của Bộ Môi trường và tài nguyên nước Nam Phi, cho biết
Nam Phi đã ngừng cấp giấy phép săn bắn tê giác cho các đương đơn người Việt Nam, trong khi chờ đợi các cơ quan chức năng Việt Nam thông báo cho Nam Phi về tình trạng những mẫu vật tê giác trắng được xuất từ Nam Phi vào Việt Nam trong hai năm 2010 và 2011 có còn trong tay người đi săn theo quy định của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) hay không. Vì theo quy định của CITES, mẫu vật có được thông qua hoạt động săn bắn hợp pháp chỉ được dành cho chính người đi săn sử dụng. (Tuổi Trẻ 21/10) đầu trang(
18.10, trung tâm Nghiên cứu khoa học, nghiệp vụ và tư liệu (ban tuyên giáo Trung ương) phối hợp với các tổ chức quốc tế, tổ chức tập huấn cho các nhà báo về tình trạng chống buôn bán động vật hoang dã, giới thiệu về chiến dịch toàn cầu chống nạn buôn bán bất hợp pháp sừng tê giác, tại Ninh Bình.
Mạng lưới kiểm soát buôn bán các loại động thực vật hoang dã – Traffic, dẫn số liệu từ cơ quan Cites (Công ước quốc tế về buôn bán quốc tề về các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp) quốc tế cho biết, từ năm 2003 đến 2010 có 657 chiếc sừng tê giác được xuất khẩu hợp pháp từ Nam Phi vào Việt Nam dưới dạng “chiến lợi phẩm”.
Tuy nhiên, số liệu từ cơ quan Cites Việt Nam chi ghi nhận có 170 chiếc. Điều này cho thấy, có tới 74% còn lại, không được khai báo, làm mất tới 2 triệu USD tiền thuế.
Việt Nam có phải là nơi tiêu thụ, là điểm đến cuối cùng của sừng tê giác từ châu Phi? Điều này, còn nhiều quan điểm khác nhau của các tổ chức phi chính phủ quốc tế cũng như các chuyên gia về nghiên cứu về động vật hoang dã và môi trường và cơ quan chức năng của Việt Nam.
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Naomi (Traffic), ngoài môn thể thao săn bắn, mạng lưới buôn bán bất hợp pháp còn cung cấp cho Việt Nam hàng trăm chiếc sừng tê giác từ những nguồn bất hợp pháp khác ở châu Phi.
Bà Nguyễn Đào Ngọc Vân, quản lý dự án về Chiến dịch toàn cầu chống nạn buôn bán bất hợp pháp sừng tê giác vào Việt nam và nội địa tổ Tổ chức Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên –WWF Việt Nam, cho hay trước thực trang săn bắn, buôn bán sừng tê giác vào Việt Nam, từ tháng 4.2012, Chính phủ Nam Phi đã ngừng cấp giấy phép săn bắn thể thao tê giác cho người Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay, Việt Nam chưa có một văn bản chính thức nào liên quan đến việc nhập khẩu sừng tê giác là chiến lợi phẩm săn bắn.
Còn theo nghiên cứu của Traffic, tính đến tháng 6 năm 2012, không có vụ bắt giữ sừng tê giác nào được báo cáo tại Việt Nam kể từ năm 2008. (Sài Gòn Tiếp Thị 19/10) đầu trang(
Sở thích nuôi thú dữ trong nhà đang trở thành mốt thời thượng của đại gia Việt. Để có được những con mãnh thú các đại gia này phải lùng sục bằng được những con thú không dụng hàng với ai, càng độc càng tốt, như thế mới xứng tầm với các đại gia.
Ngày nay sở thích của các đại gia lắm tiền nhiều của là xây biệt thự vườn cất một trang trai mini để săn lùng những con thú độc và lạ, thuộc hàng hiếm có trên đời như hổ, báo, sư tử, tê giác… để về nuôi trong vườn nhà.
Thời gian qua dư luận đang xôn xao vụ đại gia Trầm Bê mất sừng tê giác, vụ án này tốn không ít giấy mực của giới báo chí. Tuy nhiên thú chơi của đại gia Việt còn thể hiện ở sở thích nuôi thú mà điển hình là đại gia xứ Nghệ sở hữu nhiều động vật hoang dã quý hiếm.
Để sở hữu hai con tê giác nuôi trong trang trại, đại gia Lê Thanh Thản phải bỏ ra số tiền mua mỗi con là 500 tỷ đồng. Chuồng nuôi 2 chú tê giác được ngăn cách bằng một bức tường xây ngang người với các ống kim loại phi 100 bao quanh tựa như võ đài, phía trên được rào kín bằng lưới thép B40.
Ngoài 2 con tê giác trên vị đại gia này còn sở hữu rất nhiều động vật hoang dã từ châu Phi như 01 cặp ngựa vằn, 01 cặp ngựa bạch và vài chục con hươu, linh dương, hai con đà điểu.
Đặc biệt ông còn sở hữu hai con hổ vằn và 01 con gấu. Vì là loài thú dữ và hoang dã, nên khu chuồng này được làm kiên cố hơn. Dự kiến trong thời gian tới đại gia này sẽ tậu thêm hai con hổ bạch nữa.
Còn vị đại gia ở quận 12 tự tậu cho mình một hồ nuôi cá sấu ở trước nhà, với mục đích thư giãn đầu óc khi nhìn những con cá sấu đớp mồi. Phía sau vườn nhà của đại gia này còn có một khu chuồng nhốt 2 con trăn, 6 con rắn độc, 3 con gấu cùng 1 con tinh tinh. Tổng trị giá cho bộ "sưu tập" thú mini của đại gia địa ốc này ước tính lên đến hàng trăm triệu đồng.
Sở hữu những con thú “độc” phải đi kèm theo rất nhiều chi phí, chỉ riêng chuyện thức ăn hàng ngày cung cấp cho bầy thú “cưng” thôi cũng ăn đứt vài triệu đồng là chuyện bình thường. Ngoài ra cùng với đàn thú dữ là lực lượng người giúp việc hùng hậu chuyên lo "cung phụng" cho bầy thú cưng.
Ông Huỳnh Uy Dũng (chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam) từng chia sẻ trên báo Tuổi trẻ: Trung bình một tháng thức ăn dành cho hổ khoảng 200 triệu đồng. Trước đây, thấy hổ sinh nở được, phía công ty vui lắm. Nhưng nay lại thấy lo, như một gánh nặng, vì chi phí cho hổ ăn rất tốn kém.
Nhiều nhà chức trách vẫn chưa đồng tình quan điểm việc cho sở hữu những loài động vật hoang dã, sự bất đồng quan điểm này khiến người dân có nhu cầu nuôi luôn lo sợ có vi phạm pháp luật hay không.
Theo quan điểm của ông Đỗ Quang Tùng, phó giám đốc CITES Việt Nam (thuộc Cục kiểm lâm, Bộ NN&PTNT): "Nếu nuôi nhốt động vật hoang dã với mục đích để trưng bày thì không sao". Ông Tùng lý giải: Việc nhập về 2 con tê giác của đại gia Nghệ An là không trái Công ước Cites, tức là được nhập và được buôn bán quốc tế.
Ngược lại, bà Nguyễn Phương Dung, phó giám đốc Trung tâm giáo dục Thiên nhiên (ENV) lại cho rằng không nên nuôi động vật hoang dã ở các cơ sở tư nhân. Việc nuôi dưỡng này nên dành cho các cơ sở của các cơ quan quản lý Nhà nước. Nếu các cơ sở tư nhân muốn nuôi cần có sự giám sát của Nhà nước để đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích đã được cấp giấy phép.
Ông Nguyễn Cảnh Tho - GĐ Sở NN&PTNT Nghệ An cho biết ông cho rằng việc 2 con tê giác được một tư nhân nuôi ở là chuyện bình thường, điều quan trong là mục đích của người nuôi. Nếu họ có ý định nuôi vì sự bảo tồn và phát triển đa dạng của sinh học thì thực sự là điều rất đáng quý và cần phải trân trọng. Đó là cách họ san sẻ nhiệm vụ với các cơ quan Nhà nước. Trường hợp doanh nghiệp ở Diễn Châu nuôi tê giác, tôi ủng hộ, vì họ tuân thủ mọi thủ tục và quy trình của việc nhập khẩu và nuôi tê giác. Nơi ở của động vật hoang dã họ cũng đảm bảo tốt những điều kiện có động vật phát triển.
Quanh vụ việc ông Trầm Bê mất cặp sừng tê giác ngay tại dinh thự hiên nay cơ quan hải quan xác nhận có giấy tờ hợp lệ. Cũng theo công ước Cites quốc tế chưa nói rõ có cấm cho, tặng hay không, nên không thể cấm người ta tặng, biếu vì thế việc sở hữu tê giác của ông Trầm Bê là không vi phạm pháp luật nhưng nghi án ông Trầm Bê có sở hữu hai con tê giác hay không vẫn chưa có kết luận chính thức từ cơ quan chức năng vì cặp sừng có gắn chip đã bị mất.
Việc sở hữu động vật quý hiếm là sở thích của nhiều đại gia nhưng nó cũng đi kèm nhiều rắc rối thậm chí còn ảnh hưởng đến tính mạng người khác.
Vụ việc ông Trầm Bê bị mất cặp sừng tê giác trị giá hơn 4 tỷ khiến ông gặp không ít rắc rối trong việc giải thích với cơ quan có trách nhiệm và dư luận. Nhưng tiền mất là một chuyện, mà tính mạng con người bị nguy hiểm không kém.
Cách đây không lâu một cơ sở nuôi gấu tại xã Hiệp An, thị xã Thủ Dầu Một - Bình Dương bị sổng chuồng, trong lúc vây bắt gấu bất ngờ tấn công làm bị thương nặng ông Lộc - chủ nuôi gấu và 1 bác sĩ thú y.
Nhưng sự may mắn đó không đến với nhiều người khi trước đây đã xảy ra việc hổ vồ chết người làm công. Sự việc trên là hồi chuông cảnh báo về các biện pháp an toàn tính mạng cho con người khi thú bị xổng chuồng.
Sau vụ việc này ông Huỳnh Uy Dũng thừa nhận: Hiện nay chúng tôi chỉ được sử dụng roi điện nên rất hạn chế. Tới đây, công ty sẽ kiến nghị công an để được sử dụng các dụng cụ như thuốc bắn gây mê và các thiết bị bảo hộ khác. (Người Đưa Tin 20/10) đầu trang(
Để có đất làm nhà, xây dựng hơn 120 công trình trái phép và trồng hàng chục ha trồng cà phê, hồ tiêu, chanh dây... những người dân Đắk Nông đã lén lút dùng hóa chất bơm vào thân hoặc dùng dao chặt khoanh thân cây đợi cho rũ lá, cây chết dần rồi đốn hạ lấy đất canh tác.
Rừng thông phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14 đoạn từ huyện Đắk Song đến thị xã Gia Nghĩa (tỉnh Đắk Nông) có chiều dài hơn 30km, được xem là một trong những khu rừng cảnh quan quốc lộ đẹp nhất Tây Nguyên. Tuy nhiên, thời gian gần đây, khu rừng này đang bị người dân vô tư chặt phá lấn chiếm làm nhà, làm vườn trái phép. Trong khi đó, chính quyền địa phương vẫn đang loay hoay với bài toán quy hoạch, tìm giải pháp bảo vệ, phát triển...
Rừng thông phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14 đoạn từ huyện Đắk Song đến thị xã Gia Nghĩa (tỉnh Đắk Nông) có chiều dài hơn 30km, được xem là một trong những khu rừng cảnh quan quốc lộ đẹp nhất Tây Nguyên. Tuy nhiên, thời gian gần đây, khu rừng này đang bị người dân vô tư chặt phá lấn chiếm làm nhà, làm vườn trái phép. Trong khi đó, chính quyền địa phương vẫn đang loay hoay với bài toán quy hoạch, tìm giải pháp bảo vệ, phát triển...
Theo số liệu thống kê, ban đầu rừng phòng hộ cảnh quan dọc quốc lộ 14 có tổng diện tích 429,6 ha do lâm trường Đắk Nông trồng từ những năm 1978. Nhưng trong suốt một thời gian dài, do công tác quản lý, bảo vệ bị thả nổi nên rừng bị người dân chặt phá, lấn chiếm một cách vô tội vạ. Tính đến cuối năm 2007, diện tích rừng thông nơi đây chỉ còn lại chưa đầy 343ha.
Trước thực trạng trên, UBND tỉnh Đắk Nông đã bàn giao lại cho Công ty Lâm nghiệp Trường Xuân (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân) quản lý, bảo vệ. Tuy nhiên, một lần nữa do năng lực yếu kém trong công tác quản lý khiến cho rừng thông bị tàn phá nặng nề hơn. Chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm, đơn vị này đã để mất gần 100 ha rừng.
Để cứu vãn, ngày 11/6/2010, UBND tỉnh Đắk Nông đã có Quyết định số 778/QĐ-UBND phê duyệt quy mô "Dự án rừng phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14" và giao toàn bộ diện tích rừng thông còn lại cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh quản lý, bảo vệ. Để giữ rừng, Chi cục Kiểm lâm cũng đã thành lập hẳn một Trạm quản lý, bảo vệ rừng thông ngay trên quốc lộ 14, song tình hình cũng không cải thiện là bao.
Theo thống kê của UBND huyện Đắk Song, hiện tại khu rừng phòng hộ chỉ còn khoảng 261ha nhưng có đã tới 86 hộ dân đang lấn chiếm làm nhà, xây dựng hơn 120 công trình trái phép và hàng chục ha trồng cà phê, hồ tiêu, chanh dây đã mọc lên xanh tốt… Điều nguy hại hơn là số hộ dân này đang lén lút dùng hóa chất bơm vào thân hoặc dùng dao chặt khoanh thân cây đợi cho rũ lá, cây chết dần rồi đốn hạ lấy đất canh tác.
"Khi đã "hợp thức hóa" được những miếng đất rừng đó thì sự việc đã rồi, cơ quan chức năng chỉ biết đứng nhìn chứ không thể làm gì được, bởi giải tỏa chỗ này hôm nay thì ngày mai lại lấn chiếm, chặt phá chỗ khác, không có cơ quan nào có thể đứng cả ngày lẫn đêm trông chừng được" - ông Nguyễn Văn Thanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song lắc đầu ngao ngán cho biết.
Trước thực trạng trên, ngày 15/10, UBND tỉnh Đắk Nông đã có Thông báo số 112/TB-UBND về việc quy hoạch và đưa ra các giải pháp quản lý, bảo vệ phát triển rừng phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14. Theo đó, bằng mọi biện pháp phải quản lý, bảo vệ và giữ bằng được diện tích rừng hiện có của rừng thông nằm dọc quốc lộ 14; đưa ra ngoài quy hoạch rừng phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14 diện tích 29,14 ha là rừng trồng, rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp chưa có rừng hoặc rừng manh mún, nhỏ lẻ để đảm bảo quy mô dự án rừng phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14 không thay đổi.
Giao UBND huyện Đắk Song lên phương án, xử lý cưỡng chế, giải tỏa 86 hộ dân cùng các công trình kiến trúc xây dựng trái phép trên diện tích đất rừng phòng hộ, xem xét có biện pháp xử phạt hành chính hoặc bắt buộc các hộ dân này phải khắc phục hậu quả. Bên cạnh đó, các phòng ban chuyên môn, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức họp dân, làm công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và chấp hành các quy định của Nhà nước về việc quản lý, bảo vệ rừng.
Lập phương án hỗ trợ kinh phí cho việc di dời, tháo dỡ nhà cửa, các công trình kiến trúc và có chính sách hỗ trợ, bố trí quỹ đất ở, đất sản xuất để đảm bảo người dân ổn định cuộc sống sau khi tiến hành cưỡng chế di dời…
Hậu quả nhãn tiền ai cũng nhìn thấy, việc xâm lấn, chặt phá rừng thông nơi đây không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của người dân mà còn phá vỡ môi trường, vẻ đẹp tự nhiên vốn có của nó, khiến cảnh quan dọc quốc lộ 14 trở nên hoang tàn, xơ xác.
Thiết nghĩ, chính quyền địa phương tỉnh Đắk Nông cần có những biện pháp ngăn chặn kịp thời hơn, nếu một ngày không xa nữa rừng thông phòng hộ này bị biến mất thì kéo theo những hiểm họa khôn lường về thiên nhiên, môi trường khó mà tránh khỏi. (Công An Nhân Dân 20/10) đầu trang(
Người dân sống chung quanh khu vực có cá sấu sổng chuồng vô cùng hoang mang và tỏ ra tức giận khi Cty Quốc Việt “thay mặt chính quyền” phát đi thông báo với lời lẽ thể hiện quyền lực, răn đe người dân.
Một người dân cho biết, cá sấu sổng chuồng gây hại cá nuôi, hoa màu và khiến cho người dân lo lắng, hậu quả này Cty Quốc Việt phải chịu trách nhiệm, đằng này Cty lại đổ trách nhiệm trước pháp luật cho người dân. (Lao Động 20/10) đầu trang(
Sáng 21-10, ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, cho biết Công ty Quốc Việt (nơi nuôi cá sấu bị sổng chuồng) đang tiếp tục bắt bốn con cá sấu sổng chuồng cuối cùng.
Sáng cùng ngày, Công ty Quốc Việt cho biết cử người thương lượng với ông Nguyễn Văn Trạng - người có ao cá rộng lớn cặp khu nuôi cá Công ty Quốc Việt - để hỗ trợ thêm chi phí, tát cạn khu nuôi cá này, bắt hết số cá sấu còn lại đang ẩn. Tuy nhiên, ông Trạng khẳng định người bên công ty chưa qua thương lượng để tát ao mà chỉ cử người bơi xuồng lùng cá sấu. Ông Trạng cũng cho biết từ lúc cá sấu xuất hiện trong ao, công ty chưa hỗ trợ bồi thường tiền mặt mà chỉ hứa.
Trong khi đó, một số nơi xuất hiện thông tin cá sấu nổi đầu trên sông. Ông Võ Thanh Tòng, Chủ tịch UBND huyện Đầm Dơi, xác nhận chính quyền xã cử lực lượng xác minh thông tin nhưng không gặp cá sấu như tin báo. (Pháp Luật TPHCM 22/10) đầu trang(
21-10, ông Nguyễn Văn Trạng, ở ấp Cây Trâm A, xã Định Bình (TP Cà Mau) cho biết, Cty Quốc Việt cho người truy bắt cá sấu mà không bồi thường thiệt hại nên không thể cho phép bơm nước cạn để bắt cá sấu.
Ông Trạng đang nuôi cá tra, cá đồng đã bị cá sấu sổng chuồng tấn công. Cty Quốc Việt dùng lưới kéo, rà điện để bắt cá sấu tổn thất ao cá nuôi nhưng không chịu bồi thường với giá thương lượng 10 triệu đồng.
Tương tự như vậy, Cty Quốc Việt truy bắt cá sấu không bồi thường thiệt hại cho 3 hộ dân và Trường tiểu học Kim Đồng.
Cùng ngày, ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Cà Mau cho biết, còn 4 con cá sấu sổng chuồng chưa bắt được, trong đó có 3 con phát hiện trong ao cá ông Trạng và 1 con chưa tìm thấy.
Chi cục kiểm lâm Cà Mau lập biên bản, báo cáo cấp trên và rút đội kiểm lâm cơ động về đơn vị. (Tiền Phong 22/10) đầu trang(
Chuyện cá sấu của Công ty Quốc Việt ở Cà Mau sổng chuồng, đe dọa đến đời sống người dân đã đặt ra một vấn đề: Phải xem lại điều kiện kinh doanh các lĩnh vực tiềm ẩn nguy hiểm.
Hiện nay, nhiều ngành nghề kinh doanh đã bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện như phải có vốn pháp định, phải ký quỹ, có đủ cơ sở vật chất được thẩm định, nhân viên đủ trình độ… Trong khi đó, lĩnh vực chăn nuôi cá sấu hiện không bị ràng buộc bởi điều kiện kinh doanh nào.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Cục trưởng Cục Kiểm lâm Việt Nam, cho biết việc nuôi cá sấu phải tuân thủ Nghị định 82/2006 về xuất nhập khẩu, nuôi trồng động thực vật hoang dã. Đồng thời, cơ sở nuôi cá sấu còn phải tuân thủ Tiêu chuẩn ngành về nuôi cá sấu nước ngọt do Bộ NN&PTNT ban hành năm 2006.
Tuy nhiên, Nghị định 82/2006 chỉ quy định chung chung theo kiểu “chuồng, trại được xây dựng phù hợp với đặc tính của loài nuôi và năng lực sản xuất của trại nuôi”, “bảo đảm các điều kiện an toàn cho người và vệ sinh môi trường” và “có người đủ chuyên môn đáp ứng yêu cầu quản lý, kỹ thuật”…
Chính vì thế mà việc xây dựng chuồng trại cụ thể như thế nào, làm sao để bảo đảm an toàn… thì doanh nghiệp tùy ý mà làm vì không có quy định.
Trong Tiêu chuẩn ngành về nuôi cá sấu nước ngọt có đề cập đến việc xây dựng chuồng trại cá sấu. Mặc dù có nhấn mạnh: “Chuồng trại phải đảm bảo chắc chắn không để cá sấu thoát ra ngoài” nhưng tiêu chuẩn đưa ra lại khá mơ hồ. Ví dụ, tiêu chuẩn chuồng cá sấu bố mẹ là phải có tường bao quanh, chiều cao “khoảng 2 m”, chuồng cá sấu con thì “tốt nhất là được kết cấu bằng bê tông, cốt thép”, vách chuồng cao “khoảng 90 cm”. Trong khi đó, tiêu chuẩn này đề cập đến việc “trồng cây xanh tạo bóng mát cho cá sấu”, “gờ bê tông tròn nhẵn để tránh làm xước da bụng cá sấu”!
Xem ra vấn đề chăm sóc cá sấu được coi trọng trong tiêu chuẩn này chứ không phải là vấn đề an toàn cho con người nếu xảy ra sự cố cá sấu sổng chuồng. Đặc biệt, việc theo dõi, đánh dấu cá sấu cũng nhằm theo dõi việc sinh đẻ và phối giống cho cá sấu chứ không phải để kiểm đếm, quản lý số lượng cá sấu, tránh nguy cơ truy bắt sót lọt khi đàn cá sấu sổng chuồng.
Ông Tôn Thất Hưng, Giám đốc Công ty Cá sấu Hoa Cà (TP.HCM), cho biết hầu hết doanh nghiệp nuôi cá sấu chỉ đánh dấu cá sấu đẻ chứ không đánh dấu đối với cá sấu thịt.
Ông Hưng cho biết đã từng làm việc trong Thảo Cầm Viên hàng chục năm. “Trong đấy có chuồng cá sấu kiên cố lắm nhưng nếu yêu cầu doanh nghiệp nào muốn nuôi cá sấu cũng phải xây chuồng trại kiên cố như Thảo Cầm Viên thì doanh nghiệp sẽ… lỗ”!
Cũng theo ông Hưng, hiện nhiều chuồng cá sấu được xây vách ngăn theo kiểu tường gạch bê tông cao 1 m, bên trên tường là lưới sắt cao thêm 1 m nữa. Với vách ngăn cao 2 m như vậy thì không lo cá sấu bò ra ngoài.
Tuy nhiên, ông cho rằng việc xây chuồng trại cá sấu phải phù hợp với điều kiện địa lý nơi đặt trang trại. Ở TP.HCM thì có thể vách cao 2 m là vừa nhưng nếu làm chuồng rại ở vùng đất mềm dễ sạt lở, gần sông ngòi, kênh rạch, ở vùng hay bão lũ… thì chuồng trại phải được làm cao hơn, vật liệu an toàn hơn, móng tường chắc chắn hơn và phải kiểm tra chất lượng chuồng trại định kỳ.
Ngay cả khi có chuồng trại chắc chắn cũng không tránh khỏi những sự cố ngoài ý muốn như mực nước lũ lên cao chưa từng có, bão lớn ngoài dự liệu, cây lớn ngã đổ làm sập tường… Ông Hưng cho rằng nếu buộc doanh nghiệp ký quỹ tiền tỉ để đảm bảo giải quyết hậu quả khi có sự cố cá sấu sổng chuồng thì rất thiệt thòi cho doanh nghiệp vì thật sự thì sự cố này rất hiếm xảy ra, coi như khoản tiền đó bị “chết một chỗ”.
Theo ông, nếu cần phải bảo đảm khắc phục hậu quả thì nên hướng đến việc bán bảo hiểm rủi ro cho cá sấu. Nếu cá sấu sổng chuồng, công ty bảo hiểm chi trả các khoản chi phí khắc phục sự cố và hậu quả. (Pháp Luật TPHCM 22/10) đầu trang(
20-10, Chi cục kiểm lâm Cà Mau cho biết, chưa bắt được 4 con cá sấu còn lại trong số 100 con cá sấu sổng chuồng từ trang trại của Cty Quốc Việt.
Ông Nguyễn Văn Trạng, ở ấp Cây Trâm A, xã Định Bình (TP Cà Mau) cho biết, đêm 19-10, phát hiện còn 3 con cá sấu nổi đầu. Lúc 15 giờ hôm qua, người dân ở ven kinh Rạch Rập, khóm 3, phường 8 (TP Cà Mau) phát hiện con cá sấu lớn nổi đầu.
Ngay sau đó, kiểm lâm có mặt nhưng không bắt được, dù một số người dân đã mua vịt làm mồi nhử. Vị trí cá sấu xuất hiện trên kinh Rạch Rập, phường 8 (TP Cà Mau) cách xa trang trại nuôi cá sấu Quốc Việt hơn 13 km, theo tuyến kinh xáng Bạc Liêu- Cà Mau.
Ngày 20-10, ông Đỗ Thanh Hải, Chánh văn phòng UBND huyện Đầm Dơi cho biết, có vài người dân đi trên sông Đầm, ở thị trấn Đầm Dơi nói họ phát hiện thấy cá sấu. Nhưng các cơ quan chức năng cho biết, chưa có cơ sở khẳng định cá sấu đã ra sông. (Tiền Phong 21/10; Thanh Niên 20/10; Vietnamnet 21/10) đầu trang(
19-10, UBND xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) cho biết một nhóm lâm tặc gồm bảy người đã phát hiện một cây sưa có đường kính hơn 2 m, cao hơn 20 m ở vùng biên giới Việt-Lào và đang tiến hành đốn hạ.
Hiện Đồn biên phòng Cồn Roàng và Cà Ròng (xã Thượng Trạch) đã triển khai lực lượng, phối hợp với kiểm lâm Phong Nha-Kẻ Bàng ngăn chặn việc đưa gỗ sưa ra khỏi rừng. Khu vực cây sưa được phát hiện mất gần hai ngày đi rừng, thuộc vùng núi đá vôi Hin Nậm Nô (Lào).
Giới buôn gỗ vùng Phúc Trạch cho biết đã có nhóm “đầu nậu” gỗ miền Bắc gồm 10 người vào rừng ngã giá cây sưa nói trên. Giá trị của cây sưa “khủng” này rất lớn và hiện các nhóm giang hồ cũng vào cuộc để bảo kê và trấn cướp. Liên quan đến cây sưa ở Hung Sắn (vùng biên giới Việt-Lào) được cha con ông Lê T. phát hiện và đốn hạ, UBND xã Phúc Trạch cho biết khi vừa mới bán cành rễ được khoảng 195 triệu đồng thì ông T. bị một nhóm người ở xã Hưng Trạch (Bố Trạch) vào trấn cướp hết. (Pháp Luật TPHCM 20/10) đầu trang(
Sáng 18/10, Đồn Biên phòng 747 (thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Lắk) đã bàn giao 3 đối tượng khai thác gỗ hương trái phép cùng tang vật cho Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn xử lý theo quy định pháp luật.
Trước đó, vào chiều 17/10, trên đường tuần tra, lực lượng chiến sỹ Đồn Biên phòng 747 đã bắt quả tang 3 thanh niên ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn đang khai thác trái phép 2 lóng gỗ hương (khối lượng khoảng 0,5m3) tại khu vực Trạm Kiểm lâm số 5 do VQG Yok Đôn quản lý.
Cùng ngày, ông Nguyễn Hữu Sơn, Đội trưởng, Đội Kiểm lâm Cơ động Số 1, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông cho biết: “Chiều 17/10, Đội đã phát hiện 6,6m3 gỗ Kiền Kiền để ở một khu đất trống thuộc thôn 1, xã Đắk Rla, huyện Đắk Mil không có người quản lý. Hiện tại, số gỗ này đã được Đội đưa về nơi tập kết và tiếp tục điều tra xử lý”. (Công An Nhân Dân 19/10) đầu trang(
Tiếp tục điều tra vụ thất thoát gỗ huê (sưa) tang vật xảy ra tại cơ quan phòng, chống ma túy thuộc Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị, phóng viên Lao Động phát hiện tình tiết mới cực kỳ... “động trời”:
Cán bộ chức năng đã lập lại biên bản thống kê tang vật là gỗ huê bị bắt giữ có số lượng giảm đi hơn một nửa, và hầu hết những khúc gỗ lớn có giá trị tiền lớn đã bị ăn cắp, còn lại những khúc nhỏ, xấu được cưa nhỏ ra cho đủ con số 18 khúc như lúc tịch thu.
Bảng thống kê tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do Phòng phòng, chống tội phạm ma túy BCH BĐBP tỉnh QT lập ngày 29.12.2010 có trong hồ sơ báo cáo các cơ quan chức năng địa phương để xin xử lý hành chính và làm thủ tục đấu giá có tổng khối lượng gỗ quy tròn là 0,589m3, số lượng khúc là 18. Số gỗ huê tang vật này được giữ tại kho của Đội đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy- BĐBP số 342 QL9 - thị trấn Lao Bảo (huyện Hướng Hóa, QT).
Ngày 16.5.2011, tại kho này, phía đơn vị BĐBP đã lập biên bản giao nhận hồ sơ, tang vật với cơ quan chức năng thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Theo đó, hai bên đã ký giao nhận tang vật gỗ huê là 18 khúc, nhưng khối lượng từ 0,589m3 trong biên bản đã tụt xuống còn... 0,489m3. Về sự chênh lệch giảm mất 0,103m3 gỗ huê này, Cơ quan điều tra- CA tỉnh xác định thiệt hại gần 1 tỉ đồng.
Từ các văn bản “hợp thức hóa” nêu trên, ngày 8.7.2011, số gỗ huê 0,489m3 có trọng lượng 422,5kg đã được đem ra bán đấu giá ngay tại kho tang vật. Ông Hoàng Văn Hạnh - Cty TNHH Trí Thiện Phát (đường Nguyễn Trãi, TP.Đông Hà) - đã mua lô gỗ huê này với giá 4.520.000.000 đồng.
Sau khi vụ đấu giá gỗ tang vật trót lọt, dư luận ở địa phương và chính những người tham gia vụ mua bán gỗ huê này đã lên tiếng tố cáo rằng thực chất gỗ huê tang vật đã bị thất thoát với số lượng lớn, những khúc to, dài có chất lượng tốt nhất đã không còn nữa. Không lâu sau đó, ông Hồ Kim Thư - người có liên quan đến vụ gỗ huê này, người mà Cơ quan điều tra- CA tỉnh xác định là nội dung và chữ ký trong các bản khai tại cơ quan điều tra BĐBP không phải là của chính người này - đã bị chết do đột tử.
Tuy nhiên mới đây, điều tra của PV Lao Động phát hiện tình tiết mới cho thấy, tổng khối lượng gỗ huê tang vật tại thời điểm mới tịch thu là 0,953m3 (gấp đôi con số đưa ra đấu giá). Đó là bảng thống kê tang vật do Đội đặc nhiệm PCMT- BCH BĐBP tỉnh lập ngày 29.12.2010 có trong hồ sơ gốc của vụ án, báo cáo ban đầu gửi cho các cơ quan chức năng ngay sau đó, do thượng úy Nguyễn Văn Hiếu - cán bộ của đội - lập và ký vào biên bản cùng với người vi phạm là Nguyễn Văn Quang (trú tại khóm 3A, thị trấn Khe Sanh, Hướng Hóa, QT).
Theo bảng này, toàn bộ lô gỗ là 18 khúc có chiều dài chủ yếu từ 45 - 150cm, có khúc có chu vi lên tới 110cm, chiều rộng, cao của mỗi khúc lớn phổ biến từ 10 - 30cm. Theo phép quy đổi từ số gỗ đưa ra đấu giá, thì số gỗ tịch thu lúc đầu có trọng lượng khoảng trên dưới 1 tấn. Điều này là hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người đứng đơn tố cáo vụ thất thoát gỗ huê này. Theo tính toán của những người mua bán gỗ huê, do số gỗ huê bị thất thoát là những khúc to, đẹp nhất nên giá trị rất lớn, số tiền lớn gấp nhiều lần con số 4,5 tỉ đồng thu được từ cuộc bán đấu giá nói trên. (Lao Động 22/10) đầu trang(
Ngày 21.10, theo phản ánh của cử tri tại các cuộc tiếp xúc với đại biểu Quốc hội đơn vị Lâm Đồng, thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Bảo Lâm có một số diện tích rừng thuộc các dự án của các DN đã bị rao bán một cách bất thường.
Ví dụ, hiện có hai cán bộ của huyện Bảo Lâm đang rao bán đất lâm nghiệp thuộc dự án trồng rừng của NM giấy Tân Mai với giá 160 triệu đồng/ha. Tương tự, đất lâm nghiệp của nhiều dự án khác trên địa bàn huyện này cũng đang bị rao bán. (Lao Động 22/10) đầu trang(
Hiện nay trong vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn đang diễn ra các hoạt động khai thác vàng sa khoáng trái phép.
Vào thời gian cao điểm, tại đây có hàng nghìn người tham gia khai thác vàng. Từ tháng 10 này, Ủy ban nhân dân huyện Na Rì đã quyết định thành lập các tổ chốt liên ngành, chặn các tuyến đường độc đạo vào Khu bảo tồn, nhằm chặn đứng các tuyến đường tiếp tế xăng dầu, lương thực và các vật tư khác phục vụ hoạt động khai thác vàng trong vùng lõi Khu bảo tồn.
Sau gần nửa tháng chốt chặn tại đây, tổ liên ngành đã kiểm soát và ngăn chặn gần 300 lượt xe máy, 17 lượt ô tô không cho vận chuyển vật tư phục vụ khai thác vàng trái phép, đồng thời không cho những người ở địa phương khác đến đây làm vàng trái phép.
Theo đánh giá của Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn, đến thời điểm này, các tuyến đường tiếp tế cho các lũng đã được kiểm soát chặt chẽ, do đó hoạt động khai thác vàng trong vùng lõi Khu bảo tồn giảm nhiều. Thời gian tới, tổ công tác liên ngành tiếp tục truy quét trực tiếp tại các lũng, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép, bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản, môi trường sinh thái trong Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, ổn định an ninh trật tự trên địa bàn. (Nhân Dân 21/10) đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk vừa có kết luận: Việc liên doanh, liên kết trồng rừng và cao su của các Công ty Lâm nghiệp Chư M’Lanh, Ea H’mơ, Ya Lốp, Rừng Xanh (huyện Ea Súp), Thuần Mẫn, Ea H’Leo với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh khi chưa xin phép và chưa được sự chấp thuận của các cấp có thẩm quyền là vi phạm quy định của Nhà nước.
Đất rừng sau khi bị chặt phá tan hoang, các công ty lâm nghiệp ở Ea Súp sẽ dễ dàng kêu gọi doanh nghiệp liên doanh, liên kết trồng rừng và cao su.
Chủ trương trồng rừng và trồng cao su trên địa bàn Đắk Lắk dứt khoát phải thực hiện đúng theo quy hoạch đã được tỉnh phê duyệt, vì thế việc liên doanh, liên kết của các công ty lâm nghiệp trên là không đúng quy hoạch và kế hoạch của chính quyền địa phương.
Được biết, các công ty lâm nghiệp này còn tự ý đưa quỹ đất của đơn vị (khoảng gần 1.000 ha) để góp vốn liên doanh, liên kết trồng rừng và cao su, cùng với thu tiền ký quỹ tùy tiện, chiếm dụng vốn của các đối tác liên doanh, liên kết không đúng mục đích làm ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách kêu gọi và thu hút đầu tư của tỉnh.
UBND tỉnh đã kiểm điểm trách nhiệm đối với Sở NN&PTNT, các đơn vị chuyên ngành thuộc sở này về công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp. Đồng thời giao cho Sở tổ chức làm rõ mức độ vi phạm của các công ty lâm nghiệp trên và báo cáo UBND tỉnh trước ngày 25/10/2012 để có hình thức xử lý theo luật định
Tin cũng cho hay, Từ đầu năm đến nay trên địa bàn Đắk Lắk đã xảy ra nhiều vụ xâm hại rừng, các địa bàn trọng điểm là Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’leo, Cư Mgar, Krông Bông và Krông Năng... Các vụ xâm hại tài nguyên rừng chủ yếu diễn ra ở các vùng rừng chưa có chủ quản lý cụ thể, các vùng dự kiến quy hoạch chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, các dự án cải tạo, trồng rừng khác...
Toàn tỉnh phát hiện 1.118 vụ vi phạm tài nguyên rừng, trong đó phá rừng trái phép: 175 ha; gỗ tịch thu: 2.185,734m3; động vật rừng: 230 kg; phương tiện tịch thu: 89 xe các loại (ô tô, máy kéo, công nông: 30 chiếc; xe máy: 59 chiếc); máy móc các loại: 103 chiếc; công cụ thô sơ thông thường: 33 chiếc. (Thanh Tra 21/10) đầu trang(
Gỗ quý hiếm, chủ yếu là gỗ nghiến, tại các khu rừng bảo tồn, vườn quốc gia, rừng tự nhiên, nguyên sinh tại tỉnh Bắc Cạn đang ngày càng cạn kiệt không chỉ do “lâm tặc” mà còn vì người dân địa phương khai thác làm nhà, trong khi cơ quan chức năng chưa có biện pháp ngăn chặn.
Tuyến đường từ trung tâm xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn, lởm chởm, gồ ghề dẫn đến bản Quá, bản Lồm, Nũng Nong - là những bản làng có đồng bào dân tộc Mông, Dao sinh sống lẩn khuất tại các bìa rừng vườn quốc gia Ba Bể.
Bắt đầu vào mùa khô, công việc nương rẫy đồng áng kết thúc cũng là lúc nhiều gia đình sửa sang, dựng mới nhà cửa. Đến đầu bản Lồm đã nghe tiếng cưa xẻ, tiếng đục đẽo chan chát, tiếng nói cười râm rả xua đi sự đìu hưu ở một bản vùng cao.
Gia đình anh Đặng Quản Thiêm có hơn mười thợ mộc đang khẩn trương với những công việc cuối cùng. Sắp có nhà mới, anh Thiêm vui mừng: “Nghiến là loại gỗ đanh chắc, rất cứng, mối mọt không ăn được, không bị mục nên làm nhà sàn bằng gỗ nghiến bền chắc hàng trăm năm. Tôi đã mất nhiều công sức đi tìm những cây gỗ nghiến to, thẳng, chặt xuống, xẻ ra, vận chuyển về nhà”.
Gần 30 cột to lừng lững, dài từ năm đến bảy mét, xà thẳng tắp chạy suốt ba gian, kèo, lan can, ván sàn... toàn là gỗ nghiến. Tốp thợ mộc khẳng định, để làm căn nhà này, anh Thiêm phải có hơn 30 mét khối gỗ; phải ba, bốn cây nghiến mới đủ. Làm nhà sát vườn quốc gia Ba Bể, anh Thiêm không cho biết số gỗ đang làm nhà lấy ở đâu, nhưng rừng tự nhiên ở khu vực xã Nam Cường từ lâu đã không còn gỗ nghiến. Nếu kiểm tra, anh Thiêm không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp, kiểm lâm có thể sẽ thu giữ toàn bộ số gỗ nghiến làm căn nhà này.
Rời bản Lồm, vào bản Quá, lên Lũng Nong sẽ thấy hàng trăm nóc nhà sàn. Là những bản vùng cao, nhân dân ít ruộng cấy lúa, bù lại họ còn nhiều nương ngô mà những năm trước vẫn là đất rừng. Đời sống của nhân dân còn khó khăn, nhưng hầu hết các gia đình đều làm nhà sàn bằng gỗ nghiến khang trang, bề thế. Trước đây rừng nghiến ở Lũng Nong rậm rạp, nhưng cùng với thời gian, rừng đã bị “gặm nhấm” dần.
Giám sát công tác quản lý bảo vệ rừng đầu năm 2011, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Cạn phát hiện những cây gỗ nghiến cuối ở Lũng Nong vừa bị xoá sổ. Bản Lồm, bản Quá ở sát vườn quốc gia Ba Bể, hàng chục ngôi nhà sàn bằng gỗ nghiến được dựng lên gần hai năm qua rất có thể được khai thác từ vườn quốc gia này.
Vùng lõi vườn quốc gia Ba Bể có hàng chục bản làng, toàn sử dụng gỗ nghiến để làm nhà sàn. Hàng trăm gia đình sống dưới tán rừng nghiến, bước ra khỏi nhà là chạm vào nghiến, không chặt hạ tại chỗ làm nhà thì có thể lấy gỗ ở đâu? Cả bản Pác Ngòi, Bó Lù với những ngôi nhà sàn đặc trưng, khang trang của dân tộc Tày toàn bằng gỗ nghiến vườn quốc gia Ba Bể.
Rừng nghiến phòng hộ thuộc xã Sĩ Bình là một trong những khu rừng nguyên sinh còn sót lại trên địa bàn huyện Bạch Thông. Khi tỉnh Bắc Cạn mở tuyến đường từ xã Sĩ Bình lên xã Cao Sơn, một đoạn đi qua rừng già, phải chặt mấy cây nghiến, tỉnh phải xin ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Vậy mà thời gian gần đây, cây rừng bị người dân thẳng tay đốn hạ 52 cây hàng trăm năm tuổi với số lượng 226 khối, một số cây bị xẻ thành cột, xà, kèo nhà ngay trong rừng.
Từ trước đến nay, các cơ quan chức năng ở địa phương mới chỉ chú trọng ngăn chặn “lâm tặc” khai thác gỗ nghiến làm hàng hoá mang bán. Còn việc người dân sử dụng gỗ nghiến để làm nhà là chuyện thường ngày ở bản làng, chưa có trường hợp nào bị đình chỉ, xử phạt khi xử dụng gỗ nghiến để làm nhà, kể cả đó là gỗ nghiến không rõ nguồn gốc.
Nhằm góp phần ổn định đời sống nhân dân, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có Quyết định 03/2005 về việc sử dụng gỗ để làm nhà, quy định: Khi người dân ở gần các khu rừng tự nhiên có nhu cầu gỗ để làm nhà thì chủ rừng là UBND cấp xã có trách nhiệm hướng dẫn người dân khai thác những cây đã có búa bài, kiểm lâm kiểm tra, chặt xong nghiệm thu, đóng búa bài.
Nghiến thuộc nhóm 2a, là loài cây quý hiếm, theo quy định phải được bảo tồn tại ba địa bàn là khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc và vườn quốc gia Ba Bể nằm trên địa bàn tỉnh.
Ở tỉnh Bắc Cạn, việc “lâm tặc” khai thác gỗ nghiến mang tính chất thương mại, buôn bán trái phép chỉ xuất hiện khi âm ỉ, lúc rộ lên từ gần mười năm trở lại đây. Tại các huyện Chợ Mới, Na Rì, Chợ Đồn, Bạch Thông, từng có những khu rừng gỗ nghiến nguyên sinh trên núi đá, nhưng đến nay hầu hết những khu rừng này đã chính thức “biến mất”, vì bị khai thác cạn kiệt để làm nhà. Một số người dân lợi dụng danh nghĩa chặt hạ gỗ để làm nhà mà thực chất mang bán kiếm lợi.
Nghiến là loài cây đặc hữu trên núi đá, cây có đường kính một người ôm có tuổi đời ba, bốn trăm năm, bị chặt hạ sẽ không bao giờ mọc lại nữa. Trước tình hình rừng nghiến bị xoá sổ, cùng với vườn quốc gia Ba Bể đã có trước đó, tỉnh Bắc Cạn đã thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, khu bảo tồn loài - sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tổ chức lực lượng chuyên trách để bảo vệ, nhưng thời gian vừa qua cũng chưa bảo vệ được gỗ nghiến tại đây. Hiện có hàng nghìn gia đình dân tộc Tày, Mông, Dao cư trú trong vùng lõi, bìa rừng, sát ba khu rừng đặc dụng trên với truyền thống sử dụng toàn gỗ nghiến làm nhà sàn.
Lãnh đạo một hạt kiểm lâm cho biết, dân sử dụng gỗ nghiến không có nguồn gốc để làm nhà là trái phép, nhưng chẳng nhẽ lại phạt dân, càng không thể phạt cả làng, cả xã. Đến nay, một số địa phương trong tỉnh mới chỉ dừng lại ở việc cấm dân tháo nhà sàn gỗ nghiến để bán rồi lại vào rừng chặt nghiến về làm nhà; việc tháo nhà bán gỗ tạo kẽ hở cho “đầu nậu” lách luật, hợp thức hoá gỗ lậu vận chuyển đi bán.
Cơ quan có thẩm quyền cần quy định rõ, người dân địa phương chỉ được sử dụng những loại gỗ nào, từ nhóm mấy trở lên để làm nhà; chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm cần xử lý nghiêm những trường hợp sử dụng gỗ quý hiếm không có nguồn gốc nhằm ngăn chặn tình trạng khi âm thầm lén lút, khi rầm rộ khai thác gỗ quý hiếm tại các khu rừng đặc dụng, rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn trên địa bàn tỉnh như thời gian vừa qua. (Nhân Dân 21/10) đầu trang(
19/10, ông Võ Văn Theo, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Tân (Vĩnh Long) xác nhận, ngày 17/10 ở ấp Tân Hiệp (xã Tân Bình) có 5 con cá sấu xổng chuồng. Mỗi con nặng khoảng 150 kg được nuôi trong chuồng hơn 20 con của ông Nguyễn Thành Quang.
Được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, ông Quang bắt lại được hai con, một con bị dân xung quanh đập chết khi bò vào mương nước. Chủ trại đang dùng xung điện rà khắp các ao đìa quanh đó với hy vọng tóm được hai con xổng chuồng còn lại.
Theo cơ quan chức năng, cá sấu của ông Quang bị xổng chuồng do thủy triều dâng cao gây ngập trại nuôi. (Vietnamnet 119/10; Vnexpress.net 19/10) đầu trang(
Từ lâu, chuyện bẫy chim, chơi chim và ăn chim đã trở nên thiên biến vạn hóa và được ví như một phần của cuộc sống.
Đặc biệt, có nơi khi nhắc đến chim chóc, thay vì nhớ tới hình ảnh quê hương, thì người ta lại nhớ ngay đến tên của những nhà hàng, với các món thịt chim, cò đặc sản nổi tiếng; hay nhớ tới phiên chợ chiều, với những lồng cò hàng chục con, được bày bán công khai, nhiệt tình, giống như bao mặt hàng tươi sống khác. Và không xa lạ, tình trạng đó đã và đang diễn ra từ lâu ngay tại xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng – Hà Nam.
Người xưa có câu “đất lành chim đậu”. Nhật Tân là đất lành nhưng ở đây chim lại đã, đang và sẽ chết theo đúng nghĩa đen của từ này. Với cách suy nghĩ “lộc trời tận hưởng” và tận diệt của người dân, cộng với sự thờ ơ của cơ quan chức năng, chắc chắn một ngày không xa, cánh cò, cánh vạc cùng hàng chục loài chim quý khác sẽ chỉ còn trong ký ức của không chỉ người dân Nhật Tân... (Lao Động 20/10) đầu trang(
Theo ông Nguyễn Chí Sỹ (Bí thư Đảng ủy xã Tân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình): Hàng năm vẫn có hiện tượng khỉ và lợn rừng kéo về phá hoại hoa màu, nhưng năm nay thì tăng đột biến về số lượng và lần về của thú rừng.
Nhiều nhất vẫn là khỉ và lợn rừng. Chúng kéo từng đàn, bẻ ngô, móc khoai của người dân, thậm chí, có đàn khỉ còn bẻ ngô mang về giấu trong hang.
Người dân đã chủ động đóng lán trại và cử người canh gác thường xuyên nhằm xua đuổi thú rừng, nhưng không hiệu quả, vì chúng rất đông và lì lợm. Đã có người dân bị cả đàn khỉ vây đánh phải bỏ chạy. (Tiền Phong 22/10) đầu trang(
Hiện nay tại vùng miền núi Nghệ An, các loài động vật hoang dã quý hiếm đang bị con người ráo riết săn bắn để làm mồi nhậu, nấu cao và làm cảnh.
Phóng viên đã có dịp thâm nhập các đường dây chuyên cung cấp thú rừng thuộc loại quý hiếm, mới thấy được hệ thống, thủ đoạn mà lực lượng chức năng không thể kiểm soát hết.
Vườn quốc gia Pù Mát nằm trên địa giới hành chính của 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông, và Tương Dương (Nghệ An) được biết đến là nơi còn nhiều động vật hoang dã (hơn 1.000 loài). Cũng vì thú rừng phong phú như vậy, nên quanh khu vực tồn tại nhiều nhóm thợ săn.
Lãng, cầm đầu nhóm thợ săn ở xã Môn Sơn (Anh Sơn) cho biết: “Trước đây, bọn tui chỉ bẫy thú rừng về mần thịt ăn thôi, nhưng mấy năm trở lại nay, có nhiều người về tận bản thu mua, đặt hàng với giá rất cao. Lợn rừng 200 ngàn đồng/kg, báo gấm 500 ngàn đồng/kg, vượn bạc má 300 ngàn đồng/kg... Vậy nên mỗi ngày có hàng chục tốp thợ săn, thậm chí có cả người ở dưới xuôi lên trang bị các loại bẫy, cả súng để săn bắn thú”.
Theo Lãng, mỗi ngày có hàng trăm cá thể động vật hoang dã bị bẫy, bị bắn chết để bán cho các “chân rết” mang về xuôi.
Qua Lãng, PV tiếp cận Hùng, một “chân rết” đang “nằm vùng” ở Con Cuông để gom hàng. Hùng kể: “Tui mấy năm trước làm nghề thu mua chó nhập cho các quán cầy nhưng thấy buôn bán thú rừng bở ăn rứa là tui mần. Nghề ni chẳng khó khăn chi, một vốn bốn lời. Con chết thì ướp đá lạnh, con sống bỏ cũi chở đi. Mỗi chuyến hàng, trừ chi phí tui cũng kiếm được gần chục triệu...”.
Hùng mở chiếc tủ lạnh đặt trong xó nhà cho chúng tôi xem thấy bên trong có chứa 3 con khỉ bị đạn bắn toét óc, nằm co quắp như xác người, máu đỏ lòm loang lổ trông thật kinh sợ. Chỉ chiếc cũi sắt có nhốt 5 con khỉ và 2 con cheo Hùng bảo: “Hàng mới mua sáng nay đó, ngày hôm qua tui cũng gom được hơn 5 tạ phải thuê xe bán tải chở đi”.
- Làm nghề này anh không sợ bị bắt à? - Chúng tôi hỏi.
- Ôi dào! Nghề ni không bị bắt có mà lạ. Trước đây tui bị bắt như cơm bữa nhưng “sống lâu lên lão làng”. Bọn tui có đủ kinh nghiệm và thủ thuật để che mắt cơ quan chức năng”, Hùng ra vẻ tự hào.
Theo chỉ dẫn của Hùng, PV thâm nhập nhà hàng H.H ở TT Quỳ Hợp. Bà chủ quán béo mũm mĩm hồ hởi: “Các chú dùng món gì? Sơn dương, cheo, mang khỉ, hay lợn rừng?”.
Nghe chúng tôi bảo muốn mua con báo gấm làm quà biếu sếp, bà chủ thoáng chút nghi ngờ nhưng thấy chúng tôi đi với một “đầu gấu” người bản địa nên bà cười đon đả: “Báo gấm là loại quý hiếm, hiện quán chị không có, chú cho số và điện thoại, ngày mai chú sẽ có hàng”.
Tôi nói với bà chủ rằng nếu chưa có báo gấm thì cần mua khoảng 10kg thịt thú rừng các loại để đưa về TP Vinh tiếp khách trong đêm nhưng sợ kiểm lâm phát hiện. Bà chủ lắc đầu: “Chú cứ yên tâm đi, ở đây giờ đang còn nhiều nhất là chồn, nhím, lợn rừng, rùa... Khoảng 5 giờ chiều chú quay lại tôi sẽ cho vào hộp xốp chứa đá lạnh, thịt đưa về Vinh tha hồ tươi”.
Nhân viên bán hàng đưa chúng tôi ra nơi “hành hình” thú rừng, thấy thi thể 5-6 con chồn cheo, mang đang bị mấy nhân viên mổ bụng. Các loại thú sau khi làm thịt đều được tấp vào các tủ đông lạnh để phục vụ ăn khách ăn nhậu tại chỗ và đến mua đem về tự nấu.
Được biết, nhà hàng này là vựa thú rừng lớn nhất Quỳ Hợp. Và đây không phải là vựa thú rừng duy nhất. Tại các huyện miền núi Nghệ An có hàng chục vựa thú rừng lớn nhỏ khác.
Hà “hàng con” ở Đô Lương được biết đến như một đại gia bởi anh ta sở hữu xe hơi hạng sang, tiền tiêu không tiếc tay. Thực chất, để trở thành đại gia như vậy, Hà đã nhờ vào cái nghề buôn hàng “con” của mình.
Hà kể: “Tui trước đây đi gom các loài rùa, rắn, kỳ đà, tắc kè đem đi nhập cho các đại lý ở Vinh. Dần dần quen mối tôi chơi cả các loài thú rừng quý hiếm”.
Hiện nay Hà không còn chạy đi các vùng miền núi để gom hàng nữa mà anh ta có hệ thống chân rết khắp mọi vùng núi ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Những chân rết này thu mua hàng ở các bản làng, sau đó nhập cho Hà.
Tại nhà Hà, anh ta sẽ phân ra những lô hàng để đem nhập. Theo Hà thì khỉ sống và khỉ chết, trăn được anh ta nhập cho các đại lý nguyên liệu nấu cao. Các loại chồn, cheo, sơn dương, mang, cáo... bán cho các nhà hàng đặc sản ở các thành phố lớn.
Các loại động vật hoang dã quý hiếm như báo gấm, chồn bạc má, khỉ mặt đỏ, rắn hổ chúa được mang lên Lạng Sơn nhập cho đại lý lớn để họ đưa sang Trung Quốc...
Tôi có nhã ý muốn đi thăm nơi Hùng tập kết hàng nhưng anh ta lắc đầu đầy cảnh giác: “Hàng tôi không tập kết ở nhà mà ở trang trại. Tôi có trang trại hơn 3ha ở trong rừng. Nhưng nay đã hết hàng”.
Hà cho biết thêm, hiện nay những người làm nghề như anh ta rất nhiều, mỗi huyện cũng có 7-8 người, còn hệ thống chân rết thì được họ cài cắm khắp mọi nơi.
Hỏi Hà có “chơi” hổ và tê giác, ngà voi không? Hà cười: “Hổ và tê giác ở các cánh rừng Việt Nam hầu như đã cạn kiệt. Nhưng nếu chú cần anh a-lô một phát là có ngay.
Hà tiết lộ: “Hổ, tê giác, ngà voi, đuôi voi chủ yếu là ở Lào, Châu Phi thẩm lậu về Việt Nam. Tại Nghệ An, Hà Nội và Hà Tĩnh có các ông trùm chuyên về mặt hàng này. Họ là những maphia thú rừng quý hiếm xuyên lục địa. Những mặt hàng cao cấp này đều được bán cho các đại gia, các VIP để họ nấu cao, bồi dưỡng sức khỏe và làm cảnh để khẳng định đẳng cấp quý tộc”.
Hà ngậm điếu xì gà rít một hơi nhả khói mờ mịt: “Nghề này bị bắt suốt, nhưng nó cũng là một mặt hàng siêu lợi nhuận như ma túy nên nhiều người vẫn ham dẫu có bị tù”, Hà nói. (VTC 22/10) đầu trang(
Xã Phù Khê (Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) không chỉ là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử cách mạng - văn hóa, khoa bảng mà còn là vùng đất của nghề chạm khắc gỗ truyền thống nổi tiếng ở Việt Nam và một chợ bán gỗ theo cân độc nhất vô nhị.
Ở vùng đất kinh kỳ xưa có câu ca “Hà Nội thêu quạt, thêu cờ / Phù Khê chạm trổ ngai thờ nhà vua”, cho thấy một thời hoàng kim của làng nghề chạm khắc gỗ Phù Khê.
Hiện nay, đình làng Phù Khê vẫn còn thờ 7 cụ tổ của 7 nghề, trong đó, có cụ tổ nghề chạm chạm khắc gỗ. Tuy nhiên, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, nhất là bị hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc (chống pháp và chống Mỹ) đã làm cho làng nghề xơ xác. Nhiều nghệ nhân trước khi mất đã không kịp truyền lại nghề cho con cháu và nghề truyền thống này đã bị mai một trong suốt thời gian dài, có lúc tưởng chừng bị thất truyền…
Ông Nguyễn Kim, một nghệ nhân lâu năm của làng nghề, kể lại sau nhiều năm cùng bố làm nghề ở phố Hàm Long, Hà Nội, ông đã quyết định bỏ phố về làng với hy vọng phục dựng lại nghề truyền thống. Khi về làng, ông thật xót xa khi tận mắt chứng kiến cảnh “cả làng” không còn ai biết đục, biết gọt…”. Ông Kim phải mượn sân đình của làng để “dựng trường” mở lớp dạy đục đẽo cho người dân. Mặt khác, các loại dụng cụ thiết yếu như: đục móng, đục xén, đục chàng… ông đều phải cất công tìm sắt và tự rèn lấy đồ nghề. Nhiều loại đục có cấu tạo phức tạp như tỉa không thể tự rèn, ông không quản ngại đi bộ hàng chục cây số để tìm mua. Sau đó ông tập trung vào tuyển thợ, chú ý chiêu mộ thanh niên vào để dạy nghề.
Và cũng từ khóa học đầu tiên này, một giáo án đào tạo nghề chạm khắc gỗ do chính tay ông Kim soạn thảo, biên tập và xuất bản. Qua 6 khóa đào tạo, ông đã cho “ra lò” 300 thợ cả có tay nghề cao. Cũng từ 300 người thợ cả này tiếp tục “sản sinh” ra những người thợ tiếp theo nối dõi nghiệp tổ tiên. Hiện Phù Khê có 2 nghệ nhân, hơn 400 thợ cả.
Hơn 50 năm làm nghề, nghệ nhân Nguyễn Kim tâm sự: “Nghệ nhân là một nghệ sĩ đa tài, bởi vậy phải hiểu được tâm tư, tình cảm của nhân vật (bức tượng), phải thuộc bản chất, hành động của nhân vật đó. Đối với gia đình, tôi luôn dạy con cháu trong gia đình phải khép mình vào sau khắt khe, không thể dễ dãi với gì mình có, nêu cao tinh thần tự học hỏi trong nghề nghiệp. Và tôi lấy tượng La Hán chùa Tây Phương và tượng Phật bà nghìn tay nghìn mắt để răn con cháu trong nhà…
Những năm gần đây, nghề chạm khắc gỗ Phù Khê hiện rất phát triển. Toàn xã có hơn 2.000 hộ dân (trong đó 22 hộ thành lập doanh nghiệp) hầu hết đều tham gia làm nghề mộc truyền thống, chế tác, sản xuất sản phẩm gia dụng, mỹ nghệ liên quan đến nhiều loại gỗ; riêng thôn Phù Khê Thượng đã có hơn 500 hộ làm nghề nên nhu cầu về nguồn nguyên liệu gỗ phục vụ cho làng nghề là rất lớn. Giai đoạn trước, đa phần các hộ đóng đồ đều phải mua nguyên liệu từ những cơ sở kinh doanh gỗ ở trong và ngoài xã, thậm chí là mua ở các tỉnh, thành lân cận nên thường bị tư thương ép giá, gây khó khăn cho sản xuất.
Do đứng trước những yêu cầu cấp bách về nguồn nguyên liệu gỗ,mới đây, làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê Thượng đã khánh thành khu chợ gỗ rộng hơn 10.000m2, với hệ thống ki ốt tiện nghi, hiện đại.
Chợ Phù Khê Thượng khác với các chợ dân sinh thuần túy, chợ mở ra chỉ có gỗ là mặt hàng trao đổi, mua bán duy nhất. Vào chợ gỗ “độc nhất vô nhị” này, khách hàng có thể tìm mua được nhiều loại gỗ mình cần theo yêu cầu sản xuất của mỗi gia đình, nhu cầu của khách hàng đặt như: Đinh, lim, sến, táu, gỗ hương, gỗ trắc, mít, thông… với mọi kích thước. Trong đó, khu chợ này tập trung chủ yếu là gỗ trắc (kích thước nhỏ nhất từ 5-7cm) được bán với giá 40-50.000đồng/kg cho đến hàng triệu đồng/kg (tùy kích cỡ). Đối với loại gỗ hương gốc có giá từ 15.000đồng/kg trở lên. Riêng đối với loại gỗ nhóm I: Đinh, lim, sến, táu thì có giá từ vài trăm ngàn/kg cho đến hàng triệu đồng (tùy kích thước). Nhiều hộ dân buôn bán ở chợ gỗ này mỗi tháng doanh số bán ra hàng tỷ đồng/tháng.
Theo ông Nguyễn Thành Hưng, Trưởng thôn Phù Khê Thượng, thì: “Việc xây dựng chợ gỗ là bước đột phá mang tính bề vững cho sự phát triển của làng nghề. Khu chợ hiện có trên 200 gian hàng, với diện tích bình quân 40m2/ki ốt, đều được thuê hết với giá 30 triệu đồng/năm. Đặc biệt, từ khi có chợ gỗ, các hộ kinh doanh ở đây đều phấn khởi, hoạt động quy củ, đã và đang cho thấy hiệu quả kinh tế cao”.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Ngọc Khương – Phó Chủ tịch UBND xã Phù Khê cho biết hiện xã có 7 công ty, hợp tác xã với hơn 80% dân số địa phương tham gia phát triển kinh tế từ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ và chạm trổ truyền thống. Thu nhập bình quân từ 2 – 3 triệu đồng/người/tháng. Riêng thợ có chuyên môn cao, lành nghề thu nhập từ 8 -15 triệu đồng/tháng.
Tuy nhiên, để từng bước khắc phục những khó khăn, đưa nghề truyền thống phát triển, chính quyền địa phương đã quy hoạch khu làm dịch vụ sản xuất đồ gỗ tạo mặt bằng cho các hộ xây dựng cửa hàng giới thiệu sản phẩm, tập kết hàng hóa, bãi đỗ xe… khuyến khích thành lập công ty, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng. Mặt khác, chính quyền địa phương đã phối hợp với các ban ngành thị xã và tỉnh Bắc Ninh xúc tiến, quảng bá sảm phẩm đồ gỗ mỹ nghệ truyền thống vươn ra thị trường thế giới. (Chinhphu.vn 19/10) đầu trang(
Bị cáo cho rằng mình có chứng cứ ngoại phạm, không tham gia vào việc nhổ cây nên không phạm tội.
TAND huyện Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) vừa xét xử vụ hủy hoại tài sản và chống người thi hành công vụ, trong đó bảy bị cáo bị phạt tù từ bốn năm đến năm năm sáu tháng tù, ba bị cáo khác bị phạt hai năm đến ba năm tù.
Theo hồ sơ, cuối tháng 8-2011, khi Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Hồng Phú phối hợp với địa phương tiến hành trồng lại rừng tại tiểu khu 236A thì bị nhiều hộ dân kéo đến ngăn cản. Thanh và các người khác cầm theo rựa, sắt, cây gỗ xông vào đe dọa, chửi bới nhân công đang trồng cây, tuyên bố nếu trồng sẽ nhổ hết. Dù lực lượng chức năng giải thích, thuyết phục, yêu cầu chấm dứt việc nhổ bỏ cây trồng nhưng không có kết quả.
Theo cơ quan điều tra, có 3.207 cây giống keo lá liềm chưa trồng bị héo chết; 31 bao phân vi sinh, 106 kg hạt tích nước và 53 kg thuốc trừ sùng mối của BQL rừng đang tập kết bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại gần 54 triệu đồng. Hành vi này khiến việc trồng rừng không thể thực hiện được, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự... Cả nhóm thực hiện hành vi mang tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, chung mục đích ngăn cản việc trồng rừng, làm chết cây giống và gây hư hỏng vật tư phụ trợ nên phải chịu trách nhiệm chung.
Tại phiên tòa sơ thẩm vừa qua, bị cáo Thanh kêu oan. Bị cáo cho rằng mình không nhổ cây trồng, cũng không thực hiện những hành động sai trái như cáo trạng đã nêu. Mặt khác, bị cáo đã cung cấp chứng cứ ngoại phạm chứng minh mình không có mặt tại nơi xảy ra vụ án vì đi làm thủ tục nhập học cho con. Bị cáo mong tòa xem xét giải oan.
Tuy nhiên, sau khi xem xét, tòa nhận định tại phiên tòa bị cáo Thanh kêu oan nhưng các bị cáo khác trong cùng vụ án đều khai nhận chính Thanh xúi giục, kích động và tham gia nhổ bỏ cây trồng. Hành vi của bị cáo thể hiện vai trò cầm đầu xuyên suốt trong vụ án, đã tích cực tập hợp, lôi kéo các bị cáo khác cùng tham gia. Bị cáo cũng trực tiếp đi ngăn cản việc trồng rừng, nhổ cây nên phải chịu trách nhiệm tương xứng với vai trò, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của mình. Từ đó, tòa tuyên phạt Thanh ba năm tù về tội hủy hoại tài sản...
Sau phiên tòa, bị cáo Thanh kháng cáo bảo tòa phạt bị cáo về tội hủy hoại tài sản là làm oan. HĐXX bưng bít, không làm rõ các chứng cứ gỡ tội của bị cáo, đặc biệt là chứng cứ ngoại phạm. Tòa cũng đã cố tình không cho bị cáo được tranh tụng tại tòa. Chưa dừng lại ở đó, bị cáo còn bị công tố viên quát mắng, xúc phạm.
Bị cáo Thanh nêu thêm, cấp sơ thẩm định giá sự thiệt hại bằng cách cộng tất cả tài sản thiệt hại mà không biết tài sản bị hư hỏng cụ thể là do ai phá hoại. Cáo trạng nêu sau khi các cán bộ đã về hết thì sự thiệt hại mới xảy ra, vậy vì sao biết được nhóm bị cáo phá hoại trong khi không có băng ghi hình, ảnh chụp…
Từ đó, bị cáo Thanh đề nghị TAND tỉnh Bình Thuận tuyên hủy bản án sơ thẩm, tuyên mình không phạm tội.
Hiện vụ việc đang được xem xét để xử phúc thẩm. (Pháp Luật TPHCM 19/10) đầu trang(
Ngay sau khi Báo Sài Gòn Giải Phóng liên tiếp có các bài viết “Rùng mình thuốc kém chất lượng” (ngày 16-10) và “Nguy cơ đông dược thành độc dược” (ngày 18-10) phản ánh tình trạng kém chất lượng của các loại dược liệu, thuốc y học cổ truyền, khai thác tận diệt dược liệu…, nhiều chuyên gia y tế đã lên tiếng đề nghị khẩn thiết bảo tồn và phát triển dược liệu trong nước.
Theo Bộ Y tế, hiện Việt Nam đã thống kê tới gần 3.000 loại cây thuốc nhưng phần lớn có nguy cơ tuyệt chủng, trong khi mỗi năm phải nhập khẩu hàng trăm tấn dược liệu từ các nước, chủ yếu từ Trung Quốc.
Sau khi thế giới “hú vía” với dịch cúm A/H5N1 vào những năm 2004-2005, rồi dịch cúm A/H1N1 năm 2009, các nước mới nhận ra rằng hoa hồi là một trong những dược liệu chính để sản xuất ra thuốc Tamiflu điều trị 2 bệnh trên. Và không đâu khác, nguồn dược liệu hoa hồi để tổng hợp sản xuất ra Tamiflu lại tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT), cây hồi là cây đặc sản nhóm tinh dầu có giá trị cao, được trồng nhiều ở các tỉnh như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn. Sở Y tế Lạng Sơn cho biết hiện tỉnh có trên 32.000ha hồi, chiếm 70% diện tích hồi cả nước và tinh chất hồi Lạng Sơn có chất lượng tốt nhất nước.
Tuy nhiên, những năm gần đây, rừng hồi bị già cỗi, thu hái bừa bãi nên năng suất, chất lượng không cao. TS Nguyễn Minh Khởi, Viện Dược liệu (Bộ Y tế), cho rằng lâu nay quả hồi được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền, tinh chất làm gia vị nhưng chưa thể phát triển rộng là rất lãng phí, đặc biệt lại là một nguyên liệu dùng bán tổng hợp thuốc điều trị bệnh cúm…
Tương tự, được coi là đặc sản quý hiếm, sâm Ngọc Linh phân bố ở Kon Tum, Quảng Nam có giá trị bồi bổ, làm thuốc chữa bệnh tốt, có tiềm năng để gây trồng. Nhưng đến nay, theo Sở Y tế Kon Tum, việc gây trồng đặc sản này vẫn chủ yếu mang tính tự phát, chưa phát triển được các vùng dược liệu quy mô để trở thành nguồn dược liệu cung ứng cho thị trường làm thuốc chữa bệnh trong nước…
Với hệ sinh thái nhiệt đới, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng từng nhận định Việt Nam có tiềm năng rất lớn về dược liệu như quế, hồi, sa nhân, thảo quả, ba kích, thanh hao hoa vàng… Trong đó nhiều dược liệu có giá trị chữa bệnh rất lớn. Thế nhưng, những năm gần đây hầu hết các loại dược liệu bị khai thác tận diệt. Còn theo Bộ Y tế, hiện Việt Nam đã thống kê được trên 3.000 loài cây trong rừng tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc.
Không chỉ một số cây dược liệu chữa được bệnh thông thường mà hiện nay đã được nghiên cứu, phát triển thành những loại thuốc có tác dụng chữa các bệnh nan y như thuốc Kim Tiền Thảo chữa sỏi thận của Công ty cổ phần Dược phẩm OPC (TPHCM), thuốc Crila chiết xuất từ cây Trinh Nữ Hoàng Cung do TS Nguyễn Thị Ngọc Trâm nghiên cứu chữa bệnh u xơ tử cung… Theo Lương y Nguyễn Đức Nghĩa, một trong những người đã nhiều năm đi tìm cây thuốc ở nhiều vùng miền, phần lớn cây cỏ Việt Nam đều có thể là vị thuốc.
Nhưng lương y Nghĩa băn khoăn đến khi nghiên cứu được công dụng, chiết xuất được tinh dầu làm thuốc thì những cây thuốc quý đã… cạn kiệt. Tại một hội nghị về dược liệu cách nay chưa lâu, TS Cao Minh Quang, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết từ những năm 1990, Tổ chức Y tế thế giới đã giới thiệu 200 loại dược liệu quý tại Việt Nam. Thế nhưng, tỷ lệ sử dụng thuốc từ dược liệu của nước ta chỉ đạt 50%, trong khi Trung Quốc tới 90%. Hiện chỉ rất ít cơ sở có dây chuyền sản xuất thuốc từ dược liệu đạt chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP).
Theo Viện Dược liệu Việt Nam, từ một nước xuất khẩu dược liệu vào những thập niên 1960 - 1970, hiện Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn nguyên dược liệu nhập khẩu để sản xuất thuốc chữa bệnh tới 85%. Còn Bộ Y tế thống kê, mỗi năm, Việt Nam tiêu thụ khoảng 50.000 tấn dược liệu, trong số đó đa phần nhập trôi nổi từ Trung Quốc, không rõ nguồn gốc.
Trong khi, công tác quy hoạch, nuôi trồng dược liệu còn nhiều hạn chế, một số ít đơn vị trong nước có chủ động nuôi, trồng để tạo nguồn dược liệu phục vụ sản xuất thuốc chữa bệnh nhưng không đáng kể. Chẳng hạn, trước nguy cơ tuyệt diệt của cây thông đỏ ở Lâm Đồng, Công ty cổ phần Y - Dược phẩm Vimedimex (TPHCM) đã đầu tư nghiên cứu ươm trồng, tự túc sản xuất hai loại thuốc trị ung thư từ thông đỏ.
Nguyên nhân do hàm lượng tinh dầu thông đỏ ở nước ta cao gấp nhiều lần so với các nước và sau khi tổng hợp có giá thành rẻ hơn nhập khẩu nhiều lần. Vimedimex đã xây dựng được vùng trồng nguyên liệu là cây dừa cạn, kim ngân, nhân trần tía, hoài nhơn, đẳng sâm và đặc biệt là cây hoa hòe ở Đắc Lắc, sản xuất hoạt chất rutin đạt tiêu chuẩn có khả năng cạnh tranh với rutin nhập khẩu từ Trung Quốc. Hay như đã sản xuất cao khô dược liệu khoảng 100 tấn/năm cung cấp cho các doanh nghiệp dược trong nước, đặc biệt atisô có hàm lượng cynarin cao gấp 3 lần tiêu chuẩn của nhà sản xuất Rosepharma (Pháp)…
Công ty cổ phần Nam Dược đầu tư trồng cây thìa canh - dùng để sản xuất ra thuốc diabetna trị bệnh tiểu đường- tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Việc đưa cây thìa canh vào trồng có quy mô không chỉ giúp cung ứng thêm nguồn dược liệu, hạn chế nhập khẩu, mà còn mang lại giá trị kinh tế xóa đói giảm nghèo đối với người dân…
Khẳng định quan điểm bảo tồn dược liệu, phát triển các vùng trồng dược liệu và sản xuất thuốc từ dược liệu là mũi nhọn của ngành dược Việt Nam, nhưng GS-TS Lã Đình Mỡi (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học-Công nghệ Việt Nam) cho rằng việc quy hoạch phát triển, nghiên cứu chiết xuất tinh chất phục vụ các sản phẩm chữa bệnh chưa được quan tâm đáng kể. “Muốn sản xuất thuốc với giá rẻ nhưng tìm dược liệu trong nước… đỏ cả mắt.
Vậy làm gì để phát triển dược liệu phục vụ nhu cầu sản xuất thuốc trong nước, hạn chế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu? Điều này đòi hỏi một loạt vấn đề đặt ra là quy hoạch các vùng trồng dược liệu quý; có chính sách khuyến khích nông dân nuôi trồng dược liệu; tạo ra thị trường tiêu thụ dược liệu tốt; nghiên cứu và phát triển các loại thuốc từ dược liệu…”, GS Lã Đình Mỡi nhìn nhận. (Sài Gòn Giải Phóng 20/10) đầu trang(
Trong vòng 2 năm 2003-2004, triển khai dự án trồng rừng nguyên liệu giấy tỉnh Lạng Sơn, nhân dân trên địa bàn 7 huyện trong tỉnh đã trồng được trên 6.200ha rừng. Tuy nhiên, đến nay dự án không còn tồn tại, rừng keo, bạch đàn đã quá tuổi khai thác, chất lượng rừng giảm dần nhưng người dân thì không được phép khai thác.
Tháng 10/2002, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 49 về việc ban hành quy chế quản lý và thực hiện dự án trồng rừng nguyên liệu giấy. Theo đó, dự án trồng rừng nguyên liệu giấy được quy hoạch thành vùng tập trung tại 4 huyện Đình Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Chi Lăng với tổng diện tích trên 64.000 ha và các vùng phụ cận thuộc Hữu Lũng, Văn Quan, Văn Lãng. Các đối tượng thực hiện dự án là hộ gia đình và cá nhân được nhà nước giao đất hoặc được thuê đất trong vùng quy hoạch có đủ điều kiện trồng rừng. Vốn đầu tư vùng nguyên liệu từ ngân sách nhà nước và vốn vay ưu đãi. Suất đầu tư cho người dân trong năm trồng rừng và 3 năm chăm sóc là 2,5 triệu đồng/ha.
Ông Hoàng Ty, Phó Chủ tịch UBND xã Quan Sơn, huyện Chi Lăng nhớ lại: khi triển khai dự án, nhân dân trong xã hưởng ứng rất mạnh mẽ, thời điểm đó người Quan Sơn đốt nương trồng sắn rất nhiều, nhưng hầu hết sau đó đã phá sắn để trồng rừng nguyên liệu, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Chỉ trong vòng 2 năm 2003-2004, thực hiện Quyết định số 49, toàn xã đã trồng được 168,82ha rừng keo và bạch đàn.
Không chỉ riêng ở Quan Sơn mà các địa phương khác trong huyện cũng đồng loạt đăng ký triển khai. Trong giai đoạn này đã có 8 xã thực hiện với diện tích trồng lên đến 892,82ha. Trong phạm vi toàn tỉnh có 7 huyện triển khai với tổng diện tích trồng là 6.297,06ha. Vùng rừng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh nhanh chóng thành hình, người trồng rừng háo hức với hướng phát triển kinh tế mới. Có thể khẳng định, dự án trồng rừng nguyên liệu giấy thời điểm đó là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của kinh tế rừng và tăng cường xã hội hóa nghề rừng.
Tuy nhiên, do không nằm trong quy hoạch vùng nguyên liệu giấy của cả nước, nên dự án trồng rừng nguyên liệu giấy tỉnh Lạng Sơn không được Chính phủ phê duyệt. Để có thể thanh quyết toán khối lượng công việc đã triển khai thực hiện, tháng 7/2006, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 868 phê duyệt dự án xây dựng vùng rừng nguyên liệu tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2002-2005. Nhưng trên thực tế chỉ thực hiện trong năm 2003-2004, và do không có nguồn kinh phí để tiếp tục thực hiện nên một phần diện tích rừng trồng dự án năm 2003 và toàn bộ diện tích năm 2004 không có vốn để thanh toán tiền nhân công.
Những năm sau đó, người dân không mấy ai còn nhớ đến dự án này. Sự việc chỉ trở nên phức tạp khi những diện tích keo và bạch đàn đến tuổi khai thác. Bởi điều 10 trong Quyết định số 49 ngày 7/10/2002 của UBND tỉnh về quy chế quản lý và thực hiện dự án nguyên liệu giấy quy định người dân phải thực hiện khai thác theo tiến độ và quy định kỹ thuật của dự án và bán sản phẩm theo chỉ định của tỉnh.
Chị Thân Thị Thu, Trưởng thôn Làng Hăng 2, xã Quan Sơn bộc bạch: ngày ấy trồng rừng nguyên liệu, chúng tôi được phố biến, đến khi khai thác sẽ bán gỗ cho nhà máy chế biến của tỉnh, rồi trả nhà nước vốn hỗ trợ ban đầu. Nhưng đến tận bây giờ khi rừng keo, bạch đàn đã quá tuổi khai thác, thân keo đã rỗng dần mà vẫn chưa thấy gì. Thực tế trong suốt thời gian qua có rất nhiều cá nhân đến Quan Sơn và các địa phương khác có trồng rừng nguyên liệu giấy đặt vấn đề thu mua gỗ, thậm chí có người còn đặt tiền trước, nhưng theo quy định thì người dân vẫn không được cấp phép khai thác.
Theo phòng NN&PTNT huyện Chi Lăng, từ thắc mắc đã nảy sinh bức xúc, từ kiến nghị đến xã giờ người dân làm đơn kiện thẳng lên huyện, kiện cơ quan chuyên môn không cho khai thác, tham mưu không tốt cho chính quyền…Gỗ rừng quá tuổi khai thác đang dần giảm chất lượng, toàn bộ vốn đầu tư của nhà nước và công sức của nhân dân có nguy cơ bị lãng phí.
Trong quá trình tác nghiệp, đi đến đâu chúng tôi cũng nhận được câu hỏi của người dân, bao giờ thì giải quyết, giải quyết thế nào, theo hướng nào? Người dân chúng tôi có được khai thác không? Chất lượng rừng xuống cấp, giảm giá trị, chỉ để ít năm nữa còn có thể mất giá trị, công sức của nhân dân, vốn đầu tư của nhà nước có nguy cơ bị lãng phí?...Những câu hỏi đau đáu, thôi thúc chúng tôi tìm tới ngành chức năng.
Theo ông Hoàng Mạnh chức, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp, hiện ngay ngành chức năng đang phối hợp với các ngành có liên quan và các địa phương năm trong vùng dự án để có tham mưu cho UBND tỉnh phương án giải quyết tối ưu nhất, theo hướng có lợi cho người dân và phát huy được nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Thực tiễn đang đòi hỏi các ngành hữu quan cần phải khẩn trương hoàn thiện phương án, tham mưu cho UBND tỉnh phương án tối ưu nhất để nhanh chóng giải quyết vấn đề. Đảm bảo phát huy được nguồn vốn đầu tư của nhà nước, công sức của nhân dân, mặt khác giải phóng đất, tạo nguồn lực mới để người dân tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất. (Báo Lạng Sơn 20/10) đầu trang(
Theo Trung tá Ngô Minh Thư, Đội trưởng Đội CSĐT tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa): “Tình trạng trộm cắp gỗ sưa bắt đầu rộ lên tại địa phương. Ban ngày, nhóm trộm thăm dò xem nhà ai có đồ gỗ sưa rồi chờ đêm về chúng đột nhập gây án.
Trên địa bàn có nhiều nhóm chuyên mua bán loại gỗ sưa (còn tên gọi khác là gỗ huỳnh đàn) theo đơn đặt hàng của các thương lái Trung Quốc. Tuy gỗ sưa là một trong những loại gỗ cấm khai thác, buôn bán nhưng pháp luật không cấm mua bán các vật dụng làm bằng gỗ sưa đã qua sử dụng”.
Được biết, Vạn Ninh được xem là nơi có nhiều bàn, ghế, giường, tủ và nhiều vật dụng trong nhà được làm bằng gỗ sưa.
Chị Nguyễn Hồng Mai (thôn Phú Cang, xã Vạn Phú) lo lắng: “Ở xã này, nhà nào cũng có gỗ sưa nên ai cũng nơm nớp lo sợ bị trộm ghé thăm. Nhà tôi có một trang thờ bằng gỗ sưa, đồ thờ gia tiên nên không thể bán nhưng để trong nhà thì lại lo sợ bị trộm”. Tương tự, ông Hoàng Văn Bình (xã Vạn Hưng) kể: “Nhà tôi có cái bàn thờ bằng gỗ sưa do ông bà để lại, nhiều người đến hỏi mua tôi không bán. Kẻ gian thường xuyên rình mò nhưng gia đình cảnh giác cao nên chúng không làm gì được. Tuy nhiên, trước tình trạng trộm cắp gỗ sưa, gia đình tôi bàn nhau đem đi gửi nơi khác an toàn hơn”.
Đêm 25-9, nhà bà Bùi Thị Trung (xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh) bị người lạ bịt mặt đột nhập, dùng dao khống chế cướp đi khung bàn làm bằng gỗ sưa. Trước đây, tại xã Vạn Phú từng xảy ra trường hợp trộm dùng thuốc mê gây mê cả nhà rồi lẻn vào lấy mấy chiếc ghế gỗ sưa.
Ông Ngô Hữu Nghiệp - Phó Chủ tịch xã Vạn Phú cho biết: “Lâu nay chỉ xảy ra tình trạng trộm cắp gỗ chứ chưa xảy ra cướp gỗ. Vụ cướp đồ gia dụng bằng gỗ tại nhà bà Trung là vụ đầu tiên đáng báo động. Hiện vụ trộm vẫn chưa tìm ra thủ phạm”.
Còn ông Lê Văn Tân, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vạn Ninh, thì gỗ sưa tự nhiên hiện nay không còn. Đối tượng đang mua bán các loại vật dụng bằng gỗ sưa trên thị trường thì pháp luật không cấm mua bán, do đó lực lượng kiểm lâm không thể can thiệp. (Pháp Luật TPHCM 22/10) đầu trang(
Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính vừa có văn bản gửi cục hải quan các tỉnh thành làm rõ các vướng mắc trong việc kiểm tra hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc thực vật chưa được thống nhất giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan.
Theo đó, thống nhất việc cơ quan hải quan sẽ không yêu cầu chủ hàng phải nộp giấy chứng nhận kiểm dịch khi xuất khẩu hàng hóa đối với sản phẩm mà điều ước quốc tế VN tham gia không quy định hoặc nước nhập khẩu hàng hóa không yêu cầu kiểm dịch. Đối với thông tư 40 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cơ quan hải quan chỉ yêu cầu chủ hàng nộp giấy chứng nhận kiểm dịch trong điều kiện có yêu cầu kiểm dịch.
Trước đó, Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) và Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương đã có văn bản tổng hợp ý kiến phản hồi từ các doanh nghiệp chế biến gỗ, mỹ nghệ xuất khẩu cho biết thông tư 40 có nhiều điều khoản gây phiền hà, mất nhiều thời gian và khiến doanh nghiệp tốn thêm các chi phí liên quan.
Trong khi chờ đợi Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn giải quyết, HAWA đã đề nghị Chi cục Kiểm dịch thực vật khu vực 2, Chi cục Hải quan giải quyết cho các đơn vị xuất khẩu sản phẩm gỗ và mỹ nghệ có nguồn gốc từ thực vật đi các thị trường không yêu cầu kiểm dịch được miễn kiểm. (Tuổi Trẻ 22/10) đầu trang(
Những năm qua, ngành nghề chế biến sản xuất dăm gỗ xuất khẩu phát triển mạnh ở Quảng Ngãi do lợi nhuận mang lại rất cao. Nhiều doanh nghiệp (DN) đã thi nhau đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp sản xuất dăm gỗ, trong đó có vài DN xây dựng tới 2 - 3 nhà máy.
Việc phát triển thiếu quy hoạch, không chỉ gây ô nhiễm môi trường trong quá trình vận chuyển, chế biến mà còn dẫn đến tình trạng “cung vượt cầu”; cộng với thị trường xuất khẩu dăm gỗ ngày càng thu hẹp, giá thành giảm đáng kể, nhiều nhà máy phải sản xuất cầm chừng, thậm chí là đóng cửa dài ngày...
Hơn 1 tháng qua, 3 dây chuyền sản xuất, chế biến dăm gỗ xuất khẩu của Nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu Kim Thành Lưu (Khu Kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi) phải ngừng hoạt động, hàng trăm công nhân thất nghiệp “ngồi chơi xơi nước”. Dù tìm đủ mọi cách xoay sở nhưng chủ DN cũng không tài nào mua được nguyên liệu để phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó, giá cả dăm gỗ xuất khẩu tụt xuống mức thấp nhất, không mang lại hiệu quả kinh tế.
Ông Phạm Hoàng Anh, Phó Giám đốc Nhà máy cho biết: “Cây keo nguyên liệu không đủ chế biến, cộng với giá cả đầu ra giảm mạnh, mỗi tấn dăm gỗ chúng tôi phải chịu lỗ khoảng 9% tổng giá trị. Việc duy trì sản xuất gặp vô cùng khó khăn, không biết bao giờ mới chấm dứt...”.
Còn ông Nguyễn Nị, Chủ tịch Hiệp hội Dăm gỗ xuất khẩu Quảng Ngãi tâm sự: “Không chỉ có Kim Thành Lưu mà nhiều nhà máy chế biến dăm gỗ ở Khu Kinh tế Dung Quất cũng phải ngừng hoạt động. Nguyên nhân là do thiếu nguyên liệu sản xuất, lượng dăm gỗ xuất khẩu giảm mạnh.
Theo thống kê của Hiệp hội, nếu năm 2009, toàn tỉnh chỉ có 3 nhà máy sản xuất dăm gỗ thì đến nay con số này đã tăng lên 21 nhà máy, đó là chưa nói đến 2 nhà máy đang trong quá trình xây dựng. Để bảo đảm công suất cho các nhà máy này hoạt động, thì mỗi ngày phải cần hơn 20.000 tấn cây nguyên liệu. Tuy nhiên, các huyện miền núi của tỉnh chỉ đáp ứng khoảng 6.000 tấn và mua ở các địa phương lân cận tại Quảng Nam khoảng 7.000 tấn/ngày nên không đáp ứng được...”.
Ông Nguyễn Nị phân tích: “Tình hình thiếu nguyên liệu sản xuất làm nhiều nhà máy phải hoạt động cầm chừng, gây nên cảnh chụp giật với nhau để mua gỗ nguyên liệu, mua cả keo non, lột vỏ chưa sạch, ảnh hưởng đến khối lượng, chất lượng dăm gỗ chế biến. Chỉ cách đây 1 năm, lượng dăm gỗ sản xuất, chế biến ra không đủ cung cấp cho khách hàng đến từ Nhật Bản, Trung Quốc... Cũng vì thấy làm ăn quá dễ dàng, lợi nhuận cao nên không ít DN đã thu mua nguyên liệu theo kiểu chụp giật, vơ vét, bất chấp chất lượng thấp. Có một số DN còn trộn cả các loại gỗ tạp khác để chế biến như gỗ cây xoài, bời lời, thậm chí cả dừa, cau...
Chính kiểu làm ăn này đã dẫn đến việc thị trường Nhật Bản quay lưng với dăm gỗ Quảng Ngãi. Giờ đây thị trường tiêu thụ dăm gỗ phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc. Do “một mình một chợ” nên DN Trung Quốc tha hồ ép giá dăm gỗ. Đầu năm 2012, giá xuất dăm gỗ xuất khẩu là 138 USD/tấn, nhưng hiện giờ chỉ còn 122 USD/tấn. Trong khi để có 1 tấn dăm gỗ khô xuất khẩu, các DN phải mua nguyên liệu với giá hơn 2,1 triệu đồng, tính toán chi ly nhiều DN phải chịu lỗ từ 2 - 3 USD/tấn, do không dám vi phạm hợp đồng với đối tác”.
Tại Cảng Dung Quất, ông Nguyễn Duy Ngọc, Giám đốc Cảng Gemadept Dung Quất cho biết, sản lượng dăm gỗ xuất khẩu hiện đang giảm mạnh chỉ bằng một nửa so với cùng kỳ năm trước. Năm 2011, trung bình 2 cảng PTSC và Gemadept đón khoảng 10 tàu/tháng, thì năm 2012 còn khoảng 5 tàu. Từ đầu năm 2012 đến nay, mới xuất khẩu được 600.000 tấn dăm gỗ, giảm 300.000 tấn so với cùng kỳ năm 2011.
Hàng loạt nhà máy sản xuất gỗ dăm ở Quảng Ngãi đang rơi vào tình trạng sản xuất cầm chừng và đứng trước nguy cơ đình đốn, đóng cửa, người trồng rừng cũng bị vạ lây, nếu như đầu năm 2012, giá gỗ keo nguyên liệu từ 1,18 triệu đồng/tấn gỗ lóng, nay chỉ còn 1,05 triệu đồng/tấn. Người dân trồng rừng ở các địa phương trong tỉnh, đặc biệt là các huyện miền núi như Nghĩa Hành, Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây... bị lỗ nặng khi thu hoạch rừng cây keo nguyên liệu. Nhiều hộ dân phải vay vốn của ngân hàng để trồng rừng, giá keo nguyên liệu giảm ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, không trả được nợ, hoặc nợ nần kéo dài, nên họ không thiết tha với công việc trồng và chăm sóc rừng cây. (Thanh Tra 21/10) đầu trang(
Cuộc chiến giữa các lực lượng bảo vệ rừng với lâm tặc chưa bao giờ khốc liệt như bây giờ. Là Vườn Quốc gia (VQG) lớn nhất Việt Nam với nhiều loài động thực vật hiếm quý, Yok Đôn không có lấy một ngày yên tĩnh...
Sau ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, từ năm 1979, xác định rõ tầm quan trọng của công tác bảo tồn hệ sinh thái lẫn ý nghĩa an ninh quốc phòng của vùng rừng rộng lớn trên cao nguyên phía tây nam Trung Bộ, Bộ Lâm nghiệp (trước đây) đã họp bàn quyết định thành lập khu rừng cấm Yok Đôn, thuộc Liên hiệp Lâm công nông nghiệp Ea Soup. Năm 1992, VQG Yok Đôn được thành lập với diện tích 58.200 ha, nằm gọn trên địa bàn hành chính xã Krông Na, huyện Ea Soup, tỉnh Đác Lắc.
Sau mười năm xây dựng và phát triển, Thủ tướng Chính phủ cho sáp nhập hai lâm trường Buôn Đôn và Buôn Đrăng Phôk vào VQG Yok Đôn, nâng tổng diện tích Vườn lên tới 115.545 ha, mở rộng diện tích vùng đệm tương ứng lên 133.890 ha, bao gồm 6 xã, 3 huyện của 2 tỉnh Đác Lắc, Đác Nông. Tính đến tháng 9-2012, cả nước có 20 VQG, gồm 14 VQG thuộc tỉnh và sáu VQG do Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) quản lý. Trong số đó, Yok Đôn là VQG rộng lớn nhất thuộc quyền quản lý của TCLN.
Gọi theo tiếng M’Nông: Yok là núi, Đôn là đảo. Yok Đôn là tên của ngọn núi cao 482 m, đứng một mình như hòn đảo giữa biển rừng Buôn Đôn, được dùng làm tên chung cho VQG duy nhất trong hệ thống 76 khu rừng đặc dụng của cả nước về mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái rừng khô cây họ Dầu lá rộng, còn gọi là rừng Khộp. Đây là loại rừng rụng trụi lá vào mùa khô, xanh mướt về mùa mưa, đặc biệt phù hợp với điều kiện sinh trưởng của các loài động vật quý hiếm đang bị đe dọa toàn cầu như voi, vượn đen má hung, bò tót, bò rừng, công, ngan cánh trắng, thậm chí cả Bò Xám Kouprey, loài động vật đặc hữu chỉ có ở các nước vùng Đông-Nam Á, từ lâu rồi không tìm ra dấu vết nhưng chưa có tổ chức nào kết luận Kouprey đã tuyệt chủng.
Tháng 5-2006, thực hiện Quyết định số 733 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch “Hành động khẩn trương đến năm 2010 để bảo tồn voi ở Việt Nam”, cả ba tỉnh được giao nhiệm vụ là Nghệ An, Đồng Nai, Đác Lắc đều hăng hái lập dự án bảo tồn, tổ chức nghiệm thu, thông qua, báo cáo kỹ lưỡng. Nhưng đến nay, toàn bộ lộ trình hành động của dự án vẫn... nằm trên giấy.
Ông Trần Hiếu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk than phiền tỉnh chờ hoài vẫn chưa được cấp khoản kinh phí 61 tỷ đồng để triển khai dự án. Mỗi lần tỉnh gửi văn bản nhắc nhở lại được khuyên chịu khó... chờ! Bộ máy hành chính chờ... bao lâu cũng được, nhưng voi lại liên tục bị bắn giết chỉ vì khúc ngà hoặc chỏm đuôi lơ thơ mấy sợi lông.
Trong khi chờ đợi Chính phủ duyệt gói ngân sách triển khai dự án, giữa năm 2011, tỉnh Đác Lắc đã tạm trích ngân sách thành lập Trung tâm Bảo tồn voi.
Sau hơn một năm chờ đợi, Trung tâm mới nhận được Công văn số 2672 do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Hà Công Tuấn ký ngày 21-8-2012, gửi UBND ba tỉnh Đác Lắc, Đồng Nai, Nghệ An về việc “Thực hiện kế hoạch hành động khẩn cấp đến năm 2020 để bảo tồn voi”. Nội dung đề nghị ba tỉnh rà soát hoàn thiện các dự án bảo tồn voi để thẩm định trình Thủ tướng phê duyệt; giao Tổng cục Lâm nghiệp tham mưu cho Bộ NN&PTNT tổ chức Kế hoạch khẩn cấp bảo tồn voi, xây dựng dự án tổng thể trước ngày 30-9-2012.
Nhẩm tính, chuyện bảo tồn voi Việt Nam, từ kế hoạch “Hành động khẩn trương” tháng 5-2006 cho tới kế hoạch “Hành động khẩn cấp” tháng 9-2012 trên giấy, sáu năm ba tháng đã trôi qua...
Vườn Quốc gia Yok Đôn ngoài bảy xã vùng đệm còn có một buôn Đrăng Phôk nằm ngay giữa vùng lõi. Từ thời xa xưa, đồng bào M’Nông bản địa vẫn chung sống hòa bình với rừng bằng cách đánh bắt cá, săn thú, chăn thả gia súc, thu hái cây thuốc, rau dại, đánh bắt cá sông.
Hai mươi năm trước, những phiên chợ tự nhóm giữa rừng Yok Đôn còn phong phú các mặt hàng lâm nông thổ sản. Nhiều loại đặc sản được mua bán, trao đổi với giá rất rẻ như chai cục, măng, nấm, tê tê, ba ba, kỳ đà, rắn độc, thỏ, mang, nai, heo rừng, chồn, nhím, khỉ, ếch, tắc kè, nhồng, bìm bịp, vẹt, gà rừng, đa đa, cá lăng, cá mõm trâu... Các quán nhậu quanh VQG thường sẵn sàng đáp ứng rất nhiều món thịt rừng tươi sống.
Nhiều năm sau khi VQG đã hình thành, các làn sóng dân di cư tự do từ tứ xứ đổ về làm mật độ dân số hai huyện Ea Soup, Buôn Đôn tăng vọt. Các xã vùng đệm đều có hệ thống đường thôn buôn cấp phối. Trong đó, quan trọng nhất là tỉnh lộ 1A từ Buôn Ma Thuột đi Ea Soup và đường nhánh đến các đồn biên phòng. Mạng lưới giao thông này tạo điều kiện cho lâm tặc dễ dàng ra vào VQG và tuồn gỗ lậu đi mọi nẻo. Mức thu nhập bình quân quá thấp của đồng bào trở thành kẽ hở để đầu nậu vung tiền mua chuộc, lôi kéo họ vào đường dây khai thác gỗ quý trái phép.
Các trạm, hạt kiểm lâm quanh Vườn vào thời điểm nào trong năm cũng chất chồng đủ loại phương tiện khai thác, vận chuyển gỗ bị tịch thu như xe đạp, xe máy, máy cưa máy nổ... do đầu nậu trang bị cho người làm thuê. Suốt hai mươi năm qua, chưa từng có đầu nậu cỡ bự nào phải đứng trước vành móng ngựa, dù năm nào cũng có tới hàng nghìn mét khối gỗ quý bị kéo trộm ra khỏi VQG Yok Đôn.
Đầu tháng 8-2012, một nhóm phóng viên được thổ dân dẫn đường vào sâu vùng lõi VQG đã tận mắt chứng kiến cảnh hàng trăm cây gỗ căm xe, gỗ giáng hương bị cưa cắt ngay tại tiểu khu 477 và 484, thậm chí gỗ đổ ngay trên đường tuần tra của kiểm lâm. Hàng loạt phóng sự nóng bỏng về VQG Yok Đôn bị tàn phá nghiêm trọng phơi bày trên mặt báo. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ NN&PTNT phối hợp với UBND tỉnh Đác Lắc chấn chỉnh công tác quản lý bảo vệ rừng Yok Đôn. Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm Đỗ Trọng Kim bay vào tận nơi kiểm tra, kết luận đủ điều kiện khởi tố. Công an còn đang lần manh mối bọn trộm gỗ thì lại bùng lên vụ sát hại cả đôi voi rừng để lấy ngà.
Chiều ngày 28-8-2012, tại trụ sở UBND huyện Buôn Đôn, ông Đinh Văn Khiết, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đác Lắc chủ trì buổi làm việc với lãnh đạo huyện, Cục Kiểm lâm và các ngành liên quan về tình hình quản lý VQG. Thông tin giữa cuộc họp cho biết, các đợt truy quét vừa qua phát hiện nhiều trường hợp công chức vi phạm luật bảo vệ rừng, trong đó có cả kiểm lâm, công an, bộ đội biên phòng, xã đội trưởng. Sắp tới lãnh đạo tỉnh sẽ chỉ đạo truy quét triệt để, dẹp hết các xưởng cưa trái phép.
Tháng 8 hết. Tháng 9 qua. Và giờ đang là tháng 10. Không hiểu sao các xưởng cưa lậu vẫn hoạt động rầm rộ, cưa xẻ xoèn xoẹt khắp đêm ngày từ quanh VQG lên tới nội thành Buôn Ma Thuột... (Nhân Dân 22/10) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
“Từ hôm có thông tin cá sấu sổng chuồng tôi vẫn thường xuyên theo dõi. Việc nuôi các loài vật nguy hiểm cần phải được quy định nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là việc đảm bảo an toàn cho người dân xung quanh các cơ sở này”, chị Vũ Thanh Xuân (27 tuổi, ở Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội) chia sẻ.
- Vì sao chị lại quan tâm tới thông tin này?
- Trước đây cũng đã nhiều lần có tin đồn về các con vật nuôi nguy hiểm sổng chuồng và có khả năng đe dọa người dân ở khu vực xung quanh. Tuy nhiên lần này thông tin cá sấu sổng chuồng có số lượng lớn, một số con được tìm thấy ngay cạnh ao nước gần trường tiểu học. Hơn nữa, có con đã suýt gây nguy hiểm cho 4 đứa trẻ trong chùa. Đọc được thông tin này tôi thấy rùng mình. Đây là mối đe dọa trực chờ, chỉ một chút sơ sẩy bất kỳ ai cũng sẽ nằm trong vòng nguy hiểm.
- Đại diện trang trại cho rằng số lượng cá sấu chưa bắt lại được còn 7 con là chưa chính xác. Chị có suy nghĩ gì?
- Tôi thấy giám đốc trang trại trả lời rằng, trong quá trình nuôi cá bị hao hụt nhiều nên không có con số chính xác. Tôi thấy việc lập luận như vậy không đủ thuyết phục, khi nuôi thì chủ trang trại phải nắm rõ số lượng, con nào bệnh, con nào chết đều phải có ghi chú.
- Theo chị thì các cơ quan chức năng và chủ trang trại cần có trách nhiệm gì?
- Tôi cho rằng việc kiểm đếm, tìm ra đúng số lượng cá sấu sổng chuồng là cần thiết, nhưng đây chỉ là một trong những nhiệm vụ giúp cho việc tìm kiếm. Cùng với việc xác định trên thì cần tiếp tục cảnh báo người dân đề phòng nguy hiểm và tiếp tục truy tìm những con còn lại.
Việc chăn nuôi các loài vật nguy hiểm phải được đảm bảo nghiêm ngặt, chuồng trại nuôi thả cần phải tính tới những nguy cơ bị phá hủy bởi các yếu tố từ con người tới tự nhiên. Cơ quan thẩm quyền cấp phép, quản lý cũng cần phải kiểm tra các cơ sở đó thường xuyên. (An Ninh Thủ Đô 19/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (ICUN) ngày 17/10 đã công bố danh sách hơn 400 loại thực vật và động vật đã được thêm vào Sách Đỏ.
Theo thông báo của ICUN, hiện Sách Đỏ có khoảng 20.219 cá thể, trong đó có 4.088 loài động, thực vật đang gặp nguy hiểm. Có gần 6.000 loài động thực vật đang đứng trước nguy cơ diệt vong và hơn 10.000 loài được liệt vào danh sách "sắp nguy cấp."
Sách đỏ IUCN công bố văn bản năm 2004 (Sách đỏ 2004) vào ngày 17 tháng 11 năm 2004. Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể.
Bà Jane Smart, Giám đốc của IUCN, cho biết 25% loài động vật có vú, 13% các loài chim và 41% các loài côn trùng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Bà cho biết: "Những số liệu này ngày càng tăng nhanh."
Danh sách trên được đưa ra trong khuôn khổ hội nghị Công ước Liên hợp quốc về Đa dạng sinh học (CBD) đang diễn ra tại Hyderabad (Ấn Độ). (VietnamPlus.vn 19/10) đầu trang(
Sau ba ngày làm việc, ngày 19/10, Hội nghị lần thứ 11 của các bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học (CDB COP 11) đã khép lại tại thành phố Hyderabad của Ấn Độ với cam kết tăng cường tài chính cho các nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học.
Hội nghị đã nhất trí với chiến lược toàn cầu cho sứ mệnh này của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP).
Chiến lược mới có nhan đề "Tương lai chúng ta mong muốn: Đa dạng hóa sinh học và Hệ sinh thái- thúc đẩy tăng trưởng bền vững” yêu cầu tất cả các nước tăng vốn đầu tư cho lĩnh vực đa dạng sinh học để ngăn chặn những thiệt hại, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, bảo vệ các loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng và môi trường sống.
Chiến lược cũng nhấn mạnh UNDP cần hợp tác chặt chẽ với các chính phủ nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và quản lý các hệ sinh thái trên 1,4 tỷ hécta đất và các vùng nước trên thế giới, đồng thời hỗ trợ các nước tìm kiếm biện pháp để cung cấp tài chính cho công tác quản lý đa dạng sinh học thông qua thu nhập trong nước, các cơ chế tài chính sáng tạo và ngân sách tài trợ từ nhiều nguồn.
Hội nghị CDB COP 11 với sự tham gia của 77 bộ trưởng và thứ trưởng đã thông qua chiến lược mới nhằm giúp các chính phủ thống nhất quản lý đa dạng sinh học trên cơ sở quy hoạch phát triển và cho phép bảo tồn các khu vực để đóng góp vào sự phát triển bền vững, đảm bảo quản lý và phục hồi các hệ sinh thái và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu, theo đó đến năm 2015 đồng ý tăng gấp đôi viện trợ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại các nước nghèo.
Hội nghị cũng đã bổ sung 400 loài động thực vật vào "Danh sách Đỏ" những loài có nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời các bên đàm phán đã thảo luận về quy mô và thời gian giải ngân của khoản hỗ trợ thêm trên nhằm ngăn chặn nguy cơ suy giảm các loài và môi trường cư trú.
Tuy nhiên, thỏa thuận trên yêu cầu ít nhất 75% các nước nhận viện trợ phải hoàn tất báo cáo chi tiêu đến năm 2015 và phác thảo kế hoạch bảo tồn sinh học quốc gia với số tiền được hỗ trợ.
Hiện nay UNDP đang quản lý danh sách các hoạt động đa dạng sinh học và các hệ sinh thái trong hệ thống Liên hợp quốc và giám sát 512 dự án trị giá 5 tỷ USD ở 146 quốc gia. Số tiền đó được cung cấp qua kênh tài chính chủ yếu của CBD là Tổ chức Môi trường toàn cầu để giúp đỡ các đối tác của 182 quốc gia, các tổ chức công và tư nhân giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu và đó cũng là công cụ của UNDP giúp các chính phủ cung cấp ngân sách cho các dự án trong chiến lược mới.
UNDP cho biết, ngân quỹ này sẽ được sử dụng cho các dự án thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng và môi trường sống, giúp các cộng đồng duy trì các khu vực thiên nhiên nhằm hỗ trợ nông nghiệp và trở thành một vùng đệm đối phó với các thảm họa thiên tai như hạn hán và lũ lụt.
Bà Rebeca Grynspan, Phó Tổng Giám đốc UNDP cho biết, cuộc sống của con người phụ thuộc rất lớn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, nhưng những thập kỷ gần đây thế giới bị thiệt hại rất lớn về đa dạng sinh học và suy thoái hệ sinh thái, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nền tảng của cuộc sống trên Trái Đất. (VietnamPlus.vn 20/10) đầu trang(
Từ khi nhận chú voi con mồ côi về nuôi, bà Jenny Webb luôn coi nó là một đứa con của mình. Ngoài việc chăm sóc, chữa bệnh cho "con", bà còn ngủ cùng đứa con đặc biệt này mỗi đêm.
Đầu tháng 2/2012, các cán bộ kiểm lâm tại Vwazi Wildlife Reserve - công viên quốc gia Malawi (thuộc miền Bắc Malawi) đã tìm thấy một chú voi con mồ côi mới một tuần tuổi kiệt sức giữa dòng sông và trong tình trạng sắp chết đói sau nhiều ngày lạc đàn. Nó đang cố gắng đi tìm gia đình mình, nhưng do còn quá nhỏ và yếu nên đã bị mắc kẹt ở đây. Có thể voi mẹ đã bị giết bởi trong những năm gần đây, các vụ giết hại voi bất hợp pháp lan tràn ở châu Phi.
Các nhóm bảo tồn cho biết hàng chục ngàn con voi ở đây đang bị giết hại mỗi năm để lấy ngà. "Trước đó, chúng tôi đã thấy một chú voi con đang chạy điên cuồng để tìm mẹ. Chúng tôi cố theo dõi để xác định vị trí của nó nhưng không tìm được. Sau đó một vài ngày, chúng tôi phát hiện ra chú voi con một lần nữa ở giữa lòng sông Rukuru và trong tình trạng rất yếu không thể thoát ra khỏi dòng nước. Mọi người quyết định can thiệp và giải cứu nó", một cán bộ kiểm lâm kể lại.
Sau khi giải cứu cho chú voi con tội nghiệp, bác sĩ kết luận nó chỉ còn khoảng 20% cơ hội sống sót. Các cán bộ kiểm lâm đã liên lạc với các trung tâm và các tổ chức động vật hoang dã, nhưng không có nơi nào đồng ý tiếp nhận một chú voi sơ sinh trong tình trạng sức khỏe quá yếu như vậy.
May mắn đến với chú voi con khi Jenny Webb (48 tuổi) - người sáng lập Quỹ động vật mồ côi Jumbo đã nhận nó về nuôi. Webb đặt tên cho chú voi là Moses và đưa nó về nhà riêng tại Lilongwe (Malawi) để chữa bệnh và chăm sóc nó.
Webb bắt đầu cho Moses ăn một công thức sữa dành cho ngựa vì voi không thể ăn các chất rắn cho đến khi được 8 tháng tuổi. Moses nặng 100kg (220 pound) và mỗi ngày uống khoảng 24 lít sữa pha chế gồm nước cốt dừa và 14 thành phần khác.
Webb cho biết: "Moses cực kỳ nhạy cảm. Nó làm tôi rất ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng voi là loài động vật lớn rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, chúng rất dễ xúc động. Moses nắm bắt cảm xúc của tôi rất nhanh. Nếu tôi buồn nó cũng buồn, nếu tôi tức giận nó cũng trở lên khó chịu".
Webb đã đặt một tấm nệm trên sàn trong phòng ăn để làm nơi cô và Moses cuộn tròn bên nhau mỗi đêm. Moses cứ ngủ khoảng 2 tiếng thì Webb đánh thức nó dậy và cho ăn. Vào mỗi buổi sáng, khi Webb uống cà phê và xem ti vi thì Moses lại nũng nịu tựa đầu trên vai cô. Cả hai thân thiết như mẹ con vậy.
Chăm sóc voi con là một công việc bận rộn 24 giờ. Chính vì vậy một mình Webb không thể đảm nhận được, cô còn cần sự trợ giúp của hai nhân viên là Matimat Julius và Jim Tembo. Cả ba người đều phải chơi với Moses mỗi ngày và dùng tay để chăm sóc, âu yếm nó, cách mà con voi mẹ thường dùng vòi để làm.
Trong cuộc sống tự nhiên, một con voi con được voi mẹ giấu dưới bụng để bảo vệ trước ánh nắng mặt trời mà vẫn ấm áp, an toàn. Để làm được điều này, Webb đặt một tấm mền qua lưng Moses. Moses cũng được bảo vệ với kem chống nắng và kem dưỡng ẩm.
Webb cho biết, trong một vài tuần tới, sẽ bắt đầu cho Moses ăn cỏ khô, cỏ, vỏ cây và thức ăn dinh dưỡng của ngựa. Khi nào 4 tuổi nó sẽ dừng việc ăn theo chế độ sơ sinh và sẽ bắt đầu ăn thực vật. Webb cho biết khi Moses 5 tuổi cô sẽ đưa Moses trở lại cuộc sống tự nhiên, có thể là trong công viên quốc gia nơi nó được tìm thấy.
Webb cũng đang có kế hoạch gây quỹ để xây dựng một trung tâm bảo trợ động vật hoang dã theo phong cách châu Phi, nơi mà Moses có thể sống khi nó trưởng thành với trọng lượng cơ thể lớn bởi chỉ khoảng 2 năm nữa thôi, Moses sẽ không thể đi qua cánh cửa nhà nữa.
Webb cũng muốn biến Moses thành "đại sứ voi" để kêu gọi người dân chống lại nạn săn bắt động vật hoang dã. Cô chia sẻ: "Việc nuôi dưỡng Moses quả là một thử thách và là một trong những kinh nghiệm bổ ích nhất của tôi. Tôi nuôi dạy các con tôi như thế nào thì tôi cũng làm như thế với Moses, chỉ khác một điều là bạn không thể đặt một con voi trong xe đẩy mà thôi.
Tôi mong rằng tình trạng đáng thương của Moses sẽ là lời kêu gọi mọi người hãy chung tay bảo vệ những động vật hoang dã". (Người Đưa Tin 20/10) đầu trang(
Nga dự kiến sẽ thiết lập một khu bảo tồn thiên nhiên ở vùng Viễn Đông để giúp bảo tồn loài hổ Amur có nguy cơ tuyệt chủng còn sót lại ở nước này.
Để tiến hành xây dựng khu dự trữ, ngày 18/10, ông Valdimir Miklushevsky-Thị trưởng Primorsky đã tới thị sát khu vực hổ Amur sinh sống thuộc dãy núi Sikhote-Alin, giáp với phía đông bắc dãy núi Wanda của Trung Quốc.
Một khi được thành lập, việc khai thác gỗ sẽ bị cấm để bảo vệ rừng. Đồng thời vùng trồng cây nông nghiệp xung quanh cũng sẽ bị thu hồi. Từ đó sẽ giúp bảo tồn loài hổ Amur. Kế hoạch xây khu bảo tồn được thực thi cũng là kết quả đấu tranh lâu dài của Quỹ Động vật hoang dã thế giới (WWF) ở Nga đối với hướng kinh doanh của một công ty xuất khẩu trong khu vực.
Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thống kê, hiện hổ Amur, còn gọi là hổ Siberia, được liệt vào danh sách đỏ các loài bị đe dọa nghiêm trọng. Hẩu hết các con hổ Amur hoang dã trên thế giới chỉ còn sót lại ở vùng Primorsky và Khabarovsky của Nga, với số lượng khoảng 450 con. (Đất Việt 21/10) đầu trang(
Mới đây, giới chức Hải quan Hồng Kông đã tịch thu 3,6 tấn ngà voi trị giá 3,4 triệu USD (gần 70 tỷ đồng) trong một kho hàng chứa các sản phẩm động vật có nguy cơ tuyệt chủng lớn nhất từ trước đến nay.
Sự việc diễn ra ngày 16-17/10/2012, khi các cán bộ Hải quan Hồng Kông phát hiện ra hai thùng container hàng hóa từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc có chứa ngà voi và các đồ trang trí bằng ngà voi được vận chuyển từ Tanzania và Kenya.
Trong đó, thùng hàng thứ nhất từ Tanzania gồm gần 1000 mẩu ngà voi nặng hơn 1,9 tấn và 1,4 kg đồ trang trí bằng ngà, được giấu trong các túi phế liệu bằng nhựa. Còn thùng thứ hai có 237 mảnh ngà voi nặng khoảng 1,9 tấn được vận chuyển từ Kenya.
Ngay sau đó, các nhà chức trách đã bắt giữ 7 người có liên quan, gồm 1 người đến từ Hồng Kông. Với việc tịch thu ngà voi lần này vượt qua cả kỷ lục so với vụ tịch thu số ngà voi trị giá 2,2 triệu USD vào đầu năm 2011.
Theo luật pháp Hồng Kông, bất cứ ai phạm tội kinh doanh sản phẩm các loài có nguy cơ tuyệt chủng sẽ phải chịu mức án tù 2 năm và phạt tiền lên đến 640 nghìn USD. Còn các nhà hoạt động bảo vệ động vật hoang dã chỉ trích việc săn trộm voi để lấy ngà ở Châu Phi gia tăng do bị thúc đẩy bởi nhu cầu làm đồ trang sức ở thị trường Trung Quốc và Thái Lan. (Đất Việt 21/10) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||