Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 21 tháng 04 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, tại nhiều thôn, bản trên địa bàn huyện Bắc Mê đã thành lập được các Tổ, đội Bảo vệ rừng - Phòng cháy, chữa cháy rừng (BVR-PCCCR) góp phần phát huy tinh thần chủ động trong công tác tuần tra, kiểm soát và BVR ở địa phương.
Từ đó, ý thức bảo vệ và phát triển rừng của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện được nâng lên, gắn cuộc sống của họ với sự sống của rừng.Là huyện vùng sâu của tỉnh, Bắc Mê có tổng diện tích tự nhiên là 85.606,5 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng là 51.269,77 ha, bao gồm: Rừng đặc dụng 10.769,23 ha, rừng phòng hộ 16.572,11 ha, rừng sản xuất 22.944,18 ha và rừng khác có 984,25 ha.
Trong những năm gần đây, cùng với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, cấp ủy, chính quyền huyện đã ban hành nhiều cơ chế khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát triển kinh tế từ nghề rừng, bước đầu nhiều gia đình đã có thu nhập ổn định góp phần xoá đói, giảm nghèo; ý thức BVR của người dân cũng từng bước được nâng lên.
Hiện, huyện đã thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo Kế hoạch về bảo vệ và phát triển rừng, Tổ xung kích BVR-PCCCR của huyện và các xã, thị trấn; 100% các thôn, bản có Tổ, đội BVR-PCCCR, đây là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong công tác BVR-PCCCR và là cộng tác viên của lực lượng Kiểm lâm tại cơ sở.
Theo đó, tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã thành lập được 138 Tổ, đội BVR-PCCCR. Trong số đó, đồng bào đân tộc Mông ở Phiêng Luông đã tham gia nhiệt tình và đạt được nhiều thành tích; việc quản lý và BVR không chỉ tạo việc làm mà còn nâng cao đời sống kinh tế cho người dân.
Trong cái lạnh cuối tháng 2 (Âm lịch) chúng tôi có dịp đến xã Phiêng Luông, xã nằm cách trung tâm huyện Bắc Mê khoảng 16 km; vượt qua những đồi ngô, là những rừng cây: Nghiến, sồi, kháo... cổ thụ hàng trăm năm tuổi đứng sừng sững bên cạnh đường. Bằng tình yêu đối với rừng, bà con đồng bào Mông ở Phiêng Luông đã thành lập các Tổ, đội BVR-PCCCR để chung tay, bảo vệ an toàn rừng gỗ quý này trong suốt những năm qua.
Đưa chúng tôi đi thăm một số khu rừng trong thôn, ông Vàng Sính Dình, Trưởng thôn Phiêng Đáy chia sẻ: Thôn Phiêng Đáy có hơn 218 ha rừng tự nhiên tái sinh. Diện tích này được giao cho 14 thành viên trong Tổ, đội BVR-PCCCR và cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ. Tuy nhiên, với người dân Phiêng Đáy, rừng là tài sản chung, được toàn dân tham gia bảo vệ không ai được xâm lấn, chặt phá. Không chỉ tạo cảnh quan môi trường, những cánh rừng tự nhiên này còn điều hòa không khí, cung cấp nguồn nước mát lành cho hàng trăm hộ dân các thôn sinh hoạt, sản xuất.
Do vậy, người dân, lãnh đạo thôn luôn ý thức tầm quan trọng của những cánh rừng và cùng nhau chăm sóc, bảo vệ. Anh Ly Mí Sì, người dân trong thôn cho biết: Từ nhà của anh lên tới cây nghiến gần nhất cũng chỉ vài trăm mét. Tuy nhiên, từ thời ông bà trước đây đã rất quan tâm giữ rừng, nên rừng nghiến cổ thụ này mới tồn tại tới ngày nay. Tiếp nối truyền thống của thôn, gia đình anh đã tham gia vào Tổ, đội BVR-PCCCR, trực tiếp thường xuyên tuần rừng bảo vệ từng cây nghiến, sồi, kháo...
Thực tế khi đánh giá về tính hiệu quả của Tổ, đội BVR-PCCCR, anh Hoàng Công Trình, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: Với những chính sách dịch vụ môi trường rừng, giao đất, giao rừng đã nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của cộng đồng dân cư sống gần rừng và được xem là một trong những giải pháp BVR hiệu quả.
Để quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng được giao, nhiều gia đình, cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện đã lập các Tổ, đội BVR-PCCCR trong việc phối hợp và thay phiên nhau tuần tra BVR-PCCCR. Các thành viên trong Tổ, đội BVR-PCCCR chính là cánh tay nối dài của các Kiểm lâm viên, họ là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân về công tác phát triển cũng như quản lý, BVR trên địa bàn.
Có thế nói, những năm qua, Hạt Kiểm lâm Bắc Mê đã phối hợp với các cấp, các ngành và các địa phương làm tốt công tác BVR-PCCCR. Thời gian tới, Hạt Kiểm lâm huyện tích cực bám địa bàn, hướng dẫn người dân BVR; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về BVR ở địa phương. Đồng thời, tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho nhân dân về PCCCR... để rừng Bắc Mê ngày càng thêm xanh. (Báo Hà Giang 20/4, Văn Quân)đầu trang(
Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa vừa cho biết, đơn vị đã triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2017.
Theo đó, rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa có 26.751ha, là khu vực giàu tài nguyên động thực vật nhất ở Đà Nẵng, nên 4 giải pháp chính được triển khai gồm: Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cộng đồng dân cư khu vực cận rừng, với phương châm phòng là chính; ký cam kết thực hiện tốt quy định về PCCCR với Ban nhân dân thôn ở các thôn cận rừng và hơn 1.000 hộ, cơ quan đơn vị; lắp đặt hàng chục biển cấm lửa tại những khu vực xung yếu.
Hai là, thành lập các tổ, đội xung kích PCCCR, kiện toàn Ban chỉ đạo PCCCR của đơn vị và Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng. Đối với 3 xã Hòa Phú, Hòa Ninh, Hòa Bắc, các địa phương có rừng đặc dụng, ngoài Ban chỉ huy bảo vệ rừng và PCCCR của 3 xã với 45 thành viên, 20 tổ, đội xung kích PCCCR với 171 thành viên đã được thành lập. Ba là, thực hiện triệt để phương châm 4 tại chỗ trong PCCCR, ban quản lý đã chuẩn bị chu đáo, đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ phục vụ chữa cháy rừng. Bốn là, phân vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao, qua đó ưu tiên lực lượng thường xuyên tuần tra, cảnh giới, phát hiện, xử lý kịp thời những tình huống sử dụng lửa sai quy định trên vùng rừng.
Phương án PCCCR tại rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa được cụ thể hóa với các tình huống giả định có thể xảy ra. Việc huy động lực lượng, phương tiện, trang thiết bị, triển khai chữa cháy khi tình huống xấu, phân công trách nhiệm từng bộ phận, cá nhân đã được Phòng Cảnh sát PCCC số 5 cùng Chi cục Kiểm lâm phê duyệt. (Báo Đà Nẵng 20/4, NC)đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết: nắng nóng, gió mạnh kéo dài trong nhiều ngày qua đã làm cho rừng tràm và rừng cụm đảo trong tỉnh đối mặt với khô hạn gay gắt. Đến thời điểm này, đã có hơn 11 ngàn ha rừng dự báo ở cấp cháy nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm.
Dự báo trong những ngày tới, rừng tràm và rừng cụm đảo trong tỉnh Cà Mau sẽ tiếp tục đối mặt với khô hạn gay gắt. Toàn bộ diện tích rừng sẽ khô kiệt, dự báo cấp cháy cực kỳ nguy hiểm cũng sẽ tăng lên.
Để chủ động ứng phó với tình hình khô hạn gay gắt, các chủ rừng đã triển khai các giải pháp bảo vệ rừng như: Bố trí lực lượng, phương tiện ứng trực 24/24 giờ.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các chủ rừng thực hiện tốt các giải pháp bảo vệ rừng; tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia tích cực công tác phòng chống cháy rừng; chủ động ứng trực và chuẩn bị sẵn sàng phương tiện, lực lượng để tham gia ứng cứu kịp thời khi có cháy xảy ra. (ANTV 20/4, BT)đầu trang(
Nạn “lâm tặc” vẫn chưa bao giờ thôi nóng tại Xuân Lẹ (Thường Xuân – Thanh Hóa) đang hàng ngày tàn phá những cánh rừng nguyên sinh ở đây. Gỗ vẫn bị đốn hạ với cách thức tinh vi, xảo quyệt hơn.
Cách trụ sở UBND xã Xuân Lẹ chỉ khoảng 2km, địa phận suối làng Vèn, đoạn chảy qua thôn Liên Sơn, là nơi khởi điểm của tình trạng phá rừng. Dọc 2 bên bờ suối, nhiều gỗ xẻ, gỗ tròn được giấu ở đây. Lâm tặc cũng rất tinh vi khi phủ cây rừng lên trên nhằm tránh bị phát hiện.
Xuân Lẹ những ngày này mưa không ngớt, đường đồi dốc thẳng đứng, trơn trượt. Vắt rừng chỉ chực chờ hút máu, thế nhưng di chuyển nhanh thì chắc chắn sẽ ngã. Cuối cùng sau hàng giờ gian nan chúng tôi đã tiếp cận được điểm phá rừng.
Ghi nhận thực tế cho thấy, bắt đầu từ địa phận thác thiêng Trai Gái đến khu vực thác Xà Pạc, địa điểm giáp ranh với xã Thông Thụ (Quế Phong, Nghệ An) diễn biến tình hình rất phức tạp. Thay vì phá tập trung và ồ ạt như trước, giờ lâm tặc chặt thành nhiều điểm lẻ.
Thủ đoạn chúng thường dùng là cột gỗ vào ách trâu, phòng khi bị lực lượng chức năng phát hiện là lập tức tháo ách rồi cả người lẫn trâu chạy tuốt vào rừng, khi bị tịch thu thì số lâm sản trên lại trở thành vô chủ. Sau khi đốn hạ xong lâm tặc sẽ nghe ngóng tình hình, nếu không thấy động tĩnh gì chúng mới vận chuyển gỗ về.
Trong địa phận khoảng 2km, hàng loạt cây đã bị đốn hạ. Có những cây đã mục nát, có những cây một vòng tay người ôm không xuể. Nhiều cây lâm tặc chặt nhưng thấy động tĩnh chúng bỏ lại trong rừng.
Hàng trăm hộ dân sinh sống  dưới dãy núi, tất cả nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và canh tác nông nghiệp đều từ trên thượng nguồn đổ về. Rừng đầu nguồn là nơi lưu giữ nguồn nước quan trọng này.
Nếu việc chặt phá rừng còn tiếp diễn thì nguy cơ mất nguồn nước sạch là rất lớn, diện tích rừng ngày càng thu hẹp và nguồn nước sẽ ít đi. Ngoài ra việc phá rừng sẽ làm mất lớp phủ bề mặt bền vững cho mặt đất, đất mặt bị sói mòn rửa trôi, gây trượt đất, sạt lở, lũ ống, lũ quét vào mùa mưa. Nếu xảy ra lũ ống, lũ quét thì người dân ở hạ nguồn sẽ lãnh đủ.
Trao đổi với ông Hoàng Trọng Lưu – Chủ tịch UBND xã Xuân Lẹ được biết: Tình trạng khai thác gỗ trái phép trước đây có xảy ra, đặc biệt là năm 2015. Sau khi giao đất, khoán rừng cho dân bảo vệ, đến nay tình hình đã được khắc phục triệt để. Về vấn đề khai thác đá quý, không chỉ người dân bản địa mà nhiều trường hợp khác từ xã Vạn Xuân (Thường Xuân), Bái Thượng (Thọ Xuân), huyện Như Xuân, tỉnh Nghệ An cũng tham gia, tuy nhiên việc này cơ bản đã chấm dứt từ năm 2014. Hiện nay trên địa bàn không có điểm nóng về rừng, nhân dân sinh hoạt, canh tác sản xuất ổn định.
Chỉ tới khi PV nói đã có đủ cơ sở khẳng định việc phá rừng vẫn còn tiếp diễn, thì ông Lưu mới lúng túng: “Tất nhiên vẫn còn xảy ra nhưng tình hình đã có nhiều chuyển biến”.
Trong khuôn viên trụ sở xã Xuân Lẹ có rất nhiều gỗ xẻ xếp thành chồng. Khi được hỏi, ông Lưu cho biết đây là gỗ tạp, không có giá trị về kinh tế. Thế nhưng sau khi PV đưa ra lập luận thuyết phục, vị Chủ tịch lại quay sang nói: “Đây là gỗ vô chủ do các đối tượng lâm tặc bỏ lại, gồm tổng cộng 12 tấm, trong đó có 2 tấm gỗ sến, 3 tấm gỗ táu”.
Trao đổi với ông Phạm Thăng Long – Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Thường Xuân được ông cho biết: Hiện tôi đã cử đồng chí hạt phó xuống địa bàn để nắm bắt và giám sát công tác bảo vệ rừng. Sau khi về đây nhận công tác, qua đi địa bàn nắm bắt tình hình, tôi cũng có nhận định rằng rừng tại khu vực xã Xuân Lẹ đang còn bất ổn.
Qua đó nhận thấy công tác bảo vệ rừng tại địa bàn còn lỏng lẻo, chưa nắm bắt rõ các thông tin về việc phá rừng và đưa ra xử lý. Các lực lượng Công an xã cần phối hợp chặt chẽ với kiểm lâm địa bàn để có biện pháp ngăn chặn mọi hành vi đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 20/4, Thanh Tâm)đầu trang(
Huyện Sốp Cộp có tổng diện tích rừng gần 67.000 ha chủ yếu là rừng hỗn giao, rừng tre, phần lớn diện tích rừng tiếp giáp đất sản xuất nông nghiệp, do vậy nguy cơ dẫn đến cháy rừng là rất lớn. Trước tình hình đó Hạt kiểm lâm Sốp Cộp đã tiến hành rà soát, kiện toàn và nâng cao vai trò trách nhiệm của các tổ đội quản lý bảo vệ rừng.
Theo thống kê năm 2016, huyện Sốp Cộp có trên 74.000 ha diện tích rừng, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tuy nhiên do ảnh hưởng của băng tuyết và các hiện tượng thời tiết cực đoan, năm 2017 diện tích rừng đã giảm còn gần 67.000 ha trong đó có trên 31.000 ha rừng phòng hộ, trên 23.000 ha rừng sản xuất.
Để giữ vững diện tích rừng hiện còn và nâng cao độ che phủ rừng, hạt kiểm lâm huyện Sốp Cộp đã tăng cường cán bộ xuống cắm điểm tại địa bàn các xã, bản tuyên truyền và kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng tại cơ sở. Tăng cường công tác kiểm tra lương rẫy của nhân dân tránh tình trạng phát vén vào rừng làm đất nông nghiệp. Rà soát kiện toàn, nâng cao vai trò của tổ đội quản lý bảo vệ rừng cơ sở và các chủ rừng tại địa phương.
Trong 3 tháng đầu năm, Hạt kiểm lâm Sốp Cộp đã tổ chức 87 hội nghị cấp bản và cụm bản với trên 4.300 lượt người nghe, in ấn 700 tờ rơi tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng. Hạt cũng phối hợp với các lực lượng chức năng ngăn chặn và xử lý 8 vụ vi phạm lâm luật về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép tịch thu trên 4.000m3 gỗ xẻ các loại, thu phạt nộp ngân sách trên 120 triệu đồng.
Trong thời gian tới, Hạt Kiểm lâm thường xuyên kiểm tra kiểm soát, chặt chẽ các cơ sở gây nuôi, chế biến, kinh doanh lâm sản trên địa bàn. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn nhân dân sản xuất nương rẫy đúng quy định, tuân thủ nghiêm các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng…(Đài PTTH Sơn La 20/4, Trung Hiếu)đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum cho biết đã kỷ luật 5 cán bộ để mất rừng trong quá trình quản lý.
Vừa qua, Sở NN&PTNT Kon Tum cho biết, đã kỷ luật cảnh cáo 3 cán bộ và khiển trách 2 người khác do để mất rừng trong lâm phần quản lý. Tỉnh Kon Tum cho biết, đã có 1.346m3 gỗ bị khai thác trái phép xảy ra trong quý I/2017 với 165 vụ vi phạm, gây thiệt hại hơn 6ha rừng.
Đáng chú ý, riêng huyện Ngọc Hồi đã xảy ra 20 vụ, thu giữ hơn 800m3. Để vận chuyển gỗ ra khỏi rừng, lâm tặc tại Kon Tum làm hẳn các con đường mòn nhưng cơ quan chức năng không hề phát hiện. Trung tuần tháng 3/2017, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74 - Bộ Công an) phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi kiểm tra, phát hiện kho bãi Công ty TNHH MTV Tuấn Sỹ (thôn Nông Nhầy 2, xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi) có trên 100m3 gỗ nhóm III-VII không rõ nguồn gốc. Hiện vụ việc vẫn đang được điều tra, xác minh.
Trước đó, Báo Giao thông cũng liên tục phản ánh tình hình lâm tặc phá rừng trên địa bàn xã Ngọc Réo (Đắk Hà, Kon Tum). Liên quan đến các phát hiện do báo chí nêu, ngày 18/4, Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum đã tổ chức họp báo để cung cấp thông tin và trả lời một số vấn đề mà báo chí phản ánh tình trạng mất rừng xảy ra nhiều trong thời gian qua. Đại diện cơ quan Kiểm lâm Kon Tum cho biết, nguyên nhân chính khiến mất rừng là do lực lượng kiểm lâm mỏng mà địa bàn lại lớn, thường 1 xã chỉ có 1 kiểm lâm địa bàn.
Về vấn đề lực lượng quản lý bảo vệ rừng có tiếp tay cho lâm tặc hay không, ông Nguyễn Trung Hải – Giám đốc Sở NN&PTNT Kon Tum khẳng định rằng: "Trong ngành nông nghiệp, lực lượng kiểm lâm hoặc chủ rừng cũng có những đồng chí bán đứng ngành này để lấy tiền chứ không phải không có".(Giao Thông 20/4, Tạ Vĩnh Yên)đầu trang(
Một lượng lớn gỗ nghiến được sơ chế dạng thớt lớn nhất từ trước đến nay ở tỉnh Hà Giang vừa bị Chi cục Kiểm lâm tỉnh thu giữ.
Số gỗ này được phát hiện tại cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản của ông Vũ Mạnh Hoạch, tại tổ 5, thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên. Tổng khối lượng hơn 14 m3 gỗ quy tròn, chưa qua sử dụng.
Chủ cơ sở đã xuất trình một số giấy tờ, tuy nhiên chưa đủ căn cứ để xác định nguồn gốc xuất xứ của số gỗ. Hiện, lực lượng chức năng đang khẩn trương điều tra, làm rõ mức độ vi phạm, xử lý theo quy định của pháp luật. (Đài Truyền Hình VN 20/4; VOV 20/4, Nguyễn Minh)đầu trang(
Tương Dương (Nghệ An) được ví là “chảo lửa” Đông Dương, nhiệt độ mùa hè thường xuyên vượt ngưỡng 40oC. Nhưng ở nơi tưởng chừng như khát khô nhất ấy lại tồn tại một “thiên đường”.
Nó chỉ kéo dài chừng 1km dọc quốc lộ 7, với hơn 70ha nhưng đã trở thành biểu tượng cho ý chí giữ rừng của đồng bào Thái nơi đây. Chúng tôi đang nói đến rừng săng lẻ hàng trăm năm tuổi tại bản Quang Thịnh, xã Tam Đình.
Tháng tư, giữa cái nắng chói chang của những ngày đầu hè, chúng tôi ngược QL7, tìm về bản Quang Thịnh, xã Tam Đình để được nghe những câu chuyện thú vị về ý chí giữ rừng săng lẻ của đồng bào Thái huyện Tương Dương.
Những người già nhất ở bản Quang Thịnh cũng không biết rừng săng lẻ này có tự bao giờ. Họ chỉ biết, lớn lên đã thấy bạt ngàn rừng săng lẻ, cao chọc trời, có những cây gỗ 2 người ôm không xuể. Nhưng rừng săng lẻ giảm dần, đến khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ trước thì chỉ còn khoảng 70ha quanh khu vực khe Xồm Lôm chính thức được khoanh nuôi, bảo vệ. Đến nay, khi những già làng đã sắp về với núi rừng, không ít những cây săng lẻ 3 - 4 người ôm không xuể, cao tít trời xanh.
Không ai biết rừng săng lẻ Tam Đình có từ bao giờ nhưng đồng bào biết rõ, ai là người đã giữ rừng săng lẻ và truyền lửa ý chí giữ rừng cho lớp hậu sinh. Ở Quang Thịnh, không ai là không biết về cuộc chiến giữ rừng của ông Vi Chính Nghĩa, người mới chỉ vừa về với thiên thu 3 mùa lúa rẫy. Di sản ông để lại thực sự là chốn thiên đường ngay trên tuyến QL7 bỏng rát.
Người cao tuổi trong bản kể lại, những năm 90 của thế kỷ trước, rừng săng lẻ bị lâm tặc tàn phá, kiểm lâm và chính quyền huyện đã dùng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có cách nào ngăn nổi.
Ông Vi Chính Nghĩa, một già làng người Thái mẫu mực, nguyên Bí thư Huyện ủy Tương Dương, Phó ban Dân tộc tỉnh Nghệ An vừa mới nghỉ hưu. Là người có uy tín trong cộng đồng thôn bản, ông Nghĩa đã nói thì già trẻ, gái trai đều răm rắp nghe theo. Vì thế, năm 1992, UBND huyện, Hạt Kiểm lâm Tương Dương đánh đường đến nhà, cậy nhờ ông Nghĩa đứng lên giữ rừng. Lúc đó, ông chỉ nghĩ, làm cách mạng thì cái gì ích nước lợi nhà cứ làm, không nề hà khó khăn, gian khổ. Thế là ông vui vẻ nhận lời.
Để tiện cho việc giữ rừng, ông Nghĩa đã để lại căn nhà sàn trong bản cho con trai, còn hai vợ chồng già ra dựng một túp lều tranh ngay bìa rừng săng lẻ để có thể toàn tâm, toàn ý bảo vệ rừng. Cuộc đời ông bà từ lúc đó gắn bó máu thịt với hơn 70ha rừng săng lẻ.
Ông yêu rừng đến nỗi, sáng sớm tinh mơ đã cơm đùm cơm nắm lên rừng, tận chiều tối mới về. Mùa phát rẫy, ông mất ăn mất ngủ, chong đèn đi lên rừng tuần tra, sợ ai đó vì thiếu đất sản xuất làm liều phát nương làm rẫy, gây cháy rừng.
Thấy ông tuổi đã cao, lâm tặc khinh nhờn. Nhưng từ khi ông một mình tay không hạ đo ván 5 tên lâm tặc ngay tại bìa rừng, những kẻ phá rừng tỏ ra khiếp sợ ông. Nạn phá rừng từ đó cũng giảm, đồng bào trong bản cũng không ai còn dám đụng chạm đến khu rừng hoang sơ, kỳ bí.
Như con ngựa chạy lắm cũng mỏi gối, chồn chân, đến năm 2008 ông Nghĩa bàn với huyện, xã bàn giao lại khu rừng cho chính quyền địa phương. Đến năm 2013, rừng lại bị lăm le chặt phá, chính quyền lại giao cho 2 hộ dân trông coi. Sau đó, cùng với một số diện tích rừng cộng đồng, thôn bản, 241ha rừng (trong đó có 70ha rừng săng lẻ) đã được giao cho 11 hộ dân khoanh nuôi bảo vệ.
Rừng săng lẻ Tương Dương nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền tây Nghệ An, là rừng nguyên sinh hiếm có còn sót lại.
Săng lẻ là loại cây đại diện cho giống cây rừng khô ở miền Tây nam Nghệ An, họ bằng lăng, cao từ 30 - 45m, thân thẳng, màu nâu trắng, hoa tím, thường nở vào mùa hè. Cây săng lẻ cao, thẳng, rất phù hợp để làm cột nhà sàn. Vì thế, giữ rừng săng lẻ luôn là nhiệm vụ khó khăn đối với đồng bào thôn bản Quang Thịnh, xã Tam Đình, huyện Tương Dương và cả với ngành kiểm lâm tỉnh Nghệ An.
Hương ước giữ rừng của bản Quang Thịnh được xây dựng từ năm 1995 với nội quy, xử phạt nghiêm ngặt. Đồng bào được phép vào rừng nhưng chỉ được khai thác một số cây dược liệu như sa nhân, rễ sung đất, giang lẻ… về sử dụng trong gia đình, không dùng vào mục đích thương mại.
Bản thân ông Nghĩa, người được giao nhiệm vụ trông coi rừng thời gian này cũng gương mẫu đi đầu, mua củi về đun nấu chứ không vào rừng kiếm củi. Vì thế, người dân trong bản tuyệt nhiên không dám vi phạm.
Năm 2012, sau khi ông Nghĩa “trả rừng”, UBND xã Tam Đình tiếp quản nhưng lâm tặc lại lăm le xuất hiện. Sau nhiều cuộc họp lên họp xuống, UBND xã thống nhất giao cho 2 hộ ông Vi Viết Lợi và ông Vi Trường Vĩnh trông coi và bảo vệ. Thế nhưng, hai người đàn ông kiên cường nhất của bản cũng không thể ôm xuể.
Năm 2015, bản thành lập tổ bảo vệ rừng (BVR) gồm 11 người, đại diện cho 11 hộ gia đình. Ông Lợi và ông Vĩnh là thường trực tổ, hàng tháng phân công theo nhóm đi tuần tra canh gác rừng. Lúc này, rừng săng lẻ Tương Dương được chuyển từ rừng sản xuất sang rừng đặc dụng, được khoanh nuôi bảo vệ đặc biệt.
Năm 2015, bằng nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng, các thành viên được hỗ trợ thêm 200 nghìn đồng/ha bảo vệ/năm. Liên tiếp nhiều năm, tổ BVR không để xảy ra tình trạng chặt phá rừng, khi có vấn đề nghi vấn kịp thời báo Hạt Kiểm lâm Tương Dương xử lý... Rừng săng lẻ tồn tại từ đó đến nay và trở thành biểu tượng cho ý chí giữ rừng, niềm tự hào của người dân bản Quang Thịnh.
Năm 2014, rừng săng lẻ Tương Dương được chuyển đổi quy hoạch từ rừng sản xuất sang rừng đặc dụng. Ðồng thời, UBND huyện Tương Dương xây dựng quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng săng lẻ đến năm 2020, giao Hạt Kiểm lâm huyện quản lý. Đây là điều kiện tốt để người dân tham gia bảo vệ và giữ rừng. Hi vọng, biểu tượng này sẽ mãi trường tồn.
Ông Vi Võ Tuấn, trưởng bản Quang Thịnh cho biết thêm, để tạo sinh kế cho người trông coi, bảo vệ rừng, năm 2016, 11 hộ dân được giao trông coi bảo vệ rừng săng lẻ đã trồng được 500 gốc mây. Nếu rừng săng lẻ trở thành khu du lịch sinh thái như dự định thì đồng bào sẽ được tận dụng một số diện tích để trồng cây dược liệu dưới tán rừng nhằm tăng thêm thu nhập. (Nông nghiệp Việt Nam 21/4, Văn Dũng)đầu trang(
Trước thông tin báo chí phản ánh tình trạng lâm tặc chặt phá rừng nghiến cổ thụ trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong thời gian gần đây, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đã có ý kiến chỉ đạo.
Trong công văn truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung xử lý dứt điểm tình trạng khai thác, chế biến, mua, bán, vận chuyển trái phép các loại gỗ nghiến, trai trong rừng tự nhiên theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Ngày 19/4, ông Bùi Văn Đông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang, cho biết Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang phối hợp với các lực lượng chức năng của tỉnh và huyện Vị Xuyên vừa bắt giữ một vụ gỗ nghiến được sơ chế dạng thớt lớn nhất từ trước đến nay ở Hà Giang.
Cũng theo ông Đông, thời gian qua tình hình vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra khá phức tạp. Những cánh rừng đặc dụng ở Hà Giang đang chảy máu từng ngày bởi lâm tặc bất chấp nỗ lực ngăn chặn của lực lượng kiểm lâm.
Rất nhiều cây gỗ nghiến có tuổi đời hàng trăm năm, đường kính từ 1-2m đã bị lâm tặc “xẻ thịt” được sơ chế thành thành những khúc gỗ dạng thớt bán cho các đầu nậu rồi vận chuyển bán sang bên kia biên giới Trung Quốc. (Báo Quảng Ninh 20/4; Đại Đoàn Kết 20/4, PV)đầu trang(
Vừa qua, UBND tỉnh đã có những chỉ đạo quyết liệt nhằm xử lý nghiêm và ngăn chặn tình trạng phá rừng tại Vườn Quốc gia Ba Bể thời gian qua.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo Vườn Quốc gia Ba Bể nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan, kiên quyết xử lý nghiêm theo đúng pháp luật các trường hợp vi phạm nếu có.
Đồng thời, UBND tỉnh cũng đã yêu cầu đơn vị chấn chỉnh, đánh giá, sắp xếp lại công tác cán bộ, tăng cường lực lượng cho các trạm, chốt vẫn được xem là điểm nóng. Tổ chức chốt trực 24/24h, lập rào chắn barie và kiểm soát tất cả các phương tiện ra vào khu vực.
Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể phối hợp với các đơn vị chức năng huy động lực lượng trên địa bàn tổ chức truy quét một cách toàn diện; Rà soát, thống kê, kiểm tra hiện trạng cụ thể toàn bộ số cây gỗ đã bị hạ từ trước đến nay, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/5. Ban Giám đốc, lãnh đạo Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể tổ chức kiểm điểm về trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu đơn vị, tổ chức theo quy định.
UBND tỉnh cũng yêu cầu các đơn vị, địa phương và lực lượng chức năng các khu vực giáp ranh Vườn Quốc gia tăng cường công tác phối hợp, ngăn chặn, phát hiện kịp thời những vi phạm có thể xảy ra. (Đài PTTH Bắc Cạn 20/4, Công Luận)đầu trang(
Dư luận tại xã Lộc Vĩnh (huyện Phú Lộc, Thừa Thiên- Huế) đang bức xúc trước việc khu rừng dẻ phòng hộ hàng nghìn năm tuổi được cấp cho dự án sân golf.
Vào năm 2012, NTNN/Dân Việt đã phản ánh việc khu rừng dẻ phòng hộ hàng nghìn năm tuổi ven biển ở thôn Phú Hải 2 (xã Lộc Vĩnh) có nguy cơ bị khai tử để dành đất cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô.
Thông tin này được phản ánh sau khi tỉnh Thừa Thiên- Huế cấp hơn 300ha đất ven biển ở thôn Phú Hải cho công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Phong Phú Lăng Cô (gọi tắt là công ty Phong Phú Lăng Cô) thực hiện dự án trên.
Vào thời điểm đó, trong số hơn 300ha đất cấp cho chủ đầu tư có 250ha đất rừng phòng hộ. Nhiều diện tích trong số này là rừng dẻ hàng nghìn năm tuổi đã được UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế giao cho cộng đồng thôn Phú Hải quản lý từ năm 2001. Toàn bộ hơn 300ha đất này được sử dụng để xây dựng sân golf 27 lỗ, các công trình resort, khách sạn, biệt thự, phố ẩm thực, công viên...
Sau khi báo đăng, Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế không được phá diện tích rừng để làm sân golf. Lúc đó, dự án đang trong giai đoạn kiểm kê để giải phóng mặt bằng thực hiện giai đoạn 1, nhưng sau chỉ đạo của Chính phủ dự án đã “án binh bất động” một thời gian dài.
Đến thời gian gần đây, dự án này lại hoạt động trở lại và hiện đang thực hiện công tác kiểm kê, giải phóng mặt bằng. Điều khiến người dân và chính quyền xã Lộc Vĩnh lo lắng, bức xúc là việc khu rừng dẻ phòng hộ ven biển ở thôn Phú Hải lại tiếp tục nằm trong diện tích đất dự án.
Ông Nguyễn Xuân Bảo- Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Vĩnh cho biết, tổng diện tích đất dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô trước đây là 302ha nhưng nay giảm xuống còn 253ha. Qua đo đạc mới đây, khu rừng dẻ phòng hộ được xác định có diện tích 63,9ha và toàn bộ khu rừng này đều nằm trong diện tích đất cấp cho dự án.
Theo ông Bảo, nhờ diện tích rừng dẻ này mà đời sống và sản xuất của người dân địa phương bao đời nay được bảo vệ an toàn trước gió bão và nạn cát bay, cát nhảy. “Rừng dẻ này rất quý và có tác dụng rất lớn đối với địa phương. Chính quyền xã muốn giữ lại rừng dẻ này, nhưng họ xin được giấy phép đầu tư dự án rồi nên họ có phá thì mình cũng chịu”- ông Bảo nói.
Trong một văn bản kiến nghị gửi đến Sở NNPTNT tỉnh Thừa Thiên- Huế vào năm 2016, ông Hồ Trọng Cầu- Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Lộc cho biết: Từ khi được giao quản lý rừng dẻ phòng hộ, cộng đồng dân cư thôn Phú Hải đã thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, nên đã phát huy tốt tính năng, tác dụng phòng hộ của rừng, kết hợp nâng cao giá trị cảnh quan môi trường rừng trên địa bàn xã Lộc Vĩnh nói riêng, của Khu kinh tế Chân Mây- Lăng Cô nói chung. Trên cơ sở đó, UBND huyện Phú Lộc đề nghị Sở NNPTNT tham mưu UBND tỉnh giữ nguyên quy hoạch rừng phòng hộ đối với diện tích rừng dẻ này.
Ông Nguyễn Văn Thanh- Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Phú Lộc cho biết: Mặc dù UBND huyện Phú Lộc đã kiến nghị nhưng khu rừng dẻ nói trên vẫn được UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế điều chỉnh quy hoạch từ rừng phòng hộ thành rừng sản xuất vào năm 2016 để cấp cho dự án. Vừa qua, chủ đầu tư dự án đã đề nghị cơ quan của ông Thanh kiểm kê diện tích rừng dẻ này.
“Toàn bộ diện tích rừng này đều nằm trong diện tích dự án. Chủ đầu tư nói sẽ không phá rừng mà chỉ cắt xẻ thành những đường ngang, nhưng thực tế họ làm thế nào thì chưa rõ”- ông Thanh nói. (Kiến Thức 20/4, An Sơn)đầu trang(
Sau khi đăng loạt phóng sự về nạn chặt phá rừng nghiến tại một số địa phương thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Báo Lao Động đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ cơ quan hữu trách. Hàng trăm mét khối gỗ nghiến quý hiếm đã được thu hồi từ đống đổ nát, vụ án phá rừng đã được khởi tố…
Tuy nhiên, rừng nghiến cổ thụ vẫn chưa bình yên. Nhận được tin báo, chúng tôi quyết định trở lại Na Hang, vào rừng xã Năng Khả và chứng kiến những thảm trạng kinh hoàng...
Năng Khả đã “nhẵn mặt” trên báo chí bởi “tai tiếng” phá rừng nghiến đứng vào “top” đầu ở các xã thuộc huyện Na Hang, cái nôi trù phú nhất của vương quốc nghiến ở miền núi phía bắc Việt Nam. Đầu năm 2016, cái tên Năng Khả được báo chí nhắc tới với tình trạng phá rừng rất đáng báo động.
Tuy nhiên từ đó đến nay, mặc dù tỉnh Tuyên Quang đã có những động thái có vẻ quyết liệt nhưng tình trạng trên vẫn chưa có dấu hiệu được cải thiện. Và cái vòng kim cô ngày càng thắt chặt với những rừng nghiến nơi đây: Phá rừng, lên báo, tỉnh kiểm tra rồi... lại phá rừng.
Chúng tôi lên Năng Khả vào một ngày mưa gió. Anh D - người dẫn đường, cho hay, trời mưa và âm u mới là điều kiện lý tưởng cho lâm tặc “xẻ thịt” rừng. Lâm tặc thường xẻ rừng vào trời mưa và trời tối, những thời điểm kiểm lâm rất “ngại” đi rừng. Do tiếng máy cưa vào buổi đêm rất dễ nghe thấy nên lâm tặc đã nghĩ ra cách đối phó là sục máy cưa xuống nước. Nước sặc lên từng hồi triệt tiêu âm thanh.
Tinh vi hơn chúng còn chế ra bộ giảm thanh hoàn hảo cho máy cưa. Vì thế dẫu cho kiểm lâm có đến nơi thì cây nghiến cũng đã bị hạ và lâm tặc đã trốn hết.
Trong các địa điểm của Năng Khả anh D dẫn chúng tôi nên vào bản Nuầy vì ở đây, tình trạng phá rừng rất khủng khiếp. Đường vào bản hai bên là nương ngô, nương mía. Bà con đứng xếp mía hai bên đường dành cho chúng tôi những nụ cười hiền.
Thế nhưng anh D đã đập tan cái cảm quan dễ chịu đó: “Họ không hiền đâu, ở đây người ta phá rừng nhiều lắm. Họ mà biết tôi dẫn các anh lên có khi họ chặn đường đánh đấy”. Cẩn thận hơn, anh D nhắc đi nhắc lại chúng tôi không được đưa anh lên mặt báo cũng không tiết lộ với ai việc anh dẫn chúng tôi lên bãi gỗ, vì sợ bị trả thù. Người dân như anh D nhiều khi cũng vô cùng bức xúc trước cảnh “ăn thịt” rừng quá nhẫn tâm, nhưng chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt vì lo sợ lâm tặc sẽ quấy nhiễu.
Đường vào bãi gỗ bản Nuầy trơn trượt vì trời mưa. Những mỏm đá tai mèo đã không ít lần khiến chúng tôi trượt, ngã. Nghiến ở đây không bị xẻ làm cột, làm xà mà cắt làm thớt, để bán cho thương nhân Trung Quốc. Mỗi một cái thớt như vậy nặng hơn 10kg, người gùi về được trả công 100.000 đồng/chiếc. Theo anh D một cây nghiến đường kính khoảng 80cm có thể cho được 15 - 20 cái thớt nghiến, bán lấy tiền triệu ngon ơ, đem lại lợi nhuận rất lớn.
Trên đường vào bãi gỗ chúng tôi bắt gặp những cái thớt nghiến bị vứt lăn lóc bên mỏm đá. Cái lớn nhất có đường kính khoảng 60cm. Nhiều cây nghiến bị cưa đổ nằm vắt dài từ bên nọ sang bên kia. Lâm tặc cưa để đấy nhưng không lấy vội. Khi nào cảm thấy “yên yên’’ thì chúng mới vác máy lên cưa nghiến mang về hoặc dưới chiêu bài “mót gỗ”, các cây nghiến bị khai thác lậu đã bị phù phép thành... hợp pháp.
Người dẫn đường nói với chúng tôi khi nào đến đoạn mà nghiến vắt ngang hai bên như tơ nhện thì là đến bãi gỗ. Quả thật, đi thêm một lúc, chúng tôi được chứng kiến cảnh tượng có một không hai, nghiến bị đốn dăng dày như mạng nhện, cây này vắt sang cây nọ. Trong chuyến đi lần trước, chúng tôi đi trên gỗ nghiến thì chuyến đi lần này chúng tôi đi dưới “lưới gỗ nghiến”. Mỗi nơi lâm tặc lại có một thủ đoạn, một chiêu trò khác nhau, nhưng hậu quả thảm khốc đối với rừng già không thay đổi.
Bãi gỗ nghiến nằm rải rác khắp cánh rừng, đi mỗi chỗ lại gặp một bãi. Bãi ở đây không lớn như ở Bắc Mê (Hà Giang) nhưng nhiều và rải khắp cánh rừng. Vì khi khai thác lâm tặc sẽ chọn những cây to nhất để đốn trước, khi hết cây to thì chúng vác máy cưa đến các điểm khác. Dưới những tán lá rừng phảng phất trong cơn mưa, gỗ nghiến nằm đó thâm lại vì ẩm ướt, thớ gỗ rất mịn.
Anh D bổ sung vào câu chuyện của chúng tôi :“Mùa này không phải là mùa người ta làm nhà nên nghiến ít bị xẻ. Chủ yếu là bị cắt khúc để làm thớt, rồi người Trung Quốc sang mua. Nghiến bị khai thác rất mạnh trong khoảng thời gian từ 2008 - 2012. Trước đây 10 phần thì giờ chỉ còn khoảng 4 phần”. Anh D kết thúc câu chuyện bằng một hơi thuốc lá rít tóp má, người anh run lên vì mưa lạnh, mắt nhìn xa xăm, hồi tưởng về một thời rừng còn nhiều nghiến cổ thụ.
Chúng tôi muốn tìm hiểu thêm, anh D bảo, muốn xem các bảo tàng nghiến cổ thụ bị đốn hạ, phải lên đến bản Nhùng. Để tránh sự dòm ngó của người dân, anh em phải ngụy trang bằng cách thay đổi phương tiện đi lại và tách làm hai nhóm. Đường lên bản Nhùng xa xôi và khó đi hơn bản Nuầy. Mất khoảng 5km từ cửa rừng chúng tôi đã thấy một cây nghiến khổng lồ bị bỏ lại. “Cụ” có đường kính ít nhất phải gần 2m, một người trong nhóm chúng tôi đứng vào trong thân cây cũng không chạm đầu.
Anh N, người dẫn đường chia sẻ những câu chuyện về việc phá và giữ rừng ở nơi đây. Khác với rừng đặc dụng, rừng ở đây là rừng phòng hộ vì thế trữ lượng và giá trị gỗ không cao bằng. Rừng chịu sự quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang. Trước đây cũng có thời gian người dân chỉ lấy 1 - 2 cây về làm nhà. Nhưng từ khi thương nhân Trung Quốc tìm đến mua thớt thì cây nghiến có giá trị tăng vùn vụt. Cũng vì thế người ta mới ồ ạt tìm đến Năng Khả để tàn sát loại “thiết mộc” này.
Bản Nhùng nổi tiếng với những cây nghiến to có đường kính trên 1m. Anh N đưa chúng tôi đến xem một cây nghiến lớn nhất còn sót lại, mà chưa bị bọn lâm tặc “hỏa thiêu”. Ở đây, lâm tặc có thủ đoạn mới, rất tinh vi: Nghiến sau khi bị xẻ, phần còn thừa sẽ bị chúng đốt để phi tang chứng cứ. Anh N chỉ đường cho chúng tôi vào một bãi gỗ khai thác trong năm ngoái. Lâm tặc sau khi khai thác xong bỏ lại một cái gốc có đường kính 1,5m. Vừa rồi, chúng trở lại để đốt trụi cái gốc cây đó nhằm phi tang chứng cứ. Thủ đoạn đó gây cản trở không ít cho việc kiểm đếm, điều tra của lực lượng kiểm lâm.
Một số vụ bị phát hiện, khởi tố, nhưng số vụ bắt giữ các đối tượng khai thác gỗ nghiến trái phép chỉ như muối bỏ bể. Một người hiểu chuyện tiết lộ: người ta còn lợi dụng việc hợp pháp hóa gỗ bị khai thác trái phép, bằng cách khi báo gỗ lâm tặc chặt trên rừng về là “gỗ mua của người dân”. Và chỉ cần xin được cái “giấy nghiệm thu” (việc khai thác của dân), thế là toàn bộ số gỗ trái phép kia sẽ trở thành hợp pháp!
Theo ông T, một cán bộ kiểm lâm giấu tên cho biết: Mỗi lần có đoàn kiểm tra của tỉnh thì họ lại dẫn đi đến bãi gỗ cũ, đã bị khai thác từ lâu chứ không đi bãi mới. Mà chủ yếu cũng là những bãi rìa ngoài của rừng, với trữ lượng gỗ rất thấp. “Và có một điều lạ là: Rừng bị phá kinh hoàng như thế nhưng rất nhiều khi cán bộ bảo vệ rừng vẫn đều đặn nhận được giấy khen!”, ông T đặt vấn đề và cung cấp cho chúng tôi những bằng chứng thuyết phục. Với cung cách quản lý này, thì rừng không bị tàn sát mới là chuyện lạ.
Chứng kiến những cây gỗ nghiến bị xẻ ra thành từng mảnh, những cây gỗ còn lại đang ngày đêm kêu cứu, những gốc cây đen xì là chứng tích cho một trận hỏa thiêu xóa dấu tích, chúng tôi thật sự hoang mang cho vựa nghiến khổng lồ nghìn năm tuổi của thiên nhiên Việt Nam. Cứ đà này, rồi thì báu vật rừng sẽ biến mất “không một tiếng vang”? (Lao Động 21/4, Tâm Am – Ninh Vũ)đầu trang(
Vào khoảng 15 giờ, ngày 20-4, trong lúc tuần tra, một kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Tiên đã bị lâm tặc đâm trọng thương.
Theo thông tin từ Vườn quốc gia Cát Tiên, vào thời điểm nói trên, Tổ tuần tra gồm 4 người: Phạm Quốc Vinh, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Núi Tượng, Tổ trưởng tổ tuần tra; Vũ Văn Khôi, Trạm phó Trạm Kiểm lâm Núi Tượng và 2 nhân viên kiểm lâm là  anh Lê Quang Toàn, Đinh Sỹ Trí, đang làm nhiệm vụ tuần tra rừng tại tiểu khu 32 do Vườn quốc gia Cát Tiên quản lý (thuộc địa giới hành chính xã Đắc Lua, huyện Tân Phú).
Trong lúc tuần tra, tổ kiểm lâm phát hiện nhóm 4 người và 3 con chó xâm nhập rừng trái phép. Anh Phạm Quốc Vinh yêu cầu nhóm người trên đứng lại. Sau đó, anh Toàn hỗ trợ anh Vinh khống chế đối tượng vi phạm, nhưng bất ngờ, anh Vinh bị một đối tượng rút dao đâm 2 nhát vào bụng và cả nhóm 4 người chia nhau bỏ chạy.
Sau khi anh Vinh bị đâm, 3 kiểm lâm đã tập trung sơ cứu, nhanh chóng thông tin về Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Tiên để đưa anh Vinh đi cấp cứu.
Hiện, Công an huyện Tân Phú, Hạt Kiểm lâm huyện Tân Phú, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đang phối hợp điều tra truy bắt nhóm đối tượng nói trên. (Báo Đồng Nai 20/4, Hà Lam)đầu trang(
Bắc Kạn là một trong những tỉnh có tính đa dạng sinh học cao, tập trung chủ yếu ở Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc và Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ.
Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của nó đang khiến nhiều loài động thực vật quý hiếm bị xâm hại nghiêm trọng, đặt ra yêu cầu bức thiết về việc bảo tồn và nâng cao tính đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh.
Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc và Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ có tổng diện tích hơn 29.000ha. Trong đó có 17.193ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; 10.792ha là phân khu phục hồi sinh thái; 1.135ha thuộc vùng đệm trong…
Với đặc thù là hệ sinh thái trên rừng núi đá vôi nên cả VQG và 2 khu bảo tồn trên đều có hệ sinh thái vô cùng phong phú, nhiều loài thực vật quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Cụ thể, VQG Ba Bể có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi; 182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu, chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này. Các loài cây gỗ quý, hiếm như: Nghiến, Đinh, Lim, Trúc dây...
Đây là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á. Khu hệ động vật rất phong phú với 81 loài thú, 27 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư, 322 loài chim, 106 loài cá, 553 loài côn trùng và nhện. Trong đó có nhiều loài có giá trị, quý hiếm đã được Việt Nam và quốc tế ghi vào Sách Đỏ.
Về khu hệ cá, hồ Ba Bể và các sông suối phụ cận có đến 106 loài cá, được xác định phong phú nhất ở Việt Nam… VQG Ba Bể còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự có mặt của một số loài đang bị đe dọa trên toàn cầu như Voọc đen má trắng và Cầy vằn bắc, mặc dù vậy số lượng Voọc đen má trắng hiện còn tồn tại trong khu vực rất ít. Ngoài ra, hồ Ba Bể còn là một điểm du lịch nổi tiếng, là "viên ngọc xanh" giữa đại ngàn đã và đang nổi lên là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng với du khách, nhất là vào thời điểm mùa hè.
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc có một số loài động vật đang nằm trong mức cực kỳ nguy cấp như Voọc mũi hếch; Voọc đen má trắng. Trong đó, Voọc mũi hếch là một trong 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới. Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ có 798 loài thực vật bậc cao, 65 loài quý hiếm, thuộc 46 họ có giá trị cao được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam như: Nghiến, Trai lý, Đinh, Lát hoa, Du Sam núi đá, Thiết sam giả, Lan kim tuyết…
Tuy nhiên, tình trạng xâm hại, phá huỷ đa dạng sinh học tại các khu vực nói trên đang diễn ra rất phức tạp. Tại các khu rừng đặc dụng luôn phải đối diện với tình trạng “lâm tặc” tấn công bất cứ lúc nào. Việc khai thác trái phép rừng gỗ quý diễn biến phức tạp. Những gỗ quý như nghiến, trai... đã bị suy giảm nhiều về số lượng. Đặc biệt những loài hiếm như thông đá số lượng chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, gỗ đinh thì gần như đã hết.
Cùng với việc khai thác lâm sản trái phép, các loài cây dược liệu quý cũng đứng trước nguy cơ bị tận diệt. Thực tế, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, rất nhiều thôn bản đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng đệm của VQG, các khu bảo tồn thì việc săn bắn hái lượm vẫn là cứu cánh để duy trì cuộc sống của họ. Chính vì thế, nguồn dược liệu quý hiếm ngày càng cạn kiệt mà chưa có cách nào quản lý hiệu quả.
Ngoài ra, tình trạng lén lút săn bắn bằng súng săn tự chế vẫn thường xuyên xảy ra dẫn tới nhiều loài thú như hươu, nai, lợn rừng ngày càng hiếm… Những loài thú lớn như hổ, báo, gấu... rất ít khi tìm thấy dấu vết. Riêng VQG còn luôn phải hứng chịu sự tấn công của các đối tượng săn bắt thuỷ sản bằng các phương tiện huỷ diệt như đánh mìn, xiệc điện, lưới quét…
Đối với Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, với diện tích rộng lớn, ngoài đa dạng sinh học phong phú, Khu Bảo tồn này còn có kim loại quý là vàng. Vì thế, dù lực lượng chức năng nhiều lần truy quét nhưng việc khai thác vàng trái phép trong Khu bảo tồn vẫn diễn biến phức tạp, nhất là vào mùa khô. Việc khai thác vàng trái phép đã huỷ hoại thảm thực vật trong rừng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái.
Các loài động vật bị truy sát và rất nhiều cây gỗ quý bị “vàng tặc” khai thác để dùng làm lán trại, chống hầm… Theo báo cáo của VQG và các khu bảo tồn, mỗi năm  các đơn vị này xử phạt hàng trăm vụ xâm hại, thu giữ nhiều các loại phương tiện như cưa xăng, xe máy, súng săn và hàng trăm mét khối gỗ tang vật các loại…
Có thể nói, đa dạng sinh học ở Bắc Kạn mà trọng tâm là ở VQG Ba Bể và 2 khu bảo tồn thiên nhiên đang đối diện với rất nhiều nguy cơ xâm hại, do công tác quản lý, bảo vệ đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức như số lượng dân cư còn nghèo sống trong khu vực vùng đệm rất lớn; ý thức bảo vệ thiên nhiên của người dân còn nhiều hạn chế; địa hình hiểm trở, rộng lớn… Chính vì thế, đòi hỏi tỉnh Bắc Kạn phải đề ra những giải pháp hiệu quả, mang tính lâu dài để quản lý, bảo vệ hiệu quả đa dạng sinh học. (Báo Bắc Cạn 19/4, Quý Phúc)đầu trang(
Kỳ họp thứ 5, HĐND tỉnh Bắc Kạn khoá  IX, nhiệm kỳ 2016 - 2021 đã thông qua Nghị quyết  "Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bắc Kạn đến 2020, định hướng đến năm 2030", với những nội dung giải pháp cụ thể làm cơ sở để đẩy mạnh bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, việc phê duyệt Nghị quyết Bảo tồn đã dạng sinh học nhằm mục đích bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, các loài và nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm; duy trì và phát triển dịch vụ chi trả môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học thích ứng với biến đổi khí hậu, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng.
Công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bắc Kạn phải phù hợp, gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với kế hoạch bảo vệ môi trường, kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu và kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực khác trong tỉnh cũng như trên cả nước. Bảo đảm tính ổn định của các khu bảo tồn, vườn Quốc gia trên địa bàn tỉnh.
Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên; chú trọng khai thác giá trị dịch vụ sinh thái, môi trường, cảnh quan đa dạng sinh học. Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về đa dạng sinh học; góp phần kiềm chế tốc độ suy giảm đa dạng sinh học trên cả nước. Bảo đảm đa dạng các nguồn lực để thực hiện quy hoạch; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học…
Trên cơ sở của Nghị quyết, tỉnh mở ra một lộ trình bảo vệ đa dạng sinh học quy củ và bài bản, chặt chẽ trong thời gian tới. Theo đó Vườn Quốc gia Ba Bể và các khu bảo tồn được quy hoạch diện tích, ranh giới các phân khu và xây dựng cơ sở hạ tầng. Các chương trình bảo vệ, bảo tồn được lồng ghép gồm bảo vệ rừng; phát triển rừng theo hướng trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; bảo tồn đa dạng sinh học.
Các ngành chức năng sẽ điều tra chi tiết thành phần loài, đặc điểm phân bố và giá trị bảo tồn của khu hệ động thực vật rừng. Đặc biệt là đánh giá hiện trạng, cấu trúc quần thể, mật độ, trữ lượng, phân bố các loài động, thực vật quý hiếm như hươu sạ, voọc đen má trắng, gà lôi trắng, gà tiền mặt vàng, hồng hoàng, du sam đá vôi, lan một lá…
Cùng với đó là nghiên cứu bảo tồn các loài cây thuốc, các kiểu thảm thực vật rừng; điều tra cơ bản khu hệ côn trùng và đánh giá mức độ sâu hại gây bệnh trong khu bảo tồn.
Trước mắt, các cấp, các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học tới mọi tầng lớp nhân dân, khách du lịch, học sinh, sinh viên... đồng thời đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm tra, phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, kêu gọi sự tham gia của cộng đồng sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm của VQG và các khu bảo tồn chung tay bảo vệ đa dạng sinh học.
Xây dựng vườn thực vật, trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển động, thực vật nhằm nâng cao năng lực quản lý và cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học. Quy hoạch các khu bảo tồn VQG Ba Bể, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc; Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ với diện tích, hiện trạng ranh giới giữ nguyên theo Quyết định của UBND tỉnh Bắc Kạn.
Với mục đích, bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái rừng kín thường xanh á nhiệt đới, ôn đới núi cao tiêu biểu phía Bắc Việt Nam và hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi; bảo vệ các giá trị đa dạng về kiểu rừng, vùng đất ngập nước; bảo vệ nguyên vẹn các giá trị đa dạng sinh học của các loài động, thực vật rừng, nguồn dược liệu đặc biệt những loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam.
Tiến hành các chương trình nghiên cứu khoa học nhằm bảo tồn đa dạng sinh học của hệ động, thực vật; khai thác được các tiềm năng của khu bảo tồn về nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục, hoạt động du lịch sinh thái. Tăng cường liên kết với các tỉnh lân cận,  hợp tác quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó chú trọng việc trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia; Chủ động xây dựng quy chế quản lý các khu bảo tồn cấp tỉnh, đặc biệt chú trọng cơ chế hỗ trợ người dân trong vùng đệm nâng cao chất lượng cuộc sống…
Hiện nay, VQG Ba Bể và các khu bảo tồn đã và đang tích cực thực hiện các giải pháp trước mắt nhằm bảo tồn đa dạng sinh học như thực hiện chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020.
Theo đó, đã hỗ trợ hàng trăm thôn, bản vùng đệm kinh phí để phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống; tổ chức giao khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng; hỗ trợ kinh phí để trồng rừng phòng hộ; hướng dẫn, hỗ trợ người dân sinh kế trong khu vực vùng đệm; tạo điều kiện thuận lợi để người dân khai thác những giá trị đa dạng sinh học phục vụ lợi ích của con người như du lịch sinh thái tại VQG Ba Bể, các dịch vụ môi trường rừng, đánh bắt cá bằng phương pháp thủ công truyền thống... từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần làm giảm áp lực đối với việc xâm hại, phá huỷ đa dạng sinh học VQG và các khu bảo tồn. (Báo Bắc Cạn 19/4, Quý Phúc)đầu trang(
Quản lý bền vững 200 ngàn ha rừng xuyên biên giới giữa Nam Lào và miền Trung Việt Nam; mục tiêu ngăn chặn mất rừng, suy thoái rừng ở khu biên giới nhằm bảo tồn lâu dài các bể chứa cac bon, tính đa dạng sinh học (ĐDSH).
Đó là chiến lược cũng như kết quả nổi bật được Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương đánh giá cao tại hội nghị tổng kết dự án “Dự trữ cac bon và Bảo tồn đa dạng sinh học” (CarBi), do Ban Quản lý dự án CarBi hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam phối hợp với dự án WWF-CarBi tổ chức vào chiều 20/4.
Dự án CarBi được triển khai từ năm 2011 đến đầu 2017 với tổng kinh phí 10 triệu EUR, do Bộ Môi trường, Bảo tồn và An toàn hạt nhân Đức (BMU) thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) và các dự án: WWF, CEPF, ADB, IZW, HSBC tài trợ. Vùng dự án thực hiện gồm hai tỉnh Thừa Thien Huế, Quảng Nam (Việt Nam) và các tỉnh: Xê Kông, Salavan, Champassak, Attapue (Lào).
Sau 6 năm hoạt động, dự án CarBi hỗ trợ tích cực trong quản lý, bảo vệ rừng biên giới, như mua sắm hệ thống bộ đàm, lắp đặt trạm thời tiết mini, xây dựng 4 trạm kiểm lâm và 2 trại bảo vệ rừng; thiết lập và sử dụng phần mềm MIST/SMART trong giám sát và báo cáo các hoạt động tuần tra rừng; triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức, hướng đến việc thay đổi hành vi cộng đồng; hỗ trợ cộng đồng phát triển kinh tế...
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương cho rằng, vùng biên giới tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh của nước bạn Lào có tính ĐDSH cao, có nhiều loại động vật quý hiếm, nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới cần được bảo tồn, bảo vệ nghiêm ngặt.
Dự án CarBi có sự đóng góp, hỗ trợ rất lớn cho các địa phương trong bảo tồn và phát huy các giá trị ĐDSH. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Phương mong thời gian đến, dự án và các tổ chức trong và ngoài nước tiếp tục quan tâm, hỗ trợ Thừa Thiên Huế cũng như các địa phương, nước bạn Lào trong việc bảo tồn ĐDSH, quản lý, bảo vệ rừng một cách hiệu quả. (Báo Thừa Thiên – Huế 20/4, Hoàng Triều)đầu trang(
Vừa qua, tại rừng quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Bộ NN-PTNT và Tổ chức  Động vật châu Á đã tổ chức lễ cắt băng khánh thành giai đoạn cuối của dự án xây dựng Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam (giai đoạn 2).
Đây là dự án cứu hộ gấu lần đầu tiên tại Việt Nam được đầu tư với quy mô lớn theo hình thức bảo tồn bán tự nhiên, do Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT làm chủ dự án, đơn vị tài trợ và vận hành là Tổ chức Động vật châu Á với tổng mức đầu tư gần 3,4 triệu USD.
Tổ hợp khánh thành gồm 2 nhà nuôi nhốt gấu bán hoang dã rộng gần 6.000m2. Như vậy hiện tại có tổng cộng 10 khu nhà chăm sóc gấu được hoàn thiện tại vườn quốc gia Tam Đảo. Dự án xây dựng Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam bắt đầu triển khai từ năm 2009 đến 2017. Mục tiêu dự án là hướng đến một hệ thống cứu hộ và chăm sóc gấu theo mô hình bán hoang dã hiện đại nhất tại Việt Nam hiện nay, đồng thời nỗ lực vận động chấm dứt tình trạng săn bắt, nuôi nhốt gấu và động vật hoang dã tại Việt Nam.
Theo bà TS Jill Robinson, Tổng Giám đốc kiêm sáng lập Tổ chức Động vật châu Á, chỉ từ 6 cá thể gấu đầu tiên được cứu hộ vào năm 2008, sau 9 năm không ngừng nỗ lực đến nay tại Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam đã cứu hộ và bảo tồn được tổng cộng 161 cá thể.
"Hiện dự án xây dựng cơ sở vật chất đã hoàn thành toàn bộ, vì  vậy trong thời gian tới, Tổ chức Động vật châu Á sẽ ký cam kết với Tổng cục Lâm nghiệp triển khai chính sách chấm dứt hoàn toàn tình trạng nuôi nhốt gấu trái phép để khai thác mật tại Việt Nam. Theo thống kê hiện vẫn có khoảng hơn 1.000 cá thể gấu các loại đang bị nuôi nhốt trái phép tại hộ gia đình, trạng  trại cá nhân  vì mục  đích khai thác mật cần cứu hộ và bảo tồn. (Sài Gòn Giải Phóng 20/4, Văn Phúc)đầu trang(
Khi Tùng đang mang bên mình túi hàng lớn chứa sản phẩm ngà voi chờ khách hàng đến để giao dịch thì bị lực lượng C74 ập đến, bắt giữ quả tang.
Ngày 20/4, nguồn tin riêng của PLVN từ lực lượng Phòng 3, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74) - Bộ Công an cho biết, lực lượng đơn vị này vừa bắt giữ quả tang vụ buôn bán 1.633 sản phẩm chế tác từ ngà voi tại TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Vụ bắt giữ diễn ra vào lúc 21h đêm 19/4, tại quán cà phê Gia Lê – số 97 Lê Lợi, TP. Pleiku. Nguyễn Bá Tùng (SN 1994, trú tại xã Ia Kla, huyện Đức Cơ, Gia Lai) dùng xe máy BKS 81B2-001.84, vận chuyển một chiếc túi màu xanh nước biển, bên trong chứa hàng nghìn sản phẩm được chế tác từ ngà voi đến quán cà phê Gia Lê.
Khi Tùng đang ngồi chờ giao dịch, mua bán với khách hàng thì bất ngờ bị lực lượng Phòng 3 – C74 phối hợp với Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Gia Lai và Đội Kiểm lâm đặc nhiệm – Cục Kiểm lâm Việt Nam mật phục từ trước, ập đến bắt quả tang.
Tại cơ quan công an, Tùng không đưa ra được các giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của số hàng nói trên và khai nhận toàn bộ số hàng trong túi này là các sản phẩm trang sức được chế tác từ ngà voi. Tùng mua lại của một người đàn ông tên là Nguyễn Việt Dũng (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2016, với giá hàng trăm triệu đồng để về bán lại cho khách kiếm lời.
Qua kiểm tra, lực lượng công an kiểm đếm được có tổng cộng 1.633 sản phẩm gồm: vòng tròn đeo tay, mặt dây chuyền, tượng phật, nhẫn, tràng hạt… có màu trắng ngà, được chế tác rất kỳ công, tinh xảo.
Xét thấy hành vi của Tùng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm được sản xuất từ động vật nguy cấp, quý hiếm, lực lượng chức năng đã ra quyết định thu giữ toàn bộ tang vật để mở rộng điều tra, làm rõ và xử lý theo pháp luật. (Pháp Luật Việt Nam 21/4, Trần Nguyên Phong – Khôi Nguyên)đầu trang(
Chiều 20.4, một người dân Đà Nẵng thông tin trên mạng xã hội về sự việc, một ngày trước đó (19.4) đã bắt gặp một nam thành niên cầm dao cùng xác một con trăn trên núi Sơn Trà. Sự việc càng dấy lên mối lo ngại cho việc bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà thời gian qua.
Anh L.N, người cung cấp thông tin trên cho hay, sáng sớm 19.4, anh cùng một nhóm bạn trên đường lên thăm và chụp ảnh Sơn Trà đã phát hiện một người đàn ông có hành động lạ. Khi thấy nhóm anh N đến, người đàn ông này vứt một con dao ở bìa rừng rồi chạy xe đi.
“Cách đó vài mét, chúng tôi phát hiện xác một con trăn đã bị giết chết, máu vẫn còn đỏ tươi. Trong khi xung quanh đó không còn ai khác ngoài nhóm chúng tôi vừa đến và người đàn ông kia”, anh N cho hay.
Thấy có dấu hiệu khả nghi, anh N liền quay lại chụp ảnh người đàn ông kia. “Không may tôi bị phát hiện nên anh ta liền chạy xe lên chặn đầu xe chúng tôi và yêu cầu xóa bức ảnh. Nhìn kỹ hơn, tôi thấy người này có mang theo máy ảnh và ống kính chụp xa... Theo kinh nghiệm của tôi, trăn vào buổi sáng chỉ bò ra để tắm nắng chứ không có hành vi tấn công hay kiếm mồi. Việc một người đàn ông vứt con dao ở bìa rừng, sau đó phản ứng dữ dội khi bị chụp ảnh là điều bất thường. Nếu như anh ta giết con trăn để tự vệ thì sẽ không bao giờ phản ứng như vậy”, anh N nhận định.
Qua những hình ảnh anh N cung cấp, chúng tôi liên hệ với TS. Hoàng Minh Đức - Phó viện trưởng Viện Sinh thái miền Nam thì được biết, đây là loài trăn gấm, ở Việt Nam còn rất ít, thuộc nhóm động vật nghiêm cấm khai thác và sử dụng; cần triệt để việc cấm săn bắt và buôn bán trái phép.
Hạt Kiểm lâm Sơn Trà cho biết, phía Hạt Kiểm Lâm đã nhận được thông tin và đang tiến hành điều tra sự việc. (Lao Động 20/4, Thùy Trang)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Quy hoạch lâm nghiệp hiện còn nhiều hạn chế như: Thiếu sự liên kết giữa các vùng trong cả nước và giữa các tỉnh trong vùng; trật tự quy hoạch chưa bảo đảm; quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, vùng chưa được lập… nên không có cơ sở cho các quy hoạch nhỏ hơn.
Ngày 20/4, tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) tổ chức hội thảo tham vấn đánh giá thực trạng công tác quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Hệ thống quy hoạch, kế hoạch xây dựng lâm nghiệp hiện đã có tại 59/60 tỉnh, thành phố có rừng. Những quy hoạch này đã được xây dựng, phê duyệt trong kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020. Đặc biệt trong số đó đã có 21 tỉnh, thành phố xây dựng quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng; 85 khu rừng đặc dụng đã xây dựng quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng...
Tuy nhiên, tại hội thảo, nhiều đại biểu cũng nhận định quy hoạch còn là khâu yếu của ngành lâm nghiệp. Một số tồn tại, hạn chế đã được chỉ rõ như: Thiếu sự liên kết giữa các vùng trong cả nước và giữa các tỉnh trong vùng; trật tự quy hoạch chưa bảo đảm, quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, vùng chưa được lập… nên không có cơ sở cho các quy hoạch nhỏ hơn.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội chậm nên thiếu căn cứ cho xây dựng quy hoạch lâm nghiệp. Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với các quy hoạch khác còn mâu thuẫn, chồng chéo, từ khâu khảo sát thông tin, phân tích, dự báo, đến các giải pháp thực hiện… làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quy hoạch. Bên cạnh đó, chất lượng quy hoạch lâm nghiệp còn thấp, kém khả thi, chưa gắn với nguồn lực thực hiện, việc phân định nội dung các loại quy hoạch, cấp độ quy hoạch chưa rõ ràng, dẫn đến sự trùng lắp…
Những bất cập trên đã góp phần dẫn tới tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng một cách ồ ạt, đặc biệt là sang làm thủy điện, khai thác khoáng sản, xây dựng hạ tầng nông thôn, tái định cư. Tình trạng xâm lấn, phá rừng trái pháp luật để trồng những loại cây nông nghiệp có giá trị cao diễn ra phổ biến.
Quy hoạch không gắn với vùng nguyên liệu, quản lý thiếu kiểm tra, giám sát, đặc biệt đối với xưởng chế biến gỗ gần rừng đã làm gia tăng tình trạng phá rừng và mua bán gỗ bất hợp pháp. Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện quy hoạch chậm cũng dẫn đến nhiều hệ quả.
Để tháo gỡ những khó khăn, bất cập đó, theo ông Phạm Hồng Lượng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính của Tổng cục Lâm nghiệp, cần bảo đảm những nội dung, yêu cầu và nguyên tắc trong việc lập quy hoạch lâm nghiệp quốc gia. Trong đó, đầu tiên là bảo đảm phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
Bên cạnh đó, nhiều đại biểu cũng đưa ra ý kiến về sự cần thiết xây dựng tiêu chí rõ ràng trong dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và chuẩn hóa, nâng cao năng lực cho đơn vị tư vấn xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo đảm sự khách quan.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Văn Hà nhận định, quy hoạch, kế hoạch là một trong những nhiệm vụ đầu tiên, làm căn cứ triển khai các nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp, định hướng quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của ngành, làm cơ sở để tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả quản lý ngành.
Theo ông Hà, hiện nay hệ thống quy hoạch trong lĩnh vực lâm nghiệp sẽ ngày càng được chú trọng và thể hiện cao nhất ở Luật bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Trước mắt, Bộ NN&PTNT đã xây dựng, triển khai quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng lưu vực sông Cầu, ven biển, vùng Tây Nguyên… Cùng với đó những quy hoạch cho ngành như chế biến gỗ, quy hoạch phát triển cây mắc ca, quy hoạch trồng rừng gỗ lớn.... cũng đã được đưa ra. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hằng năm. Nhờ đó, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lâm nghiệp được nâng cao. (Chính Phủ 20/4, Đỗ Hương)đầu trang(
Công nghiệp chế biến đã mang lại giá trị kinh tế rất lớn cho cây rừng. Vậy là song hành với việc xây dựng dự án trồng 500 ha rừng nguyên liệu tập trung, ông Tự cho đổ đường bê tông dài 7km vượt núi, băng suối vào tận Khuổi Vạng.
Ở Việt Bắc, cùng với Tuyên Quang, rừng Bắc Kạn được coi là lá phổi của vùng an toàn khu (ATK). Với độ che phủ đạt trên 70%, Bắc Kạn là một trong số ít địa phương dẫn đầu cả nước về độ che phủ của rừng. Kết quả đó có sự đóng góp quan trọng của những người tâm huyết với nghề rừng, như bà May, ông Tự.
Cách đây 5 năm, nếu lấy diện tích và hiệu quả kinh tế làm thước đo tiêu chuẩn để tìm "vua" trồng rừng ở các địa phương thì tỉnh Bắc Kạn đã tìm được một Nữ hoàng. Bà là Hoàng Thị May, người thôn Bản Quất, xã Như Cố, huyện Chợ Mới. Nhưng nhanh chóng bà May phải nhường ngôi vị này cho người khác, ông là Trương Quốc Tự ở xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn- người đang có 500 ha rừng.
Ông Tự tuổi Giáp Ngọ (sinh năm 1954). Sinh ra ở rừng, lớn lên từ rừng, sống nhờ rừng, cả tuổi thơ của ông gắn với rừng. Rừng Bình Trung trong ký ức của ông không chỉ đẹp mà còn là nguồn sống của dân bản. Thời niên thiếu, khi đi làm nương, có lần ông còn bắt được con nai, con hoẵng. Giờ chuyện đó đã thành cổ tích. Rừng nghèo đi do bị con người khai thác kiệt quệ.
Giai đoạn đốt rừng làm nương đã biến những khu rừng nguyên sinh trước kia trở thành đồi núi trơ trọc đá sỏi. Rừng già cổ thụ hóa thành bãi ót, khóm lau sậy, con chim, con thú bỏ đi hết. Đau đáu nỗi niềm với rừng, ông Tự quyết tâm thực hiện suy nghĩ khôi phục rừng bằng việc trồng rừng.
Năm 1993, ông Tự đang là cán bộ Lâm trường Chợ Đồn, chủ trương giao đất giao rừng của Nhà nước đạt hiệu quả cao tại nhiều địa phương nhưng ngay tại huyện Chợ Đồn lại gặp không ít khó khăn. Ông bàn với gia đình mạnh dạn nhận diện tích 14 ha đất rừng trên đỉnh đèo So, nơi giáp ranh với huyện Định Hóa (Thái Nguyên). Đèo So ma quái, nơi lẩn khuất của quỷ thần, cướp bóc, sao ông Tự lại vãi thóc nuôi gà rừng?
Nghi ngại của dân làng được ông Tự dày công giải thích bằng một vạt rừng quế ngát lừng chiến khu. Ông sang tận Yên Bái học cách bóc vỏ quế rồi về truyền dạy lại cho dân bản làm thuê cho ông. Rừng đẻ ra tiền, ông tiếp tục đầu tư lên rừng với việc mua lại hơn 100 ha rừng tại Pác Cha, Khuổi Vạng (xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn).
Trong lúc người ta đi tìm rừng để khai thác thì ông lại ngược đường lên bản Mông Khuổi Vạng mua đất trồng rừng. Lần này, gia đình, người thân, xóm giềng ra sức khuyên can. Bỏ mặc ngoài tai, ông Tự lầm lụi lên bản, bàn với Bí thư bản Mông là Vàng Seo Sính, thuê nhân công là người Mông tại chỗ trồng rừng cho mình.
Người Mông làm theo kỹ thuật mà ông Tự tập huấn cho. Cây keo, cây mỡ gặp đất mới lên nhanh. Ngọn cây cứ cao mãi lên, rì rào cùng gió, gọi đàn chim quay về hót líu lo. Dưới tán rừng, con tắc kè, con hoẵng thỉnh thoảng tru hơi. Dân bản thấu được cũng mang cây trồng kín cả đất rừng Khuổi Vạng.
Năm 2011, ông Tự về hưu. Ngay lập tức, ông thành lập Công ty TNHH Trường Thành Bắc Kạn với dự án trồng rừng nguyên liệu xã Bình Trung có quy mô 500 ha. Ngoài 120 ha đất rừng sẵn có, công ty ông Tự được phép liên kết sản xuất với các hộ dân trên diện tích 380 ha. Hộ liên kết trồng rừng được công ty hỗ trợ cây giống, vật tư, cam kết bao tiêu sản phẩm theo giá thị trường.
Làm rừng nên ngoại lục tuần mà ông Tự vẫn có vóc dáng tráng kiện, lại một thuở là cán bộ lâm trường nên ông có tác phong đường bệ, uy nghi. Với bất kể ai, để tổ chức sản xuất ổn định 500 ha rừng đều là việc lớn lao. Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Trường Thành Trương Quốc Tự đã có bài toán của riêng mình.
Ông phân tích, những năm trước, giá cây keo ở Chợ Đồn là 500 ngàn đồng/mét khối, đối với keo có vòng dây 50 cm. Từ khi có xưởng chế biến đũa của công ty thì giá đã lên 1,5 triệu đồng/mét khối. Rõ ràng, công nghiệp chế biến đã mang lại giá trị kinh tế rất lớn cho cây rừng. Vậy là song hành với việc xây dựng dự án trồng 500 ha rừng nguyên liệu tập trung, ông Tự cho đổ đường bê tông dài 7km vượt núi, băng suối vào tận Khuổi Vạng.
Ông cho xây nhà máy chế biến đũa với công suất 20 mét khối gỗ tròn mỗi ngày; xây dựng vườn ươm giống cây với quy mô đáp ứng trồng trên diện tích hàng ngàn ha rừng mỗi năm. Tổng giá trị đầu tư ngót ngét chục tỷ đồng. Ngoài tiền vốn sẵn có, công ty phải vay ngân hàng hơn 5 tỷ đồng. Ông Tự xua tan lo lắng của chúng tôi về kế hoạch trả nợ, rằng với chỉ hơn 40 ha rừng keo 8 tuổi tại Khuổi Vạng, mỗi ha có giá trị trăm hơn trăm kém thì phần vốn vay không đáng lo ngại nữa.
Ông Tự có 3 người con đều công tác dưới thị trấn Bằng Lũng hoặc ngoài TP Bắc Kạn. Khi ông thành lập công ty thì người con cả ở thành phố đã nghỉ việc Nhà nước về quê cùng cha lập nghiệp. Đó là anh Trương Văn Thành, Giám đốc Công ty. Chung nhiệt huyết, đam mê với cha, anh Thành cho biết, Bình Trung là cửa ngõ của Chợ Đồn, Chợ Đồn lại là cửa rừng của Bắc Kạn. Đồng bào ai cũng tâm niệm, ăn của rừng dưng dưng nước mắt.
Chính vì vậy mà công tác quản lý, bảo vệ rừng của địa phương trong nhiều năm luôn đạt hiệu quả cao. Khó khăn lớn nhất là Chợ Đồn có địa hình chia cắt, vùng tiểu khí hậu với sự thất thường của thiên nhiên khiến công tác trồng rừng, phát triển rừng trong những năm trước đây còn nhiều hạn chế.
Tuy nhiên, đồng bào miền núi muốn phát triển kinh tế thì không có lối đi nào khác ngoài việc phải dựa vào rừng, sống nhờ rừng. Trước đây là săn bắn hái lượm, khai thác kiệt quệ tài nguyên rừng thì nay có khoa học kỹ thuật, có công nghiệp hóa bù lại, phải đầu tư, gây rừng thì mới có rừng để nương nhờ. (Nông nghiệp Việt Nam 20/4, Đồng Văn Thưởng)đầu trang(
Theo thỏa thuận quy hoạch vừa được các cấp thẩm quyền thông qua, Công ty TNHH Quốc Hùng làm chủ đầu tư dự án quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng, trồng cây công nghiệp, nông nghiệp, trồng cỏ kết hợp chăn nuôi đại gia súc trên tổng diện tích gần 90 ha, tọa lạc Tiểu khu 227A, thuộc xã Lát, huyện Lạc Dương.
Trong đó quy hoạch diện tích 6 loại đất gồm: hơn 41,5 ha quản lý, bảo vệ rừng; hơn 19,5 ha trồng rừng kết hợp trồng cỏ; gần 9 ha sản xuất nông nghiệp; 18,3 ha trồng rừng thuần; 0,8 ha xây dựng công trình cơ bản và hơn 0,6 ha đất giao thông.
Trong quá trình triển khai dự án, chủ đầu tư là Công ty TNHH Quốc Hùng chỉ san gạt địa hình tại từng vị trí công trình và nằm trong tỷ lệ cho phép, tuyệt đối không chặt hạ cây rừng tự nhiên trong khuôn viên. Ngoài ra, chủ đầu tư phải trồng thêm cây xanh tại các khu vực đất trống của dự án. (Báo Lâm Đồng 20/4, Mạc Khải)đầu trang(
Sáng 20/4, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh chủ trì hội nghị sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp chất lượng cao, trồng rừng gỗ lớn và cấp chứng chỉ rừng. Đại diện lãnh đạo ngành lâm nghiệp các tỉnh thành : Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; đại diện các sở, ngành của tỉnh và các doanh nghiệp trong lĩnh vực phát triển giống lâm nghiệp tham dự.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh nhấn mạnh: Đối với Quảng Nam công tác này được xem là vô cùng quan trọng, tác động tích cực đến biến đổi khí hậu và phát triển công nghiệp gỗ trên địa bàn tỉnh. Mặc dù thời gian qua, tỉnh đã có nhiều nỗ lực nhưng công tác phát triển rừng chưa được phát triển về chiều sâu, còn mang tự phát.
Thời gian tới tỉnh đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng trên các vấn đề chính là: giống, trồng rừng gỗ lớn gắn với chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu và cấp chứng chỉ. Đẩy mạnh sự tham gia của các doanh nghiệp trong công tác phát triển giống chất lượng cao, hướng đến phát triển rừng bền vững.
Báo cáo tại hội nghị cho biết: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 175 đơn vị, cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp, trong đó có 43 cơ sở có giấy phép đăng kí kinh doanh. Qua kiểm tra, đánh giá có 69% cơ sở sản xuất giống đạt loại A, 23% đạt loại B. Theo số liệu thống kê, tổng số giống, cây con phục vụ công tác trồng rừng trong giai đoạn 2012- 2016 gần 150 triệu cây.
Trong 5 năm, Quảng Nam trồng hơn 64.300 ha rừng trồng sản xuất, bình quân mỗi năm trồng trên 12.800ha. Mặc dù diện tích trồng có tăng nhưng chất lượng rừng vẫn còn thấp so với khu vực. Công tác nghiên cứu về giống cây trồng rừng bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu khảo nghiệm xuất xứ, chọn lọc cây trội, khảo nghiệm hậu thế, nuôi cấy mô....vẫn còn hạn chế. (Đài PTTH Quảng Nam 20/4, Dương Oanh – Xuân Hiếu)đầu trang(
Xã Châu Cường có diện tích đất lâm nghiệp là gần 6.000 ha; trong đó rừng tự nhiên là 4.628 ha; rừng trồng là 1.298 ha và đất trống là khoảng 460 ha. Năm 2017, xã Châu Cường phấn đấu trồng mới hơn 190 ha.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền về kế hoạch trồng rừng và bà con đã chuẩn bị chu đáo các điều kiện phục vụ cho việc trồng rừng như chuẩn bị đầy đủ các loại phân bón, cây cây giống, nhân lực cho nên hiện nay xã đã trồng được hơn 70% diện tích. Các loại cây được bà con trồng chủ yếu là cây keo. Diện tích rừng trồng tập trung ở các xóm Mương Ham, bản Khì, bản Tèo, bản Nhọi, bản Nhạ….
Bên cạnh đó, Châu Cường cũng đã thực hiện tốt việc khoanh nuôi bảo vệ rừng và phối hợp với các ban ngành chức năng thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép và chủ động các phương án phòng chống cháy rừng mùa nắng nóng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Nghệ An 20/4, Minh Đạt)đầu trang(
Năm 2017 thành phố Yên Bái phấn đấu trồng mới 170 ha từng tập trung và trên 68 nghìn cây phân tán các loại.
Ngay sau khi phát động tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại năm Đinh Dậu 2017, thành phố đã tập trung chỉ đạo phòng ban chuyên môn phối hợp với UBND các xã, phường tổ chức tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật trồng rừng đến nhân dân trên địa bàn. Tranh thủ thời tiết thuận lợi bà con nông dân thành phố đang đẩy nhanh tiến độ trồng rừng đảm bảo theo kế hoạch đề ra trong năm.
Gia đình anh Đào Quang Sánh ở tổ 7 phường Hợp Minh có 1 ha rừng trồng chủ yếu là keo tai tượng. Năm nay 1 ha keo của gia đình đã đến tuổi khai thác, theo diện tích này gia đình anh Sánh khai thác đạt khoảng 50 đến 60 khối gỗ, thu về gần 80 triệu đồng.
Đây là nguồn thu lớn giúp gia đình anh có điều kiện để nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Từ hiệu quả kinh tế đem lại từ trồng rừng, vì vậy không để đất trống đồi trọc, sau khi khai thác đến đâu gia đình anh đều tập trung thu dọn, phát quang biểu bì và chuẩn bị làm đất để trồng thay thế, bổ sung kịp thời diện tích rừng trong vụ xuân năm nay.
Anh Sánh cho biết “Thời tiết năm nay khá thuận lợi, gia đình tôi đang tích cực làm đất và chuẩn bị đầy đủ cây giống tiến hành trồng cho kịp thời vụ. Đối với đất đồi khu vực này thì trồng cây keo vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Vì vậy vụ Xuân này, gia đình tôi tiếp tục trồng cây keo tai tượng và trồng bổ sung một số cây nông sản khác.”
Phường Hợp Minh hiện có 368 ha rừng tập trung, được đánh giá là một trong phường có diện tích đồi rừng lớn so với các phường trên địa bàn thành phố. Nhận thức rõ được lợi ích của việc trồng rừng, nhiều năm qua phường Hợp Minh đã luôn chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân khai thác tối đa diện tích để trồng chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích đồi rừng.
Chú trọng trồng giống cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao và được thị trường ưu chuộng. Hàng năm phường chỉ đạo nhân dân trồng mới từ 15 đến 20 ha rừng. Trong năm 2017 này, phường đặt ra mục tiêu trồng mới 15 ha rừng. Tính đến đầu tháng 4/2017, nhân dân trong phường đã tiến hành trồng mới được trên 50% diện tích theo kế hoạch đề ra trong năm. Anh Nguyễn Văn Tuân, cán bộ khuyến nông phường Hợp Minh thành phố Yên Bái cho biết: “Để giúp người dân tiến hành trồng rừng theo thời vụ, chúng tôi đã tích cực tham mưu cho chính quyền địa phương có kế hoạch chỉ đạo các ban ngành đoàn thể, tổ dân phố tuyên truyền vận động nhân dân, khai thác đến đâu làm đất và trồng bổ xung đến đó. Bân cạnh đó, nhằm đảm bảo kỹ thuật trồng rừng, chúng tôi thường xuyên xuống cơ sở hướng dẫn về kỹ thuật trồng theo hướng dẫn và với đồng đất Hợp Minh khuyến cáo bà con trồng cây keo, cây quế đem lại hiệu quả kinh tế cao.”
Cùng với người dân phường Hợp Minh, những ngày này tranh thủ thời tiết thuận lợi gia đình ông Đỗ Ngọc Hưng, thôn Trực Bình I, xã Minh Bảo, thành phố Yên Bái đang tập trung trồng rừng vụ Xuân 2017. Ông Hưng cho biết: “Năm nay nhận thấy hiệu quả kinh tế từ cây quế, gia đình tôi đã tìm đến xã Nga Quán huyện Trấn Yên để tìm mua giống quế có chất lượng tốt nhất về trồng thay thế vào diện tích gần 1ha keo đã khai thác trong năm 2016. Cùng với trồng thay thế, bổ sung kịp thời diện tích rừng đã khai thác, gia đình tôi đang tích cực chăm sóc, bảo vệ 2ha keo được gần 1 năm tuổi và một số diện tích keo chuẩn bị cho khai thác.”
Xã Minh Bảo có gần 900 ha đồi rừng, nhiều năm qua nhờ chú trọng chỉ đạo nhân dân trồng, chăm sóc và khai thác, bảo vệ tốt diện tích đồi rừng. Đến nay đời sống của hộ trồng rừng đã không ngừng được nâng cao, có hộ gia đình đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ phát triển đời rừng. Để đảm bảo diện tích trồng rừng theo kế hoạch được thành phố giao là 25 ha, ngay sau khi nhận được kế của thành phố, xã Minh Bảo đã chú trọng chỉ đạo cán bộ chuyên môn phối hợp với các thôn nhân dân thông báo kế hoạch trồng rừng trong năm 2017.
Để đảm bảo nguồn cây giống có chất lượng tốt xã chỉ đạo cán bộ chuyên môn tư vấn, hướng dẫn người dân đến các cơ sở vườn ươm có uy tín chọn lua giống. Bên cạnh đó, để đảm bảo gieo trồng đúng thời vụ, xã Minh Bảo chỉ đạo nhân dân, tranh thủ thời tiết thuận lợi tập trung nhân lực hoàn thành công tác trồng rừng vụ xuân sớm nhất, đến nay xã đã trồng đạt gần 16 ha.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Minh Bảo cho biết: “Phát huy lợi thế của địa phương có đất đồi rừng, nhiều năm qua bà con nhân dân đã biết khai thác và trồng nhiều cây lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ phát triển kinh tế đồi rừng đã giúp nhiều hộ vươn lên thoát nghèo và làm giàu bền vững. Thực hiện trồng rừng trong năm 2017, với phương châm không để đất chống đồi núi trọc, quan điểm của xã chỉ đạo bà con nhân dân khai thác rừng đến đâu, trồng thay thế đến đó. Qua tập trung chỉ đạo, đến nay bà con trong xã đã cơ bản trồng đạt theo kế hoạch đề ra”.
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Ngay từ đầu năm 2017, các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc thành phố Yên Bái luôn quan tâm và tích cực hưởng ứng việc trồng cây, trồng rừng gắn với công tác bảo vệ, giữ gìn môi trường sống.
Việc trồng cây gây rừng và cây xanh đô thị đã trở thành việc làm thường xuyên có ý nghĩa không chỉ về mặt kinh tế - xã hội mà còn mang tính giáo dục truyền thống văn hoá cho mọi người về ý thức trách nhiệm tự tôn dân tộc để bảo tồn giữ gìn và phát triển môi trường sống cho hôm nay và mai sau. Cũng từ ý nghĩa của việc trồng cây gây rừng, tính đến hết quý 1 năm 2017, thành phố Yên Bái đã triển khai trồng được trên 80 ha rừng tập trung và gần 60 nghìn cây phân tán các loại. Các giống cây chủ yếu được nhân dân đưa vào trồng như Keo, quế, bồ đề, xoan, cây cảnh, cây bóng mát và cây ăn quả…
Để đảm bảo trồng 170 ha rừng tập trung trong năm 2017 theo kế hoạch đề ra, hiện phòng chuyên môn của thành phố Yên Bái và các xã, phường đang tập trung chỉ đạo nhân dân, tranh thủ thời tiết thuận lợi làm đất và chuẩn bị giống trồng rừng kịp thời vụ. Đồng thời tiếp tục làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc tốt diện tích rừng hiện có. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Yên Bái 20/4, Lê Hương – Thanh Nghị)đầu trang(
Vĩnh Khê là một trong ba xã miền núi của huyện Vĩnh Linh. Toàn xã có diện tích đất tự nhiên 2.047 ha. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Vĩnh Khê là địa bàn được xây dựng nhiều kho tàng, bệnh viện, tập kết quân… để chi viện cho chiến trường miền Nam nên bị máy bay Mỹ đánh phá hết sức ác liệt, kể cả rải chất độc hóa học để hủy hoại môi trường sống.
Do đó, sau chiến tranh, nguồn tài nguyên rừng của xã Vĩnh Khê gần như cạn kiệt, từ Khe Cáy, Cổ Kiềng đến đồi Thì Ve, An Mã, Khe Xanh… là một vùng đất trống, đồi núi trọc. Đặc biệt là hệ thống rừng đầu nguồn của Khe Lương, Khe Cáy, hồ Bảo Đài bị tàn phá nặng nề làm ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Để cải tạo môi trường sống, phục hồi và phát triển sản xuất, hơn 30 năm qua, cùng với việc đầu tư thâm canh 40 ha lúa nước, mở rộng diện tích trồng cao su tiểu điền, sắn nguyên liệu, đồng bào Vân Kiều xã Vĩnh Khê còn chú trọng đầu tư phát triển vốn rừng.
Trên cơ sở đất lâm nghiệp đã được quy hoạch, xã Vĩnh Khê đã vận động và tạo điều kiện cho người dân trong các thôn, bản đấu thầu đất để trồng rừng với thời gian sử dụng từ 20 đến 50 năm tùy theo từng loại đất và địa hình. Đặc biệt, để chủ động nguồn giống cây tại địa phương, xã Vĩnh Khê đã tạo điều kiện cho cơ sở nhân ươm giống cây lâm nghiệp Lưu Thình mở rộng quy mô vườn ươm sát đường Hồ Chí Minh để thuận lợi trong việc cung ứng giống cây cho dân bản trồng rừng.
Mỗi năm cơ sở vườn ươm Lưu Thình đã nhân ươm hàng triệu cây giống các loại. Với diện tích đất lâm nghiệp được giao, bằng nguồn vốn hỗ trợ của các chương trình, dự án cũng như vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách- xã hội, được Công ty lâm nghiệp Bến Hải hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, đến nay diện tích rừng trồng của xã Vĩnh Khê đã lên đến 400 ha.
Nhiều hộ đồng bào Vân Kiều như Hồ Ngoan, Hồ Cường ở bản Xung Phong, Hồ Hinh ở bản Khe Cát, Hồ Thị Rai ở bản Khe Lương, Hồ Thông ở bản Khe Mưng... đã có vốn rừng từ 10 đến 20 ha. Đi đôi với việc trồng rừng, đồng bào Vân Kiều xã Vĩnh Khê còn nhận chăm sóc, bảo vệ trên 200 ha rừng tái sinh của Công ty lâm nghiệp Bến Hải.
Cũng trên cơ sở đấu thầu đất lâm nghiệp, cùng với việc đầu tư phát triển vốn rừng, với dự án phát triển cây cao su ở khu vực hộ gia đình, người dân Vĩnh Khê còn trồng được 247 ha cao su tiểu điền, góp phần nâng cao độ che phủ lên 53,5% so với diện tích tự nhiên.
Để phát triển vốn rừng một cách bền vững, đưa lại hiệu quả kinh tế cao, đi đôi với việc trồng, chăm sóc, xã Vĩnh Khê còn chú trọng công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng. UBND xã đã phối hợp với Công ty lâm nghiệp Bến Hải, Hạt kiểm lâm Vĩnh Linh xây dựng các chòi canh, đường ranh cản lửa, thành lập các đội tuần tra bảo vệ rừng, cũng như kịp thời dập tắt lửa khi có hỏa hoạn xảy ra.
Nhờ vậy, từ năm 2010 đến nay trên địa bàn xã Vĩnh Khê chưa có tình trạng cháy rừng. Diện tích rừng tái sinh, rừng trồng luôn được bảo vệ an toàn. Nhờ đầu tư phát triển vốn rừng nên xã Vĩnh Khê không những làm phong phú hệ sinh thái, cải tạo môi trường sống, đa dạng hệ thống rừng đầu nguồn mà còn đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương. Nhờ có rừng trồng nên xã Vĩnh Khê đã chủ động nguồn vật liệu gỗ tại chỗ để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi công cộng như trường học, trạm xá, nhà văn hóa...
Đối với đồng bào Vân Kiều, nhờ trồng được nhiều rừng, nhiều hộ đã xây dựng được các mô hình vườn rừng, trang trại rừng kết hợp trồng cây với phát triển chăn nuôi đàn gia súc đưa lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều hộ đã thu được hàng trăm triệu đồng từ việc bán gỗ nguyên liệu và bán trâu bò.
Năm 2016 thu nhập bình quân đầu người của xã Vĩnh Khê đạt 15 triệu đồng, cao nhất so với các xã miền núi của huyện Vĩnh Linh, tương đương với một số địa phương có thu nhập trung bình ở vùng đồng bằng. Đại hội Đảng bộ xã Vĩnh Khê nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra nghị quyết về phương hướng, mục tiêu phát triển KT-XH, trong đó phấn đấu mỗi năm trồng mới từ 40 đến 60 ha cây lâm nghiệp. (Báo Quảng Trị 20/4, Ngô Nguyên Phước)đầu trang(
Cây cao su bắt đầu bén rễ tại tỉnh Điện Biên từ năm 2008, đến nay đã có hàng nghìn hộ dân trên địa bàn tỉnh góp đất trồng gần 5.000ha. Sau thời gian chờ đợi, đến nay dù hơi muộn so với lộ trình, cây cao su ở Điện Biên cũng đến ngày cho thu hoạch. Người dân ở nơi đây kỳ vọng những giọt cao su sẽ đem lại nguồn thu nhập đáng kể giúp ổn định cuộc sống sau thời gian dài trông ngóng.
Chúng tôi có mặt tại vườn cao su xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, nơi có diện tích cây cao su được trồng từ năm 2008. Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên đang cho công nhân tiến hành cạo xả mủ cao su để chuẩn bị cho thu hoạch đại trà vào tháng 5 tới.
Chị Cà Thị Nga, Bản Huổi Chan 1, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên cho biết: "Tôi làm công nhân cao su được 6 năm nay rồi, so với làm nương làm rẫy thì làm việc ở đây cho thu nhập ổn định hơn, khoảng 3-3,5 triệu đồng/tháng. Nhà tôi có 3ha đất góp để trồng cao su, đang rất mong chờ đến ngày khai thác để được chia phần trăm lợi nhuận từ khai thác mủ cao su, tăng thu nhập cho gia đình".
Những ngày qua, Công ty cổ phần Cao su Điện Biên gấp rút hướng dẫn, tập huấn kỹ năng khai thác mủ cho công nhân và hộ gia đình nhận khoán. Sau thời gian từ 7 - 10 ngày, hầu hết công nhân và lao động nhận khoán đều nắm vững kỹ thuật cạo mủ, sẵn sàng đi vào khai thác chính thức.
Anh Phan Xuân Phương, Đội trưởng Đội 1 Cao su xã Mường Pồn cho biết, năm nay, đơn vị sẽ tiến hành khai thác 200ha cao su. Vừa qua, công nhân công ty và công nhân thời vụ được đào tạo kỹ thuật cạo mủ. Hiện cán bộ của đơn vị kèm cặp, hướng dẫn công nhân kỹ thuật để chuẩn bị cho ngày khai thác chính thức có hiệu quả cao nhất.
Ông Phan Văn Lợi, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên cho biết, trong năm 2017, đơn vị sẽ đưa vào khai thác gần 700ha cây cao su đủ tiêu chuẩn, sản lượng năm đầu tiên khoảng 6 tạ/ha. Số diện tích cây cao su bước vào khai thác do các hộ gia đình tham gia góp đất trồng cao su sẽ được hưởng quyền lợi dựa trên hợp đồng đã ký kết với đơn vị. Theo đó, người dân góp đất sẽ được hưởng lợi nhuận 10% từ lợi nhuận mủ cao su trên diện tích đất góp.
Toàn tỉnh Điện Biên có gần 5.000ha cây cao su; trong đó, hơn 3.700ha thuộc quyền quản lý của Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên, hơn 1.200ha thuộc quản lý của Công ty Cổ phần Cao su Mường Nhé.
Trong những năm qua, việc phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh gặp nhiều vướng mắc, thiếu sự phối hợp giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Cây cao su ở Điện Biên chậm thu hoạch hơn so với lộ trình, việc xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su cũng chưa thể thực hiện do còn vướng mắc ở chi phí đền bù giải phóng mặt bằng.
Bên cạnh đó, giá mủ cao su cũng nhiều biến động khiến việc phát triển diện tích cây cao su trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã chững lại trong hơn 1 năm trở lại đây. Điện Biên tạm thời ngừng trồng mới cao su để tập trung chăm sóc và chuẩn bị mùa thu hoạch đầu tiên.
Ông Phan Văn Lợi cho biết: “Việc phát triển cây cao su ở Điện Biên những năm qua gặp nhiều khó khăn. Đây là dự án đầu tư ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất hạ tầng chưa đầy đủ. Mặt khác, đây lại là dự án đầu tiên phát triển ở Điện Biên nên người dân chưa hiểu sâu về cây cao su. Bởi vậy, quá trình tuyên truyền vận động để người dân đồng hành cùng cây cao su còn nhiều khó khăn".
Theo ông Lợi, các chính sách tỉnh Điện Biên thực sự hỗ trợ cho đơn vị hiện nay cũng chưa nhiều. Như tiền dịch vụ môi trường rừng, các tỉnh khác cho cao su được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng nhưng ở Điện Biên, dù công ty đã kiến nghị nhiều lần nhưng vẫn không được.
Ông Lê Thành Đô, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên chia sẻ, do khó khăn về nguồn tiêu thụ, giá mủ cao su chưa cao nên diện tích trồng mới trong năm 2016 và 2017 được hạn chế, tập trung vào việc chăm sóc vườn cây hiện có. Tỉnh Điện Biên cũng đã ban hành chính sách, hỗ trợ cho người dân khi tham gia góp đất vào trồng cây cao su theo mức từ 4,5 - 6 triệu đồng/ha.
Ngoài ra trên diện tích đất trồng cao su thực hiện trồng ghép các loại cây trong thời gian chưa khai thác thì được hưởng chính sách hỗ trợ giống và phân bón.
Đánh giá về việc phát triển cây cao su vùng Tây Bắc, ông Hoàng Xuân Long, Vụ trưởng Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Bắc cho rằng, hiện so với các vùng trồng cao su truyền thống, cao su Tây Bắc có điều kiện đầu tư cũng như sản lượng mủ hạn chế hơn. Tuy nhiên, nếu thị trường cao su ổn định thì những người trồng cao su Tây Bắc sẽ có thu nhập ổn định.
Vừa qua, Tập đoàn Cao su Việt Nam tổ chức mở mủ, khai thác thử tại tỉnh Lai Châu và Sơn La. Bước đầu, sản lượng tương đối khả quan đạt 7 tạ/ha. Hy vọng những năm tiếp theo sản lượng trên địa bàn Tây Bắc có thể từ 1,2 – 1,5 tấn/ha.
Lãnh đạo Vụ Kinh tế - Ban Chỉ đạo Tây Bắc cũng cho rằng, việc phát triển cao su ở Tây Bắc cần thiết phải xây dựng các cơ sở chế biến mủ gắn với vùng nhiên liệu. Tỉnh Lai Châu, Sơn La và tiến tới Điện Biên cũng có thể xây dựng ở mỗi tỉnh một nhà máy chế biến mủ để người dân có niềm tin, gắn chặt hơn với cây cao su.
Thực tế, việc phát triển cây cao su ở Điện Biên vẫn chưa thể đánh giá là thành công hay không. Giờ đây chính quyền, doanh nghiệp và người dân ở Điện Biên đang kỳ vọng một mùa khai thác cao su đầu tiên thực sự hiệu quả để tiếp thêm niềm tin cho nhân dân nơi đây về cây cao su có thể giúp bà con xóa đói giảm nghèo. (Đảng Cộng Sản VN 20/4, Trịnh Xuân Tư)đầu trang(
Nhận khoán bảo vệ rừng cùng với việc trồng được hàng chục hecta rừng của đoàn viên, thanh niên huyện Bảo Lâm đã góp phần giúp huyện tăng diện tích rừng trên đất trống, đồi trọc.
Với phương châm “Mỗi thanh niên một hành động, mỗi chi đoàn một hoạt động thiết thực bảo vệ môi trường”, Đoàn Thanh niên từ huyện đến cơ sở của Bảo Lâm huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện bằng nhiều hình thức thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia với ý nghĩ trồng cây xanh sẽ là người giàu có, người chặt phá cây xanh cây rừng sẽ là người nghèo khó.
Qua đó, Huyện Đoàn Bảo Lâm chủ động phối hợp với Phòng Tài nguyên Môi trường, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Điện lực, đặc biệt là các trường đại học trồng rừng trên diện tích trống, đồi trọc góp phần tăng diện tích trồng rừng trên địa bàn huyện.
Bí thư xã Đoàn Lộc Lâm, Điểu Hòa chia sẻ: “Việc phá rừng đã diễn ra đến mức báo động thì việc trồng rừng là điều hết sức quan trọng, trồng rừng nghĩa là giữ lại sự sống, tạo không khí mát lành, nên mỗi một cây mọc lên tức là ta đang gieo một mầm sống. Ở vùng sâu Bảo Lâm, người dân, môi trường, kinh tế chủ yếu dựa vào rừng, càng trân trọng rừng bao nhiêu thì rừng sẽ đối đãi tốt với ta bấy nhiêu. Những năm vừa qua, Đoàn xã Lộc Lâm đã phối hợp với Chi đoàn Công ty Lâm nghiệp Bảo Lâm hỗ trợ kỹ thuật, nhân công giúp người dân trồng rừng 30a, riêng năm 2016 đã trồng trên 10 ha diện tích đất rừng bị xâm chiếm”.
Công tác bảo vệ môi trường được Huyện Đoàn tổ chức theo hướng cụ thể, thiết thực, hướng về cơ sở. Trong đó, tập trung vào các hoạt động xóa điểm đen về môi trường, giải quyết những vấn đề bức xúc về môi trường tại địa phương. Một số mô hình và hoạt động bảo vệ môi trường như: Ngày thứ bảy tình nguyện, Ngày chủ nhật xanh, đặc biệt là phát động trồng rừng.
Từ năm 2012 đến nay, Huyện Đoàn đã phối hợp với các đơn vị trồng được hơn 45 ha rừng. Trong đó, cùng với Công ty Lâm nghiệp tạo điều kiện để đoàn viên, thanh niên nhận giao khoán bảo vệ rừng và tiếp tục duy trì thực hiện có hiệu quả đề án (công trình thanh niên) gieo ươm trồng rừng theo Đề án 30a của các chi đoàn khối lâm nghiệp.
Thực hiện công trình thanh niên cấp tỉnh, huyện từ năm 2015 đến nay đã trồng 20 ha rừng tạo Lộc Bảo, trồng 8 ha rừng tại xã Lộc Lâm. Tiếp nhận 30 thanh niên tình nguyện về tham gia chiến dịch mùa hè xanh tại xã B’Lá và cùng với đoàn viên, thanh niên địa phương đã thực hiện công trình thanh niên trồng rừng cấp huyện với diện tích 5 ha, trồng được 3.000 cây keo; đồng thời, tổ chức dọn vệ sinh, thu gom rác thải tại trục đường 725, đường liên thôn, nhà văn hóa và tổ chức sinh hoạt hè cho thiếu nhi địa phương.
Trong chương trình diễn đàn đối thoại giữa lãnh đạo huyện với các đại biểu đoàn viên, thanh niên trong huyện, với chủ đề “Thanh niên Bảo Lâm khởi nghiệp và chung tay bảo vệ môi trường”, nhiều ý kiến của đoàn viên, thanh niên trong lĩnh vực môi trường được bày tỏ. Có thể nói, các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh thiếu nhi trên địa bàn huyện Bảo Lâm luôn nhận được sự ủng hộ, đánh giá cao của cấp ủy, chính quyền địa phương, đặc biệt là hoạt động trồng rừng.
Anh Nguyễn Văn Hùng, Bí thư Đoàn Trường Đại học Đà Lạt chia sẻ: “Hiện nay, biến đổi khí hậu toàn cầu cũng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của nhiều người… Vì thế, tuổi trẻ sinh viên Đại học Đà Lạt đã tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng, góp phần bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổ khí hậu. Cùng với lực lượng đoàn viên, thanh niên của huyện Bảo Lâm, đoàn viên, sinh viên trường đã trồng được 20 ha dầu tại Bảo Lâm trong chương trình mùa hè xanh do Tỉnh Đoàn tổ chức, góp phần nhỏ làm cho môi trường thêm xanh”.
Phó Bí thư Huyện Đoàn Bảo Lâm - Hoàng Thị Mỹ Hằng cho biết: “Công tác đăng ký xây dựng và thực hiện các công trình phần việc thanh niên được triển khai sâu rộng đến từng chi đoàn, trong 5 năm qua đã thực hiện được 42 phần việc thanh niên, trong đó phần việc thanh niên hưởng ứng trồng rừng, trồng cây phân tán; vườn ươm giống cây trồng bản địa, trồng rừng theo Đề án 30a, hòn non bộ, trồng chăm sóc cây xanh với 500 công lao động, với số tiền đầu tư thực hiện trên 300 triệu đồng được tổ chức hiệu quả ở các cấp bộ đoàn; các hoạt động bảo vệ môi trường đã từng bước đi vào nề nếp, hoạt động có trọng tâm, trọng điểm góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh thiếu nhi. Cho đến thời điểm này hoạt động trồng rừng do Đoàn Thanh niên đảm nhận đang diễn ra khá rầm rộ tại khắp các cơ sở Đoàn. Việc tổ chức cho thanh niên đảm nhận trồng rừng không những phát huy được vai trò xung kích tham gia phát triển kinh tế, xã hội của địa phương mà còn tạo công ăn việc làm cho chính những đoàn viên, thanh niên ở khu vực nông thôn. Để rừng thêm xanh, một việc làm nhỏ nhưng có ý nghĩa rất lớn đối với địa phương cũng như xã hội”. (Báo Lâm Đồng 20/4, Hoàng Yên)đầu trang(
Bộ TN-MT chưa phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, tỉnh chưa có quyết định giao đất nhưng chủ đầu tư dự án đã được “bật đèn xanh” cho dọn rừng phòng hộ ven biển để trồng cỏ làm dự án du lịch.
Theo tìm hiểu của Thanh Niên, UBND tỉnh Phú Yên đã cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án khu du lịch liên hợp cao cấp New City Việt Nam tại các xã An Chấn, An Mỹ (H.Tuy An) và An Phú (TP.Tuy Hòa) với vốn đầu tư 1 tỉ USD, trên diện tích hơn 357 ha, cho Công ty TNHH New City Việt Nam. Dự án bao gồm các hạng mục khách sạn, biệt thự, bungalow, các dịch vụ tiện ích liên quan đến khách sạn và resort cao cấp; xây dựng khu liên hợp cao cấp và hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, sân golf, siêu thị, cửa hàng chuyên doanh và trung tâm thương mại…
Cuối năm 2016, UBND tỉnh Phú Yên đã yêu cầu chủ đầu tư khẩn trương triển khai dự án. Ông Mai Kim Lộc, Phó giám đốc Sở TN-MT tỉnh Phú Yên, cho biết riêng tại xã An Phú (TP.Tuy Hòa) dự án có diện tích hơn 121 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ ven biển gần 112 ha. Đây là rừng phi lao được trồng sau năm 1975 với chức năng phòng hộ để chắn cát, chắn gió xâm thực từ biển.
“Theo quy định, dự án có trên 20 ha rừng phòng hộ thì thẩm quyền phê duyệt thuộc Bộ TN-MT. Hiện chủ đầu tư đã hoàn tất báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) để trình Bộ TN-MT phê duyệt. Tuy nhiên đến giờ, Bộ TN-MT vẫn chưa có quyết định phê duyệt ĐTM dự án này”, ông Lộc nói.
Theo ông Lộc, dự án muốn triển khai phải có ĐTM, nhưng do vào tháng 7.2017 tỉnh Phú Yên là địa điểm tổ chức cuộc thi Hoa hậu ASEAN nên UBND tỉnh Phú Yên đã cho triển khai dự án nhằm tạo cảnh quan, cơ sở hạ tầng, địa điểm vui chơi, điểm nhấn du lịch để đón chào khách quốc tế… Vì vậy, chủ đầu tư đã đưa phương tiện vào khu vực rừng phòng hộ để dọn cây phi lao, san lấp mặt bằng và trồng cỏ. Riêng tại xã An Phú, dự án đã thực hiện 70% diện tích mặt bằng và đang tiếp tục thi công để kịp cho cuộc thi Hoa hậu ASEAN.
Theo Bộ TN-MT, việc chuyển mục đích đất rừng phòng hộ để thực hiện dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Ngày 12.4, Sở TN-MT tỉnh Phú Yên đã kiến nghị UBND tỉnh giao cho sở này tổng hợp để UBND tỉnh báo cáo các bộ TN-MT, NN-PTNT trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chuyển mục đích rừng phòng hộ để thực hiện dự án trên, nhưng đến nay Thủ tướng vẫn chưa quyết định.
Ông Lộc cho biết thêm vì chưa có quyết định phê duyệt ĐTM của Bộ TN-MT đối với dự án này nên đến giờ UBND tỉnh Phú Yên vẫn chưa có quyết định giao đất cho chủ đầu tư, dẫn đến chưa xác định giá cho thuê đất đối với dự án. “Hiện chủ đầu tư chưa nộp hồ sơ thủ tục thuê đất. Khi nào chủ đầu tư hoàn tất thủ tục hồ sơ gửi đến Sở TN-MT thì Sở sẽ phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra, xác định giá, trình hội đồng để thẩm định theo quy định”, ông Lộc nói.
Riêng về trồng rừng thay thế, ông Lộc cho biết UBND tỉnh Phú Yên đã thông báo chấp thuận phương án trồng rừng thay thế bằng nộp tiền. Hiện chủ đầu tư đã nộp đủ hơn 6,23 tỉ đồng. (Thanh Niên 21/4, Đức Huy)đầu trang(
Theo tin từ Sở Công Thương, Hội chợ Đồ gỗ, lâm sản và thương mại Bình Định - 2017 sẽ được tổ chức ngày 12.5, tại khu vực Quảng trường Trung tâm Thương mại (đường Nguyễn Tất Thành - TP Quy Nhơn). Hội chợ do UBND tỉnh, Sở Công Thương chỉ đạo và Trung tâm Xúc tiến thương mại phối hợp với Công ty CP Nam Việt Galaxy tổ chức.
Tham gia Hội chợ dự kiến có khoảng 350 gian hàng của 120 doanh nghiệp (DN), cơ sở sản xuất trong và ngoài tỉnh.
Với chủ đề “Lâm sản Bình Định hội nhập và phát triển”, Hội chợ sẽ quảng bá hình ảnh đồ gỗ- lâm sản Bình Định trên thị trường trong nước và quốc tế; tạo điều kiện để các nhà sản xuất, kinh doanh giới thiệu sản phẩm, trao đổi với các đối tác trong, ngoài nước, nhằm tìm kiếm bạn hàng, mở rộng thị trường; đồng thời, giới  thiệu những thành tựu về khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực gỗ - lâm sản; tạo cơ hội để DN học tập kinh nghiệm, công nghệ và thiết bị mới trong sản xuất, chế biến gỗ-lâm sản. Theo kế hoạch, Hội chợ sẽ diễn ra từ 12 đến 18.5.  (Báo Bình Định 19/4, Viết Hiền)đầu trang(
Tổng cục Hải quan vừa chỉ đạo các cục hải quan tỉnh, thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời hành vi gian lận thương mại trong việc nhập khẩu mặt hàng “Giáng hương Tây phi”, có tên khoa học “Pterocarpus erinaceus”.
Theo đó, các đơn vị cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc làm thủ tục hải quan đối với các lô hàng gỗ nhập khẩu từ châu Phi.
Trong trường hợp phát hiện hàng có có tên như trên hoặc nghi vấn có hàng hóa này trong việc khai báo cần thông báo cho Cục Điều tra chống buôn lậu để tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ.
Trước đó, ngày 24/2/2017, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT ban hành Danh mục các loại động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Tại phần H của Danh mục đã bổ sung mặt hàng “Giáng hương Tây phi”, tên khoa học “Pterocarpus erinaceus” , tên tiếng Anh “Senegal rosewood” vào nhóm phụ lục II.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 10/4/2017, tuy nhiên nội dung trong Danh mục của Thông tư 04 đã được các quốc gia tham gia Công ước áp dụng từ thời điểm tháng 1/2017 (theo thông báo của cơ quan  CITES Việt Nam). (Hải Quan 20/4, Quang Hùng)đầu trang(
Hiện việc liên kết trong ngành gỗ nước ta mới chỉ hình thành một cách rời rạc và tự phát, dẫn tới hạn chế sự phát triển của ngành.
Tại Diễn đàn doanh nghiệp “Kết nối vì mục tiêu phát triển bền vững ngành chế biến gỗ” do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hội mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) phối hợp với Tổ Chức Forest Trends tổ chức cuối tuần qua, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến nhằm thúc đẩy sự liên kết hướng tới phát triển bền vững ngành gỗ.
Ông Tô Xuân Phúc, đại diện VIFORES cho hay, hầu hết DN trong ngành chế biến gỗ của Việt Nam có xu hướng muốn làm từ A tới Z, dẫn tới sự dàn trải trong đầu tư, công nghệ không đồng bộ và không hình thành được đội ngũ lao động chuyên môn sâu.
Cụ thể, hầu hết các DN chế biến gỗ hiện đều phải dự trữ nguyên liệu gỗ đầu vào, do đó đòi hỏi phải có nguồn lực rất lớn. Có tới 60-70% vốn liếng của DN phải dành cho khâu dự trữ nguyên liệu. Điều này khác hẳn với ngành gỗ của một số quốc gia khác. Cụ thể, một DN Trung Quốc mỗi ngày xuất 60 container đồ gỗ cần dự trữ khoảng 2.000 m3 gỗ xẻ nguyên liệu. Trong khi đó, nếu xuất 10 container/ngày, DN Việt Nam phải dự trữ lượng gỗ lên tới 10.000 m3. Nguyên nhân của tình trạng này là do ngành gỗ Việt Nam chưa hình thành các DN chuyên phụ trách khâu dự trữ nguyên liệu và cũng chưa có liên kết giữa các DN dự trữ với DN chế biến.
Chia sẻ về vấn đề này, ông Điền Quang Hiệp, Giám đốc Công ty Minh Phát cho hay, không ít DN đã từng đạt tới đỉnh cao trong kinh doanh nhưng cũng phải phá sản. Nếu không sớm liên kết, ngành gỗ cũng sẽ đi theo con đường đó. Hiện việc liên kết với các hộ trồng rừng là vấn đề sống còn của DN chế biến bởi tình trạng giá gỗ nguyên liệu bấp bênh đang gây ra rất nhiều khó khăn. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2017, giá gỗ cao su nguyên liệu đã tăng 30-40% và vẫn đang tiếp tục tăng. “Các nước gần chúng ta như Malaysia, Thái Lan đã có chính sách rất rõ cho nguyên liệu gỗ còn chúng ta vẫn đang suy nghĩ và không biết phải suy nghĩ đến lúc nào. Chúng ta đều là những DN nhỏ, nếu không liên kết thì sao có thể cạnh tranh với các DN lớn của nước ngoài?” – ông Hiệp băn khoăn.
Lý giải về vấn đề giá gỗ cao su, bà Trần Thị Thúy Hoa, Trưởng ban tư vấn phát triển ngành cao su, Tập đoàn Cao su Việt Nam cho hay, hiện việc thanh lý cây cao su đều tập trung vào một thời điểm nhất định do phụ thuộc vào mùa vụ nhằm tiết kiệm chi phí tái canh và tận dụng được sản lượng mủ cao su khai thác. Trong khi đó gỗ cao su có đặc điểm là sau khi cưa 3 ngày nếu không được đưa vào sơ chế sẽ không sử dụng được. Chính điều này đã dẫn tới việc nguồn cung gỗ cao su không ổn định, kéo theo sự lên xuống bất thường của giá cả.
Trước những khó khăn của các DN trong ngành chế biến gỗ như trên, ông Phúc cho rằng cần phát triển 3 mô hình liên kết, bao gồm: Liên kết giữa công ty cung ứng nguyên liệu và công ty chế biến gỗ; liên kết giữa công ty chế biến, kinh doanh sản phẩm gỗ và các hộ thuộc làng nghề gỗ; liên kết giữa công ty chế biến gỗ và các hộ trồng rừng.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch VIFORES cho rằng, để liên kết thành công thì cần hội đủ cả ba yếu tố: Thứ nhất, cần một người sáng lập có tiềm lực đủ mạnh đứng ra làm đầu tàu; thứ hai, các bên phải liên kết trên tinh thần tự nguyên và cùng có lợi để duy trì sự liên kết bền vững; thứ ba là các chính sách khuyến khích của Nhà nước. Ví dụ ở Yên Bái, Hội Nông dân được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tỉnh Yên Bái ủng hộ, giao đất thì mới hình thành được mối liên kết 500 hộ hiện nay.
Trong khi đó, ở góc độ DN, ông Võ Quang Hà, Tổng Giám đốc Công ty Tân Vĩnh Cửu (Đồng Nai) cho rằng, để liên kết bền vững thì các DN cần cùng nhìn về một hướng và có sự phân chia rõ ràng theo từng khâu để tránh xảy ra mâu thuẫn. Khó khăn hiện nay là DN muốn liên kết nhưng không biết DN nào phù hợp với mình.
Do đó, Hiệp hội cần đứng ra làm vai trò tập hợp. “Giống như huấn luyện viên của một đội bóng, Hiệp hội cần tìm ra những DN có cùng mục tiêu, có sự phù hợp sau đó tập hợp lại với nhau. Còn Nhà nước giữ vai trò như người tổ chức giải đấu để tạo ra được những mối liên kết lớn và bền vững” – ông Hà nói.
Liên quan đến liên kết hộ trồng rừng, ông Nguyễn Quang Vinh, đại diện VIFORES cho biết, phát triển trồng rừng có ý nghĩa hết sức quan trọng với ngành chế biến gỗ và dăm xuất khẩu của Việt Nam. Sử dụng sản phẩm gỗ hợp pháp hiện đã trở thành yêu cầu bắt buộc ở hầu hết các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam. Sản phẩm gỗ hợp pháp cũng đáp ứng được toàn bộ các yêu cầu tại các thị trường khó tính như Hoa Kỳ (với Đạo luật Lacey Act) hoặc các nước EU (trong khuôn khổ của Quy định về Gỗ EUTR).
Hiện khoảng 60-70% tổng lượng gỗ rừng trồng được khai thác hàng năm có nguồn gốc từ các hộ gia đình, phần còn lại do các công ty lâm nghiệp, các hợp tác xã. Điều này cho thấy hộ gia đình có vai trò chính trong việc cung gỗ rừng trồng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, do đó, việc liên kết giữa DN chế biến gỗ và các hộ trồng rừng là rất cần thiết. Hiện đã hình thành mô hình trồng rừng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) tại các hộ trồng rừng ở Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Quảng Trị…
Tuy nhiên, việc phát triển các mô hình này đang gặp phải không ít khó khăn. Bà Đào Thị Tâm, Chi hội Nông dân huyện Yên Bình, Yên Bái cho hay, các DN chỉ thu mua gỗ nguyên liệu đủ chất lượng và có kích thước lớn, phần gỗ có kích thước nhỏ, chất lượng kém, cành, ngọn các hộ dân phải tự tiêu thụ. Thông thường phần gỗ này chỉ được bán làm dăm, nguyên liệu giấy thậm chí làm củi với mức giá rất thấp.
Ngoài ra, việc trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC đòi hỏi gỗ lớn với chu kỳ dài từ 8 đến 12 năm, trong khi trồng gỗ không chứng chỉ chu kỳ chỉ 5 đến 7 năm. Điều này đòi hỏi các hộ dân cần có nguồn vốn lớn, đồng thời ảnh hưởng tới sinh kế trong ngắn hạn của các hộ dân khi gỗ chưa tới kỳ khai thác. Trong khi nếu trồng gỗ thông thường các hộ dân còn có thêm thu nhập từ việc xen canh cây nông nghiệp như ngô, sắn, bầu, bí… trong thời gian đầu.
Việc tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt của FSC cũng là việc rất khó khăn với các hộ dân. Ngoài ra, việc vận động nông dân tham gia trồng rừng FSC cũng gặp khó khăn do người dân chưa thấy được việc thu mua thực sự của DN mà chỉ nghe qua tuyên truyền của Hội Nông dân.
Ông Phạm Xuân Thịnh, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính – Tổng cục Lâm nghiệp cũng đặt vấn đề, hiện các DN đều rất muốn liên kết với hộ trồng rừng để có nguồn gỗ ổn định, thay vì dự trữ gỗ trong kho thì DN có thể dự trữ gỗ trong rừng. Nhưng liệu các DN đã đối xử với người nông dân như thể họ là người quan trọng trong mối liên kết này hay chưa, hay mới chỉ quan tâm tới lợi ích của mình.
“Việc liên kết cũng giống như kết hôn, DN cần bỏ thời gian cho việc chăm sóc và chinh phục người nông dân” – ông Thịnh nói. Theo đó, DN cần trích một phần lợi nhuận để xây dựng một quỹ hỗ trợ nông dân trồng rừng làm chứng chỉ FSC. Sau khi thành công có thể nâng lên thành quỹ đầu tư, thay vì 5 năm nông dân thu hoạch gỗ thì dùng tiền đó đầu tư cho họ để kéo dài thêm 5-7 năm nữa
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, cần hình thành các cụm công nghiệp nhằm khuyến khích DN trong ngành tập trung vào một địa bàn, từ đó giúp cho việc chia sẻ thông tin, nguồn lực cũng như đơn hàng được thuận lợi hơn. Bà Trần Thị Thúy Hoa cho hay, ngành cao su đã tạo tập được những KCN cho các DN trong ngành với mạng lưới trải khá rộng tại các tỉnh phía Nam.
Trong đó đã có những DN làm gỗ cao su từ vườn cây thanh lý tái canh để cho ra nguyên liệu gỗ cao su. “Các KCN này sẵn sàng hoan nghênh chào đón và sẽ có những chính sách ưu tiên cho các DN sản xuất liên quan tới gỗ cao su” – bà Hoa thông tin. (Hải Quan 20/4, Nguyễn Hiền)đầu trang(./.