Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 18 tháng 03 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 17-3, ông Nguyễn Đại Anh Tuấn, phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, đã áp dụng thành công mô hình quản lý và bảo vệ rừng thông qua ảnh viễn thám.
Toàn bộ 295.000ha rừng của tỉnh Thừa Thiên - Huế đều được quản lý bằng dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat 8 (Mỹ) được cung cấp miễn phí. Các hình ảnh này sẽ được cán bộ kiểm lâm tỉnh phân tích, so sánh các phổ màu, để phát hiện các khu vực rừng bị tác động. Sau một năm đưa vào thử nghiệm, chi cục kiểm lâm tỉnh này đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời hơn 10 vụ phá rừng tự nhiên tại hai huyện Nam Đông và A Lưới.
Theo ông Nguyễn Đại Anh Tuấn, ưu điểm của dữ liệu ảnh vệ tinh viễn thám là có thể sớm phát hiện tọa độ của các vùng có tác động bất thường đến rừng như chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy hay cháy rừng... Hiện tại, Thừa Thiên - Huế là tỉnh đầu tiên tại VN áp dụng các dữ liệu ảnh vệ tinh để quản lý rừng, đây cũng là bước thực nghiệm để tiến tới quản lý rừng thông qua ảnh vệ tinh viễn thám của VN. (Tuổi Trẻ 17/3) đầu trang(
Ngày 17-3, theo tin từ Cục Kiểm lâm, 19 địa phương có rừng đang ở nguy cơ cháy cấp 5-cấp cực kỳ nguy hiểm, trong đó, toàn bộ rừng của các tỉnh Cà Mau, Đồng Tháp, Hòa Bình, Long An, Tây Ninh đang ở nguy cơ cháy cấp 5.
Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh. Ngoài ra, hiện có 15 tỉnh có diện tích rừng đang ở nguy cơ cháy cấp 4-cấp nguy hiểm.
Các tỉnh Cao Bằng, Phú Yên, Quảng Nam, toàn bộ rừng trên địa bàn có nguy cơ cháy cấp 4. Theo đánh giá của Cục Kiểm lâm, hiện đang là mùa khô nên nguy cơ cháy rừng ở các địa phương sẽ còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. (Quân Đội Nhân Dân 18/3) đầu trang(
Mùa khô năm nay dự báo sẽ diễn ra gay gắt và kéo dài tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) đang được các ngành chức năng và chủ rừng trong khu vực khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng cháy rừng có thể xảy ra.
Hiện toàn tỉnh Hậu Giang có hơn 5.500 ha đất lâm nghiệp, trong đó có 2.585 ha đất rừng tập trung ở Khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng và Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân. Riêng KBT Lung Ngọc Hoàng có diện tích gần 3.000 ha với 1.400 ha có rừng, là khu vực có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Hậu Giang cho nên công tác PCCCR ở đây luôn được thực hiện thường xuyên.
Chi cục Kiểm lâm An Giang cho biết, hiện nơi đây có gần 60% trên tổng diện tích rừng đang nằm trong khu vực báo động đỏ (cấp 5 - cấp cực kỳ nguy hiểm). Các vùng trọng điểm cháy được xác định các khu rừng tràm đồng bằng và đồi núi thuộc huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và TP Châu Ðốc với 7.000 ha. Hiện ngành kiểm lâm tỉnh đang triển khai nhiều phương án sẵn sàng ứng phó với những tình huống xấu.
Ðể chủ động PCCCR, tỉnh Bạc Liêu đã tổ chức diễn tập chữa cháy rừng tại vườn chim Bạc Liêu với sự tham gia của các lực lượng: cảnh sát PCCC, quân đội, kiểm lâm, dân phòng và người dân ở các xã lân cận. Ðược biết, vườn chim Bạc Liêu đã được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên cấp quốc gia, có diện tích 130 ha, với hơn 100 loài chim, cò; trong đó nhiều loài chim quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam.
Sóc Trăng có hơn 5.000 ha rừng tràm, tập trung ở phân trường Mỹ Phước 1, Mỹ Phước 2, phân trường Phú Lợi, Thạnh Trị và hơn 300 ha rừng tràm phòng hộ thuộc Khu căn cứ Tỉnh ủy. Ðể bảo đảm an toàn trong công tác phòng, chống cháy rừng mùa khô, các ngành chức năng của tỉnh thường xuyên tổ chức kiểm tra các trang, thiết bị và luyện tập các thao tác phòng, chống cháy rừng.
Tỉnh Kiên Giang hiện có khoảng 22.000 ha trong tổng số 77.000 ha rừng có nguy cơ cháy cao. Các vùng trọng điểm cháy thuộc các huyện Phú Quốc, U Minh Thượng, An Minh, Hòn Ðất, Kiên Lương, Kiên Hải và thị xã Hà Tiên. Do thời tiết khô hanh kéo dài, cho nên các hồ nước đang cạn dần. Trước diễn biến này, ngành kiểm lâm đã phối hợp với lực lượng chức năng thực hiện việc bơm tích trữ nước để phòng ngừa khi có sự cố cháy xảy ra.
Tỉnh Cà Mau hiện có khoảng 23 nghìn ha rừng đang ở mức báo động cháy cao, trong đó hơn 7.000 ha đang ở mức báo cháy cấp 5 - cấp cực kỳ nguy hiểm, trong đó, Vườn quốc gia U Minh Hạ là tâm điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Toàn bộ hơn 8.500 ha rừng vùng lõi đều bị khô hạn.
Tại Ðồng Tháp, theo Giám đốc Vườn quốc gia Tràm Chim, hiện có khoảng 3.000 ha rừng tràm từ 10 đến 23 năm tuổi và hơn 4.000 ha diện tích còn lại là đồng cỏ. Ở các khu vực này, thảm thực vật, cây đổ ngã tạo thành một lớp thực bì dày đặc rất dễ xảy ra cháy rừng.
Vườn quốc gia Tràm Chim đã phối hợp với các ngành chức năng trong tỉnh thực hiện cắt đường băng, đốt cỏ chủ động, chặt và thu gom cây khô mục. Ðồng thời, tiến hành phát dọn rong, bèo, lục bình các tuyến kênh chung quanh vườn, tạo thuận lợi cho việc điều tiết nước hoặc vận chuyển máy móc, thiết bị chữa cháy khi có cháy xảy ra... (Nhân Dân 18/3) đầu trang(
Ngày 11/3, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Công văn số 723 về việc tiếp tục tăng cường triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng trong những tháng cao điểm của mùa khô năm 2014.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu: Các cấp, các ngành, cơ quan liên quan và đơn vị chủ rừng tập trung triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 13-1-2014, Công điện số 07/CĐ-UBND ngày 11-2-2014 và Công điện số 09/CĐ-UBND ngày 24-2-2014 của UBND tỉnh về việc tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2014; trong đó triển khai thực hiện quyết liệt các việc sau:
Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường chỉ đạo Ban Chỉ huy PCCCR tổ chức kiểm tra thường xuyên, liên tục, đôn đốc các cơ quan chức năng của huyện, đơn vị chủ rừng và các cơ quan, đơn vị khác đứng chân trên địa bàn nơi có rừng và gần rừng, các xã, phường, thị trấn triển khai quyết liệt các biện pháp PCCCR. Tổ chức hướng dẫn và giám sát chặt chẽ việc đốt thực bì trong sản xuất nương rẫy ở những nơi gần rừng.
Quán triệt cho tất cả các cơ quan đơn vị, xã, phường, thị trấn nắm cụ thể phương án PCCCR của địa phương để chủ động trong công tác chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra. Các huyện có nguy cơ cháy rừng cao như: Chư Pah, Chư Sê, Chư Prông, Đức Cơ, Ia Grai, Đak Đoa, Mang Yang, Đak Pơ, thành phố Pleiku... phải bố trí lực lượng tuần tra kiểm soát hàng ngày tại các trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng để phát hiện và xử lý kịp thời khi có cháy rừng xảy ra.
Sở NN&PTNT tăng cường chỉ đạo các đơn vị chủ rừng tổ chức quản lý chặt chẽ các hoạt động canh tác nương rẫy trong rừng và gần rừng; yêu cầu những người ra vào rừng phải tuyệt đối chấp hành những quy định về an toàn PCCCR, nếu có hành vi vi phạm về PCCCR thì phải lập biên bản chuyển cho cơ quan chức năng xử lý theo quy định. Duy trì quân số đầy đủ, bố trí lực lượng trực PCCCR tại cơ quan, tuần tra canh gác lửa rừng ở những vùng trọng điểm cháy 24/24 giờ trong ngày; sẵn sàng huy động lực lượng chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra… (Báo Gia Lai 1/3) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Tiến vừa có công điện về tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Theo công điện, hiện nay đang là thời kỳ cao điểm mùa khô, vì vậy đã xuất hiện một số vụ cháy rừng trên địa bàn Lâm Đồng. Vì vậy để chủ động ứng phó và ngăn chặn có hiệu quả mọi tính huống cháy rừng có thể xảy ra, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các công ty Lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng, các đơn vị chủ rừng, lực lượng kiểm lâm, lực lượng công an, quân đội cùng với chính quyền các huyện, thành phố trong tỉnh phải tổ chức kiểm tra, rà soát phương án và các biện pháp triển khai thực hiện phương án phòng cháy, chữa cháy rừng ở cơ sở, tổ chức thường trực 24/24 giờ trong ngày….
Tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy, nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng lửa trong rừng không đúng quy định và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm. Trường hợp để xảy ra cháy rừng gây thiệt hại do chủ rừng không kịp thời phát hiện, không thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định thì chủ rừng phải chịu trách nhiệm về thiệt hại và phải bị xử lý theo quy định
Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu báo cáo ngay khi phát sinh về cháy rừng về VP thường trực phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Lâm Đồng theo số: 0063.3822441, ông Nguyễn Khang Thiên-chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng số 0912785509 và ông Bùi Văn Hùng, PGĐ Sở NN-PTNT Lâm Đồng số 0913189007 để phối hợp chỉ đạo và huy động lực lượng để phòng cháy, chữa cháy rừng. (Đài PT - TH Lâm Đồng 17/3) đầu trang(
Trước tình hình thời tiết đang có chiều hướng diễn biến bất lợi, đối với một số địa phương giáp danh với huyện Văn Chấn đã xảy ra cháy rừng như Trạm Tấu, Mù Cang Chải. Huyện Văn Chấn đang tập trung triển khai nhiều biện pháp, bám sát cơ sở với phương châm “4 tại chỗ” nhằm giảm thiểu các thiệt hại về cháy rừng gây ra.
Hiện trên địa bàn huyện Văn Chấn có tổng có trên 71 nghìn ha đất có rừng, nhằm chủ động đối phó với những diễn biến bất lợi do thời tiết, khí hậu gây ra trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Các địa phương trên địa bàn huyện đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, triển khai quyết liệt các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, tổ chức trực 24/24 giờ, chủ động xử lý tình hình theo phương châm 4 tại chỗ.
Tổ chức hướng dẫn và giám sát chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy và sử dụng lửa gần rừng để đảm bảo không gây cháy rừng. Hạt Kiểm lâm huyện tiến hành rà soát các vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao như địa bàn xã Tú Lệ, Nậm Búng, Cát Thịnh và Thượng Bằng La để chủ động phòng ngừa. Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, thận trọng khi đốt nương làm rẫy. (Yenbai.gov.vn 16/3) đầu trang(
Qua kết quả kiểm tra thực tế các khu rừng: Tràm Chim, Gáo Giồng, Trại Động Cát, rừng phòng hộ môi sinh Bắc Tháp Mười, Xẻo Quýt, mực nước trong một số diện tích ở khu vực này rừng xuống rất thấp, nhiều khu vực rừng có lớp thực bì khô giòn - là những nguy cơ xảy ra cháy cao nếu bất cẩn trong việc sử dụng lửa.
Để đảm bảo tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), đề nghị các chủ rừng cần thực hiện một số biện pháp sau: Phải đảm bảo tốt chế độ trực chỉ huy, trực sẵn sàng xử lý mọi tình huống khi có cháy xảy ra, bơm giữ nước tạo độ ẩm cho rừng và phục vụ cho công tác chữa cháy rừng, các phương tiện chữa cháy chuyên dùng như máy bơm chữa cháy cần phải vận hành phun hút đảm bảo lúc nào cũng sẵn sàng; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về PCCCR cho bà con sống vẹn rừng để mọi người có ý thức bảo vệ rừng.
Ngoài ra cần chú trọng công tác tự kiểm tra của các chủ rừng, phát hiện những sơ hở, thiếu sót khắc phục ngay để đảm bảo cho công tác PCCC, thành lập đội cơ động tuần tra, canh gác ngày đêm vừa đảm bảo công tác PCCC vừa ngăn chặn những người lạ vào rừng và có biện pháp xử lý nghiêm những người lén vào rừng săn bắt động vật, bắt ong mật, trên các còi canh cần phải phân công trực ngày đêm, nhằm phát hiện cháy sớm nhất để kịp thời dập tắt; các chủ rừng cần ban hành các nội quy, quy định, biển cấm, biển báo về PCCCR để tạo ý thức cho mọi trong công tác PCCCR.
Đối với khách tham quan du lịch trước khi vào rừng cần sinh hoạt kỹ những nội quy, quy định về công tác PCCCR để khách du lịch nắm và thực hiện tốt công tác PCCCR các chủ rừng cần phối hợp với Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ Cứu nạn Công an Đồng Tháp xây dựng và thực tập phương án chữa cháy rừng của các chủ rừng để lực lượng chữa cháy tại chỗ hiểu biết và sử dụng thành thạo dụng cụ chữa cháy tại chỗ. Nếu mọi chủ rừng đều làm tốt các vấn đề nêu trên thì sẽ hạn chế được nguy có cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh. (Dongthap.gov.vn 17/3) đầu trang(
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân, đơn vị này đã phối hợp với chính quyền các xã trên địa bàn thành lập 40 tổ phòng cháy chữa cháy rừng với 400 người tham gia. Các tổ này sẵn sàng ứng trực tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cao nhằm phát hiện kịp thời các vụ cháy, tham gia dập lửa tránh cháy rừng lan ra trên diện rộng.
Cũng theo Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân, các biện pháp phòng chống cháy rừng trong mùa khô năm nay đang được tất cả các xã tích cực phối hợp triển khai. Ngoài việc tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, các địa phương còn lập phương án huy động người dân, lập các tổ xung kích phòng cháy chữa cháy rừng để có thể huy động khi có tình huống xảy ra. Lực lượng kiểm lâm được trang bị thêm một số dụng cụ chữa cháy rừng, đồng thời được bố trí ứng trực thường xuyên tại tất cả khu vực do mình quản lý.
Huyện Đồng Xuân hiện có khoảng 36.000ha rừng tự nhiên và rừng trồng tập trung tại các xã Phú Mỡ, Xuân Quang 1, Xuân Lãnh. Trong số này có khoảng 10.000ha rừng trồng có nguy cơ cháy rừng cao. Năm 2013, huyện Đồng Xuân không xảy ra cháy rừng nhưng trong những tháng đầu năm nay, tại địa phương này đã xảy ra cháy 32,5ha rừng ở xã Phú Mỡ. (Báo Phú Yên 17/3) đầu trang(
Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) huyện Dầu Tiếng dự báo nguy cơ xảy ra cháy rừng, đặc biệt là khu vực rừng phòng hộ núi Cậu và rừng Kiến An trong mùa khô năm nay là rất cao.
Những ngày này, tất cả cán bộ, nhân viên Hạt Kiểm lâm huyện Dầu Tiếng được huy động để trực PCCCR. Tại trụ sở Hạt Kiểm lâm chỉ có một cán bộ trực lãnh đạo và bộ phận văn thư làm việc, còn tất cả đều trực tại các chốt.
Cuối tuần qua, Đoàn cán bộ cơ quan Kiểm lâm vùng 3 đã đến kiểm tra thực tế và đánh giá cao công tác chuẩn bị cũng như phương án PCCCR của huyện Dầu Tiếng. Đoàn cũng lưu ý lực lượng kiểm lâm cần chú trọng phòng là chính và chủ động phối hợp với các doanh nghiệp; vận động người dân tích cực tham gia công tác PCCCR.
Để chủ động trong công tác PCCCR, ngay từ đầu năm 2014, Ban chỉ đạo PCCCR huyện Dầu Tiếng đã xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị liên quan; trong đó đặc biệt là vai trò nòng cốt của lực lượng kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ núi Cậu Dầu Tiếng, các đơn vị và hộ gia đình nhận khoán đất rừng.
Các lực lượng nói trên sẽ cùng với UBND các xã có rừng xây dựng lực lượng tại chỗ, bám sát địa bàn khu vực có rừng, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Ban chỉ đạo PCCCR cũng đã xây dựng 4 tổ trực PCCCR để trực tại các chòi canh lửa.
Song song với việc xây dựng phương án, lực lượng PCCCR huyện Dầu Tiếng đã đầu tư nhiều trang thiết bị, cơ sở vật chất PCCCR để phục vụ công tác bảo vệ rừng - PCCCR. Hiện đã có 2 chòi canh lửa cao 15m và 3 hồ chứa nước (mỗi hồ có dung tích 25.000 lít) được xây dựng; 1 xe vận tải 4m3 nước dùng cho việc chữa cháy và 20 bình xịt nước chữa cháy cầm tay đã được trang bị.
Các ngành liên quan cũng đã thiết kế xây dựng đường băng xanh, băng trắng cản lửa tại khu vực rừng phòng hộ núi Cậu và rừng Kiến An. Huyện cũng đã đầu tư xây dựng 6 tuyến đường khu vực rừng phòng hộ núi Cậu để phục vụ công tác tuần tra, bảo vệ rừng, trồng và chăm sóc rừng. Ngoài ra, Ban chỉ đạo PCCCR của huyện đã đề nghị Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng, Phòng Cảnh sát PCCC huyện Bến Cát hỗ trợ xe chữa cháy rừng trên địa bàn huyện nếu xảy ra cháy. (Báo Bình Dương 17/3) đầu trang(
Từ đầu mùa khô, các cấp và đơn vị chủ rừng ở Ninh Thuận đã triển khai phòng chống cháy rừng. Đến nay, hầu hết các cánh rừng ở Ninh Thuận vẫn được đảm bảo an toàn.
Ninh Thuận là một trong 19 tỉnh của cả nước nằm trong cảnh báo có nguy cơ cháy rừng ở cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm. Trong tiết trời khô hanh hầm hập nắng, từ tròi canh lửa nhìn xuống mới thấy những cánh rừng dễ cháy đến mức nào.
Vì thế “không xâm hại đến rừng, không đốt dọn rẫy trong mùa cao điểm” là quy tắc được các địa phương có rừng ở Ninh Thuận triển khai thường xuyên và đưa vào quy ước từng thôn, qua đó giúp chính quyền cơ sở quản lý được rẫy của người dân.
Theo thống kê, các vụ cháy rừng xảy ra thời gian qua tại Ninh Thuận phần lớn là do sự bất cẩn của người dân khi đốt cây làm rẫy. Là đơn vị quản lý 27.500 hecta rừng, ngay từ đầu mùa khô, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ninh Sơn đã cắt cử mỗi cán bộ phụ trách một thôn để tuyên truyền, vận động và hướng dẫn người dân đốt dọn rẫy trước khi rừng chuyển sang mức độ cảnh báo cháy cấp 3.
Ninh Thuận hiện có gần 150.000 hecta rừng, trong đó chủ yếu là rừng gỗ và rừng trồng, có giá trị kinh tế cao. Dựa trên điều kiện tự nhiên, khí hậu, đặc điểm của từng kiểu rừng, năm nay, bên cạnh xây dựng các đường băng cản lửa, ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Thuận đã thực hiện biện pháp đốt trước có điều khiển ở các vùng trọng điểm thường xảy ra cháy rừng. Cách làm này không chỉ giúp Ninh Thuận bảo vệ được các cánh rừng trước nguy cơ cháy từ đầu mùa khô đến nay mà còn làm giảm thiệt hại đối với rừng nếu xảy ra cháy. (VOV Giao thông 18/3) đầu trang(
Liên tục từ đầu mùa khô tới nay, rừng Bình Phước đều đặt ở mức cảnh báo nguy cơ cháy cấp độ 5, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Ông Vũ Đình Trúc, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước dự báo địa phương có nguy cơ khô hạn nhất trong nhiều năm trở lại đây. Gần 140 nghìn ha rừng của Bình Phước, trong đó 60 nghìn ha rừng tự nhiên đang giáp mặt với "bà hỏa".
Từ đầu mùa khô 2014 đến nay, trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã xảy ra 2 vụ cháy, giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm ngoái với mức thiệt hại không đáng kể. Có được kết quả này do ngành kiểm lâm của tỉnh đã tăng cường nhiều biện pháp chủ động phòng ngừa bảo vệ an toàn diện tích rừng.
Tuy nhiên, mùa khô năm nay thời tiết nắng nóng hơn. Đây cũng là thời điểm hoạt động khai thác gỗ, đốt rừng làm rẫy và xử lý thực bì gia tăng mạnh. Vì vậy nguy cơ cháy rừng vẫn rất cao.
Trên tinh thần đó, ngành Kiểm lâm tỉnh Bình Phước chủ động lập phương án phòng-chống cháy rừng, cũng như thường xuyên phối hợp với cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tuyên truyền cho người dân hiểu và có sự chủ động trong các phương thức sản xuất không để tác động đến khu vực rừng do các đơn vị, chủ rừng quản lý. Tại các xã có diện tích rừng tương đối lớn cán bộ xã tổ chức họp dân theo từng cụm dân cư để tuyên truyền vận động nhân dân cùng tham gia phòng chống cháy rừng. (VOV 16/3) đầu trang(
Theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn Khu vực Nam Trung bộ, từ 17 -23/3, khu vực tỉnh Khánh Hòa đêm không mưa, ngày nắng. Những ngày đầu, dự báo cấp cháy rừng của các địa phương trong tỉnh chủ yếu là cấp II (cấp trung bình); riêng huyện Cam Lâm là cấp III (cấp cao). Từ ngày 20-3, các địa phương trong tỉnh chủ yếu có cấp cháy rừng cấp III, riêng huyện Cam Lâm lên cấp IV - cấp nguy hiểm.
Hiện nay, Chi cục Kiểm lâm tỉnh khuyến cáo các địa phương, đơn vị chủ rừng, các hộ có rừng trồng cũng như cơ quan chức năng cần chủ động thực hiện nghiêm kế hoạch phòng, chống cháy rừng; nắm chắc các khu vực rừng trọng điểm dễ cháy, thường xuyên tuần tra, trực gác để kịp thời xử lý. (Báo Khánh Hòa 18/3) đầu trang(
Ngay từ đầu năm đến nay, Ban giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hàm Tân đã đẩy mạnh phòng, chống cháy rừng.
Theo đó, đối với rừng tự nhiên, công ty tổ chức đốt chặn, chủ động đốt ban ngày để khống chế khu vực đang cháy và khi hai ngọn lửa gặp nhau thì sẽ tắt. Mặt khác, các đội bảo vệ rừng thường xuyên phối hợp với đồng bào bảo vệ rừng để tuần tra, phát ranh, ngăn chặn các vụ cháy. Nhờ vậy, hơn 2.075 ha diện tích rừng tự nhiên tại khu vực xã Sông Phan (Hàm Tân), trong đó có 1.800 ha đã giao khoán bảo vệ cho 50 hộ dân tộc thiểu số (theo Nghị quyết 04) được bảo vệ khá tốt.
Đối với hơn 4.000 ha rừng trồng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hàm Tân thực hiện phương án chống cháy nghiêm ngặt. Những ngày sau tết lá rụng nhiều tạo lớp bổi gây cháy, công nhân đã cào lá xuống rãnh hoặc dùng máy cắt cỏ cải tiến thành máy thổi để thổi lá xuống rãnh, sau đó cày lấp chống cháy. Mặt khác, các đội sản xuất, bảo vệ rừng hàng ngày cử 60 người luân phiên trực canh trên hàng chục chốt, chòi cao để phát hiện khi có cháy.
Ông Võ Đăng Dũng, Giám đốc công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hàm Tân cho biết: “Công ty đã hỗ trợ nhiên liệu, card điện thoại cho nhân viên trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ, canh giữ rừng. Nhờ vậy, mà các khu rừng trồng được kiểm tra, quản lý chặt chẽ và thông tin, xử lý thông tin kịp thời… nên không để xảy ra hiện tượng cháy rừng trồng”. (Báo Bình Thuận 18/3) đầu trang(
Văn Bàn có nhiều thế mạnh phát triển kinh tế, đặc biệt là tài nguyên rừng. Để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên quý giá này, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn luôn là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Hằng năm, Hạt Kiểm lâm Văn Bàn đã chủ động tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện xây dựng và triển khai các văn bản, kế hoạch chuyên ngành về bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn. Tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy cho các tổ đội cấp xã, thôn, bản. Trung bình mỗi năm tổ chức được từ 2 - 3 cuộc luyện tập, diễn tập phòng cháy, chữa cháy cấp thôn, cấp xã thu hút được nhiều lực lượng tham gia.
Trong đó, có nhiều cuộc được ban chỉ đạo tỉnh, ban chỉ đạo huyện đánh giá xếp loại giỏi. Trên cơ sở thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở triển khai, hướng dẫn ký cam kết bảo vệ rừng đến cộng đồng thôn, bản. Đến hết năm 2013, toàn huyện đã có 251/271 thôn, bản xây dựng được Quy ước quản lý bảo vệ rừng, 85% hộ gia đình tham gia ký cam kết bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, với vai trò là cơ quan thường trực, Hạt Kiểm lâm Văn bàn đã kịp thời tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện củng cố kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, cấp xã. Duy trì, 243 tổ đội, lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng tại chỗ với hơn 2.500 ngư­­ời tham gia. Phối hợp với Ban Quản lý bảo tồn rừng Hoàng Liên - Văn Bàn, Hạt Kiểm lâm các huyện Than Uyên (Lai Châu), Mù Căng Chải (Yên Bái) thành lập chốt kiểm tra, kiểm soát lâm sản và tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng tại các xã vùng giáp ranh.
Các ngành chức năng và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn thường xuyên rà soát, đánh giá diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện có. Từ đó có kế hoạch tăng diện tích đất lâm nghiệp và độ che phủ rừng cho từng năm theo hướng bền vững. Cán bộ kiểm lâm huyện cũng đã thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Riêng năm 2013 và 2 tháng đầu năm 2014 đã phát hiện, lập hồ sơ xử lý 124 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Tịch thu 79 m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại; 1 ô tô, 14 xe máy và 1 cưa xăng. Thu nộp ngân sách nhà nước hơn 1,1 tỷ đồng.
Năm 2014, bên cạnh thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm Văn Bàn được giao nhiệm vụ trồng 250 ha rừng sản xuất. Để chủ động nguồn cây giống, đơn vị đã lập hồ sơ thiết kế xây dựng vườn ươm tại chỗ. Hiện tại đã ươm được 60 vạn bầu cây giống, gồm các loại mỡ, keo, lát hoa, quế. Với số lượng cây giống đã ươm này hoàn toàn có thể đáp ứng thực hiện chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng được giao năm 2014 và cung ứng cho khách hàng có nhu cầu trồng rừng.
Tuy nhiên, theo ông Hà Huy Sơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn, hiện nay, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn bởi nhiều nguyên nhân như thời tiết diễn biến phức tạp cùng với sự bất cẩn trong việc sử dụng lửa của người dân. Địa bàn rộng, diện tích rừng lớn, trong khi đó lực lượng cán bộ kiểm lâm địa bàn còn mỏng; kinh phí, công cụ, vật dụng phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy rừng còn thiếu.
Hoạt động của các đối tượng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản, động thực vật quý hiếm trái phép ngày càng tinh vi. Vai trò trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế. Chế tài xử lý đối tượng vi phạm Luật Quản lý và Bảo vệ rừng còn có những bất cập. Ngay trong những ngày đầu tháng 2/2014, trên địa bàn huyện đã xảy ra 3 điểm cháy tại xã Thẳm Dương và Nậm Xây, làm thiệt hại 2,3 ha rừng (chủ yếu là cỏ tranh, lau lách). (Báo Lào Cai 17/3) đầu trang(
Ban Pháp chế HĐND tỉnh Quảng Ninh đã giám sát công tác xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; hoạt động thương mại; khai thác, kinh doanh khoáng sản và bảo vệ môi trường tại TP Hạ Long.
Theo báo cáo, 2 năm qua lực lượng chức năng của TP đã xử lý 38 vụ vi phạm trong bảo vệ rừng, quản lý lâm sản; hàng trăm vụ khai thác kinh doanh khoáng sản than trái phép; 571 vụ vi phạm hoạt động thương mại và nhiều vụ vi phạm trong bảo vệ môi trường. Do đó, công tác quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; hoạt động thương mại; khai thác, kinh doanh khoáng sản và bảo vệ môi trường nguồn tài nguyên, lâm sản, động vật rừng trên địa bàn TP đã có chuyển biến rõ rệt.
Tuy nhiên, TP còn một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện: số cán bộ làm công tác quản rừng, lâm sản còn mỏng, trong khi diện tích rừng lại rộng (trên 70.000 ha), chưa có bản đồ quy hoạch xác định rõ ranh giới; chế tài xử lý các vi phạm hành chính trong khai thác, vận chuyển than trái phép còn thấp, chưa đủ sức răn đe; mức hỗ trợ tiền thuê đất cho các doanh nghiệp phải di dời do gây ô nhiễm môi trường thấp; các phương tiện, thiết bị chuyên dùng để phục vụ kiểm tra xử lý vi phạm về bảo vệ mội trường còn thiếu...
Đoàn giám sát đề nghị TP Hạ Long và các ngành chức năng tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân, đặc biệt là các hộ kinh doanh; tổ chức tập huấn nghiệp vụ, tăng kiểm tra, thanh tra theo kế hoạch hoặc đột xuất; xử lý nghiêm hoạt động khai thác. (Đại Biểu Nhân Dân 15/3) đầu trang(
Liên quan đến việc phá rừng ở khu vực núi Chư Có tại địa phận xã Ia Tul, huyện Ia Pa. Sau khi có quyết định yêu cầu chỉ đạo làm rõ của UBND tỉnh Gia Lai, đoàn liên ngành đã kiểm tra, phát hiện việc phá rừng xảy ra đúng như báo Lao Động thông tin. Sở NN&PTNT tỉnh kiên quyết xử lí trách nhiệm những cá nhân liên quan.
Việc rừng Chư Có bị tàn phá ngày đêm, công khai diễn ra trước sự bất lực của chính quyền đã gây bức xúc dư luận. Với những thông tin báo phản ánh, nhất là sau khi có sự chỉ đạo của UBND tỉnh, việc kiểm tra khai thác gỗ trái phép do Ban Quản lý rừng phòng hộ Chư Mố quản lý, nhanh chóng được triển khai.
Ngày 21.2, Sở NN&&PTNT tỉnh Gia Lai đã phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm, UBND huyện Ia Pa cùng Ban Quản lý rừng phòng hộ Chư Mố tổ chức việc kiểm tra, khai thác rừng trái phép tại khu vực núi Chư Có.
Ông Vũ Ngọc An - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT làm trưởng đoàn, trực tiếp chỉ đạo. “Đoàn liên ngành gồm có 30 người, chia nhau kiểm tra toàn bộ khu vực núi. Đã phát hiện gỗ bị xẻ, bị chặt cùng một số bãi tập kết. Có hiện tượng đào gốc gỗ hương, có vết xe trâu bò kéo như báo nêu”, ông An cho biết.
Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cũng cho biết thêm, thời điểm đoàn kiểm tra không chỉ phát hiện những cây vừa bị đốn hạ, nhựa cây đang còn tươi rói mà cả những cây gỗ cũ lâm tặc chưa kịp vận chuyển.
Tại tiểu khu 1202, đoàn liên ngành đã tận mắt thấy những gốc cây bị chặt, đường kính 20- 35cm, riêng các bãi tập kết chỉ còn lại các tấm bìa vỏ, cành, ngọn. Gỗ đã bị lâm tặc tẩu tán trước đó.
Sau khi trực tiếp đi kiểm tra việc phá rừng trên địa bàn, Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai đã có báo cáo gửi UBND tỉnh về việc kiểm tra tình hình quản lý, bảo vệ rừng khu vực núi Chư Có.
Báo cáo nêu rõ: “Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn vẫn còn xảy ra. Cơ quan chức năng đã nhiều lần tổ chức truy quét nhưng chưa giải quyết dứt điểm”.
Trước thực trạng để mất rừng, UBND tỉnh Gia Lai đã yêu cầu Sở NN&PTNT chỉ đạo, làm rõ trách nhiệm những cá nhân liên quan.
“Chúng tôi sẽ kiểm điểm trách nhiệm tập thể, các cá nhân thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Chư Mố đã để xảy ra việc khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản trong thời gian vừa qua. Quan điểm của Sở là xử lí dứt điểm, đúng người đúng tội, không bao che” - ông An nói.
Theo đó, những cán bộ liên quan phải báo cáo kết quả kiểm điểm trước ngày 21.3 tới.
Nhằm ngăn chặn triệt để nạn phá rừng, cụ thể là sau khi báo Lao Động thông tin. Ông An cho biết, Ban Quản lý rừng phòng hộ Chư Mố đang xây dựng một nhà trạm Quản lý rừng cố định ngay dưới chân núi Chư Có, bố trí 5 - 10 cán bộ kiểm lâm túc trục 24/24h để canh gác.
Văn bản của UBND tỉnh Gia Lai gửi Sở NN&PTNT xử lí cán bộ Ban Quản lý rừng phồng hộ Chư Mố.
“Nhờ báo chí phát hiện việc khai thác gỗ trái phép ngay từ đầu nên hiện tượng phá rừng đã được ngăn chặn kịp thời, chưa gây hậu quả, thiệt hại lớn đến rừng” – ông An cho hay. (Lao Động 18/3) đầu trang(
Trồng lại hơn 8ha rừng là việc của người dân bản Na Hai 1, xã Pom Lót (huyện Điện Biên) đang làm sau khi rủ nhau phá rừng làm nương. Đó là hiệu quả từ việc làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục có tình có lý của cán bộ kiểm lâm và chính quyền địa phương giúp bà con nhận ra sai lầm và sửa sai bằng cách trồng lại, chăm sóc rừng…
14 hộ rủ nhau… phá rừng - đó là câu chuyện xảy ra vào cuối năm 2013 tại bản Na Hai 1 khi 14 hộ dân trong bản rủ nhau phá hơn 8ha rừng sản xuất thuộc trạng thái 1b tại khu vực Huổi Co Sản và Púng Min. Những cánh rừng sau nhiều năm khoanh nuôi bảo vệ bắt đầu lên xanh tốt bỗng chốc bị tàn phá, loang lổ như da báo và thay bằng màu xanh thường thấy chỉ còn màu đem ngòm của tro bụi, thân cây ngổn ngang.
Ông Lò Văn Lẻ, 82 tuổi, Trưởng ban Công tác mặt trận bản Na Hai 1 cho biết: Bản có 65 hộ phần lớn thiếu đói khi giáp hạt. Ít ruộng, cả bản chỉ có khoảng 9ha ruộng nước, nhưng chủ yếu là ruộng bậc thang nên năng suất rất thấp chỉ đạt khoảng 25 - 30 tạ/ha/năm; tỷ lệ hộ nghèo trong bản cao nhất xã. Cũng vì luẩn quẩn với đói nghèo, đứt bữa, nên khi thấy khu vực giáp ranh xã Pa Thơm, Noong Luống và bản Na Hai 1 có khu rừng đất đai khá màu mỡ, người dân đã rủ nhau phá để làm nương trồng ngô, lúa.
Khi biết thì sự việc đã rồi, mình phân tích, nói lẽ thiệt hơn, có người còn bảo “có ai bắt cả bản đi tù vì phá rừng mà lo”. Vì nhận thức của bà con quá hạn chế nên bản phải tổ chức họp nhiều lần tuyên truyền để bà con hiểu, phá rừng làm nương là vi phạm pháp luật. Hơn nữa, có rừng mới có củ măng để ăn, để bán, thân tre, thân gỗ khi cần làm nhà. Chứ phá rừng đi rồi thì nhà đổ, nhà xiêu biết lấy gỗ đâu ra để sửa chữa; khi đói ăn đến củ măng, củ mài cũng chẳng có mà đào. Nói mãi, nói nhiều bà con đã hiểu phá rừng là sai, không chỉ các hộ phá rừng mà các hộ sống gần rừng đều đăng ký được trồng và chăm sóc rừng.
Anh Lò Văn Thiêm, Trưởng bản Na Hai 1 cho biết: Qua nhiều lần họp bản, bà con nhất trí với phương án chia lô để trồng và bảo vệ dưới sự hướng dẫn và giám sát của cán bộ kiểm lâm và chính quyền địa phương. Căn cứ vào từng lô, bà con sẽ trồng và chăm sóc nhận khoanh nuôi bảo vệ để được hưởng lợi. Nếu hộ nào trồng chưa đạt thì sẽ phải trồng lại.
Khó khăn lớn nhất hiện nay là việc góp tiền mua cây giống về trồng, bởi hầu hết các hộ tham gia phá rừng thuộc hộ nghèo, thiếu ăn. Nói về vấn đề này, Trưởng bản Lò Văn Thiêm cho biết: Số tiền mua cây giống trồng lại rừng hết gần 20 triệu đồng, bà con đã thống nhất là chia đều cho các hộ. Như vậy mỗi hộ sẽ phải đóng góp hơn 500.000 đồng. Trưởng bản trực tiếp thu để trả tiền mua cây giống. Nhưng đến nay mới có 4 hộ nộp tiền thôi. Bà con khất lần cũng vì đến tháng thiếu đói.
Tạo thuận lợi cho người dân trong bản có thêm lương thực khi trồng lại rừng, Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên và UBND xã Pom Lót đã nhất trí sau khi hoàn thành việc trồng rừng sẽ để bà con gieo lúa nương 1 vụ trong năm 2014 trên diện tích rừng trồng để có thêm lương thực và thuận lợi cho việc chăm sóc, bảo vệ cây rừng.
Ông Phạm Văn Khiên, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm, cho biết: Để người dân khắc phục bằng cách trồng lại rừng, bên cạnh việc xử phạt hành chính theo quy định pháp luật, biện pháp tuyên truyền giáo dục giúp bà con nhận thức rõ được tầm quan trọng, vai trò cũng như ý nghĩa của việc trồng, giữ và bảo vệ rừng, không chỉ đối với người dân bản Na Hai 1 mà người dân các thôn, bản lân cận thấy được trách nhiệm bảo vệ rừng, tránh tình trạng xâm hại rừng, phá rừng làm nương như vụ việc đã xảy ra. (Báo Điện Biên 17/3) đầu trang(
Ngày 17/3, Tổ tuần tra công tác thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình trong lúc làm nhiệm vụ đã phát hiện xe du lịch 7 chỗ vận chuyển 260 kg lâm sản chưa rỗ nguồn gốc, được cho là quý hiếm đưa ra miền Bắc để tiêu thụ.
Chiếc xe mang biển kiểm soát 43H- 7069 và số lâm sản này đã ngay lập tức được đưa về Phòng CSGT tỉnh để làm việc.
Thông tin ban đầu thì chủ lô hàng này tên là Hoàng Đình Dũng, quê ở Hà Nội. Ông Dũng khai nhận số hàng này được vận chuyển từ Malaysia bằng đường hàng không về sân bay Nội Bài, sau đó được chuyển từ Nội Bài vào Đà Nẵng.
Và só lâm sản này được tiếp tục vận chuyên về Hà Tĩnh để tiêu thụ thì đến đại phận Quảng Bình bị bắt giữ. Tại hiện trường, số lâm sã này được đóng trong 4 bao tải và được bọc kỹ càng. Số lâm sản này được chủ hàng cho biết có tên là gỗ Hải Lưu.
Đội cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 1 thuộc Kiểm Lâm Quảng Bình cũng đã có mặt để kiểm tra và xử lý số hàng trên. Theo một cán mộ kiểm lâm thì số lâm sản có tên là Hải Lưu nàu không có trong danh mục lâm sản ở Việt Nam.
Chủ hàng cũng khai nhận rằng số lâm sản này được nhập về nhằm mục đích để chế biến đồ thủ công mỹ nghệ, nhưng theo quan sát của PV thì số gỗ này có đặc điểm rất lạ, có thể có giá trị cao và dùng vào một mục đích khác.
Hiện chiếc xe và số lâm sản trên được Phòng CSGT bàn giao cho lực lượng Kiểm lâm tỉnh để điều tra nguồn gốc và tiến hành xữ lý. (Tầm Nhìn 18/3) đầu trang(
UBND huyện Hoài Đức, Hà Nội nói đã họp dân ở thôn Cựu Quán để thống nhất phương án khôi phục lại quán thờ của thôn nhưng vẫn tiếp tục truy tìm để thu hồi lại 4 thanh gỗ sưa đã bị ban khánh tiết dỡ đem bán lấy 1,2 tỉ đồng.
Đó là một trong những nội dung chính của bản báo cáo về vụ việc dỡ quán thờ Cựu Quán (báo chí thường gọi là đình) mà UBND huyện Hoài Đức gửi tới Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, theo đúng hạn 15/3.
Sự việc được chính quyền địa phương tường trình lại như sau: "Vào hồi 18 giờ ngày 2/3, một số người của thôn Cựu Quán gồm trưởng thôn, đại diện ban khánh tiết và thủ từ trông nom cho dỡ mái nối giữa hậu cung và đại bái của quán thờ, đem tới cho ni sư Thích Diệu Bản, trụ chì của chùa Cựu Quán.
Bốn thanh gỗ có trọng lượng 127,5 kg được bán với số tiền 1,2 tỷ đồng. Theo giải trình của trưởng thôn và ban khánh tiết thì việc bán gỗ nhằm mục đích lấy tiền tu sửa, tôn tạo, mua thêm đất để mở rộng quán thờ cho khang trang hơn. 500 triệu đồng đã được các đối tượng này mua đất mở rộng khuôn viên, còn lại 700 triệu đồng gửi ngân hàng NN&PTNT. Vụ việc gây bất bình người trong thôn do không được công khai dân chủ, tham gia bàn bạc đối với một sự vụ liên quan đến di tích và tín ngưỡng tâm linh của người dân".
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của huyện, UBND xã Đức Thượng sau đó họp toàn thể dân trong thôn để đóng góp ý kiến và thống nhất biện pháp xử lý. Hội nghị thống nhất cử ra một ban khánh tiết mới và thay đổi ông thủ từ. Phần mái sẽ được tu sửa và lợp lại theo hướng dùng gỗ lim và gỗ xoan thay thế cho các cấu kiện đã bị hư hỏng và bị dỡ đem bán.
Các phần việc tiếp theo mà huyện sẽ phải làm là giao công an tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc, truy tìm lại di vật thất lạc và đề xuất xử lý các cá nhân liên quan sau khi có kết luận điều tra. Riêng UBND xã và các ban ngành tuyên truyền, vận động ổn định tư tưởng nhân dân và định hướng dư luận, đảm bảo an ninh trật tự địa phương.
Chiều ngày 17/3, ông Trương Minh Tiến - Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội cho biết quan điểm của Sở là thống nhất với hướng xử lý sớm khôi phục lại đình. Việc có khôi phục lại nguyên trạng bằng gỗ sưa hay không, xử lý khoản tiền thu được từ việc bán gỗ sưa như thế nào, hiện chưa được đặt ra do còn phải chờ kết luận điều tra của công an.
"Tùy theo kết luận này mà huyện có hướng xử lý. Tất nhiên, sở chỉ đồng ý khi hướng xử lý này phù hợp với lòng dân và đúng luật di sản", ông nói. (Vietnamnet.vn 18/3) đầu trang(
Tối 17-3, một lãnh đạo Phòng Cảnh sát Đường thủy Công an tỉnh Bình Định xác nhận cơ quan này đã phát hiện, bắt giữ một tàu cá vận chuyển trái phép 150 con sò tai tượng đặc biệt quý hiếm nằm trong danh mục cấm khai thác.
Thông tin ban đầu cho biết, vào chiều cùng ngày, tàu cá QNg 95841 TS của ông Nguyễn Hoa (40 tuổi, ngụ thôn Phú Quý, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) đang trên đường cập cảng cá Hàm Tử (thuộc phường Hải Cảng, TP Quy Nhơn, Bình Định) để bán sò tai tượng.
Phòng Cảnh sát Đường thủy Công an tỉnh Bình Định phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, tạm giữ số thủy sinh trên để chờ xử lý. Theo lời khai của chủ tàu cá với các cơ quan chức năng, số sò tai tượng này được các ngư dân trên tàu lặn bắt ở vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa).
Được biết, sò tai tượng là loài thủy sinh đặc biệt quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng ở mức rất nguy cấp, đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và danh mục đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN).
Theo nhiều ngư dân, gần đây, nhiều thương lái Trung Quốc tìm mua sò tai tượng khai thác với giá rất cao, từ vài trăm ngàn đến hàng chục triệu đồng mỗi con, tùy vào kích cỡ, trọng lượng. (Pháp Luật TPHCM 17/3) đầu trang(
Tại bờ sông chân cầu Hoà Bình, thuộc khu 6, phường Ka Long, TP. Móng Cái, Quảng Ninh, Đội kiểm soát Hải quan số 1 phối hợp với Công an phường Ka Long phát hiện và tạm giữ 68 vỏ sò tai tượng, hiện chưa xác định được chủ sở hữu.
Tổng số 68 vỏ sò tai tượng trên có cân nặng 2.386kg, kích thước trung bình mỗi con từ 50 đến 79cm.
Hiện sò tai tượng đang được bán với giá từ 500.000 đồng đến 40 triệu đồng mỗi con, tùy vào kích thước và trọng lượng. Đây là loài thủy sinh quý hiếm đang dần cạn kiệt và bị cấm khai thác.
Đội kiểm soát Hải quan số 1 đang hoàn tất hồ sơ bàn giao số vỏ sò tai tượng trên cho cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý theo quy định. (Chinhphu.vn 17/3) đầu trang(
Ngày 17/3, Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) cho biết, hiện cả nước đã có trên 4000 bạn trẻ gia nhập mạng lưới tình nguyện viên bảo vệ động vật hoang dã.
Theo ENV, đây là một tin vui rất đáng ghi nhận khi mà tình trạng tiêu thụ và buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam đang ở mức báo động. Mỗi ngày, có đến hàng trăm, hàng ngàn cá thể động vật hoang dã bị giết hại và buôn bán trái phép nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và sử dụng của người dân. (Dangcongsan.vn 17/3; Công An Nhân Dân 18/3; Nông Thôn Ngày Nay 18/3) đầu trang(
Chiều 17.3, ông Nguyễn Bùi Thanh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Thuận (Di Linh, Lâm Đồng) cho biết, ông Đoàn Văn Thanh (43 tuổi, phó giám đốc công ty này) đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa 2 Lâm Đồng.
Trước đó, tối 13.3, khi ông Đoàn Văn Thanh và anh Phạm Thanh Tuấn (25 tuổi, nhân viên công ty) trên đường vào thay ca tại trạm gác Bảo Thuận thì bị một nhóm người hung hãn dùng dao và gậy tấn công tới tấp.
Hậu quả, ông Thanh bị thương ở đầu và tay, phải nhập viện cấp cứu, còn anh Tuấn bị thương nhẹ.
Cũng theo ông Nguyễn Bùi Thanh, trước khi vụ việc trên xảy ra 1 tuần, các cán bộ và nhân viên công ty có bắt xe máy chở gỗ lậu của nhóm người trên, số gỗ lậu bị tịch thu. Có thể từ nguyên nhân đó mà nhóm người trên đã chặn ông Thanh đánh để trả thù.
Cùng ngày 17.3, Công an huyện Di Linh cho biết đã truy bắt được K’Sơn cùng 4 người khác (ngụ cùng thôn Hàng Ùng, xã Bảo Thuận, Di Linh) là những người đã hành hung ông Thanh và anh Tuấn.
Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Thanh Niên 17/3) đầu trang(
Rừng phòng hộ cảnh quan ven Quốc lộ 14 đang bị mất dần, đó là thực trạng mà chúng tôi ghi lại được tại địa bàn huyện Đắk Song tỉnh Đắk Nông. Các đối tượng phá rừng thì ngày càng có thêm nhiều thủ đoạn tinh vi, còn đơn vị quản lý thì cho rằng lực lượng mỏng, đã khiến cho diện tích rừng thông ven Quốc lộ 14 ngày càng thu hẹp.
Hiện trường một vụ tàn phá rừng thông cách đây chưa lâu thuộc địa phận thôn 9 xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Hơn 200 cây thông 30 năm tuổi bị chặt hạ bằng cưa máy nằm ngổn ngang trên mặt đất. Đến nay, sau hơn 2 tháng các cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra được đối tượng phá rừng thông.
Ông Trần Thanh Phong, Kiểm lâm địa bàn xã Nâm N’Jang, Đắk Song, Đắk Nông cho biết, “phá rừng thông này thứ nhất là vào lúc rạng sáng, thứ 2 là lợi dụng trời mưa hoặc đêm tối để người ta phá. Quá trình đi tuần tra thường xuyên thì mới phát hiện được, ở đây thì chủ yếu là người ta canh mình để phá.”
Rừng thông phòng hộ cảnh quan ven quốc lộ 14 kéo dài từ huyện Đắk Song đến thị xã Gia Nghĩa, được giao cho Hạt kiểm lâm Đắk Song quản lý, bảo vệ. Ban đầu có hơn 400 hecta, nhưng đến nay chỉ còn khoảng 270 hecta và đang tiếp tục bị xâm lấn. Bên cạnh hình thức chặt hạ hàng loạt, thì gần đây nổi lên tình trạng khoang gốc thông và cho hóa chất vào để cây chết dần.
Theo ông Hồ Xuân Tráng, Trạm trưởng Trạm QLBV rừng Phòng hộ cảnh quan QL 14 tỉnh Đắk Nông thì họ dùng máy khoang bằng điện để khoang vào gốc cây sau đó bơm thuốc vào. Anh em đi tuần tra chi đến khi nào cây thông chết thì mới phát hiện được.”
Đơn vị quản lý rừng cho rằng, người dân phá rừng thông chủ yếu lấy đất sản xuất và làm nhà ở chứ không có mục đích lấy gỗ. Hiện đã có hàng chục hộ dân làm nhà, làm rẫy xen kẻ trong rừng thông như thế này. Đây là hệ quả của một thời gian dài công tác quản lý, bảo vệ rừng thông ven Quốc lộ 14 bị buông lỏng.
Ông Ngô Văn Thanh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Đắk Song, Đắk Nông đánh giá, “trong thời gian dài chúng ta quản lý lỏng lẻo nên bị người dân xâm lấn. Qua quá nhiều chủ quản lý như các công ty sau đó giao cho quân đội sau này thì mới chuyển lại cho kiểm lâm. Hiện người dân ở xen kẻ trong rừng thông nên công tác quản lý hết sức khó khăn.”
Để bảo vệ rừng thông còn lại trước sự xâm lấn lấy đất canh tác của người dân, Hạt kiểm lâm Đắk Song đã cho đào mương phân cách giữa rừng và đất sản xuất nông nghiệp. Nhưng xem ra, biện pháp này cũng không mấy hiệu quả, bởi bên trong khu vực được xác định là rừng phòng hộ, nhiều cây thông vẫn bị con người tàn phá dần dần. (VTV9 ngày 17/3) đầu trang(
Ngày 17-3, Phòng Cảnh sát Ðiều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Quảng Trị cho biết, vừa bắt giữ hai lô gỗ lậu, với hơn tám m3 gỗ hương và cẩm lai tại thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, trị giá hơn 550 triệu đồng.
Trước đó, cũng tại thị trấn Lao Bảo, đơn vị phát hiện và bắt giữ hai lô gỗ lậu, với gần 18 m3 gỗ giáng hương, trị giá hơn 1, 2 tỷ đồng.
Toàn bộ số gỗ nêu trên được xác định do các đối tượng buôn bán ở khu vực thị trấn Lao Bảo thu mua tại tỉnh Sa-vẳn-na-khệt (Lào) vận chuyển vào địa bàn huyện Hướng Hóa theo các đường tiểu ngạch. (Nhân Dân 18/3) đầu trang(
Mới đây, trong chuyến công tác đến huyện Kon Plong (tỉnh Kon Tum), phóng viên Tiền Phong phát hiện tình trạng phá rừng hàng loạt tại đây – làm nguy hại đến địa điểm du lịch nổi tiếng Măng Đen.
Cách thị trấn huyện Kon Plong hơn 5km, dọc hai bên đường đi các xã Măng Bút, Đắk Tăng, Đắk Ring, Đắk Nên… nhiều cánh rừng bị đốn hạ không thương tiếc. Nguy hiểm hơn, việc chặt hạ, đốt rừng làm nương rẫy diễn ra trong mùa khô khiến nguy cơ cháy rừng rất cao.
Sau khi được cung cấp thông tin trên, ông Đào Duy Thế - Phó Chủ tịch huyện Kon Plong cho biết sẽ cho người tiến hành kiểm tra, rà soát lại vụ việc. (Tiền Phong 18/3) đầu trang(
6 hộ dân thôn Kỳ Ne, A Ngo, Đakrông, Quảng Trị được “tạm ứng” 62m3 gỗ để dựng nhà, nhưng bây giờ con số khai thác đã lên gấp đôi. Không dựng được liếp nhà sàn, trái lại họ phải ăn rừng ngủ rú để giữ những khối gỗ chưa phải của mình và không biết của ai.
Tại điểm tập kết số gỗ đã bị “tuýt còi”, một điều lạ lùng, gỗ có dấu búa của kiểm lâm hẳn hoi nhưng những người bảo vệ khối tài sản vô giá của rừng xanh kia không phải là cơ quan chức năng mà lại là 6 hộ dân đã được “tạm ứng” gỗ rừng về làm nhà. Ngay chính vị trưởng thôn Hồ Thao cũng cơm đùm gạo bới vào bãi gỗ làm kiểm lâm bất đắc dĩ.
Ông Hồ Văn Dom (1964), một trong 6 hộ dân diện cấp gỗ cho biết: “Khổ đến vậy là cùng cháu ạ. Cháu có thấy không, tôi già đến nước này rồi, nhà thì nghèo khổ mà phải vay mượn cơm gạo để đi giữ cái của nợ này. Mà này, cháu đi viết báo cháu cứ viết cho cái lão già này là lão chỉ nhận số gỗ mà cấp trên đã cấp cho lão thôi, lão không tham lam của rừng đâu. Đừng bắt lão phải nằm rừng để giữ những cái không thuộc về mình nữa”. Rồi ông chửi đổng rằng đúng là của cho là của nợ, tiếng chửi thất thanh giữa đại ngàn âm u, chỉ ông và những người trong cuộc mới thấu hiểu hết nỗi lòng.
Giữa bãi gỗ kê xếp gọn gàng, đống nào ra đống nấy, 6 hộ dân phải ăn dầm ở dề để giữ gỗ, mỗi nhà mỗi người, hết cha mẹ thì con cháu thay nhau đêm ngày bảo vệ. Vì một lý do đơn giản để đẩy những hộ dân vào rừng: gỗ không bảo vệ sẽ bị hỏng vì mưa nắng và mất cắp. Ngôi lán được đựng một cách sơ sài, giường nằm của họ cũng thật độc đáo kê ngay trên chính những khối gỗ đã xẻ thành hộp vuông vức. Mọi vấn đề nấu nướng đều tiến hành ngay trên khoảng đất chất chứa thớ gỗ khai thác quá mức.
Ông Dom quay sang mấy gã thanh niên là con cái của những hộ được nhận “đặc ân” chua xót: “Chúng tôi giữ cánh rừng này đã tám năm nay, cái cảnh ăn rau rừng uống nước suối Ba Linh để tuần tra quen rồi. Nhưng, thú thật phải giữ những thớ gỗ ngoài của mình ra thì giờ không biết của ai nữa thì éo le quá. Đau lòng lắm, ở ngoài kia người ta không biết còn bảo dân bản mình đi bán rừng, phá rừng, ai đời lại làm như vậy với rừng xanh chứ. Bao giờ mới gột rửa được nỗi oan này, giờ biết kêu ai đây?”.
Những tưởng câu chuyện gỗ lạt kia chỉ những người có “vai vế” trong 6 hộ dân nhận được số gỗ tạm ứng để làm nhà phải chịu đựng. Nhưng ngặt nỗi sự việc này kéo dài triền miên hai tháng trời mà chưa hề có hướng giải quyết hay một cơ quan đoàn thể nào trực tiếp vào cuộc một cách thẳng tay cho người dân lương thiện.
Việc “tạm ứng” rừng ở thôn Kỳ Ne, A Ngo, Đakrông, Quảng Trị để cấp cho 6 hộ dân đã có thành tích trong 8 năm qua về việc bảo vệ rừng ÁR Nai (thuộc tiểu khu 757) là một việc làm cần thiết và đúng đắn. Nhưng, việc khai thác đến độ số lượng gỗ tăng lên hơn gấp đôi như các cơ quan truyền thông, báo chí phản ánh suốt hai tháng vừa qua thì chỉ hy hữu ở địa phương này. Có chăng đã có sự tiếp tay, bao che nào đó để khi dư luận phanh phui thì người chịu tiếng lại là 6 hộ dân có công giữ rừng? (Công an TP Đà Nẵng 13/3) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Dưới đây là toàn văn bài viết của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh về việc sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động Công ty nông, lâm nghiệp.
Kể từ khi thành lập đến bắt đầu đổi mới, các nông lâm trường quốc doanh đã có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp; là nòng cốt phát triển một số ngành hàng nông, lâm sản quan trọng, hình thành vùng nguyên liệu hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, cung cấp dịch vụ kỹ thuật, vật tư nông nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn; hình thành các điểm văn hóa, trung tâm kinh tế - xã hội, thị trấn, thị tứ góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng có nhiều khó khăn.
Từ đầu những năm 90, các nông, lâm trường quốc doanh đã thực hiện đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5 tháng 4 năm 1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
Nhưng nông, lâm trường quốc doanh thực sự được sắp xếp đổi mới và phát triển sau khi có Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (năm 2001) về sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước; trực tiếp là Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh.
Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, các cấp từ Trung ương đến địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các nông, lâm trường quốc doanh đã nghiêm túc quán triệt triển khai thực hiện và đạt được những kết quả chủ yếu là:
1. Hầu hết các nông, lâm trường quốc doanh đã rà soát lại chức năng nhiệm vụ, tách chức năng xã hội và nhiệm vụ công ích với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Thực hiện một bước việc sắp xếp lại các nông lâm trường theo hướng: nông, lâm trường quốc doanh có đủ điều kiện thì tiếp tục duy trì, củng cố phát triển, chuyển thành công ty nông, lâm nghiệp và nay là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước.
Các lâm trường quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được chuyển đổi thành Ban quản lý rừng phòng hộ; một số nông, lâm trường có cơ sở chế biến thực hiện thí điểm cổ phần hóa vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với cổ phần hóa cơ sở chế biến; giải thể một số nông, lâm trường trường thua lỗ kéo dài không có khả năng khắc phục hoặc khoán trắng nguồn thu chủ yếu là cho thuê đất. Đồng thời thực hiện thí điểm thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên ở một số nông, lâm trường.
Đến nay, cả nước còn 289 công ty nông, lâm nghiệp, trong đó: 104 công ty nông nghiệp, 148 công ty lâm nghiệp và 35 công ty cổ phần, thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có 250 công ty nông lâm nghiệp chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên 100% vốn nhà nước; chuyển đổi và thành lập mới 91 ban quản lý rừng phòng hộ từ lâm trường quốc doanh quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; thành lập 2 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên; giải thể 36 nông, lâm trường.
2. Các công ty nông, lâm nghiệp đã bước đầu rà soát đất đai, đánh giá hiện trạng sử dụng đất; nhiều công ty đã lập quy hoạch sử dụng đất gắn với phương án sản xuất kinh doanh, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quy hoạch 3 loại rừng; xác định rõ diện tích cần giữ lại để quản lý, sử dụng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuê đất; diện tích không có nhu cầu sử dụng, sử dụng hiệu quả thấp thì bàn giao cho địa phương để giải quyết cho đồng bào không có đất, thiếu đất.
Đất đai công ty giữ lại đã quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả hơn và thực hiện các hình thức khoán có kết quả. Đã bàn giao về cho địa phương quản lý hơn 500 ngàn ha. Diện tích đất được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất đạt khoảng 45% số diện tích. Các công ty phối hợp với chính quyền địa phuơng từng bước giải quyết tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, sai đối tượng, sai quy định về khoán và quy định của pháp luật về đất đai.
3. Các công ty nông, lâm nghiệp đã tiến hành rà soát, làm rõ tài sản, tình hình tài chính, các khoản phải thu, phải trả; chuyển giao các công trình kinh tế - xã hội không phục vụ trực tiếp sản xuất về cho địa phương quản lý. Giải quyết lao động dôi dư, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động và dân trong vùng. Tài sản, vốn của các công ty đã tăng hơn so với trước khi sắp xếp.
Hiện tại, bình quân 1 công ty nông nghiệp có tổng giá trị tài sản 331 tỷ đồng (chưa tính hết giá trị vườn cây), vốn chủ sở hữu 164 tỷ đồng, vốn điều lệ 71 tỷ đồng; bình quân 1 công ty lâm nghiệp có tổng giá trị tài sản: 27,1 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 11,7 tỷ đồng, vốn điều lệ 9,6 tỷ đồng. Thu nhập bình quân của người lao động được nâng cao và của người dân được cải thiện. Nhiều công ty thu nhập của người lao động tăng khoảng 2 lần so với trước khi sắp xếp. Đời sống của một bộ phận dân cư trong vùng có các công ty nông lâm nghiệp cũng được cải thiện. nâng cao do tham gia nhận giao khoán đất của công ty, cung ứng nguyên liệu sản xuất cho công ty.
4. Một số công ty nông, lâm nghiệp sau khi sắp xếp đã tổ chức lại sản xuất gắn với quy hoạch kinh tế xã hội và sử dụng đất của địa phương, tạo thành mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp liên kết giữa vùng nguyên liệu với sản xuất, chế biến, thị trường và tiêu thụ, mở rộng dịch vụ đầu vào đầu ra hỗ trợ kỹ thuật cho nhân dân trong vùng, hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, góp phần và tạo điều kiện cho người dân có thêm việc làm, nâng cao thu nhập, là một trong các giải pháp quan trọng có ý nghĩa quyết định trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn. Có thể khẳng định đây là mô hình, phương thức sản xuất thành công, hiệu quả, tạo điều kiện cho sản xuất của người dân và doanh nghiệp bền vững, thu nhập ổn định và từng bước nâng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên vẫn còn tồn tại khó khăn là:
(1) Đến nay, tuy đã hoàn thành việc sắp xếp lại theo đề án được phê duyệt, nhưng nhiều công ty lâm nghiệp khó tách bạch giữa nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và công ích vì vừa có rừng phòng hộ, đặc dụng, vừa có rừng trồng, rừng sản xuất và trong công ty có ban quản lý rừng phòng hộ; nhiều công ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất lúng túng về phương hướng sản xuất kinh doanh, rất khó khăn chuyển sang hoạt động sản xuất kinh doanh theo Luật doanh nghiệp. Một số mô hình mới hoặc thí điểm cổ phần hóa, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, trong công ty có Ban quản lý rừng nhưng chậm được tổng kết, điều chỉnh bổ sung kịp thời.
(2) Phần lớn đất đai chưa được xác định ranh giới, cắm mốc; diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuê đất thấp (còn hơn 50% chưa được cấp giấy chứng nhận, gần 60% chưa thuê đất). Diện tích đất giao về địa phương chỉ đạt hơn 50 % so với dự kiến; diện tích đất chưa đưa vào sử dụng hoặc hoang hóa giảm chưa nhiều vẫn còn hơn 5%. Một số tồn tại trong quản lý sử dụng đất chậm được giải quyết, xử lý chưa kiên quyết.
Nhiều công ty buông lỏng quản lý khoán dẫn đến “khoán trắng” “phát canh thu tô”, chưa quản lý được hợp đồng giao khoán, chuyển nhượng hợp đồng giao khoán không đúng quy định, mua bán trái phép. Việc quản lý rừng và đất lâm nghiệp một số nơi còn lỏng lẻo, có biểu hiện vi phạm pháp luật, xử lý chậm, chưa kiên quyết, nên diễn biến phức tạp, nhất là tại một số công ty ven đô thị.
(3) Một số công ty vẫn chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, nhất là các công ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất. Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng đất nhiều đơn vị vẫn còn thấp. Nếu không tính Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, thì doanh thu bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha của các công ty nông, lâm nghiệp chỉ bằng 30% - 50% doanh thu bình quân trên 1 ha của cả nước. Năm 2011 vẫn còn 14,6% công ty nông nghiệp và 22,2 % công ty lâm nghiệp thua lỗ.
(4) Tài sản, vốn của công ty nông, lâm nghiệp vẫn còn nhỏ bé, tài chính còn nhiều khó khăn. Nhiều công ty vốn chủ sở hữu nhà nước chưa đạt tiêu chí quy định của Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên. Nhiều công ty gặp nhiều khó khăn về tài chính, vay vốn ngân hàng còn nhiều hạn chế.
(5) Thu nhập của người lao động còn thấp, đời sống của người lao động và dân trong vùng vẫn còn nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân của người lao động ở một số công ty nông nghiệp và nhiều công ty lâm nghiệp ở miền núi phía Bắc, bắc Trung bộ thu nhập còn rất thấp; nhất là ở vùng Tây Nguyên nhiều công ty lâm nghiệp không có nguồn thu, nên thu nhập từ lâm trường còn thấp hơn, thậm chí một số công ty lâm nghiệp nợ lương, bảo hiểm xã hội của công nhân.
Những tồn tại, khó khăn nêu trên có nguyên nhân khách quan do quá trình xây dựng và phát triển để lại; nhiều nông, lâm trường hoạt động trên địa bàn khó khăn, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hạ tầng kinh tế - xã hội thấp; đối tượng sản xuất là cây trồng, vật nuôi; sản xuất phụ thuộc nhiều vào địa hình và khí hậu, thời tiết.
Nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:
(i) Nhận thức của nhiều cấp, ngành về mục đích, yêu cầu và nội dung của Nghị quyết chưa đầy đủ, chưa đúng vị trí, vai trò của nông, lâm trường, còn tư tưởng coi nhẹ, tránh né. Một bộ phận lãnh đạo nông, lâm trường muốn duy trì cơ chế cũ, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không chủ động tháo gỡ khó khăn, đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất kinh doanh.
(ii) Một số cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, chưa phù hợp thực tế, chưa tạo được chuyển biến căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp.
(iii) Năng lực trình độ cán bộ quản lý trong một số công ty chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu sự phối kết hợp với địa phương để giải quyết, tháo gỡ khó khăn đối với các trường hợp tranh chấp, lấn chiếm đất đai, chuyển giao đất, rừng về địa phương quản lý.
(iiii) Tổ chức, chỉ đạo triển khai, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Nghị quyết của một số Bộ, ngành và địa phương chưa quyết liệt, phối hợp thiếu đồng bộ còn hiện tượng khoán trắng cho cơ quan chuyên môn. Quản lý nhà nước về đất đai có nơi buông lỏng, xử lý các trường hợp vi phạm chậm và thiếu kiên quyết.
Để khắc phục tồn tại khó khăn nêu trên, các công ty nông, lâm nghiệp trong thời gian tới cần phải có bước đột phá tạo sự thay đổi trong sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động công ty, trước hết về quản lý sử dụng đất, vốn tài sản tại doanh nghiệp.
Việc sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động công ty nông, lâm nghiệp thời gian tới phải quán triệt tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả công ty nông, lâm nghiệp với nội dung chủ yếu là:
Về quan điểm chỉ đạo:
(i) Sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp phải phù hợp với chủ trương, định hướng tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đất nước, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và nền kinh tế; góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp xây dụng và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là chương trình xây dựng nông thôn mới.
(ii) Quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Xác định rõ chủ quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên rừng, gắn quyền lợi với trách nhiệm trong quản lý, sử dụng đất đai, bảo vệ, phát triển rừng; tiếp tục duy trì và hình thành các vùng sản xuất nông, lâm sản hàng hóa tập trung, thâm canh gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, phù hợp với quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn. Giải quyết cơ bản các tồn tại, vướng mắc về đất đai, bảo đảm ổn định xã hội và thực hiện tốt việc đổi mới quản lý và sử dụng đất đai, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật về đất đai, về bảo vệ và phát triển rừng.
(iii) Tạo sự chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp; sản xuất nông, lâm sản phải gắn với công nghiệp chế biến và thị trường theo chuỗi giá trị hàng hóa. Chuyển các công ty nông, lâm nghiệp thực hiện nhiệm vụ kinh doanh sang công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của pháp luật. Nhà nước có chính sách phù hợp để các công ty lâm nghiệp hoạt động công ích hoàn thành nhiệm vụ được giao.
(iiii) Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa quốc gia, doanh nghiệp và người dân; phát huy vai trò trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ và văn hóa đối với nhân dân trong vùng, đóng góp xứng đáng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh quốc phòng tại các địa phương và sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
(iiiii) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc sắp xếp, đổi mới và phát triển các công ty nông, lâm nghiệp; đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong các công ty nông, lâm nghiệp.
Về phương hướng: tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động công ty nông, lâm nghiệp đến năm 2015 và định hướng tới năm 2020 theo hướng:
1. Tiếp tục duy trì, củng cố phát triển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước: đối với các công ty nông nghiệp đang thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh kết hợp an ninh - quốc phòng, tập trung chủ yếu trên địa bàn vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa vùng đặc biệt khó khăn.
Đối với công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất: sẽ được sắp xếp lại theo 2 hình thức:
(1) Các công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất được phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững thực hiện kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.
(2) Công ty lâm nghiệp quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất chưa được phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và chưa được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững thực hiện nhiệm vụ công ích, đồng thời được huy động các nguồn tài chính phục vụ bảo vệ, phát triển rừng; được tận dụng sản phẩm từ rừng theo quy chế quản lý rừng hoặc chuyển sang Ban quản lý rừng.
2. Thực hiện cổ phần hóa các công ty nông nghiệp và công ty lâm nghiệp (quản lý chủ yếu rừng trồng). Theo quy định về tiêu chí phân loại danh mục doanh nghiệp thì các công ty này thuộc diện nhà nước không cần nắm giữ cổ phần hoặc cổ phần chi phối, nhưng do đặc thù của các công ty nông, lâm nghiệp quản lý quỹ đất đai lớn, đã hình thành vùng nguyên liệu sản xuất hàng hóa tập trung và gắn với quy hoạch phát triển kinh tế -xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương, nhiều công ty đã, đang giao khoán đất ổn định lâu dài cho người lao động liên quan đến đồng bào dân tộc nên việc cổ phần hóa cần được thực hiện chặt chẽ.
Do vậy, trước mắt nhà nước giữ 65% trở lên, sau năm 2015 sẽ giảm dần theo quy định và tình hình thực tế. Riêng đối với công ty nông nghiệp trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây hàng năm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, công ty giống cây nông nghiệp, giống cây lâm nghiệp, giống chăn nuôi, giống thủy sản Nhà nước không giữ cổ phần chi phối.
3. Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên nhằm gắn công ty nông, lâm nghiệp phát triển vùng nguyên liệu của công ty và của người dân trong vùng với công nghiệp chế biến nông sản và thị trường tiêu thụ nông lâm sản. Công ty thực hiện thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai, thực hiện sản xuất kinh doanh theo quy hoạch sử dụng đất được duyệt và bảo đảm quyền lợi của người lao động đang nhận giao khoán đất của công ty.
4. Giải thể các công ty nông, lâm nghiệp hoạt động kinh doanh không có hiệu quả, thua lỗ kéo dài; các công ty thực hiện khoán trắng (thực chất là “phát canh thu tô”), giao khoán đất nhưng không quản lý được đất đai, sản phẩm làm ra; các công ty không cần thiết phải giữ lại. Khi giải thể đất đai phải chuyển về địa phương quản lý sử dụng theo quy hoạch
Về nhiệm vụ, giải pháp: Các Bộ, ngành được phân công chủ trì phối hợp với cáp ủy đảng, chính quyền các cấp, Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh cơ chế chính sách về quản lý sử dụng đất, quản lý bảo vệ phát triển rừng, cơ chế tài chính, tín dụng và khoa học công nghệ để các công ty nông, lâm nghiệp có cơ sở hành lang pháp lý triển khai thực hiện và nâng cao hiệu quả hoạt động công ty, cụ thể là:
1. Tiếp tục rà soát, bổ sung chức năng, nhiệm vụ theo hướng hình thành mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp, nông - lâm - công kết hợp, gắn kết giữa phát triển vùng nguyên liệu với sản xuất, chế biến và thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị hàng hóa, giá trị trên một đơn vị diện tích sản xuất; nâng cao đời sống của người dân. Công ty nông, lâm nghiệp phải trở thành chủ thể chính trong mô hình liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội ngành hàng, đơn vị khoa học công nghệ, góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.
2. Đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng đất, nhằm quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả hơn đất đai, tài nguyên rừng: trước hết, cấp Ủy Đảng, chính quyền các cấp, Bộ, ngành chỉ đạo các công ty nông, lâm nghiệp rà soát, lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty, với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Xác định rõ diện tích từng loại đất tiếp tục giữ lại để quản lý, sử dụng; diện tích phân bổ cho từng mục đích sử dụng phù hợp với nhiệm vụ được giao; diện tích đất phải chuyển giao về địa phương. Tập trung xử lý dứt điểm các trường hợp sử dụng đất chưa đúng quy định, đất cho thuê, cho mượn; đất bị lấn chiếm, tranh chấp; đất giao khoán; đất ở, đất kinh tế hộ gia đình; đất liên doanh, liên kết, hợp đồng hợp tác đầu tư. Phấn đấu hết năm 2015 hoàn thành việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hoàn thành việc chuyển giao đất và hồ sơ đất đai về địa phương các loại đất mà công ty không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không có hiệu quả, hoang hóa; các nông, lâm trường phải giải thể; các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai.
Đổi mới nội dung hình thức quản lý, sử dụng đất trong các công ty nông, lâm nghiệp theo hướng:
(i) Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất các công ty nông, lâm nghiệp để thực hiện nhiệm vụ công ích, không phục vụ kinh doanh, đất hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất đúng quy định của pháp luật về đất đai.
(ii) Nhà nước cho thuê đất đối với diện tích đất giao cho các công ty nông, lâm nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh, các hộ gia đình, cá nhân không thuộc đối tượng giao đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Sau khi tiếp nhận đất từ các công ty nông lâm nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát lại các đối tượng sử dụng đất để giải quyết cho hộ gia đình cá nhân được tiếp tục giao đất hoặc thuê đất nảo đảm nguyên tắc:
(i) ưu tiên giải quyết cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất, người đang nhận giao khoán đất trực tiếp sản xuất.
(ii) Hộ gia đình, cá nhân đang được nhận giao khoán đất sẽ được tiếp tục giao đất hoặc thuê đất.
(iii) diện tích đất giao không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân không cao hơn diện tích bình quân của các hộ dân đang sử dụng đất tại địa phương.
3. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Thực hiện định giá rừng sản xuất là rừng trồng làm cơ sở để giao vốn, thực hiện cổ phần hóa, liên doanh liên kết, thế chấp vay vốn. Bổ sung hoàn hiện hình thức giao khoán rừng, đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng quản lý chăm sóc bảo vệ, theo nguyên tắc cùng chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ phát triển rừng và cùng hưởng lợi.
Đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo, nghèo kiệt không có khả năng phục hồi, được lập dự án cải tạo để trồng rừng mới hoặc trồng cây công nghiệp hiệu quả hơn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở tiêu chí phân loại rừng tự nhiên nghèo kiệt được chuyển đổi.
Việc thu hoạch sản phẩm rừng trồng là rừng sản xuất do chủ rừng quyết định về thời điểm và được tự do tiêu thụ. Thực hiện quản lý rừng bền vững có chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên có trữ lượng giàu và trung bình. Thực hiện nhiệm vụ công ích theo phương thức đặt hàng, giao kế hoạch hàng năm đối với rừng tự nhiên là rừng sản xuất nhưng chưa có phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt và chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững; rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo có khả năng phục hồi trong thời gian chưa có khai thác.
4. Rà soát bổ sung cơ chế tài chính phù hợp với nội dung sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng coa hiệu quả hoạt động công ty nông, lâm nghiệp. Nhà nước bổ sung vốn điều lệ theo quy định đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc Nhà nước giữ cổ phần chi phối; Nhà nước có chính sách đầu tư, phát triển rừng trồng trên diện tích đất được quy hoạch là rừng phòng hộ, đặc dụng, chi phí bảo vệ, chăm sóc rừng tự nhiên chưa có phương án quản lý rừng bền vững và chưa được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững. Bổ sung sửa đổi chính sách tài chính, hạch toán phù hợp với đặc thù sản xuất nông, lâm nghiệp, chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng,…
Tiếp tục thực hiện chế độ đối với lao động dôi dư trong khi sắp xếp, chuyển đổi theo quy định hiện hành. Công ty nông, lâm nghiệp có trách nhiệm thực hiện chính sách, chế độ lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công nhân và người lao động đang làm việc.
Đổi mới việc nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh nông sản. Các công ty nông lâm nghiệp phải có chương trình, kế hoạch triển khai, chuyển giao ứng dụng các tiến bộ, khoa học và công nghệ về giống mới, phân bón, cơ giới hóa, công nghệ cao, công nghệ sau thu hoạch và chế biến.
Tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trong lĩnh vực nông lâm nghiệp nhằm cung cấp giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và dịch vụ tốt về sản xuất, canh tác, thị trường, giá cả cho nhu cầu sản xuất của công ty và nhân dân trong vùng. Các công ty nông, lâm nghiệp phải trở thành doanh nghiệp nòng cốt trong việc hình thành và thực hiện mô hình liên kết sản xuất giữa hộ nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và cơ sở khoa học công nghệ.
5. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với công ty nông, lâm nghiệp. Cấp ủy Đảng, chính quền các cấp phải nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với việc sắp xếp, đổi mới và phát triển công ty nông, lâm nghiệp. Chính quyền địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các công ty nông, lâm nghiệp theo quy định hiện hành. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/3) đầu trang(
Đóng cửa rừng là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên bền vững. Đây là bước tiếp theo trong lộ trình thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh.
Ông Phạm Quang Tú, Phó viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), cho biết: Tại Tây Nguyên, gần như mọi hoạt động kinh tế, xã hội liên quan đến nhu cầu sử dụng đất hầu như đều buộc phải sử dụng đến quỹ đất rừng. Từ năm 1995 - 2012 trung bình mỗi năm Tây Nguyên mất khoảng 38.000 ha rừng tự nhiên, chủ yếu là do chuyển sang sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Chỉ trong 5 năm từ 2005 - 2010, tổng diện tích rừng bị mất là 366.731 ha. Kết quả khảo sát từ 163 công trình trong tổng số 287 công trình thủy điện vừa và lớn theo dự kiến ở Tây Nguyên cho thấy: Diện tích đất đai chuyển đổi mục đích sang xây dựng thủy điện đã chiếm dụng 65.239 ha đất các loại, trong đó khoảng 16.600 ha diện tích rừng…
Trong giai đoạn 2001-2011, các ngành sản xuất dựa vào tài nguyên như nông lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản chiếm trung bình khoảng 51,64% trong tổng GDP của Tây Nguyên. Các nguồn tài nguyên tự nhiên như đất đai, tài nguyên rừng đã khai thác quá mức, vượt quá sức chịu đựng theo đề xuất của các nghiên cứu và các quy hoạch phát triển trong thời gian qua. Do vậy, những thành quả về tăng trưởng kinh tế mang lại đã và đang có nguy cơ sẽ không đủ bù đắp những thiệt hại cho những vấn đề xã hội môi trường trong tương lai. Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ hứng chịu “lời nguyền tài nguyên”, đó là giàu tài nguyên nhưng lại tụt hậu trong phát triển.
Theo Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp của Chính phủ, sau hơn 10 năm đổi mới, sắp xếp, hầu hết nông, lâm trường có tình hình tài chính yếu kém và hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp. Một số công ty nông nghiệp chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp chưa tương xứng với nguồn lực đất đai được giao.
Thu nhập bình quân của người lao động ở một số công ty nông nghiệp và nhiều công ty lâm nghiệp ở miền núi phía bắc, Bắc Trung Bộ chỉ một đến hai triệu đồng người/tháng; nhất là ở vùng Tây Nguyên, nhiều công ty lâm nghiệp không có nguồn thu, nên thu nhập từ lâm trường còn thấp hơn, thậm chí một số công ty lâm nghiệp nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội của công nhân.
Hiện nay tài nguyên rừng ở Tây Nguyên đang suy giảm nặng nề, tỷ lệ trồng rừng kém hơn tỷ lệ mất rừng. Để giữ vững những diện tích rừng còn lại ở Tây Nguyên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Trần Việt Hùng đề nghị: Từ năm 2014, Chính phủ kiên quyết cho đóng cửa rừng tự nhiên, không cho khai thác nhằm khôi phục rừng ở Tây Nguyên. Đề nghị Chính phủ cho ý kiến về khoản dự phòng để giải quyết dôi dư lao động ở các công ty lâm nghiệp, giải quyết vốn cho các địa phương phát triển quỹ rừng.
Theo báo cáo của ngành chức năng, hiện số đơn vị nhà nước hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp trên toàn vùng Tây Nguyên là 132, quản lý hơn 900.000 ha rừng, diện tích rừng đã giảm 488.000 ha. Sau khi sắp xếp, đổi mới, hầu hết các đơn vị hoạt động vẫn kém hiệu quả, rừng tiếp tục bị tàn phá, nguồn thu từ rừng không có, chủ yếu dựa vào kinh phí hỗ trợ của tỉnh, trở thành gánh nặng cho địa phương.
Vì vậy, Ban chỉ đạo Tây Nguyên đã đề xuất Chính phủ chỉ đạo rà soát, quy hoạch lại đất lâm nghiệp, phê duyệt cơ chế chính sách đặc thù đối với các công ty lâm nghiệp nhà nước, phê duyệt dự án tổng thể bảo vệ, khôi phục và phát triển bền vững rừng Tây Nguyên giai đoạn 2014 - 2020.
Trong phương hướng nhiệm vụ và giải pháp sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông lâm trường quốc doanh, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 28-NQTW nhấn mạnh: Đổi mới nông, lâm trường quốc doanh phải góp phần thực hiện tốt các chủ trương đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về CNH-HĐH nông thôn. Nâng cao hiệu quả sử dụng bền vững tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, vườn cây lâu năm và cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện có; hình thành các vùng sản xuất nông, lâm sản hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh quy mô lớn gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ.
Nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và góp phần xóa đói, giảm nghèo. Đổi mới nông, lâm trường quốc doanh phải tạo được cơ chế quản lý mới và hình thức tổ chức phù hợp để thúc đẩy ứng dụng nhanh và có hiệu quả các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bổ lại lao động và dân cư; làm điểm tựa cho phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. (Tin Tức 13 - 19/3) đầu trang(
Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa) vừa cho biết sẽ thành lập Trung tâm thiết kế Hawa.
Đây là nơi quy tụ các nhà thiết kế độc lập trong và ngoài nước; tập hợp các thông tin, dữ liệu về thị trường, tổ chức các cuộc thi và giải thưởng thiết kế thường kỳ, nơi trưng bày và giới thiệu các mẫu thiết kế mới tới các nhà nhập khẩu trên thế giới…
Theo Hawa, năm 2013, ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ chế biến 5,5 tỷ USD. Tuy nhiên giá trị sản phẩm do các doanh nghiệp Việt Nam tự thiết kế chỉ đạt khoảng 10 triệu USD. (Sài Gòn Giải Phóng 18/3) đầu trang(
Sắp tới, các doanh nghiệp ngành gỗ Việt Nam sẽ có thêm cơ hội để quảng bá và giới thiệu hình ảnh, thương hiệu sản phẩm, tăng cường xuất khẩu các mặt hàng chế tác từ gỗ, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ thế mạnh vào thị trường khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc và quốc tế.
Đó là tham gia Hội chợ triển lãm đồ gỗ mỹ nghệ Quốc tế Nam Ninh lần thứ 3 năm 2014 diễn ra từ ngày 17 - 20/4/2014 tại thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Hội chợ do Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam phối hợp với Trung tâm Xúc tiến thương mại Trung - Việt tổ chức.
Tham gia Hội chợ lần này, các doanh nghiệp ngành gỗ Việt Nam sẽ có cơ hội tìm kiếm bạn hàng, đối tác tin cậy trong việc cung ứng các sản phẩm tiêu dùng từ gỗ, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ chế tác từ gỗ, đá, sừng mỹ nghệ, từ đó đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại xuất nhập khẩu, giao lưu kinh tế giữa thị trường Trung Quốc, Việt Nam và các nước ASEAN. (Dangcongsan.vn 15/3; Nông Thôn Ngày Nay 17/3) đầu trang(
Tỉnh Khánh Hòa đã cơ bản thống nhất việc dành quỹ đất 4,8 ha tại khu công nghiệp Suối Dầu, huyện Cam Lâm để Cty TNHH Havina Energy (Hàn Quốc) xây dựng nhà máy chế biến viên gỗ nén.
Theo kế hoạch, Cty Havina Energy sẽ xây dựng Dự án viên gỗ nén công suất 1,7 triệu tấn/năm để xuất khẩu cho các nhà máy nhiệt điện ở Hàn Quốc.
Để có nguyên liệu chế biến gỗ nén, Cty Havina Energy sẽ thực hiện phương án tự trồng rừng và mua nguyên liệu từ người dân địa phương. (Đầu Tư 17/3) đầu trang(
Năm 2014, tỉnh Quảng Ngãi sử dụng gần 30 tỷ đồng từ nguồn vay ODA do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản để trồng mới 1.400 ha rừng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Sơn Trà, Tây Trà, Sơn Tây và Ba Tơ. (Thanh Niên 16/3, tr2) đầu trang(
Ngày 16/3, Sở NN-PTNT tỉnh Thanh Hóa và Công ty TNHH Canon Việt Nam đã tổ chức lễ ra quân trồng rừng “Vì một Việt Nam xanh” năm 2014 tại Vườn Quốc gia Bến En, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
Tham dự buổi lễ có sự tham gia của 100 tình nguyện viên thuộc mạng lưới tình nguyên viên Canon và 100 đoàn viên thanh niên thuộc Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Như Thanh.
Đây là năm thứ tư dự án tiến hành tại Vườn Quốc gia Bến En, đưa tổng diện tích rừng đặc dụng trên địa bàn được trồng mới lên tới 70ha. Dự án không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng vành đai thấp mà còn nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường cho các bạn trẻ thông qua hoạt động trồng cây thiết thực nói riêng và qua các hoạt động xã hội đầy ý nghĩa nói chung.
Từ năm 2011 tới nay, dự án đã trồng mới 50ha rừng lim xanh tại Vườn quốc gia Bến En, đang phát triển thuận lợi. Năm nay, toàn bộ 20ha sẽ trồng mới cây lát do có độ tăng trưởng tốt hơn và thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của khu vực, với tổng số tiền là 400 triệu đồng (giải ngân theo từng giai đoạn, kéo dài trong vòng 5 năm). (Dangcongsan.vn 17/3) đầu trang(
Tỉnh Bắc Kạn xác định đầu tư mở rộng hệ thống đường lâm nghiệp sẽ là khâu đột phá trong việc phát triển kinh tế rừng những năm tiếp theo.
Đối với huyện vùng cao Pác Nặm, qua kết quả trồng rừng hàng năm cho thấy, mấy năm gần đây chưa năm nào huyện trồng rừng đạt kế hoạch đề ra. Riêng vụ trồng rừng năm 2014, trong 1.200ha được giao, đến thời điểm này người dân mới đăng ký trồng rừng đạt khoảng 60% diện tích, thiết kế được 50% diện tích. Một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả trồng rừng tại Pác Nặm đạt thấp chính là do hầu hết các cánh rừng trồng chưa có đường lâm nghiệp.
Bà Vi Thị Thuý, Phó Chủ tịch UBND huyện Pác Nặm cho biết: Diện tích trồng rừng tại Pác Nặm không đạt có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Chủ quan là do hầu hết những diện tích thuận tiện ở gần bà con đã tiến hành trồng, còn diện tích đất trống đồi núi trọc ở xa, khó khăn trong vận chuyển cây con giống cũng như khai thác sau này.
Ông Phạm Ngọc Kiên, Phó Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết: Bắt đầu tư năm 2013, chi cục đã cho triển khai xây dựng 4 tuyến đường lâm nghiệp với tổng chiều dài gần 10km đến các cánh rừng trồng tại hai huyện là Chợ Đồn và Bạch Thông. Hiện nay, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt Đề cương Dự án quy hoạch đường lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, chi cục sẽ tiếp tục triển khai xây dựng thêm 5 tuyến đường lâm nghiệp nhằm tăng giá trị kinh tế rừng trồng.
Hệ thống đường lâm nghiệp được mở theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là đường lâm nghiệp cấp 4, kinh phí cho mỗi tuyến đường khoảng 500 triệu đồng. Đường được thiết kế rộng 4 mét, mặt đường 3 mét thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ của người dân.
Dự kiến trong những năm tới, các tuyến đường lâm nghiệp được đầu tư xây dựng vào các khu rừng trồng sẽ phát huy hiệu quả, làm tăng giá trị rừng trồng. Sau khi làm xong sẽ giao cho nhân dân quản lý, sửa chữa thường xuyên bảo đảm tính lâu dài. Khi quy hoạch mạng lưới đường lâm nghiệp hoàn thành, trong những năm tới tỉnh sẽ lồng ghép các nguồn vốn để mở đường, coi đó là động lực thúc đẩy khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp, đưa nghề rừng phát triển bền vững. Tuy nhiên việc mở đường lâm nghiệp hiện nay bước đầu cũng gặp phải không ít khó khăn.
Ông Phạm Ngọc Kiên, Phó Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết: Trong quá trình triển khai xây dựng đường lâm nghiệp hiện nay, cái khó khăn nhất là khâu giải phóng mặt bằng bởi nguồn vốn hỗ trợ cho mở đường lâm nghiệp hiện nay không có phần hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Từ đó dẫn đến một số công trình triển khai chậm hoặc đang triển khai phải tạm ngừng do không giải phóng được mặt bằng. Thứ hai là nguồn vốn hàng năm phân bổ còn ít, dẫn đến việc đầu tư mở đường lâm nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Việc mở đường lâm nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với công tác phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong những năm tiếp theo. Do vậy, chính quyền các địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu và tích cực hiến đất làm đường lâm nghiệp đến các cánh rừng trồng. Từ đó giảm chi phí đầu tư sản xuất, tăng giá trị kinh tế của rừng trồng, góp phần giúp người trồng rừng xoá đói giảm nghèo bền vững. (Đài PT - TH Bắc Kạn 17/3) đầu trang(
Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Cà Mau có 1.882 cơ sở đăng ký nuôi động vật hoang dã, chủ yếu là hộ gia đình với tổng số 112.920 con. Tuy nhiên, con số các hộ đăng ký nuôi trên vẫn chưa phản ánh hết thực tế, vì đa phần người dân gây nuôi động vật hoang dã quy mô nhỏ lẻ, tự phát đặc biệt là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa.
Theo ông Đỗ Văn Đồng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau: Công tác quản lý nuôi động vật hoang dã ở địa phương đang gặp nhiều khó khăn khi người dân vẫn chưa nâng cao ý thức trong việc đăng ký gây nuôi. Các hộ nuôi chủ yếu là nhỏ lẻ, không ổn định, dẫn tới việc không đăng ký nuôi hoặc có đăng ký rồi cũng rất khó kiểm soát hộ gia đình đó có tiếp tục nuôi hay không. Hình thức xử lý vi phạm vẫn chỉ là nhắc nhở, động viên người dân nên đi đăng ký, rất ít trường hợp xử phạt hành chính.
Ông Đỗ Văn Trình ngụ xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cho biết: Gia đình ông hiện nay nuôi 10 con trăn, nhưng chưa đi đăng ký, một mặt vì không nắm rõ về thủ tục lại là hộ nuôi nhỏ lẻ, tranh thủ thời gian nông nhàn đi kiếm thức ăn cho trăn như để tiền tiết kiệm khi được giá thì bán. Gia đình ông cũng không nuôi liên tục mà chỉ nuôi khi nào nhận thấy có nguồn thức ăn cho trăn dồi dào, dễ kiếm. Mặt khác vì gia đình ông đã nuôi trăn gần 20 năm nay nhưng vẫn chưa xảy ra vấn đề gì, vì vậy gia đình vẫn chưa đi đăng ký.
Thời gian tới, cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ động vật hoang dã, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau tiếp tục duy trì sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng Cảnh sát môi trường, Chi cục Kiểm lâm Thành phố Hồ Chí Minh về công tác phòng ngừa, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và động vật hoang dã để tổ chức kiểm tra bảo vệ và ngăn chặn tình trạng săn bắt, mua bán động vật hoang dã trái phép. (Tài Nguyên&Môi Trường 17/3) đầu trang(
Chiều 14.3, Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã tổ chức tổng kết kết quả thực hiện năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014.
Năm 2013, công tác phát triền rừng đã đạt được nhiều kết quả đáng kể. Đã khoán quản lý và bảo vệ 110.446 ha rừng, khoanh nuôi tái sinh hơn 2.000 ha, trồng 437 ha rừng phòng hộ, 6.888 ha rừng phân tán. Toàn tỉnh đã trồng 8.661 ha/10.178 ha rừng sản xuất.
Về các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó dự án phát triển lâm nghiệp (WB3) đã trồng 1.340 ha/1.500 ha (đạt 90%). Dự án khôi phục rừng và quản lý bền vững (KfW6), đã quản lý 1.012 ha, chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh 2.635 ha (đạt 100%).
Kế hoạch năm 2014, toàn tỉnh sẽ quản lý 126.300 ha rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh 3.000 ha rừng phòng hộ, chăm sóc 19.000 ha rừng trồng. Trồng mới 8.300 ha rừng, trong đó trồng 1.300 ha rừng phòng hộ, 7.000 ha rừng sản xuất, trồng 2,650 triệu cây phân tán, khai thác 350 ngàn m3 gỗ rừng trồng. (Báo Quảng Ngãi 18/3) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Chính phủ Nam Phi đang đứng trước một sức ép lớn từ phía cộng đồng quốc đối với việc cấm buôn bán và săn bắn sư tử, một trong những nỗ lực nhằm bảo đảm sự tồn tại dài lâu của loài thú quý hiếm này.
Nhiều công dân trên khắp thế giới đã tụ hội tại hơn 60 thành phố vào ngày 15-3 để tham dự sự kiện “Tháng Ba toàn cầu cho sư tử”. Tất cả cùng kêu gọi sự hưởng ứng từ Nam Phi và nhiều chính phủ khác cùng thực hiện các biện pháp ngăn chặn việc nhập khẩu sư tử.
Tháng Ba toàn cầu sẽ được tổ chức thành những cuộc diễu hành qua các đại sứ quán Nam Phi ở các nước với các kiến nghị nhằm chấm dứt nhu cầu tiêu thụ và săn bắn sư tử.
Hoạt động toàn cầu trên là một trong những nỗ lực bảo vệ sư tử hoang dã và giảm số lượng sư tử bị nuôi nhốt. Săn bắn sư tử là hoạt động hợp pháp ở Nam Phi, nơi sư tử được nuôi nhốt trong những khu du lịch thương mại. Chúng được được nuôi nấng như những vật nuôi cưng và các du khách có thể coi chúng như những vật nuôi trong nhà. Nhưng khi được thuần dưỡng đến lúc trưởng thành, sư tử trở thành đối tượng của bộ môn săn bắn: một kiểu giải trí giành giật mẫu vật và được trao đổi bằng một số tiền lớn.
Xương sư tử cũng là một nguồn thu khổng lồ với thị trường châu Á luôn coi đây là một nguồn dược phẩm đặc biệt. Các hoạt động buôn bán nói trên đã kích thích và cũng là yếu tố liên quan đến nạn săn bắt bất hợp pháp sư tử.
Nhà bảo tồn Chris Mercer, chủ nhiệm Chiến dịch chống săn bắn sư tử cho rằng đó là một sự tàn bạo không thể diễn tả nổi trong quá trình săn bắn và nuôi nhốt sư tử. Chiến dịch mà ông đang lãnh đạo đã cảnh bảo về tác động và mối đe dọa đối với quần thể sư tử hoang dã, đồng thời cho rằng việc tiếp tục bắt sư tử từ nhiên để cung cấp nguồn giống vật nuôi cũng như mức độ gia tăng của buôn bán xương sư tử tới châu Á sẽ tác động trực tiếp tới sư tử hoang dã.
Theo số liệu thống kê giai đoạn 2007-2012, đã có 2.592 mẫu vật sư tử (săn bắn) được xuất khẩu từ Nam Phi tới Hoa Kỳ và 1.206 mẫu vật sư tử tới các nước thuộc Liên minh châu Âu. Linda Tucker, đại diện của tổ chức Bảo vệ sư tử toàn cầu cho rằng: “Đây là một thực trạng đáng buồn. Chúng ta đang nói về việc nuôi nhốt để giết hại sư tử phục vụ cho du lịch. Sư tử đang trở thành một mặt hàng sinh lời và những cá thể non đã được các du khách nuôi nấng trước khi bị đặt trước các họng súng”.
Nhà bảo tồn này còn khẳng định: “Chúng ta cùng nói về vấn đề này để bảo vệ một di sản toàn cầu để gìn giữ cho tương lai. Vấn đề liên quan chính là việc chấm dứt ngay các hoạt động đối xử tệ bạc với sư tử”.
Hoạt động diễu hành trên tại các thành phố lớn chính là các nỗ lực nhằm chấm dứt việc săn bắn sư tử và thúc đẩy các chính sách mới nhằm bảo vệ tốt hơn loài thú quý hiếm này. (Nhân Dân 17/3) đầu trang(
Mới đây, tổ chức phi lợi nhuận Viện Tài nguyên thế giới (WEI) cùng hơn 40 đối tác, trong đó có Google, đã chính thức chạy hệ thống online Global Forest Watch, cho phép độc giả theo dõi sự biến đổi của các khu rừng trên trên khắp thế giới.
Global Forest Watch sử dụng những công nghệ tiên tiến nhất để mô phỏng các khu rừng từ hình ảnh của vệ tinh. Ngoài ra nó cũng kiểm tra để phát hiện những thay đổi về diện tích bao phủ rừng với tốc độ phản ánh gần như thực tế.
Việc cho phép theo dõi sát với thực tế là một thành tựu lớn của con người vì khối lượng thông tin cần xử lý là rất lớn. “Trước đây, một máy tính cần tốn đến 15 năm để xử lý, giờ đã có thể xử lý trong vài giờ nhờ công nghệ đám mây của Google”, nhà hoạt động môi trường Nigel Sizer của WEI cho biết.
Với công cụ trực tuyến miễn phí này, bất kỳ ai cũng đều có thể quan sát những gì đang diễn ra tại các khu rừng trên khắp thế giới để có nhận định, phát hiện và hành động kịp thời. Bên cạnh việc giúp phát hiện những vụ chặt phá rừng, công cụ này cũng giúp phát hiện những nỗ lực tái tạo rừng. “Từ bây giờ, những kẻ xấu sẽ không thể nấp kín và những người tốt sẽ được xã hội biết”, Andrew Steer, Chủ tịch WRI, nói.
Dữ liệu của Đại học Maryland và Google chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2000 - 2012, thế giới đã mất 2,3 triệu km2 diện tích rừng - tức cứ mỗi phút, thế giới mất đi một diện tích rừng tương đương 50 sân bóng đá. Đây là một tốc độ không hề nhỏ vì trong giai đoạn này, chỉ có 0,8 triệu km2 rừng được trồng hay phục hồi.
Ngoài việc theo dõi các khu rừng, Global Forest Watch còn cung cấp những thông tin như Brazil đã thành công phần nào trong việc phát hiện các hành vi chặt phá rừng bừa bãi, hay việc trồng cây cọ dầu tại Indonesia được xem là nguyên nhân thúc đẩy tốc độ mất rừng của quốc gia này. Theo Tổ chức Hòa bình Xanh, việc mất các khu rừng nhiệt đới tại Indonesia đang đẩy loài hổ Sumatran đến bờ vực diệt vong.
Một phát hiện quan trọng nữa là trong những năm gần đây Trung Quốc dường như đã phần nào đảo ngược được xu hướng mất rừng bằng cách tăng cường bảo vệ và trồng lại rừng. Nhưng một điều đáng nói là do nhu cầu dùng gỗ để xây dựng và trang trí nội thất của tầng lớp trung lưu thành thị vốn đang tăng rất nhanh tại Trung Quốc đã châm ngòi cho nạn chặt rừng trái phép trên toàn cầu. Theo Tổ chức phi lợi nhuận Anh Environment Investigation Ageny (EIA), Trung Quốc là nước nhập khẩu gỗ lớn nhất thế giới. Năm 2011, Trung Quốc nhập 180 triệu m3 gỗ với giá trị 9,3 tỉ USD. Theo điều tra của EIA, các thương gia Trung Quốc đã mua gỗ từ Nga, Papua New Guinea, quần đảo Solomon, Myanmar, Công Gô và nhiều nơi khác.
Dữ liệu từ Global Forest Watch cũng cho thấy Việt Nam nằm trong số các quốc gia Đông Nam Á có tỉ lệ mất rừng đáng kể trong giai đoạn 2000 – 2012. Ngoài nạn cháy rừng và chặt phá rừng bừa bãi, các công trình thủy điện lẫn việc mở rộng diện tích trồng cây cao su cũng là những nguyên nhân khiến diện rừng của Việt Nam bị thu hẹp. (Nhịp Cầu Đầu Tư 17/3) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa