|
Ngày 21 tháng 12 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo hồ sơ, tháng 5-2013, Phạm Văn Vượng được ông NQĐ (nguyên Tổng Giám đốc Công ty CPTM - Du lịch Bản Đôn) thuê thu gom, dọn dẹp vệ sinh cây rừng cho công ty.
Theo Cơ quan CSĐT Công an huyện Buôn Đôn, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của công ty, Vượng đã thuê bốn người vừa thu gom vừa khai thác trái phép khoảng 77 m3 gỗ rừng do công ty quản lý.
Trong cáo trạng lần đầu hồi tháng 3-2014, VKSND huyện Buôn Đôn đã truy tố Vượng cùng bốn người làm thuê về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo khoản 2 Điều 175 BLHS (khung hình phạt từ hai năm đến 10 năm tù). Về phần ông Đ., VKS cho rằng ông này không có hành vi chỉ đạo Vượng câu kết với các đối tượng còn lại để khai thác trái phép lâm sản nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đầu năm 2014, HĐQT Công ty Bản Đôn đã miễn nhiệm chức danh tổng giám đốc đối với ông Đ. là phù hợp.
Sau đó, TAND huyện Buôn Đôn mở phiên xử rồi ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì cáo trạng trên của VKS không ghi rõ số lượng gỗ mà các bị cáo khai thác trái phép.
Tháng 2-2015, VKS huyện này ra cáo trạng lần hai, truy tố Vượng và bốn đồng phạm theo khoản 1 Điều 175 BLHS (khung hình phạt từ phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm) vì đã khai thác trái phép 37 m3 gỗ rừng.
Sau nhiều lần hoãn xử do ông Đ. (tòa xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) vắng mặt không lý do, tháng 4-2015, TAND huyện Buôn Đôn đã đưa vụ án ra xét xử. Tại tòa, Vượng khai chính ông Đ. đã chỉ đạo Vượng khai thác gỗ trái phép nhưng CQĐT lại không xem xét khởi tố ông này là bỏ lọt người phạm tội. Điều này dẫn đến việc Vượng bị xem xét với vai trò chủ mưu trong vụ án.
Để chứng minh, Vượng đã cung cấp băng ghi âm cho thư ký phiên tòa mở ngay tại tòa. Theo đó, khi vụ án đang trong giai đoạn điều tra, Vượng, ông Đ. và ông TVT (Đội trưởng Đội kinh tế Công an huyện Buôn Đôn) đã ngồi uống cà phê. Trong băng ghi âm cuộc nói chuyện tại quán cà phê này có đoạn mà Vượng cho rằng ông T. đã hướng dẫn Vượng khai sai sự thật để bao che cho ông Đ.: “Làm sao đó thì làm, tao chỉ gợi ý vậy thôi. Gợi ý cho mày nữa, có lợi cho công ty. Mày có khai ra thì mày kéo ông ấy vào thì mày cũng chừng đó tội… Đừng có một tư tưởng không vững vàng, không được để lộ ông Đ. Nói như vậy, anh cũng gợi ý như vậy, làm cho nó tuyệt đối”. Trước diễn biến trên, tòa lại hoãn xử để trả hồ sơ điều tra bổ sung nhằm làm rõ trách nhiệm của ông Đ.
Tháng 6-2015, VKSND huyện Buôn Đôn ra cáo trạng lần ba. Theo cáo trạng lần này, Vượng khai ông Đ. là người trực tiếp thuê và cho Vượng khai thác gỗ trái phép nhưng hiện ông Đ. không có mặt tại địa phương. CQĐT đã triệu tập nhiều lần để làm việc nhưng ông Đ. không có mặt nên không đủ cơ sở để chứng minh...
Tháng 7-2015, VKSND tỉnh Đắk Lắk đã yêu cầu VKSND huyện Buôn Đôn rút hồ sơ vụ án từ tòa để trả lại cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Buôn Đôn tiếp tục điều tra làm rõ vì có vi phạm tố tụng. Ngoài ra, VKS tỉnh còn cho biết việc Vượng tố cáo ông TVT (đội trưởng Đội kinh tế Công an huyện) cùng một phó viện trưởng VKS huyện, một phó thủ trưởng cơ quan CSĐT công an huyện có hành vi nhận hối lộ, làm sai lệch hồ sơ vụ án đã được VKS tỉnh chuyển cho Cục Điều tra VKSND Tối cao xác minh.
Tháng 9-2015, Cơ quan CSĐT Công an huyện Buôn Đôn đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Vượng với lý do: Đã hết thời hạn điều tra bổ sung mà vẫn chưa có kết luận giám định giọng nói được ghi âm do Vượng cung cấp cho CQĐT liên quan đến tố cáo của Vượng trong vụ án.
Để làm rõ hơn vụ việc, chúng tôi đã liên hệ với Công an huyện Buôn Đôn nhưng Đại tá Nguyễn Hữu Lương (Thủ trưởng Cơ quan CSĐT công an huyện) nói bận đi công tác. Một phó thủ trưởng cơ quan CSĐT (cũng là người bị Vượng tố cáo nhận hối lộ) thì bảo không có sự chỉ đạo của Đại tá Lương nên không thể trả lời bất cứ câu hỏi nào của PV.
Trong khi đó, Đại úy Nguyễn Lưu Nguyên (Đội trưởng Đội Điều tra tổng hợp, người đang trực tiếp thụ lý hồ sơ) nói: “Chúng tôi ba lần vào TP.HCM, trong đó có hai lần cùng VKS huyện để tìm nơi ở của ông Đ. nhưng cũng chỉ xác minh được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và ông ấy không có ở nhà. Cho tới giờ này chưa chứng minh ông Đ. có dấu hiệu phạm tội nên chưa thể khởi tố được. Sau khi khởi tố bị can mới áp dụng được biện pháp ngăn chặn, nếu bỏ trốn tụi tôi sẽ truy nã. Nếu người làm chứng mà mời họ không đến thì tụi tôi áp giải. Còn ông Đ. không thuộc hai trường hợp trên và cũng không biết ông này đang ở đâu. Chúng tôi bí rồi”.
Khi được hỏi, lãnh đạo VKSND tỉnh Đắk Lắk chỉ cho biết: “Vụ án đang tạm đình chỉ, khi nào có kết quả giám định thì chúng tôi sẽ cung cấp thông tin sau”.
Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin khi vụ việc có diễn biến mới. (Pháp Luật TP.HCM 21/12) đầu trang(
Rừng bị mất, bao nhiêu tai họa sẽ giáng xuống con người, điều đó chắc hẳn ai cũng rõ. Một cơ quan Nhà nước thay vì bảo vệ rừng lại đi tiếp tay cho lâm tặc. Một giám đốc Ban Quản líýrừng phòng hộ thay vì chỉ đạo việc kiểm tra, xử lí, tuần tra gác rừng thì lại lợi dụng quyền hạn của mình vận chuyển lậu gỗ... để tư lợi cá nhân.
Đó là câu chuyện đang xảy ra tại Gia Lai. Người giám đốc trên không ai khác chính là ông Nguyễn Đình Sơn - GĐ Ban QLRPH Ia Rsai (thuộc sở NNPTNT Gia Lai) - có trụ sở đóng tại huyện Krông Pa.
Sau khi báo Lao Động đăng tải bài viết "Giám đốc ban quản lý rừng vận chuyển 4,363m3 gỗ lậu", nhiều bạn đọc bắt đầu giận dữ khi tài nguyên rừng - tài sản quốc gia - bị "lâm tặc" tàn phá khoác áo bởi giám đốc Ban quản lí bảo vệ rừng. Cán bộ Nhà nước không làm đúng sứ mệnh bảo vệ rừng, lại có dấu hiệu tiếp tay để người khác vào phá rừng, đó là lâm tặc. Cán bộ một cơ quan bảo vệ rừng lại đi vận chuyển gỗ lậu thì đó cũng là "lâm tặc".
Không thể ngờ hơn, người cán bộ đó lại là người đứng đầu của cơ quan. Hẳn nhiên, không một người dân nào có thể tin tưởng Nhà nước giao phó công việc cho một người vừa là giám đốc một cơ quan bảo vệ rừng vừa là lâm tặc như thế. Rừng sẽ mất, chắc chắn đó là điều xảy ra.
Xem những hình ảnh phá rừng trên Lao Động, bạn đọc Anh Tư xót xa: "Nhìn những tấm ảnh do PV báo Lao Động chụp được mà thấy buồn ghê gớm! Còn gì là rừng. Đến Huyện chỉ đạo cũng không có chuyển biến, chẳng lẽ lại phải chờ Tỉnh hay tận Trung ương ra tay thì mới dẹp được nạn phá rừng phòng hộ ở Ia Rsai?"
Bạn đọc Hoàng Phúc thì căm phẫn: "Các phóng viên chỉ mới đi tới ven rừng thôi, chưa tới trung tâm khai thác chính thức, rừng Krông Pa khai thác cách đây 5 năm rồi, tan nát hết rồi...".
Sau khi Báo Lao Động đăng tải thông tin, tỉnh Gia Lai đã ra văn bản chỉ đạo sở NNPTNT, Chi cục Kiểm lâm thành lập đoàn kiểm tra nạn phá rừng. Bạn đọc sẽ không phải đợi lâu để biết được cách xử lí của chính quyền đối với việc cán bộ tiếp tay cho lâm tặc (nếu không bị bao che).
Nhìn nhận về việc giám đốc Ban QLRPH Ia Rsai vận chuyển gỗ lậu sau bài viết: "Tỉnh Gia Lai điều tra việc Giám đốc Ban quản lý rừng vận chuyển gỗ lậu", nhiều bạn đọc đã giận dữ. "Là một giám đốc canh rừng cho Quốc gia, nhưng lại tổ chức bán bán rừng, bán gỗ ? Vậy thì còn tin được một giám đốc nào trong khi rất nhiều nhiều giám đốc ở cương vị này. Nói cho cùng, nhân dân ta khác nào bỏ tiền "nuôi ong tay áo"? - bạn đọc Quangquangle - viết. Bạn đọc Chóe thì ngao ngán: Thay vì "Chọn mặt gửi vàng" nay thành "Gửi trứng cho ác".
Thế nên, khi biết vụ việc, nhiều bạn đọc đã kiến nghị tỉnh Gia Lai yêu cầu "cần phải xử lí nghiêm" cán bộ bán mình cho lâm tặc. Bên cạnh yêu đòi xử lí GĐ Ban QLRHH thì bạn đọc Anh Tư cũng đặt câu hỏi về trách nhiệm của chính quyền: "... Không biết lực lượng Kiểm lâm và Chính quyền ở Krông Pa (Gia Lai) nghĩ gì khi nhìn hình ảnh rừng trên địa bàn mình tan hoang như vậy?". Bạn đọc cũng muốn tỉnh Gia Lai cần phải xử lí những cơ quan đã buông lỏng trách nhiệm quản lí của mình.
Xử lí đó là điều nên làm, bởi không ai có thể chấp nhận một giám đốc bảo vệ rừng lại đi "bán" rừng như thế. Xử lí để làm gương cho người khác, để ngăn ngừa tình trạng tương tự. Xử lí để lấy lại niềm tin của người dân, để họ biết rừng sẽ còn và sẽ được bảo vệ bởi những con người chính trực, không vụ lợi cá nhân. Xử lí để thương tôn pháp luật được thực thi. Như lời lãnh đạo sở NNPTNT Gia Lai đã nói PV Lao Động - sẽ đề nghị ông Nguyễn Đình Sơn giải trình - và trong bản giải trình đó dù quanh co đổ lỗi này nọ, thì ông Sơn phải chịu trách nhiệm của mình, đó là điều không phải chối cãi.
Kết thúc bài viết, tôi xin mượn bình luận của bạn đọc Dân Luận: "Việt Nam đang xếp thứ 3 trong tốp 10 nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu - chúng ta đang tham gia vào công ước quốc tế về chống biến đổi khí hậu toàn cầu...Rừng chúng ta càng ngày càng bị tàn phá, đe dọa,...là mối hiểm họa hằng ngày mà chúng ta đang phải đối mặt,...là tiếng chuông thức tỉnh lương tri con người" !.
Đọc vào đó để biết tàn phá rừng hậu quả như thế nào, và việc xử lí người tiếp tay cho hậu quả đó cần phải được trừng trị thích đáng. Hy vọng là thế, nếu tỉnh Gia Lai cương quyết. (Lao Động 19/12) đầu trang(
Thời gian gần đây, xuất hiện lời đồn đoán ăn thịt chim công có khả năng “cân bằng âm dương, hút vượng khí của đất trời để mang đến tài lộc, may mắn”? Nhiều người đã không tiếc công sức, tiền bạc săn loài chim này tìm làm thực phẩm, quà biếu.
“Thịt chim công vốn được mệnh danh là món ăn đẳng cấp dành riêng cho bậc vua chúa. Lông chim công có thể hút năng lượng từ trời đất nên để dùng điều hòa âm dương trong nhà, cơ quan, văn phòng, cửa hàng kinh doanh rất tốt. Có thể lấy lại hòa khí, làm cho công việc trong nhà cũng như cơ quan bạn tốt hơn”, Lê Anh Tuấn, một tay săn chim quý có tiếng ở Kim Bảng, Hà Nam rỉ tai chúng tôi.
Trong căn biệt thự của mình, anh dành hẳn khoảng sân trước để trưng bày cây cảnh và nuôi rất nhiều chim quý. Đặc biệt, chim công là loài nhận được nhiều ưu ái từ anh Tuấn. Bởi vậy, hễ đâu có thông tin về chim công, không kể xa gần anh đều “mò” tới để xem và gạ mua về bằng được.
Theo chia sẻ của anh Tuấn, nhu cầu về chim công đang rất lớn, nhất là dịp cận Tết nên có nhiều cơ sở nhân giống và nuôi chim công trong điều kiện nhân tạo. Tuy nhiên, tại đó cũng chủ yếu là các loài công dễ thuần chủng như công Má Vàng, công Lam hay công Ấn Độ. Còn những loài tuyệt mỹ như công Ngũ Sắc hay công Xanh ở nước ta số lượng của chúng cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Khi đề cập về cơn “sốt” mua chim công trong dịp Tết, anh Tuấn cho biết: “Từ lâu, nhiều người đã cho rằng chim công không chỉ đơn thuần có vẻ đẹp bề ngoài mà nó còn có khả năng thu hút năng lượng của trời đất. Bởi bộ lông đuôi của chúng vừa có thể chạm đất lại vừa có thể “chỉ thiên”. Bên cạnh đó, những chấm tròn trên lông đuôi còn giống với đồng tiền. Thời xưa, chỉ có quan ngũ phẩm trở lên mới được dùng mũ cắm lông chim công. Chính vì vậy, người ta tin rằng loài chim này tượng trưng cho quyền uy, đem lại may mắn tài lộc cho gia đình. Đã có không ít người sẵn sàng bỏ tiền, bỏ công để săn lùng, làm chim công ngày càng trở nên khan hiếm”.
Hỏi về giá trị dinh dưỡng của thịt chim công, anh Tuấn cho hay: “Thịt công ăn có vị ngọt và rất mát. Khi hấp thụ vào cơ thể sẽ có khả năng giải các thứ thuốc uống mà người ăn đã uống trong ngày. Do vậy ngày xưa thịt công được ví von là món ăn hộ mệnh của bậc đế vương”.
Theo chân những người đang cần tìm mua chim công, chúng tôi đã tiếp cận với một trang trại chuyên nuôi và cung cấp chim thịt trên địa bàn Hà Nội. Cơ sở này có tên là trang trại Vườn Chim Việt, địa chỉ tại Khu Sinh thái xã Đông Mỹ (Thanh Trì, TP Hà Nội). Tại đây, rất nhiều chim công được nhốt trong các chuồng nuôi lớn, bên ngoài được quây kín bằng lưới thép. Mỗi chuồng nuôi rộng khoảng 20 – 30m² và được chia thành nhiều khu khác nhau. Trong đó có từ 4 – 6 con trưởng thành hoặc 10 – 15 con độ 6 đến 12 tháng tuổi. Một nửa diện tích của chuồng nuôi được che bạt thấp để làm chỗ cho công trú ẩn. Trong khu chuồng nuôi mới xây dựng được trồng rất nhiều cây, nền đất phủ đầy cát.
Trao đổi với PV, chủ trang trại tên Trần Nhữ Giáp cho biết: “Số lượng khách đến mua chim công tại trang trại dịp này tăng đột biến. Ngày nay, người ta nuôi chim công không chỉ để thưởng ngoạn, những người có tiền họ còn mua về để chế biến ra các món ăn vào dịp Tết. Không những thế, trong lĩnh vực phong thủy, chim công tượng trưng cho sự phú quý giàu sang, mang lại may mắn cho gia chủ nên nó là vật nuôi được nhiều thương nhân săn lùng. Tại trang trại, hiện có vài chục cặp công với giá lên tới 20 – 30 triệu đồng/cặp nhưng vẫn cháy hàng bởi có quá nhiều người đặt hàng trước”.
Anh Giáp cho biết thêm, chim công có 2 loài phổ biến được các trang trại nuôi dưỡng là công Má Vàng và loài công Ấn Độ, bởi nó dễ thuần hóa và thích nghi với điều kiện và khí hậu của nước ta. Tuy nhiên, so với những loài công được phát hiện trong tự nhiên thì giá của nó chỉ cũng chỉ bằng một nửa. Việc nhân giống nhân tạo cho ra những cặp chim công không hoàn hảo nhưng nó làm cho giá thành của công được hạ thấp. Đối với chim nuôi, chim trống khi trưởng thành cơ thể dài hơn 2,1m với bộ đuôi dài tới 1,5m, đủ màu sặc sỡ.
Còn anh Nguyễn Thành Nam, người nuôi chim công ở Phú Xuyên, Hà Nội cho hay: Trang trại của gia đình anh nuôi đủ các loại từ chim trĩ đỏ khoang cổ tới vịt uyên ương, gà đen Indonesia. Nổi bật là một dãy chuồng nuôi chim công lên tới hơn 200 con lớn nhỏ. Khách hàng chỉ cần bỏ ra từ 7-10 triệu đồng là có thể sở hữu một con chim công quý để ăn Tết hoặc làm quà biếu.
“Mỗi một con chim công cũng có giá khác nhau tùy vào số tuổi của chim và mã lông nữa. Có những con công được nuôi từ năm thứ 3 trở đi là đã sở hữu bộ cánh và lông khá mê hoặc rồi và được khách tới đặt mua. Còn nếu trên 5 năm thì bộ lông nó sẽ mượt và đẹp hơn nữa và giá có thể lên tới vài chục triệu cũng có”, anh Nam cho hay.
Tại trang trại chim của anh Nam, chúng tôi gặp chị Lê Thị Ngân (39 tuổi ở Đống Đa, Hà Nội). Sau khi chọn mua một con chim công với giá 11 triệu đồng, chị Ngân hứng thú cho hay: “Mua được con chim công ưng ý rất thích, quả đáng đồng tiền bát gạo. Tôi mua chim công về cho chồng làm thịt đãi khách quý cuối năm để mọi người cùng được hưởng tài lộc, vượng khí đất trời. Còn lông chim, tôi lấy để trang trí trong nhà. Các cụ bảo, nếu có một bình cắm lông công trong phòng ngủ được cho là sẽ tạo thêm sức mạnh phòng the cho phái nam và sự gợi cảm cho phái nữ. Đặc biệt, nếu treo tranh đôi chim công ân ái trong nhà cũng giúp tình duyên bền vững, nồng thắm”!?
Theo tìm hiểu của PV, trước đây khi chim công chưa được nhân giống nhân tạo thì người chơi muốn tìm mua một đôi để làm cảnh là việc vô cùng khó khăn. Còn việc mua chim công chế biến món ăn thì ít người dám nghĩ tới. Từ năm 2009 chi cục kiểm lâm Hà Nam chính thức cấp phép nuôi công sinh sản cho một cơ sở khác của anh Giáp đặt tại Lý Nhân, Hà Nam, đến nay số lượng công ở trang trang trại của anh cũng đã lên đến hơn 500 con trưởng thành. Mỗi con công trưởng thành nặng từ 5 – 6 kg, giá bán tại trang trại từ 5 – 10 triệu đồng/con. Tuy nhiên anh Giáp khẳng định: “Với nhu cầu của khách hàng tăng mạnh vào dịp gần Tết như hiện nay thì số lượng này vẫn không đủ để đáp ứng”.
Tìm hiểu từ một cơ sở khác ở Bắc Ninh chúng tôi được biết, những ngày này họ đang phải tất bật để chăm sóc đàn công của khách đặt từ trước. “Từ đầu tháng có rất nhiều khách hàng từ khắp nơi trong cả nước gọi về mua đặt hàng, nhưng do nuôi ít nên phần lớn tôi cũng chỉ để chim công cho người quen”, chủ trại Lê Quang Khởi cho biết.
Hiện, gia đình ông Khởi cũng đang nuôi khoảng trên dưới 10 cặp công thuộc dòng quý hiếm, hiện ông mới chỉ nhận lời bán cho khách quen với giá từ 20 triệu đồng/1cặp. Chủ cơ sở này còn cho biết: “Trang trại chúng tôi cũng bán những dòng chim thương phẩm, đó là công ngũ sắc và công trắng tuyết. Loại trưởng thành có giá bán từ 15 – 20 triệu/con. Với những loại khác có giá bình dân hơn như chim công xanh khi trưởng thành cũng có giá gần 10 triệu đồng/con. Riêng Tết năm nay, số lượng người tìm mua chim công tăng đột biến dẫn đến khan hiếm và cháy hàng”.
Trao đổi với PV Báo GĐ&XH, chuyên gia phong thủy Phan Hùng Sơn chia sẻ: “Trong điều kiện hiện nay, nhiều gia đình có điều kiện đang bị chi phối bởi trào lưu “phú quý sinh lễ nghĩa”, họ cho rằng đầu tư tiền bạc vào các lễ vật cầu kỳ, đắt tiền sẽ được tổ tiên phù trợ. Việc đồn thổi ăn thịt chim công để được tài lộc, may mắn hoặc lấy lông công để trang trí trong nhà, phòng làm việc nhằm hút sinh khí đất trời, lợi lộc là không có căn cứ khoa học. Bởi cứ quan niệm “trần sao âm vậy” thì việc muốn giàu sang phú quý là tự ở bản thân mỗi người. Do vậy, không nên thần thánh hóa động vật vô tri để phải mất tiền, rước lo âu”. (Gia Đình Và Xã Hội 19/12) đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Nai vừa có văn bản kiến nghị với Bộ NN&PTNT xem xét lại việc đầu tư, thực hiện dự án cải tạo, xây dựng đường giao thông trong vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên qua xã Đắc Lua, huyện Tân Phú (Đồng Nai).
Đồng thời, phối hợp với tỉnh để giải quyết việc không đồng bộ giữa quy hoạch các phân khu rừng đặc dụng của tỉnh và quy hoạch của vườn Cát Tiên, tính khả thi của việc làm đường.
Theo ông Võ Văn Chánh - Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, nếu căn cứ trên quy hoạch rừng của tỉnh Đồng Nai thì ba tiểu khu trên thuộc phân khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ được lập tuyến đường rộng không quá 1,5m.
Do vậy, việc quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2010-2020 là không đồng bộ với quy hoạch ba loại rừng của Đồng Nai. Cũng theo UBND tỉnh Đồng Nai, hiệu quả kinh tế của tuyến đường mang lại chưa được xác định cụ thể.
Việc mở đường không liên quan đến công tác ổn định dân cư trong lâm phận Vườn quốc gia Cát Tiên nhưng sẽ làm mất gần 11ha rừng và đất lâm nghiệp; ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, chia cắt rừng tự nhiên với sông Đồng Nai, làm mất hệ sinh cảnh tự nhiên của rừng, gây cản trở đến tập tính của các loài thú, nhất là việc tìm kiếm thức ăn và nguồn nước.
Mặt khác, theo tỉnh Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai đã được UNESCO công nhận và đang trong thời gian hoàn chỉnh hồ sơ trình UNESCO đề nghị công nhận vườn là di sản thiên nhiên thế giới.
Vì vậy nếu mở đường sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của Vườn quốc gia Cát Tiên và không phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Thế nhưng, trước kiến nghị của UBND tỉnh ngày 14/12, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn đã có văn bản trả lời tỉnh về nội dung trên. Trong đó, đại diện Bộ cho rằng việc triển khai dự án là cần thiết, không ảnh hưởng đến VQG Cát Tiên.
Dự án nằm trong quy hoạch rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Dự án có chiều dài hơn 18km, rộng 6m (mặt đường 3m, 3m lề đường) chạy dọc ven sông Đồng Nai, nối giữa 2 trạm kiểm lâm Đà Cộ và Đắk Lua. Việc triển khai tuyến đường trên là để hỗ trợ công tác quản lý và bảo vệ hiệu quả hơn 10 ngàn hécta rừng phía Đông của VQG Cát Tiên. Đây là khu vực rừng còn giàu tài nguyên gỗ quý, tình hình xâm hại rừng ở khu vực này còn phức tạp.
Đặc biệt là hạn chế các nguy hiểm đối với lực lượng bảo vệ rừng trong mùa mưa lũ nếu phải tuần tra bằng thuyền gỗ trên sông Đồng Nai.
Được biết, dự án đầu tư, cải tạo, xây dựng đường giao thông tại Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên được Bộ NN&PTNT phê duyệt từ năm 2013.
Tuy nhiên, sau khi dự án triển khai xong giai đoạn 1 và bắt đầu bước vào triển khai giai đoạn 2 (thuộc các tiểu khu 4,7,19 thuộc phân khu dịch vụ hành chính của VQG Cát Tiên), đã nhận được kiến nghị tạm dừng dự án từ phía UBND tỉnh.
Về phía lãnh đạo VQG, ông Nguyễn Văn Diện Giám đốc VQG Cát Tiên, cho biết mục tiêu của việc triển khai dự án chính là để bảo vệ khu vực rừng có nguy cơ bị xâm hại.
Đơn vị chủ quản dự án là Bộ NN&PTNT, chủ đầu tư là VQG Cát Tiên và đã được nhà thầu là Công ty Suối Hoa (TP.Hà Nội) đấu thầu thi công. Tổng kinh phí cho dự án hơn 60 tỷ đồng (trong đó giai đoạn 2 của dự án với chiều dài hơn 18km là hơn 40 tỷ đồng) từ nguồn ngân sách Nhà nước.
Trước những ý kiến trái chiều nói trên, ông Nguyễn Văn Diện cho biết theo chỉ đạo của Bộ NN&PTNT, sắp tới đây Ban Quản lý VQG Cát Tiên sẽ tổ chức họp với đại diện của các cơ quan, ban, ngành của tỉnh để báo cáo và cung cấp hồ sơ đầy đủ liên quan đến dự án.
Bên cạnh đó, VQG Cát Tiên sẽ tổ chức cho đoàn khảo sát tại những nơi mà dự án sẽ đi qua. (Đất Việt 19/12) đầu trang(
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà Công Tuấn vừa có văn bản gửi UBND tỉnh Đồng Nai về việc triển khai mở rộng đường trong Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên.
Về pháp lý, dự án đầu tư, cải tạo, xây dựng đường giao thông tại VQG Cát Tiên đã được bộ ra quyết định phê duyệt đầu tư vào tháng 10-2013. Dự án nằm trong quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2014. Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai, vào năm 2012, cũng có văn bản đồng thuận rằng tuyến đường phù hợp với giao thông của tỉnh.
Bộ NN-PTNT lý giải việc xây dựng tuyến đường sẽ hỗ trợ công tác quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn đối với 10.000 ha rừng ở phía Đông VQG Cát Tiên - đây là khu vực còn giàu tài nguyên gỗ quý, tình hình xâm hại rừng ở khu vực này còn phức tạp. Đặc biệt là hạn chế nguy hiểm cho lực lượng bảo vệ rừng trong mùa mưa lũ nếu phải đi tuần tra bằng thuyền gỗ trên sông Đồng Nai.
Bộ cũng khẳng định việc xây dựng tuyến đường không ảnh hưởng đến việc xây dựng hồ sơ di sản thiên nhiên của VQG Cát Tiên vì hồ sơ chỉ tập trung vào lõi di sản là khu Bàu Sấu - cách tuyến đường 14 km. Tổng diện tích chiếm dụng của con đường là 5,6 ha, do vậy không ảnh hưởng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học, không tạo sự chia cắt sinh cảnh sống của các loài hoang dã trong vườn.
Trước kiến nghị của UBND tỉnh Đồng Nai, Bộ NN-PTNT chỉ đạo VQG Cát Tiên báo cáo và cung cấp đầy đủ hồ sơ có liên quan đến việc đầu tư dự án để tỉnh Đồng Nai biết và chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng giám sát trong quá trình thực hiện thi công tuyến đường. (Người Lao Động 19/12) đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Nai vừa có văn bản kiến nghị với Bộ NN&PTNT xem xét việc làm đường giao thông trong vùng lõi Vườn quốc
gia Cát Tiên.
Trước đó ngày 29-10, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt dự án cải tạo, xây dựng đường giao thông Vườn quốc gia Cát Tiên có chiều dài hơn 18km, rộng 6m được thiết kế dọc theo sông Đồng Nai (từ trạm kiểm lâm Đà Cộ đến trạm kiểm lâm Đắc Lua), thuộc huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Thời gian thực hiện dự án dự kiến thi công từ tháng 10-2015 đến năm 2017.
Dự án này gặp phải phản ứng của tỉnh Đồng Nai. Theo ông Võ Văn Chánh - phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, nếu căn cứ trên quy hoạch rừng của tỉnh Đồng Nai thì ba tiểu khu trên thuộc phân khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ được lập tuyến đường rộng không quá 1,5m.
Do vậy, việc quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2010-2020 là không đồng bộ với quy hoạch ba loại rừng của Đồng Nai.
Cũng theo UBND tỉnh Đồng Nai, hiệu quả kinh tế của tuyến đường mang lại chưa được xác định cụ thể.
Việc mở đường không liên quan đến công tác ổn định dân cư trong lâm phận Vườn quốc gia Cát Tiên nhưng sẽ làm mất gần 11ha rừng và đất lâm nghiệp; ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, chia cắt rừng tự nhiên với sông Đồng Nai, làm mất hệ sinh cảnh tự nhiên của rừng, gây cản trở đến tập tính của các loài thú, nhất là việc tìm kiếm thức ăn và nguồn nước.
Mặt khác, theo tỉnh Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai đã được UNESCO công nhận và đang trong thời gian hoàn chỉnh hồ sơ trình UNESCO đề nghị công nhận vườn là di sản thiên nhiên thế giới.
Vì vậy nếu mở đường sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của Vườn quốc gia Cát Tiên và không phù hợp với các công ước quốc tế
mà Việt Nam tham gia.
Trước sự việc này, ông Nguyễn Văn Diện - giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên - cho biết: “Theo đánh giá của chúng tôi, dự án này không ảnh hưởng đến vườn quốc gia.
Toàn bộ tuyến là trảng cỏ, rừng thứ sinh, phục hồi và rừng nghèo. Đây là tuyến đường ven sông Đồng Nai để lực lượng kiểm lâm linh động tuần tra bảo vệ rừng, chứ đi bằng đường sông tuần tra vào mùa mưa lũ rất nguy hiểm”. (Tuổi Trẻ 19/12) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa có văn bản trả lời UBND tỉnh Đồng Nai về việc xây 18km đường xuyên rừng Cát Tiên. Bộ này cho rằng xây tuyến đường không ảnh hưởng đến việc bảo tồn đa dạng sinh học của rừng.
Liên quan đến vụ “Đồng Nai phản đối dự án 18 km đường xuyên rừng Cát Tiên”, chiều 20-12 một lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai xác nhận với Tuổi Trẻ vừa nhận được văn bản trả lời của ông Hà Công Tuấn, thứ trưởng Bộ NN&PTNT phúc đáp ý kiến của tỉnh.
Theo đó, Bộ NN&PTNT giải thích dự án đầu tư cải tạo, xây dựng đường giao thông tại Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong quy hoạch rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Nội dung quy hoạch này cũng đã được Sở Giao thông-vận tải tỉnh Đồng Nai đồng thuận từ năm 2012 và đã có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động của Bộ Tài nguyên-môi trường từ năm 2013.
Bộ NN&PTNT cho rằng tuyến đường được thiết kế theo dọc bờ sông Đồng Nai nằm trong phân khu hành chính của vườn. Tổng chiều dài tuyến hơn 18km, trong đó tuyến đi qua các trạng thái rừng như: trảng cỏ hơn 2,2km, trảng cây bụi thứ sinh 7km, rừng tre nứa có cây gỗ rác hơn 3,2km.
Ngoài ra, tuyến còn đi qua rừng kín cây lá rộng nửa rụng lá gần 3km (gồm rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo) và đất trồng cây nông nghiệp trên 2,1km…
Tổng diện tích chiếm dụng của tuyến đường là hơn 5,5 ha (nằm trong diện tích phân khu hành chính 2.325 ha). Do vậy việc xây dựng tuyến đường sẽ không ảnh hưởng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học, không tạo sự chia cắt sinh cảnh sống tự nhiên của các loài động vật hoang dã tại vườn.
Theo Bộ NN&PTNT, xây dựng tuyến đường trên 18 km không bị ảnh hưởng đến việc xây dựng hồ sơ di sản thiên nhiên thế giới vì hồ sơ di sản của Vườn quốc gia Cát Tiên chỉ tập trung ở vùng lõi của khu di sản có tổng diện tích 8.000 ha, chủ yếu tại khu vực Bàu Sấu cách tuyến đường khoảng 14 km.
Trong văn bản trả lời tỉnh Đồng Nai, Bộ NN&PTNT còn giải thích: “Việc xây dựng tuyến đường sẽ hỗ trợ công tác quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn đối với 10.000 ha rừng ở phía Đông của vườn quốc gia Cát Tiên. Đây là khu vực rừng còn giàu tài nguyên gỗ quý, tình hình xâm hại rừng ở khu vực này còn phức tạp. Đặc biệt là hạn chế các nguy hiểm đối với lực lượng bảo vệ rừng trong mùa mưa lũ nếu phải tuần tra bằng thuyền gỗ trên sông Đồng Nai”.
Bộ NN&PTNT cũng yêu cầu vườn quốc gia Cát Tiên báo cáo và cung cấp đầy đủ hồ sơ có liên quan đến dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông để UBND tỉnh Đồng Nai biết và chỉ đạo các cơ quan chức năng địa phương phối hợp kiểm tra, giám sát trong quá trình thi công tuyến đường.
Trả lời Tuổi Trẻ về ý kiến khi nhận được văn bản trên của Bộ NN-PTNT, một lãnh đạo tỉnh Đồng Nai cho biết: “Tuần sau có cuộc họp với Bộ NN-PTNT, chúng tôi sẽ nêu lên quan điểm và chính kiến của tỉnh trong vụ việc này”. (Tuổi Trẻ 20/12) đầu trang(
Hàng chục cổ thụ bị chặt lấy gỗ, nhiều khu vực san lấp, hàng ngàn viên đá bị chẻ để làm vật liệu xây dựng trái phép... Khu di tích quốc gia, danh lam thắng cảnh núi Chứa Chan (còn gọi là núi Gia Ray hay núi Gia Lào, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) đang bị tàn phá.
Giữa tháng 12, chúng tôi đến ngọn núi bên dòng Suối Tôm. Đây là khu vực I (khu vực quan trọng nhất) nằm trong khu di tích quanh chùa Bảo Quang. Đập vào mắt chúng tôi là hàng chục gốc cổ thụ bị chặt, vết vẫn còn mới. Xung quanh nhiều cây nhỏ bị gãy gập do việc đốn hạ kèm một đống gỗ đã cắt xẻ gọn được phủ kín bạt.
Phía sau chùa Bảo Quang, gần đỉnh núi thỉnh thoảng cũng có những cây gỗ bị đốn hạ lấy gỗ. Nơi đây còn có một khu đất san lấp, xây dựng nền móng bằng đá chẻ diện tích hơn 130 m2 và một nền móng khác rộng khoảng 13 m2 để làm miếu... Toàn bộ công trình đã phá quang khoảng 400 m2 rừng tái sinh thuộc khu vực I. Còn gần đầu nguồn của Suối Tôm có một hồ chứa được xây dựng bằng đá chẻ chặn dòng nước.
Người dân nơi đây cho hay việc chặt cây, chẻ đá, xây hồ chặn suối, san lấp để xây nhà ngay trong khu vực I của khu di tích là do ông Nguyễn Đức Dũng (ngụ xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) thực hiện. Người dân nhiều lần làm đơn đề nghị địa phương xử lý nhưng chưa thấy kết quả.
Một cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Xuân Lộc cho hay ông Dũng được giao quản lý rừng phòng hộ 327, thuộc lộ 373 nằm trong khu di tích núi Chứa Chan. Ông Dũng có thể được khai thác những cây phụ trợ như cây tràm, tre ở những khu vực không cấm khi được địa phương cho phép.
Tuy nhiên, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Đình Phú - Phó ban Quản lý (BQL) khu di tích núi Chứa Chan, khẳng định những khu vực ông Dũng chặt cây, chẻ đá, chặn dòng Suối Tôm, xây dựng nền móng làm nhà đều nằm trong khu vực I di tích quốc gia.
“Đây là khu vực bất khả xâm phạm nhưng ông Dũng lại vi phạm nên người dân khu vực hết sức bức xúc. Khi phát hiện, chúng tôi đã yêu cầu ông chấm dứt. Đồng thời chúng tôi cũng đã báo cáo vụ việc lên huyện Xuân Lộc và BQL di tích quốc gia và danh thắng của tỉnh để có hướng xử lý” - ông Phú cho biết.
Ông Lê Trí Dũng - Giám đốc BQL di tích và danh thắng tỉnh Đồng Nai (Sở VH-TT& DL tỉnh Đồng Nai) cho biết sau khi nhận được thông tin, BQL cũng đã làm việc trực tiếp với ông Dũng và lập biên bản yêu cầu chấm dứt mọi hành vi vi phạm. “Chúng tôi đã nhiều lần nhắc nhở, góp ý về những sai phạm của ông Dũng. Tôi đã từng cảnh báo nếu ông Dũng không cẩn thận sẽ bị truy cứu về hành vi hủy hoại di sản văn hóa” - ông Dũng thông tin.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, sở dĩ ông Dũng có những hành vi trên một phần xuất phát từ việc ông làm đơn xin “xem xét giúp đỡ làm một cái nhà bằng gỗ tràm” ở phía sau chùa Bửu Quang với diện tích 85 m2 vào ngày 31-7. Hạt Kiểm lâm xã Xuân Trường đã xác nhận “ông Nguyễn Đức Dũng đang quản lý lô rừng 327, thực lộ 373 rừng phòng hộ núi Chứa Chan là đúng, kính gửi lãnh đạo UBND xã xem xét giải quyết theo đơn”.
Sau đó, đơn được Chủ tịch UBND xã Xuân Trường Đặng Công Ngoan ký tên, đóng dấu. Khi được xác nhận, ông Dũng đã chẻ đá, chặt cây và làm móng nhà… nằm trong rừng tái sinh thuộc khu vực I.
Tiếp đó, đến ngày 31-8, ông Dũng tiếp tục làm đơn gửi UBND xã Xuân Trường, BQL di tích danh thắng huyện Xuân Lộc và Hạt Kiểm lâm xã Xuân Trường với nội dung: “Cho tôi làm một căn nhà bằng gỗ tràm lợp tôn diện tích dài 12 m, rộng 7 m để che nắng che mưa giữ rừng”.
Kiểm lâm địa bàn Hoàng Văn Trường xác nhận: “Ông Dũng đang quản lý lô rừng phòng hộ núi Chứa Chan là đúng, kính gửi lãnh đạo UBND xã Xuân Trường xem xét giải quyết”. Đơn này cũng được Chủ tịch UBND xã Đặng Công Ngoan tiếp tục ký tên, đóng dấu. Trên cơ sở đó, ông Dũng tiếp tục vi phạm và bị cơ quan chức năng lập biên bản yêu cầu ngừng ngay việc xây dựng, chặt cây trái phép.
Đại diện phía Hạt Kiểm lâm huyện Xuân Lộc cho biết: “Chúng tôi đã yêu cầu cán bộ kiểm lâm địa bàn, người xác nhận trong đơn của ông Dũng, làm bản tường trình và sẽ kiểm điểm, rút kinh nghiệm”. (Pháp Luật TP.HCM 19/12) đầu trang(
Sau khi được công nhận là Di sản thế giới vào tháng 7/2003 theo tiêu chí (viii) giá trị ngoại hạng về địa mạo, Phong Nha - Kẻ Bàng (PN-KB) lại một lần nữa được ghi danh vào Danh sách Di sản thế giới theo 2 tiêu chí mới: 1- Là ví dụ nổi bật đại diện cho các tiến trình sinh thái trong sự tiến hóa và phát triển của các hệ sinh thái trên cạn (tiêu chí ix); 2- Sở hữu môi trường sống tự nhiên có ý nghĩa nhất đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học (tiêu chí x).
Đây là lần đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á, một di sản nhân loại về tự nhiên đạt đến 3 tiêu chí.
Vườn quốc gia (VQG) PN-KB có rừng nhiệt đới ẩm tương đối nguyên vẹn trên núi đá vôi với độ che phủ chiếm 94%, trong đó 84% là rừng nguyên sinh. Thậm chí các khu rừng trên núi đá vôi được bảo vệ tốt đến mức, một nhóm chuyên gia của Tổ chức Bảo tồn liên quốc gia (IUCN) sau khi đến kiểm tra hồ sơ PN-KB đã phải thốt lên: “cần khuyến cáo cho các vườn quốc gia khác xem xét như tấm gương để áp dụng”. Kể cả những chuyên gia khó tính nhất được UNESCO cử đi thẩm định thực tế tại PN-KB cũng đã đặt bút ký vào hồ sơ đệ trình lên ủy ban di sản thế giới về sự đa dạng sinh học nơi đây.
Hiện vườn có trên 2.934 loài thực vật bậc cao có mạch, 848 loài động vật có xương sống, trong đó có nhiều loài nằm trong sách đỏ của thế giới và một số không có ở nơi nào khác, 396 loài côn trùng. Mức độ đặc hữu ở khu vực này cao đến khó tin, với 46 loài động vật đặc hữu Trường Sơn, 38 loài động vật đặc hữu Việt Nam. Về thực vật có 64 loài đặc hữu Việt Nam, 509 loài đặc hữu Đông Dương, 159 loài đặc hữu Trung bộ (1*), trong đó có nhiều loài mới được ghi nhận.
Tiến sĩ chuyên nghiên cứu bò sát lưỡng cư, Thomas Ziegler từng đặt chân đến Phong Nha – Kẻ Bàng nghiên cứu đã nói: “Rừng nguyên sinh chiếm 84% diện tích PN-KB quả là một giá trị ngoại hạng. Các khu rừng thường bị tác động lớn, nhưng ở đây vẫn còn nguyên sinh. Đó là giá trị toàn cầu không chỉ của Việt Nam mà còn của cả thế giới. Một sự bí ẩn khó có khu vườn quốc gia thứ hai nào có thể so sánh”.
Trong một báo cáo khoa học, nhóm các nhà nghiên cứu Đinh Huy Trí - Lê Thúc Định - Nguyễn Quang Vĩnh – Trung tâm nghiên cứu khoa học và cứu hộ VQG PN-KB cho thấy: Với đa phần là rừng thường xanh nguyên sinh trên núi đá vôi trải dài và rộng lớn nhất Việt Nam, VQG PN-KB còn chứa đựng nhiều yếu tố đặc trưng khá tiêu biểu. Tiêu biểu nhất là sự phong phú và đa dạng về thành phần các loài thú linh trưởng.
Với 10 loài và phân loài/25 loài và phân loài linh trưởng của Việt Nam, VQG PN-KB đang đứng đầu danh sách các khu rừng có sự đa dạng về thành phần loài linh trưởng nhất của Việt Nam. Có 3 loài đặt hữu của dãy Trường Sơn là Voọc Hà Tĩnh, Chà Vá Chân Nâu và Vượn Bạc Má.
Trong đó có 1 phân loài Voọc Hà Tĩnh là đặc hữu hẹp chỉ tìm thầy ở khu vực vùng núi đá vôi PN-KB và vùng phụ cận. Nơi đây cũng được biết đến như một trong 200 vườn chim quan trọng toàn cầu. Tổ chức Bảo tồn liên quốc gia (IUCN) bước đầu xác định khu hệ chim có 385 loài thuộc 57 họ và 18 bộ, trong đó có 22 loài đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 17 loài cần được bảo vệ ở mức độ toàn cầu như niệc cổ hung, gà lôi mào trắng, gà lôi lam đuôi trắng, giẻ cùi vàng, khướu mun đá...
Về hệ động vật có xương sống ở nước Cá, qua các đợt khảo sát, thu mẫu của GS-TS Nguyễn Nghĩa Thìn – Trường ĐHKHTN thuộc ĐHQGHN, đã xác định được 93 loài và phân loài, phân bố trong 50 giống, 22 họ, 9 bộ. Kết hợp với kết quả nghiên cứu của TS Nguyễn Thái Tự và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật thì thành phần loài cá tại VQG PN-KB là 118 loài và phân loài, phân bố trong 25 họ, 9 bộ.
Theo GS-TS Nguyễn Nghĩa Thìn đa dạng hệ động vật không xương sống trên cạn tại đây cũng đa dạng và phong phú không kém, trong đó lớp Côn trùng - Insecta có 360 loài, 38 họ, 11 bộ, trong đó bộ Cánh vảy - Lepidoptera là đa dạng nhất với 270 loài và 11 họ, đó là các họ: Papilionidae, Pieridae, Danaidae, Acraeidae, Nymphalidae, Satyridae, Amanthusiidae, Libytheidae, Riodinidae, Lycaenidae và Hesperiidae…
Tiến sĩ Phạm Đình Sắc (Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật Việt Nam) cùng cộng sự thực hiện điều tra đa dạng sinh học ở các hang động tại đây đã công bố bước đầu có 58 loài động vật không xương sống thuộc 7 lớp, 22 bộ ở 21 hang động. Trong đó, có nhiều loài mới lần đầu được công bố, gây sửng sốt đối với giới nghiên cứu động vật không xương sống. Trong khi đó, các nhà khoa học đã tìm kiếm trong hang động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng (Quảng Bình) hơn 200 loài thực vật, chúng tạo thành hai khu rừng trong hang động khiến giới nghiên cứu ngỡ ngàng.
Với 150 loài bò sát lưỡng cư, trong đó có 9 loài hoàn toàn mới cho giới khoa học nghiên cứu. Giới bảo tồn quốc tế đều thống nhất quan điểm PN-KB là một di sản thiên nhiên hiếm có trên toàn thế giới. Từ động vật to lớn như voi, hổ, bò tót đến nhỏ bé như tắc kè Phong Nha, hay cá sống trong hang động...
Đặc biệt là sự tồn tại của nhiều loài thực vật cổ như Bách xanh đá, dương xỉ thân gỗ …Bách xanh đá (Calocedrus rupestris Aver…) là loài thực vật cổ sơ nhất của Vườn quốc gia PN-KB (trên 500 tuổi) có phạm vi phân bố rộng lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Trong tương lai các nhà khoa học tiếp tục dấn thân để công bố những “bí mật” đang ẩn dấu bên trong rừng mưa độc đáo có một không hai này của Việt Nam. (Du Lịch 1 7/12) đầu trang(
Chiều 17.12, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam, cho biết bệnh nhân Nguyễn Thị Yến (52 tuổi, ngụ phường Trường Xuân, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), người bị rắn lục đuôi đỏ cắn đã qua cơn nguy kịch.
Trước đó, khoảng 19 giờ tối 16-12 trong lúc đưa tay vào lấy thuốc bán cho khách thì nữ dược sĩ Yến bất ngờ bị con rắn lục đuôi đỏ nằm sẵn trong hộc thuốc cắn vào tay phải. Bà Yến nhanh chóng được đưa vào bệnh viện cấp cứu với các triệu chứng chóng mặt, buồn nôn… Theo người nhà bà Yến, trước đó vài ngày, một người hàng xóm của bà Yến cũng từng bị rắn lục đuôi đỏ cắn.
Rắn lục đuôi đỏ là loài cực độc trong số các loại rắn lục, chiều dài tối đa khoảng 60 cm với cân nặng khoảng 300 gram. Vào thời điểm cuối năm 2014, rắn lục đuôi đỏ ồ ạt xuất hiện ở nhiều khu dân cư và tấn công đồng loạt người tại các tỉnh miền Trung, nguyên nhân là do tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu. Vài tháng trở lại đây, loài rắn này bắt đầu xuất hiện trở lại ở tỉnh Quảng Nam. (Người Lao Động 17/12) đầu trang(
Theo tin từ báo Hải quan, ngày 17/12, trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, lãnh đạo Đội Kiểm soát Hải quan Hải Phòng cho biết: Lô hàng trên cập cảng Tân Vũ (Hải Phòng) ngày 29/11. Trên vận đơn, hàng hóa thể hiện là 380 bao hạt đỗ, được gửi từ một doanh nghiệp từ Mozambique, DN nhận hàng trên vận đơn là Công ty CP XNK Hà Linh (Hải Phòng).
Tuy nhiên, theo xác minh ban đầu của của cơ quan chức năng, Công ty CP XNK Hà Linh không có hợp đồng mua bán với đối tác nước ngoài lô hàng trên.
Dẫn nguồn báo Công an nhân dân, qua khám xét của Đội Kiểm soát Hải quan Hải Phòng và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường (PC49)-Công an TP.Hải Phòng, lô hàng có chứa 835 khúc sừng, tổng trọng lượng 2.204,3 kg, được cất giấu trong 248 bao hạt đỗ.
Theo kết quả giám định mới đây của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, số lượng tang vật do cơ quan chức năng ở Hải Phòng vừa bắt giữ là ngà voi châu Phi thuộc Phụ lục I (diện cấm buôn bán) của Công ước CITES-Công ước về buôn bán quốc tế các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp.
Hiện, vụ việc đang được lực lượng chức năng mở rộng điều tra, xử lý. (Đời Sống Và Pháp Luật 18/12; Dân Trí 18/12; Công An Nhân Dân 18/12) đầu trang(
Ngày 18/12, Đội CSGT trật tự phản ứng nhanh Công an huyện Thường Tín (Hà Nội) cho biết, đơn vị vừa bắt được vụ vận chuyển động vật hoang dãqua địa bàn.
Theo thông tin từ đại diện Đội CSGT trật tự phản ứng nhanh, khoảng 4h sáng ngày 18/12, Tổ công tác thuộc Đội CSGT trật tự phản ứng nhanh (Công an huyện Thường Tín) làm nhiệm vụ trên địa bàn đã phát hiện 2 xe máy chở hàng đằng sau có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng lại kiểm tra.
Qua kiểm tra, phát hiện Nguyễn Minh Dự (ở Nông Cống - Thanh Hóa) điều khiển xe máy mang BKS: 33L -5816 và Nguyễn Minh Hiếu (SN 1992, trú tại Đông Duyên - Tô Hiệu - Thường Tín) điều khiển xe máy mang BKS: 30N - 1967 lần lượt chở số lượng là 146 kg cầy hương và 103 kg gion.
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận toàn bộ số động vật trên là động vật hoang dã không rõ nguồn gốc xuất xứ. Số động vật trên được các đối tượng vận chuyển từ Tô Hiệu (Thường Tín) đi các cơ sở tại Hà Nội để tiêu thụ.
Ngay sau đó, Đội CSGT trật tự phản ứng nhanh Công an huyện Thường Tín đã bàn giao tang vật và số động vật trên cho Đội Cảnh sát Kinh tế Công an huyện Thường Tín xử lý theo quy định. (Người Đưa Tin 19/12) đầu trang(
Nghe tin voi rừng mắc bẫy, voi nhà kiệt sức hay nổi u bướu, các bác sĩ cùng chuyên gia của Tổ chức Động vật châu Á tình nguyện về làng phẫu thuật, chữa bệnh cho chúng.
Trước đà suy giảm nghiêm trọng voi Việt Nam, năm 2011, Chính phủ phê duyệt dự án tổng thể bảo tồn loài này tại ba tỉnh Đắk Lắk, Nghệ An và Đồng Nai. Theo thống kê của Tổ chức Động vật châu Á, đàn voi nhà Việt Nam hiện còn khoảng hơn 80 cá thể, riêng tỉnh Đắk Lắk chỉ còn 43 con.
Trước tình trạng voi nhà bị voi rừng tấn công gây thương tích, đoàn bác sĩ Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk cùng các chuyên gia Tổ chức Động vật Châu Á vượt hàng chục cây số về xã Krông Na, huyện Buôn Đôn thăm khám, chữa bệnh.
Tháng 2/2015, người dân Buôn Đôn phát hiện voi rừng khoảng 5 tuổi, nặng 600 kg lạc đàn theo voi nhà về làng trong tình trạng bộ móng của chân trước không còn, xung quanh vết thương đọng mủ, sưng tấy và vòi bị thủng một lỗ.
Dân làng đặt tên cho con voi này là Jun, nhiều khả năng nó mắc bẫy và tự giải thoát được, lạc đàn về làng. Nhận được tin báo, các bác sĩ thú y đã vượt đường xa về Buôn Đôn khám, phẫu thuật chữa bệnh.
Các bác sĩ, chuyên gia thú y bơm nước muối sinh lý, cồn iot, cắt bỏ phần thịt thối ở chân voi. Sau đó, họ lấy mẫu gửi đến Phân Viện thú y miền Trung (Khánh Hòa) xét nghiệm để xác định vết thương nhiễm trùng do các loại vi khuẩn nào. Căn cứ kết quả xét nghiệm, các bác sĩ điều trị thuốc kháng sinh cho phù hợp.
Bác sĩ thú y Phạm Văn Thịnh, Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết, chữa bệnh u bướu cho voi trước hết phải mổ ra lấy hết mủ, bơm nước muối sinh lý, cồn i-ốt rửa sạch vết thương, sau đó tiêm thuốc kháng sinh, kháng viêm thường xuyên. Khoảng từ 15 ngày đến một tháng, vết thương của voi sẽ tự lành.
Bên cạnh chữa bệnh, các bác sĩ thú y còn dùng kéo cắt tỉa phần da thịt chết ở vị trí bị trầy xước. Nài voi Y Tắt Knul kể, suốt nhiều tháng qua, voi rừng đã bốn lần mon men về làng tấn công đàn voi nhà ở Vườn Quốc gia Yok Đôn khiến ba con bị thương.
Theo ông KNul, voi rừng đực đã húc ngã voi cái, cắn đuôi bị thương. Các bác sĩ thú y phải dùng nước muối sinh lý vệ sinh, sát khuẩn chữa vết thương ở phần đuôi. Vào mùa khô, voi nhà phục vụ chở khách du lịch thường quá tải, lại ăn uống thiếu chất dinh dưỡng nên dễ kiệt sức và mắc bệnh u bướu. "Có những vết thương chỉ cần sát khuẩn sơ qua hai ngày sau đã lành. Cũng có trường hợp phải chữa vài tháng, thậm chí cả năm mới bớt", bác sĩ Thịnh chia sẻ.
Chuyên gia đến từ Na Uy dùng máy dò kiểm tra mảnh kim loại trong chân voi để phẫu thuật, chữa bệnh. Thống kê của Tổ chức Động vật Châu Á, trong vòng hai năm qua, các chuyên gia, bác sĩ đã thăm khám, cứu hộ chữa bệnh cho 34 con voi. "Mỗi lần chữa bớt bệnh cho voi, chúng tôi vui mừng vì mình góp phần duy trì sự sống cho loài động vật mang biểu tượng đặc trưng Tây Nguyên này", ông Nguyễn Tam Thanh, cán bộ phúc lợi của tổ chức nói.
Ông Thanh lo lắng, rừng già bị tàn phá nặng nề, loài voi mất dần sinh cảnh sống nên thiếu thức ăn giàu dinh dưỡng dễ nảy sinh nhiều bệnh, không có khả năng sinh sản. "Nếu đàn voi Việt Nam không được trợ sức, chữa bệnh, tạo điều kiện giao phối hoặc mất đi môi trường sống thì trong 20 năm tới, loài này sẽ đứng trước nguy cơ tuyệt chủng", vị chuyên gia trăn trở. (Tiền Phong 18/12) đầu trang(
Ngày 17 tháng 12 năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án đối với các bị cáo: Nguyễn Văn Cường (SN: 1970), A Doan ( SN: 1980), A Di (có tên gọi khác là A Bló, SN: 1977) , A Diêng (SN: 1981), cùng trú tại thôn Kon Hnông, xã Đăk Tờ Kan, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Bị Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo khoản 2 điều 175 của Bộ luật hình sự.
Theo cáo trạng của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Đăk Tô: Vào đầu tháng 11 năm 2012, A Doan là đối tượng chủ mưu cùng với đồng bọn là: Nguyễn Văn Cường, A Diêng, A Di vào rừng cưa hạ các cây gỗ tại tiểu khu 274 Lâm phần quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Tô thuộc địa giới hành chính xã Đăk Rơ Nga.
Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra có đủ căn cứ để xác định khối lượng gỗ các đối tương khai thác được là 82,817 m3 (quy tròn), chủng loại gỗ dổi, Cóc đá và Mít nài (gồm tổng số cây bị chặt hạ là 20 cây, đã cắt thành 20 lóng. Căn cứ tài liệu thu thập được, hành vi của các đối tượng có dấu hiệu của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các đối tượng trên theo điều 175 của Bộ luật hình sự.
Sau khi khởi tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam đối với A Di và ra lệnh cấm đi khởi nơi cư trú đối với A Diêng; riêng Nguyễn Văn Cường đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Đến ngày 24/5/2015, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Tô đã bắt được Nguyễn Văn Cường khi y đang lẩn trốn tại xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trưng cầu hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Tô đối với số gỗ bị khai thác trên. Tại bản kết luận định giá số 09 ngày 02/7/2015, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đăk Tô kết luận tổng giá trị 82,817 m3 gỗ tại khoảnh 1, 2 tiểu khu 274 là: 427.660.300 (bốn trăm hai bảy triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, ba trăm đồng).
Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Với những tài liệu và chứng cứ thu thập được, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Cường: 6 tháng 23 ngày, bị cáo A Doan: 6 tháng 23 ngày (tù giam); A Di và A Diêng: 5 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. (Công An Kon Tum 18/12; Pháp Luật Việt Nam 19/12) đầu trang(
Tối 18-12, tại thị trấn Sa Pa, Hội đồng cây di sản Việt Nam, Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường đã tổ chức trao Bằng công nhận cây Di sản Việt Nam đối với bốn loại cây: Đỗ quyên Quang Trụ, Hồng Quang, Thiết Sam và Trâm Ổi ở Vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai).
Quần thể sáu cây Đỗ quyên Quang Trụ tiêu biểu, đại diện cho quần thể gồm 20 cá thể cây này, phân bố trên tuyến đường từ Cát Cát lên đỉnh Phan Xi Păng, trong khu vực có diện tích khoảng 1.000m2, ở độ cao từ 2.600m - 2.900m, có độ tuổi trung bình khoảng 267 năm. Đỗ quyên Quang Trụ là loài cây gỗ nhỡ, có tán cây rất độc đáo và hoa đẹp.
Quần thể bảy cây Hồng Quang tiêu biểu, đại diện cho quần thể gồm 16 cá thể, phân bố ở độ cao từ 1.200m - 2.700m, trên đường từ Trạm Tôn lên đỉnh Phan Xi Păng, có độ tuổi trung bình khoảng 199 năm. Đây là loại cây đặc hữu của Vườn quốc gia Hoàng Liên, được xếp ở mức sắp nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam, do tái sinh tự nhiên rất kém.
Quần thể bốn cây Thiết Sam Phan Xi Păng tiêu biểu, đại diện cho một số lượng cá thể rất ít, tồn tại trong một khu phân bố duy nhất, rải rác từ độ cao 2.600m - 2.900m, có độ tuổi trung bình khoảng 230 năm. Thiết Sam Phan Xi Păng là loài đặc hữu, được Sách đỏ Việt Nam xếp hạng sắp nguy cấp.
Quần thể chín cây Trâm Ổi, phân bố ở độ cao 2.145m, có diện tích khoảng 10.000m2, trên cung đường từ Sín Chải lên đỉnh Phan Xi Păng, có độ tuổi trung bình khoảng 384 năm.
Trước đó, vào tháng 11-2014, Hội đồng cây di sản Việt Nam và Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường đã tổ chức trao Bằng công nhận cây Di sản Việt Nam cho Vườn quốc gia Hoàng Liên, đối với cây Đỗ quyên cành thô và cây Vân Sam (Sam lạnh).
Như vậy, tính đến nay, Vườn quốc gia Hoàng Liên đã có sáu loại cây đặc hữu, được công nhận là Cây di sản Việt Nam.
Việc công nhận sáu loại cây di sản ở Vườn quốc gia Hoàng Liên, không chỉ là bằng chứng xác thực về rừng nguyên sinh, tính đa dạng sinh học ở khu vực Sa Pa - Lào Cai, mà còn tạo điều kiện huy động nguồn lực để bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài cây đặc hữu này; đồng thời, thu hút du khách tham gia loại hình du lịch sinh thái tại đây.
Tuy nhiên, cũng đặt ra thách thức trong công tác quản lý, bảo tồn và khai thác hiệu quả lợi ích từ tiềm năng cảnh quan thiên nhiên và tính đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, trong bối cảnh phát triển du lịch Sa Pa thành vùng trọng điểm quốc gia, với động lực là tuyến cáp treo Phan Xi Păng sắp đi vào hoạt động.(Nhân Dân 19/12) đầu trang(
Liên tiếp các vụ heo rừng tấn công người ở Quảng Nam, Nghệ An, chưa kể vụ bò tót lạc rừng húc chết người hồi năm ngoái, cho thấy có sự bất thường đang diễn ra.
Mới đây, khoa Ngoại chấn thương Bệnh viện đa khoa Quảng Nam tiếp nhận bệnh nhân Hồ Văn Ven, nạn nhân trong vụ bị heo rừng tấn công hồi cuối tháng 11. Bệnh nhân 36 tuổi người Giẻ Triêng này đã phải nằm dưỡng thương hơn 3 tuần, dù trong tuần đầu tiên chuyển từ huyện miền núi cao Phước Sơn xuống thành phố Tam Kỳ anh đã… nằng nặc xin bác sĩ cho về nhà.
Anh Ven phải điều trị lâu do đa chấn thương, nhất là vết thương ở đùi sâu đến xương, hậu quả được báo trước cho những ai không may đối diện heo rừng. Bác sĩ Trương Văn Sự, Trưởng khoa Ngoại chấn thương cho biết loài thú này hễ đã tấn công ai là cắn liên tục, vào nhiều vị trí trên cơ thể chứ không chỉ húc một chỗ như các loài khác .
Tại Khoa điều trị của bác sĩ Sự cũng vừa tiếp nhận 2 bệnh nhân bị heo rừng tấn công hồi tháng 10 ở huyện Phú Ninh với tình trạng đa chấn thương tương tự, thậm chí nghiêm trọng hơn. Rất may cho bà Phạm Thị Hanh (80 tuổi) đã không phải cắt tay phải sau khi bị dã thú cắn dập nát cổ tay, còn bà Huỳnh Thị Lực (74 tuổi) chịu trận với hơn 20 vết thương nghiêm trọng ở ngực, tay chân...
“Xen” giữa 2 vụ heo rừng tấn công người dân ở Quảng Nam là vụ tương tự ở Nghệ An, nhưng nạn nhân là một thợ săn. Người thợ săn xấu số Lương Văn Phùng ở bản Vẽ, xã Yên Na (huyện Tương Dương) đã tử vong do bị heo rừng cắn nát 2 chân hôm 19.11.
Lâu nay, các nghiên cứu đánh giá của ngành kiểm lâm vẫn nhận định: vào mùa lạnh dã thú thường ra bìa rừng kiếm ăn, từ đó tạo ra các cuộc “tiếp xúc” bất đắc dĩ với con người.
Tại Quảng Nam, thi thoảng dư luận lại nóng lên khi thấy đàn voi lững thững vào rẫy hoa màu ở Nam Trà My, Bắc Trà My giẫm đạp. Mãi đến khi chúng bị đẩy đuổi vào rừng sâu thì người dân mới thở phào.
Tháng 5 năm ngoái, con bò tót đực nặng gần 1 tấn sau 2 tháng loanh quanh ở vùng giáp ranh Đông Giang – Đại Lộc đã bất thần húc chết 1 thanh niên ở xã Đại Lãnh (huyện Đại Lộc) và làm 4 người khác bị thương.
Trao đổi với phóng viên Thanh Niên, ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Quảng Nam nói: “Đúng là chuyện cá biệt, không thấy phổ biến. Ngoài yếu tố kiếm ăn xa vào mùa lạnh, tôi nghĩ còn có nguyên nhân môi trường sống của chúng bị khuấy động”.
Theo ông Tuấn, chính trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như mở đường, làm thủy điện… đã “cướp” đi sự yên tĩnh của động vật hoang dã. Bao nhiêu tiếng động, tiếng ồn, sự áp sát của con người làm thu hẹp vùng sinh cảnh của chúng.
Sự bất thường cũng được một cán bộ quản lý cảnh quan Trung Trường Sơn (miền Trung Việt Nam) thuộc WWF-Việt Nam nhìn nhận. Ông Nguyễn Anh Quốc, người phụ trách công tác bảo tồn thiên nhiên của WWF-Việt Nam từ Quảng Nam đến Quảng Trị, Hà Tĩnh, cho rằng: “Phải có sự tác động tới môi trường, sinh cảnh sống hoặc hoạt động săn bắt, bẫy bắt... gây bức xúc mới khiến loài hoang thú tấn công người”.
Để hóa giải quyết vấn đề này, theo ông Quốc cần phải có giải pháp liên hoàn, vừa đáp ứng sinh kế người dân, bảo tồn nét văn hóa vùng cao (tập quán săn bắt) nhưng cũng phải đặt sự an toàn loài lên hàng đầu.
Ông Quốc từng nghiên cứu các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến vấn đề săn bắt động vật hoang dã trong cộng đồng người Cơtu tại Việt Nam.Đề tài nghiên cứu của ông khi đăng tải trên tờ Cambridge Journals Online hồi năm 2013 được đánh giá là “một đóng góp lớn cho nỗ lực bảo tồn sự đa dạng sinh học trong cảnh quan Trung Trường Sơn Việt Nam”. (Thanh Niên 19/12) đầu trang(
Địa bàn rộng, lại là khu vực giáp ranh với nhiều tỉnh nên tình hình quản lý bảo vệ rừng ở huyện M’Đrắk trong những năm qua gặp khá nhiều khó khăn do tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng diễn ra phức tạp.
Theo số liệu kiểm kê rừng năm 2014, diện tích có rừng toàn huyện M’Đrắk 65.593,8 ha, trong đó rừng tự nhiên là 58.093 ha, rừng trồng 6.099 ha, đất chưa có rừng 30.223,5 ha. Trên địa bàn huyện có 5 đơn vị được Nhà nước giao đất, giao rừng, cho thuê đất trồng rừng và quản lý bảo vệ; trong đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ Núi Vọng Phu gần 36.700 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Đrắk trên 25.660 ha; Xí nghiệp nguyên liệu giấy Tân Mai 1.952 ha; Công ty TNHH Tam Phát 420,6 ha; Công ty CP Cà phê Trung Nguyên 598,2 ha.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp còn lại do các xã quản lý, trong đó giao cho 213 hộ gia đình tại 3 xã: Cư San, Cư Prao và Ea Lai với tổng diện tích 3.838,7 ha. Trong những năm qua, công tác quản lý bảo vệ rừng của huyện gặp khá nhiều khó khăn, tình trạng rừng bị phá, lấn chiếm cũng như khai thác chế biến, mua bán lâm sản diễn ra khá phức tạp.
Nguyên nhân được xác định là do địa bàn rộng, diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, giao thông đi lại khó khăn, giáp ranh nhiều tỉnh, huyện. Bên cạnh đó, đời sống của một bộ phận dân cư còn lệ thuộc vào rừng, dân di cư ngoài kế hoạch tăng nhanh, là thành phần xâm hại rừng nhiều nhất.
Thêm vào đó, các đơn vị, chủ rừng được giao, quản lý, bảo vệ diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, lực lượng lại mỏng nên chưa làm hết trách nhiệm; các chính sách và nguồn lực đầu tư để tạo động lực thúc đẩy cho các lực lượng tham gia vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng còn hạn chế; công tác xã hội hóa nghề rừng chưa được đẩy mạnh, việc giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng để quản lý bảo vệ và phát triển rừng còn chậm, hiệu quả thấp.
Theo kết quả rà soát toàn huyện có 1.247,73 ha rừng bị phá, lấn chiếm trái phép. Trong đó, gần 220 ha rừng, đất lâm nghiệp do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Đrắk quản lý; trên 100 ha thuộc BQL rừng phòng hộ Núi Vọng Phu, trên 800 ha thuộc Xí nghiệp nguyên liệu giấy Tân Mai; số còn lại là diện tích rừng, đất lâm nghiệp thuộc các xã Cư San, Ea Trang và Cư Prao.
Từ năm 2012, UBND huyện đã chỉ đạo rà soát, thống kê xử lý và thực hiện cưỡng chế, phá bỏ cây trồng, tháo dỡ lán trại trên diện tích rừng bị chặt phá, đất lâm nghiệp lấn chiếm trái phép và phục hồi lại rừng trên diện tích này theo tinh thần Chỉ thị 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục ráo riết thực hiện nhiệm vụ này, tháng 8 năm 2015, UBND huyện đã hoàn chỉnh phương án tổng thể về xử lý giải tỏa, thu hồi diện tích rừng bị lấn chiếm, sử dụng trái phép.
Theo đó, trong số trên 1.247 ha rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, diện tích cần phải thu hồi 841,96 ha. Qua kiểm tra, báo cáo của các đơn vị chủ rừng, hầu hết hành vi phá rừng trái pháp luật xảy ra từ năm 2008. Có vụ việc phát hiện nhưng chưa lập hồ sơ xử lý, có vụ lập hồ sơ nhưng vẫn chưa xử phạt, đến nay thì hết thời hiệu ban hành quyết định xử phạt nên bắt buộc khắc phục hậu quả.
Theo Hạt Kiểm lâm M’Đrắk, công tác xử lý, thu hồi đối với diện tích rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm tại địa phương gặp khá nhiều khó khăn nên bước đầu, Hạt phối hợp với các ngành chức năng của huyện cùng với chủ rừng tổ chức họp dân, tuyên truyền giúp người dân nhận thức rõ việc phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp là hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời vận động người dân trả lại diện tích rừng đã lấn chiếm cho chủ rừng.
Để việc thu hồi không gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân, chủ rừng cũng tạo điều kiện sẵn sàng liên kết với người dân trồng lại rừng trên diện tích đó. Đây được xem là phương án hợp lý và hài hòa nhất. Tuy nhiên, các cuộc họp dân ở xã Cư Pao và Cư San vẫn chưa mang lại kết quả bởi chưa có sự thỏa thuận, thống nhất về lợi ích giữa 2 bên.
Hiện chính quyền địa phương chỉ đạo cho các chủ rừng, ngành liên quan kiên trì, mềm mỏng vận động người dân nhưng cũng kiên quyết đối với những trường hợp chây ì, cố ý không hợp tác.
Huyện cũng đã lên phương án tổ chức giải tỏa, thu hồi thí điểm một số diện tích rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm thuộc khu vực do Xí nghiệp nguyên liệu giấy Tân Mai, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Đrắk và xã Cư San quản lý. Qua đó rút kinh nghiệm và thực hiện đối với những diện tích bị lấn chiếm khác nhằm hạn chế nạn phá rừng, nâng cao tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa vi phạm. (Đắk Lắk 24 Giờ 18/12) đầu trang(
Hằng ngày, lâm tặc lợi dụng những khu rừng giáp ranh bao quanh để tiến sâu vào những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt chặt phá và săn bắn động, thực vật quý hiếm trái phép... Và “nước mắt” rừng ở Tây Nguyên vẫn chảy…
Những khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia ở Tây Nguyên là một trong những nơi còn sót lại nhiều loài động vật quý hiếm như bò tót, bò rừng, sao la… và các loài thực vật quý hiếm như: gỗ huỳnh đàn đỏ, hương, trắc, cẩm lai, cà chít… Rừng quý còn rất ít nhưng việc giữ rừng ở đây trong thời gian qua đã và đang gặp nhiều khó khăn.
Hằng ngày, lâm tặc lợi dụng những khu rừng giáp ranh bao quanh để tiến sâu vào những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt chặt phá và săn bắn động, thực vật quý hiếm trái phép... Và “nước mắt” rừng ở Tây Nguyên vẫn chảy…
Già làng chỉ tay về phía những cánh rừng còn sót lại của Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn kêu cứu: “Hãy giữ lấy rừng thiêng!”. Bởi rừng đã đi vào tâm thức, nuôi dưỡng cuộc sống, tâm hồn… của bao thế hệ con người sinh ra và lớn lên ở vùng đất Tây Nguyên yêu thương. Anh Khăm Phét Lào, người con trai kế thừa bài thuốc gia truyền của “vua săn voi” Ama Kông nhiều lần tâm sự với chúng tôi: “Nếu không giữ được rừng Buôn Đôn thì thuốc quý cũng không còn”.
VQG Yok Đôn được thành lập từ năm 1992 với diện tích ban đầu hơn 58.000ha, đến đầu năm 2002, vườn được mở rộng thêm lên đến 113.853ha, nằm trên địa phận thuộc hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Với vị trí địa lý sinh học, tầng địa chất và khí hậu tương đối khác biệt, VQG Yok Đôn được xem là một trong những nơi có hệ sinh thái, kiểu rừng tương đối đặc trưng với nhiều loại gỗ quý hiếm, động vật, lâm sản phụ có giá trị cao về khoa học và kinh tế. Chính những điều kiện này mà thời gian gần đây, nạn khai thác gỗ, săn bắn động vật hoang dã trái phép đã trở nên nóng bỏng.
Có lúc lâm tặc tập kết hàng trăm mét khối gỗ trong rừng như vụ phát hiện tại địa điểm thuộc khoảnh 2, Tiểu khu 245 trên địa bàn huyện Ea Súp, dọc theo tuyến quốc lộ 14C có 191 lóng gỗ tròn từ nhóm II đến nhóm VI (khoảng 148m3) được khai thác tập kết tại 11 điểm khác nhau. Toàn bộ số gỗ trên đều không có dấu búa kiểm lâm, không xác định được nguồn gốc.
Báo cáo của VQG Yok Đôn cho thấy, từ đầu năm đến nay đã xảy ra 336 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, cơ quan chức năng đã tịch thu gần 200m3 gỗ và 560 phương tiện phá rừng các loại. Còn theo Chi cục Kiểm lâm Vùng IV - Cục Kiểm lâm thì hiện nay, trung bình mỗi ngày tại VQG Yok Đôn bị đốn hạ từ 2 đến 3 cây gỗ quý, là nơi để xảy ra tình trạng phá rừng cao nhất trong số các VQG, khu bảo tồn trong cả nước.
Theo tìm hiểu của phóng viên, tại VQG Yok Đôn hiện nay đang xuất hiện tình trạng người dân sống xung quanh vùng đệm lén lút vào vùng lõi của vườn để đốn hạ gỗ quý đang đến hồi báo động. Để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, những người này thường mang theo cưa tay đốn hạ những cây nhỏ lẻ có đường kính từ 30 đến 60cm, sau đó dùng sức người gùi vác ra khỏi rừng tập kết tại các nhà dân hoặc chòi rẫy xung quanh vườn, rồi dùng xe tải nhỏ thu gom, vận chuyển đi tiêu thụ.
“Nhóm người này thường lợi dụng thời điểm trời mưa, đêm khuya hoặc ngày nghỉ để hoạt động. Khi bị lực lượng chức năng phát hiện, họ vứt tang vật bỏ trốn hoặc gọi người đến chống trả cướp lại gỗ”, một cán bộ kiểm lâm cho hay.
Cụ thể, trong lúc đi tuần tra cùng đồng nghiệp, anh Tạ Văn Tuyên, cán bộ Đội Kiểm lâm cơ động số 2, Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn đã bị một nhóm lâm tặc chặn đường đánh trọng thương, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk.
Theo điều tra, anh Tạ Văn Tuyên và Nguyễn Văn Đức (cùng đội) được cử đi tuần tra tại một số bến sông mà lâm tặc thường hay tập kết gỗ lậu để vận chuyển ra ngoài. Khi đến bến sông, hai anh phát hiện xe tải mang BKS 47L-010.81 chở gỗ lưu thông từ bến sông lên Tỉnh lộ 1, hướng về TP Buôn Ma Thuột.
Khi vừa đi đến địa bàn thuộc xã Ea Hoa, huyện Buôn Đôn thì bất ngờ một chiếc xe du lịch loại 7 chỗ và 3 xe máy vượt lên chặn đầu xe máy của hai anh. Nhóm người này nhảy xuống xe dùng bình xịt hơi cay xịt vào người rồi xông vào đánh “hội đồng” khiến anh Tuyên gục xuống vệ đường. Các đối tượng này tiếp tục quay sang dọa chém anh Đức sau đó lên xe tẩu thoát…
Rừng quý ở VQG Chư Mom Ray (Kon Tum) cũng có những giai đoạn phức tạp không kém. Lâm tặc khai thác gỗ quý rồi đốt gốc phi tang nhằm che mắt cơ quan chức năng. Tuy con số báo cáo phát hiện từ đầu năm đến nay chỉ có 25 vụ vi phạm lâm luật, trong đó 14 vụ khai thác rừng trái phép, tổng số gỗ xử lý khoảng 150m³, nhưng thực tế nạn săn bắt và khai thác gỗ quý ở đây vẫn còn diễn biến phức tạp. Hàng ngàn chiếc bẫy thú được thu giữ do các thợ săn bố trí ở rừng hàng năm cho thấy tập tục và nhận thức của người dân địa phương trong việc săn bắt vẫn còn phổ biến.
Theo Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, chỉ tính riêng từ đầu năm đến nay, qua các đợt tuần tra, truy quét, lực lượng Kiểm lâm đã xử lý 55 vụ với 55 đối tượng tham gia, thu giữ hàng trăm mét khối gỗ, hơn 100 phương tiện các loại liên quan đến phá rừng... Điều đáng quan tâm là trong số các đối tượng bị xử lý thì đa số là người dân ngoại tỉnh.
Trong khi đó rừng quý ở Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh và rừng hương ở Kbang (Gia Lai) cũng đang bị lâm tặc lén lút khai thác từng ngày. Đáng chú ý là điểm nóng phá rừng ở Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa (đóng tại xã Krong, huyện Kbang đã xảy ra hàng loạt vụ khai thác gỗ trái phép với hơn 100 cây gỗ hương bị lâm tặc đốn hạ. Rừng ở đây bị khai thác trái phép có hệ thống từ nhiều năm nay, hết đời lãnh đạo này đến lãnh đạo khác lên thay nhưng rừng hương ở đây vẫn không giữ được.
Càng đi sâu vào những cánh rừng quý Tây Nguyên càng chứng kiến những nỗi đau khó tả. “Nước mắt” rừng vẫn đang chảy từng ngày… (Công An Nhân Dân 19/12) đầu trang(
Gần đây, mỗi ngày có hàng chục người dân đổ xô vào rừng phòng hộ ven biển (RPHVB) thuộc địa bàn xã Cát Chánh (Phù Cát) và Phước Hòa (Tuy Phước) chặt phá cây dương để làm nguyên liệu hầm than.
Đáng nói hơn, chính những người được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng cũng chung tay… phá rừng. Tình trạng này diễn ra rất nghiêm trọng, trên diện tích khá rộng, nhưng chủ rừng và các ngành chức năng chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, xử lý.
Những đối tượng thực hiện hành vi chặt phá rừng hiện đang cư trú tại thôn Phú Hậu (xã Cát Chánh) và Huỳnh Giản Bắc (xã Phước Hòa); khu vực rừng bị phá nghiêm trọng nhất thuộc tiểu khu (TK) 281B. TK này rộng hơn 100ha - nằm trên địa bàn 2 xã Cát Chánh và Phước Hòa, trong đó hầu hết diện tích thuộc xã Cát Chánh - đã được Nhà nước giao cho Công ty Cổ phần phong điện Phương Mai thực hiện Dự án Nhà máy phong điện (NMPĐ) Phương Mai 1.
Trung tuần tháng 12.2015, chúng tôi tìm về khu vực RPHVB thuộc Dự án NMPĐ Phương Mai 1 để “mục sở thị” tình trạng chặt phá rừng đang diễn ra. Từ quốc lộ 19B - trước kia là đường trục Khu kinh tế Nhơn Hội - vào sâu trong rừng khoảng 500m, chúng tôi phát hiện rất nhiều khoảnh rừng với hàng trăm, hàng ngàn cây dương có đường kính từ 10cm - 15cm đã bị triệt hạ tận gốc.
Nếu như thời điểm trước kia, các đối tượng chặt phá rừng theo phương thức “tỉa thưa” - chặt mỗi chỗ một vài cây - thì hiện nay, rừng bị triệt hạ trắng. Tại khu vực rìa và bên trong khoảnh rừng được ký hiệu Tháp 10, có khoảng 5 - 7ha rừng dương đã bị chặt trụi. Tương tự, tại khu vực Tháp 3, 5, 6, 8 và 11, nhiều hec-ta rừng cũng bị các đối tượng phá rừng đốn hạ; trong đó, tại Tháp 3 có những cây dương khá lớn, đường kính từ 20cm - 30cm chỉ còn trơ gốc.
Theo ông D. - người có nhiều năm làm công tác quản lý, bảo vệ tại RPHVB, thì: Trước kia, các đối tượng lén lút thực hiện việc chặt phá rừng, nhưng hiện nay, họ làm công khai giữa “thanh thiên bạch nhật”; tại TK 281B có khoảng 10ha - 15ha, với hàng chục ngàn cây dương đã bị chặt phá. Có tình trạng này là bởi chủ rừng - Công ty Cổ phần phong điện Phương Mai - chậm trễ thanh toán tiền công quản lý, bảo vệ rừng. Do đó, một số người trong tổ giữ rừng tự nghỉ, còn số khác “gỡ gạc” bằng cách chặt dương về hầm than hoặc bán lại cho người khác để lấy tiền.
“Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, trong khi chủ rừng và các ngành chức năng không kịp thời ngăn chặn, xử lý thì chỉ trong thời gian ngắn nữa, khu vực RPHVB thuộc Dự án NMPĐ Phương Mai 1 sẽ bị chặt trụi” - ông D. lo lắng.
Để xác minh thông tin một số người trong tổ quản lý, bảo vệ rừng tự chặt phá rừng hoặc “bật đèn xanh” cho người khác phá rừng, chúng tôi tìm gặp ông K.- người trực tiếp mua gỗ dương từ một số người giữ rừng để làm nguyên liệu hầm than. Ông K. khẳng định: “Tiếng là giữ rừng, nhưng họ lại đứng ra chặt phá rừng rồi đem đi bán lấy tiền, hoặc “bán rừng” cho người khác vào chặt cây. Họ bán gỗ dương thì tui mua về hầm than, chứ đâu trộm cắp hay chặt phá gì mà sợ. Những người trong tổ giữ rừng thực hiện việc này gồm ông Tám Bệnh, Năm Xuyên, Mười Hùng, Ba Chương, Hai Lựu… ”.
Chúng tôi tiếp tục tìm gặp lãnh đạo UBND xã Cát Chánh để xác thực thông tin một số người giữ rừng nhưng có hành vi xâm hại rừng. Theo ông Võ Thành Hải, Chủ tịch UBND xã Cát Chánh, thì: Bước đầu, địa phương đã nắm được tình hình phá rừng đang diễn ra tại TK 281B. Một số người làm công tác quản lý, bảo vệ rừng được chủ rừng thuê cũng đã có đơn gửi tới UBND xã trình bày việc bị chậm trả tiền công.
Thông tin một số người giữ rừng trực tiếp chặt phá hoặc “bán rừng” cho người khác chặt phá là có cơ sở; xã cũng đã biết được một số thông tin liên quan đến những người thực hiện việc làm này. Hiện UBND xã đang chỉ đạo kiểm lâm địa bàn kiểm tra, rà soát, thống kê tổng diện tích rừng bị chặt phá; khi có con số chính xác sẽ báo cáo bằng văn bản cho ngành chức năng để có hướng xử lý tiếp.
“Do đất và rừng tại TK 281B đã được Nhà nước giao quyền cho một công ty cổ phần, nên về mặt quản lý hành chính, UBND xã Cát Chánh chỉ phối hợp với đơn vị này và các ngành chức năng trong việc quản lý, bảo vệ rừng. Trong khi đó, đơn vị chủ rừng chưa thể hiện hết vai trò, trách nhiệm của mình. Trước thực trạng nhiều diện tích RPHVB bị chặt phá nghiêm trọng như hiện nay, địa phương chúng tôi cũng rất bức xúc. Về trách nhiệm của mình, chúng tôi kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo ngành chức năng có liên quan của tỉnh trực tiếp làm việc với đơn vị chủ rừng để tìm biện pháp ngăn chặn, xử lý thật hiệu quả”, ông Hải nêu ý kiến.
Còn theo ông Mai Thiện, Trưởng Trạm kiểm lâm Cát Hải - kiểm lâm phụ trách địa bàn các xã khu Đông huyện Phù Cát, thì: Lực lượng kiểm lâm sẽ sớm cử cán bộ kiểm tra, xác minh tình hình phá rừng tại TK 281B; sau đó sẽ báo cáo cho Hạt Kiểm lâm huyện Phù Cát và ngành chức năng liên quan để giải quyết.
Báo Bình Định sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến vụ việc và phản ảnh tới bạn đọc khi có thông tin mới nhất. (Báo Bình Định 19/12) đầu trang(
Không đồng ý với bản án số 91/2015/HSST, ngày 17 – 18/ 11/ 2015 của TAND huyện Phú Quốc về việc tuyên vợ chồng ông Trần Kiều Hưng không phạm tội “hủy hoại rừng”, VKSND huyện Phú Quốc và nguyên đơn Vườn Quốc gia Phú Quốc đã có đơn kháng nghị, kháng cáo.
Như Dân trí đã đưa tin xung quanh vụ án vợ chồng ông Trần Kiều Hưng (nguyên Phó Chủ tịch xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc) bị TAND huyện Phú Quốc buộc tội “hủy hoại rừng” trên đất được cấp sổ đỏ vào ngày 16/5/2013. Không đồng ý với bản án này, vợ chồng ông Hưng kháng cáo lên cấp phúc thẩm.
Ngày 31/3/2014 TAND tỉnh Kiên Giang xét thấy bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về mặt tố tụng và nguyên đơn không bổ sung thêm chứng cứ mới để buộc tội vợ chồng ông Kiều Hưng phạm tội “huỷ hoại rừng” nên TAND tỉnh Kiên Giang đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho cơ quan điều tra. Viện KSND Phú Quốc vẫn đề nghị truy tố nguyên Phó chủ tịch xã tội phá rừng.
Sau gần 1 năm điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc có cáo trạng “mới”, tiếp tục truy tố vợ chồng ông Hưng tội “hủy hoại rừng” và ngày 17/3/2015, TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên tại phiên tòa này, HĐXX xét thấy không đủ chứng cử để buộc tội vợ chồng ông Hưng tội “hủy hoại rừng” nên TAND huyện Phú Quốc tiếp tục trả hồ sơ lại cho cơ quan điều tra.
Sau gần 9 tháng điều tra bổ sung, ngày 17/11 TAND huyện Phú Quốc tiếp tục đưa vụ án ông Trần Kiều Hưng ra xét xử cấp sơ thẩm lần 2. Tại phiên tòa này, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra nhiều luận điểm, luận cứ buộc tội vợ chồng ông Trần Kiều Hưng phạm tội “hủy hoại rừng”, trong đó có nội dung VKSND Phú Quốc cho rằng: các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện và xã Cửa Cạn xác định khu vực rừng bị hủy hoại có 03 thửa đất liên quan đến hai bị cáo Trần Kiều Hưng và Huỳnh Thị Bích Phượng; 03 thửa đất này nằm riêng biệt, không trùng nhau.
Thửa 1 có diện tích 6.750,5m2 đã được UBND huyện cấp giấy CNQSDĐ. Thửa 2 có diện tích 9.855m2 chưa được cấp giấy CNQSDĐ. Thửa 3 có các cạnh và tọa độ điểm, với diện tích 4.042m2 nằm trong ranh Vườn Quốc gia và trên diện tích này trước khi bị phá (tháng 9/2011) thì hoàn toàn là cây rừng, chưa bị ai tác động, đây là thửa đất vợ chồng bị cáo Hưng vi phạm.
VKSND huyện Phú Quốc cho rằng đất tại khu vực nói trên là do hai cơ quan chức năng quản lý: Vườn Quốc gia Phú Quốc quản lý đất rừng nằm trong ranh Vườn Quốc gia; còn đất nằm ngoài ranh giới Vườn Quốc gia là do Ủy ban nhân dân (xã, huyện) quản lý. Ranh giới (cột mốc) để phân biệt hai loại đất này được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được phổ biến đến nhiều cơ quan chuyên môn để thống nhất quản lý.
Từ đó, cơ quan Cảnh sat điều tra và Viện kiểm sát đã căn cứ vào nhiều chứng cứ, trong đó có căn cứ vào vị trí, tọa độ địa lý thông qua máy định vị GPS 76 CSX sử dụng hệ tọa độ VN – 2000 để xác định thửa đất bị cáo Hưng vi phạm.
Tuy nhiên, tại phiên tòa, vợ chồng ông Trần Kiều Hưng khẳng định chỉ có một mảnh đất và sau khi được UBND huyện cấp giấy CNQSDĐ đã thuê người đến phát dọn trồng cây từ cột mốc 104 (cấm trên đất ông Hưng) trở xuống suối, vì từ cột mốc 104 trở lên là rừng Quốc gia. Ngoài ra, những người làm chứng tại phiên tòa trong đó có nguyên Phó chủ tịch xã Cửa Cạn Đào Hữu Phước, công an ấp 3, trưởng ấp 3… đều khẳng định đất vợ chồng ông Hưng phát dọn năm phía Bắc con suối (phía trên con suối) và không có mảnh đất nào nằm ở dưới con suối.
Trong bản án sở thẩm ngày 17-18/10 của TAND huyện Phú Quốc, HĐXX đã nêu quan điểm, theo hồ sơ về việc xác định vị trí đất đã cấp cho vợ chồng ông Trần Kiều Hưng, Hội đồng tư vấn cấp giấy CNQSDĐ do bà Hồ Thị Tốt – Phó Chủ tịch UBND xã Cửa Cạn làm chủ tịch Hội đồng và xác định diện tích vợ chồng ông Hưng xin cấp giấy CNQSDĐ nằm phía trên con suối, trong đó có 10.690,5m2 nằm trong ranh Vườn Quốc gia và diện tích còn lại là 6.750,5m2 nằm ngoài ranh Vườn Quốc gia Phú Quốc, do đó, ngày 18/8/2011, UBND huyện Phú Quốc đã cấp giấy CNQSDĐ số BB 641454 cho Huỳnh Thị Bích Phượng và Trần Kiều Hưng thuộc thửa đất số 46, tờ bản đồ sô 01, tại ấp 3 xã Cửa Cạn.
Một điểm “lạ” khi lập biên bản về việc kiểm tra thực địa, tọa độ, vị trí mốc giới, xác định vị trí ngày 08/7/2014 và ngày 09/10/2014, Cơ quan cảnh sát điều tra và các cơ quan chuyên môn tham gia kiểm tra đã sử dụng máy định vị GPS xác định tọa độ vị trí đất đã cấp cho vợ chồng ông Hưng nằm phía dưới con suối; không thể hiện vị trí tứ cận.
Giải thích về điều này, ông Trương Thành Tấn – Phó Phòng TN – MT huyện Phú Quốc (người được UBND huyện ủy quyền) xác định: Theo bản đồ địa chính; bản đồ trong giấy CNQSDĐ và theo tọa độ thì có sự sai lệnh giáp ranh, tứ cận, nguyên nhân là do Công ty đo đạc địa chính, công trình – thuộc Bộ TN – MT đo vẽ không đúng; nếu định vị theo tọa độ thì đất của vợ chồng ông Hưng nằm ở dưới con suối giáp với bà Lý Kiều Tiên.
Từ lời nhận định của ông Tấn, HĐXX nhận thấy về việc xác định vị trí đất đã cấp theo tọa độ có sự mâu thuẫn với chính đơn vị trực thuộc Phòng TN – MT là Văn phòng ĐKQSDĐ và UBND xã Cửa Cạn, vì theo sơ đồ vị trí hiện trạng sử dụng mà Trần Kiều Hưng đang sử dụng do Văn phòng ĐKQSDĐ lập ngày 28/5/2012 và sơ đồ mô tả địa giới thửa đất do UBND xã Cửa Cạn lập kèm theo biên bản làm việc ngày 13/01/2015, giữa UBND xã Cửa Cạn và VKSND huyện Phú Quốc đều xác định vị trí thửa đất đã cấp cho Phượng và Hưng nằm phía trên con suối; giáp đất ông Mai Xuân Thành; các cạnh còn lại giáp Vườn Quốc gia.
Mặt khác theo Tờ bản đồ số 01 thuộc ấp 3, xã Cửa Cạn đã được Sở TN – MT tỉnh Kiên Giang phê duyệt vào ngày 01/8/2010 cũng thể hiện vị trí đất cấp cho ông Hưng nằm phía trên con suối, giáp đất ông Mai Xuân Thành. Như vậy, các tài liệu, chứng cứ đều xác định vị trí con suối và vị trí tứ cận phù hợp với hồ sơ xin cấp giấy CNQSDĐ của vợ chồng ông Hưng và phù hợp với bản đồ trong giấy CNQSDĐ đã cấp. Tại phiên tòa, ông Mai Xuân Thành cũng khẳng định đất của ông và ông Hưng đều nằm ở trên con suối, đúng như bản đồ địa chính.
Theo ông Đào Hữu Phước - nguyên Phó chủ tịch xã Cửa Cạn cho biết, dù cột mốc 104 (cột mốc cấm trên đất vợ chồng ông Trần Kiều Hưng) có mất thì ông vẫn xác định được đất của ông Hưng và ranh giới rừng vì sau cột mốc 104 này có một tảng đá rất lớn.
Liên quan đến cột mốc 103, 104, 105 (cột mốc 103 - cấm trên đất ông La Quốc Chiến), cột mốc 104 - cấm trên đất vợ chồng ông Hưng), cột mốc 105 - cấm trên đất ông Đào Hữu Phước – nguyên Phó Chủ tịch xã Cửa Cạn.) là ranh giới rừng và có tại hiện trường nhưng khi so với cột mốc trên bản đồ thì sai lệnh vị trí đến hàng trăm mét thậm chí hơn 1.000m.
Cụ thể trong biên bản về việc kiểm tra thực địa, tọa độ, vị trí mốc giới, xác định vị trí ngày 08/7/2014 và ngày 09/10/2014, Cơ quan cảnh sát điều tra và các cơ quan chuyên môn tham gia kiểm tra đã sử dụng máy định vị GPS xác định vị trí các cột mốc theo bản đồ mốc và xác định: Mốc 103 theo bản đồ cách Mốc 103 ngoài thực địa 557,8m; Mốc 104 theo bản đồ cách mốc 104 ngoài thực địa 996,4m; Mốc 105 theo bản đồ cách Mốc 105 ngoài thực địa 991,8m; Mốc 109 theo bản đồ cách Mốc 109 ngoài thực địa 1.002,2m và xác định Vườn Quốc gia giáp con suối.
Từ những luận cứ nêu trên, HDXX nhận định việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, cơ quan điều tra chỉ căn cứ vào tọa độ trong giấy CNQSDĐ, tọa độ Bản đồ mốc Vườn Quốc gia rồi dùng máy GPS để truy tố vợ chồng ông Hưng về tội “Hủy hoại rừng” mà không xem xét đến các Bản đồ địa chính, bản đồ cấp giấy CNQSDĐ để xác định diện tích đất các bị cáo chặt phá có nằm trong giấy CNQSDĐ đã cấp cho vợ chồng bị cáo Hưng hay không; không xem xét đến vị trí cột mốc Vườn Quốc gia Phú Quốc trên thực địa để xác định diện tích đất rừng hai bị cáo chặt phá có nằm trong ranh giới rừng hay không cũng như không xem xét tính hợp pháp của hồ sơ ranh giới rừng Vườn Quốc gia Phú Quốc (chưa được UBND tỉnh Kiên Giang phê duyệt) là chưa khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.
Từ đó, HĐXX căn cứ vào Khoản 2 Điều 107 và Điều 224 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên bị cáo Trần Kiều Hưng và Huỳnh Thị Bích Phượng không phạm tội “hủy hoại rừng” như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố.
Trong bản kháng nghị số 363/KN – VKS của VKSND huyện Phú Quốc do Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc Nguyễn Hoàng Hà ký (cũng là người đại diện VKSND huyện Phú Quốc tham gia tố tụng tại phiên tòa ngày 17-18/10/2015), ông Hà bổ sung thêm nhiều luận điểm làm cơ sở buộc tội vợ chồng ông Hưng, trong đó nổi bật nhất là việc ông khẳng định: “Việc cấm mốc Vườn Quốc gia chưa được UBND tỉnh phê duyệt chỉ là thủ tục, không thể lấy đó làm căn cứ để để nhận định các cột mốc trên không có giá trị pháp lý trong việc phân định ranh Vườn Quốc gia với các chủ thể khác”.
Tuy nhiên, đơn vị được thuê cấm mốc Vườn Quốc gia đã nghiệm thu và bàn giao cho BQL Vườn Quốc gia sử dụng các cột mốc làm ranh giới rừng và đất khác đã diễn ra từ tháng 12/2003, do vậy dư luận đặt câu hỏi vì sao vấn đề quan trọng này (hồ sơ quản lý rừng Vườn Quốc gia Phú Quốc) qua 22 năm phần “thủ tục” như ông Viện trưởng VKSND huyện Phú Quốc nói đến nay vẫn chưa hoàn thành? Và sự chậm trễ quá đà này có không đã làm một số người dân canh tác trên đất có sổ đỏ như ông Hưng… mang tội phá rừng, vướng vòng lao lý? (Dân Trí 20/12) đầu trang(
Theo UBND tỉnh, thời gian qua, ở một vài khu vực, nhất là khu vực xã Tân Hòa, huyện Tân Châu (khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng), tình trạng lén lút lấn chiếm đất lâm nghiệp, trộm cắp lâm sản vẫn còn xảy ra, có lúc diễn biến phức tạp.
Để kịp thời ngăn chặn, xử lý tình trạng trên, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành có liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, Thành phố chỉ đạo tổ chức thực hiện một số nội dung sau:
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo lực lượng kiểm lâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng cho nhân dân; phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan kịp thời thông tin dự báo phòng - chống cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng;
Kiểm lâm Tây Ninh cần phối hợp với Kiểm lâm tỉnh Bình Phước có kế hoạch ngăn chặn tình trạng phá rừng, trộm cắp lâm sản ở các khu vực rừng giáp ranh, ven sông Sài Gòn, Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng…
UBND các huyện, Thành phố có rừng chỉ đạo các lực lượng liên ngành cấp huyện phối hợp với chính quyền cơ sở, thường xuyên tăng cường kiểm tra, truy quét, ngăn chặn kịp thời các hành vi phá rừng, trộm cắp lâm sản; bao, lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích;
Kiên quyết phá bỏ cây trồng sai mục đích do phá, lấn chiếm đất lâm nghiệp; buộc tháo dỡ nhà, chòi xây cất trái phép trên đất lâm nghiệp phát sinh từ sau khi triển khai đề án di dời dân khỏi đất lâm nghiệp đến nay.
UBND tỉnh cũng yêu cầu các ngành, cơ quan, đơn vị có liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền bảo vệ rừng, bảo vệ lâm sản, phòng – chống cháy rừng hiệu quả. (Báo Tây Ninh 20/12) đầu trang(
Những năm trước đây, huyện Chợ Đồn được biết đến như là điểm nóng về tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Tuy nhiên, hiện nay, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, đặc biệt là việc bảo vệ rừng từ gốc, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép đã được ngăn ngặn khá hiệu quả.
Trong tháng 12/2014, tại huyện Chợ Đồn đã xảy ra 6 vụ vận chuyển lâm sản trái phép với số lượng lớn gỗ nghiến bị chặt hạ, vận chuyển ra khỏi rừng. Tuy nhiên, nửa đầu tháng 12 năm nay, trên địa bàn huyện Chợ Đồn chưa có vụ việc khai thác vận chuyển lâm sản trái phép nào xảy ra. Theo ông Khổng Văn Minh - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Quảng Bạch, để bảo vệ rừng từ gốc đơn vị chỉ đạo cán bộ bám sát cơ sở và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương.
Ngoài ra, việc tuần tra trên tỉnh lộ 254 cũng được thực hiện nghiêm túc. Đây là tuyến đường huyết mạch, nguy cơ vận chuyển quan đây là rất lớn. Cùng với việc tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, vận động người dân cùng tham gia bảo vệ rừng. Trạm kiểm lâm Quảng Bạch là trạm quản lý 4 xã phía bắc gồm Nam Cường, Quảng Bạch, Xuân Lạc và Đồng Lạc.
Đây đều là khu vực còn nhiều loại gỗ quý hiếm và giáp danh với Vườn Quốc gia Ba Bể. Tuy nhiên, nhờ làm tốt công tác phối hợp, năm 2015 đã hạn chế rất lớn việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra.
Nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền và xử lý nghiêm, năm nay số vụ vi phạm về quản lý và bảo vệ rừng ở Chợ Đồn đã giảm đáng kể. Nếu như năm 2014, toàn huyện xảy ra 76 vụ vị phạm, đến hết ngày 15/12 năm nay địa phương này chỉ xảy ra 52 vụ, trong đó chủ yếu là những vụ việc nhỏ lẻ. Lực lượng kiểm lâm cũng đã tịch thu 56m3 gỗ, 21 phương tiện các loại.
Theo nhận định của lực lượng kiểm lâm, trong những ngày tới tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản sẽ có chiều hướng tăng do đối tượng có thể tranh thủ, lợi dụng những ngày nghỉ lễ, tết và lúc nông nhàn nhiều người dân có thể lên rừng khai thác gỗ. Để đảm bảo việc ngăn chặn hiệu quả, đặc biệt là trong dịp tết nguyên đán sắp tới, Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn sẽ tổ chức trực tại các chốt, trạm 24/24h với 100% quân số.
Trong đó, những trạm có điểm nóng về khai thác vận chuyển lâm sản như các xã Nam Cường, Tân Lập, Xuân Lạc, Đồng Lạc sẽ được tăng cường lực lượng kiểm lâm bám sát cơ sở. Ông Triệu Văn Hùng- Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn cho biết: Nguy cơ vận chuyển, khai thác rừng những tháng cuối năm là rất cao, đặc biệt là gỗ quý hiếm, vì vậy đơn vị sẽ tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ưu tiên cho việc bám sát địa bàn các điểm nóng.
Với sự chủ động, quyết tâm và sẵn sàng ứng phó với các tình huống, lực lượng kiểm lâm huyện Chợ Đồn sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian tới, nhất là thời điểm cuối năm. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 19/12) đầu trang(
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tính đến tháng 11/2015, lực lượng kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng đã phối hợp kiểm tra, phát hiện, lập biên bản xử lý 967 vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, nổi lên là tình trạng phá rừng trái pháp luật 372 vụ, thiệt hại 289,86 ha, tăng 71 vụ và tăng 156 ha so với cùng kỳ năm trước.
Đến nay, ngành đã xử lý hành chính 273 vụ/76,65 ha; chuyển điều tra hình sự 61 vụ/136,48 ha; số vụ đang củng cố hồ sơ xử lý 38 vụ/76,73 ha. Ngoài ra, tình trạng lấn chiếm đất rừng, khai thác, buôn bán lâm sản trái phép cũng diễn biễn phức tạp.
Cụ thể, toàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ lấn chiếm 7,023 ha đất rừng; 103 vụ khai thác rừng trái phép; 5 vụ vận chuyển mua bán động vật rừng trái pháp luật; 297 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; 4 vụ vi phạm quản lý nhà nước về chế biến gỗ; 106 vụ vi phạm thủ tục trình kiểm lâm sản và 62 vụ các vụ vi phạm khác. Tổng số vụ đã xử lý là 992 vụ (có 130 vụ năm 2014). Lâm sản tịch thu là 1.099,57 m3 gỗ các loại, 676 trụ tiêu cùng 240 máy móc và phương tiện các loại.
Nguyên nhân chủ yếu là do các chủ rừng buông lỏng quản lý dẫn đến rừng bị phá với diện tích lớn mà không có biện pháp ngăn chặn và báo cáo kịp thời. Ở các dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp triển khai còn chậm, hoặc không có năng lực triển khai, chưa thu hút được sự tham gia của người dân địa phương và còn buông lỏng công tác quản lý để rừng bị phá, lấn chiếm với diện tích lớn. Việc giao khoán rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định 135 của Chính phủ không hiệu quả.
Chính quyền địa phương cấp huyện, xã chưa thực hiện hết trách nhiệm theo Quyết định 07 của Thủ tướng Chính phủ; việc quản lý nhân hộ khẩu, đất đai còn buông lỏng, thiếu chặt chẽ… Nguy hại hơn ở một số nơi có biểu hiện bất lực trước tình trạng phá rừng, sợ tạo ra điểm nóng gây bất ổn về an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Trước thực trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển, mua bán, chế biến lâm sản trái phép diễn biến phức tạp… Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Cụ thể, đơn vị đã phối hợp với các ngành chức năng, địa phương xác định các điểm nóng về phá rừng như các tiểu khu 1705, 1691, lâm phần Xí nghiệp lâm nghiệp Nghĩa Tín (thuộc Công ty TNHH Gia Nghĩa) quản lý, xã Quảng Thành (Gia Nghĩa); các tiểu khu 1685, 1697 lâm phần Xí nghiệp lâm nghiệp Đắk Ha (thuộc Công ty TNHH Gia Nghĩa) quản lý tại các xã Đắk Ha, Quảng Sơn (Đắk Glong); rừng thông trồng tại tiểu khu 1624 đã tạm giao cho bản Đắk Lép, xã Nâm N’Jang và Rừng phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14 thuộc các xã Trường Xuân, Nâm N’Jang (Đắk Song)…
Đồng thời, nhiều chuyên án được xác lập để điều tra, xử lý các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại các điểm nóng thuộc các xã Quảng Trực, Đắk Ngo (Tuy Đức), Quảng Thành (Gia Nghĩa), Đắk Ha, Quảng Sơn (Đắk Giong) và dọc tuyến quốc lộ 14C (Đắk Song). Ngành Kiểm lâm phối hợp với thị xã Gia Nghĩa và huyện Đắk Glong triển khai có hiệu quả việc lập chốt ngăn chặn tại tiểu khu 1705 thuộc lâm phần Xí nghiệp lâm nghiệp Nghĩa Tín quản lý và tại tiểu khu 1685 thuộc lâm phần Xí nghiệp lâm nghiệp Đắk Ha quản lý.
Kết quả, từ khi thành lập chốt chặn đến nay, lực lượng chức năng đã kiểm tra, phát hiện và lập hồ sơ xử lý 76 vụ vi phạm. Trong đó, khai thác rừng trái phép 36 vụ; vận chuyển lâm sản 6 vụ; cất giữ lâm sản 5 vụ; vi phạm các quy định chung về bảo vệ rừng 6 vụ; lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép 7 vụ; phá rừng trái phép 16 vụ, với 27,626 ha.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 18/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và xây dựng quy định xử lý trách nhiệm để xảy ra phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật trên địa bàn tỉnh.
Chỉ thị nêu rõ, người đứng đầu chính quyền địa phương các cấp và các cơ quan chức năng của huyện, thị xã, lực lượng kiểm lâm trong phạm vi trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng và khai thác rừng trái pháp luật mà không có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời thì phải kiểm điểm, xử lý nghiêm trách nhiệm theo quy định. Đồng thời, ngành Kiểm lâm cũng tăng cường phối hợp với các công ty lâm nghiệp thực hiện nghiêm túc các dự án, phương án, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt. (Môi Trường Và Đời Sống 19/12) đầu trang(
Để quản lý hiệu quả các cơ sở nuôi động vật hoang dã trên địa bàn, Hạt kiểm lâm Bình Long - Hớn Quản đã đưa ra nhiều giải pháp quản lý trên cơ sở quy định của Nhà nước. Từ đó bảo vệ, bảo tồn động vật hoang dã; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở phát triển kinh tế từ gây nuôi động vật hoang dã theo hướng thương mại.
Việc gây nuôi động vật hoang dã ở địa bàn thị xã Bình Long và huyện Hớn Quản do Hạt kiểm lâm Bình Long - Hớn Quản quản lý. Theo quy định, khi gây nuôi, các hộ phải được ngành kiểm lâm thẩm định nguồn gốc, cấp phép; các loại động vật quý hiếm phải đăng ký với hạt kiểm lâm cấp huyện.
Để quản lý tốt các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã, hạt đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở, ngành chức năng nắm chắc tình hình các cơ sở gây nuôi. Khi cơ sở đủ điều kiện sẽ được thẩm định cấp giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi. Hạt cũng kiên quyết xử lý nghiêm trường hợp vi phạm nhằm đưa hoạt động gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn đi vào nền nếp.
Thực hiện chức năng quản lý, hạt cũng thường xuyên kiểm tra, lập sổ theo dõi số lượng, diễn biến quá trình sinh trưởng, phát triển của vật nuôi. Đồng thời, hướng dẫn người dân xây dựng chuồng trại phù hợp, chấp hành nghiêm thủ tục hành chính liên quan đến vật nuôi, tuyệt đối không để vật nuôi sổng chuồng, nghiêm cấm hành vi săn bắt động vật hoang dã từ tự nhiên về gây nuôi, ngăn cấm vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép động vật hoang dã.
Gây nuôi động vật hoang dã từng đem lại thu nhập cao cho nhiều người. Tuy nhiên, khi không còn hiệu quả kinh tế như trước, vật nuôi lại trở thành gánh nặng với chính chủ nhân của chúng. Hiện một số trại nuôi động vật hoang dã trong tỉnh đã thành công, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, đa số cơ sở gây nuôi sinh sản, sinh trưởng động vật hoang dã trên địa bàn mang tính tự phát, manh mún, chạy theo thị trường. Khi nhu cầu của thị trường bão hòa, sản phẩm lại không có đầu ra. Vì thế, trước khi quyết định phát triển kinh tế theo hướng này, hộ chăn nuôi cần tìm hiểu kỹ từ quy định hành chính đến kỹ thuật cũng như đầu ra cho sản phẩm. Cách đây khoảng 5-7 năm, nhiều hộ đã giàu lên nhờ bán nhím giống, nhím thịt. Nhưng sau đó, một số hộ bỏ ra cả trăm triệu đồng mua nhím lại rơi vào thời điểm thị trường tiêu thụ nhím không còn thịnh dẫn đến làm ăn thua lỗ.
Cán bộ Hạt kiểm lâm Bình Long - Hớn Quản cho rằng, các loại rắn hổ mang, hổ trâu... hiện vẫn đang được nuôi với số lượng lớn. Nếu không được quản lý chặt sẽ có nguy cơ sổng ra ngoài, gây nguy hiểm cho con người và vật nuôi khác, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Vì vậy, công tác tuyên truyền, quản lý gây nuôi động vật hoang dã luôn được hạt chú trọng. Đối với các loài động vật nguy cấp đặc biệt như gấu vẫn đang được theo dõi, quản lý chặt chẽ để cùng với hộ gây nuôi bảo vệ, bảo tồn những cá thể, nguồn gen quý hiếm.
Gây nuôi sinh sản động vật hoang dã mang lại nhiều mặt tích cực như: bảo tồn nguồn gen, hạn chế đánh bắt từ tự nhiên, nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo việc làm cho lao động. Tuy nhiên, nếu quản lý không tốt sẽ xảy ra tình trạng buôn bán trái phép, đặc biệt có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người tại cơ sở gây nuôi động vật hoang dã hung dữ và nhân dân trong khu vực.
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như nguy hiểm của động vật hoang dã nên hạt luôn chủ động quản lý, bảo vệ, bảo tồn, đưa động vật hoang dã vào tầm kiểm soát chặt chẽ. Đến nay, các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã được ghi sổ theo dõi đầy đủ. Hạt thường xuyên tổ chức kiểm tra định kỳ, đột xuất. Chuồng trại phải an toàn, phù hợp với đặc tính của loài vật nuôi và năng lực sản xuất của trại. Về vệ sinh môi trường, kỹ thuật chăm sóc, ngăn ngừa dịch bệnh và kiểm tra việc ghi chép sổ sách theo dõi nhập, xuất được thực hiện đúng quy định.
Ông Phạm Thanh Hải, cán bộ Thanh tra pháp chế, quản lý động vật hoang dã cho biết: Để gây nuôi động vật hoang dã phát triển tốt cần có sự tuyên truyền nhiều hơn nữa về pháp lý, cung cấp cho các hộ nuôi về kỹ thuật, thông tin thị trường...
Nuôi động vật hoang dã là cách phát triển kinh tế nông nghiệp hoàn toàn mới nên cần nắm rõ quy định của nhà nước, có sự đầu tư vốn, kiến thức về đặc tính của loài vật nuôi, có định hướng rõ ràng. Như thế phong trào gây nuôi động vật hoang dã mới đạt hiệu quả cao, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế rừng, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy đa dạng sinh học ở Việt Nam. (Báo Bình Phước 19/12) đầu trang(
Từ ngày 15 đến 18/12, tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ, Công an tỉnh; Ban quản lý Chương trình UN-REDD II tỉnh Cà Mau tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ và thao diễn kỹ năng chữa cháy rừng cho 120 cán bộ quản lý rừng tràm khu vực huyện Trần Văn Thời.
Nội dung chính của lớp tập huấn là nâng cao kiến thức pháp luật về phòng cháy chữa cháy rừng và luyện tập thao tác, kỹ năng chỉ huy, điều hành lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng khi có tình huống xảy ra. Trong phần thao diễn, các đội đã thể hiện được khả năng chỉ huy, điều động lực lượng, phương tiện đến ứng cứu kịp thời khi có cháy xảy ra; đội hình chữa cháy được bố trí hợp lý, thao tác nhịp nhàng và phối hợp tốt với các lực lượng hỗ trợ.
Đây là đợt tổng dợt cuối cùng của các đơn vị chủ rừng để chuẩn bị cho mùa khô sắp đến. Ban tổ chức cũng đã trao 7 giải thưởng cho các đội tham gia diễn tập; trong đó, Đội Công ty Khí Cà Mau đoạt giải nhất. (Đài Phát Thanh Và Truyênhf Hình Cà Mau 19/12) đầu trang(
Sáng ngày 18/12/2015, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị giao ban công tác quản lý bảo vệ rừng quý IV năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016. Đồng chí Trần Văn Tuân Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 chủ trì hội nghị.
Năm 2015, các cơ quan chức năng, chủ rừng và chính quyền địa phương trong tỉnh đã phối hợp thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh. Tính đến hết tháng 11/2015, các cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 1.270 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, thu giữ trên 1.390 m3 gỗ các loại, 02 ôtô, 93 xe gắn máy, 14 cưa xăng xách tay, tổng số tiền thu nộp ngân sách Nhà nước gần 13 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các đoàn liên ngành cấp tỉnh, cấp huyện đã triển khai 52 đợt kiểm tra rừng, truy quét, triệt phá các điểm nóng về khai thác rừng trái phép để thu giữ lâm sản, xử lý người vi phạm theo quy định, góp phần ngăn chặn, hạn chế nạn khai thác gỗ trái phép, ổn đình tình hình tại khu vực giáp biên giới Việt - Lào, giáp ranh giới 02 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị, khu vực vùng lõi và vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Mặt khác, các lực lượng Công an, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã tích cực phối hợp với lực lượng kiểm lâm, chủ rừng và chính quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt là thực hiện tốt công tác chữa cháy rừng.
Năm 2016, các cơ quan chức năng, đơn vị chủ rừng và chính quyền địa phương trong tỉnh xác định tiếp tục bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, ngăn chặn hiệu quả tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; không để xảy ra các điểm nóng về phá rừng, khai thác rừng trái phép, giảm số vụ cháy và thiệt hại do cháy rừng gây ra tới mức thấp nhất; thực hiện tốt các dự án lâm nghiệp đạt chất lượng, đúng tiến bộ; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng rừng, trồng rừng, khai thác rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng theo đúng quy định, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp đi đôi với quản lý rừng bền vững.
Phát biểu tại hội nghị, Trưởng ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 đánh giá cao sự nỗ lực, cố gắng của các ngành chức năng trong việc triển khai đồng bộ, hiệu quả biện pháp quản lý bảo vệ rừng thời gian qua.
Về nhiệm vụ năm 2016, đồng chí yêu cầu các cấp, các ngành và địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng với nhiều hình thức đa dạng, phong phú; xây dựng thể chế, chính sách bảo vệ rừng hiệu quả; đẩy mạnh triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng cường bảo vệ rừng trước, trong và sau Tết Nguyên đán nhằm giảm thiểu tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản, bắt bẫy, sử dụng động vật hoang dã trái phép... (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Bình 18/12) đầu trang(
Rừng thông Lâm Hà tiếp tục bị triệt hạ Như Báo Lâm Đồng điện tử đã phản ánh tình trạng rừng thông 3 lá gần 20 năm tuổi, trong đó, nhiều cây có đường kính gốc gần một người ôm tại khu vực đền Hai Bà Trưng (xã Mê Linh) bị cưa hạ trái phép bằng cưa máy trong những ngày qua.
Ghi nhận của PV chiều ngày 10/12, số thông bị cưa hạ trên hiện vẫn còn bỏ nằm ngổn ngang tại hiện trường. Hàng chục cây thông trong số đó có vết cắt còn mới nguyên, lá vẫn xanh, thân và gốc đang tứa nhựa.
Theo một cán bộ kiểm lâm địa phương có mặt tại hiện trường, số thông bị cưa hạ trái phép này thuộc rừng trồng theo Chương trình 327, trồng năm 1997; thuộc lô B, khoảnh 2, tiểu khu 263A, lâm phần nằm trên địa bàn xã Mê Linh, do Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nam Ban (Ban QLRPH Nam Ban) quản lý. Số lượng thông bị cưa hạ trái phép diễn ra trong nhiều lần, được cán bộ quản lý bảo vệ rừng phát hiện, lập biên bản lần đầu vào tháng 9/2015, với số lượng 133 cây (số thông bị cưa hạ trái phép này đã được cơ quan chức năng thu gom vật chứng đưa về cất giữ tại Nhà Văn hóa xã Mê Linh – PV).
Cũng theo cán bộ kiểm lâm, vụ tàn phá rừng đã được báo cáo UBND huyện Lâm Hà và các cơ quan chức năng địa phương. Tuy nhiên, trong khi các cơ quan chức năng của huyện đang tiến hành điều tra, ngày 9/12, đối tượng lại tiếp tục dùng cưa máy cưa hạ hàng loạt thông tại cánh rừng trên.
Và chiều ngày 10/12, khi lực lượng chức năng đang chuẩn bị đo đếm số thông vừa bị cưa hạ tại khu vực trên, bất ngờ cụ ông Nguyễn Văn Đúng (78 tuổi, ngụ thôn 3, xã Mê Linh, nhà ngay bìa rừng), xuất hiện cùng chiếc cưa máy và tự nhận mình là người cưa hạ toàn bộ số thông trên. Để chứng minh mình còn đủ sức cưa hạ số thông này, cụ Đúng nổ máy cưa hạ liên tiếp 3 cây thông trước mặt cán bộ Ban QLRPH Nam Ban và kiểm lâm địa bàn.
Giải thích về hành vi cưa hạ thông, cụ Đúng thản nhiên cho biết: “Chính tay tôi cưa hạ thông, vì rừng thông 5,5 ha này do tôi trồng năm 1997 theo Chương trình 327”. Cũng theo cụ Đúng, năm 1984, cụ từ Vĩnh Phúc vào Lâm Hà lập nghiệp theo chương trình kinh tế mới. Năm 1987, gia đình bỏ công khẩn hoang, khai phá quả đồi trên lấy đất sản xuất trồng ngô, khoai…
Năm 1992, cụ viết đơn xin Lâm trường Nam Ban trồng bạch đàn (có xác nhận của Chủ tịch UBND xã Mê Linh lúc bấy giờ). Sau đó (năm 1997), rừng bạch đàn bị đốn trộm, bị cháy, bị người dân lấn chiếm đất chỉ còn 5,5 ha, gia đình lại có đơn xin chuyển đổi sang trồng thông và đều được Lâm trường Nam Ban, UBND xã Mê Linh chấp nhận.
Nhiều năm qua, cụ Đúng liên tục làm đơn xin UBND huyện Lâm Hà cấp giấy CNQSDĐ cho diện tích rừng thông này nhưng huyện từ chối. Theo Văn bản số 2236/QĐ-UBND, ngày 31/8/2012 của UBND huyện Lâm Hà, lô đất cụ Đúng trồng rừng năm 1997 là thực hiện hợp đồng khoán trồng rừng với Lâm trường Nam Ban, cụ Đúng đã nhận tiền công đầy đủ, hiện nay khu vực này vẫn quy hoạch đất lâm nghiệp và do Ban QLRPH Nam Ban quản lý (UBND tỉnh Lâm Đồng cũng đã cấp giấy CNQSDĐ cho Ban QLRPH Nam Ban); do đó không thể cấp giấy CNQSDĐ cho cụ Đúng.
Tiếp đó, cụ Đúng lại khiếu nại lên tỉnh, ngày 4/1/2013, UBND tỉnh Lâm Đồng có Quyết định số 12/QĐ-UBND bác đơn của cụ. Sau đó, cụ Đúng đã có đơn khởi kiện Chủ tịch UBND huyện Lâm Hà, yêu cầu TAND hủy Quyết định 2236/QĐ-UBND, nhưng cả hai cấp tòa sơ thẩm, phúc thẩm TAND tỉnh Lâm Đồng đều bác đơn khởi kiện của cụ.
Ngày 25/4/2015, cụ Đúng làm đơn gởi các cơ quan chức năng của huyện xin “tỉa thưa” rừng thông. Theo cụ, do không cơ quan nào trả lời nên tự bỏ tiền mua cưa máy cưa thông để bán lấy tiền đong gạo. “Gia đình bỏ công sức quá nhiều mà không nhận được gì, nay già yếu rồi nên đốn hạ thông để lấy đất trồng hoa màu sinh sống… Đốn thông mà lòng xót lắm” – cụ Đúng bộc trực.
Mang vụ việc làm việc với Trưởng ban QLRPH Nam Ban Lê Hồng Nhân, nhưng ông Nhân từ chối trả lời với lý do huyện có văn bản chỉ đạo, giao việc phát ngôn cho Chánh Văn phòng UBND huyện. Tuy nhiên, với tư cách cá nhân, ông Nhân cho biết, khu vực rừng bị tàn phá trên từ trước đến nay vẫn là đất lâm nghiệp, còn rừng trồng theo Chương trình 327, nhưng 100% vốn đầu tư của nhà nước (từ khâu cây giống, trả công trồng, bảo vệ), nên việc cụ Đúng tự ý cưa hạ là sai luật.
Ngay như khi cánh rừng trên do gia đình cụ Đúng bỏ tiền đầu tư trồng thì lúc khai thác cũng phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép chứ không thể tự ý chặt hạ trái phép như vậy.
Theo Trưởng ban QLRPH Nam Ban, vụ việc sau khi Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà khởi tố vụ án, các cơ quan Công an, Hạt Kiểm lâm, Viện KSND huyện đã vào cuộc điều tra…, thì ngày 9 và 10/12, cụ Đúng vẫn tiếp tục vác cưa đến cưa hạ hàng loạt thông tại khu rừng trên.
Trưởng ban QLRPH Nam Ban bày tỏ quan điểm, để giữ được cánh rừng trên giờ rất cần có sự phối hợp của các cơ quan chức năng. Bởi nhà cụ Đúng ở ngay bìa rừng, khi anh em cán bộ kiểm lâm vừa quay lưng, cụ lại vác cưa lên hạ thông. Vì tính nhân đạo, sự nể nang do cụ Đúng đã lớn tuổi, trong khi anh em chỉ biết giải thích, tuyên truyền về Luật Bảo vệ rừng chứ không được phép bắt giữ người. (Môi Trường Và Đời Sống 17/12) đầu trang(
Nậm Manh là xã vùng cao của huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, những năm qua, ngoài việc tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh biên giới, xã còn quan tâm làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và phát triển vốn rừng. Góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn xã đạt trên 40% tổng diện tích rừng của xã.
Huổi Héo là một trong những địa phương điển hình của xã về chăm sóc, bảo vệ rừng. Để có được kết quả đó, bản đã phối hợp với các đoàn thể, ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến Nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của rừng và những nguồn lợi rừng mang lại. Do đó, người dân trong bản đã nhận thức sâu sắc về lợi ích từ rừng nên rất có ý thức giữ rừng, gắn bó với rừng. Anh Sùng A Lâu – Trưởng bản Huổi Héo cho biết: “Bản chúng tôi luôn coi trọng việc bảo vệ rừng. Vì rừng không chỉ giữ nguồn nước, đem lại nguồn thu đáng kể cho người dân, mà dịch vụ bảo vệ môi trường rừng đã góp phần nâng cao mức sống cho bà con”.
Xã Nậm Manh có 5 bản gồm 2 dân tộc (Mông và Khơ Mú) cùng sinh sống, hiện nay, bản có trên 6.000 ha đất có rừng. Để nâng cao hiệu quả của công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, xã đã thành lập các Ban Chỉ đạo (BCĐ) quản lý bảo vệ, phòng cháy chữa cháy và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hàng năm, BCĐ tham mưu cho UBND xã ban hành chỉ thị, kế hoạch công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. Các thành viên BCĐ được phân công nhiệm vụ xuống các bản tuyên truyền, triển khai và tổ chức cho Nhân dân ký cam kết bảo vệ rừng. Đến nay, 5/5 bản đã cam kết, xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng.
BCĐ xã cũng đã phối hợp với cán bộ kiểm lâm địa bàn, cán bộ bản tăng cường lực lượng tại các bản trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; kiểm tra, hướng dẫn kỹ thuật đốt nương rẫy; kiện toàn, củng cố và duy trì 10 tổ, đội xung kích phòng cháy, chữa cháy rừng tại các bản. Nhờ chủ động và có triển khai hiệu quả nhiều biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng nên nhiều năm qua, xã Nậm Manh không xảy ra cháy rừng, tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy giảm đáng kể, rừng ngày càng thêm xanh góp phần ổn định đời sống Nhân dân. Hiện nay, tỷ lệ che phủ rừng toàn xã đạt trên 40% tổng diện tích rừng của xã.
Ông Tống Văn Trài – Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Manh cho biết: “Xác định rừng mang lại nhiều lợi ích cho Nhân dân, xã thường xuyên chỉ đạo, tuyên truyền các bản quan tâm làm tốt công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Nhờ vậy, tình trạng chặt phá rừng không còn, người dân đã có ý thức bảo vệ rừng”. Không chỉ vậy, rừng ở Nậm Manh còn góp phần quan trọng bảo vệ nguồn nước cho các công trình thủy điện; bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy kinh tế, xã hội của địa phương phát triển. (Môi Trường Và Đời Sống 19/12) đầu trang(
Ngày 20-12, Cục Kiểm lâm ra thông báo cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở cấp nguy hiểm (cấp IV) tại bốn tỉnh: Bà Rịa- Vũng Tàu, Đác Lắc, Gia Lai, Kon Tum do nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài.
Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương nói trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Lợi dụng việc trồng keo nguyên liệu, nhiều cánh rừng và đất lâm nghiệp tại địa bàn các vùng giáp ranh giữa huyện Bắc Trà My với các huyện phụ cận Phú Ninh, Tiên Phước, Hiệp Đức và Nam Trà My liên tục bị xâm hại, ảnh hưởng đến tình hình chung về an ninh trật tự tại các địa phương.
Khu vực rừng giáp ranh giữa 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kon Tum là khu vực có hệ sinh thái đa dạng, phong phú, trữ lượng gỗ lớn, có những loài động - thực vật và dược liệu quý hiếm, đặc hữu của vùng Đông, Tây Trường Sơn hội tụ. Vì thế, rừng ở đây dễ bị nhiều đối tượng xâm hại.
Các huyện Bắc Trà My, Nam Trà My, Núi Thành (tỉnh Quảng Nam) giáp với huyện Bình Sơn, Trà Bồng, Tây Sơn, Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi) với chiều dài khoảng 100km; huyện Phước Sơn, Nam Trà My giáp với huyện Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon Plong, Đăk Tô (Kon Tum) với chiều dài 160km. Hầu hết, các khu vực này được che chắn bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ, có tính đa dạng về hệ sinh thái, chính vì vậy thường tập trung các “điểm nóng” phá rừng ở đây. Mặt khác, đường Hổ Chí Minh, Đông Trường Sơn... mở ra thông suốt, tạo điều kiện cho nạn phá rừng gia tăng.
Do địa bàn rộng, địa hình hiểm trở, nằm xa trung tâm nên rất khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Thời gian qua, lực lượng kiểm lâm 3 tỉnh đã ban hành quy ước phối hợp, trao đổi thông tin liên tục về công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR). Hình thức thông tin thể hiện bằng văn bản, điện thoại, trao đổi trực tiếp... Vào những thời điểm lâm tặc hoành hành, kiểm lâm cơ động các địa phương đã cùng nhau tuần tra, truy quét.
Ngành kiểm lâm của 3 địa phương đã thống nhất thời gian đến, cần tăng cường tần suất kiểm tra, tuần tra, truy quét, chế độ giao ban, thông tin thường xuyên và kịp thời. Ngoài ra, triển khai đồng bộ giữa chính quyền các cấp, lực lượng kiểm lâm, chủ rừng, kiểm lâm địa bàn trong công tác QLBVR
Theo ông Diệp Thanh Phong -Phó Giám đốc sở NN&PTNT Quảng Nam, việc 3 địa phương đã sửa đổi bổ sung Quy ước phối hợp thành Quy chế phối hợp năm 2012 cho thấy tinh thần hợp tác lâu dài, bền vững trong nhiệm vụ QLBVR. Từ hiệu quả giữ rừng ở vùng giáp ranh Quảng Nam -Quảng Ngãi - Kon Tum, các huyện giáp ranh trong tỉnh có thể áp dụng nghiên cứu, vận dụng cho phù hợp với thực tiễn địa phương mình.
Với diện tích trên 26 nghìn ha, rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa có chiều dài giáp ranh giữa Đà Nang và Quảng Nam khoảng 30km. Tình trạng chồng lấn về ranh giới rừng giữa 2 địa phương đã gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Một số đối tượng đã lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý để khai thác gỗ trái phép. Trước thực trạng trên, tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng đã phối hợp các phương án bảo vệ rừng.
Từ năm 2013 đến nay, Hạt Kiểm lâm các huyện Đông Giang, Nam Giang, Đại Lộc và Hòa Vang (TP. Đà Nẵng) đã phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các cơ quan chức năng của các huyện, xã thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp tổ chức 20 đợt truy quét, phát hiện nhiều vụ phát, lấn chiếm rừng, -vận chuyển gỗ trái phép, đẩy đuổi hàng chục lượt người ra khỏi rừng...
Các khu vực rừng giáp ranh là khu vực nhạy cảm, nếu không có sự phối hợp và những thỏa thuận chặt chẽ giữa các địa phương sẽ tạo cơ hội cho các thành phần xâm hại rừng. Quảng Nam là tỉnh có diện tích rừng lớn, rừng đầu nguồn có vai trò rất quan trọng. Mặt khác, hệ thống rừng có nhiều động, thực vật quý hiếm nên công tác bảo vệ rừng rất quan trọng. Việc tăng cường phối hợp giữa các địa phương và với các vùng lân cận đã giúp Quảng Nam tăng hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 17/12) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Công văn số 1581/UBND-NNTN gửi các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố về việc tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn tỉnh trong mùa khô năm 2015 - 2016.
Nội dung công văn nêu rõ: Từ đầu năm 2015 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ cháy rừng gây thiệt hại 19,38 ha. Dự báo trong mùa khô năm 2015 - 2016, nguy cơ cháy rừng sẽ ở mức cao do thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường.
Thêm vào đó là tình trạng khai thác lén lút lâm sản vẫn xảy ra ở một số nơi có nhiều diện tích rừng tự nhiên. Chính vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương trong thời gian tới cần chú trọng thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể, yêu cầu UBND các huyện, thành phố kiện toàn, ban hành quy chế hoạt động của BCĐ về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng các cấp; chỉ đạo UBND cấp xã và các ngành liên quan thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR; đồng thời xây dựng kế hoạch phối hợp giữa các lực lượng liên quan nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng và PCCCR năm 2016.
Đối với các sở, ban, ngành liên quan, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu tăng cường phối hợp với Sở NN&PTNT trong thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt, yêu cầu Công an tỉnh và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh chủ động phối hợp với lực lượng Kiểm lâm thực hiện tốt Quyết định số 227/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội trong bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn tỉnh. (Báo Hòa Bình 18/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ đầu năm 2015 đến nay, BQL bảo vệ rừng phòng hộ Kỳ Sơn đã chi trả 3/6 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng cho 108 nhóm hộ với hơn 1.000 hộ dân, bao gồm 9 xã, bảo vệ 24.555,7 ha rừng tập trung ở lưu vực thuộc thủy điện bản Vẽ.
Ông Cao Văn Quỳnh - Trưởng BQL rừng phòng hộ Kỳ Sơn cho biết: Số tiền 3 tỷ đồng còn lại sẽ được BQL bảo vệ rừng phòng hộ Kỳ Sơn chi trả vào tháng 2/2016. Nhờ từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đã góp phần quan trọng trong việc quản lý bảo vệ rừng, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho đồng bào rẻo cao Kỳ Sơn yên tâm bảo vệ rừng. (Báo NGhệ An 20/12) đầu trang(
Ngày 19/12, Trung tâm Con người và Thiên nhiên phối hợp với Ban vận động thành lập Hội chủ rừng Việt Nam tổ chức “Hội nghị xúc tiến thành lập Hội chủ rừng Việt Nam : Cơ hội duy trì và nhân rộng mô hình ban lâm nghiệp cộng đồng” tại TP. Đà Nẵng.
Hội nghị là diễn đàn giúp các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về khó khăn, thách thức và đề xuất cơ hội cải thiện công tác quản lý rừng tại các địa phương hiện nay, đặc biệt đối với các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Hội chủ rừng được thành lập nhằm tập hợp, đoàn kết, hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo quy định của pháp luật; cầu nối giữa các hội viên, thành viên của hội với các cơ quan nhà nước trong việc đóng góp ý nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách của của Nhà nước đối với chủ rừng, chính sách về quản lý vững bền rừng và đất rừng của các chủ rừng đã được nhà nước giao, cho thuê, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng theo pháp luật hiện hành; thúc đẩy hội nhập quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, cùng có lợi, tuân thủ theo quy định của pháp luật và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc công nhận.
Hiện nay, ngoài 21 thành viên, Ban vận động thành lập Hội đã tiếp nhận thêm 192 đơn của các tổ chức và cá nhân tự nguyện xin gia nhập Hội chủ rừng Việt Nam.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã có những đánh giá về thực trạng quản lý rừng và nhu cầu của các chủ rừng sau khi được giao rừng, đất lâm nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ. Hội nghị cũng thảo luận về tính phù hợp, khả năng nhân rộng và thể chế hóa mô hình, đồng thời tham gia vào tiến trình thực thi VPA/FLEGT của Ban Lâm nghiệp Cộng đồng, mà PanNature và WWF đang xây dựng, vận hành tại 07 tỉnh dọc miền Trung,
Đồng thời, Hội nghị cũng là dịp để giới thiệu và tham vấn các bên về ý tưởng thành lập Hội chủ rừng Việt Nam và nội dung dự thảo Điều lệ của Hội. Sáng kiến Hội chủ rừng Việt Nam đang được Ban vận động thành lập Hội chủ rừng Việt Nam thúc đẩy nhằm đảm bảo nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ rừng theo đúng các quy định pháp luật hiện hành; công tác chuẩn bị cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong tương lai. (Kinh Tế Nông Thôn 19/12) đầu trang(
Hết tháng 11, trong khi xuất khẩu nông sản và thủy sản rơi vào tình trạng sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước thì riêng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lại vẫn thẳng đường tăng trưởng. Để lý giải điều này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.
Đầu năm mục tiêu xuất khẩu đặt ra là 7 tỷ USD. Tính tới hết tháng 11, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã đạt 5,8 tỷ USD, riêng tháng 12 phấn đấu xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD. Như vậy, xuất khẩu cả năm sẽ đạt 7 tỷ USD, cán đích mục tiêu đặt ra.
Trước hết, đó là do nhu cầu thị trường. Nhu cầu tiêu dùng gỗ trên thế giới vẫn đang đà tăng lên. Hiện nay, cả thế giới nhu cầu tiêu dùng gỗ khoảng 220-230 tỷ USD/năm. Riêng thị trường EU khoảng 85 tỷ USD/năm; thị trường Mỹ khoảng 27 tỷ USD/năm. Như vậy, dung lượng thị trường còn rất lớn. Trong khi đó, Việt Nam mới xuất khẩu vào Mỹ khoảng 1-2 tỷ USD/năm, xuất khẩu vào EU 700-800 triệu USD/năm thì chưa thấm gì so với nhu cầu tiêu dùng.
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu đồ gỗ uy tín trên thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế rất thích ký hợp đồng với Việt Nam khiến đơn hàng xuất khẩu thường lúc nào cũng đầy. Trong năm nay, xuất khẩu đạt 7 tỷ USD cũng là trong tình trạng đơn hàng đầy chứ không phải vất vả tìm kiếm đơn hàng. Vấn đề chỉ là doanh nghiệp Việt Nam có đáp ứng được hay không.
Ở một góc độ khác quan trọng hơn là các doanh nghiệp Việt Nam có kinh nghiệm xuất khẩu gỗ tới nay đã khoảng 20 năm nên rất quen thuộc về mẫu mã, tiêu chuẩn… mà thị trường nhập khẩu đặt ra. Từ đó, doanh nghiệp thành thạo trong việc sử dụng các loại nguyên liệu để tạo ra sản phẩm đạt được yêu cầu thị trường. Bên cạnh đó, do xuất khẩu nhiều năm các doanh nghiệp cũng đã tổng kết để tổ chức lại sản xuất cho hợp lý. Trong sử dụng các dây chuyền công nghệ chế biến, cái gì có hại thì doanh nghiệp bỏ đi và ngược lại có lợi thì tăng lên. Ví dụ, trước đây doanh nghiệp chế biến gỗ có tới 30 thao tác nhưng giờ rút ngắn chỉ còn 15-20 thao tác. Điều này khiến năng suất tăng lên.
Doanh nghiệp ngành gỗ khá nhạy bén và chủ động trong vấn đề này cho nên đây cũng không phải là điều làm khó doanh nghiệp. Trên thực tế nhiều doanh nghiệp chỉ vay vốn từ ngân hàng ở một mức độ nhất định, còn đâu doanh nghiệp chủ động làm việc với đối tác nước ngoài để có thể ứng trước vốn.
Cụ thể, doanh nghiệp đã ký hợp đồng với đối tác nước ngoài và đảm bảo chất lượng, sau đó trình bày thiếu vốn, yêu cầu đối tác ứng trước một phần tiền. Thông thường, đối tác nước ngoài sẽ sẵn sàng ứng khoảng 1/3 tổng số tiền. Ví dụ, 30 triệu USD thì đối tác chấp nhận ứng trước 10 triệu USD. Lãi suất doanh nghiệp chịu cho khoản tiền ứng trước này áp dụng như ở nước ngoài, rẻ hơn nhiều so với mức lãi suất vay của ngân hàng trong nước. Đây là sáng kiến của riêng doanh nghiệp ngành gỗ mà chưa ngành nào làm được.
AEC hình thành khá thuận lợi cho xuất khẩu gỗ. Bởi các doanh nghiệp ngành gỗ đã giao thương với các doanh nghiệp nội khối AEC mấy chục năm, mua bán đều thuận lợi. Khi AEC chính thức thực thi chỉ đơn giản là hợp thức hóa mối quan hệ giao thương, đi lại giữa doanh nghiệp đôi bên dễ dàng hơn. Dự kiến, năm 2016 xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sẽ tăng khoảng 10% so với năm nay, đạt 7,7 tỷ USD. (Đầu Tư 20/12) đầu trang(
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, làm thế nào để tiếp cận thị trường với lợi thế tốt nhất là vấn đề đang đặt ra đối với các ngành sản xuất, trong đó có ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên, làm sao để gắn kết chặt chẽ hơn giữa sản xuất và chế biến để nâng cao giá trị rừng trồng đang là vấn đề đặt ra hiện nay.
Với 132 nghìn héc ta rừng sản xuất, trong đó có 80 nghìn héc ta rừng keo là tiềm năng rất lớn của tỉnh Quảng Trị trong việc về sản xuất lâm nghiệp. Hàng năm, tỉnh Quảng Trị có sản lượng hơn 1,5 triệu m3gỗ, không chỉ cung ứng đủ cho các nhà máy chế biến gỗ trong tỉnh mà còn tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.
Lợi thế này được xác định công nghiệp chế biến gỗ sẽ là một trong những ngành sản xuất chủ yếu của tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, nguồn cung ứng gỗ phải minh bạch và hợp pháp mới phát huy được.
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị nói: “Để làm được điều đó, đòi hỏi trồng rừng nguyên liệu phải ứng dụng các khoa học kỹ thuật để tạo ra năng suất, chất lượng của rừng nhiều hơn và nâng cao giá trị của rừng ngày càng cao hơn trên 1 héc ta”.
Xuất phát từ tiềm năng và lợi thế đất đai, tỉnh Quảng Trị đang có đủ điều kiện để định hướng đưa ngành sản xuất chế biễn gỗ rừng trồng thành ngành sản xuất công nghiệp chính.Tuy nhiên, để nguyên liệu rừng bán được trên thị trường thuận lợi thì các chủ rừng phải đáp ứng các yêu cầu về khai thác, chế biến theo quy định. Trước hết, việc khai thác phải được cho phép của cơ quan chức năng tùy theo nguồn gốc của rừng; mặt khác, gỗ chế biến cần phải ưu tiên cho các sản phẩm như ván ghép thanh, viên nén năng lượng vì thị trường như Mỹ và Châu Âu rất ưa chuộng.
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cho biết thêm: “Chúng ta hiện nay cũng dần dần phải trồng cây dài ngày để tạo gỗ lớn, để có nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ. Hiện nay, các nhà máy chế biến gỗ ở Quảng Trị đang được tỉnh Quảng Trị quan tâm, đồng thời các nhà máy này cũng là nơi tiêu thụ nông sản cho nông dân”.
Trong chuỗi giá trị từ việc trồng, khai thác cho đến dịch vụ buôn bán và chế biến nó phải theo một trật tự quy định của nhà nước. Vì vậy, Quảng Trị có tiềm năng đất đai, nhân dân đang tập trung sản xuất lâm nghiệp lớn thì sẽ có khả năng đưa năng suất, giá trị rừng trồng ngày càng cao, tạo ra đóng góp cho GDP của tỉnh ngày càng lớn hơn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 20/12) đầu trang(
Tu Mơ Rông là một huyện nghèo nhất của tỉnh, có 11 xã đặc biệt khó khăn. Nhưng ngược lại, Tu Mơ Rông lại được thiên nhiên ưu đãi khí hậu quanh năm mát mẻ và đặc biệt là vùng đất có nhiều loại cây dược liệu quý. Ngoài cây quốc gia - sâm Ngọc Linh, Tu Mơ Rông còn nhiều loại cây dược liệu có thể phát triển như: Đẳng sâm (gọi là sâm dây), sâm đương quy, ngũ vị tử...
Từ những lợi thế đó, huyện Tu Mơ Rông đã ban hành chủ trương, nghị quyết đã xác định và chủ trương phát triển 7 loại cây trồng chủ lực cho phát triển kinh tế của huyện, là hướng thoát nghèo của người dân, trong đó có sâm Ngọc Linh, sâm dây, ngũ vị tử. Đặc biệt, Huyện ủy Tu Mơ Rông đã ban hành Chương trình số 36 về phát triển ngành kinh tế mũi nhọn và các sản phẩm chủ lực của huyện, trong đó xác định các loại cây dược liệu vẫn là loại chủ lực để thúc đẩy kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân.
Huyện đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến người dân về việc trồng sâm dây xóa đói giảm nghèo, hàng năm ưu tiên tập trung nguồn lực nhất định hỗ trợ cây giống và khuyến khích đồng bào dân tộc trong huyện phát triển diện tích cây trồng này. Đồng thời, xây dựng chính sách kêu gọi, thu hút doanh nghiệp đầu tư, phát triển các loại cây dược liệu, xây dựng nhà máy chế biến dược liệu.
Đặc biệt, huyện Tu Mơ Rông cũng có những chính sách nhằm phát triển cây dược liệu quý này và giúp người dân thoát nghèo. Bằng nguồn vốn sự nghiệp khoa học công nghệ của huyện, đội ngũ cán bộ kỹ thuật Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thu gom quả sâm dây trong tự nhiên, tự ươm giống, xây dựng thành quy trình và trực tiếp cầm tay chỉ việc, hướng dẫn cho người dân và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển dược liệu.
Vì vậy, hiện các loại cây dược liệu đó đã và đang được nhân dân tập trung phát triển. Trong đó, diện tích sâm Ngọc Linh, sâm dây và sâm đương quy phát triển mạnh nhất. Đến nay, toàn huyện Tu Mơ Rông đã phát triển được khoảng gần 179 ha sâm Ngọc Linh (trong đó, nhân dân tự trồng khoảng 2 ha, còn lại chủ yếu của các doanh nghiệp trồng trên địa bàn). Sâm dây cũng có khoảng 30 - 40 ha, trong đó, Nhà nước hỗ trợ khoảng 15 ha, còn lại do nhân dân tự trồng. Còn sâm đương quy hiện người dân đã phát triển được 10 ha ở xã Ngọc Lây và cây ngũ vị tự do người dân chủ yếu trồng xen ở các tán rừng, rẫy...
Riêng đối với sâm dây thì xã Măng Ri là địa phương phát triển mạnh nhất. HĐND xã đã ban hành nghị quyết phấn đấu ít nhất mỗi hộ phát triển ít nhất một sào sâm dây. Từ Nghị quyết này, xã đã tiến hành vận động nhân dân phát triển loại cây trồng này. Măng Ri đang phát triển mạnh loại cây này với tổng diện tích toàn xã khoảng 30 ha. Mỗi hộ có ít nhất từ 0,5 sào đến 1ha. Hầu hết các hộ dân đã tận dụng nương rẫy trồng xen giữa các loại cây trồng khác như cà phê, bời lời, lúa rẫy.
Đáng mừng là với nguồn nguyên liệu sẵn có của sâm dây ở Tu Mơ Rông, một doanh nghiệp tư nhân là Công ty TNHH Thái Hòa, TP Kon Tum đã nghiên cứu và chế biến từ sâm dây thành những sản phẩm được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng như rượu sâm dây, trà hòa tan sâm dây… và sản xuất các loại thuốc, thực phẩm chức năng từ các loài dược liệu đặc hữu này của núi rừng Ngọc Linh.
Để thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững, huyện đã có chủ trương tiếp tục phát triển các loại cây trồng trên. Chủ trương trên được Huyện ủy xác định khá rõ trong Chương trình số 36, ngày 17/10/2013 về việc thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TU ngày 27/7/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực.
Theo đó, huyện Tu Mơ Rông xác định ngành kinh tế mũi nhọn là nông, lâm nghiệp là đẩy nhanh việc phát triển diện tích cây lâu năm, trồng rừng và các loại dược liệu như: Sâm Ngọc Linh, sâm dây, ngũ vị tử... Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, mở rộng diện tích sâm Ngọc Linh toàn huyện khoảng 500 ha, trong đó, liên kết với doanh nghiệp phát triển khoảng 470 ha, còn lại là nhân dân tự trồng; phát triển khoảng 100 ha cây ngũ vị tử, 250 ha sâm dây và quản lý, phát triển rừng nguyên liệu...
Để đạt được mục tiêu trên, huyện Tu Mơ Rông chú trọng xây dựng các mô hình khuyến nông - khuyến lâm chuyển giao kỹ thuật; nhân rộng mô hình giảm nghèo; Củng cố, mở rộng diện tích và nâng cao sản lượng các cây trồng có giá trị kinh tế như: Sâm Ngọc Linh, sâm dây, sơn tra, ngũ vị tử, sâm đương quy...
Trong đó, riêng với sâm Ngọc Linh tiếp tục triển khai các dự án trồng dưới tán rừng bằng hình thức liên kết giữa doanh nghiệp và nhân dân, đầu tư hỗ trợ giống và hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật. Đối với cây dược liệu khác là sâm dây, ngũ vị tử, sơn tra, sâm đương quy thì rà soát, quy hoạch quỹ đất, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang trồng chuyên canh hoặc xen canh…
Ông Hà Hồng Duy, Phó Chủ tịch UBND huyện Tu Mơ Rông khẳng định: Trong thời gian tới, để phát triển vùng nguyên liệu, về định hướng quy hoạch, huyện sẽ quy hoạch sản xuất về nông lâm nghiệp của 11 xã hiện nay đang lập theo chương trình xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, từ các nguồn vốn sự nghiệp KHCN của huyện, Chương trình 135, 30a... hỗ trợ cho nhân dân về giống và tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm từ các loại cây dược liệu.
Cùng với đó, huyện Tu Mơ Rông cũng đã và đang phối hợp với các cơ quan chức năng của tỉnh trong công tác thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế đến đầu tư đối với các sản phẩm có thế mạnh của huyện đối với các loại cây trồng nói trên. Bên cạnh đó, khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp thực hiện bao tiêu sản phẩm, xây dựng nhà máy chế biến đối với các loại cây trồng mũi nhọn trên của huyện…
Để các loại cây dược liệu tiếp tục phát triển, huyện Tu Mơ Rông đã có những cách làm sáng tạo, chủ động liên kết với các doanh nghiệp để vừa phát triển diện tích vừa tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm. Hiện, huyện đã phối hợp với Công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh liên kết với người dân trồng, chăm sóc diện tích sâm Ngọc Linh. Hiện tại Công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh đã trồng được 169 ha, tạo công ăn việc làm thường xuyên cho khoảng 70 lao động tại chỗ và mức lương bình quân 3 triệu đồng/tháng. Công ty cũng đang liên kết với các hộ dân tại xã Măng Ri, Tê Xăng để mở rộng diện tích trồng trong dân với diện tích khoảng 8 ha và sau này khi thu hoạch sẽ ăn chia theo sản phẩm.
Tương tự, đối với sâm đương quy, huyện, các xã đã và đang khuyến khích, liên kết với doanh nghiệp bao tiêu sản và tại xã Ngọc Lây đã liên kết với Công ty TNHH Thái Hòa Kon Tum và đơn vị này đã đảm bảo bao tiêu toàn bộ sản phẩm của bà con làm ra.
Ông A Hơn, Chủ tịch UBND huyện Tu Mơ Rông cho biết: Từ hiệu quả của mô hình trồng sâm đương quy và sự liên kết với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm ở Ngọc Lây, huyện sẽ tiếp tục chỉ đạo các xã khác trên địa bàn nhân rộng mô hình này. Đồng thời, tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết, liên doanh với các xã đầu tư cho nhân dân trồng và bao tiêu sản phẩm sau thu hoạch, hoặc xây dựng nhà máy chế biến trên địa bàn..
Tuy nhiên, để cây dược liệu trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông phát triển, nhất là sâm Ngọc Linh, huyện Tu Mơ Rông đã đề xuất với tỉnh nên xây dựng đề án bảo tồn và phát triển Sâm Ngọc Linh; Phối hợp với các bộ, ngành xây dựng sản phẩm thương hiệu sâm Ngọc Linh thành thương hiệu quốc gia, đề nghị tỉnh, Chính phủ có chính sách đặc thù thu hút đầu tư, mở rộng diện tích sâm Ngọc Linh; có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người dân trong vùng quy hoạch trồng để mở rộng diện tích. Có cơ chế đặc biệt giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương bảo vệ vùng sản xuất sâm Ngọc Linh để hạn chế xâm hại tới vùng sâm và tích cực quảng bá thương hiệu, chế biến sản phẩm từ sâm Ngọc Linh...
Ngoài ra, tỉnh cũng có chủ trương, cơ chế, chính sách, cũng như giao đất, thuê đất cho hộ gia đình và doanh nghiệp phát triển sâm Ngọc Linh nói riêng và cây dược liệu nói chung và cần cụ thể hóa để huyện triển khai thuận lợi.
Hy vọng với sự chủ động, giải pháp hợp lý cũng như sự hỗ trợ, quan tâm từ tỉnh, T.Ư, Tu Mơ Rông sẽ phát huy tiềm năng lợi thế, thúc đẩy phát triển mạnh các loại cây dược liệu trên địa bàn để vừa để thúc đẩy phát triển kinh tế cũng như để thoát nghèo bền vững... (Giao Thông 20/12) đầu trang(
Hàng nghìn mét vuông đất ở khu vực rừng Hải Vân, P.Hòa Hiệp Bắc, Q.Liên Chiểu (TP Đà Nẵng) bị một người dân xây dựng tường rào cổng ngõ, nhà rường rất hoành tráng suốt nhiều năm.
Điều đáng nói là vụ xây nhà trái phép trên đất rừng chỉ cách Trạm kiểm lâm Suối Lương 300m nhưng không bị xử lý.
Theo quan sát, trong khu đất rộng bạt ngàn này, ngoài căn nhà rường lớn còn có một ngôi nhà cấp 4. Khu vườn được chủ nhân cho xây dựng một con đường bêtông lớn chạy xuyên qua, nhiều cây cổ thụ được trồng tạo bóng mát mang dáng dấp của một khu du lịch.
Chủ của ngôi nhà trên là ông Lê Tiến Dũng, trú P.Hòa Khánh Bắc, Q.Liên Chiểu.
Theo ông Trương Việt - chủ tịch UBND P.Hòa Hiệp Bắc, sau khi thi công xong hầm đường bộ Hải Vân, đơn vị thi công đã bàn giao lại khu đất này cho Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân (nay là Hạt kiểm lâm Liên Chiểu), chứ UBND P.Hòa Hiệp Bắc không quản lý.
Ông Việt cho biết vào tháng 8 vừa qua, Hạt kiểm lâm Liên Chiểu đã bàn giao rừng và đất lâm nghiệp cho địa phương quản lý, tuy nhiên phía UBND P.Hòa Hiệp Bắc không đồng ý nhận 49 trường hợp (với hơn 127ha đất).
Trong số ấy có khu đất của ông Dũng hiện nay. Lý do theo ông Việt là toàn bộ diện tích này đều thuộc diện xây dựng, lấn chiếm hoặc chuyển nhượng đất trái phép...
Vì vậy theo ông Việt: “Khi nào Hạt kiểm lâm Liên Chiểu giải quyết xong những vướng mắc này thì địa phương mới nhận bàn giao 49 trường hợp này”.
Trong khi đó ông Nguyễn Văn Truyền, hạt trưởng Hạt kiểm lâm Liên Chiểu, nói ngược lại: “Khu đất này trước đây đơn vị thi công hầm đường bộ Hải Vân sử dụng làm bãi tập kết vật liệu nhưng sau đó họ trả cho UBND P.Hòa Hiệp Bắc quản lý”.
Theo ông Truyền, trong hồ sơ giao khoán đất lâm nghiệp do Ban quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân thực hiện trước đây, ông Dũng không có tên trong danh sách hộ được giao khoán. Thế nhưng, qua đo đạc thực tế cho thấy ông này đang sở hữu 15.000m2 đất lâm nghiệp.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trần Văn Lương, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng, nói ông hoàn toàn không biết về vụ việc này vì cấp dưới không hề báo cho ông.
“Nếu có công trình xây dựng trái phép như vậy thì trách nhiệm thuộc về kiểm lâm và sắp tới chi cục sẽ cho kiểm tra để có hướng xử lý nghiêm” - ông Lương nói. (Tuổi Trẻ 19/12) đầu trang(
Dự án phục hồi và quản lý rừng bền vững tại Quảng Ninh do Chính phủ Cộng hoà liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua Ngân hàng tái thiết Đức (gọi tắt là dự án KFW3-PHA III) được triển khai tại 6 xã của 3 huyện, thị là Tràng Lương (TX Đông Triều); Yên Than, Điền Xá (huyện Tiên Yên); Đạp Thanh, Thanh Sơn, Thanh Lâm (huyện Ba Chẽ) trong thời gian 8 năm (từ 2007 đến 2013) với mục tiêu trồng mới và khoanh nuôi tái sinh trên 4.200ha rừng. Tính đến thời điểm kết thúc dự án (năm 2013), 6 xã nói trên đã trồng được gần 4.100ha rừng, đạt trên 97% mục tiêu, trong đó gần 2.100ha rừng trồng mới; trên 2.000ha rừng khoanh nuôi tái sinh.
Hiện nay toàn bộ diện tích này đang sinh trưởng và phát triển tốt, trong đó rừng trồng mới chủ yếu là cây thông đều đã khép tán, sức sống tốt, mức độ vươn sáng mạnh mẽ; diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh rất đa dạng sinh học với nhiều chủng loại cây, rừng nhiều tầng tán và các loại cây, tầng tán rừng đều phát triển xanh tốt, làm giàu vốn rừng. Đặc biệt nhiều diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh đã và đang mang lại nguồn thu, cải thiện đời sống cho người dân từ việc khai thác nguồn lâm sản phụ trong rừng.
Sở dĩ toàn bộ diện tích rừng trồng mới và khoanh nuôi tái sinh thuộc dự án KFW3-PHA III nói trên đạt kết quả tốt như hiện nay xuất phát từ cách quản lý, tổ chức thực hiện dự án rất chặt chẽ, khoa học của chủ đầu tư dự án. Khác với các dự án trước, dự án KFW3-PHA III chỉ giao cho mỗi hộ tham gia dự án tối đa không quá 2ha, nhằm tập trung được hết năng lực và trách nhiệm của mỗi hộ gia đình vào diện tích được giao, tránh dàn trải, không làm hết, bỏ đất trống hoặc hiệu quả trồng, chăm sóc rừng thấp.
Công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của các bộ phận điều hành dự án tại cơ sở rất bài bản, cụ thể và nghiêm túc, giám sát nghiêm ngặt theo đúng quy trình, quy định. Ngoài ra, toàn bộ số tiền công của người dân tham gia dự án kể từ khi phát dọn thực bì đến trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đều được gửi vào tài khoản tiền gửi cá nhân được mở tại các chi nhánh ngân hàng nông nghiệp thuộc 3 huyện trong dự án.
Người dân tham gia dự án sẽ được rút tiền trong tài khoản của mình theo từng giai đoạn sau khi đã được nghiệm thu khối lượng công việc. Riêng đối với các gia đình là người dân tộc thiểu số, chủ tài khoản là phụ nữ. Chính bởi vậy nên đã nâng cao tinh thần trách nhiệm của người dân tham gia dự án trong việc trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, đồng thời bảo toàn được tài khoản tiền gửi.
Đến thời điểm hiện nay, dự án KFW3-PHA III đã kết thúc, bộ máy quản lý thuộc dự án KFW3-PHA III tại địa phương đã giải thể; nguồn kinh phí hỗ trợ ngày công cho người dân tham gia dự án cũng không còn, toàn bộ thành quả gần 4.100ha diện tích rừng trồng mới và khoanh nuôi tái sinh thuộc dự án đã và đang được chuyển giao lại cho chính quyền 3 địa phương Đông Triều, Tiên Yên và Ba Chẽ. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao hỗ trợ, giúp đỡ người dân tiếp tục chăm sóc, bảo vệ, khai thác rừng một cách bền vững nhằm tăng thu nhập cho người trồng rừng, từ đó giảm nghèo, cải thiện đời sống kinh tế gia đình.
Có thể thấy một nguyên nhân quan trọng làm nên thành công dự án KFW3-PHA III trong suốt 8 năm triển khai dự án đó chính là công tác quản lý chặt chẽ của chủ đầu tư dự án. Bởi vậy khi thành quả dự án được bàn giao lại cho các địa phương thì hơn ai hết chính quyền các địa phương này phải xây dựng được phương án và tổ chức thực hiện quản lý, kiểm tra giám sát một cách nghiêm túc, bài bản chặt chẽ tương tự. Quan trọng hơn, các địa phương cần tập trung hỗ trợ, định hướng người dân quản lý và khai thác rừng bền vững và hiệu quả nhất.
Theo giới chuyên gia, đối với diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc dự án KFW3-PHA III đã đáp ứng tốt các tiêu chí về mật độ, chủng loại cây rừng, các công trình quản lý và bảo vệ rừng, người dân cũng đã nắm rõ kỹ năng trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nên chỉ cần duy trì và phát triển theo hướng làm giàu rừng và tận dụng nguồn thu từ việc khai thác lâm sản phục vụ từ rừng là ổn định.
Đơn cử như tại diện tích rừng thuộc xã Yên Than (huyện Tiên Yên), người dân đang khai thác nguồn lâm sản phụ là tre, dóc có hiệu quả kinh tế lớn, theo tính toán cao hơn trồng keo, bạch đàn làm nguyên liệu dăm gỗ. Riêng đối với diện tích rừng trồng thuộc dự án có cái thuận là chủng loại cây chủ yếu là cây thông, là loại cây khai thác nhựa lâu dài và giá trị lớn.
Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay mới được 8 đến 10 năm tuổi, còn khoảng 5 năm nữa mới đủ tuổi khai thác nhựa, bởi vậy rất cần được tăng cường chăm sóc, bảo vệ, tránh tình trạng khai thác non, làm giảm sức sống và sự phát triển của cây. Để làm được điều này, theo giới chuyên môn, các địa phương nên có những hỗ trợ cụ thể để người dân trồng xen các cây ngắn ngày dưới tán như cây dược liệu, mây, tre… để lấy ngắn nuôi dài. (Báo Quảng Ninh 19/12) đầu trang(
Nghị định 75 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) giai đoạn 2015 - 2020 chính thức có hiệu lực từ ngày 2-11-2015.
Đối tượng được hỗ trợ gồm: Hộ nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi đã và đang bảo vệ và phát triển rừng; Cộng đồng dân cư thôn được giao rừng theo quy định tại Điều 29 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Điều 54 Luật Đất đai...
Nghị định cũng quy định rõ hỗ trợ trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Mức hỗ trợ từ 5 đến 10 triệu đồng/ha để mua cây giống, phân bón và chi phí một phần nhân công bằng tiền đối với trồng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ tùy theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng theo thiết kế, dự toán.
Ngoài ra, các hộ gia đình nêu trên thực hiện bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng được giao có trồng bổ sung với rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên được hỗ trợ bảo vệ rừng là 400 nghìn đồng/ha/năm; hỗ trợ trồng rừng bổ sung, mức hỗ trợ theo thiết kế, dự toán, tối đa không quá 1,6 triệu đồng/ha/năm trong ba năm đầu và 600 nghìn đồng/ha/năm cho ba năm tiếp theo. Hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng phòng hộ thì được trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15 kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc được lương thực.
Căn cứ vào thiết kế và dự toán trồng rừng, ngoài số tiền được hỗ trợ quy định để trồng rừng sản xuất phát triển lâm sản ngoài gỗ, hộ gia đình được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho vay không có tài sản bảo đảm phần giá trị đầu tư còn lại tối đa là 15 triệu đồng/ha, lãi suất là 1,2%/năm.
Thời hạn cho vay từ khi trồng đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm. Ngoài ra, các hộ nêu trên cũng được cho vay không cần tài sản bảo đảm để chăn nuôi trâu, bò, gia súc khác với hạn mức vay tối đa 50 triệu đồng, thời hạn cho vay tối đa 10 năm, lãi suất là 1,2%/năm. (Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Ở hai huyện miền núi Hướng Hóa và Đakrông, tỉnh Quảng Trị, từ khi có nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đã tạo lòng tin và sự khích lệ cho người dân và đặc biệt là người dân sinh sống trên vùng lưu vực các hồ thủy điện trong việc bảo vệ, phát triển rừng.
Ngoài các nguồn kinh phí được đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn chi trả từ dịch vụ môi trường rừng là nguồn kinh phí đáng kể giúp cho địa phương thực hiện tốt việc bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Trên diện tích 76 ha thuộc khu vực lòng hồ thủy điện Rào Quán, Hướng Hóa , tỉnh Quảng Trị, vào thời điểm nắng nóng, cứ một tuần 2 lần, nhóm hộ của anh Hồ Văn Thoang, Hồ Văn Cư, Hồ Văn An ở thôn Của xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, thay phiên nhau đi kiểm tra, không cho các người lạ vào rừng. Với mục đích là không để cháy rừng và các đối tượng vào chặt phá rừng.
Anh Hồ Văn Thoang - Thôn Của, xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cho biết: “Trước đây dân chúng tôi cũng có bảo vệ. Sau khi nhận tiền chi trả tiền bảo vệ rừng, chúng tôi có trách nhiệm khác hơn. Chúng tôi tiến hành các cuộc họp bí thư, phụ nữ, các chi đoàn, các ban của thôn, chúng tôi lồng ghép, tuyên truyền cho dân, giải thích cho dân biết môi trường rừng, không chặt, không phá, không đốt rừng, để dân hiểu và bảo vệ rừng.”
Diện tích rừng của toàn tỉnh Quảng Trị là 236.031 ha, trong đó, diện tích rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng dự kiến là 8.461,5ha. Năm 2014, Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh Quảng Tri bắt đầu triển khai việc chi trả dịch vụ môi trường rừng là 2.030.525.760 đồng. Được biết, từ năm 2014 đến nay trên địa bàn được chi trả dịch vụ môi trường rừng này không có vụ cháy hay chặt phá rừng nào xảy ra.
Ông Hoàng Đức Doanh - Chi cục trưởng chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị cho biết: "Các chủ rừng và UBND các xã, huyện rất tích cực, huy động người dân tham gia công tác quản lý, bảo vệ rừng. Qua kiểm tra, qua theo dõi, chúng tôi thấy rằng các địa phương thực hiện rất là tốt, người dân hết sức phấn khởi rừng được quản lý bảo vệ tốt.”
Bên cạnh những thuận lợi thì việc chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, cũng gặp nhiều khó khăn. Đó là các nhà máy thủy điện nhỏ đang còn chây ỳ, trong việc nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng,bên cạnh đó, một số diện tích rừng do UBND xã quản lý, chưa tiến hành giao khoán cho các hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn quản lý bảo vệ nên ảnh hưởng đến công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ông Hoàng Đức Doanh - Chi cục trưởng chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị cho biết: “Chúng tôi thấy rằng việc thu bảo vệ môi trường rừng cần phải được điều chỉnh lại. Nâng giá mức thu cho các loại hình dịch vụ, trong dịch vụ nước cho thủy điện, dịch vụ nước cho sinh hoạt, nâng mức thu lên để đảm bảo chi trả thỏa đáng cho người dân. Phải có sự điều tiết tiền chi trả giữa các lưu vực để đảm bảo sự công bằng cho người dân.”
Để việc chi trả dịch vụ môi trường rừng này được hiệu quả, tỉnh Quảng Trị cần có những biện pháp cứng rắn hơn trong việc chây ỳ của các công ty thủy điện nhỏ, bên cạnh đó, cần đẩy nhanh tiến độ giao đất cho người dân quản lý và bảo vệ. Nếu làm tốt, tin chắc rằng, trong thời gian tới tỉnh Quảng Trị sẻ thực hiện tốt và hiệu quả việc chi trả dịch vụ môi trường rừng của chính phủ đã đề ra. (ANTV 20/12) đầu trang(
Sáng 18-12-2015, UBND tỉnh tổ chức hội nghị giao ban công tác quản lý bảo vệ rừng quý IV năm 2015, triển khai nhiệm vụ năm 2016.
Đồng chí Trần Văn Tuân, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 chủ trì hội nghị. Tham dự có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành liên quan.
Năm 2015, các cơ quan chức năng, đơn vị chủ rừng và chính quyền địa phương đã phối hợp thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp quản lý bảo vệ rừng. Theo đó, từ đầu năm đến hết tháng 11-2015, các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện hơn 1.270 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng; thu giữ hơn 1.390m3 gỗ các loại, 2 xe ôtô, 93 xe gắn máy, 14 cưa xăng xách tay. Tổng số tiền thu nộp ngân sách Nhà nước gần 13 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các đoàn liên ngành cấp tỉnh, cấp huyện cũng đã triển khai thực nghiêm túc 52 đợt kiểm tra rừng, truy quyét, triệt phá các điểm nóng về khai thác rừng trái phép để thu giữ lâm sản và xử lý người vi phạm theo quy định.
Lực lượng liên ngành đóng vai trò chủ lực trong truy quét bảo vệ rừng ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới và là lực lượng chính thực hiện nhiệm vụ chữa cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh. Vì vậy, đã ngăn chặn, hạn chế nạn khai thác gỗ trái phép, ổn định tình hình tại khu vực giáp biên giới Việt-Lào và giáp ranh giới 2 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị, khu vực vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng.
Trong năm, các ngành chức năng cũng đã triển khai công tác giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ sở cưa xẻ gỗ, các cơ sở nuôi động vật hoang dã và quản lý chặt chẽ các cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ và động vật hoang dã. Các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã tích cực phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng và chính quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt là phối hợp tốt công tác chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh…
Về nhiệm vụ trong thời gian tới, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, các cơ quan chức năng, đơn vị chủ rừng và chính quyền địa phương cần tăng cường bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Không để xảy ra các điểm nóng về phá rừng, khai thác rừng trái phép, giảm số vụ cháy và thiệt hại do cháy rừng gây ra tới mức thấp nhất.
Đồng thời, thực hiện các dự án lâm nghiệp đạt chất lượng và đúng tiến độ; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng rừng, trồng rừng, khai thác rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng theo đúng quy định, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp đi đôi với quản lý rừng bền vững. (Báo Quảng Bình 18/12) đầu trang(
Do phần lớn diện tích đất tự nhiên là đất dốc từ 15 độ trở lên nên phát triển ngành lâm nghiệp và kinh tế rừng có vai trò quan trọng đối với tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác một cách hiệu quả và bền vững.
Hà Giang có đặc điểm địa lý, thiên nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù, nên ngành lâm nghiệp và tài nguyên rừng của tỉnh có ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc sống và sinh kế của người dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Do phần lớn diện tích đất tự nhiên là đất dốc từ 15 độ trở lên (685.201,7ha, chiếm 86,6% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh), nên nếu thiếu rừng cây che phủ, điều kiện sinh thái và sản xuất nông nghiệp ở tỉnh sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng với mức độ rủi ro mùa màng cao. Điều đó cho thấy, lâm nghiệp mà yếu tố chủ đạo là rừng tự thân trở thành trụ đỡ cho nền nông nghiệp, đồng thời còn là mái nhà của vùng thượng nguồn, nơi có tiềm ẩn nhiều thiên tai và rủi ro.
Mặc dù vậy, lâm nghiệp tỉnh Hà Giang vẫn chưa phát huy tốt tiềm năng, lợi thế, có đóng góp ít ỏi cho nền kinh tế. Theo thống kê, trong giai đoạn 2011-2014, ngân sách nhà nước đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp chỉ đạt 72,9 tỷ đồng, nguồn thu từ lâm nghiệp còn khiêm tốn (565 tỷ đồng), đóng góp của lâm nghiệp vào GDP của tỉnh rất thấp, xấp xỉ 3,07%. Ngoài ra, chất lượng và giá trị của rừng đang bị suy giảm.
Theo PGS.TS. Phạm Văn Điển, giảng viên Đại học Lâm nghiệp, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Giang, mô hình tổ chức lâm nghiệp của Hà Giang có thể được khái quát bằng công thức: 3 + 3 (3 cấp quản lý, gồm tỉnh, huyện, xã + 3 loại rừng, gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng).
Mô hình này đang bộc lộ nhiều bất cập, chất lượng giải quyết côngviệc chưa tốt, thiếu đồng bộ, mối liên hệ giữa nhà nước, người dân, cộng đồng và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Chế biến lâm sản mới tập trung vào chế biến gỗ bằng hình thức, công nghệ và định hướng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, chủ yếu là sản xuất ván bóc, gỗ dăm, ván ép và ván MDF.
Chế biến lâm sản ngoài gỗ chưa phát triển, chủ yếu dừng ở mức sơ chế, bảo quản, đóng gói; thương hiệu sản phẩm, chỉ dẫn địa lý chưa rõ ràng. Tổng khối lượng gỗ khai thác trong giai đoạn 2011-2014 là 215.606,9m3, trong đó khai thác chính là 196.705m3, khai thác tận thu 18.900m3, khối lượng gỗ khai thác từ rừng trồng chiếm phần lớn (96,2%).
Công tác phát triển rừng chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước thông qua việc đầu tư trồng rừng mới, khoanh nuôi, bảo vệ rừng với tổng kinh phí hàng năm 72,9 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ lệ sống trước khi trồng dặm rất thấp, với rừng phòng hộ là dưới 70%, rừng sản xuất chỉ đạt xấp xỉ 75%; năng suất của rừng trồng thấp, rừng keo tai tượng chỉ đạt 40-50m3/chu kỳ 7 năm. Kết quả phát triển giống cây lâm nghiệp còn khiêm tốn, đến nay mới có 9 nguồn giống được công nhận.
“Với mô hình phát triển hiện có, lâm nghiệp Hà Giang vẫn mang bản chất là lâm nghiệp nhà nước, thiên về “trồng cấy”, đầu vào thấp. Đây cũng là nền lâm nghiệp còn thiếu đường nét kinh doanh và hiệu quả thấp. Lực đẩy cho phát triển lâm nghiệp chủ yếu là ngân sách/kế hoạch của nhà nước, trong khi lực hút của thị trường lâm sản và lực đẩy của xu thế xã hội hóa nghề rừng là khá mạnh nhưng do hạn chế về năng lực và nguồn lực lên ngành lâm nghiệp chưa thể đáp ứng và đủ sức kết nối với hai loại “lực” này. Vì vậy, việc chuyển đổi của ngành lâm nghiệp thep định hướng mới là rất cần thiết”, ông Điển nói.
Theo định hướng của tỉnh, lâm nghiệp Hà Giang là nền lâm nghiệp xã hội hóa, phát triển theo hướng bền vững về môi trường, xã hội và kinh tế. Đây cũng là nền lâm nghiệp nhằm tạo ra giá trị dịch vụ hệ sinh thái dựa trên lợi thế và tôn trọng sự khác biệt giữa các tiểu vùng kinh tế - sinh thái. Ngành lâm nghiệp cần trở thành “trụ đỡ” đảm bảo an toàn sinh thái , giảm thiểu rủi ro, nâng cao giá trị dịch vụ môi trường rừng, hỗ trợ tích cực cho sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Đối với các loại rừng, rừng đặc dụng phát triển theo hướng bảo tồn kết hợp với kinh doanh dịch vụ hệ sinh thái rừng; giữ nguyên diện tích rừng hiện có (50.994ha); đẩy mạnh phát triển rừng và kinh tế - xã hội ở vùng đệm. Giữ nguyên diện tích đất rừng phòng hộ đã có rừng tự nhiên, ưu tiên giải pháp khoanh nuôi, tái sinh đối với rừng phòng hộ. Có thể mở rộng diện tích đất rừng sản xuất từ 260.675ha lên 300.000ha, thực hiện thâm canh rừng trồng và rừng tự nhiên nhằm tăng năng suất rừng hiện có lên ít nhất 15-20%.
Về định hướng phát triển rừng theo tiểu vùng, đối với 4 huyện vùng cao núi đá, bảo vệ rừng hiện có, khoanh nuôi các diện tích rừng đang tái sinh, phát triển rừng cung cấp gỗ, củi và lâm sản ngoài gỗ, trong đó có rừng cung cấp thảo dược. Hai huyện vùng cao núi đất phía Tây cần ưu tiên phục hồi rừng bằng khoanh nuôi và phát triển rừng trồng cây gỗ quý, gỗ lớn kết hợp với kinh doanh lâm sản ngoài gỗ (dược liệu) dưới tán rừng. Các huyện vùng thấp bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, xây dựng vùng nguyên liệu gỗ tập trung.
Theo ông Điển, để phát triển lâm nghiệp bền vững, mấu chốt của cơ chế, chính sách là giao thực quyền cho chủ rừng. Vì tính hấp dẫn và minh bạch của “thực quyền” nên người ta muốn được làm chủ khu đất, khu rừng đó và sẽ đầu tư để phát triển rừng hiệu quả.
Hiện nay, trên địa bàn Hà Giang xuất hiện nhiều mô hình phát triển lâm nghiệp khá bền vững. Theo ông Bùi Minh Hiệu, Phó chủ tịch huyện Xín Mần, năm 2015, tổng diện tích thảo quả dưới tán rừng là hơn 2.650ha, trong đó diện tích cho thu hoạch đạt gần 981ha, năng suất quả tươi từ 13-15 tạ/ha, sản lượng quả tươi mỗi năm từ 1.200-1.400 tấn. Bên cạnh đó, quế cũng là cây dược liệu được người dân trồng với diện tích trên 441ha. Trên địa bàn huyện còn có nhiều loài cây dược liệu quý khác trong tự nhiên như lá khôi, thấp diệp nhất chi mai, hà thủ ô, tam thất, ất tẩu, hoa hồng…
Không chỉ riêng Xín Mần, nhiều huyện khác của Hà Giang cũng có tiềm năng phát triển cây dược liệu. Bà Bùi Thị Thanh Tình, Chi Cục Lâm nghiệp tỉnh Hà Giang, cho biết, Hà Giang có trên 1.565 loài dược liệu (chiếm 39% trong tổng số hơn 4.000 loài dược liệu của Việt Nam, trong đó 45 loài có tiềm năng khai thác lớn như cẩu tích, dây đau xương, chè dây, râu hùm, tắc kè đá, thỏ y tử…).
