|
Ngày 17 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trắng đêm thức cùng lực lượng Kiểm lâm bắt gỗ lậu, mới phần nào hiểu được những khó khăn, nguy hiểm mà các anh phải đối mặt khi lâm tặc ngày càng liều lĩnh, manh động.
Trời nhá nhem tối, như đã hẹn, PV có mặt tại Trạm Kiểm lâm Sơn Thái để cùng lực lượng của Trạm xuyên đêm bắt gỗ lậu. Đón PV, anh Nguyễn Văn Thịnh - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Sơn Thái nói vui: “Hôm nay có sự phối hợp của nhà báo, phương án “tác chiến” sẽ dễ dàng hơn đây”.
Nói rồi anh giục anh em trong Trạm chuẩn bị áo quần cải trang, đèn pin... để đi làm nhiệm vụ. Đích đến là bãi bồi nơi ngã 3 sông Cái (xã Liên Sang). Để qua mắt được đám “đề lô” (người được lâm tặc thuê để theo dõi động tĩnh của lực lượng Kiểm lâm - PV) chuyên lượn lờ ở những quán cà phê trước mặt Trạm Kiểm lâm Sơn Thái, các cán bộ Kiểm lâm vờ đi ngược lên Trung tâm xã Sơn Thái rồi theo con đường đất vòng sang xã Yang Ly, Khánh Thượng để đến xã Liên Sang. “Từ Trạm đến ngã 3 sông Cái có đến 4 - 5 tên “đề lô” mắc võng, ngồi ở quán nước, chạy xe máy... Nếu không đi đường vòng, các đối tượng này sẽ báo tin ngay cho đồng bọn tẩu tán gỗ lậu” - anh Thịnh chia sẻ.
Ra đến bãi bồi ở ngã 3 sông, tìm nơi giấu xe cẩn thận, còn các cán bộ Kiểm lâm thì vội mặc đồng phục rồi tìm nơi náu mình. Trời tối đen, phải căng mắt mới có thể quan sát được những động tĩnh trên sông.
Vừa quan sát, anh Bùi Thanh Sang - cán bộ Trạm Kiểm lâm Sơn Thái vừa chia sẻ: “Gần đây, do bị chặn bắt quá nhiều, bị xử phạt nặng nên lâm tặc chuyển sang vận chuyển gỗ lậu bằng đường sông. Từ chập tối đến khoảng 22 giờ đêm là giờ cao điểm gỗ lậu qua địa bàn xã Liên Sang. Biết vậy nhưng để bắt được gỗ trên sông không phải dễ. Chỉ cần mình sơ hở, các đối tượng sẽ thông báo cho nhau xả bè, giấu gỗ xuống lòng sông ngay. Phải ẩn mình cẩn thận chứ không bọn “đề lô” xuống sông tìm, phát hiện ra chúng ta nằm phục thì phí công đi làm”.
Anh Sang vừa dứt lời, PV đã nghe tiếng xe máy tiến ra phía sông Cái. Từ xa, có 2 đối tượng dùng đèn pin quét khắp bãi bồi, một đối tượng còn dùng đá ném vào các bụi cây trên bãi. Nhờ tính toán trước nên ánh đèn pin của các đối tượng không quét đến nơi PV nằm phục. Thấy bãi bồi thanh vắng, một đối tượng bốc máy gọi cho đồng bọn: “Ngã 3 sông Cái không có ai. OK”.
Dứt lời, các đối tượng rồ ga phóng đi. Sau khi toán dò đường đi khỏi, anh Sang bảo: “Bọn “đề lô” này đi tìm tiếp ở các bến sông khác đó. Tý nữa bọn nó quay lại đây lần nữa, nếu chắc chắn thì chúng mới báo tin cho đồng bọn chống bè gỗ xuống”. Nằm phục hơn 10 phút, lại thấy nhóm “đề lô” quay lại. Lần này, chúng quan sát kỹ hơn, lùng sục để tìm người, tìm xe máy. Không may khi bị chúng phát hiện 3 chiếc xe máy của lực lượng chức năng được giấu trong rẫy keo. Tức thì, một tên điện thoại báo: “Có động, stop”, rồi phóng xe đi.
Thấy bị lộ, anh Thịnh phân vân: “Nếu bây giờ cả 6 người chúng ta cứ nằm phục ở đây chúng sẽ không cho bè xuống nữa. Phải tương kế tựu kế mới bắt được gỗ lậu”. Rồi anh phân công 3 người ở lại, 3 người lên lấy xe máy để về. Một người trong nhóm PV theo anh Thịnh và một cán bộ Kiểm lâm khác chạy xe về, cố tình để cho bọn “đề lô” nhìn thấy.
Về đến Trạm, chưa đầy 3 phút sau đã có 2 đối tượng chạy xe máy lượn lờ trước Trạm 4 vòng để “do thám”. Còn tại ngã 3 sông Cái, 2 tên “đề lô” khác tiếp tục quay lại bãi bồi lùng tìm lực lượng Kiểm lâm. Thấy đã an toàn, chúng liền báo cho đồng bọn, nhưng chúng không ngờ, lực lượng làm nhiệm vụ vẫn còn 2 người nằm phục ở bờ sông. Và thế là...
Khoảng 30 phút sau, 2 bè gỗ lừ lừ xuất hiện. Khi bè gỗ vừa đến nơi các Kiểm lâm mật phục, 3 ánh đèn pin vụt sáng kèm theo tiếng hô lớn: “Cho bè dừng lại, tấp vào bờ”. 2 gã chèo bè định dùng dao chặt bè nhằm tẩu tán gỗ nhưng không kịp. Trong tích tắc, lực lượng Kiểm lâm lao ra giữa sông, tiếp cận các đối tượng và giữ bè gỗ lại.
Thấy không còn khả năng chạy thoát, 2 gã chống bè mới ngoan ngoãn đưa bè vào bờ để cơ quan chức năng làm việc. Mỗi bè được các đối tượng kết bằng 5 hộp gỗ và lấy ruột bánh xe ô tô để làm nổi bè. Người đàn ông có dáng vóc nhỏ thó, tự nhận với lực lượng Kiểm lâm: “Tôi tên Bình còn người kia tên Tư đều ở Diên Thọ. Mỗi bè gỗ nếu đưa trót lọt qua trạm Kiểm lâm về đến Diên Thọ, mỗi người chống bè sẽ được 500.000 đồng. Nếu bị bắt, chỉ được bồi dưỡng 200.000 đồng”.
Quay sang PV, anh Sang nói nhỏ: “Lâm tặc giờ chỉ đứng đằng sau đưa tiền để thuê người vận chuyển, nếu bị bắt thì cũng chỉ mất gỗ, không bị bắt người. Tất cả các bè gỗ này đều được kết bè ở xã Khánh Thượng và cho xuôi xuống đây. Lực lượng Kiểm lâm không phát hiện ra thì khoảng 4 - 5 giờ sáng là bè về đến điểm tập kết”.
Trong lúc các cán bộ ở Trạm Kiểm lâm Sơn Thái đang làm thủ tục với các đối tượng vận chuyển gỗ tại điểm bị bắt, bỗng xuất hiện 10 đối tượng tướng mạo hung tợn. Nhóm người này miệng nói xin tha, nhưng thái độ thì có vẻ muốn uy hiếp nhằm cướp lại gỗ. Trước tình thế đó, anh Sang cấp tốc gọi điện về Trạm và Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh để được hỗ trợ. Một lúc sau, thấy lực lượng Kiểm lâm đông, các đối tượng mới chịu hạ giọng, số gỗ vừa bị bắt đã được đưa về trạm an toàn.
Từ đầu năm đến nay, tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh tuy đã giảm nhưng vẫn diễn biến khá phức tạp. Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh đã xử lý 142 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 258m3 gỗ xẻ, 15,5m3 gỗ tròn, 10 phương tiện vận chuyển. Cũng tại địa bàn này, Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh đã phát hiện và xử lý 93 vụ vi phạm, tịch thu 120m3 gỗ xẻ, 27m3 gỗ tròn, 1 ô tô, 12 xe máy.
Đoán được hoạt động của bọn lâm tặc, nên anh Thịnh cảnh báo: “Chắc chắn sẽ còn nhiều bè nữa đang ở phía trên. Mình lộ rồi, rút về để Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh tiếp tục chặn bắt”. Nghe vậy, PV nhanh chóng rời Trạm Kiểm lâm Sơn Thái về Đội Kiểm lâm cơ động của tỉnh đang chốt ở dốc A Meo (thị trấn Khánh Vĩnh). Khi đến nơi, đồng hồ đã điểm 22 giờ. Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh Nguyễn Văn Tỉnh phán đoán, sau khi các đối tượng bị bắt ở đường sông, chúng sẽ tiến hành vận chuyển bằng đường bộ vượt qua cầu treo Cầu Bà để về Khánh Nam trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 giờ sáng.
Để qua mặt được các “đề lô” cảnh giới khắp nơi, tổ tuần tra chỉ đi 4 người và chia nhỏ nhóm đi theo nhiều hướng. Gần đến địa điểm đầu cầu treo Cầu Bà, cả tổ ém quân trên một quả đồi thấp. Sau nhiều giờ mật phục, gần 4 giờ sáng vẫn không thấy các xe vận chuyển gỗ đi qua, anh Nguyễn Văn Tâm - phụ trách tổ tuần tra lệnh cho tổ di chuyển ra phía cầu treo. Khi lực lượng vừa đến thì cũng là lúc 3 chiếc xe độ chế chở 12 hộp gỗ pơ mu gầm rú qua cầu bị chặn lại. Các đối tượng đã ra sức chống đối, vừa giằng co, vừa buông những lời hăm dọa.
Chứng kiến lực lượng Kiểm lâm bắt giữ gỗ lậu trên cầu treo Cầu Bà, PV mới hình dung được phần nào sự manh động của lâm tặc. Khi bị bắt, đối tượng tên Phong (ở thị trấn Khánh Vĩnh) sau một hồi năn nỉ không có kết quả, liền quay ra chửi bới lực lượng làm nhiệm vụ và hăm dọa: “Chúng mày sẽ biết tay tao. Tao sẽ đốt nhà chúng mày...”.
Hỏi ra mới biết, Phong đã nhiều lần bị bắt khi vận chuyển gỗ lậu. Cách đây chưa lâu, cũng tại cầu treo Cầu Bà, khi lực lượng Kiểm lâm kiên quyết đưa phương tiện vi phạm về xử lý, Phong đã châm lửa đốt chiếc xe máy y dùng để vận chuyển gỗ lậu. “Mỗi khi gỗ lậu bị bắt, lâm tặc kéo đến rất đông, sẵn sàng chửi bới, manh động hòng cướp lại phương tiện vi phạm. Trong trường hợp này, nếu có lực lượng Công an phối hợp thì chắc chắn các đối tượng này sẽ bớt hung hăng” - anh Tỉnh nói.
Ông Nguyễn Khương - Chi cục phó phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Điểm nóng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh đến nay đã giảm 80 - 90%. Hiện nay, các đối tượng chủ yếu vận chuyển gỗ bằng đường sông bởi mùa mưa nước sông dâng cao dễ vận chuyển.
Nắm bắt được điều này, Chi cục đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh, Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh bên cạnh việc tuần tra, kiểm soát trên đường bộ, phải tập trung lực lượng để chặn bắt gỗ lậu trên sông Cái. Điểm nóng này tuy đã hạ nhiệt nhưng để hạn chế đến mức thấp nhất nạn khai thác, vận chuyển gỗ lậu, nhất là việc xử lý các đối tượng manh động rất cần sự hỗ trợ của lực lượng Công an”.
Còn trong câu chuyện với anh Thịnh, được biết, mùa này Khánh Vĩnh mưa nhiều nên việc truy quét sâu vào rừng gặp rất nhiều khó khăn. Để ngăn chặn gỗ lậu về xuôi, Trạm Kiểm lâm Sơn Thái phải tìm đủ mọi cách để chặn bắt trên sông. Việc chặn bắt rất gian nan bởi vấp phải sự phản ứng quyết liệt của người vi phạm.
Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Sơn Thái mở điện thoại cho xem một số tin nhắn từ số máy 01657177967 của đối tượng vận chuyển gỗ bị bắt hù dọa anh: “Tao thấy mày là tao chặt mày ra thành tám khúc. Tao nói trước cho mày biết để mày về nhà thăm vợ con đi rồi bỏ xác ở Khánh Lê...”, hay “Ông phải thê thảm hơn ông Tâm (Trạm trưởng Trạm Quản lý bảo vệ rừng Liên Sang bị lâm tặc chém gần đứt lìa bàn tay) thì ông mới thấy”...
Hỏi anh Thịnh có sợ bị trả thù không? Anh chia sẻ: “Mình thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, lâm tặc dù có manh động đến đâu mình cũng không nao núng. Sau vụ việc anh Tâm bị chém, một số đối tượng bị bắt, lâm tặc cũng đã bớt hung hăng hơn trước”.
Đêm làm việc của Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh kết thúc khi mặt trời đã ló rạng. Trên đường từ Cầu Bà về dốc A Meo, một số kiểm lâm viên trẻ vẫn nói chuyện cười đùa nhưng trên khuôn mặt các anh, đã hiện nét mệt mỏi sau một đêm mất ngủ. Đi ngược chiều với PV, những chiếc xe độ chế lại tiếp tục gầm rú tiến về hướng đại ngàn. Chợt nghĩ, việc giữ rừng sẽ còn lắm gian nan. (Bảo Vệ Pháp Luật 17/11) đầu trang(
Có lẽ duy nhất ở Lào Cai đến giờ còn lại rừng gỗ nghiến, trai cổ thụ như thế này. Duy nhất cũng bởi lẽ ở đây được người dân Cốc Ly gìn giữ như một báu vật thiêng liêng. Trong 651 cây gỗ quý đang được đưa vào “sách đỏ” của Kiểm lâm Lào Cai có tới 577 cây gỗ nghiến...
Mỗi cây gỗ ở vị trí nào, đường kính bao nhiêu, chiều cao thế nào, trữ lượng gỗ đến đâu đều được ghi rõ và đầy đủ thông số trong danh sách cả. Giàng Văn Hải, cán bộ kiểm lâm còn đùa với PV: Đều “có số, có má” cả đấy....
Thì ra, cách đây 5 năm, sau khi kiểm kê lại rừng, mỗi cây đều được đánh số thứ tự, khoanh vùng để tiện cho công tác theo dõi, bảo vệ. Chính vì thế, khi đến gốc cây gỗ nghiến có đánh số 76 ở địa phận thôn Làng Pàm thì anh Trần Văn Cường, cán bộ kiểm lâm của trạm Cốc Ly đã đọc vanh vách về “thân thế, sự nghiệp” của cây gỗ nghiến: đường kính 2m, cao 29 m….
Đi qua rất nhiều dây leo chằng chịt, trèo mãi qua những rễ cây ngoằn ngoèo bám vào vách đá dựng đứng, cũng lên được gốc cây vài trăm tuổi ấy. Ngay cả cái rễ cây cũng to đến hơn một vòng tay của PV, mới thấy là tuổi thọ của những “cụ” gỗ này. Đúng là khi người ta đứng giữa bàn ngạt của rừng xanh, mới thấy con người bé nhỏ biết bao nhiêu...
Cảm xúc thật khó tả, chỉ thấy có một chút gì đó thiêng liêng khi đứng bên gốc cây này. Cố tình đứng ôm vào cái thân cây già cỗi ấy, nhưng vòng tay cũng chỉ vừa một “bành vẻ” (theo cách gọi của kiểm lâm) mà thôi, không thể nắm tay nhau mà đo xem bao nhiêu người ôm được, vì cây gỗ mọc cheo leo bên vách đá, không có chỗ đứng...Cũng đúng cây gỗ này, một bên thân vẫn còn vết cắt bằng cưa máy sắc lẹm của bọn “lâm tặc”...
Chú Đặng Văn Quang, người Dao Tuyển, thành viên tổ bảo vệ rừng Làng Pàm, người có thâm niên hơn 20 năm bảo vệ rừng, tay vân vê vết cắt kể: Hôm ấy nhận được tin báo, tôi phải bỏ dở cả bữa cơm huy động anh em trong tổ bảo vệ lên rừng. Lên đến nơi thì đã bị “xẻo” mất một bên như thế này. Xung quanh vết cắt vẫn còn những chiếc đinh đóng vào thân cây. “Bọn chúng đóng đinh thế này làm giá đỡ để đặt cưa máy đấy” - chú Quang bảo.
Giọng anh Giàng Văn Hải, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Cốc Ly như chùng xuống: Mỗi một cây còn lại là một báu vật vô giá của đại ngàn Cốc Ly, bởi nếu không giữ gìn bảo vệ tốt, 651 cây này, cứ tính mỗi năm có vài cây già cỗi tự gãy đổ, chưa kể “rơi rụng” do bị xẻ trộm, thử làm phép tính đơn giản... không lâu nữa, không còn rừng gỗ nghiến Cốc Ly nữa là điều khó tránh khỏi. Bởi vậy, trạm cũng như Hạt Kiểm lâm Bắc Hà đang thí điểm mỗi cây to có một miếu thờ để làm nơi tổ chức lễ cúng rừng đầu xuân...
Giàng Văn Hải, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm xã Cốc Ly nhớ lại những ngày đầu được chuyển từ Si Ma Cai về “tiếp quản” công việc ở đây. Nói là được về gần gia đình, nhưng thực ra cả tuần anh phải cắm chốt “cơm niêu, nước lọ” với rừng....
Tự hào xen lẫn trách nhiệm nặng nề! Tự hào là bởi, đây có lẽ là nơi duy nhất ở tỉnh Lào Cai, cũng có khi cả vùng rừng Tây Bắc này còn rừng gỗ nghiến cổ thụ như vậy, mình được giao trọng trách bảo vệ. Nặng nề cũng bởi điều ấy, làm sao mà giữ được “báu vật” này trong khi ngoài kia, những lâm tặc đang ngày đêm, rình rập, nung nấu tìm mọi thủ đoạn để chặt phá... Cũng bởi gỗ nghiến quý, bán được nhiều tiền nên người dân bị bọn buôn gỗ thuê lên rừng đốn hạ những cây gỗ hàng trăm năm tuổi này.
Nhớ nhất lần có một cây gỗ nghiến bị đổ do già cỗi quá. Cả trạm có 2 anh em phải lên để gác, sợ bị “xẻ trộm” mất. Trời thì mưa, đường thì trơn, đi bộ mãi vẫn chưa tới nơi, vừa đói, vừa rét, cảm giác như lả... Lúc ấy “nam nhi đại trượng phu” nhưng cũng phải rơi nước mắt.
Anh Hải không giấu diếm kể: Đúng là lần đầu tiên trong đời tôi khóc. “Khóc” vì thấy khổ cực quá, sao mình lại có lúc vất vả thế, lúc ấy chỉ muốn xin ra khỏi ngành... Thế rồi, có lẽ từ trong sâu thẳm trái tim người gác rừng trẻ tuổi có một tình yêu mãnh liệt với chốn thâm sơn cùng cốc; cảm thấy ý nghĩa lớn lao khi được giao nhiệm vụ giữ “kho báu” này. Hơn thế là tình cảm của đồng bào nơi đây đã níu chân anh cùng đồng nghiệp ngày càng gắn bó hơn…
“Hữu xạ tự nhiên hương”, không hiểu sao, rời cây gỗ nghiến số 76, xuống bản, chúng tôi gặp được già làng Bàn A Chổ, người Dao Tuyển, thật ngẫu nhiên khi biết được năm nay ông cũng 76 tuổi. Cũng là người luôn đau đáu với rừng, từ khi ông còn công tác ở xã, rồi nghỉ hưu, rồi cũng là thành viên tích cực trong tổ tự quản bảo vệ rừng gỗ nghiến Cốc Ly.
Thoạt nghe tên, cứ ngỡ ông là người Dao Cốc Ly, nhưng khi nhìn lên tấm bằng trao 50 tuổi Đảng, thấy đề quê quán “xã Thụy Anh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” khiến PV không giấu nổi tò mò. Bởi nếu gặp ông, giới thiệu là quê gốc Thái Bình chắc hẳn thật khó tin, từ dáng vóc, phong thái, cử chỉ và lời nói…đều là của người vùng cao! Nhâm nhi chén trà ấm mới pha, ông Bàn A Chổ chậm rãi kể về cuộc đời của mình.
Ông còn nhớ như in ấy là năm 1945, nạn đói lịch sử, ông được bố mẹ đưa lên Lào Cai làm con nuôi của gia đình người Dao… 7 tuổi có ở mảnh đất này ông đã thấy những cây gỗ nghiến “khổng lồ” rồi. Rồi lớn lên dưới cánh rừng gỗ nghiến ấy, trải qua 30 năm làm lãnh đạo xã, ông Chổ cũng là người tiên phong trong việc tham gia xây dựng quy ước bảo vệ rừng.
Ông bảo, cây gỗ nghiến đẹp nhất ở Làng Pàm là cây mọc ở giáp danh với thôn Ải Nam (xã Phong Hải, huyện Bảo Thắng), để đến được đó phải mất nửa ngày đường. Bước chân người đàn ông quê hương “năm tấn” có duyên nợ với miền sơn cước không đếm hết bao nhiêu lần lên từng cây gỗ nghiến… Và bước chân ấy giờ đã không còn đủ sức lên rừng, nhưng ông vẫn là người có uy tín trong cộng đồng người Dao ở Cốc Ly, nên tiếng nói của ông trong việc vận động tuyên truyền người dân bảo vệ rừng còn có “uy” lắm.
Bữa cơm tại Trạm Kiểm lâm Cốc Ly khi đã trễ quá trưa, nhưng ai cũng cảm thấy vui và ngon, bởi sau một hồi lên rừng đã thấm mệt. Thế mới biết công việc của những chiến sỹ kiểm lâm ở đây vất vả thế nào. Anh Hải bảo: Thực tình cả trạm có 2 người, chẳng thể bảo vệ được rừng nếu không dựa vào sức mạnh “nhân dân”. Mà thực ra nhân dân giữ rừng là chính, mình chỉ làm nhiệm vụ định hướng tuyên truyền họ thôi... Thức tỉnh họ biết giữ rừng là bảo vệ nguồn sống cho chính họ, cho đời con, đời cháu sau này....
Với Trần Văn Cường, kỷ niệm đáng nhớ nhất là nửa tháng ăn ngủ tại rừng canh gác cùng đội cơ động của kiểm lâm tỉnh. Cách đây đúng 5 năm, lúc ấy mới vào nghề, Cường được tăng cường lên rừng cắm chốt để cùng nhân dân bảo vệ, cũng là lần đầu tiên anh được đón giao thừa ở rừng...
Tết năm ấy, nhân dân gói bánh chưng mang thịt rượu lên “tiếp tế” cho kiểm lâm. Mặc dù vất vả nhưng vui, mà đó là kỷ niệm trong đời làm Cường nhớ mãi. Địa phận Làng Pàm giáp với thôn Ải Nam, Ải Dõng (Phong Hải, Bảo Thắng) năm ấy cũng vào dịp áp tết, cả đoàn có tới 50-60 người tràn qua rừng, sang khai thác gỗ quý, sau lần đó mất hơn chục cây nghiến... “trái tim đại ngàn như rỉ máu”!
Điều đặc biệt hơn cả với kiểm lâm viên Trần Văn Cường, vì trọng trách anh được giao có ý nghĩa với anh, bởi sự “trao truyền” nghiệp giữ rừng của người bố thân yêu.
Ông Trần Đình Diện, bố Cường hiện đang là Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm xã Bảo Nhai, người cũng đã từng nhiều năm “gác rừng” gỗ nghiến Cốc Ly. Mái tóc đã điểm bạc, nhưng trong lòng người kiểm lâm già vui lắm, vì giờ đây dù bước chân ông không còn gắn bó cùng rừng gỗ nghiến nhưng bao nhiêu kinh nghiệm bảo vệ rừng, ông đã “kế nghiệp” lại cho con trai trước khi chuẩn bị về nghỉ hưu…
Không biết chính xác “khai sinh” của những cây gỗ quý ấy có tự bao giờ, chỉ biết rằng mỗi cây gỗ chứng kiến không biết bao nhiêu đời người, mỗi vòng vân gỗ, mỗi thớ gỗ như mang nặng cả những tấm lòng của người gắn bó với rừng, yêu rừng đến tha thiết mà giữ gìn, mà bảo vệ nâng niu như một báu vật gia truyền. Không ai bảo ai, không phải bảo vệ cho riêng mình mà là gìn giữ cho muôn đời sau, cho những mùa xuân còn mãi... (Nông Nghiệp Việt Nam 17/11) đầu trang(
Hàng trăm cây gỗ quý ở khu vực rừng phòng hộ giáp ranh giữa xã Cư Klong (huyện Krông Năng, Đắk Lắk) và xã Cư Đrăng (huyện Krông Pa, Gia Lai) đang bị lâm tặc ngang nhiên đốn hạ. Vậy nhưng chính quyền địa phương lại không hề hay biết!?
Đi cùng mấy người dẫn đường địa phương, sáng 12-11, PV có mặt tại những nơi lâm tặc đốn hạ gỗ quý của rừng phòng hộ giáp ranh xã Cư Klong và Cư Đrăng. Bỏ xe máy gần trại bò Ma Thiên (thôn Cư Klong, xã Cư Klong), PV bắt đầu hành trình lên đỉnh núi Cư Klong, thuộc lâm phần tiểu khu 306 do xã Cư Klong quản lý.
Dốc núi cao, cây cối chằng chịt chặn lối đi nên mấy người dẫn đường phải xông lên trước phát dọn. Vất vả vượt qua chặng đường rừng hơn 1km, những cây gỗ quý vừa bị lâm tặc đốn hạ đầu tiên cũng xuất hiện. Bốc nắm mùn cưa chưa ráo nước cạnh một cây gỗ quý mới bị chặt có đường kính hơn 1m, người dẫn đường cho biết đó là cây gỗ bình linh (gỗ quý nhóm III).
Ngoài những thanh gỗ bìa, tại hiện trường còn một khúc ruột bình linh (rộng 0,3m, dài hơn 3m) chưa bị lâm tặc lấy đi. “Trong khu rừng này, chỉ còn lại bình linh là gỗ quý mà thôi. Chắc chắn cây này mới bị đốn hạ từ ngày hôm qua”, anh K. (người dẫn đường) cho hay. Xung quanh cây bình linh đó, phát hiện thêm nhiều cây gỗ quý khác như gáo vàng, dổi… cũng vừa mới bị đốn hạ. Lâm tặc đã lấy hết những khúc ruột, chỉ để lại những tấm bìa còn thơm mùi gỗ.
Rời bãi gỗ đầu tiên, men theo con đường rừng lâm tặc mới mở để tìm những bãi khai thác gỗ mới. Trên lối đi, dấu vết chân trâu kéo gỗ vẫn còn mới nguyên. Một đôi chỗ, lâm tặc còn chặt những cây nhỏ rải lên đường làm những đường ray vận chuyển gỗ lớn. Người dẫn đường cho biết, lâm tặc thường dùng trâu kéo những khúc gỗ lớn để dễ đi qua những con đường dốc cao trơn trượt.
Còn riêng những khúc gỗ nhỏ, lâm tặc thường dùng xe máy độ chế với hai bánh quấn xích để vận chuyển. Đi theo con đường này được khoảng 500m, PV tiếp tục phát hiện ra hàng chục cây gỗ quý vừa mới bị đốn hạ. Một số cây vẫn chưa bị xẻ bìa, cành lá còn xanh.
Khi PV hỏi vì sao lâm tặc không đưa cây về xẻ kẻo bị phát hiện, anh S. (người dẫn đường) cười nói: “Đưa cây về xẻ chi cho mệt, xẻ ở đây cũng có ai bắt đâu mà sợ”. Cũng theo anh S., để xâm nhập vào khu rừng này, có hai con đường là đi từ trại bò Ma Thiên và đi từ thôn Cư Klong, công an xã hay kiểm lâm địa phương chỉ cần chặn ở đây là ngăn được lâm tặc. Nhưng không hiểu sao, lâm tặc vẫn vượt qua dễ dàng?
Nghe anh K. bảo rằng những khu rừng đặc dụng ở xã Cư Đrăng cũng bị tàn phá không kém gì ở xã Cư Klong, PV tiếp tục nhờ anh dẫn đường qua địa phận Gia Lai. Sau khi đi bộ thêm khoảng 2km đường rừng, vượt qua một con suối nhỏ phân chia ranh giới, những “xưởng cưa” giữa rừng ở lâm phần quản lý của xã Cư Đrăng đã xuất hiện trước mắt.
Vừa đi qua con suối được khoảng 500m, bắt đầu nghe tiếng cưa gỗ, tiếng người nói trong rừng. Trong chốc lát, có hai người mang dao rựa, cưa máy đi rừng từ phía tiếng cưa xuất hiện. Sau một lúc nói chuyện với mấy người dẫn đường, họ đi trở lại con đường mòn chúng tôi vừa đi qua.
“Mấy người này ở xã Cư Klong, họ vừa mới xẻ mấy cây gỗ quý của Gia Lai ở gần đây”, anh K. thông tin. Tiếp tục hành trình, đến chỗ mấy cây gỗ hai người kia vừa đốn hạ. Ba cây gỗ dổi (nhóm IV) lớn bị chặt hạ nằm ngổn ngang bên lối đi, có gốc cây đường kính lên tới 1,5m. Một cây đã bị cưa xẻ thành những phách gỗ lớn (rộng khoảng 0,5m, dài 2,5m), hai cây còn lại mới bị xẻ ngang thân và nhựa chảy rỉ còn bám nơi mép cưa.
Sau 4 giờ hành trình tại khu vực rừng giáp ranh giữa Đắk Lắk và Gia Lai, đã đếm được hàng trăm cây gỗ quý bị đốn hạ. Khi trời đã về chiều, PV quay lại phía bìa rừng xã Cư Klong nghỉ ngơi. Đang ngồi ăn tạm mấy ổ bành mì cầm sức, bỗng nghe tiếng người la mắng con trâu ngay từ phía rừng vọng ra. Trong giây lát, một người đàn ông dẫn con trâu kéo một khúc gỗ lớn đã xuất hiện tại con đường nằm cách chỗ chúng tôi nghỉ ngơi khoảng 10m.
Nhìn thoáng qua, thấy nó giống với khúc gỗ bình linh đã bắt gặp đầu chuyến đi. Đợi người đàn ông kia đi xa, PV nhờ anh K. dẫn đi theo quan sát hành trình vận chuyển gỗ về nhà của ông ta. Ra khỏi bìa rừng, người đàn ông kia dẫn con trâu đi theo con đường mòn xuống thôn Cư Klong.
Mất một giờ vất vả đi qua con đường dốc khúc khuỷu, ông ta cũng dẫn được khúc gỗ về đến ngôi nhà gỗ nằm dưới chân núi Cư Klong. Vứt khúc gỗ ra sau hiên nhà, ông dẫn trâu ra thả ở cánh đồng thôn. Tranh thủ lúc đó, PV đến xem và phát hiện khúc gỗ kia chính là khúc gỗ bình linh đã bắt gặp đầu chuyến đi.
Có nhiều khúc gỗ lớn khác được che tạm mấy tấm bạt mỏng cũng đang để trước sân nhà ông ta. Thấy người đàn ông để gỗ ngang nhiên như thế, PV thắc mắc hỏi anh K. thì anh xua tay nói: “Trong vùng này người ta thường gọi đây là thôn của những đại lâm tặc, họ cứ để gỗ khắp sân nhà như thế nhưng không có ai bắt đâu. Trong nhà họ, còn chứa nhiều gỗ quý hơn thế nữa”.
Quả như lời anh K. nói, khi PV đóng vai người mua gỗ đi vào thôn này đã bắt gặp trong nhà dân chứa rất nhiều gỗ quý dổi màu, giáng hương, bình linh, gáo vàng… Tại nhà ông H., gỗ quý được chất đầy dưới giường, dưới bếp và cả ngoài sân.
“Gáo vàng 14 triệu đồng một khối, dổi 17 triệu một khối, bình linh 18 triệu một khối… Các anh mua được thì tôi vận chuyển ra đến tận xã Ea Tam (huyện Krông Năng), còn nếu vận chuyển lên Buôn Ma Thuột thì phải trả thêm tiền để tôi lo phí mua đường”, ông H. trả lời khi tôi hỏi mua gỗ.
Khi PV mở máy ảnh cho xem lại những hình ảnh phá rừng tại tiểu khu 306, ông Chủ tịch UBND xã Cư Klong Nguyễn Văn Thắng vẫn không tin rằng rừng đặc dụng của xã bị tàn phá nghiêm trọng như thế. Mất 20 phút mô tả cho vị chủ tịch về hành trình PV đã đi trong rừng Cư Klong, nhưng ông nghĩ rằng đó không phải rừng của xã. “Trong xã chỉ còn rừng nghèo, không có gỗ to như thế đâu? Nếu rừng bị phá là chúng tôi biết ngay?”, ông Thắng thắc mắc.
Sau khi được PV chỉ dẫn trên bản đồ, ông Thắng mới xác nhận đó là tiểu khu 306 và diện tích rừng này do xã quản lý. “Tiểu khu 306 hiện có khoảng 500ha rừng và đất rừng, trong đó còn lại khoảng 50ha rừng nghèo. Hiện xã chưa biết rừng của tiểu khu này có bị phá hay không, nên ngày mai chúng tôi sẽ cho người vào kiểm tra lại”, ông Thắng cho hay. Không biết có đi kiểm tra hay không, nhưng trong tối hôm đó, ông Thắng điện thoại báo với PV khu rừng bị phá không thuộc đất của xã mà thuộc tỉnh Gia Lai?
Trước những thắc mắc của PV về việc gỗ chất đầy trong nhà dân sao xã không xử lý, ông Thắng bảo rằng xã không có thẩm quyền kiểm tra nhà dân và đã nhiều lần báo với huyện kiểm tra, xử lý. “Chúng tôi đã báo với huyện nhiều lần rồi, nhưng không hiểu sao họ không xuống phối hợp kiểm tra, xử lý gì cả”, ông Thắng cho biết.
Trong khi đó, một lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng lại nói rằng trách nhiệm quản lý tiểu khu 306 thuộc về UBND xã Cư Klong: “Tiểu khu này thuộc quản lý của UBND xã Cư Klong, họ là chủ rừng nên phải có trách nhiệm chính trong việc quản lý rừng ở nơi đây. Chúng tôi chỉ có trách nhiệm quản lý tiểu khu 306 về mặt Nhà nước, vì thế lâu lâu kiểm lâm địa bàn xã mới phối hợp với họ đi kiểm tra được”. (Sài Gòn Giải Phóng 15/11) đầu trang(
14-11, trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, ông Lê Tuấn Quốc- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cho biết sở đã có văn bản nhắc nhở yêu cầu ông Võ Văn Sung - Nguyên giám đốc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu đóng số tiền hơn 450 triệu đồng phải nộp lại ngân sách nhà nước do sai phạm trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Lý do Sở có văn bản nhắc nhở là bởi từ khi có quyết định đến nay hơn một năm nhưng ông Sung chưa thực hiện.
Như báo Pháp Luật TP.HCM từng có nhiều bài viết phản ánh, sau cơn bão số 1 (năm 2012), Ban quản lý Khu bảo tồn TN Bình Châu - Phước Bửu do ông Sung làm giám đốc có báo cáo Sở NN&PTNT xin phép dọn dẹp vệ sinh một số diện tích rừng tràm bị gãy đổ trong khu vực rừng Bình Châu- Phước Bửu.
Được Sở cho phép, khu bảo tồn đã ký hợp đồng với một cá nhân ở bên ngoài để dọn dẹp. Dịp này, nhiều cây tràm dù không bị đổ gãy cũng bị cưa lấy gỗ mang đi. Một số người dân cũng lợi dụng cơ hội này để vào rừng tràm cưa trộm.
Sau khi báo chí phản ánh, Sở NN&PTNT đã thanh tra lại toàn bộ quá trình dọn dẹp vệ sinh rừng cũng như thống kê số lượng gỗ tràm bị “tận thu”. Kết quả, Nhà nước bị thất thu hơn 400 m3 gỗ.
Sở khẳng định ông Sung đã thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, để xảy ra sai phạm trong công tác bảo vệ rừng tại khu vực rừng Bình Châu-Phước Bửu.
Tháng 3-2013, ông Sung bị kỷ luật bằng hình thức cách chức, chờ phân công công tác mới đồng thời buộc phải nộp lại ngân sách hơn 450 triệu đồng do để xảy ra thất thoát gỗ. Ngoài ra một số cán bộ khác, kiểm lâm cũng bị xử lý kỷ luật, luân chuyển công tác.
Tuy nhiên, theo phản ánh của cán bộ, nhân viên Khu bảo tồn, hơn một năm qua, ông Sung chưa đóng số tiền trên vào ngân sách. Sở cũng chưa bố trí công tác khác cho ông Sung. Vì thế, ông Sung vẫn được nhận lương hàng tháng (hơn 6 triệu đồng) nhưng không làm việc, chỉ thỉnh thoảng lên cơ quan để họp Chi bộ.
Nói về thông tin trên, ông Quốc khẳng định: “Sở có văn bản nhắc nhở ông Sung đóng tiền nhưng ông Sung xin vì hoàn cảnh khó khăn nên chưa đóng được. Ông Sung cũng đã có đơn xin nghỉ hưu, hiện hồ sơ đang được Sở Nội vụ giải quyết. Việc ông Sung vẫn nhận lương hàng tháng tôi sẽ cho kiểm tra lại và xử lý dứt điểm”. (Pháp Luật TPHCM 15/11) đầu trang(
Hơn 50 ha rừng Nà Dệt và Giếng Cọp thuộc địa bàn 2 xã Hàm Cần và Hàm Thạnh thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận bị đốn chặt, nhưng chủ rừng đã không báo cáo.
Tại bãi tập kết gỗ của lâm tặc, trước khi vận chuyển ra khỏi rừng Tà Nớ, một diện tích rừng lên đến nhiều hecta chỉ còn lại cây gỗ trơ gốc. Nhiều cây gỗ quý như lim, dầu, căm xe, căm liên, cà chí, gáo,... bị đốn hạ.
Những gốc cây bị triệt hạ được đoàn thanh tra Sở Nông Nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận đánh dấu lên đến con số hàng trăm.
Ông Nguyễn Minh Phúc – Huyện Hàm Thuận Nam nói: "Tôi là dân địa phương ở đây, hồi đó đến giờ. Tôi biết rừng này là trên 20 năm. Nhưng mà cụ thể bây giờ, rừng này trở nên như thế là do đám lâm tặc nó khai thác. Bữa nay là mấy anh em vô kiểm tra lại coi, gốc gác nó khai thác. Từ cây đến cành, nhánh là nó lấy đi hết, cái nào làm củi được nó làm, hiện giờ chỉ còn cái gốc trơ trọi ở khu này thôi".
Khu vực rừng bị phá chỉ còn cây bụi thuộc lâm phần quản lý của Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Nam, nằm giáp với rừng thuộc lâm phần của Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Móng - Ca Pét chỉ có một hàng ranh.
Còn tại khu vực rừng Tà Nớ thuộc thôn 1, thôn 2 xã Hàm Cần cũng có hàng trăm cây gỗ quý như lim, dầu, căm xe, căm liên,... bị tàn phá đến nay chồi non đã ra phủ kín gốc.
Việc đốn hạ cây rừng người dân địa phương đều biết, nhưng họ nhầm tưởng là Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam vệ sinh rừng theo chủ trương, kế hoạch. Bởi, thỉnh thoảng tại khu vực rừng bị hạ, người dân thấy xuất hiện một lãnh đạo của xí nghiệp và nhân viên bảo vệ rừng.
Một vấn đề đặt ra là với lượng gỗ khổng lồ bị triệt hạ và đưa ra khỏi rừng trong khoảng thời gian dài từ năm 2012 đến tháng 5/2014, thế nhưng, đơn vị quản lý bảo vệ rừng không có một báo cáo nào và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận không hay biết gì là điều khó hiểu với nhiều người dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 14/11) đầu trang(
Tính đến thời điểm này, tỉnh Thừa Thiên- Huế đã bàn giao 14.131ha rừng tự nhiên cho 73 cộng đồng ở các huyện A Lưới, Nam Đông và một số địa phương khác để quản lý và bảo vệ.
Tuy nhiên, vì những vướng mắc trong các quy định “giao rừng cho cộng đồng dân cư”; hoặc “giao rừng nhưng lại không giao đất”... nên hiện có rất nhiều hộ dân không còn mặn mà trong công tác giữ rừng như trước…
Được sự hỗ trợ của dự án SNV-FORHUE nên hơn 10 năm về trước, UBND huyện Nam Đông đã tiến hành bàn giao 350ha rừng tự nhiên cho 58 hộ dân ở xã Hương Lộc quản lý và bảo vệ. Thế nhưng, sau hơn một thập niên được nhận rừng thì đến nay, rất nhiều hộ dân ở địa phương này đã bỏ cuộc, không muốn tham gia bảo vệ rừng.
Theo ông La Lạc, một hộ dân ở thôn 3, xã Hương Lộc, được giao 9,6ha rừng, thì một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bà con không còn gắn bó với rừng là do người dân bỏ công sức quá nhiều nhưng hưởng lợi thì... không được bao nhiêu.
Ông Lạc dẫn chứng: “Trong gần 10ha rừng được Nhà nước giao cho gia đình tui thì phần lớn đều là rừng nghèo kiệt, chỉ toàn dây leo, bụi rậm. Mặt khác, tui và 29 hộ dân khác trong thôn đã tự tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, chăm sóc rừng suốt 10 năm qua, nhưng không hề nhận được bất cứ sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các cấp chính quyền. Vì thế, 2 năm qua, gia đình tui không hề quay lại thăm cánh rừng được giao để xem cây nó phát triển chừng nào!”.
Theo ông Mai Yên, Phó Chủ tịch UBND xã Hương Lộc, ngoài chuyện người dân phải nhận chăm sóc, bảo vệ rừng nghèo thì từ năm 2001, địa phương không thể triển khai Quyết định 178 của Chính phủ về “hưởng lợi từ công tác bảo vệ rừng” để hỗ trợ cho người bảo vệ rừng, bởi có quá nhiều bất cập. Bên cạnh đó, xã muốn tạo điều kiện cho người dân chuyển đổi từ rừng nghèo sang trồng rừng sản xuất, kinh tế; nhưng lại thiếu chủ trương, văn bản hướng dẫn nên rất khó thực hiện...
Bên cạnh đó, từ năm 2010, tỉnh Thừa Thiên- Huế triển khai thực hiện Đề án số 430 về việc giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình và nhóm hộ quản lý. Theo đó, đã có 160 nhóm hộ trên địa bàn tỉnh đã được giao quản lý bảo vệ trên 8.700ha rừng tự nhiên, trong đó, chỉ tính riêng huyện A Lưới đã có 120 nhóm hộ.
Thế nhưng, có một nghịch lý là các chủ rừng được bàn giao rừng nhưng lại... không được giao đất. Xin nêu ví dụ điển hình, vào năm 2011, UBND huyện A Lưới đã tổ chức bàn giao cho 5 hộ gia đình và 11 nhóm hộ dân ở xã Sơn Thủy quản lý, bảo vệ 524,4ha rừng tự nhiên, trong đó có 409ha rừng phòng hộ và 114ha rừng sản xuất.
Sau 3 năm nhận rừng, ngoài bản Quyết định số 2200/QĐ-UBND của UBND huyện A Lưới (cấp ngày 28/11/2011) về việc giao rừng kèm theo bản đồ, vị trí, diện tích rừng được giao... thì đến nay, các hộ dân vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, mặc dù đã hoàn tất các thủ tục theo yêu cầu...
Sau một thời gian dài đi thực tế khảo sát và nghiên cứu về công tác thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, ông Lê Văn Lân, Trưởng nhóm tham vấn về Luật bảo vệ rừng, thuộc Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung, Trường Đại học Nông lâm Huế, cho biết: Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng người dân không còn tích cực bảo vệ rừng là do các cơ quan chức năng gặp vướng mắc trong khi thực hiện các quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
“Có thể nói, sau 10 năm thực hiện, những quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội thông qua từ năm 2004 đến nay đã không còn phù hợp với thực tiễn. Cụ thể như tình trạng giao rừng không gắn với giao đất; chưa có chính sách hưởng lợi phù hợp cho người bảo vệ rừng; bất cập trong chính sách đền bù, đổi đất lâm nghiệp do quy hoạch dự án thủy điện... khiến người dân không được hưởng lợi từ việc bảo vệ rừng. Thậm chí, nhiều hộ dân phải bỏ tiền túi để phục vụ công tác tuần tra, giữ rừng...
Đây là hiện trạng thực tế cần các cơ quan chức năng vào cuộc xem xét để có biện pháp rà soát, bổ sung lại các chính sách lâm nghiệp. Qua đó giúp người dân yên tâm với việc bảo vệ, quản lý rừng được Nhà nước giao phó”, ông Lân khẳng định. (Công An Nhân Dân 15/11) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Định vừa ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối Công ty TNHH Long Quân (địa chỉ ở thôn Tân An, xã An Tân, huyện An Lão), với tổng số tiền 420 triệu đồng.
Theo đó, Công ty TNHH Long Quân bị phạt 420 triệu đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật (với vai trò chủ lâm sản), khai thác trái phép 55 hộp gỗ xẻ, khối lượng 4,966m3, chủng loại lim xanh và gụ lau nhóm IIA và hành vi vi phạm thủ tục hành chính trong vận chuyển lâm sản.
Ngoài phạt tiền, UBND tỉnh cũng quyết định tịch thu tang vật gồm: 55 hộp gỗ xẻ, khối lượng 4,966m3, chủng loại lim xanh và gụ lau nhóm IIA. (Công An Nhân Dân 16/11) đầu trang(
Cây Thông nước hay còn gọi là Thủy tùng là loài cây có tên trong danh sách đỏ, trên thế giới và Việt Nam chỉ còn 2 quần thể tự nhiên ở thôn Trấp K’sor, huyện (Krông Năng) và xã Ea Ral, huyện (Ea Hleo) tỉnh Đắk Lắk. Thế nhưng, hiện nay quần thể Thông nước thôn Trấp K’sor bị ngập sâu, có nguy cơ chết cao.
Theo cán bộ Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh Thông nước (Đắk Lắk), cây Thông nước hiện chỉ còn 162 cây phân bố rải rác ở hai quần thể tự nhiên Trấp K’sor (Krông Năng) và Ea Ral (Ea H’leo). Riêng tại quần thể Trấp K’sor có 21 cây, cây bé nhất có đường kính 30 cm, cây lớn nhất từ 3 - 4 người ôm.
Năm 2012, tỉnh Đắk Lắk có chủ trương xây dựng một con đập có chiều dài 300m tại khu sình lầy để giữ nước cho cây Thủy tùng sinh trưởng, phát triển và nước tưới phục vụ sản xuất của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở đây. Do khi thiết kế xây dựng đập, nhà thầu không tính đến lưu lượng nước và các biện pháp xả nước nên một thời gian dài mực nước trong vùng sình lầy luôn ở mức rất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển của cây.
Thông nước là loài cây có rễ khí sinh không bị ngập, phát sinh từ rễ bên, cao 30 cm, mọc lan xa cách gốc tới 6–7 m. Trong khi mực nước tại khu sình lầy Trấp K’sor luôn cao từ 80 đến 90 cm, đặc biệt vào mùa mưa, mực nước cao hơn 1m. Mực nước quá cao không chỉ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của loài Thủy tùng mà khiến cho công tác tuần tra, bảo vệ loài cây quý này cũng gặp nhiều khó khăn.
Anh Trịnh Duy Hải, cán bộ Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh Thông nước Đắk Lắk (trạm Trấp K’sor) cho biết: Mỗi đêm, anh em thay nhau đi tuần từ 2 đến 3 ca. Lội sình lầy, nước sâu đến ngang bụng khoảng 2 tiếng thì mới đi hết tất cả các cây. Nhiều hôm trời mưa to mực nước lên cao thì không thể vào sâu bên trong được.
Theo ông Trần Xuân Phước, Giám đốc Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh thông nước Đắk Lắk, cây Thông nước tại khu vực trạm Trấp K’sor đang được bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Tuy nhiên, gần đây do ngập nước sâu nên loài cây này đang có hiện tượng vàng lá, rụng lá, một số cây đã chết khô. Hiện 84 cây Thông nước ghép được Ban quản lý phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên trồng thử nghiệm tại trạm Trấp K’sor đã chết do đập nước dâng cao, ngập hết các bộ phận của cây.
Ông Vũ Hồng Việt, một người dân địa phương được giao chăm sóc bảo vệ 2 cây Thông nước phân tán trong quần thể Thông nước Trấp K’sor cho biết, cây Thông nước gia đình tôi trông coi sinh trưởng, phát triển tốt trong môi trường nước vừa đủ, có tầng thảm mục dày tích tụ. Đặc biệt, hiện 2 cây Thông nước giao cho gia đình ông Việt bảo vệ, phát hiện khá nhiều cây non được sinh sản bằng hình thức tái sinh chồi trên các rễ thở bị thương của cây mẹ. Các cây non đều có chất lượng tốt, bộ rễ khỏe.
Thông nước là loài cây gỗ lớn có thể cao đến 25m, đường kính thân trên 1,3m, thuộc nhóm gỗ 1A đặc biệt quý hiếm. Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học, mà còn có giá trị kinh tế do gỗ có mùi thơm, không bị cong vênh, mối mọt; có hoa vân, màu sắc rất đẹp được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, nên suốt một thời gian dài, loài cây này đã bị tàn phá rồi bị săn lùng đến cạn kiệt.
Cây Thông nước tại quần thể tự nhiên Trấp K'sor hiện được đánh số thứ tự, bảng tên, khoanh vùng, cấm người dân vào rừng khai thác. Ban quản lý khu bảo tồn loài sinh cảnh Thông nước Đắk Lắk thường xuyên tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc sống gần khu bảo tồn thực hiện công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy, phòng chống phá rừng. Tuy nhiên, do lực lượng mỏng, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác bảo tồn còn thiếu thốn, khiến cho công tác bảo vệ loài cây quý này gặp nhiều khó khăn.
Tỉnh Đắk Lắk và các ngành có liên quan cần sớm có biện pháp để bảo vệ, nhân rộng cây Thông nước, đặc biệt là việc sớm khắc phục sự cố về đập ngăn nước và sự xâm hại của người dân, góp phần giữ gìn, bảo tồn nguồn gen của loài cây quý phục vụ công tác nghiên cứu. (Thể Thao & Văn Hóa 14/11) đầu trang(
Chiều 14/11, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk G’long (Đắk Nông) Đỗ Ngọc Trai, cho biết: Sau khi phát hiện 400 cây thông cảnh quan dọc Tỉnh lộ 4, thuộc địa phận xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long bị khô héo chết đứng, Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G’long đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc sang cơ quan Công an huyện Đắk G’long đề nghị điều tra làm rõ vụ hủy hoại rừng xảy ra tại địa bàn xã Quảng Sơn.
Tại lô 6, tiểu khu 1658, thuộc địa phận xã Quảng Sơn nằm trong khu vực thuộc Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý, qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện có hàng trăm cây thông đang trong tình trạng bị rủ lá, héo khô và chết dần một cách bất thường.
Theo thống kê, thực tế gần 400 cây thông có độ tuổi từ 25 đến 30 năm đã bị vạc vỏ, khoét vào thân gốc cây. Sau đó họ đổ hóa chất vào, khiến cây chết từ từ, trong đó có có 25 cây đã bị đốn hạ, cưa gốc. Hầu hết các cây thông đều có chiều cao từ 20 đến 25m, với đường kính 25 cm đến 30cm.
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện tại tiểu khu 1646, thuộc xã Quảng Sơn cũng có hơn 100 cây thông đã bị đầu độc với thủ đoạn như trên. Một số vị trí khác phần đất cây thông bị đốn hạ cũng đã được san ủi mặt bằng chuẩn bị dựng nhà ở và lều lán trại...
Trong thời gian qua, khu vực rừng thông dọc tuyến Tỉnh lộ 4, thuộc địa phận xã Quảng Sơn huyện Đắk G’long đã xảy ra nhiều vụ phá rừng thông bằng thủ đoạn đầu độc bằng hóa chất với mục đích để chiếm đất.
Trước tình trạng trên, đến thời điểm này lực lượng chức năng chỉ xử lý một số vi phạm ở mức hành chính, còn ở mức hình sự vẫn chưa xử lý trường hợp nào. Tình trạng đầu độc rừng thông dọc Tỉnh lộ 4 nếu không có biện pháp mạnh tay nguy cơ diện tích rừng thông còn lại sẽ bị xóa sổ. (Tin Tức 15/11) đầu trang(
15.11, tại tiểu khu 227a, thuộc địa bàn thôn Đạ Nghịt, xã Lát, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng), 2 chiếc xe kéo hàng chục cây thông từ trên đồi xuống để tập kết vào bãi gỗ.
Trước đó, chiều tối 14.11, PV có mặt tại tiểu khu trên, chứng kiến khoảng 10 thợ cưa đang dùng cưa máy đốn hạ nhiều cây thông trong khu rừng thông nguyên sinh hàng trăm tuổi.
Qua tìm hiểu, đây là khu rừng phòng hộ xung yếu do Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim quản lý bảo vệ, được UBND tỉnh Lâm Đồng cho Công ty TNHH Vạn Trường Đức thuê trong 5 năm để khai thác đá xây dựng.
Theo điểm b, khoản 1, điều 28 luật Khoáng sản (năm 2010) thì khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản là khu vực đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ hoặc đất quy hoạch trồng rừng phòng hộ, khu bảo tồn địa chất.
Những người thợ cưa cho biết họ cưa hạ thông cho Công ty Phương Thành (Đà Lạt), đã mua lại quyền khai thác của Công ty TNHH Vạn Trường Đức. Người dân địa phương bức xúc vì khu rừng thông phòng hộ tuyệt đẹp bên dòng suối Cạn Đạ Nghịt bị triệt hạ không thương tiếc.
Nếu việc nổ mìn khai thác đá diễn ra sẽ ảnh hưởng đến môi trường, nguồn nước suối mà hàng trăm hộ dân đang sử dụng để canh tác nông nghiệp; đe dọa tính mạng của người dân thường xuyên qua lại đoạn đường này.
Theo ghi nhận của phóng viên có trên 70 cây thông đường kính từ 25 cm đến 80 cm bị cưa hạ được xe tập kết tại bãi đất cạnh suối Cạn. (Thanh Niên 15/11) đầu trang(
Lực lượng chức năng huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) vừa phát hiện một vụ đầu độc rừng thông tại vùng giáp ranh giữa Lạc Dương và Đà Lạt.
UBND xã Lát, huyện Lạc Dương cho biết, ngay sau khi phát hiện vụ đầu độc rừng thông trên, cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra thực địa, xác định có hàng chục cây thông gần 30 năm tuổi, cao 20m, đường kính gốc 60cm, tại tiểu khu 148A bị chết bất thường.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện ở mỗi gốc thông bị chết đều có ít nhất 1 mũi khoan vào thân cây, sâu từ 5-10cm. Sau khi khoan thủng thân cây, kẻ xấu đã đổ chất độc (thường là thuốc diệt cỏ) vào bên trong.
Cây thông ngấm độc dược sẽ chết từ từ khiến lực lượng bảo vệ rừng rất khó phát hiện. Đáng chú ý, địa điểm rừng thông bị sát hại chỉ cách chòi gác rừng của Ban quản lý rừng Tà Nung khoảng 100m và cách trụ sở UBND xã Lát chừng 700m.
Đại diện UBND xã Lát, huyện Lạc Dương cho biết, địa điểm rừng thông bị sát hại thuộc phường 7, TP Đà Lạt. Trong khi đó, kiểm lâm khu vực Đà Lạt lại cho rằng vị trí rừng thông bị gây hại thuộc địa phận huyện Lạc Dương. Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Công An Nhân Dân 15/11) đầu trang(
14-11, thượng tá Nguyễn Ngọc Sinh, trưởng Phòng Tham mưu Công an tỉnh Kon Tum, cho biết sau khi cử cảnh sát đặc nhiệm trực chiến tại rừng Nam Sa Thầy (huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum), công an đã bắt 12 người, tịch thu gần 160m3 gỗ, ba xe ôtô, một khẩu súng và phá dỡ hàng chục máy móc, lán trại của lâm tặc.
Điều tra bước đầu cho thấy, nhiều người được đầu nậu giật giây để vào rừng xẻ gỗ rồi về bán lại với giá 500.000 đồng/m3. Ngoài người dân, nhiều người nghiện ma túy cũng được thuê. Tuần tra trên sông Sê San, trinh sát còn phát hiện nhiều bãi gỗ được xẻ thành hộp cất dấu dọc bờ sông, dưới mặt nước.
Ông Sinh cho biết hiện tình hình phá rừng tại Nam Sa Thầy đã có phần lắng dịu, lâm tặc không còn hoạt động rầm rộ như trước. Công an tỉnh Kon Tum sẽ tiếp tục trực chiến để giữ rừng, đảm bảo an ninh trật tự. (Tuổi Trẻ 15/11) đầu trang(
Liên quan đến việc người dân tại thôn 8 xã Phước Hiệp vào rừng khai thác và dùng xe máy để vận chuyển gỗ. Ông Trần Lanh - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phước Sơn cho biết, Hạt Kiểm lâm huyện đã chủ động làm việc với lãnh đạo xã Phước Hiệp nhằm xác định các đối tượng thường xuyên vận chuyển gỗ bằng xe máy để có hướng xử lý.
“Qua kiểm tra chúng tôi đã bắt được 11 đối tượng đang vận chuyển 11 phách gỗ. Tuy nhiên, đây chỉ là hình thức vận chuyển gỗ nhỏ lẻ, không thể khởi tố vụ án được, chỉ tịch thu toàn bộ số gỗ đem về UBND xã.
Việc xử lý những đối tượng này rất khó, chúng tôi thực hiện biện pháp tuyên truyền, vận động họ không tiếp tục tham gia vận chuyển gỗ trái phép, đồng thời đề nghị xã Phước Hiệp phối hợp với lực lượng kiểm lâm tăng cường công tác tuần tra kiểm soát tại các địa điểm thường xảy ra tình trạng khai thác gỗ như khu vực Mò O, Nước Ái và rừng thôn 8” – ông Trần Lanh cho biết. (Báo Quảng Nam 14/11) đầu trang(
PV đã có cuộc phỏng vấn ông Đỗ Quang Tùng – Giám đốc Cơ quản lý CITES Việt Nam (đơn vị thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp).
Ông Tùng cho biết: Từ xa xưa ở Việt Nam sừng tê giác được sử dụng chỉ là một bài thuốc trong hàng chục, thậm chí cả trăm vị thuốc. Đến khoảng năm 2000, sừng tê giác bắt đầu được người dân sử dụng như một phương thuốc chữa bách bệnh. Những năm 2006, 2007 là thời điểm phong trào sử dụng, buôn bán sừng tê giác ở nước ta rầm rộ nhất. Nguyên nhân là do một số thầy thuốc lăng xê quảng bá công dụng của nó đến bán kiếm lời.
Theo điều tra mới nhất của chúng tôi, hiện nay nhu cầu mua và sử dụng sừng tê giác đã giảm 38%, số người tin vào công dụng chữa bệnh của sừng tê giác giảm 25,4%. Hà Nội là điểm có thay đổi lớn nhất với số người có nhu cầu mua và sử dụng sừng tê giác giảm 77% , số người tin vào công dụng chữa bệnh của sừng tê giác cũng giảm 53%.
Từ năm 2004 đến nay Việt Nam đã bắt 30 vụ buôn bán, vận chuyển trái phép sừng tê giác, với trọng lượng khoảng 200kg.
Trước đây Việt Nam vẫn còn một cá thể tê giác ở Vườn quốc gia Cát Tiên, nhưng năm 2010 cá thể này đã bị chết, hầu hết các sừng tê giác được đưa vào Việt Nam đều có nguồn gốc từ Châu Phi và được vận chuyển chủ yếu bằng đường hàng không và đường thủy.
Theo tôi được biết, ở Mozambique, Angola có khoảng 10.000 người Việt sinh sống. Từ đây sừng tê giác sẽ được thu gom thông qua săn bắn, hoặc mua bán rồi vận chuyển về nước. Hoặc một số Việt kiều ở các nước Đông Âu như Cộng hòa Séc, Ba Lan, ở Tây Âu như Pháp… sang Châu Phi mua sừng tê về rồi từ Đông Âu vận chuyển qua đường hàng không về Thái Lan, Singapore… và từ đây chuyển về Việt Nam dưới hình thức hành lý ký gửi, hoặc xách tay được nguy trang tinh vi.
Đa số những người tham gia vận chuyển, buôn bán bị bắt chủ yếu là vận chuyển thuê cho chủ là người Trung Quốc. Gần đây có dân của một số nước như Lào, Thái Lan bắt đầu tham gia vào việc vận chuyển thuê cho các chủ ở Trung Quốc. Vô hình chung Việt Nam đang bị quốc tế coi là quốc gia sử dụng sừng tê giác nhiều nhất, ảnh hưởng lớn đến uy tín của quốc gia.
Có thể họ dựa vào mấy nguyên nhân như: Việt Nam có số lượng người bị bắt về buôn bán, vận chuyển sừng tê giác lớn nhất nhưng không bị xử phạt hình sự; nhiều cửa hàng công khai bán đĩa mài sừng tê giác; việc buôn bán sừng tê giác khá công khai (thậm chí quảng cáo, rao bán trên mạng). Tuy nhiên, trên thực tế người Việt Nam sử dụng sừng tê giác không nhiều như Trung Quốc.
Ở Trung Quốc họ sử dụng sừng tê chủ yếu làm trang sức như vòng, nhẫn, cốc, chén… cũng có khi được tán nhỏ để làm thuốc. Tuy nhiên, do Trung Quốc đã ký vào Công ước quốc tế về thực thi CITES (Bảo vệ động vật hoang dã) nên Chính phủ Trung Quốc có những hình phạt rất nặng với hành vi này. Để lách luật, những chủ buôn Trung Quốc thường thuê người Việt Nam, Lào, Thái Lan vận chuyển sừng tê giác cho mình.
Mặc dù thời gian qua chúng ta đã bắt được nhiều vụ với nhiều đối tượng vận chuyển, buôn bán số lượng lớn sừng tê giác, nhưng vẫn không thể xử lý hình sự vì các quy định tại điều 153, 154, 155 của Bộ luật Hình sự vẫn còn quy định rất chung chung như: “Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng” hay “Số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn”, nhưng lại không có định lượng cụ thể.
Hiện khung hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với các hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động vật chỉ ở mức 7 năm tù, hình phạt tiền cao nhất là 500 triệu đồng.
Thực tế, hình phạt 7 năm tù chưa được áp dụng, mức phạt 500 triệu đồng cũng ít được áp dụng. Phần lớn chỉ dừng lại ở mức xử phạt vi phạm hành chính. Mức xử phạt này không thấm gì so với lợi nhuận của việc buôn bán bán sừng tê giác, ngà voi đem lại.
Thành phần có trong sừng tê giác chỉ như giống như thành phần ở móng tay hay tóc của con người. Thậm chí, y học đã ghi nhận nhiều người sử dụng sừng tê giác bằng cách mài uống đã bị sỏi thận vì sừng tê giác rất khó phân hủy” - Ông Đỗ Quang Tùng.
Chúng tôi đang dự thảo một Thông tư “Hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi buôn lậu, vận chuyển, tàng trữ trái phép sừng tê giác, ngà voi có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc CITES”. Theo đó, bất cứ hành vi vận chuyển qua biên giới, tàng trữ, lưu thông, buôn bán mẫu vật tê giác có khối lượng từ 0,3kg trở lên, bất cứ hành vi quảng cáo thương mại dưới bất cứ hình thức nào nhằm mục đích tiêu thụ mẫu vật tê giác, voi đều bị coi là phạm tội theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Về định lượng tang vật, hành vi được coi là vi phạm nghiêm trọng khi buôn bán, vận chuyển từ 0,3 – 0,9kg mẫu vật tê giác và 9 – 27 kg đối với mẫu vật voi; được coi là đặc biệt nghiêm trọng khi mẫu vật tê giác có trọng lượng từ 2,7kg trở lên và mẫu vật voi có trọng lượng từ 27kg trở lên.
Trường hợp người phạm tội vận chuyển, tàng trữ, lưu thông và tiêu thụ cả mẫu vật tê giác và voi thì việc xác định tội được tiến hành đối với từng hành vi phạm tội và sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, đến nay Bộ Tư pháp vẫn chưa đồng ý vì lo vấn đề nhân quyền. (Dân Việt 16/11) đầu trang(
Từ nhiều năm qua, bên cạnh việc phòng chống cháy, bảo vệ rừng tràm, thì việc bảo vệ đàn chim - những “cư dân” đặc trưng của Vườn quốc gia Tràm Chim - cũng được quan tâm đặc biệt.
Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim có diện tích tự nhiên trên 7.300ha, thuộc địa phận năm xã: Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Thọ, Phú Thành, Phú Hiệp và thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Trên những vạt rừng tràm bạt ngàn là nơi cư ngụ của 233 loài chim nước, chiếm 1/4 tổng số các loài chim được tìm thấy ở Việt Nam, với số lượng lên tới cả trăm ngàn cá thể.
Trong số này có nhiều loài quý hiếm, có tên trong Sách đỏ động vật Việt Nam hoặc thế giới như ngan cánh trắng, cốc đế, giang sen, bồ nông chân xám, già đẫy Java và đặc biệt là sếu đầu đỏ - loài chim lớn nhất trong họ hạc, có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới.
Tảng sáng, lẫn trong sắc áo xanh của những kiểm lâm viên VQG Tràm Chim đang ngồi xuồng máy vào địa bàn làm nhiệm vụ, người ta thấy một phụ nữ còn khá trẻ, đầu đội chiếc nón rộng vành, lưng đeo balô, đượm vẻ phong trần. Sau gần nửa giờ tịch tang băng qua những vùng nước giăng đầy năn, lác, bông súng ma, cỏ xước..., xuồng bắt đầu chui dưới tán tràm xanh um, tiến sâu vô “ruột rừng”.
Bất chợt người phụ nữ giơ tay ra hiệu cho anh tài công tắt máy. Rất nhanh, chị với tay lấy chiếc dầm, nhẹ nhàng “móc” cho xuồng tiến sát lại đài quan sát được dựng lên bằng những ống sắt xanh màu lá cây cao dễ đến hai chục thước.
“Tới bãi chim sinh sản rồi đó. Mọi người nói chuyện nhỏ thôi, không thì lũ chim giật mình” - nói đoạn, chị bám vào chiếc thang thoăn thoắt leo lên đài quan sát.
Chị là Nguyễn Thị Nga, 34 tuổi, kỹ sư chăn nuôi, cũng là người phụ nữ duy nhất trong nhóm cứu hộ chim tại VQG Tràm Chim. Sinh ra và lớn lên tại vùng đất bạt ngàn tràm, tới mùa nở hoa thơm ngát, cô nữ sinh Nguyễn Thị Nga đã nuôi ước mơ sau này sẽ trở thành bà chủ trại ong lớn nhất vùng.
Để biến ước mơ thành hiện thực, Nga nộp đơn thi vào chuyên ngành chăn nuôi - thú y Trường ĐH Cần Thơ. Thế nhưng khi ra trường, sau thời gian làm việc tại phòng bảo tồn VQG Tràm Chim, chị từ bỏ con ong và trở thành “bác sĩ” kiêm “điều dưỡng” của các loài chim tự lúc nào không hay.
Đôi khi, chị là “bảo mẫu” cho các chú chim non vừa chập chững tập bay, gặp mưa dông rơi từ tổ ấm trên ngọn cây xuống mặt nước, ướt ngoi ngóp.
“Bãi chim sinh sản này rộng hơn 3ha, thuộc khu A2, dù mới hình thành cách đây hơn hai năm nhưng đã phát triển rất nhanh, hiện có hơn 10.000 tổ, trong đó khoảng 60% chim cồng cộc, còn lại là điêng điểng và một số loài khác” - chị Nga cho biết.
Đứng trên đài quan sát, tưởng như với tay ra là chạm vào những chiếc tổ và những cái cổ ngẩng cao, vươn dài ngóng chim mẹ đem mồi về của lũ chim non điêng điểng, cồng cộc, chị Nga rành rọt kể: Từ tháng 8 đến tháng 11 hằng năm là mùa sinh sản của hai loài chim này. Đây cũng là cao điểm của mùa mưa, mùa lũ.
Đã vậy, loài cồng cộc lại có tính qua loa, bạ đâu làm tổ đó, rất sơ sài chứ không lựa mấy chảng ba chắc chắn như loài điêng điểng, nên gặp lúc mưa dông, lũ cồng cộc con hay rớt ùm xuống nước.
“Lúc đó, những anh em đang đóng chốt tại bãi chim cùng với chúng tôi lại len lỏi vô vớt chim, chăm sóc cho mạnh khỏe lại rồi thả lên cây cho chúng tự chuyền cành tìm về tổ. Gặp con nào yếu quá thì chúng tôi mang về, thay nhau làm “bảo mẫu” cho chim, tới khi chúng cứng cáp thì thả lại rừng” - nữ “bác sĩ kiêm điều dưỡng chim” nói.
Rồi chị Nga điểm danh từng loài chim thuộc loại quý hiếm nhất, cũng như số lượng, thời gian chúng xuất hiện ở VQG Tràm Chim: Bồ nông chân xám, diệc lửa, ưng xám, già đẫy Java, già đẫy lớn, choi choi lưng đen, ô tác, cú lợn lưng trâu, diều đầu trắng, diều mướp, le khoang cổ, đại bàng đen...
“Riêng loài giang sen (còn gọi là cò lạo Ấn Độ), một loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, năm nay đã tăng đột biến, ước số lượng hiện có trên dưới 10.000 cá thể” - chị Nga hồ hởi khoe.
Thành lập cách nay ba năm, tổ cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Tràm Chim có sáu thành viên, chia thành các nhóm phụ trách việc bảo tồn chim nước, thủy sản, thủy sinh vật, lớp thú và các loài lưỡng cư - bò sát.
Nhóm bảo tồn chim nước (với 233 loài, thuộc 23 chi, 49 họ) do chị Nga phụ trách, với sự hỗ trợ của lực lượng kiểm lâm địa bàn và các nhân viên giữ rừng tại các chốt bảo vệ trong khu A2.
Tại bãi sinh sản của chim, bên cạnh đài quan sát, những người làm công việc cứu hộ chim đã dựng lên một lán trại, lúc nào cũng có hai nhân viên thay nhau túc trực ngày đêm.
“Hiệu quả của công tác cứu hộ chim là nhờ lực lượng tại chỗ này. Các anh sẽ làm nhiệm vụ sơ cấp cứu ban đầu, chăm sóc tại chỗ, chú chim nào khỏe thì thả lên các cành cây để chúng tự tìm về tổ, con nào non nớt, yếu ớt không thể sinh tồn thì chúng tôi mang về chăm sóc tới khi chúng có thể hòa nhập môi trường tự nhiên” - anh Nguyễn Văn Nghĩa, nhân viên giữ rừng đang túc trực tại lán bảo vệ bãi sinh sản của chim, cũng là một trong những cộng tác viên đắc lực của chị Nga, cho biết.
Không chỉ cứu hộ chim non, nhóm của chị Nga còn chia nhau đi tuần, tìm những loài chim quý hiếm bị bệnh hoặc mắc câu, dính lưới của những người dân xung quanh VQG Tràm Chim để mang về chăm sóc. Việc làm đầy ý nghĩa này đã có tác động dây chuyền đến nhiều người dân địa phương.
Mới đây, một cặp vợ chồng nông dân ở xã Phú Đức, sát bên VQG phát hiện một con bồ nông chân xám nặng khoảng 3kg bị xù lông, ủ rũ sau vườn nhà đã mang tới cho nhóm cứu hộ.
“Qua thăm khám, chúng tôi biết con bồ nông này bị bệnh về đường tiêu hóa, bỏ ăn đã nhiều ngày. Sau khi được cho uống thuốc, vệ sinh cơ thể, ủ ấm, chim đã dần bình phục, đến ngày thứ tư đã có thể tự đi lại, bắt cá sống trong thau để ăn. Nhìn cảnh ấy, chúng tôi mừng muốn trào nước mắt” - chị Nga nhớ lại.
Trước đó không lâu, nhóm cứu hộ chim cũng tiếp nhận từ người dân trong vùng một chú già đẫy Java trưởng thành, sải cánh hơn 1m, nặng hơn 4kg bị thương ở ống chân, không bay được. Sau gần mười ngày được chăm sóc đặc biệt, chú chim đã hoàn toàn bình phục, được thả ra đã cất cánh tung bay tìm đàn.
“Đây là việc làm rất có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát triển các loài chim quý hiếm. Sắp tới chúng tôi sẽ đề xuất tỉnh cho nâng cấp tổ cứu hộ - bảo tồn và phát triển sinh vật lên thành trung tâm, trực thuộc VQG Tràm Chim nhằm phát huy hiệu quả mô hình này” - ông Nguyễn Hoàng Minh Hải, trưởng phòng khoa học và hợp tác quốc tế VQG Tràm Chim, cho biết.
Trên đường về, ngang qua chốt bảo vệ A2, Thanh Danh - một cộng tác viên trong nhóm bảo tồn chim - nói với theo: “Cô Nga đó à, chúng tôi vừa vớt được hai chú cồng cộc non bị rớt xướng nước, đã thả nó lên cây cho nó về nhà rồi đó hen...”!
Trong khi hoạt động cứu hộ, chăm sóc, bảo vệ các loài chim ở VQG Tràm Chim đang phát huy hiệu quả, thì tình trạng mua bán chim mà nhiều loài trong số đó có tên trong Sách đỏ vẫn diễn ra.
Tại một số tuyến đường như quốc lộ 91, đoạn Q.Ô Môn - Thốt Nốt, TP Cần Thơ; quốc lộ 91B đoạn qua Q.Bình Thủy, TP Cần Thơ; đường tỉnh 943, đoạn từ TP Long Xuyên - huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang... thường xuyên có người bày bán các loài chim đã bị nhổ trụi lông và cả chim còn “tươi sống”.
Xôm tụ và lâu năm nhất là những điểm bán chim di động trên quốc lộ 1, đoạn gần ngã ba Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, bán đủ loại từ cồng cộc, ốc cao, bìm bịp cho tới le le. (Tuổi Trẻ 16/11) đầu trang(
Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) vừa tiếp nhận 6 cá thể động vật rừng quý hiếm từ Hạt Kiểm lâm huyện Tuyên Hóa để tiến hành cứu hộ trước khi trả về thiên nhiên.
Các cá thể động vật rừng quý hiếm này gồm: Ba khỉ mặt đỏ, hai khỉ mốc và một con trăn gấm. Trước đó, Công an huyện Tuyên Hóa đã phát hiện và bắt giữ một vụ buôn bán động vật hoang dã quý hiếm trên địa bàn và bàn giao số động vật nói trên cho Hạt Kiểm lâm huyện Tuyên Hóa.
Hiện các cá thể này đang được chăm sóc sức khỏe tại Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Sau khi chăm sóc, cứu hộ và đạt thời gian kiểm dịch, các cá thể động vật đủ điều kiện sẽ được thả lại vào môi trường tự nhiên ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. (Tiền Phong 14/11) đầu trang(
Cá sấu xiêm, loài động vật hoang dã quý hiếm được cho là gần như đã tuyệt chủng trong tự nhiên nhưng ở xã Phú Ngọc (huyện Định Quán, Đồng Nai) đang được người dân nuôi như nuôi lợn ở gia đình.
Phong trào nuôi cá sấu ở đây đang tăng nhanh khi mà giá cá sấu ở ngưỡng cao nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến lo ngại về phong trào tự phát này, nhất là hành lang pháp lý cho việc nuôi cá sấu. Ấp 4, xã Phú Ngọc nằm ven sông La Ngà - đầu nguồn của hồ Trị An, nơi đang rộ lên phong trào nuôi cá sấu. Ngay từ con đường dẫn vào La Ngà đã có nhiều tấm biển rao mua bán cá sấu.
Thấy PV tìm hỏi về trại nuôi cá sấu, chị bán bánh mì ở đầu cầu La Ngà hỏi lại: “Ở đây nhiều trại cá sấu lắm chú phải hỏi trại của ai”. Không chờ câu trả lời của khách, chị hướng dẫn luôn: “Chú cứ vào con đường này thì sẽ gặp nhà nào cũng nuôi cá sấu”.
Ở khu vực này, hầu như nhà nào cũng có ít nhiều các chuồng nuôi cá sấu. Chuồng nuôi loài vật nổi tiếng hung tợn này được làm khá đơn sơ. Chỉ cần xây bao bờ tường gạch với nền chuồng đổ xi măng, có phần trũng, giữa chuồng làm hồ cho cá ngâm nước là đã hoàn chỉnh một chuồng nuôi cá sấu. Tùy theo diện tích chuồng lớn hay nhỏ để nuôi số lượng phù hợp.
Với 2 chuồng có diện tích mỗi chuồng 75m2, ông Nguyễn Văn Nhật nuôi hai đàn cá sấu, đàn lớn 70 con với trọng lượng trên 10kg/con và đàn nhỏ khoảng 4 tháng tuổi.
Trên nền chuồng, những con cá sấu nằm phơi nắng, há mồm nhe hàm răng lởm chởm như bàn chông. Thấy động, chúng quăng mình lao rầm rầm xuống hồ nước. Chỉ đàn cá sấu lớn, ông Nhật cho biết, đang chờ bán trong tháng này. Với giá thương lái mua vào hơn 200 ngàn đồng/kg, ông Nhật dự tính đàn cá sấu của mình sẽ thu được khoảng 200 triệu đồng. Theo ông Nhật, sau nhiều năm, giá cá sấu mới đạt được mức khá cao như vậy.
Không nuôi nhiều cá sấu thương phẩm, bà Sáu Nam ở xã Phú Ngọc lại nổi tiếng với kinh nghiệm nuôi cá sấu đẻ và có kỹ thuật ấp nở cá sấu với tỷ lệ khá cao. Trong phong trào nuôi cá sấu đang lên, đàn cá sấu nào nở ra chỉ vài ngày là người nuôi đã đặt mua hết.
Người được xem có nhiều kinh nghiệm nuôi và tạo giống cá sấu ở khu vực huyện Định Quán là anh Huỳnh Văn Tấn. Anh Tấn thừa hưởng từ kinh nghiệm của cha là ông Huỳnh Văn Nam, người có hàng chục năm kinh nghiệm trong nghề nuôi cá sấu. Đến nay, anh Tấn vừa là chủ trại nuôi cá sấu La Ngà vừa là đầu mối cung cấp cá sấu giống lại vừa là nơi mua lại cá sấu thương phẩm của người nuôi.
Anh Tấn cho biết, ở khu vực xã Phú Ngọc, rất nhiều hộ nuôi cá sấu, hộ nuôi ít khoảng 50 con, hộ nuôi nhiều lên đến hàng ngàn con. Cá sấu rất dễ nuôi, thức ăn chủ yếu là thực phẩm loại thải từ cá cho đến gà, heo mua từ các trang trại. Nhà ít vốn có thể cho cá sấu nhịn ăn cả tháng cũng không thành vấn đề.
Theo anh Tấn, thời gian gần đây, thị trường thu mua cá sấu phát triển, giá lên cao đến 210 ngàn đồng/kg, trong khi những năm trước, giá chừng 130 -140 ngàn đồng/kg. Lãi cao, nên số lượng nuôi tăng đột biến. Cá sấu giống vài ngày tuổi trước đây chỉ 320 – 350 ngàn đồng/con, nay đã tăng lên 400 – 450 ngàn đồng/con vẫn không kịp nguồn cung cấp.
Theo Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai thì hiện nay tỉnh Đồng Nai đã có 203 trại nuôi cá sấu với 86.734 con. Trong đó, xã Phú Ngọc được xem là “thủ phủ” nuôi cá sấu với 144 trại/63.373 con.
Cá sấu giống thương phẩm vì sao tăng giá và xuất bán đi đâu? Là chủ thu mua lớn trong vùng, anh Tấn cũng không biết “đường đi” của cá sấu. Anh chủ trại này chỉ biết mình làm trung gian mua gom trong các hộ dân và xuất bán theo đặt hàng, giá cả, số lượng đều do các đầu nậu đưa ra. “Với cá sấu nguyên con, nghe đâu xuất sang Trung Quốc, còn da cá sấu thì tôi bán cho các công ty ở thành phố và xuất sang Nhật”- anh Tấn cho hay.
Trong khi người dân đang lao vào nuôi cá sấu khi thấy lợi nhuận đang cao, thì không ít người hoài nghi khi cá sấu không có thị trường ổn định.
Ông Nguyễn Văn Đạo, Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Đồng Nai cho biết, do cá sấu nằm trong danh mục động vật hoang dã nên quản lý cá sấu thuộc về kiểm lâm và không được xem là vật nuôi trong cơ cấu nông nghiệp. Còn ông Tôn Hà Quốc Dũng, Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai thì cho rằng: Cá sấu thiên nhiên không còn từ lâu, cá sấu đã được người dân nuôi tạo giống nuôi thương phẩm.
Tuy nhiên, cá sấu vẫn nằm trong danh mục động vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng và theo công ước Cites thì cá sấu là động vật cấm buôn bán quốc tế.
Do vậy, ngành kiểm lâm cũng chỉ cấp phép, giám sát nuôi, vận chuyển trao đổi, kiểm tra chuồng trại đảm bảo các biện pháp an toàn, vệ sinh môi trường. Còn việc người dân nuôi thì chỉ là tự phát, kiểm lâm cũng không thể nắm về giá cả, thị trường tiêu thụ…
Với những ràng buộc bởi luật pháp, nghề nuôi cá sấu công khai mà cũng không công khai. “Ôm” con cá sấu, người nuôi gần như “tự bơi”.
Cũng có không ít lo ngại đối với con cá sấu bởi vấn đề an toàn. Người nuôi thì khẳng định, mỗi con cá sấu giá hàng triệu đồng, nên ai cũng phải lo trông giữ. Tuy nhiên, đã có không ít vụ cá sấu sổng chuồng gây hoang mang trong người dân.
Cách đây không lâu, mưa lũ đã làm sập bờ bao khu vực nuôi cá sấu tại một khu du lịch ở TP Biên Hòa, làm hàng chục con cá sấu thoát ra ngoài. Mặc dù sau đó chủ trại nuôi cá sấu cho rằng, đã bắt lại đủ số lượng, người dân vẫn không khỏi lo âu. Mới đây nhất, một con cá sấu được cho là sổng từ trại nuôi của người dân xuất hiện trên hồ Trị An rộng lớn, đến nay vẫn chưa được tìm thấy.
Ông Trần Quang Tú, Phó Chủ tịch UBND huyện Định Quán cho rằng, cá sấu sổng ra ngoài cũng có, nhưng người dân không báo chính quyền. Nghe có cá sấu xuất hiện, người dân đổ ra săn bắt cho bằng được. Không khỏi lo ngại về vấn đề này, ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai kiến nghị với các ngành chức năng không nên cho người dân phát triển nuôi động vật hoang dã trong khu vực khu bảo tồn. (Tiền Phong 17/11) đầu trang(
Chiều 15-11, một con lợn rừng ước nặng trên 1 tạ xuống sát khu dân cư thôn Hòn Lay, xã Khánh Hiệp, huyện Khánh Vĩnh tấn công liên tiếp 2 người dân khiến một học sinh lớp 9 tử vong và một người khác trọng thương.
Chiều 16-11, rất đông người dân thôn Hòn Lay đến nhà chị Nguyễn Thị Thanh để đưa cháu Trần Văn Đại (học sinh lớp 9, con trai đầu của chị Thanh) đi an táng. Trong đám tang cháu Đại, mọi người có mặt không ai cầm được nước mắt thương xót trước sự ra đi bất ngờ, đau đớn của cháu sau khi bị lợn rừng tấn công vào chiều hôm trước. Ông Võ Phụng (56 tuổi, trú cùng thôn) là người duy nhất phát hiện con lợn rừng sau khi nó tấn công cháu Đại và bà Trương Thị Cảnh (59 tuổi, em vợ ông Phụng).
Ông Phụng kể lại: “Khoảng gần 16h ngày 15-11, lúc tôi đang chăn bò ở đám vườn cách nhà cháu Đại và bà Cảnh khoảng 200 mét thì thấy con lợn rừng rất to lớn chạy băng qua cái ao, rồi chạy ngược lên chỗ tôi đứng. Tôi chỉ kịp lên lên cây keo để tránh nó tấn công. Con lợn này trông rất hung dữ, sau đó nó chạy sồng sộc hướng lên phía núi khiến mấy chục con bò của tôi cũng chạy tán loạn. Khi nó đã chạy đi xa, tôi tụt xuống đi tìm bò thì phát hiện bà Cảnh đang quằn quại trên vũng máu, với rất nhiều vết thương trên người. Tôi cõng bà Cảnh về làng để mọi người đưa đi cấp cứu. Sau đó mọi người phát hiện, con lợn rừng không chỉ tấn công bà Cảnh mà trước đó nó đã húc cháu Đại tử vong cách đó khoảng mấy chục mét”.
Khi người dân trong thôn vừa đưa bà Cảnh đi cấp cứu, thì em gái của cháu Đại cũng chạy về làng, báo hung tin, phát hiện anh trai nằm chết dưới ao cách nhà khoảng 200 mét.
Theo người dân trong thôn, chiều 15-11, thấy anh trai đi câu về trễ, em gái Đại liền ra suối tìm anh. Khi đến cái ao cách nhà không xa thì phát hiện anh trai đã chết dưới ao nên về gọi người dân ra vớt Đại lên. Người dân nơi đây nhận định, rất có thể cháu Đại bị lợn rừng tấn công gần nơi bà Cảnh bị nạn. Sau khi bị thương nặng với nhiều vết cắn, vết đâm của nanh lợn rừng từ phần bụng trở xuống, cháu cố gắng lết về thì bị ngã xuống ao. Khi mọi người vớt lên thì cháu đã tử vong.
Thượng tá Lê Quang Thanh – Trưởng CAH Khánh Vĩnh xác nhận em Trần Văn Đại tử vong là do lợn rừng húc, cắn nát phần đùi, phía dưới bụng dẫn đến mất máu. Ngoài em Đại, bà Trương Thị Cảnh cũng bị cắn nát phần đùi phải, hiện đang được cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa.
Sáng 16-11, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, bà Cảnh vẫn chưa hoàn hồn sau vụ heo rừng tấn công. Bà Cảnh đã được phẫu thuật nối cơ, gân và đang nằm điều trị tại khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình.
Ông Trương Văn Minh, anh trai bà Cảnh cho biết: “Nhà Cảnh ở sát bìa rừng. Khoảng 15h, Cảnh nghe có tiếng hét lớn nên đi ra xem có chuyện gì. Bỗng nhiên có con lợn rừng rất lớn chạy xộc đến cắn vào đùi Cảnh. Khi Cảnh ngã xuống con vật cắn vào phần bả vai khiến bà ngất lịm. Khi đưa vào bệnh viện toàn bộ phần đùi, bả vai đều bị rách toạc”.
Chiều 16-11, bà Ni E H’Ruôn – Chủ tịch xã Khánh Hiệp cho biết: “Sau vụ việc, người dân trong xã rất hoang mang, nên chúng tôi đã báo cáo lên cơ quan chức năng truy tìm tung tích con vật này, để trấn an người dân. Đồng thời cũng khuyến cáo người dân không nên không nên vào rừng một mình trong thời gian này để đề phòng bất trắc”.
Theo nhận định của ông Võ Thành Hưng – Trạm phó phụ trách Trạm Kiểm lâm Khánh Bình (thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh): “Đây là lần đầu tiên xảy ra sự việc lợn rừng xuống làng tấn công người dân. Rất có thể con lợn rừng này đã bị trúng đạn hay trúng bẫy, hoặc bị thợ săn truy lùng nên càng trở nên hung dữ, chạy xuống làng và tấn công người dân”. (Tiền Phong 16/11; An Ninh Thủ Đô 16/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, rắn lục đuôi đỏ xuất hiện ngày càng nhiều ở các địa phương như Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Nghệ An... và đặc biệt nguy hiểm khi chúng bò vào nhà cắn người.
Giải thích hiện tượng trên với PV, Chủ tịch Hội động vật học Đặng Huy Huỳnh đưa ra hai khả năng. Thứ nhất, trong quá trình vận chuyển buôn bán của nhóm đối tượng nào đó, rắn đã xổng ra ngoài. Thứ hai là do môi trường sống thay đổi, rắn không còn thức ăn nên phải tìm kiếm ở khu vực khác.
"Tình trạng phá rừng khiến rắn không còn nơi trú ẩn và thức ăn, chúng có thể vào nhà dân, nơi có chuột, ếch, côn trùng để tìm kiếm thức ăn và để ẩn nấp", giáo sư Huỳnh nói và cho biết, rắn thường chui vào gầm giường vì chúng ưa bóng tối và mát mẻ.
Đồng quan điểm, tiến sĩ Lê Nguyên Ngật (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) cũng cho rằng, rắn lục xuất hiện ở khu vực nhà dân có thể do thức ăn của chúng đã cạn kiệt. "Rắn lục đuôi đỏ thường không gây nguy hiểm cho con người. Chúng không bao giờ chủ động cắn người mà chẳng may ai đó đụng vào chúng sẽ bị cắn", ông Ngật nói.
Để tránh rắn lục đuôi đỏ, ông Nguyễn Quảng Trường (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) khuyên, người dân nên dọn dẹp sạch sẽ, phát quang bụi rậm. Khi bị rắn cắn, người bị thương nên dùng garo vải không dùng garo cao su và đưa tới bệnh viện gần nhất. "Rắn lục đuôi đỏ không phải loại rắn cực độc có thể gây chết người ngay như các loài cạp nong, cạp nia hay hổ mang, vì vậy việc sơ cứu ban đầu là rất cần thiết", ông Trường nói.
Còn theo giáo sư Huỳnh, rắn sống thường sống và tìm kiếm thức ăn vào ban đêm, nên người dân cần đóng cửa kín khi ngủ, không nên nằm ở nền đất ẩm; bên cạnh đó, cần chú ý đến khu vực bể nước, nơi ẩm ướt, gầm giường. Các gia đình có thể dùng chó để đuổi rắn.
"Khi thấy rắn, mọi người chỉ cần dùng que, gậy để xua đuổi, chứ không nên bắt, giết chúng vì rắn lục đuôi đỏ sẽ không tấn công nếu không bị đe dọa; đồng thời cũng là để bảo tồn đa dạng sinh học của loài này", giáo sư Huỳnh cho hay.
Rắn lục đuôi đỏ tên khoa học là Trimeresurus albolabris có ở hầu hết dải đất Việt Nam. Chiều dài thân con đực 600 mm, con cái 810 mm. Thân của chúng tròn, có các vảy gồ lên. Đầu và thân chúng có màu xanh lá cây, cằm, cổ họng và bụng màu xanh lục nhạt hay trắng vàng nhạt.
Loài này thường thích sống ở vùng đồi núi có độ cao dưới 400 m, trong các khu rừng thường xanh, đầm lầy hay các khu đất nông nghiệp. Thức ăn của chúng là chuột, chim, thằn lằn và ếch. Chúng ở trên mặt đất và ban đêm và nghỉ ngơi trên cây vào ban ngày. (VnExpress 15/11) đầu trang(
Ủy ban nhân dân tỉnh vừa có Công văn yêu cầu các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 05/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng. (Công văn số 1205/UBND-KTN ngày 13/11/2014).
Trong đó, yêu cầu tập trung rà soát về phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng thành viên của Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, huyện; ban hành quy chế phối hợp với Công an tỉnh trong công tác bảo vệ, và phòng cháy, chữa cháy rừng; rà soát phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2014 - 2015 của các cấp ngành và chủ rừng.
Đồng thời, tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức, vận động nhân dân về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng thời lượng đưa tin và theo dõi, nắm bắt kịp thời thông tin về dự báo, cảnh báo cháy rừng, phát hiện sớm điểm cháy rừng; tổ chức ứng trực phòng cháy, chữa cháy rừng 24/24h trong những tháng cao điểm của mùa khô.
Tăng cường kiểm tra, truy quét, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm quy định của Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, xử lý nghiêm các chủ rừng và cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. (Langson.gov.vn 14/11) đầu trang(
Ông Đinh Văn HLác, Phó chủ tịch UBND xã An Vinh cho biết: Trong 10 tháng, xã An Vinh đã tổ chức 21 đợt tuần tra, truy quét, chốt chặn tại các cửa rừng trọng điểm thuộc tiểu khu 29, 38, 43, 32, phát hiện bắt giữ nhiều vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu 3,1m3 gỗ các loại, 02 máy cưa lốc, 01 xe máy giao cho các cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn xã vẫn có chiều hướng gia tăng. Trong đó đáng lưu ý là một số thanh niên chậm tiến ở Thôn 2 và Thôn 6 xã An Vinh đã cấu kết với các phần tử bên ngoài lén lút vào rừng khai thác gỗ rừng tự nhiên với nhiều thủ đoạn tinh vi và liều lĩnh, gây khó khăn cho lực lượng quản lý bảo vệ rừng.
Mới đây, UBND xã An Vinh đã có văn bản đề nghị UBND huyện An Lão chỉ đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ và Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với xã An Vinh tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương, nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng khai thác rừng trái phép trên địa bàn xã. (Anlao.binhdinh.gov.vn 14/11) đầu trang(
12.11, trên đường tuần tra, truy quét, lực lượng kiểm lâm huyện Sơn Hà đã bắt được 3 đối tượng dùng xe máy chở 0,5m3 gỗ xoan đào tại đèo Cà Đáo (địa phận TT.Di Lăng).
Ba đối tượng là Đinh Văn Phả (35 tuổi, biển số xe 76X5 8890), Đinh Văn Phải (20 tuổi, biển số xe 76L4 1113) và Đinh Văn Lan (22 tuổi, biển số xe 76X1 3818). Cả ba cùng ngụ tại TT. Di Lăng.
Khi bị phát hiện, các đối tượng chạy xe với tốc độ cao, tỏ ra không hợp tác. Sau khi rượt đuổi hơn 3km mới chịu dừng xe lại.
Tại thời điểm kiểm tra, các đối tượng khai số gỗ này được mua của một số người dân tại thôn Nước Nia (TT.Di Lăng) và không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Hạt Kiểm lâm huyện đã tạm giữ phương tiện và số gỗ trên để điều tra, xử lý theo quy định. (Báo Quảng Ngãi 14/11) đầu trang(
13-11, Đội Cảnh sát môi trường Công an TP.Biên Hòa đã tiến hành kiểm tra quán ăn Ngọc Nhân Quán (ấp Long Đức 1, xã Tam Phước, TP.Biên Hòa, do ông Phạm Văn Nghĩa làm chủ).
Tại đây, công an phát hiện trong quán đang cất giữ 21 cá thể động vật hoang dã quý hiếm nhóm IIB có tổng trọng lượng 36,7kg.
Công an TP.Biên Hòa đã tiến hành tạm giữ tang vật và bàn giao cho Hạt Kiểm lâm Biên Hòa xử lý theo thẩm quyền. (Báo Đồng Nai 14/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau hơn 10 năm quản lý, sử dụng lô đất rừng có diện tích 2,2 ha, cấp lần thứ nhất năm 1998, ổn định, không xảy ra tranh chấp, bỗng dưng năm 2010, gia đình bà Lê Thị Hải, ở phường Quyết Tiến (thành phố Lai Châu) bị gia đình ông Lê Như Trang kiện vì sử dụng cả thửa đất rừng hơn 12.000 m2 của nhà ông được UBND huyện Tam Đường (cũ) cấp năm 2002...
Lúc này, tìm hiểu sâu về lô đất nhà mình và các hộ hàng xóm xung quanh, bà Hải mới phát hiện ra nhiều chuyện “vô lý”.
Bà Hải cho rằng, UBND huyện Tam Đường (cũ) đã làm trái luật khi cùng một mảnh đất rừng, năm 1998 đã cấp quyền sử dụng cho nhà bà, đến năm 2002 lại cấp cho người khác khi chưa hết thời hạn sử dụng, chưa có quyết định thu hồi đất hay thu hồi “sổ đỏ” mảnh đất đó; cũng như việc chính quyền địa phương đã cấp cho nhà bà và các hộ hàng xóm hai “sổ đỏ” đất rừng ở hai thời điểm khác nhau mà không có quyết định thu hồi đất và thu hồi “sổ đỏ” cấp lần một.
Hơn nữa, vào tháng 8/2011, Ban thường trực Hội Luật gia tỉnh Lai Châu tư vấn việc gia đình bà Hải được cấp “sổ đỏ” năm 1998 đến nay chưa có một quyết định nào của cơ quan có thẩm quyền thu hồi thì “sổ đỏ” này vẫn còn nguyên giá trị pháp lý. Việc gia đình ông Lê Như Trang được cấp “sổ đỏ” năm 2002, sau thời điểm đã cấp “sổ đỏ” cho gia đình bà Hải và có diện tích thực tế trùng vào diện tích đất đã cấp cho gia đình bà là trái pháp luật, vi phạm Luật Đất đai.
Nhiều lần, bà Hải đã làm đơn gửi UBND thành phố Lai Châu về việc này, mong chính quyền xem xét, trực tiếp giải quyết, nhưng chỉ được hướng dẫn sang tòa án. Khi tòa sơ thẩm giải quyết việc này, đã yêu cầu UBND thành phố Lai Châu xác định ranh giới, mốc giới các lô, thửa đất của nhà bà Hải, ông Trang. Bằng phương pháp mới, thiết bị xác định tọa độ GPS, UBND thành phố Lai Châu xác định hai lô đất cấp lần một năm 1998 của nhà bà Hải và ông Trang không trùng nhau, ranh giới rõ ràng.
Hai thửa đất cấp năm 2002 cho hai gia đình cũng không trùng nhau, ranh giới rõ ràng. Nhưng thửa đất cấp năm 2002 của gia đình ông Trang trùng lên lô đất cấp năm 1998 của bà Hải với diện tích hơn 1.300 m2. Hai “sổ đỏ” cấp năm 1998 và năm 2002 cho các hộ đều còn giá trị pháp lý như nhau. Trình tự, thủ tục giao, cấp đất hai thời điểm này cũng đều được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Bà Hải không nhất trí với kết quả xác định vị trí, ranh giới, mốc giới lô đất rừng gia đình bà được giao năm 1998. Vì thứ nhất cách xác định không giống như lúc bàn giao đất. Thứ hai, với các mốc giới mới xác định này thì vị trí lô đất cấp năm 1998 của gia đình bà thay đổi. Nhất là nó lại trùng vào đất của nhiều nhà hàng xóm, thậm chí đất của những nhà hàng xóm này còn được Nhà nước cấp trước năm 1998… Bà Hải thắc mắc việc này với lãnh đạo UBND thành phố Lai Châu thì được giải thích: "Tòa không bảo chúng tôi nói lên cái sai cái đúng, mà tòa chỉ yêu cầu xác định đúng mốc giới của 2 lô đất đã giao".
Đến tháng 8/2013, tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hải nêu lại các thắc mắc này nhưng tòa cho rằng chỉ xử tranh chấp đất giữa nhà bà với nhà ông Trang. Trên cơ sở căn cứ UBND thành phố cung cấp, tòa sơ thẩm đã tuyên gia đình bà Hải phải trả lại đất cho gia đình ông Trang hơn 11.000 m2 và gia đình ông Trang trả cho gia đình bà Hải hơn 1.300 m2.
Bà Hải kháng cáo, với lý do: Thứ nhất, việc chính quyền cũ cấp “sổ đỏ” cho nhà ông Trang là trái pháp luật. Thứ hai, năm 1998, khi giao đất, cán bộ kiểm lâm huyện chỉ tay vị trí đất nhà bà, bao gồm toàn bộ mảnh đất nhà ông Trang được cấp năm 2002. Theo mốc giới mới UBND thành phố xác định lô đất nhà bà được giao năm 1998 thì vị trí lô đất thay đổi và trùng lên đất nhiều nhà hàng xóm…
Nhưng đến tháng 3/2014, tòa phúc thẩm cũng cho rằng chỉ xử tranh chấp đất giữa nhà bà Hải với nhà ông Trang, nên tòa tuyên y án và hướng dẫn gia đình bà Hải việc xác định, bàn giao vị trí, tọa độ, mốc giới lô đất gia đình bà được cấp năm 1998 thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND thành phố Lai Châu.
Đành ngậm ngùi “chấp nhận” phán quyết của tòa án, bà Hải quay về làm đơn đề nghị chính quyền thành phố Lai Châu xem xét, xác định, bàn giao thực địa mốc giới, vị trí lô đất mà nhà bà được cấp năm 1998.
Theo Nghị định 02 của Chính phủ, năm 1998, khi UBND huyện Phong Thổ (cũ) nay là thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, thực hiện giao nhận đất lâm nghiệp, các bên chủ yếu chỉ nhìn bằng mắt theo khe, suối, rồi vẽ bằng tay mô phỏng sơ đồ địa chính xác định vị trí, ranh giới đất.
Đến năm 2002, theo Nghị định 163 của Chính phủ, UBND huyện Tam Đường (cũ) nay là thành phố Lai Châu, lại giao đất lâm nghiệp nhưng đã không ra quyết định thu hồi đất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp năm 1998.
Nên đến nay, trên địa bàn thành phố Lai Châu xảy ra tình trạng giữa đất thực tế người dân sử dụng không trùng khớp với sơ đồ địa chính, “sổ đỏ chồng lên sổ đỏ”, "đất chồng lên đất"… khiến phát sinh nhiều đơn, thư khiếu kiện lâu dài và vượt cấp. (Tin Tức 15/11) đầu trang(
Không thể bàn giao thực địa lô đất rừng cho gia đình bà Hải theo các mốc giới mới xác định, chính quyền thành phố Lai Châu trình với tỉnh, xin thu hồi cả hai “sổ đỏ” do chính quyền hai huyện cũ cấp, rồi cấp lại đất rừng theo hiện trạng.
Sở Tài nguyên và Môi trường Lai Châu đã hướng dẫn UBND thành phố Lai Châu thu hồi hai sổ đỏ đó theo Điều 42 Luật Đất đai 2003, nhưng UBND thành phố Lai Châu cho rằng không thể thực hiện được theo điều luật này… khiến bà Hải càng thêm bức xúc. Từ đầu tháng 7 đến nay, bà Hải tiếp tục làm đơn gửi đến nhiều cơ quan chức năng và các lãnh đạo cao nhất tỉnh Lai Châu, mong được trực tiếp trình bày những uẩn khúc đằng sau vụ việc.
Bà Vũ Thị Ngọc, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lai Châu cho biết, chính quyền thành phố đã quyết liệt vào cuộc giải quyết vấn đề này, trong khi bà Hải đang đi ngược lại trình tự giải quyết theo Luật Đất đai vì tòa án đã giải quyết rồi. Việc tranh chấp đất đai giữa gia đình bà Hải và gia đình ông Trang đã được chính quyền thành phố nghiên cứu theo Luật Đất đai và đã chuyển sang tòa để giải quyết.
Tuy vậy, bà Ngọc cũng thừa nhận gặp nhiều khó khăn trong vấn đề này do "đang thực hiện theo số liệu lịch sử để lại và phải giải quyết những việc do lịch sử để lại". Việc Nhà nước cấp hai sổ đỏ chồng lên nhau là sai. Bà Ngọc giãi bày: “Năm 1998 thì làm gì có dụng cụ, máy móc hiện đại như bây giờ, nên là giao bằng tay, mô phỏng bằng tay, kể cả bản đồ cũng phóng bằng tay”.
Còn việc bà Hải yêu cầu giao thực địa lô đất rừng của gia đình bà được cấp năm 1998 theo các mốc giới mới xác định, bà Ngọc bảo: “1998 mới giao đất rừng, mà đất ở người ta có từ năm 1992, thế bây giờ trùm lên liệu ai người ta nghe được không?”. Bà Ngọc cho biết sẽ tổ chức họp, mời đại diện các cơ quan liên quan của tỉnh xem xét, cho ý kiến “chứ một mình UBND thành phố giải quyết việc này thì khó quá”.
Trong thời gian qua, UBND thành phố Lai Châu còn nhận được nhiều ý kiến công dân phản ánh quá trình giao đất trồng rừng phòng hộ có sự sai lệch về vị trí, ranh giới, diện tích so với thực tế sử dụng và đã xảy ra nhiều vụ tranh chấp đất rừng phòng hộ giữa các hộ dân, kéo dài, vượt cấp.
UBND thành phố đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn kiểm tra hồ sơ và vị trí, ranh giới, diện tích đất rừng phòng hộ đã giao cho các hộ dân khu vực sau đồi Công an, thuộc phường Quyết Tiến.
Kết quả cho thấy: Vị trí giao đất trồng rừng phòng hộ năm 2002 theo Nghị định số 163 của Chính phủ có một phần trùng vào vị trí được giao năm 1998 theo Nghị định số 02 của Chính phủ.
Diện tích còn lại bị sai lệch vị trí và chồng lấn lên phần diện tích đã được giao của các hộ dân khác. Và hiện đang tồn tại song song hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đặc biệt, diện tích và ranh giới thửa đất của các gia đình đang sử dụng không trùng khớp, sai lệch hoàn toàn với sơ đồ, bản đồ đã được giao đất theo hai Nghị định trên của Chính phủ. Cụ thể, hiện nay trên địa bàn thành phố có hơn 520 hộ dân được giao đất lâm nghiệp theo Nghị định số 163 và hơn 110 hộ, nhóm hộ được giao đất theo Nghị định số 02.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, hạn chế tranh chấp đất đai kéo dài như thời gian qua, cũng như xử lý dứt điểm vụ việc của gia đình bà Hải, ông Trang nói riêng, UBND thành phố đề nghị tỉnh thu hồi toàn bộ “sổ đỏ” đã cấp cho các hộ dân được giao đất theo hai nghị định nói trên và thực hiện đo vẽ, cấp mới “sổ đỏ” theo hiện trạng sử dụng.
Tuy vậy, Phó Chủ tịch Vũ Thị Ngọc cho biết thêm, Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn chính quyền thành phố thực hiện theo Điều 42 của Luật Đất đai 2003. Nhưng trong điều 42 thì điểm 1, điểm 2 quy định thực hiện theo điều 38, “nhưng nếu người dân không hủy hoại chất đất, không gây ô nhiễm môi trường, không tự trả lại thì đương nhiên chúng tôi không có quyền thu hồi”.
Đồng thời, tỉnh Lai Châu giao gói thầu số 8 thực hiện toàn bộ quá trình đo đạc lập hồ sơ địa chính và cấp theo hiện trạng. Hiện chính quyền thành phố cũng chỉ còn biết “chờ Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên mà thôi” , bà Ngọc khẳng định.
Trước đó, vào cuối tháng 3/2014, chính quyền thành phố đã tổ chức mời đại diện 10 hộ dân, trong đó có bà Hải, có đất rừng được cấp năm 1998 lên thực địa để chỉ ranh giới đất từng nhà. Nhưng bà Hải cho rằng chính quyền địa phương không cần phải khảo sát đất từng nhà khu vực ấy, chỉ cần căn cứ vào các mốc giới chính quyền đã xác định trước, đã cung cấp cho tòa án làm căn cứ, bàn giao cho gia đình bà trên thực địa là xong. Nên đến giữa buổi làm việc, gia đình bà Hải đã bỏ về, không chỉ ranh giới lô đất.
Cuối tháng 6/2014, bà Hải nhận được văn bản trả lời của UBND thành phố Lai Châu, trong đó cho rằng do không nhận được sự hợp tác từ gia đình bà nên nội dung đơn đề nghị của bà, UBND thành phố không có đủ cơ sở, căn cứ để giải quyết... Đồng thời, đề nghị được giao đất để quản lý, sử dụng của gia đình bà Hải sẽ được xem xét giải quyết theo Quyết định 571 của UBND tỉnh và các quy định hiện hành.
Tuy nhiên, bà Hải cho rằng nội dung công văn trả lời của UBND thành phố Lai Châu cùng các văn bản làm căn cứ trả lời, không liên quan gì đến đơn đề nghị của bà. Nên từ đầu tháng 7 đến nay, bà Hải tiếp tục làm đơn kêu cứu gửi đến nhiều cơ quan tỉnh và các đồng chí lãnh đạo cao nhất tỉnh Lai Châu. Hầu hết các địa chỉ gửi đơn, bà Hải đều chưa nhận được hồi âm.
Bà Hoàng Thị Thanh, Chánh Văn phòng HĐND - UBND thành phố Lai Châu cho biết, trước đây, khi bà là Chủ tịch UBND phường Quyết Thắng (nay là phường Quyết Tiến và phường Quyết Thắng), đã tham gia trực tiếp hòa giải vụ việc tranh chấp đất giữa gia đình bà Hải và gia đình ông Trang. Thực chất, từ khi cơ quan Viettel hợp đồng với gia đình bà Hải đặt cột thu phát sóng trên khu đất đó, nên gia đình ông Trang mới ra nhận đất và hai bên xảy ra tranh chấp… (Tin Tức 17/11) đầu trang(
Chương trình sáng kiến "Rừng ngập mặn cho tương lai" (MFF) tại Việt Nam do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) điều phối cùng với Viện sinh học nhiệt đới (ITB) đồng tổ chức hội thảo toàn quốc về chủ đề “Mối liên hệ giữa rừng ngập mặn và nguồn lợi nghêu”.
Nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa rừng ngập mặn và nghêu, xác định bằng chứng về tác dụng của rừng ngập mặn đối với sự sinh trưởng của các bãi nghêu cũng như tác động của việc khai thác nghêu lên rừng ngập mặn. Từ đó làm cơ sở để áp dụng chi trả phí dịch vụ môi trường rừng đối với các hợp tác xã nghêu trong tương lai.
Nghề nuôi và khai thác nghêu ở các bãi bồi ven biển là nguồn sinh kế quan trọng đối với cộng đồng dân cư ven biển ở nước ta.Trong những năm gần đây có nhiều hợp tác xã nuôi nghêu được hình thành, biến nguồn sinh kế này trở thành một ngành sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận.
Nghiên cứu của Viện sinh học nhiệt đới cho thấy năng suất nghêu nuôi (kg/m2) không chỉ phụ thuộc vào cao trình bãi và tỉ lệ cát mà còn phụ thuộc vào hàm lượng chất dinh dưỡng tại bãi.
Tất cả các yếu tố này được cung cấp bởi rừng ngập mặn thông qua ba chức năng: Tham gia vào việc phân phối dòng chảy lòng dẫn và dòng chảy tràn, giảm thiểu sự bào mòn, xói lở bãi triều. Chuyển hóa vật chất hữu cơ thành thức ăn “tươi sống” cho nghêu sò. Giảm thiểu ô nhiễm hữu cơ từ sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp.
Có thể nói, rừng ngập mặn là đã hỗ trợ quan trọng cho nghề khai thác nghêu. Do vậy việc chăm sóc, trồng, bảo vệ RNM được xem là giải pháp quan trọng bậc nhất để bảo tồn và phát triển nguồn lợi nghêu, giúp người dân duy trì sinh kế bền vững. Nói cách khác, giữa bên hưởng lợi và bên cung cấp dịch vụ môi trường cần có sự bù đắp thông qua một cơ chế kinh tế nhằm tạo ngân sách trong việc đầu tư và phục hồi, duy trì bền vững các giá trị hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Tuy nhiên để cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng này được hoạt động hiệu quả, cần có các nghiên cứu làm rõ mối quan hệ, cũng như tính toán cụ thể các lợi ích, chức năng của rừng đối với nguồn lợi nghêu. (Tin Môi Trường 14/11) đầu trang(
Nhiều nhà khoa học, chuyên gia đã góp ý kiến phản biện xã hội vào dự thảo Tờ trình, Nghị quyết về Danh mục các dự án chuyển mục đích sử dụng đất từ đất lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang xây dựng các công trình, dự án thu hồi đất trên địa bàn TP năm 2015.
Nhiều nhà khoa học, chuyên gia đã góp ý kiến phản biện xã hội vào dự thảo Tờ trình, Nghị quyết về Danh mục các dự án chuyển mục đích sử dụng đất (SDĐ) từ đất lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang xây dựng (XD) các công trình, dự án thu hồi đất trên địa bàn TP năm 2015 do Thường trực MTTQ TP tổ chức sáng 14/11.
Đại diện Sở Tài nguyên & Môi trường (TN&MT) cho biết, theo kế hoạch SDĐ năm 2011 – 2015 của TP được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 06/NQ – CP ngày 9/1/2013, được phép thu hồi, chuyển mục đích sử dụng 15.290 ha đất để thực hiện các dự án (DA).
Nhưng từ năm 2011 đến nay, TP Hà Nội mới quyết định thu hồi, giao đất, cho thuê đất chuyển mục đích SDĐ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội được 1.012 DA, với 3.475 ha, đạt 23% kế hoạch (bình quân 864,25ha/năm), trong đó đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ chuyển sang xây dựng công trình là 2.719ha, đạt 29% kế hoạch. Nguyên nhân kết quả đạt thấp là do khó khăn về kinh tế, thị trường bất động sản trầm lắng…, nhiều DA được giao đất, cho thuê đất trước năm 2011, được giãn tiến độ, nay mới bắt đầu triển khai thực hiện.
Tuy nhiên, Sở TM & MT vẫn đề xuất (trên cơ sở nhu cầu SDĐ của các tổ chức, DN do các quận, huyện, thị xã báo cáo), năm 2015 có 565 DA, với diện tích thu hồi đất là 1.375 ha, kinh phí GPMB ước 9.660 tỷ đồng, trong đó diện tích trồng lúa là 296 ha; đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất là 4,22 ha.
GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng – Phó chủ tịch Hội bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường Việt Nam cho rằng, kế hoạch thu hồi chuyển mục đích SDĐ (nêu trên) thiếu tính khả thi. Đơn cử việc thu hồi 4,22ha chỉ duy nhất ở huyện Gia Lâm để thực hiện 3 DA là XD khu Trung tâm VH thể thao xã Bát Tràng (3,3ha), XD nhà văn hóa thôn Giang Cao (0,28 ha), cho dân sinh xã Kim Lan (0,54ha). Không có lý do phải đặt vị trí 3 DA trên vào khu rừng phòng hộ, vì rừng của Hà Nội còn rất ít.
Cũng theo GS.TS Phạm Ngọc Đăng, ở huyện Thường Tín đề xuất XD trụ sở an ninh, quân sự xã Khánh Hà rộng 4.000 m2; diện tích khu trưng bày sản phẩm làng nghề và thương mại xã Văn Bình rộng 25.000 m2 hay trụ sở CA thị xã Sơn Tây là 4,48 ha… là quá rộng. Ông đề nghị TP cần có quy chuẩn diện tích XD trụ sở (cấp xã, huyện) để tránh tình trạng lạm dụng xin đất rộng thực hiện nhu cầu khác sai mục đích…
Đồng tình quan điểm trên, TS Đào Ngọc Nghiêm – nguyên Giám đốc Sở QH – KT bổ sung, kinh tế TP tuy duy trì tăng trưởng nhưng chưa cao, lấy đâu nguồn lực tới hơn 9.000 tỷ đồng để thực hiện GPMB, trong khi thị trường bất động sản còn rất trầm lắng, sức phục hồi còn chậm. Ngoài ra, Luật Đất đai 2013 đã nêu rõ, hạn chế lấy đất trồng lúa…
TS Đào Ngọc Nghiêm đề nghị, cơ quan soạn thảo cần bổ sung, phân tích thực trạng các DA đã có quyết định thu hồi đất từ năm 2014 trở về trước, tránh tình trạng thu hồi đất để đấy. Phần lớn các ý kiến tại hội nghị đều thống nhất, xem xét lại kế hoạch thu hồi đất năm 2015 và phải đề xuất được biện pháp thực hiện cụ thể khả thi… (Kinh Tế & Đô Thị 14/11) đầu trang(
Thành lập vào năm 1993 và đóng chân trên địa bàn huyện Đăk Song, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân (Cty Trường Xuân) xây dựng mô hình không hợp lý, không có năng lực quản lý, dẫn đến hoạt động không hiệu quả và thua lỗ trầm trọng.
Đặc biệt, lãnh đạo Cty còn lơ là trách nhiệm quản lý, chỉ trong thời gian ngắn đã để mất hơn 3.500 ha rừng được giao. Từ năm 1993 - 2007, Bộ Lâm nghiệp (cũ), UBND tỉnh Đăk Lăk và UBND tỉnh Đăk Nông ban hành 4 quyết định giao đất, giao rừng cho Cty Trường Xuân; đồng thời có 9 quyết định thu hồi đất của Cty giao cho các đơn vị, doanh nghiệp và UBND huyện Đăk Song, với tổng diện tích 7.237ha.
Quá trình thu hồi đất, rừng tại các quyết định không có từng loại diện tích đất bị thu hồi, cơ quan chức năng chỉ căn cứ trên hồ sơ, không bàn giao ngoài thực địa và phân giới cắm mốc. Đến nay, còn 233ha đất và rừng Cty chưa bàn giao cho địa phương và hơn 299ha được giao ban đầu không có quyết định thu hồi, nay không còn theo dõi được.
Về quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), Cty Trường Xuân được giao theo Quyết định số 1089 ngày 19/8/2008 của UBND tỉnh Đăk Nông là 8.246ha (trong đó rừng tự nhiên 6.457ha). Sau khi UBND tỉnh có quyết định thu hồi đất rừng của Trường Xuân giao cho các doanh nghiệp khác, đến cuối năm 2013, Cty Trường Xuân còn quản lý là 6.436ha (trong đó rừng tự nhiên gần 5.239ha). Theo số liệu thống kê mới đây, rừng tự nhiên chỉ còn 1.728ha, Cty Trường Xuân đã để mất thời gian từ 9/2008 đến cuối năm 2013 là 3.510ha rừng.
Việc phá rừng, lấn chiếm đất rừng diễn ra liên tục với số lượng rất lớn nhưng Cty cũng như Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Song báo cáo không đúng thực tế, gây khó khăn trong theo dõi diện tích thực tế mất rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp...
Tính đến cuối năm 2013, diện tích đất do Cty quản lý và chuyển thành đất khác là 4.519ha, đã bị 189 hộ dân xâm chiếm làm nhà, trồng hoa màu, cây công nghiệp là 337ha, song, chưa có trường hợp vi phạm nào bị cưỡng chế thu hồi đất để trồng lại rừng.
Lãnh đạo Cty ký 7 Hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp với 7 hộ dân gồm diện tích 140,5ha, để trồng rừng 66ha, QLBVR là 71,2ha. Trong quá trình thực hiện các hộ chỉ trồng được 59ha, diện tích QLBVR sau khi giao khoán bị tàn phá 17ha.
Cty Trường Xuân ký Hợp đồng liên doanh liên kết với Công ty TNHH Thương mại Liên Minh để trồng các loại cây với diện tích 242ha và QLBVR 189,6ha. Rốt cuộc, chỉ trồng được 14ha rừng sản xuất, diện tích còn lại người dân lấn chiếm trồng hoa màu, cây công nghiệp và diện tích QLBVR đã bị mất là 43ha.
Theo kết luận của UBND tỉnh, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng của Cty Trường Xuân quản lý, có liên quan đến trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện, Công an huyện Đắk Song và UBND xã Trường Xuân. Hiện nay, các cơ quan trên đang tiến hành kiểm điểm theo Kết luận thanh tra số 2267/KL-TTCP ngày 11/12/2013 của Thanh tra Chính phủ nên phải gắn với trách nhiệm để xảy ra mất rừng tại Cty Trường Xuân.
Hiện tại, Cty không có vốn để sản xuất kinh doanh, đời sống cán bộ nhân viên gặp rất nhiều khó khăn, không có khả năng QLBVR với diện tích còn lại là 1.728ha, nằm trên lưu vực của các con suối Đắk Nông, Đắk Rung, Đắk Rtih và suối ĐăkBukSo, nếu tiếp tục để mất diện tích đất rừng còn lại trên sẽ tác động rất lớn đến môi sinh, môi trường, nguồn nước trên địa bàn phía Tây Nam của tỉnh, nên UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng và địa phương phối hợp với chủ rừng, lập một số điểm chốt chặn tại những địa bàn xung yếu để ngăn chặn nạn phá rừng.
UBND tỉnh còn yêu cầu Cty Trường Xuân thanh lý hợp đồng liên doanh liên kết với Cty Thương mại Liên Minh do không thực hiện được. Chấm dứt ngay hiện tượng buông lỏng quản lý rừng và đất lâm nghiệp, tăng cường lực lượng QLBVR, quản lý cán bộ nhân viên, lực lượng QLBVR, không để xảy ra tiêu cực. Phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện xử lý nghiêm tất cả các hành vi phá hoại rừng, lấn chiếm, chuyển nhượng đất rừng trái phép.
Kết luận thanh tra số 3022/KL-UBND của UBND tỉnh về thanh tra toàn diện Cty Trường Xuân, chỉ rõ: Những sai phạm trên thuộc trách nhiệm chính của người đứng đầu là ông Trần Quyết Tâm - Giám đốc, đến mức cần phải chuyển hồ sơ để điều tra xử lý về mặt hình sự.
Tuy nhiên, xét về mặt khách quan, sai phạm với thời gian dài, có liên quan đến tập thể lãnh đạo Cty; liên quan đến cơ chế, chính sách, sự tác động xã hội vì lợi ích kinh tế qua phá rừng… nên cần được xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng phải xử lý hành chính ở mức nghiêm khắc.
Tại Thông báo kết luận thanh tra số 2490/TB-TTCP ngày 15/10/2014 về quản lý, sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng và một số dự án đầu tư giai đoạn 2004 - 2011 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị UBND tỉnh thu hồi hơn 1,58 tỷ đồng về tiền thuê đất của Cty Trường Xuân, nhưng đơn vị này mất khả năng về tài chính. (Thanh Tra 17/11) đầu trang(
Sau 8 lá đơn gửi đến UBND tỉnh và 3 lần tập trung kéo đến trụ sở ủy ban, những người đứng đầu tỉnh đã xuống tận nơi đối thoại với dân để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến khiếu nại kéo dài liên quan đến tranh chấp đất rừng.
33 hộ dân thôn Trung Mỹ và Kim Thành, xã Hành Dũng huyện Nghĩa Hành khiếu nại chính quyền xã đã thu hồi đất rừng do dân khai hoang để cấp sổ đỏ cho người khác, trong đó nhiều người là cán bộ địa phương.
Tranh chấp bắt đầu từ năm 2008 khi xã thu gom đất rừng để thực hiện dự án trồng rừng nguyên liệu với Công ty Mỹ Yên, đến nay số người khiếu nại từ 33 đã lên 43. Sáng 14.11, hội trường UBND xã Hành Dũng gần như không còn một chỗ trống, không khí “nóng” lên khi mâu thuẫn tích tụ kéo dài.
Chủ tọa là các ông Nguyễn Minh - Quyền Bí thư Tỉnh ủy, Lê Viết Chữ - Chủ tịch UBND tỉnh kiêm Phó bí thư tỉnh ủy và Trần Văn Minh - Phó bí thư Tỉnh ủy phải vất vả để xoa dịu không khí căng thẳng giữa các bên.
Đại diện 43 hộ khiếu nại mở đầu đối thoại với những lời lẽ vô cùng bức xúc với cán bộ xã, trình bày rằng từ 1978 đến 1990, người dân xã Hành Dũng đã khai hoang đất rừng hàng nghìn hecta. UBND xã đã lạm dụng chức quyền cấp đất cho người là cán bộ xã, chức to thì đất càng to. Sau chỉ đạo của tỉnh, huyện đã mời 33 hộ dân đến “đối thoại” nhưng huyện cũng bao che, giải quyết không thấu tình đạt lý.
Người đọc phát biểu đại diện cho các hộ dân khiếu nại còn cáo buộc cán bộ xã đòi nhận từ 20-40% tiền bán keo của dân, tịch thu xe honda trái phép, tiêu hủy các văn bản do cơ quan chức năng gửi về.
Ông Nguyễn Đức On-Chủ tịch UBND huyện sau đó đã trình bày vắn tắt quá trình phát sinh tranh chấp cũng như trình tự giải quyết vụ việc của các cơ quan liên quan, trong đó huyện khẳng định đã thực hiện đúng yêu cầu của tỉnh. Để xoa dịu không khí căng thẳng, ông Nguyễn Minh đứng lên trấn an và đề nghị các bên giữ không khí hòa hảo, trật tự để đối thoại đạt kết quả.
Ngay sau đó, ông Nguyễn Thanh Long và ông Lê Quang Diệu, hai người trong 43 hộ khiếu nại đã liệt kê hàng loạt cán bộ đang làm chủ hàng chục hecta đất. Cụ thể, ông Nguyễn Tải-Bí thư Đảng ủy xã “nhanh chóng thành tỉ phú” với 50ha do ông và người thân đứng tên, ông Trịnh Văn Minh-Phó chủ tịch xã hơn 10ha, ông Nguyễn Tấn Thành-cán bộ địa chính 22ha…
Các cánh tay xin ý kiến liên tục được giơ lên với giọng điệu bức xúc, người dân cho biết vào thời điểm ký hợp đồng với Công ty Mỹ Yên (2008), xã ra quy định phải đủ 1ha mới được đăng ký cấp sổ đỏ, việc đăng ký để trồng rừng theo dự án này xã cũng không thông báo rộng rãi cho dân biết. Cán bộ xã thừa cơ hội này làm sổ đỏ cho người không có công khai hoang đất và hưởng lợi.
Ông Trịnh Văn Minh-Phó chủ tịch UBND xã Hành Dũng phản bác: Đúng là trước kia người dân có khai hoang, nhưng lúc đó hiệu quả kinh tế không cao nên sau này việc canh tác cũng như thuế khóa không liên tục; nói xã có chủ trương yêu cầu 1ha trở lên mới được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng; xã cũng không có chủ trương ăn chia 20% như người dân trình bày.
Ông Trần Văn Minh-Phó bí thư vặn lại: Không có chủ trương nhưng có giao dịch ngầm không?. Ông Trịnh Văn Minh trả lời: Đó là thỏa thuận giữa các hộ có sổ đỏ và người trồng rừng trên đất đó chứ không phải chủ trương của xã.
Về phía các hộ được cấp sổ đỏ, ông Phạm Hội cho biết nếu xã cấp không đúng thì chấp nhận chia lại, sẵn sàng chia sẻ với dân nếu quỹ đất thiếu. Còn bà Võ Thị Ngọc Em thì cho biết ông Huỳnh Thanh Long đã nhổ 4.000 cây keo và dùng cuốc tấn công bà, theo bà đây là cách hành xử không đẹp, “nếu như ông Long đến gặp tôi nói chuyện đàng hoàng thì mọi chuyện không đến thế này”, bà Em nói.
Ông Nguyễn Minh-Quyền bí thư tỉnh ủy kết luận, từ tìm hiểu trong và ngoài đối thoại, tỉnh nhận định người dân khai hoang đất là có thật, nhưng thời gian đầu khai thác không hiệu quả. Sau đó có người tiếp tục trồng có người thôi. Từ khi cây keo lên giá, ở Khu kinh tế Dung Quất có nhà máy dăm gỗ xuất khẩu thì mới xảy ra tranh chấp.
Quyền Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi yêu cầu làm rõ thêm các nội dung khiếu nại và phê bình địa phương không giải quyết kịp thời, để tích tụ mâu thuẫn. Ông Nguyễn Minh nói: “Khi nghe bà con bị lũ là khắp nơi ủng hộ, còn mình trong nội bộ với nhau mà có gì đâu”, và kêu gọi các bên bình tĩnh ngồi lại với nhau, giải quyết hài hòa, kìm chế không để mâu thuẫn dẫn đến những hệ lụy đáng tiếc.
Ông Lê Viết Chữ cho biết: “Huyện đã lập đoàn thanh tra, và sắp tới tỉnh sẽ thành lập tổ tư vấn để theo dõi, giám sát đoàn thanh tra của huyện”, và bày tỏ mong muốn người dân tin tưởng vào sự công minh của chính quyền để vụ việc được giải quyết thấu đáo. (Lao Động 15/11) đầu trang(
Là đứa trẻ mồ côi cha mẹ, phải bỏ học leo núi đá chặt cây sáp bút đổi gạo nuôi 3 đứa em; nghèo đến độ không có tiền cưới vợ, ông Lê Văn Thân có mơ cũng không dám tin đời mình lại có ngày được người ta gọi là “đại gia miền rừng”.
Dân bản Nà Tồng (xã Trùng Khánh, huyện Văn Lãng, Lạng Sơn) chẳng thể ngờ những quả đồi trơ cằn sỏi đá, nằm hoang hoải tận cùng đất nước lại có thể “đẻ” tiền. Thu sang, khi lá vàng lìa cành bị nắng thiêu khô giòn, bà con người Tày, Nùng lại leo đồi phóng hỏa.
Biển lửa cháy rừng rực, cây dại bị nung thành tro. Lớp tro ủ trong sương giá mùa đông, biến thành phân để sang xuân cỏ đâm chồi. Nhiều cây lộc non chưa kịp chuyển màu diệp lục đã bị hàm răng của lũ trâu, ngựa ngoạm đứt, nhai gau gáu nuốt ực vào dạ dày.
Núi rừng bị bức tử đến trơ cằn, trọc lốc. Những triền đồi xếp tầng rộng hàng trăm ha vô chủ chẳng ai đoái hoài vì không còn giá trị. Một ngày kia, người ta thấy khe nước Khuôn Khuông, Nà Tràm, Khuôn Hốc… vơi dần. Con suối Hang Sáng nước trong leo lẻo ngày nào, bỗng biến thành dải đá lổn nhổn uốn mình trắng xóa. Khi mưa lớn, dòng nước đỏ quạch như cốt trầu vì xói lở đất, như máu của rừng tuôn chảy.
Năm 1994, chính quyền cấp xã, cấp huyện, vận động nhân dân nhận khoán bảo vệ, trồng rừng. Khi ấy, dân bản Nà Tồng chưa tin cán bộ. Họ túm năm tụm mười rỉ rả tai nhau: “Chớ dại mà mắc mưu ông nhà nước. Có khi nhận đất xong rồi, chính sách lại thay đổi, bắt mình phải đóng thuế nặng thì khốn”.
Không lạ lùng khi người có “máu liều” nhận 46 ha đất rừng đầu nguồn (trải dài từ cột mốc 1044 qua cột mốc 1045 biên giới Việt - Trung) như ông Lê Văn Thân (thôn Nà Tồng) bị ví như… kẻ dại dột nhất trần đời.
Gạt qua những xì xào bàn tán, ông Thân tin rằng, chỉ có con người mới phụ bạc rừng, chẳng bao giờ rừng phụ ơn người. Niềm tin ấy không phải đột nhiên trỗi dậy, nó nảy sinh từ những năm tháng túng đói và đau đớn nhất của cuộc đời.
“Bố tôi vốn là chiến sĩ công an nhân dân vũ trang (sau này gọi là bộ đội biên phòng). Ông từng bị bom Mỹ sát thương trên đường công tác ở Thái Nguyên, phải trở về quê với tấm thân tàn. Năm 1988, gia đình xảy ra “tang kép”. Mẹ mất tháng ba, cha mất tháng sáu. Tôi mới 15 tuổi, đang học trường cấp 2 Lũng Vài đành phải nghỉ để nuôi 3 em nhỏ. Thằng út tên Lê Văn Thường mới 6 tuổi. Thời ấy, biên giới Việt - Trung đã ngưng tiếng súng nhưng vẫn chưa bình thường quan hệ. 4 anh em tôi vẫn ở lại vùng sơ tán bản Vài, xã Trùng Quán cách nhà 10 km.
Không ruộng nương, của cải, họ hàng, ngày ngày tôi phải leo trèo vắt vẻo trên núi đá phồng rộp cả bàn chân, bàn tay để chặt cây sáp bút, bó thành đon vác xuống chợ đổi lấy gạo. Nhiệm vụ của thằng Thuộc (đứa em thứ 2, 13 tuổi) là mỗi sáng cho 1 bát gạo vào nồi nấu cháo để mấy anh em ăn 2 bữa và chăm em”, ông kể.
Những ngày đầu hồi hương về Trùng Khánh năm 1989, ruộng đồng chưa kịp cải tạo, không có gì bỏ bụng, người anh cả Lê Văn Thân lại luồn lách trong rừng tre phía sau nhà bẻ măng rồi cho vào 2 sọt, gánh qua biên giới sang chợ Bằng Tường bán 5 hào/kg. Nhờ thế, mấy anh em sống qua nhiều tuần trăng.
Ở Nà Tồng có cô thiếu nữ Lương Thị Lèn nết na, xinh đẹp khiến anh chàng Lê Văn Thân xiêu lòng. Đáp lại, Lèn cũng đắm say tấm chân tình của anh. Ngặt nỗi, ngoài căn nhà tranh vách đất, anh chẳng sở hữu vật gì giá trị. Luật tục hôn nhân của dân tộc Tày vốn hà khắc, chú rể muốn rước cô dâu về nhà phải sắm đủ lễ cưới gồm 1 con lợn béo 100 kg và 30 đồng bạc trắng. Thế nghĩa là Lèm phải chờ “mọt tuổi xuân” để người yêu kiếm đủ lễ vật.
Không để Lèm “chết chìm” trong thương nhớ, Lê Văn Thân quyết định gán lễ cưới bằng 3 ha đất rừng ông cha để lại. Ông Lương Văn Mùi (bố Lèm) bảo: “Chỉ có 3 ha đất rừng chưa đủ, vợ chồng chúng bay phải trồng kín cây vào đấy để trả ơn chúng ta sinh thành”.
Hơn 10 năm sau, những cây trám đã vươn cao và cho thu quả. Trước khi khuất núi năm 2008, ông Mùi vỗ vai con rể trăng trối: “Khu rừng ấy ta chưa bao giờ có ý định lấy, chỉ thử lòng của bay thôi. Có được thằng rể tốt thì trăm trâu, ngàn bò cộng lại cũng không bằng”.
Từ khi nhận khoán bảo vệ, quản lý 46 ha đất lâm nghiệp dọc biên giới Việt - Trung (trong đó có 3 ha rừng đặc dụng), mỗi sáng ông Thân dậy từ canh năm chuẩn bị cơm đùm cơm nắm, dao gài thắt lưng, chụp mũ lá tuần rừng.
Mỗi ngày leo khoảng 3 km đường dốc dựng ngược lên cột mốc 1044, rồi vòng sang cột mốc 1045 và theo suối Khuôn Khuông trở về nhà, hành trình tuần rừng của ông Thân ngót ngét 10 cây số. Thông thường, mỗi bước chân của người trưởng thành dài khoảng 1 feet (30,48 cm). Như vậy, mỗi ngày núi rừng Nà Tồng in hằn 30 ngàn dấu chân của ông. Được ví như “cột mốc sống” vùng biên.
Ông bộc bạch: "Ngày nay, gỗ khan hiếm, ai muốn làm cái cột nhà cũng muốn lăm le vác dao vào khu rừng đặc dụng. Thấy mình chặn lại, họ oán lắm, bởi ở rừng mà không dựa vào rừng thì biết dựa vào đâu. Mình ngăn là mình cướp mất cái niêu cơm của người ta rồi. Có lần tôi bắt giữ một anh cưa gỗ, anh ấy bảo: “Rừng đặc dụng là của dân, không phải rừng của anh. Cả làng đều được chặt, tôi là người trong làng”.
Tôi nói: “Của dân thì toàn dân cùng hưởng, cớ sao anh lấy một mình?”. Thấy người kia ú ớ, tôi dịu giọng: “Nếu bây giờ anh chặt rừng thì chỉ được chặt một lần rồi mất vĩnh viễn. Còn giữ lại rừng thì cả người dân ở cuối dòng suối Khuôn Luông này, cả dân Văn Lãng này được rừng che chở”.
Chủ tịch UBND xã Trùng Khánh, Vi Trung Thành nhớ năm 1997 độ che phủ rừng của toàn xã chưa đến 40%, hệt như cái đầu hói chỉ còn lơ phơ vài sợi tóc. Từ năm 1998, đã có một “chiến dịch cứu rừng” rầm rộ ở khu vực biên giới xứ Lạng theo dự án 661.
Một buổi chiều xuân mưa lây phây, có bộ đội biên phòng trẻ măng vai đeo cấp hiệu trung úy, ngực cài biển tên Trần Công Đông xuống bản Nà Tồng thông báo: "Nhà nước sẽ cấp cây giống, trả công lao động để bà con trồng thông phủ xanh đất trống, đồi trọc của mình". Có người vặn vẹo: “Cây thông lớn chậm như đứa con lắm sài nhiều đẹn, đất đai lại cằn cỗi, chờ cả đời chưa chắc đã được thu”. Vừa nói dứt câu, người khác đã chen ngang: “Bao giờ bộ đội vác tiền hỗ trợ trồng rừng về đây, chúng tôi nhìn thấy mới tin”.
Bộ đội dân vận ở trên, bà con tán chuyện tào lao phía dưới. Chỉ có chủ rừng Lê Văn Thân ngấm từng lời của bộ đội biên phòng, tin vào bộ đội biên phòng như tin người cha đã khuất của mình - một chiến sĩ công an vũ trang (lực lượng tiền thân của bộ đội biên phòng Việt Nam).
Được dự án cấp cây giống, vợ chồng ông Thân ngóng thấy trời mưa là gánh thông non lên đồi đào hố trồng. Những buổi trưa nắng đổ, mồ hôi nhễ nhại, chống cuốc nhìn trời, trong bụng xót xa lưng bát cơm trộn sắn từ sáng, thế mà vẫn cứ hùng hục say sưa.
Để “lấy ngắn nuôi dài” chờ thông lớn, vợ chồng ông cấy thêm 1 mẫu lúa. Ngày mùa, ông Thân đào một hốc sâu ở bờ ruộng bậc thang rồi lót rơm để đứa con nhỏ nằm ngủ, lúc rảnh tay chị Lèm tranh thủ cho con bú, đến sẩm tối mới địu về.
Thấm thoát đã hơn 1 thập kỷ trôi đi, cả khu đồi trọc rộng 30 ha phủ lên màu xanh rười rượi. Thân cây thông thăn thớ thẳng đứng, vươn cao vỏng, vỏ xù xì, chắc nịch. Mỗi khi đôi chân trĩu nặng, chủ rừng vẫn thường ngồi tựa lưng dưới gốc cây thông ngát lừng hương nhựa, nghe lá kim xào xạc reo trước gió, phấn thông vàng phảng phất rơi và trầm ngâm trong tiếng chim vọng lại. Một ngày không thấy rừng thông, tâm ông Thân không an, cứ như người tình xa vắng.
Trong ngôi nhà của ông Thân, xe máy, ti vi, tủ lạnh, máy cày, máy xát, thậm chí cả phòng hát karaoke... “Năm nay, rừng thông của bộ đội biên phòng Nà Hình trồng gần nhà tôi đã được cạo mủ. Có doanh nghiệp hợp đồng khai thác nhựa 20.000 đồng/cây/năm. 1 ha có khoảng 1.650 gốc, loại bỏ cây còi cọc cũng phải được 1.000 cây đạt tiêu chuẩn. Như vậy, 1 ha thu được ít nhất 20 triệu đồng. Năm mốt, năm hai rừng thông nhà tôi cũng đủ tuổi cạo nhựa, một lúc thu mấy trăm triệu đồng không còn là giấc mộng xa vời”, ông Thân khoe.
Người dân Nà Tồng bây giờ mới vỡ lẽ: “kẻ dại dột nhất trần đời” hóa ra lại… khôn nhất bản. Chẳng cần ai nài nỉ, cả làng đua nhau trồng thông, trồng bạch đàn kín cả ngàn ha đồi trọc vùng biên. Suối, khe xứ Lạng lại ăm ắp nước trong leo lẻo.
“Xưa, những cánh rừng biên cương xã Trùng Khánh bị phá tan tuông theo lối cạo râu nhẵn thín, để trơ những vành cằm núi trọc. Nay, dặc dài biên giới Việt - Trung, chỉ thấy ngút ngàn xanh thẳm. Người tiên phong hồi sinh rừng chính là ông Lê Văn Thân”, Chủ tịch UBND xã Trùng Khánh, Vi Trung Thành khẳng định. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/11) đầu trang(
14-11, tin từ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên – Huế cho biết, kết quả điều tra, xác minh của Đoàn kiểm tra 142-UBKT Tỉnh ủy đối với Đảng ủy xã Phong Hiền, huyện Phong Điền cho thấy, trong các nhiệm kỳ 2000-2005 và 2005-2010, Đảng ủy xã Phong Hiền đã buông lỏng công tác lãnh, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát để một số cán bộ chủ chốt của UBND xã tùy tiện làm sai nguyên tắc, trình tự thủ tục trong việc tổ chức thực hiện dự án trồng rừng phòng hộ vùng cát gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong đó, nổi cộm là các ông Trần Văn Vĩnh, nguyên Chủ tịch UBND xã (nay là cán bộ Hội Nông dân huyện Phong Điền); Trương Bình Phương, nguyên Bí thư Đảng ủy xã (nay là Chủ tịch Hội Nông dân xã); Trịnh Hữu Phước, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã (nay là Phó Bí thư Thường trực, Chủ tịch HĐND xã) và Hoàng Văn Thủy, nguyên cán bộ Giao thông - Thủy lợi - Địa chính xã (nay là Đảng ủy viên, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã).
Vào thời điểm đang giữ cương vị Chủ tịch UBND xã, ông Trần Văn Vĩnh cùng Ban quản lý Dự án TRPHVC tỉnh Thừa Thiên – Huế hợp đồng với Công ty cổ phần 1-5, do ông Hoàng Bằng làm Giám đốc, trồng 710ha RPHVC ở xã Phong Hiền. Để thanh, quyết toán; ông Vĩnh và một số cán bộ chủ chốt xã Phong Hiền cùng ông Hoàng Bằng lên danh sách, lập hồ sơ khống để thanh, quyết toán với số tiền hơn 2,3 tỷ đồng.
Đoàn kiểm tra còn phát hiện, 41 trường hợp ghi khống tên hoặc không đúng đối tượng để hưởng lợi trên diện tích rừng hơn 221ha trong tổng số 710ha của dự án TRPHVC ở xã Phong Hiền. Trong đó, 24 trường hợp là cán bộ xã Phong Hiền, số còn lại là cán bộ huyện và một số đối tượng ở các địa phương lân cận.
UBKT Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên – Huế đã quyết định xử lý kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng đối với ông Trương Bình Phương và Hoàng Văn Thủy; khiển trách đối với ông Trịnh Hữu Phước.
Đồng thời, yêu cầu Ban Thường vụ Huyện ủy và UBND Huyện Phong Điền chỉ đạo việc kiểm điểm, xem xét trách nhiệm ông Trần Văn Vĩnh cùng các tập thể, cá nhân có liên quan, nhất là đối với cán bộ, đảng viên chủ trì tại thời điểm để xảy ra khuyết điểm, sai phạm trong tổ chức, thực hiện dự án; tiến hành rà soát, thu hồi diện tích rừng phòng hộ giao khoán không đúng quy định hoặc chưa giao khoán để có phương án chuyển giao cho người dân nằm trong diện được hưởng lợi từ dự án theo Quyết định sô 1394, ngày 21-4-2005 của UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế. (Sài Gòn Giải Phóng 14/11) đầu trang(
Xã Khả Cửu (huyện Thanh Sơn) từng là xã nằm trong chương trình 135 của huyện Thanh Sơn. Tuy nhiên những năm gần đây, nhờ biết phát huy thế mạnh đồi rừng và sự đầu tư hỗ trợ từ các chương trình mục tiêu quốc gia nên trong năm 2014, Khả Cửu là địa phương đầu tiên của huyện Thanh Sơn đã thoát nghèo.
Đầu những năm 90, khi có chủ trương giao đất, giao rừng, ông Hà Văn Luận nhận ngay 18 ha đất rừng để bắt tay vào phát triển kinh tế. Khởi nghiệp từ 2 bàn tay trắng, không có vốn, chỉ có sức lao động, vợ chồng ông ngày đêm bới đất lật cỏ, quốc hố để trồng bồ đề, mỡ, keo.
Đến nay, công sức lao động của vợ chồng ông đã được đền đáp, hơn 18 ha đồi rừng đã được vợ chồng ông phủ xanh bằng các cây bồ đề, mỡ và cây sơn lấy nhựa. Hiện tại với 2.000 gốc sơn, 5 sào ao thả cá, trung bình mỗi tháng đem lại cho gia đình ông nguồn thu khoảng 20 triệu đồng, chưa kể nguồn thu từ khai thác cây.
Ông Luận chia sẻ: “Trước kia tôi đi lính về là một người nông dân nghèo, từ khi được cấp đất, gia đình tôi cũng tự lao động, bản thân tự lo tự làm. Không có tiền thuê mướn, không có vốn, tôi bắt đầu phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn thịt để lấy vốn phát triển kinh tế đồi rừng. Đến giờ gia đình tôi đã có công ăn việc làm, có thu nhập”.
Xã Khả Cửu có tổng diện tích tự nhiên trên 4.013 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp trên 2.900 ha, Khả Cửu từng được biết đến là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống kinh tế của người dân phụ thuộc chủ yếu vào trồng trọt, chăn nuôi.
Xác định kinh tế đồi rừng là một thế mạnh, làm “đòn bẩy” để phát triển kinh tế nên trong những năm qua, xã Khả Cửu đã xây dựng đề án, có nhiều chủ trương về phát triển kinh tế trang trại. Sau khi chủ trương của chính quyền, địa phương được tuyên truyền sâu rộng, đi vào lòng dân đã tạo điều kiện tối đa để người dân tiếp cận cũng như bắt tay vào phát triển kinh tế vườn rừng, vườn đồi.
Kết hợp công tác quản lý bảo vệ với trồng mới nhiều diện tích rừng kinh tế; xây dựng các mô hình kinh tế đưa nhiều giống cây, con mới vào sản xuất. Đến nay, Khả Cửu đã có nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Keo, mỡ, bồ đề, sơn cho thu nhập cao. Ngoài ra, hiện nay toàn xã cũng đã xây dựng được các mô hình trang trại kinh tế đồi rừng có thu nhập cao.
Nhờ kinh tế đồi rừng ngày càng phát triển nên kinh tế của xã có những bước tiến rõ rệt, đời sống của người dân dần được cải thiện, nhiều hộ gia đình đã thoát được nghèo.
Ông Hà Văn Thương - Chủ tịch Hội Nông dân xã Khả Cửu cho biết: “Trong những năm qua, Hội Nông dân xã đã tập trung chỉ đạo cho cán bộ, hội viên nông dân và chọn các hộ tiêu biểu để đi tham quan các mô hình kinh tế. Đến năm 2008, 2009 một số hộ đã mạnh dạn đưa các mô hình này vào thực hiện.
Được sự hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt hỗ trợ từ chương trình 135 về cây, con giống, kỹ thuật nên đã xuất hiện nhiều gương điển hình tiên tiến, qua đó tạo phong trào sâu rộng trong toàn xã, nhiều hội viên từ hộ nghèo đã trở thành hộ có thu nhập khá. Hiện nay, tỷ lệ hội viên nghèo của xã chỉ còn khoảng 25%.
Đây là những kết quả đáng mừng và trong thời gian tới chúng tôi tiếp tục khuyến khích vận động hội viên phát triển kinh tế đồi rừng; tạo mọi điều kiện cho các hội viên được tiếp cận với các chương trình, dự án, các nguồn vốn giúp cho hội viên có cơ hội vươn lên làm giàu”.
Bằng những giải pháp và cách làm phù hợp cùng với vận dụng có hiệu quả tiềm năng thế mạnh sẵn có, tin tưởng rằng, người dân Khả Cửu sẽ tiếp tục làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. (Phutho.gov.vn 14/11) đầu trang(
Trao đổi với PV chiều 14/11, ông Trần Trọng Thắng, Chánh Thanh tra Sở GTVT Nghệ An cho biết, cơ quan chức năng địa phương đã yêu cầu chủ đoàn xe chở gỗ siêu trọng phải hạ tải, đồng thời lập biên bản xử phạt hành chính về lỗi chở quá tải.
“Việc hạ tải bắt đầu từ trưa 14/11 và có thể phải mất vài ngày do khối lượng gỗ lớn”, ông Thắng cho biết.
Theo ông Thắng, kết quả cân tải trọng cho thấy, đoàn xe đều vượt mức trọng tải cho phép từ 50 – 200%, có xe chở đến hơn 50 tấn gỗ. Với lỗi chở quá tải này, mỗi xe bị phạt 12 triệu đồng (gồm cả chủ xe và tài xế). Tổng cộng, đoàn 21 chiếc xe bị xử phạt hành chính số tiền 252 triệu đồng.
Trước đó, ngày 12/11, thanh tra Sở GTVT Nghệ An phát hiện đoàn xe tải chở gỗ qua cửa khẩu Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn) lưu thông trên QL7 với những biểu hiện quá tải trọng.
Lực lượng thanh tra Sở đã phối hợp cùng Đội CSGT 1-7, kiểm lâm địa phương lên phương án đón lõng, bắt giữ đoàn xe. Tuy nhiên, sau khi vào sâu trong địa phận Nghệ An, các tài xế đã tách thành từng tốp nhỏ rồi cố tình rẽ vào các đường ngang để né tránh lực lượng làm nhiệm vụ.
Đến sáng 13/11, sau hàng tiếng đồng hồ mật phục, theo dõi, lực lượng chức năng đã bắt gọn đoàn xe 21 chiếc tại địa bàn huyện Anh Sơn, sau đó áp tải về huyện Đô Lương để cân tải trọng và hạ tải.
Được biết, số gỗ đoàn xe này chở từ Lào về Việt Nam là của một doanh nghiệp có trụ sở tại Nghệ An. (VietnamNet 14/11) đầu trang(
Ngành gỗ Việt Nam bắt buộc phải có những thay đổi trong khâu xuất xứ nguyên liệu nếu muốn được hưởng trọn vẹn ưu đãi thuế từ Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng năm 2014 XK gỗ đạt 4,41 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2013. Dự kiến năm 2014, kim ngạch XK ngành gỗ sẽ chạm đích khoảng 6,5 tỷ USD, kim ngạch NK gỗ nguyên liệu sẽ khoảng 2 tỷ USD.
Như vậy, ngành gỗ Việt Nam đang có tỉ lệ kim ngạch XK trên NK là 3:1, nghĩa là xuất 3 - nhập 1. Nguyên nhân của thực trạng này là do hiện cả nước chỉ có 144.000 ha rừng đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của thế giới, trong đó có 50.800 ha rừng tự nhiên đạt chứng chỉ trên về nguồn gốc gỗ. Tuy đã có tăng trưởng so với trước nhưng với những đòi hỏi ngày càng cao về nguồn gốc, xuất xứ thì diện tích trên vẫn được xem là khá khiêm tốn.
Ông Phạm Minh Đức - đại điện Nhóm tác giả của Báo cáo “Công nghiệp nhẹ tại Việt Nam: Tạo việc làm và Triển vọng trong một nền kinh tế thu nhập trung bình” của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết thêm, đối với ngành đồ gỗ, kể cả quy mô lớn hay nhỏ, nguyên liệu đầu vào và trình độ tay nghề của lao động là yếu tố then chốt trong sản xuất và kinh doanh.
Trong khi đó, do nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ XK chủ yếu là NK từ Lào, Campuchia và Indonesia, châu Phi giá thành tăng mạnh mà nguyên liệu đầu vào cung cấp trong nước thiếu nên giá trị gia tăng của sản phẩm XK thấp. Điều này khiến cho DN trong ngành luôn ở trong tình trạng sản xuất hiệu quả không cao, lợi nhuận thấp; từ đó, lương trả cho người lao động không hấp dẫn, khiến lao động bỏ nghề và các DN sản xuất thường xuyên thiếu lao động.
Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hằng - Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cảnh báo, theo quy định của TPP về thành phần giá trị khu vực, một sản phẩm cần có tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 55% tổng giá trị. Điều này đồng nghĩa với việc nhà sản xuất không được NK nhiều hơn 45% nguyên vật liệu từ các quốc gia không phải là thành viên TPP để chế tạo, sản xuất, bao gồm cả chi phí chế biến. Đây sẽ là những quy định đáng lo ngại với lĩnh vực sản xuất gỗ Việt Nam do khó đáp ứng được yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa.
Nếu cứ kéo dài tình trạng này, kim ngạch XK gỗ trong tương lai sẽ có nguy cơ giảm mạnh khi giá NK gỗ và chi phí vận chuyển đều tăng. Các DN chế biến gỗ trong nước cũng sẽ yếu dần đi do không thể cạnh tranh nổi với những nước trong khu vực có khả năng tự cung ứng nguyên liệu như Trung Quốc, Malaysia, Indonesia...
Để đảm bảo nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam, Bộ Công Thương khuyến nghị cần sớm có chính sách phát triển nguồn nguyên liệu trong nước làm căn cứ cho các DN có định hướng ổn định trong đầu tư phát triển, sản xuất. Theo đó, quy hoạch xây dựng các vùng nguyên liệu gỗ tập trung ở vùng Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ để cung cấp gỗ nhỏ cho các xưởng, nhà máy trong khu vực và cung cấp gỗ lớn cho các khu công nghiệp chế biến gỗ tập trung.
Đồng thời, khuyến khích chính sách cho vay tư nhân để đầu tư trồng cây gỗ lớn với thời gian vay và trả nợ lãi vay phù hợp với thời gian sinh trưởng của cây. Bởi nguồn nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ, đồ gỗ mỹ nghệ đa số sử dụng cây gỗ lớn có thời gian sinh trưởng lâu (trên 20 năm), thời gian tiêu thụ sản phẩm lại chính là thời điểm khai thác cây.
Đại diện một DN chế biến XK gỗ lớn ở Bình Dương cho biết, để đứng vững trước áp lực cạnh tranh ngày càng lớn DN gỗ phải chủ động tìm cho được nguồn nguyên liệu gỗ, tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu gỗ tạp sẵn có trong nước như gỗ xoài, mít, điều, cao su… Ngoài ra phải sử dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất như sấy, sơ chế, sơn để tăng độ bền của gỗ với giá thành phù hợp.
Bên cạnh đó, ngành gỗ cũng tập trung sử dụng các sản phẩm từ ván nhân tạo (MDF) và gỗ từ rừng trồng, phát triển các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như đồ gỗ nội thất, đồ gỗ ngoài trời và đồ mộc mỹ nghệ nhằm tăng giá trị XK cũng như giảm việc sử dụng nguyên liệu gỗ trong chế biến XK.
Hiện Tổng cục Lâm nghiệp đang xây dựng hệ thống kiểm soát gỗ hợp pháp để đáp ứng đối với chính sách thương mại quốc tế như Luật LACEY của Mỹ, FLEGT của EU về nguồn gốc và xuất xứ gỗ hợp pháp. Đây cũng là cơ hội cho đồ gỗ Việt Nam thâm nhập mạnh hơn nữa vào thị trường thế giới.
Song song đó Tổng cục sẽ tham mưu cho Chính phủ điều chỉnh cơ cấu rừng trồng cho phù hợp, ổn định khoảng 3,8 triệu ha rừng trồng sản xuất vào năm 2020, nâng cao chất lượng rừng để đạt sản lượng gỗ thương phẩm bằng 80% trữ lượng, trong đó có 40% là gỗ lớn. (Hải Quan 16/11) đầu trang(
Khi gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm và đắt đỏ, gỗ công nghiệp đã dần khẳng định chỗ đứng trong ngành gỗ nội thất với những tính năng đa dạng, giá thành hợp lý và mẫu mã đẹp. Nhưng theo cảnh báo của các chuyên gia, những sản phẩm gỗ công nghiệp tiềm ẩn không ít nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người do tồn dư hóa chất độc hại.
Chị Nguyễn Thanh Hằng (Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội) vừa làm toàn bộ nội thất gỗ cho căn hộ chung cư, từ tủ bếp, tủ giầy, kệ tivi, giá sách, giường tủ, bàn ghế... Tất cả đều bằng gỗ công nghiệp chất lượng cao với tính năng chống ẩm, chịu được nhiệt độ cao, chống nấm mốc, chịu nước. Mặc dù rất hài lòng với những đồ nội thất đẹp, hiện đại và sang trọng, nhưng khi dọn về ở, cả nhà chị đều kêu khó chịu vì mùi hắc của gỗ, nhất là mỗi khi mở hộc tủ, ngăn kéo bàn...
Đem thắc mắc của mình hỏi nhà cung cấp thì chỉ được giải thích đó là mùi của phụ gia, của các thành phần tạo nên gỗ công nghiệp, chỉ một thời gian sẽ tự bay hết. Do đó, cả nhà chị Hằng chỉ còn biết tiếp tục ngửi mùi gỗ hắc nồng, chờ ngày nó bay hết.
KS Nguyễn Phan Son, Công ty Nội thất Hoàng Gia cho biết, gỗ công nghiệp là cách gọi chung của nhiều loại gỗ nhân tạo, được sản xuất công nghiệp, khác với gỗ khai thác tự nhiên. Gỗ công nghiệp được sử dụng phổ biến hiện nay gồm các loại gỗ như MDF (Medium Density Fiberboard) là ván ép bột sợi có tỷ trọng trung bình và độ nén chặt cao; HDF (High Density Flooring) là bột gỗ đã qua xử lý và nén, ép với keo đặc biệt dưới áp lực cao để tạo thành tâm; MFC (Melamine Face Chipboard) là ván gỗ dăm phủ melamine, được làm từ các cây gỗ rừng trồng băm thành dăm gỗ và cũng kết hợp với keo, ép tạo độ dày... Ngoài ra, còn một số loại ván ép gỗ lạng, ván ép bột sợi hay ván ép dăm ít phổ biến hơn.
Theo KS Nguyễn Phan Sơn, thành phần cơ bản của gỗ công nghiệp là bột, sợi hay dăm gỗ (tùy loại), chất kết dính, parafin wax, chất bảo vệ gỗ (chất chống mối mọt, chống mốc, chống ẩm...), bột độn vô cơ; sau đó được nén, ép thành tấm và kết hợp thêm các vật liệu phủ bề mặt như nhựa melamine, laminnate, ván lạng veneer hoặc sơn...
Thành phần gây mùi khó chịu của gỗ công nghiệp chủ yếu là từ keo dán, chất kết dính các thành phần vật liệu, và một số loại chất phụ gia. Trong đó đặc biệt là thành phần formaldehyde độc hại có lượng thải ra được tính với tỷ lệ phần triệu (ppm).
Do formaldehyde gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến người sử dụng khi tiếp xúc lâu dài, nên theo quy định của nhiều nước phát triển thì lượng thải formaldehyde phải rất thấp, thậm chí là hoàn toàn không có. Tuy nhiên, các sản phẩm gỗ công nghiệp ở nước ta dường như vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ về hàm lượng chất này, nhất là người tiêu dùng cũng chưa có ý thức lựa chọn sản phẩm gỗ công nghiệp: An toàn, mà chỉ chú trọng đến mẫu mã, màu sắc, giá thành...
Theo tài liệu của Phòng Kiểm soát Độc chất, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), nhiều bằng chứng cho thấy formaldehyde là chất có khả năng gây ung thư. Ở nồng độ trên 0,1mg/kg không khí, việc hít thở phải fomaldehyde có thể gây ra các kích thích mắt và màng nhầy, làm chảy nước mắt, đau đầu, gây cảm giác bỏng rát trong mắt, cổ họng, gây buồn nôn, khó thở. Các triệu chứng khác dễ gặp ở những người mẫn cảm với hóa chất này có thể là kích thích họng, mắt, mũi, thở khò khè, ho, mệt, phát ban trên da, và một số biểu hiện dị ứng nghiêm trọng.
Các chuyên gia khuyến cáo, nếu thấy có mùi hắc nồng, rất khó chịu trong sử dụng các sản phẩm gỗ công nghiệp, nhất là khi mới mua về thì đó là do lượng tồn dư của formaldehyde. Mặc dù tồn dư của chất này trong gỗ công nghiệp là thấp, ít ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ con người, nhưng nếu tiếp xúc sẽ không có lợi cho sức khoẻ.
Vì thế, ngay từ khi mua về, ngoài việc chỉ lau sạch bụi bẩn bám trên sản phẩm gỗ, người sử dụng nên dùng khăn ẩm lau nhiều lần cho thật sạch cả bên ngoài và bên trong các ngăn, các hộc của đồ nội thất gỗ. Trong những ngày đầu sử dụng, cũng cần mở cửa thật thoáng để mùi khí độc bay thoát ra ngoài. (Khoa Học & Đời Sống 14/11, tr4) đầu trang(
Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Thạch Thành vừa tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm thành lập và đón nhận bằng công nhận cơ quan văn hóa.
Tiền thân của BQL rừng phòng hộ Thạch Thành là Lâm trường Thạch Thành thành lập ngày 10-2-1964. Năm 1992, được đổi tên thành Doanh nghiệp Lâm trường Thạch Thành; năm 2006 chuyển đổi thành BQL rừng phòng hộ Thạch Thành.
BQL rừng phòng hộ Thạch Thành có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) trên địa bàn 10 xã, thị trấn các huyện Thạch Thành, Hà Trung, Vĩnh Lộc; trong đó có hơn 2.000 ha rừng phòng hộ, gần 2.000 ha rừng và đất rừng sản xuất.
Từ năm 1992 đến nay, BQL đã tổ chức cho nhân dân các xã thực hiện các dự án lâm nghiệp, như: Trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất; chăm sóc rừng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng... đồng thời, hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng cây giống, tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trồng mới rừng.
Vì vậy, độ che phủ của rừng thuộc BQL đến nay đạt 55%. Đặc biệt, từ năm 2006 đến nay, BQL đã đưa vào trồng khảo nghiệm và nhân rộng trên 34 ha cây mắc ca mang lại hiệu quả kinh tế cao... Công tác nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất được quan tâm, nhiều mô hình nghiên cứu đã có kết quả tác động tích cực đến phát triển nghề rừng.
Với những thành tích đã đạt được, BQL rừng phòng hộ Thạch Thành được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng bằng khen. (Báo Thanh Hóa 14/11) đầu trang(
Sự thực thì chẳng có gì và chẳng thể nào che cho biển cả. Có điều vùng đất Quảng Ninh - Vịnh Hạ Long, danh thắng của Việt Nam và thế giới trở nên quyến rũ với con người vì được bao bọc bởi vô số hang động và cây xanh.
Trên dải đất vùng biển xanh Quảng Ninh – dài tới 250km, màu xanh cũng ngày càng vươn trờm lên sóng bởi vô số những cây bần, cây sú… dũng mãnh. Cảm giác thư thái giữa mông lung trời mây, sóng nước và phố xá thật khó tả. Khi qua cầu Bãi Cháy nối liền đôi bờ, trung tâm TP.Hạ Long càng trở nên huyền hoặc, dù chân đang đi trên “đất vàng, đất bạc”, nào Cao Xanh, Hông Hà, Tuần Châu…
Những con sóng bạc đầu dịu dàng xoãi lượn quanh eo núi Hạ Long xanh ngắt trời thu. Không có đất, có cây chắc gì sóng dịu dàng đến vậy. Bờ biển Quảng Ninh rất dài và trên dọc dài ấy có vô số đoạn chia cắt, xen kẽ với các cửa sông, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các cây ngập mặn nói riêng, thực vật ngập nước nói chung.
Rừng ngập mặn (RNM) Quảng Ninh, kéo dài từ cửa sông Bạch Đằng (TX.Quảng Yên) đến Trà Cổ ( TX.Móng Cái), với nhiều giống, loài cây ngập nước phong phú như vẹt, dù, mắm, sú, trang. Này xưa kia, rừng ngập mặn ở Quảng Ninh rất rộng, những 40.000ha. Thời gian, sự biến đổi khí hậu và bao cuộc mưu sinh lẫn những hủy hoại của chiến tranh đã làm hạn hẹp dần những không gian xanh.
Và, nhiều năm qua, người Quảng Ninh đã lại dần dần khôi phục và phát triển không gian xanh quý giá cho biển, cho danh thắng và cho chính cái nghiệp mưu sinh của mình. Tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, kế hoạch dài hơi cho công cuộc lấn biển vĩ đại ấy, mà mục tiêu từ năm 2006-2015 là bảo vệ 17.632 ha rừng ngập mặn hiện có; khoanh nuôi và trồng bổ sung 2.435ha; trồng rừng ngập mặn với diện tích 3.411ha; tổ chức sản xuất lâm ngư kết hợp trên diện tích 400ha.
Quảng Ninh đã và đang thực hiện các giải pháp về đổi mới công tác quản lý đối với rừng ngập mặn phòng hộ ven biển; tăng cường sự phối hợp giữa các ban ngành hữu quan; giải pháp về khoa học công nghệ trong việc tuyển chọn, xây dựng mạng lưới cung ứng giống, chuyển giao các quy trình công nghệ, kỹ thuật trồng rừng ngập mặn; các giải pháp cơ chế, chính sách về đất đai, đầu tư, hưởng lợi trong việc bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn… Diện tích giao khoán cho mỗi hộ gia đình từ 2 – 10 ha, thời hạn 50 năm, ưu tiên giao khoán đất rừng ngập mặn cho ngiười dân địa phương.
Chung sức vơi Quảng Ninh, T.Ư Hội CTĐ Việt Nam và khá nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO, FFI, JICA… cũng tích cực hỗ trợ, giúp đỡ Quảng Ninh triển khai các dự án trồng rừng ngập mặn. Từ năm 1997, Quảng Ninh là 1 trong 10 tỉnh, TP trong cả nước triển khai trồng rừng ngập mặn theo hợp tác giưa Hội CTĐ Việt Nam và Hội CTĐ Nhật Bản. Các năm trước đây, chương trình này đã hoàn thành với 1.670ha rừng ngập mặn tại 22 xã, thuộc 8 huyện, thị xã, TP có diện tích đất, bãi bồi ven sông, biển.
Với vịnh Hạ Long, rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở khu vực đảo Tuần Châu, Cửa Lục, đảo Đầu Gỗ, Chân Voi, vụng Cái Lân, khu vực giáp ranh Cát Bà và rải rác ven bờ. Ở vịnh Hạ Long các nhà khoa học đã thống kê được rừng ngập mặn là nơi sinh trưởng của 19 loài thực vật ngập mặn, gần 500 loài sinh vật, trong đó có 306 loài động vật đáy, 90 loài cá biển, 37 loài chim, 16 loài rong biển, 12 loài động vật có vú, 5 loài bò sát, 4 loài cỏ biển.
Người dân hưởng lợi rất nhiều thứ từ những cánh rừng này. Nào là tôm cá, ngao, cua sinh sôi, cho thu nhập thường ngày. Nào là chim chóc quần tụ. Khí hậu thêm trong lành. Tất nhiên, cái lớn lao nhất, chính là đã chống xói lở đất đai, bảo vệ canh tác nông nghiệp và ngăn ngừa bớt sóng dữ. Cuộc sống người vùng ven vì thế yên bình hơn mặc dù vẫn không ngớt những cơn cuồng phong mà thiên nhiên hay thất thường gây hấn.
Năm 2014, Hội CTĐ Quảng Ninh tổ chức các chuyến đi kiểm tra, đánh giá, cập nhật dữ liệu về rừng ngập mặn và công tác bảo vệ rừng tại các xã, phường thực hiện dự án (Hải Yên, Hải Đông của TP.Móng Cái; Yên Thanh của TP.Uông Bí; Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Phong của huyện Hải Hà; Hoàng Tân, Hà An của TX.Quảng Yên). Rừng ở các địa phương phát triển tương đối tốt, tỉ lệ cây sống đạt cao. Như TP.Uông Bí, diện tích phát triển nhanh, “nở” thêm 20ha
Các địa phương triển khai trồng mới khá tích cực và dường như mỗi ngày ra quân trồng rừng đều là ngày hội. Dịp 21/8 vừa qua, hàng trăm đoàn viên, thanh niên tình nguyện đã hăng hái, nhiệt tình trồng bần, ở phường Hà An (TX.Quảng Yên). Như vậy, đến nay, toàn thị xã có trên 2.670ha rừng ngập mặn. Rừng này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ đê sông biển và môi trường sinh thái góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ các vùng nuôi trồng thủy sản.
Trong 12/19 phường, xã có rừng ngập mặn, thì phường Hà An đứng đầu về diện tích được trồng, với gần 400ha. Những năm gần đây cấp ủy, chính quyền phường đã tích cực vận động nhân dân trồng mới được gần 15ha rừng ngập mặn tuy nhiên diện tích bãi triều chưa được phủ xanh, đất trống ở phường vẫn còn nhiều với trên 100ha đang cần sự trợ giúp để tiếp tục phủ xanh.
Ở Quảng Ninh, các tình nguyện viên được tập huấn kỹ năng, các hoạt động ứng phó với thiên tai, thảm hoạ, cách sơ cấp cứu ban đầu, cứu hộ, cứu nạn… Hiện có 4 đội quản lý và bảo vệ rừng hoạt động tốt, thường xuyên xây dựng kế hoạch đi kiểm tra, tuyên truyền bảo vệ rừng ngâp mặn.
Hội CTĐ tỉnh cũng tổ chức tập huấn quản lý rủi ro, thảm họa, biến đổi khí hậu cho cán bộ chủ chốt và hội viên CTĐ ở một số xã, phường như Đầm Hà (huyện Đầm Hà), Hà An (TX.Quảng Yên). Thông qua đó, chính quyền địa phương nhận thức rõ hơn vai trò, vị trí của Hội CTĐ các cấp trong các hoạt động, đặc biệt là hoạt động cứu trợ xã hội và phòng ngừa, ứng phó thảm hoạ, thu hút đông đảo cán bộ, hội viên CTĐ tham gia.
Theo ông Trần Thái Tuấn, Phó Chủ tịch Hội CTĐ Quảng Ninh: “Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường; tạo nguồn lợi thủy hải sản cho người dân vùng ven biển. Thực tế cho thấy, thông qua các hoạt động của dự án, chính quyền và người dân vùng dự án đã hiểu được vai trò to lớn của rừng ngập mặn. Từ chỗ chỉ biết khai thác lợi ích từ rừng ngập mặn đã chuyển sang hoạt động trồng, bảo vệ, khai thác đúng mức nguồn lợi thủy sản và có kỹ năng tự bảo vệ, ứng phó khi có thiên tai xảy ra”.
Rừng ngập mặn đã làm cho biển Hạ Long như hiền hòa hơn, sóng nước Hạ long như xanh hơn. Và bài toán du lịch của Quảng Ninh giờ đây có thêm nghiệm số để níu chân du khách gần xa. (Nhân Đạo & Đời Sống 14/11) đầu trang(
Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) đối với đất lâm nghiệp ở huyện Sơn Hà so với các địa phương khác có kết quả vượt trội. Song, vì phương thức triển khai thực hiện chưa “tận gốc tận rễ” nên hiện tại còn nhiều hộ dân đã được cấp giấy phải mòn mỏi chờ được giao đất.
Tính đến nay, toàn huyện Sơn Hà đã cấp hơn 27.000 GCN QSDĐ lâm nghiệp cho người dân. Sơn Hà là một trong số ít địa phương đã xây dựng bản đồ địa chính chính quy đối với loại đất này. Đó là thành quả khẳng định nỗ lực trong công tác quản lý nhà nước đối với đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, theo báo cáo của UBND huyện Sơn Hà, trong số GCN QSDĐ lâm nghiệp đã cấp có tới 203 GCN dân nhận đã nhiều năm nay, nhưng đất thì vẫn chưa giao cho dân sử dụng.
Trao đổi vấn đề này, ông Trần Tấn Tài – Phó Phòng TN&MT kiêm Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (VP ĐKQSDĐ) huyện Sơn Hà lý giải: Thực hiện chủ trương của huyện về việc thu hồi bớt một số diện tích đất của hộ dân có diện tích đất sử dụng quá lớn để cân đối sang cho hộ có ít hoặc chưa có đất lâm nghiệp, Phòng TN & MT phối hợp với xã đo đạc, cấp bổ sung diện tích đất rừng cho một số hộ dân.
Tuy nhiên, khi được cấp GCN QSDĐ rồi, người chủ sử dụng đất không mạnh dạn canh tác mà vẫn để cho chủ đất trước đó trồng cây cối, thu lợi trên chính mảnh đất mà mình đứng tên. Lâu ngày họ bị mất đi quyền sử dụng, mặc dù họ được cấp GCN QSDĐ hẳn hoi.
Tuy nhiên, khi trao đổi với những người được cấp GCN QSDĐ này, họ đều cho biết chỉ được xã mời đến cấp giấy, chứ chưa hề được cán bộ xã, huyện đưa ra thực địa cắm mốc, bàn giao diện tích đất đã được cấp.
“Mình chỉ thấy cán bộ đưa cho cái “sổ đỏ” thì mình cầm về cất thôi. Còn đất thì mình chẳng biết nó nằm ở đâu, dài, rộng thế nào!” – ông Đinh Văn Ây, xã Sơn Cao bộc bạch. Ông Ây chỉ biết là mình được cấp hơn 1.000m2 đất trồng rừng ở trên núi Hoăn Rà Lừng nhưng trước khi cấp cho ông, người khác trồng keo xanh um trên đất đó. “Chẳng biết đất của mình chính xác nằm ở chỗ nào để mà bảo họ trả cho mình. Mà nếu có bảo chắc họ cũng không đồng ý đâu. Giờ có cái “sổ đỏ” mà chẳng có đất để trồng. Keo con ươm nay lên cao vút rồi cũng đành để đó thôi!” – ông Ây nói.
Chủ trương của huyện Sơn Hà về cân đối quỹ đất lâm nghiệp từ người quá nhiều sang người có ít hoặc chưa có đảm bảo hạn mức sử dụng theo quy định là đúng. Về thực tế việc nỗ lực đo đạc cấp GCN cho người dân để đảm bảo quyền sử dụng là cần thiết. Song ở đây quy trình triển khai thực hiện giao đất, cấp giấy chứng nhận chưa làm tới nơi tới chốn, dẫn đến để xảy ra tình trạng người dân “có giấy chứng nhận mà không có đất”.
Ông Trần Tấn Tài cho biết thêm: “Trước khi thu hồi bớt một phần diện tích đất của hộ có quá nhiều đất lâm nghiệp để cấp cho hộ ít đất hoặc chưa có đất, xã và huyện đã tổ chức họp các hộ dân. Sau đó đo đạc thực tế, xác định thửa đất, lập phương án cân đối; thông qua phương án này trước dân. Dân đồng tình mới thực hiện”.
Tuy nhiên, chiếu theo quy định thì vẫn chưa đủ vì yếu tố cơ bản, quyết định, cơ sở pháp lý cần thiết cho việc triển khai chủ trương đúng đắn này vẫn chưa có. Ngay cả việc ra quyết định thu hồi bớt một phần diện tích đất của hộ có nhiều đất cũng không có. Đã vậy, khi cấp GCN QSDĐ cho người dân, chính quyền và ngành chức năng huyện Sơn Hà cũng không tổ chức giao đất trên thực địa để người dân biết mà quản lý, sử dụng.
Để giải quyết tồn tại này, ngày 7.3.2014 UBND huyện Sơn Hà đã ban hành Kế hoạch số 15/KH-UBND; trong đó yêu cầu UBND xã tổ chức kiểm tra, rà soát kết quả cấp GCN QSDĐ đất lâm nghiệp; phối hợp với phòng chuyên môn xác định rõ nguyên nhân vì sao có giấy mà chưa có đất để tham mưu cho UBND huyện xử lý, điều chỉnh.
Đồng thời, đối với khoảng 150 GCN QSDĐ lâm nghiệp có thông tin sai sót khác, như sai tên, thửa đất, số chứng minh nhân dân… phải lập thủ tục điều chỉnh, cấp đổi cho người dân, tạo điều kiện để dân thực hiện quyền của chủ sử dụng đất. Tuy nhiên, đến nay đã qua nửa năm, việc triển khai chỉ đạo này mới tới khâu… thống kê số liệu. Tuy nhiên, đó chỉ là con số, không có các phân tích cụ thể từng trường hợp kèm theo.
“Phòng sẽ tích cực phối hợp với các địa phương để rà soát, phân loại từng trường hợp. Hiện nay huyện đã xây dựng được bản đồ địa chính chính quy đối với đất lâm nghiệp nên việc giải quyết giao đất cho dân theo đúng diện tích ghi trong giấy chứng nhận cũng thuận lợi hơn”, ông Trần Tấn Tài cho biết. Tuy nhiên, bao giờ thì giải quyết dứt điểm những vướng mắc này thì Phòng TN&MT huyện Sơn Hà chưa dám khẳng định.
Ngoài ra, mới đây huyện Sơn Hà đã phải ra quyết định thu hồi 28 GCN QSDĐ lâm nghiệp của người dân xã Sơn Thượng vì cấp chồng lấn, cấp trùng diện tích. Đó là việc sửa sai, nhưng điều này cũng phán ánh một thực tế là công tác quản lý đất lâm nghiệp của địa phương vẫn còn bất cập.
Theo thống kê, huyện Sơn Hà hiện có 70% nội dung khiếu nại, tố cáo có liên quan đến đất đai, trong đó có không ít trường hợp phát sinh khiếu nại từ những sai sót của chính quyền trong cấp giấy tờ đất lâm nghiệp.
Vì thế, việc giải quyết rốt ráo, tận gốc rễ trong cấp GCN QSDĐ mà chưa giao đất cho 203 trường hợp nêu trên là yêu cầu cấp thiết. Một mặt vừa giải quyết quyền lợi chính đáng của dân, mặt khác còn hạn chế khiếu nại tố cáo, củng cố niềm tin của nhân đối với chính quyền. (Báo Quảng Ngãi 15/11) đầu trang(
Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới các nông lâm trường, từ năm 2006, Lâm trường Lang Chánh được chuyển thành Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Lang Chánh (gọi tắt là BQL) với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất, kinh doanh trên diện tích 8.850,08 ha rừng và đất lâm nghiệp (trong đó có 3.936,838 ha rừng sản xuất, còn lại là rừng phòng hộ).
Việc chuyển từ một doanh nghiệp Nhà nước sang một đơn vị sự nghiệp có thu đã tạo điều kiện thuận lợi mở ra hướng phát triển mới về lâm nghiệp tại BQL. Điểm nhấn là mô hình tổ chức, quản lý, kinh doanh rừng bền vững đang được triển khai hiệu quả tại đơn vị.
Có thể xem mô hình phát triển lâm nghiệp bền vững tại BQL là một quy trình khép kín, liên tiếp từ khâu ươm giống đến trồng rừng, chăm sóc, khai thác, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm từ rừng trồng sản xuất. Quy trình này tạo được sự chủ động trong suốt quá trình sản xuất của BQL vì không bị phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như nguồn giống cây trồng, nguồn gỗ đầu vào cho khai thác, chế biến. Trong khi đó, vẫn giữ được rừng tự nhiên, còn rừng sản xuất lại được bảo vệ tốt hơn khi có sự tham gia của các chủ rừng thông qua hình thức giao khoán đất rừng cho người dân địa phương.
Để khai thác hiệu quả các tư liệu sản xuất, BQL đã chủ động áp dụng khoa học - kỹ thuật vào trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh, có sử dụng phân bón lót và bón phân cho cây trồng trong thời gian chăm sóc nên gần 1.000 ha diện tích trồng mới từ năm 2007 đến nay (chủ yếu là cây keo tai tượng, lát, luồng) đều sinh trưởng, phát triển tốt và bắt đầu cho khai thác với năng suất trung bình đạt 156m3 gỗ/ha.
Để nâng cao hơn nữa về chất lượng và giá trị trên một diện tích rừng trồng, đơn vị đã đề xuất và được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng ý cho chuyển đổi từ mô hình kinh doanh rừng gỗ nguyên liệu sang hướng kinh doanh rừng trồng gỗ lớn đối với cây keo tai tượng.
Mô hình bắt đầu triển khai từ năm 2012 với diện tích 10 ha tập trung tại xã Trí Nang, theo hình thức tỉa thưa, từ 1.300 cây để lại khoảng 730 cây/ha. Tham gia vào mô hình này, anh Nguyễn Văn Long (cán bộ của BQL) đã chuyển đổi 5 ha rừng keo tai tượng sắp cho khai thác sang kinh doanh rừng gỗ lớn, cho biết: Sau 2 năm theo dõi thì chất lượng rừng đã thay đổi căn bản, năng suất rừng tăng lên từ 20,2m3 gỗ lên gần 30m3 gỗ/ha/năm.
Theo giá thị trường trên địa bàn tỉnh hiện nay, gỗ nguyên liệu loại có đường kính từ 12 đến dưới 20cm có giá bán khoảng 1 triệu đồng/m3. Nếu đạt đường kính từ 20 đến 25cm sẽ có giá khoảng 1,8 triệu đồng/m3 và từ 25cm trở lên sẽ có giá khoảng 2,8 triệu đồng/m3. Như vậy, theo phương pháp tính hiện nay, đối với mô hình gỗ lớn với chu kỳ kéo dài khoảng 12 năm thì sản lượng có thể đạt 400m3 gỗ/ha (trong đó, gỗ lớn chiếm tới 60%).
Theo đó, giá trị một ha rừng chuyển đổi của anh Long có thể lên tới hàng tỷ đồng sau 5 đến 6 năm tới. Tuy nhiên, mô hình chuyển đổi rừng nguyên liệu sang rừng gỗ lớn cũng gặp phải một số trở ngại do cây keo tai tượng dễ bị đổ khi gặp lốc, bão, quá trình chăm sóc lại kéo dài nên chủ rừng khó huy động vốn trong khi Nhà nước lại chưa có chính sách hỗ trợ cho việc triển khai mô hình này.
Để bao tiêu toàn bộ sản phẩm từ diện tích rừng giao khoán cho các hộ dân và gia tăng giá trị trên đơn vị sản phẩm rừng trồng, BQL đã đầu tư lắp đặt dây chuyền chế biến gỗ với công suất 30.000 m3/năm. Nguyên liệu đầu vào là sản phẩm từ rừng trồng được khai thác theo kế hoạch sản xuất hàng năm của đơn vị.
Các sản phẩm sau chế biến nhằm phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Trung bình mỗi năm, BQL khai thác 189 ha rừng trồng sản xuất phục vụ cho dây chuyền chế biến. Rừng khai thác đến đâu được tiến hành trồng lại tới đó, với giống cây được cung cấp ngay từ vườn ươm của BQL (đạt 1,4 triệu cây/năm, gồm cây keo tai tượng, luồng, lát, xoan và một số cây thuốc nam) đã tạo ra chu kỳ sản xuất bền vững tại đơn vị.
Minh chứng là từ đầu năm tới nay, Chính phủ cho đóng cửa rừng, không khai thác rừng tự nhiên đã khiến nhiều lâm trường trong cả nước gặp khó khăn do khan hiếm nguồn nguyên liệu đầu vào, kéo theo nhiều khó khăn trong việc sắp xếp cán bộ, cân đối thu, chi. Riêng BQL vẫn bảo đảm việc làm và thu nhập ổn định cho 42 cán bộ, công nhân viên của đơn vị và giải quyết việc làm cho khoảng 150 lao động địa phương.
Đánh giá về hiệu quả của mô hình rừng gỗ lớn của BQL rừng phòng hộ Lang Chánh, ông Nguyễn Thành Công, giám đốc BQL, cho biết: Đến thời điểm này, mô hình trên là phù hợp với hoạt động sản xuất lâm nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng mà đơn vị được giao.
Theo mô hình này, đơn vị đang tiến hành đấu mối thuê tư vấn từ Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng để xây dựng và được cấp chứng chỉ rừng FSC. Từ đó, mở ra cơ hội đưa sản phẩm vào thị trường khó tính như châu Âu, châu Mỹ. (Báo Thanh Hóa 15/11) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao nhấn mạnh nội dung trên tại buổi làm việc với Lãnh đạo huyện A Lưới về tình hình kinh tế - xã hội năm 2014, định hướng nhiệm vụ năm 2015 và công tác đầu tư công giai đoạn 2016 - 2020 sáng 13-11.
Về nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2015 của huyện A Lưới, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao chỉ đạo, cần tập trung phát triển chăn nuôi và trồng cây lâm nghiệp; trong đó cần có chính sách và khuyến khích phát triển trang trại, thay đổi tập quán chăn nuôi; nghiên cứu trồng cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, phù hợp với khí hậu như trồng cây mây dưới tán rừng và trồng cây thuốc làm dược liệu.
Tập trung rà soát chuyển đổi đất rừng để giao đất cho người dân sản xuất; việc quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng và quy hoạch sản xuất nên theo vùng để đảm bảo hiệu quả trong đầu tư. (Báo Thừa Thiên – Huế 14/11) đầu trang(
Tỉnh xác định lâm nghiệp là ngành kinh tế chủ lực ở 11 huyện miền núi. Từ Nghị định 02 về giao đất, giao rừng đến các chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc; trồng rừng sản xuất 661, 147, rừng gỗ lớn... đã cho thấy bước chuyển mạnh mẽ của nghề rừng ở xứ Thanh.
Cùng PV đến thăm những cánh rừng keo ở xã Xuân Du (Như Thanh), anh Hoàng Ngọc Sơn, phó chủ tịch UBND xã, cho biết: “So với các xã khác trong huyện, Xuân Du có diện tích đất lâm nghiệp ít, nhưng không vì thế mà kinh tế rừng trong xã không phát triển. Kể từ ngày triển khai giao đất, giao rừng theo Nghị định 02/1994/NĐ-CP của Chính phủ cho các hộ gia đình đã thu hút được hàng trăm hộ dân trong xã nhận đất với Ban Quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Sim để trồng, bảo vệ rừng”.
Theo báo cáo của Ban QLRPH Sim, hơn 5.252 ha rừng đơn vị đang quản lý; trong đó có 3.200 ha rừng phòng hộ và 2.052 ha rừng sản xuất đã được giao khoán cho 788 hộ dân các xã: Xuân Du, Xuân Thọ, Phượng Nghi, Mậu Lâm (Như Thanh) và xã Thượng Ninh (Như Xuân).
Gặp anh Nguyễn Thanh Minh, thôn 3, xã Xuân Du đang khai thác rừng keo được trồng từ năm 2003, anh hồ hởi khoe: “Cách đây hơn mười năm, gia đình tôi nhận 6 ha đất lâm nghiệp của Ban QLRPH Sim để trồng cây keo, đã khai thác một lượt 4 ha và đã trồng lại, còn 2 ha đang khai thác, ước tính thu lãi khoảng 80 triệu đồng. Rừng đã mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình, giúp tôi có tiền nuôi các cháu ăn học”.
Niềm vui của anh Minh cũng là niềm vui chung của hàng nghìn hộ dân nhận đất lâm nghiệp của Nhà nước để trồng rừng, phát triển kinh tế, thoát nghèo ở nhiều địa phương miền núi khác.
Không chỉ người dân trồng rừng, hiện nay, phát triển kinh tế rừng còn có sự tham gia của các chủ rừng Nhà nước mà Ban QLRPH Lang Chánh là đơn vị điển hình. Trên diện tích 822 ha rừng thâm canh được trồng từ năm 2007, đơn vị đã triển khai xây dựng 2 mô hình chuyển hóa rừng keo gỗ nguyên liệu sang kinh doanh rừng gỗ lớn ở xã Trí Nang, với diện tích 10 ha và dự kiến trong tương lai sẽ phát triển khoảng 200 ha.
Theo tính toán sơ bộ của Ban QLRPH Lang Chánh, khi diện tích rừng gỗ lớn đến tuổi khai thác (từ năm thứ 12 đến năm thứ 15) thì trữ lượng gỗ đạt khoảng 400 – 450 m3/ha, với giá trị từ 1,2 tỷ đồng/ha trở lên.
Xã hội hóa nghề rừng ở Thanh Hóa nói chung, khu vực miền núi nói riêng còn thu hút được các nguồn vốn vay, tài trợ của các tổ chức nước ngoài. Trong đó, phải kể đến dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3); dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ tỉnh Thanh Hóa” của Chính phủ Nhật Bản.
Ngoài ra, còn một số dự án đang trong thời gian xây dựng, như: Dự án phát triển rừng phòng hộ ven biển (WB4), dự án rừng và đồng bằng do chính phủ Mỹ tài trợ. Nổi bật trong các chương trình trồng rừng từ nguồn vốn vay của các nhà tài trợ chính là Dự án WB3. Mục tiêu của dự án là từ năm 2012 đến năm 2015 cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ dân để trồng rừng thương mại trên diện tích đất trống và trồng lại rừng khoảng 6.000 ha.
Trong 4 năm (từ 2011 – 2014), khu vực miền núi đã trồng mới hơn 37.633 ha rừng tập trung, bình quân mỗi năm trồng mới gần 9.000 ha rừng. Đồng thời, khoanh nuôi tái sinh 30.000 ha rừng và bảo vệ 546.455 ha rừng. Với những kết quả đạt được, cho thấy kinh tế lâm nghiệp và nghề rừng ở miền núi đã có bước chuyển theo hướng xã hội hóa.
Người dân đã thay đổi nhận thức, chuyển từ tập quán khai thác là chủ yếu sang trồng mới, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ gắn với phát triển rừng kinh tế. Nhờ vậy, hàng nghìn hộ dân tham gia phát triển sản xuất lâm nghiệp từng bước thoát nghèo, vươn lên làm giàu. (Báo Thanh Hóa 14/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một con vật lớn nghi là một con hổ đã khiến thủ đô Paris của Pháp “rúng động” sau khi một người phụ nữ thông báo nhìn thấy một động vật hoang dã tại một bãi gửi xe ở Montevrain, phía đông của thủ đô hôm 13.11.
Người chủ siêu thị lntermarche ở Montevrain cho biết, vợ ông phát hiện con vật lạ trên vào khoảng 8h30 ngày 13.11. Người phụ nữ này cũng chụp được bức ảnh cho thấy một con vật lớn xuất hiện gần siêu thị. Tờ Le Parisien cho hay, một số người dân địa phương cũng nhìn thấy con vật này.
Theo các chuyên gia, những dấu vết để lại cho thấy đó là một con hổ con. Một quan chức văn phòng Thị trưởng thành phố cho biết, họ có thể theo dõi con vật này vào rừng bằng các dấu vết đó. Văn phòng Thị trưởng Montevrain bác bỏ nghi vấn con hổ có thể đã trốn khỏi một rạp xiếc trong thị trấn, theo tờ Le Parisien.
Hiện tại, cảnh sát, nhân viên cứu hỏa và chó săn được đào tạo đặc biệt đang tìm kiếm con vật nghi là hổ này tại thị trấn ngoại ô Paris. Các nhân viên được trang bị súng triển khai khắp thị trấn và có sự hỗ trợ của máy bay trực thăng với thiết bị dò nhiệt để phát hiện động vật trong bụi cây.
Các cư dân ở Montevrain và 2 thị trấn khác được cảnh báo ở trong nhà khi cuộc tìm kiếm con vật lạ chưa kết thúc. Hiện vẫn chưa rõ con vật này đến từ đâu mặc dù có một công viên về mèo khá lớn gần Montevrain. (Lao Động 14/11) đầu trang(
Đó là trường hợp của cô Tansy Aspinall (25 tuổi) sống tại hạt Kent, phía Đông Nam của Anh. Cụ thể, vào năm 1991, con khỉ đột Djala được nhà bảo tồn Maverick Damian Aspinall - cha của Tansy Aspinall - đưa về vườn thú Howletts để chăm sóc.
Ngay từ khi Aspinalls được 18 tháng tuổi, cô đã được cha cho chơi cùng Djala để rèn tính can đảm. Chính những ngày tháng khiến tình bạn của Tansy Aspinall và Djala trở nên rất thân thiết. Thậm chí Tansy Aspinall còn có thể ra vào chuồng của bầy khỉ một cách tự nhiên.
Tuy nhiên, khi Tansy Aspinall lớn lên, cô chuyển đi nơi khác để học tập. Đến khi cô trở về, Djala đã được cha cô trả về với tự nhiên từ năm 2002.
Vào tháng 7/2014, trong chuyến đi thám hiểm của gia đình cô tại một khu rừng mưa ở Cộng hòa Gabon, Tansy Aspinall bất ngờ gặp lại người bạn cũ Djala.
Ngay lập tức, Aspinall và Djala ôm chầm lấy nhau hạnh phúc. Thậm chí, Djala còn chà tay và ngửi mùi tóc của Tansy Aspinall như một nghi thức để báo hiệu rằng nó đã nhận ra mùi của bạn cũ. Sau đó, họ buộc phải tạm biệt nhau để bảo toàn mục đích nghiên cứu. (Phụ Nữ Today 17/11) đầu trang(
Nông dân tại bang Tamil Nadu, miền Nam Ấn Độ đặt những con hổ đồ chơi trên cánh đồng của mình để dọa đàn voi đang lộng hành.
Những “con hổ” như vậy xuất hiện không ít ở những vị trí “chiến lược” trên nhiều cánh đồng trồng mía và dừa ở quận Krishnagiri, song dường như chúng chỉ phát huy tác dụng với lũ khỉ thường xuyên nhòm ngó vườn dừa của nông dân. Trong khi đó, đàn voi từ cánh rừng Bannerghatta vẫn nhởn nhơ phá phách. Giá mỗi chú hổ đồ chơi lên tới 1.100 rupees (17 USD).
“Nhiều con voi vẫn mạnh bạo đi vào cánh đồng bất chấp có “hổ” canh giữ. Nhưng chúng tôi vẫn giữ lũ “hổ” trên đồng” - một nông dân có tên Ramakrishna.
Tuy nhiên, theo lời anh Shiva Kumar, một nông dân khác, cho biết ít nhất những con hổ đồ chơi cũng giúp xua đuổi lũ khỉ ăn cắp dừa. "Những con hổ đồ chơi đã cứu được khoảng 1.000 trái dừa cho nhà tôi trong mùa này” - Kumar chia sẻ.
Ông Vinay Luthra, giới chức bảo vệ động vật hoang dã địa phương, cho hay đàn voi tràn ra khỏi khu rừng để tìm kiếm nước và thức ăn, gây ra những rối loạn trong cuộc sống của những ngôi làng xung quanh.
Tổ chức Động vật hoang dã thế giới (WWF) cho biết, voi Ấn Độ có thể tăng trưởng đến 6,4m chiều dài, 3,5 m chiều cao, và nặng đến 5 tấn. Tổ chức này cũng cho rằng, những năm gần đây con người đã xâm nhập tràn lan vào các khu rừng, môi trường sống tự nhiên của voi.
Ở Ấn Độ hiện có khoảng 26.000 cá thể voi hoang đã. (Đất Việt 15/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||