|
Ngày 19 tháng 07 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, năm 2012 triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Trung ương và địa phương đã thu được 1.172 tỷ đồng, góp phần quan trọng thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, cải thiện đời sống của người làm nghề rừng.
Tuy vậy, việc thực hiện ở một số địa phương còn những mặt hạn chế như: Tiến độ triển khai chậm; việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng kéo dài và đạt tỷ lệ thấp.
Nhằm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hiệu quả hơn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị các tỉnh có nguồn thu dịch vụ môi trường rừng chưa thành lập Quỹ thì khẩn trương thực hiện trước ngày 1/9/2013; lập và ký kết hợp đồng ủy thác dịch vụ môi trường rừng chậm nhất trước ngày 1/10/2013.
Đồng thời, giải quyết, bố trí nguồn ngân sách địa phương, cân đối các nguồn vốn thông qua các chương trình, dự án và huy động các nguồn kinh phí khác để thực hiện, hoàn thành công tác rà soát, xác định diện tích rừng đến từng chủ rừng phục vụ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trước quý IV/2013.
Đối với những tỉnh đã có nguồn thu dịch vụ môi trường rừng năm 2011 và 2012, sớm phê duyệt kế hoạch thu, chi làm cơ sơ để giải ngân, chi trả kịp thời đến từng chủ rừng, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng. (Chinhphu.vn 19/7)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Tại Hội nghị triển khai Đề án Bảo vệ và phát triển rừng vành đai biên giới ngày hôm qua (18/7), một số đại biểu cho rằng, đề án triển khai thành công, chúng ta có thêm “áo giáp” để bảo vệ quốc gia. Tuy nhiên, việc triển khai đề án này cũng còn nhiều khó khăn, vướng mắc.
Thiếu tướng Trần Trung Tín, Cục trưởng Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng), ủy viên thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước Đề án Bảo vệ và phát triển rừng vành đai biên giới giai đoạn 2011-2020 (Đề án 1380) cho biết: Sau gần hai năm triển khai thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng đã khẩn trương tiến hành quy hoạch rừng và đất rừng khu vực vành đai suốt chiều dài biên giới.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng đã có Quyết định số 4389/QĐ-BQP ngày 14-11-2011 thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước Đề án Bảo vệ và phát triển rừng vành đai biên giới giai đoạn 2011-2020 do Thượng tướng Lê Hữu Đức, ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng ban, các thành viên là Thứ trưởng các bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngoại giao, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, ủy ban Dân tộc. Ban chỉ đạo Đề án 1380 cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các địa phương, đơn vị thực hiện.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai đề án đã vấp phải nhiều khó khăn vướng mắc. Do đặc điểm địa bàn triển khai đề án rất khó khăn, phức tạp, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Bộ Quốc phòng phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế chính sách đặc thù, nhưng một số thành viên trong Ban điều hành Đề án vẫn chưa thống nhất, vì vậy, cho đến thời điểm này cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện đề án vẫn chưa được ban hành. Vốn để thực hiện đề án được cấp rất ít. Năm 2013, Bộ Quốc phòng chỉ được bố trí 6, 44 tỷ đồng để thực hiện các dự án trồng rừng, như vậy hơn 9000ha rừng đã trồng sẽ không có kinh phí để chăm sóc và 10 dự án thí điểm không có vốn để triển khai.
Tại Hội nghị triển khai thực hiện Đề án 1380 được tổ chức trong ngày hôm 18-7, nhiều khó khăn, vướng mắc từ cơ sở cũng đã được các đại biểu bày tỏ. Thiếu tướng Nguyễn Cảnh Hiền, Phó tư lệnh Bộ đội Biên phòng cho biết: Bộ đội Biên phòng đang triển khai rất tích cực các dự án trong đề án này và người dân vùng biên giới được hưởng lợi nhất từ các dự án. Tuy nhiên để các dự án triển khai được phải có vốn.
Vành đai biên giới là phần lãnh thổ nằm tiếp giáp với đường biên giới quốc gia. Việt Nam là quốc gia có đường biên giới khá dài (4.710km), vành đai biên giới có diện tích khá rộng ở 25 tỉnh, 98 huyện, 417 xã biên giới. Đây cũng là đầu nguồn của nhiều con sông, có vị trí chiến lược trong việc phòng thủ biên giới quốc gia và bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, việc bảo vệ và phát triển rừng vành đai biên giới phải được coi là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài của Nhà nước ta. Lịch sử đã chứng minh, cây rừng góp phần ngụy trang các trang thiết bị quân sự, che chắn khu vực phòng thủ.
Để tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện Đề án 1380, tại hội nghị, nhiều đại biểu đã khẳng định: Cần phải xây dựng cơ chế chính sách đặc thù để thực hiện đề án. Các đại biểu đề nghị cần ưu tiên vốn cho dự án và có thể xem xét huy động thêm nguồn vốn từ ngoài ngân sách Nhà nước.
Ông Nguyễn Trọng Căn, Phó vụ trưởng Vụ Quốc phòng -An ninh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng: Để triển khai Đề án 1380 có hiệu quả, cần có định hướng cây trồng phù hợp đạt được hai tiêu chí quốc phòng và kinh tế. Phải cân đối hợp lý giữa vốn Trung ương và địa phương trong thực hiện đề án này.
Ông Vũ Đăng Mạnh, Vụ trưởng, đại diện Bộ Ngoại giao đề nghị: Cần có sự phối hợp giữa địa phương và Ban chỉ đạo Đề án 1380. Nên giao cho các đồn biên phòng xây dựng các tiểu dự án ở các xã giáp biên giới. Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiến nghị: Vành đai biên giới trùng với nhiều diện tích của huyện nghèo, do đó cần có sự phối hợp, lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn. Có thể tranh thủ nguồn vốn trồng rừng vành đai biên giới từ các dự án khác.
Ông Lê Văn Lịch, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) khẳng định: Đề án 1380 có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, do đó rất cần cơ chế đặc thù. Với đất đai ở vị trí trọng yếu vùng biên giới nên giao cho Bộ Quốc phòng quản lý.
Kết luận Hội nghị, Thượng tướng Lê Hữu Đức, ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định, chủ trương xây dựng vành đai xanh biên giới theo Đề án 1380 là hoàn toàn đúng đắn. Ông cũng phân tích những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai đề án và giải đáp những vấn đề thuộc phạm vi, trách nhiệm của Bộ Quốc phòng. Ông đề nghị đại diện các bộ, ngành cùng với Bộ Quốc phòng tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp để tiếp tục thực hiện. (Quân Đội Nhân Dân 19/7)đầu trang(
Trong 2 ngày 17 và 18/7, tại TP Pleiku, tỉnh Gia Lai, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Gia Lai tổ chức lớp tập huấn nâng cao nhận thức của người dân về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Tham gia lớp tập huấn là những cán bộ lâm nghiệp cấp xã; khuyến nông viên cơ sở; các hộ gia đình nhận khoán rừng....
Các học viên được giới thiệu các chính sách mới về lâm nghiệp; cách phân chia các loại rừng; chính sách hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất; chủ rừng là ai; những quy định về hồ sơ nguồn gốc lâm sản; trách nhiệm của UBND cấp xã về rừng và đất lâm nghiệp… đặc biệt là những quy định về khai thác rừng. (Thanh Tra 18/7)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Để hạn chế tình trạng di cư tự do song song với việc giúp người đã di cư có thể ổn định cuộc sống, rất cần những chính sách đặc thù cho từng vùng.
“Tôi chia sẻ với đồng bào về những khó khăn” - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang bày tỏ với PV Tin Tức, bên lề Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XIII, về tình trạng những năm qua, từ một số tỉnh phía Bắc, có nhiều hộ dân tự ý di cư vào sinh sống ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên, gây sức ép lớn về đất ở, đất sản xuất cho các địa phương.
Ông Nguyễn Minh Quang phân tích: Thực tế là ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên… có địa hình đồi núi dốc và cao, đi lại hết sức khó khăn. Đặc biệt tại các xã vùng cao núi đá ở Hà Giang, nước sinh hoạt và sản xuất thiếu thốn, nhìn bốn bên toàn là đá. Cá biệt có nơi những giáo viên vùng cao cắm bản, tuần chỉ tắm một lần vì thiếu nước. Trong khi đó, các tỉnh Tây Nguyên đất đai mầu mỡ, dễ canh tác. Có lẽ đây là một trong những lý do khiến người dân phải rời bỏ quê tìm nơi ở mới.
Ngày 4/6/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg về việc tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015; cho phép kéo dài thời gian thực hiện Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 và Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 25/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2015. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/7/2013.
Mặt trái của tình trạng người dân di cư tự do vào Tây Nguyên là gây sức ép rất lớn cho chính quyền các tỉnh nơi đây. Hiện tượng phá rừng lấy đất sản xuất, đất ở… đã xảy ra. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ khác thì đây là nguồn nhân lực lớn cho địa phương. Tại Đắk Nông khi mới tách tỉnh, dân số chỉ khoảng 300.000 khẩu, nay đã tăng lên 700.000 khẩu. Đây là nguồn lực rất lớn và Đắk Nông đã triển khai cấp sổ đỏ cho các hộ dân đã ổn định đất ở, đất sản xuất, nhằm giúp họ ổn định cuộc sống.
“Cũng có ý kiến cho rằng khi cấp sổ đỏ cho những hộ dân đã di cư vào đây khác gì thúc đẩy làn sóng di cư. Theo tôi không hẳn là như vậy. Khi họ đã định cư rồi thì nên ổn định cuộc sống cho người dân, nên có mốc thời gian nhất định” - ông Nguyễn Minh Quang khẳng định.
Đến nay, Đắk Lắk đã xây dựng 14 dự án sắp xếp bố trí dân cư cho người dân di cư tự do, với nguồn kinh phí trên 367 tỷ đồng. Tuy nhiên kinh phí từ Trung ương mới bố trí được gần 90 tỷ đồng, nên tỉnh mới chỉ hỗ trợ được cho trên 49.000 hộ ổn định cuộc sống, gần 10.000 hộ đang được triển khai thực hiện, và vẫn còn trên 6.000 hộ vẫn phải chờ kinh phí.
Kinh phí hỗ trợ cho người nhận khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng theo quy định của Nghị quyết 30a là 200.000 đồng/ha/năm; mức hỗ trợ 10 triệu đồng cho một ha rừng trồng phòng hộ, 5 triệu đồng cho một ha rừng trồng sản xuất. Mức này là quá thấp bởi trên thực tế chỉ đủ mua cây giống mà chưa có công trồng, chăm sóc. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên đã đề nghị các bộ, ngành Trung ương xem xét nâng mức hỗ trợ từ 200.000 đồng lên 500.000/ha/năm cho các hộ gia đình nhận khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng. Đối với rừng phòng hộ và rừng sản xuất, đề nghị nâng mức hỗ trợ lên 25 triệu đồng/ha/năm.
“Dân di cư tự do đến tỉnh nhỏ lẻ, lại hay ở vùng sâu, vùng xa nên dự án này chưa bố trí, sắp xếp xong đã phát sinh những hộ di cư tự do mới đến. Theo rà soát, hiện tỉnh Đắk Lắk còn trên 6.000 hộ chưa được bố trí đất ở, đất sản xuất, thiếu khoảng 2.000 ha đất sản xuất; và trên 22.000 hộ cần hỗ trợ nước sinh hoạt” - ông Nguyễn Minh Quang cho biết.
Hiện tại, người dân di cư từ các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên chủ yếu làm nông nghiệp. Một bộ phận người dân đã chuyển nhượng cho nhau đất ở và đất sản xuất nên cuộc sống cơ bản đã ổn định. “Về mặt pháp lý, chính quyền địa phương những nơi người dân chuyển đến cần sớm công nhận và cấp sổ đỏ cho dân, tránh tình trạng để họ lại tiếp tục di cư lần nữa” - Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang lưu ý.
Ông cũng nêu quan điểm: Về phía địa phương, cần có những chính sách cụ thể, nên coi dân di cư như là người của địa phương mình. “Đây là nguồn lực rất lớn, cung cấp một lượng lớn lao động cho các tỉnh Tây Nguyên. Cũng phải nói rằng có họ thì việc bảo vệ đất đai, giữ rừng tốt hơn. Vậy nên coi họ như người sở tại”.
“Vì cuộc sống mà bà con phải di cư, nhưng nói như thế không phải chúng ta cứ để đồng bào đi tự do. Như vậy là không nên”, ông Nguyễn Minh Quang nêu quan điểm. Các tỉnh phía Bắc cần có biện pháp để hạn chế người dân di cư tự do. Đây là vấn đề nan giải.
Thời kỳ ông Nguyễn Minh Quang là Chủ tịch, rồi Bí thư tỉnh ủy tỉnh Lai Châu, người dân khai hoang được một ha sẽ được Nhà nước hỗ trợ 5 triệu đồng, nên địa phương luôn khuyến khích bà con khai hoang. Đây là nguồn để tăng thêm quỹ đất cho người dân, cứ có ruộng nước là cuộc sống người dân ổn định. Tiếp theo là tìm cây, con cho phù hợp với từng vùng, ví như hỗ trợ người dân chăn nuôi đàn đại gia súc để phát triển kinh tế. Về cây trồng thì mở rộng diện tích cây công nghiệp như cao su.
Đối với vùng cao, khó khăn lớn nhất là nước sinh hoạt và nước sản xuất. Theo gợi ý của ông Nguyễn Minh Quang, để khắc phục tình trạng này, các tỉnh cần sử dụng nhiều nguồn đầu tư khác nhau. Ví như ở Hà Giang, Chính phủ đã đầu tư xây dựng các bể chứa nước, hồ treo nhưng đó chỉ mới đáp ứng được một phần cho cuộc sống người dân.
Nhưng vấn đề cơ bản vẫn là phải giữ rừng tốt thì mới giữ được nước để sinh hoạt và sản xuất, bởi rừng là tài nguyên quan trọng đối với các tỉnh miền núi phía Bắc. Để người dân sống được từ rừng và làm giàu từ rừng thì cần có sự đầu tư bài bản, cần có sự hỗ trợ của nhà nước. “Hiện nay trồng mới một ha rừng sản xuất sẽ được hỗ trợ 5 triệu đồng, tiền khoanh nuôi bảo vệ môt ha rừng chỉ được 200.000 đồng/ha/năm thì làm sao người dân sống được từ nghề rừng?” - ông Nguyễn Minh Quang kiến nghị.
Nhà nước cần có chính sách dài hạn trong phát triển rừng. Bởi làm gì để người dân sống được bằng nghề rừng đang là câu hỏi lớn đặt ra với các cấp, bộ ngành ở Trung ương và các tỉnh. “Nếu chúng ta giữ được rừng, sẽ giữ được nước để phát triển thủy điện Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình… Vậy thì cần có một chính sách đặc thù cho các tỉnh vùng cao Tây Bắc, có như vậy người dân mới ổn định cuộc sống” - ông Nguyễn Minh Quang đề xuất. (Tin Tức 19/7)đầu trang(
Thông tin trên được Bộ TNMT đưa ra vào cuộc họp báo tổ chức chiều 18.7 tại Hà Nội.
Cục trưởng Cục Thẩm định và đánh giá tác động môi trường – ông Mai Thanh Dung - cho biết: “Sau khi có phiên họp kỹ thuật của bộ cho Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), hội đồng thẩm định đã có một số ý kiến gửi cho chủ dự án là Cty CP Đức Long để làm rõ các vấn đề của báo cáo mà công ty này gửi Bộ TNMT.
Vừa rồi, phía chủ dự án đã gửi lại hồ sơ đề nghị thẩm định ĐTM hai dự án này. Hồ sơ này mới chỉ gửi khoảng một tuần nay và hiện Bộ TNMT đang tổ chức thẩm định. Hiện tài liệu đã gửi cho các thành viên hội đồng để xem xét cho ý kiến”.
Cũng theo ông Dung, trong tháng 8, Bộ TNMT sẽ có phiên họp của hội đồng thẩm định ĐTM để đưa ra ý kiến đánh giá cuối cùng về các báo cáo nói trên và sau đó sẽ trình Thủ tướng Chính Phủ. (Lao Động 19/7)đầu trang(
"Có tới hơn 300 dự án thủy điện Bộ Công thương thống nhất loại khỏi quy hoạch, vậy cớ gì mà Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A lại không?"
Ông Trương Văn Vở, Phó trưởng ban Ban Kinh tế Tỉnh ủy Đồng Nai, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai bức xúc lý giải thêm khi tỉnh này vừa tiếp tục có văn bản kiến nghị lên Quốc hội, Chính phủ dừng dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Trước đó, ngày 3/7, Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Quốc Thái đã ký văn bản số 5222 về việc kiến nghị Quốc hội và Chính phủ cho dừng dự án thủy điện Đồng Nai (ĐN) 6 và 6A. Theo đó, UBND tỉnh Đồng Nai đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - môi trường có báo cáo và kiến nghị Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ cho dừng và loại bỏ hai dự án thủy điện này ra khỏi quy hoạch thủy điện trên sông Đồng Nai.
Theo bản kiến nghị này Dự án thủy điện ĐN6 và ĐN6A đã vi phạm Luật Di sản văn hóa và làm phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, địa hình, địa mạo và các yếu tố địa lý chứa đựng sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù của Khu di tích Vườn quốc gia Cát Tiên.
'Hàng trăm ha rừng tự nhiên giàu có, đa dạng sinh học bị nhấn chìm dưới lòng hồ thủy điện ĐN6 và ĐN6A, hình thành hồ chứa nước lớn kéo dài trên một đoạn sông sẽ làm thay đổi đáng kể môi trường sống của các loài động thực vật đặc hữu tại đây', UBND tỉnh nêu trong bản kiến nghị.
Tuy nhiên khi lập dự án này, Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai, chủ đầu tư 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cho rằng sẽ phá những khu rừng nghèo của Vườn Quốc gia Cát Tiên để tạo hệ sinh thái thủy vực mới.
Về ý này, ông Trương Văn Vở kịch liệt phản đối. Ông Vở nói: 'Đừng bao giờ nói chuyện rừng nghèo rồi phá đi làm thủy điện. Điều này hết sức vô lý và đi ngược với cơ sở pháp lý đã được quy định'.
Câu chuyện về 2 dự án thủy điện này đã đưa đi, kéo lại tới 6 năm trời nhưng đến nay vẫn chưa thể có một quyết định cuối cùng.
Ông Vở đặt câu hỏi, "Bộ Công thương và 20 địa phương mới đây đã thống nhất loại khỏi quy hoạch 338 dự án thủy điện với tổng công suất 1.088,9 MW (gồm 2 dự án thủy điện bậc thang và 336 dự án thủy điện nhỏ); đồng thời không tiếp tục xem xét đưa vào quy hoạch 169 vị trí tiềm năng thủy điện (362,5 MW), vậy cớ gì mà không thể loại cả thủy điện ĐN6 và ĐN6A được?"
Trước đó từ năm 2011, khi phản biện dự án này Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) cho rằng dự án có ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến môi trường và vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên và dòng chảy sông Đồng Nai.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, Tổng thư ký VACNE thì khu vực này do bị rải chất diệt cỏ trong chiến tranh, phần lớn là sinh cảnh rừng mọc lại, lồ ô và cây bụi, lại bị khai hoang làm nương rẫy nhiều.
"Cho nên nếu nói đây là rừng nghèo thì cũng là hợp lý. Tuy nhiên tôi muốn nhắc lại, vì dự án đụng đến rừng, diện tích rừng nên phải làm các bước theo đúng quy trình, đánh giá tác động môi trường và ảnh hưởng của dự án như Vacne đã đề xuất trước kia. Từ bấy đến nay cũng là 2 năm rồi. Đã đến lúc các cơ quan chức năng phải có số liệu, quan điểm và đưa ra quyết định cuối cùng", TS Hòe nói.
Nhắc tới ý kiến này, ông Vở phản bác: ' Đã là Vườn quốc gia thì là Vườn quốc gia, kể cả đó chỉ là tre, nứa chứ đừng nói là cây nhỏ cũng phải được bảo vệ nghiêm ngặt. Thêm nữa theo Nghị quyết 49 của Quốc hội, dự án sử dụng trên 50ha đất rừng của Vườn Quốc gia thì phải xin ý kiến Quốc hội. Tức là Vườn được luật pháp được bảo vệ rõ ràng, không thể làm ngơ'.
Theo TS Đào Trọng Tứ, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, những lo ngại của Đồng Nai về 2 dự án thủy điện này là có lý.
TS Tứ cho rằng, hiện nay nhìn tổng quát cả môi trường, sinh thái và luật pháp, tuy dự án không lớn nhưng đụng đến Vườn Quốc gia và tác động lâu dài là rất lớn.
"Khi sông ngòi dày đặc thủy điện nên xem xét lại. Đông Nai lo ngại là đúng vì khi tất cả các hồ đều điều tiết thì sẽ phải giải quyết như thế nào. Đây là câu chuyện khó mà phải chứng minh được bằng thực tiễn, trong khi hệ thống sông Đồng Nai dày đặc thủy điện", TS Tứ lo lắng. (Đất Việt 19/7)đầu trang(
So với sản phẩm cùng loại của nhiều nước khác, ông James Koh, cố vấn Chủ tịch Hội đồng công nghiệp nội thất Singapore, đánh giá đồ gỗ của Việt Nam tốt về chất lượng, kiểu dáng và giá cả cạnh tranh, được người dân Singapore và nhiều nhà mua hàng quốc tế quan tâm.
Đánh giá này của ông James Koh được đưa ra tại buổi giới thiệu Hội chợ quốc tế nội thất Singapore 2014 - Triển lãm nội thất ASIAN lần thứ 31 (IFFS/AFS 2014) cho các doanh nghiệp đồ gỗ Việt Nam vào ngày 18-7 tại TPHCM.
Ông James Koh cho biết, khoảng 10 năm nay nhiều doanh nghiệp đồ gỗ Việt Nam tham gia hội chợ IFFS/AFS ở Singapore, được những nhà mua hàng quốc tế quan tâm và đánh giá cao. Một số doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên tham gia hội chợ này và có được đơn hàng từ đây.
IFFS/AFS 2013 diễn ra vào tháng 3 rồi thu hút 26 doanh nghiệp Việt Nam tham gia với diện tích trưng bày sản phẩm hơn 1.000 m2 cũng đã đem về những kết quả ban đầu khá tốt.
Theo thống kê của Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Đầu tư PNY – đơn vị đưa đoàn doanh nhiệp đồ gỗ Việt Nam sang Singapore tham dự hội chợ này, chỉ tính riêng sự kiện IFFS/AFS 2013 diễn ra vào tháng 3 rồi, đã có 145 khách mua hàng tại gian hàng Việt Nam với tổng giá trị đơn hàng nhận được là hơn 2 triệu đô la Mỹ. Theo đơn vị này thì giá trị đơn hàng không dừng lại con số đó mà sẽ tăng lên sau hội chợ.
Theo ban tổ chức, hội chợ IFFS/AFS 2014 (sẽ diễn ra từ ngày 13 đến 16-3-2014) đến nay đã có hơn 50% số doanh nghiệp Việt Nam dự IFFS/AFS 2013 tái đăng ký tham gia.
Theo lãnh đạo Công ty PNY – đại diện ban tổ chức IFFS tại Việt Nam, doanh nghiệp đăng ký tham gia hội chợ sẽ được giảm 20% giá gian hàng trống khi đăng ký và đặt cọc 50% trước ngày 15-9-2012; được thiết lập gian hàng chung Vietnam Pavilion; brochure giới thiệu chung cho gian hàng Vietnam Pavilion nhằm quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp; hỗ trợ tư vấn về nhân sự và marketing… (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 19/7)đầu trang(
Nhằm bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy hải sản, những năm qua, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa đã tích cực vận động bà con phát triển diện tích rừng ngập mặn.
Ông Võ Đình Long, cán bộ kinh tế xã Ninh Ích cho biết: Trước năm 1975, khu vực bãi triều thuộc vùng đầm Nha Phu có diện tích rừng ngập mặn nguyên sinh lên đến 200 ha. Tuy nhiên, từ khi phong trào nuôi tôm công nghiệp phát triển rầm rộ, không ít người dân nơi đây đã đưa các loại máy móc tàn phá khu rừng và biến đầm Nha Phu trở thành vùng nuôi trồng thuỷ sản.
Từ khi rừng ngập mặn bị mất đi cộng với môi trường bị ô nhiễm, nguồn lợi thuỷ sản trong tự nhiên cũng giảm sút khiến việc nuôi trồng thủy sản của người dân bị thua lỗ, nợ nần chồng chất.
Trước thực trạng đó, năm 2006, được sự tài trợ từ 1 dự án của Nhật Bản, xã đã vận động nhân dân chủ động trồng mới và khôi phục rừng ngặp mặn ở đầm Nha Phu với diện tích 2 ha, rồi sau đó tiếp tục trồng thêm 3 ha nữa.
“Để khuyến khích người dân trồng mới diện tích rừng đước, chúng tôi đã chủ động giao đất, hỗ trợ con giống cho từng hộ gia đình. Cho đến nay diện tích rừng đước của địa phương được khôi phục và trồng mới ở khu vực ven biển và trong các đìa nuôi tôm, cá ở khu vực đầm Nha Phu khoảng 23 ha”, ông Long cho biết thêm.
Theo kế hoạch của UBND xã, mỗi năm sẽ trồng mới 1 ha rừng đước và phấn đấu đến năm 2020 diện tích rừng ngập mặn tại địa phương lên đến 50 ha. Những diện tích rừng đước được phục hồi cũng như trồng mới đều sinh trưởng và phát triển tốt. Nhiều cây có đường kính thân 30 cm, cao hơn 10 m. Nhờ vậy môi trường sinh thái nơi đây được cải thiện đáng kể, các loài thuỷ, hải sản cũng được tái sinh. (Nông Nghiệp VN 18/7)đầu trang(
Năm 2011, Trạm Khuyến nông huyện miền núi Ba Tơ (Quảng Ngãi) đã triển khai mô hình trang trại vườn - ao - chuồng - rừng (VACR) tại hai xã Ba Tiêu và Ba Vinh. Mô hình này đã giúp các hộ gia đình biết quản lý, sử dụng tiềm năng sẵn có tại địa phương, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Mô hình trang trại VACR của anh Chế Minh Thái, xã Ba Tiêu (huyện Ba Tơ) được Trạm Khuyến nông huyện hỗ trợ triển khai trên tổng diện tích trên 3 ha, kinh phí đầu tư gần 155 triệu đồng, gồm trồng rừng, nuôi cá, chăn nuôi trâu, lợn, nuôi gà thả vườn. Sau gần 3 năm triển khai, mô hình bước đầu đã mang lại hiệu quả. Mỗi năm trừ hết chi phí, gia đình anh đã có thu nhập gần 100 triệu đồng.
Qua thực tiễn chăn nuôi trồng trọt, anh Thái đã bước đầu biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế trang trại, tận dụng tối đa nguồn lực và thức ăn tại chỗ cho gia súc, sử dụng nguồn phân hữu cơ cho trồng trọt. Anh Thái cho biết: Hàng năm, từ mô hình trang trại, gia đình bán từ 40 - 50 con lợn thịt. Gà tự ấp nở ở nhà chứ không mua gà con ở các nơi, một năm cũng bán được từ 400 - 500 con, cho thu nhập khá. Đàn trâu cũng phát triển tốt, năm vừa rồi bán 3 con với giá hơn 70 triệu đồng. Hiện nay, cây keo trồng với nhiều độ tuổi khác nhau, đến năm 2015 bắt đầu cho khai thác.
Tính đến nay, huyện Ba Tơ đã hình thành được gần 70 mô hình VACR với quy mô vừa và nhỏ. Nhìn chung các mô hình kinh tế trang trại đều hiệu quả; sau khi trừ chi phí, mỗi năm mang lại nguồn thu nhập cho các gia đình từ 70 - 100 triệu đồng. Mô hình đã tạo điều kiện giải quyết việc làm, tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tại chỗ, phát triển kinh tế bền vững tại địa phương.
Ông Nguyễn Thanh Lục, Phó trưởng Trạm Khuyến nông huyện Ba Tơ cho biết: Nhận thấy mô hình này phù hợp với điều kiện địa phương, Trạm Khuyến nông đã quyết định nhân rộng mô hình. (Tin Tức 19/7)đầu trang(
Anh Mai Hữu Tâm, ngụ ấp Xa Mau 2, thị trấn Phú Lộc (huyện Thạnh Trị, Sóc Trăng) không chỉ có biệt tài nuôi và phòng trị bệnh cá sấu thương phẩm mà còn thành công với mô hình nuôi rắn hổ hèo.
Sau những chuyến lặn lội đi tìm hiểu về nghề nuôi rắn hổ hèo ở nhiều địa phương, giữa năm 2012, anh lên Long An rồi xuống Cà Mau cũng chỉ mua được khoảng 30 con rắn hổ hèo con (còn gọi là rắn ráo trâu) để nuôi thử nghiệm. Do loại rắn này ít được nuôi ở địa phương, nên không ai có kinh nghiệm cũng như rành về kỹ thuật nuôi.
Vì vậy, khi bắt đầu mô hình mới này, anh phải tự mày mò đóng lồng, tìm thức ăn cho rắn, cách chăm sóc… Không ít người ở địa phương đã bàn ra, tán vào chuyện nuôi rắn của anh vì nó quá mạo hiểm. Những lúc như thế, anh chỉ cười, vì có mấy ai biết anh đã có sự chuẩn bị khá kỹ càng trước khi bắt tay vào thực hiện.
Theo anh Tâm, rắn hổ hèo là loại rất dễ nuôi, ít dịch bệnh, thích ứng với mọi điều kiện nuôi dưỡng. Thức ăn chính của chúng là cóc, ếch, nhái, chuột… nhưng phải còn sống và cứ khoảng 4 ngày mới cho ăn 1 lần.
Để rắn không bị mất sức do tranh mồi với nhau và cũng để cho việc gây giống thuận tiện, anh bắt tay làm chuồng thành từng lồng riêng biệt, chia ra nuôi trong 4 lồng, mỗi lồng đều có cửa, lỗ thông hơi và vật chứa nước cho rắn uống, rồi thả rắn giống vào nuôi.
Với mỗi lồng 5 con, ngoài việc cho ăn, anh chỉ tốn công làm vệ sinh chuồng. Sau 10 tháng nuôi, con lớn nhất ước chừng hơn 1 kg, con nhỏ nhất cũng khoảng 700 gr. Với trọng lượng trên, nếu xuất bán ở thời điểm hiện nay chỉ được giá khoảng 400.000 đ/kg, vì mới vô loại 3. Khi rắn đạt trọng lượng từ 1,2 - 1,4 kg, sẽ có giá từ 700.000 - 800.000 đ/kg và nếu đạt từ 1,5 kg trở lên, giá trên 1 triệu đồng.
Đối với rắn hổ hèo, ngoài giá trị làm thuốc để chữa bệnh hay bồi dưỡng sức khỏe, còn là vật nuôi có giá trị kinh tế, đem lại nguồn thu nhập cao, tạo việc làm ổn định. Nếu như trước đây, rắn là loài bò sát đáng sợ thì hiện nay, với việc nuôi rắn trong chuồng, tiếp xúc hàng ngày cũng tạo cho chúng thân thiện với con người hơn.
“Đây không phải là loài rắn độc nguy hiểm mà có nhiều công dụng trong y học, nhất là SX thuốc chữa bệnh nên giá thành rất cao. So với trồng lúa, nuôi rắn hổ hèo có nhiều thời gian nhàn nhã để người nuôi có thể đầu tư vào những công việc khác”, anh Tâm chia sẻ.
Anh Tô Ngọc Đấu, Chủ tịch Hội Nông dân thị trấn Phú Lộc cho biết: “Hội sẽ phối hợp với anh Tâm trong việc theo dõi quá trình phát triển của rắn hổ hèo để đúc kết kinh nghiệm, rút ra quy trình nuôi và nhân rộng mô hình này đến những hộ khác, giúp mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế cho nông dân”. (Nông Nghiệp VN 18/7)đầu trang(
6 tháng đầu năm 2013, Chi cục Kiểm lâm Gia Lai đã cấp giấy chứng nhận trại nuôi sinh trưởng, sinh sản động vật hoang dã thông thường cho 6 tổ chức, cá nhân đủ điều kiện theo quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển động vật hoang dã.
Hiện nay, trên địa bàn Gia Lai có 117 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã (trong đó: TP. Pleiku 32 cơ sở; các huyện, thị xã 85 cơ sở). Loài gây nuôi chủ yếu là: Nhím, heo rừng lai, cầy vòi hương, rắn, kỳ đà, nai, hươu sao,...
Tính từ tháng 1-2005, tổng số Gấu đã được gắn chíp là 25 cá thể, đến nay còn lại 10 cá thể. Số gấu bị chết, Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với các ngành liên quan và chủ trại nuôi tổ chức thực hiện tiêu hủy đúng theo quy định của pháp luật. Việc gây nuôi sinh sản động vật hoang dã là một trong những biện pháp để bảo tồn nguồn gen, hạn chế đánh bắt từ tự nhiên, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Để quản lý tốt các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các ngành chức năng nắm bắt tình hình gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn cũng như công tác thẩm định các điều kiện gây nuôi trước khi cấp giấy đăng ký trại nuôi. (Báo Gia Lai 17/7)đầu trang(
Trong giai đoạn 2011 - 2015, UBND tỉnh BR-VT bố trí nguồn vốn hơn 1,1 tỷ đồng cho ngành nông nghiệp triển khai dự án rà soát, cập nhật và theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Nội dung cơ bản của dự án là: điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trên cơ sở xây dựng hệ thống bản đồ và số liệu hiện trạng tài nguyên rừng. Xây dựng báo cáo phân tích, đánh giá biến động về diện tích rừng giữa 2 chu kỳ nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp cho công tác quản lý rừng, đánh giá biến động tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, đánh giá diễn biến tài nguyên rừng dưới tác động của các nhân tố kinh tế xã hội cũng như hiệu quả của công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Đài PT - TH BR - VT 17/7)đầu trang(
Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa (PHR) công bố Nghị quyết và Biên bản lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản với nội dung thông qua việc bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh của công ty.
Cụ thể, PHR sẽ triển khai sang lĩnh vực trông rừng và chăm sóc rừng; khai thác chế biến các loại cây lâm nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp. Công ty cũng mở rộng sang lĩnh vực công nghiệp hóa chất và phân bón. (Vietstock 18/7)đầu trang(
Theo báo cáo của UBND huyện, đến hết ngày 3/7, toàn huyện Yên Sơn đã trồng được gần 3.600 ha rừng, trong đó có 3.400 ha rừng sản xuất, đạt trên 92% kế hoạch năm.
Các xã có kết quả trồng rừng đạt cao là Nhữ Khê đạt 246% kế hoạch, Tứ Quận đạt 208% kế hoạch, Đội Bình đạt 150% kế hoạch... Riêng các Công ty lâm nghiệp đóng trên địa bàn huyện được giao chỉ tiêu trên 600 ha trong niên vụ trồng rừng năm 2013. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, các đơn vị đều có tiến độ trồng rừng đạt thấp, với trên 340 ha rừng đã trồng, đạt 54,5% kế hoạch năm.
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, huyện Yên Sơn đã tăng cường chỉ đạo các Công ty lâm nghiệp thực hiện các biện pháp trồng rừng có hiệu quả, đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao. Đồng thời tập trung tuyên truyền, vận động bà con nông dân tích cực đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng của toàn huyện trong tháng 7/2013.(Đài PT - TH Tuyên Quang 18/7)đầu trang(
Hiện, toàn tỉnh đã trồng 58 ha rừng, cùng với đó, các đơn vị, địa phương còn duy trì bảo vệ trên 10.700 ha rừng trồng, gần 108.000 ha rừng khoanh nuôi tái sinh và hơn 635.000 ha rừng hiện còn.
Đến nay, toàn tỉnh đã gieo ươm gần 5 triệu cây giống trồng rừng các loại. Các đơn vị, địa phương tham gia dự án đã thiết kế được 1.400 ha đất trồng rừng, đạt 57,4% kế hoạch.
Trong thời gian tới, các đơn vị, dự án tiếp tục thực hiện trồng rừng theo đúng lịch thời vụ, đảm bảo theo kế hoạch năm 2013; duy trì chăm sóc, bảo vệ và nghiệm thu chất lượng rừng. Phấn đấu hết năm 2013, tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt trên 45%. (Báo Sơn La 17/7; Đại Biểu Nhân Dân 19/7)đầu trang(
Năm 2013, huyện Sơn Dương được giao trồng mới 1.950 ha rừng. Để hoàn thành kế hoạch trong khung thời vụ, các cấp, các ngành và nhân dân các địa phương cùng nỗ lực đẩy nhanh tiến độ trồng rừng trên địa bàn. Đến nay, toàn huyện đã hoàn thành 100% kế hoạch trồng rừng được giao.
Đến hết tháng 6/2013, huyện Sơn Dương đã hoàn thành công tác trồng rừng năm 2013 với tổng diện tích 2.031 ha, đạt trên 104% kế hoạch giao. Có 26/33 xã, thị trấn hoàn thành và hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng từ 100 đến 276%. Đây là năm đầu tiên Sơn Dương hoàn thành kế hoạch trồng rừng và cũng là huyện dẫn đầu toàn tỉnh về phong trào trồng rừng năm 2013. (Đài PT - TH Tuyên Quang 17/7)đầu trang(
Phát huy lợi thế và khai thác tốt tiềm năng đất đai, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên đã đẩy mạnh việc trồng rừng. Qua đây góp phần giảm nghèo, tạo việc làm và từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
Thôn 65, xã Yên Lâm có trên 1.000 ha đất có rừng, trong đó có 200 ha rừng nguyên liệu, năm 2013, bà con trong thôn phấn đấu trồng mới 20 ha rừng. Để việc trồng rừng đạt hiệu quả cao, đúng khung thời vụ tốt nhất, ngay từ đầu vụ, Chi bộ, Ban công tác Mặt trận và các đoàn thể trong thôn 65 đã tuyên truyền vận động hội viên và nhân dân tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, nắm chắc quy trình kỹ thuật cũng như thời vụ trồng rừng. Đồng thời phối hợp với cán bộ Kiểm lâm, Khuyến lâm, tiến hành hướng dẫn nhân dân các biện pháp trồng rừng, từ khâu xử lý thực bì, cuốc hố, bón phân, đăng ký cây giống, đảm bảo tiêu chuẩn, hoàn thành kế hoạch trồng rừng đã đề ra.
Theo kế hoạch năm 2013, xã Yên Lâm thực hiện trồng mới 170 ha rừng, trong đó có 20 ha rừng phòng hộ. Mặc dù trong thời gian đầu vụ, nông dân trong xã gặp không ít khó khăn do thời tiết khô hạn, nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân tập trung nhân lực đầu tư vào công tác trồng rừng. Nhờ đó, đến nay, xã Yên Lâm đã trồng được 120 ha. Toàn xã phấn đấu hoàn thành mục tiêu trồng mới 170 ha rừng trong tháng 7/2013. .(Đài PT - TH Tuyên Quang 17/7) đầu trang(
Tại phiên khai mạc kỳ họp HĐND tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày 17.7, ông Phạm Quốc Dũng, Trưởng ban Kinh tế-Ngân sách HĐND tỉnh cho biết mặc dù chương trình định canh, định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi công trình hồ Tả Trạch (thuộc khu vực thượng nguồn sông Hương, xã Dương Hòa, TX.Hương Thủy) đã qua 10 năm, nhưng đến nay tỉnh Thừa Thiên-Huế vẫn còn nợ người dân 1.012 ha đất chưa được đền bù như cam kết trước đây, gây bức xúc cho người dân.
Nội dung trên được thông tin qua báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế và ngân sách của UBND tỉnh 6 tháng đầu năm 2013, công bố tại buổi họp,
Nguyên nhân là do chính sách “đất đổi đất” không thực hiện được vì việc thu hồi đất của các công ty kinh doanh lâm nghiệp, các BQL rừng để giao cho người dân nhiều nơi chưa thực hiện tốt, hoặc có nơi đất đã giao nhưng các địa phương chưa bố trí đầy đủ cho người dân, có nơi chỉ giao đất “trên giấy” vì đất trên thực địa đã bị các hộ dân khác xâm canh...
Chương trình tái định canh, định cư các hộ dân bị ảnh hưởng bởi công trình hồ Tả Trạch được triển khai từ năm 2002 và đến năm 2003 có gần 850 hộ dân đã được di dời đến nơi ở mới, tại các khu tái định cư thuộc xã Bình Thành (TX.Hương Trà) và Bến Ván (H.Phú Lộc) và định cư tại chỗ tại Khe Sòng (xã Dương Hòa).
Tại thời điểm di dân, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế cam kết tại nơi ở mới, người dân sẽ được cấp tối thiểu 1 ha đất làm vườn, trồng cây lương thực. Riêng đất rừng tỉnh sẽ thực hiện chính sách “đất đổi đất” để người dân có điều kiện sinh sống và phát triển kinh tế. (Thanh Niên 18/7)đầu trang(
Sau 5 ngày khẩn trương điều tra, truy xét và thực hiện công tác vận động đầu thú, tài xế vận chuyển gỗ lậu, chống người thi hành công vụ tại huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hoà) đã ra đầu thú.
Đối tượng khai nhận là Đặng Ngọc Hiền, sinh năm 1985, thường trú tại xã Diên Tân, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà.
Trước đó, lúc 0h ngày 13/7, Công an huyện Khánh Vĩnh yêu cầu xe tải biển kiểm soát 79C-02010 chở gỗ trái phép ở khu vực đường Khánh Lê - Cầu Lùng dừng lại để kiểm tra, nhưng lái xe không chấp hành hiệu lệnh và đã tăng tốc bỏ chạy.
Trong lúc truy đuổi, xe máy của tổ tuần tra đã bị xe tải của đối tượng ép vào lề đường làm 2 chiến sĩ Công an bị thương, đồng thời đổ xuống đường 63 khúc gỗ Kìm với khoảng 3,8m3.. (VTV 19/7) đầu trang(
Giải trình về một số vấn đề liên quan đến giao đất trồng rừng tại phiên chất vấn chiều 18.7, kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh khóa 12, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Đặng Huy Hậu cho biết đang xem xét thu hồi 10.603.47ha của 10 Cty, tổ chức giao cho địa phương quản lý.
Lý do chính, theo ông Hậu, là các đơn vị này sử dụng đất không hiệu quả, hoặc chậm tiến độ.
Theo ông Nguyễn Mạnh Cường - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, đứng đầu danh sách bị đề xuất thu hồi đất là Cty CP Đầu tư - phát triển kinh tế trang trại thủy hải sản Thành Tín. Cty này được giao 5.200ha từ lâu, nhưng đến nay mới trồng được 500ha rừng. Cty TNHH một thành viên Innovgreen Quảng Ninh có hơn 1.599ha dự kiến bị thu hồi.
Dự kiến, hết tháng 9.2013, sẽ hoàn thành việc điều tra, rà soát thực trạng sử dụng đất ở các đơn vị trên, để có thể đưa ra các quyết định thu hồi.
Ông Nguyễn Đức Long - Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh - đề nghị UBND tỉnh cần làm quyết liệt đối với các đơn vị trên, để giao lại cho địa phương, cho dân, bởi cả tỉnh có trên 6.000 hộ dân đang có nhu cầu bức thiết về đất trồng rừng. (Lao Động 18/7)đầu trang(
Khi các dự án trồng cao su ở Tây Nguyên đi vào thực hiện, người dân địa phương đã “nhảy” vào tranh chấp đất rừng với doanh nghiệp (DN). Trong khi đó, cơ sở hạ tầng chưa được DN đầu tư nhiều cho địa phương và người dân cũng chưa giàu lên nhờ chủ trương chuyển đổi rừng trồng cao su.
Nơi nào ở Tây Nguyên có dự án chuyển đổi rừng trồng cao su là nơi đó lại có tranh chấp đất rừng giữa người dân và DN. Từ năm 2008 đến nay, các DN thực hiện dự án chuyển đổi rừng trồng cao su ở huyện Chư Pưh (Gia Lai) liên tục phải đối mặt với cuộc chiến tranh chấp đất rừng với người dân địa phương.
Công ty TNHH Xây dựng Thương mại 289 (TP.HCM) được UBND tỉnh Gia Lai cho phép chuyển đổi trên 548 ha đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Ia Phang (huyện Chư Pưh) sang trồng cao su vào năm 2008. Nhưng khi dự án triển khai, người dân xã Ia Phang, Ia Le đã vào khu vực này lấn chiếm đất canh tác, cản trở DN khai hoang. Đến nay, có hơn 146 ha đất rừng tại các tiểu khu 1114, 1117 của công ty đã bị 63 hộ dân lấn chiếm trái phép.
Chung cảnh ngộ, Công ty CP Tập đoàn Đức Long cũng đang loay hoay tìm cách đòi lại 78 ha đất rừng trong dự án trồng cao su tại xã Ia Blứ (huyện Chư Pưh) bị dân lấn chiếm canh tác. Còn với Công ty CP Trồng rừng công nghiệp Gia Lai, họ phải nhượng bộ cho các hộ dân canh tác trên diện tích 24 ha đã lấn chiếm trước đó. Dẫu thế, người dân địa phương vẫn “nhảy” vào lấn chiếm thêm 44 ha đất dự án của công ty. Qua kiểm tra của huyện Chư Pưh, trong tổng số khoảng 300 ha đất rừng người dân lấn chiếm các dự án, có hơn 50% diện tích người dân canh tác trước thời điểm triển khai dự án chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su (trước năm 2008).
Người dân địa phương cho rằng, diện tích đất trên được canh tác từ thời cha ông để lại, nên không trả đất cho DN. Để tìm lối thoát, một số DN chấp nhận để người dân xen canh cây ngắn ngày trên diện tích đất trồng cao su, đồng thời thỏa thuận đền bù công khai hoang và tạo điều kiện cho người dân vào làm công nhân cho các công ty nhưng giải pháp đó cũng không hiệu quả.
Ông Lưu Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch UBND huyện Chư Pưh, cho biết: “Trong quá trình tư vấn, lập hồ sơ dự án của một số DN chưa khớp với thực tế, không phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất của người dân. Một số dự án không đầu tư đúng theo cam kết, năng lực tổ chức sản xuất của DN chậm. Thậm chí một số DN không lập phương án đền bù công khai hoang và hoa màu trên đất cho nhân dân”.
Tại huyện Ea Súp (Đắk Lăk), nhiều DN đang đối mặt với nguy cơ mất đất dự án vì bị người dân địa phương và cả người dân di cư tự do đua nhau xâm chiếm. Ngày 7-7-2009, Công ty TNHH Xây dựng Gia Huy được UBND tỉnh Đắk Lắk giao 698 ha đất tại tiểu khu 248 và 264 tại xã Ea Lê (huyện Ea Súp) để trồng rừng, trồng cao su. Nhưng trên diện tích này đã có hơn 200 ha đất bị người dân địa phương xâm chiếm.
Không những thế, họ còn chặt phá, lấn chiếm đất rừng trong vùng dự án của Công ty Gia Huy. Đỉnh điểm cuộc tranh chấp xảy ra vào ngày 29-4-2011, khi cả bảo vệ công ty lẫn cán bộ xã Ea Lê đều bị khoảng 30 người dân địa phương xông vào đánh ngay trên khu vực đất dự án. Trong số 20 dự án được giao đất cho DN trồng rừng và trồng cao su ở huyện Ea Súp với tổng diện tích hơn 16.784 ha, hầu hết đều bị người dân xâm canh đất rừng trái phép.
Mục tiêu của việc chuyển đổi rừng trồng mới 100.000 ha cao su ở Tây Nguyên của Chính phủ là để xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao đời sống người dân địa phương. Nhưng mục tiêu này xem ra đang bị các DN thực hiện dự án cố tình lãng quên hay không muốn thực hiện. Trên những con đường đi vào các dự án chuyển đổi rừng trồng cao su ở Tây Nguyên, phần lớn chúng tôi chỉ đi qua những con đường đất chứ rất ít bắt gặp những con đường nhựa.
Trong khi đó, rất ít lao động địa phương (nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số) được các DN nhận vào làm công nhân. Tại 9 DN thực hiện dự án chuyển đổi rừng trồng cao su ở xã Mô Rai (huyện Sa Thầy, Kon Tum), những lao động địa phương chỉ được nhận vào làm thời vụ chứ số ít được kí hợp đồng dài hạn.
Ông Lê Tuấn Tuân, Chủ tịch UBND xã Mô Rai, lí giải: Phần lớn người dân địa phương là người đồng bào dân tộc tại chỗ, trình độ dân trí thấp cùng với các phong tục tập quán lạc hậu và thói quen làm việc tự do, vì thế các DN không mấy mặn mà với việc tiếp nhận họ vào làm công nhân. Mặc dù cam kết tuyển dụng lao động địa phương nhưng DN vẫn phải đảm bảo mục tiêu lợi nhuận, vì thế họ buộc phải tuyển dụng lao động từ nơi khác với tay nghề cao hơn.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, đến cuối năm 2012, các DN trồng cao su ở tỉnh Kon Tum đã xây dựng được 352km đường giao thông, thu hút 1.794 lao động địa phương. Tại Gia Lai, các DN đầu tư 153 tỉ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút 809 lao động địa phương.
Ở Đắk Lắk, các DN đầu tư hơn 585 tỉ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút 1.775 lao động địa phương. Nhưng số tiền DN bỏ ra đầu tư chủ yếu để xây dựng cơ sở vật chất cho mình chứ chưa đầu tư nhiều vào xây dựng cơ sở hạ tầng cho địa phương.
Còn tại Đắk Nông và Lâm Đồng, các DN chưa đầu tư nhiều vào xây dựng cơ sở hạ tầng và chưa thu hút được nhiều lao động địa phương làm việc. Như vậy, các DN không thu hút được nhiều lao động địa phương vào làm việc tại các dự án như kì vọng của Chính phủ. Vì thế, đời sống người dân chưa giàu lên nhờ các dự án chuyển đổi rừng trồng cao su. (Tài Nguyên&Môi Trường 17/7)đầu trang(
UBND tỉnh Kon Tum cho biết: Trong 6 tháng đầu năm 2013, qua công tác kiểm tra, tuần tra, truy quét, cơ quan kiểm lâm các cấp đã phát hiện 251 vụ vi phạm các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính 164 vụ với số tiền phạt trên 554 triệu đồng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước gần 600m3 gỗ các loại. Đồng thời, khởi tố vụ án và chuyển cơ quan cảnh sát điều tra các cấp để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật đối với 3 vụ việc, cụ thể như sau: Tại huyện Đắk Tô vụ vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại Tiểu khu 277, lâm phần do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Tô quản lý. Huyện Kon Plông có 2 vụ hủy hoại rừng tại Tiểu khu 437 và Tiểu khu 438 thuộc lâm phần do UBND xã Pờ Ê quản lý. (Thanh Tra 18/7)đầu trang(
18/7, UBND tỉnh Gia Lai cho biết, vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng Kơ Pa Kak, Rơ Chăm Dut, Puih Lar, Rơ Măh Byin, cùng trú tại xã Ia Kênh, TP Pleiku về hành vi phá rừng sản xuất trái pháp luật tại tiểu khu 356, thuộc lâm phần quản lý của Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ.
Các đối tượng trên bị xử phạt tổng số tiền là 105 triệu đồng. Ngoài ra, các đối tượng trên còn bị buộc phải trồng lại rừng tương ứng với diện tích đã phá, tổng cộng là 11.000m2.
Liên quan đến vụ phá rừng này, UBND tỉnh Gia Lai đã ra quyết định xử phạt BQL Rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ số tiền 50 triệu đồng, vì lý do thiếu trách nhiệm để rừng bị khai thác trái phép. (Thanh Tra 19/7)đầu trang(
Sau khi Báo Nông Thôn Ngày Nay có loạt bài phản ánh những sai phạm của TAND huyện Quỳnh Lưu trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng rất rừng, Viện KSND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định kháng nghị bản án sơ thẩm và chỉ ra hàng loạt sai phạm.
Như đã đưa tin, ngày 31.5.2013, TAND huyện Quỳnh Lưu tiếp tục đưa vụ án ông Trần Xuân Lập khởi kiện đòi ông Lê Duy Nguyên (nguyên đại biểu Quốc hội khóa X tỉnh Nghệ An) trả lại 36,5ha đất rừng đứng tên ông Lập mà ông Nguyên đang chiếm dụng ra xét xử. Kết thúc phiên tòa, HĐXX bác yêu cầu của ông Trần Xuân Lập vì cho rằng UBND huyện Quỳnh Lưu đã vi phạm về trình tự thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Lập.
Ngày 27.6.2013, Viện KSND tỉnh Nghệ An đã có Quyết định số 1063/QĐ/VKS-P5 kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 11/2013/DSST ngày 31.5.2013 của TAND huyện Quỳnh Lưu vì “vi phạm pháp luật dân sự cả về nội dung và thủ tục tố tụng”. Cụ thể như sau: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 31.5.2013, thư ký tòa án tiến hành tố tụng là ông Hồ Diên Tuấn, cũng là thư ký tòa án đã từng tiến hành tố tụng trong vụ án này trước đây, như vậy là trái với quy định tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại bản án sơ thẩm thể hiện bị đơn trong vụ án là ông Lê Duy Nguyên, nhưng tại biên bản phiên tòa thể hiện bị đơn trong vụ án tham gia phiên tòa sơ thẩm là doanh nghiệp tư nhân trồng rừng Lê Duy Nguyên do ông Lê Duy Nguyên làm đại diện.
Hồ sơ vụ án thể hiện diện tích đất tranh chấp do doanh nghiệp tư nhân trồng rừng Lê Duy Nguyên quản lý và sử dụng, không phải do cá nhân ông Lê Duy Nguyên sử dụng. Tòa án không đưa những cá nhân trong doanh nghiệp vào tham gia tố tụng là thiếu sót, dẫn đến giải quyết vụ án không triệt để. Tòa án cũng không đưa UBND huyện Quỳnh Lưu vào tham gia tố tụng để xác minh làm rõ về quy trình cấp lâm bạ cho ông Lập là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Những người con của ông Lập và bà Lê Thị Vạn không có đơn yêu cầu độc lập. Việc tòa án cấp sơ thẩm buộc họ phải nộp tiền tạm ứng án phí là trái với quy định tại khoản 1 Điều 130 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bản án tuyên “buộc ông Trần Xuân Lập phải nộp 53.610.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Miễn giảm cho ông Lập và bà Vạn 23.610.000 đồng tiền án phí. Ông Trần Xuân Lập và bà Lê Thị Vạn còn phải nộp 30.000.000 đồng...”. Như vậy, nếu hiểu theo bản án này thì ông Lập phải chịu 2 khoản án phí.
Tòa xử bác đơn khởi kiện của ông Lập nhưng lại buộc ông phải chịu án phí đối với vụ án có giá ngạch là không đúng với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 17 Nghị quyết 01/2012 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao. Tại phần quyết định của bản án về kháng cáo có ghi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Xuân Lập có quyền kháng cáo là trái quy định tại Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bản án chỉ dựa vào việc ông Nguyên đi nhận lâm bạ và ký tên ông Lập vào lâm bạ mà cho rằng UBND huyện Quỳnh Lưu vi phạm về trình tự thủ tục giao đất, cấp giấy phép chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa phù hợp. Việc giao lâm bạ, ký tên vào lâm bạ và giao nhận đất không phải là điều kiện để được cấp lâm bạ và quy trình để được cấp lâm bạ mà chỉ là quy trình sau khi cấp lâm bạ. (Nông Thôn Ngày Nay 18/7)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nạn lấn chiếm đất rừng để trồng cây và xây dựng trái phép diễn ra phổ biến ở huyện Vân Can. (Nhân Dân 18/7)đầu trang(
U Minh Hạ (Cà Mau) với trên 40.000ha rừng, được mệnh danh là mảnh đất xanh của Nam Bộ. Nhưng đây cũng là “túi phèn” với 53,26% diện tích tự nhiên bị nhiễm phèn, đồng thời là “túi nghèo” của Cà Mau và của cả nước.
Là bởi, suốt gần 40 năm nay, vì lý do cơ chế mà hàng trăm hộ dân sống tạm bợ dưới tán rừng xanh và nghèo xác xơ như những dây leo bám trên thân cây tràm mùa khô.
Sau hơn 20 năm bỏ xứ vào rừng nhận 2ha đất - vừa sản xuất vừa bảo vệ rừng, ông Nguyễn Hồng Trường (ấp 12, xã Khánh Thuận, huyện U Minh) tay trắng lại hoàn trắng tay. 2ha đất rừng do Lâm - ngư trường Sông Trẹm giao cho ông trước đây nay đã hết hạn, chưa ký lại hợp đồng mới. Tương lai nghe mờ mịt và bấp bênh như căn nhà lá xiêu vẹo của gia đình ông, chỉ một cơn mưa đầu mùa kèm gió lốc là mọi thứ lại rung lên bần bật.
Ông Trường kể: “Tui quê ở Giá Rai, năm 1986 Nhà nước giải thể tập đoàn sản xuất trở thành người không đất. Do gia đình chính sách nên tui được ưu tiên vào rừng nhận đất để lập nghiệp. Từ một người không đất, tự nhiên có đến 2ha đất nên mấy tháng liền mừng không ngủ được. Cứ ngỡ sẽ được đổi đời, ai dè đất rừng U Minh phèn dữ quá, cây lúa sống không nổi, năm trúng năm thất bát không đủ tiền chi phí bỏ ra. Cây tràm thì sau 15 năm chăm sóc, khai thác, lâm - ngư trường chia năm sẻ bảy với đủ khoản thuế nên tui còn đúng 18 triệu đồng”.
Trước khi Lâm - ngư trường Sông Trẹm giải thể vào năm 2004, ngoài ông Trường, ở Khánh Thuận còn có trên 350 hộ dân sinh sống dưới tán rừng trong tình trạng bội thu không: Không hộ khẩu, không chính quyền quản lý, không khai sinh, không giấy chứng minh nhân dân, không đất sản xuất...
Họ được lâm - ngư trường quản lý theo từng tuyến kênh. Những người như ông Trường được gọi là dân kênh 12. Và lãnh đạo tỉnh Cà Mau gần như “quên mất” người dân đi vào vùng kinh tế mới trong một thời gian dài. Chính quyền địa phương không quản lý những hộ dân này, mà khoán trắng cho Lâm - ngư trường Sông Trẹm. Ông Nguyễn Văn Tư (ấp 12, xã Khánh Thuận) nói như mếu: “Mãi cho đến khi giải thể Lâm - ngư trường Sông Trẹm, dân chúng tôi mới được thấy mặt chính quyền!”.
Xã Khánh Thuận (huyện U Minh) gồm 15 ấp, thì có đến 10 ấp người dân sống trên đất không phải của xã. Nghĩa là họ đang sống trên đất lâm phần, thuộc Cty TNHH MTV U Minh Hạ (tiền thân là Lâm - ngư trường Sông Trẹm) quản lý, nên xã không thể đả động gì tới. Và sau khi đến hạn phải thanh lý hợp đồng với Cty TNHH MTV U Minh Hạ, Khánh Thuận ngay giữa cánh rừng mênh mông với 350 hộ dân bỗng dưng không còn cục đất chọi chim.
Trong khi diện tích giao khoán tại Khánh Thuận bị hạn chế chỉ 2 ha/hộ, thì ở xã Nguyễn Phích cạnh bên, người dân được giao nhiều diện tích hơn để trồng rừng. Tuy nhiên kết quả cũng chẳng có gì khác, bởi sau hơn 20 năm thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, số người giàu ở Nguyễn Phích hiện đếm chưa hết số ngón trên bàn tay, trong khi số hộ nghèo, hộ khó khăn luôn... năm sau cao hơn năm trước!
Cách nay 20 năm, ông Đoàn Văn Ba (ở huyện Đầm Dơi) bán hết tài sản về U Minh mua lại 17ha đất rừng tràm. Tưởng đâu cuộc đời của ông sẽ thay đổi, nào ngờ mảnh đất của ông nằm ngay túi phèn nên sản xuất lúa gặp khó khăn, nhiều năm thu hoạch không đủ chi phí, bây giờ ông chẳng dư được gì, có nguy cơ trở thành người không đất do đã đến hạn giao trả lại cho Nhà nước. Trước đó, toàn ấp 15 của xã Nguyễn Phích (Cà Mau) được thí điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho người dân. Tuy nhiên tình hình cũng không khá hơn.
Ông Nguyễn Văn Tại - Trưởng ấp 15, xã Nguyễn Phích - lắc đầu: “Gần như cả ấp này mang nợ, không nợ Nhà nước thì nợ ở ngoài. Nợ Nhà nước rất khó trả, do vay nợ đến hạn người dân không có tiền, cán bộ ngân hàng làm giấy đáo hạn với món vay nhiều hơn, cứ thế lần sau vay nhiều hơn lần trước để đến nay không cách nào trả hết”.
Giấc mơ đổi đời sau bao năm gắn bó với rừng xanh hiện nhuốm màu xám xịt. Người dân chẳng biết kêu ai, bởi chính quyền địa phương không quản lý phương thức sản xuất, mà khoán trắng cho các lâm - ngư trường, trong khi các lâm - ngư trường lại trưng ra những bản hợp đồng có chữ ký của người dân, những biên bản đã được người dân thống nhất. Ông Nguyễn Văn Hải (ấp 18, xã Nguyễn Phích) nhận 6ha tràm, sau 20 năm làm lụng vất vả nay còn nợ lại lâm - ngư trường gần 10 triệu đồng, chua chát: “Biết như vầy dù có ông trời xuống kêu tui vào đây làm kinh tế mới, tui cũng không đi”.
Với cùng một câu hỏi: “Vì sao người dân sống trên mảnh đất xanh U Minh lại nghèo thê thảm đến vậy?”, PV nhận được nhiều câu trả lời từ chính quyền địa phương. Ông Nguyễn Minh Lắm - Chủ tịch UBND xã Khánh Thuận chia sẻ: “Nói thật, chúng tôi cũng đã làm hết cách rồi. Với cơ chế sản xuất đất nông nghiệp nằm xen kẽ với đất rừng như lâu nay, là một điều khó khăn. Cứ hết mùa mưa là Cty TNHH MTV U Minh Hạ cho tích nước để phục vụ công tác phòng, chống cháy rừng nên nước mênh mông, cây lúa chết hết.
Còn nguồn lợi cá đồng thì càng ngày càng ít, người dân lại ít vốn, làm sao đầu tư vào nuôi cá. Hầu hết các hộ dân sống trên diện tích lâm phần đều không có giấy CNQSDĐ, nên không có tài sản thế chấp phát triển kinh tế gia đình. Chúng tôi đã nhiều lần đề xuất với huyện, tỉnh, xin một số diện tích do Cty TNHH MTV U Minh Hạ quản lý để cấp cho dân nghèo không đất, nhưng chưa được đồng ý”.
Ông Ngô Thanh Điền - Phó Chủ tịch UBND huyện U Minh - trầm tư khi lý giải chuyện nghèo của huyện: “Hầu hết người dân sống dưới tán rừng U Minh là người của các địa phương khác đến. Đã thế một thời gian dài, Cà Mau giao cho các lâm - ngư trường quản lý cả đất đai và con người nên chúng tôi gặp khó. Chúng tôi thấy rất rõ người dân khó khăn, nên xin một số diện tích đất rừng do các đơn vị sản xuất tự túc của huyện, nay đã hết hạn, để giao cho người dân nghèo không đất sản xuất, nhưng chưa được đồng ý.
Cụ thể, chúng tôi liên tiếp có nhiều tờ trình xin được giao 200ha (dài trên 4km, chiều ngang 500m) thuộc ấp 12, xã Khánh Thuận, dự kiến cấp mỗi hộ 1,5ha vừa làm nhà ở vừa có đất sản xuất, bởi nơi đây nằm cặp tuyến kênh và đã có con lộ nhựa đi qua. Chúng tôi xin từ năm 2012, nhưng đến năm 2013, toàn bộ diện tích này, Cty TNHH MTV đã giao cho các tổ chức, cá nhân khác trồng keo lai hết rồi”. Dân đen luôn chậm chân so với “tổ chức” và “cá nhân”!”.
Mới đây, Cà Mau có đề án sắp xếp bố trí lại dân cư rừng tràm U Minh Hạ tách dân ra khỏi rừng, phương án được nhiều tổ chức, cá nhân đồng tình, để thực hiện đòi hỏi một khoản chi phí rất lớn. Ông Trần Văn Thức - Phó Giám đốc Sở NNPTNT Cà Mau - nói: “Để thực hiện được điều này cần có thời gian và tiền bạc, bởi muốn di dời một số lượng lớn người dân ra khỏi rừng cần có những cụm, tuyến dân cư, khu tái định canh, tái định cư rồi phương kế để người dân sinh sống. Đây là một vấn đề lớn...”. (Lao Động 19/7)đầu trang(
18.7, Phòng CSGT - Công an thành phố Đà Nẵng cho biết, đơn vị này vừa phối hợp với Chi cục Kiểm lâm thành phố (thuộc sở NNPTNT) phát hiện 1 xe khách chở hàng trăm tấm gỗ quý cùng hàng chục con thú rừng.
Theo đó, 17.7, từ một nguồn tin của người dân báo cho Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng, lực lượng CSGT đã cùng phối hợp, kiểm tra xe khách BKS: 30Z-7397 chạy tuyến Hà Nội-Gia Lai. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe này có 496 tấm gỗ hương cùng 20 cá thể thú rừng có xuất xứ nguồn gốc nhưng không chứng minh được hồ sơ pháp lý.
Trên xe lúc này còn có gần 40 hành khách đi cùng. Cơ quan chức năng đã yêu cầu lái xe đưa hành khách qua xe khác để tiếp tục lộ trình nhưng đến 11h ngày 18.7, lái xe vẫn không chịu phối hợp và đóng kín cửa xe vì cho rằng mình đã xuất trình đủ giấy tờ liên quan.
Trước tình hình trên lực lượng chức năng đã đưa xe khách cùng tang vật bàn giao cho Công an quận Cẩm Lệ (Đà Nẵng) xử lý.
Đến khoảng 16h ngày 18.7, xe khách trên tiếp tục hành trình khi đã làm các thủ tục liên quan và để lại toàn bộ số gỗ và thú rừng chờ lực lượng chức năng Đà Nẵng tiếp tục điều tra xử lý. (Nông Thôn Ngày Nay 19/7)đầu trang(
UBND tỉnh ngày 17-7 xác nhận đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đinh Văn Khải (1986, trú xã Vĩnh Sơn, H. Vĩnh Thạnh) hơn 52 triệu đồng do có hành vi phá 2.389m2 rừng phòng hộ trái pháp luật tại khoảnh 2, tiểu khu 125b (xã Vĩnh Kim, H. Vĩnh Thạnh).
Trước đó, UBND tỉnh cũng đã có văn bản giao Giám đốc Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với UBND H. Vĩnh Thạnh chỉ đạo các ngành có liên quan của huyện tổ chức đưa các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ra kiểm điểm trước cộng đồng; yêu cầu viết cam kết không tái phạm, không được sử dụng diện tích đất rừng đã bị phá trái pháp luật. Được biết, 19 “lâm tặc” này đã bị UBND tỉnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với tổng số tiền khoảng 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, hầu hết những trường hợp trên đều không có tài sản để nộp phạt. (Công An Đà Nẵng18/7)đầu trang(
Thông tin từ Vườn quốc gia (VQG) Vũ Quang cho biết, cơ quan này vừa xử phạt 13,5 triệu đồng và tịch thu toàn bộ số gỗ trái phép của ông Lê Anh Dũng, Chủ tịch Mặt trận xã Hương Quang (huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh) về vụ ông này vận chuyển gỗ trái phép.
Trước đó, vào lúc 17g ngày 10/7, lực lượng kiểm lâm cơ động của VQG Vũ Quang phát hiện chiếc xe tải BKS 38C-00047, do tài xế Nguyễn Văn Luận, trú ở xã Hương Quang đang chở vật dụng cho người dân từ xã Hương Quang về Khu tái định cư, có nhiều dấu hiệu khả nghi, đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra.
Qua kiểm tra, đội kiểm lâm của VQG phát hiện trên xe có 2 bộ phản và 8 cặp khung cửa được vận chuyển trái phép. Luận khai nhận đang vận chuyển nhà cho ông Lê Anh Dũng - Chủ tịch Mặt trận xã Hương Quang. (Phụ Nữ TPHCM/Nông Thôn Ngày Nay 18/7)đầu trang(
Liên tiếp trong 2 ngày 17-18/7, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh đã liên tiếp phát hiện và bắt giữ 2 vụ vận chuyển tê tê trái phép.
18/7, Trạm Kiểm soát liên hợp Km15 – Bến tàu Dân Tiến (TP. Móng Cái) đã phối hợp với phòng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra và bắt giữ xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, biển kiểm soát 14M – 6199 (chạy hướng Hạ Long đi Móng Cái) chở 75 con tê tê sống với tổng trọng lượng 348,6 kg để xuất lậu đi Trung Quốc. Lái xe Nguyễn Văn Khánh, trú tại phường Trần Hưng Đạo, TP Hạ Long khai nhận toàn bộ số động vật hoang dã nói trên không có giấy tờ hợp pháp kèm theo.
Trước đó, ngày 17/7, Công an huyện Hải Hà cũng phát hiện và bắt giữ xe ô tô mang biển kiểm soát 29B-065.20, do Đỗ Khắc Sinh (sinh năm 1981, trú tại thôn 5, xã Quảng Chính, huyện Hải Hà) điều khiển, trên xe vận chuyển trái phép 62 con tê tê (280kg). Do bị nhốt trên đường vận chuyển đường dài, một số tê tê đã chết, số khác còn rất yếu.
Chi cục Kiểm lâm đã mời Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn thành phố Hà Nội về cứu hộ cho số tê tê trên. (Tin Tức 19/7; Hải Quan 19/7; Lao Động 19/7)đầu trang(
Từ năm 2005 đến nay, đã có hàng chục nghìn hecta rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang được khai thác và trồng mới. Do không có đường lâm nghiệp nên nhiều chủ rừng phải thuê nhân công trồng, khai thác, vận chuyển gỗ với giá cao gần bằng nửa giá bán sản phẩm. Trong khi đó Dự án xây dựng đường lâm nghiệp vẫn đang chờ duyệt.
Ông Dương Xuân Bánh, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho hay: Trước năm 1990, Nhà nước chỉ giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ dân, lâm trường trên địa bàn mà chưa chú trọng phát triển hạ tầng lâm nghiệp. Chính vì vậy, việc trồng, chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng gặp nhiều khó khăn, chi phí cao, hiệu quả kinh tế thấp.
Thấy được thực tế đó, Nhà nước đã có chủ trương hỗ trợ xây dựng đường lâm nghiệp tại những nơi trồng rừng tập trung. Tuy nhiên đến thời điểm này chỉ có một số tỉnh như: Bắc Kạn, Lào Cai, Quảng Nam… được cấp kinh phí cho việc này. Năm 2011, UBND tỉnh phê duyệt Dự án quy hoạch, xây dựng đường lâm nghiệp với chiều dài 150 km, kinh phí khoảng 80 tỷ đồng. Dự án này được gửi đến một số bộ, ngành trung ương liên quan thẩm định xin cấp vốn song hết thời hạn đề ra (đầu năm 2013) vẫn chưa được duyệt.
Trước tình hình trên, Sở NN&PTNT tiếp tục xây dựng Dự án phát triển hạ tầng đường lâm nghiệp mới, giai đoạn 2013-2015 quy mô nhỏ hơn với tổng chiều dài còn 65 km, kinh phí 30 tỷ đồng. Những con đường này được thiết kế, xây dựng trở thành trục chính vào những khu trồng rừng tập trung có diện tích từ 500 ha trở lên.
Hiện toàn bộ hồ sơ Dự án đã được UBND tỉnh duyệt, gửi lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thẩm định, duyệt cấp kinh phí. Tuy nhiên, sau hơn 3 tháng gửi hồ sơ, đến thời điểm này vẫn chưa có kết quả. Thực tế, không chỉ người trồng rừng mong mỏi những con đường lâm nghiệp mà lực lượng kiểm lâm là những người trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ cũng đang rất cần. (Báo Bắc Giang 19/7)đầu trang(
16/7, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh Lào Cai đã tiền hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Văn Xuyên, trú ở xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai về hành vi vi phạm các quy định khai thác, bảo vệ rừng.
Trước đó, ngày 27/4, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh Lào Cai phát hiện xe ô tô tải biển kiểm soát 24C – 005.87 có dấu hiệu vận chuyển lâm sản trái phép từ huyện Văn Bàn về xuôi tiêu thụ; tổ chức truy đuổi, đến địa phận huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái thì bắt giữ xe ô tô chở lâm sản trên. Qua kiểm tra, phát hiện trên xe có chở 15,258m3 gỗ Pơ Mu nhóm I, chủ hàng là Nguyễn Văn Xuyên, Chủ nhiệm hợp tác xã Ngọc Lợi có trụ sở tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Qua điều tra, cơ quan công an xác định, số gỗ trên được khai thác trái phép tại huyện Văn Bàn. Với hành vi lợi dụng các hồ sơ thanh lý gỗ tại huyện Văn Bàn, ông chủ hợp tác xã Ngọc Lợi đã hợp lý hóa các thủ tục giấy tờ để vận chuyển trái phép số gỗ ra ngoài tỉnh tiêu thụ.
Hiện cơ quan công an đang tiếp tục mở rộng điều tra. (Báo Lào Cai 18/7)đầu trang(
THẾ GIỚI
Người phát ngôn cơ quan lâm nghiệp Norma Bailey, hôm qua (18/7) cho biết: các vụ cháy rừng tại khu vực miền Nam bang California đã buộc 6.000 người phải sơ tán và gây thiệt hại nặng nề cho khu vực này.
Cháy rừng bùng phát từ đầu tuần này cũng làm ảnh hưởng cuộc sống của gần 4.100 ngôi nhà, khách sạn tại khu vực Idyllwild và các khu vực lân cận. Cháy rừng đã phá hủy ít nhất 6 ngôi nhà và nhiều ngôi nhà di động của người dân. Đến nay, lực lượng cứu hỏa chỉ mới dập tắt được 15% diện tích các đám cháy. Gần 3.000 lính cứu hỏa và 10 chiếc bay trực thăng đã được huy động để dập lửa. Nhiệt độ đo được tại khu vực xảy ra các đám cháy còn cao hơn nhiệt độ tại các khu vực sa mạc.
Vào năm 2006, tại Mỹ cũng đã từng xảy ra vụ cháy rừng nghiêm trọng khiến 5 lính cứu hỏa thiệt mạng. Vụ cháy cũng đã phá hủy 34 ngôi nhà của người dân. (VOV 19/7)đầu trang(
Indonesia hôm qua cho biết, nước này sẽ thông qua hiệp định khu vực chống khói mù vào đầu năm tới.
Bộ trưởng Môi trường Indonesia Balthasar Kambuaya nói: “Chúng tôi hy vọng có thể thông qua hiệp định này vào cuối năm nay hoặc đầu năm sau”.
Trong 17-7, Bộ trưởng Kambuaya và các bộ trưởng môi trường từ bốn quốc gia ASEAN thành lập hiệp ước chống khói mù đã gặp nhau để thảo luận các cách thức nhằm ngăn chặn tình trạng cháy rừng tại Indonesia.
Các bộ trưởng môi trường cảnh báo, khói mù sẽ còn tiếp tục đến cuối đợt gió mùa tây nam trong tháng 10 nếu các điểm nóng về đốt rừng vẫn tiếp tục tăng.
Bộ trưởng Kambuaya cho biết Jakarta đã sẵn sàng chia sẻ các bản đồ khu vực các khu vực dễ cháy với các chính phủ khác, nhưng không công khai trên đại chúng khi Singapore yêu cầu điều này.
Các vụ cháy rừng trên đảo Sumatra do người dân làm sạch đất để canh tác hồi tháng 6 đã khiến hai quốc gia láng giềng là Singapore và Malaysia rơi vào tình trạng khói mù tồi tệ nhất trong hơn một thập kỷ qua. Tình trạng ô nhiễm không khí đã làm hai quốc gia này buộc phải đóng cửa trường học, khiến các bệnh về đường hô hấp tăng cao và ảnh hưởng tới ngành công nghiệp “không khói” của cả hai nước.
Hiện Indonesia là thành viên duy nhất trong ASEAN chưa ký kết Hiệp định chống ô nhiễm khói mù xuyên biên giới được ký kết hồi năm 2002, với lý do Quốc hội nước này chưa thông qua.
Hiệp định này nhằm ngăn chặn khói xuyên biên giới từ các vụ cháy rừng bằng việc yêu cầu các bên liên quan cấm hành động đốt rừng, các nỗ lực giám sát, trao đổi thông tin và giúp đỡ các bên. Đồng thời bắt buộc các bên tham gia phải ứng phó nhanh chóng nhằm yêu cầu thông tin từ các quốc gia bị ảnh hưởng bởi khói mù, đồng thời phải thực hiện các bước tuân thủ theo các điều khoản của hiệp định. (Nhân Dân 18/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||