Nhiều loài quý hiếm: bát giác liên, hoa tiên, giảo cổ lam, hoàng tinh cách, thạch hộc, ngân đằng, râu hùm, thiên lý hương, thông tre lá dài, hà thủ ô… Trong số này có 78 cây thuốc quý hiếm, có nguy cơ bị đe dọa (nằm trong danh mục các cây thuốc ở tỉnh Hà Giang có trong sách đỏ Việt Nam năm 2007). Ngoài lợi thế về mặt điều kiện tự nhiên Hà Giang còn là nơi sinh sống của 19 dân tộc, mỗi dân tộc đều có vốn tri thức bản địa về kỹ thuật trồng, chăm sóc, nhân giống chế biến và sử dụng dược liệu địa phương.
UBND tỉnh Hà Giang đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển cây dược liệu tỉnh Hà Giang giai đoạn 2013-2020, định hướng đến 2025. Đến thời điểm này, tổng diện tích cây dược liệu trên toàn tỉnh là 10.727ha. Số loài cây dược liệu được trồng gồm 13 loài chính: thảo quả, hương thảo, hồi, quế, án tẩu, lá khôi, đỗ trọng, óc chó, giảo cổ lam.
Hiện đã có 6 doanh nghiệp đầu tư vào trồng, chế biến được liệu tại Hà Giang, ngoài ra còn một số doanh nghiệp đang trong giai đoạn thăm dò, tìm hiểu cơ hội đầu tư hoặc liên kết phát triển dược liệu tại Hà Giang. Bên cạnh đó hiện dược liệu cũng được phát triển theo quy mô hộ gia đình, tổng số đến nay toàn tỉnh có trên 9.000ha dược liệu các loại do dân tự trồng, tự tiêu thụ như: thảo quả (chiếm 8720ha), hương thảo, quế, hoa hồi, giảo cổ lam, tam thất rừng, đỗ trọng…
Mô hình trồng rừng kinh tế gắn với thâm canh tại xã Liên Hiệp (Bắc Quang) do Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh phối hợp với UBND huyện Bắc Quang tổ chức thực hiện vào năm 2012 với tổng diện tích 20ha (trong đó 10ha trồng keo lai giâm hom, 10ha trồng keo hạt ngoại) đang phát triển tốt. Hiện, chiều cao cây đạt trung bình 6m, đường kính gốc trung bình trên 10cm. Dự kiến sau 7 năm trồng, năng suất thu hoạch đạt 80m3/ha, đem lại giá trị thu nhập 80 triệu đồng/ha, trừ chi phí đạt lợi nhuận 40 triệu đồng/ha/chu kỳ.
Mô hình trồng cây hồ đào (óc chó) tại Đồng Văn, trồng cây hồi tại xã Đường Âm (Bắc Mê), cây sơn ta tại Vị Xuyên, cây quế tại thị trấn Việt Lâm (Vị Xuyên), mô hình trồng thảo quả dưới tán rừng cũng đang thu kết quả khả quan. Lợi nhuận của mô hình trồng cây óc chó từ năm thứ sáu trở đi đạt 100 triệu đồng/ha/năm; đối với cây hồi là 84 triệu đồng/ha; quế khoảng 80 triệu đồng/ha… Hy vọng từ những mô hình này, ngành lâm nghiệp Hà Giang sẽ phát triển theo đúng định hướng, vừa đảm bảo lợi nhuận kinh tế, vừa góp phần bảo vệ môi tr//ường, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn. (Kinh Tế Nông Thôn 18/12) đầu trang(
Độ che phủ rừng toàn quốc không đạt so với mục tiêu đề ra đến năm 2015.
Văn phòng Chính phủ vừa thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.
Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ và phátt triển rừng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân hàng năm tăng gần 2,0 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, bình quân đạt gần 6%/năm; giá trị xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ và lâm sản ngoài gỗ tăng từ 4,2 tỷ USD năm 2011 lên 6,54 tỷ USD năm 2014, ước đạt khoảng 6,8-7,0 tỷ USD vào năm 2015...Cả nước đã trồng được gần 1.100.000 ha rừng tập trung, đạt 328% kế hoạch.
Bên cạnh những kết quả đạt được ngành lâm nghiệp còn gặp nhiều khó khăn như: độ che phủ rừng toàn quốc không đạt so với mục tiêu đề ra đến năm 2015; chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn còn suy giảm ở một số địa phương; kết quả phát triển rừng không đồng đều giữa các vùng...
Để khắc phục những tồn tại này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu mục tiêu trong giai đoạn 2016-2020, ngành lâm nghiệp cần nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, phát triển lâm nghiệp nhanh, bền vững cả kinh tế, xã hội, môi trường.
Từng bước đáp ứng nhu cầu cơ bản gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản cho tiêu dùng trong nước; tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 7%/năm; kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt khoảng 9,5-10 tỷ USD vào năm 2020; nâng độ che phủ rừng lên trên 42% vào năm 2020, thích ứng yêu cầu giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biển đổi khí hậu; tạo khoảng 4,5 - 5 triệu việc làm thường xuyên, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Bảo vệ, sử dụng hợp lý và bền vững 100% diện tích rừng hiện có và diện tích rừng được tạo mới; đến năm 2020, diện tích rừng đạt khoảng 14,87 triệu ha; giảm căn bản tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản...
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung chỉ đạo hoàn thành công tác tổng điều tra kiểm kê rừng toàn quốc, thực hiện số hóa bản đồ kiểm kê, báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào Quý IV năm 2016; chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, tiếp tục bổ sung, điều chỉnh các mục tiêu, nhiệm vụ và mức đầu tư phù hợp với quy định hiện hành để hoàn thiện Chương trình mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng bền vững, trình phê duyệt theo quy định.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đưa các chỉ tiêu, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng vào các Nghị quyết của địa phương và bố trí đủ vốn để thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ được giao; rà soát các dự án bảo vệ và phát triển rừng theo hướng gắn kết thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp… (Đài Tiếng Nói Việt Nam 18/12) đầu trang(
Mặc dù tiềm năng xuất khẩu sản phẩm gỗ sang EU còn khá lớn, các điều kiện thúc đẩy xuất khẩu cũng ngày một thuận lợi, song xuất khẩu sản phẩm gỗ sang EU hiện vẫn vấp phải trở ngại trong vấn đề chứng minh tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ nguyên liệu.
Với 500 triệu dân và kinh tế phát triển, EU chiếm khoảng ¼ thị trường tiêu thụ đồ gỗ thế giới. Về các mặt hàng gỗ, hiện EU là thị trường lớn thứ 4 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc). Tuy nhiên, nếu chỉ tính riêng các mặt hàng đồ gỗ (HS 94), EU là thị trường lớn thứ 2 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ).
Trao đổi với báo chí bên lề hội thảo “Thương mại gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam-EU” diễn ra ngày 18-12, tại Hà Nội, ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores) đánh giá: Việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU cũng như Hiệp Định Đối tác Tự nguyện (VPA/FLEGT) với EU đang đến hồi đàm phán cuối cùng càng mở thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu gỗ của Việt Nam vào thị trường này.
Hiện nay mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang EU khoảng 700-800 triệu USD, trong khi nhu cầu tiêu dùng mặt hàng gỗ của EU lên tới 85 tỷ USD/năm. Như vậy, dư địa thị trường còn rất lớn. Dự kiến, thời gian tới xuất khẩu gỗ sang EU sẽ tăng lên khoảng 1 tỷ USD/năm.
Phát biểu tại hội thảo, ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends cho biết: Hiện nay, EU cũng như một số thị trường khác có đòi hỏi rất cao về tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ nguyên liệu.
Về cơ bản, nguồn gốc gỗ nguyên liệu đầu vào từ nhập khẩu và rừng trồng trong nước có thể đáp ứng được các yêu cầu về tính hợp pháp của gỗ khi các sản phẩm được xuất khẩu vào EU. Tuy nhiên, vấn đề này hiện tồn tại khá nhiều rủi ro.
Ông Tô Xuân Phúc phân tích: Nguồn gốc gỗ nguyên liệu rừng trồng trong nước chủ yếu do các hộ gia đình và các công ty lâm nghiệp có các diện tích rừng trồng. Mặc dù hầu hết nguồn cung gỗ từ hộ và công ty lâm nghiệp được coi là nguồn gỗ đảm bảo tính hợp pháp cao nhưng cho đến nay vẫn còn khoảng 30% số hộ gia đình được nhận đất vẫn chưa được nhận giấy chứng nhận sử dụng đất. Nhiều công ty lâm nghiệp cũng ở tình trạng tương tự.
Thiếu giấy chứng nhận sử dụng đất đồng nghĩa với việc thiếu cơ sở pháp lý chứng nhận tính hợp pháp của hộ và công ty đối với nguồn gỗ rừng trồng của mình.
Bên cạnh đó, tình trạng tranh chấp đất rừng vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Tranh chấp đất đai xảy ra giữa người dân và các công ty lâm nghiệp, giữa người dân và chính quyền địa phương, và giữa người dân với nhau. Gỗ trồng trên đất tranh chấp sẽ không đáp ứng được yêu cầu về tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu.
Hiện nay, một số đồ gỗ và sản phẩm gỗ có sử dụng gỗ cao su làm gỗ nguyên liệu đầu vào. Hiện nguồn cung gỗ cao su trong nước từ các vườn cao su thanh lý ngày càng cao, có tiềm năng là nguồn cung quan trọng cho chế biến, bao gồm cả chế biến xuất khẩu.
“Tuy nhiên, tình trạng pháp lý đối với một số nguồn gỗ cao su không rõ ràng, bởi một số diện tích cao su trước đây được trồng trên diện tích đất rừng tự nhiên chuyển đổi. Hiện chưa có thông tin chính xác về lượng gỗ cao su có nguồn gốc từ rừng chuyển đổi được sử dụng làm nguyên liệu trong các sản phẩm xuất khẩu”, ông Phúc nói.
Ông Phúc nhìn nhận: Các rủi ro về tính hợp pháp của nguyên liệu gỗ đầu vào không chỉ là vấn đề riêng của các doanh nghiệp hiện đang đối mặt trực tiếp với các rủi ro (ví dụ các doanh nghiệp chế biến sử dụng gỗ rừng trồng có nguồn gốc không rõ ràng, gỗ cao su từ các diện tích rừng chuyển đổi, gỗ rừng tự nhiên) mà còn có tác động trực tiếp đến hình ảnh của toàn ngành gỗ và kinh tế quốc gia.
Một số đại biểu cho rằng: Để giảm thiểu các rủi ro có liên quan đến nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cần phải có sự cam kết mạnh mẽ không phải chỉ từ chính bản thân doanh nghiệp, mà còn đòi hỏi các Hiệp hội gỗ có vai trò mạnh mẽ hơn trong việc nắm bắt thực trạng của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho doanh nghiệp, và dựa trên thực trạng của doanh nghiệp và thị trường đưa ra những kiến nghị cho các cơ quan quản lý cũng như các doanh nghiệp.
Những động thái này nhằm điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo hướng phù hợp với các chính sách quốc gia và thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý cũng cần nắm bắt sát thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, về thị trường đầu ra sản phẩm bao gồm cả thị trường xuất khẩu từ đó đưa ra các biện pháp và chính sách nhằm hỗ trợ tích cực các doanh nghiệp tham gia hội nhập. (Hải Quan 19/12) đầu trang(
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát vừa Ban hành Chỉ thị phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp Xuân Bính Thân năm 2016.
Bộ trưởng Cao Đức Phát yêu cầu các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về mục đích, ý nghĩa của “Tết trồng cây.” Các cấp, các ngành và nhân dân cần tích cực chủ động tham gia trồng cây, trồng rừng, bảo vệ rừng gắn với phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cụ thể, thời điểm tổ chức “Tết trồng cây” đối với các tỉnh phía Bắc tiến hành vào đầu xuân năm mới Bính Thân, đối với các tỉnh phía Nam tiến hành vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác (19/5/2016).
Nội dung Chỉ thị nêu rõ, việc tổ chức “Tết trồng cây” phải thiết thực, hiệu quả, không phô trương hình thức, tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, trường học, lực lượng vũ trang và mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng.
Các địa phương, đơn vị xây dựng kế hoạch trồng cây, trồng rừng gắn với triển khai thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2016 và kế hoạch trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác.
Các địa phương cần chỉ rõ địa điểm trồng cây, trồng rừng cụ thể, bố trí trồng cây ở những nơi đất trống trong các cơ quan, khu công nghiệp, đơn vị, trường học, bệnh viện, quanh nhà, ven đường, dọc bờ sông, bờ kênh mương, trên các vùng đất trống, vùng phòng hộ ngoài đê biển....
Mặt khác, các địa phương cần nâng cao việc quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp, lựa chọn loài cây phù hợp, chuẩn bị giống chất lượng tốt, tranh thủ thời vụ và thời tiết thuận lợi để cây trồng có tỷ lệ sống cao.
Sau khi thực hiện “Tết trồng cây” các địa phương tổ chức kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm, biểu dương khen thưởng kịp thời những điển hình tổ chức, cá nhân làm tốt, báo cáo kế hoạch tổ chức và kết quả thực hiện về Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn để theo dõi và phối hợp chỉ đạo.
Năm 2015, cả nước đã trồng được gần 230.000 ha rừng và hơn 54 triệu cây phân tán, khoán quản lý bảo vệ hơn 6,6 triệu ha rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng 331.000 ha. (Pháp Luật Việt Nam 19/12; Nhân Dân 19/12) đầu trang(
UBND tỉnh Thanh Hóa vừa có quyết định số 5270/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí vận chuyển gạo cấp cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mường Lát tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất thay thế nương rẫy trong thời gian chưa tự túc được lương thực đợt 4, năm 2015.
Lãnh đạo tỉnh giao Sở Tài Chính, Kho bạc Nhà nước tỉnh cấp gần 172 triệu đồng từ nguồn sự nghiệp bảo đảm xã hội trong dự toán ngân sách tỉnh năm 2015 cho Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Thanh Hóa quản lý, sử dụng.
Theo đó, hơn 138 triệu đồng được sử dụng vào mục đích chi phí vận chuyển gần 574 tấn gạo đến trung tâm các xã, hoặc cụm xã ở huyện Mường Lát, cấp cho các hộ dân tộc thiểu số đã tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất thay thế nương rẫy trong thời gian tháng 7 đến tháng 8 năm 2015; hơn 33 triệu đồng chi phí phục vụ giao, nhận gạo và chi phí quản lý, chỉ đạo.
Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Lát Phạm Bá Điểm cho biết: Được hỗ trợ kinh phí trồng rừng, Chính phủ lại cấp gạo ăn theo hiệu quả phát triển vốn rừng nên nhân dân trong huyện càng yên tâm đầu tư, tập trung trồng rừng.
Từ năm 2012 đến nay, toàn huyện đã trồng được gần 14 nghìn ha rừng, cơ cấu cây trồng chủ yếu là xoan và lát. Riêng năm 2015 nhân dân trồng được 3.500 ha rừng và trung bình hai tháng Cục Dự trữ Nhà nước lại xuất, cấp lương thực theo kết quả trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, tỉnh Thanh Hóa bố trí kinh phí vận chuyển gạo đến trung tâm các xã, hoặc cụm xã ở huyện Mường Lát cấp cho các hộ dân tộc thiểu số trong huyện.
Đến thời điểm này các hộ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đã nhận được gần 3.000 tấn gạo trong năm 2015. Năm 2016 huyện Mường Lát được giao kế hoạch trồng 2.000 ha rừng. Diện tích thiết kế trồng rừng còn lại chủ yếu tập trung ở khu vực vùng sâu, vùng xa nhưng đồng bào các dân tộc trong huyện phấn đấu trồng rừng vượt kế hoạch được giao. (Nhân Dân 18/12) đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ Công Thương kiểm tra thông tin hàng chục nhà máy thủy điện, công trình khai khoáng ở tỉnh Quảng Nam chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ rừng hoặc không thực hiện trồng rừng thay thế trong nhiều năm qua.
Trước đó, Cổng TTĐT Chính phủ, Văn phòng Chính phủ có Điểm thông tin, báo chí liên quan đến công tác chỉ đạo, điều hành, trong đó có tin: "Hàng chục nhà máy thủy điện, công trình khai khoáng ở tỉnh Quảng Nam chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ rừng hoặc không thực hiện trồng rừng thay thế trong nhiều năm qua,...".
Theo phản ánh, Quảng Nam là địa phương có diện tích trồng rừng thay thế lớn do hàng loạt thủy điện đã lấy mất nhiều diện tích rừng ở vùng đầu nguồn, nhưng không ít dự án lấy đi hàng trăm ha rừng qua nhiều năm vẫn chưa xong hồ sơ thủ tục “trả nợ” rừng. Nhiều nhà máy thủy điện không thực hiện trồng rừng thay thế theo phương án đã được phê duyệt, buộc điều chỉnh phương án nên chậm tiến độ...
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương kiểm tra, giải quyết vấn đề nêu trên. (Chính Phủ 18/12) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Châu Phi vốn được coi là "thiên đường" của những kẻ săn Bắn tê giác trái phép. Nhằm bảo tồn loài động vật quý hiếm này khỏi bờ vực tuyệt diệt, một số chuyên gia đã phải tìm đến sự hỗ trợ của những thiết bị công nghệ cao...
Trước tình trạng săn bắn tê giác lấy sừng không ngừng gia tăng, hãng Pembient (Mỹ) đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp sản xuất sừng tê giác nhân tạo. Họ sử dụng chất sừng keratin, thành phần chủ yếu của tóc, móng và ADN của tê giác để tạo ra một loại nguyên liệu dạng bột. Loại bột này sẽ được đưa vào máy in 3D để tạo ra những chiếc sừng nhân tạo.
Với công nghệ in 3D, sừng tê giác nhân tạo sẽ giống y như thật. Cách duy nhất phân biệt được là dựa vào hàm lượng chất ô nhiễm trong sừng hoang dã. Sừng nhân tạo sẽ không chứa dấu vết của hóa chất công nghiệp.
Tuy nhiên, phát minh của hãng Pembient đã vấp phải những ý kiến trái chiều của các nhà bảo tồn động vật hoang dã. Giám đốc Tổ chức Bảo vệ Tê giác quốc tế Susie Ellis cho rằng, sự ra đời của sừng nhân tạo có thể sẽ làm tăng thêm cơn sốt sử dụng sừng tê giác thật.
Dựa trên tín hiệu từ định vị và nhịp tim: Các nhà khoa học thuộc Hội Động vật học London (Anh) vừa tạo ra hệ thống mới gồm camera siêu nhỏ gắn lên sừng tê giác, cảm biến đo nhịp tim và vòng định vị GPS.
Cảm biến nhịp tim sẽ được cấy dưới da tê giác. Nếu loài vật to lớn này bị kẻ săn trộm truy đuổi, nhịp tim của nó sẽ tăng lên, truyền đi tín hiệu cảnh báo. Khi ấy, các nhân viên tại trung tâm điều khiển sẽ kích hoạt camera trên sừng tê giác ghi lại diễn biến vụ việc. Vòng định vị đeo trên cổ tê giác cũng đồng thời cập nhật tọa độ, giúp các nhân viên bảo tồn nhanh chóng điều động lực lượng đến “giải cứu” cho những con tê giác bị đe dọa.
Cuộc chiến chống nạn săn bắt trái phép động vật hoang dã ở châu Phi đang đạt được nhiều kết quả khả quan nhờ sự tiến bộ nhanh chóng từ công nghệ máy bay không người lái tích hợp camera (drone). Mới đây, khu bảo tồn Ol Pejeta Conservancy tại Kenya đã hợp tác với Công ty Công nghệ Airware (Mỹ) cho ra đời hệ thống lái tự động cho drone để bảo vệ tê giác.
Nhân viên kiểm lâm sẽ điều khiển drone bằng hai máy tính. Một máy hiển thị đường bay của drone. Máy còn lại chiếu những hình ảnh mà camera của drone ghi lại. Đặc biệt, lực lượng kiểm lâm có thể lập trình đường bay cho drone từ quá trình cất cánh đến khi hạ cánh.
Tuy nhiên, các chuyên gia của Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên hoang dã (WWF) khẳng định công nghệ này chưa phải là giải pháp hoàn hảo nhất. Trong đêm tối, bọn săn trộm sẽ trở nên vô hình với drone ở khoảng cách 100m. Hơn nữa, những chiếc drone có thân máy nhẹ, phù hợp với khí hậu khắc nghiệt của châu Phi có giá thành rất cao, khoảng 250.000 USD/chiếc.
Tái chế điện thoại thành thiết bị nghe lén: Khó có thể ngờ rằng, những chiếc điện thoại thông minh (smartphone) bỏ đi lại có lợi ích trong việc bảo vệ tê giác. Dự án Rainforest Connection (RFCx) trên trang gây quỹ Kickstarter đã đưa ra sáng kiến sử dụng những smartphone cũ để tích hợp hệ thống phát hiện hoạt động săn bắn phi pháp.
Một tấm pin năng lượng mặt trời sẽ được lắp vào điện thoại để biến nó trở thành một thiết bị nghe lén. Phần mặt trước của điện thoại có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời, giúp máy có thể tự sạc pin. Những thiết bị này sẽ được cài đặt ở các khu vực thường xuyên xảy ra nạn săn bắn trái phép. Các âm thanh ồn ào của súng và cưa máy sẽ được ghi âm lại, giúp cơ quan chức năng kịp thời ngăn chặn những hành vi săn bắn trái phép. (Thế Giới Và Việt Nam 18/12) đầu trang(
Tuần trước, tại bang New Jersey (Mỹ), 472 con gấu đã bị giết hại trong một cuộc săn gấu hàng năm. Trong khi các nhà chức trách hy vọng sẽ kiểm soát được được số lượng gấu hoang đang tăng nhanh tại đây thì các nhà bảo vệ động vật lại lên án đây là một hành động vô nhân đạo.
Hôm 12/12 vừa qua, những người thợ săn ước tính đã giết chết khoảng 18% số gấu hoang tại đây. Điều này đã khiến nhà chức trách New Jersey quyết định sẽ kéo dài thời gian săn gấu thêm 4 ngày trong tuần này nhằm giảm thiểu số lượng cá thể gấu đen tại đây.
Cách đây 5 năm, ý định mở cuộc săn gấu đã được nhà chức trách New Jersey đề cập tới khi mà số lượng gấu đen tại vùng Tây Bắc của bang này đã lên đến khoảng 3.500 cá thể.
Theo một nhân viên Cục Bảo vệ Môi trường New Jersey,trong thời gian gần đây, số lượng gấu đã tăng lên đáng kể. Các quan chức hy vọng, thông qua đợt săn bắn này có thể giảm khoảng 20% số lượng cá thể gấu so với hiện tại.
Tuy nhiên, việc săn bắn gấu đang làm dấy lên một làn sóng phản đối. Các nhà bảo vệ động vật đã lên tiếng phản đối hành vi săn bắn này và gọi các thợ săn gấu là những “kẻ giết người”.
Người đứng đầu tổ chức Bảo Vệ động vật New Jersey – bà Angi Metler khẳng định: “Việc săn bắn không phải là giải pháp trong việc giảm thiểu số lượng gấu tại New Jersey. Chúng tôi đến đây để phản đối hành động này”. (Môi Trường Và Đời Sống 19/12) đầu trang(
Ngày 18/12, giới chức Nam Phi cho biết nước này đang xúc tiến triển khai một mặt trận liên minh với các nước láng giềng trong cuộc chiến chống săn bắt trộm tê giác.
Cụ thể, Nam Phi đã cung cấp số thiết bị trị giá 2,6 triệu rand (khoảng 170.000 USD) cho kiểm lâm tại Mozambique, Zimbabwe và Công viên quốc gia Kruger (KNP)-một trong những khu bảo tồn lớn nhất của châu Phi ở Đông Bắc Nam Phi.
Người đứng đầu lực lượng chống săn bắt tê giác tại KNP Johan Jooste cho biết khoản viện trợ này bao gồm một máy bay hạng nhẹ.
Ông Jooste nhấn mạnh các nước láng giềng cần được trang bị tương đương với Nam Phi và đều phải hợp tác nếu muốn thành công trong chiến dịch chống săn bắt trộm tê giác.
Nam Phi, Mozambique và Zimbabwe đã cam kết hợp tác trong cuộc chiến chống nạn săn bắt trộm tê giác tại Khu bảo tồn xuyên biên giới Limpopo. Khu bảo tồn trên được ba quốc gia này thành lập vào năm 2002.
Theo thống kê chính thức, chỉ riêng trong 8 tháng đầu năm nay, Nam Phi đã mất tổng cộng 749 con tê giác, trong số này có 544 con bị săn trộm tại KNP.
Năm 2014, Nam Phi ghi nhận mức kỷ lục 1.215 con tê giác bị giết hại, tương đương với cứ 8 giờ lại có một con tê giác bị săn trộm. Các chuyên gia dự báo số lượng tê giác bị săn bắt năm nay sẽ vượt qua con số kỷ lục trên bất chấp việc tăng cường nỗ lực chống nạn săn bắt trộm. (Vietnam + 19/12) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||