Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 21 tháng 05 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Cục Điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan vừa khởi tố vụ án buôn lậu gỗ xảy ra tại cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (Bình Phước).
Vụ án này được Tổng cục Hải quan lập tổ đặc nhiệm để điều tra, triệt phá từ tháng 11-2013, thu giữ hàng trăm mét khối gỗ tại Bình Phước và TP.HCM.
Theo Cục Điều tra chống buôn lậu, sau khi xác minh tại Công ty TNHH thương mại dịch vụ sản xuất xuất nhập khẩu Bảo Ngọc Bình Phước (huyện Lộc Ninh, Bình Phước), cơ quan hải quan xác định công ty này tạm nhập tái xuất gỗ tại Chi cục Hải quan quốc tế cửa khẩu Hoa Lư với số lượng hơn 264m3 gỗ hương xẻ, trị giá trên 11 tỉ đồng, có nguồn gốc từ Lào, sau đó tái xuất đi Trung Quốc cho Công ty N.D.S Import Export tại Đan Mạch. Tuy nhiên, kết quả kiểm tra cho thấy số gỗ nhiều hơn khai báo là gần 58m3.
Cơ quan hải quan cho biết công ty khai báo hàng hóa được nhập khẩu từ Lào quá cảnh qua Campuchia. Nhưng công ty không xuất trình được hồ sơ quá cảnh qua Campuchia, không cung cấp được bất kỳ chứng từ, tài liệu nào thể hiện lô hàng được nhập khẩu có nguồn gốc từ Lào. Đối với các giấy tờ thu được, Viện Khoa học hình sự Bộ Công an giám định kết luận chữ ký và con dấu của đối tác bên Lào trên hợp đồng mua bán và lý lịch gỗ là giả.
Đáng chú ý, trong vụ buôn lậu gỗ này, qua điều tra của Tuổi Trẻ, giám đốc doanh nghiệp Bảo Ngọc Bình Phước là bà Quách Thị Lan Hương hoàn toàn không biết gì về việc kinh doanh, tạm nhập tái xuất gỗ của công ty. Bà Hương chỉ biết ký những giấy tờ khi ông Quách Phi Long, một người anh của bà Hương, yêu cầu khi có liên quan đến hoạt động của công ty này. (Tuổi Trẻ 21/5) đầu trang(
Từ đầu tháng 5 đến nay, trên địa bàn thành phố HN không xảy ra cháy rừng và chặt phá rừng trái phép.
Cơ quan chức năng đã phát hiện 11 vụ vi phạm mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, với khối lượng 15m3 gỗ tròn; xử lý vi phạm và nộp ngân sách Nhà nước 144,5 triệu đồng. (HN Mới 21/5) đầu trang(
Vườn điều gần 5 năm là tài sản lớn nhất của gia đình anh Lăng Văn Sống, trú ấp 11, xã Thống Nhất (Bù Đăng) bị một cán bộ kiểm lâm huyện đến chặt bỏ một phần diện tích nhưng không cho biết lý do.
Sau khi chặt xong, cán bộ kiểm lâm này nhiều lần chủ động đến gặp anh Sống để thương lượng đền bù thiệt hại vì không muốn bị làm lớn chuyện (?!).
Anh Lăng Văn Sống cho biết, gia đình có hơn 1,5 ha đất canh tác tại Tiểu khu 199, xã Phước Sơn (Bù Đăng) từ năm 2004 đến nay. Những năm đầu, anh Sống trồng bắp, mì, sau đó chuyển sang trồng điều từ năm 2009, đến nay đã cho thu hoạch.
Nhưng vào lúc 9 giờ ngày 19-3-2014, khi vợ chồng anh Sống và em trai vào lượm điều, thì ông Phạm Văn Sanh (cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Bù đăng) và ông Lê Thành Trung (quản lý rừng phòng hộ xã Đồng Nai) thuê 3 người từ nơi khác đến chặt phá vườn điều của anh Sống để “thu hồi” đất. Dù anh Sống can ngăn nhưng ông Sanh vẫn chặt, còn yêu cầu ông Trung chỉ ranh giới đất của anh Sống để chặt hết. Ông Sanh dọa “Nếu mày còn cương thì tao kêu người chặt phá hết cả khu vườn này”. Sau hồi van xin không có tác dụng, anh Sống đến trình báo vụ việc với Công an xã Phước Sơn.
Theo ông Lương Đình Dũng, Trưởng công an xã Phước Sơn thì khi xảy ra sự việc, anh Sống có đến trình báo. Công an xã đã cử cán bộ đến nắm tình hình nhưng khi đến nơi các đối tượng chặt phá đã đi khỏi hiện trường. Tại đây, ghi nhận có 45 cây điều của gia đình anh Sống tại Tiểu khu 199 bị ông Sanh thuê người chặt phá. Sau khi lập biên bản, tất cả các bên được mời về UBND xã Phước Sơn và đề nghị thương lượng nhưng không thành.
Anh Sống cho biết, sau khi xảy ra vụ việc, ông Sanh nhiều lần chủ động gọi điện gặp anh xin được đền bù thiệt hại. Lúc đầu, ông Sanh đề nghị mức đền bù 10 triệu đồng, sau đó tăng lên 20 triệu đồng nhưng anh Sống không đồng ý. Vì theo trình bày của anh, số tiền đó không đủ bù thiệt hại kinh tế mà gia đình anh đã đầu tư trong 5 năm qua.
Sau khi vụ việc xảy ra, phóng viên Báo Bình Phước đã liên lạc với ông Phạm Văn Sanh nhưng ông Sanh từ chối trả lời. Còn ông Lê Thành Trung cho biết, tôi đến chỉ cho ông Sanh biết ranh giới đất lâm trường, còn việc chặt phá thì không liên quan.
Đây không phải lần đầu tiên ông Sanh gây phiền hà cho dân. Trước đó, cũng tại Tiểu khu 199, ông Sanh và ông Trung đến “thu hồi” đất bằng miệng, buộc các hộ dân là Lăng Văn Quảng, Lăng Thị Quý, trú ấp 2, xã Thống Nhất; Lăng Văn Xuân, trú ấp 11, xã Thống Nhất và 2 hộ khác phải trả lại đất, bắt nhận tiền khai hoang với giá rẻ khiến người dân rất bất bình.
Theo đơn tố cáo ngày 17-10-2013 của những hộ dân nói trên, ông Phạm Văn Sanh và ông Lê Thành Trung đến khu đất của các hộ này để đo đạc, với lý do khu đất nằm trong quy hoạch của Công ty STM Hàn Quốc nên bị Nhà nước thu hồi, nhưng không có bất kỳ một văn bản nào. Khi những thắc mắc của người dân chưa được trả lời thì ông Sanh, ông Trung và 2 người khác (tự xưng là cán bộ Công ty STM Hàn Quốc) đến “thu hồi” diện tích 2,2 ha của hộ anh Quảng, 3,5 ha của hộ anh Xuân và 6,5 ha của hộ bà Quý.
Đo đạc xong, ông Sanh đưa mỗi người một tờ giấy hẹn ngày 11-11-2013 đến quán cà phê Sao Đêm ở thị trấn Đức Phong (Bù Đăng) để thỏa thuận việc đền bù diện tích đất bị thu hồi với giá 2 triệu đồng/ha, nhưng các hộ đều không đồng ý vì cho rằng quá thấp. Đến ngày 18-11-2013, ông Sanh gọi điện cho các hộ dân đến quán cà phê Sao Đêm để thỏa thuận tiếp. Lần này ông Sanh đe dọa, đây là đất của Nhà nước, nếu không nhận tiền đền bù thì bị thu hồi trắng. Vì sợ nên các hộ đã nhận tiền đền bù công khai hoang với giá 2 triệu đồng/ha. Những hộ bị “thu hồi” đất lần này có hộ anh Lăng Văn Sống nhưng anh Sống không đồng ý với số tiền đền bù trên nên không nhận.
Anh Lăng Văn Quảng bức xúc: “Do dân chưa hiểu hết quy định của pháp luật về quản lý đất nên khi nghe Nhà nước thu hồi đất thì chúng tôi sẵn sàng chấp hành và nhận tiền đền bù rồi giao đất cho Nhà nước. Chỉ sau khi sự việc của anh Lăng Văn Sống được giải quyết thì chúng tôi mới biết mình bị lừa. Bao nhiêu công sức, mồ hôi bỏ ra khai phá tự nhiên bị “thu hồi” mà không có một văn bản, giấy tờ nào...”.
Tại buổi hòa giải do UBND xã Phước Sơn chủ trì ngày 28-3-2014, ông Sanh đề nghị bồi thường cho hộ anh Lăng Văn Sống 40 triệu đồng và yêu cầu không được tố cáo hay khiếu nại lên cấp trên. Dù các hộ dân có nhận tiền “đền bù” từ ông Sanh, nhưng câu hỏi đặt ra là số diện tích đất hơn 12 ha thu được từ người dân hiện do ai quản lý, sử dụng như thế nào? Ông Phạm Văn Sanh nhân danh ai đi thu hồi đất, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng nơi ông Sanh công tác có biết chuyện này hay không...?
PV đã 2 lần đến trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng, 1 lần gọi điện thoại gặp lãnh đạo hạt để làm rõ những vấn đề trên nhưng cả 2 lần đều được một cán bộ hạt kiểm lâm cho biết “sếp” đang đi họp ở thị xã Đồng Xoài và chưa nắm được thông tin gì?
Trước hành vi cố ý phá hoại tài sản của công dân nhiều lần mà ông Phạm Văn Sanh đã làm, rất cần được điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Bình Phước 21/5) đầu trang(
16-5, tại Tiểu khu 478 núi Chư Ma, buôn Ea Mar, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắc Lắc, Ban chỉ đạo phòng, chống cháy rừng huyện Buôn Đôn đã tổ chức diễn tập chữa cháy rừng năm 2014.
Đợt diễn tập thực binh chữa cháy rừng đã huy động trên 500 lực lượng, gồm cán bộ, công nhân viên khu sinh thái Bản Đôn, lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, kiểm lâm, bộ đội, công an, cùng với nhiều trang bị, phương tiện, xe phòng cháy chữa cháy, máy bơm nước, bình bọt chữa cháy… các lực lượng đã tiến hành các biện pháp chữa cháy quyết liệt.
Sau khi xử lý ở 3 giai đoạn, cấp độ và quy mô cháy rừng khác nhau, với phương châm 4 tại chỗ là “lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, hậu cần tại chỗ”, các lực lượng đã phối hợp nhịp nhàng trong xử lý chữa cháy.
Lực lượng cấp xã đã được huyện và cấp tỉnh tăng cường hỗ trợ, giải quyết tốt tình huống đặt ra, là rừng Buôn Đôn trong điều kiện thời tiết khô hanh, gió to, xảy ra cháy trên diện rộng. Sau 60 phút, thực binh chữa cháy rừng, các đám cháy đã được các lực lượng cô lập, dập tắt hoàn toàn. Cuộc diễn tập thực nghiệm chữa cháy rừng với quy mô lớn lần này đã phát huy được vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành của cấp ủy, chính quyền và Ban chỉ huy phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn và phòng chống cháy nổ, cháy rừng ở các cấp; giữa các lực lượng đã phối hợp, hiệp đồng tốt trong công tác chữa cháy rừng.
Buôn Đôn là địa phương đầu tiên trên địa bàn Quân khu 5 tổ chức diễn tập chữa cháy rừng; với đặc điểm huyện Buôn Đôn đang quản lý trên 119.796 héc-ta đất lâm nghiệp, phần lớn là rừng khộp, chiếm 80% diện tích đất tự nhiên của huyện; trong những năm gần đây do thời tiết khắc nghiệt, nên luôn tiềm ẩn cháy rừng. Diễn tập là điều kiện để các lực lượng phát huy tốt vai trò trong phòng, chống và chữa cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 19/5) đầu trang(
Đây là tên hội thảo được Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học (Bộ TN&MT) phối hợp với Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền, Bộ Y tế tổ chức vào ngày 20/5, tại Hà Nội.
Tại hội thảo, các chuyên gia cho biết, trong hệ thống y tế Nhà nước thì không sử dụng động vật hoang dã (ĐVHD), tuy nhiên trong dân gian việc sử dụng ĐVHD là có và điều này góp phần làm tăng mối nguy hại đối với ĐVHD...
Ngoài ra, tại hội thảo, các chuyên gia đã thảo luận và góp ý kiến cho dự thảo văn bản của Bộ Y tế về chỉ đạo triển khai các giải pháp bảo vệ và không sử dụng trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm trong y học cổ truyền. (Khoa Học & Đời Sống 21/5) đầu trang(
19-5, Công an huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) cho biết vừa khởi tố, bắt tạm giam Bùi Văn Tâm (ngụ xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu) về tội tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép.
Trong quá trình đến Bình Phước bẫy chim, Tâm nhờ một người tên Vi (không rõ địa chỉ) mua giúp súng để săn bắn thú rừng. Vi nói không ai bán súng mà chỉ bán nòng súng rồi về tự chế thành súng săn. Vi bán cho Tâm một nòng súng giá 1,5 triệu đồng rồi vẽ mẫu súng tự chế để Tâm làm theo. Tâm thuê người chế súng theo mẫu Vi đã vẽ. Tiếp đó, Tâm mua của Vi 15 viên đạn giá 240.000 đồng.
Tâm mang súng vào Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai để săn thú rừng. Khi Tâm bắn được một con cheo, một con chồn thì súng bị hỏng. Tâm mang súng quay về sửa chữa thì bị lực lượng kiểm lâm phát hiện, bắt giữ. (Pháp Luật TPHCM 20/5) đầu trang(
Nhóm nghiên cứu Tống Xuân Tám, Cao Hoài Đức, Trường đại học sư phạm TP.HCM đã thu thập mẫu vật, định danh và xây dựng được cơ sở dữ liệu về 142 loài cá biển, trong đó có 3 loài cá biển có trong Sách đỏ Việt Nam, giúp các nhà nghiên cứu, các nhà phân loại học, sinh viên tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí khi tiến hành định loại một loài cá nào đó ở Vũng Tàu.
Nhóm nghiên cứu thu mẫu trực tiếp bằng những loại ngư cụ đánh bắt cho phép, tổ chức đi cùng ngư dân đánh bắt theo yêu cầu, mua cá của người dân địa phương đánh bắt ngẫu nhiên hoặc hướng dẫn cách thu và đặt thùng mẫu có đựng dung dịch formalin 8% để ngư dân thu hộ... Mỗi loài thu được ít hay nhiều hơn ở mỗi địa điểm nghiên cứu là tùy thuộc vào kích thước của cá hoặc mức độ thường gặp.
Đề tài đã xây dựng đuợc cơ sở dữ liệu của 142 loài cá biển ở Vũng Tàu, xếp trong 101 giống, 63 họ, 17 bộ. Khó khăn lớn nhất là việc xây dựng hệ thống phân loại cá. Vì hiện nay, các tài liệu (giấy và số) trong nước và trên thế giới đang tồn tại song song hai hệ thống phân loại cá của Lindberg G. V. (1974) và hệ thông phân loại cá Eschmeyer w. N. & Fong J. D. (2013).
Tuy nhiên, đề tài chọn hệ thông phân loại cá đuợc sử dụng phổ biến hiện nay là của Eschmeyer w. N. & Fong J. D. (2013). Vì các tác giả này đã dựa trên những nghiên cứu mới nhất về giải phẫu, sinh lý, sinh hóa, di truyền, phân tích DNA... để sắp xếp các loài cá vào hệ thống theo thang bậc tiến hóa từ thấp đến cao. Chính vì thế, hệ thông phân loại cá này vừa mang tính hiện đại, vừa có độ tin cậy cao hơn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, bộ cá vược (Perciíbrmes) chiếm số lượng nhiều nhất (33 họ, 57 giống, 90 loài). Bổ sung cho các công trình nghiên cứu truớc đây 12 loài, 8 giống, 2 họ. Ở Vũng Tàu có 3 loài cá biển có trong Sách đỏ Việt Nam (2007): cá cháo lớn Megalops cyprinoides; cá mòi không răng Anodontostoma chacunda; cá đường Otolithoides biauritus bậc VU.
Các tác giả đã xây dựng cơ sở dữ liệu chi tiết và bộ mẫu trưng bày 142 loài cá biển ở Vũng Tàu cho phòng thí nghiệm động vật, khoa sinh học, Trường đại học sư phạm TP.HCM phục vụ cho công tác dạy học và nghiên cứu khoa học. (Khoa Học Phổ Thông 16/5) đầu trang(
Sáng 20-5, Hạt kiểm lâm huyện Vĩnh Cửu đã tổ chức tiêu huỷ 76 cá thể động vật rừng (có trọng lượng gần 40 kg) và gần 50 kg sản phẩm thịt động vật rừng, gồm các loại: cầy vòi hương, rắn sọc dưa, rắn cạp nong, cheo, nhím…
Đây là tang vật trong các vụ vi phạm hành chính được Tổ công tác liên ngành của huyện và Hạt Kiểm lâm Vĩnh Cửu kiểm tra, truy quét và bắt giữ trong thời gian từ tháng 4-2013 đến tháng 5-2014. (Báo Đồng Nai 20/5) đầu trang(
Ngọc Lặc, Thanh Hóa: Đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ và PCCC rừng
Huyện Ngọc Lặc có tổng diện tích đất lâm nghiệp hơn 19.000 ha, trong đó diện tích rừng có nguy cơ cháy cao trên 7.000 ha, tập trung ở các xã Ngọc Khê, Quang Trung, Minh Sơn...
Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), ngay từ đầu năm 2014,  huyện Ngọc Lặc đã xây dựng kế hoạch, tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng, PCCCR cho các tổ xung kích, lực lượng dân quân tự vệ, công an, cán bộ PCCCR ở các xã với trên 300 lượt người tham gia. Toàn huyện đã tổ chức hai cuộc diễn tập chữa cháy rừng. Nhiều đơn vị đã xây dựng được kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện, hậu cần tham gia PCCCR của địa phương.
Các địa phương cũng đã tiến hành cam kết trách nhiệm thực hiện công tác PCCCR giữa các thành viên của các tổ chức, đoàn thể, người dân với ban quản lý thôn, bản; giữa trưởng các bản, khu phố với UBND xã, thị trấn. Chuẩn bị đầy đủ lực lượng chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”, kiểm soát chặt chẽ nguồn lửa đưa vào trong rừng và ven rừng. Đấu tranh và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm theo các quy định của Nhà nước trong công tác PCCCR. (Báo Thanh Hóa 21/5) đầu trang(
Với sự vào cuộc của các cấp, các ngành cùng nhiều biện pháp được triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt nên công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Bể thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực...
Với diện tích hơn 10.000ha, Vườn Quốc gia Ba Bể nằm trên địa bàn của 5 xã của huyện và có ranh giới giáp với các xã Nam Cường, Xuân Lạc (Chợ Đồn) và xã Đà Vị, huyện Na Hang (Tuyên Quang), đời sống cư dân ở vùng đệm và các xã lân cận còn rất khó khăn nên trong một thời gian dài một số đối tượng vì lợi nhuận đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi khai thác trộm tài nguyên rừng, săn bắt động vật hoang dã...
Do vậy, công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học ở Vườn Quốc gia Ba Bể luôn được chính quyền địa phương và ngành chức năng coi trọng. Thời gian gần đây, với việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp nên công tác quản lý, bảo vệ rừng đã có nhiều chuyển biến.
Ông Phạm Văn Chí- Phó Giám đốc phụ trách phát triển rừng và các dự án quan hệ hợp tác quốc tế Vườn Quốc gia Ba Bể cho biết: Từ khi các cấp, ngành, lực lượng chức năng và các địa phương cùng vào cuộc quyết liệt; xây dựng cơ chế đặc thù giao khoán cho cộng đồng thôn, bản cùng bảo vệ thì tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép được đẩy lùi. Trong 4 tháng đầu năm 2014, qua công tác tuần tra, kiểm soát, lực lượng chức năng đã phát hiện và lập 22 biên bản vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó, 13 vụ vận chuyển, 2 vụ cất giấu lâm sản trái phép, 6 vụ khai thác rừng trái phép (tác động vào cây gỗ cũ đã được thống kê quản lý), xử phạt vi phạm hành chính 36 triệu đồng.
Để đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, Vườn Quốc gia Ba Bể đã tăng cường phối hợp với chính quyền các địa phương nằm trong vùng lõi và vùng giáp danh tuyên truyền các văn bản pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cho người dân. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, theo dõi các đối tượng chuyên vận chuyển và thu mua gỗ lậu, thăm nắm tình hình hộ nào chứa gỗ không rõ nguồn gốc để có biện pháp xử lý theo quy định. Bên cạnh đó, tổ chức ký cam kết, phát phiếu; mở hòm thư phát giác đối tượng vi phạm chặt phá rừng, săn bắt động vật rừng phục vụ hiệu quả công tác bảo vệ rừng vườn quốc gia.
Thời gian qua, các xã: Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Nam Mẫu… xung quanh khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể đã rà soát các cơ sở chế biến gỗ; số lượng cưa xăng trên địa bàn, làm thủ tục đăng ký về trạm kiểm lâm quản lý.
Theo kết quả kiểm kê của 7 xã có tổng cộng 267 chiếc cưa xăng (trong đó: Quảng Khê có 67 chiếc, Cao Thượng có 48 chiếc, Đồng Phúc có 39 chiếc, Nam Mẫu có 27 chiếc, Cao Trĩ có 23 chiếc, Khang Ninh có 52 chiếc, Hoàng Trĩ có 11 chiếc), nhưng đến nay mới chỉ đưa về quản lý tại các trạm kiểm lâm theo quy định được 27 chiếc của 4 xã: Khang Ninh 7 chiếc, Đồng Phúc 14 chiếc, Nam Mẫu 4 chiếc và của xã Quảng Khê 2 chiếc. Hiện nay, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể và chính quyền các địa phương nói trên đang tập trung tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và chấp hành tốt việc đưa cưa xăng về các trạm kiểm lâm để quản lý.
Những ngày hè tháng 5 thời tiết khắc nghiệt, oi bức, nhưng những kiểm lâm viên Vườn Quốc gia Ba Bể vẫn hằng ngày thường xuyên bám sát địa bàn thực hiện nhiệm vụ tăng cường công tác tuần tra, bảo vệ rừng. Cùng với đó, các xã nằm xung quanh khu vực quanh Vườn Quốc gia Ba Bể cũng đã thành lập tổ công tác gồm các ban, ngành nhằm tích cực tuyên truyền, vận động người dân thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, chung tay góp sức bảo vệ rừng quốc gia ngày càng có hiệu quả. (Báo Bắc Cạn 20/5) đầu trang(
Báo Công an TP Đà Nẵng số ra ngày 2-5 có đăng bài "Những bất cập trong việc giao khoán bảo vệ rừng tại xã Duy Thu" phản ánh tình trạng quản lý lỏng lẻo và giao rừng phòng hộ đầu nguồn (rừng JIBIC) cho một số cán bộ, không phải người địa phương...
Trong bài viết có chi tiết: "ông Trương Quốc Lâm, trú Duy Thu, Duy Xuyên  thuê người khai thác trộm gần 1 ha rừng thuộc dự án rừng JIBIC". Sau khi báo đăng, ngày 5-5, ông Trương Quốc Lâm (trú Tĩnh Yên, xã Duy Thu, H. Duy Xuyên, Quảng Nam), nguyên Bí thư Đảng bộ kiêm Chủ tịch UBND xã Duy Thu có đơn kiến nghị, cho rằng những chi tiết trên là bịa đặt, vu khống. Qua tìm hiểu từ thực tế và kết quả làm việc, chúng tôi xác định...
Ông Nguyễn Tánh (trú Thạnh Xuyên, xã Duy Thu), người trồng rừng giáp giới với rừng của ông Trương Quốc Lâm, trình bày: Ngày 15-9-2012, ông Lâm thuê người vào phát thực bì, chuẩn bị khai thác rừng trồng trước đó. Do sợ ông Lâm phát nhầm sang rừng của tôi nên đi kiểm tra và thấy ông Lâm cho người phát cây sao đen thuộc dự án rừng JIBIC. Phát hiện sự việc, tôi điện báo cho ông Nguyễn Lin, cán bộ phụ trách lâm nghiệp xã Duy Thu.
Ngày 30-10-2012, khi kiểm tra, ông Nguyễn Lin không có ý kiến gì nên ông Lâm tổ chức ông Nguyễn Thành, Nguyễn Thuận (trú Thạnh Xuyên, xã Duy Thu) mang máy cưa vào khai thác rừng của mình và lấn sang rừng thuộc dự án JIBIC hơn 1ha. Đến tháng 11-2012, đoàn kiểm tra của xã Duy Thu, gồm các ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND xã; Trần Văn Chức, Chủ tịch UBMTTQ, Nguyễn Lin, cán bộ lâm nghiệp; Nguyễn Thế Kế, cán bộ địa chính... tiến hành kiểm tra thực tế đã phát hiện hành vi khai thác trái phép rừng JIBIC của ông Trương Quốc Lâm nhưng sau đó không có biện pháp xử lý...
Tiếp tục tìm hiểu sự việc, ngày 13-5-2014, PV đã làm việc cùng các cơ quan chức năng tại xã Duy Thu và được ông Nguyễn Lin cho biết: Cuối năm 2012, ông Nguyễn Tánh có điện thoại báo cáo sự việc ông Lâm khai thác trái phép rừng JIBIC. Sau khi tiếp nhận thông tin, tôi đã vào kiểm tra, phát hiện ông Lâm cho người chặt phá 1 hàng cây sao đen ở ranh giới giữa rừng của ông Lâm và rừng JIBIC nên yêu cầu đình chỉ.
Một thời gian sau, dư luận rộ lên thông tin ông Lâm khai thác trái phép diện tích lớn rừng JIBIC. Ngay sau đó, UBND xã thành lập đoàn kiểm tra thực tế, gồm các ông: Chủ tịch UBND xã Nguyễn Thanh Sơn (hiện đã chuyển công tác), Phó Bí thư Đảng ủy xã Trương Thanh Bốn, Phó Chủ tịch HĐND xã Huỳnh Kim Minh và ông Nguyễn Lin, cán bộ lâm nghiệp...
Đoàn kiểm tra phát hiện ông Trương Quốc Lâm thuê người khai thác trái phép phía đỉnh đồi một khoảnh rừng khoảng 1.500m2 và phần chạy dọc đường ranh giới giữa hai rừng có chiều ngang khoảng 6m, chiều dài khoảng 150m. Tuy nhiên, đoàn kiểm tra không lập biên bản sự việc vì tất cả đều nể nang ông Lâm nguyên là cán bộ lãnh đạo của xã.
Cũng trong thời gian này, ông Lâm có khai thác cây trồng trên diện tích đất của ông Phan Trữ nên ông Trữ có đơn khiếu nại gửi UBND xã nhờ can thiệp. Qua giải quyết, ông Lâm đã đền bù 10 triệu đồng.
Phó Chủ tịch UBND xã Duy Thu Ngô Đức Hoa thừa nhận: UBND xã có tiếp nhận thông tin, có thành lập đoàn kiểm tra và phát hiện hành vi khai thác trái phép rừng JIBIC của ông Trương Quốc Lâm. Tuy nhiên, do ông Lâm là cán bộ chủ chốt của địa phương trước đây nên... khó giải quyết (!?).
Cũng theo ông Huỳnh Kim Minh, Phó Chủ tịch HĐND xã, thành viên đoàn kiểm tra: việc ông Lâm khai thác trái phép rừng JIBIC vào thời điểm cuối năm 2012 là có thật nhưng do không đo, đếm nên không biết diện tích là bao nhiêu...
Còn ông Nguyễn Tấn Vinh, đại biểu HĐND xã cho biết: Tại các cuộc họp HĐND xã trong năm 2013 cũng đã chất vấn Chủ tịch HĐND và các cơ quan, ban, ngành về việc xử lý hành vi khai thác rừng trái phép của ông Lâm. Tại cuộc họp, ông Nguyễn Công Chơn, Chủ tịch HĐND trả lời: Đại biểu thông cảm. Vì ông Lâm có đóng góp cho xã, không thể làm quá...
Qua kết quả làm việc và những gì ghi nhận từ thực tế cho thấy việc ông Trương Quốc Lâm thuê người khai thác trái phép rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Duy Thu là đúng sự thật. Tuy nhiên, vì sự nể nang, bao che của những cán bộ chủ chốt tại địa phương đã "vô tình" tạo ra một "cơ chế riêng" đối với cá nhân ông Trương Quốc Lâm. Điều đó đã tạo ra dư luận xấu tại địa phương.
Đề nghị các cơ quan chức năng H. Duy Xuyên và tỉnh Quảng Nam sớm có biện pháp chấn chỉnh việc làm sai trái trên nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh và thống nhất. (Công An Đà Nẵng 20/5) đầu trang(
Những năm qua, lực lượng kiểm lâm các địa phương trong tỉnh Bắc Giang đã làm tốt công tác quản lý, bảo vệ, giữ vững diện tích rừng. Không những vậy, các đơn vị còn tích cực vận động nhân dân phát triển kinh tế rừng, nâng cao độ che phủ trên đất trống, đồi núi trọc.
Ông Đồng Xuân Thanh, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Yên Thế cho biết: "Nhiều năm gần đây, công tác phát triển rừng được chú trọng thực hiện. Đơn vị tập trung tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân chuyển đổi theo hướng sản xuất rừng gỗ lớn, hướng tới mục tiêu xây dựng rừng Yên Thế đạt chuẩn chứng chỉ rừng Việt Nam và quốc tế (FFC), tạo điều kiện để gỗ rừng trồng trong huyện có thể xuất khẩu vào các thị trường khó tính như: Mỹ, châu Âu...".
Gia đình ông Nguyễn Xuân Quán, thôn Nam Cầu, xã Xuân Lương (Yên Thế) được UBND huyện giao sử dụng 8ha đất lâm nghiệp từ năm 1999. Trồng rừng từ đó đến nay, ông Quán đã khai thác ba đợt gỗ, thu hơn 600 triệu đồng. Tận dụng diện tích đất trống dưới tán rừng, ông nuôi gà, quy mô một nghìn con/lứa.
Trước đây, cũng như một số hộ khác, ông chưa chú trọng chọn cây giống, áp dụng quy trình kỹ thuật mới nên sản lượng gỗ đạt thấp. Được cán bộ kiểm lâm huyện phổ biến, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và hỗ trợ một phần cây giống, phân bón, từ năm 2013, sau khi khai thác, ông đã chọn mua cây giống chất lượng cao. Ông cho biết sẽ chuyển đổi từ trồng keo, bạch đàn có chu kỳ 5-7 năm sang chu kỳ từ 12-15 năm để cây phát triển tối đa thành gỗ lớn, giá trị cao.
Gia đình anh Nguyễn Văn Điều, thôn Xoan (xã Xuân Lương) có hơn 10ha rừng trồng từ năm 1995-1996. Những ngày này, anh rất vui vì được cán bộ kiểm lâm huyện Yên Thế tận tình hướng dẫn thực hiện các thủ tục cấp phép khai thác. Trữ lượng gỗ trong khu rừng đạt hơn 1,5 nghìn m3, trị giá hơn 2,5 tỷ đồng. Các công đoạn từ thiết kế khai thác, đánh giá trữ lượng và tái trồng rừng đều được Hạt Kiểm lâm Yên Thế cử cán bộ hướng dẫn tận tình.
Hiện nay, gần 100% diện tích rừng kém chất lượng ở Yên Thế đã được chuyển đổi sang các loại giống mới cho hiệu quả cao. Nhiều chủ rừng đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, nên sản lượng gỗ đạt 100-120m3/ha, trị giá từ 80-100 triệu đồng/ha. Toàn huyện có hơn 7 nghìn hộ được giao đất, nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, trong đó có gần 500 hộ ở các xã Xuân Lương, Canh Nậu, Tam Tiến, Đông Sơn... duy trì mức thu nhập từ rừng đạt 100 - 300 triệu đồng/năm. Trên địa bàn huyện có 120 xưởng bóc gỗ, băm dăm, làm mộc gia dụng, sản xuất than hầm, than hoạt tính xuất khẩu, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương.
Từ năm 2009 đến nay, thực hiện Quyết định 147 của Thủ tướng chính phủ về việc quy định một số chính sách phát triển rừng sản xuất, lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đã tích cực hướng dẫn, hỗ trợ cây giống, phân bón cho nhân dân trồng rừng. Toàn tỉnh đã trồng mới hơn 20 nghìn ha rừng, 30% trong số đó được trồng theo hướng phát triển cây gỗ lớn.
Tiêu biểu như Hạt Kiểm lâm Sơn Động, hơn 5 năm qua đã hỗ trợ nhân dân trồng, phủ xanh gần 5 nghìn ha đất trống, đồi, núi trọc, nâng tổng diện tích đất có rừng của huyện lên hơn 66,5 nghìn ha. Như những tuyên truyền viên, các cán bộ kiểm lâm Sơn Động tích cực gần dân, giúp đỡ bà con phát triển kinh tế, nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Hạt Kiểm lâm huyện Lục Ngạn cũng tích cực tham mưu cho UBND huyện ban hành văn bản chỉ đạo UBND các xã, chủ rừng trên địa bàn mở rộng diện tích rừng trồng. Bằng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách, từ năm 2012 đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo, hướng dẫn nhân dân các xã trồng mới gần 4 nghìn ha rừng.
Trước đây, nhiệm vụ chính của lực lượng kiểm lâm là kiểm tra, bảo vệ, xử lý vi phạm lâm luật. Sau hơn 5 năm triển khai nhiệm vụ phát triển rừng, các cán bộ kiểm lâm có điều kiện gần dân, hướng dẫn kỹ thuật cho bà con.
Ông Từ Quốc Huy, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: "Từ năm 2009 đến nay, lực lượng kiểm lâm đã làm tốt nhiệm vụ vận động, hỗ trợ nhân dân trồng, phát triển rừng kinh tế. Nhiều diện tích rừng được trồng mới, phủ xanh đất trống, đồi trọc. Chúng tôi tiếp tục chỉ đạo kiểm lâm các huyện đổi mới phương thức trồng rừng, vận động bà con phát triển rừng gỗ lớn với chu kỳ dài, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ sinh thái, môi trường". (Báo Bắc Giang 21/5) đầu trang(
Thanh Hoá có trên 626.757 ha rừng và đất lâm nghiệp, diện tích có rừng 567.346 ha, độ che phủ 51%; trong đó diện tích rừng có nguy cơ cháy cao là 50.200 ha. Do đó, công tác PCCCR được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nên ngay từ đầu năm 2014 lực lượng Kiểm lâm đã tham mưu cho chính quyền các cấp triển khai đồng bộ, quyết liệt công tác PCCCR từ tỉnh đến cơ sở.
Ở cấp tỉnh: Chủ tịch UBND ban hành Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 15/01/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc tăng cường thực hiện công tác PCCCR năm 2014; Kế hoạch số 12/KH-BCĐ ngày 14/02/2014 của Ban chỉ đạo về Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011-2020 về thực hiện bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2014; Kế hoạch số 10/KH-BCĐ ngày 13/02/2014 về huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng năm 2014; Thông báo số 01/TB-BCĐ ngày 18/02/2014 về kiểm tra công tác PCCCR năm 2014; Công văn số 2425/UBND-NN ngày 02/4/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp cấp bách PCCCR năm 2014.
Đến hết tháng 4/2014, các thành viên BCĐ tỉnh đã tổ chức kiểm tra công tác PCCCR được 27/27 huyện, thị xã, thành phố và 19 xã, 10 chủ rừng nhà nước. Thông qua kiểm tra, đánh giá những việc làm được, chưa làm được, tìm ra nguyên nhân tồn tại, yếu kém để chỉ đạo khắc phục ngay; đồng thời đôn đốc, giúp các địa phương và chủ rừng triển khai thực hiện tốt công tác PCCCR năm 2014.
Ở cấp huyện: Đã triển khai kịp thời, đầy đủ, nghiêm túc, hiệu quả các văn bản chỉ đạo của cấp trên về công tác PCCCR năm 2014; kiện toàn 27 BCĐ về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, ban hành Quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ, địa bàn phụ trách cho các thành viên BCĐ. BCĐ các huyện tổ chức kiểm tra ở cấp xã, chủ rừng được 129 lần; điều tra, khảo sát, xác định các khu vực trọng điểm an ninh rừng đến từng lô, khoảnh, tiểu khu, cụ thể đã xác định được: Trọng điểm khai thác, phá rừng, xâm lấn rừng tại 65 xã với diện tích 34.174 ha và 176 xã trọng điểm cháy rừng với tổng diện tích là 50.878 ha; xây dựng Phương án PCCCR và Phương án tác chiến CCR theo phương châm 4 tại chỗ cho từng khu vực; kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện, hậu cần sẵn sàng tham gia CCR.
- Chỉ đạo các cơ quan: Công an, Quân sự, Biên phòng, Kiểm lâm thực hiện kế hoạch phối hợp lực lượng trong BVR, PCCCR; tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch liên tịch số 01/KHLT/BDV-BTG-VPTU-MTTQ-TĐTN-CCKL ngày 15/10/2013 (Kế hoạch liên tịch số 01) về phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ và PTR, PCCCR năm 2014 giữa Chi cục Kiểm lâm với Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Văn phòng Tỉnh ủy, MTTQ, Tỉnh ĐTN; ban hành văn bản chỉ đạo UBND các xã thực hiện tốt công tác quản lý xử lý thực bì trong canh tác nông, lâm nghiệp, xây dựng đường băng cản lửa, tổ chức tập huấn nghiệp vụ PCCCR cho các đối tượng chủ chốt.
Ở cấp xã: Đã kiện toàn 301 BCĐ cấp xã, phường, thị trấn với 4.825 thành viên và đồng thời triển khai thực hiện kịp thời các văn bản chỉ đạo của cấp trên và ban hành khá đầy đủ các văn bản chỉ đạo, điều hành, triển khai, thực hiện công tác PCCCR ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ PCCCR năm 2014.
- Xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả 202 phương án giữ vững ổn định an ninh rừng và quản lý chặt chẽ nguồn lâm sản trên địa bàn các xã trọng điểm an ninh rừng; 176 phương án tác chiến CCR theo phương châm 4 tại chỗ và 585 phương án tác chiến CCR tại các thôn (bản) trọng điểm cháy; chủ động quản lý chặt chẽ các hộ gia đình làm rẫy, xử lý thực bì trồng rừng ở các khu vực gần rừng.
- Kiện toàn 295 Trung đội DQTV với 5.605 cán bộ, chiến sỹ tham gia; củng cố kiện toàn và duy trì hoạt động của 2.049 tổ đội quần chúng BVR, PCCCR thôn (bản) với 16.390 người, chủ động về dụng cụ, phương tiện, hậu cầu tại chỗ để sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng.
- Công tác tuyên truyền: Đã triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch liên tịch 01; tổ chức 661 cuộc họp tuyên truyền cấp xã, thôn (bản) với 37.462 lượt người tham gia, 2.006 lần truyên truyền trên loa truyền thanh của thôn (bản).
- Xây dựng đường băng cản lửa: 4 tháng đầu năm 2014 đã làm giảm vật liệu cháy được 1.015,35 ha, xây dựng 36 km đường băng cản lửa trên diện tích rừng Thông, rừng trồng có nguy cơ cháy cao, xây dựng được 35 bảng tin tuyên truyền. Một số huyện có cách làm hay như huyện Hoằng Hoá, Đông Sơn.
Đối với chủ rừng nhà nước: Đã kiện toàn 31 BCĐ với 398 thành viên tham gia; nhìn chung các đơn vị đã thực hiện khá đồng bộ, kịp thời và đầy đủ các văn bản chỉ đạo của cấp trên và chủ động triển khai các giải pháp thực hiện công tác PCCCR trên diện tích rừng được giao quản lý. Đến thời điểm kiểm tra các Ban quản lý rừng phòng hộ đã làm giảm vật liệu cháy dưới tán rừng được 954,1 ha; làm mới, tu sửa 78,6 km đường băng cản lửa kết hợp đường tuần tra, di chuyển lực lượng chữa cháy rừng. Bố trí lực lượng tuần tra canh gác lửa rừng ở các khu rừng trọng điểm cháy trong những ngày nắng nóng nguy cơ cháy rừng cao; chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, hậu cần để chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra.
Nhìn chung Công tác PCCCR 4 tháng đầu năm 2014 đã được các cấp, các ngành từ tỉnh đến huyện, xã, chủ rừng nhà nước triển khai thực hiện đồng bộ, kịp thời, nghiêm túc các văn bản chỉ đạo về công tác PCCCR năm 2014; nhiều huyện, xã đã đầu tư kinh phí cho công tác PCCCR; an ninh rừng tiếp tục được giữ vững, cơ bản đã quản lý được các nguyên nhân gây cháy rừng.
Nhằm tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được về công tác PCCCR trên địa bàn, trong thời gian tới đề nghị các ngành, các cấp, các chủ rừng nhà nước cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt một số giải pháp sau:
Đối với cấp huyện: Chỉ đạo khắc phục ngay những tồn tại, hạn chế sau kết luận của đoàn kiểm tra; nâng cao vai trò trách nhiệm của các thành viên BCĐ huyện để tăng cường đôn đốc, kiểm tra công tác PCCCR ở cơ sở trong suốt mùa cháy.
- Triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 05/3/2014 của Thủ tướng, Công văn số 287/BNN-TCLN ngày 25/01/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT; và các văn bản chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh.
- Chỉ đạo UBND các xã xây dựng phương án giao hết diện tích rừng đang tạm giao cho UBND xã cho hộ gia đình cá nhân quản lý bảo vệ, kinh doanh rừng, đảm bảo rừng thật sự có chủ. UBND các huyện quan tâm đầu tư, hỗ trợ kinh phí để làm giảm vật liệu cháy và xây dựng hệ thống đường băng cản lửa kết hợp đường tuần tra, di chuyển lực lượng chữa cháy rừng trên diện tích rừng Thông năm 2014 và những năm tiếp theo.
- Về lâu dài, đề nghị UBND tỉnh có cơ chế để chủ rừng hưởng lợi từ rừng được giao theo đúng quy định của pháp luật, để người dân gắn bó và nâng cao trách nhiệm quản lý BVR, PCCCR.
- Các huyện biên giới vùng giáp ranh với nước bạn Lào tăng cường trao đổi thông tin 2 chiều về công tác phòng cháy chữa cháy rừng ở khu vực biên giới và khu vực nội địa của mỗi bên.
Đối với cấp xã: UBND cấp xã chỉ đạo khắc phục những tồn tại, hạn chế sau kết luận của các đoàn kiểm tra. Xác định lại các vùng trọng điểm cháy, từ đó rà soát lại Phương án CCR theo phương châm 4 tại chỗ tại các xã, thôn (bản) trọng điểm cháy để hoàn thiện, đảm bảo phù hợp với từng xã, thôn (bản).
- Tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về BVR, PCCCR trong quần chúng nhân dân, các trường học, khu vực diễn ra lễ hội, đền chùa, miếu mạo gần rừng để cán bộ, nhân dân, du khách tích cực tham gia thực hiện tốt công tác BVR, PCCCR. Duy trì chế độ trực chỉ huy CCR 24/24 giờ hàng ngày tại UBND xã, chủ rừng nhà nước; tổ chức lực lượng Công an, DQTV, Tổ đội quần chúng BVR, các chủ rừng để tuần tra canh gác lửa rừng ở các khu rừng trọng điểm cháy trong những ngày nắng nóng; quản lý chặt chẽ các hộ gia đình làm rẫy, xử lý thực bì trồng rừng ở các khu vực gần rừng để phòng chống cháy lan vào rừng; chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, dụng cụ, hậu cần để  chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra, lấy lực lượng DQTV làm nòng cốt.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện phương án xây dựng hệ thống đường băng cản lửa kết hợp đường tuần tra, di chuyển lực lượng chữa cháy rừng và làm giảm vật liệu cháy dưới tán rừng Thông theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Đối với diện tích rừng trồng từ các dự án PAM, 327, 661 đủ điều kiện khai thác (cây trồng chính, cây phù trợ và khai thác nhựa Thông) thì hướng dẫn các hộ gia đình tham gia lập hồ sơ thiết kế khai thác (Trình tự thủ tục thực hiện theo Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/05/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT) để hộ gia đình có kinh phí đầu tư trồng lại rừng có chất lượng cao hơn và thực hiện trách nhiệm BVR, PCCCR.
- Các xã thuộc các huyện biên giới có đường giáp ranh với nước bạn Lào phối hợp chặt chẽ với lực lượng Bộ đội Biên phòng thành lập các tổ thường trực, thường xuyên tuần tra, phát hiện kịp thời cháy rừng bên bạn để triển khai các giải pháp hỗ trợ bạn CCR và ngặn chặn cháy lan sang nội địa.
Đối với các chủ rừng nhà nước: Khắc phục những tồn tại hạn chế theo kết luận của đoàn kiểm tra; bố trí lực lượng kết hợp với các hộ nhận khoán để tổ chức tuần tra canh gác lửa rừng, kiểm soát chặt chẽ các đối tượng ra vào rừng; kiểm soát việc đốt rẫy, xử lý thực bì trồng rừng không để cháy lan vào rừng.
- Phối hợp với cấp ủy, chính quyền các xã thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giải quyết hài hòa giữa trách nhiệm và lợi ích từ rừng cho các hộ nhận khoán và các các hộ dân sống trong và ven rừng để tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân trong công tác BVR, PCCCR. Chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, dụng cụ, hậu cần để chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ khi có cháy rừng xảy ra.
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường băng cản lửa và làm giảm vật liệu cháy tại các khu rừng trọng điểm cháy, đặc biệt đối với diện tích rừng Thông theo phương án được duyệt.
Với những giải pháp đồng bộ, cùng với tinh thần, thái độ khẩn trương, nghiêm túc của các cấp, các ngành, các địa phương, chủ rừng trong tỉnh, công tác BVR - PCCCR năm 2014 trên địa bàn tỉnh sẽ phát huy tốt hiệu quả. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 19/5) đầu trang(
Không chỉ là “lá phổi xanh” điều tiết khí hậu, bức bình phong chặn dông bão cho Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà còn là “Vương quốc” của loài linh trưởng vô cùng quý hiếm trên thế giới đó là Voọc chà vá chân nâu.
Không chỉ là “lá phổi xanh” điều tiết khí hậu, bức bình phong chặn dông bão cho Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà còn là “Vương quốc” của loài linh trưởng vô cùng quý hiếm trên thế giới đó là Voọc chà vá chân nâu (Chà vá chân đỏ) hay voọc ngũ sắc do màu lông 5 màu của nó.
Loài voọc này được các nhà bảo vệ động vật hoang dã tôn vinh là “nữ hoàng” của các loài linh trưởng. Voọc chà vá chân nâu được phát hiện năm 1969 ở Sơn Trà, hiện đàn có khoảng 350 cá thể, chiếm trên 50% số cá thể loài này trên toàn thế giới.
Cũng từ nhiều năm nay, tình trạng săn bắt loài linh trưởng này ở Đà Nẵng đã được khống chế, nhiều hoạt động bảo vệ, cải thiện môi trường sống cho Voọc được triển khai và ủng hộ nhiệt tình của cộng đồng. Với người dân Đà Nẵng đàn Voọc là “Báu vật của Sơn Trà”, giữ và tăng đàn là niềm tự hào chung của người dân thành phố biển này. (Dân Việt 20/5) đầu trang(
Sáng ngày 17/5/2014, Trạm kiểm lâm thị xã Quảng Trị tổ chức hội thi tuyên truyền " Bảo vệ động vật, thực vật hoang dã" trong trường học năm 2014.
Tham gia hội thi lần này gồm có 3 đơn vị trường học, gồm: Trường THCS Mạc Đĩnh Chi, trường THCS Thành Cổ và trường Tiểu học, THCS Nguyễn Tất Thành. Các đội thi phải trãi qua 5 phần thi gồm: phần thi Chào hỏi, Hiểu biết, phần thi Ai nhanh hơn, Ô chữ bí mật và phần thi Năng khiếu.
Với sự chuẩn bị chu đáo, các đội đã thể hiện xuất sắc các phần thi của mình về những hiểu biết cơ bản của học sinh khối trung học cơ sở về động vật và thực vật hoang dã; những quy định của pháp luật về bảo vệ động vật, thực vật hoang dã; vai trò của con người, nhất là thế hệ trẻ trong việc bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên.
Đặc biệt thông qua các tiểu phẩm trong phần thi năng khiếu, các em đã chuyển tải đến hội thi nhiều thông điệp ý nghĩa, lên án những hành vi chặt phá rừng, săn bắt động vật hoang dã, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm cho các loài sinh vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngày càng tăng.
Thông qua hội thi lần này, nhằm nâng cao nhận thức và hành động của các em học sinh trong các trường học về việc bảo vệ động vật và thực vật hoang dã. Qua đó tuyên truyền, định hướng cho các em có những hành động thiết thực trong bảo vệ đa dạng sinh học hiện nay. (Trang Tin Điện Tử TX.Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị 20/5) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Phát triển thị trường xuất khẩu góp phần đạt kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10 tỷ USD vào năm 2020.
Đây là mục tiêu đặt ra tại Kế hoạch hành động phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ giai đoạn 2014-2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa phê duyệt.
Kế hoạch cũng hướng tới việc nâng cao giá trị sản xuất, kinh doanh rừng trồng và phát triển lâm nghiệp bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường; gắn kết theo chuỗi từ trồng rừng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm để nâng cao giá trị lâm sản hàng hóa, góp phần thực hiện thành công “Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp”, tạo kênh phân phối cho thị trường gỗ và đồ gỗ nội địa góp phần nâng tổng kim ngạch tiêu dùng nội địa gỗ và đồ gỗ lên 4 tỷ USD vào năm 2020.
Một trong những nội dung quan trọng của Kế hoạch hành động là tạo kênh phân phối phát triển thị trường nội địa. Theo đó, tập trung điều tra, đánh giá thị trường nội địa về hệ thống phân phối đồ gỗ trang trí nội thất, thị hiếu, dòng sản phẩm, phân khúc thị trường, xu hướng phát triển; hỗ trợ các hiệp hội, doanh nghiệp thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại gỗ và sản phẩm gỗ thông qua các hội chợ cũng như tuyên truyền, nâng cao nhận thức người tiêu dùng Việt Nam về hàng nội thất Việt.
Đồng thời, chú trọng phát triển thị trường xuất khẩu, nghiên cứu, khảo sát cơ hội mở rộng thị trường mới cho đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam; xây dựng và quảng bá thương hiệu cho một số dòng sản phẩm chủ đạo; hỗ trợ một số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và đồ gỗ tham gia các hội chợ quốc tế quan trọng; hỗ trợ tổ chức 2 Diễn đàn thương mại gỗ quốc tế tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp xúc với các nhà cung ứng gỗ và các ngành nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, hiện nay, tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm gỗ nội thất sản xuất tại Việt Nam so với hàng nội thất nhập khẩu là 40/60, tăng mạnh so với năm 2009-2010 với tỷ lệ là 20/80.
Trong năm 2013 với tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản của Việt Nam là 5,7 tỷ USD tăng 19,2% so với năm 2012, chiếm khoảng 4,3% thị phần toàn cầu, đứng thứ 6 thế giới.
Ngành gỗ đang có nhiều triển vọng phát triển tham gia vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ hiện đứng thứ 5 trong 10 ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Dự báo, cơ hội lớn cho Việt Nam để mở rộng thị trường và thị phần gỗ, sản phẩm gỗ trên thế giới. Nếu có giải pháp đúng và chính sách hỗ trợ hiệu quả thì Việt Nam có thể xuất khẩu đạt 15 đến 20 tỷ USD trong 10 năm tới. (Chính Phủ + Công An Nhân Dân 20/5) đầu trang(
Tĩnh Gia, Thanh Hóa: Nhiều giải pháp bảo vệ và phát triển rừng
Là huyện đồng bằng, ven biển, nhưng Tĩnh Gia lại có diện tích đất lâm nghiệp rộng lớn, với 17.056 ha. Diện tích này không tập trung, mà phân tán, độ dốc lớn, nằm trong vùng tiểu khí hậu khắc nghiệt với gió Tây - Nam nắng nóng nên đất khô cằn, cây đã khó phát triển, lại rất dễ bị cháy, nhất là cây thông.
Những năm qua, cùng với các chương trình, dự án, các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các đơn vị đã quan tâm lãnh đạo, tạo điều kiện để các hộ dân nhận khoán đất trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng để những khoảnh đất trống, đồi trọc ngày một được phủ xanh.
Vì vậy, đến nay các đơn vị, hộ dân trong huyện đã trồng được 15.223 ha rừng. Riêng năm 2013 trồng vượt kế hoạch 800 ha; trong đó có 20 ha rừng phòng hộ, 606 ha rừng sản xuất, đặc biệt là các hộ dân tự đầu tư trồng hơn 180 ha rừng, cùng các đơn vị trồng hơn 58.000 cây phân tán (tương đương 35 ha).
Ông Nguyễn Quý Do, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Sơn, cho biết: Các hộ dân trong xã đã xẻ núi, lật đá, đào, đắp gần 3 km đường lên đến chùa Vụng Thông và lên tận đỉnh đồi Lâm Động. Mở tuyến đường này không chỉ giúp bà con thuận lợi trong làm đất, trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, mà còn là đường huyết mạch để khi xảy ra cháy rừng, các lực lượng, phương tiện có đường lên ứng phó, dập tắt kịp thời.
Theo chân anh Vũ Bá Hưng - một chủ rừng lên đây, PV mới thấy sự đầu tư của Nhà nước, tinh thần “vào cuộc” của các ngành, đơn vị chức năng, sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, nhất là sự “đổ mồ hôi” của người dân không uổng, mà sẽ mang lại hiệu quả rất rõ rệt. Từ đồi hoang, đất đá cằn cỗi, nay đã thay bằng màu xanh ngút ngàn của cây keo. Sau 6 -7 năm, cây keo ở đây sẽ cho thu hoạch với giá trị kinh tế cao, đồng thời keo còn làm tăng độ phì của đất.
Từ thực tế trên, các đơn vị như Hạt kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tĩnh Gia tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hộ dân thuộc các xã: Các Sơn, Nguyên Bình, Phú Sơn, Phú Lâm, Tân Trường... chuyển đổi gần 3.000 ha bạch đàn đã trồng hơn 10 năm nhưng không những không cho nguồn thu có giá trị, mà còn ăn mòn, làm đất bạc màu sang trồng keo; cùng với đó là chỉ đạo, tạo điều kiện để các xã và người dân tích cực khai hoang trồng rừng, phấn đấu trồng 1.833 ha đất chưa có rừng xong trước năm 2020.
Ông Nguyễn Văn Dương, Phó Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia, cho biết: Cùng với việc trồng rừng, cấp ủy, chính quyền, người dân huyện Tĩnh Gia, cùng lực lượng chức năng như Hạt kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia luôn quan tâm công tác chăm sóc, bảo vệ rừng. Chỉ đạo 17 xã trọng điểm có rừng thông tuyên truyền người dân không bẻ cành, hái lộc xuân, bảo đảm an toàn sử dụng lửa khi vui chơi, dã ngoại ở trong rừng, hoặc nơi tổ chức lễ hội, đền chùa ở trong và ven rừng.
Điều tra, nắm bắt tình hình phát sinh sâu bệnh hại rừng, nhất là sâu róm hại thông để xử lý kịp thời; cùng chính quyền, người dân khu vực có rừng thường xuyên bám sát địa bàn phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ, xử phạt kịp thời các vụ vi phạm, như chặt phá rừng; phát, đốt, lấn chiếm đất rừng; tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, khai thác đất, đá trái phép. Tăng cường quản lý kinh doanh chế biến lâm sản...
Theo dõi, nắm vững thông tin thời tiết, tuần tra, kiểm soát chặt chẽ nguồn lửa trong và ven rừng ở các vùng trọng điểm có thể xảy ra cháy rừng; tổ chức trực cháy 24/24 giờ trong những ngày có nguy cơ cháy rừng cao, phấn đấu không để xảy ra cháy rừng. Đây là một trong những tiêu chí thi đua của các đơn vị chức năng, của các gia đình, các thôn, xã, của người được giao trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng. (Báo Thanh Hóa 21/5) đầu trang(
16/5/2014, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị triển khai trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất Lâm Nghiệp sang các mục đích khác. Ông Cầm Ngọc Minh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Từ năm 2007 đến nay, trên địa bàn tỉnh Sơn La, Ủy ban nhân dân tỉnh đã cho phép 39 chủ đầu tư chuyển đổi diện tích rừng sang mục đích khác với tổng diện tích là 731,23 ha. Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để xây dựng 17 công trình thủy điện; 06 công trình khai thác Khoáng sản; 10 tuyến đường giao thông; 04 tuyến đường điện và 03 công trình khác. Diện tích rừng được chuyển đổi chủ yếu là rừng phòng hộ, chiếm 69%, diện tích rừng sản xuất chiếm 23% và diện tích rừng đặc dụng chiếm 8%.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Cầm Ngọc Minh ghi nhận và biểu dương, đánh giá cao những nỗ lực cố gắng của các chủ đầu tư, mặc dù kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng cũng đã khắc phục, tập trung nguồn lực đầu tư để hoàn thành các công trình, nhà máy đảm bảo tiến độ, góp phần tạo công ăn, việc làm, thu nhập cho nhân dân và có những đóng góp đáng kể cho tỉnh Sơn La.
Ông Minh yêu cầu các cấp, các ngành các huyện, thành phố các chủ dự án tổ chức triển khai thực hiện thật tốt các nội dung: Đối với các dự án đầu tư đã được phê duyệt và đã chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác phải thực hiện trồng rừng thay thế ngay trong năm 2014 và đảm bảo hoàn thành toàn bộ trong năm 2015;
Đối với các dự án đầu tư đang thực hiện quy trình, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác, phải có phương án trồng rừng thay thế và hoàn thành việc trồng rừng thay thế ít nhất bằng diện tích rừng được chuyển mục đích sử dụng cho dự án trong thời gian 18 tháng kể từ khi phương án trồng rừng thay thế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
Đối với các dự án đầu tư mở mới, khi phê duyệt dự án đầu tư phải đồng thời phê duyệt phương án trồng rừng thay thế. Mọi trường hợp không có phương án trồng rừng thay thế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, thì kiên quyết không phê duyệt phương án đầu tư; Việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng sang các mục đích khác từ năm 2014 trở đi, chỉ thực hiện đối với các dự án trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Bám sát Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng và theo Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 06/5/2013 để chỉ đạo giải quyết theo hướng các trường hợp không bố trí được đất trồng rừng thay thế, chủ đầu tư có trách nhiệm đóng góp tiền vào quĩ bảo vệ và phát triển rừng để cơ quan quản lý điều tiết trồng bù rừng ở nơi khác; Thực hiện nghiêm việc nộp trả lại tiền dịch vụ môi trường rừng về quỹ bảo vệ và phát triển rừng đối với các nhà máy thủy điện vì đây là tiền của những người sử dụng điện đóng góp đã được tính vào giá thành điện tiêu dùng; Thực hiện tốt công tác vận hành hồ chứa, đảm bảo an toàn đập và vùng hạ du, đồng thời phải đảm bảo 15% dòng chảy môi trường theo quy định;
Đối với các công trình, dự án có thực hiện việc di dân, tái định cư do chủ đầu tư tự thực hiện đề nghị cần quan tâm hơn nữa đến hậu tái định cư đảm bảo nơi ở mới phải tốt hơn nơi ở cũ như đã cam kết.
Hội nghị triển khai trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang các mục đích khác đảm bảo sự tồn tại và sản xuất bền vững của hệ thống thủy điện và khắc phục môi trường đối với các hoạt động khai thác tài nguyên trên địa bàn tỉnh, sự quyết tâm vào cuộc của các lãnh đạo thể hiện quyết tâm và cộng đồng trách nhiệm cùng với nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, khai thác có hiệu quả tài nguyên bền vững. (Sonla.gov.vn 21/5) đầu trang(
Kế hoạch trồng rừng 2014 của toàn tỉnh là 9.500ha. Tuy nhiên, các nguồn vốn ngân sách phân bổ năm nay chỉ đáp ứng được khoảng 5.900ha. Muốn hoàn thành kế hoạch, nguồn lực xã hội hóa phải trồng được ít nhất là 3.600ha. Trong khi nhiều huyện còn lúng túng thì Hữu Lũng đã tính toán đủ nguồn.
Những tháng đầu năm, trên địa bàn huyện Hữu Lũng lượng mưa khá đều. Thêm vào đó, nhiệt độ ở Hữu Lũng cũng cao hơn nhiều vùng trên địa bàn tỉnh. Bởi vậy mà việc chuẩn bị hiện trường trồng rừng ở Hữu Lũng cũng nhanh hơn mọi năm. Ông Hoàng Thế Hưng, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cho biết: trong khi các dự án trồng rừng có vốn ngân sách mới đang trong giai đoạn thiết kế, thì những diện tích người dân tự đầu tư đã cơ bản chuẩn bị xong hiện trường.
Không phải riêng năm nay, mà hầu như năm nào người dân Hữu Lũng cũng khởi động vụ trồng rừng từ rất sớm. Chính vì vậy nên trong vòng 2 năm trở lại đây giá bạch đàn giống đầu vụ trên địa bàn huyện Hữu Lũng tăng khá cao. Từ đầu năm đến nay, có thời điểm bạch đàn giống lên tới 1.700 đồng/cây mà các chủ vườn còn không đủ số lượng, một phần phải nhập cây giống từ các tỉnh phía xuôi.
Ông Đỗ Văn Tý, nguyên Giám đốc Ban quản lý dự án trồng rừng 661 huyện Hữu Lũng bộc bạch: giờ kinh tế rừng phát triển, rừng mới trồng đã có người đặt mua, nên nhân dân đã mạnh dạn đầu tư và hăng hái tham gia trồng rừng, gia đình nào có khoảng 5ha rừng là kiếm tiền tỷ như chơi.
Theo ông Tý, mặc dù giá cây giống đầu vụ tăng khá cao, nhưng vườn ươm do ông làm chủ vẫn không dám xuất bán nhiều, bởi đã hợp đồng với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cung ứng giống cho dự án trồng rừng hỗ trợ sản xuất. Đến thời điểm này, khi các vườn ươm khác đồng loạt xuất vườn, giá giống đã hạ nhiệt chỉ còn ở mức 1.200 đồng/cây, số lượng cũng không khan hiếm.
PV đến trụ sở UBND xã Nhật Tiến đúng thời điểm nhân dân xã đang nhận cây giống cho trồng rừng hỗ trợ sản xuất. Ông Nguyễn Quang Hưng, Chủ tịch UBND xã cười: chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, vài vạn cây giống đã cấp xong. Nhật Tiến không phải là xã có nhiều đất rừng, chỉ khoảng trên 200ha. Nhưng tất cả đã phủ xanh. Hiện nay muốn trồng mới, xã phải căn cứ vào kế hoạch khai thác. Phương châm là khai thác tới đâu, phủ xanh ngay tới đó.
Vụ trồng rừng năm 2014, chỉ tiêu trồng mới của Hữu Lũng vẫn là 1.500ha rừng. Trong đó chỉ khoảng 700 ha trồng cây phân tán và hỗ trợ sản xuất là có vốn ngân sách. Còn lại là huy động các nguồn lực xã hội hóa. Nếu so với các huyện khác, đây là con số rất cao. Nhưng đối với Hữu Lũng thì hầu như năm nào xã hội hóa trồng rừng cũng vượt 800ha.
Điển hình như năm 2013, nhân dân toàn huyện đã tự đầu tư trồng được gần 900ha rừng, đặc biệt là người dân đã bắt đầu chú tâm đến vay vốn ưu đãi trồng rừng theo Quyết định 39 của UBND tỉnh. Đầu vụ trồng rừng năm nay, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện đã thẩm định được gần 100ha vay vốn ưu đãi.
Ông Hoàng Thế Hưng, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: con số nhân dân tự đầu tư trồng rừng thực ra là chưa thống kê hết. Bởi những diện tích người dân lấn của Lâm trường Hữu Lũng trước đây thường không thống kê, nếu tính cả con số này, mỗi năm Hữu Lũng trồng mới trên 2.000 ha rừng, trong đó nhân dân tự đầu tư trồng có năm lên đến 1.500ha, bằng tổng chỉ tiêu trồng rừng của cả huyện.
Điều dễ nhận thấy là với sự phát triển của công nghiệp chế biến và nhu cầu của thị trường, kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng ngày càng được khẳng định. Đó cũng chính là yếu tố quan trọng nhất để nâng cao tỷ lệ xã hội hóa trồng rừng và nâng cao trình độ, kỹ thuật thâm canh, hiệu quả kinh tế của rừng. (Báo Lạng Sơn 21/5) đầu trang(
19-5, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày thành lập lực lượng Kiểm lâm Sơn La (21-5-1974 - 21-5-2014).
Tới dự có các ông: Nguyễn Ngọc Toa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Đỗ Ngọc Kim, Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và PTNT); lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh, các huyện, thành phố và cán bộ, công chức, viên chức kiểm lâm qua các thời kỳ.
40 năm qua, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Kiểm lâm tỉnh đã đoàn kết, thống nhất, xây dựng lực lượng ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đến nay, tỷ lệ độ che phủ của rừng đạt 44,74%. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát lâm sản được tiến hành đồng bộ, phát hiện và xử lý hàng nghìn vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, ông Nguyễn Ngọc Toa đã ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức kiểm lâm tỉnh nhà. Đồng thời, đề nghị lực lượng Kiểm lâm làm tốt hơn nữa công tác tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh, tăng cường bám dân, bám rừng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của cộng đồng, từng bước xã hội hóa công tác bảo vệ rừng. Thực hiện hiệu quả việc bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên rừng; đẩy mạnh công tác phòng chống các vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Nhân dịp này, UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh và 21 cá nhân có thành tích trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Sơn La 20/5) đầu trang(
Xã Nhượng Bạn, huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) có hơn 300 hộ dân nhưng gần 100% là dân tộc Sán Chỉ. Trước kia, đời sống của bà con gặp nhiều khó khăn, nhưng từ khi thực hiện cải tạo vườn rừng trồng cây thông mã vĩ trên đồi núi trọc, xã Nhượng Bạn đã trở thành "điểm sáng" về trồng rừng và trong phong trào nông thôn mới ở Lạng Sơn.
Nguyên Bí thư Ðảng ủy xã Nhượng Bạn Hoàng Văn Minh nhớ lại: Vào những năm 60 của thế kỷ 20, với một xã chỉ có diện tích tự nhiên hơn 1.587 ha, trong đó chiếm hơn 95% diện tích là đất lâm nghiệp, nương nhiều, ruộng ít, nhưng để bảo đảm lương thực cho bà con, không thể trông chờ, ỷ lại chính sách hỗ trợ của Nhà nước, lãnh đạo xã Nhượng Bạn họp để bàn cách phát huy thế mạnh đồi rừng, giúp người dân phát triển kinh tế, góp phần giảm hộ nghèo cũng như phương án chăm sóc và bảo vệ rừng.
Nhờ thế, đến năm 1980, xã đã trồng được hơn 480 ha cây thông mã vĩ. Diện tích rừng trồng mới được Nhà nước nghiệm thu, thanh toán bằng tiền, gạo, nhờ đó đời sống của bà con xã viên dần ổn định.
Ðể phát huy hiệu quả từ kinh tế đồi rừng, từ năm 1982, Hợp tác xã (HTX) Nà Pán, Nhượng Bạn là đơn vị đầu tiên của tỉnh thực hiện khoán hộ, với hình thức giao từng cây, khoanh từng vùng đồi cho từng hộ xã viên trồng và chăm sóc. Hằng năm, Ban Chủ nhiệm HTX lên phương án khai thác trồng tỉa cho hộ xã viên; ký hợp đồng khai thác, tìm đầu ra cho sản phẩm.
Ðây là cách làm mới, sáng tạo của tập thể lãnh đạo xã vì thời điểm này, nhiều HTX khác làm ăn không hiệu quả, trong khi HTX Nà Pán lại đứng vững và phát triển đi lên. Chính vì vậy, năm 1985, HTX Nà Pán, Nhượng Bạn đã vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Ban Chủ nhiệm HTX đã chủ động tìm đối tác, khách hàng mới để xuất khẩu gỗ, nhựa thông, tiếp tục duy trì ổn định sản xuất, phát triển lâm nghiệp. Nhờ đó mà diện tích trồng thông, rừng hồi liên tục tăng, xã viên luôn có thu nhập ổn định. Ðến nay, tổng diện tích trồng rừng của HTX đã lên tới hơn 950 ha, trong đó hơn 60% diện tích cây thông cho thu hoạch gỗ và nhựa, với tổng thu nhập từ nghề rừng hằng năm đạt hơn bốn tỷ đồng, thu nhập bình quân của xã viên từ hai đến ba triệu đồng/tháng.
Có cuộc sống ổn định, HTX vận động bà con xã viên góp vốn mở rộng sản xuất. Xây dựng hội trường, nhà kho, mua ô-tô chuyên dụng phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho xã viên, đồng thời mở mới hàng chục km đường dân sinh, để đưa ô-tô vào khai thác gỗ...
BÍ thư Ðảng ủy xã Nhượng Bạn Hoàng Văn Tắc chia sẻ: Ðời sống của bà con dân tộc Sán Chỉ nơi đây giờ đã có cuộc sống ổn định. Từ một xã thu nhập chính chỉ trông vào nghề rừng, nay có tới 50% số hộ xây được nhà kiên cố trị giá hàng trăm triệu đồng, 100% số hộ được sử dụng điện, có bảy hộ xã viên mua ô-tô để vận chuyển hàng hóa; cả năm thôn, bản đều có nhà văn hóa...
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, năm 2006, Ðảng bộ và nhân dân các dân tộc trong xã Nhượng Bạn được Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. (Nhân Dân 21/5) đầu trang(
Sáng ngày 19/5, huyện Lạc Dương đã tổ chức lễ ra quân trồng rừng đời nhớ ơn Bác Hồ.
Phong trào trồng cây nhớ ơn Bác được huyện Lạc Dương phát động vào ngày 19/5 hàng năm, nhằm vận động các cơ quan, tổ chức doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tích cực hưởng ứng tham gia trồng rừng, trồng cây che bóng mát để phủ xanh diện tích đất trống, đồi trọc, tăng độ che phủ của rừng, tạo bóng mát và cảnh quan thiên nhiên, góp phần bảo vệ môi trường trên địa bàn..
Ngay sau lễ ra quân, các cán bộ công chức, học sinh và nhân dân thị trấn đã tổ chức ra quân trồng cây tại khu vực đồi nghĩa trang thị trấn và một số tuyến đường trong khu dân cư. Công tác trồng rừng và trồng cây phân tán năm nay sẽ được huyện Lạc Dương triển khai từ tháng 5 đến cuối tháng 7/2014. (Đài PTTH Lâm Đồng 20/5) đầu trang(
Đêm 19-5, tuy mưa gió không lớn nhưng đã làm gãy đổ hàng chục cây xanh trên đường Đồng Văn Cống (phường Thạnh Mỹ Lợi, quận 2, TPHCM) được trồng gần 2 năm nay. Để các cây xanh mới trồng bám rễ, phát triển tốt, rất cần chống đỡ cây, tránh gãy đổ gây lãng phí. (Sài Gòn Giải Phóng 21/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Con đường cây dài 37 km ở thành phố Nikko, Nhật Bản được đưa vào sách kỷ lục Guinness như đại lộ rợp bóng cây dài nhất thế giới được tạo ra gần 400 năm trước.
Đại lộ là những cây tuyết tùng được trồng xếp hàng dài ngay ngắn nằm ở hai bên vệ đường, được gọi là Sugi.
Cây tuyết tùng do lãnh chúa phong kiến, Matsudaira Masatsuna trồng trong khoảng thời gian 20 năm, bắt đầu từ năm 1625. Matsudaira Masatsuna là thuộc hạ cao cấp của tướng quân Tokugawa Ieyasu (vị tướng đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa). Sau khi tướng quân Tokugawa Ieyasu chết vào năm 1616, Masatsuna Matsudaira đã tiến hành xây dựng ngôi đền Nikko Toshogu và bắt đầu trồng cây tuyết tùng Nhật Bản dọc theo con đường chính như một lối vào dẫn đến ngôi đền.
Người ta ước tính có khoảng 200.000 cây tuyết tùng được trồng trong giai đoạn này. Việc đốn hạ cây để xây dựng con đường được thực hiện ở quy mô lớn và cũng như xe cộ vận chuyển đã từng lưu tới khu vực này không ngơi ngớt mà làm cho một lượng lớn cây bị chết, số lượng cây giảm đi rất nhiều và hiện nay chỉ còn 13.000 cây.
Trở lại thời kỳ Edo, đại lộ tuyết tùng được sự kiểm soát của văn phòng Nikko Bugyo (viên chức tư pháp địa phương) một cách chặt chẽ nên đại lộ đã được chăm sóc tốt. Bất cứ khi nào cây tuyết tùng khô héo hay bị bật gốc thì chúng đều được phát hiện và cán bộ của làng làm nghĩa vụ thông báo cho văn phòng Nikko Bugyo để giải quyết.
Những cây bị hư hỏng chỉ được chặt bỏ sau khi được sự cho phép của văn phòng Nikko Bugyo và bắt buộc phải trồng cây mới vào đúng vị trí của cây bị hỏng được đốn trước đó. Đồng thời, các ngôi làng dọc theo hai bên đường phải chịu trách nhiệm sửa chữa con đường, làm cỏ và giữ cho toàn bộ đại lộ tuyết tùng sạch sẽ.
Nhưng đến thời Minh Trị, những chính sách hiện đại hóa được đưa ra như công trình dân dụng đã được thực hiện trên toàn quốc. Trong thời gian này, hàng ngàn cây tuyết tùng bị chặt để bảo trì đường bộ. Hơn nữa, kế hoạch đã đưa ra là việc soạn thảo văn bản để thực hiện công cuộc khai thác gỗ ở đại lộ tuyết tùng với quy mô lớn vì mục đích tái thiết tài chính, nhưng may mắn thay kế hoạch này đã dừng lại đúng lúc.
Ngày nay, đại lộ tuyết tùng của Nikko là tài sản văn hóa và là đại lộ duy nhất được Chính phủ Nhật Bản chọn cả hai mặt là một địa điểm di tích lịch sử đặc biệt và đài tưởng niệm tự nhiên đặc biệt của quốc gia. (Zing 20/5) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang