Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 16 tháng 08 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Theo đánh giá của Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì, thời điểm nông nhàn, người dân sinh sống tại các vùng rừng đặc dụng, rừng núi đá thường tổ chức vào rừng, lên núi khai thác gỗ trái phép. Để thực hiện tốt Chỉ thị 08 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hạt đã tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, nhằm ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản trên địa bàn toàn huyện.
Theo đó, ngành sẽ tập trung triển khai quyết liệt công tác tuần tra, kiểm tra, tổ chức truy quét , xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển trái phép tại các địa phương có điểm “nóng” tình trang khai thức gỗ quý hiếm như: Xã Cư Lễ, Liêm Thủy, Xuân Dương, Văn Minh, Vũ Loan, Văn Học...
Tính đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã tiến hành xử lý hành chính 75 vụ vi phạm các quy định quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (trong đó, phá rừng trái phép 08 vụ; cất giữ lâm sản trái với các quy định Nhà nước 26 vụ; 40 vụ vận chuyển trái pháp luật và 01 vụ khai thác rừng tráp pháp luật). Chuyển các cơ quan chức năng khởi tố 01 vụ với 03 đối tượng, bên cạnh đó tiến hành tịch thu 19 xe máy, 01 cưa xăng, 05 dao, búa và hơn 48 mét khối gỗ các loại, thu nộp Ngân sách Nhà nước gần 214 triệu đồng.
Từ nay đến cuối năm, Hạt Kiểm Lâm huyện Na Rì xác định sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, thanh kiểm tra, nhằm quản lý bảo vệ rừng tận gốc; kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, đồng thời triển khai triệt phá các ổ nhóm, tụ điểm khai thác, mua bán và vận chuyển trái phép lâm sản; phối hợp với Công an, Viện kiểm sát huyện tiến hành đưa ra khởi tố các đối tượng vi phạm nhiều lần, tái vi phạm có tổ chức, chống người thi hành công vụ, để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Cùng với đó, duy trì tốt các tổ chốt chặn theo kế hoạch thực hiện của ngành; triển khai Chỉ thị 08 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Kế hoạch số 27 của UBND tỉnh về truy quét, ngăn chặn, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn huyện Na Rì. (Báo Bắc Kạn 16/8)đầu trang(
Nằm ngay ngoại thành Hà Nội, xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì có một quần thể cây cổ thụ lên đến 24 cây, có tuổi đời ít nhất từ 100 đến 700 tuổi, tỏa bóng mát khắp làng xã.
Bên cạnh đó, ở các thôn, xóm trong xã còn có rất nhiều cây đa cổ thụ, trong đó có 5 cây đều trên 500 tuổi. Ngay chính trong khuôn viên và trước cổng UBND xã có 3 cây đa cổ thụ.
Ông Phạm Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Thuần Mỹ cho biết: Toàn xã có 24 cây cổ thụ, chủ yếu là cây đa và cây gạo, có tuổi đời nhỏ nhất khoảng 100 tuổi, còn phần lớn khoảng 200 - 300 tuổi. Có 5 cây đa 500 tuổi, và 1 cây gạo trên 700 tuổi. Sự hiện diện, tồn tại của cả một quần thể cây cổ thụ trong một xã là điều hiếm thấy.
Theo ông Sơn, nhằm tránh chảy máu “tài nguyên” bởi tình trạng chặt phá, mua bán cây cổ thụ, và nhằm quy hoạch, bảo vệ, chăm sóc quần thể cây cổ thụ, năm 2007, UBND xã Thuần Mỹ cũng đã đăng ký bộ sưu tập cây đại thụ và đề nghị ngành văn hóa tỉnh Hà Tây (cũ) công nhận, nhưng đến nay sau khi Hà Nội mở rộng vẫn chưa thấy hồi âm. (Đảng Cộng Sản VN 14/8) đầu trang(
Ngay giữa khu đô thị sầm uất, TP Hưng Yên có một đảo cò công viên hồ Nam Hòa. Hàng năm, vào dịp tháng Giêng và tháng Hai, đàn có đua nhau tha rác về làm tổ.
Mới đầu, chỉ có vài chục con cò, vạc, bồ nông. Nhờ sự quản lý của chính quyền và nhân dân, sau gần 10 năm, đảo cò công viên hồ Nam Hòa đã có hàng chục nghìn con cò về sinh sống. (Người Cao Tuổi 14/8)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Chương trình “Café hawa cuối tuần” đầu tiên, do Hiệp hội Chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ TP.HCM tổ chức, sẽ diễn ra ngày 18-8 với chủ đề “Nhận diện thương hiệu doanh nghiệp” và ký kết các hợp tác giữa nhà sản xuất và đơn vị phân phối.
Chương trình sẽ diễn ra định kỳ hằng tuần nhằm tăng tính kết nối giữa các doanh nghiệp trong ngành gỗ, mỹ nghệ với các chủ đề như: phát triển thương hiệu, xử lý tồn kho, hỗ trợ vốn vay, giải pháp phát triển thị trường nội địa... (Tuổi Trẻ 16/8)đầu trang(
Trong gần 5 thập kỷ qua, nguồn nước bị cạn kiệt và khai thác quá mức đã làm cho đa dạng sinh học của Việt Nam bị suy thoái trầm trọng.
Việt Nam xếp ở vị trí thứ 16 về đa dạng sinh học trên toàn thế giới, đồng thời được xem là một trong 12 trung tâm giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới.
Mức độ đa dạng sinh học của hệ cây trồng ở Việt Nam khá cao. Tuy nhiên, diện tích rừng, hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao nhất đã giảm từ hơn 70% (năm 1909), xuống 28% chỉ sau gần 90 năm.
Trong gần 5 thập kỷ qua, diện tích rừng ngập mặn đã giảm 80%, khoảng 96% các rạn san hô bị đe dọa nghiêm trọng, các giống loài động vật và thực vật ở nước ta do nơi cư trú bị tàn phá, nguồn nước bị cạn kiệt và khai thác quá mức nhất là nạn săn bắt đã làm cho đa dạng sinh học suy thoái trầm trọng. (VTV 16/8)đầu trang(
Đến nay, trên địa bàn tỉnh ta đã có gần 10.000 ha rừng và đất lâm nghiệp được giao cho cộng đồng dân cư thôn, bản quản lý và sử dụng. Trong quá trình thực hiện, các ngành, địa phương đã gặp không ít trở ngại. Để khắc phục tình trạng đó, cần có một khung pháp lý hoàn thiện và những giải pháp mang tính bền vững.
Trao đổi về những thực trạng xung quanh công tác quản lý rừng cộng đồng (RCĐ) hiện nay, ông Phạm Hồng Thái, Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: Đối với các cộng đồng dân cư đã được giao đất, giao rừng, chỉ có một số rất ít thôn, bản có trách nhiệm và có năng lực quản lý bảo vệ rừng được giao như bản Ông Tú, bản K-Oóc thuộc xã Trọng Hóa (huyện Minh Hóa), thôn Hướng Phương, xã Quảng Phương (huyện Quảng Trạch), thôn Uyên Phong, xã Châu Hóa (huyện Tuyên Hóa)...
Các cộng đồng còn lại khác sau khi được giao quản lý, rừng vẫn bị khai thác, chặt phá và lấn chiếm. Cá biệt có một số cộng đồng rừng còn bị chặt phá nhiều hơn lúc chưa được giao quản lý. Đối với những cộng đồng tạm quản lý rừng theo hỗ trợ của một số dự án, khi dự án kết thúc thì cộng đồng cũng không có trách nhiệm bảo vệ rừng nên rừng vẫn bị xâm hại. Đa số các cộng đồng do xã tạm giao quản lý theo quy ước bảo vệ rừng của thôn, bản dưới sự hướng dẫn và giám sát của lực lượng kiểm lâm cũng bảo vệ chưa tốt diện tích rừng theo quy ước đã cam kết.
Đến thời điểm hiện tại, 3 cộng đồng được dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng giao rừng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi đó, theo quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho cộng đồng là một trong những nội dung bắt buộc để mở tài khoản tiền gửi cho RCĐ, là điều kiện để cộng đồng tham gia các chương trình, hoạt động có liên quan.
Vấn đề phức tạp phát sinh nữa là diện tích rừng nói trên sau khi giao cho cộng đồng đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại do các đối tượng phá rừng trái phép cho rằng cộng đồng khó có khả năng ngăn chặn và xử lý. Riêng đối với diện tích rừng giao cho cộng đồng ở bản Phú Minh, xã Thượng Hóa và thôn Thanh Liêm 1, xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa đã xảy ra hiện tượng người ngoài vào khai thác trái phép, trong khi đó các cộng đồng chưa thành lập được tổ bảo vệ rừng và chưa được hỗ trợ kịp thời để ngăn chặn và xử lý những trường hợp trên.
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến thực trạng "Cha chung không ai khóc" như đã nói ở trên, các thôn, bản sau khi được giao rừng nhưng không bảo vệ đó là do diện tích rừng giao quá lớn hoặc quá xa khu dân cư, ít ảnh hưởng trực tiếp đến việc phòng hộ cho cộng đồng dân cư.
Nguyên nhân thứ hai là do ý thức bảo vệ rừng của cộng đồng chưa cao, vai trò và uy tín của già làng, trưởng bản chưa được cộng đồng coi trọng, việc tự giám sát lẫn nhau, tự tuân thủ quy ước của cộng đồng về bảo vệ rừng còn thấp. Do tư cách pháp nhân của cộng đồng chưa cụ thể, RCĐ bị phá không thể quy trách nhiệm đối với bất kỳ ai trong cộng đồng nên công tác tổ chức và năng lực bảo vệ rừng để ngăn chặn sự xâm hại từ bên ngoài vào RCĐ chưa được quan tâm. Thực tế hiện nay, Nhà nước chưa có quy định cụ thể về quyền hưởng lợi nếu bảo vệ tốt khu rừng được giao, dẫn đến cộng đồng chưa được hưởng lợi từ rừng nên họ không mặn mà trong công tác bảo vệ...
Thực tế cho thấy rằng, để nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng cần sự hỗ trợ, giám sát thường xuyên của chính quyền địa phương và các ngành chức năng. Để công tác giao đất giao rừng cho cộng đồng đạt hiệu quả hơn, trước hết các ngành chức năng cần xem xét phong tục tập quán của các thôn, bản trong sinh hoạt cộng đồng, vị trí và diện tích khu rừng định giao và tầm quan trọng của khu rừng đối với cộng đồng trước khi lập hồ sơ giao rừng cho cộng đồng quản lý.
Không nên giao rừng quá xa, quá rộng, rừng giàu tài nguyên và các khu vực ít ảnh hưởng tới việc phòng hộ trực tiếp tới thôn, bản cho cộng đồng quản lý. Cùng với việc xây dựng phương án bảo vệ RCĐ có tính bền vững lâu dài, xem xét ý thức trách nhiệm và năng lực bảo vệ rừng của cộng đồng trước khi quyết định giao rừng, phải hạn chế việc giao RCĐ theo kiểu ồ ạt, chạy theo thành tích mà thiếu cân nhắc hiệu quả sau khi giao.
Theo kế hoạch năm 2013, dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng sẽ triển khai hoạt động điều tra rừng có sự tham gia và lập hồ sơ giao rừng cho cộng đồng với tổng diện tích trên 2.367 ha tại 8 thôn, bản ở các huyện Quảng Ninh, Minh Hóa và Bố Trạch.
Trước khi giao rừng cho những cộng đồng thôn, bản, dự án phải xây dựng quy ước bảo vệ rừng và có phương án hoặc kế hoạch bảo vệ RCĐ bền vững và lâu dài. Khi thành lập BQL rừng và tổ chuyên trách quản lý bảo vệ RCĐ, dự án cần chọn những người có uy tín, có trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác bảo vệ rừng cũng như tuyên truyền, hướng dẫn, uốn nắn, nhắc nhở cộng đồng tăng cường bảo vệ rừng.
UBND cấp xã và kiểm lâm địa bàn cần nêu cao vai trò hơn nữa trong việc quản lý RCĐ, phải thường xuyên nắm bắt thông tin và huy động lực lượng để kiểm tra, truy quét, thu giữ và xử lý vi phạm trong các khu rừng còn giàu tài nguyên đã giao cộng đồng quản lý. (Báo Quảng Bình 16/8)đầu trang(
Nhằm bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả, bền vững, Yên Bái đã và đang triển khai thực hiện “Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn 2012 - 2015” (Đề án giao đất, giao rừng).
Dù gặp không ít khó khăn nhưng Ban chỉ đạo thực hiện Đề án giao đất, giao rừng của tỉnh và các địa phương đã nỗ lực cao từng bước tiến tới hoàn thiện giao đất, giao rừng cho thuê đất, thuê rừng cho các tổ chức, cá nhân.
Đề án giao đất, giao rừng là một chủ trương mới, các địa phương đã tổ chức được 165 hội nghị tại các thôn, bản tuyên truyền đến người dân hiểu về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ trong việc thực hiện. Thường trực Ban chỉ đạo đã phối hợp với địa phương tổ chức hội nghị cấp huyện triển khai công tác giao đất, giao rừng trên địa bàn các huyện Lục Yên, Văn Chấn, Mù Cang Chải, Văn Yên. UBND tỉnh cũng đã phê duyệt và phân bổ kinh phí thực hiện Đề án giao rừng, cho thuê rừng năm 2013 cho các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó thành lập 7 tổ công tác với 75 cán bộ thành viên về cơ sở tiến hành kiểm tra, rà soát quỹ đất rừng chưa giao, cho thuê trong Đề án tại thực địa, khoanh vẽ tại thực địa, phân loại rừng, chuyển hóa trên hệ thống bản đồ được 90.737,7ha.
Đến hết tháng 6/2013 đã có 7 huyện: Trấn Yên, Mù Cang Chải, Văn Yên, Văn Chấn, Lục Yên, Yên Bình, Trạm Tấu hoàn thành Đề án giao rừng, cho thuê rừng cấp huyện, đã thông qua HĐND huyện và đang xin ý kiến thẩm định của các ngành và trình UBND tỉnh phê duyệt. Ở các huyện cũng đã có 11 xã xây dựng được phương án giao đất giao rừng. UBND các huyện, thị xã, thành phố tiến hành khảo sát, xây dựng được khung giá các loại rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Đến nay, tỉnh đã thẩm định và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 4 doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng trong Đề án theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh, đó là: Công ty cổ phần Giấy miền Bắc được khảo sát, lập dự án thuê đất, thuê rừng với diện tích khoảng 4.000ha; Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu lâm nghiệp Yên Bái được thuê 4.000ha để tổ chức trồng rừng nguyên liệu phục vụ nhà máy chế biến gỗ ván thanh, ván MDF tại Yên Bái; Công ty cổ phần Vĩnh Sơn được thuê 4.000ha đất rừng để tổ chức trồng rừng nguyên liệu phục vụ nhà máy chế biến tại Yên Bái; Công ty Xây dựng Hà Nội thuê đất trồng rừng kinh tế tại huyện Văn Yên với diện tích 200ha.
Ngoài ra, Thường trực Ban chỉ đạo đã phối hợp với UBND các huyện, thị xã cơ bản xác định được quỹ đất rừng dự kiến cho 3 doanh nghiệp thuê với diện tích là 12.000ha trong năm 2013.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn những tồn tại nhất định cần được tháo gỡ như có khá nhiều diện tích rừng khi bàn giao từ các nông lâm trường sang cơ bản đã có “chủ”, người dân đã xâm chiếm, sản xuất, canh tác nên gặp khó khăn việc xử lý tài sản trên đất để giao lại hoặc cho thuê. Bên cạnh đó, diện tích dự kiến cho thuê để trồng rừng lớn nhưng sau khi rà soát lại giảm so với dự kiến vì diện tích này người dân địa phương tự nhận đã trồng rừng vào đó, vì thế rất khó cho việc thỏa hiệp xử lý tài sản trên đất để tiến hành cho thuê theo quy định.
Một khó khăn nữa là diện tích dự kiến cho thuê nhưng có nhiều chỗ không tập trung, xen kẽ với đất đã thực hiện giao cho người dân, do đó các tổ chức, doanh nghiệp xin thuê đất để trồng và bảo vệ rừng gặp khó khăn. Những diện tích rừng có vị trí thuận lợi gần nhà, gần đường giao thông, độ dốc thấp và rừng có trữ lượng lớn thì có quá nhiều người xin nhận, vì thế khó khăn cho việc phân chia và lập phương án. Bên cạnh đó, vẫn còn một số địa phương, nhất là cấp xã xây dựng đề án, phương án còn chậm. Đến nay mới có 5 huyện lấy ý kiến thẩm định của các ngành, đã thực hiện chỉnh sửa và đang trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt. (Báo Yên Bái 16/8)đầu trang(
15/8, ông Trần Đăng Ninh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã có buổi làm việc với lãnh đạo huyện Cao Phong về tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện.
Tính đến hết tháng 7, huyện Cao Phong có 3/5 chỉ tiêu cấp GCN gần đạt chỉ tiêu do Quốc hội và Chính phủ quy định, gồm đất ở đô thị, đất ở nông thôn, đất lâm nghiệp. Còn lại 2/5 chỉ tiêu cần phấn đấu thực hiện là đất giao cho các tổ chức và đất nông nghiệp.
Hiện tại, diện tích đất cần cấp GCN theo thẩm quyền của UBND huyện không lớn, có hơn 1.000 ha trên tổng số 25.528 ha đất tự nhiên nhưng nằm phân tán, rải rác với 4.431 thửa, số đối tượng đăng ký là 3.592 trường hợp. Về tỷ lệ cấp GCN QSD đất hiện đạt khá cao, cụ thể đất ở nông thôn đã cấp đạt 84,68%; đất ở độ thị đã cấp đạt 80%; đất sản xuất nông nghiệp đã cấp đạt 76%; đất lâm nghiệp đã cấp đạt 71%.
Huyện đã tổ chức trao GCNQSD đất lâm nghiệp trực tiếp cho các hộ gia đình, cá nhân được đo đạc theo Quyết định 672 tại 4 xã Dũng Phong, Nam Phong, Tân Phong và Đông Phong với 1.786 giấy, diện tích đã cấp gần 1.148 ha. Một số tồn tại, vướng mắc trong việc triển khai cấp GCN trên địa bàn huyện hiện nay là việc “rà soát, xử lý đối với đất do nông, lâm trường quản lý sắp xếp sau đổi mới” kết quả còn chậm và kém hiệu quả, đặc biệt là quỹ đất do công ty Lâm nghiệp Hòa Bình và BQL rừng phòng hộ sông Đà quản lý; việc xử lý đối với quỹ đất trả ra của các nông lâm trường sau sắp xếp đổi mới còn gặp nhiều khó khăn khó khăn, nhất là việc áp dụng đơn giá đất đối với đất ở đã sử dụng ổn định trước khi bàn giao để các đối tượng thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Phát biểu tạo buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Đăng Ninh nhấn mạnh: Bên cạnh tập trung cấp GCN cho diện tích đất nông, lâm trường và đất chuyên dùng, huyện cần tiếp tục triển khai cấp GCN cho các loại đất khác. Huyện cũng lưu ý những việc cần làm để đảm bảo tiến độ cấp GCN trong thời gian tới là sớm xác định danh giới của đất nông, lâm trường; báo cáo kết quả công việc tiến độ thực hiện theo tuần, tháng. (Báo Hòa Bình 15/8) đầu trang(
Thông tin UBND Quảng Ngãi trong tháng 7 qua đã quyết định xây dựng trung tâm cứu hộ và quy hoạch khu bảo vệ sinh cảnh loài rùa Trung bộ tại huyện Bình Sơn, được những người yêu thiên nhiên coi là biện pháp tích cực mở ra cơ hội sống sót cho loài rùa quý.
Viện Sinh thái học miền Nam, thuộc viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam sẽ là một đối tác chính cùng với chương trình bảo tồn rùa châu Á triển khai dự án trên. Dự kiến từ tháng 8.2013 đến tháng 5.2014, sẽ tiến hành xây dựng trung tâm cứu hộ; từ tháng 6.2014 trở đi tiến hành các hoạt động phục hồi sinh cảnh tự nhiên cho loài rùa Trung bộ. (Sài Gòn Tiếp Thị 15/8)đầu trang(
Các nhà khoa học vừa công bố tìm thấy tại Việt Nam loài loài rắn lục đầu bạc mới, có thể gây chết người trong thời gian ngắn.
Nhóm khoa học thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Động vật St Petersburg, Nga đã phát hiện và công bố loài mới trên tạp chí Russian Journal of Herpetology.
Tiến sĩ Nguyễn Thiên Tạo, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết, mẫu vật của loài rắn độc mới được các nhà khoa học thu tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc ở độ cao từ 800 đến 1.800 m.
Loài mới được đặt theo tên của nhà khoa học người Nga là Vladimir Kharin nhằm vinh danh những đóng góp của ông trong lĩnh vực nghiên cứu bò sát và cá ở châu Á
Rắn lục đầu bạc Azemiops kharini có các đặc điểm nhận dạng như đầu có màu trắng với hai đường sọc đen, chiều dài cơ thể chúng khoảng 760-980 mm.
Đây là loài rắn lục đầu bạc thứ hai thuộc giống Azemiops và là loài rắn độc thứ 60 trong tổng số hơn 210 loài rắn được ghi nhận ở Việt Nam đến nay. (Vnxpress.net 15/8)đầu trang(
Diện tích không lớn nhưng rừng Hải Phòng có vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống của người dân. Tuy nhiên, diện tích rừng và đất lâm nghiệp của thành phố không ổn định, có xu hướng bị thu hẹp, do đó yêu cầu bảo vệ và phát triển rừng bền vững đang trở nên cấp bách...
Báo cáo của Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng cho thấy, hiện tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn thành phố là 22.800ha, trong đó diện tích đất có rừng là 17.989ha, độ che phủ đạt 11,8%; tổng trữ lượng gỗ của cả 2 loại rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đạt 602.270m3.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng Nguyễn Văn Thịu cho biết: hầu hết diện tích rừng hiện nay nằm phân tán, xen kẽ trong các khu dân cư và phần lớn số diện tích này đã được giao cho các tổ chức và hộ gia đình quản lý. Cụ thể, diện tích rừng đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân là 13.590,5ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10.7773ha, rừng trồng chiếm 2.817,5ha. Song, công tác giao đất, giao rừng còn manh mún, nhỏ lẻ nên chưa thu hút được sự đầu tư cũng như bảo vệ và phát triển rừng của người dân. Nhiều diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý chưa phát huy được hiệu quả kinh tế, hầu hết người dân chưa sống được bằng nghề rừng...
Ngoài ra, nhiều diện tích rừng giao chưa xác định được ranh giới cụ thể trên bản đồ; hồ sơ quản lý chưa đồng bộ và thiếu nhất quán. Có hộ gia đình đã được giao rừng và đất lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nhưng lại chuyển đổi sang nuôi trồng nhiều loại cây, con khác. Chưa kể đến việc nhiều diện tích rừng đã được giao vẫn chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng, đất lâm nghiệp. Một số trường hợp được giao đất, giao rừng chỉ dưới hình thức hợp đồng khoán bảo vệ...
Chất lượng và giá trị kinh tế của rừng Hải Phòng thấp do không có rừng sản xuất, khả năng cung cấp lâm sản hạn chế, chưa đem lại thu nhập cao cho người làm nghề rừng... Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của Hải Phòng hiện không ổn định và có xu hướng bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng. Trong khi đó, sự phức tạp của biến đổi khí hậu, đòi hỏi phải duy trì và phát triển diện tích rừng và cây xanh để bảo đảm an ninh môi trường.
Trước thực trạng trên, thành phố Hải Phòng xác định việc thiết lập quản lý bảo vệ và phát triển rừng hướng tới hiệu quả, bền vững là hết sức cần thiết. Năm 2010, UBND thành phố giao Sở NN&PTNT xây dựng Đề án Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Hải Phòng giai đoạn 2010- 2020. Hiện Đề án này đã được Bộ NN và PTNT thẩm định; các sở, ngành, đơn vị, địa phương tham vấn, đủ điều kiện để HĐND thành phố xem xét quyết định, UBND thành phố phê duyệt làm cơ sở triển khai thực hiện. Theo đó, mục tiêu đến năm 2020, Hải Phòng thực hiện quy hoạch 24.238,1ha rừng, bao gồm 9.931,6ha đất rừng đặc dụng; 14.306,5ha đất rừng phòng hộ với tổng nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ, phát triển rừng và các hoạt động liên quan khoảng 469 tỷ đồng.
Trao đổi về vấn đề này, Trưởng phòng Trồng trọt Sở NN&PTNT Hải Phòng Đào Thị Hà cho rằng, nếu Đề án được thông qua, rừng sẽ được quy hoạch và việc quản lý sẽ thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nói thì dễ nhưng thực tế để quản lý hiệu quả, bền vững cần một chuỗi các giải pháp không chỉ liên quan đến rừng. Bởi lẽ, để bảo vệ được diện tích rừng hiện có và trồng mới được hàng nghìn ha rừng các loại như mục tiêu đã đề ra, từ nay tới năm 2020 phải cần tới hàng trăm tỷ đồng, chủ yếu vốn ngân sách thành phố và địa phương tự huy động, đặc biệt là nhận thức của người dân sống bằng nghề khai thác rừng. Trong khi, điều kiện của địa phương còn nhiều khó khăn. Hơn thế, Hải Phòng là thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh nên rất khó hoàn thành.
Mặc dù trong Đề án đã xác định rõ 8 nhóm giải pháp, nhưng việc thực hiện các nhóm giải pháp này không hề đơn giản. Giám đốc Sở NN&PTNT Hải Phòng Bùi Trọng Tuấn cho rằng, để đạt được mục tiêu trên, việc bảo vệ và phát triển rừng cần những giải pháp đồng bộ và toàn diện từ khâu tổ chức quản lý (gồm tổ chức sản xuất, chính sách quản lý đất lâm nghiệp, giao đất giao rừng) đến các giải pháp về khoa học công nghệ, giáo dục và khuyến lâm, tài chính tín dụng, phát triển nguồn nhân lực cho ngành lâm nghiệp, hợp tác quốc tế... trong đó giải pháp về quản lý vẫn là then chốt. (Đại Biểu Nhân Dân 15/8)đầu trang(
Đó là chủ đề của Hội thảo tập huấn do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Ninh Bình, Ủy ban Con người và Sinh quyển (MBA Việt Nam) và Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), dưới sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) tổ chức ngày 14/8, tại Ninh Bình.
Hội thảo tập trung cung cấp thông tin, kiến thức về tiếp cận Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) và hệ thống các danh hiệu quốc tế của UNESCO tại Việt Nam; đồng thời đưa ra các hướng dẫn về quá trình thành lập, quản lý khu DTSQ trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH). Hội thảo cũng tạo môi trường chia sẻ thông tin và tăng cường sự kết nối của mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, hội thảo là diễn đàn đề cập đến vai trò của thanh niên trong thích ứng BĐKH và giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại các khu DTSQ; chia sẻ kinh nghiệm, cách thức nâng cao giá trị của các sản phẩm địa phương thông qua gắn kết các danh hiệu quốc tế như khu DTSQ và khu di sản thế giới.
Tham gia hội thảo có gần 80 đại biểu từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức quan tâm tới khu dự trữ sinh quyển và ứng phó biến đổi khí hậu, các tổ chức phi chính phủ và đại diện Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tác động mạnh mẽ tới Việt Nam, làm gia tăng hạn hán, bão lũ và hiện tượng khí hậu cực đoan, làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế - xã hội và sức khỏe con người. Theo các nghiên cứu, BĐKH tác động mạnh tới khu vực ven biển, biểu hiện rõ rệt ở hiện tượng nước biển dâng. Bên cạnh đó, rét đậm kéo dài và sương muối làm chết một số loài cây trồng và tăng nguy cơ dịch bệnh ở gia súc…
Khu DTSQ có vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm và thử nghiệm các giải pháp cho những thách thức của BĐKH cũng như theo dõi những thay đổi. Theo PGS, TS Nguyễn Hoàng Trí – Tổng Thư ký Ủy ban quốc gia Con người và Sinh quyển (MBA Việt Nam), khu DTSQ cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái, đa dạng văn hóa, tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập, giảm nhẹ các tác động của thiên tai. Trên thế giới, nhiều khu DTSQ đã được ghi nhận là các mô hình tốt trong ứng phó với BĐKH như mô hình khu DTSQ Noosa tại Úc. (Đảng Cộng Sản VN 14/8)đầu trang(
Để hạn chế thấp nhất thiệt hại cho người dân, đến nay tỉnh Cà Mau đã triển khai trên 20 chương trình, dự án nhằm chủ động đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, với tổng kinh phí trên 1.000 tỷ đồng, chủ yếu là nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia được các bộ, ngành Trung ương trực tiếp đầu tư.
Ngoài ra, Cà Mau còn có nhiều tiểu dự án trên cơ sở cụ thể hóa trong các chương trình mục tiêu lớn được xác định, trước mắt có 3 việc cần làm ngay. Một là duy trì một bộ phận dân cư tiếp tục sống ổn định ven biển. Hai là di dời dân ở những nơi không an toàn về nơi an toàn. Ba là làm tốt công tác truyền thông nhằm nâng cao sự hiểu biết của người dân về biến đổi khí hậu và nước biển dâng, qua đó làm cho người dân hiểu đúng, tránh hoang mang, tiến tới là sống chung với biến đổi khí hậu và nước biển dâng chứ không phải trốn tránh.
Tỉnh Cà Mau là địa phương có 3 bề là biển, với tổng chiều dài 252km. Tại đây có trên 5.000 hộ dân sinh sống bằng nghề trổng rừng và khai thác thủy sản. Đối với những hộ này đã thích ứng với điều kiện vùng ven biển, cụ thể như bà con cất nhà sàn, chiều cao cách mặt đất 1-2m, để lúc thủy triều lên cao cũng rất an toàn. Mặt khác bà con sống trên đê hoặc trong đê nên không có gì nguy hiểm, như vậy số hộ này là tiếp tục ổn định cuộc sống với điều kiện là mở rộng chương trình nhà sàn để bảo đảm an toàn khi có bão và nước biển dâng. Hiện nay có trên 1.200 căn nhà sàn được người dân xây dựng khu vực ven biển.
Tuy nhiên, hiện nay còn gần 1.000 hộ dân hiện đang sinh sống ngoài đê, che lều dựng trại ngay trong rừng phòng hộ thì cần phải sắp xếp trên tinh thần khẩn trương. Biện pháp cho trường hợp này, hoặc là bà con tự nguyện về các khu tái định cư, hoặc sẽ bị cưỡng chế. Hiện nay riêng huyện Năm Căn và huyện Ngọc Hiển là 2 huyện trọng điểm ven biển đã hoàn tất 2 khu tái định cư, có khả năng tiếp nhận 600 hộ vào đây sinh sống. Thế nhưng chỉ có 45 hộ đăng ký vào đây ở, hầu hết là bà con không chịu vào.
Ông Nguyễn Trường Giang, Chủ tịch huyện Ngọc Hiển cho biết huyện sẽ phấn đấu để đến năm 2015 không còn hộ dân nào sống trái phép trên lâm phần rừng phòng. Ngọc Hiển là huyện cuối cùng cực Nam của Tổ quốc, có diện tích rừng phòng hộ lên tới 17.000ha, đây là rừng chắn sóng biến, hạn chế sạt lở. Do vậy không thể bất cứ hộ dân nào sống trong khu vực này do không an toàn. (VietnamPlus.vn 16/8)đầu trang(
Năm 2013, xã Xà Hồ (huyện Trạm Tấu) được giao chỉ tiêu trồng 70ha rừng phòng hộ, 120ha rừng sản xuất. Ngay sau khi nhận kế hoạch, chính quyền xã phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ tổ chức họp thôn tuyên truyền, vận động nhân dân và điều quan trọng là cán bộ chuyên môn phải tích cực bám sát cơ sở.
Đến nay, Xà Hồ đã trồng được 50/70ha rừng phòng hộ, công trình trồng 120ha rừng sản xuất cũng hoàn thành trên 20% kế hoạch và có tiến độ trồng rừng nhanh nhất huyện. Địa phương phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2013 trước ngày 15/9.
Theo kế hoạch, năm 2013, huyện Trạm Tấu trồng 806ha rừng với 500ha rừng phòng hộ, 306ha rừng sản xuất. Các diện tích trên được trồng ở các xã: Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ, Túc Đán, Làng Nhì, Tà Xi Láng, trong đó nhiều nhất là Bản Mù 251ha, Xà Hồ 190ha, Túc Đán 170ha. Ban Quản lý rừng phòng hộ đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã triển khai thực hiện; trực tiếp làm chủ đầu tư, cung ứng cây giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng cho nhân dân. Ban đã thành lập 6 vườn ươm tại các xã có diện tích trồng rừng với tổng số trên 1,6 triệu cây giống gồm thông, sơn tra. (Báo Yên Bái 16/8)đầu trang(
Bắc Kạn là tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp rất lớn, chiếm trên 80% tổng diện tích của cả tỉnh, với gần 400.000 ha. Cho đến nay, toàn tỉnh đã phủ xanh gần 70% diện tích đất rừng. Tuy nhiên, vấn đề quản lý, khai thác và sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn bất cập, chồng chéo cần tháo gỡ, nhất là trong các lâm trường quốc doanh.
Không thể phủ nhận những cố gắng của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp (Công ty Lâm nghiệp) Bắc Kạn kể từ khi đổi mới sắp xếp lại các doanh nghiệp thành viên là các lâm trường huyện (năm 2006) đến nay. Sau khi sắp xếp, tổ chức lại bộ máy các lâm trường quốc doanh, Công ty lâm nghiệp Bắc Kạn đã xây dựng phương án sử dụng đất, tổ chức sản xuất kinh doanh, cấp chứng chỉ kinh doanh rừng bền vững, cùng với các dự án trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, việc thực hiện các thủ tục về đất đai cũng như phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước, các địa phương về quản lý sử dụng đất của nhiều lâm trường thuộc công ty vẫn chưa tốt, dẫn đến việc quản lý đất trên giấy tờ và thực tế khác nhau, khiến xảy ra tình trạng tranh chấp giữa các hộ dân và lâm trường.
Như trường hợp lâm trường Ngân Sơn, theo quy hoạch, lâm trường chỉ giữ lại 2.020 ha, diện tích phải trả lại địa phương là gần 3.147 ha. Sau đó lâm trường được UBND tỉnh Bắc Kạn bổ sung quy hoạch thêm gần 1.550 ha. Như vậy số diện tích lâm trường Ngân Sơn phải trả lại cho huyện là 1.597 ha, nhưng đến nay vẫn chưa bàn giao. Những trường hợp khác như: Lâm trường Ba Bể đã chuyển 1,8 ha, Lâm trường Bạch Thông chuyển 3,18 ha đất lâm nghiệp sang đất chuyên dùng để xây dựng nhà làm việc của các tiểu khu lâm nghiệp, vườn ươm, xưởng chế biến gỗ và đường lâm nghiệp nhưng chưa lập thủ tục chuyển đổi mục đích theo quy định của pháp luật.
Thậm chí, một số diện tích khi giao khoán cho các hộ dân trồng rừng nhưng các lâm trường chưa quản lý chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng đất sai mục đích theo hợp đồng. Ví dụ: Tại thị trấn Chợ Rã (huyện Ba Bể) một số hộ dân tự ý san ủi đất để làm nhà, làm bãi. 10 hộ dân ở xã Dương Phong, Đôn Phong, Quang Thuận tự ý xây dựng nhà trên đất lâm trường quản lý, hay Lâm trường Bạch Thông cho các hộ gia đình công nhân của lâm trường mượn 2.000 m2 đất để làm nhà ở từ năm 1990, hiện tại các hộ gia đình này đã xây dựng nhà ở kiên cố.
Một số lâm trường còn sử dụng đất lâm nghiệp không hiệu quả như lâm trường Ngân Sơn năm 2008, được phê duyệt dự án trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 7.500 ha, nhưng đến nay mới trồng được 2.600 ha, đạt trên 35%, còn gần 5.000 ha trồng rừng theo quy hoạch chưa thực hiện được. Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn còn 476,71 ha đất trồng rừng theo các dự án không hiệu quả nhưng đơn vị chưa chủ động phối hợp với chính quyền địa phương khoanh định ranh giới, bàn giao mốc giới khu vực đất đã được giao để quản lý.
Tại lâm trường Ngân Sơn, trên địa bàn 4 xã Bằng Vân, Đức Vân, Vân Tùng và thị trấn Nà Phặc có 3.000 ha đất bị cấp trùng sổ đỏ. Lâm trường và 318 hộ dân cùng là chủ sở hữu diện tích đất. Đến nay, rừng được khai thác thì Công ty Lâm nghiệp và Lâm trường Ngân Sơn đòi chia tài sản và thu hồi đất đã gây bức xúc cho người dân. Các hộ dân trên đã trồng rừng từ năm 1997 - 1998 kể từ sau khi có Quyết định của UBND huyện Ngân Sơn giao đất để trồng rừng trên những diện tích là đất trống, đồi núi trọc. Và khi dân trồng cây lâm trường không có ý kiến gì, nay người dân bất bình với quyết định của công ty lâm nghiệp thì công ty cũng không có câu trả lời thỏa đáng.
Ông Trần Đình Cầu, Phó Chủ tịch UBND xã Đức Vân, cho biết: Việc quy hoạch, sử dụng đất của lâm trường Ngân Sơn có nhiều vấn đề. Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn chưa một lần đến UBND xã Đức Vân để bàn bạc, tổ chức lập phương án quy hoạch sử dụng đất; công ty tự lập phương án quy hoạch sử dụng đất không qua xã, không thực hiện theo nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh Bắc Kạn.
Tương tự, UBND thị xã Bắc Kạn cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa bàn xã Dương Quang với diện tích 105 ha cho 48 hộ dân trùng vào đất quốc doanh của Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn quản lý. UBND huyện Ba Bể cấp trùng cho các hộ dân gần 116 ha (tại các xã Chu Hương, Yến Dương, Mỹ Phương). UBND huyện Bạch Thông cấp trùng 200 ha đất của Lâm trường huyện cho các hộ dân tại xã Cẩm Giàng... Lý do cấp trùng sổ đỏ được các huyện lý giải là đất “không có chủ”, người dân đã trồng cây ăn quả, trồng rừng và sử dụng vào mục đích sản xuất, làm nhà đã lâu năm nhưng không có sổ đỏ nên huyện đã làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho dân.
Trước tình trạng cấp trùng sổ đỏ như trên, UBND huyện Ngân Sơn đã ra hàng loạt các quyết định thu hồi, hủy bỏ các quyết định, Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân nói trên, vì theo lý giải của lâm trường Ngân Sơn thì số sổ đỏ này được cấp sau so với sổ đỏ của lâm trường. Còn UBND tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo cơ quan chức năng rà soát toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đang có sự trùng chéo, tranh chấp giữa dân và các doanh nghiệp.
Qua rà soát, Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn đang tiến hành lập thủ tục trả lại địa phương trên 2.200 ha đất cấp trùng gồm 228 ha đất quốc doanh của Lâm trường Ba Bể tại các xã Bành Trạch, Thượng Giáo và thị trấn Chợ Rã; 615 ha của Lâm trường Bạch Thông trên địa bàn các xã Nông Thương, Xuất Hóa (thị xã Bắc Kạn), Đôn Phong, Dương Phong, Quang Thuận, Nguyên Phúc (Bạch Thông) và trên 1.500 ha đất của Lâm trường Ngân Sơn trên địa bàn các xã Bằng Vân, Đức Vân, thị trấn Nà Phặc.
Để quản lý, khai thác và sử dụng đất hiệu quả, các địa phương và người dân đã đề nghị được trao lại quyền sử dụng đất số diện tích dân đã sử dụng để làm sổ đỏ hợp pháp cho dân. Ngoài ra, một số diện tích đất thuộc sự quản lý của lâm trường, nhưng lâm trường chưa tiến hành trồng rừng thì nên giao trực tiếp cho dân trồng rừng để ổn định cuộc sống, chăm sóc và bảo vệ rừng bền vững. (Tài Nguyên&Môi Trường 14/8)đầu trang(
Vùng biên rộng lớn thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vào những năm thập niên 80-90 là nơi thường xảy ra nhiều hoạt động phạm pháp như: phá rừng, gây án. Chính quyền địa phương phải vận động người dân lên bám đất, sản xuất bảo vệ vùng biên. Tuy nhiên, hiện nay, đất do người dân khai hoang và sinh sống ổn định hàng chục năm bỗng bị thu hồi với lý do lấn chiếm sai quy định.
Ngày 10/4/2012, ông Lê Thiện Hồ- Phó Chủ tịch UBND huyện Tân Biên- ký Công văn số 106/UBND-PNN, có đoạn: “Theo báo cáo thống kê của Ban Quản lý khu rừng văn hóa lịch sử Chàng Riệc (BQL RVHCR) đã phát sinh 15 hộ bao chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp và trồng cây không đúng mục đích diện tích 70,4 ha”. Lập tức, Sở NN&PTNT tỉnh ban hành Thông báo số 29/TB-BCĐ ngày 5/6/2012 yêu cầu UBND huyện Tân Biên xử lý. Như chỉ chờ bấy nhiêu, ông Hoàng Sơn- Giám đốc BQL rừng Chàng Riệc- vận động thực hiện ngay kế hoạch thu hồi đất.
Qua xác minh, chứng cứ văn bản, quyết định ban hành… thời điểm từ năm 1987 đến năm 2013 (trên 25 năm) cho thấy rõ ràng nguồn gốc 70,4 ha đất là do người dân đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để khai hoang từ những công sự, bãi mìn nguy hiểm. Và hơn hết, vùng đất này hoàn toàn không dính dấp gì với Dự án khu văn hóa rừng Chàng Riệc.
Trước đó, tại hội nghị triển khai thực hiện Công văn số 298 ngày 28/4/2000 của Ban Biên giới Chính phủ, phúc đáp Công văn số 106/UBND-PNN của UBND huyện Tân Biên, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT trong Công văn số 36/BCĐ, ngày 17/7/2012, nhắc lại Thông báo kết luận số 13/TB-UBND ngày 20/6/2000 của ông Nguyễn Đức Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh có nội dung: “Đối với diện tích đất ta thu hồi trước đây, các xã nắm lại và báo cáo với UBND huyện, tỉnh để giao cho dân, cho bộ đội, dân quân sản xuất cho hết đất. Còn việc trồng cây lâu năm hay không thì phải vận động nhân dân trồng theo quy hoạch của tỉnh, huyện”.
Như vậy, tại thời điểm năm 2000 UBND tỉnh khẳng định diện tích 70,4 ha đất này không thuộc đất của lâm trường quản lý và tỉnh cũng chưa có kế hoạch, quy hoạch làm dự án gì. Đồng thời, lúc này tỉnh chỉ đạo xác định thực trạng quản lí, sử dụng đất của các hộ dân, trong đó có 15 hộ dân trên (có 5 hộ thuộc gia đình anh Trần Văn Thanh sử dụng từ năm 1987, các hộ còn lại sử dụng năm 1992) để giao đất theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai. Thế nhưng Công văn số 106/UBND-PNN ngày 10/4/2012 lại kết luận: “15 hộ dân sử dụng diện tích 70,4 ha là không được Nhà nước giao đất, tự ý bao chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích” là không có cơ sở.
Liên quan đến đất của các hộ dân này, tại biên bản “Họp về việc báo cáo của Đoàn kiểm tra nguồn gốc đất tại Khu Kinh tế Cửa khẩu Xa Mát” ngày 27/11/2008, ông Nguyễn Văn Huyền- Chủ tịch UBND xã Tân Lập- nêu ý kiến: “Không bồi thường về đất cho dân là không thỏa đáng”. Ông Phan Tiến Sinh, cán bộ Sở TN&MT nhắc nhở: “Nghị định 42/HĐBT, Nghị định 34/2000/NĐ-CP không có quy định về việc người dân không được sử dụng đất trong vành đai biên giới và không được cấp GCN QSDĐ và khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường… Cần áp dụng Nghị định 84/2004NĐ-CP, NĐ 181/2004/NĐ-CP, NĐ 197, NĐ 17”.
Tại Giấy xác nhận ngày 15/12/2008 của ông Lê Huy Nhiều (ngụ xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh)- người đã sinh sống tại địa phương và tham gia công tác lãnh đạo (Chủ tịch UBND xã Tân Lập năm 1995-2000) xác nhận khu vực biên giới từ km 39 lên cửa khẩu, hai bên quốc lộ 22b và dọc biên giới thuộc địa bàn xã Tân Lập quản lý hầu hết là đất hoang hóa có nhiều bãi mìn, công sự… nhất là nạn trộm cướp hoành hành nên người dân không dám đến đó sản xuất.
Năm 1987, sau khi rà phá bom mìn, khai hoang, người dân đã trồng tỉa cải thiện kinh tế, giữ đất từ đó cho đến hôm nay. Ông Nhiều còn đề nghị xem xét giải quyết thỏa đáng cho dân. Ngày 24/12/2008, ông Nguyễn Văn Huyền (Chủ tịch UBND xã Tân Lập) cũng xác nhận sự thật này…
Để xác thực vấn đề, PV đã được UBND huyện sắp xếp lịch làm việc nhưng sau đó lại viện lý do “họp đột xuất” nên không thể làm việc. Sau đó, PV liên hệ trực tiếp, xin được sắp xếp lịch nhưng sau nhiều tuần lễ trôi qua, UBND huyện vẫn im lặng không hề phản hồi. Trong khi đó, một cán bộ UBND huyện (xin được giấu tên) đã khẳng định diện tích đất của các hộ trên không thuộc đất quy hoạch khu Văn hóa rừng Chàng Riệc. (Nhà Báo&Công Luận 15/8)đầu trang(
Rừng đặc dụng nằm trên địa bàn xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bung) đã và đang bị lâm tặc ngày đêm chặt hạ gỗ nghiến (nhóm 2a).
Không chỉ bị chặt hạ không thương tiếc, những cây nghiến cổ thụ nơi rừng già Khu Bảo tồn Tát Kẻ – Bản Bung còn bị lâm tặc “làm xiếc” với các thân gỗ nghiến, khiến những cây gỗ quý này trong cảnh sống dở, chết dở. Vì mấy năm gần đây, mốt chơi bìu gỗ nghiến phát triển, bán được giá cao nên có nhóm lâm tặc chỉ đi rừng săn bìu nghiến. Chúng chỉ nhằm khai thác cái bìu nên gặp một cây nghiến to chúng dùng cưa lốc lách vào xẻ phần bìu cho đỡ tốn sức và đỡ lãng phí tiền xăng cưa máy.
Ông Nguyễn Tiến Long, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm rừng đặc dụng Na Hang, cho biết: “Chúng tôi đã làm rất quyết liệt, hết sức mình, nhưng chỉ lực lượng kiểm lâm thì rất khó bảo vệ rừng, mà rất cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các ngành, cả xã, thôn nữa, mới có thể dẹp bỏ nạn phá rừng”. (Nông Nghiệp Việt Nam 15/8)đầu trang(
Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án hủy hoại rừng phòng hộ xảy ra ở tiểu khu 105 trên địa bàn xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh thuộc lâm phận của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trầm Hương, Công an huyện Khánh Vĩnh đang khẩn trương phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ tổ chức điều tra làm rõ vụ việc.
Qua khám nghiệm hiện trường ngày 5/8, cơ quan công an bước đầu xác định toàn bộ diện tích 25,3 ha rừng thuộc khoảnh 1 và khoảnh 3, tiểu khu 105 được xác định là rừng phòng hộ đầu nguồn đã bị phá trắng. Trong số đó có 17,9 ha ở khoảnh 1 là rừng giàu thuộc trạng thái IIIA và 7,4 ha rừng non tái sinh ở khoảnh 3 thuộc trạng thái IIB. Tổng khối lượng lâm sản bị triệt hạ ước tính hàng ngàn mét khối.
Thiếu tá Trịnh Ngọc Tường - Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, chức vụ và môi trường, Công an huyện Khánh Vĩnh cho biết: “Qua khám nghiệm hiện trường bước đầu xác định 2 khoảnh này là hai khu vực rừng khác nhau, về mặt thời gian chặt phá cũng hoàn toàn khác nhau. Bước đầu tổ công tác nhận định có 2 đối tượng hoặc 2 nhóm đối tượng gây án”.
Ông Nguyễn Văn Lực - Trưởng phòng Kỹ thuật và Quản lý bảo vệ rừng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trầm Hương phản ánh: “Ngoài các giải pháp khắc phục của công ty, công ty cũng kiến nghị là đề nghị các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra làm rõ vụ việc phá rừng này. Công ty cũng cần phải có trạm quản lý bảo vệ rừng đóng chốt trên này lâu dài, nên đề nghị UBND tỉnh xem xét cấp kinh phí để xây dựng một trạm quản lý bảo vệ rừng trên này”.
Thiếu tá Trịnh Ngọc Tường - Đội trưởng đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, chức vụ và môi trường, Công an huyện Khánh Vĩnh cho biết thêm: “Chúng tôi đã cử một tổ trinh sát xác minh nắm tình hình đồng thời phát động phong trào toàn dâm bảo vệ an ninh Tổ quốc. Ban đầu nhận định có khả năng đối tượng tại huyện M’Đrắc đốt phá rừng lấy đất làm rẫy trái phép. Trong thời gian tới chúng tôi sẽ tập trung tiến hành các biện pháp điều tra để sớm làm rõ vụ việc”. (Đài PT - TH Khánh Hòa 15/8)đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm được giao tổng diện tích tự nhiên 8.891,28ha, trong đó diện tích đất sản xuất lâm nghiệp 7.425,18ha, diện tích đất có rừng 7.333,48 ha, diện tích đất chưa có rừng 118,70ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.188,50 ha, diện tích đất khác 250,60 ha.
Tuy nhiên, rừng của Công ty được giao ngày càng suy giảm về diện tích và chất lượng rừng. Nguyên nhân trực tiếp là do diện tích đất rừng bị dân phá, xâm canh trái phép lên tới 458,28 ha (trong nhiều năm trước).
Tại Chỉ thị 1685/2011 của Thủ tướng, yêu cầu của các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện nghiêm túc một số việc trọng tâm, cấp bách. Kiểm tra diện tích rừng hiện có, trong đó tập trung chủ yếu vào diện tích rừng tự nhiên, giao trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng cho chính quyền cấp huyện, cấp xã và chủ rừng. Huy động các lực lượng Công an, Quân đội phối hợp với Kiểm lâm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn tình trạng phá rừng lấy gỗ, lâm sản và đất sản xuất trái phép.
Xử lý nghiêm minh những vi phạm theo pháp luật về bảo và phát triển rừng, tập trung thống kê, điều tra, triệt phá những “đầu nậu”, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái pháp luật; rà soát xử lý dứt điểm các vụ án tồn đọng gắn với tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương để giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Ngày 16/3/2012, Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk ra Chỉ thị 03 nêu rõ, đối với UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND Tỉnh yêu cầu thành lập đoàn kiểm tra, xử lý phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn, tiến hành xây dựng kế hoạch phục hồi lại rừng hoặc các loại cây trồng khác theo đúng các mục tiêu các dự án đã được các cơ quan có thẩm quyền cho phép; xây dựng phương án phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng chức năng và chủ rừng trên địa bàn để ngăn chặn và xử lý kịp thời, kiên quyết mọi hành vi phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép.
Chỉ thị cũng yêu cầu Sở NN&PTNT tổ chức triển khai xây dựng dự toán kinh phí và kế hoạch kiểm kê, rà soát diện tích rừng hiện có trên sổ sách, bản đồ và thực địa, để làm cơ sở giao trách nhiệm quản lý rừng cho các cấp chính quyền, nhất là cấp xã và chủ rừng.
Giao Sở TN&MT hướng dẫn Phòng TN&MT cấp huyện chủ động tăng cường công tác tham mưu, quản lý và xử lý các hành vi xâm chiếm, sử dụng đất rừng trái pháp luật, chấm dứt tình trạng “hợp thức hóa” quyền sử dụng đất do phá rừng trái pháp luật. Công an tỉnh thống kê, tăng cường lực lượng trinh sát lập chuyên án điều tra, triệt phá, khởi tố những phần tử “đầu nậu” bảo kê, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái phép; điều tra, phát hiện và xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân lợi dụng chủ trương thực hiện các dự án cải tạo, chuyển đổi rừng nghèo để trục lợi, mua bán sang nhượng dự án, đất đai trái quy định.
Ngày 3/7/2012, UBND huyện Cư M’gar ra Quyết định số 491 về việc thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành thực hiện Chỉ thị 1685/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Trong khi Chỉ thị 1685 và Chỉ thị 03 đều nêu rõ việc xử lý và giao cho các cơ quan chức năng cụ thể để triển khai, nhưng tại Quyết định 491 của UBND huyện Cư M’gar không nói rõ các cơ quan chức năng là ai? Phối hợp như thê nào với các chủ rừng để thực hiện Chỉ thị đó nên việc phối kết hợp không đồng bộ dẫn đến “cha chung không ai khóc” làm khó cho doanh nghiệp đóng trên địa bàn Huyện quản lý.
Trong công tác điều tra, thống kê phân loại đầu nậu phá rừng, khai thác, mua bán vận chuyển gỗ, mua bán sang nhượng đất rừng trái phép chưa được các cơ quan chức năng của Huyện chú trọng xử lý, giải quyết triệt để, nhất là xử lý các đối tượng “lâm tặc”, “đầu nậu” lấn chiếm đất rừng trái phép, nên Công ty đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc triển khai Chỉ thị của cấp trên. (Bảo Vệ Pháp Luật 13/8)đầu trang(
Vụ tranh chấp tài sản trên đất giữa Công ty Trúc Vinh (thôn Sơn Trà, xã Trúc Lâm, huyện Tĩnh Gia) với BQL Rừng phòng hộ Tĩnh Gia (gọi tắt là Lâm trường) từ năm 2008 trở lại đây đã qua hai cấp xét xử.
Tại phiên tòa sơ thẩm (Bản án số 14/2012), TAND huyện Tỉnh Gia đã tuyên Lâm trường Tĩnh Gia thắng kiện vì cho rằng: Công ty Trúc Vinh không đảm bảo chứng lý đã được giao Tiểu khu 671… Lâm trường Tĩnh Gia cho rằng, Công ty Trúc Vinh được nhận Tiểu khu 668 theo Hợp đồng số 20/1997 chứ không phải Tiểu khu 671. Tuy nhiên, phiên toà phúc thẩm đã đình chỉ vụ kiện vì cả hai bên đều thiếu chứng cứ thuyết phục.
Theo phản ánh, trước việc hàng ngàn ha rừng trên toàn quốc trở thành đất trống, đồi núi trọc nên Chính phủ đã xây dựng Dự án 327, 661… giao đất và cấp kinh phí cho nhân dân trồng rừng trên cơ sở nhận khoán lại đất của các lâm trường, lâm nghiệp nói chung. Riêng ở huyện Tĩnh Gia, vào những năm 1976-1980, đã tổ chức trồng cây thông do huy động từ nhiều nguồn lực, trong đó có việc đóng góp hàng ngày ngày công của học sinh cấp 2, 3 trồng cây thông tại Tiểu khu 668 và nhiều tiểu khu khác. Thời gian đầu, cây trồng tại các khu vực rừng núi trong Huyện phát triển nhanh nhưng không thể tồn tại bởi nhu cầu củi đốt của nhân dân. Trước nguy cơ hết rừng, các địa phương có đồi núi trọc và kể cả rừng có cây đã khẩn trương giao đất, giao rừng cho các hộ quản lý.
Theo đó, UBND Tỉnh đã có Quyết định 3443/2005 ban hành Quy định tạm thời mức hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp theo Quyết định 178/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với Công ty Trúc Vinh, ngoài Tiểu khu 671 thuộc xã Hải Yến và Tĩnh Hải được giao khai thác nhựa 7.750 cây vào năm 1997 và một số diện tích trồng thêm đã được khai thác, Công ty còn nhận Tiểu khu 668, tại xã Trúc Lâm được thể hiện tại hợp đồng số 20/1997 với diện tích 19,9 ha, thời gian 20 năm. Quyền lợi của Công ty là được khai thác nhựa thông đối với cây đảm bảo kỹ thuật, được trồng mới và làm kinh tế khác…
Đáng nói, Tiểu khu 671, 668 sau 10 năm đã thành rừng cây tương đối đảm bảo mật độ theo quy định mỹ thuật. “Miếng bánh” này lại càng hấp dẫn hơn bởi nơi đây được nhận hàng tỷ đồng do bồi thường GPMB để xây dựng Khu kinh tế Nghi Sơn.
Ông Nguyễn Bá Trung – Giám đốc Công ty Trúc Vinh cho biết, phía Lâm trường Tĩnh Gia đã dùng Hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng số 20/1997 ký với Công ty Trúc Vinh tại Tiểu khu 668 để bác bỏ quyền hưởng lợi của Công ty tai tiểu khu 671. Theo đó, TAND huyện Tĩnh Gia không chấp nhận chứng cứ của Công ty đưa ra vì Hợp đồng số 20/1997 tại Tiểu khu 668 do Lâm trường thực hiện với Công ty.
Nhưng Lâm trường chưa trình được số liệu như: Từ năm 1990-2008, Lâm trường đã đầu tư như thế nào để có rừng? Vì sao từ trên 12 ngàn cây (trồng từ năm 1979-1980 Lâm trường bao cáo bằng miệng) đến khi bàn giao cho ông Trung chỉ có 7.750 cây thông tại Tiểu khu 671? Kinh phí mua cây giống, chăm sóc, thuốc trừ sâu bệnh hàng năm, tiền bảo vệ trên từng lô thửa đất do BQL rừng phòng hộ đã đầu tư gần 20 năm qua được thể hiện tại hồ sơ kế toán nào?
Ngày 17- 18/5 vừa qua, khi công nhân của Công ty Trúc Vinh đang khai thác nhựa thông thì bị Công an huyện Tĩnh Gia bắt giữa vì “Giám đốc Lâm trường báo có người ăn cắp nhựa thông của Nhà nước”. Vụ bắt giữa này đã xảy ra được gần 3 tháng nhưng không được Viện KSND Huyện phê cuẩn vì chứng cứ tranh chấp mà Lâm trường đưa ra “Tiểu khu 668 đa giao cho Công ty Trúc Vinh” theo Hợp đồng số 20/1997…(Bảo Vệ Pháp Luật 16/8)đầu trang(
15-8, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã xét xử phúc thẩm vụ án đốn hạ ba cây sưa ở rừng Hung Trí (Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng) vào tháng 4-2012.
Theo mức án tòa phúc thẩm đã tuyên, 10/12 bị cáo được giảm án so với mức án sơ thẩm mà toà án nhân dân huyện Bố Trạch đã tuyên. Theo đó, các bị cáo Hoàng Hạnh từ 30 tháng tù giam và Lê Khánh từ 27 tháng tù giam giảm còn 12 tháng tù giam. Các bị cáo Lê Văn Tiến, Nguyễn Thế Anh, Trương Văn Tịnh, Phạm Văn Thắng, Thái Xuân Tiềm từ 27 tháng tù giam nay chỉ chịu mức án 27 tháng tù treo. Các bị cáo Lê Văn Diễn, Nguyễn Sĩ Sáu, Nguyễn Văn Thống từ 24 tháng tù giam còn 24 tháng tù treo.
Các bị cáo được giảm án do có nhiều tình tiết giảm nhẹ như có thân nhân tốt, mới phạm tội lần đầu, một số người đã có hành động cứu người và tài sản trong bão lũ...
Tòa chỉ giữ nguyên mức án sơ thẩm đối với hai bị cáo Nguyễn Văn Minh (30 tháng tù giam) và Hoàng Văn Thạnh (27 tháng tù giam).
Ngoài ra, tòa phúc thẩm cũng tuyên bỏ điểm buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại và bổ sung công quỹ nhà nước số tiền 57 tỉ đồng mà tòa sơ thẩm đã tuyên, với lý do chưa làm rõ được thiệt hại trong vụ đốn hạ ba cây sưa cụ thể là bao nhiêu, chỉ tuyên buộc mỗi bị cáo phải bồi thường cho nhà nước số tiền hơn 4 triệu đồng.
Theo cáo trạng, ngày 20-3-2012, 11 người (Hạnh, Minh, Tiến, Anh, Tịnh, Thạnh, Khánh, Diễn, Tiềm, Thắng, Thống) vào khu vực rừng Hung Trí thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tìm gỗ sưa. Nhóm này đã tìm thấy và đốn hạ ba cây gỗ sưa, giá trên thị trường vào thời điểm đó tới hàng chục tỉ đồng; sau đó cưa xẻ thành 102 hộp gỗ có tổng trọng lượng 5.100kg và 2.000kg cành ngọn.
Trong vụ án này, tuy không trực tiếp đốn hạ ba cây sưa, nhưng bị cáo Nguyễn Sĩ Sáu là người được nhóm 11 lâm tặc trên thuê cưa xẻ ba cây sưa thành gỗ hộp. (Tuổi Trẻ 16/8)đầu trang(
15.8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp cho biết để đảm bảo cá dữ không sổng chuồng thoát ra sông rạch trong khi nước lũ năm 2013 có khả năng lên cao, Chi cục sẽ kiểm tra đột xuất các cơ sở nuôi động vật hoang dã trong tỉnh, đặc biệt với các hộ nuôi cá sấu.
Theo đó, cơ quan chưc năng sẽ nhắc nhở các hộ dân kiểm tra quản lý tốt chuồng nuôi, có kế hoạch dự phòng di dời sấu khi lũ lên nhanh bất thường.
Theo thống kê, hiện toàn tỉnh có khoảng 289 cơ sở nuôi cá sấu, với tổng đàn hiện có khoảng 57.477 con nhiều kích cỡ khác nhau.
Trong năm 2011, nước lũ lên nhanh gây ngập nhiều nơi ở các huyện Tân Hồng, thị xã Hồng Ngự, ngập các chuồng nuôi sấu khiến các hộ nuôi cá sấu lúng túng do không biết dời cá sấu đi đâu. Nhiều chủ nuôi cá sấu phải đưa sấu lên ghe, tàu hay nhốt trong chuồng heo ở tạm chờ lũ rút. (Thanh Niên 16/8)đầu trang(
Nạn khai thác gỗ quý pơ mu của người dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tại rừng Quốc gia Hoàng Liên Sơn thuộc địa phận huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã kéo dài nhiều năm nhưng chính quyền và các đơn vị chức năng đành bất lực.
Mặc dù Hạt kiểm lâm huyện Than Uyên cũng đã kiểm tra, xử lý nhiều trường hợp đang vận chuyển gỗ trái phép, song những đối tượng này vẫn tiếp tục hoạt động. Những cây gỗ pơ mu nhiều năm tuổi ở rừng Hoàng Liên sẽ ra sao nếu nạn khai thác gỗ lậu ở đây diễn ra và kéo dài mà chính quyền vẫn chưa vào cuộc.
Các đối tượng khai thác gỗ lậu, viện cớ là dân bản, do nghèo không có cái ăn nên đi mua gỗ của những người khai thác ở rừng ra rồi chở về bán cho các lò mộc trong vùng, kiếm mỗi tấm 100.000 đồng. Mùa khô, gỗ chuyển ra nhiều lắm, nhộn nhịp như chợ. Chỉ xuống mấy thanh gỗ, tôi hỏi: Đây là gỗ khai thác từ rừng ra à, bao nhiêu tiền một tấm? Người thanh niên trả lời: Gỗ pơ mu này khai thác từ rừng thuộc địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, chở về tới lò mộc bán 800.000 đồng một tấm dài 1m7, rộng 40cm và dày 10cm.
Ông Sùng A Chua, nguyên cán bộ bản Hố Than cho biết: Tôi làm trưởng bản đã 17 năm, nhưng cũng ngần ấy năm tôi chứng kiến nạn khai thác gỗ ở đây diễn ra một cách công khai như thách thức dư luận, vậy mà không cơ quan chức năng nào vào cuộc. Mỗi lần UBND xã Mường Than họp hay có đoàn tiếp xúc cử tri, dân bản đều có ý kiến các ban, ngành cần vào cuộc để chấm dứt nạn khai thác gỗ nhưng những kiến nghị đều bị bỏ “ngoài tai”.
Do nạn khai thác gỗ và vận chuyển trắng trợn nên đường qua bản tuy mới làm đã hư hỏng. Cây thảo quả của đồng bào trồng trên nương cũng bị mất cắp, gãy đổ, mất mùa, tài nguyên rừng bị tàn phá… Ông Sùng A Chua cho biết: Lâm tặc khai thác và vận chuyển gỗ tạo một đường mòn, mỗi ngày vận chuyển hàng trăm thanh gỗ qua bản, có những tấm to họ phải dùng cả ô tô vào chuyên chở, nhìn mà xót. Trong lúc chúng tôi trò chuyện cùng ông Chua, các đối tượng vẫn ngang nhiên vận chuyển gỗ bằng xe máy qua nhà.
Chiều 21/7, ông Lường Văn Pầng - Bí thư Đảng ủy xã Mường Than cho biết: Nhiều lần cán bộ xã phối hợp với kiểm lâm, công an đi kiểm tra nhưng chỉ dẹp yên được một thời gian, xong đâu lại vào đấy. Người Mông ở bản dưới chân núi kêu ca nhiều nhưng chúng tôi đành bất lực...
Theo lời ông Pầng, muốn giải quyết dứt điểm vấn đề này, các cấp, các ngành cần sớm vào cuộc một cách quyết liệt nhằm tuyên truyền để người dân hiểu không đi phá rừng. Đồng thời, lực lượng kiểm lâm phải nhanh chóng tiến hành kiểm tra, lập chốt ngăn chặn và xử lý nghiêm những đối tượng buôn bán, khai thác và vận chuyển gỗ lậu. Ông Pầng cũng cho rằng, để xử lý vấn đề này không phải một sớm một chiều.
Ông Vũ Xuân Bằng - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Than Uyên khẳng định: Một số hộ nghèo không có tiền nên đi rừng khai thác gỗ về bán kiếm miếng ăn. Kiểm lâm huyện cũng đã kiểm tra và xử lý nhiều lần, nhưng do lực lượng mỏng, không làm triệt để nên nạn khai thác gỗ vẫn diễn”.
Từ năm 2011, lãnh đạo huyện Văn Bàn (Lào Cai) và huyện Than Uyên (Lai Châu) cùng cán bộ vườn Quốc gia Hoàng Liên đã gặp và ký kết không chặt phá rừng Hoàng Liên, đặc biệt là trên địa bàn xã Mường Than để tuyên truyền cho người dân nhưng nạn khai thác gỗ lậu vẫn không giảm. Chỉ tính riêng trên địa bàn xã Mường Cang có đến 6 - 7 lò mộc, cho thấy nhu cầu mua gỗ pơ mu rất lớn. Để bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ người dân trước mùa mưa lũ, các cấp các ngành huyện Than Uyên cần nhanh chóng vào cuộc, quyết liệt giải quyết để chấm dứt nạn khai thác gỗ lậu bảo vệ rừng Quốc gia Hoàng Liên… (Tin Tức 15/8)đầu trang(
Mở tờ khai xuất khẩu hàng hóa là thạch dừa hỗn hợp ép khô nhưng khi hải quan kiểm tra thực tế thì toàn bộ lô hàng là 169 hộp gỗ pơmu xẻ thuộc mặt hàng cấm xuất khẩu, Giám đốc doanh nghiệp là Nguyễn Thanh Tâm bỏ trốn, toàn bộ vụ việc đang được Công an TPHCM điều tra làm rõ.
Nguyễn Thanh Tâm (25 tuổi, quê quán Phú Yên), Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Nhất Tâm, trụ sở đặt tại khu phố Thắng Lợi, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, Bình Dương. (Công An TPHCM 16/8)đầu trang(
14-8, Đội phòng chống tội phạm ma túy Đồn biên phòng cửa khẩu Tà Vát vừa bắt giữ 2 đối tượng vận chuyển gỗ lậu giao cho kiểm lâm huyện Lộc Ninh xử lý.
Các trinh sát đội Đội phòng chống tội phạm ma túy Đồn biên phòng cửa khẩu Tà Vát phát hiện 4 đối tượng “lâm tặc” đang lén lút vận chuyển 7 lóng gỗ tròn qua chốt bảo vệ đường biên Đồn biên phòng cửa khẩu Tà Vát. Ngay lập tức, đồn triển khai lực lượng, truy bắt các đối tượng này. Sau 1 hồi truy bắt quyết liệt, đội phòng chống ma túy đã bắt giữ 2 đối tượng , 2 đối tượng đã trốn thoát.
Tang vật thu được là 4 xe máy tự chế và 1,083m3 gỗ tròn. Các đối tượng bị bắt giữ khai nhận là Giáp Văn Nhượng, SN 1967 thường trú tại tổ 2, ấp Cần Lê, xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh và Văn Đức Phương thường trú tại ấp Thanh Tuấn, xã Thanh Lương, TX. Bình Long. Còn 2 đối tượng trốn thoát, 1 người tên Tình còn lại 1 đối tượng không rõ họ tên và nơi cư trú. Các đối tượng đã khai nhận đây là số gỗ do các đối tượng chặt phá tại khoảnh 4 tiểu khu 216 thuộc rừng Khu di tích lịch sử Tà Thiết, huyện Lộc Ninh.
Hiện nay, các đối tượng và tang vật đã được bàn giao cho lực lượng kiểm lâm huyện Lộc ninh tiếp tục điều tra, xử lý. (Biên Phòng 16/8)đầu trang(
Chiều 15.8, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46), Công an tỉnh Quảng Nam cho biết, trong vòng 4 ngày, đơn vị bắt liên tiếp 3 vụ vận chuyển gỗ lậu.
14.8, tại xã Quế Thọ (H.Hiệp Đức), qua kiểm tra xe tải mang BKS 92K-1769 do Lê Vĩnh Hiền (41 tuổi, trú H.Quế Sơn, Quảng Nam) điều khiển, lực lượng PC46 phát hiện trên xe chở hơn 2,2 m3 gỗ xoan đào. Tiếp tục kiểm tra xe tải mang BKS 92C-008.53 do Lê Văn Bằng (26 tuổi, trú H.Quế Sơn), lực lượng chức năng phát hiện xe này cũng đang vận chuyển hơn 2,1 m3 gỗ xoan đào.
Tất cả số gỗ trên 2 xe tải đều không có dấu búa kiểm lâm, tài xế không xuất trình được các giấy tờ liên quan. Điều đáng nói, khi kiểm tra hai chiếc xe tải này, tất cả số gỗ lậu đều được “ngụy trang”, cất giấu bên dưới lớp gỗ keo, tràm.
Trước đó, 11.8, tại xã Đại Hồng (H.Đại Lộc), Công an tỉnh Quảng Nam phát hiện ô tô 16 chỗ mang BKS 43B-006.75 do Nguyễn Thái Hòa (trú khu 6, thị trấn Ái Nghĩa, H.Đại Lộc) vận chuyển trái phép hơn 1,2 m3 gỗ nghiến, chò. (Thanh Niên 16/8)đầu trang(
14-8, trong khi làm nhiệm vụ tại ngã ba sầu, phường Hải Hòa, TP Móng Cái, Đội kiểm soát hải quan số 1, Cục Hải quan Quảng Ninh phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh, phát hiện 1 vụ dùng xe mô tô vận chuyển trái phép 105kg tê tê.
Quá trình tuần tra, lực lượng chức năng phát hiện 3 đối tượng đi trên 3 xe máy, mỗi xe chở 1 bao tải hàng. Khi bị lực lượng chức năng truy đuổi, các đối tượng đã bỏ lại hàng hóa, điều khiển phương tiện chạy thoát. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong 3 bao dứa các đối tượng vứt lại có 14 con tê tê sống với tổng trọng lượng là 105kg. (Báo Quảng Ninh 14/8)đầu trang(

THẾ GIỚI
Những đợt nắng nóng sẽ kéo dài và thường xuyên hơn trong 30 năm tới là điều khó tránh khỏi, theo nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học Environmental Research Letters ngày 15-8.
Theo AFP, dù con người cố gắng hạn chế khí thải CO2 thì tình trạng nắng nóng vẫn không suy giảm mà có chiều hướng kéo dài và xuất hiện thường xuyên hơn từ nay cho đến năm 2040. “Đến năm 2040, tần suất xuất hiện nắng nóng sẽ tăng mạnh. Tuy nhiên, việc giảm khí thải độc hại chỉ có thể làm giảm số đợt nắng nóng đỉnh điểm” - nhà khoa học Dim Coumou thuộc Viện Nghiên cứu Potsdam (Đức) nhận định.
Nghiên cứu ghi rõ các khu vực nhiệt đới sẽ là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề từ những đợt hạn hán diễn ra trong tương lai. Vào năm 2020, những đợt nắng nóng sẽ gây thiệt hại gấp hai lần ở các khu vực, tương đương 10% diện tích lãnh thổ toàn cầu và sẽ là 20% vào năm 2040.
“Hạn hán kéo dài sẽ tác động nặng nề lên xã hội và hệ sinh thái gây tử vong do nắng nóng, cháy rừng, thiệt hại mùa màng” - ông Coumou nhấn mạnh. (Tuổi Trẻ 16/8)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa