Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 16 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Tài xế Minh nhận chở thuê hàng chục phách gỗ lậu bằng xe tải nhưng khi bị lực lượng Công an tỉnh Thừa Thiên- Huế bắt giữ, Minh khai nhận chở thuê cho người... không quen biết.
Chiều 15-8, Đại tá Nguyễn Thành Luân, Trưởng phòng Cảnh sát môi trường (PC49) Công an tỉnh Thừa Thiên- Huế cho biết, đơn vị vừa bàn giao số lượng lớn gỗ lậu vừa được bắt giữ cho lực lượng Kiểm lâm xử lý theo quy định pháp luật.
Trước đó, rạng sáng 14-8, tại địa phận xã Bình Điền (thị xã Hương Trà), lực lượng phòng PC49 Công an tỉnh Thừa Thiên- Huế trong lúc làm nhiệm vụ phát hiện xe tải mang BKS: 75C-05.828 do tài xế Tôn Thất Minh (25 tuổi, trú thôn Bình Toàn, xã Hương Bình, thị xã Hương Trà) điều khiển có nhiều biểu hiện nghi vấn.
Tiến hành kiểm tra xe, lực lượng PC49 phát hiện trên xe đang chở gần 50 phách gỗ các loại chò và chua có kích thước khác nhau (tổng khoảng 4m3) không có dấu búa kiểm lâm.
Ngoài ra, tài xế Minh không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ trên và khai nhận chở thuê cho một người lạ không quen biết.
Ngay sau đó, lực lượng Cảnh sát môi trường đã lập biên bản vụ việc để xử lý. (Công An Nhân Dân 15/8) đầu trang(
Lợi dụng thời điểm chuyển giao đất, rừng, địa phương buông lỏng quản lý nên người dân đã tràn vào tiểu khu 293, xã Cư M’lan huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk phá rừng, nhằm mục đích chiếm đất canh tác. Theo ghi nhận của PV, dọc các con đường trong tiểu khu 293, có rất nhiều điểm tập kết gỗ, nhiều cánh rừng bị tàn sát, cây lớn, cây nhỏ nằm ngổn ngang.
Trong ngày 2/8/2017, khi PV đến tiểu khu 293 (xã Cư M’lan) để tìm hiểu thực tế thì phát hiện nhiều ngọn đồi bị “cạo trọc”, nhiều cánh rừng bị triệt hạ không thương tiếc. Theo một người dân tại hiện trường, khoảng 3 tháng trở lại đây, mỗi ngày có khoảng 10 - 15 người mang theo cưa lốc tới cắt hết những cây thân gỗ trên địa phận tiểu khu 293. Đến nay rừng không còn, cây lớn, cây nhỏ đổ ngổn ngang.
Qua quan sát PV ghi nhận được, hầu hết các cây thân gỗ đều bị cưa hạ; rừng chỉ còn lại những bụi rậm và lớp thực vật thân mềm. Trên tiểu khu 293 có hàng chục con đường hằn sâu vết xe máy cày cỡ lớn. Lần theo dấu vết xe, có thể bắt gặp rất nhiều điểm tập kết gỗ (chủ yếu là gỗ Dầu) nằm la liệt ven các trục đường lớn trong rừng. Có nhiều điểm tập kết gỗ ngay cạnh Quốc lộ 29, nhiều người qua lại nhưng vẫn không bị phát hiện, xử lý.
Ngoài hiện trạng rừng bị phá tràn lan, XLPL còn ghi nhận rất nhiều diện tích trong lòng tiểu khu 293 đã bị người dân lấn chiếm để canh tác. Tại đây, nhiều chòi lán được dựng lên, nhiều quả đồi đã được trồng mì, trồng ngô. Thậm chí, có nhà dân còn trồng điều và tập kết hàng loạt cây giống trong khu vực lấn chiếm.
Băng qua một đoạn đường dài, tìm vào một nhà dân ven suối để hỏi thăm, người được hỏi cho biết, họ đã canh tác trong lòng tiểu khu 293 nhiều năm nay nhưng không có ai cấm cản, nhắc nhở.
Khi có mặt tại hiện trường, ông Bùi Xuân Long, kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Cư M’lan phân bua rằng, do diện tích quá rộng, lực lượng ít nên kiểm lâm địa bàn và cả tổ công tác của Ban Nông - Lâm nghiệp xã Cư M’lan không kiểm soát hết địa bàn, để xảy ra tình trạng phá rừng. “Xã Cư M’lan có khoảng 10 tiểu khu, tương đương với 10 ngàn ha đất lâm nghiệp, rừng. Tuy nhiên, chỉ có 5 cán bộ thuộc Ban Nông - Lâm xã và tôi phụ trách tuần tra, kiểm soát. Chúng tôi đi tuần chỗ này thì họ phá chỗ kia, lực lượng tham gia phá rừng lại rất đông nên anh em bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn”, ông Long nõi.
Nói về hàng loạt điểm tập kết gỗ xung quanh tiểu khu 293, ông Long cho biết sẽ báo cáo cấp trên, thuê xe, thuê nhân công vào hiện trường, đưa gỗ tang vật về trụ sở để xử lý.
Được biết, vào năm 2011, UBND tỉnh Đắk Lắk có Quyết định cho Công ty TNHH Anh Quốc (gọi tắt là Công ty Anh Quốc) thuê lại gần 1.200 ha đất, rừng tại tiểu khu 293 để thự hiện các dự án trồng cao su, trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, phía Công ty Anh Quốc đã có nhiều vi phạm về luật đất đai. Do đó, đến cuối tháng 2/2017, UBND tỉnh Đắk Lắk có Quyết định số 404/QĐ-UBND, thu hồi gần 1.200 ha đất tại tiểu khu 293 của Công ty Anh Quốc giao lại cho huyện Ea Súp quản lý.
Đồng thời, quyết định trên cũng yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, chấm dứt mọi hoạt động của công ty Anh Quốc trong vùng dự án.
Ngoài việc giao lại gần 1.200 ha đất nói trên cho UBND huyện Ea Súp quản lý, Quyết định 404 cũng yêu cầu UBND huyện Ea Súp phải chỉ đạo UBND xã Cư M’lan tăng cường công tác quản lý và bảo vệ diện tích đất, rừng theo quy định; thường xuyên kiểm tra, không để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất, rừng trên diện tích được giao; xử lý hoặc kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với hành vi xâm hại đất, rừng theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 24/4/2017, UBND huyện có Quyết định 1428/QĐ-UBND, giao lại cho UBND xã Cư M’lan quản lý toàn bộ diện tích gần 1.200 ha đất tại tiểu khu 293 mà UBND tỉnh Đắk Lắk đã thu hồi của Công ty Anh Quốc.
Quyết định này nêu rõ: “UBND xã Cư M’lan chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ quỹ đất được giao, không để tình trạng lấn chiếm xảy ra; xử lý nghiêm các trường hợp đã lấn chiếm, chuyển nhượng đất trái phép theo quy định của pháp luật…”.
Theo ông Võ Đình Dũng, cán bộ phụ trách Nông - Lâm nghiệp xã Cư M’lan, để xảy ra tình trạng phá rừng như trên, xã phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, ông Dũng cho biết, xã chỉ được bàn giao đất, rừng “trên giấy tờ”. Bởi vậy, ông mong muốn được cấp tỉnh đánh giá lại thực địa tại tiểu khu 293, xem phía Công ty Anh Quốc đã để mất bao nhiêu rừng, bao nhiêu đất bị người dân lấn chiếm…rồi mới bàn giao cho xã.
Theo ông Dũng, thống kê sơ bộ cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2017, hơn 70 ha rừng trên địa bàn xã bị phá.  Ông Dũng trao đổi: “Chúng tôi đã có báo cáo, yêu cầu cấp tỉnh, huyện đánh giá lại thực địa, hiện trạng rừng rồi bàn giao cho xã quản lý. Thế nhưng, cho đến nay, việc này vẫn chưa được thực hiện. Trên thực tế, Công ty Anh Quốc đã để mất rất nhiều rừng, nếu cấp trên không đánh giá thực trạng mà giao lại cho xã quản lý thì còn rất nhiều bất cập”.
Trong báo cáo số 33 ngày 28/4/2017 của UBND xã Cư M’lan thể hiện, do buông lỏng quản lý, để cho người dân vào lấn chiếm đất nên năm 2014, Công ty Anh Quốc đã để mất hơn 205 ha đất, rừng. Từ năm 2014 đến nay, tình hình phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên các dự án (trong đó có dự án của Công ty Anh Quốc) diễn biến hết sức phức tạp. Các đối tượng dùng máy cày, máy múc khai phá đất cả ban đêm nhưng đến nay chưa có số liệu thống kê cụ thể.
Do đó, UBND xã Cư M’lan đề nghị cấp trên phải làm rõ trách nhiệm để mất đất, rừng của Công ty Anh Quốc; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tiến hành thống kê, rà soát đất bị lấn chiếm, đối tượng lấn chiếm và diện tích rừng còn lại đến thời điểm thu hồi, bàn giao.
Theo một lãnh đạo UBND xã Cư M’lan, thời điểm bàn giao, phía Công ty Anh Quốc không có mặt, không gửi tài liệu thống kê về thực trạng đất, rừng được giao quản lý trước đó. “Công ty này đã làm mất rất nhiều đất lâm nghiệp, đất rừng. Tuy nhiên, cơ quan chuyên môn chưa làm rõ những vi phạm của Công ty Anh Quốc để xử lý theo quy định. Hiện nay, xã cũng chưa đánh giá, thống kê được bao nhiêu diện tích bị người dân lấn chiếm, bao nhiêu hộ lấn chiếm. Thật sự, cấp trên giao đất, rừng như thế này khiến phía xã gặp rất nhiều khó khăn”, lãnh đạo xã Cư M’lan trao đổi.
Để vấn đề khách quan hơn, PV đã liên hệ làm việc với UBND huyện Ea Súp vào chiều 2/8. Tuy nhiên, cán bộ tại đây cho biết lãnh đạo huyện đi công tác nên hẹn làm việc vào dịp khác.
Trước đó, vào ngày 01/6/2017, UBND huyện Ea Súp đã có Báo cáo số 153 BC/UBND gửi đến UBND tỉnh Đắk Lắk và các ban ngành liên quan. Theo báo cáo này, hiện trạng khu đất tại thời điểm thu hồi, bàn giao về cho địa phương quản lý có biến động rất lớn so với hiện trạng trong hồ sơ của các công ty (trong đó có Công ty Anh Quốc) thuê đất. Thực trạng một số hộ dân đã lấn chiếm đất để canh tác, sản xuất nông nghiệp, khiến rừng bị suy giảm lớn về diện tích và trữ lượng lâm sản. Nguyên nhân là do phía các công ty quản lý lỏng lẻo, để các đối tượng phá rừng, chiếm đất trái phép.
Trên cơ sở đó, UBND huyện Ea Súp đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk đánh giá lại hiện trạng diện tích đất, đất rừng trước khi bán giao lại cho địa phương quản lý; xử lý trách nhiệm của các công ty thiếu trách nhiệm, quản lý lỏng lẻo, để mất đất, mất rừng…(Pháp Luật VN 16/8) đầu trang(
Trong chuyến thâm nhập rừng phòng hộ Buôn Đôn, PV báo ĐS&PL đã ghi nhận thực trạng rừng bị tàn phá tàn khốc. Điều khiến PV ngạc nhiên, lâm tặc vô tư cưa gỗ, phá rừng sát trạm quản lý bảo vệ rừng, gỗ khai thác, tập kết sát Quốc lộ 29 nhưng không có lực lượng nào can thiệp...
Huyện Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) là một trong những huyện có diện tích rừng lớn nhất tỉnh. Ngoài rừng Quốc gia Yok Đôn, hiện nay, trên địa bàn huyện còn có hơn 10.000ha rừng và đất rừng được giao cho ban Quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn (BQLBVR) quản lý. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, huyện này liên tục nóng lên tình trạng phá rừng.
Đầu tháng 8, từ trung tâm xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) theo tuyến tỉnh lộ 1 đi về hướng huyện Ea Súp (tỉnh Đắk Lắk) khoảng 5km, PV có mặt tại địa phận rừng phòng hộ. Những cánh rừng cổ thụ bạt ngàn đã thay thế bằng hàng trăm hécta ngô, mì, dấu tích còn lại là những gốc cây đường kính lớn cháy đen, mục rỗng... Tiếp tục rẽ vào Quốc lộ 29, hướng về huyện Cư M’gar (tỉnh Đắk Lắk) theo ghi nhận của PV, dọc theo hai bên đường có hàng trăm con đường tiểu ngạch dẫn sâu vào tâm rừng, hằn nhiều vết bánh xe cỡ lớn còn rất mới.
Để “tận mục” rừng bị “tàn sát”, PV men theo một con đường tiểu ngạch để vào rừng. Tại tiểu khu 454, đi chừng 20m đã phát hiện một bãi tập kết gỗ, có 14 lóng gỗ các loại, đường kính 30 – 50cm dài khoảng 4m. Những dấu vết hiện trường cho thấy, bãi gỗ này mới được lâm tặc cắt hạ và đưa ra khu vực này khoảng vài ngày trước để đợi thời cơ vận chuyển, tiêu thụ.
PV tiếp tục đi sâu vào trong. Nhưng do con đường tiểu ngạch mà chúng tôi chọn để vào rừng bị xe chuyên dụng của lâm tặc đào phá, nhầy nhụa sình lầy, không thể di chuyển bằng xe máy, PV phải bỏ xe lại, tiếp tục đi bộ để tiếp cận vị trí nghi ngờ có lâm tặc đang phá rừng. Hơn 2 giờ đồng hồ kiểm tra, PV có thể nhìn thấy rừng phòng hộ ở khu vực này giờ đây chỉ còn loại gỗ dầu đặc trưng, đường kính nhỏ và vài loại cây thân mềm. Những loại gỗ khác rất thưa thớt và còn sót những cây có đường kính lớn hơn 30cm. Tuy nhiên, đa số các cây này đều hư lõi nên được lâm tặc tạm “tha”.
Trên lối chúng tôi đi qua có thể đếm được hàng trăm cây gỗ dầu có đường kính từ khoảng 15-20cm đã bị lâm tặc “hạ sát”. Có những gốc cây, dấu cưa còn mới, nhựa còn chảy. Nhiều vị trí, lâm tặc xẻ hộp tại chỗ, rồi mới tuồn ra ngoài. Hiện trường còn vương vãi mùn cưa, bìa gỗ, cành cây vứt ngổn ngang.
Điều đáng nói, những khu vực rừng bị tàn sát này nằm rất gần Quốc lộ 29 nhưng vẫn không bị lực lượng chức năng nào phát hiện. Rời tiểu khu 454, PV tiếp tục theo Quốc lộ 29 đi về hướng huyện Cư M’gar (tỉnh Đắk Lắk). Khi đến trạm Quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) số 4 thuộc BQLBVR phòng hộ Buôn Đôn, chúng tôi bất ngờ nghe thấy tiếng cưa máy phát ra từ tiểu khu 436 cách đó không xa.
Cách trạm QLBVR số 4 chưa đầy 500m, một con đường tiểu ngạch đi vào tiểu khu 436. Trên con đường này có dấu vết loại xe “chuyên dụng” của lâm tặc còn rất mới. PV giấu xe máy, quyết định đi bộ men theo dấu bánh xe để kiểm tra bên trong. Đi được khoảng 50m, PV phát hiện cảnh tượng rừng bị tàn phá một cách tàn khốc. Gỗ nhỏ, lớn các loại bị cưa hạ, cành nằm ngổn ngang trên lối đi dấu mùn cưa còn rất mới, nhựa cây chưa kịp khô, tiếng máy cưa nổ inh ỏi, tiếng cây đổ mỗi lúc một lớn dần.
Để tránh bị lâm tặc phát hiện, PV bắt buộc phải băng rừng, đi đường vòng, tìm cách tiếp cận từ phía sau. Tại đây, PV ghi nhận một nhóm gồm 4 người đàn ông tuổi trung niên đang mải mê cưa hạ gỗ. Phương tiện các đối tượng sử dụng để vận chuyển gỗ lậu vừa khai thác là một xe máy cày chuyên dụng cỡ lớn. Trên xe, các lóng gỗ được xếp ngay ngắn, chuẩn bị rời rừng. Những đối tượng này vô tư nổ máy cưa cắt gỗ, nói chuyện lớn mặc cho khu vực mà chúng khai thác cách trạm QLBVR số 4 không xa.
Hành động ngang nhiên của lâm tặc khiến chúng tôi không khỏi thắc mắc vì sao các đối tượng này dám manh động đến như thế. Hơn 2 giờ đồng hồ mật phục nhóm lâm tặc, đồng hồ lúc này đã chỉ 17h30, nhóm lâm tặc bắt đầu nổ máy, chất gỗ lên xe máy cày “chuyên dụng” chuyển về lại đường cũ, ra Quốc lộ 29. PV bí mật giữ khoảng cách, bám theo chiếc xe. Bốn đối tượng vẫn ngang nhiên cười nói lớn tiếng mà không hề biết mọi hành động của họ đã nằm trong ống kính của PV.
Khoảng 18h, chiếc xe máy cày “chuyên dụng” lăn bánh ra Quốc lộ 29 rồi đổ gỗ xuống một khu vực bụi rậm cách quốc lộ khoảng 5m. Sau đó, 4 đối tượng lâm tặc lặng lẽ lên xe, đi thẳng về hướng huyện Cư M’gar. Theo ghi nhận của PV, Quốc lộ 29 là tuyến đường độc đạo, có rất nhiều trạm quản lý bảo vệ rừng của hai huyện Buôn Đôn và Cư M’gar. Tuy nhiên, không hiểu sao lâm tặc có thể vận chuyển được số gỗ ở các bãi tập kết trong rừng ra ngoài mà không bị phát hiện? Trước tình trạng rừng phòng hộ bị tàn phá, PV đã có một buổi làm việc với BQLBVR phòng hộ Buôn Đôn.
Trao đổi với PV, ông Lê Danh Khởi, Giám đốc BQLBVR phòng hộ Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) cho biết: “Rừng phòng hộ có 10.229ha, bao gồm 10 tiểu khu nằm giáp ranh với huyện Ea Súp, Cư M’gar. Chính vì thế, tình trạng khai thác gỗ và củi của người dân rất lớn. Trong khi đó lực lượng QLBVR quá mỏng, không kiểm soát được hết khu vực dẫn đến vẫn có tình trạng người dân vào rừng khai thác gỗ, lấy củi. Từ đầu năm đến nay, BQLBVR đã bắt 4 vụ khai thác gỗ giao cho hạt kiểm lâm xử lý với khối lượng 5,29m3 và 2 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích 3,02ha”. (Đời Sống & Pháp Luật 15/8) đầu trang(
Huyện Lang Chánh có hơn 7 km đường biên giới giáp ranh với bản Cân thuộc Cụm bản Phôn Xây, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào). Khu vực nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ dân trí còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, tập quán sản xuất lạc hậu gắn liền với rừng và đất rừng.
Mặt khác, đây là khu vực rừng còn giàu tài nguyên, nên luôn tiềm ẩn hành vi khai thác gỗ, săn bắn, bẫy bắt động vật rừng trái phép và nguy cơ cháy rừng cao. Mặc dù chính quyền địa phương và cơ quan chức năng hai bên đã tăng cường phối hợp để giải quyết, tuy nhiên tình hình an ninh rừng chưa thực sự ổn định.
Trước thực trạng trên, Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh đã ký kết bản ghi nhớ trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng khu vực giáp biên giới giai đoạn 2016-2018 với Phòng Nông lâm huyện Sầm Tớ. Từ đầu năm 2017 đến nay, hai bên đã trao đổi thông tin với nhau 14 lần bằng các hình thức, như: Thông tin qua điện thoại, thông tin bằng văn bản, thông tin qua các cuộc làm việc trực tiếp; thông tin qua các trinh sát ngoại tuyến của lực lượng biên phòng hai bên.
Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng; hai bên đấu mối, phối hợp tổ chức tuyên truyền được 4 cuộc tuyên truyền cấp thôn, bản với  271 lượt người trên địa bàn khu vực biên giới xã Yên Khương với cụm bản Phôn Xây, huyện Sầm Tớ tham gia. Trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, hai bên đã phối hợp rà soát xác định vùng trọng điểm cháy để tổ chức lên phương án huy động được 619 người, 531 dao phát, 377 cào cuốc, 13 cưa xăng, 343 mô tô, 1 xe ô tô tham gia chữa cháy rừng theo phương châm “bốn tại chỗ” khi có cháy rừng xảy ra.
Đồng thời, hai bên thường xuyên tổ chức tuần tra, canh gác các khu vực trọng điểm, khu vực biên giới trong mùa nắng nóng, khô hanh, ngăn chặn nguy cơ xảy ra cháy rừng và cháy lan từ bên kia biên giới sang. Ngoài ra, hai bên thường xuyên phối hợp tổ chức lực lượng tại chỗ thực hiện tuần tra, kiểm soát an ninh rừng tại khu vực biên giới, qua các lần kiểm tra đã phát hiện, bắt giữ và lập hồ sơ 4 vụ vi phạm, tịch thu  6,033 m3 gỗ các loại.
Đồng chí Nguyễn Duy Vĩnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh, cho biết: Những năm gần đây, việc trao đổi thông tin nói chung và công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng giữa chính quyền địa phương cùng lực lượng vũ trang của hai bên cũng được thường xuyên hơn. Trong thời gian tới, hai bên tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả nội dung chương trình phối hợp đã được ký kết. Hai bên chủ động phối hợp với chính quyền các địa phương, các lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến tận người dân; tích cực phối hợp trong việc tuần tra, kiểm tra an ninh rừng, kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trao đổi thông tin về tình hình cháy rừng, phá đốt rừng làm rẫy, khai thác, săn bắn, bẫy bắt, vận chuyển động vật rừng trái phép ở vùng biên giới; thông tin cháy rừng ở vùng nội địa biên giới, phối hợp chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra trong khu vực. (Báo Thanh Hóa 15/8) đầu trang(
Với thời tiết nắng nóng, ngột ngạt như những ngày gần đây, việc tìm đến một địa điểm mát mẻ, cảnh đẹp như rừng núi Hải Vân để tránh nóng là lựa chọn hợp lý đối với các bạn trẻ đam mê du lịch “bụi”.
Thế nhưng, điều đáng lo ngại là việc các nhóm du khách đốt lửa để nướng đồ ăn giữa rừng thông, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ rất cao và đe dọa nghiêm trọng đến khu rừng đặc dụng Hải Vân.
Khi du lịch trên đỉnh Hải Vân thời điểm giữa đầu tháng 8, mọi người dễ dàng bắt gặp thường xuyên có 4 - 5 nhóm du khách dựng lều ở những bãi cỏ bằng phẳng giữa rừng thông, rồi móc võng, trải bạt ngồi ăn uống cùng nhau. Bên cạnh họ, luôn sẵn bếp lửa bằng củi thông dùng để nướng đồ ăn.
Anh Đặng Công Vạn (trú H.Hòa Vang, TP.Đà Nẵng), một du khách “phượt” trên đỉnh Hải Vân tỏ ý lo lắng: “Từ ngày còn học Trường ĐH Nông lâm Huế đến bây giờ, đã 4 năm rồi, tôi vẫn thường lên đây để ngắm cảnh mỗi dịp cuối tuần. Là dân trong “nghề”, khi nhìn thấy những bếp lửa giữa rừng thông như thế quả thật rất đáng lo. Nếu sơ ý để lửa cháy lan thì không biết hậu quả sẽ nặng nề như thế nào. Tôi nghĩ, Ban quản lý rừng Hải Vân cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn nữa để tránh điều đáng tiếc xảy ra”.
Còn nhớ, cũng vào những ngày nắng nóng của tháng 8.2016, rừng đặc dụng Nam Hải Vân bất ngờ bốc cháy, để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng: hơn 30 ha rừng bị thiêu rụi, phần lớn là thông Caribe. Những cánh rừng thông Caribe với những cây thẳng tắp cao vút, nối nhau tạo nên một “bức tranh” tuyệt đẹp là sức hấp dẫn níu chân du khách mỗi khi ngang qua đây. Vì vậy, hãy chung tay bảo vệ rừng đặc dụng Hải Vân bằng những biện pháp kịp thời nhất. (Thanh Niên 15/8) đầu trang(
Chỉ vì sốt sắng lấy đất cho một dự án nghỉ dưỡng, chính quyền xã Bình Minh (huyện Thăng Bình, Quảng Nam) đã để cho máy móc tới đào phá hàng ngàn cây rừng của một hộ dân mà không cần đến một quyết định thu hồi đất, không nói năng tới chuyện bồi thường.
Báo điện tử Một Thế Giới nhận được đơn kêu cứu khẩn cấp của ông Nguyễn Quốc Dũng (SN 1981, trú tại thôn Tân An, xã Bình Minh) về việc mà gia đình ông cho rằng chính quyền xã đang vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông này.
Theo ông Dũng, từ năm 2009 gia đình ông bắt đầu khai hoang trồng rừng dương liễu và keo lá tràm trên diện tích hơn 12ha tại thôn Tân An (nay thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 2).
Theo ông Dũng, lúc trồng rừng thì đất này chưa có quy hoạch, bỏ hoang và không có cây trồng trên đất. Ông Dũng trồng rừng phủ xanh trên đất cát bỏ trống ven biển bằng nguồn vốn gia đình, hiện tại không có tranh chấp. Cũng theo ông này, trong năm 2012 Sở TNMT tỉnh Quảng Nam đã về đo đạc diện tích đất trên và có danh sách niêm yết công khai.
“Hằng năm gia đình tôi trồng rừng bổ sung trên diện tích đất nêu trên. Đến tháng 11.2014 thì UBND xã Bình Minh có mời vợ chồng tôi vào và nói trồng rừng vi phạm pháp luật. Vì lúc này gia đình tôi chỉ trồng bổ sung phần diện tích đất có cây chết do ngập nước vào mùa mưa khoảng 1ha phần phía ngoài bìa rừng trong tổng số 12,7ha trồng trong năm 2009. Thế nhưng UBND xã hù dọa tôi và đưa cho tôi 3 triệu đồng để bàn giao cây trồng trên đất cho UBND xã. Do chưa hiểu biết chính sách pháp luật đất đai nên tôi sợ quá nhận tiền và chỉ đưa phần 1ha trồng bổ sung trong năm 2014 cho xã. Còn diện tích còn lại gia đình tôi vẫn chăm sóc cây hằng năm”, ông Dũng nói.
Theo ông này, ngày 5.8.2017, phát hiện công ty du lịch dùng máy san ủi diện tích rừng nhà mình ông đã làm đơn khiếu nại khẩn cấp gửi UBND huyện Thăng Bình về việc chưa nhận được thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất và bồi thường thiệt hại theo luật đất đai 2013 nhưng vẫn cho nhà đầu tư vào san lấp mặt bằng là trái luật.
Đến ngày 11.8, UBND huyện Thăng Bình và xã Bình Minh tổ chức họp giải quyết khiếu nại đơn của ông Dũng. Tuy nhiên, theo ông Dũng cho hay, đại diện huyện và xã không đả động gì đến nội dung khiếu nại mà chỉ kết luận UBND xã và gia đình phải tạm bàn giao diện tích đất cho chủ đầu tư san lấp mặt bằng làm khu du lịch.
Theo biên bản làm việc, chính quyền thừa nhận có khoảng 12,3ha đất ở vị trí trên với 3.150 cây keo lá tràm đường kính 1-<5cm; 350 cây keo lá tràm đường kính 5-<10cm.
Cũng theo ông Dũng, dù không có quyết định thu hồi và thỏa thuận đền bù nào nhưng phía chính quyền nói sẽ cho tiến hành cưỡng chế nếu gia đình không bàn giao đất rừng nên ông đành ngậm đắng để máy móc công ty vào san phá. Ngày 12.8.2017, 5 chiếc máy múc, máy ủi rầm rộ đào phá hàng ngàn cây rừng mà gia đình này cất công chăm bẵm bao lâu. Cả gia đình già trẻ, gái trai nhà ông Dũng mếu máo đi theo giữa trời nắng đổ lửa đất bán sa mạc nhìn tài sản bị tàn phá.
“Hơn 12,7ha rừng là mồ hôi, nước mắt, công sức của gia đình tôi trồng trên diện tích đất hoang bỏ trống. Đây là khu vực cát trắng nắng nóng quanh năm, không có cây trồng tự nhiên sinh sống. Gia đình tôi đã trồng rừng phủ xanh đồi trọc ven biển theo chính sách mà nhà nước đã khuyến khích nhưng hiện nay chúng tôi đang đứng trước nguy cơ mất trắng bởi chính sách triển khai pháp luật của chính quyền địa phương”, ông Dũng nói trong nước mắt.
Ngày 15.8, trao đổi với PV báo điện tử Một Thế Giới, ông Trần Công Minh, Chủ tịch UBND xã Bình Minh khẳng định việc cho máy vào phá rừng cây của ông Dũng là bình thường.
Ông Minh cho rằng đất mà ông Dũng trồng cây là đất rừng. “Năm 2014 phát hiện ông Dũng trồng cây trái phép thì xã lên lập biên bản. Xét thấy ông Dũng hoàn cảnh khó khăn và đổ công sức ra trồng nên xã hỗ trợ 3 triệu. Sau đó xã giao cho đoàn thanh niên quản lý số cây này vì phá đi thì tiếc”.
Điều đáng nói, nếu đúng như xác nhận của vị chủ tịch xã là năm 2014, gia đình ông Dũng có trồng cây bị lập biên bản; đối chiếu lại với trình bày của ông Dũng là trong năm này gia đình ông trồng thêm 1ha; thì có nghĩa rằng việc trồng cây vi phạm chỉ trong phạm vi 1ha. Còn 12,7ha với hàng ngàn cây được gia đình ông Dũng nói trồng từ năm 2009 vẫn thuộc sở hữu gia đình ông này.
Tuy nhiên, qua trao đổi, ông chủ tịch xã Bình Minh luôn khẳng định toàn bộ diện tích rừng gia đình ông Dũng trồng từ năm 2014. Khi được hỏi cây trồng từ năm 2014 sao lớn được như vậy, nhất là với điều kiện trồng trên đất cát nóng, ông Minh lại lấp liếm là dân đi mua cây lớn về trồng.
Khi được hỏi vì sao phá cả một diện tích rừng cây như vậy mà không có lấy một thông báo, một quyết định thu hồi, không tiến hành đền bù hỗ trợ, ông Minh cho biết: “Dự án này này được UBND tỉnh phê duyệt, việc giải phóng mặt bằng do UBND huyện Thăng Bình, xã hỗ trợ. Bên chủ đầu tư muốn đẩy nhanh tiến độ nên được phép làm trước rồi tính phương án giải phóng mặt bằng, đền bù sau”.
“Cái đó mấy anh lên hỏi ông huyện với tỉnh chứ chúng tôi ở đây chấp hành thôi. Đó là chủ trương của tỉnh, họ chỉ đạo như vậy, trên chỉ đạo phải nghe”, ông Minh nói. (Một Thế Giới 15/8) đầu trang(
Trước thực trạng rừng đầu nguồn ở Hòa Bình đang bị phá hoại, người dân nơi đây lo lắng liệu con cháu họ có rơi vào thảm họa lũ quét như Mù Cang Chải?
Hôm ấy, đi từ 8 giờ sáng tới 11 giờ trưa chúng tôi cũng leo lên tới đỉnh núi. Đứng ở trên này có thể quan sát rõ ràng cả rừng của Quy Hậu, Kỳ Sơn và Mỹ Hòa. Chỗ chúng tôi đứng là một cánh đồng cỏ xanh bát ngát. Tận dụng phần cỏ này, người dân Quy Hậu bao đời nay thường đưa trâu, bò lên đây chăn thả.
"Nếu các công ty tư nhân lấy cả phần đất này trồng cam nữa thì dân chúng tôi không biết thả trâu bò đi đâu. Hàng trăm con trâu, đầu cơ nghiệp của người dân bản sẽ bị lùa về dưới xuôi. Mà ở dưới đó thì lấy đâu ra cỏ. Nguồn nước thì ô nhiễm, không trồng cấy, chăn nuôi được, không biết chúng tôi sẽ phải sống bằng nghề gì?", ông Bùi Văn Đạt - Trưởng xóm Dom đặt câu hỏi với PV.
Chiếc radio trong căn chòi giữa rừng đầu nguồn là kênh thông tin duy nhất của những người phụ nữ chăn trâu. Vài ngày nay, họ chăm chú nghe đài hơn để nắm bắt tình hình mưa bão. Một người phụ nữ lớn tuổi nhất tỏ ra lo lắng: "Đài Trung ương đưa tin, mưa lũ ở Mù Cang Chải  khiến vài ba chục người chết và mất tích. Họ bảo đấy là hậu quả của việc Yên Bái đã tàn phá hết những cánh rừng đầu nguồn. Tôi sợ, rồi đây mình cũng bị vùi lấp dưới đống đất bùn đó. Liệu con cháu chúng tôi có rơi vào thảm họa lũ quét như Mù Cang Chải?".
Hôm ấy, suốt bữa cơm trưa ở căn chòi của 3 người phụ nữa chăn trâu, họ chỉ bàn về lũ lụt ở Mù Cang Chải và cách làm sao để giữ được rừng đầu nguồn. Họ quanh năm suốt tháng ở trong rừng sâu nhưng nói toàn những chuyện thời sự: "Trên đài cũng nói đấy, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu tất cả các địa phương đóng cửa rừng từ năm 2016. Vậy mà, không hiểu tại sao ở tỉnh Hòa Bình, các công ty tư nhân vẫn có thể hiên ngang phá rừng đầu nguồn giữa thanh thiên bạch nhật".
Bà Bùi Thị Năm, một trong ba người phụ nữ chăn trâu cho biết: "Nhiều lần tiếp xúc cử tri, tôi đã có ý kiến lên chính quyền xã nhưng họ vẫn thờ ơ như chưa có chuyện gì. Cũng không giải thích để dân hiểu. Họ cứ im lặng đến bao giờ? Đến khi nào người dân chúng tôi rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, lũ quét cuốn trôi nhà cửa như ở Mù Cang Chải? Chúng tôi là đân đen, không có tiếng nói nên chỉ biết kêu chính quyền địa phương. Mỗi mùa mưa lũ đến, nghĩ đến cảnh mất rừng, mất nhà chúng tôi lại hoang mang lo sợ".
"Nay có phóng viên về dân chúng tôi mừng lắm. Mong là tiếng kêu của chúng tôi sẽ được nhiều người nghe thấy. Còn rừng thì còn dân, mất rừng là chúng tôi mất tất cả", bà Năm nói.
Anh Bùi Văn Hùng - Người dân xóm Dom cũng có cùng suy nghĩ với bà Năm. Anh và hàng trăm hộ dân ở đây đã từng nghĩ tới việc cầm một tấm biển "Cứu lấy rừng đầu nguồn Quy Hậu của chúng tôi" về thủ đô để nhờ các cơ quan cấp trên giúp đỡ.
Anh Hùng cho hay: "Dù có đền bù cho tôi hàng tỷ đồng để phá rừng tôi cũng không lấy. Một tỷ đối với dân đen như chúng tôi là quá lớn nhưng tiêu rồi cũng hết. Đời con cái chúng tôi biết sống ra sao ở đất này?".
Ngồi trong căn chòi của ba người phụ nữ chăn trâu có thể nhìn ra được lán trại của một công ty tư nhân. Lán trại dưới gốc cây vẫn còn nham nhở vì bị người dân bức xúc kéo lên đốt cháy. Nghe người dân kể lại, những lúc phá rừng trồng cây, công ty họ huy động tới mấy trăm công nhân làm việc ngày đêm. Vì vậy, chẳng mấy chốc mà cả cánh rừng đầu nguồn này sẽ bị cạo trọc.
Sau bữa cơm trưa, ông Trưởng xóm Dom chỉ lại cho tôi vị trí của từng cánh rừng. Quả thật, nếu theo hướng ông Đạt chỉ thì tất cả những cánh rừng đang bị mấy công ty phá thuộc vào địa phận của xã Quy Hậu.
"Mà kể cả họ có vẽ lại bản đồ, cánh rừng của chúng tôi về đất Tây Phong thì hậu quả vẫn là người dân Quy Hậu phải hứng chịu. Muộn thì bệnh tật do nguồn nước bị ô nhiễm thuốc trừ sâu và phân hóa học. Sớm thì mỗi lần lũ quét về, không có rừng che chắn nó sẽ trôi cả làng chúng tôi đi", ông Đạt cho hay.
Buổi trưa, tranh thủ lúc những công nhân của công ty Đ. nghỉ, bố mẹ Thôn dẫn tôi vào vườn cam. Con đường vào vườn cam đều được rào chắn khá cẩn thận để ngăn trâu bò và người dân xâm phạm. Vừa đi được một đoạn thì xuất hiện hai thanh niên đi xe côn bóp còi inh ỏi. Thấy người dân bản vào ruộng, họ không đuổi nhưng âm thầm đi theo sau. Rất may, lúc sáng tôi đã cải trang thành người dân bản. Nếu không, chắc chắn sẽ bị đuổi ra khỏi đây.
Có người theo sau nên tôi không thể quay phim, chụp ảnh. Tôi chỉ quan sát thấy cả một vùng đất rộng lớn đã được trồng cam. Có lẽ do mới trồng được vài tháng nên cây còn non. Thấy có người vào vườn, họ dùng điện thoại để thông báo cho nhau. Chúng tôi đi tới đâu cũng có người theo dõi tới đó. Họ chặn đầu phía trước nhìn tôi với ánh mắt dữ dằn.
Đi qua vườn cam, chúng tôi xuống một con đường đất mới được đào nham nhở. Mẹ Thôn lên tiếng: "Chúng nó đào đường cho xe ô tô lên đấy. Đường này đào lên tận chỗ đầu nguồn con nước. Cô có thấy rừng đầu nguồn nào mà ô tô có thể đi lên tới đỉnh không? Chúng nó phá hết, giết chết hết rừng của chúng tôi rồi".
Những lời cay đắng của mẹ Thôn tôi có thể cảm nhận được bởi trước mắt mình là cánh rừng đang bị đào xới, xẻ ngang dọc. Những cây gỗ lớn bị quật ngã nằm la liệt dưới vực. Những bụi măng nứa, thức ăn chính của người dân bị vùi dưới đống đất sâu.
"Nhanh lắm cô ạ. Chỉ dăm ba hôm là họ san phẳng một cánh rừng. Đoạn nào có đá cản họ dùng mìn để phá. Đoạn nào cao họ đào đất đến vài chục mét. Rừng đang xanh tốt bỗng chốc trở thành hoang tàn, xơ xác", mẹ Thôn phải thốt lên những lời từ tâm can.
Đi từ vườn cam vào đến đập nước đầu nguồn chừng 2 km. Đập nước bị đào sâu xuống khoảng 20 mét. Những ngọn đất cao vút, chỉ chờ nước lũ là vùi lấp đi tất cả. Vài tuần trước, người của công ty Đ. cho máy xúc lấp đập lại, ngăn nước không cho về bản. Nhờ có tin báo của ba người phụ nữ chăn trâu người dân mới kéo lên đòi khơi thông dòng chảy. Trồng cam thì phải có nước tưới, vì vậy đến mùa khô mới thấy nước đầu nguồn quan trọng với người dân Quy Hậu thế nào.
Chui xuống dưới đập nước, tôi nghe rõ nhịp tim đập thình thịch và tiếng thở dài của bố mẹ Thôn. Họ lấy tay múc từng vốc nước lên mặt và kể chuyện: "Nước ở đây lành và mát lắm. Người dân đi rừng chúng tôi khát có thể vục và uống luôn. Thế mà chẳng ai đau bụng bao giờ. Thế nhưng bây giờ nước chảy về dưới xuôi không ai dám uống. Họ mang theo thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, phân hóa học xuống cho người dân. Rồi chẳng bao lâu nữa, nước trên đầu nguồn này cũng bị đầu độc. Chẳng một ai dám múc nước rửa mặt như thế này nữa".
Sau khi đi thực tế cùng người dân ở rừng đầu nguồn, ngày hôm sau chúng tôi quay lại để làm việc với UBND xã. Hôm đó, từ Chủ tịch, Bí thư, đến Phó Bí thư xã Quy Hậu đều đi tập huấn công tác. Tiếp chúng tôi là ông Bùi Hồng Như - Phó Bí thư thường trực xã Quy Hậu.
Theo ông Như, phần đất rừng mà người dân đang giữ không thuộc địa bàn quản lý của xã Quy Hậu mà thuộc xã Tây Phong, huyện Cao Phong. Bởi vậy, những vấn đề người dân đang bức xúc, UBND xã Quy Hậu không có thẩm quyền xử lý.
Khi PV hỏi về tổng diện tích đất rừng của Quy Hậu thì ông Như không nắm được. Mặc dù, ông Như đã từng là Chủ tịch UBND xã Quy Hậu trước khi làm Phó Bí thư thường trực. Tìm khắp UBND xã Quy Hậu cũng không có lấy một tấm bản đồ địa chính của xã. "Về con số thì bên cán bộ địa chính mới biết. Đồng chí cán bộ địa chính lại đang trong chế độ nghỉ thai sản nên không có mặt ở ủy ban", ông Như cho hay.
"Chúng tôi chỉ là cơ quan cấp xã, không có thẩm quyền cấp phép khai thác hay chuyển mục đích sử dụng rừng đầu nguồn. Phải là cơ quan cấp huyện trở lên mới có quyền làm việc này. Tuy nhiên, khi nhận được phản ánh về tình trạng tàn phá rừng đầu nguồn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bà con nhân dân, chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị lên cấp huyện nhưng đến nay vẫn chưa có phản hồi", ông Phó Bí thư thường trực xã Quy Hậu nói.
Theo ông Như: "Rõ là biết hai công ty tư nhân kia làm sai nhưng không đủ thẩm quyền xử lý. Chúng tôi có gọi hai công ty lên làm việc nhưng họ cũng không thèm lên. Có lần lên, họ hứa xong đâu lại vào đấy".
Bởi vậy, ông Như thừa nhận chính quyền xã Quy Hậu không có tiếng nói và gần như bất lực trước tình trạng rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề. Những phản ánh, bức xúc của về sai phạm của các công ty như phá rừng, ngăn nước, gây ô nhiễm môi trường cho người dân Quy Hậu đều đúng nhưng UBND xã chưa tìm được cách giải quyết. Những cách giữ rừng của người dân là tự phát và xuất phát từ chính những bức xúc liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của họ. (VTC News 16/8) đầu trang(
Bị cáo đầu vụ khai trưởng Công an huyện Đồng Xuân, Phú Yên và nhiều quan chức tham gia vào “quy trình” phá rừng phòng hộ nhưng các quan chức này đều phủ nhận.
15-8, TAND tỉnh Phú Yên xử vụ án hủy hoại rừng tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân. Bốn bị cáo bị VKSND tỉnh truy tố cùng tội danh trên gồm Phạm Xuân Trình (41 tuổi, ngụ xã Xuân Quang 1, huyện Đồng Xuân), Huỳnh Anh Khương (37 tuổi, nguyên cán bộ Phòng TN&MT huyện Đồng Xuân), La O Kinh (39 tuổi, ngụ xã Xuân Quang 1), La Lan Thập (32 tuổi, ngụ xã Phú Mỡ).
Đây là vụ phá rừng quy mô lớn, liên quan đến hàng loạt cán bộ trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng (gọi tắt là GCN) và thuê người phát trắng rừng.
Cáo trạng xác định: Tháng 5-2015, Phạm Xuân Trình tự làm các hồ sơ đứng tên ba người dân tộc thiểu số ở xã Phú Mỡ để đăng ký hồ sơ cấp GCN ba thửa đất tại tiểu khu rừng 90 ở địa phương này. Được sự tác động của các ông Đỗ Minh Tân - Trưởng Công an huyện Đồng Xuân và Nguyễn Thành Chung - cán bộ điều tra công an huyện, ba hồ sơ trên đã được chủ tịch UBND xã và cán bộ địa chính xã Phú Mỡ xác nhận, hoàn tất thủ tục niêm yết công khai.
Tiếp đó, cán bộ Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai), Phòng TN&MT không kiểm tra hiện trạng vẫn lập biên bản kiểm tra phản ánh không đúng thực tế để tham mưu cho lãnh đạo đơn vị xác nhận, hoàn tất các thủ tục của ba hồ sơ trên. Ông Nguyễn Hồng Đức - Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, ông Cao Thanh Lương - Trưởng phòng TN&MT cũng không kiểm tra, thẩm định hồ sơ, ký xác nhận và trình UBND huyện cấp ba GCN.
Tương tự, Phạm Xuân Trình cùng Huỳnh Anh Khương lập ba hồ sơ khác đứng tên người dân tộc thiểu số và được UBND huyện cấp bốn GCN với tổng diện tích hơn 83 ha rừng. Sau đó, Phạm Xuân Trình lập khống các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tên các hộ được cấp sang cho mình, rồi làm đơn xin phát dọn thực bì. Các giấy tờ này đều được UBND xã Phú Mỡ ký xác nhận.
Cuối tháng 3-2016, Trình thuê gần 30 người sử dụng cưa máy, rựa phát trắng rừng. Thấy vậy, La O Kính, La Lan Thập cũng thuê người chặt phát rừng để lấy đất canh tác.
Sở NN&PTNT kết luận có gần 110 ha bị chặt phá. Trong đó có 33 ha rừng, gồm 25 ha rừng phòng hộ, còn lại là rừng sản xuất. Có 77 ha có cây gỗ tái sinh nhưng chưa thành rừng.
Cơ quan chức năng xác định Trình, Khương tổ chức chặt phá hơn 6 ha rừng phòng hộ, 8 ha rừng sản xuất. La O Kính và La Lan Thập tổ chức chặt phá gần 19 ha rừng phòng hộ. Cơ quan chức năng cũng kết luận việc cấp GCN trên là trái pháp luật và UBND huyện Đồng Xuân đã hủy các GCN này.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Xuân Trình khai nhiều cán bộ huyện đã trực tiếp tham gia trong quá trình chặt phá rừng trên. Theo bị cáo Trình, đầu năm 2015, ông Đỗ Minh Tân - Trưởng công an huyện và ông Nguyễn Thành Chung - cán bộ công an huyện đến xã Xuân Quang 1 gặp Trình bàn bạc, thống nhất việc tìm đất rừng để trồng cây. Các ông Tân, Chung cùng Trình trực tiếp đến gặp lãnh đạo UBND xã Phú Mỡ tác động, nhờ ký các hồ sơ xin cấp GCN.
“Ông Tân, ông Chung cùng bị cáo và lãnh đạo UBND xã Phú Mỡ hai lần đi ăn nhậu để bàn bạc. Bị cáo và hai ông Tân, Chung cùng làm chung với nhau trong việc tổ chức thuê người chặt phát tổng cộng hơn 44 ha. Về chi phí cho việc tổ chức chặt phát cây, ông Tân và ông Chung mỗi người đưa cho bị cáo 20 triệu đồng để trả tiền thuê nhân công chặt phát. Riêng bị cáo bỏ ra 15 triệu đồng” - Trình khai.
Trong phần làm thủ tục phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo Trình đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa do sự vắng mặt của ông Đỗ Minh Tân - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với vai trò quan trọng trong vụ án này.
Sau khi hội ý, chủ tọa phiên tòa cho biết trước khi đưa vụ án ra xét xử, TAND tỉnh đã có công văn gửi công an tỉnh thông tin về trường hợp ông Tân. Sau đó, giám đốc công an tỉnh đã có công văn yêu cầu trưởng Công an huyện Đồng Xuân phải có mặt tham gia tố tụng tại phiên tòa này. Tuy nhiên, ông Tân vẫn có đơn xin xử vắng mặt.
Trong cáo trạng được công bố, VKSND tỉnh cho rằng kết quả điều tra không đủ cơ sở xác định việc các cán bộ huyện Đồng Xuân như các ông Tân, Chung cùng góp tiền tham gia chặt phá rừng với Trình nên CQĐT không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Riêng việc hai cán bộ Công an huyện Đồng Xuân tác động để chủ tịch UBND xã Phú Mỡ xác nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất không đúng pháp luật, CQĐT đã đề nghị giám đốc công an tỉnh xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Ngoài ra, bị cáo Trình còn khai ông Nguyễn Hồng Đức - Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất và ông Cao Thanh Lương - Trưởng phòng TN&MT cũng góp tiền tham gia chặt phá hơn 14 ha rừng, trong đó trên 6 ha là rừng phòng hộ, còn lại là rừng sản xuất. Trình nói rằng diện tích rừng đó là của ông Lương, ông Đức và Huỳnh Anh Khương bỏ tiền ra làm chung với nhau chứ không phải của Trình.
Về chi phí cho việc chặt phát diện tích rừng này, bị cáo Trình khai ông Lương và ông Đức mỗi người đưa 10 triệu đồng, Khương đưa ba lần tổng cộng 37 triệu đồng. Trình nói mình chỉ là người đứng ra thuê nhân công chặt phát và nhận tiền của các cán bộ trên rồi trực tiếp trả tiền nhân công.
Tuy nhiên, VKS cho rằng không đủ cơ sở xác định lời khai của Trình nên CQĐT không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cán bộ trên.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trình đề nghị HĐXX có biện pháp triệu tập đại diện UBND huyện Đồng Xuân tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhằm làm rõ vai trò, trách nhiệm của nhiều cán bộ trong quy trình cấp GCN.
Hôm nay, 16-8, phiên tòa tiếp tục. (Pháp Luật TPHCM 16/8) đầu trang(
Ngày 14/8, phiên tòa sơ thẩm hình sự của TAND TP Đà Nẵng xét xử vụ án buôn lậu trên 530m3 gỗ trắc của Cty Ngọc Hưng (Quảng Trị) đã kết thúc.
Thay mặt Hội đồng xét xử - chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nguyễn Thị Cảnh đã tuyên trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Như vậy, qua 3 phiên tòa đều tuyên trả hồ sơ vụ án cho cơ quan CSĐT để điều tra bổ sung những chứng cứ, tình tiết của vụ án.
Vụ án được bắt đầu từ ngày 17/12/2011 Cty Ngọc Hưng mở tờ khai hải quan số 1505, làm thủ tục nhập khẩu kinh doanh lô hàng trên 530m3 gỗ trắc tại Chi cục Hải quan (CCHQ) cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị). Hai ngày sau, Cty làm thủ tục xuất kinh doanh lô hàng tại CCHQ cửa khẩu cảng Cửa Việt và toàn bộ lô hàng được xếp vào 22 container chuyển đến cảng Đà Nẵng để xuất đi Hồng Kông (Trung Quốc).
Ngày 22/12/2011, CA quận Ngũ Hành Sơn (TP Đà Nẵng) phát hiện 1 ô tô vi phạm nên kiểm tra và bàn giao hồ sơ hàng hóa cho Cục HQ TP Đà Nẵng. Ngày 6/1/2012, CCHQ cảng Đà Nẵng ra quyết định khám xét lô hàng và đã khám xét 3/22 contaner lấy 16 mẫu trưng cầu giám định mẫu gỗ.
Đến ngày 20/1/2012, CCHQ cảng Đà Nẵng tạm giữ tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan đối với lô hàng của Cty Ngọc Hưng. Trong thời gian từ 15 đến 20/2/2012, Cty Ngọc Hưng có nhiều văn bản kiến nghị gửi tới các cơ quan chức năng. Lập tức, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị “gỡ khó" cho doanh nghiệp. Ngày 2/3/2012 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Tài chính và Bộ NN-PTNT kiểm tra vụ việc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/3/2012.
Ngày 20/3/2013, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ Cty Ngọc Hưng có hành vi vi phạm: xuất khẩu hàng hóa không khai báo hải quan (21m3 gỗ giáng hương...); xuất khẩu hàng hóa không đúng với khai báo hải quan (theo khai báo là gỗ trắc Cam bốt tròn, thực tế kiểm tra là gỗ trắc cẩm lai nam); gỗ xuất khẩu không có nguồn gốc hợp pháp, không có giấy phép của Cục Kiểm lâm...
Ngày 6/4/2012 Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) ra QĐ khởi tố vụ án “buôn lậu” xảy ra tại Cảng Đà Nẵng và chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra (Bộ CA) tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ việc, cơ quan CSĐT tội phạm về trật tự kinh tế và chức vụ (C46 - Bộ CA) có CV số 231 (ngày 6/6/2012), gửi Tổng cục Hải quan khẳng định: “Những sai phạm này không trái với những quy định của Nhà nước về công tác quản lý xuất, nhập khẩu nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu” quy định tại Điều 153 BLHS”.
Thấy không thỏa mãn, Tổng cục Hải quan đề nghị cơ quan CSĐT (C44 - Bộ CA) tiếp nhận hồ sơ điều tra vụ án. Trong CV trả lời C44 của Cục Kiểm lâm (Bộ NN-PTNT) ngày 17/5/2012 nói rõ: “Khi xuất khẩu gỗ trắc, gỗ giáng hương không phải xin cấp phép”. Mặc dù vậy, đến ngày 19/11/2012, cơ quan CSĐT (C44) ra “Quyết định khởi tố bị can” và bắt tạm giam đối với ông Trương Huy Liệu (Phó Giám đốc Cty Ngọc Hưng).
Ngày 31/7/2013, C44 có quyết định xử lý vật chứng, bán đấu giá lô gỗ tang vật của vụ án và ủy quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá Hà Nội tổ chức bán đấu giá lô hàng gỗ này với trị giá trên 63 tỷ đồng?
Hội đồng xét xử đã đề nghị cơ quan CSĐT làm rõ vấn đề: Cty Ngọc Hưng cùng ngày nhập về 2 lô gỗ. Một lô bị cơ quan CSĐT tạm giữ sau 2 năm thì trả lại cho Cty và 1 lô lại vi phạm. Làm rõ vì sao khi ra QĐ tịch thu tang vật (gỗ) lại không lập biên bản và không thông báo cho chủ sở hữu là Cty Ngọc Hưng cũng như việc bán đấu giá lô gỗ không thông báo cho Cty Ngọc Hưng…
Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng làm rõ có hay không ép cung nhân chứng Trần Đình Quang (một người liên quan đến vụ án), làm người này phải tự tử. (Nông Nghiệp VN 15/8) đầu trang(
Tại một số nơi thuộc tỉnh Đồng Nai, trong khi người dân đang trồng rừng trên mảnh đất của mình thì bị các doanh nghiệp cũng có giấy chứng nhận sử dụng đất đến san ủi.
Khu đất đã cấp sổ đỏ cho người này, rồi lại cấp cho người khác. Kết quả là trong khi người dân đang trồng rừng, canh tác trên mảnh đất của mình, thì bị các doanh nghiệp, cũng có giấy chứng nhận sử dụng đất đến chặt phá, san ủi. Vụ việc kỳ lạ này đang diễn ra tại một số địa phương ở tỉnh Đồng Nai. (VTV 13/8) đầu trang(
Để mở rộng hai tuyến đường kết nối với sân bay Tân Sơn Nhất nhằm giảm kẹt xe, lực lượng chức năng TPHCM đang tính phương án di dời và đốn hạ hơn 100 cây xanh.
Theo Sở GTVT TPHCM, đơn vị vừa phê duyệt kế hoạch di dời, đốn hạ 123 cây xanh trên hai tuyến đường Hoàng Minh Giám (quận Phú Nhuận) và Hoàng Hoa Thám (quận Tân Bình).
Đây là dự án mở rộng 2 tuyến đường Hoàng Minh Giám và Hoàng Hoa Thám, nhằm giảm kẹt xe khu vực quanh sân bay Tân Sơn Nhất. Trong đó, đường Hoàng Minh Giám có 30 cây xanh bị xử lý, gồm: 5 cây di dời, trồng và bảo dưỡng tại trường Đại học Nông Lâm TPHCM; 25 cây đốn hạ trong thời gian từ tháng 8-10/2017.
Tuyến đường Hoàng Hoa Thám (đoạn từ cổng doanh trại quân đội đến đường Cộng Hòa) có 93 cây xanh được xử lý, gồm: 16 cây di dời được trồng lại và bảo dưỡng tại trường ĐH Nông Lâm TPHCM; 77 cây đốn hạ trong thời gian tháng 8 - 12/2017.
Lãnh đạo Sở GTVT TPHCM cho biết, số lượng gỗ thu hồi từ việc đốn hạ cây xanh sẽ được sử dụng để chế tạo các sản phẩm phục vụ công cộng như bàn, ghế, sản phẩm điêu khắc...(Tiền Phong 15/8) đầu trang(
Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hòn Bà được biết đến là nơi nhà bác học A.Yersin đặt cơ sở nghiên cứu y học cách nay đã hơn 100 năm. Nhiều người cho rằng, Hòn Bà là “bảo tàng” thiên nhiên của Khánh Hòa có mức độ đa dạng sinh học cao, tiềm năng lớn về du lịch sinh thái.
Một ngày theo chân các cán bộ Ban quản lý KBTTN Hòn Bà, chúng tôi có dịp khám phá thêm nhiều điều thú vị của Hòn Bà.
Len lỏi đường rừng gần 30 phút, ông Mang Xuân Luông - cán bộ Hạt Kiểm lâm Hòn Bà dẫn chúng tôi vượt qua những tảng đá ẩm ướt, trơn trượt, đến trước cây pơ mu xen lẫn những cây hồng tùng quý hiếm được xếp trong Sách đỏ. Ông Luông giới thiệu, loài lan hài hồng (tên khoa học Paphiopedilum delenati) mới được các nhà sinh vật học Việt Nam tìm thấy tại Hòn Bà ở độ cao 1.000m. Trong khi đó, ông Nguyễn Quốc Cường - cán bộ Phòng Khoa học - Hợp tác quốc tế (KBTTN Hòn Bà) cho biết, trong KBTTN Hòn Bà hiện có 56 loài động vật và 43 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam, Sách đỏ thế giới.
Đi trong KBTTN Hòn Bà, dưới những tán rừng xanh mướt, chốc chốc chúng tôi lại được các cán bộ khu bảo tồn giới thiệu thêm một số loài thực vật đặc hữu, có vùng phân bố hẹp chỉ có ở Hòn Bà (mang địa danh: Nha Trang, Hòn Bà) như: Dẻ gai Nha Trang, Thị Nha Trang, Sồi Hòn Bà, Minh điền Hòn Bà.
Chỉ tay về phía loài cây, mới thoạt nhìn phần lá không khác mấy so với lá của cây hoa Đỗ Quyên, nhưng thân lại cao lớn hơn, ông Luông cho biết: “Đó là loài Đỗ Quyên Hòn Bà, cứ khoảng tháng 3 hàng năm, loài Đỗ Quyên này lại đua nhau khoe sắc trên khắp các cánh rừng mưa nhiệt đới ở Hòn Bà. Đây là loài thực vật rất hiếm và có vùng phân bố hẹp ở Việt Nam”.
Gần trưa, chúng tôi dừng chân dưới tán rừng thông 2 lá dẹt, ông Cường cho biết thêm: “Đây là khu vực nghỉ trưa của loài voọc chà vá chân đen quý hiếm. Ở Hòn Bà, voọc chà vá chân đen không chỉ có 1 đàn mà có rất nhiều đàn. Ngoài ra, ở đây còn có nhiều loài động vật quý hiếm khác có tên trong Sách đỏ Việt Nam, Sách đỏ thế giới như: gà lôi, gà tiền, niệc nâu, hồng hoàng, trĩ sao, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, vượn đen má hung, gấu ngựa, kỳ đà hoa, rắn cạp nong…”.
Để xác minh những điều ông Luông nói, chúng tôi quyết định ẩn mình dưới những hốc đá lớn, dán mắt lên những cành thông 2 lá dẹt để chờ cơ hội ngắm loài voọc quý. Sau gần 1 giờ im lặng đợi chờ, bỗng ông Luông nói khẽ: “Voọc kìa! Voọc kìa, một đàn luôn!”. Nhìn về phía ông Luông chỉ, chúng tôi tận mắt chứng kiến đàn voọc chà vá chân đen quý hiếm ở Hòn Bà, với đặc trưng là chiếc đuôi dài, trắng tinh và tứ chi một màu đen tuyền. Chúng tôi cứ mải mê ngắm đàn voọc quý cho đến khi trời ngả về chiều, đàn voọc di chuyển dần để đi kiếm ăn.
Theo các nhà khoa học, những năm gần đây, hàng chục loài thực vật mới đã được phát hiện tại Hòn Bà. Đặc biệt, KBTTN Hòn Bà đã có 2 ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam là cây Gạt bao và cây Săng ớt.
Hòn Bà là nơi bác sĩ A.Yersin xây dựng cơ sở nghiên cứu y học vào năm 1915. Trên đỉnh Hòn Bà hiện nay vẫn nguyên vẹn căn nhà làm việc, các công trình phục vụ nghiên cứu y học của bác sĩ A.Yersin. Theo các nhà khai thác du lịch, với những giá trị về thiên nhiên và văn hóa lịch sử, Hòn Bà là nơi có tiềm năng lớn về phát triển dịch vụ, du lịch, nhất là du lịch sinh thái, khám phá thiên nhiên.
Trao đổi với chúng tôi, ông Đỗ Anh Thy - Giám đốc Ban quản lý KBTTN Hòn Bà cho hay: “Chúng tôi đã xây dựng 3 phương án, sắp tới sẽ xin ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh về khai thác du lịch sinh thái tại KBTTN Hòn Bà”. Phương châm khi triển khai du lịch sinh thái tại KBTTN Hòn Bà là phải khai thác theo hướng bền vững; bảo tồn đi đôi với phát triển, phát triển để phục vụ bảo tồn.
Ông Nguyễn Tứ Xuyên - Giám đốc Công ty TNHH Hành trình xe đạp Việt Nam (Nha Trang) chia sẻ: “Các tour du lịch mạo hiểm, khám phá thiên nhiên rất thu hút khách nước ngoài. Cụ thể như các tour khám phá đèo Hòn Giao (huyện Khánh Vĩnh), Ba Hồ (thị xã Ninh Hòa)… của công ty chúng tôi tổ chức đã thu hút rất đông du khách tham gia. Riêng đối với KBTTN Hòn Bà, tôi nghĩ với vẻ đẹp thiên nhiên, sự phong phú về các loài động, thực vật và cả di tích gắn với nhà khoa học A.Yersin sẽ nhận được sự quan tâm rất lớn không chỉ của du khách nước ngoài mà cả trong nước. Việc khai thác du kịch sinh thái tại KBTTN Hòn Bà không làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng cần được khuyến khích”.
Trong câu chuyện với những cán bộ KBTTN Hòn Bà, chúng tôi được họ chia sẻ rằng, để giữ cho KBTTN Hòn Bà được xanh, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng phải thường xuyên tuần tra, kiểm soát, giữ rừng từ “gốc”, tuy nhiên để giữ được rừng không phải là điều dễ dàng.
Ông Lê Kim Hoàn Vũ - Hạt phó Hạt Kiểm lâm Hòn Bà cho biết: “Để bảo vệ KBTTN Hòn Bà, chúng tôi đã xây dựng 6 trạm kiểm lâm, 1 chốt bảo vệ tại các địa bàn xung yếu, có nguy cơ rừng bị xâm hại cao. Bên cạnh đó, thường xuyên tổ chức các đợt tuần tra, truy quét sâu vào rừng, kiểm soát lâm sản tại các khu vực trọng điểm. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm đã tổ chức 417 đợt tuần tra, truy quét. Qua đó, hạn chế đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực vào rừng, không để xảy ra các điểm nóng về khai thác, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng trong KBTTN Hòn Bà”.
Cùng với việc quản lý, bảo vệ rừng, một trong những công việc trọng tâm của KBTTN Hòn Bà là phòng, chống cháy rừng trong mùa khô. Bởi, trong khu bảo tồn có hàng trăm héc-ta rừng trồng có nguy cơ cháy rất cao.
Theo ông Đỗ Anh Thy, bên cạnh việc tập trung giữ rừng, Ban quản lý khu bảo tồn còn triển khai nhiều hoạt động chăm sóc, phát triển rừng, tổ chức nhiều đợt thả động vật hoang dã về lại môi trường tự nhiên, triển khai nhiều hoạt động điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học, thu thập tiêu bản hệ động, thực vật trong khu bảo tồn...
“Trong thời gian tới, Ban quản lý KBTTN Hòn Bà sẽ đề xuất tỉnh cho phép điều tra toàn diện về hệ thực vật cũng như động vật Hòn Bà, đánh giá đầy đủ về giá trị tài nguyên rừng, hình thành cơ sở dữ liệu riêng cho khu bảo tồn. Qua đó, xác lập các chuẩn mực để đề nghị thành lập Vườn quốc gia Hòn Bà thay cho Khu BTTN Hòn Bà như hiện nay. Trước mắt, chúng tôi đang tập trung xây dựng các dự án bảo tồn đa dạng sinh học theo các cấp độ như: bảo tồn loài, bảo tồn hệ sinh thái, bảo tồn cảnh quan, tìm kiếm hợp tác quốc tế để bảo tồn đa dạng sinh học ở Hòn Bà”, ông Thy nhấn mạnh. (Báo Khánh Hòa 16/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Xung quanh việc Lâm ngư trường Sông Trẹm cắt 500m hậu đất của 130 hộ dân nhận khoán ở U Minh hạ (Cà Mau) trở thành “điểm nóng” bị người dân phản ánh kéo dài, mới đây UBND tỉnh đã đưa ra hướng giải quyết vấn đề…
Theo hồ sơ, thực hiện Quyết định số 64/1991 của UBND tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau) nhằm chủ trương xã hội hóa nghề rừng, năm 1993, Lâm ngư trường (LNT) Sông Trẹm (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ) lập hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp cho các hộ dân trồng rừng và bảo vệ rừng theo tuyến bờ bao từ kênh 14 đến kênh 25, với diện tích giao khoán bình quân khoảng 10ha/hộ (ngang 100m, dài 1.000m). Tổng diện tích đất giao khoán cho 130 hộ là 1.103ha, thời hạn hợp đồng là 20 năm (từ năm 1993 đến 2013).
Trong quá trình quản lý, các hộ dân không đủ sức bảo vệ và phát triển rừng nên rừng bị nghèo kiệt và để xảy ra cháy rừng. Do đó, đến năm 1996, LNT Sông Trẹm thu hồi lại 500m chiều dài (tương đương 50% diện tích) hậu đất của 130 hộ dân với diện tích gần 530ha. Phần đất này, LNT Sông Trẹm hợp đồng giao khoán và liên doanh liên kết với diện tích 379ha còn lại.
Điều đáng nói, việc thu hồi của LNT Sông Trẹm lại không có chủ trương, không có phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, không bồi hoàn cho dân và cũng không thỏa thuận với dân lập lại hợp đồng giao khoán mới. Đến năm 2012 (16 năm sau), người dân các ấp 19, 20 và 21 (xã Khánh Thuận, huyện U Minh) phản ánh LNT Sông Trẹm cắt hậu đất của dân từ 1.000m xuống còn 500m để phân chia cho một số cán bộ và tổ chức. Người dân yêu cầu phải trả lại hiện trạng giao khoán ban đầu cho các hộ dân hoặc cho người dân thuê.
Theo UBND tỉnh Cà Mau, qua kiểm tra, xác minh cho thấy, LNT Sông Trẹm thu hồi lại phần hậu đất 500m của 130 hộ dân có sai sót về mặt trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, đất này là của LNT Sông Trẹm được Nhà nước giao quản lý, vì vậy đơn vị này có thẩm quyền giao khoán và thu hồi đất. Hiện nay 130 hộ dân (53 hộ đã chuyển nhượng thành quả lao động) yêu cầu được nhận lại 500m đất đã thu hồi trước đây là không có cơ sở thực hiện. Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải đã gửi báo cáo đến Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan trung ương về hướng giải quyết khiếu nại về điểm nóng này.
Theo đó, sẽ tiến hành hỗ trợ thành quả lao động cho 130 hộ dân. Theo tính toán, mức hỗ trợ bảo vệ rừng trong 3 năm và chi phí thực bì và đào kênh là trên 4,1 tỷ đồng (số tiền này dựa vào điều kiện thực tế, còn trước đó chỉ đưa ra mức hỗ trợ có 337 triệu đồng nên dân không đồng ý).
Ông Nguyễn Tiến Hải cũng cho biết, tỉnh cũng kiến nghị Thường trực Tỉnh ủy xem xét, chỉ đạo xử lý đối với những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm trong việc cắt đất hợp đồng đối với dân và những cán bộ khác có liên quan gây khiếu kiện phức tạp.
Trước đó, làm việc với cơ quan chuyên môn, ông Nguyễn Tiến Hải chỉ đạo: “Thu hồi lại các phần đất giao khoán không đúng đối tượng, không trực tiếp sản xuất, cho thuê lại, diện tích lớn, những phần đất liên doanh liên kết không đảm bảo theo quy định về quản lý và bảo vệ rừng, hết thời hạn hợp đồng.
Trên cơ sở quỹ đất của đơn vị, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ kết hợp với chính quyền địa phương xem xét lại từng trường hợp cụ thể, tiếp tục giao khoán cho các hộ thật sự có nhu cầu và thực hiện việc trồng rừng tốt. Không xem xét lại những trường hợp chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng…” (Sài Gòn Giải Phóng 14/8) đầu trang(
Từ khi thành lập, HTX Dân quân trồng rừng xã Ngọc Minh (Vị Xuyên, Hà Giang) đã góp phần phát triển ngành lâm nghiệp trên địa bàn, biến lâm nghiệp thành thế mạnh phát triển kinh tế và góp phần bảo vệ môi trường (BVMT) sinh thái nhờ tăng độ che phủ rừng.
Cùng với nhiệm vụ thường xuyên huấn luyện, trực sẵn sàng chiến đấu, ứng phó kịp thời với các tình huống thiên tai, hỏa hoạn xảy ra trên địa bàn; tham gia giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội..., HTX Dân quân trồng rừng xã Ngọc Minh còn nhận thêm nhiệm vụ trồng rừng kinh tế, rừng lâm nghiệp xã hội.
HTX hiện có 50 thành viên, với vốn điều lệ 3,5 tỷ đồng. Tận dụng diện tích đất lâm nghiệp khá lớn tại địa phương, HTX đã triển khai nhiều chương trình, dự án trồng mới rừng nhằm nâng cao độ che phủ, thu nguồn lợi từ rừng.
Với diện tích đất rừng được giao, HTX đã triển khai phát dọn thực bì, liên hệ với những đơn vị cung ứng giống cây lâm nghiệp để bảo đảm chất lượng cây sau khi trồng.
Nhờ việc phát triển trồng rừng, HTX góp phần cung cấp củi và nguyên liệu chế biến gỗ cho các DN trên địa bàn. Theo hạch toán kinh tế cho 1 ha, chi phí đầu tư là 35,5 triệu đồng, sau 1 chu kỳ thu được 105m3 gỗ, bán với giá 1 triệu đồng/khối sẽ thu được 105 triệu đồng. Trừ chi phí đầu tư, thuế DN, HTX sẽ thu về lợi nhuận 52,125 triệu đồng.
Bên cạnh hiệu quả về kinh tế, HTX còn mang lại hiệu quả về xã hội, như giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các thành viên, tăng tỷ lệ che phủ rừng, BVMT sinh thái, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo bền vững...
Theo kế hoạch năm 2017, HTX dự kiến trồng mới 70 ha rừng bằng cây giống chất lượng cao, sau 5 - 7 năm, sản lượng thu hoạch phấn đấu đạt 100m3/ha trở lên, doanh thu ước tính thu về hơn 5 tỷ đồng.
Có thể khẳng định, việc thành lập mô hình HTX dân quân trồng rừng tại địa phương đã góp phần khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, tạo nguồn nguyên liệu tập trung cho các nhà máy giấy, chế biến gỗ... Đồng thời góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân về phát triển kinh tế tập thể, nâng cao trình độ quản lý và tổ chức các phương án sản xuất, kinh doanh phù hợp.
Trong điều kiện thời tiết khí hậu có nhiều diễn biến khó lường như những năm qua, nhất là vào mùa hanh khô, HTX đã tăng cường công tác phòng chống cháy rừng (PCCR) để bảo đảm diện tích rừng đã và đang trồng, phát triển diện tích che phủ rừng.
HTX tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc về công tác PCCR; phối hợp với đài Truyền thanh - truyền hình xã, huyện, thành phố và lực lượng Kiểm lâm tăng cường thời lượng đưa tin, bài, chuyên đề có nội dung về công tác bảo vệ rừng và PCCR.
Vào mùa hanh khô, khi cấp dự báo cháy rừng ở cấp IV, cấp V, HTX tiến hành bố trí lực lượng thường trực 24/24giờ; lực lượng canh phòng ở những khu trọng điểm, không để phát sinh nguồn lửa hoặc phát hiện sớm điểm cháy để huy động các lực lượng tại chỗ xử lý kịp thời.
Bên cạnh đó, HTX đã tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về PCCR của các chủ rừng, nhất là hoạt động đốt nương làm rẫy, đốt dọn thực bì để trồng rừng của bà con.
Qua đó, HTX quy định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt dọn nương bãi và những hành vi dùng lửa khác trong thời kỳ khô hạn. Nếu phát hiện, HTX sẽ kết hợp với chính quyền và Kiểm lâm xử lý nghiêm những đơn vị, cá nhân thiếu trách nhiệm trong công tác PCCR, gây cháy rừng.
Nhờ đó, diện tích rừng do HTX quản lý và rừng trên địa bàn chưa xảy ra đợt cháy nào. Người dân đã nâng cao ý thức trong vấn đề PCCR, chỉ đốt nương, dọn thực bì trong vùng quy định để bảo vệ rừng và môi trường sinh thái.
Sự ra đời của HTX góp phần nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp, tăng cường hiệu quả sử dụng đất và chất lượng rừng trồng. Đồng thời tăng cường sức mạnh, nguồn lực của các thành viên HTX, tạo việc làm cho người dân địa phương, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Rừng đã trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế và xã hội tại địa phương. Bảo vệ và phát triển rừng là điều không thể thiếu với người dân nơi đây. (Thời Báo Kinh Doanh 14/8) đầu trang(
Toàn huyện Chư Pưh có trên 31.689 ha đất lâm nghiệp, trong đó có trên 12.239 ha rừng tự nhiên. Năm 2017, huyện Chư Pưh được tỉnh giao kế hoạch trồng 110 ha rừng. Quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, chính quyền địa phương và các cấp ngành của huyện đã tích cực triển khai thực hiện công tác trồng rừng  với nhiều giải pháp cụ thể.
Anh Bùi Thanh Khương, ở thôn 6, xã Ia Le là một trong hàng trăm hộ dân trên địa bàn huyện Chư Pưh đăng ký tham gia Dự án trồng rừng năm 2017. Vừa qua, anh đã được Hạt Kiểm lâm huyện giao số cây keo giống để về trồng trên diện tích đất lâm nghiệp của gia đình cho kịp với thời vụ. Cùng với đó, anh Khương cũng được hỗ trợ tiền, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây keo đạt hiệu quả.
Anh Khương cho biết: “Đợt này nhà nước hỗ trợ gia đình mình trồng 4 hecta tức là 8.500 cây keo lai, hỗ trợ 1 triệu đồng/ 1 hecta. Đến khi trồng thì bên Kiểm lâm đến hỗ trợ mình về kỹ thuật. Mình trồng rừng này thì cũng góp 1 phần cây xanh cho rừng bởi hiện nay diện tích rừng của Tây Nguyên bị trọc nhiều”.
Cũng như anh Khương, 66 hộ đăng ký trồng rừng năm 2017 với tổng diện tích 90 hecta ở các xã Ia Le, Ia Phang, Ia Blứ, La Hrú và Chư Don đã được nhận trên 169.200 giống cây keo lai và đã triển khai trồng. Đến nay, diện tích đã trồng đang phát triển và sinh trưởng ổn định. Như vậy cùng với 20 hecta rừng trồng mới đã được Bộ Chỉ huy Quân sự huyện Chư Pưh đảm nhận và đã hoàn thành trong tháng 7/2017, huyện Chư Pưh đã thực hiện trồng mới xong 110 hecta đảm bảo đúng kế hoạch được tỉnh giao.
Đây là kết quả đáng ghi nhận cho nỗ lực và quyết tâm của huyện trong thực hiện chủ trương trồng rừng của tỉnh trong năm nay. Để công tác trồng rừng đảm bảo đúng lịch thời vụ, huyện Chư Pưh đã chủ động ứng kinh phí 173 triệu đồng để mua giống và 90 triệu đồng chi phí cho công tác vận chuyển giống và thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh. Đặc biệt, ngoài số tiền tỉnh hỗ trợ 2 triệu đồng/hecta trồng rừng, huyện Chư Pưh cũng đã trích thêm ngân sách của huyện hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/hecta để bà con quét dọn thực bì, đào hố, mua sắm các dụng cụ để phục vụ cho công tác trồng rừng.
Ông Lê Anh Dục, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chư Pưh cho biết: “Sau khi có quyết định thành lập, Hạt Kiểm lâm đã tổ chức 1 cuộc họp mời các chủ tịch UBND xã, các thành viên của BCĐ, BQL dự án và tất cả kiểm lâm trên địa bàn cũng như công chức của Hạt Kiểm lâm họp bàn kế hoạch và giải pháp để triển khai thực hiện. Nòng cốt ở dưới xã là giao cho Kiểm lâm địa bàn cùng với cán bộ địa chính, dưới sự chỉ đạo của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm và Chủ tịch UBND xã trực tiếp đi rà soát và xác định lại diện tích nằm trong dự án để triển khai thực hiện. Đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và giáo dục, giải thích cho dân những lợi ích được hưởng từ dự án. Qua quá trình vận động tuyên truyền, người dân đã tham gia và phối hợp với cán bộ kiểm lâm, cán bộ xã và các ban ngành trên huyện cùng đồng lòng, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ trồng rừng”.
Nỗ lực và quyết tâm cao, đặc biệt là trong công tác tuyên truyền, vận động cũng như hỗ trợ kinh phí kịp thời cho người dân, công tác trồng rừng năm 2017  của huyện Chư Pưh không chỉ đảm bảo hoàn thành kế hoạch do UBND tỉnh giao, góp phần thực hiện tốt mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tăng độ che phủ rừng mà qua đó cũng góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ sinh sống gần rừng ở địa phương. (Đài PTTH Gia Lai 14/8) đầu trang(
Thời điểm này, khi lượng mưa tập trung, đủ độ ẩm, huyện Bắc Bình đã triển khai trồng rừng tập trung. Sau 5 tháng gieo ươm, các loại cây thích hợp với khí hậu tại địa bàn huyện là keo giâm hom, keo cấy mô, keo lưỡi liềm, xoan chịu hạn, phi lao… sẽ được trồng trên đất hoang hóa, bạc màu, đất phòng hộ chống cát bay, đất cát đang sản xuất, trồng rừng thay thế với mô hình nông lâm kết hợp xung quanh bàu nước để bảo vệ môi trường sinh thái.
Phấn đấu đến cuối năm 2017, huyện sẽ thực hiện đạt chỉ tiêu trồng rừng tập trung 1.050 ha và giao khoán bảo vệ rừng 32.467 ha. Trong đó, trồng rừng từ chương trình cây phân tán 600 ha tại Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Lê Hồng Phong. BQLRPH Sông Mao gieo ươm hỗ trợ cây giống cho nhân dân trồng 300 ha chủ yếu ở thị trấn Lương Sơn 150 ha, Bình Tân 60 ha, Hồng Thái 40 ha, Bình An 30 ha, Sông Bình 20 ha. Chương trình biến đổi khí hậu 133 ha tập trung tại xã Hòa Thắng 50 ha; Phan Hòa 83 ha. Chương trình khác như trồng rừng UNREDD, Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận, dự án nông lâm kết hợp và các hộ dân với tổng diện tích 317 ha.
Để thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra, huyện đã chỉ đạo các chủ đầu tư phối hợp tiến hành tổ chức quy hoạch đất đai khu vực trọng điểm trồng rừng cho thích hợp, thiết kế cụ thể đất trồng rừng. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi đến địa bàn cơ sở về công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện cử cán bộ phối hợp với tổ quản lý bảo vệ rừng theo dõi thường xuyên công tác trồng rừng và bảo vệ rừng. Riêng tại xã Hồng Phong, để việc trồng rừng đảm bảo đúng tiến độ, xã đã tổ chức cho các hộ dân đăng ký trồng rừng sớm hơn mọi năm.
Đồng thời, cử cán bộ xuống từng khu vực trồng rừng hướng dẫn người dân xử lý thực bì, đào hố đúng quy trình kỹ thuật, cách chăm sóc. Nhờ đó, đến thời điểm này xã Hồng Phong đã triển khai trồng rừng khoảng 200 ha, trong đó 100 ha thuộc Chương trình trồng rừng UNREDD, 100 ha còn lại do người dân tự bỏ tiền ra trồng để phát triển kinh tế, phần lớn là cây keo giâm hom…(Báo Bình Thuận 14/8) đầu trang(
Thanh Hóa hoàn thành trồng rừng mới trong tháng 8/2017
Năm 2017, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa được UBND tỉnh giao kế hoạch thực hiện trồng mới trên 1.600 ha rừng, trong đó có gần 1.600 ha rừng trồng theo chương trình lâm nghiệp bền vững, 90 ha rừng trồng thay thế.
Để đảm bảo tiến độ trồng rừng đề ra, chi cục kiểm lâm Thanh Hóa đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến các hộ dân về chủ trương trồng rừng của Nhà nước; đồng thời rà soát, khảo sát, thiết kế diện tích đất lâm nghiệp của các hộ nhận khoán có đủ điều kiện trồng rừng; đấu mối với các công ty sản xuất giống để cung cấp giống cây lâm nghiệp đảm bảo chất lượng cho người dân. Ngoài ra, các hộ còn được hướng dẫn cách phát dọn thực bì, kỹ thuật trồng, chăm sóc.
Đến thời điểm này, chi cục kiểm lâm tỉnh đã trồng được gần 1.200 ha rừng, đạt trên 71%; trong đó các huyện Như Xuân, Tĩnh Gia, Bá Thước, Lang Chánh hiện đã hoàn thành việc trồng rừng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh phấn đấu hết tháng 8 sẽ hoàn thành việc trồng rừng năm 2017. (Đài TTH Thanh Hóa 15/8) đầu trang(
11/ 8, Hạt Kiểm lâm Cô Tô tổ chức trồng 1.000 cây chõi tại rừng nguyên sinh thôn Nam Đồng, xã Đồng Tiến.
1000 cây chõi giống được Hạt Kiểm Lâm Cô Tô tách hạt từ rừng chõi nguyên sinh, sau đó tiến hành ươm giống tại đảo từ tháng 4/2017. Qua quá trình ươm, đến nay số lượng hạt giống nảy mầm, phát triển cây con đạt <80%.
Rừng chõi nguyên sinh Cô Tô có diện tích 10ha, là rừng chõi nguyên sinh lớn nhất và độc nhất trong cả nước. Theo các nhà khoa học về lâm nghiệp, phải hàng trăm năm mới có được một rừng chõi nguyên sinh như tại Cô Tô. Tại đây có nhiều cây chõi cổ thụ cao hơn 20m, tuổi thọ hơn một trăm tuổi. Tại Cô Tô, rừng chõi ngoài đặc tính là rừng phòng hộ thì còn là điểm tham quan du lịch hấp dẫn đối với du khách. (Đài PTTH Quảng Ninh 12/8) đầu trang(
Khác với chi trả dịch vụ môi trường rừng là người nhận biết chính xác đơn giá, đối với Chương trình Giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng REDD+, việc chi trả dựa vào kết quả giảm phát thải, hấp thụ hoặc lưu trữ các bon trên một diện tích rừng đã được đo đạc, báo cáo và kiểm chứng. Đây là cơ chế tài chính mới xuất hiện tại Việt Nam nên không tránh khỏi những vướng mắc khi triển khai.
Kết quả thực hiện REDD+ (đơn vị tCO2e) ở cấp quốc gia sử dụng số liệu điều tra kiểm kê rừng được thu thập 5 năm 1 lần trên toàn quốc dựa trên ảnh vệ tinh. Hiện nay, kiểm kê rừng ở Việt Nam phổ biến mới xuống đến cấp huyện, với tỉ lệ ảnh chụp là 1/25.000 – 1/50.000. Hệ thống tính toán kết quả REDD+ lại chủ yếu triển khai ở cấp thấp hơn (xã, bản, làng…) hơn đòi hỏi ảnh vệ tinh độ phân giải cao hoặc kết quả đo đếm chi tiết trên thực địa.
Qua thí điểm cơ chế này tại Tây Bắc, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) nhận định, dù áp dụng cách nào, chi phí cũng rất lớn. Lấy ví dụ với tỉnh Điện Biên, chi phí đo đạc có thể lên đến 12.600 USD/năm/xã. Trong khi đó, khoản chi trả tối đa mỗi xã có thể nhận được là khoảng 15.700 USD/năm (giả định cơ quan cấp trung ương/tỉnh/huyện không trích lại một phần). Kể cả được hỗ trợ chi phí đo đạc, số tiền đến tay người dân cũng khá thấp, chỉ khoảng 600.000 đồng/hộ/năm.
Tiền chi trả thực tế sẽ nhỏ hơn nhiều do phải khấu trừ chi phí giao dịch và chi phí quản lý và như vậy sẽ không khuyến khích được người dân địa phương tham gia. Hơn nữa, với cách chia sẻ chi trả này, chính quyền các cấp sẽ không có kinh phí để tái đầu tư vào các hoạt động REDD+.
Về nguyên tắc, chi trả dựa trên kết quả chỉ được thực hiện sau khi đã thực hiện thành công các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, tăng lượng hấp thụ các bon. Tuy vậy, người dân  thường có nhu cầu ứng trước hoặc ít nhất là cần thống nhất rõ ràng về các khoản tiền sẽ được chi trả trong tương lai. Các bên thực hiện REDD+ có thể giải thích cho người dân các kịch bản giả thuyết, nhưng sẽ khó thuyết phục người dân tuân theo các hoạt động.
Triển khai Chương trình hành động quốc gia về REDD+, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), Văn phòng UN-REDD+, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã phối hợp cùng UNDP nghiên cứu xây dựng quỹ REDD+, trong đó, có giải pháp thành lập một quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách.
Qua phân tích hoạt động cho vay ưu đãi của một số quỹ đang hoạt động tại Việt Nam, nhóm chuyên gia tư vấn khuyến nghị, trong giai đoạn đầu xây dựng và vận hành Quỹ REDD+ Việt Nam phục vụ tài trợ Kế hoạch hành động REDD+ cấp quốc gia và các kế hoạch cấp tỉnh, chưa nên áp dụng  cơ chế cho vay thu hồi vốn.
Việc lựa chọn được các dự án, chương trình bảo vệ và phát triển rừng cần ưu tiên khả năng thu hồi vốn trực tiếp trong thời gian trung hạn. Cân nhắc việc sử dụng tiền chi trả REDD+ vào tái đầu tư thực hiện REDD+. Các cộng đồng địa phương sẽ được “ứng trước” thông qua hỗ trợ phát triển sinh kế, giao đất lâm nghiệp, chi trả DVMTR, tạo nguồn gỗ và lâm sản dồi dào hơn, tăng các khoản thu cho người dân.
Để triển khai áp dụng, thực hiện tốt phương pháp giải ngân này, cần tăng cường năng lực quản lý, khả năng lập kế hoạch đồng thời với việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng, hệ thống các thiết bị đo đếm, kiểm chứng, giám sát và đánh giá. Trước hết là rà soát, điều chỉnh kế hoạch thực hiện REDD+ các cấp, vận hành các hệ thống giám sát, kiểm tra và các nguồn kiểm chứng khác liên quan.
Đồng thời, có cơ chế huy động, sử dụng hiệu quả năng lực của Ban cố vấn, sự tham gia đóng góp của các tổ chức xã hội dân sự và kinh nghiệm của cư dân bản địa, đồng bào dân tộc thiểu số sống gần và trong rừng.
Kinh nghiệm của Quỹ Ủy thác lâm nghiệp, Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam, Quỹ Phát triển KH&CN cho thấy, cần có sự tham gia của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, đại diện các nhà tài trợ ngay từ khâu chuẩn bị, xét duyệt, giúp bảo đảm kết quả cuối cùng đạt chuẩn quốc tế.
Kinh nghiệm mời các nhà tài trợ cùng tham gia giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, dự án do chính họ tài trợ cũng đem lại hiệu quả cao cho quá trình giải ngân theo kết quả, đồng thời cũng tạo niềm tin, thu hút mạnh hơn, nhiều hơn các nguồn tài trợ.
Quỹ REDD + Việt Nam cần xây dựng Khung kết quả và Khung giám sát tương ứng trong kế hoạch hoạt động, kế hoạch đầu tư. Kinh nghiệm của một số dự án giải ngân dựa vào kết quả của Ngân hàng Thế giới, việc chi trả dựa vào kết quả cần thiết phải xây dựng bộ chỉ số kết quả và các chỉ số giải ngân dựa vào kết quả cụ thể.
Các tổ chức của Quỹ sẽ thực hiện giám sát chương trình và giám sát tài chính theo các chỉ số kết quả đã được thống nhất, phù hợp với thể chế, cơ chế REDD+ quốc gia, đồng thời tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, các hướng dẫn của UNFCCC và các yêu cầu của các nhà tài trợ. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/8) đầu trang(
Năm 2017, tỉnh đề ra mục tiêu phấn đấu trồng 113ha rừng phòng hộ. Trong đó: Huyện Điện Biên 20ha; Tuần Giáo 33ha; Mường Nhé 20ha; Tủa Chùa 20ha và Mường Chà 20ha. Sau khi có kế hoạch của tỉnh, UBND các huyện chủ động xây dựng kế hoạch trồng rừng phòng hộ cho từng xã, phường, thị trấn và chỉ đạo các đơn vị chuyên môn. Nhờ sự chủ động, linh hoạt trong các khâu, tháng 6/2017, công tác chuẩn bị trồng rừng đã hoàn tất.
Sang tháng 7, các địa phương triển khai trồng tập trung. Tính đến ngày 31/7/2017, toàn tỉnh đã trồng được 300,79ha rừng phòng hộ, đạt 266% so với kế hoạch. Trong đó: Huyện Mường Nhé trồng 203ha (vượt 183ha so với kế hoạch); huyện Điện Biên trồng 25,09ha (vượt 5,09ha so với kế hoạch); các huyện còn lại hoàn thành 100% kế hoạch.
Bà Mai Hương, Phó Chi cục Trưởng Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết: 2017 - một năm đầy khó khăn trong công tác trồng rừng, nhất là trồng rừng phòng hộ. Song bằng sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp trong triển khai thực hiện, tỉnh ta đã hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra. Nói năm nay là năm nhiều khó khăn bởi vì, kế hoạch trồng rừng được UBND tỉnh giao từ đầu tháng 12/2016 theo Quyết định số 1527/QĐ-UBND, ngày 10/12/2016 của UBND tỉnh về việc giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2017, tỉnh Điện Biên.
Tuy nhiên, đến 31/7/2017 - ngày cuối cùng của mùa trồng rừng, UBND tỉnh mới ban hành Quyết định số 658/QĐ-UBND quyết định phân bổ chi tiết kế hoạch vốn đầu tư công Chương trình Mục tiêu phát triển lâm nghiệp năm 2016 kéo dài sang năm 2017 tỉnh Điện Biên để các địa phương thực hiện. Cùng với đó, các khó khăn như: Thiếu quỹ đất trồng rừng tập trung, người dân chưa mặn mà với công tác trồng rừng phòng hộ… luôn thường trực đối với các đơn vị chuyên môn trong quá trình triển khai trồng rừng. Song, các đơn vị không thụ động chờ đợi nguồn vốn mà linh hoạt triển khai các phương án, tuyên truyền tạo sự đồng thuận của người dân để hoàn thành kế hoạch giao.
Năm 2017, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Điện Biên chịu trách nhiệm trồng mới 20ha rừng phòng hộ tại 2 xã: Nà Tấu và Mường Pồn (huyện Điện Biên). Thực hiện kế hoạch trồng rừng, ngay từ đầu năm, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Điện Biên đã chủ động phối hợp với chính quyền 2 xã: Nà Tấu và Mường Pồn tập trung rà soát nhu cầu, đến từng bản, từng hộ dân để tuyên truyền, vận động người dân đăng ký trồng rừng. Sau khi có danh sách các hộ đăng ký trồng rừng, Ban cử cán bộ phụ trách xã tổ chức đo đếm diện tích từng hộ dân; tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật đào hố, trồng và chăm sóc cây giống. Trong tháng 5/2017, Ban tổ chức cho người dân đào hố, phát cây giống và trồng tập trung trên diện tích đăng ký. Đến 31/7, Ban đã trồng vượt 5,09ha so với kế hoạch và đang tổ chức cho người dân trồng dặm đợt 1.
Ông Hà Lương Hồng, nguyên Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Điện Biên (đã chuyển công tác từ 1/7/2017 - PV) cho biết: Trong bối cảnh nguồn vốn thường xuyên phân bổ chậm, đơn vị đã chủ động, linh hoạt phối hợp với UBND 2 xã: Nà Tấu và Mường Pồn vận động, tạo sự đồng thuận từ người dân để triển khai công tác trồng rừng phòng hộ, nếu chờ khi vốn phân bổ về mới triển khai thì không thể kịp mùa vụ.
Bên cạnh đó, Ban có lợi thế là quy trình trồng rừng, từ khâu lập kế hoạch, khảo sát, tư vấn thiết kế đến triển khai trồng đều do cán bộ của Ban thực hiện không phải tốn kinh phí thuê các đơn vị ngoài như các huyện, thị xã trên địa bàn. Đồng thời, cây giống để cung cấp cho người dân trồng rừng do đơn vị tự sản xuất được, không phải ký hợp đồng mua cây giống, tốn chi phí vận chuyển… Nhờ đó, năm nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Điện Biên là đơn vị đầu tiên của tỉnh hoàn thành kế hoạch trồng rừng phòng hộ.
Những năm trước, đa phần các hộ dân không mấy “mặn mà” với công tác trồng rừng phòng hộ bởi suất đầu tư đối với trồng rừng phòng hộ thấp. Đơn cử như, năm 2016, suất đầu tư 1ha rừng phòng hộ trồng mới là 15 triệu đồng/ha/4 năm. Tuy nhiên, năm 2017, suất đầu tư 1ha rừng phòng hộ trồng mới là 60 triệu đồng/ha/4 năm, nguồn lợi người tham gia trồng rừng tăng nên số lượng hộ đăng ký trồng rừng nhiều và tập trung hơn. Đây là một lý do góp phần quan trọng để tỉnh hoàn thành kế hoạch trồng rừng phòng hộ năm 2017.
Ông Lò Văn Hương, bản Cang, xã Nà Tấu cho biết: Những năm trước, suất đầu tư đối với công tác trồng rừng phòng hộ thấp, nguồn thu từ trồng rừng ít nên tôi không đăng ký tham gia. Năm nay, suất đầu lớn hơn, nguồn lợi thu về nhiều hơn nên tôi đăng ký trồng mới 1,4ha rừng phòng hộ. Ví dụ, năm 2016, suất đầu tư 1ha rừng phòng hộ là 15 triệu đồng/ha/4 năm, hết năm thứ nhất, người dân chỉ nhận được khoảng 5 triệu đồng tiền công trồng, chăm sóc, bảo vệ. Năm 2017, suất đầu tư 60 triệu đồng/ha/4 năm, kết thúc năm thứ nhất, người dân nhận về 18 - 20 triệu đồng. Hiện nay, người dân trong bản cơ bản ít làm nương, nếu nguồn lợi từ trồng rừng phòng hộ lớn, xứng đáng với công sức, thời gian bỏ ra thì không chỉ tôi mà nhiều hộ dân trong bản đều hào hứng tham gia. (Báo Điện Biên Phủ 14/8) đầu trang(
Dự án khu du lịch có cáp treo ở Bạch Mã đã được Thừa Thiên Huế trình lên Bộ Xây dựng và đang đợi phản hồi.
Ông Hoàng Việt Trung - Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, tỉnh này đã trình lên Bộ Xây dựng đồ án quy hoạch Khu du lịch sinh thái tâm linh và nghỉ dưỡng Bạch Mã, trong đó hạng mục hệ thống cáp treo.
"Sau khi xem xét đồ án vào tháng 4/2017, Bộ Nông nghiệp và Bộ Xây dựng đã ban hành công văn góp ý. Đến tháng 6, Thừa Thiên Huế có văn bản điều chỉnh nội dung của đồ án và đang chờ đợi phản hồi của Bộ Xây dựng", ông Trung nói.
Theo đồ án nêu trên, điểm đầu của cáp treo là khu vực Cầu Hai và điểm kết thúc là tại biệt thự thuộc khách sạn Morin. Dự kiến hệ thống cáp treo sẽ có 3 điểm dừng, trong đó có điểm dừng tại thác Đỗ Quyên.
Lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, tuyến cáp treo không can thiệp vào diện tích rừng tự nhiên. "Nói chung là khu du lịch sẽ mang đẳng cấp quốc tế, tôn trọng thiên nhiên và thúc đẩy sự phát triển của Bạch Mã", ông Trung nhấn mạnh.
Đồ án nêu trên được khởi động từ năm 2014, với việc UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đồng ý chủ trương xây dựng Khu du lịch sinh thái tâm linh và nghỉ dưỡng rộng 300 ha tại vườn Quốc gia Bạch Mã, tổng mức đầu tư dự kiến 1.500 tỷ đồng của nhà đầu tư là một công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài.
Đến năm 2016, nhà đầu tư trình bày với tỉnh Thừa Thiên Huế là Khu du lịch sẽ được chia làm 6 phân khu chính, gồm Làng trung tâm, Làng di sản, Làng đỉnh Núi, Làng dịch vụ, Khu tâm linh và thung lũng thác nước. Để kết nối các phân khu, dự án sẽ xây dựng hệ thống cáp treo tại vườn quốc gia Bạch Mã.
Vườn quốc gia Bạch Mã được thành lập vào năm 1991, tổng diện tích tự nhiên hơn 37 nghìn ha, bao gồm trên 36 nghìn ha đất lâm nghiệp và 522 ha đất khác. Đây được xem là một trong những khu vực giàu đa dạng sinh học nhất của Việt Nam và trên thế giới.
Kết quả điều tra cho thấy Bạch Mã có khu hệ động thực vật rất phong phú với nhiều loài đặc hữu và quý hiếm. (Phụ Nữ News 15/8) đầu trang(
Sau 10 năm, Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong quản lý và điều phối hoạt động nhằm đảm bảo các mục tiêu và chức năng của Khu Dự trữ sinh quyển.
Chiều 15/8, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị đánh giá định kỳ 10 năm khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) miền Tây Nghệ An và lấy ý kiến dự thảo khung kế hoạch chiến lược phát triển bền vững Khu DTSQ miền Tây Nghệ An năm 2017-2027.
Chủ trì hội nghị, đồng chí Đinh Viết Hồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhận định, đánh giá kết quả 10 năm hoạt động của Khu DTSQ miền Tây Nghệ An là một sự kiện quan trọng có quy mô quốc tế, nhằm đánh giá toàn diện về các hoạt động trong 10 năm hoạt động và hiệu quả quản lý khu vực; xem xét lại mục tiêu, tầm nhìn và chính sách quản lý; chức năng, quy mô và sự tham gia của cộng đồng trong quản lý Khu DTSQ, đồng thời thảo luận về những hạn chế, thách thức, cơ hội và giải pháp.
Tại hội nghị, các chuyên gia, đại diện Uỷ ban MAB Việt Nam, lãnh đạo các Sở Nông nghiêp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, và lãnh đạo 9 huyện nằm trong vùng lõi của Khu DTSQ đã cùng đánh giá, nhìn lại những thay đổi sau 10 năm phát triển của Khu DTSQ.
Nổi bật nhất là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tăng nhanh hàng năm. Đến năm 2015 là 228.106,85 ha, trong đó chiếm phần lớn diện tích thuộc các huyện trong phạm vi Khu DTSQ. Rừng được bảo vệ tốt hơn, độ che phủ rừng tăng từ 54.2% năm 2007 lên 64.7% năm 2016. Một phần kinh phí thu được từ chi trả DVMTR được ưu tiên đầu tư vào nâng cấp cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, hỗ trợ các xã, thôn, bản nghèo.
Theo GS,TS Nguyễn Hoàng Trí, Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Uỷ ban quốc gia chương trình con người và sinh quyển Việt Nam (MAB), thay đổi toàn diện và thành công nhất của Khu DTSQ miền Tây Nghệ An là tư duy, quan niệm của các cấp, ngành và người dân trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. "Sự thành công của khu sinh quyển phụ thuộc rất nhiều đến dân trí của người dân ở đó" - vị GS, TS khẳng định.
Các địa phương nằm trong khu DTSQ phấn khởi cho biết, một trong những điều được thụ hưởng chính là những nguồn lợi từ hoạt động du lịch. Những địa điểm hấp dẫn thu hút khách du khách như: thác Khe Kèm (Con Cuông), thác Sao Va, thác 7 tầng (Quế Phong), “cổng trời” Mường Lống (Kỳ Sơn). Lượng khách du lịch đến tham quan tại đây tăng trưởng bình quân 10-12%/năm. Tổng số cơ sở lưu trú có trên địa bàn có khả năng phục vụ trên 800.000 lượt khách hàng năm. Người dân đặc biệt là người bản địa đã bắt đầu được hưởng lợi từ các giá trị, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá của Khu DTSQ.
Không thể phủ nhận những giá trị mà Khu DTSQ mang lại, ông Nguyễn Tiến Lâm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết: "Khi xây dựng Khu DTSQ, địa phương nào cũng quan tâm đến việc hưởng gì và mất gì. Tỉnh Nghệ An đã hưởng rất nhiều, và chỉ mất đi "một thứ". Đó là việc xoá nghèo".
Các hoạt động bảo tồn và phát triển tại Khu DTSQ đã tạo các sinh kế mới duy trì theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, đóng góp vào cải thiện thu nhập và mức sống cho hộ dân. Một số giải pháp, cơ chế đã mang lại hiệu quả cao như: hướng dẫn viên du lịch, phục hồi và phát triển các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, làm hàng thủ công mây tre đan; phát triển chăn nuôi, trồng trọt các loài cây, con đặc sản của địa phương như vịt bầu Quỳ, lợn Nít, trồng cây bon bo, quế Quỳ, chè hoa vàng…
Các giá trị, đặc trưng văn hoá của cộng đồng các dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An như di tích, lễ hội, tập quán, tri thức bản địa được gìn giữ, phục hồi và phát triển, mở rộng. Nhiều công trình di tích lịch sử văn hoá vật thể và phi vật thể được tu bổ và phát triển trở lại theo hình thức xã hội hoá với sự tham gia chủ đạo của người dân và doanh nghiệp.
Cùng thảo luận về các thách thức, các cơ hội; đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm trong việc quản lý và khai thác tối đa lợi thế, tiềm năng mà khu dự trữ sinh quyển miền Tây mang lại. GS,TS Nguyễn Hoàng Trí,  Chủ tịch MAB đề nghị trong chiến lược phát triển khu sinh quyển, tỉnh Nghệ An nên xác định Khu DTSQ trở thành ‘công cụ’ phát triển kinh tế-xã hội. Điều này không những mang lại những giá trị thiết thực cho chính tỉnh nhà, mà còn đóng góp những giá trị bền vững vào sự phát triển chung của quốc gia và thế giới.
Đồng tình với ý kiến trên, GS.TSKH Trương Quang Học, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và môi trường cho rằng, một trong những thách thức trong khung chiến lược của Khu DTSQ là việc lồng ghép các hoạt động bảo tồn và phát triển Khu DTSQ vào quy hoạch phát triển ngành, vào các chương trình dự án phát triển của tỉnh. Đại biểu đã đưa ra một số giải pháp như: UBND tỉnh phải là đầu mối chung để chỉ đạo việc lồng ghép, đồng thời Ban quản lý dự án phải xây dựng được quy trình hướng dẫn; cần phân vùng sinh thái xã hội để phát huy tiềm năng đa dạng sinh học thành nguồn lực cụ thể để phát triển kinh tế.
Đề xuất khung chiến lược cho khu DTSQ miền Tây Nghệ An, các đại biểu thống nhất 7 chương trình hoạt động lớn: hoàn thiện thể chế, chính sách và tăng cường năng lực quản lý Khu DTSQ; bảo tồn, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo tồn giá trị văn hoá và phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế sinh thái; đẩy mạnh truyền thông và giáo dục; lồng ghép các hoạt động của Khu DTSQ vào các quy hoạch, dự án phát triển của tỉnh; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, đồng chí Đinh Viết Hồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị Ban quản lý Khu DTSQ tiếp thu và hoàn thiện báo cáo hoạt động 10 năm Khu DTSQ theo hai mẫu của UNESCO và của Chính phủ Việt Nam, đảm bảo tiến độ trình lên UNESCO. Đồng thời, cần có sự phối hợp liên ngành để xây dựng khung kế hoạch chiến lược phát triển bền vững khu DTSQ miền Tây Nghệ An năm 2017-2027, tập trung vào các nguồn: tài chính, nhân lực và thể chế quản lý. (Báo Nghệ An 15/8) đầu trang(
Xe quá khổ chở keo, tràm nghênh ngang đi qua trụ ở Công an TX Kỳ Anh nhưng không hề bị xử lý.
Dù đã được các cơ quan báo chí phản ánh nhiều lần, nhưng khi màn đêm buông xuống, tình trạng xe chở keo, tràm vượt quá thành thùng lại nhộn nhịp trên nhiều tuyến đường ở Hà Tĩnh. Dư luận đang đặt câu hỏi, liệu có một thế lực nào đang bảo kê cho tình trạng vi phạm này(!?).
20h tối 7/8, có mặt trên QL1 tại trung tâm TX Kỳ Anh, PV Báo Giao thông ghi nhận rất nhiều xe tải chở keo, tràm vượt quá thành thùng xe.
Trong khoảng từ 20h - 21h tối 7/8, PV đếm được hơn chục xe tải chất keo, tràm cao vút và vượt 2 - 3 lần thành thùng phía sau. Táo tợn hơn, những xe này nghênh ngang đi qua đoạn đường trước trụ ở Công an TX Kỳ Anh, nhưng không lực lượng chức năng nào đứng ra xử lý. Tiếp đến, trưa 8/8, cũng trên tuyến đường này, PV Báo Giao thông tiếp tục ghi nhận tình trạng tương tự, tuy nhiên số lượng xe chạy ít hơn.
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, những xe chở keo, tràm này “ăn hàng” từ các huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh rồi chở về 3 nhà máy chế biến gỗ dăm đóng tại TX Kỳ Anh và huyện Quảng Trạch, Quảng Bình.
Chị Lan, chủ cửa hàng ngay mặt đường QL1, đoạn qua phường Sông Trí, TX Kỳ Anh bức xúc: “Tối nào tôi cũng thấy xe chở keo, tràm đi qua đây. Xe nào cũng chở cao ngút thành thùng và di chuyển với tốc độ cao, rất nguy hiểm. Vậy mà, chẳng bao giờ thấy lực lượng chức năng xử lý”.
Thực trạng này cũng xảy ra trên tuyến QL8A đoạn qua huyện Hương Sơn. Đáng nói, không chỉ chở quá tải, quá khổ số lượng lớn mà còn có cả phương tiện chuyên chở keo, tràm là xe hết hạn kiểm định, như xe BKS 36L-9696 (loại xe 3 trục đã hết hạn kiểm định từ ngày 2/9/2015). Điều này đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng người và phương tiện tham gia giao thông trên tuyến.
Khi trao đổi với PV, Trung tá Hà Phi Hoàng, Đội trưởng Đội CSGT Công an TX Kỳ Anh thừa nhận: “Có thực trạng xe chở keo, tràm quá khổ chạy trên QL1, đoạn qua thị xã nhưng đơn vị không thể xử lý trên quốc lộ và xe chạy ngoài khung giờ tuần tra của lực lượng CSGT”.
Còn Trung tá Bùi Đức Thuận, Phó trưởng Phòng CSGT Công an tỉnh Hà Tĩnh lại viện lý do: Sau khi kết thúc Kế hoạch liên ngành 12593 vào tháng 9/2016, Phòng CSGT Công an Hà Tĩnh vẫn duy trì tổ CSGT chuyên xử lý xe quá khổ, quá tải bằng cân điện tử xách tay. Tuy nhiên, việc sử dụng cân xách tay cũng gặp không ít khó khăn như: Sai số cao trong điều kiện mặt đường không bằng phẳng, thiếu địa điểm có đủ ánh sáng để đặt cân vào ban đêm. “Chưa kể, các lái xe luôn tìm cách trốn tránh lực lượng chức năng; cử người theo dõi lực lượng công an làm nhiệm vụ; trốn tránh việc xử lý. Trong khi đó, điều kiện tuyến, địa bàn rộng, lực lượng CSGT không thể có mặt ở tất cả các địa bàn để kiểm tra, xử lý vi phạm…”, Trung tá Thuận phân trần.
Tương tự, ông Phan Ngọc Quyết, Chánh thanh tra Sở GTVT Hà Tĩnh cho rằng: Theo quy định, TTGT tỉnh chỉ tuần tra kiểm soát trên những tuyến đường tỉnh quản lý hoặc được T.Ư ủy quyền quản lý. Nhưng do địa bàn quá rộng, trải dài, anh em chỉ tập trung ở những tuyến đường là điểm đầu nguồn hàng.
Như vậy, rõ ràng thực trạng xe chở keo, tràm quá khổ, quá tải trên các tuyến đường ở Hà Tĩnh đều được các lực lượng chức năng biết rõ. Tuy nhiên, thực trạng này vẫn tiếp diễn, thậm chí có chiều hướng gia tăng mạnh hơn. Điều này khiến người dân không khỏi băn khoăn về vai trò và trách nhiệm của các lực lượng chức năng trong công tác này. (Giao Thông 15/8) đầu trang(
Cây keo đang được người dân trồng nhiều ở miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ. Điều này khiến cho các địa phương vừa mừng vừa lo.
Tại nhiều xã ở huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, 90% diện tích đất canh tác đều được nông dân đầu tư trồng keo. Trong khi đó, những năm trước, quỹ đất này phân bổ cho nhiều loại cây trồng khác nhau như mía, mì, bắp…
Theo tính toán của người dân, sau 6 năm trồng, cây keo cho lãi trên dưới 50 triệu đồng/ha. Điều này đã đẩy cơn sốt trồng keo lên đến đỉnh điểm. Tuy nhiên, chính những người nhiều năm trồng keo cũng thừa nhận thực tế, không ít lần keo bị rớt giá, tiền bán keo không bù được chi phí đầu tư. Mặt khác, keo được trồng với mục đích lấy dăm gỗ nhưng xuất khẩu dăm gỗ không phải lúc nào cũng ổn định đầu ra.
Các cơ quan chức năng khuyến cáo người dân không nên ồ ạt tăng diện tích cây keo mà phải trồng theo hướng có đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế và không phụ thuộc hoàn toàn vào việc bán keo để làm gỗ dăm. Tuy nhiên, thực tế chuyện ồ ạt trồng keo vẫn không dừng lại. Tại nhiều địa phương, sau khi chuyển hết quỹ đất lâm nghiệp trên đồi núi sang trồng keo, có gia đình còn trồng keo trên đất nông nghiệp bằng phẳng hoặc đáng ngại hơn là lấn vào đất rừng tự nhiên để trồng keo. (VTV 15/8) đầu trang(
Tỉnh Phú Yên vừa quyết định đầu tư hơn 37 tỷ đồng để quy hoạch bảo tồn và phát triển Khu rừng đặc dụng Krông Trai đến năm 2020. Việc quy hoạch căn cứ vào Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 5/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, Khu rừng đặc dụng Krông Trai có quy mô 13.770 ha; trong đó diện tích đất có rừng tự nhiên chiếm hơn 8.893 ha, tăng 134 ha so với hiện trạng; được phân chia thành 3 phân khu gồm: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ- hành chính.
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng 3.948 ha có chức năng bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái, sinh cảnh, cảnh quan, bảo vệ nguồn gien, bảo vệ đa dạng sinh học và đảm bảo sự an toàn cho các loài động, thực vật đặc hữu, quí, hiếm sinh tồn và phát triển.
Phân khu phục hồi sinh thái rộng hơn 9.576 ha có chức năng phục hồi lại các hệ sinh thái rừng, thảm thực vật đã bị tác động do hoạt động khai thác, canh tác nương rẫy. Phân khu phục hồi sinh thái sẽ được thực hiện thông qua các biện pháp giao, khoán, quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi kết hợp xúc tiến tái sinh tự nhiên và trồng rừng bằng loài cây bản địa.
Phân khu dịch vụ-hành chính với diện tích 245,9 ha có chức năng phục vụ các hoạt động quản lý hành chính, dịch vụ nghiên cứu khoa học, dịch vụ tham quan, du lịch và tuyên truyền giáo dục.
Cùng với quy hoạch, tỉnh Phú Yên cũng triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học trong Khu rừng đặc dụng Krông Trai như: Điều tra, đánh giá nguồn cây dược liệu với 3 loài chính là Sâm cau, Sâm Bố Chính (còn gọi là nhân sâm Phú Yên) và cây Sa Nhân để bảo tồn và phát triển theo quy mô hộ gia đình nhằm giúp người dân chuyển đổi phương thức canh tác dưới tán rừng, không phá rừng làm nương rẫy; Phát triển nguyên liệu mây tre đan dưới tán rừng.
Khu rừng đặc dụng Krông Trai nằm trong phạm vi địa bàn 6 xã thuộc huyện miền núi Sơn Hòa. Do đặc điểm có dân cư, phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong khu vực này nên những năm qua Ban quản lý và Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Krông Trai thường xuyên phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã tuyên truyền, thông báo rộng rãi để người dân biết việc lấn chiếm, khai thác, phá hoại rừng đặc dụng sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật. (Đảng Cộng Sản VN 15/8) đầu trang(
“Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng ở xã Tá Bạ (huyện Mường Tè) được nâng cao.
Điển hình là Nhân dân bản Vạ Pù, nhờ làm tốt công tác bảo vệ rừng và phát triển kinh tế rừng, các hộ dân trong bản có nguồn thu nhập ổn định, trở thành một trong những bản phát triển kinh tế khá của xã” – đó là lời giới thiệu của ông Lỳ Nhù Chừ, Chủ tịch UBND xã Tá Bạ (huyện Mường Tè) về việc giữ rừng của người dân bản Vạ Pù.
Theo lời giới thiệu của ông Lỳ Nhù Chừ, chúng tôi đến bản Vạ Pù để “mục sở thị” việc người dân nơi đây giữ rừng và phát triển kinh tế nhờ rừng. Chúng tôi vượt hơn 20km đường đất nối bản Vạ Pù với trung tâm xã Tá Bạ vừa được thông tuyến vào cuối năm 2016. Đi trên tuyến đường xuyên qua những cánh rừng già, rậm rạp giúp chúng tôi hiểu được nỗ lực bảo vệ rừng của người dân trên mảnh đất biên cương cực tây Tổ quốc.
Dẫn chúng tôi đi tham quan bản, đồng chí Lò Phì Po - Bí thư Chi bộ bản Vạ Pù chia sẻ: “Bản Vạ Pù có 37 hộ với hơn 200 nhân khẩu, 100% là dân tộc La Hủ. Bà con trước kia sống du canh, du cư, lệ thuộc vào tự nhiên, cuộc sống khó khăn lắm. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với những chính sách hỗ trợ phù hợp điều kiện sống của người dân nên cuộc sống của dân bản đổi thay nhiều.
Đặc biệt, thực hiện chính sách chi trả DVMTR, giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, đến nay, toàn bộ diện tích rừng của bản được giao cho các hộ dân chăm sóc, quản lý. Nhờ được tuyên truyền của cán bộ kiểm lâm và Ban Quản lý rừng phòng hộ phía Bắc, dân bản nâng cao nhận thức về việc giữ gìn, bảo vệ khu rừng gia đình mình được giao. Từ chính sách chi trả DVMTR, năm 2016 trung bình mỗi hộ dân trong bản được chi trả gần 20 triệu đồng.
Giờ có đường giao thông và tiền chi trả DVMTR nên nhiều hộ dân trong bản mua được xe máy phục vụ nhu cầu đi lại. Hiện, trong bản có 19 chiếc xe máy, nhờ đó việc trao đổi hàng hóa, nông sản của người dân làm ra thuận tiện hơn. Từ tiền DVMTR bà con mua gà, dê, lợn để phát triển chăn nuôi với quy mô trang trại dưới tán rừng. Từ rừng, bà con La Hủ ở bản Vạ Pù có nguồn thu nhập ổn định và từng bước thay đổi nếp nghĩ, cách làm, không sống du canh, du cư, không phá rừng làm nương như trước.
Để thực hiện tốt hơn việc chăm sóc và bảo vệ rừng, bản Vạ Pù thành lập đội xung kích bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng với sự tham gia của tất các hộ dân trong bản. Thành viên đội xung kích thường xuyên tổ chức tuần tra bảo vệ rừng. Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền bản phối hợp với cán bộ kiểm lâm tổ chức cho các hộ dân ký cam kết bảo vệ rừng, xây dựng quy chế xử phạt cụ thể đối với người vi phạm. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền tới Nhân dân về cách phòng,  chống cháy rừng, các quy trình, hiệu lệnh báo cháy rừng bằng trống, kẻng, chỉ huy chữa cháy và huy động lực lượng chữa cháy khi xảy ra cháy rừng.
Anh Lỳ Lé Phạ - người dân bản Vạ Pù cho biết: “Nhiều năm nay, dân bản Vạ Pù chủ động thực hiện các biện pháp chăm sóc và bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng như: thu dọn thực bì, phát đường băng cản lửa tại các khu rừng giáp ranh… Bà con coi việc bảo vệ rừng như bảo vệ nguồn sống của mình vậy”.
Chia tay Vạ Pù dưới cái nắng chiều biên giới, những chia sẻ của Bí thư Chi bộ Lò Phì Po và tâm sự của anh Lỳ Lé Phạ giúp tôi hiểu được rằng cuộc sống của người La Hủ ở Vạ Pù dần đổi thay, họ quyết tâm giữ rừng và phát triển kinh tế từ rừng. Nhờ được bảo vệ tốt, những cánh rừng của bản Vạ Pù sẽ xanh hơn, đời sống của dân theo đó cũng ổn định. (Báo Lai Châu 14/8) đầu trang(
Tỉnh Sóc Trăng có vành đai rừng hẹp, chạy dọc theo chiều dài 72km bờ biển. Trong những năm qua, Sóc Trăng thực hiện nhiều giải pháp bảo vệ bờ biển; trong đó chú trọng giải pháp quản lý, bảo vệ đai rừng ngập mặn. Mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển ở thị xã Vĩnh Châu, huyện Trần Đề và huyện Cù Lao Dung được coi là điểm sáng trong việc bảo vệ rừng và tạo sinh kế cho người dân.
Mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển được thí điểm triển khai ở ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng từ năm 2007 và chính thức ký kết vào tháng 9/2009, do Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) hỗ trợ.
Ông Thạch Soal, Trưởng nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển ấp Âu Thọ B kể lại: 20 năm trước, bãi bồi ở xã Vĩnh Hải và tại ấp Âu Thọ B chưa có rừng ngập mặn, cây thưa thớt. Nhiều nơi sóng biển đánh vào bờ, cuốn trôi đất đai, hoa màu và uy hiếp tính mạng của người dân. Với các dự án của Chính phủ, rừng được trồng qua nhiều năm mới định hình thành rừng. Tuy nhiên ngày ấy, lực lượng kiểm lâm mỏng trong khi ý thức của người dân còn kém, cuộc sống lại khó khăn nên bà con vào rừng, bãi bồi ven biển đánh bắt cá, ốc, cua…; thu nhặt củi làm cho rừng hao hụt nhiều, không phát triển.
Khi dự án triển khai ở ấp Âu Thọ B, 240 hộ dân đã ký kết với chính quyền địa phương và kiểm lâm thực hiện quy chế đồng quản lý bảo vệ rừng, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Người dân tự nguyện hình thành 6 tổ theo cụm dân cư và cùng hoạch định kế hoạch trồng, bảo vệ và sử dụng các nguồn lợi ở 4 phân khu, gồm: khu phòng hộ, khu phục hồi bên trong, khu phục hồi bên ngoài và khu sử dụng bền vững. Mỗi khu giữ vai trò riêng, từ bảo vệ cho các loại thủy sản có nơi trú ngụ, sinh sản, duy trì tính đa dạng của hệ sinh thái, ngăn sóng, hạn chế sạt lở đến mở rộng vành đai rừng phòng hộ.
Sau 8 năm, hiệu quả rõ rệt nhất mà mô hình mang lại là những cánh rừng ngập mặn xanh tốt, gồm đước, mắm, bần… trải dài 2km trên tuyến ven biển ấp Âu Thọ B hiện nay. Từ 115 ha rừng quản lý ban đầu, nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển đã cùng với ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương trồng thêm nhiều diện tích rừng mới, tăng diện tích rừng do nhóm quản lý lên 370 ha.
Ông Thạch Soal, Trưởng nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển ấp Âu Thọ B chia sẻ: Người dân đã xem mảnh đất mình quản lý là tài sản nên rừng phát triển xanh tốt, từng ngày vươn ra biển, tạo thành tấm lá chắn bảo vệ tài sản của bà con. Khi rừng rậm rạp, người dân sống yên tâm hơn, không lo sợ sóng gió như trước kia. Đê biển có rừng bảo vệ, vững chắc không thua kém bê tông.
Ông Thạch Sơn, Trưởng nhóm đồng quản lý ấp Võ Thành Văn, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng cho biết: Cùng với chính quyền địa phương, chúng tôi thành lập đội cơ động trực tiếp tuần tra trên địa bàn, bảo vệ rừng, thành lập tổ nhóm và bầu người đứng đầu. Người dân họp lại, thảo luận về những điều muốn nhìn thấy ở khu rừng này và cả những điều muốn nhìn thấy trong tương lai. Chúng tôi không là một nhóm của cá nhân riêng lẻ mà là một tập thể có mục tiêu rõ ràng về bảo vệ rừng.
Ngoài việc chăm sóc bảo vệ rừng và nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo tồn, phát triển rừng ngập mặn, mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển đã tạo sự đoàn kết trong cộng đồng và tạo sinh kế ổn định cho bà con. Rừng phát triển tốt đã góp phần tăng nguồn lợi thủy sản. Các thành viên tham gia mô hình được cấp thẻ ra vào rừng khai thác củi và các nguồn lợi thủy hải sản dưới tán rừng để phục vụ đời sống một cách công khai, minh bạch mà không phải lén lút như trước đây. Người dân tự giám sát nhau với mục đích chung là bảo vệ rừng, khai thác một cách bền vững và lâu dài.
Người dân cũng đã mạnh dạn phản ánh những bất cập và khó khăn với chính quyền, đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện đời sống, khai thác nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên hợp lý như nuôi ốc len dưới tán rừng ở ấp Âu Thọ B (xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu), nuôi vộp dưới tán rừng ở ấp Võ Thành Văn (xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung),…
Anh Thái Đăm, thành viên nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển ấp Âu Thọ B cho biết: Hiện nay ở mô hình đồng quản lý, thành viên vừa thu lợi hải sản tự nhiên như ốc, cua, đồng thời cũng thu lợi từ ốc len nuôi trong rừng. Ốc len là loại thủy sản dễ nuôi, có giá trị kinh tế tương đối cao, có thị trường tiêu thụ thuận lợi nên được đông đảo người dân nuôi. Nhờ thu nhập khá từ nguồn lợi dưới tán rừng mà cuộc sống gia đình tôi giờ ổn định hơn.
Ông Ngô Hùng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng đánh giá: Mô hình đồng quản lý là biện pháp hữu hiệu bảo vệ rừng ngập mặn, cung cấp điều kiện sống tốt hơn cho cộng đồng tại địa phương. Sau 8 năm triển khai, đời sống người dân vùng ven rừng tốt hơn nhờ vào khai thác bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới tán rừng. Đặc biệt, đê biển được bảo vệ tốt, giảm thiểu xói lở bờ biển, diện tích rừng tăng lên, rừng mọc tái sinh phủ lấp vùng đã bị xói lở,…
Ấp Âu Thọ B ở những năm 2008 có gần 40% hộ dân là hộ nghèo, đồng bào dân tộc Khmer và Hoa chiếm gần 99%. Việc triển khai mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển đã cải thiện đáng kể đời sống người dân, số hộ nghèo giảm dần qua các năm. Các hành vi sai phạm, phá hoại rừng được ngăn chặn ngay từ đầu. Đây là điểm sáng để nhân rộng mô hình nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trong điều kiện hiện nay. Nhiều giải pháp đang được triển khai để duy trì và nhân rộng mô hình, như phát triển lực lượng kế thừa có trình độ, am hiểu địa bàn; tranh thủ các nguồn lực, dự án và có giải pháp tạo nguồn tài chính bền vững cho các hoạt động đồng quản lý…(Báo Ảnh Dân Tộc & Miền Núi 15/8) đầu trang(
14.8, UBND huyện Hải Lăng (Quảng Trị) cho biết, dự án đường lâm nghiệp phục vụ sản xuất vùng nguyên liệu tập trung, phát triển trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn và phòng chống cháy rừng giai đoạn 2016-2020 của địa phương vừa hoàn thành.
Cụ thể, 9,5km đường lâm nghiệp ở xã Hải Lâm và Hải Chánh đã được thi công đúng hồ sơ thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt. Chất lượng công trình đảm bảo và đã được nghiệm thu hoàn thành, bàn giao để đưa vào quản lý, khai thác và sử dụng.
Trước đó, LĐ đã có bài viết “Giải ngân tiền tỉ cho công trình trên giấy: Dân biết kêu vào đâu?”, phản ánh tình trạng công trình đường lâm nghiệp nói trên đến cuối tháng 12.2016 chưa hoàn thành, nhưng đã được hợp thức hóa chứng từ, hồ sơ để giải ngân số tiền 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, việc giải ngân khống công trình nêu trên được giải thích không phải vì trục lợi, mà để giữ lại nguồn vốn đầu tư.
Tiếp nhận thông tin LĐ nêu, chủ đầu tư đã đốc thúc đơn vị thi công và đã hoàn thiện công trình để bàn giao cho người dân địa phương sử dụng. (Lao Động 15/8) đầu trang(
Tuy người dân đã nộp đầy đủ các phí thiết kế, đo đạc, cấp giấy tờ sử dụng đất nhưng cho đến nay, sau hơn 2 năm, dự án giao đất trồng rừng cho các hộ dân ở xã Hồng Tiến, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn đang nằm trong giai đoạn “chủ trương”. Sự việc khiến hàng chục hộ dân thuộc diện được cấp đất để trồng rừng sản xuất, cải thiện đời sống rơi vào tình cảnh “dở khóc dở cười” khi mà đất vẫn không được giao, tiền thì không thấy trả lại.
Năm 2015,  Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Đầu nguồn Sông Hương đã bàn giao đất lâm nghiệp cho UBND xã Hồng Tiến quản lý để bàn giao cho người dân. Xã dự kiến xét giao  đất cho 62 hộ dân có hoàn cảnh khó khăn nhưng có khả năng sản xuất trồng rừng, tạo điều kiện phát triển kinh tế.
Sau khi xét và chốt được 62 hộ dân thuộc diện ưu tiên cấp đất, UBND xã đã tính toán về mức kinh phí thiết kế phân lô, đo đạc cắm mốc và phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, xã sẽ thu mỗi hộ dân mức phí 3,5 triệu đồng, đây là một số tiền lớn đối với những hộ gia đình khó khăn ở vùng đất đặc thù đồng bào miền núi.
Sau khi nhận thông báo nộp tiền, với nguyện vọng có đất để trồng rừng sản xuất nên nhiều hộ gia đình phải chạy đôn, chạy đáo vay mượn được số tiền 3,5 triệu đồng để đóng phí thiết kế, đo đạc, cấp giấy chứng nhận mà UBND xã Hồng Tiến nêu ra. Nhưng cho đến nay, sau hơn 2 năm, tất cả các hộ gia đình trên địa bàn vẫn chưa được cấp đất để trồng rừng sản xuất, phát triển kinh tế mà tiền cũng không thấy trả lại.
Thực trạng trên kéo dài khiến cho nhiều người bức xúc, cuộc sống nhiều hộ dân rơi vào tình cảnh khốn khổ khi thiếu đất sản xuất.
Ông Đanh, một người dân ở đây cho biết: “Tại buổi tiếp xúc cử tri xã, nhiều cử tri đã đặt câu hỏi tại sao BQL rừng phòng hộ Đầu nguồn Sông Hương đã bàn giao đất cho xã nhưng đất lại không được cấp cho dân. Lúc đó, chủ tịch xã trả lời, việc cấp đất đã bàn giao cho Phòng TN&MT thị xã Hương Trà, phía xã không có quyền hạn giải quyết”.
Mặt khác, trong khi người dân không có đất để trồng rừng sản xuất thì cán bộ xã lại có đất để trồng rừng. Cụ thể, ông Lê Văn Hòa, Chủ tịch UBND xã Hồng Tiến được mượn 7 ha đất để trồng rừng.
Theo tìm hiểu của PV, sau khi nhận đất rừng từ BQL, ông Lê Văn Hòa (thời điểm đó đang giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy).  Lấy lí do người dân không có điều kiện trồng rừng, ông Hòa đã làm đơn gửi lãnh đạo xã, xin mượn 7 ha để trồng rừng, phát triển kinh tế.
Theo một vị nguyên lãnh đạo xã Hồng Tiến, thì thời điểm đó, “để tạo điều kiện cho anh em cán bộ, chúng tôi cùng nhau kí đơn chấp thuận cho ông Hòa mượn 7 ha đất rừng trên“.
Để làm rõ vấn đề trên, PV đã làm việc với UBND xã Hồng Tiến và Phòng TN&MT thị xã Hương Trà.
Làm việc với ông Lê Văn Hòa, Chủ tịch UBND xã Hồng Tiến, vị lãnh đạo này xác nhận phía UBND xã đã thu mỗi hộ dân như vậy là 3,5 triệu đồng để thuê Trung tâm Kỹ thuật TN&MT (thuộc Sở TN&MT tỉnh TT – Huế) đo đạc, phân lô… Sau khi các hộ dân nộp tiền thì phía Trung tâm đo đạc đã ứng trước 30% số tiền. Hiện, các công tác đo đạc đã xong xuôi và UBND xã đã xây dựng phương án bàn giao đất để gửi lên UBND thị xã Hương Trà thì phía thị xã nói xã không đủ khả năng và quyền hạn để cấp đất cho dân, phải đợi chủ trương của UBND tỉnh.
Khi được hỏi tại sao trước đây xã không hỏi ý kiến của UBND thị xã Hương Trà trước rồi tiến hành thu tiền thiết kế, phân lô, của người dân thì ông Hòa cho biết: “Khi chúng tôi về làm việc với thị xã thì phía Phòng TN&MT đã giới thiệu Trung tâm Kỹ thuật TN&MT đo đạc đồng thời đề xuất chúng tôi xây dựng phương án giao đất cho dân. Nhưng khi xây dựng phương án xong thì UBND thị xã nói ở cấp xã không đủ thẩm quyền và quyền hạn để cấp đất cho dân“.
Trưởng Phòng TN&MT thị xã Hương Trà, ông Trần Hưng Long khẳng định:“Phòng TN&MT thị xã không chỉ đạo hay giới thiệu gì cho UBND xã Hồng Tiến về việc hợp đồng làm việc với Trung tâm TN&MT để phân lô hay thiết kế đo đạc gì cả. Việc thuê trung tâm đo đạt là do xã tự ý. Chúng tôi đang xem xét để có thể giao đất cho người dân nhanh nhất, nhưng phía UBND tỉnh chưa có quyết định thu hồi số diện tích đất nói trên. UBND thị xã Hương Trà cũng đã có 2 tờ trình gửi lên UBND tỉnh nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết quả. Việc UBND xã Hồng Tiến tự ý thu tiền người dân như vậy là sai với quy định pháp luật”.
Liên quan đến việc trong khi người dân thiếu đất sản xuất, phát triển kinh tế thì Chủ tịch xã Hồng Tiến lại được “tạo điều kiện” mượn 7 ha đất rừng để làm kinh tế, vị Trưởng phòng TN&MT thị xã Hương Trà cho rằng, các quy định hiện hành không cấm việc cán bộ, lãnh đạo mượn đất rừng để làm kinh tế.
Việc giao đất, giao rừng để nâng cao đời sống, ổn định kinh kế, tăng hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và của tỉnh. Nhưng sau nhiều năm, việc giao đất trồng rừng cho các hộ dân tại xã Hồng Tiến vẫn chưa có kết quả cho dù người dân đã phải bỏ ra một số tiền lớn để phục vụ cho việc đo đạc, cấp giấy tờ. Không có đất phát triển kinh tế, người dân rơi vào tình trạng khó khăn. Thiết nghĩ, các cấp lãnh đạo cần có phương án và những giải pháp cụ thể giúp người dân có đất phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống tại vùng đất miền núi này. (Nhà Báo & Công Luận 15/8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Thời tiết khô nóng được cho là nguyên nhân bùng phát hơn 90 vụ cháy rừng dữ dội ở Hy Lạp trong thời gian gần đây.
Reuters đưa tin, hơn 90 vụ cháy rừng dữ dội ở Hy Lạp đã xảy ra trong thời gian gần đây. Ảnh: Khói đen bốc lên phía sau một ngôi nhà trong vụ cháy rừng gần làng Varnavas, phía bắc thủ đô Athens, ngày 14/8. (Kiến Thức 15/8) đầu trang(./.