|
Ngày 17 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Nhiều năm qua công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng luôn được huyện Đồng Hỷ tổ chức triển khai tích cực, hiệu quả. Cùng với đó, sự vào cuộc của 185 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng cũng đã góp phần để không xảy ra vụ cháy rừng nào.
Văn Hán là một trong những địa phương có thế mạnh trong phát triển kinh tế đồi rừng của huyện Đồng Hỷ. Những năm gần đây, khi kinh tế đồi rừng phát huy hiệu quả thì công tác, quản lý và bảo vệ rừng của địa phương cũng được chú trọng. Nhiều năm qua, Văn Hán vẫn bảo tồn 2,3 nghìn ha diện tích rừng sản xuất, không xảy ra vụ cháy nào. Kết quả đó có sự góp sức đắc lực của 17 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng (5 người một tổ đội) ở các xóm trong xã.
Bên cạnh sự vào cuộc tích cực của các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, xã Văn Hán đã xây dựng phương án bảo vệ, phòng, chống cháy rừng cụ thể, xác định từng vùng xung yếu và khó khăn của từng khu vực để có phương án sát, đúng. Đồng thời, thông qua các loa phóng thanh ở các xóm kết hợp với các cuộc họp dân, triển khai lồng ghép thông báo nguy cơ, quy chế bảo vệ phòng cháy, chữa cháy rừng…
Cũng như xã Văn Hán, các xã, thị trấn có rừng trên địa bàn huyện Đồng Hỷ đã thực hiện tốt công tác phòng cháy, chũa cháy rừng và bảo vệ rừng. Được biết, Đồng Hỷ có trên 24 nghìn hec ta rừng, tỷ lệ che phủ chiếm 53% diện tích tự nhiên toàn huyện. Để bảo vệ rừng, huyện đã kiện toàn Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện, xã và các tổ, đội quần chúng ở cơ sở.
Huyện cũng xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng và triển khai đến các xã, chủ rừng và nhân dân tại khu vực có rừng; tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng cháy, chữa cháy rừng. Ngoài ra, đối với những diện tích rừng có nguy cơ cháy cao, cán bộ kiểm lâm đã kịp thời hướng dẫn chủ rừng vệ sinh, chăm sóc rừng trồng và mang các vật liệu dễ cháy ra khỏi phạm vi rừng.
Cùng với đó, Hạt Kiểm lâm huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, trường học trên địa bàn để mọi người nhận thức rõ phòng cháy, chữa cháy rừng là góp phần phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn kịp thời các hành vi làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng. Trung bình mỗi năm, Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ triển khai tuyên truyền, tập huấn về công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng cho trên 3 nghìn lượt người dân…
Ông Phạm Cao Hách, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ cho biết: Với mục tiêu bảo vệ rừng tận gốc, đơn vị đã chỉ đạo các trạm kiểm lâm, kiểm lâm địa bàn tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng cháy, chữa cháy rừng cho người dân bằng nhiều hình thức…
Bên cạnh đó, Hạt đã tham mưu xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện, cấp xã với phương châm 4 tại chỗ là “lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ” và 4 sẵn sàng là “chỉ huy sẵn sàng, lực lượng sẵn sàng, phương tiện hậu cần sẵn sàng, thông tin liên lạc sẵn sàng”.
Chuẩn bị bảo vệ rừng trong mùa khô năm nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã có kế hoạch phân công cán bộ kiểm lâm thường trực 24/24 giờ. Cùng với đó, mỗi xóm có rừng đều đã thành lập tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng. Đến nay, toàn huyện đã thành lập được 185 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tại chỗ. Các thành viên trong tổ, đội cũng là cánh tay nối dài của các kiểm lâm viên, họ là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân về công tác phát triển cũng như quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. (Báo Thái Nguyên 16/8) đầu trang(
Quảng Trị hiện có 141.456 ha rừng tự nhiên, 99.649 ha rừng trồng. Các diện tích rừng đã được giao cho BQL rừng phòng hộ, Công ty lâm nghiệp quản lý và giao khoán cho địa phương, người dân tự chăm sóc bảo vệ. Nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh đang xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép, đặt ra những thách thức không nhỏ đối với công tác bảo vệ rừng.
Đồn Biên phòng Cù Bai được xem là chốt chặn cuối cùng trên tuyến đường Hồ Chí Minh, là tâm điểm xung yếu giữa hàng chục ngàn héc ta rừng tự nhiên ở huyện Hướng Hóa, Vĩnh Linh và liền kề với rừng của tỉnh Quảng Bình. Vậy mà dọc đường lên Cù Bai chúng tôi lại dễ dàng bắt gặp nhiều chiếc xe máy ngang nhiên vận chuyển từng khúc gỗ rừng tìm nơi tập kết giữa “thanh thiên bạch nhật”. Điều này cho thấy không riêng gì ở Vĩnh Linh mà ngay ở địa bàn Hướng Hóa đang xảy ra tình trạng chặt phá rừng.
Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm Hướng Hóa, chỉ tính trong 2 tháng 7-8/2016, lực lượng đã tiến hành bắt giữ 10 vụ vi phạm lâm luật, thu giữ 10 m3 gỗ các loại. Làm việc với Đồn Biên phòng Cù Bai, chúng tôi được cung cấp thêm thông tin lực lượng liên ngành vừa tổ chức đợt cao điểm tuần tra bảo vệ đã phát hiện một vụ vận chuyển gỗ rừng quy mô lớn tại Bản Cuôi (xã Hướng Lập) tiếp giáp với xã Linh Thượng (Gio Linh) và Vĩnh Ô (Vĩnh Linh). Tang vật thu giữ là 1 chiếc xe reo và 1 cây gỗ chuỗi có đường kính rộng 60 cm, chiều dài thân gỗ là 11m của 3 đối tượng thường trú tại xã Vĩnh Thủy (Vĩnh Linh). Đợt tuần tra của liên ngành còn phát hiện một vài địa điểm tập kết gỗ nhỏ lẻ nằm dọc bìa rừng.
Đồng chí Nguyễn Quang Tuấn, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cù Bai cho biết, đồn luôn chú trọng phối hợp tuần tra bảo vệ rừng với lực lượng kiểm lâm và chính quyền các địa phương. Với địa bàn rộng, núi rừng hiểm trở, diện tích rừng tiếp giáp với Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Linh Thượng (Gio Linh) và Lệ Thủy (Quảng Bình), nếu “cắt rừng” tuần tra hết diện tích phải cả tháng trời nên lực lượng liên ngành phải mang theo lương thực, chăn màn dựng lán trại ăn ngủ trong rừng. Ngoài việc đi lại khó khăn, không có sóng điện thoại để liên lạc thì khó khăn nhất là nguồn nước ở các khe suối đã cạn kiệt nên thiếu nước sinh hoạt.
Trở lại Cù Bai lần này, mục đích của chúng tôi là xác định nguồn gốc khối lượng gỗ rừng mà lực lượng kiểm lâm thu giữ tại địa bàn xã Vĩnh Ô. Bởi các chủ rừng ở Vĩnh Linh cũng như chính quyền địa phương các xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô kiên quyết cho rằng gỗ bị lực lượng kiểm lâm thu giữ không phải từ rừng Vĩnh Ô. Một giả thiết đặt ra có thể gỗ được khai thác từ rừng Hướng Hóa hoặc rừng ở Lệ Thủy (Quảng Bình) mượn đường Vĩnh Linh để “quá giang”.
Chúng tôi được các chiến sĩ biên phòng dẫn đường “cắt rừng” để “mục sở thị” ngóc ngách của lâm tặc phá rừng. Bản Cuôi (Hướng Lập) được coi là vị trí trung tâm nhất bởi giáp với 3 huyện khác và cách Đồn Biên phòng Cù Bai hơn 10 km đường rừng. Muốn vào Bản Cuôi chỉ có duy nhất một lối đường mòn nhỏ hẹp. Đường lại thấp dần nên rất khó khăn lúc quay trở lại.
Gặp Hồ Chá đang cầm trên tay cây rựa, chúng tôi e ngại không dám tiếp cận nhưng nhờ khả năng giao tiếp của bộ đội biên phòng, Chá thừa nhận dạo này muốn sửa lại gian nhà nên thường vào rừng chặt cây lấy gỗ. Tôi hỏi, dân địa phương có nhiều người tham gia không, thì Chá trả lời: “Cần gỗ thì vô rừng chặt về làm nhà thôi. Cán bộ có đến hỏi cũng không hề chi. Lo cái nhà ở trước đã, rồi đi kiếm cái gì để no cái bụng.” Nói xong Chá quay lưng, tất bật tiến vào rừng.
Minh chứng khẳng định tình trạng chặt phá rừng tự nhiên ở Hướng Hóa từ con số thống kê của Hạt kiểm lâm Hướng Hóa và những vụ bắt giữ vận chuyển gỗ rừng tự nhiên của lực lượng liên ngành. Và suốt 1 ngày theo chân bộ đội biên phòng luồn sâu vào “tâm rừng”, chúng tôi thấy địa hình ở Hướng Hóa là đồi núi dốc. Những cánh rừng ở đây mọc chênh vênh bên sườn núi nên khó chặt hạ và điều quan trọng là không có đường để vận chuyển trở ra. Nếu muốn chặt gỗ rừng ở địa bàn các xã Hướng Lập, Hướng Việt (Hướng Hóa) chỉ một cách duy nhất là phải vận chuyển theo đường về bản 2 Vĩnh Ô (Vĩnh Linh).
Vì vậy, ông Võ Văn Sử, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Hướng Hóa thừa nhận một thực tế rằng: “Với địa hình rừng cheo leo bên bờ vực như thế, lâm tặc thường chặt gỗ rồi cho “trôi” xuống địa phận huyện Vĩnh Linh hay Gio Linh trước khi đưa về xuôi tiêu thụ, chứ không thể nào đưa gỗ trở lại vì không có đường do địa hình rất hiểm trở”.
Cho dù rừng ở địa bàn nào bị khai thác thì đó đều là tài sản quốc gia bị xâm hại. Vậy nên thật xót xa khi nghe Đại tá Lê Phương Nam, Trưởng Công an huyện Vĩnh Linh cho biết, qua kiểm tra tại ngã ba ngọn khe Xà Lời (thuộc bản 4, xã Vĩnh Ô) đã phát hiện 36 hộp gỗ tại khoảnh 41 tiểu khu 582, 583 với khối lượng hơn 8 m3. Cách khe Xà Lời khoảng vài trăm mét, trong phạm vi hơn 2,5 ha phát hiện 12 điểm chặt phá với 21 cây rừng, có đường kính từ 22 đến 36 cm. Đợt truy quét còn bắt giữ hơn 80 m3 gỗ lậu được trung chuyển qua địa bàn Vĩnh Linh. Bước đầu cũng xác định được 2 đối tượng chặt hạ 14 cây tại khoảnh 41 tiểu khu 582 là Hồ Văn Trình và Hồ Văn Dinh.
Hai đối tượng này là người Vân Kiều sinh sống tại xã Vĩnh Ô, thuộc diện hộ nghèo, lâu nay làm ăn lương thiện có nhu cầu làm nhà nên lén lút vào rừng đốn hạ gỗ, còn những lâm tặc chuyên phá rừng với nhiều thủ đoạn ranh ma thì chưa tìm ra tung tích. Bởi khi tận mắt chứng kiến những cây gỗ rừng bị đốn hạ, chúng tôi vô cùng xót xa và mong các ngành chức năng sớm truy tìm ra thủ phạm các vụ phá rừng, sớm chặn đứng các hoạt động chặt phá, mua bán, vận chuyển gỗ rừng của các đầu nậu như hiện nay.
Một thực tế nực cười rằng tại buổi kiểm điểm trách nhiệm để xảy ra tình trạng chặt phá rừng ở Vĩnh Linh do Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức, phía Hạt kiểm lâm Vĩnh Linh bao biện rằng: Do trong thời gian qua, đồng chí hạt trưởng đang thụ lý kỷ luật nhưng chậm điều chuyển công tác khác nên buông lỏng trách nhiệm quản lý. Còn phía chủ rừng là BQL rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải lại nêu lý do “hớ hênh” không kém là do đồng chí giám đốc Ban đợi nghỉ hưu từ ngày 1/8 nên thiếu đôn đốc trong các hoạt động của Ban, trong đó có nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng.
Hai đơn vị chịu trách nhiệm chính về tình trạng phá rừng nhưng lại đưa ra lý do không thể chấp nhận được. Bởi trách nhiệm trước hết thuộc về lực lượng kiểm lâm. Không thể bao biện khi rừng bị “tỉa” trong thời gian dài mà cán bộ kiểm lâm địa bàn không hay biết. Lại càng vô lý hơn khi các chủ rừng được nhà nước giao nhiệm vụ giữ rừng nhưng lại để mất rừng một cách dễ dàng, đành rằng lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng nhiều lúc rơi vào thế “lực bất tòng tâm”.
Quản lý hơn 21.000 ha rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải nhưng BQL chỉ có vỏn vẹn 17 biên chế làm công tác bảo vệ rừng. Với một lực lượng quá mỏng, thiếu phương tiện và công cụ hỗ trợ, chưa kể lúc cao điểm phòng chống cháy rừng, kiểm lâm dồn sức cho công tác này thì thiếu hụt lực lượng ở chỗ kia.
Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Phó Giám đốc phụ trách Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải thừa nhận: “Do địa bàn rộng, lực lượng mỏng, không có công cụ hỗ trợ gì, chỉ hai bàn tay trắng nên chỉ dừng ở công tác vận động, đẩy đuổi mà thôi. Đơn cử như trạm kiểm soát của BQL được giao phụ trách Vĩnh Ô và Vĩnh Hà, gần 10.000 ha. Việc xe trâu vào rừng khai thác gỗ là có, nhưng chúng tôi không “cáng đáng” được vì xe trâu vào rất nhiều cửa, việc chốt chặn là rất khó khăn”.
Một lần nữa, vấn đề nhân lực được đưa ra để bao biện nhưng khó thuyết phục trước những nghịch lý đã diễn ra nhiều năm chưa tháo gỡ được khiến cho hàng ngàn héc ta rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị bị xâm hại.
Chính ông Khổng Trung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị phải thừa nhận: “Cuối tháng 7 vừa rồi, nhận được thông tin rừng phòng hộ bị phá, tôi đã cử người bí mật đi kiểm tra thì phát hiện nhiều gỗ ở trong rừng. Đến ngày 1/8, chi cục triển khai lực lượng bắt được 16 m3 gỗ trong 2 ngày và sau đó tiếp tục bắt giữ khoảng 70 m3 gỗ”.
Vậy nên không thể đưa ra những lý do này nọ để né trách nhiệm. Bởi hơn ai hết chỉ có người trong cuộc mới thấu hiểu được vị thế và trách nhiệm của mình. Ông Võ Văn Sử, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Hướng Hóa phân trần: “Cần phải hiểu cho hết quyền hạn và trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm. Kiểm lâm chỉ được giao nhiệm vụ quản lý diện tích rừng của nhà nước đã được quy định rõ trong Luật Bảo vệ rừng. Tức là diện tích rừng do các địa phương và người dân quản lý. Chứ những diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng một khi nhà nước đã giao cho các Ban quản lý rừng thì trách nhiệm bảo vệ rừng đã thuộc về các BQL mà kiểm lâm chỉ phối hợp bảo vệ trên phương diện quản lý nhà nước về rừng. Các BQL rừng được cấp kinh phí hoạt động, được biên chế lực lượng thì phải làm tròn trách nhiệm của mình chứ không thể buông lỏng quản lý dẫn đến mất rừng thì đổ trách nhiệm sang cho lực lượng kiểm lâm”.
Hiện nay lực lượng quản lý, bảo vệ rừng gồm các BQL rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp và chính quyền các địa phương. Trên danh nghĩa là thế nhưng ở nhiều địa phương lại không có trong tay một tấc rừng. Ông Võ Văn Sanh, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà (Vĩnh Linh) cho biết, dù không có rừng để quản lý nhưng nghe rừng cháy ở đâu, bị chặt phá ở nơi nào, chính quyền địa phương cũng phải “xắn tay” vào lo liệu. Nếu huy động dân quân, công an viên thì phải trả kinh phí theo quy định nhưng xã lại không có tiền.
Theo ông Khổng Trung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho rằng do chậm trễ cắm mốc, phân định ranh giới cụ thể diện tích rừng tại địa bàn Vĩnh Hà khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng bất cập. Năm 2014, khi thực hiện điều tra vụ phá rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải tại Khe Cau (xã Vĩnh Hà), khi vào các tọa độ thì chủ rừng bất ngờ nhận ra đất rừng đã bị người dân phá rừng trồng keo, tràm.
Chưa thể phân định rõ ràng đất rừng thuộc ai quản lý nên sự nhập nhằng này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều “đầu nậu” miền xuôi lên đầu tư tiền bạc, lôi kéo, thuê mướn người dân sở tại xâm lấn đất rừng sản xuất, canh tác. Mặt khác, lợi dụng đời sống khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số nên lâm tặc đã thuê người dân vận chuyển gỗ trong rừng phòng hộ ra các điểm tập kết nên họ dù muốn hay không cũng trực tiếp tham gia vào các phi vụ chặt phá rừng.
Trở lại vấn đề bảo vệ rừng bằng cách nào, chúng tôi được biết từ nhiều năm qua, các BQL rừng phòng hộ đã được Sở Nông nghiệp và PTNT cấp mỗi năm từ 6-8 tỷ đồng để hợp đồng với người dân địa phương bảo vệ rừng. Đơn cử như ở BQL rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải đã hợp đồng 1 xã 10 người dân tham gia bảo vệ rừng nhưng năm 2016 do thiếu kinh phí nên tạm dừng hợp đồng bảo vệ. Nhưng ngoài kinh phí hỗ trợ từ sở chủ quản, hiện nay ở một số “chủ rừng” như Công ty Lâm nghiệp Hướng Hóa, Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa còn nhận được một khoản tiền không nhỏ từ trả phí dịch vụ môi trường rừng.
Trong năm 2014, Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa đã nhận được 1,4 tỷ đồng từ phí dịch vụ để hợp đồng 75 hộ dân ở 2 xã Hướng Sơn, Hướng Linh tham gia bảo vệ rừng. Nhờ đó mà diện tích rừng của Khu Bảo tồn được người dân bảo vệ nghiêm ngặt, hạn chế tình trạng chặt phá cây rừng hay săn bắt trái phép động vật hoang dã.
Để chung tay bảo vệ rừng, cần quan tâm tạo sinh kế bền vững cho người dân vốn “dựa lưng” vào rừng. Trước hết là đẩy mạnh giao rừng, chuyển đổi rừng phòng hộ nghèo thành rừng sản xuất để người dân có cơ hội phát triển kinh tế; quan tâm đến chế độ hỗ trợ, khuyến khích người dân sát cánh cùng lực lượng nòng cốt là kiểm lâm để bảo vệ rừng...Còn việc cắm mốc, phân định ranh giới, đây là nhiệm vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường nên UBND tỉnh cần chỉ đạo để sớm hoàn thành việc cắm mốc bàn giao rừng cho UBND xã Vĩnh Hà nói riêng và nhiều địa phương khác quản lý.
Đối với nhiệm vụ tuần tra, quản lý và bảo vệ rừng, trước hết cần tăng cường lực lượng để cơ động tuần tra, kiểm soát; lập thêm các chốt chặn tại các “cửa rừng”. Di dời một số trạm kiểm lâm đến vị trí thích hợp cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nhưng cấp thiết nhất là phải thiết lập trở lại trạm kiểm soát ở ngã ba Đầu Đạn trên địa bàn Vĩnh Ô, bởi đây là chốt chặn cuối cùng ngăn đường vận chuyển gỗ từ Hướng Hóa, Lệ Thủy (Quảng Bình) và các “cửa rừng” trên địa bàn Vĩnh Linh nếu lâm tặc muốn vận chuyển gỗ rừng về xuôi. Như vậy mới “hạ nhiệt” tình trạng chặt phá rừng hiện nay và thực thi nhiệm vụ bảo vệ rừng ở Quảng Trị có hiệu quả. (Báo Quảng Trị 16/8) đầu trang(
TS Đào Trọng Tứ, GĐ Trung tâm Tư vấn phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu: Xây thủy điện trong VQG là phạm pháp
Nền tảng cho sự phát triển Tây Nguyên chính là những con sông. Tuy nhiên, chúng ta đã bằng mọi cách khai thác bằng được những tiềm năng thủy điện trên các dòng sông này. Câu chuyện thủy điện luôn có 2 mặt, là bài toán đánh đổi lợi ích kinh tế với mất mát về môi trường, sinh thái và sinh kế. Bài học về việc dừng xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là ví dụ điển hình. Thủy điện này không xây dựng được bởi một trong những lý do chính là đã vi phạm Luật Bảo tồn và Đa dạng sinh học, làm ngập hơn 200ha Vườn quốc gia Cát Tiên. Thời gian gần đây, dư luận lên tiếng mạnh mẽ nên thủy điện Đrăng Phốk (Đăk Lăk) định đặt trong Vườn quốc gia Yok Đôn đã phải dừng lại. Đây là quyết định đúng đắn. Đấy là vấn đề phạm pháp, đã phạm pháp thì không xây dựng được.
TS Nguyễn Huy Dũng, Phó Viện trưởng Viện Điều tra và Quy hoạch rừng, Bộ NN- PTNT: Giữ được rừng, mới giữ được nước
Gần đây, rừng Tây Nguyên giảm nhiều, suy thoái về diện tích và chất lượng, rừng còn lại thì nghèo kiệt. Diện tích rừng giảm làm cho khả năng tạo mưa của rừng cũng giảm. Theo tính toán của các nhà khoa học khi gia tăng 10% độ che phủ của rừng thì lượng mưa sẽ tăng 2,5%. Do rừng mất nên toàn bộ hệ thống sông suối ở Tây Nguyên hứng chịu nhiều đợt lũ lụt vì rừng không giữ được nước. Ngoài ra, dòng chảy bề mặt ở rừng không lớn hơn 2% so với tổng lượng mưa, nhưng khi rừng bị phá hủy, dòng chảy bề mặt tăng lên rất lớn, có thể lên đến 30%. Lượng nước ngầm cũng giảm đáng kể vì nước giữ ở tán cây, thân cây, thảm thực vật trong đất giảm. Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên cũng đang tích cực trồng rừng, tuy nhiên rừng trồng với các loài cây mọc nhanh, đơn loài, đơn tầng thì không có khả năng giữ nước. Chỉ giữ được rừng thì mới giữ được nước.
GS.TS khoa học Đặng Trung Thuận, Chủ tịch Hội Địa hóa Việt Nam: Nước là sự sống còn với Tây Nguyên.
Tây Nguyên có rất nhiều công trình thủy lợi, kể cả những công trình “đại thủy nông”. Tuy nhiên, những công trình thủy lợi trên đất Tây Nguyên chỉ phát huy hiệu quả ở những vùng trũng và tương đối bằng phẳng như ở Ea Soup (Đăk Lăk), Ayun Pa (Gia Lai), Đăk Hà (Kon Tum)... Nếu làm công trình thủy nông lớn giữa các vùng đồi giống như ở vùng đất Gia Lai này thì cái khó khăn nhất không phải là tạo ra cái hồ mà là hệ thống kênh dẫn. Nước chỉ chảy theo đường đồng mức, ra địa hình đồi (lên đồi, xuống dốc, xuống trũng, lên đồi) thì không làm kênh dẫn được nên không phát huy tác dụng. Do vậy, những công trình lớn chỉ nên xây dựng ở vùng đất bằng, còn vùng đất gò, đồi thì xây dựng hồ nhỏ ở sát các chân núi, bìa rừng để trữ nước. Nơi nào núi còn cây xanh tốt thì đảm bảo hồ chứa luôn đầy nước quanh năm. Đây là kinh nghiệm quản lý nguồn nước của tỉnh Bình Định.
TS Nguyễn Tiền Giang, Phó Hiệu trưởng ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội): Không trồng quá nhiều cây công nghiệp.
Hiện nay, Tây Nguyên đang thiếu nước mặc dù tổng lượng nước của 5 tỉnh Tây Nguyên, tính cả nước mưa, là khoảng 100 tỷ m3/năm. Sau khi trừ các khoản tổn thất chỉ còn lại 48 đến 50 tỷ m3, trong khi đó lượng nước dùng theo tính toán chỉ khoảng 11 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, chính sự phân bố không đồng đều, cộng với yếu tố địa chất, khí hậu đã gây nên hiện tượng thiếu nước. Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là do chặt phá rừng làm thủy điện và nương rẫy, thứ nữa phát triển quá nóng các cây công nghiệp cần nhiều nước. Chỉ hai yếu tố này đã làm tăng thêm nguyên nhân thiếu nước trầm trọng ở Tây Nguyên. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/8) đầu trang(
Gần đây, tình trạng phá rừng, xâm lấn đất lâm nghiệp trồng rừng kinh tế diễn ra ồ ạt tại nhiều địa phương trên địa bàn huyện Phù Mỹ. Thế nhưng, việc ngăn chặn, xử lý của chính quyền các địa phương và ngành chức năng chưa hiệu quả.
Từ tháng 5.2016 đến nay, nhiều hộ dân ở xã Mỹ Chánh, Mỹ Chánh Tây (Phù Mỹ) đổ xô lên khoảnh 3, tiểu khu 181A- thuộc khu vực hồ Hóc Trạnh, nơi giáp ranh giữa 2 thôn Công Trung và Trung Xuân, xã Mỹ Chánh - chặt phá cây rừng, lấn chiếm, xâm hại hàng chục hecta đất lâm nghiệp để trồng rừng kinh tế. Trước tiên, họ khoanh bao “xí phần” trái phép, sau đó tiến hành phát dọn, xử lý thực bì.
Theo lời người dân thôn Công Trung, mỗi ngày có hàng chục người mang rựa, cưa máy lên khu vực hồ Hóc Trạnh ngang nhiên chặt phát cây rừng, đốt dọn thực bì, chuẩn bị trồng keo, nhưng chẳng thấy chính quyền địa phương kiểm tra, can thiệp. Theo quan sát của chúng tôi, ngày 12.8, trên đỉnh núi ở thôn Công Trung, nhiều hecta đất lâm nghiệp vẫn đang được đốt dọn thực bì, khói bốc lên cả một vùng.
Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch UBND xã Mỹ Chánh, xác nhận: “Đúng là có chuyện người dân lấn chiếm, xâm hại đất lâm nghiệp tại hồ Hóc Trạnh. Xã đã phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ tới hiện trường kiểm tra, đo đạc và thống kê đã có 31,16 ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ nằm xung quanh khu vực hồ Hóc Trạnh bị người dân xâm chiếm trái phép. Hiện nay, chúng tôi chờ ý kiến chỉ đạo từ UBND huyện Phù Mỹ để có hướng xử lý tiếp theo”.
Về trách nhiệm của địa phương khi để xảy ra việc này, ông Bình nói: “Tất cả diện tích đất lâm nghiệp bị xâm hại kể trên đã được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ quản lý; địa phương chúng tôi chỉ phối hợp”. Tuy nhiên, ông Bùi Văn Thăng, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ, lại cho rằng: “Diện tích đất lâm nghiệp này thuộc sự quản lý của xã Mỹ Chánh. Để xảy ra việc này, xã Mỹ Chánh phải chịu trách nhiệm đầu tiên”.
Hiện không chỉ ở Mỹ Chánh mới có chuyện phá rừng mà từ tháng 4.2016 đến nay, tình trạng lấn chiếm, xâm hại rừng và đất lâm nghiệp đã diễn ra tại một số nơi trên địa bàn huyện Phù Mỹ. Như tại khoảnh 7, tiểu khu 141 thuộc khu vực hồ Hóc Miếu, thôn Mỹ Phú, xã Mỹ Lợi; khoảnh 1, tiểu khu 179 và khoảnh 3, tiểu khu 173 thuộc khu vực lòng hồ Đập Lồi, thôn Hội Phú, xã Mỹ Hòa; tiểu khu 208 thuộc khu vực hồ Chí Hòa, thôn Vạn Phước Tây, xã Mỹ Hiệp. Tuy nhiên, việc xử lý vi phạm mới dừng lại ở bước lập biên bản đình chỉ, xác minh đối tượng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ông Hà Ngọc Tân, Phó Chủ tịch UBND huyện Phù Mỹ, thẳng thắn nhìn nhận: Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện đang diễn ra phức tạp, có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương đã kiểm tra, xử lý, nhưng kết quả chưa như mong muốn, và chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn các đối tượng vi phạm. UBND huyện đã có văn bản chỉ đạo UBND các xã Mỹ Chánh, Mỹ Hòa, Mỹ Hiệp, Mỹ Lợi và Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện rà soát lại diện tích rừng, đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ, chức năng sản xuất đã và đang bị xâm hại; khẩn trường xác lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo thống kê của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ, từ tháng 4.2016 đến nay, toàn huyện có gần 66 ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ bị xâm hại, tập trung chủ yếu ở các xã Mỹ Chánh, Mỹ Lợi, Mỹ Hòa và Mỹ Hiệp. “Hiện nay, chúng tôi đang phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện và chính quyền địa phương tích cực xác minh, làm rõ đối tượng vi phạm để củng cố hồ sơ xử lý”, ông Bùi Văn Thăng cho biết.
Cũng theo ông Thăng, các đối tượng lấn chiếm đất dự tính sẽ trồng cây lâm nghiệp vào mùa mưa năm nay. Vì vậy, để ngăn chặn tình trạng này, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ phối hợp với chính quyền các địa phương theo dõi, giám sát chặt chẽ; đồng thời kiểm tra, xác minh cụ thể diện tích đất đã bị lấn chiếm và xác định đối tượng thực hiện hành vi lấn chiếm để báo cáo, đề xuất UBND huyện Phù Mỹ xử lý đúng theo quy định của pháp luật.
Được biết, đến ngày 15.8, ngành chức năng huyện Phù Mỹ đã xác định được 7 đối tượng lấn chiếm, xâm hại 31,16 ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ tại khu vực hồ Hóc Trạnh (xã Mỹ Chánh). Riêng các khu vực rừng và đất lâm nghiệp bị xâm lấn trái phép ở các xã Mỹ Hòa, Mỹ Lợi và xã Mỹ Hiệp đang được cơ quan chức năng huyện tiếp tục xác minh, làm rõ. (Báo Bình Định 15/8) đầu trang(
16.8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết để bảo vệ khu rừng đặc dụng Đăk Uy (H.Đăk Hà), tỉnh đã đầu tư 27 tỉ đồng xây dựng tường ngăn bê tông kết hợp kẽm gai bao quanh
Có thời điểm tỉnh phải yêu cầu bộ đội, công an trên địa bàn cử lực lượng dựng lán và tuần tra trong rừng, chống các đợt lâm tặc tấn công. Ông Nay A Riu, Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Đăk Uy, cho biết từ năm 2014, ban quản lý kéo dây mắc bóng điện ở từng gốc trắc để bảo vệ. Những nơi không mắc điện là ở các vùng lõi, vùng sâu, kiểm lâm phải thường xuyên kiểm tra và canh giữ.
Từ đầu năm đến nay, có khoảng 30 vụ lâm tặc lén chặt phá rừng trắc và tấn công kiểm lâm. Còn theo một kiểm lâm, vào mùa khô, kiểm lâm phải mắc võng ngủ canh chừng, bởi rừng trắc bốn bề trống trải nên lâm tặc có thể lẻn vào cưa trộm bất cứ lúc nào.
Rừng đặc dụng Đăk Uy rộng 546 ha, nằm sát QL14, thuộc 2 xã Đăk Mar và Đăk Hring (H.Đăk Hà), thuộc diện quý hiếm nhất trong cả nước, hiện còn nhiều cây gỗ trắc to lớn. (Thanh Niên 17/8) đầu trang(
Tại khu vực giáp ranh giữa huyện Tủa Chùa và huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên) đang xảy ra tình trạng người dân ngang nhiên vào rừng đốn hạ những cây gỗ nghiến cổ thụ để làm thớt.
Gỗ nghiến là loại gỗ quý thuộc nhóm IIA quý hiếm, cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Thế nhưng, trong khi ngành Kiểm lâm địa phương vẫn còn đang "loay hoay" xác định vị trí xảy ra tình trạng khai thác trái phép gỗ nghiến xem thuộc địa phận huyện nào, thì hàng ngày, những cây gỗ nghiến hàng trăm tuổi vẫn bị đốn hạ.
Có mặt tại trung tâm bản Hột, xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa vào thời điểm giữa trưa, phóng viên chúng tôi đã nghe tiếng máy cưa gầm rú phía trong những cánh rừng quanh bản.
Con đường mòn từ trung tâm bản Hột lên rừng toàn những dốc cao thẳng đứng đã trở nên lầy lội sau những cơn mưa. Trên quãng đường này, những cây gỗ nhỏ với đường kính 20-40 cm bị đốn hạ nằm ngổn ngang bên đường. Có một số gỗ đã được cưa xẻ thành cột nhà, các thanh gỗ vuông vức xếp gọn bên đường.
Gia đình ông Phương Chí Hoa có lán nằm trong khu rừng. Ông Hoa cho biết: “Tôi ở đây đã được gần một năm, hàng ngày có rất nhiều xe máy chạy qua đây để vào rừng, đến chiều xe lại chở thớt ra khỏi rừng. Ở đây tôi có thể nghe tiếng máy cưa xẻ hàng ngày.”Từ lán của ông Hoa, chỉ băng qua một quả đồi, chúng tôi phát hiện có hơn chục chiếc xe máy tập kết tại đây. Các xe ở đây chủ yếu là xe Win100, lốp được cuốn xích để tiện leo núi và bám đường khi đi đường lầy lội.
Bắt đầu bước vào khu rừng rậm, phóng viên thấy một thân cây gỗ nghiến dài khoảng 30m, đường kính khoảng 50cm đã bị đốn hạ. Đi sâu vào khoảng 200m là một địa điểm khai thác trái phép khác. Tại đây, một thân cây gỗ nghiến với đường kính 1,3m đã bị đốn hạ.
Các đối tượng khai thác trái phép chỉ bỏ lại phần gốc cây bị rỗng ruột và những mảnh vụn mỏng trong quá trình “chế tác” thớt nghiến, xung quanh mùn cưa vẫn còn rất mới.
Từ vị trí này, càng đi sâu vào khu rừng, phóng viên càng phát hiện nhiều điểm khai thác gỗ của lâm tặc. Những khúc gỗ còn sót lại trong rừng đo được với đường kính từ 0,8-1,3m.Sau một khoảng thời gian luồn rừng, phóng viên tiếp cận được nhóm người đang khai thác gỗ trái phép. Tại đây, một cây gỗ nghiến với đường kính hơn 1m đã bị nhóm người này đốn hạ.
Hai người đàn ông thay nhau dùng máy cưa để xẻ ngang thân cây thành những lát dày khoảng 5cm. Những người khác trong nhóm đẽo những lát gỗ thành những chiếc thớt tròn trịa.
Theo người dẫn đường, trong nhóm người này còn có hai người là dân buôn, chờ đến cuối ngày, khi những chiếc thớt được hoàn thành, những người đi buôn sẽ mua lại thớt và vận chuyển ra khỏi rừng, mang đi tiêu thụ.
Khi thấy người lạ xuất hiện, nhóm người này tạm dừng công việc, sau khi biết chúng tôi không phải lực lượng kiểm lâm, họ dùng nón che mặt lại, vô tư làm việc như không có chuyện gì xảy ra.
Một thanh niên trong nhóm chia sẻ những chiếc thớt nghiến được bán ngay tại rừng cho dân buôn với giá 50.000 đồng/cái. Mỗi ngày, một người thu được từ 50.000-100.000 đồng từ việc vào rừng cưa cây, đẽo thớt.
Chỉ trong vòng 2 giờ đồng hồ ở trong khu rừng, phóng viên đã chứng kiến hàng chục thân cây gỗ nghiến cổ thụ bị đốn hạ. Theo người dẫn đường cho biết trước đây khu rừng này rất nhiều gỗ nghiến, nhưng do bị khai thác trái phép, càng ngày cây gỗ nghiến càng trở nên thưa thớt.
Trong khi phóng viên chỉ cần có mặt ở trung tâm xã cũng có thể nghe tiếng máy cưa thì Kiểm lâm địa bàn, Hạt kiểm lâm và chính quyền huyện Tủa Chùa đều cho rằng không có tình trạng khai thác rừng trái phép.
Ông Giàng A Lử, Kiểm lâm viên phụ trách địa bàn xã, khẳng định rằng: “Không có tình trạng phá rừng. Nếu có, tôi ở đây sẽ nắm được hết.”
Ông Lò Văn Sân, quyền Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa, khẳng định: "Ở địa bàn xã Mường Đun, năm ngoái có hơn 100m3 gỗ do gió bão làm đổ, Hạt Kiểm lâm đã báo cáo về tỉnh nhưng vẫn chưa có chỉ đạo, bởi vậy số gỗ đó vẫn nằm trong rừng, người dân lợi dụng lúc cán bộ Kiểm lâm không có mặt đã vào khai thác trộm những cây đổ từ năm ngoái, năm kia. Còn việc chặt hạ mới, tôi khẳng định là không có."
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Tủa Chùa Lê Thanh Bình cũng khẳng định: "Thời gian qua, tại một số xã, đặc biệt là Mường Đun và Tủa Thàng, người dân có sang khu vực giáp ranh rừng của huyện Tuần Giáo để khai thác gỗ nghiến làm thớt. Còn trên địa bàn huyện Tủa Chùa, trong thời gian qua cơ bản không để xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép.”
Trong khi chính chủ rừng là người dân bản Hột và bản Kép khẳng định nơi xảy ra tình trạng khai thác trái phép gỗ nghiến thuộc địa phận xã Mường Đun thì lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa lại cho rằng những vị trí đó thuộc địa phận xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo.
Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa cũng đã đề nghị phóng viên dẫn đến những điểm mà phóng viên phản ánh. Tại các vị trí này, cán bộ Kiểm lâm huyện Tủa Chùa đã dùng máy GPS để xác định tọa độ. Ông Trần Đức Quyền, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa khẳng định những vị trí này thuộc địa phận xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, không thuộc địa phận xã Mường Đun của huyện Tủa Chùa.
Thế nhưng, tại buổi làm việc với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên, cán bộ của Chi cục nhập hai tọa độ phóng viên cung cấp vào bản đồ, kết quả cả hai vị trí này đều thuộc đất xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa. Như vậy, phải chăng Hạt Kiểm lâm Tủa Chùa đang cố tình đẩy trách nhiệm cho huyện Tuần Giáo?
Về phía Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo, Hạt trưởng Đinh Văn Cường thừa nhận có tình trạng khai thác gỗ nghiến trái phép tại địa phận xã Phình Sáng, đặc biệt là khu vực giáp ranh với xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa.
Theo ông Cường, tình trạng này đã kéo dài nhiều năm nay, nhưng thời gian này việc khai thác trái phép đã được hạn chế. Tuy nhiên, do lực lượng Kiểm lâm địa bàn quá mỏng, hiện nay, cả jai xã Phình Sáng và Rạng Đông với diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên 10.000ha, thế nhưng chỉ có một Kiểm lâm địa bàn phụ trách.
Làm rõ trách nhiệm của ngành Kiểm lâm khi để xảy ra tình trạng này, ông Nguyễn Duy Chinh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên cho biết: “Chi cục sẽ tiến hành kiểm tra sự việc mà phóng viên phản ánh để xác minh địa phận và có phương án xử lý. Đối với cán bộ Kiểm lâm địa bàn, khi xảy ra tình trạng khai thác, chặt phá hoặc cháy rừng mà không phát hiện, không ngăn chặn được kịp thời thì phải xem xét trách nhiệm để xử lý..."
Khu vực có cây gỗ nghiến tập trung nằm ở vùng giáp ranh giữa hai huyện của tỉnh Điện Biên là Tủa Chùa, Tuần Giáo và giáp với huyện Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La). Thời gian qua, tại khu vực rừng giáp ranh này luôn "nóng" tình trạng người dân ồ ạt khai thác gỗ nghiến trái phép để làm thớt.
Một số vị trí rừng bị khai thác trái phép vẫn nằm trong khu vực chưa được xác định rõ thuộc địa bàn địa phương nào quản lý và chịu trách nhiệm. Trong khi chính quyền các địa phương vẫn chưa xác định được ranh giới thì nhiều đối tượng vẫn ngang nhiên vào rừng khai thác gỗ trái phép.
Những cánh rừng đang thưa dần những cây gỗ nghiến cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Nếu lực lượng chức năng không kịp thời ngăn chặn, thì việc rừng Điện Biên không còn cây gỗ nghiến chỉ là vấn đề thời gian. (Vietnam+ 17/8) đầu trang(
Bằng cách lập sổ hộ khẩu khống, một số cán bộ cơ sở đã cấp “tấm vé thông hành” cho nhiều người di cư trái phép, phá rừng làm nương trong suốt thời gian dài.
Đã nhiều năm nay, huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên) trở thành "điểm nóng" trong vấn đề di cư tự do và nạn ồ ạt phá rừng lấy đất sản xuất. Trong khi Chính phủ, các bộ ngành Trung ương và chính quyền địa phương đang quyết liệt vào cuộc để giải quyết tình trạng này, thì một số cán bộ cơ sở lại ngấm ngầm tiếp tay cho người di cư tự do. Bằng cách lập những quyển sổ hộ khẩu khống, những người này đã cấp “tấm vé thông hành” cho nhiều người di cư trái phép, phá rừng làm nương trong suốt thời gian dài.
Nhóm phóng viên TTXVN đến bản Nà Pán (xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé) sau 3 giờ đi bộ ngược dốc, băng qua những mảnh nương còn chi chít những gốc cây cháy đen, báo hiệu nơi này đã từng là những cánh rừng rậm rạp. Những ngôi nhà gỗ khá kiên cố hiện ra, đây là nơi sinh sống của những người dân di cư tự do từ các tỉnh khác đến, đang tích cực thực hiện “công cuộc phá rừng” trên địa bàn vùng biên giới xa xôi nhất của cả nước này. Thế nhưng khi được hỏi đến quyền cư trú trên địa bàn, thì tất cả đều… hợp pháp, bởi hầu như gia đình nào cũng có 1 cuốn sổ hộ khẩu có đóng dấu đỏ.
Theo quy định của pháp luật, thì để chuyển hộ khẩu đến 1 địa phương khác, người đó phải có đủ các điều kiện cụ thể như chứng minh về chỗ ở hợp pháp, các thủ tục bắt buộc chuyển từ nơi đi và nơi đến, có thời gian tạm trú theo quy định… Vậy nhưng con đường để được cấp “tấm vé thông hành”, địa phương này lại làm theo một kiểu khác.
Một người dân (xin giấu tên) cho biết: “Nhà này có khẩu rồi, không lo bị đuổi đâu. Làm sổ hộ khẩu mất 7 triệu cho ông Pín, Trưởng Công an xã đấy”. Còn anh Hạng A Khay ở bản Nà Pán thì kể: “Thằng em mình đưa cho ông Pín 5 triệu, nhưng mà đưa xong ông ấy bảo chưa đủ nên chưa làm được”. Cùng chung cảnh đó, nhiều hộ gia đình trong bản muốn được cấp giấy giới thiệu để về quê cũ cắt hộ khẩu, phải đưa cho Trưởng Công an xã 2 triệu đồng.
Anh Mùa A Lử cũng ở bản Nà Pá kể: “Ông Pín lấy của tôi 2 triệu đồng rồi mới cấp cho giấy giới thiệu. Khi cắt được hộ khẩu lên, ông ấy lại vòng vo, gợi ý phải đưa gần 10 triệu đồng mới làm cho. Tôi không có tiền nên lên Công an huyện tự làm. Cán bộ trên đó bảo khẩu thì chưa đủ thủ tục nên chưa làm được đâu, cứ về làm ăn tốt là được…”.
Một số người dân đã nhập khẩu thành công cho biết: họ được Trưởng bản Nà Pán dẫn đi làm hộ khẩu. Cán bộ xã còn dặn là sau khi làm xong hộ khẩu thì cứ ở sâu trong rừng mà làm nương, làm rẫy. Vào đây rồi, nếu không có đất thì cứ nhờ anh em, họ hàng đến chặt cây, chỉ một đêm là có nương. Việc này xã biết, bản biết nhưng chẳng ai nhắc nhở gì cả. Đó là chưa kể có hộ khẩu rồi, nhưng mọi quyền lợi của các hộ này đều không được hưởng như những công dân khác.
Ông Thào A Lâu ở bản Nà Pán cho biết: “Dù có sổ hộ khẩu, nhưng chúng tôi không được coi như người trong bản, không được bố trí chỗ ở, không được đi họp bản, không được hưởng hỗ trợ, thậm chí còn không có tên trong danh sách đi bầu cử đại biểu Quốc hội. Nhưng mọi khoản thu đóng góp như tiền bó lúa, tiền chất độc da cam…họ đều đến thu đủ cả. Họ bảo đã có hộ khẩu thì là dân của bản, phải đóng góp tất cả mọi khoản như một công dân…”.
Để thực hiện Đề án 79 của Chính phủ về “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực biên giới huyện Mường Nhé”, ngày 19/10/2015, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo “Kiên quyết trả về địa phương cũ số dân di cư tự do đến sau thời điểm 30/3/2011”. Tuy nhiên, các cán bộ xã Mường Nhé đã “kiên quyết giúp dân di cư ở lại mảnh đất này bằng mọi giá”, bằng những cuốn sổ hộ khẩu được làm khống sau khi có đủ chi phí “bôi trơn”, dù họ đến sau thời điểm quy định khá lâu.
Cầm trên tay cuốn Sổ hộ khẩu số 180042065 mang tên chủ hộ Thào A Da, chúng tôi nhận ra một điều khá bất ngờ là phần ghi tên chủ hộ và bản cư trú đã được phủ bằng bút xóa và viết đè lên thông tin hiện tại, có đóng dấu vào chỗ sửa để xác nhận. Để biết được người chủ cũ là ai, chúng tôi đã rất khó khăn mới gặp được ông Tao Văn Chi là Trưởng Công an xã Mường Nhé. Ông này mới được bổ nhiệm thay cho bố đẻ vừa nghỉ hưu là ông Tao Văn Pín. Sau một hồi quanh co, ông Chi thừa nhận là cuốn Sổ hộ khẩu trên, cùng với 21 sổ khác của bản Nà Pán không có trong hồ sơ quản lý.
Ông Chi cho biết: “Trường hợp này thì tôi trả lời thật là tôi mới chuyển về đây, nên chưa cấp hộ khẩu cho gia đình nào. Còn lãnh đạo Công an và UBND xã nhiệm kỳ trước họ có làm, nhưng chắc có đủ điều kiện thì họ mới cấp. Hồ sơ thì có lưu đấy, nhưng chắc các ông ấy để lẫn lộn nên tìm không ra, không thấy bàn giao lại cho tôi, muốn tìm thì lên Công an huyện”.
Theo “chỉ dẫn” của Trưởng Công an xã Mường Nhé, nhóm phóng viên tìm tới Công an huyện Mường Nhé để được cung cấp thông tin. Đúng như dự đoán, toàn bộ 22 cuốn Sổ hộ khẩu do ông Pín cấp cho bản Nà Pán đều không có trong sổ lưu của đơn vị. Thiếu tá Pờ Pờ Sơn, Phó Trưởng Công an huyện Mường Nhé cho biết: “Về việc này, Công an các xã có xảy ra, nhưng ít thôi chứ không phổ biến, chủ yếu là do nể nang nên cấp sai. Chúng tôi đã chỉ đạo thu hồi để hủy. Thực ra mấy trường hợp đồng chí Pín làm là cấp sổ hộ khẩu khống, không lập hồ sơ lưu lên không kịp thời phát hiện”.
Đối với trường hợp cuốn Sổ hộ khẩu bị sửa chữa, tẩy xóa, ông Sơn thừa nhận: chỉ nhìn bằng mắt thường cũng biết đây là trách nhiệm của xã Mường Nhé bởi những chỗ sửa chữa đã đóng dấu đỏ chứng thực. Nếu Công an xã làm như vậy thì đây là vấn đề nghiêm trọng.
Trong khi đó, theo báo cáo của Công an xã Mường Nhé gửi Công an huyện vào tháng 6/2016, thì kết quả kiểm tra hồ sơ cấp sổ hộ khẩu cho 6 hộ ở bản Nà Pán, chỉ có một trường hợp không đủ thủ tục. Không chỉ ở Nà Pán, mà tại bản Nậm Pố cũng có 5 trường hợp cấp sổ hộ khẩu không đúng thủ tục và không có hồ sơ lưu. Nếu vậy, dư luận có quyền đặt câu hỏi: chỉ riêng xã Mường Nhé đã có những sai phạm như trên. Một bản như Nà Pán chưa đầy 100 hộ, mà có tới 1/5 số hộ thường trú sai quy định. Vậy trong tổng số khoảng 20.000 hộ dân di cư vào huyện này, đang sống ở hơn 100 bản, sẽ có bao nhiêu trường hợp được cấp khống sổ hộ khẩu như xã Mường Nhé?
Mang nội dung trên đến làm việc với lãnh đạo huyện Mường Nhé, ông Lù Văn Thanh, Chủ tịch UBND huyện thừa nhận: “Vấn đề hộ khẩu bất hợp pháp này, chúng tôi đang nắm, từng bước làm rõ. Quan điểm chỉ đạo là khi cấp sổ hộ khẩu phải đúng thủ tục, rà soát lại với đối tượng chưa được cấp.Trước mắt, nếu có sai phạm, chúng tôi xác định sẽ tiến hành thu giữ, sau đó tùy từng mức độ xử lý. Đến thời điểm này vẫn chưa có báo cáo chính thức”.
Qua lời của vị lãnh đạo huyện này, thì tình trạng trên rõ ràng là huyện đã nắm được, nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý. Trong khi đó, xã Mường Nhé chỉ cách trung tâm huyện chưa đầy 1 km. Nhóm phóng viên chỉ trong một thời gian ngắn đã dễ dàng tìm ra đầy đủ chứng cớ về những sai phạm, thì có lý do gì mà các cơ quan chức năng của huyện không thể xác minh được?.
Còn quan điểm của Bí thư Huyện ủy Mường Nhé Nguyễn Quang Sáng thì khác. Ông Sáng khẳng định rằng: Cho đến bây giờ, ông vẫn chưa nhận được bất cứ báo cáo của cơ quan, đơn vị nào về tình trạng này. Nhưng trong khi cả nước đang dành sự quan tâm cho huyện Mường Nhé để sắp xếp ổn dân cư, thì hành vi tiếp tay này phải được xử lý thật nghiêm túc, làm gương cho các địa phương khác. Nếu 118 bản ở huyện Mường Nhé đều vi phạm như vậy, thì dù có đổ bao nhiêu tiền của, công sức vào đây cũng không thể chấm dứt được tình trạng di dân tự do, phá rừng bừa bãi ở vùng biên giới này. (Tin Tức 16/8) đầu trang(
Rừng bị tàn phá với tốc độ chóng mặt khiến độ che phủ suy giảm nhanh, mất đi khả năng sinh thủy và giữ nước; đời sống người dân đảo lộn; hệ sinh thái, cảnh quan Tây Nguyên đang thay đổi theo chiều hướng thiếu bền vững... Đó là nguy cơ lớn với khu vực này.
Chỉ trong vòng 7 năm (từ 2008 đến 2015), Tây Nguyên mất gần 360 nghìn ha rừng. Đó là con số đáng để giật mình, được các nhà khoa học đưa ra tại hội thảo "An ninh nguồn nước phục vụ phát triển KT- XH vùng Tây Nguyên", tổ chức tại tỉnh Gia Lai vừa qua. Nhìn xa hơn về trước, trong vòng 30 năm qua, đã có 1/3 diện tích rừng Tây Nguyên bị tàn phá với hơn 1,5 triệu ha. Các công trình thủy điện chuyển nước sang lưu vực khác làm cho Tây Nguyên mất 2,9 tỷ m3 nước/năm, gây thiếu hụt nguồn nước, tăng nguy cơ thiếu nước vào mùa khô.
Chính vì vậy, thời gian qua Tây Nguyên phải hứng chịu đợt khô hạn lịch sử trong hơn 20 năm qua. Tính đến tháng 6/2016, toàn vùng đã có gần 180.000 ha cây trồng bị hạn hán, ước tổng thiệt hại hơn 5.000 tỷ đồng. Việc phát triển thủy điện ồ ạt đang “giết” các dòng sông lớn ở Tây Nguyên.
Theo tiến sĩ Đào Trọng Tứ, một chuyên gia tài nguyên nước thì 4 hệ thống sông chính của Tây Nguyên là Sê San, Sêrêpốk, sông Ba và sông Đồng Nai có tài nguyên nước dồi dào, điều kiện địa hình, địa chất thuận lợi với tiềm năng lớn về phát triển thủy điện. "Tận dụng" thuận lợi trên, toàn vùng Tây Nguyên đến năm 2015 đã có 190 công trình thủy điện lớn nhỏ đã và đang được xây dựng.
Tiến sĩ Tứ phân tích, trên dòng sông chính Sêrêpốk hiện có 7 công trình thủy điện lớn và hàng chục công trình thủy điện nhỏ. Thủy điện Srêpốk 4A đã ngăn dòng, chuyển nước qua kênh đào lớn xuống đoạn sông 20km hạ lưu thủy điện Sêrêpốk 4 làm cho khúc sông từ sau đập thủy điện Sêrêpốk 4 và Sêrêpôk 4A bị cạn kiệt, nguy cơ trở thành đoạn sông “chết”.
Tương tự, sông Sê San cũng có tới 7 công trình thủy điện lớn đã được xây dựng, vận hành. Đặc biệt, thủy điện Thượng Kon Tum trên sông Sê San không trả nước về dòng chính mà trả về sông Trà Khúc (tỉnh Quảng Ngãi). Thủy điện An Khê-Kanak trên Sông Ba chuyển nước sang sông Kôn (tỉnh Bình Định). Sông Đồng Nai với hàng loạt các thủy điện lớn cũng đang đặt tài nguyên nước và đa dạng sinh học vùng đầu nguồn sông Đồng Nai trong tình trạng báo động.
Theo đánh giá của các nhà khoa học tại hội thảo, 25 công trình thủy điện lớn tại Tây Nguyên đã chiếm dụng 68.195 ha đất, ảnh hưởng đến 25.712 hộ dân. Tây Nguyên đã phải cái giá cực đắt, là chuyển trên 80.000 ha đất các loại cho thủy điện. Tính trung bình 1MW thủy điện lớn đã chiếm tới 14,5 ha đất các loại, làm ảnh hưởng 5,5 hộ dân, trong đó 1,5 hộ phải di dời. Tuy nhiên, việc trồng rừng thay thế là quá nhỏ so với diện tích rừng phải “hy sinh” để phục vụ thủy điện.
Thống kê chưa đầy đủ cho thấy, mới chỉ có 757,3 ha rừng được trồng so với khoảng 22.770 ha đất rừng các loại đã chuyển đổi mục đích sử dụng cho các dự án thủy điện. Tại Đăk Lăk, các dự án thủy điện phải trồng mới hơn 845 ha, nhưng hiện chỉ mới trồng được 63 ha. Tại tỉnh Lâm Đồng, hầu hết các thủy điện chưa bố trí được đất để trồng rừng thay thế. Những hệ lụy do thủy điện gây ra còn là thay đổi tập quán văn hóa, sản xuất lâu đời của người dân bản địa Tây Nguyên. Việc chậm trễ trong đền bù, tái định cư cũng gián tiếp đẩy người dân đi phá rừng...
Trước những hệ lụy do thủy điện gây ra, đến nay cả nước đã dừng hơn 400 thủy điện. Trong đó Lâm Đồng 28, Kon Tum 2, Gia Lai 19, Đắk Lắk 20... Những động thái trên tuy muộn, nhưng cũng rất đáng làm, nhằm cứu vãn phần nào những cánh rừng Tây Nguyên đang dần bị ngập chìm trong thủy điện. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/8) đầu trang(
16-8, đoàn đại biểu Viện KSND tỉnh Sê Kông (Lào) đã có buổi thăm, làm việc và ký kết hợp tác với đoàn đại biểu VKSND tỉnh.
Tại buổi làm việc, hai bên đã ký kết biên bản ghi nhớ với các nội dung: Thống nhất tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt và toàn diện giữa hai Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào - Việt nói chung, giữa hai Viện KSND nói riêng; tăng cường giao lưu học hỏi kinh nghiệm trong công tác kiểm sát, trao đổi ngôn ngữ; tăng cường công tác ủy thác tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ; phối hợp chặt chẽ trong công tác thông tin phòng chống tội phạm và giải quyết các vụ việc liên quan xảy ra trong khu vực biên giới của hai tỉnh, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm mua bán người.
Đồng thời, chú trọng phối hợp giải quyết vụ án phá rừng pơmu xảy ra tại khu vực biên giới Nam Giang của Quảng Nam và Đắc Chưng của tỉnh Sê Kông; luân phiên 2 năm một lần, hai bên thống nhất sang thăm và làm việc. Dịp này, Viện KSND tỉnh Quảng Nam đã tặng 5 máy tính xách tay, một số trang thiết bị làm việc cùng nhiều phần quà cho phía Viện KSND tỉnh Sê Kông. (Công An Đà Nẵng 17/8) đầu trang(
Liên quan đến vụ trọng án chống người thi hành công vụ khiến một Kiểm lâm viên bị chết tại xã Phi Tô, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 8/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng vẫn đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án.
Qua vận động, thuyết phục của lực lượng chức năng và chính quyền địa phương, K’Long Ha Hen, 22 tuổi, ở thôn Hang Hớt, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng), là nghi phạm thứ 5 tham gia hành hung cán bộ Ban quản lý rừng đã ra đầu thú.
Trước đó, chiều ngày 13/8, trong khi lực lượng chức năng thực hiện lệnh bắt khẩn cấp 5 nghi phạm thì bị người dân địa phương ném đá, làm 11 chiến sỹ bị thương. Lực lượng công an đã phải dùng quả nổ nghiệp vụ giải tán đám đông và bắt giữ các đối tượng quá khích để điều tra, làm rõ.
Liên quan đến vụ việc, ông Võ Danh Tuyên, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết, tình trạng chống người thi hành công vụ đối với lực lượng kiểm lâm trên địa bàn đang có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân chủ yếu do có nhiều vụ vi phạm không được xử lý triệt để dẫn đến các đối tượng vi phạm coi thường pháp luật.
Ông Võ Danh Tuyên, nói: “Chống người thi hành công vụ trên địa bàn Lâm Đồng về lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng có chiều hướng gia tăng. Nguyên nhân do một bộ phận người dân chưa am hiểu pháp luật, coi thường pháp luật, dẫn đến tình trạng khi bị xử lý, bị ngăn chặn liền có tư tưởng chống đối, thậm chí chống đối có tổ chức, liều lĩnh và rất manh động.
Mặt trái là, khung phạt tuy cao, đủ sức răn đe nhưng từ trong thực tiễn những đối tượng vi phạm lại ít có điều kiện và khả năng để thi hành vì vậy nên nhờn luật. Có nhiều quyết định xác minh rồi để đó, không thi hành được, cái sâu xa là ở chỗ đó chứ không phải khung phạt, mức phạt là không đủ răn đe”. (VOV 17/8) đầu trang(
16.8, UBND thị xã Ninh Hòa đã có báo cáo về việc rừng Hòn Hèo bị tàn phá trong thời gian qua (Lao Động đã có loạt bài phản ánh) gửi UBND tỉnh Khánh Hòa.
Điều đáng nói là bản báo cáo không hề đề cập đến trách nhiệm cũng như hình thức xử lý kỷ luật các bên liên quan đã để xảy ra phá rừng.
Theo đó, sau lần kiểm tra đầu tiên (ngày 21.6) không phát hiện có phá rừng tại tiểu khu 85, ngày 29.6, Hạt kiểm lâm Ninh Hòa tiếp tục phối hợp với Trạm kiểm lâm xã Ninh Phú, UBND xã Ninh Phú tiếp tục kiểm tra khu vực hồ chứa nước Tiên Du và các khu vực lân cận (thuộc xã Ninh Phú).
Qua kiểm tra, đoàn phát hiện và lập biên bản tại khoảnh 3,5 tiểu khi 83 có 9 cây gỗ bị cưa hạ. Tại thời điểm kiểm tra, phần gỗ đã bị lấy đi, chỉ còn lại các bìa bắp và một phần thân gỗ có cành ngọn bị bọng, rỗng ruột. Việc phá rừng theo dự đoán của đoàn kiểm tra diễn ra khoảng sau Tết Nguyên đán năm 2016.
Tiếp đến, ngày 6.7, các lực lượng nói trên tiếp tục kiểm tra khu vực hồ chứa nước Tiên Du và các khu vực lân cận thuộc xã Ninh Phú. Qua kiểm tra, đoàn phát hiện tại khoảnh 2, tiểu khu 85 đã phát hiện 17 cây rừng bị cưa hạ, gồm các loại cây: 11 cây giẽ, 1 cây sơn huyết, 2 cây gỗ tạp và 3 cây trâm hồng (đường kính dao động từ 20-50cm). Tại thời điểm kiểm tra, phần gỗ đã bị lấy đi.
Báo cáo còn cho biết, UBND thị xã Ninh Hòa đề nghị Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh (là đơn vị nhận giao khoán rừng tự nhiên khu vực Hòn Hèo) tăng cường chỉ đạo cho các Đồn biên phòng Vĩnh Lương, Ninh Hải và Ninh Phước thường xuyên tuần tra, kiểm soát, truy quét các đối tượng phá rừng trong khu vực đã nhận khoán bảo vệ; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
UBND thị xã Ninh Hòa cũng đề nghị Hạt kiểm lâm Ninh Hòa phối hợp với xã Ninh Phú và Bộ chi huy Bộ đội biên phòng tỉnh Khánh Hòa thực hiện điều tra, xác minh làm rõ các đối tượng khai thác trái phép để xử lý theo quy định.
Thời gian qua, PV Báo Lao Động liên tục liên hệ với Chi cục kiểm lâm, thị xã Ninh Hòa để trao đổi về vụ việc phá rừng nhưng các cơ quan này im lặng một cách khó hiểu. Tương tự, PV liên lạc với ông Lê Văn Đỏ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa - hỏi kết quả kiểm tra nhưng ông Đỏ cũng im lặng (!). (Lao Động 16/8) đầu trang(
16/8, Phòng CSGT công an tỉnh Quảng Bình cho biết: Lực lượng này vừa phát hiện và tạm giữ một xe gắn biển số xanh chở gỗ không rõ nguồn gốc lưu thông trên đường.
Theo đó, vào hồi 9h30 ngày 16/8 tại km 650 + 700 thuộc QL 1A đoạn đi qua địa phận xã Quảng Phú huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình. Tổ công tác của phòng CSGT công an tỉnh Quảng Bình đã phát hiện xe ô tô mang BKS: 73B – 0158 do do Đặng Văn Cường (SN 1991) trú tại xã Quảng hợp huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình điều khiển.
Trên xe, lực lượng CSGT phát hiện 23 thanh gỗ, Cường đã không xuất trình được giấy tờ hợp lệ của số gỗ nói trên tại thời điểm kiểm tra.
Mặt khác, chiếc xe do Cường điều khiển đã không mang theo giấy tờ đăng ký, chiếc xe này đã không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật. Và đặc biệt, lái xe đã không xuất trình được giấy phép lái xe của mình.
Lực lượng CSGT đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đồng thời bàn giao số gỗ trên cho Hạt kiểm lâm huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình xử lý theo luật định.
Trung tá Từ Nhật Tú - Trưởng phòng CSGT tỉnh Quảng Bình - cho biết: Xe mang BKS 73B – 0158 đã được thanh lý nhưng chủ phương tiện mua lại không làm thủ tục sang tên đổi chủ.
Hiện tại đơn vị đã tiến hành lập biên bản tạm giữ phương tiện và yêu cầu chủ phương tiện chấp hành việc xử lý vi phạm đồng thời phải tiến hành làm thủ tục sang tên đổi chủ đối với chiếc xe này. (Giáo Dục & Thời Đại 16/8) đầu trang(
Sáng nay (17.8), ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch UBND xã Tam Thanh, TP.Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cho Dân Việt biết, đã chính thức bàn giao con hải cẩu quý hiếm cho Viện Hải dương học Nha Trang vào lúc 4 giờ 30 phút cùng ngày.
“Sau khi bắt được hải cẩu ở bãi biển Tam Thanh và thực hiện công văn của Sở NN&PTNT tỉnh về việc bàn giao cho Viện Hải dương học Nha Trang nuôi giữ, chăm sóc. Sau khi bàn giao hải cẩu, về mặt chính quyền chúng tôi cũng đã lập biên bản bàn giao. Lúc bàn giao, theo quan sát của chúng tôi, hải cẩu rất khỏe mạnh, không có biểu hiện gì…”
Trả lời câu hỏi của P.V, một số người dân nói rằng, khi bàn giao hải cẩu đã được Viện Hải dương học Nha Trang hỗ trợ 20 triệu đồng cho người bắt được, việc này có hay không?. Ông Bình trả lời: “lúc bàn giao thì tôi không nghe nói đến việc tiền nong gì hỗ trợ cho người bắt hết, việc này anh hỏi lại bên Viện Hải dương học Nha Trang xem thế nào!”.
Ông Huỳnh Tấn Đức - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam cho biết, hải cẩu là loài động vật quý hiếm thường sinh sống ở xứ lạnh. Việc loài này xuất hiện ở vùng biển Quảng Nam là điều khá kỳ lạ. Sau khi nắm bắt thông tin, Sở đã liên lạc với Viện Hải dương học Nha Trang và bàn giao về cho họ chăm sóc nuôi dưỡng nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và tham quan…
Trước đó, như Dân Việt đã thông tin, vào chiều qua ngày 15.8, Đội cứu hộ bãi biển Tam Thanh, xã Tam Thanh, TP.Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã bắt được con hải cẩu khi nó vào gần bờ. Sau khi bắt được, lực lượng chức năng đã dùng thúng chai cho nước vào để nuôi nhốt hải cẩu và điện báo cơ quan chức năng. (Dân Việt 17/8, Trương Hồng) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại buổi tiếp xúc cử tri sáng 15/8, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung chia sẻ một thông tin giật mình và 'không thể chấp nhận được' đó là chỉ 24 km ở Đại lộ Thăng Long nhưng một năm riêng tiền cắt cỏ và tỉa một ít cây trúc anh đào, một ít hoa dâm bụt ngốn 53 tỷ đồng.
Sáng 15/8, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung, cùng đoàn đại biểu HĐND TP tiếp xúc cử tri quận Hoàn Kiếm, báo cáo kết quả kỳ họp thứ hai, HĐND TP Hà Nội khóa XV. Tại đây, nhiều cử tri đã kiến nghị nhiều vấn đề liên quan đến đời sống dân sinh của người dân Thủ đô.
Phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết liên quan đến việc trồng cây xanh, khoảng 3 năm trở lại đây thành phố đã thực hiện chính sách xã hội hóa việc trồng cây xanh. Tuy nhiên, bản chất của việc xã hội hóa không phải là tiền của tư nhân bỏ ra, mà vẫn lấy tiền từ ngân sách thành phố để đặt hàng các doanh nghiệp trồng cây xanh. Theo Chủ tịch Hà Nội chính việc đặt hàng đó khiến nhiều công ty lao vào trồng cây xanh nên không kiểm soát được chất lượng.
Ông Chung cho biết, thời gian qua thành phố quyết định dừng lại toàn bộ việc cắt tỉa và trồng cây hoa cảnh tại các vườn hoa trên địa bàn chỉ để lại một số vườn hoa xung quanh hồ Hoàn Kiếm và một số điểm quan trọng.
“Quyết sách này giúp thành phố tiết kiệm được khoảng 700 tỷ đồng mỗi năm. Thành phố đã yêu cầu tất cả các quận dừng việc này từ 1/7. Tôi chỉ nêu một điều có lẽ khiến nhiều người giật mình, đó là chỉ 24 km ở Đại lộ Thăng Long nhưng một năm riêng tiền cắt cỏ và tỉa một ít trúc anh đào, một ít hoa dâm bụt là 53 tỷ đồng thì không thể chấp nhận được”, Chủ tịch UBND TP Hà Nội nhấn mạnh.
Lãnh đạo TP Hà Nội cũng cho biết, Công ty cây xanh và một số công ty khác trồng miệt mài từ đầu năm đến nay chưa hết 40 tỷ đồng. “Cây xanh tồn tại được cả trăm năm, còn trồng cây hoa việc cắt tỉa rất lãng phí. Ở các nước người ta trồng cây tự nhiên để tạo cảnh quan chứ không làm tốn kém như mình”, ông Chung nói.
Theo Chủ tịch UBND TP Hà Nội, thời gian tới thành phố sẽ “biến” 98 ha đất trống ở Đại lộ Thăng Long như một cánh rừng nối dài từ Ba Vì về Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Cụ thể, Hà Nội sẽ trồng khoảng 45.000 cây xanh trên Đại lộ này, trước mắt là trồng khoảng 20.000 cây cọ dầu theo 4 luống trên Đại lộ này. Toàn bộ cây xanh được trồng trên Đại lộ Thăng Long được doanh nghiệp tặng.
“Nếu tạo ra rừng ở đây, chúng ta sẽ tạo ra 98 ha cây xanh ở đây. Nghĩa là 98 ha đất không sẽ tạo thành rừng cây xanh tốt. Hiện một số doanh nghiệp đã tặng cây, chúng tôi đang kêu gọi các công ty khác trồng cây”, ông Chung cho biết. (Tiền Phong 15/8) đầu trang(
Ngày 16-8, thông tin từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Cà Mau cho biết, đang phối hợp với các đơn vị liên quan kiểm tra tình hình tiêu thụ lâm sản tại các công ty lâm nghiệp trên địa bàn, qua đó có hướng tháo gỡ khó khăn cho cư dân miệt rừng…
Như NDĐT đã thông tin, giá cây rừng (đước, keo lai) ở Cà Mau hiện đang sụt giá mạnh, tác động xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và người dân sinh sống trên các lâm phần rừng ngập mặn và ngập úng của tỉnh. Tại các huyện Ngọc Hiển, Năm Căn và Đầm Dơi, những nơi có diện tích trồng rừng đước lớn của tỉnh Cà Mau, giá gỗ hiện chỉ còn từ 500.000 – 600.000 đ/khối, giảm gần một nửa so với thời điểm cùng kỳ năm trước.
Còn tại lâm phần rừng tràm thuộc huyện U Minh và Trần Văn Thời, gỗ keo lai giảm khoảng 30-40% so với cùng kỳ năm 2015. Bước đầu, ngành chức năng xác định nguyên nhân khiến giá gỗ giảm mạnh và khó tiêu thụ như hiện nay là do: thuế xuất khẩu gỗ trong nước tăng; nhu cầu tiêu thụ than đước và giá gỗ keo lai tại một số nước trên thế giới giảm.
Trước tình bất lợi nêu trên, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo Sở NN&PTNT tỉnh phối hợp với các đơn vị liên quan nhanh chóng rà soát tình hình tiêu thụ lâm sản trên địa bàn, trong đó đặc biệt lưu ý: rà soát giá cả, tình hình tiêu thụ lâm sản; xác định nguyên nhân giá gỗ giảm; các tác động ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và người dân; dự báo thị trường tiêu thụ gỗ trong thời gian tới cùng giải pháp hạn chế thiệt hại do giá gỗ giảm. (Nhân Dân 16/8) đầu trang(
Tính đến hết tháng 7/2016, các đơn vị trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh đã trồng được gần 940 ha, đạt 35% kế hoạch được giao.
Thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2016, tỉnh Đắk Nông đã xây dựng kế hoạch trồng 2.674 ha, giao cho 22 đơn vị thực hiện việc trồng. Tính đến nay, ngoài 15 đơn vị thực hiện trồng thì toàn tỉnh vẫn còn tới 20 đơn vị chưa thực hiện kế hoạch trồng rừng. Nguyên nhân chính là do đất triển khai trồng rừng đã bị người dân xâm chiếm trồng các loại cây công nghiệp nên việc thu hồi gặp rất nhiều khó khăn.
Sau khi được giao kế hoạch trồng rừng thay thế, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên đã thống kê trong tổng số hơn 290 ha bị người dân xâm chiếm thì có tới 130 ha trồng cà phê, hồ tiêu; số diện tích còn lại người dân đang thực hiện trồng hoa màu ngắn ngày. Vì thế, việc thực hiện kế hoạch giao của Công ty gặp rất nhiều khó khăn. Người dân không phối hợp trồng rừng và đã xảy ra tranh chấp nhiều lần với đơn vị trồng rừng. Đến nay, Công ty mới trồng được 15 ha trên diện tích được giao.
Ông Phạm Hòa Dũng, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên cho biết: “Trước khi bước vào “mùa” trồng rừng, đơn vị đã thông báo, gắn các biển thông báo tại điểm trồng rừng, tổ chức họp dân để các hộ dân không tiến hành gieo trồng trên diện tích sẽ triển khai trồng rừng nhưng người dân không phối hợp. Về phía chính quyền địa phương, các đơn vị cũng chậm vào cuộc tuyên truyền, khiến tiến độ trồng rừng thay thế bị ảnh hưởng rất nhiều”.
Tương tự, tại Công ty TNHH Thương mại, Dịch vụ, Sản xuất khoáng sản Phú Gia Phát được giao trồng 400 ha rừng thay thế tại tiểu khu 1260 thuộc xã Buôn Choáh (Krông Nô), đơn vị cũng đang gặp nhiều khó khăn do quỹ đất bị lấn chiếm.
Ông Nguyễn Đức Vượng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cho biết: "Chính quyền địa phương đã cưỡng chế, giải tỏa diện tích đất và giao đất trống cho đơn vị thực hiện việc trồng rừng. Thế nhưng, người dân ngày sau đó lại xâm lấn và trồng bắp trên diện tích Công ty được bàn giao. Không dừng lại ở việc xâm lấn, người dân đã phá cây rừng đã được trồng và xảy ra xô xát với công nhân trồng rừng”.
Cụ thể, đầu tháng 6/2016, nhiều lô cây rừng sau khi trồng đã bị phá hoại với các cách thức như nhổ bỏ và phun thuốc diệt cỏ làm cây chết, tổng diện tích là 15 ha muồng gây thiệt hại hơn 70 triệu đồng. Không dừng lại ở đó, nhiều đối tượng còn gây áp lực, xô xát với công nhân trồng rừng khiến việc trồng rừng bị gián đoạn.
Theo báo cáo của Công ty, đến đầu tháng 8, đơn vị mới trồng được 55,96 ha trong tổng diện tích 400 ha rừng được giao theo kế hoạch. Ông Vượng cho biết thêm: “Hiện nay, Công ty mong muốn chính quyền địa phương, ngành chức năng vào cuộc hỗ trợ, phối hợp cùng với đơn vị xử lý các đối tượng phá hoại tài sản nhằm tiếp tục triển khai dự án trồng rừng đạt kết quả cao hơn.
Ông Nguyễn Quân Trường, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp-PTNT) cho biết: Hiện nay, thời gian đã gần cuối vụ trồng rừng, các đơn vị đang gặp khó khăn trong việc xử lý đất lâm nghiệp bị xâm canh nên sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tổ chức tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và đồng thuận trồng rừng có vai trò rất quan trọng. Với diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, công tác tuyên truyền vận động tiếp tục được chú trọng để người dân phối hợp trồng rừng, sau đó mới tiến hành các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với những đơn vị được giao diện tích lớn, nếu không có phương án xử lý kịp thời, ngành sẽ điều chỉnh giao các đơn vị khác có quỹ đất hoàn thành trồng rừng theo kế hoạch. (Báo Đắk Nông 16/8) đầu trang(
Trong 3 năm trở lại, mì bị rớt giá, bà con nông dân thị xã La Gi đã chuyển một phần lớn diện tích sang trồng rừng bằng cây keo lai.
Trên địa bàn phường Tân An có hàng trăm ha rừng keo lai từ 2 - 3 tuổi trồng bên Bắc sông Dinh và các vùng lân cận, cây phát triển rất tốt do được bà con rong cành tỉa nhánh, làm cỏ, bón phân đúng quy trình. Tuy nhiên hiện nay có nhiều diện tích rừng cây đã lớn đạt độ cao trên 2 m bỗng nhiên bị rụng lá khô cành chết đứng.
Anh Nguyễn Hoàng ngụ tại khu phố 8, phường Tân An, có diện tích rừng trồng trên 1 ha ở gần suối Đó và Nam sông Dinh cho biết, diện tích rừng keo của anh trồng thưa, chăm sóc rất kỹ, cây phát triển nhanh nhưng năm nay vẫn bị chết một số. Thiệt hại nặng hơn là rừng của anh Đức, anh Sanh… có những đám keo gần như chết đồng loạt.
Rừng trồng bên Bắc sông Dinh của nhiều hộ nông dân khu phố 8 cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Bà con bây giờ chỉ biết hằng ngày dùng xe bò vào đốn cây khô về làm củi đốt. Theo anh Hoàng, nguyên nhân dẫn đến cây chết khô là do năm nay nắng hạn gay gắt và kéo dài, những rừng keo đang tuổi phát triển nằm trên các gò đồi, đất cát, đất có chân đá bàn, thiếu ẩm, bị khô rễ, khi mưa xuống vẫn không đủ sức phục hồi, cây bị thúi rễ rụng lá và chết.
Chưa có thống kê chính thức về tình trạng rừng keo bị khô chết cũng như mức thiệt hại của người trồng rừng, nhưng theo phản ảnh của người dân thì diện tích rừng bị khô chết không hề nhỏ. Và điều chắc chắn, nhiều người trồng rừng sẽ bị thua lỗ. (Báo Bình Thuận 15/8) đầu trang(
Do giá trị kinh tế không cao, thời gian canh tác dài nên người dân Tân Phước không còn mặn mà với việc trồng rừng nữa mà chuyển sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn, đe dọa mất trắng diện tích rừng.
Theo chân ông Ngô Tài Lắm, cán bộ địa chính xã Tân Hòa Đông, chúng tôi có chuyến khảo sát thực tế tình hình trồng rừng trên địa bàn xã. Nhưng thay vì được nhìn thấy những cánh rừng bạt ngàn thì những gì chúng tôi quan sát được là những cánh đồng khóm, khoai mỡ rộng lớn xanh tốt.
Ông Lắm cho biết: “Cách đây hơn 10 năm rừng còn nhiều lắm, đi đâu cũng thấy toàn là tràm, bạch đàn. Nhưng từ khi có hệ thống đê bao khép kín, canh tác nông nghiệp thuận lợi hơn, người dân dần chuyển sang những loại cây có giá trị kinh tế cao hơn nên diện tích rừng giảm mạnh. Cụ thể, diện tích rừng năm 2014 của xã là 193 ha, đến 6 tháng đầu năm 2016 chỉ còn gần 93 ha”.
Theo ông Lắm, do trồng rừng phải từ 6 - 7 năm mới cho thu hoạch, thu nhập bình quân chỉ 100 triệu đồng/ha nên nông dân không còn mặn mà với rừng nữa, mà chuyển sang các loại cây trồng khác cho thu hoạch nhanh và giá bán cao hơn, đơn cử như cây khóm, khoai mỡ...
Để hiểu sâu hơn nguyên nhân trên, chúng tôi bắt chuyện với nông dân Lê Văn Đực, ấp Tân Thuận, xã Tân Hòa Đông. Ông Đực cho biết:
“Trồng rừng cực lắm, nhưng thu nhập chẳng bao nhiêu, giá cả lại bấp bênh, thời gian chờ thu hoạch dài tới 6 - 7 năm. Có năm giá tràm giảm sâu, thu nhập chỉ 40 triệu đồng/ha, cho nên kinh tế gia đình rất khó khăn, trong thời gian chờ thu hoạch tôi và vợ phải đi làm thuê ở nhiều nơi để trang trải cuộc sống gia đình. Từ khi có hệ thống đê bao, không còn ngập lũ nữa, tôi chuyển toàn bộ 3,5 ha tràm sang trồng khóm, với thu nhập 100 triệu đồng/ha/năm, gấp 5 lần cây tràm, kinh tế gia đình tôi dần ổn định”.
Đó là trường hợp của ông Đực, còn đối với những hộ có diện tích rừng lớn hơn thì nông dân chỉ chuyển đổi một phần diện tích để lấy ngắn nuôi dài, tiếp tục canh tác cây tràm như nông dân Nguyễn Ngọc Tân (ấp Tân Thuận).
Ông Tân cho biết: “Tôi có 10 ha trồng tràm, do những năm gần đây giá tràm thấp, thu nhập không ổn định, tôi chuyển đổi 3,5 ha sang trồng khóm để có thu nhập trong lúc chờ tràm đạt chất lượng để bán”.
Diện tích rừng của xã Thạnh Mỹ cũng trong tình cảnh tương tự. Anh Nguyễn Tất Linh, cán bộ nông nghiệp xã Thạnh Mỹ cho biết:
“Từ lúc có đê bao đến nay diện tích rừng của xã liên tục giảm, cụ thể qua các năm như sau: Năm 2014: 220 ha, năm 2015: 140 ha, 6 tháng đầu năm 2016: 100 ha. Các loại cây chủ yếu được nông dân trồng sau khi chuyển đổi rừng là khóm, thanh long, khoai mỡ… vì thời gian cho thu hoạch nhanh, giá trị kinh tế cao hơn cây tràm”.
Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) huyện Tân Phước, tính đến ngày 1-8, tổng diện tích rừng của huyện là 1.491,68 ha, so với cuối năm 2015 giảm 207,32 ha. Ông Nguyễn Văn Trung, Phó Trưởng Phòng NN&PTNT huyện Tân Phước cho biết:
“Những năm 2000, diện tích trồng rừng của huyện rất lớn, hơn 10.000 ha. Nhưng do giá cây tràm bấp bênh, thu nhập không ổn định, thời gian canh tác dài nên người dân ào ạt chuyển sang trồng các loại cây khác, làm diện tích rừng giảm mạnh.
Nhất là sau khi huyện chuyển đổi 2.035 ha rừng sản xuất không hiệu quả, xây dựng hoàn thành hệ thống ô đê bao khép kín ngăn lũ vào tháng 8-2013, tạo điều kiện thuận lợi trồng các loại cây ăn trái, hoa màu. Với giá khóm, thanh long, khoai mỡ những năm gần đây luôn ở mức cao, dự đoán trong những năm tới diện tích cây tràm sẽ tiếp tục giảm và có nguy cơ mất trắng.
Đối với những diện tích rừng đã mất, Phòng NN&PTNT không thể xây dựng phương án trồng rừng thay thế do đất rừng được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng hộ dân và không có quỹ đất để trồng rừng nên ngành không thể triển khai dự án được.
Công tác tuyên truyền bảo vệ rừng và lợi ích của trồng rừng được Phòng NN&PTNT chú trọng lồng ghép vào các buổi tập huấn trồng rừng, phòng cháy, chữa cháy (PCCC) rừng hàng năm, nhưng không có hiệu quả, do việc trồng rừng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của người dân.
Hàng năm, Phòng NN&PTNT sử dụng vốn “Vì sự nghiệp nông nghiệp” của Phòng để trồng rừng dọc theo các tuyến đê trọng điểm để chống xói mòn đê, tạo cảnh quan môi trường sinh thái và nâng cao ý thức của người dân về những lợi ích của rừng, đạt 90% diện tích, nhưng 2 năm gần đây không thể tiếp tục triển khai do nguồn vốn còn hạn chế.
Trong thời gian tới, Phòng sẽ đề nghị với UBND huyện Tân Phước và Ban Chỉ huy PCCC rừng tỉnh hỗ trợ kinh phí để tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ và phát triển rừng, nhất là diện tích rừng ở các tuyến đê bao. (Báo Ấp Bắc 15/8) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Đoàn Văn Việt vừa ký Văn bản số 4613/UBND-LN, ngày 09/8/2016 gửi các sở, ban, ngành thuộc tỉnh; Huyện ủy, Thành ủy và UBND các huyện, thành phố; các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp và các Ban quản lý rừng nhằm triển khai thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020.
UBND tỉnh yêu cầu thực hiện các nội dung sau: Xác định công tác quản lý, bảo vệ (QLBV) rừng, trồng rừng, khôi phục rừng bền vững Tây Nguyên nói chung và của tỉnh Lâm Đồng nói riêng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020 là nhiệm vụ trọng tâm cả trước mắt và lâu dài của tất cả các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn thể hệ thống chính trị.
Theo đó, thực hiện quyết liệt, đồng bộ các biện pháp, giải pháp. Mặt khác, thực hiện nghiêm chủ trương dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên (khai thác chính, khai thác tận thu, tận dụng). Không chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp còn rừng tự nhiên sang mục đích khác, kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai thực hiện; không chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên nghèo sang trồng cây công nghiệp (trừ các dự án, công trình phục vụ an ninh, quốc phòng đặc biệt phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt).
Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cũng yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các công ty TNHH MTV lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng, Thành ủy, Huyện ủy, các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện những nhiệm vụ cụ thể và những nhiệm vụ đã được chỉ đạo trước đây tại các văn bản, nghị quyết, chỉ thị của Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh. (Báo Lâm Đồng 15/8) đầu trang(
Huyện Định Hóa hiện đang tập trung triển khai xây dựng mô hình “cánh rừng mẫu lớn” tại xã Quy Kỳ với tổng diện tích gần 460ha. Đây là mô hình đầu tiên triển khai trên địa bàn tỉnh.
Mô hình “cánh rừng mẫu lớn” gồm 4 dự án thành phần: Dự án trồng rừng gỗ lớn kết hợp trồng cây đặc sản, dược liệu dưới tán rừng với quy mô 151ha; Dự án ứng dụng khoa học - công nghệ thâm canh trồng rừng sản xuất với quy mô gần 200ha; Dự án trồng cây quế để chiết xuất tinh dầu với diện tích 98ha và Dự án sản xuất lâm nghiệp kết hợp sản xuất nông, ngư nghiệp với diện tích gần 20ha.
Cơ cấu cây trồng trong cánh rừng mẫu lớn gồm các loại cây bản địa có giá trị kinh tế cao (như Dổi xanh, Lim xanh, Đa chai, Chò chỉ; khu vực thâm canh sử dụng các giống cây keo mỡ, quế...). Các loại lâm sản phụ trồng dưới tán rừng gồm có các loại cây dược liệu, cây đặc sản (như Sa nhân, Ba kích, Mây nếp, Đinh lăng, Giảo cổ lam...).
Mô hình “cánh rừng mẫu lớn” được kỳ vọng sẽ trở thành mô hình điểm về phát triển kinh tế lâm nghiệp, tạo ra vùng du lịch sinh thái và tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương, phù hợp với kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2011-2020. (Báo Thái Nguyên 16/8) đầu trang(
Nhận thức rõ tầm quan trong của việc trồng rừng, những năm qua, người dân xã Púng Bánh (Sốp Cộp) đã tích cực trồng và giữ rừng, nhờ đó những mảnh đất cằn cỗi bạc màu trên địa bàn xã đã dần được phủ màu xanh bởi những cánh rừng thông.
Đến xã Púng Bánh thời điểm cuối của vụ trồng rừng, ông Lò Văn Thắng, Phó Chủ tịch UBND xã khoe với chúng tôi: Vụ trồng rừng năm nay, Púng Bánh hoàn thành kế hoạch trồng 100 ha rừng thông. Để đạt kết quả này, ngay trước khi vụ trồng rừng, xã đã chủ động rà soát diện tích trồng; tích cực tuyên truyền, giúp bà con nhận thức rõ ý nghĩa và lợi ích của việc trồng rừng. Qua đó, bà con đã nêu cao ý thức, tự nguyện chuyển những khu đất dốc, nương bạc màu sang trồng rừng.
Tìm hiểu được biết, trước đây nhận thức của người dân về trồng và giữ rừng còn hạn chế, chưa quan tâm tới việc trồng rừng. Trước tình hình đó, với phương châm “mưa rầm thấm lâu”, xã đã cử cán bộ xuống từng bản nắm bắt tâm tư nguyện vọng của bà con, đồng thời tuyên truyền, vận động bà con trồng rừng và bảo vệ rừng.
Bây giờ, ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng được nâng lên, tình trạng phá rừng làm nương giảm hẳn, ai cũng hiểu trồng, giữ rừng vừa được Nhà nước hỗ trợ tiền, gạo; rừng tốt còn có tác dụng bảo vệ môi trường, chống xói mòn đất và giữ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Với nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước 15 triệu đồng trong 4 năm cho 1 ha rừng phòng hộ, 3 triệu đồng/ha rừng sản xuất, bà con chỉ phải bỏ công chăm sóc sau 6-7 năm sẽ có thu nhập đáng kể. Hiểu được lợi ích lâu dài, bà con đã tích cực tham gia trồng rừng, nhiều hộ đăng ký vài chục ha. Chỉ tính từ năm 2004 đến nay, người dân trong xã đã trồng mới hơn 1.600 ha, các diện tích trồng mới đều phát triển tốt, nâng diện tích rừng khoanh nuôi, bảo vệ của toàn xã lên hơn 8.000 ha, tỷ lệ độ che phủ của rừng đạt 50%.
Điều đặc biệt ở Púng Bánh là trong quá trình triển khai trồng rừng, xã luôn tập trung cao cho việc tuyên truyền, hướng dẫn bà con thực hiện những mô hình kinh tế hiệu quả khi rừng chưa khép tán bằng cách trồng xen cây hoa màu. Khi rừng đã khép tán thì quây làm bãi chăn thả gia súc, hoặc tận dụng trồng cỏ... Khi thanh toán tiền hỗ trợ trồng rừng, khuyến cáo bà con thay vì mua xe máy, ti vi, tủ lạnh bằng đầu tư mua giống vật nuôi để phát triển sản xuất, lấy ngắn nuôi dài, sử dụng hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ từ trồng rừng, để nhanh chóng xóa nghèo.
Đi đầu trong mô hình này phải kể đến gia đình ông Lường Văn Thành ở bản Phiêng Ban (xã Púng Bánh) trước đây thuộc diện hộ nghèo, năm 2011 đăng ký trồng 30 ha rừng phòng hộ, được hỗ trợ giống cây và nhận được gần 400 triệu đồng tiền công chăm sóc sau 4 năm trồng. Do đã được tuyên truyền, phân tích kỹ lưỡng thay vì làm nhà, mua sắm đồ dùng, ông Thành dùng toàn bộ số tiền đó mua gia súc, mở rộng ao thả cá. Hiện gia đình ông đang nuôi hơn 10 con trâu, 5 con bò, trên 50 con dê; nuôi gần 1 ha ao cá... hằng năm thu nhập hơn 200 triệu đồng. Bây giờ gia đình ông Thành không chỉ thoát nghèo mà còn trở thành hộ nông dân sản xuất giỏi cấp huyện. Năm nay ông Thành tiếp tục đăng ký trồng thêm 30 ha rừng phòng hộ...
Được biết, không chỉ có gia đình ông Thành, mà trong xã Púng Bánh còn có nhiều hộ tham gia trồng rừng đã thoát khỏi đói nghèo và có mức sống khá giả. Hiện nay, diện tích đất đồi núi trọc, đất nương bạc màu ở Púng Bánh vẫn còn nhiều, người dân mong được Nhà nước tiếp tục hỗ trợ trồng rừng để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.
Rời Púng Bánh ấn tượng với hình ảnh những vùng đất trống, đồi trọc đã dần được phủ màu xanh của cây thông, từng cánh rừng được khoanh nuôi tái sinh bảo vệ hồi sinh, chúng tôi hiểu đó là kết quả của việc gắn chặt lợi ích của người dân với rừng, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào. (Báo Sơn La 16/8) đầu trang(
Triển khai thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đối khí hậu giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh Gia Lai vừa có công văn giao Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với các sở, ngành chức năng và UBND các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị chủ rừng rà soát, kiểm tra lại tất cả quỹ đất lâm nghiệp hiện có khả năng đưa vào trồng rừng, triển khai nhanh việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng, hộ gia đình. Đồng thời, áp dụng các chính sách hỗ trợ trồng rừng theo quy định để khuyến khích các thành phần kinh tế, cộng đồng, hộ gia đình tham gia trồng rừng...
Bên cạnh đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT, các địa phương, đơn vị liên quan từ năm 2017 trở đi, phải xây dựng kế hoạch, huy động các nguồn lực để mỗi năm trồng mới tối thiểu 2.000 ha rừng (kể cả diện tích giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình tham gia trồng rừng)... (Báo Gia Lai 16/8) đầu trang(
Sau 5 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, cả nước đã thu được trên 5,2 nghìn tỷ đồng, trong đó có trên 3,6 nghìn tỷ đồng đã đến tay người dân bảo vệ và phát triển rừng.
Theo đánh giá, nguồn tiền từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) hàng năm đã nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ 5,3 triệu ha rừng trong lưu vực cung ứng DVMTR. Nguồn thu này cũng góp phần tăng thu nhập cho người làm nghề rừng.
Qua điều tra của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam đối với 322 hộ gia đình, cá nhân ở 24 tỉnh cho thấy mức thu nhập từ chi trả DVMTR bình quân khoảng 3,6 triệu đồng/hộ/năm. Một số nơi có mức thu nhập bình quân của hộ gia đình cao như: Bình Phước 12,8 triệu đồng/hộ/năm, Lâm Đồng trên 11,1 triệu đồng/hộ/năm, Đắc Nông 10,8 triệu đồng/hộ/năm, Gia Lai 7,5 triệu đồng/hộ/năm.
Bên cạnh đó, từ năm 2013, khi Chính phủ có chủ trương dừng khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, nguồn tiền từ DVMTR đã giúp các công ty lâm nghiệp duy trì, khôi phục sản xuất, có kinh phí hoạt động và hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng trong thời gian thực hiện việc sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
Đến hết năm 2015, riêng Tây Nguyên có 46 công ty lâm nghiệp đã nhận được số tiền DVMTR trên 538 tỷ đồng. Nguồn tiền chi trả DVMTR khoảng 1.000 tỷ đồng/năm đã giải quyết khó khăn về kinh phí bảo vệ rừng cho 199 ban quản lý rừng, 84 công ty lâm nghiệp, 650 chủ rừng là tổ chức và tổ chức không phải là chủ rừng và hàng trăm ngàn hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng.
Trong những năm qua, ngân sách nhà nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 29% tổng mức đầu tư cho ngành lâm nghiệp, và trong bối cảnh ngân sách Nhà nước ngày càng hạn hẹp thì nguồn thu từ DVMTR khoảng 1.000 tỷ năm như hiện nay, và khoảng 1.800 tỷ đồng/năm trong những năm tiếp theo có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nguồn tiền này sẽ góp phần tăng nguồn thu, hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và nâng cao giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Chính sách chi trả DVMTR thực chất là một mối quan hệ mua – bán và hàng hóa ở đây chính là DVMTR, chính vì thế tính minh bạch càng phải được đề cao.
Một số đánh giá độc lập của các tổ chức ngoài nhà nước như CIFOR, VFD, FORLAND, Tropenbos… đã cho thấy ở các cơ quan Trung ương điểm yếu nhất của chính sách này chính là hệ thống theo dõi, giám sát. Đối với các địa phương, họ mong muốn có một bộ công cụ giúp theo dõi, giám sát và lượng hóa được hiệu quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR một cách thống nhất, hỗ trợ cho nội dung báo cáo kết quả thực hiện hàng năm. Thêm vào đó minh bạch là một yêu cầu bắt buộc trong Nghị định 99 để khẳng định sự ưu việt của chính sách. Giám sát và đánh giá chi trả DVMTR nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả chi trả DVMTR.
Do vậy một khung nội dung và bộ công cụ giám sát, đánh giá chi trả DVMTR hoàn chỉnh gồm đầy đủ các nhóm chỉ tiêu về môi trường, kinh tế, xã hội dựa trên các nguyên tắc về sự công bằng, minh bạch và bền vững là hết sức cần thiết nhằm đưa ra được các bằng chứng, số liệu cập nhật, đáng tin cậy phản ánh chất lượng thực hiện cũng như hiệu quả tác động thật sự của chi trả DVMTR. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/8) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được triển khai tại các địa phương có rừng trên địa bàn tỉnh từ cách đây 4 năm. Chính sách này đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân miền núi, vùng đặc biệt khó khăn trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Chính sách chi trả DVMTR đang được triển khai tại hầu hết các địa phương có rừng ở nước ta. Tại Phú Yên, chính sách này được thực hiện từ cuối năm 2012 nhằm bảo vệ những cánh rừng trong lưu vực các con sông, giúp cải thiện nguồn nước phục vụ sản xuất thủy điện, cung ứng nguồn nước sinh hoạt và phục vụ cảnh quan môi trường sinh thái. Bên cung ứng DVMTR là các chủ rừng (tổ chức, cá nhân, hộ gia đình…) được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng sẽ nhận tiền do bên sử dụng dịch vụ chi trả. Bên sử dụng DVMTR là các cơ sở sản xuất thủy điện, sản xuất cung ứng nước sạch, kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR…
Theo Sở NN-PTNT, hiện tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc lưu vực có cung ứng DVMTR trên địa bàn tỉnh là hơn 110.470ha; trong đó, diện tích có rừng khoảng 52.465ha (chiếm khoảng 32% tổng diện tích có rừng trên địa bàn tỉnh).
Ông Nguyễn Đồng Thự, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, cho biết: “Theo quy định, các cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả 20 đồng/kWh điện thương phẩm, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả 40 đồng/m3 nước thương phẩm và chủ dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả 1-2% tổng doanh thu. Đến nay, tổng thu tiền DVMTR ở Phú Yên hơn 22,5 tỉ đồng, trong đó thu từ các nhà máy thủy điện (Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ, Công ty CP Sông Ba, Công ty CP Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh, Công ty CP VRG Phú Yên) gần 20,8 tỉ đồng, còn lại là nguồn thu từ cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch (Công ty CP Cấp thoát nước Phú Yên) hơn 1,7 tỉ đồng. Đến nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Phú Yên phải chi trả cho chủ rừng và các tổ chức không phải là chủ rừng hơn 19,1 tỉ đồng. Mặc dù tiền chi trả DVMTR ở Phú Yên còn thấp, khoảng 95.000 đồng/ha/năm, nhưng đã khuyến khích chủ rừng tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng”.
Ông Phạm Đình Phúc, Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, cho biết: “Tổng diện tích do ban quản lý hơn 19.630ha, diện tích có rừng hơn 18.410ha, trong đó diện tích cung ứng DVMTR hơn 13.780ha. Hàng năm, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh đều ký cam kết cung ứng DVMTR về quản lý, bảo vệ diện tích rừng trong lưu vực thuộc các xã Ea Trol, Sông Hinh, Ea Bar (huyện Sông Hinh). Từ năm 2014 đến nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã chi trả DVMTR cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh gần 5 tỉ đồng. Nhờ đó hàng năm, đơn vị triển khai lực lượng bảo vệ rừng, đồng thời ký hợp đồng với hộ nhận khoán bảo vệ rừng và tăng cường trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời người dân vào rừng khai thác gỗ, phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất rừng trái phép”.
Ông Lê Trọng Chung, Phó Chủ tịch UBND xã Sông Hinh, cho biết: “Hiện địa phương quản lý khoảng 3.250ha rừng và cấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các hộ dân ở 6/8 thôn, buôn của xã trông coi, bảo vệ. Chính sách chi trả DVMTR đã tạo điều kiện cho người dân ở vùng đặc biệt khó khăn nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tạo thêm nguồn thu nhập cho bà con. Từ khi Nhà nước thực hiện chính sách chi trả DVMTR đến nay, ý thức bảo vệ rừng của người dân rất cao. Ngoài bảo vệ rừng, người dân còn tham gia tố giác những hành vi khai thác, vận chuyển, mua bán, cất giữ các loại lâm đặc sản, săn bắt các loại động vật rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng, đốt rừng làm rẫy trái phép trong lâm phần được giao”.
Còn theo ông Trương Hiếu Hoàng, Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Krông Trai (huyện Sơn Hòa), thực trạng phá rừng trái pháp luật diễn ra ngày càng phức tạp, gây nhiều khó khăn cho đơn vị. Hiện nay, do giá mặt hàng nông sản (sắn, mía) tăng cao, một bộ phận dân cư trong vùng và nơi khác đến khai phá, chuyển nhượng đất trái phép trong rừng đặc dụng Krông Trai để trồng sắn, mía.
Để ngăn chặn tình trạng này, Ban Quản lý rừng đặc dụng Krông Trai đã phối hợp với UBND các xã Ea Chà Rang, Krông Pa, Suối Trai, Sơn Phước, Suối Bạc (huyện Sơn Hòa) và các ngành chức năng tổ chức cưỡng chế phá bỏ hoa màu, cây trồng trên diện tích phá rừng trái phép. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời, về lâu dài cần xây dựng quy ước bảo vệ rừng tại các địa phương, gắn kết giữa quyền hưởng lợi với trách nhiệm của các bên liên quan, qua đó giúp người dân hiểu được quyền lợi, trách nhiệm của họ trong quản lý, bảo vệ rừng… (Báo Phú Yên 16/8) đầu trang(
Tỉnh Phú Yên hiện có hơn 52.400 ha rừng thuộc địa bàn các huyện miền núi Sơn Hòa, Đồng Xuân và Sông Hinh có cung ứng dịch vụ môi trường rừng, chiếm 32% tổng diện tích rừng toàn tỉnh.
Diện tích rừng nói trên do 22 tổ chức, doanh nghiệp và trên 500 hộ quản lý, chăm sóc đã được hưởng kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng với tổng số tiền hơn 19 tỉ đồng do nhà máy thủy điện và cung ứng nước sạch thực hiện nghĩa vụ theo định mức 20 đồng/kwh và 40 đồng/m3 nước sinh hoạt.
Nhờ vậy đã góp phần duy trì độ che phủ của rừng và cải thiện môi trường sinh thái; diện tích rừng ở Phú Yên được bảo vệ, chăm sóc và tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng cũng tăng từ 38.700 ha lên 52.466 ha, đồng thời giảm hẳn tình trạng vi phạm lâm luật. Nếu như năm 2011 những diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng ở Phú Yên để xảy ra 279 vụ phá rừng thì đến năm 2015 còn 20 vụ.
Tương tự, số vụ khai thác rừng trái phép giảm từ 293 vụ xuống còn 111 vụ và diện tích rừng bị cháy cũng giảm từ 156 ha xuống còn 8 ha. Tuy vậy, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Phú Yên còn thấp, bình quân 95.000 đồng/ha/năm, đạt 47,5% so với định mức chi phí bảo vệ và phát triển rừng. (Đài PTTH Sóc Trăng 16/8) đầu trang(
Ngày 16.8, TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế tuyên hủy bản án sơ thẩm đối với ông Nguyễn Văn Quyền - chuyên gia trồng rừng ở Huế. Đây là lần thứ 2, TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế tuyên hủy án của tòa sơ thẩm cấp dưới.
Ông Nguyễn Văn Quyền (56 tuổi, trú ở tổ 8, P.Hương Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế) tốt nghiệp đại học ngành lâm nghiệp, là một chuyên gia trồng rừng. Vào cuối năm 2012, đầu 2013 ông Quyền đầu tư trên 22 triệu đồng để thuê xe đào múc đường làm đường dẫn; hợp đồng thuê nhiều nhân công đến khai hoang, phát đốt thực bì trên một khoảnh đất rừng bỏ hoang ở đỉnh núi Kỳ Nam ở P.Hương Hồ.
Quá trình khai hoang, ông Quyền chặt bỏ 60 cây thông mọc hoang (còn gọi là thông rai), đốt cháy 13 cây thông khác (giá trị về sau được xác định là hơn 12,4 triệu đồng). Ông Quyền bị chính quyền địa phương lập biên bản và nhiều tháng sau thì bị khởi tố hành vi “trộm cắp tài sản”; ông bị bắt tạm giam 26 ngày.
Ngày 7.3.2014, vụ án ông Quyền được TAND TX.Hương Trà xét xử lưu động. Ông Quyền bị TAND TX.Hương Trà tuyên 9 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản”. Sau đó, ông Quyền kháng cáo.
Tháng 5.2014, vụ án được TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế xử phúc thẩm với kết quả tuyên hủy bản án sơ thẩm của TAND TX.Hương Trà do chưa xác định được chủ sở hữu tài sản mà bị cáo Quyền “trộm”. Cấp phúc thẩm nhận định cấp sơ thẩm đã “vi phạm tố tụng nghiêm trọng” nên yêu cầu cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại.
Hơn 1 năm sau, ngày 30.6.2015, TAND TX.Hương Trà đưa vụ án ra xét sơ thẩm lại nhưng thay đổi tội danh từ “trộm cắp tài sản” sang “hủy hoại tài sản”, sau đó tuyên phạt bị cáo Quyền 9 tháng tù giam. Bị cáo Quyền lại kháng cáo bản án sơ thẩm.
Sau một lần hoãn phiên tòa, sáng 16.8 phiên toà phúc thẩm được mở lại với sự chủ trì của thẩm phán Hoàng Trọng Điệp, Phó chánh án Tòa hình sự TAND tỉnh. Tại phiên tòa, một vấn đề quan trọng được các bên tham gia tố tụng dành nhiều thời gian tranh luận, phân tích là việc xác lập chủ sở hữu đối với tài sản (số gỗ thông) bị ông Quyền chặt, đốt trong quá trình khai hoang. Dựa vào một văn bản UBND TP.Huế bàn giao cho HTX Hương Hồ 2 quản lý đất rừng năm 1983 (lúc ấy Hương Hồ thuộc TP.Huế) đại diện Viện KSND tỉnh Thừa Thiên - Huế cho rằng chủ sở hữu tài sản là HTX Hương Hồ 2, ông Quyền đã hủy hoại tàn sản của đơn vị này nên phải chịu tội. Đại diện Viện KSND tỉnh đề nghị HĐXX cần giữ nguyên bản án cấp sơ thẩm.
Tuy nhiên, HĐXX cấp phúc thẩm cho rằng, đối với diện tích đất do HTX Hương Hồ 2 quản lý đã được UBND TX.Hương Trà cấp cho một số hộ dân thì tài sản đó đã thuộc về các hộ dân. Tòa sơ thẩm chưa xác định được chủ sở hữu tài sản bị thiệt hại; không đưa 6 hộ dân có rừng bị đốt cháy vào tham gia tố tụng với tư cách là người có nghĩa vụ liên quan… là vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng.
HĐXX tuyên hủy bản án sơ thẩm ngày 30.6.2015 của TAND TX.Hương Trà, yêu cầu tòa sơ thẩm điều tra, xét xử lại. (Thanh Niên 16/8) đầu trang(
Có hơn 2.000 ha đất lâm nghiệp thuộc quản lý của 2 Ban quản lý rừng phong hộ Bắc An Khê và Ya Hội bị người dân lấn chiếm biến thành đất sản xuất.
Thực hiện chỉ đạo của tỉnh Gia Lai về việc kiểm tra, tham mưu đề xuất xử lý việc lấn chiếm đất rừng trên địa bàn thị xã An Khê, đoàn kiểm tra gồm Chi cục Kiểm lâm phối hợp với thị xã An Khê và các đơn vị liên quan đã tiến hành kiểm tra thực tế hiện trường. Qua kiểm tra đã kết luận có hơn 2.000 ha đất lâm nghiệp thuộc quản lý của 2 Ban quản lý rừng phong hộ Bắc An Khê và Ya Hội bị người dân lấn chiếm biến thành đất sản xuất.
Cụ thể, Ban quản lý rừng phong hộ Bắc An Khê để mất hơn 1.260 ha đất rừng, trong đó hơn 211 ha rừng tự nhiên, gần 220 ha rừng trồng, hơn 365 ha đất trồng rừng và hơn 470 ha đất cho thuê trồng rừng nguyên liệu cung cấp cho Nhà máy MDF. Ban quản lý rừng phòng hộ Ya Hội để mất hơn 770 ha, trong đó hơn 67 ha rừng tự nhiên, hơn 113 ha rừng trồng và hơn 590 ha đất không có rừng. Đoàn kiểm tra đã xác định được 489 hộ dân chiếm dụng hơn 1.340 ha, diện tích đất rừng còn lại chưa tìm ra được đối tượng lấn chiếm.
Kết luận kiểm tra nêu rõ, việc một diện tích rừng lớn bị lấn chiếm trong một thời gian dài là do 2 Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc An Khê và Ya Hội buông lỏng quản lý, không kịp thời phát hiện và có biện pháp thu hồi. Liên quan đến vụ việc này, trách nhiệm chính thuộc về các đơn vị chủ rừng và người đứng đầu các đơn vị này.
Nhiều diện tích đất là nương rẫy cũ của người dân đã canh tác lâu đời nhưng trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đơn vị chủ rừng đã không bóc tách ra khỏi lâm phần quản lý dẫn đến tình trạng chồng chéo trong công tác quản lý, sử dụng đất đai. Trong quá trình triển khai dự án trồng rừng sản xuất cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy MDF, đơn vị chủ rừng khi tiến hành hợp đồng hợp tác trồng rừng với các hộ dân đã thực hiện không rõ ràng, chặt chẽ, xác định không đúng nguồn gốc đất dẫn đến sau khi kết thúc hợp đồng không tiến hành chấm dứt hợp đồng hoặc ký hợp đồng mới, đã tạo điều kiện cho nhiều cá nhân cơ hội tự ý lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Trong khi công tác phối kết hợp trong xử lý các vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng của các cơ quan chức năng còn hạn chế, chưa có tính răn đe cao nên các cá nhân phá rừng vẫn ngang nhiên sử dụng phần diện tích đất lấn chiếm trái phép trong một thời gian dài mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào.
Như Báo Tin Tức đã đưa tin, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai có hơn 2.500 ha đất lâm nghiệp thuộc quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc An Khê và Ban quản lý rừng phòng hộ Ya Hội. Nhiều năm qua, bất chấp sự quản lý của ngành chức năng, hơn 1.700 ha đất rừng vô tư biến thành đất sản xuất của người dân mà không có một biện pháp cứng rắn nào để ngăn chặn.
Việc các ngành chức năng của tỉnh Gia Lai vào cuộc tiến hành kiểm tra và xác định đã có hơn 2.000 ha đất rừng bị lấn chiếm trái phép trên địa bàn thị xã An Khê. Vụ việc đã rõ, tỉnh Gia Lai cần sớm giải quyết rốt ráo, xử lý trách nhiệm đúng người, đúng việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương. (Tin Tức 16/8)đầu trang(./.
|
|||