Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 18 tháng 09 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 16/9, ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cho biết, đã cấp phát 25 tấn gạo hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ở 3 xã: Thuận, A Dơi, Hướng Lộc, thuộc huyện Hướng Hóa để bà con trồng rừng thay thế nương rẫy.
Sau 2 năm thực hiện chương trình trồng rừng thay thế nương rẫy, diện tích rừng trồng này ở Quảng Trị đã phát triển được 125ha, ý thức của người dân về quản lý bảo vệ tài nguyên rừng ngày càng được nâng lên, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giải quyết việc làm cho người lao động. (Công An Nhân Dân 17/9)đầu trang(
13/9, UBND tỉnh tổ chức sơ kết thực hiện Dự án điểm điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 1240/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn chủ trì hội nghị.
Dự án điểm “Điều tra, kiểm kê rừng” tại Hà Tĩnh có 2 hợp phần là điều tra và kiểm kê rừng. Theo đó, điều tra rừng chủ yếu do đơn vị tư vấn trung ương thực hiện trên cơ sở giải đoán quang phổ từ ảnh vệ tinh Spot 5 kết hợp với điều tra rừng tại thực địa. Sản phẩm điều tra rừng làm tư liệu cho kiểm kê rừng. Còn kiểm kê rừng chủ yếu do địa phương tổ chức thực hiện, thực tế là các chủ rừng là hộ gia đình, 186 xã tạm quản lý, 21 chủ rừng tổ chức trực tiếp kiểm kê và chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện, xã trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo.
Thành quả của điều tra rừng và kiểm kê rừng là: Bản đồ hiện trạng theo quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Hà Tĩnh; tổng hợp hiện trạng rừng theo loài cây, trữ lượng gắn với chủ quản lý (hộ gia đình, các tổ chức) theo ranh giới hành chính tỉnh. Bằng các tư liệu chủ yếu gồm: ảnh vệ tinh SPOT 5 độ phân giải 2.5 m, các kết quả điều tra rừng chu kỳ IV, các bản đồ địa hình, bản đồ giao đất, bản đồ thổ nhưỡng và các phương pháp thực hiện điều tra kết hợp khoa học hiện đại và kiến thức bản địa, theo Thông tư 34 đã có thể xác định được 18 trạng thái rừng ở Hà Tĩnh.
Còn về công tác kiểm kê rừng. Kết quả bước đầu là: hoàn thiện quy trình kỹ thuật điều tra, kiểm kê rừng; hoàn thành khâu kiểm kê rừng tại thực địa của các chủ rừng nhóm I và nhóm II theo đúng trình tự kỹ thuật theo quy định của dự án. Theo đó, 186 xã/195 xã có rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn 12 huyện, thành phố, thị xã; 21/21 chủ rừng là các tổ chức...
Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Hà Công Tuấn và Phó Chủ tịch Lê Đình Sơn đều đánh giá cao những nỗ lực và kết quả bước đầu của việc thực hiện dự án. Kết quả đó không chỉ cơ bản đáp ứng được theo QĐ của Thủ tướng Chính phủ, là căn cứ khoa học đáng tin cậy phục vụ cho sự phát triển và bảo vệ rừng mà còn huy động được sự tham gia đầy đủ của các cấp, các ngành, từ đó nâng cao nhận thức, năng lực quản lý Nhà nước trong lĩnh vực Lâm nghiệp... Từ kết quả trên, Nhà nước có cơ sở điều chỉnh hợp lý các chính sách về lâm nghiệp để giải quyết những vướng mắc trên lĩnh vực này.
Cùng với việc ghi nhận những kết quả tích cực, các đồng chí chủ trì hội nghị cũng chỉ ra những hạn chế trong thực hiện dự án và đề nghị, thời gian tới cần: Tập trung hoàn thành công tác kiểm kê rừng trong tháng 9 để kết thúc dự án vào tháng 10; sau đó tiếp tục tập huấn để sử dụng có hiệu quả kết quả trên... (Nông Nghiệp Việt Nam 17/9; Báo Hà Tĩnh 16/9)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Sở NN&PTNT vừa tiến hành sát nhập các ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ nhằm giảm bộ máy BQL và tăng cường lực lượng trực tiếp bảo vệ rừng (BVR).
Thực hiện Đề án kiện toàn và sắp xếp các BQL rừng phòng hộ và đặc dụng của UBND tỉnh, ngành Nông nghiệp & PTNT đã tiến hành kiện toàn 8/9 BQL rừng phòng hộ, đặc dụng (trừ Vườn Quốc gia Vũ Quang) và sát nhập hai BQL rừng phòng hộ Thạch Hà và Cẩm Xuyên vào BQL Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ.
Việc sát nhập hai BQL trên (có quy mô nhỏ) vào Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ sẽ tăng diện tích vùng đệm cho Khu bảo tồn, giảm bộ máy quản lý của các BQL khoảng 7 người cùng một số người hợp đồng khác để tập trung cho lực lượng trực tiếp BVR ở các trạm và các vùng nhạy cảm.
Đồng thời, hai doanh nghiệp là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp - Dịch vụ Hương Sơn và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp – Dịch vụ Chúc A tiến hành cắt giảm 25.844 ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ, bàn giao cho các BQL rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu và BQL rừng phòng hộ sông Ngàn Phố quản lý.
Ngoài ra, BQL rừng phòng hộ Nam Kỳ Anh sẽ tiếp nhận 5.131 ha đất và rừng của Công ty CP Nông lâm sản Hà Tĩnh. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp cũng tiến hành rà soát, cắt chuyển diện tích rừng sản xuất cho các doanh nghiệp thuê hoặc bàn giao về địa phương để giao cho hộ gia đình trồng rừng.
Sau khi sát nhập, 6 BQL rừng phòng hộ và đặc dụng quản lý 125.647 ha rừng các loại, trong đó, rừng phòng hộ chiếm khoảng 2/3 diện tích. Riêng Vườn Quốc gia Vũ Quang là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh Hà Tĩnh quản lý, định hướng tổ chức sẽ giữ nguyên. Việc kiện toàn và sắp xếp lại các BQL trong toàn tỉnh sẽ tạo điều kiện cho việc quản lý rừng phòng hộ được tập trung hơn; đồng thời, chia (trả) đất rừng của các BQL cho doanh nghiệp và địa phương để người dân được tiếp cận nguồn quỹ đất này triển khai công tác trồng rừng sản xuất, góp phần xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, giảm đầu mối lãnh đạo, tăng cường biên chế cho công tác bảo vệ rừng ở các trạm.
Ông Nguyễn Viết Ninh - Trưởng Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ (Cẩm Xuyên) cho hay: “Sau khi sát nhập, diện tích của Ban trải dài trên 26 xã, thuộc 4 huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và Hương Khê, tiếp giáp với 2 huyện của tỉnh Quảng Bình. Sau khi sát nhập diện tích quản lý của Ban lớn hơn nhiều nên việc quản lý, bảo vệ rừng cũng trở nên khó khăn, vất vả. Do vậy, cần sớm thành lập một số đơn vị trực thuộc Ban như Hạt kiểm Lâm, Trung tâm dịch vụ và giáo dục môi trường rừng,… để bên cạnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân trong công tác BVR, phòng chống biến đổi khi hậu và đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng”.
Ngoài ra, theo ông Ninh thì một việc mà có thể dễ dàng nhận thấy nhất sau khi sát nhập là trước đây trên một địa bàn có nhiều đơn vị quản lý nên khi xẩy ra một vụ lấn chiếm, xâm hại rừng,… ở vùng giáp ranh của 2 đơn vị thì khó xác định trách nhiệm, đơn vị này đổ lồi cho đơn vị kia. Nhưng nay đã sát nhập về một đơn vị quản lý thì không còn xảy ra tình trạng đó nữa, tất cả mọi sự việc xảy ra ở đâu cũng là trách nhiệm của Ban; và một số đối tượng cũng không thể lợi dụng địa bàn giáp ranh, nhạy cảm để làm bừa nên công tác quản lý, bảo vệ rừng ở những địa bàn này sẽ trở nên tốt hơn.
Tuy nhiên, sau khi sát nhập, các BQL rừng phòng hộ và đặc dụng đều tăng diện tích rừng phòng hộ; số diện tích được tăng này chủ yếu trải dài trên địa bàn rộng, bị chia cắt bởi địa hình hiểm trở, khu đô thị,…nằm ở khu vực biên giới, nhạy cảm nên công tác quản lý, BVR (nhất là phòng chữa cháy, lâm tặc vào rừng khai thác lậu gỗ quý, săn bắt động vật quý hiếm…) càng trở lên phức tạp, và khó lường trong thời gian tới. (Báo Hà Tĩnh 18/9)đầu trang(
Sáng 16/9, Panasonic Việt Nam đã trao giải cuộc thi Panasonic Nhật ký Xanh cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở.
Vượt qua 460 học sinh khác, em Nguyễn Quỳnh Trâm, học sinh trường Trung học cơ sở Marie Curie (Hà Nội) đã xuất sắc giành giải Nhất và là đại diện cho học sinh Việt Nam tham dự lễ trao giải toàn cầu, diễn ra vào tháng 11 năm nay tại Tokyo, Nhật Bản.
Là lần thứ hai được tổ chức tại Việt Nam, Panasonic Nhật ký Xanh 2012 được phát động từ ngày 19/6 đến ngày 10/8/2012 và nhận được nhiều bài thi xuất sắc. Ý tưởng bảo vệ môi trường của các em được mở rộng ra cộng đồng với nhiều sáng tạo như: lập hội những người yêu thích và bảo vệ thiên nhiên, hội ghét bỏ tàn phá rừng, các nhóm tình nguyện viên bảo vệ môi trường...
Mỗi ngày, nhật ký của các em được kể lại bằng các bức tranh đầy màu sắc và sinh động với nhiều chất liệu khác nhau như giấy tái chế, đất sét, tre nứa, vỏ chai, vải, túi nilông.
Các bài viết thể hiện các em học sinh không những nhận thức sâu hơn mà còn có những hành động thiết thực tham gia bảo vệ môi trường cùng cộng đồng.
Tại lễ trao giải, nhiều người đã không khỏi ngạc nhiên trước những cuốn nhật ký được minh họa cụ thể bằng những hình vẽ sống động, mô tả những hành động bảo vệ hoặc làm mất vệ sinh môi trường trong cuộc sống thường nhật.
Được biết, vào tháng 2 vừa qua, người thắng cuộc tại Panasonic Nhật ký Xanh 2011 của Việt Nam đã tham dự lễ trao giải toàn cầu diễn ra tại Paris (Pháp) và dành được giải thưởng Trường học trẻ em.
Ngoài hoạt động Giáo dục môi trường được tổ chức thường xuyên tại Trung tâm Panasonic Risupia Việt Nam và các trường tại Hà Nội, Panasonic còn thường xuyên tổ chức các chương trình, cuộc thi nhằm phát triển khả năng sáng tạo, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho các em học sinh. (VietnamPlus.vn 16/9)đầu trang(
15/9, đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với tỉnh Lai Châu về việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Theo báo cáo của tỉnh Lai Châu: Từ đầu năm đến nay, tổng thu từ nguồn ủy thác chi trả DVMTR là trên 102,2 tỷ đồng; trong đó số tiền DVMTR đã chi là trên 3,8 tỷ đồng. Hiện nay, tổng diện tích khoán rừng trên toàn tỉnh là gần 264.000 ha. Tỉnh chủ động kê khai, ký kết hợp đồng nhận ủy thác chi trả của các cơ sở sản xuất thủy điện trên địa bàn (đã ký với 4/5 nhà máy thủy điện).
Tỉnh Lai Châu đã tổ chức nhiều cuộc họp, buổi gặp mặt để phổ biến, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về triển khai chi trả DVMTR đến bà con các dân tộc thiểu số thuộc diện được giao khoán, đồng thời phối hợp với hội Người Cao tuổi, Hội Nông dân và các đoàn thể để tuyên truyền, phổ biến chính sách chi trả DVMTR…
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi ghi nhận những cố gắng của tỉnh Lai Châu trong công tác bảo vệ, phát triển rừng và chính sách ưu tiên chi trả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Thay mặt đoàn công tác, đồng chí đề nghị tỉnh Lai Châu nhanh chóng giải ngân số tiền chi trả, tập trung vào các nhóm chủ rừng là doanh nghiệp nhà nước, hộ gia đình đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ bằng việc đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền cho các chủ rừng, doanh nghiệp và người dân hiểu về nội dung chính sách chi trả DVMTR. Là tỉnh có số tiền chi trả DVMTR lớn nhất cả nước, vì vậy việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng phòng hộ phải được tiến hành có hiệu quả và đồng bộ. (Tài Nguyên&Môi Trường 17/9)đầu trang(
17/9, UBND tỉnh tổ chức Tổng kết phong trào toàn dân tham gia phòng cháy và chữa cháy.
Nghệ An địa bàn rộng, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn. Toàn tỉnh có 685.000 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ là 320.000 ha, rừng đặc dụng chiếm 188.000 ha, rừng kinh tế trên 176.000 ha. Hàng năm vào mùa hè do ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng làm tăng mức độ nguy cơ cháy, nhất là cháy rừng. Công tác phòng cháy chữa cháy là một nhiệm vụ cấp bách và quan trọng của tỉnh.
Với điều kiện đặc thù đó, thời gian qua, UBND tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo các ngành các cấp, các địa phương phối hợp thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy, bảo vệ tài sản nhà nước và của nhân dân, bảo vệ tốt các khu rừng trên địa bàn. Với sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, đã có nhiều địa phương, đơn vị triển khai thực hiện tốt công tác PCCC là: Thành phố Vinh, Quỳ Hợp, Tương Dương, Anh Sơn, Nam Đàn, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Công ty Xăng dầu Nghệ An, Điện lực Nghệ An, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Kho KX3 - Quân khu 4...
Hội nghị cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong công tác PCCC, hàng năm vẫn còn tình trạng xẩy ra cháy rừng, ảnh hưởng đến tài sản và môi trường sinh thái; đồng thời đề ra những giải pháp để thực hiện có hiệu quả hơn công tác PCCC trong thời gian tới.
Tại lễ tổng kết, 1 tập thể được Thủ tướng tặng Bằng khen, 9 tập thể, 10 cá nhân được Bộ Công an tặng Bằng khen; Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen cho 20 tập thể, 17 cá nhân đã có thành tích trong 10 năm thực hiện phong trào toàn dân tham gia phòng cháy chữa cháy. (Báo Nghệ An 18/9)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
17-9, UBND tỉnh Đồng Nai đã tiếp đoàn làm việc của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) thẩm định hồ sơ đề cử di sản thiên nhiên thế giới đối với Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên.
Đợt thẩm định của IUCN sẽ diễn ra từ ngày 17 đến 25-9 nhằm tiếp cận hồ sơ và nghiên cứu thực địa lần cuối để trình lên Ủy ban Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc UNESCO.
Ông Nguyễn Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, cho biết Việt Nam đã làm hồ sơ công nhận VQG Cát Tiên là di sản thiên nhiên thế giới từ rất lâu nhưng đến năm 2011 mới được UNESCO chấp nhận về mặt kỹ thuật và tiến hành đợt thẩm định này.
Mới đây, VQG Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới. Đồng thời, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cũng đã thẩm định xong hồ sơ công nhận VQG Cát Tiên là di tích quốc gia đặc biệt đang trình Chính phủ phê duyệt. Điều này đồng nghĩa với việc VQG Cát Tiên đang được điều chỉnh, quản lý bằng nhiều luật của Việt Nam cũng như quốc tế, công tác quản lý và bảo tồn cũng được hiệu quả hơn. Vì vậy, ông Trí tự tin tỉ lệ “trúng cử” lần này của VQG Cát Tiên sẽ rất cao.
VQG nằm trên địa bàn 3 tỉnh: Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng với tổng diện tích khoảng 72.000 ha. Việc khảo sát, công nhận VQG Cát Tiên là di sản thiên nhiên thế giới diễn ra trong bối cảnh các bộ, ngành chức năng đang xem xét việc triển khai xây dựng 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A trong khu vực này. (Người Lao Động 17/9; VietnamPlus.vn 17/9)đầu trang(
17-9, nguồn tin từ UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết tỉnh vừa có quyết định thành lập Ban Quản lý (BQL) vịnh Nha Trang.
Theo đó, BQL sẽ trực thuộc UBND TP Nha Trang trên cơ sở BQL Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, BQL Bến tàu du lịch cầu Đá Vĩnh Nguyên và bộ phận cứu hộ nhân đạo trên biển của Đội Thanh niên xung kích Nha Trang.
BQL vịnh Nha Trang quản lý việc khai thác các giá trị của vịnh trên cơ sở bảo vệ, bảo tồn danh lam thắng cảnh và hệ đa dạng sinh học.
Vịnh Nha Trang là thành viên của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới (từ tháng 6-2003). Vịnh rộng khoảng 507 km2, nằm ở trung tâm tỉnh Khánh Hòa, xung quanh có 19 đảo lớn nhỏ với đa dạng sinh học quý hiếm. (Pháp Luật TPHCM 18/9)đầu trang(
Chiều 16/9, Trung tâm Nghiên cứu khoa học và cứu hộ Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) đã tiếp nhận một cá thể voọc đen Hà Tĩnh do Trạm Kiểm lâm La Trọng, thuộc Hạt kiểm lâm huyện Minh Hóa (Quảng Bình) bàn giao.
Theo lực lượng kiểm lâm huyện Minh Hóa, chú voọc này đã dính bẫy của ông Hồ Chăn, người dân tộc Khùa (trú tại bản La Trọng 1, xã Trong Hóa, huyện Minh Hóa) tại khu vực rừng đá vôi tiếp giáp với ranh giới giữa địa bàn xã này và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Sau khi bắt được, ông Chăn đưa về nhà nuôi nhốt để tìm mối tiêu thụ.
Từ nguồn tin báo, cán bộ Trạm Kiểm lâm La Trọng đã trực tiếp gặp ông Chăn để vận động, thuyết phục ông nên giao nộp voọc cho lực lượng chức năng để phục vụ công tác bảo tồn, nghiên cứu.
Khi tiếp nhận, cá thể voọc đen Hà Tĩnh này đang trong tình trạng bị rối loạn tiêu hóa. Buổi giao nhận có sự chứng kiến của nhiều lực lượng đại diện liên quan. Chú voọc sau khi được các chuyên gia thực hiện các biện pháp nghiệp vụ giúp phục hồi sức khỏe, sẽ được thả về lại môi trường sống tự nhiên.
Voọc đen Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) là loài quý hiếm, cần đặc biệt bảo vệ trong Sách Đỏ thế giới của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế.
Tại Việt Nam, loài này được liệt vào danh sách động vật quý hiếm thuộc nhóm IB, trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Loài này được tìm thấy đầu tiên ở khu vực rừng núi đá vôi Tây Quảng Bình. Tuy có tên là voọc đen Hà Tĩnh nhưng loài này lại không phân bố ở tỉnh Hà Tĩnh. Trong một cuộc khảo sát khác ở vùng núi tỉnh Quảng Trị, một quần thể voọc đen Hà Tĩnh cũng đã được phát hiện.
Loài voọc sống theo từng đàn từ 2 - 15 cá thể, nhưng cũng có khi đến 30 cá thể. Chúng được đồng bào người dân tộc thiểu số Vân Kiều (ở Quảng Bình và Quảng Trị) gọi là “con cung” - nghĩa là loài “khỉ đen đuôi dài sống trong hang đá”. (Đất Việt 17/9)đầu trang(
Trong những năm qua, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng, ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ dưỡng.
Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, sự phát triển du lịch sinh thái còn mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội nâng cao thu nhập cho cộng đồng người dân tại địa phương. Và huyện Tiên Yên đang có thuận lợi để phát triển ngành “công nghiệp không khói” này nếu được đầu tư xứng tầm.
Huyện Tiên Yên có hơn 5.000ha bãi triều, trong đó có khoảng 3.000ha rừng ngập mặn được đánh giá là đa dạng sinh học nhất miền Bắc. Rừng ngập mặn của Tiên Yên trải dài dọc ven biển, đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người dân, đồng thời còn là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt.
Còn nhớ hơn chục năm về trước, câu chuyện phá rừng ngập mặn, tạo đầm nuôi tôm tại xã Đồng Rui đã khiến nhiều hộ gia đình trong xã tái nghèo vẫn còn đọng lại trong mỗi người dân nơi đây. Con tôm sống được vài vụ thì cả một vùng sinh thái bị tàn phá. Bởi vậy, họ đã phải trả giá đắt khi nước triều dâng làm cho nhiều diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị vỡ, hàng trăm ha đất nông nghiệp bị nhiễm mặn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của cả xã. Với quyết tâm không để vùng đất giàu tiềm năng này biến thành vùng “đất chết”, chính quyền và nhân dân các xã có rừng ngập mặn của Tiên Yên đã chung sức để hồi sinh lại những cánh rừng đã tàn lụi, với hy vọng tạo nên khu du lịch sinh thái mang nét riêng.
Từ năm 2005 đến nay, được sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ về “quản lý bền vững rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng”, huyện Tiên Yên đã cho thu hồi hơn 1.500ha rừng ngập mặn và gần 200ha đầm nuôi tôm không hiệu quả chuyển sang trồng cây sú, cây trang, tăng màu xanh cho những cánh rừng. Cùng với đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho các hộ dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của rừng ngập mặn, khuyến khích người dân thả tôm, cá dưới tán rừng ngập mặn nuôi theo kiểu tự nhiên để vừa bảo vệ rừng, vừa phát triển kinh tế từ rừng. Đó cũng là nguồn thu lớn của người dân các xã có rừng ngập mặn. Họ sống bằng nghề đánh bắt hải sản.
Nhờ tích cực vận động trồng mới, cũng như tuyên truyền sâu rộng cho người dân biết tầm quan trọng của rừng ngập mặn mà năm 2000, xã Đồng Rui chỉ còn 1.523ha rừng ngập mặn thì đến năm 2010 con số này đã lên 2.750ha, bằng 55,3% diện tích đất tự nhiên của xã. Điều này cho thấy việc khôi phục và phát triển rừng ngập mặn trên địa bàn xã Đồng Rui nói riêng và huyện Tiên Yên nói chung đã đạt được hiệu quả rõ nét. Đến giờ, rừng ngập mặn Đồng Rui cây cao nhất cũng đã hơn 5m; tầng thấp hơn cao từ 2-3m. Bên dưới là lớp cây non mới mọc. Đây cũng là nơi trú ngụ cho các loại nhuyễn thể sinh sống và còn là bức tường che chắn sóng, bão, lũ cho đê, ngăn nước biển dâng, triều cường, xâm mặn…
Rừng ngập mặn của Tiên Yên hồi sinh và ngày càng được mở rộng. Môi trường nước ở đây xanh trong, in rõ dáng hình của những bộ rễ cây cắm sâu vào lòng đất. Ven bãi nổi bật lên màu vàng của những bãi cát trải rộng vẫn giữ được những nét đẹp hoang sơ, thơ mộng được bao bọc bởi những cánh rừng ngập trong nước. Những điều kiện trên rất thuận lợi để Tiên Yên phát triển tuyến du lịch sinh thái biển và rừng ngập mặn.
Lợi ích từ rừng ngập mặn đem lại đã thấy rõ, song để khai thác kinh tế từ nguồn lợi này theo hướng bền vững cũng đang là điều mà Đảng bộ, nhân dân huyện Tiên Yên tính đến. Đặc biệt, việc kết hợp phát triển du lịch với bảo tồn tài nguyên luôn là một trong những thách thức.
Ông Hoàng Văn Quang, Chánh Văn phòng UBND huyện Tiên Yên cho biết: Rừng và biển là hai yếu tố hết sức quan trọng để thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái nói riêng và phát triển KT-XH của huyện nói chung. Chính vì vậy, Đề án phát triển du lịch trong cơ cấu kinh tế huyện Tiên Yên giai đoạn 2011-2015 sẽ tập trung đẩy mạnh phát triển mô hình du lịch sinh thái từ nền tảng của rừng ngập mặn.
Để phục vụ cho các chiến lược phát triển du lịch của mình, Tiên Yên cũng đã xác định phải thu hút các nguồn vốn đầu tư vào hoàn thiện hệ thống giao thông, nạo vét luồng lạch, xây dựng bến cảng; kêu gọi các đơn vị, doanh nghiệp có năng lực, kinh nghiệm làm du lịch chuyên nghiệp về xây dựng; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia làm du lịch tại quê hương mình, mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch…
Cùng với đó là việc bảo tồn cũng sẽ được tính đến. Đó là triển khai toàn diện công tác chăm sóc, bảo vệ rừng ngập mặn, các xã có rừng sẽ thành lập Ban quản lý bảo vệ rừng ngập mặn. Tích cực tuyên truyền, vận động, quản lý, tổ chức điều hành công tác bảo vệ rừng, kiên quyết xử lý các đối tượng vi phạm xâm hại tới rừng ngập mặn… Với các đơn vị làm du lịch, sẽ quy hoạch luồng tuyến, điểm tham quan sao cho tạo được sự hấp dẫn, thoải mái nhất với du khách song vẫn bảo tồn được môi trường tự nhiên.
Trong tương lai không xa, với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, người dân huyện Tiên Yên, chắc chắn du lịch sinh thái rừng ngập mặn sẽ là tiền đề để phát triển du lịch bền vững, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển KT-XH của một huyện miền núi, trở thành điểm đến hấp dẫn du khách. (Báo Quảng Ninh 18/9)đầu trang(
Vừa qua, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến lâm (TTKNKL) Bắc Kạn phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh, công ty cổ phần Chế biến gỗ Sahabak tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật khai thác và chế biến lâm sản từ nguồn vốn hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia.
Lớp học có sự tham gia của 30 học viên là cán bộ khuyến nông đang công tác tại các huyện, xã trên địa bàn cùng với các hộ là nông dân đầu mối có nhu cầu về trồng rừng.
Lớp học được tổ chức nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về trình tự, thủ tục hướng dẫn xin cấp phép khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ theo thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và hướng dẫn 738 của Sở Nông nghiệp & PTNT về thực hiện thông tư 35 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn cũng như các biện pháp kỹ thuật về khai thác và chế biến gỗ…
Trong 5 ngày diễn ra lớp tập huấn (từ ngày 10 đến ngày 14/9/2012 ), các học viên ngoài việc được các giảng viên truyền tải đầy đủ những văn bản pháp quy hướng dẫn thủ tục xin cấp phép khai thác gỗ rừng trồng cũng như những kiến thức cơ bản về kỹ thuật khai thác, chế biến lâm sản mà còn được tham quan học tập kinh nghiệm thực tế tại hai phân xưởng sản xuất gỗ của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Sahabak là phân xưởng ép ván dăm tận dụng, xưởng tinh chế gỗ của Công ty tại Khu Công nghiệp Thanh Bình, huyện Chợ Mới.
Kết thúc lớp tập huấn các học viên đều nắm bắt được các các văn bản pháp quy về trình tự, thủ tục xin cấp phép khai thác gỗ cũng như các kiến thức cơ bản về kỹ thuật khai thác, chế biến lâm sản như cách chọn hướng đổ, phát dọn xung quanh gốc cây và làm đường tránh, kỹ thuật mở miệng cũng như bước đầu tiếp cận với dây chuyền chế biến hiện đại của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Sahabak từ quy trình Công nghệ tổng thể về chế biến gỗ ván thanh và ván ghép thanh đến các quy trình chế biến cụ thể như quy trình kỹ thuật xẻ sơ chế đối với gỗ tròn, kỹ thuật sấy khô gỗ theo phương pháp gia nhiệt bằng hơi nước… (Theo Khuyến Nông VN 17/9)đầu trang(
Phóng viên đài THVN và nhà nghiên cứu độc lập Lê Văn Thao đã có chuyến đi kéo dài 12 ngày trong rừng Yordon - Đăk Lăk và đã ghi lại được hình ảnh về voi rừng. Điều đáng nói là những hình ảnh được thực hiện ở cự ly gần cho thấy nhiều sự lo lắng hơn là lạc quan.
Voi rừng Việt Nam đang trên đà bị tuyệt diệt. Đó là một thực tế buồn đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra từ nhiều năm nay. Ngay tại Đăk Lăk, mảnh đất được coi là quê hương của voi Việt Nam cũng phải khó khăn lắm người ta mới bắt gặp dấu chân của voi rừng. Voi rừng Việt Nam hiện còn bao nhiêu và phân bố như thế nào cho đến nay vẫn là ẩn số.
Phóng viên đài THVN và nhà nghiên cứu độc lập Lê Văn Thao đã có chuyến đi kéo dài 12 ngày trong rừng Yordon - Đăk Lăk và đã ghi lại được hình ảnh về voi rừng. Điều đặc biệt đáng nói là những hình ảnh được thực hiện ở cự ly gần, trong sinh cảnh của voi rừng được ghi lại cho thấy nhiều sự lo lắng hơn là lạc quan.
Không như suy nghĩ ban đầu, voi trong tự nhiên thật nhỏ bé. Chỉ khi tiến lại ở khoảng cách 50m, chúng tôi mới phát hiện ra đàn voi. Theo những người am hiểu, môi trường thay đổi, ở đây là thiếu thức ăn và cây cối nên voi cũng tự thu nhỏ kích thước, những con voi cách đây 30 năm thường cao từ 3,5m trở lên, bây giờ ở cùng độ tuổi, voi chỉ cao khoảng 2m. Điều đáng ngại nhất là sự mất cân bằng giới.
Di dân tự do, đặc biệt những cộng đồng dân cư không phải người bản địa cũng là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của voi hoang dã. Ngay trong vùng lõi của vườn Quốc gia Yordon, hơn 10 năm một buôn làng đã hình thành và cứ lớn dần.
Nhà nghiên cứu voi Lê Văn Thao cho rằng, từ chỗ chỉ có 30 hộ dân, hiện đã hơn 100 hộ dân. Nương rẫy nhà cửa đã phát triển, buôn làng ấy cũng nằm cắt đứt đường đi của voi ra sông serepok.
Voi đực suy kiệt có nghĩa là rất ít có khả năng có voi con hoặc nếu có cũng rơi vào trường hợp cận huyết, môi trường đang ngày bị thu hẹp bởi con người. Theo khảo sát của Viện Quy hoạch rừng, thời điểm năm 1980, tại Đăk Lăk có khoảng 500 cá thể voi hoang dã, sau 30 năm, con số ấy đã giảm 1/5 (tức là trong thiên nhiên hiện nay chỉ còn khoảng 100 cá thể), đây là tốc độ suy giảm kinh hoàng. Có nhiều dự án về bảo vệ voi trong hoang dã, nhưng dường như đoạn kết xấu nhất đã có thể nhìn thấy từ bây giờ. (VTV 17/9)đầu trang(
Với trang trại rộng hơn 4.000m2, anh Huỳnh Chí Công (xã Phước Vĩnh An, Củ Chi, TP.HCM) đã thu hàng tỉ đồng từ nghề nuôi rắn, kỳ đà và rùa để xuất khẩu.
Từ đầu năm đến nay, trang trại này đã xuất khoảng 2 tấn rùa sang Trung Quốc với giá gần 400.000 đồng/kg. Theo anh Công, chỉ riêng năm nay trang trại này có thể xuất khẩu khoảng 4 tấn kỳ đà và rùa thương phẩm với giá dao động 400.000-600.000 đồng/kg.
Một trang trại có diện tích không lớn nhưng trong đó là hàng trăm chuồng với hàng nghìn con vật nuôi giá trị cao, đem lại lợi nhuận hàng tỉ đồng mỗi năm. Anh Công cho biết bốn năm trước anh là tài xế xe khách, trong một lần qua Bình Phước được người quen giới thiệu về mô hình nuôi rắn. Tìm hiểu qua sách báo và được bạn giúp đỡ thấy hứng thú với nghề nuôi rắn, anh bỏ hẳn nghề lái xe để về mảnh đất Củ Chi dựng trang trại nuôi thử.
Sau hơn một năm thấy nghề nuôi rắn có triển vọng, anh đã mở rộng quy mô trang trại. Hiện trang trại anh có 200 chuồng nuôi rắn với hơn 2.000 con thương phẩm và 100 cặp bố mẹ. “Một năm tôi xuất khẩu trên 1 tấn rắn thương phẩm với giá dao động từ 600.000-1,2 triệu đồng/kg tùy loại. 100 cặp rắn bố mẹ mỗi năm sinh một lứa khoảng 3.000 trứng được ấp thủ công với tỉ lệ nở thành công khoảng 99%, con non nuôi trên một năm có thể xuất bán giống với giá 1,2 triệu đồng/con” - anh Công cho biết.
Không chỉ có rắn mà kỳ đà và rùa tại trang trại anh cũng đã được xuất khẩu. Theo anh Công, hiện nay tại trang trại có trên 500 con kỳ đà và 700 con rùa. “Chúng tôi chủ yếu xuất sang Trung Quốc và một số nước Trung Đông. Với lượng xuất khẩu rắn, kỳ đà và rùa hiện tại mỗi năm tôi thu về hơn 1,5 tỉ đồng, trừ chi phí lãi khoảng 50%” - anh Công cho hay.
Theo anh Công, hiện cơ sở anh đã liên kết với năm hộ nông dân tại địa phương và một số trang trại ở Bình Phước và Đồng Tháp để gom hàng khi cần, nhưng theo anh nguồn cung hiện nay như “muối bỏ biển” so với nhu cầu. “Nhiều lúc trong hai tháng nhưng công ty thu mua đặt đến 4 tấn rắn, kỳ đà, cố gom hàng chúng tôi cũng chỉ đáp ứng được khoảng 50%. Các tháng giáp tết và ra tết thị trường Trung Quốc rất cần nên giá bán cao hơn mức bình thường từ 10-20%” - anh Công nói.
Theo lời anh Công, các loài vật nuôi này đang được anh cung cấp theo hợp đồng cho trang trại Thái Dương tại TP.HCM, đơn vị trực tiếp xuất khẩu qua Trung Quốc. Đầu ra mặt hàng này rất ổn định do rắn, kỳ đà, rùa chỉ phát triển với khí hậu nóng, Trung Quốc có mùa lạnh kéo dài, đặc biệt những tháng cuối năm nên nhu cầu rất lớn. “Sắp tới, khi lượng ổn định tôi sẽ xin giấy phép để xuất khẩu trực tiếp” - anh Công dự tính. (Tuổi Trẻ 18/9)đầu trang(
TAND huyện Phú Hòa vừa tuyên phạt bị cáo Võ Anh Tuấn (trú thôn Phong Niên, xã Hòa Thắng) 42 tháng tù về tội hủy hoại rừng. Về trách nhiệm dân sự, tòa tuyên buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường hơn 14 triệu đồng cho UBND xã Hòa Hội trồng lại diện tích rừng đã bị chặt phá.
Theo cáo trạng, vào tháng 6/2011, Võ Anh Tuấn thuê Phan Văn Phê và Phan Văn Thành để chặt phá rừng lấy đất trồng hoa màu. Sau đó, cả ba đến rừng phòng hộ xung yếu tại lô 3, khoảnh 5, tiểu khu 268 ở khu vực Hang Dơi do Nhà nước phân cấp cho UBND xã Hòa Hội quản lý để chặt phá 9.968m2 lấy đất trồng hoa màu. (Báo Phú Yên 17/9)đầu trang(
Từ thời Pháp thuộc, vùng cao huyện Na Rì (tỉnh Bắc Kạn) đã nổi tiếng là mỏ vàng của cả vùng Đông Bắc. Dân đào vàng tứ xứ tập trung về mảnh đất này đào bới, lập bưởng. PV Nông Nghiệp Việt Nam đã có cuộc thâm nhập và chứng kiến những câu chuyện vừa kỳ lạ vừa hết sức hãi hùng ở nơi vẫn được gọi là thánh địa khổng lồ của vàng thổ phỉ.
Tiếng Tày gọi vùng lõi của của Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ là các Lũng. Lũng Đẩy, Lũng Vài, Lũng Thúng… những cái tên gợi lên sự xa xôi, cách trở. Còn chúng tôi, xin được gọi vùng đất này là đặc khu, cách gọi để chỉ một thế giới cách biệt, nơi được điều khiển bởi luật rừng.
Phải mất rất nhiều thời gian và cả tiền bạc, tôi mới thuyết phục được Tuấn (đã đổi tên), một chủ bưởng vàng đã rửa tay gác kiếm ở xã Lương Thượng nhận lời đưa mình thâm nhập những bãi vàng nằm sâu trong vùng lõi của rừng Kim Hỷ.
Dù đã có hàng chục năm làm chủ bưởng vàng ở đây nhưng chính bản thân Tuấn cũng không dám “bảo kê” cho sự an toàn của tôi mà phải “ngụy trang” thành một người gánh hàng thuê rồi trà trộn vào đám người chuyên gánh lương thực, xăng dầu phục vụ bãi vàng thổ phỉ lớn nhất tỉnh Bắc Kạn.
Để lên thủ thủ vàng thổ phỉ này chỉ có hai con đường. Một là theo đường mòn từ xã Lương Thượng lên Lũng Vài, hai là đi từ bản Vin của xã Kim Hỷ lên Tốc Lù, Cốc Thốc. Các bưởng vàng nằm nối tiếp nhau tạo thành hình vòng cung trong vùng lõi rừng Kim Hỷ.
Tuấn bảo rằng, ít nhất cũng phải có hàng trăm chủ bưởng đang hoạt động trong bãi vàng khổng lồ này.
Ba giờ sáng, từng đoàn người tụ tập ở chợ xã Lương Thượng chuẩn bị hàng hóa để gánh bộ vào bãi vàng, Tuấn thức tôi dậy để đi theo. Nếu tính đường chim bay thì từ trung tâm xã lên Lũng Vài chỉ tầm 3km. Nhưng nếu đi bộ thì phải mất tới 3-4 tiếng đồng hồ leo dốc đá. Qua Lũng Vài, thánh địa vàng thổ phỉ hiện ra với hàng trăm bãi vàng bị cày xới nham nhở. Tiếng máy, tiếng người chẳng khác nào hoạt động ở một công trường tấp nập.
Đặc khu Kim Hỷ được chia thành nhiều vùng lãnh địa. Lũng Vài, Lũng Phúng là của dân địa phương, nhưng lên đến Cốc Thốc, Lũng Đẩy là của dân giang hồ tứ chiếng. Trong lãnh địa của dân tứ chiếng này lại được chia thành nhiều bưởng. Bưởng của dân Hải Phòng, bưởng của dân Thái Nguyên, bưởng của dân Bắc Kạn… Mỗi bưởng có từ 10-15 quân do một đại ca đứng ra lãnh đạo, tạo thành thế đối trọng, cân bằng, tránh tình trạng bắt nạt nhau.
Chỉ riêng tên của các đại ca làm chủ bưởng đã đủ để nói lên tất cả. Bưởng Hải Phòng của một đại ca tên là Long "nghiện", bưởng Thái Nguyên của Dũng "chó", bưởng Bắc Kạn của Dũng "bể"…
Dù đã ngụy trang rất kỹ nhưng khi vào đến Cốc Thốc tôi vẫn cứ rợn người mỗi khi bắt gặp ánh nhìn soi mói của các chủ bưởng. Tuấn dặn rằng chỉ cần có một sự nghi ngờ nhỏ thì xem như xong. Nhẹ thì bị đánh bầm dập, nặng thì mất mạng chứ chẳng chơi. Nhiều chủ bưởng còn trang bị súng, kể cả lực lượng công an có muốn vào cũng khó, thành thử luật pháp không xuất hiện ở nơi này. Chỉ có luật rừng các chủ bưởng đề ra rồi tự thỏa thuận với nhau để quản lý các bãi vàng.
Luật đầu tiên mà bất cứ kẻ nào khi đến các bãi vàng thổ phỉ ở đặc khu Kim Hỷ đều phải học, đấy là phải chấp nhận cái chết, nếu không may bỏ mạng thì tự mình phải gánh chịu. Chỉ cách đây có 2 tháng, một thanh niên đào vàng tên Phương ở Bắc Kạn rơi từ miệng hang xuống gần 20m, chết ngay lập tức. Chủ bưởng tên là Rô chỉ thông báo cho người nhà lên nhận xác rồi phủi tay xem như chẳng có chuyện gì. Cùng lắm lão cho người lấy tấm bạt xanh quấn thành hình cái miếu, để vào đấy một lọ hương, thỉnh thoảng cho anh em thắp khấn cầu may, vậy thôi.
Trường hợp như Phương cũng có thể được xem là may mắn. Bởi ở đặc khu Kim Hỷ này, nếu dân đào vàng không có mối quan hệ, không rõ địa chỉ gia đình thì trong trường hợp tai nạn bỏ mạng bị chủ bưởng cho vùi luôn xác là chuyện bình thường. Những trường hợp khác, nếu chỉ bị thương mà không chết, chủ bưởng thẳng tay loại khỏi bưởng của mình mà không cần bất cứ chi phí bồi thường.
Luật thứ hai ở bưởng là “lương” của đám “công nhân” đều được chủ bưởng giữ lại, đến lúc nào hết nhiệm vụ sẽ trả cho về. Nếu chủ bưởng phát hiện đứa nào giữ vàng trong người kiểu gì cũng bị trị tội. Một là đánh và đuổi khỏi bưởng của mình, hai là chặt ngón tay nghiêm trị. Nhưng thông thường, một khi chấp nhận vào làm lính ở đặc khu Kim Hỷ, rất ít người có cơ hội nhận “lương” để trở về như điều luật này quy định.
Tuấn bảo rằng, hầu hết dân bãi vàng đều chết vì ma túy. Không sốc thuốc thì cũng nhiễm HIV. Việc bỏ trốn cũng là điều xa xỉ. Vào đặc khu Kim Hỷ chỉ có 2 con đường với hàng trăm lán trại tai mắt của các chủ bưởng vàng.
“Chỉ ý định thôi đã có người biết chứ đừng nói hành động”, Tuấn nói. Chính vì vậy, đặc khu Kim Hỷ trở thành mồ chôn không biết bao nhiêu mạng người của phường đào vàng tứ xứ.
Nhờ sự bảo kê của Tuấn, tôi được giới thiệu vào bưởng của lão Rô ở Cốc Thốc. Gọi là bưởng nhưng chỗ lão Rô chỉ có một cái lán, một bộ nồi chảo nấu cơm, hai con máy Đông Phong D24 để hút nước, một thùng tuyển bằng sắt và cuốc xẻng để đào hang. Dù đang thiếu người khoét hang do một công nhân tên Hùng vừa chết vì nhiễm HIV nhưng lão Rô vẫn rất thận trọng, chưa đồng ý nhận ngay mà yêu cầu Tuấn phải để tôi phải thử việc.
Quân của lão Rô có 9 người. Theo tìm hiểu của tôi thì 7 trong số đó đã nghiện nặng. Hai người còn lại không nghiện thuốc phiện mà chỉ nghiện rượu với thuốc lào. Mỗi ngày làm việc được chia thành 4 ca. Cứ mỗi ca hai người đào hang, khuân đất trong vòng 3 tiếng. Số còn lại chịu trách nhiệm nấu nướng và đi mua thuốc phiện phục vụ bưởng. Bản thân lão Rô, môi thâm sì, người lúc nào cũng lờ đờ vì không đủ thuốc.
Hóa ra cái gọi là thử việc của lão Rô chỉ đơn thuần là kiểm tra xem thử có nghiện hút hay không mà thôi. Nếu nghiện lão sẽ nhận ngay, còn nếu không thì đi bưởng khác “huấn luyện”, đến lúc nào nghiện hẵng vào đây làm việc. Bởi như lời lão, ở đặc khu Kim Hỷ này, chẳng có bưởng nào số người nghiện lại ít hơn người bình thường cả. Thành thử lão phải nhận người nghiện để lúc nào bưởng cần thuốc “tăng cường sức khỏe” thì còn biết chỗ mà đi mua.
Để minh chứng cho cái gọi là “quy chế tuyển người” của mình lão sai ngay thằng Tó, một thanh niên người Mông quê ở Cao Bằng đi mua thuốc. Chỉ một lúc sau đã thấy Tó cầm thuốc từ trên đỉnh núi chạy về. Thì ra ở Cốc Thốc này mua ma túy dễ hơn mua rau, chỉ cần biết địa điểm mà thôi.
Tôi kéo thằng Tó ra một góc để bắt đầu “thử việc”. Tó bảo rằng, muốn mua ma túy thì lên gặp chị Thái, vợ của chủ bưởng người Bắc Kạn tên là Long "bể". Cứ nói là quân ông Rô, đưa một phân vàng sẽ mua được một phân thuốc to bằng đót điếu thuốc lá. Dân ở đặc khu này thường giao dịch bằng vàng với thuốc chứ chẳng mấy khi dùng tiền. Tó còn dặn tôi để ý bà Thái, nhìn cân ly cho kỹ vì bà này hay cân thiếu.
Truyền kinh nghiệm xong Tó hỏi tôi đã nghiện chưa, nếu chưa thì vào thử luôn, nghiện cho nhanh để còn xin ông Rô vào làm việc. “Bưởng nào cũng yêu cầu phải nghiện cả”, Tó nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/9)đầu trang(
Chỉ cần khoét lớp vỏ trên thân cây và đợi vài ngày cho nhựa chảy ra là sẽ có tiền chục triệu trong tay. Với “bí quyết” kiếm tiền nhanh chóng này, nhiều người đã và đang “bức tử” hàng nghìn cây trám trong rừng đặc dụng Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.
Nhiều người dân địa phương phản ánh về tình trạng khai thác nhựa cây trám trái phép ngang nhiên diễn ra trong rừng đặc dụng Tân Trào. Theo đó, bất kỳ chỗ nào trên dãy núi Hồng có trám đều bị “làm thịt”. Cách lấy nhựa trám rất cẩu thả, không cạo vỏ thành rãnh như loài thông hay cao su, người lấy nhựa cắt 1 lớp vỏ ở thân cây là nhựa trào ra. Một vài ngày sau, nhựa sẽ đặc quánh lại thành từng mảng. Vết cắt cũ còn chưa “liền da” đã xuất hiện vết mới. Thậm chí, một cây trám phải chịu đến 4, 5 “vết mổ” chi chít quanh gốc. Càng đi sâu vào trong rừng, những cây trám bị chém không thương tiếc càng dày như nêm.
Anh L.V.M (thôn Lũng Búng, xã Tân Trào) cho biết: “Thực trạng này diễn ra từ lâu. Không chỉ có một số người dân xã Tân Trào, Bình Yên, Minh Thanh... mà còn ở Thái Nguyên sang khai thác nhựa trám trái phép. Có người mỗi lần lấy được hơn 20kg - 35kg nhựa. Với giá bán khoảng 70.000đ - 120.000đ/kg, nhẩm tính sơ qua một tháng cứ lấy vài chuyến cũng có tiền chục triệu trong tay là thường. Các đầu nậu có thể thu mua ngay tại rừng. Với công việc mang lại lợi nhuận cao như vậy, những thân trám trong khu rừng đặc dụng này đã và đang bị “hút máu” triệt để. Rụng lá, mục ruỗng từ trong thân, nhiều cây trám khổng lồ đang chết dần chết mòn, có cây đã đổ gục.
Điều đáng nói, rừng đặc dụng này có ý nghĩa lớn về văn hóa - lịch sử - môi trường, gắn với di tích Quốc gia đặc biệt ATK Tân Trào. Tình trạng “hút máu” trám như hiện nay sẽ ảnh hưởng tới hệ sinh thái. Không chỉ có trong rừng sâu, nhựa trám còn được khai thác ngay trên chính những cây mọc cạnh đường đi tuần của lực lượng kiểm lâm. Nhựa trám rất bén lửa, chỉ cần dính một tàn thuốc nhỏ có thể gây ra cháy. Những lo ngại về việc cháy rừng là hoàn toàn có cơ sở, nhất là khi mùa khô đang cận kề. (Giao Thông Vận Tải 17/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, dư luận không ít xôn xao về vụ “tàn sát” rừng với quy mô lớn, có tổ chức tại Vườn Quốc gia Yok Đôn (VQG), tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, đến nay vụ phá rừng nghiêm trọng nói trên vẫn chưa được khởi tố và có dấu hiệu “chìm xuồng”. Vì sao?.
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, VQG có diện tích 115.545ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 80.947ha. Rừng ở đây chủ yếu là rừng tự nhiên, phần lớn là rừng khộp. Yok Đôn là VQG duy nhất ở Việt Nam bảo tồn loại rừng đặc biệt này.
Thời gian qua Nhà nước đã thành lập, trả lương cho Ban giám đốc VQG, các Trạm và cả một lực lượng Kiểm lâm hùng hậu nhằm quản lý và bảo vệ rừng trong VQG. Thế nhưng, điều nghịch lý là tình trạng phá rừng trong VQG vẫn diễn ra như cơm bữa và ngày càng có chiều hướng gia tăng, song những người có trách nhiệm ở đây thì vẫn “bình chân như vại”.
Những ngày cuối tháng 8/2012 có dịp trở lại VQG, chúng tôi được tận mắt chứng kiến cảnh tan nát đến đau lòng của những khu rừng cấm. Tình trạng khai thác và vận chuyển các loại gỗ quý như căm xe, giáng hương, cẩm lai diễn ra giữa “thanh thiên bạch nhật” tại địa bàn các trạm 2, 3, 6, 8 và 11 của VQG.
Chỉ tính riêng trong tháng 8/2012, hàng trăm cây gỗ quý cổ thụ tại nhiều tiểu khu do các trạm quản lý liên tục “bốc hơi”, trong đó chủ yếu là căm xe, tập trung nhiều nhất tại các trạm 3 (41 cây) trạm 2 (16 cây ) trạm 5 (24 cây) trạm 12 (18 cây)… Đáng lưu ý là công tác kiểm tra, báo cáo ngày của các trạm về VQG lại hết sức thưa thớt. Đơn cử: trạm 2 chỉ báo cáo 12/28 ngày, trạm 4 (16/28 ngày), trạm 11 (18/28 ngày) và trạm 1 là 19/28 ngày trong tháng.
Theo báo cáo của VQG tính đến ngày 23/8 đã phát hiện 89 vụ vi phạm và xâm hại tài nguyên rừng, trong đó có 74 vụ không phát hiện được thủ phạm. Tổng số gỗ quý bị chặt hạ là 174 cây, trong đó có 129 cây căm xe, 21 cây giáng hương, 5 cây cẩm lai… Đáng nghi ngại hơn, trong các vụ vi phạm được phát hiện, tang vật là gỗ bị tịch thu được là rất ít, chỉ 80m3 gỗ các loại trên tổng số hàng trăm cây gỗ bị đốn hạ. Số vụ vi phạm được phát hiện là rất nhiều, song công tác xử lý vi phạm đạt rất thấp, chỉ có 9 trên tổng số 89 vụ vi phạm được xử lý!
Ngày 23/8/1012, Đoàn công tác của Cục Kiểm lâm do ông Đỗ Trọng Kim - Phó Cục trưởng - dẫn đầu đã đi “thị sát” thực tế tại Tiểu khu 477 và 484 theo dọc chiều dài khoảng 2km ở những vị trí lâm tặc khai thác gỗ trái phép đã đếm được 29 cây gỗ căm xe cổ thụ bị đốn hạ, khối lượng gỗ ước tính trên 18m3, trong đó hơn 6m3 đã bị lâm tặc mang đi.
Dư luận địa phương cho rằng sở dĩ cho đến nay vụ “tàn sát” rừng nghiêm trọng nói trên vẫn chưa được cơ quan chức năng khởi tố vì lâm tặc phá rừng là con em của cán bộ và kiểm lâm nên phải làm ngơ, chứ nếu là thường dân thì đã khởi tố lâu rồi. Bởi lẽ tháng 10/2011, Công an huyện Buôn Đôn phát hiện 1 cây gỗ giáng hương đường kính gốc 1,1m bị lâm tặc chặt hạ tại Tiểu khu 492 VQG, tại hiện trường Công an đã thu giữ 7 lóng gỗ hương với khối lượng 7,4m3.
Sau đó vụ án đã lập tức được khởi tố và 7 đối tượng tham gia phá rừng là Trần Anh Thi, Vũ Mạnh Vương, Ngọ Văn Thuận, Trần Văn Cường, Nguyễn Văn Nam đã bị bắt, tạm giam. Cường, Vương, Nam và Thuận khai được Trần Anh Thi (nguyên cán bộ kiểm lâm VQG bị sa thải) thuê chặt gỗ và Thi đảm nhiệm việc “lo lót” để vận chuyển gỗ ra khỏi rừng.
Trao đổi với báo chí, Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm Đỗ Trọng Kim bộc bạch: “Qua đấu tranh nội bộ, lãnh đạo VQG cho biết hiện đã xác định được một số đối tượng là kiểm lâm, con em cán bộ địa phương trực tiếp phá rừng hoặc tiếp tay cho lâm tặc trong các vụ phá rừng. Đặc biệt, trong đó có một vụ phá rừng liên quan đến con trai của một cán bộ Vườn”.
Ông Kim cũng thừa nhận rằng vụ phá rừng tại Tiểu khu 484 và 477 của VQG về quy mô, khối lượng đã đủ để khởi tố vụ án. Thế nhưng, không hiểu sao cho đến nay vụ phá rừng trái phép nghiêm trọng nói trên vẫn “án binh bất động”. (Pháp Luật Việt Nam 17/9) đầu trang(
11/9, tại Hội trường UBND xã Canh Nậu (Yên Thế), TAND huyện Yên Thế mở phiên tòa lưu động xét xử Đinh Đức Tuấn, SN 1987, trú tại bản Chay, xã Canh Nậu (Yên Thế) về tội hủy hoại rừng theo khoản 1, Điều 189, Bộ luật hình sự.
Theo cáo trạng, ngày 20-1-2012, Đinh Văn Tuấn mang dao quắm lên khu rừng tự nhiên thuộc lô 1, khoảnh 4 (thuộc diện tích Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại Trường Lộc được UBND tỉnh giao quản lý sử dụng) gần phía sau nhà Tuấn để phát dọn dây leo, bụi dậm. Khoảng 20 ngày sau, Tuấn dùng cưa máy cắt toàn bộ 211 cây gỗ (tương đương 10,3m2 gỗ tạp) trên diện tích 0,9 ha để trồng sắn. Cơ quan kiểm lâm huyện Yên Thế phát hiện lập biên bản, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ hành vi vi phạm.
Căn cứ các tình tiết, chứng cứ, TAND huyện Yên Thế tuyên phạt Đinh Đức Tuấn 8 tháng tù giam và bồi thường cho bên bị hại số tiền 15,6 triệu đồng. (Báo Bắc Giang 17/9)đầu trang(
Trước đây các DN ngành gỗ thường chú trọng hơn vào thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tác động kéo dài, thị trường xuất khẩu ngày càng khó khăn. Đã đến lúc DN cần tập trung cho thị trường nội địa, mạnh dạn tái cơ cấu sản xuất để giảm bớt chi phí, cân bằng giữa thị trường ngoại và nội.
Xuất khẩu gỗ của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2012 đạt 2,3 tỷ USD, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện nay thị trường xuất khẩu gỗ chủ yếu của Việt Nam là Hoa Kỳ và EU, nhưng 2 thị trường này đã đặt ra những điều khoản khắt khe mới.
Cụ thể, Luật Lacey của Hoa Kỳ đã áp dụng cho mặt hàng gỗ của Việt Nam từ ngày 1-10-2010 và quy chế mới của EU về tính hợp pháp của gỗ sẽ có hiệu lực vào tháng 3-2013, gây khó khăn cho nguồn nguyên liệu sản xuất. Gỗ nội địa không đáp ứng được chứng chỉ quản lý rừng của Hội đồng Rừng quốc tế, còn gỗ nhập khẩu không thể kiểm soát được nguồn gốc nên dễ phát sinh vấn đề.
Từ đầu năm 2012 đến nay, DN chế biến gỗ chịu áp lực do sụt giảm đơn hàng xuất khẩu 30% so cùng kỳ năm 2011, giá nguyên liệu nhập khẩu tăng 20%, cộng với giá nhân công, chi phí vận chuyển, các lệ phí cùng tăng, khiến DN đuối sức khi cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.
Thêm vào đó, đối với ngành đồ gỗ nội thất, dù những năm qua sản lượng xuất khẩu cao, nhưng do kinh tế khó khăn, khách hàng càng khó tính và đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng cao. Nhiều nhà nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ và EU trước đây vẫn nhập khẩu từ Trung Quốc nay có xu hướng chuyển sang nhập khẩu từ Việt Nam. Nhưng DN Việt lại đang gặp một rào cản là chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu của các khách hàng này.
Hiện nay đang là thời điểm thích hợp để các DN gỗ Việt Nam thay đổi mô hình sản xuất từ thủ công sang máy móc với chi phí thấp, bởi hiện nay ở các quốc gia như Đức và Italia, lượng DN phá sản ngày càng tăng nên rao bán máy móc với giá chỉ từ 1/10-1/20 giá trị gốc.
Nhiều công ty còn thông báo nếu có DN nào mua lại máy móc, họ sẵn sàng đến Việt Nam để hướng dẫn vận hành và bảo trì máy. Nguồn lao động của nước ta tuy dồi dào nhưng chất lượng vẫn còn thấp nên sản phẩm tạo ra không như mong muốn. Nếu đầu tư máy móc, dù DN lớn cũng chỉ cần khoảng 100 công nhân là có thể cung ứng các đơn hàng lớn với chất lượng cao, đồng thời giảm được nhiều chi phí.
Đối với các DN gỗ, khó khăn đã bắt đầu từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Chẳng hạn, khi sản xuất, nếu chi phí 5 đồng, DN chỉ được hạch toán 1 đồng, giá nguyên liệu lại liên tục tăng, có khi chỉ qua 1 đêm giá đã tăng thêm 15%.
Thế nhưng, giá thành sản phẩm khi xuất khẩu chỉ được tăng khoảng 5% và DN phải đàm phán rất vất vả với khách hàng mới ký được hợp đồng. Nhận thấy tình hình khó khăn của các thị trường xuất khẩu, từ năm 2011, nhiều DN bắt đầu chú trọng hơn đến thị trường nội địa.
Tuy nhiên, dù ngành gỗ có đến 500 DN nhưng trong thời gian qua do chú trọng đến xuất khẩu đã khiến 80% thị phần trong nước rơi vào tay các DN đến từ Đài Loan, Hồng Công, Trung Quốc. Hơn nữa, nhiều người tiêu dùng đã có thói quen sính ngoại, thích gỗ nước ngoài hơn dù hàng trong nước không thua kém.
Song song đó, một công ty gia nhập thị trường nội địa đồng nghĩa với việc các công ty khác sẽ bị giảm thị phần. Trong bối cảnh sức mua suy giảm, điều này sẽ khiến các DN chịu sự cạnh tranh gay gắt hơn. Do vậy, DN phải xây dựng được chiến lược bán hàng, hướng đến phân khúc lý tưởng nhất để khai thác nhu cầu tiêu thụ của thị trường. Kinh doanh tại thị trường nội địa có lợi thế là nhu cầu ổn định, DN có thể điều chỉnh giá cả phù hợp với từng phân khúc khách hàng và sản phẩm khác nhau.
Để trở về thị trường nội địa, trong năm 2011, Thuận Thanh đã cử nhân viên tham gia vào các đoàn khảo sát kinh doanh để tìm hiểu mô hình sản xuất ở các nước như Italia, Đức… Kết quả cho thấy chỉ có đầu tư máy móc công nghệ cao mới có thể giảm bớt hao phí và có được lợi nhuận.
Trong lúc đó, do kinh tế khủng hoảng, một số công ty trên thế giới đã rao bán máy móc với giá rẻ nên công ty mua lại để thay thế sản xuất thủ công. Quá trình sắp xếp lại bộ máy nhân sự, nhà xưởng được Thuận Thanh tiến hành một cách bài bản để không tạo xáo trộn lớn.
Đồng thời, chúng tôi đang mở kênh phân phối ra các tỉnh, thành trên cả nước để giải bài toán tiêu thụ, nhất là về mẫu mã và giá cả hợp với thu nhập của số đông. Hiện công ty đã lập ra kế hoạch cụ thể để đạt được hiệu quả cao nhất. Trong đó, chiến lược tập trung vào thị trường ngách để khai thác dòng sản phẩm bình dân, với một trong những mục tiêu được hướng đến là phục vụ số đông.
Đồng thời, dòng sản phẩm được sản xuất từ gỗ tốt, thiết kế sang trọng, tinh tế cũng được dành riêng để đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng có thu nhập khá trở lên. Thực tế, việc chuyển đổi cũng vấp phải phải nhiều khó khăn.
Dù rất tự tin vì đã quen thiết kế mẫu mã cho thị trường nước ngoài, nhưng Thuận Thanh nhận ra thị trường trong nước lại có thị hiếu khác. Để thích ứng, Thuận Thanh đang xây dựng một đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp để thay đổi mẫu mã theo thị hiếu của khách hàng ở từng thời điểm khác nhau và tìm kiếm nguồn lực tài chính để phát triển kênh bán hàng, khai thông đầu ra. (Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính 17/9)đầu trang(
Báo Hà Nội Mới ngày 6-9-2012, đăng bài Huyện Sóc Sơn: Ai dung túng để núi rừng bị "moi ruột"?, phản ánh nhiều núi, đồi tại 2 xã Hồng Kỳ và Nam Sơn như: núi Đầu Rau, Phú Lâu, Trại Nghè, Đồng Mỏ... đang bị "moi ruột" hàng ngàn mét khối đất mỗi ngày để phục vụ nhu cầu san lấp mặt bằng tại các dự án... UBND huyện Sóc Sơn có văn bản số 1098/UBND-TNMT ký ngày 12-9-2012 gửi Báo Hà Nội Mới.
Công văn cho hay: Trên địa bàn huyện Sóc Sơn có 3 doanh nghiệp: Công ty CP đầu tư và xây dựng Trường Linh, Công ty CP vật liệu Phú Đạt, Công ty TNHH Thịnh Hùng Thắng đã được UBND TP Hà Nội, Sở TN-MT Hà Nội cấp phép khai thác đất tại xã Nam Sơn và Hồng Kỳ. Tuy nhiên do chưa hoàn thành một số thủ tục nên chưa đủ điều kiện để thực hiện khai thác đất. Các cơ quan chức năng của huyện đã nhiều lần nhắc nhở, đồng thời có văn bản báo cáo UBND TP Hà Nội, Sở TN-MT đình chỉ hoạt động khai thác đất đối với Công ty CP đầu tư và xây dựng Trường Linh, Công ty TNHH Thịnh Hùng Thắng.
Qua kiểm tra, chúng tôi khẳng định không có việc cán bộ dung túng để tiếp tay cho các công ty vi phạm "moi ruột" núi rừng. Song do nhu cầu đất cho các dự án trên địa bàn quá lớn nên các công ty một mặt vẫn tiếp tục hoàn thiện thủ tục, mặt khác có hiện tượng tranh thủ khai thác vào đêm tối hoặc các ngày lễ, ngày nghỉ nhằm tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng huyện.
Ngay sau bài báo nêu, ngày 7-9-2012, UBND huyện đã có Công văn số 1071/UBND-TNMT yêu cầu lãnh đạo hai xã Nam Sơn và Hồng Kỳ đình chỉ ngay việc khai thác đất trái phép và phải chịu trách nhiệm nếu còn để xảy ra, đồng thời giao trách nhiệm cho các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra giám sát và có hình thức xử lý thích đáng đối với doanh nghiệp nào vi phạm.
Ngày 11-9-2012, UBND huyện có văn bản chỉ đạo Chủ tịch UBND xã Hồng Kỳ yêu cầu Công ty CP đầu tư và xây dựng Trường Linh đưa toàn bộ máy xúc ra khỏi hiện trường. Cùng ngày 11-9-2012, Sở TN-MT Hà Nội cùng UBND huyện đã kiểm tra hiện trường, không còn hiện tượng khai thác đất của 3 công ty trên. (Hà Nội Mới 18/9)đầu trang(
Hiện các cơ quan tố tụng tỉnh Bình Thuận lúng túng không biết “xếp hồ sơ” hay tiếp tục xử lý vụ cấp giấy đỏ sai để bên mua đất được bồi thường ở phường Hàm Tiến, Phú Hài và Thiện Nghiệp (TP Phan Thiết).
Nguyên nhân là do Tổng cục Quản lý Đất đai (Bộ TN&MT) chậm trả lời.
Năm 2004, trước khi tỉnh đầu tư đường 706B nối Phan Thiết-Mũi Né, bà Lê Thị Phương Anh - Phó phòng Tư pháp TP Phan Thiết và bà Nguyễn Phương Thảo - cán bộ Văn phòng HĐND và UBND TP Phan Thiết đã nhận chuyển nhượng một số diện tích đất của dân ở các phường trên. Để được cấp giấy đỏ, họ lùi thời gian chuyển nhượng từ năm 2004 thành năm 2003 và ký giả chữ ký của người thân để hợp thức hóa việc mua bán đất. Năm 2008, Nhà nước thực hiện dự án và bà Thảo, bà Anh được bồi thường hơn 1,7 tỉ đồng.
Khi biết hồ sơ bị làm giả, tỉnh Bình Thuận đã thu hồi giấy đỏ cùng số tiền bồi thường sai. Tỉnh cũng giao công an điều tra các hành vi giả mạo giấy tờ của những người có liên quan, đồng thời chuyển hồ sơ cho VKS tỉnh nghiên cứu để thống nhất hướng giải quyết.
Đầu năm 2011, Công an tỉnh Bình Thuận có công văn gửi Vụ Chính sách và Pháp chế - Tổng cục Quản lý Đất đai đề nghị nơi đây trả lời giúp: Đất mà hai người nhận chuyển nhượng có nguồn gốc là đất quy hoạch trồng rừng phòng hộ do người dân lấn chiếm, canh tác rồi sang nhượng. Việc hai người lùi thời gian sang nhượng như thế có vi phạm gì không…
Chín tháng sau, Tổng cục Quản lý Đất đai có văn bản trả lời, xác định người dân sang nhượng đất cho hai cán bộ nêu trên là trái pháp luật. Về thời điểm kê khai (2003 hay 2004) đều áp dụng theo Luật Đất đai 1993 nên không ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ tài chính khi chuyển quyền sử dụng đất.
Riêng câu hỏi: Đất không có giấy tờ, năm 2001 nằm trong quy hoạch rừng phòng hộ và đến năm 2005 mới quy hoạch là đất khu dịch vụ thì việc cấp giấy là đúng hay sai? Trong giấy đỏ cấp cho hai người, ghi rõ là đất trồng cây lâu năm trong khi thời điểm cấp giấy, đất này nằm trong quy hoạch trồng rừng. Việc này có phù hợp quy định về quản lý đất? Tổng cục không giải đáp.
Vì thế, đầu năm 2012, VKSND tỉnh Bình Thuận tiếp tục có công văn gửi Tổng cục Quản lý Đất đai và bộ trưởng Bộ TN&MT nhờ giải đáp. Tuy nhiên, đến nay VKSND tỉnh Bình Thuận vẫn chưa nhận câu trả lời nên không biết xử lý thế nào. (Pháp Luật TPHCM 18/9)đầu trang(
Đã hơn 20 năm Cà Mau thực hiện chính sách giao đất giao rừng với nhiều hình thức khác nhau, nhằm bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời giải quyết số dân nghèo không một tấc đất do sắp xếp lại đất đai. Tuy nhiên, cũng chừng ấy năm tỉnh này cũng gần như bỏ phế những cánh rừng tràm, mặc tình cho các lâm ngư trường, Cty lâm nghiệp làm mưa làm gió, làm giàu trên lưng người dân nghèo vùng rừng tràm U Minh Hạ.
Ông Nguyễn Hoài Tâm - nguyên cán bộ Lâm - ngư trường Trần Văn Thời, sống và làm việc tại rừng tràm U Minh Hạ (UMH) hơn 25 năm nay - quả quyết với tôi: Dân sống trong vùng rừng tràm UMH, Cà Mau không nghèo. Sở dĩ nghèo là do cơ chế chính sách của các lâm ngư trường (LNT), Cty lâm nghiệp đặt ra khiến cho người dân phải oằn vai gánh vác.
Ông Tâm phân tích các bất hợp lý khiến cho người dân nơi đây khánh kiệt cả sức người lẫn sức của: “Người dân nhận khoán đất rừng theo phương thức liên danh liên kết, mỗi năm ngoài đóng thuế còn phải nộp hàng loạt loại phí. Bất hợp lý nhất là phí cá một năm từ 10 – 14kg/ha thử hỏi dân làm sao sống được”.
Dĩ nhiên tôi không tin. Tại buổi “hội thảo khoa học đánh giá các mô hình canh tác và đề xuất giải pháp phát triển bền vững vùng UMH” do UBND tỉnh tổ chức vào ngày 7.9, các tham luận còn nêu rành rành ra đó: Dân UMH nghèo do họ là những người dân không đất đai, được nhận khoán dưới nhiều hình thức khác nhau trong đợt giải thể HTX nông nghiệp vào năm 1990. Nghèo do trình độ thấp, thiếu phương thức sản xuất...
Tuy nhiên, khi cầm trên tay bản chiết tính của ông Phạm Văn Ngọt tôi mới thật sự giật mình. Ông Ngọt nhận 58ha rừng tràm do LNT Trần Văn Thời quản lý theo hình thức liên danh liên kết (LDLK). Năm 2005, hai bên thống nhất xác định công nợ sản cá và phân chia khai thác. Với 58ha rừng tràm do mình quản lý, chăm sóc sau 5 năm bán tràn được 219 triệu đồng thông qua hình thức bán gói thầu. Những tưởng sẽ được chia 70% theo phương thức hợp đồng đã ký kết, nhưng khi tính toán lại, ông Ngọt nhận được chưa đến 9 triệu đồng.
Những khoản mà LNT tính toán để mang về phần mình tổng cộng gần 20 triệu đồng bao gồm: Chi phí chung 7.344.000 đồng; thuế KTLS 4% 8.760.000 đồng; thiết kế khai thác 1.079.000 đồng, thiết kế trồng rừng 581.000 đồng, chi phí nghiệm thu 664.000 đồng.
Chưa hết, ngoài những khoản LNT thu một cách công khai theo doanh thu, LNT còn thu của ông Ngọt 68.000.000 đồng gọi là tiền khoán sản cá. Không cần biết người dân có nuôi cá được hay không, hằng năm mỗi hécta rừng LNT thu 14kg cá với đơn giá 18.000 đồng/kg.
Như vậy mỗi năm ông Ngọt phải trả cho LNT 13.608.000 đồng. Với 5 năm nhận LDLK, ông Ngọt phải trả cho LNT 68.040.000 đồng, gấp 9 lần tiền thuế của Nhà nước theo quy định, gấp 9 lần tiền ông Ngọt thực lãnh sau 5 năm nhận chăm sóc 53ha rừng. Tính ra mỗi năm ông Ngọt thu nhập chưa đến 2,5 triệu đồng cho 53ha!
Bực mình, ông không thèm nhận tiền. Kể với tôi chuyện này, ông rớm nước mắt: “Tui chưa thấy nơi nào bóc lột sức lao động của nông dân như rừng UMH. Thử hỏi nhận đến 53ha rừng tôi đã phải bỏ biết bao công sức và tiền bạc vào đây, nhưng cách tính ăn chia như vầy tôi sống sao được? Biết thế này tui đi bẻ bông sậy bán cho người ta làm chổi còn nhiều tiền hơn”. Và ông Ngọt không phải là trường hợp cá biệt cho cách tính toán ăn chia “trời ơi” của LNT.
Lạ lùng hơn, tại LNT Sông Trẹm, thuộc xã Khánh Thuận, huyện U Minh, người dân còn phải nộp phí khi câu cá dưới sông trước nhà mình. Ông Trần Ngọc Huỳnh cho biết: “LNT thu 2 triệu đồng tiền phí câu cá của 10 người dân ở khu vực này. Bà con nơi đây không ai đủ tiền nộp sản cá hằng năm, đợi đến khai thác LNT mới cấn trừ ngang”.
Toàn vùng rừng tràm U Minh Hạ có đến trên 6.000 hộ dân với trên 130.000 dân. Tuy nhiên, tỉ lệ hộ nghèo còn rất cao, theo số liệu thống kê năm 2010 toàn vùng có trên 15% hộ nghèo theo tiêu chí mới. Ông Huỳnh quả quyết: “Với cách tính theo kiểu “trời ơi” của những ông chủ rừng như vậy, dân không nghèo mới là chuyện lạ”.
Đem những quy định này hỏi ông Trần Văn Thức - Phó Giám đốc Sở NNPTNT Cà Mau - ông Thức trả lời thẳng thừng: “Các khoản thu này đều đúng hết, không có gì sai so với quy định”. Ông Thức lý giải: “Do đây là các hộ LDLK nên không áp dụng bất cứ chính sách nào của Nhà nước đối với việc trồng, quản lý rừng, mà áp dụng theo pháp lệnh thương mại với hợp đồng kinh tế. Trước khi ký, hợp đồng có đọc cho đôi bên cùng nghe, ai chấp nhận thì nhận đất, không chấp nhận thì thôi”.
Rừng tràm có giá 40 triệu đồng/ha được Cty UMH mua của người dân 16 triệu đồng/ha, khiến cho người dân càng trồng càng lỗ vốn.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, những người dân nhận đất rừng theo chương trình giao đất giao rừng; chương trình phát triển rừng; chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc tình trạng cũng tương tự. Người dân không được hỗ trợ giống, công chăm sóc, giữ rừng theo quy định của Chính phủ.
Người dân nhận khoán đất giữ rừng, nhận LDLK hết hạn hợp đồng được quyền khai thác đã bị Cty TNHH MTV U Minh Hạ (Cty UMH) làm khó đủ điều. Ông Ngô Văn Vĩnh - xã Khánh Thuận, huyện U Minh - nhận 20ha rừng tràm chăm sóc theo phương thức LDLK. Đầu năm 2010, Cty UMH thông báo đến hạn khai thác đợt đầu. Không hiểu tính toán trữ lượng kiểu gì mà 20ha rừng tràm dày đặc tổng doanh thu chỉ 70 triệu đồng. Ông Vĩnh được chia 19 triệu đồng.
Bực mình, ông lội vào rừng đo đếm từng gốc tràm và xin mua lại toàn bộ số tràm do mình trồng. Lúc đầu, Cty UMH không cho, nhưng nghe ông dọa đi thưa kiện nên Cty UMH đành chấp nhận. Không ngờ sau khi thu hoạch 20ha tràm ông bán được 150 triệu đồng, trừ các khoản chi phí và tính toán ăn chia với Cty UMH ông đem về được 80 triệu đồng.
Nguyên nhân dẫn đến việc này là Cty UMH tính trữ lượng tràm thấp hơn nhiều so với thực tế; giá bán cũng thấp hơn giá thị trường, trung bình 1ha tràm trên 16 triệu đồng; trong khi ông Vĩnh tự khai thác, tự tìm người mua với giá 40 triệu đồng/ha.
Một nghịch lý khác tại rừng UMH là dù diện tích rừng liên tiếp bị thu hẹp, nhưng Cty UMH lại không cho người dân trồng lại rừng. Ông Huỳnh Văn Tửng, cùng một số bà con nhận gần 1.000ha tại ấp 16, xã Khánh Thuận, huyện U Minh cho biết: “Năm 2006 tôi trồng lại rừng sau khai khác, Cty UMH không cho. Thấy đất trống uổng quá tôi mua giống về trồng bị người của Cty UMH lập biên bản không cho trồng. Tức mình tui bàn với mấy anh em lén lút trồng được 10.000 cây keo lai”.
Thấy tôi ngạc nhiên, ông lý giải: “Mình trồng trong ruột, người của Cty UMH kiểm tra không thấy vì họ chạy xuồng ngoài kinh lớn nhìn vào toàn chuối với sậy”. Nhờ vậy mà hiện nay cánh rừng “lén” của ông Tửng đã được hơn 5 năm tuổi xanh mượt.
Giải thích về việc lạ lùng này, ông Nguyễn Phương Nam - Phó Giám đốc Cty UMH - phân trần: “Đúng là Cty UMH có cấm người dân khu LDLK trồng lại rừng, nhưng đây là chủ trương của tỉnh. Tỉnh có chủ trương giao toàn bộ phần đất LDLK tại khu vực LNT Sông Trẹm cũ cho doanh nghiệp tại TPHCM trồng rừng sản xuất làm nguyên liệu giấy nên chúng tôi không cho dân trồng tràm theo phương thức cũ nữa”.
Theo tìm hiểu của PV, ngay từ năm 2008, tỉnh Cà Mau đã có chủ trương trồng rừng bán thâm canh năng suất cao trên diện tích đất rừng sản xuất. Tuy nhiên, cho đến nay cũng mới dừng lại ở chủ trương. Dù vậy đến nay có đến gần 10 doanh nghiệp (DN) trong và ngoài tỉnh đã trồng rừng nguyên liệu (chủ yếu là keo lai) với diện tích gần 1.000ha. Báo cáo chính thức của Cty UMH đến ngày 2.8 các DN đã trồng 483,7ha rừng keo lai.
Ngoài ra, theo chủ trương (cũng chỉ dừng lại ở chủ trương) Cà Mau giao trên 1.300ha đất cho các DN thuê đất trồng rừng, dù đến nay các DN này chưa lập xong phương án. Dĩ nhiên, toàn bộ diện tích này đều nằm trong phần đất các hộ nhận LDLK và các hộ nhận giao khoán đất rừng. Trong khi đó, những hộ LDLK không được nhận lại đất để tiếp tục đầu tư. Dân chẳng biết kêu ai nên “bám trụ” không chịu giao đất cho các DN. Trước sức ép của dân, ngày 19.3 UBND tỉnh có văn bản đề nghị cho các hộ dân LDLK có điều kiện tiếp tục LDLK trồng rừng bán thâm canh.
Tuy nhiên, văn bản này lại giao toàn quyền cho Cty UMH bàn bạc cách tính LDLK, ăn chia sau thu hoạch... Cụ thể, người dân tự bỏ 100% vốn đầu tư, sau 4 chu kỳ trồng rừng (mỗi chu kỳ 6 năm) mỗi hécta họ bỏ ra gần 80 triệu đồng, lợi nhuận 161 triệu đồng, trong khi Cty UMH bỏ ra 2,4 triệu đồng (tiền công chăm sóc) thu về đến gần 80 triệu đồng. Đó là chưa kể các khoản thuế, phí khác mà người nhận đất LDLK phải trả cho Cty UMH tổng số trên 60 triệu đồng.
Nghĩa là họ có nguy cơ bị ràng buộc bởi những khoản phí “trời ơi” từ cách tính LDLK trước đây, bất chấp những quy định của Chính phủ về giao đất giao rừng, sắp xếp đổi mới các LNT. Lạ lùng hơn là cách tính này lại được Sở NNPTNT Cà Mau đồng tình và UBND tỉnh không hề biết.
Một chủ trương đúng đắn của UBND tỉnh Cà Mau đang bị lợi dụng để phát phát canh thu tô, làm giàu trên lưng người nghèo và có nguy cơ đẩy người dân U Minh Hạ đến bước đường... (Lao Động 18/9)đầu trang(
Cù lao Chàm hiện có 135 loài san hô, 500 thảm rong và cỏ biển, 202 loài cá, 4 loài tôm hùm và 84 loài nhuyễn thể.
Các rặng san hô ở khu vực biển Cù lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ. Tháng 10-2003, Khu Bảo tồn thiên nhiên Cù lao Chàm được thành lập là 1 trong 15 Khu Bảo tồn biển của Việt Nam, ngày 29/5/2009 được UNESCO công nhận "Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới”.
Hơn 2 năm qua, cư dân cũng như du khách đến Cù lao Chàm đều thực hiện "Nói không với bao nylon”, toàn đảo không dùng bao nylon trong sinh hoạt thường ngày. Nhưng điều khó giải quyết và khắc phục là "rác nylon” thải ra từ đất liền hoặc từ các dòng sông trôi ra biển cả và theo hải lưu hoặc sóng biển mang tấp vào đảo, đe dọa hủy diệt hệ sinh thái đa dạng và kỳ ảo của "Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới” gây hưởng đến chất lượng du lịch tại nơi đây. (Tài Nguyên&Môi Trường 18/9)đầu trang(
Trưa 16/9, xác con cá voi bị nạn vẫn nằm ở cửa biển thuộc khu phố 14, thị trấn Liên Hương (huyện Tuy Phong).
Con cá voi quá to, nổi lên trên mặt biển như một chiếc tàu 45CV nên rất khó khăn cho ngư dân đưa cá lên bờ. Con cá voi dài trên 12 m, nặng khoảng 6-7 tấn, trên mình có rất nhiều vết xước. Hàng ngàn người dân đã kéo đến xem cá voi chật kín cửa biển Liên Hương.
Ông Nguyễn Văn Thọ, ở khu phố 13, thị trấn Liên Hương cho biết cách đây 2 ngày, khi ông neo đậu tàu đánh cá cách bờ biển Liên Hương chừng 7 hải lý thì phát hiện một con cá rất to vướng vào dây neo.
Quá lo sợ, ông cắt dây neo nổ máy tàu chạy vào bờ. Sau khi được những ngư dân địa phương nhận định đó là cá voi, ông Thọ cho tàu trở lại, nhưng cá đã chết nổi trên mặt biển.
Ông sử dụng tàu của mình và một tàu khác để “hộ tống”, đến 18 giờ ngày 15-9 mới đưa được cá voi vào cửa biển Liên Hương. Xác cá đang trong giai đoạn trương phình.
Ông Huỳnh Em- Phó Chủ tịch thị trấn Liên Hương cho biết, chính quyền sẽ cùng Ban quản lý Vạn lăng Ông Nam Hải - của thị trấn sẽ dùng phương tiện kéo ụ tàu cá để đưa xác cá voi vào bờ, tiến hành các nghi lễ truyền thống, sau đó an táng xác cá tại khu vực thị trấn Liên Hương cách xa khu dân cư để đảm bảo vệ sinh môi trường.
Theo ngư dân thì đây lần thứ ba cá Voi “lụy” ở cửa biển Liên Hương. (Tiền Phong 17/9)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Từ năm 2010, dự án trồng rừng giao lưu giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và Tập đoàn AEON (Nhật Bản) triển khai ở thị trấn Lăng Cô (Phú Lộc) được người dân địa phương hưởng ứng. Đây là dự án thiết thực và ý nghĩa...
Từ lâu, Lăng Cô được xem là địa chỉ “ước đến, mong về” của bao du khách. Nơi đây, ngoài tài sản vô giá là địa danh vịnh đẹp thế giới, Lăng Cô còn cảnh quan thiên nhiên với những núi đồi và nhiều cánh rừng nguyên sinh đặc dụng, tạo lá phổi xanh vùng đất phía nam tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tuy nhiên, trước thiên tai bão lũ ở khu vực miền Trung thường xảy ra, núi đồi và những cánh rừng ở Lăng Cô dần bị tàn phá, xói mòn. Gần đây, Lăng Cô tiếp cận nhiều chương trình, dự án bảo vệ, phát triển rừng từ Trung ương đến địa phương, từng bước phục hồi, phủ xanh đồi trọc, nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nhưng vẫn chưa tương xứng địa danh này...
Hướng đến “bảo vệ lá phổi xanh” ở Lăng Cô, năm 2010, tỉnh Thừa Thiên Huế và Tập đoàn AEON (Nhật Bản) cam kết thực hiện dự án trồng 34ha rừng giao lưu tại đây với tổng kinh phí gần 71.500 USD do phía Tập đoàn AEON tài trợ. Dự án được triển khai trong 5 năm (từ 2010-2015) với 2 giai đoạn.
Giai đoạn 1 (từ năm 2010-2013) trồng 68 nghìn cây keo. Thời gian còn lại (từ năm 2014-2015) sẽ trồng 18 nghìn cây bản địa, như chò chỉ, dầu rái, kiền... khi rừng keo trồng trước đó đã phủ tán. Trong số diện tích trồng rừng được triển khai theo dự án, có 6 ha được tổ chức trồng giao lưu, diễn ra trong 3 đợt ở ba năm đầu do các tình nguyện viên đến từ Tập đoàn AEON và tỉnh Thừa Thiên Huế đảm trách; 28 ha còn lại bàn giao Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Hải Vân (Phú Lộc). Tại các dịp phát động trồng rừng giao lưu, các tình nguyện viên được gặp gỡ giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, thể hiện tình đoàn kết hữu nghị văn hóa giữa hai dân tộc.
Anh Phan Vũ Thành Nhân, thành viên BQL dự án trồng rừng giao lưu Lăng Cô cho biết, mục đích của dự án là góp phần làm đẹp cảnh quan, chống xói mòn, điều hòa nguồn nước, xúc tiến tái sinh rừng, phục hồi môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai. Đặc biệt, dự án còn tạo điều kiện giúp cho các bạn học sinh, sinh viên ở Thừa Thiên Huế và Nhật Bản gặp gỡ, giao lưu, trao đổi học hỏi kinh nghiệm trong học tập; trao đổi ngôn ngữ văn hóa, đồng thời nâng cao kiến thức hiểu biết về công tác bảo vệ phát triển rừng, bảo vệ môi trường, thiên nhiên trong lành...
Giữa tháng 9-2012, dự án tiếp tục phát động trồng rừng giao lưu lần 3 tại tiểu khu 242, thuộc khu vực đầm Lập An-thị trấn Lăng Cô với sự tham gia của 400 tình nguyện viên đến từ Nhật Bản và sinh viên học sinh ở Thừa Thiên Huế.
Ông Lê Văn Lộc- Giám đốc BQL rừng phòng hộ Bắc Hải Vân, đơn vị được giao trồng và quản lý chăm sóc diện tích trồng rừng giao lưu ở Lăng Cô cho biết, đơn vị đã chủ động triển khai đồng bộ đưa cây keo vào trồng trên diện tích 28 ha theo kỹ thuật hướng dẫn của cán bộ dự án trên nguyên tắc thiết kế và kết cấu trồng rừng. Sau khi trồng hoàn tất, đơn vị khoanh vùng chăm sóc bảo vệ hợp lý. Đến nay số diện tích rừng keo đã trồng phát triển khá tốt, chất lượng cây nâng lên rõ rệt. Cùng với thời gian trồng cây keo, đơn vị cũng triển khai ươm cây bản địa sắp đến đưa vào trồng xen với cây keo theo đúng kế hoạch.
Theo ông Lộc, dự án trồng rừng giao lưu do tập đoàn AEON (Nhật Bản) tài trợ bước đầu đạt những kết quả khả quan, hứa hẹn thành công trong việc phủ xanh đất trống, nâng độ che phủ của rừng trên địa bàn Lăng Cô. Trong tương lai, những diện tích trồng rừng giao lưu giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và Tập đoàn AEON (Nhật Bản) sẽ hiện hữu khu rừng đặc dụng lý tưởng, tạo cảnh quan đẹp, môi trường xanh, là địa chỉ du lịch sinh thái thu hút nhiều du khách thập phương... (Báo TT- Huế 17/9)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Tổ chức vì quyền động vật PETA India (Ấn Độ) đã đòi một lệnh cấm sử dụng voi trong rạp xiếc.
Yêu cầu này được đưa ra trùng thời điểm tổ chức lễ hội Ganesh Chaturthi – lễ hội kỷ niệm sinh nhật thần đầu voi Ấn Độ.
Điều phối viên chiến dịch của PETA India, bà Chani Singh, nói: “Hàng ngày, voi bị xiềng xích và đánh đập chỉ để buộc chúng phải diễn trò trong rạp xiếc. PETA India hi vọng chính phủ sẽ coi dịp lễ Ganesh Chaturthi là thời điểm phù hợp để đưa ra lựa chọn sáng suốt cấm sử dụng voi trong rạp xiếc”.
Theo PETA India, 24 rạp xiếc ở Ấn Độ nuôi 84 con voi. Thú vật nói chung trong rạp xiếc thường bị giam giữ suốt ngày, bị lạm dụng thể xác và hành hạ về tinh thần.
Người huấn luyện thường dùng roi và các dụng cụ khác để đánh đập voi và các loài thú, buộc chúng làm những trò như đi xe đạp, đứng bằng đầu hoặc nhảy qua vòng lửa.
PETA India còn tố cáo: “Khi không phải diễn trò, chó bị nhốt trong chuồng bẩn thỉu, chim bị buộc cánh và nhốt trong lồng chật hẹp, ngựa bị buộc dây vào cổ trong khi voi bị xiềng xích”. (VietnamPlus.vn 17/9)đầu trang(
Nhà chức trách Mỹ cho hay tiểu bang Washington đang phải đối phó với 240 đám cháy rừng trải rộng trên diện tích hơn 554km2, trong khi mỗi ngày lại xuất hiện thêm các đám cháy mới.
Thống đốc bang Washington vừa ban bố tình trạng khẩn cấp và ra lệnh cấm mọi cuộc đốt lửa ngoài trời ở miền đông bang này.
Ngày 16/9 (giờ địa phương), hơn 100 lính cứu hỏa và nhân viên cứu trợ từ Canada đã đến tiểu bang Washington để tham gia vào lực lượng tại chỗ của Washington và Oregon gồm 3.500 người đang chiến đấu với 5 đám cháy lớn.
Toàn bộ thị trấn Liberty ở hạt Kittitas được lệnh sơ tán hôm 15/9 vì đám cháy rừng trên núi Table Mountain, nhưng không ít người phớt lờ cảnh báo của nhà chức trách.
Ở khu vực Wenatchee, nơi có thung lũng trồng nhiều trái cây, ngọn lửa bùng cháy dữ dội vào đêm 15/9.
Các quan chức cứu hỏa cho biết, ngoài Liberty, Rừng quốc gia Okanogan-Wenatchee phía đông quốc lộ 97 và Rừng quốc gia Naneum đã được lệnh sơ tán hôm 15/9. Các quan chức sở tài nguyên đã ra lệnh đóng cửa rừng quốc gia để giúp đỡ lực lượng cứu hỏa.
Đến sáng 16/9, các đám cháy ở khu vực Table Mountain đã tăng thêm và hiện nay ước diện tích cháy rừng ở đây đã hơn 10km2.
Gần 3.000 nhân viên chữa cháy trên khắp tiểu bang Washington đang làm việc mỗi ngày 15g để dập các đám cháy rừng. (Phụ Nữ TPHCM 17/9) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa