Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 19 tháng 05 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều 18/5, theo thông tin từ Trạm CSGT 5–1 (Nghệ An) cho biết: Đơn vị mới đây đã phát hiện bắt giữ một chiếc xe tải vận chuyển trái phép một số lượng lớn gỗ nhóm 1A (loại quý hiếm).
Theo đó, vào khoảng 16h30’ chiều ngày 17/5, trên tuyến đường tránh TP Vinh đoạn qua địa bàn huyện Nghi Lộc, Nghệ An, tổ công tác của Trạm CSGT 5 – 1 Diễn Châu, Phòng CSGT Công an tỉnh Nghệ An, phát hiện chiếc xe đầu kéo mang BKS 51C – 575.50, kéo theo container 51R – 101.92 có nhiều biểu hiện nghi vấn.
Lập tức tổ công tác ra tín hiệu dừng xe kiểm tra. Lái xe là Đặng Thanh Nhàn (trú tại phường EA Tam – TP Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc) người điều khiển chiếc xe đã xuất trình 1 hóa đơn và cho biết trên xe đang chở 30 tấn hạt tiêu.
Nghi vấn trên xe không phải chở hạt tiêu như tài xế đã khai báo, tổ công tác đã mở container kiểm tra thì phát hiện phía trong chất đầy gỗ quý hiếm. Lúc này lái xe không xuất trình được đầy đủ các giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ đang chở như: không có bảng kê khai lâm sản, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc của số gỗ trên.
Lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm đếm toàn bộ số gỗ trên xe được tổng cộng gần 30m3, đây là loại gỗ thuộc nhóm 1A. Hiện, Trạm CSGT 5 – 1, đang hoàn thiện hồ sơ để bàn giao vụ việc cho Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Nghệ An tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. (Công Lý 18/5; Nông Nghiệp Việt Nam 19/5; Tầm Nhìn 19/5) đầu trang(
Đội phát hiện 8 vụ vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép; tịch thu 5,707 m3 gỗ pơ mu và 2.000 kg rễ gốc pơ mu, xử phạt hành chính trên 127 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Từ đầu năm đến nay, thông qua công tác kiểm tra, kiểm soát, Đội Kiểm lâm Cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) đã phát hiện 8 vụ vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép; tịch thu 5,707 m3 gỗ pơ mu và 2.000 kg rễ gốc pơ mu, xử phạt hành chính trên 127 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Điển hình như vụ Trương Đức Dũng ở xã Hát Lót, huyện Mai Sơn (Sơn La) dùng xe ô tô mang biển kiểm soát 20C - 07670, mua bán, vận chuyển 2.000 kg rễ gốc pơ mu; vụ Lê Văn Thanh ở xã Đông An, huyện Văn Yên (Yên Bái) dùng xe ô tô mang biển kiểm soát 21C - 01725, mua bán, vận chuyển trái phép 1,124 m3 gỗ xẻ pơ mu.
Đội đã lập biên bản tịch thu toàn bộ số gỗ, rễ gốc pơ mu của hai đối tượng nêu trên và xử phạt hành chính mỗi đối tượng 50 triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nước. (Báo Yên Bái 18/5) đầu trang(
Rừng lim tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) được xem là khu rừng đặc dụng hiếm hoi còn sót lại giữa vùng đồng bằng tỉnh Nghệ An. Nhưng giờ đây diện tích rừng lim cổ thụ này đang co hẹp lại bởi tình trạng chặt, phá lim để canh tác trồng cây lâm nghiệp khác.
Rừng lim xã Lăng Thành có diện tích 106 ha, trải dài từ xóm 1 đến xóm 8 của xã này. Quần thể rừng lim có tuổi thọ hàng trăm năm, với nhiều cây lim lớn đường kính vài người ôm không xuể. Đây trở thành niềm tự hào và là khối tài sản vô giá của người dân xã Lăng Thành. Bởi ngoài giá trị về bảo tồn một loài gỗ quý đó còn là lịch sử, di tích văn hóa của cha ông truyền đời lại. Rừng lim này cũng là một trong những rừng lim cổ thụ hiếm hoi còn sót lại giữa vùng đồng bằng của tỉnh Nghệ An.
Chính vì tầm qua trọng và giá trị lịch sử đó nên ngày 10/01/2014 tỉnh Nghệ An đã có Quyết định số 112/QĐ-UBND do ông Đinh Viết Hồng, PCT UBND tỉnh Nghệ An ký, về việc phê duyệt Quy hoạch rừng đặc dụng gắn liền với di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan huyện Yên Thành. Trong đó, rừng lim xã Lăng Thành cũng là một trong những diện tích được phê duyệt cần được bảo vệ đặc biệt và không được phép khai thác. Tuy nhiên, một số hộ dân chặt phá rừng lim để lấy đất trồng keo, tràm.
Ngày 15/5, theo chỉ dẫn của người dân bản địa, chúng tôi có mặt tại khu vực Rú Chùa (thuộc xóm 3, xã Lăng Thành). Từ con đường nhựa lớn nhìn vào cách đó vài trăm mét có thể thấy một diện tích lớn rừng lim bị đốt. Trên diện tích đó một số lượng cây keo tràm đã được trồng bén rễ, xanh tốt. Tiếp tục leo lên ngọn đồi vượt qua sườn bên kia, người ta bắt gặp một cảnh tượng thật xót xa. Những cây lim được người dân nơi đây luôn tôn lên bằng “cụ”, bị chặt nham nhở, cành lá xơ xác.
Tiến vào gần hơn, chúng tôi phát hiện có một số gốc lim có đường kính khoảng 30cm bị cắt đến tận gốc bằng cưa máy. Xung quanh nhiều cây gỗ loại khác có đường kính từ 30 đến hơn 60cm cũng đã bị cắt tận gốc. Những gốc cây bị cắt được che đậy sơ sài bằng những cành, lá cây được chặt xuống còn thân đã được chuyển đi.
Lần theo vành đai khu rừng đặc dụng này, phát hiện nhiều diện tích rừng lim khác của xã Lăng Thành cũng bị đốt, cùng dấu tích máy xúc đào xới. Tại những diện tích này nhiều gốc cây bị xới tung lên và  số lượng lớn keo, tràm đã được trồng thay thế.
Với cách bảo vệ như thế này liệu số lim trong rừng đặc chủng xã Lăng Thành còn đủ sức tồn tại được bao lâu trước sự tàn phá? (Tiền Phong 18/5) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên ngày 18-5 cho biết, các cơ quan chức năng đã đề nghị khởi tố vụ phá 109,9 ha rừng tại tiểu khu 83 và 90, xã Phú Mỡ thuộc huyện này.
Thường trực Tỉnh ủy và UBND tỉnh Phú Yên cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng khẩn trương xác định nguyên nhân, trách nhiệm các đối tượng liên quan đến vụ phá rừng trên.
Ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân cho biết, rừng ở tiểu khu 83 và 90 do UBND xã Phú Mỡ quản lý. Tại đây, nhiều hộ dân ở xã Xuân Quang 1 và Phú Mỡ dùng cưa máy, rựa phát dọn thực bì, lấn chiếm đất rừng trái phép với tổng diện tích lên đến 109,9 ha. Trung bình mỗi ha rừng có trữ lượng hơn 18 m3 gỗ, loài cây chủ yếu là cầy, dẻ, cồng, chò đang trong thời kỳ tái sinh.
Bước đầu, các ngành chức năng đã xác định được bốn đối tượng bỏ tiền thuê người dân phát dọn rừng. “Rừng bị phá với diện tích lớn. Vụ việc có dấu hiệu của tội hủy hoại rừng theo điều 189 của Bộ Luật Hình sự”, ông Nguyễn Kim Hoàng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân nói.
Do tính chất phức tạp, Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ (PC46) vào cuộc. Tỉnh ủy Phú Yên cũng yêu cầu Cơ quan nội chính và Ủy ban kiểm tra xác định những cán bộ, đảng viên có biểu hiện sai phạm.
Sau khi kiểm tra thực tế hiện trường, đồng chí Lương Minh Sơn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phú Yên cho biết, sẽ cương quyết xử lý nghiêm và xử lý trước các cán bộ, đảng viên sai phạm để tạo niềm tin trong nhân dân. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra sớm khởi tố vụ án. Đồng thời có giải pháp khôi phục lại diện tích rừng bị phá. (Nhân Dân 18/5) đầu trang(
Ngày 04/5/2016, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 915/QĐ-UBND phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng 02 trạm kiểm kiểm lâm tại hai đầu tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn qua vùng lõi của Vườn Quốc gia Bạch Mã, gồm: 01 trạm kiểm lâm tại ranh giới phía Bắc (tại khoảng km11+500 Tỉnh lộ 14C) và 01 trạm kiểm lâm tại ranh giới phía Nam (khoảng km23+500 Tỉnh lộ 14C).
Chủ đầu tư là Vườn Quốc gia Bạch Mã. Diện tích đất sử dụng để đầu tư xây dựng 1.000 m2/01Trạm. Mục tiêu của dự án quản lý bảo vệ rừng, quan trắc biến đổi đa dạng sinh học, đánh giá tác động môi trường tại khu vực bị ảnh hưởng trong quá trình xây dựng và vận hành đường Hồ Chí Minh. (Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Yỉnh Thừa Thiên – Huế 17/5) đầu trang(
Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, ngành kiểm lâm Thừa Thiên Huế đã có sự chuyển mình đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội chung của tỉnh.
Những cánh rừng xanh thẳm từ vùng đồi đến miền núi cao hôm nay, một thời in hằn dấu chân của những người lính mang lâm hàm xanh. Dải đất “nắng lửa mưa dầu” Bình Trị Thiên ngày ấy (40 năm trước) và cả bây giờ vốn khắc nghiệt như muốn thử thách ý chí của những người lính kiểm lâm. Từ những vụ cháy rừng ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hay dịch bệnh gây hại đến nạn phá rừng… họ đều có mặt, xung trận.
Nguồn lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) một thời rất thiếu thốn, nếu không có ý chí quyết tâm cao và tâm huyết với nghề, khó có thể trụ vững. Lực lượng kiểm lâm hồi trước chỉ có dưới 100 người, vài người có trình độ đại học, 15% có trình độ trung cấp, phần còn lại hơn 70% cán bộ chưa qua bất cứ trường lớp nào.
Trong khi đó, nhiệm vụ phải bảo vệ một diện tích rừng gần 300 ngàn ha, đảm đương thêm các nhiệm vụ khác về phát triển rừng, giao đất giao rừng, định canh định cư, quản lý nương rẫy, phòng chống cháy rừng, phòng chống sâu bệnh hại rừng…
Vượt qua khó khăn, lực lượng kiểm lâm từng bước được kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Nhiệm vụ đào tạo, tự đào tạo được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh việc tiếp nhận các kỹ sư mới ra trường, ngành kiểm lâm quy hoạch và cử đi đào tạo nhiều lượt cán bộ dưới nhiều hình thức khác nhau, cả chính quy và không chính quy, trung cấp, đại học và trên đại học tại các học viện, trường đại học ở nước ngoài.
Ông Nguyễn Đại Anh Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh khẳng định, đến nay nguồn nhân lực của ngành kiểm lâm Thừa Thiên Huế được đánh giá có chất lượng, đủ sức hoạt động không chỉ trong lĩnh vực QLBVR, mà còn vươn ra các lĩnh vực khác, như quản lý môi trường, quản lý đa dạng sinh học… Nhiều cán bộ được các tổ chức phi chính phủ đánh giá cao, mời làm tư vấn kỹ thuật cho các dự án trong và ngoài tỉnh. Một số cán bộ được mời tham gia các hội thảo khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.
Sự hỗ trợ của các Chương trình, dự án như PAM, Chương trình 327, 661, JBIC, JICA, WB3 thời gian qua góp phần tăng diện tích rừng trồng, khởi nguồn cho sự phát triển lâm nghiệp của địa phương. Trồng rừng kinh tế trở thành một nghề mới, tạo nhiều công ăn việc làm, có thu nhập ổn định từ nghề rừng, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn miền núi, vùng gò đồi. Nếu như những năm sau giải phóng, tỷ lệ độ che phủ rừng hàng năm bị giảm, như năm 1999 chỉ có 42,8% thì nay đạt 56,63%. Thừa Thiên Huế là một trong số ít các địa phương có độ che phủ rừng cao và ổn định trong cả nước.
Cán bộ kiểm lâm phát hiện loài gà lôi lam mào trắng tại khu vực rừng xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền vào năm 1996 đã gây tiếng vang lớn tại các hội thảo quốc tế về các loài chim trĩ đặc hữu trên thế giới. Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền và Khu bảo tồn Sao la tại A Lưới là kết quả đáng được ghi nhận.
Ngành kiểm lâm duy trì hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu các loài động vật hoang dã quý hiếm như sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, các loài linh trưởng, cũng như tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý, bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên.
Việc tiếp cận và áp dụng phương thức bảo tồn cảnh quan, bảo tồn thiên nhiên có hiệu quả, từng bước cải thiện sinh kế địa phương, góp phần làm tăng khả năng tham gia của các nhóm cộng đồng trong hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên.
Lực lượng kiểm lâm đặt mục tiêu bảo vệ chặt chẽ, an toàn các diện tích rừng tự nhiên, chú trọng đến các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu, rừng tự nhiên trọng điểm có giá trị đa dạng sinh học cao.
Ngoài việc thường xuyên truy quét, củng cố mạng lưới tuần tra, kiểm soát lâm sản, thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, lực lượng kiểm lâm còn phối hợp chặt chẽ với các địa phương nắm rõ các đối tượng, vận động, thuyết phục đi đôi với các hoạt động hỗ trợ thông qua các dự án tài trợ, cải thiện sinh kế cho các hộ nghèo, hạn chế nạn vào rừng chặt cây, săn bẫy, đào vàng…
Số vụ vi phạm ngày càng giảm dần, nếu như năm 2000 có 1.537 vụ vi phạm thì đến năm 2008 giảm còn 1.214 vụ và năm 2015 chỉ còn 640 vụ. Mạng lưới QLBVR được tổ chức rộng khắp cả tỉnh, có thể quản lý tốt nạn cháy rừng, các vụ cháy rừng đều được dập tắt kịp thời, không để cháy trên diện rộng.
Công tác giao rừng cho cộng đồng quản lý được đẩy mạnh. Toàn tỉnh có hơn 31.626 ha rừng tự nhiên đã giao cho 157 hộ gia đình, 88 nhóm cộng đồng và 225 nhóm hộ quản lý, sử dụng. Các chủ rừng canh tác, sản xuất dưới tán rừng, cải thiện thu nhập, lấy ngắn nuôi dài, gắn trách nhiệm trong công tác QLBVR.
Trước đây, nhiều người dân chuyên sống dựa vào rừng, từ khai thác gỗ, củi, săn bẫy, đào vàng trái phép, nay tất cả đều có việc làm, thu nhập khá nhờ cây cao su, keo và các sản phẩm canh tác khác, họ không vào rừng khai thác trái phép…
Giờ đây những cánh rừng xanh dọc theo Hải Vân, núi Bạch Mã, ngược lên Nam Đông, A So, A Lưới, theo đường Hồ Chí Minh nối với Phong Điền liền dải… có vai trò lớn về phòng hộ, bảo vệ môi trường và các giá trị kinh tế cho địa phương. Đó là kết quả từ sự nỗ lực của ngành kiểm lâm trong QLBV và phát triển tài nguyên rừng trong suốt 40 năm qua. (Báo Thừa Thiên – Huế 18/5) đầu trang(
Sáng 18/5, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập lực lượng Kiểm lâm Việt Nam (21/5/1973 – 21/5/2016) và 40 năm ngày thành lập lực lượng Kiểm lâm Thừa Thiên Huế (1976 - 2016).
Tại buổi lễ, ông Nguyễn Văn Phương, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh ghi nhận đóng góp của lực lượng kiểm lâm toàn tỉnh trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội tỉnh. Dịp này, ngành kiểm lâm tỉnh được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen và đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen cho toàn lực lượng. (Báo Thừa Thiên – Huế 18/5) đầu trang(
Ngày 18-5, đại diện các ngành lâm nghiệp, nông nghiệp, các rừng quốc gia, khu bảo tồn tại khu vực miền trung – Tây Nguyên, các nhà khoa học, chuyên gia và các tổ chức quốc tế đã cùng trao đổi để tìm ra những giải pháp kịp thời, đúng đắn trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học khu vực miền trung – Tây Nguyên (Việt Nam).
Theo quy hoạch đến năm 2020, Việt Nam sẽ có hơn 2,4 triệu ha rừng đặc dụng. Trong đó, có 176 các khu rừng đặc dụng (khu bảo tồn rừng). Thế giới đã có đánh giá và ghi nhận về sự đa dạng sinh học của Việt Nam. Việt Nam cũng đã có nhiều chính sách nhằm hạn chế việc khai thác tài nguyên; buôn bán, săn bắn các loài động vật hoang dã.
Tuy nhiên đến nay, tình trạng đó vẫn đang diễn ra, trở thành mối đe dọa đến các khu bảo tồn và các loài nguy cấp, quý hiếm, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng rất cao. Theo số liệu thống kê của Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Tổng cục Lâm nghiệp), Việt Nam hiện nay không còn tê giác; các loài sao la, hổ, voi cũng còn rất ít. Việc thay đổi mục đích sử dụng đất, mặt nước; ô nhiễm môi trường; biến đổi khí hậu… cũng đã gây ảnh hưởng nặng nề đến sinh cảnh sống của các loài động vật hoang dã.
Các đại biểu tham dự đã cùng chia sẻ những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn thiên nhiên như: Bảo tồn các loài linh trưởng quý hiếm của Việt Nam tại Vườn Quốc gia Cúc Phương. Chương trình Bảo tồn loài voọc mông trắng tại khu bảo tồn Vân Long (Ninh Bình). Những nỗ lực của khu bảo tồn sao la trong việc thực hiện các hoạt động từ dự án “NGO” (các tổ chức phi chính phủ) với nhiều kết quả: mô hình đội tuần tra bảo vệ rừng, điều tra và giám sát đa dạng sinh học, nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ thực thi pháp luật tại các điểm nóng…
Qua đó, tạo điều kiện cho các cơ quan ban ngành của địa phương và các tổ chức phi chính phủ quốc tế tìm hiểu và xúc tiến các mối quan hệ hợp tác trong tương lai; cùng với Tổng cục Lâm nghiệp để kết nối, điều phối và xây dựng chính sách về bảo tồn thiên nhiên.
Chương trình thuộc Hội thảo tăng cường phối hợp trong công tác bảo tồn thiên nhiên tại khu vực miền trung – Tây Nguyên do Tổng cục Lâm nghiệp và Hội Động vật học Frankfurt tổ chức. (Nhân Dân 18/5) đầu trang(
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa hướng dẫn tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm 2016 theo chủ đề “Bảo tồn đa dạng sinh học để ổn định cuộc sống và sinh kế cộng đồng”.
Để hưởng ứng ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, các địa phương phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tổ chức tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân, đặc biệt là giới trẻ, các doanh nghiệp biết được tầm quan trọng về giá trị, vai trò của đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, tuyên truyền thực hiện quy định của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học; huy động cộng đồng cùng tham gia vào các hoạt động bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học.
Đồng thời, tổ chức phát động các phong trào như: bảo vệ môi trường; sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên; trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh; bảo vệ nguồn nước; lồng ghép các hoạt động thúc đẩy việc thực hiện các mô hình bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng.
Các cơ quan, đơn vị tiến hành các hoạt động truyền thông, mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế đa dạng sinh học; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, triển lãm, xây dựng phim, phóng sự với chủ đề về đa dạng sinh học và phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn đa dạng sinh học gắn với sinh kế cộng đồng…
Đa dạng sinh học là nền tảng cho cuộc sống và cho các dịch vụ thiết yếu được cung cấp bởi các hệ sinh thái. Đa dạng sinh học cũng là nền tảng cho sinh kế của người dân và phát triển bền vững trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, bao gồm các lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và du lịch, và các lĩnh vực khác. Bằng cách ngăn chặn sự mất mát đa dạng sinh học chúng ta đầu tư vào con người, cuộc sống và sự thịnh vượng của loài người.
Sản xuất lương thực phụ thuộc vào đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái. Hàng nghìn các giống cây trồng và giống vật nuôi được phát hiện từ các nguồn gen phong phú của các loài trong tự nhiên. Đa dạng sinh học cũng là cơ sở cho sự phì nhiêu của đất, sự thụ phấn, kiểm soát dịch hại và tất cả các vấn đề quan trọng khác đối với sản xuất lương thực của thế giới.
Đa dạng sinh học và các chức năng sinh thái cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho y tế - bao gồm cả các chất dinh dưỡng, làm sạch không khí, nước và điều tiết dịch bệnh… (Chính Phủ 18/5) đầu trang(
Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cơ quan thường trực thực thi pháp luật về kiểm soát buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã Việt Nam (Việt Nam – WEN) vừa có văn bản yêu cầu Tổng cục Hải quan tăng cường đấu tranh ngăn chặn buôn bán mẫu vật CITES xuyên biên giới.
Theo đó, Tổng cục Lâm nghiệp đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo Chi cục Hải quan các tỉnh tăng cường kiếm soát các hoạt động xuất nhập khẩu các loài động thực vật để kịp thời và xử lý nhằm ngăn chặn, bắt giữ các vụ buôn bán về động thực vật hoang dã, đặc biệt đối với các loài: Gỗ trắc có tên thương mại là Rosewood, tên khoa học là Dalbergia cochinchinensis; Gỗ Dái ngựa có tên thương mại là Mahogany, trong đó có 03 loài thuộc Phụ lục II CITES (Swietenia humilis, s.macrophylla và s.mahagoni); Sâm Mỹ có tên thương mại là American ginsene, tên khoa học là Panax quinquefolius.
Đề nghị trên của Tổng cục Lâm nghiệp nhằm thực hiện chỉ đạo của Trưởng Ban chỉ đạo liên ngành các cơ quan thực thi pháp luật về kiểm soát buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã (Việt Nam - WEN) qua kết quả trao đổi thông tin tại cuộc họp đối thoại khu vực lần thứ 2 về đấu tranh ngăn chặn khai thác và buôn bán gỗ trắc.
Ban Chỉ đạo Việt Nam - WEN thành lập từ năm 2010, gồm Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp), Vụ Bảo tồn và Phát triển nguồn lợi thủy sản (Tổng cục Thủy sản), Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Cục An ninh nông nghiệp nông thôn, Cục Đối ngoại (Bộ Công an), Cục Phòng chống tội phạm ma túy (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), Cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương).
Ban Chỉ đạo Việt Nam - WEN thể hiện nỗ lực và quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong đấu tranh với tội phạm buôn bán động vật hoang dã. Thông qua việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên ngành, hoạt động kiểm soát  tình hình buôn bán động vật, thực vật hoang dã ngày càng có hiệu quả và nhận được sự tham gia, hưởng ứng nhiệt tình, gắn kết giữa các cơ quan thực thi pháp luật. (Cục Hải Quan TP.HCM 17/5) đầu trang(
Theo tin từ Cục Hải quan Nghệ An, Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn vừa chủ trì, phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn bắt giữ 2 vụ vận chuyển động vật hoang dã và gỗ không có giấy tờ.
Theo đó, vào hồi 10 giờ ngày 16-5, tại khu vực kiểm soát Nhà liên hợp cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn, trong quá trình kiểm tra, kiểm soát, Tổ Công tác đã phát hiện trong hành lý của ông Nguyễn Văn D., trú tại xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An có chứa 10 cá thể rùa và 2 cái thể tê tê sống, với tổng trọng lượng 7,5 kg.
Ông Nguyễn Văn D. khai nhận mua số hàng trên từ Lào mang về Việt Nam bán kiếm lời. Cùng ngày, Tổ Công tác đã kiểm tra và phát hiện thêm trên xe BKS UR 6868 do ông Nguyên Văn C., trú tại xã Tây Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An chở 4 m3 gỗ dổi xẻ gồm 304 thanh, tấm mua từ Lào về Việt Nam.
Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn đã lập biên bản vi phạm và tạm giữ toàn bộ tang vật vi phạm để tiến hành xử lý theo quy định đối với 2 vụ việc trên. (Hải Quan 18/5) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thời gian qua, dư luận tại huyện Lạc Dương và TP.Đà Lạt “râm ran” về việc một gia đình cán bộ cấp cao của tỉnh cất biệt thự có dấu hiệu xâm hại tài nguyên rừng, cần phải được xem xét xử lý (?)
Theo nguồn tin của PV Báo Người Tiêu Dùng, khu đất xây cất biệt thự được cho là của ông Nguyễn Đức Thịnh, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy (nhiệm kỳ 2011-2016), Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Lâm Đồng (mới nghỉ hưu) tại xã Đa Sar, huyện Lạc Dương vốn là một vườn cà phê “tọa lạc” trên đỉnh một quả đồi thông thuộc thôn Đa Đum, sát bên tỉnh lộ 723 (nối 2 đô thị du lịch nổi tiếng Đà Lạt - Nha Trang), cách trung tâm thành phố hoa chưa đầy 10 Km.
Theo các cán bộ có trách nhiệm của UBND huyện Lạc Dương, khoảng tháng 8 - 9/2015 (khi ấy ông Thịnh còn đương chức), cơ quan chức năng sở tại đã kiểm tra lập biên bản đối với bà Vàng (vợ ông Thịnh) do có hành vi xây cất, tác động đến tài nguyên rừng tại khu vực này. Bởi, vào thời điểm đó, gia đình vị cán bộ đứng đầu lĩnh vực bố trí, sắp xếp nhân sự của tỉnh đang thi công phần móng công trình nhà ở kiên cố trên diện tích canh tác cà phê, đồng thời ủi đường trong lâm phần thông ba lá...
“Bà Vàng chỉ có đơn xin dựng một nhà để chứa phân bón, dụng cụ sản xuất... phục vụ canh tác nông nghiệp. Do đó, chúng tôi đã lập biên bản.” - một cán bộ UBND huyện Lạc Dương nói! Khi PV đưa ra tấm hình chụp “nguyên con” căn biệt thự thì vị cán bộ này cho biết: Sau khi lập biên bản, “chúng tôi đã giao cho xã theo dõi, giám sát” nên sẽ “kiểm tra lại” (!).
Tương tự, trước đó gia đình ông Thịnh cũng đã dùng xe chuyên dụng ủi đường ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, “nên thanh tra huyện đã kiểm tra ra kết luận từ giữa năm 2015 và chúng tôi yêu cầu gia đình phải móc đất, trả lại nguyên trạng.” - một cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương khẳng định!
Được biết, vợ chồng vị nguyên Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy cũng đã bị người dân địa phương viết đơn cáo giác, do hành vi bạt taluy mở đường khiến đất đá trôi xuống vườn tược dưới chân núi của họ (?) (Người Tiêu Dùng 18/5) đầu trang(
Công ty CP lâm nghiệp Tháng Năm vừa ban hành chính sách thu mua gỗ, trồng rừng trên vùng đất quy hoạch nguyên liệu phục vụ Nhà máy chế biến gỗ MDF.
Với sự ưu việt của các cơ chế chính sách bao gồm chính sách đầu tư ban đầu, hỗ trợ thu mua, phương thức thanh toán... đã mở ra cơ hội mới cho nông dân vùng miền Tây yên tâm phát triển kinh tế và làm giàu từ rừng.
Nhà máy gỗ MDF Nghệ An thuộc Công ty CP lâm nghiệp Tháng Năm đóng chân tại KCN Nghĩa Đàn đến thời điểm này đã chính thức vận hành dây chuyền gỗ ván ghép thanh và đang chạy thử nghiệm, dự kiến đến tháng 6/2016 sẽ chính thức vận hành dây chuyền MDF.
Với công suất khi đi vào vận hành hoạt động chính thức giai đoạn I: gồm 2 dây chuyền sản xuất gỗ thanh công suất 12.000 m3/năm và gỗ MDF công suất 130.000 m3/năm, thì lượng gỗ nguyên liệu phục vụ cho việc chế biến tại nhà máy là rất lớn. Do vậy, để chủ động phục vụ nguồn nguyên liệu cho nhà máy, Công ty CP lâm nghiệp Tháng Năm đã ban hành CV số 90- CV/2016/MF JSC về việc tổ chức và chính sách thu mua gỗ, trồng rừng phục vụ nguyên liệu.
Theo đó, chính sách thu mua được áp dụng theo thị trường, minh bạch giá thu mua nguyên liệu theo tiêu chuẩn tại cổng nhà máy. Công ty hỗ trợ giá thu mua theo cự ly từ cổng nhà máy đến hộ trồng theo các mức như sau: từ 80 - 120 km được bù giá 3% giá thu mua và trên 120 km bù giá 5% giá thu mua.
Đối với cơ chế thanh toán, công ty cam kết thanh toán qua tài khoản của khách hàng với thời gian không quá 10 tiếng và thanh toán bằng tiền mặt (nếu khách hàng không có tài khoản) thì thời gian không quá 1 ngày kể từ thời điểm nhập gỗ. Ngoài cơ chế thu mua linh hoạt, ưu đãi có lợi cho khách hàng thì Công ty CP lâm nghiệp Tháng Năm đầu tư cho hộ trồng rừng ứng trước các khoản tiền giống, phân bón, thuốc diệt mối không tính lãi suất cho đến khi thu hoạch với cam kết các chủ rừng bán toàn bộ sản phẩm đầu tư cho nhà máy.
Ông Nguyễn Công Vĩnh - Tổng Giám đốc Công ty CP lâm nghiệp Tháng Năm chia sẻ: Phương châm của công ty là gắn bó chặt chẽ, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và các hộ dân, các đơn vị trồng rừng.
Với công nghệ vượt trội của nhà máy, chúng tôi muốn đem sản phẩm từ rừng miền Tây Nghệ An ra thị trường thế giới tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu cao cho tỉnh và từ đó để có điều kiện đầu tư trở lại vùng nguyên liệu cũng như những chính sách thu mua có lợi hơn cho bà con trồng rừng.  (Báo Nghệ An 18/5) đầu trang(
Hơn chục năm trở lại đây bà con dân tộc Dao ở thôn Khe Lắc, xã Nông Thịnh (Chợ Mới) đã biết phát huy lợi thế đất đồi để trồng rừng nên cuộc sống có đổi thay tích cực, nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ trồng rừng kinh tế.
Thôn Khe Lắc có 62 hộ, với hơn 80% là đồng bào dân tộc Dao. Từ một thôn định cư khó khăn đến nay Khe Lắc đã trở thành thôn đi đầu trong phát triển kinh tế của xã. Dọc theo con đường bê tông bằng phẳng, khang trang dẫn vào thôn là những ngôi nhà cao tầng mọc lên san sát. Ông Hoàng Hữu Báu, Trưởng thôn Khe Lắc cho hay: Những ngày đầu về vùng đất này định canh định cư cuộc sống của người dân rất khó khăn, đất ruộng cấy lúa ít, chủ yếu là đồi núi bao quanh vì vậy những năm đó tỷ lệ hộ nghèo đói của thôn cao.
Khi Nhà nước có chính sách giao đất, giao rừng cho từng hộ dân thì các gia đình mới nhận đất để trồng rừng theo Dự án Pam, 5322. Tuy nhiên thời kỳ đó giá trị kinh tế từ trồng rừng thấp nên bà con không mấy mặn mà.
Sau nhiều năm tuyên truyền, vận động nhận thức của người dân mới thay đổi đáng kể, hơn nữa do những diện tích trồng rừng từ hơn chục năm về trước đã cho khai thác, các hộ có thêm thu nhập nên đã chú trọng tới phát triển trồng rừng. Phải đến năm 2011 khi thực hiện trồng rừng theo Chương trình 147 của Chính phủ thì phong trào trồng rừng ở Khe Lắc mới phát triển mạnh mẽ.
Vừa nói ông Báu vừa dẫn tôi đi xem đồi cây keo tầm 5 đến 6 năm tuổi, đang phát triển xanh tốt. Chỉ tay lên rừng keo trước mặt ông bảo, ngoài trồng rừng theo dự án của Nhà nước, bà con ở Khe Lắc còn chủ động bỏ vốn mua cây giống về trồng và làm rất tốt. Đơn cử, năm 2014 cả thôn trồng được 70,6ha rừng, thì có 36ha là nhân dân tự mua giống về trồng, năm 2015 trồng được 30ha.
Đến nay ở thôn không có đồi núi trọc mà được thay thế bởi những đồi keo xanh ngút tầm mắt. Rừng nào gần đến tuổi cho khai thác các cơ sở đến đặt cọc trước để khai thác trắng, khai thác xong bà con lại trồng rừng mới bổ sung chứ không để cho “đất nghỉ”.
Với những diện tích rừng trồng năm thứ nhất, thứ hai bà con đã chủ động xen canh với các loại cây ngắn ngày như gừng và sắn. Cách làm “lấy ngắn nuôi dài” này đã mang lại hiệu quả kinh tế gấp đôi, bởi trong thời gian chờ cây rừng đến tuổi cho khai thác thì người dân lại có thu nhập từ cây gừng. Vào vụ thu hoạch, có hộ thu được 3 đến 4 tấn gừng, giá bán từ 10.000đ đến 20.000đ/kg đã đem lại thu nhập hàng chục triệu đồng. Giờ đây ở Khe Lắc, nhà nhiều thì có 5 đến 7ha, nhà ít thì 2 đến 3 ha rừng, cứ như vậy phong trào trồng rừng được nhen lên rầm rộ.
Theo người dân ở đây, đầu ra cho gỗ rừng trồng rất thuận lợi, trên địa bàn huyện có nhà máy và nhiều cơ sở chế biến gỗ, vì vậy khai thác đến đâu người dân bán hết đến đó, các cơ sở đến tận nơi thu mua. Ông Đặng Nguyên Thìn là một trong những hộ có diện tích rừng lớn nhất ở thôn khoảng 12ha, chủ yếu trồng cây keo. Bởi theo ông cây keo thích hợp với thổ nhưỡng vùng này hơn cây mỡ, nên sinh trưởng tốt, diện tích nào đến tuổi khai thác gia đình ông thu về từ 60 đến 70 triệu đồng, khai thác trắng xong ông lại bắt tay vào trồng mới.
Ở Khe Lắc còn nhiều gia đình như hộ ông Ngô Triều Vượng, Ngô Trung Kim cũng sở hữu khoảng 5 đến 7ha rừng, có thời điểm các hộ trồng cây quế, bán cả cây và vỏ, thu về hàng trăm triệu đồng, không những xây dựng nhà cửa khang trang mà còn mở thêm dịch vụ buôn bán. Nhờ trồng rừng kinh tế mà mấy năm trở lại đây đời sống của người Dao ở Khe Lắc ngày càng đổi thay rõ rệt. Những ngôi nhà cao tầng xuất hiện ngày càng nhiều, gia đình nào cũng có tiện nghi sinh hoạt thiết yếu, toàn thôn chỉ còn 3 hộ nghèo, không có hộ cận nghèo.
Đồng chí Lý Văn Thuyết, Chủ tịch UBND xã Nông Thịnh cho biết: Nhờ phát triển trồng rừng kinh tế mà đời sống của nhân dân các dân tộc Dao ở Khe Lắc được nâng cao, trở thành thôn điển hình trên địa bàn xã. Hiện nay Khe Lắc đã đạt chuẩn tiêu chí nhà ở kiên cố hóa, đường giao thông nông thôn và tỷ lệ hộ nghèo.
Thời gian tới chính quyền địa phương sẽ tiếp tục vận động người dân vừa bảo vệ tốt diện tích rừng trồng trước đó và thực hiện trồng rừng mới đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, góp phần nâng cao độ che phủ của rừng và tăng thu nhập cho nông dân. (Báo Bắc Kạn 18/5) đầu trang(
Xã Nậm Pì (huyện Nậm Nhùn) có tổng diện tích tự nhiên 7.347,29ha, diện tích có rừng chiếm 1.115ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 18% (năm 2015), tăng 10% so với năm trước. tuy nhiên tỷ lệ này còn thấp so với các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Hiện nay, xã tích cực thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ và phát triển rừng.
Đến xã Nậm Pì những ngày đầu mùa hè, đi qua những quả đồi, dãy núi chỉ có cỏ dại, cây bụi khiến không gian càng thêm oi bức. Chúng tôi đem thắc mắc tại sao những cánh rừng chưa được phủ xanh hỏi anh Lò Văn Kỷ - Phó Chủ tịch UBND xã Nậm Pì và được biết: “Là xã khó khăn nhất trong huyện với 78,3% hộ nghèo, cuộc sống người dân còn vất vả. Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân chủ yếu lên rừng đốn củi, làm nương gây ảnh hưởng đến diện tích rừng. Trong khi đó, công tác trồng rừng, cải tạo đất hoang còn chậm, nhiều nơi rừng không phát triển gây ra thiên tai, ảnh hưởng đến đời sống bà con. Chính quyền xã đã tăng cường công tác tuyên truyền, xử phạt những trường hợp vi phạm; tham mưu, đề xuất lên cấp trên về công tác bảo vệ rừng, trồng rừng mới”.
Tỷ lệ che phủ rừng ở xã thấp, nguyên nhân đầu tiên là do tình trạng đất pha cát ít màu mỡ cộng thêm ý thức bảo vệ rừng chưa cao của người dân. Nậm Pì có 480 hộ với 9 bản, chủ yếu là người dân tộc Mảng, Mông. Để phát triển rừng, ngoài vận động bà con khai hoang, cải tạo đất, việc nâng cao ý thức của người dân, nhất là ở các bản như: Pá Đởm, Nậm Sập, Pá Sập, Ma Sang được xã đặc biệt chú trọng.
Cán bộ xã đến từng bản, từng nhà vận động bà con tham gia trồng và bảo vệ rừng, không nên phá rừng, đốt nương, vì có rừng là có nguồn lâm sinh phong phú, đa dạng. Qua tuyên truyền, nhận thức người dân được nâng lên, tình trạng phá rừng, cháy rừng giảm hẳn.
Anh Pàn Văn Hiệp ở bản Pá Đởm cho biết: “Ngày xưa dân bản mình hay phá rừng, đốt nương, chặt gỗ làm nhà. Khi cán bộ xã tuyên truyền, được nhà nước chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân trong bản không còn phá rừng nữa, nhà nào cũng tham gia trồng và bảo vệ rừng”.
Ngoài vận động bà con tham gia trồng rừng, ở mỗi bản thành lập tổ đội xung kích, mỗi tổ đội từ 10 - 15 người có nhiệm vụ thường xuyên tuần tra 24/24 giờ tại những nơi có nguy cơ xảy ra cháy cao nhất vào mùa khô; hướng dẫn bà con đốt nương đúng quy định, khi làm nương phải thông báo cho chính quyền xã hoặc tổ đội xung kích. Bên cạnh đó phối hợp với lực lượng kiểm lâm huyện trong công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân. Từ năm 2013 đến nay, chỉ xảy ra 1 vụ cháy 7.000m2 thảm thực vật.
Nậm Vời là bản làm tốt trong công tác bảo vệ, phát triển rừng với 186,2ha rừng, thời gian qua không để xảy ra vụ cháy nào. Ông Lò Văn Điện - Trưởng bản Nậm Vời cho biết: “Là bản người Mảng với 23 hộ, 80 nhân khẩu. Được sự tuyên truyền, nhận thức của người dân được nâng lên, bản thành lập tổ đội xung kích với 12 thành viên và được cấp các vật dụng như: đèn, giày, áo, mũ thường xuyên tuần tra và nhắc nhở bà con mỗi khi làm nương. Bản cũng đưa công tác bảo vệ rừng vào quy ước, hương ước để bình xét mỗi khi họp bản”.
Thời gian tới, xã Nậm Pì tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến người dân; vận động bà con trồng rừng thay thế, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm, phấn đấu hết năm 2016 tăng tỷ lệ che phủ rừng lên 25%. (Báo Lai Châu 18/5) đầu trang(
Nhân kỷ niệm 126 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh  và 57 năm ngày Bác Hồ phát động phong trào trồng cây, sáng 18-5, tại Căn cứ 696, huyện Nhơn Trạch đã diễn ra Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và phong trào trồng rừng của tỉnh năm 2016.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh đã kêu gọi các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cùng toàn thể tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện trồng cây gây rừng, bảo vệ rừng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ biến đổi khí hậu, tạo bóng mát, cảnh quan xanh – sạch – đẹp và tạo thêm nguồn nhiên liệu lâm sản phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Sau lễ phát động, đông đảo các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các bộ, công nhân viên chức và các chiến sĩ đã tham gia trồng 600 cây dầu tại khu vực vành đai căn cứ 696 (rộng 1,5 hécta). (Báo Đồng Nai 18/5) đầu trang(
Đó là chủ đề hội thảo do chương trình hợp tác của Liên Hợp quốc về “Giảm thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và tăng cường trữ lượng các bon rừng  (UN-REDD) Việt Nam giai đoạn II” tỉnh Hà Tĩnh tổ chức vào chiều 18/5.
Khoanh nuôi tái sinh rừng là quá trình lợi dụng triệt để khả năng tái sinh tự nhiên với sự can thiệp hợp lý của con người nhằm thúc đẩy quá trình tái tạo thông qua các biện pháp kỹ thuật lâm sinh bảo đảm sự tồn tại của rừng và có xu hướng mở rộng diện tích rừng, cung cấp nguồn gỗ ổn định, giảm giá thành đầu tư cho trồng rừng và phát huy chức năng phòng hộ.
Đây là giải pháp quan trọng nhằm phục hồi rừng trên những diện tích có rừng và diện tích đất rừng sau khai thác với các phương thức khoanh nuôi tái sinh rừng khác nhau, đó là khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh rừng phối hợp và xúc tiến khoanh nuôi tái sinh rừng.
Các đại biểu tham dự Hội thảo ở Trung ương, ở tỉnh và các địa phương triển khai dự án đã thảo luận các nội dung, thống nhất kế hoạch triển khai và đề xuất giải pháp để chương trình có hiệu quả cao nhất.
Sáng cùng ngày, Hội thảo quan lâm sản ngoài gỗ cũng được Chương trình (UN-REDD) tỉnh Hà Tĩnh tổ chức nhằm đánh giá vai trò của lâm sản ngoài gỗ trong xóa đói, giảm nghèo tạo sinh kế cho người dân nghèo ở vùng nông thôn Hà Tĩnh. (Kinh Tế Nông Thôn 18/5) đầu trang(
HTX Ngàn Hoa nằm ở tổ 1, thị trấn Vị Xuyên, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Đây là một trong những điểm sáng của phong trào trồng rừng sản xuất, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Hà Giang.
HTX Ngàn Hoa được thành lập tháng 9/2011 nhằm sử dụng, khai thác hiệu quả tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, đáp ứng yêu cầu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, tạo nguồn nguyên liệu tập trung cho các nhà máy sản xuất giấy, chế biến gỗ tiêu dùng dược.
Riêng năm 2015, HTX Ngàn Hoa đã triển khai trồng mới 600 ha rừng sản xuất, trồng 150 vạn cây như: cây keo, cây quế, mỡ, bồ đề. HTX tiến hành trồng ba đợt cây giống. Số cây giống do HTX trồng không những bảo đảm nguồn cây giống cho chính HTX mà còn cung cấp nguồn cây giống cho các xã phía Đông của huyện Vị Xuyên.
Đây là mô hình điển hình tiên tiến của phong trào kinh tế tập thể, hoạt động có hiệu quả góp phần không nhỏ về giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Hiện nay, HTX bảo đảm việc làm cho 14 lao động thường xuyên với mức thu nhập từ 3,5 - 5 triệu đồng/tháng và 60 - 85 lao động theo mùa vụ với mức thu nhập 3,5 triệu đồng/người/tháng.
Vào một số thời điểm, HTX Ngàn Hoa đã sử dụng trên 150 lao động là người địa phương trong 2 - 3 tháng liên tục.
Mặc dù đa số công việc của những người lao động mang tính chất phổ thông, song HTX cũng rất quan tâm đến họ trong việc cung cấp trang thiết bị bảo hộ lao động để phòng tránh tai nạn lao động, kịp thời động viên, khuyến khích người lao động để họ gắn bó làm ăn lâu dài với HTX.
Ông Hoàng Đức Hải, Chủ nhiệm HTX Ngàn Hoa, cho biết: “Đầu tư chuyên sâu vào trồng rừng sản xuất, bảo vệ và phát triển rừng là hướng đi của HTX. Để đẩy mạnh việc trồng cây gây rừng, HTX đã đầu tư 17 tỷ đồng để mua sắm máy móc, thiết bị; xây dựng cơ sở vật chất, trồng, chăm sóc và quản lý rừng.
HTX đang kết hợp với một số đơn vị đầu tư trồng cây dược liệu, thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài để tiếp tục đầu tư mở rộng việc trồng rừng. HTX còn phát triển được hai cơ sở ươm cây giống, với hơn 80 vạn cây để phục vụ cho việc phát triển diện tích rừng sản xuất.
Quy mô vườn ươm của HTX tương đối lớn, có hai nhà lưới kiên cố che, chắn với hệ thống bơm nước hoàn toàn tự động để thuận tiện cho việc chăm sóc cây trồng ở đây. Việc trồng cây trong vườn ươm luôn luôn tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh việc phát triển sản xuất kinh doanh, HTX còn tích cực tuyên truyền cho người dân Vị Xuyên nâng cao ý thức bảo vệ, cũng như kiến thức sự hiểu biết về giá trị từ kinh tế do rừng mang đến cho họ, từ đó, vận động bà con cùng tham gia giữ gìn thiên nhiên, không thả rông gia súc phá hoại cây trồng, đồng thời, hưởng ứng phong trào phủ xanh đất trống, đồi núi trọc của tỉnh Hà Giang.
Được biết, hiện nay, HTX Ngàn Hoa có 3.200 ha rừng, trong đó có 2.000 ha rừng phòng hộ, 800 ha rừng sản xuất còn lại là rừng liên doanh với nhân dân.
HTX đã phối hợp cùng với các đơn vị kinh doanh sản xuất khác, góp phần phát triển tiềm năng kinh tế lâm nghiệp của huyện Vị Xuyên nói riêng và của tỉnh miền núi Hà Giang nói chung. (Thời Báo Kinh Doanh 18/5) đầu trang(
Ở ông hội tụ phẩm chất của một công chức ngành Giáo dục, một nông dân, một giám đốc doanh nghiệp trồng rừng với tình yêu thiên nhiên tha thiết, một nghệ sỹ có năng lực sáng tác thơ và ca khúc âm hưởng trữ tình.
Ông là một hiện tượng lạ mà bình dị. Cái lạ và bình dị của một người trồng rừng có tâm hồn nghệ sỹ. Ở ông hội tụ phẩm chất của một công chức ngành Giáo dục, một nông dân, một giám đốc doanh nghiệp trồng rừng với tình yêu thiên nhiên tha thiết, một nghệ sỹ có năng lực sáng tác thơ và ca khúc âm hưởng trữ tình. Vào một ngày đầu tháng 5.2016, khi vừa chạm tuổi 70, ông chọn cách ra đi, nơi an nghỉ cũng lạ và bình dị, nhân văn  như chính cuộc đời ông.
Sinh thời Lê Duy Nguyên ấp ủ việc trồng rừng. Ông mê cái nghề gian truân này từ khi còn là nhân viên phòng thí nghiệm Trường chuyên Phan Bội Châu, tỉnh Nghệ An. Năm 1990, khi Nhà nước có chủ trường giao đắt trống, đồi núi trọc cho nông dân trồng rừng, ông xúc tiến lập doanh nghiệp trồng rừng ở Đông Hồi và giao cho vợ làm giám đốc. Năm 1993, ông xin nghỉ việc tại phòng thí nghiệm trường Phan về trực tiếp thay vợ điều hành doanh nghiệp.
Cái khó và nỗi khổ của việc trồng rừng chắc ai cũng hiểu. Lê Duy Nguyên đã chọn cho mình cái việc khó khăn ấy và ông trở thành hiện tượng lạ không chỉ ở Nghệ An mà cả nước. Sau gần 20 năm gian truân, vất vả từ nguồn vốn lấy ngắn nuôi dài và nguồn vay ngân hàng, ông trở thành chủ nhân của gần 1.000 ha rừng trồng bạt ngàn từ 5 đến 18 tuổi, với đa dạng sinh học, đủ các loại cây bản địa, cây nguyên liệu giấy, cây lấy nhựa.v.v.
Trong đó có tới 450 ha rừng lim. Ngoài ra còn một đập nước trữ lượng hơn nửa triệu m3 nước trên núi cao, 10 km đường cho ô tô đi được để tuần tra, bảo vệ, chăm sóc, sản xuất rừng và nhiều loại chim thú.
Hiện tượng lạ Lê Duy Nguyên ngoài bỏ phố xá phồn hoa đi trồng rừng còn là tình yêu thiên nhiên tha thiết. Đất nước này có biết bao nhiêu người trồng rừng, nhưng tôi không biết có ai  yêu thiên nhiên đến kỳ lạ như Lê Duy Nguyên. Tình yêu thiên nhiên của ông không vụ lợi mà vì môi trường, vì cộng đồng, vì hôm nay và vì mai sau.
Tình yêu thiên nhiên ấy thể hiện: gần 1000 ha rừng trồng của ông không hoàn toàn vì mục đích kinh tế mà vì đa dạng sinh học. Bên cạnh trồng những cây kinh tế để "lấy ngắn nuôi dài", cơ cấu rừng trồng của ông thể hiện mục tiêu môi trường bền vững. Bằng chứng là với 450ha rừng lim hơn 20 ngàn cây, 70 năm nữa mới cho thu hoạch, chứng tỏ ông trồng lim để cho thế hệ mai sau, chứ không phải cho bản thân ông.
Điều này mang ý nghĩa sâu xa về sự bền vững môi trường và bảo tồn một loài cây lấy gỗ quý hiếm đang dần tuyệt chủng bởi sự tàn phá của con người; 50.000 cây có quả các loại như: Đa, sy, vả, bời lời, xoan dâu... không phải lợi ích kinh tế mà là để tạo nguồn thức ăn vẫy gọi các loài chim về cư ngụ và sinh sôi. Vì sự đa dạng sinh học, ông còn trồng hàng ngàn khóm tre, trúc cho các loài chim về đậu.
Năm 1996 - 1997 khi hươu sao "mất ngôi Hoàng đế", ông mua 50 con hươu thả vào rừng. Tiếp đó là thả tiếp 30kg rùa và năm 2010, khi rừng đã có những cây gần như cổ thụ, ông mua tận Cao Bằng 50 cặp tắc kè thả vào rừng xanh. Những cây, con ông trồng và mua thả ấy đâu vì kinh tế cho ông mà vì môi trường, sinh thái cho quê hương, đất nước.
Tình yêu thiên nhiên của Lê Duy Nguyên còn thể hiện ở chỗ ông chăm chú theo dõi kết quả các cuộc thi sáng tác về đề tài môi trường và thiên nhiên. Bất kỳ ai ở Nghệ An đoạt giải, ông đều đến tận nơi tặng quà, với mục đích khuyến khích tác giả tiếp tục viết về thiên nhiên và môi trường, tuyên truyền người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Nhạc sỹ Quang Vượng, tác giả Vi Hợi… là những người đoạt giải ca khúc, và bút ký văn học (không phải viết về ông) đã được ông tặng quà như thế.
Những năm cuối đời, với khát vọng truyền tình yêu thiên nhiên của mình cho hiện tại và thế hệ mai sau, ông tìm mua những hòn đá tự nhiên lớn hàng chục tấn, cẩu về đặt giữa rừng xanh Đông Hồi, thuê thợ tạc lên đá câu hỏi mang ý nghĩa của một lời nhắn nhủ dịu dàng: “Bạn có yêu thiên nhiên không?”. Một tảng đá khác ông tạc câu 2 thơ nhắn gửi với đời, về cuộc đời của chính ông và cũng là của nhiều người: “Núi kia ngàn năm còn đó/Thăng trầm bao lần đi qua”
Khi ông lam lũ với việc trồng rừng, bỏ tiền ra mua hươu, chim tắc kè thả vào rừng vì mục tiêu dài lâu là đa dạng sinh học, nhiều người bảo ông là kẻ điên, không biết hưởng thụ bởi tuổi đã xế chiều.
Ông Nguyên nói:"Mình sẽ hưởng thụ nhiều hơn, cao hơn sự hưởng thụ bình thường" từ rừng xanh ban tặng. Và thực tế những năm cuối cuộc đời, ông cùng những người công nhân của ông, bà con xã Quỳnh Lập quê ông đã là những người được hưởng thụ như thế. Đó là việc hằng ngày, được hít thở bầu không khí trong lành rừng xanh mang lại; Đó là những ngày hè, khi bóng chiều đổ dài bởi những cánh rừng xanh ngắt, ông ngồi một mình với rừng xanh tĩnh lặng, nghe lá thở, đá nói, đất sinh sôi, chim sóc ca hót…
Hay những chiều thu trời xanh tiếp nối với rừng xanh, ông mặc sức chiêm ngưỡng những bộ 3 con gà rừng chí chóe nhau bởi hai con trống giành nhau một con mái. Con trống thắng cuộc hãnh diện bên con mái, rồi chúng dắt nhau vào cuộc thỏa thuê tình ái...
Cái lạ và bình dị thủa sinh thời ấy của Lê Duy Nguyên đã trở thành đề tài khai thác của báo giới, văn nghệ sỹ. Gần 20 năm qua đã có tới 70 bài báo, 50 bài thơ, 6 ca khúc, hàng chục bộ phim và phóng sự truyền hình TW, địa phương viết về ông.
Là người trồng rừng có tâm hồn nghệ sỹ, Lê Duy Nguyên khá nhạy cảm trước cuộc sống. Trong lao động vất vả nhưng ông luôn sống trong cảm xúc và sáng tạo nghệ thuật. Ông là tác giả của hàng loạt bài thơ ý tứ gai góc, chất bác học và những ca khúc mang đậm chất trữ tình của hồn quê xứ Nghệ.
Nhiều bài thơ và ca khúc của ông được đăng tải trên báo TW và địa phương là do bạn bè, cánh nhà báo nghe, đọc bản thảo, thích thú, tự mang về đăng chứ ông không tự mình gửi  đăng bao giờ. Nhiều ca khúc của ông được nữ ca sỹ Anh Thơ, NSND Thu Hiền, nam ca sỹ Quang Lý chọn hát, thâu băng. (Doanh Nghiệp Việt Nam 18/5) đầu trang(
Giữa những ngày tháng 5, tôi ngược đỉnh La Hiêng về thôn Phú Hải, xã Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân). Trên mảnh đất Phú Hải hôm nay, tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều đổi thay tích cực của một thôn cao nhất, xa nhất, khó đi nhất và cũng một thời nghèo khó nhất tỉnh. Điều gì đã giúp Phú Hải đổi thay đến như vậy?
Từ một thôn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhờ trồng rừng kinh tế, sống dựa vào lâm nghiệp, thời gian qua, đời sống của người dân ở thôn vùng cao Phú Hải đã đổi thay đáng kể. Cuộc sống của người dân từng bước được cải thiện, buôn làng ngày càng trù phú, ấm no, ý thức giữ gìn, bảo vệ rừng cũng được nâng cao…
Tôi đến Phú Hải vào những ngày đầu tháng 5, khi mà người dân ở đây đang tất bật dọn phát thực bì, tạo đường băng cản lửa ở các cánh rừng trồng để ngăn ngừa tình trạng cháy rừng vào mùa khô. Biết tôi muốn tìm hiểu về việc trồng rừng của người dân ở đây, Trưởng thôn Phú Hải Sô Minh Thương đã nhiệt tình dùng xe máy đưa tôi vào tận khu vực Suối Cát, nơi những cánh rừng trồng keo lai của bà con được 4-5 tuổi. Trên đường đi, đập vào mắt tôi là những cánh rừng keo lai xanh mướt, bạt ngàn thẳng tắp.
Dừng chân tại rẫy keo của ông Sô Minh Hương, tôi bắt gặp ông và những người làm thuê đang tất bật dọn thực bì, phát chồi. Được hỏi về chuyện trồng rừng, ông phấn khởi nói: “Ở Phú Hải trước đây chỉ toàn đất trống đồi trọc bỏ hoang, người dân chỉ trỉa được ít bắp, sắn. Nay thì khác rồi. Nhờ Nhà nước đầu tư lo cho dân, chúng tôi mới được như thế này, chứ lúc trước biết hướng nào mà làm”.
Lời của ông Hương nói làm tôi nhớ lại những chuyến công tác trước đây lên Phú Hải. Do đặc điểm địa lý là thôn khó khăn nhất, xa nhất nên nơi đây không có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế như các nơi khác. Trước đây, người dân ở vùng đất này sống giữa bốn bề là núi, mở mắt ra là thấy núi, không rẫy canh tác, không đất chăn nuôi nên người dân chỉ biết bám vào rừng.
Hàng ngày, dân làng ngoài trỉa bắp, sắn, thường mang gạo, cưa, rìu vào rừng lấy gỗ, lấy mật ong… mang về bán hoặc đổi gạo, cá khô, mắm muối với các thương lái dưới xuôi lên Phú Hải. “Lúc đó, rừng không chỉ bị tàn phá mà cuộc sống của bà con mình cứ đói nghèo miết, khổ miết”, già làng thôn Phú Hải Sô Phi góp chuyện bằng ký ức của những năm tháng vất vả.
Làm gì để người dân Phú Hải cải thiện cuộc sống, biết làm kinh tế, lại giữ được rừng luôn là những câu hỏi được các cấp ngành hữu quan từ tỉnh đến cơ sở đặt ra mỗi lần hội họp. Chính từ những bức bách đó, Sở NN-PTNT tỉnh đã vào cuộc, phối hợp với chính quyền địa phương triển khai dự án Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống (gọi tắt là dự án Flitch), lồng ghép với Chương trình 135 cho người dân Phú Hải.
Mục đích của dự án này là giảm tỉ lệ hộ nghèo đói, thu hẹp khoảng cách về thu nhập của các hộ nghèo so với hộ trung bình ở những địa bàn phải sống dựa vào rừng. Qua đó tăng cường khả năng quản lý rừng và đất rừng trong vùng dự án, đặc biệt là năng lực quản lý và kỹ năng sản xuất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cộng đồng, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân sống dựa vào rừng.
Theo lời của các cán bộ lâm nghiệp tỉnh, cuối năm 2006, dự án bắt đầu triển khai ở Phú Hải. Lúc đó, các đảng viên, già làng, trưởng thôn là những người tiên phong trong việc trồng rừng kinh tế. Với lợi thế đất đai sẵn có, Trưởng thôn Sô Minh Thương, Bí thư Chi bộ thôn Sô Thanh và già làng Sô Phi là những “đầu tàu” hăng hái tham gia vào dự án phát triển lâm nghiệp ở địa phương. Chính họ đã không quản ngại khó khăn, hàng ngày gùi từng cây keo giống, từng hạt phân đến rẫy của mình vừa để trồng rừng, vừa trình diễn cho bà con học cách làm theo.
Trưởng thôn Sô Minh Thương cho biết: “Ban đầu trồng rừng, tôi và những người dân ở đây gặp không ít khó khăn. Lúc đó, chúng tôi chưa có kinh nghiệm trồng rừng nên cây con chết nhiều lắm; mình vừa tiếc, vừa buồn. Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều lớp tập huấn chuyển giao kinh nghiệm trồng rừng được mở ra, cây giống và phân bón được Nhà nước đầu tư, hỗ trợ càng củng cố niềm tin, quyết tâm phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ rừng của người dân Phú Hải”.
Từ những thành công bước đầu trong việc trồng rừng kinh tế của các đảng viên, già làng, trưởng thôn, người dân Phú Hải đã bắt đầu tin tưởng vào dự án phát triển lâm nghiệp ở địa phương. Từ vài héc ta rừng ban đầu của vài hộ dân, đến nay người dân Phú Hải đã phủ một màu xanh bạt ngàn của keo lai trên diện tích 1.000ha rừng kinh tế. Trong đó, gần 50% diện tích này đã đến tuổi khai thác, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho người dân sau 5-7 năm chăm sóc.
Từ một hộ nghèo ở thôn, những năm gần đây, vợ chồng Sô Minh Hương đã thoát nghèo nhờ vào việc trồng rừng. Ông Hương tâm sự: “Tôi bắt đầu trồng rừng từ năm 2006. Hồi đó khổ quá nên thấy mọi người trồng rừng mình cũng trồng theo. Ban đầu không có vốn nên cứ hết lứa cây này trồng xong thì tái đầu tư cho lứa cây sau. Sau hơn 10 năm bám rừng, nhà tôi đã bán cây được hai lần, thu về trên 150 triệu đồng. Lúc trước chưa trồng rừng, gia đình thu nhập bấp bênh dựa vào việc trồng sắn, bắp trên các triền đồi quanh nhà. Nay thì khác rồi, nhờ thu nhập từ việc trồng rừng, gia đình tôi đã khấm khá hơn, không khó khăn như trước đây nữa”.
Hiện gia đình ông Hương là một trong số ít hộ của thôn Phú Hải có diện tích trồng rừng kinh tế lên đến gần 40ha. Với 10ha rừng keo đang vào độ tuổi khai thác, bình quân 1ha rừng, sau khi trừ chi phí, gia đình ông lãi ròng từ 30-50 triệu đồng… Thoát nghèo, có vốn tích lũy, vợ chồng ông Hương đã sắm được tivi, xe máy, con cái được đầu tư, chăm lo học hành đến nơi, nơi chốn.
Ông Hương cho biết thêm: “Trước đây mình ở rừng nhưng không biết phát triển kinh tế. Nhờ cán bộ dưới xuôi lên hướng dẫn cho cách trồng rừng nên qua thực tế, mình hiểu chỉ có trồng rừng mới bảo vệ rừng tốt nhất. Khi trồng rừng kinh tế mang lại hiệu quả, người dân ở đây sẽ không còn đói khổ nữa. Mà không khổ nữa thì người dân sẽ không còn vào rừng chặt cây làm rẫy, bẫy thú để ăn; khi đó, môi trường sinh thái sẽ được cải thiện đáng kể”…
Chia sẻ thêm về lợi ích mà trồng rừng kinh tế mang lại cho dân, ông La O Thái hồ hởi: “Đất quê mình nhiều, nhưng lúc trước do không nghĩ ra cách làm nên cứ vô rừng phá, cây chặt mãi cũng hết, đói nghèo lại hoàn đói nghèo. Giờ trồng rừng, cứ 5-7 năm là bắt đầu khai thác. Như mới đây, tôi bán được 3ha keo 4-5 năm tuổi, thu về gần 160 triệu đồng. Nhưng đấy là tôi cần tiền để tái đầu tư nên bán cho đầu nậu, chứ bán cho công ty thì được nhiều tiền hơn. Còn nếu không vội, để cây lớn càng to bán càng có giá hơn”.
Theo tính toán của ông Sô Thanh, Bí thư Chi bộ thôn Phú Hải, với 61 hộ, 282 nhân khẩu, bình quân mỗi hộ dân ở đây trồng được khoảng 16ha rừng cây keo lai, bạch đàn… Trong đó, hộ trồng nhiều nhất khoảng 30-50ha, hộ trồng ít nhất cũng được từ 2-5ha.
Với năng suất keo khoảng 150-200 tấn/ha, giá bán 950 đồng/kg ván băm, 750.000 đồng/m3 gỗ to từ 30-90cm hoặc 1,2-1,3 triệu đồng/m3 gỗ thành phẩm thì người dân ở đây đã có trong tay vài chục triệu đồng trở lên. “Nếu như trước đây toàn xã có 61 hộ nghèo thì đến nay đã có 15 hộ thoát nghèo và sắp tới còn nhiều hộ sẽ “xin” ra khỏi diện hộ cận nghèo, hộ nghèo…”, ông Sô Thanh khẳng định.
Niềm vui sống được bằng nghề trồng rừng, bằng việc làm lâm nghiệp của người dân Phú Hải càng được củng cố khi mới đây, Công ty CP Lâm sản Toàn Cầu triển khai dự án trồng rừng nguyên liệu bằng cây keo lai ở xã Phú Mỡ, trong đó thôn Phú Hải là chủ lực. Công ty đã cam kết đồng hành cùng người dân khi chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ vốn và bao tiêu đầu ra cho cây keo lai.
Ông Lê Hoàng Phúc, Giám đốc Ban Quản lý các dự án trồng rừng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Công ty CP Lâm sản Toàn Cầu), cho biết: “Ngoài diện tích Nhà nước cho thuê để trồng rừng, đối với những diện tích của đồng bào thôn Phú Hải đã trồng keo lai, chúng tôi sẽ tổ chức liên kết đầu tư, cũng như tiếp tục hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính để bà con chăm sóc rừng có hiệu quả. Đến khi đủ tuổi khai thác, công ty sẽ thu mua toàn bộ sản phẩm bằng giá thị trường”. (Báo Phú Yên 18/5) đầu trang(
Đến nay, nhân dân huyện Chợ Mới (Bắc Cạn) đã trồng được hơn 12 nghìn ha rừng sản xuất. Phát huy tinh thần tự lực, nông dân trong huyện đã tự làm hàng trăm km đường lâm nghiệp để vận chuyển gỗ từ rừng ra đường giao thông, qua đó giảm giá thành vận chuyển, tăng giá trị rừng trồng, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo từ rừng.
Gia đình anh Vũ Minh Mẫn, ở xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới trồng được hơn 50 ha rừng keo, mỡ ở các xã Cao Kỳ, Hòa Mục, đến chu kỳ cho thu hoạch mà anh Mẫn không có cách gì vận chuyển gỗ từ rừng ra đường giao thông, nếu thuê người khuân vác, thuê trâu kéo từ rừng ra đường giao thông thì giá trị của rừng rất thấp, chỉ đạt 30 - 40 triệu đồng/ha rừng trồng.
Trước tình hình đó, anh Mẫn đã thuê máy xúc, máy ủi mở ba tuyến đường: Bản Chang - Không Thưa, Bản Chang - Khuổi Mịch ở xã Hoà Mục; Cao Kỳ - Kéo Chim ở xã Cao Kỳ dài tổng số gần bốn km. Ba tuyến đường lâm nghiệp được máy xúc, máy ủi mở nền đường rộng hơn ba mét để ô- tô tải đi được từ đường giao thông đến các khu rừng trồng chở gỗ. Giá thành mỗi km đường khoảng 20 triệu đồng.
Khi có đường lâm nghiệp, việc vận chuyển gỗ đi tiêu thụ trở nên dễ dàng và giá thành vận chuyển hạ. Anh Mẫn cho biết: “Một ha keo đến thời kỳ cho thu hoạch, nếu không có đường lâm nghiệp vận chuyển thì chỉ bán được khoảng 50 triệu đồng, nếu có sẵn đường vận chuyển thì bán được khoảng 80 triệu đồng”.
Đường lâm nghiệp không những có tác dụng đối với việc vận chuyển gỗ, mà còn có tác dụng thiết thực đối với việc phát triển rừng, đó là thuận lợi khi vận chuyển giống, phân bón khi trồng; đi lại chăm sóc, tuần rừng phòng, chống cháy rừng. Do đó, những năm gần đây nhân dân huyện Chợ Mới chú trọng tự tạo mạng lưới đường lâm nghiệp.
Tùy theo điều kiện và tình hình thức tế mà nhân dân huyện Chợ Mới có nhiều cách phát triển hệ thống đường lâm nghiệp. Giá trị mỗi ha rừng trồng khoảng 80 triệu đồng, vì không có đường nên người dân bán khoảng 50 - 55 triệu đồng/ha, số tiền còn lại để người mua tự tạo đường vận chuyển gỗ. Đường lâm nghiệp tạo một lần là sử dụng được mãi mãi.
Những hộ có điều kiện thì thuê máy xúc, máy ủi làm đường. Hộ có nhiều rừng thì mua máy về tự lái, hoặc thuê người lái làm đường lâm nghiệp, ai cần thì cho thuê.
Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Mới Bế Ngọc Hùng cho biết: “Trong khi Nhà nước và địa phương chưa có vốn đầu tư hệ thống đường lâm nghiệp thì nhân dân trong huyện đã chủ động, có nhiều cách làm sáng tạo để tự tạo mạng lưới đường lâm nghiệp để vận chuyển gỗ đi tiêu thụ. Qua đó, góp phần thiết thực khai thác tiềm năng, lợi thế đất lâm nghiệp trên địa bàn. Khu rừng nào đến chu kỳ cho khai thác là người dân mở đường lâm nghiệp, đến nay nhân dân đã tự tạo được hơn 100 km đường lâm nghiệp từ đường giao thông đến chân lô”.
Từ việc phát huy nội lực để tự đầu tư làm đường lâm nghiệp, không trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước, tiềm năng đất lâm nghiệp ở huyện Chợ Mới đã được khai thác tốt để trồng rừng. Đây là cách phát triển bền vững từ rừng, qua đó đã mang lại thu nhập khá cho nhân dân, góp phần đưa huyện Chợ Mới giảm bình quân từ 4 - 5% hộ nghèo mỗi năm, đến nay toàn huyện chỉ còn hơn 12% hộ nghèo. (Nhân Dân 18/5) đầu trang(
Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam bộ cho biết thêm, trong những năm qua Viện đã phối hợp với các nhà khoa học Nhật Bản thực hiện nhiều nghiên cứu về cải thiện giống và các biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh rừng tràm bền vững tại tỉnh Long An và Cà Mau.
Cây tràm (Melaleuca sp) là loài cây thân gỗ phân bố tự nhiên và được xác định là loài cây trồng chủ lực cho vùng Tây Nam bộ theo quyết định 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 của Bộ NN-PTNT, đặc biệt trên vùng đất phèn nặng, ngập nước theo mùa của vùng ĐBSCL. Diện tích rừng tràm năm 2006 đạt 176.295 ha, chiếm gần một nửa diện tích ở ĐBSCL.
Tuy nhiên, với sự phát triển rừng tràm một cách ồ ạt và không theo quy hoạch, nguồn cung cấp gỗ tràm đã vượt quá nhu cầu nên giá trị cây tràm trên thị trường ở thời điểm đó đã bị giảm sút rất mạnh, xuống chỉ còn khoảng 20 - 25 triệu đồng/ha.
Chính vì vậy nhiều chủ rừng ở ĐBSCL đã chặt bỏ rừng tràm để chuyển đổi sang trồng cây khác. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp, đến năm 2015 diện tích rừng tràm vẫn tiếp tục suy giảm, chỉ còn hơn 71.350 ha (giảm 59,5% so với năm 2006).
Tuy nhiên, giá trị cây tràm đã được hồi sinh trong thời gian hơn một năm trở lại đây. Theo số liệu khảo sát đầu năm 2016 cho thấy giá gỗ tràm đã tăng lên đáng kể so với trước đây, rừng tràm sau 7 năm trồng có giá từ từ 110 - 130 triệu đồng/ha, tăng gấp 4 - 5 lần so với lúc giá xuống thấp nhất.
Trao đổi với chúng tôi, GS.TS Võ Đại Hải - Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cho biết: “Hệ sinh thái rừng tràm là một trong 3 hệ sinh thái chính của các vùng đất ngập nước ở ĐBSCL. Hiện nay, biến đổi khí hậu thể hiện ngày càng rõ nét với tần suất cao và cường độ mạnh.
Đặc biệt, hiện tượng xâm nhập mặn đã xảy ra rất nghiêm trọng tại vùng ĐBSCL trong năm nay, gây ảnh hưởng rất lớn tới đời sống và sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân trong vùng. Vì vậy, cần phải có sự quan tâm thỏa đáng cho cây tram cả về công tác nghiên cứu và phát triển”.
TS. Kiều Tuấn Đạt, Viện trưởng Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam bộ cho biết thêm, trong những năm qua Viện đã phối hợp với các nhà khoa học Nhật Bản thực hiện nhiều nghiên cứu về cải thiện giống và các biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh rừng tràm bền vững tại tỉnh Long An và Cà Mau.
Kết quả 9 giống Tràm ta, Tràm lá dài và Tràm cajuput Úc đã được Bộ NN-PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật. Các kỹ thuật trồng thâm canh trên líp, kỹ thuật tỉa thưa đã đưa năng suất rừng đạt tới 40m3/ha/năm cho các giống tràm úc và 30m3/ha/năm cho các giống tràm ta.
Nhằm đảm bảo cung ứng giống tràm chất lượng cao cho bà con nông dân, Viện cũng đã xây dựng hơn 40ha rừng giống và vườn giống cho các giống tràm ta và tràm úc với sản lượng 400 - 500kg hạt giống/năm. Các vườn ươm của Viện có thể cung cấp khoảng 3 triệu cây giống/năm phục vụ nhu cầu sản xuất.
Việc chuyển giao giống và kỹ thuật thâm canh rừng tràm bền vững đã được Viện chú trọng và đẩy mạnh trong thời gian vừa qua. Nhiều mô hình sử dụng giống, kỹ thuật do Viện nghiên cứu, kết hợp nuôi ong và nuôi cá trong rừng tràm đã được bà con nông dân xây dựng tại tỉnh Long An và Cà Mau và đạt hiệu quả kinh tế cao. (Nông Nghiệp Việt Nam 18/5) đầu trang(
Báo Phụ nữ Thủ đô, số 8, ngày 20/1/2016 đăng bài: “Nguy hiểm cây mọc nghiêng trên phố Yên Phụ” của tác giả Nguyễn Minh, nêu một thực trạng đáng lo ngại ở phố Yên Phụ (nối từ ngã ba Âu Cơ đến dốc đường Thanh Niên, dài khoảng 800m).
Con phố này chiều rộng chỉ khoảng 5-6m, vỉa hè chỗ có chỗ không, chỗ có cũng rất hẹp, lại được trồng nhiều loại cây xanh (cây trồng theo quy hoạch, mọc tự nhiên và do người dân tự trồng từ nhiều năm trước).
Điều đáng nói là trên phố có nhiều cây mọc nghiêng, tán ngả ra phía lòng đường, khiến người dân trong vùng và người qua lại quan ngại, lo lắng cây bị gẫy, đổ, gây nguy hiểm cho bà con trong vùng và người qua lại, điển hình là “Cụ cây” dâu da xoan trước số nhà 8A, nhìn bằng mắt thường cũng thấy cây có dấu hiệu già cỗi. Đã thế, thân cây còn chĩa ngang ra mặt đường đến gần 2m...
Rất mừng là sau khi báo phát hành, Công ty TNHH Một thành viên Cây xanh thành phố đã cử công nhân đến cắt hạ cây dâu da xoan này. Chứng kiến cảnh công nhân làm việc, người dân địa phương, nhất là gia đình số nhà 8A rất vui mừng. Bà con “thở phào” khi thấy câu dâu da xoan gốc mục ruỗng, chỉ còn lớp vỏ bọc bên ngoài đã bị loại bỏ.
Một người dân ở phố Yên Phụ cho biết: “Chỉ trong một tuần, Công ty Công viên Cây xanh đã bố trí lực lượng đến cắt tỉa tất cả các cây có hiện tượng nghiêng ngả, mục ruỗng hoặc bị chết khô trên toàn tuyến phố. Chúng tôi không còn phải lo lắng về nguy cơ cây bị gãy đổ khi mùa mưa bão đến”.
Hoan nghênh tinh thần lắng nghe ý kiến người dân của chính quyền địa phương, và Công ty TNHH Một thành viên Cây xanh Hà Nội. Rất mong, không chỉ cây xanh trên phố Yên Phụ, mà tất cả cây xanh khu vực xung quanh hô Tây thường xuyên được kiểm tra, chăm sóc, thay thế. (Phụ Nữ Thủ Đô 18/5) đầu trang(
Sau loạt bài phản ánh của báo Công lý, vừa qua UBND tỉnh Thanh Hóa đã có văn bản yêu cầu xử lý nghiêm tập thể, cá nhân để cơ sở băm dăm trái phép hoạt động.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện có cơ sở sản xuất, chế biến dăm gỗ trái phép nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ những sai phạm trong quản lý đất đai, đầu tư và xây dựng, căn cứ các quy định của pháp luật, có hình thức xử lý nghiêm tập thể, cá nhân liên quan theo thẩm quyền hoặc đề xuất biện pháp xử lý, báo cáo UBND tỉnh và gửi các ngành liên quan để tổng hợp trước ngày 31/5/2016.
Theo kết quả kiểm tra, hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 42 cơ sở sản xuất dăm gỗ, trong đó có 11cơ sở được chấp thuận sản xuất dăm gỗ, với tổng công suất 330.000 tấn/năm. Trong khi đó công suất băm dăm gỗ của các cơ sở trên thực tế đã lên tới 729.000 tấn/năm, vượt 2,2 lần công suất cho phép.
Đa số các cơ sở băm dăm gỗ đều không có phương án đầu tư dài hạn từ khâu trồng, thu mua nguyên liệu đến khâu chế biến để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tình trạng thiếu nguyên liệu đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, tranh mua, tranh bán gây mất an ninh trật tự xã hội.
Hiệu quả kinh tế từ chế biến dăm gỗ rất thấp, nhiều cơ sở chỉ tập trung đầu tư dây truyền băm dăm gỗ xuất khẩu không tập trung chế biến sâu các loại sản phẩm có giá trị cao gây lãng phí nguồn nguyên liệu từ rừng của tỉnh.
Các cơ sở băm dăm gỗ trái phép nhưng không được xử lý kịp thời, cụ thể trên địa bàn huyện Lang Chánh, Thường Xuân, Triệu Sơn, Như Xuân, Như Thanh, Tĩnh Gia, Thạch Thành, Cẩm Thủy.
Đối với 5 cơ sở gỗ dăm đã được tỉnh chấp thuận vượt công suất phải điều chỉnh ngay quy mô theo giấy phép được cấp, chủ động tháo dỡ nhà xưởng, thiết bị máy móc xây dựng không đúng nội dung dự án được chấp thuận, hoàn thành trước ngày 15/7/2016.
Đối với 7 công ty chưa hoàn thành dự án theo nội dung đã được chấp thuận, khẩn trương hoàn thành trước ngày 31/12/2016. Đối với 5 cơ sở được chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng chưa được chấp thuận sản xuất dăm gỗ khẩn trương bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ đăng ký dăm gỗ tận với công suất theo quy định.
Đối với 26 cơ sở băm dăm gỗ trái phép, không được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư dừng mọi hoạt động liên quan tới thu mua nguyên liệu và sản xuất dăm gỗ, chủ động tháo dỡ nhà xưởng và cácloại máy móc, thiết bị, hoàn thành trước 15/7/2016.
Giao các sở, ngành, UBND các huyện, thị, thành phố tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về đất đai, xây dựng và môi trường của các dự án đầu tư trên địa bàn; đồng thời chỉ đạo, giám sát chặt chẽ việc tháo dỡ nhà xưởng, máy móc, thiết bị của các nhà máy băm dăm gỗ trái phép, xử lý vi phạm theo thẩm quyền và đề xuất những trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/7/2016. Định kỳ hàng quý, hàng năm báo cáo tình hình hoạt động của các cơ sở chế biến dăm gỗ theo quy định.
Tuy nhiên trên thực tế, các huyện đã kiểm tra, rà soát nhưng chưa báo cáo hết các cơ sở băm dăm gỗ. Đơn cử như Thạch Thành, theo báo cáo có 5 cơ sở băm dăm gỗ thì có 4 cơ sở là trái phép. Thế nhưng theo điều tra của PV, tại thôn Minh Sơn, xã Thạch Sơn công ty TNHH Anh Kiên đã đưa vào hoạt động giàn băm dăm gỗ rất quy mô.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Tiến Phước, Phó Phòng Kinh tế hạ tầng huyện Thạch Thành thừa nhận có để ngoài báo cáo đơn vị này. “Họ mới đưa vào băm vài tháng nay, chủ yếu là tận dụng sau khi chẻ nan, ván bóc”, ông Phước phân trần. (Báo Công Lý 18/5; Lao Động Thủ Đô 19/5) đầu trang(
Năm 1997, Bình Phước quản lý quy hoạch 351.605ha đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Không hiểu sao, năm 2007, tỉnh này quy hoạch lại 3 loại rừng, quyết tâm đưa 162.725ha đất rừng khỏi đất lâm nghiệp, nhằm chuyển mục đích sử dụng, giao về cho các địa phương quản lý không đúng với chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ.
Thời gian này, tình hình giá mủ cao su tăng cao, thu nhập ổn định nên đất rừng trở nên sốt, tạo cơn lốc cao su hóa khiến đất rừng Bình Phước bị tàn phá cạn kiệt. Theo ông Trần Văn Lộc, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh mô tả: “Diện tích đất bị dân lấn chiếm khá lớn, chiếm gần 30% diện tích đất lâm nghiệp. Riêng đất lấn chiếm rừng phòng hộ chiếm gần 50% diện tích bị lấn chiếm…”.
Thanh tra Chính phủ phát hiện, tại thời điểm thanh tra vào năm 2015, tỉnh Bình Phước vẫn còn 52.675,6ha đất rừng bị lấn chiếm… Đoàn Thanh tra Chính phủ nhận định: “Công tác quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh Bình Phước qua các thời kỳ còn nhiều yếu kém.
Biểu hiện buông lỏng quản lý, để xảy ra tình trạng phá, lấn chiếm đất rừng với diện tích lớn trên địa bàn tỉnh. Trong số 162.725ha đất tách ra khởi lâm phần, có tới 135.000ha (chiếm 83,1%) đất rừng bị dân xâm chiếm.
Điều đáng nói là có tới 250.340ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng bị lấn chiếm, tàn phá. Ngoài ra, còn có nhiều chương trình, dự án bố trí đất sản xuất cho đồng bào dân tộc cũng bị lấn chiếm không thương tiếc…
Đa số trường hợp xin lập dự án, chuyển đổi từ rừng nghèo kiệt trên địa bàn tỉnh Bình Phước sang trồng cao su, được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương nhưng không tuân thủ các quy định của pháp luật là ý kiến tham mưu của các cơ quan chức năng như: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nên xảy ra nhiều sai phạm, khiến khiếu kiện, tố cáo kéo dài. Buộc UBND tỉnh này phải ra quyết định thu hồi tới 27 dự án.
Tình trạng giao đất, giao rừng cho các đối tác có nhiều sai phạm gây bức xức dư luận, nên Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã phải trực tiếp chỉ đạo xử lí vụ giao đất, cho thuê đất sai của 13 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Quy trình thực hiện giao đất cho các tổ chức, cá nhân cũng có nhiều sai phạm. Nhiều người không có hộ khẩu thường trú ở Bình Phước, hoặc không trực tiếp sản xuất nông nghiệp cũng được giao đất, giao rừng hết sức tùy tiện.
Cụ thể: tại huyện Đồng Phú, thanh tra phát hiện hồ sơ của bà Lương Ngọc Thu (quận 6, TP.HCM) được cấp 10,7ha đất rừng; hồ sơ của ông Nguyễn Văn Thanh, cán bộ Công an tỉnh được cấp 2,07ha.
Tại thị xã Bình Long, hồ sơ của ông Nguyễn Phước Diễm (hộ khẩu tại TP.HCM) được cấp 3ha; hồ sơ của bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng (hộ khẩu TP.HCM) được cấp 2,87ha; hồ sơ của ông Nguyễn Văn Hiền (tỉnh Bình Dương) được cấp 2,9ha; hồ sơ của ông Nguyễn Anh Tuấn (TP.HCM) được cấp 1,98ha, ngay sau đó, ông Tuấn bán lại cho ông Đào Anh Dũng lấy 180 triệu đồng…
Quá trình kiểm tra giao khoán đất rừng trên địa bàn tỉnh còn phát hiện 46 hợp đồng của Ban Quản lý rừng kinh tế Tân Lập và Ban Quản lý rừng kinh tế Suối Nhung sai quy định.
Riêng Ban Quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng có tới 17 hợp đồng giao khoán rừng không có phương án sản xuất kinh doanh? Nhiều hợp đồng thực tế là móc nối, ăn dơ giữa cán bộ quản lý rừng với chủ hợp đồng, nhằm hợp thức hóa cho việc trồng cây lâu năm trên đất rừng đã bị lấn chiếm.
Nghiêm trọng hơn, ở huyện Hớn Quản, khi tách 11.403ha đất rừng giao về cho địa phương, Ban Quản lý rừng đã thực hiện ký kết 1.961 hợp đồng giao khoán cho dân, nhưng có tới 140 hợp đồng giao sai đối tượng.
Sau khi giải thể, Ban Quản lý rừng phòng hộ Minh Đức giao cho huyện, thay vì huyện phải tiếp nhận 7.289ha đất rừng để quản lý, nhưng lại thả nổi dân tự do lấn chiếm gần hết chỉ còn lại 2.500ha đất rừng giao cho Công ty Cổ phần Sản xuất - Xây dựng - Thương mại và Dịch vụ Hải Vương?
Có khá nhiều dự án đầu tư trồng cây công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước sai phạm, buộc UBND tỉnh phải xử lý, nhưng chính sách tiền hậu bất nhất khiến doanh nghiệp không biết đâu mà lần.
Cụ thể, ngày 11/10/2013, UBND tỉnh này ban hành Công văn số 3285 chấp thuận cho Công ty TNHH MTV Kinh doanh nông lâm nghiệp Hương Phước Trường, Công ty TNHH MTV Dịch vụ hàng không sân bay Tân Sơn Nhất, Công ty CP Đầu tư Sài Gòn - Bình Phước tiếp tục thực hiện dự án, với điều kiện giao lại cho địa phương 30% diện tích cao su đã trồng để tỉnh tạo quỹ an sinh xã hội.
Nhưng sau đó, ngày 22/4/2014, UBND tỉnh lại ban hành các Quyết định số 800 và 801/QĐ-UBND, thu hồi toàn bộ diện tích đất đã giao cho Công ty TNHH Tăng Thiên Mẫn và Công ty TNHH MTV Kinh doanh nông lâm nghiệp Hương Phước Trường?
Chính sách tiền hậu bất nhất, không rõ ràng biểu hiện cụ thể nhất trong vụ thu hồi 512,8ha đất rừng ở Công ty TNHH B58 tại huyện Đồng Phú.
Ngày 22/4/1996, Lâm trường Mã Đà thuộc UBND tỉnh Sông Bé (cũ) ký Hợp đồng số 01/HĐKT.96, giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng với Khối tình báo B58, thuộc CLB Cựu kháng chiến TP.HCM.
Tuy nhiên, sau khi ký kết hợp đồng, Khối tình báo B58 không thực hiện tổ chức theo phương án đã được ký kết trong hợp đồng, do không có kinh phí cũng như nhân sự tổ chức quản lý yếu kém.
Ngày 15/6/2009, Khối tình báo B58 tổ chức cuộc họp bất thường, thống nhất thành lập Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ B58, do ông Phạm Công Trường làm Giám đốc.
Theo đó, Khối tình báo B58 cũng ký giấy ủy quyền cho ông Phạm Công Trường được toàn quyền liên hệ giao dịch với các cơ quan, ban ngành chức năng Nhà nước có thẩm quyền của tỉnh Bình Phước về quản lý, sử dụng diện tích đất giao khoán 512,8ha nói trên…
Theo đó, ngày 24/9/2010, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước đã ban hành Công văn số 3195/UBND-SX với nội dung chấp thuận cho Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ B58 được tổ chức sản xuất đối với 512,8ha đất lâm nghiệp giao khoán theo Hợp đồng giao khoán số 01/HĐKT.96.
Điều đó chứng tỏ cơ quan quản lý Nhà nước tỉnh Bình Phước đã đồng ý cho Công ty B58 do ông Phạm Công trường làm Giám đốc tiếp quản, thay thế Khối tình báo B58 cũ.
Thay vì cơ quan chức năng tỉnh Bình Phước phải thanh lý Hợp đồng giao khoán số 01/HĐKT 96 với Ban liên lạc Khối tình báo B58 cũ và hợp đồng lại với Công ty B58 ngay sau khi tỉnh này ban hành Văn bản số 3195/UBND-SX ngày 24/9/2010, vì Ban liên lạc Khối tình báo B58 cũ giải thể không còn pháp nhân.
Nhưng không hiểu sao, ngày 4/12/2013, UBND tỉnh Bình Phước lại ban hành Văn bản số 4042/UBND-KTN, thu hồi diện tích 512,8ha đất rừng nói trên để giao lại cho một doanh nghiệp khác, vốn đang bê bối về công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Trong khi Công ty B58 đã tổ chức đầu tư, tôn tạo chi phí khá nhiều tiền bạc nhằm bảo vệ vào khu rừng nói trên. Mặt khác, Công ty B58 lại làm khá tốt công tác tôn tạo, bảo vệ rừng.
Vì các lý do thu hồi không thuyết phục, nên Thanh tra Chính Phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước phải thực hiện nghiêm túc các kết luận thanh tra, trong đó có việc phải giao lại 512,8ha đất rừng cho Công ty B58 quản lý, gắn với việc lập dự án tôn tạo di tích lịch sử của cách mạng chiến khu D, kết hợp với du lịch sinh thái theo đúng quy định của pháp luật.
Kiểm tra quá trình quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Bình Phước, Thanh tra Chính Phủ phát hiện: Chi cục thuế các huyện Chơn Thành, Hớn Quản và Bình Long có nhiều sai phạm trong việc không khấu trừ giá trị quyền sử dụng đất vào tiền thuê đất lẽ ra tổ chức, cá nhân phải nộp, đối với các trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh.
Đáng nói, trong số 3.058ha đất do Tổng công ty Cao su Việt Nam giao về cho tỉnh Bình Phước (theo Quyết định số 524/QĐ-TTg ngày 26/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ), có tới 11 dự án tỉnh Bình Phước đầu tư khu dân cư với diện tích lên tới trên 233,4ha mà UBND tỉnh giao đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.
Mặt khác, một số chi cục thuế lại thực hiện miễn giảm tới 20% tiền sử dụng đất theo chính sách ưu đãi đầu tư không đúng quy định, đối với các dự án khu dân cư Đại Nam do Công ty CP Đại Nam làm chủ đầu tư, Khu dân cư thị trấn Tân Phú do Công ty CP Quang Minh Tiến làm chủ đầu tư và Công ty CP Đầu tư kinh doanh nhà Bình Phước, làm thiệt hại ngân sách hơn 13,6 tỷ đồng, buộc phải thu hồi nộp ngân sách theo quy định. (Tầm Nhìn 18/5) đầu trang(
Ngày 7/5/2015, tập thể (20 nhân viên) thuộc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Hàm Tân (cũ) nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận đã gửi đơn xin rút lại đơn khiếu nại trước đây đã gửi cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ngành và hứa sẽ không tái phạm.
Theo đơn trình bày, trong đơn khiếu nại ngày 23/3/2016, có một số nội dung chưa đúng sự thật như không đồng tình với việc sát nhập - mà thực chất phải được hiểu là hợp nhất hai công ty; về nhận định Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận (cũ) hoạt động kém hiệu quả, nhiều năm liền không có lãi, không nộp ngân sách đồng nào... là không đúng thực tế. Nguyên nhân xuất phát đơn khiếu nại là do chưa nhận định vấn đề một cách thấu đáo, nhận thức chưa đúng vấn đề; đồng thời đơn khiếu nại cũng chỉ muốn thể hiện sự phân vân, lo lắng về tiền lương, thu nhập, công việc bị xáo trộn chứ không có ý gì khác.
Qua buổi làm việc, được Lãnh đạo và Công đoàn Công ty, lãnh đạo và công đoàn Xí nghiệp truyền thông, đối thoại, giải thích cặn kẻ một số vấn đề liên quan đến việc hợp nhất hai công ty mà một bộ phận CBCNV- lao động băn khoăn lo lắng; giải thích về các nội dung trong đơn thư khiếu nại là không phù hợp với các quy định hiện hành và không đúng sự thật.
Nhất là từ sau các cuộc họp do Tổng Giám đốc Công ty chủ trì vào ngày 23/3, ngày 1/4 và 6/4/2016 đã phân tích, giải thích cặn kẻ các vấn đề thì những người gửi đơn khiếu nại đã nhận thức được vấn đề, được đã thông tư tưởng và an tâm công tác; đồng thời các chế độ chính sách, tiền lương, thu nhập cũng đã được Công ty giải quyết thỏa đáng. Do đó những người khiếu nại tự nhận thấy việc làm đơn khiếu nại gửi đến Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan là sai và làm đơn xin rút lại đơn khiếu nại trước đây, đồng thời xin hứa sẽ không tái phạm.
Cũng trong ngày 7/5/2016, tập thể (10 nhân viên) thuộc Công TNHH MTV Lâm nghiệp Hàm Tân (cũ) cũng đã ký đơn xin rút yêu cầu kiến nghị mà trước đây (ngày 16/3/2016) đã gửi cho Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận và Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh. Sau khi được giải thích, đối thoại, tập thể (10 nhân viên) nhận thấy việc làm văn bản kiến nghị gửi Chủ tịch UBND tỉnh và Chủ tịch liên đoàn Lao động tỉnh là sai, và xin rút lại kiến nghị, đồng thời hứa sẽ không tái phạm.
Được biết, việc hợp nhất 2 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận và Hàm Tân là theo phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các Công ty lâm nghiệp theo chủ trương của Bộ Chính trị và Chính phủ. Chủ trương đã được Ban Thường vụ Tỉnh ủy thông qua và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên trên cơ sở sắp xếp các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp: Bình Thuận, Hàm Tân và thu hút thêm đối tác bên ngoài theo quy định tại Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
Đến thời điểm này đã hoàn thành quy trình hợp nhất Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hàm Tân thành Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận (mới) theo quy định tại Nghị định số 172/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ. Bước tiếp theo, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận (mới) tiến hành đàm phán các đối tác góp vốn để chuyển đổi thành Công ty TNHH hai thành viên theo quy định tại Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Hiện nay đã có 3 đối tác có ý định tham gia góp vốn, Công ty đang đàm phán với một số đối tác để chọn thành viên thứ 2. Dự kiến hoàn thành bước 2 trong quý II năm 2016. (Báo Bình Thuận 18/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 17/5, khoảng 12.000 người dân Canada đã được yêu cầu sơ tán khẩn cấp khi các đám cháy rừng từ thành phố Fort McMurray đang lan tới gần các mỏ dầu cát.
Cháy rừng đã phá hủy một khu nhà nghỉ của hàng trăm công nhân dầu mỏ và buộc hàng nghìn người tại các cơ sở khác phải sơ tán. Thủ hiến tỉnh Alberta, Rachel Notley cho biết trong đêm 16/5, khoảng 8.000 công nhân được thông báo phải rời khỏi khu vực phía Bắc của thành phố Fort McMurray - nơi đang bị "giặc lửa" quay lại tấn công sau khi nhiều đám cháy tiếp tục lan rộng với cường độ mạnh hơn.
Fort McMurray cũng là nơi có rất nhiều cơ sở sản xuất dầu cát và đã phải đóng cửa trong nhiều ngày qua. Theo thông báo, khu nhà nghỉ của công nhân gồm 665 phòng đã bị thiêu trụi, hai tòa nhà khác trên cùng con phố với khoảng 4.000 phòng đang có nguy cơ bị đe dọa. Trước đó, khoảng 100.000 cư dân và công nhân khai thác dầu đã được đi sơ tán khỏi Fort McMurray và những vùng phụ cận cách đây hai tuần khi các đám cháy bùng phát mạnh.
Cập nhận tình hình cháy rừng, bà Rachel Notley cho biết trong 24 giờ qua đã có thêm 8 đám cháy mới, nâng tổng số đám cháy riêng trong tỉnh Alberta lên đến 19. Có 5 đám cháy lớn nằm ngoài tầm kiểm soát. Đám cháy lớn nhất đã thiêu trụi khoảng 355.000 hécta rừng.
Hiện có khoảng 2.000 lính cứu hỏa, hơn 160 máy bay trực thăng và 29 máy bay tiếp nước đang được huy động để đối phó với các đám cháy. Hoạt động cứu hỏa bị cản trở vì khói bụi dày đặc trên diện rộng, cùng với gió nóng làm lửa bốc lên cao.
Trước tình hình đó, chất lượng không khí trong khu vực đang bị đe dọa nghiêm trọng với những cột khói đen dầy đặc. Mức độ ô nhiễm không khí tại các tỉnh phía Bắc Canada đã tăng gấp 3 lần mức độ cho phép, đe dọa cơ sở hạ tầng và cuộc sống của hàng nghìn cư dân trong khu vực.
Về thiệt hại kinh tế, các vụ cháy rừng trong thời gian vừa qua đã ảnh hưởng nặng nền đến nền kinh tế, khi mà thu nhập từ dầu cát chiếm đến 4% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Canada. Theo thống kê, mỗi ngày sản lượng khai thác dầu cát đã giảm 1,2 triệu thùng, khiến chính phủ thất thu khoảng 1 tỷ USD. (Vietnam + 18/5) đầu trang(
Nữ diễn viên Trung Quốc Angelababy (tên thật là Dương Dĩnh) đã trở thành đại sứ trẻ tuổi nhất của WildAid, tổ chức Bảo vệ Động vật hoang dã.
“Cách đây nhiều năm, mọi người không hề nghĩ rằng việc tiêu thụ các sản phẩm làm từ ngà voi và vây cá mập thực sự đã gây nên nạn hủy diệt các loài động vật này. Song trong nhiều năm qua, với các chiến dịch nâng cao nhận thức mọi người đã hiểu hơn và dần ngừng mua các sản phẩm này. Bởi vậy tôi nghĩ việc nâng cao nhận thức công chúng về vấn đề này thực sự quan trọng” – Angelababy nói.
Anglebaby còn thừa nhận, trước khi tham gia chiến dịch này, cô không hiểu biết mấy về loài tê tê.
“Loài tê tê vừa gần gũi vừa thân thiện với chúng ta, song quả thực là trước đây tôi chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy tê tê. Với chiến dịch này, tôi bắt đầu hiểu được một số thực tế cơ bản về loài vật này. Chẳng hạn như, vẩy tê tê không phải là vị thuốc thần kỳ có thể chữa được bách bệnh như mọi người vẫn nói, mà thịt của tê tê có chứa nhiều ký sinh trùng mà khi ăn có thể gây hại cho sức khỏe của chúng ta”.
Angelababy cảm thấy thật vinh dự khi trở thành đại sứ cho loài động vật đang cần được bảo vệ chặt chẽ hơn nữa. Cô kêu gọi người hâm mộ mình hãy dừng tiêu thụ các sản phẩm liên quan đến tê tê và hãy góp phần truyền bá tinh thần này một cách rộng rãi. (Thể Thao Và Văn Hóa 18/5) đầu trang(
Hãng tin Sputnik của Nga ngày 16/5 đưa tin cho biết, các hoạt động của Hải quân Mỹ đã gây ra cái chết hoặc làm tổn thương 12 triệu động vật biển trong 5 năm qua.
Sputnik dẫn tuyên bố của tổ chức giám sát quốc tế Action Alliance West Coast cho rằng Hải quân Mỹ đã quấy rối, gây thương tích hoặc giết chết gần 12 triệu con cá voi, cá heo, sư tử biển và hải cẩu ở Bắc Thái Bình Dương trong 5 năm qua.
Tuyên bố trên của Action Alliance West Coast (WCAA) được đưa ra trên cơ sở phân tích số liệu từ báo cáo tác động môi trường của cơ quan Đào tạo Tây Bắc và kiểm tra EIS của Hải quân Mỹ, cơ quan Đại dương và khí quyển quốc gia (NOAA), báo cáo về sự biến mất của động vật có vú sống ở biển của Cục Nghề cá quốc gia thuộc NOAA.
Theo đó, Hải quân Mỹ đã gây tổn hại tới các sinh vật biển trên bằng các vụ nổ mìn và bom, sử dụng sóng siêu âm trong môi trường nhạy cảm, hoạt động di chuyển của các tàu nổi, tàu ngầm, máy bay trong quá trình tiến hành các cuộc diễn tập quân sự, thử nghiệm.
WCAA cho rằng việc sử dụng sóng sonar và gây nhiễu môi trường sống của các loài động vật có vú sống trong đại dương có thể dẫn tới chấn thương, tử vong hoặc làm thay đổi hành vi, thói quen săn mồi và sinh hoạt của chúng, đẩy chúng ra khỏi môi trường sống tự nhiên.
"Những con số đáng kinh ngạc," Karen Sullivan, một phát ngôn viên của WCAA, nói và cho biết thêm rằng con số này có thể sẽ lớn hơn rất nhiều nếu tính cả động vật hoang dã khác như các loài chim biển, cá, rùa biển và thậm chí là các loài trên cạn.
Theo các chuyên gia, sóng sonar ở tần số tại 140 decibel, có thể gây vỡ nội tạng, thậm chí ở người. Trong khi đó, Hải quân Mỹ sử dụng sóng sonar ở mức ít nhất là 235 decibel trong một số thời điểm, cao hơn nhiều lần so với ngưỡng an toàn.
Trên cạn, tần số 85 decibel vốn có thể làm hỏng thính giác ở người. Trong khi đó ở dưới nước, khả năng truyền dẫn âm thanh bị hạn chế hơn, nhưng mức 140 decibel có thể vẫn là cao.
Tại vịnh Alaska, nhiều loài động vật có vú đang phải đối mặt với các mối đe dọa trong những năm gần đây như cá voi, cá voi lưng gù, cá voi xanh, cá voi xám, và cá nhà táng.
"Các đại dương rất nhạy cảm và hữu hạn. Hiện nay chúng ta đã thấy những giới hạn về những gì mà đại dương có thể cung cấp. Đại dương không phải là sa mạc xanh (không có sự sống) và không nên bị đối xử như vậy. Chúng ta phải thận trọng hơn để con cháu chúng ta có một cuộc sống lâu dài", Emily Stolarcyk, người quản lý chương trình Eyak Preservation Council nói. (Người Đưa Tin 18/5) đầu trang(./.