|
Ngày 16 tháng 07 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Từ khi Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách quy định các đơn vị sử dụng nước, đặc biệt là các nhà máy thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Những người tham gia bảo vệ và phát triển rừng (các chủ rừng) có thêm nguồn thu nhập, nhờ đó góp phần vào công tác trồng và bảo vệ phát triển rừng ngày một tốt hơn.
Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF), năm 2012, cả nước đã thu được hơn 1.172,4 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Trong đó, Quỹ DVMTR Trung ương đã thu được 981,398 tỷ đồng từ các cơ sở sản xuất thủy điện và cung ứng nước sạch, vượt kế hoạch phê duyệt hơn 57 tỷ đồng.
Số tiền DVMTR thu được trên cả nước năm 2012 tương đương vốn đầu tư của ngân sách Trung ương cả năm dành cho ngành lâm nghiệp. Toàn bộ số tiền thu được từ DVMTR sẽ dùng để chi trả cho người dân tham gia bảo vệ và trồng rừng. Dự kiến, trong năm 2013, cả nước sẽ thành lập và đi vào vận hành 30 Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh, mức thu ước tính khoảng 925 tỷ đồng tiền DVMTR (trong đó Quỹ trung ương 716 tỷ đồng, quỹ tỉnh 209 tỷ đồng).
Kể từ khi triển khai chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng (2008-2013), tỉnh Sơn La đã tích cực triển khai việc giao khoán, quản lý bảo vệ rừng cho nhiều tổ chức, doanh nghiệp và hộ gia đình, nhằm phát triển quỹ rừng một cách hiệu quả, giúp người dân có điều kiện tăng thêm thu nhập, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng.
Sơn La đã áp dụng thí điểm cho 157 xã của 9 huyện, thành phố gồm: Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, TP Sơn La, Mai Sơn, Bắc Yên, Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La với tổng diện tích rừng được xác định là 422.000ha. Qua đó, tỉnh cũng xác định hai loại dịch vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng là dịch vụ điều tiết và cung ứng nguồn nước và dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ.
Để thực hiện hiệu quả chính sách Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng, tỉnh Sơn La luôn chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến nâng cao nhận thức về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng; tổ chức các hội nghị tập huấn, hội thảo; xây dựng và phát hành tờ rơi, pa-nô, biển báo khu vực chi trả; triển khai…
Tại các xã sẽ tiến hành xác định các chủ rừng, loại rừng được hưởng dịch vụ, sau khi được phê duyệt sẽ mở tài khoản, niêm yết công khai danh sách tại các thôn, bản và thông báo cho các chủ rừng. Sau mười ngày, nếu không có ý kiến phản hồi, xã sẽ tiến hành chi trả tiền dịch vụ dựa trên sổ giao đất, giao rừng của các chủ rừng.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lai Châu đã phối hợp cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam ký kết hợp đồng ủy thác với Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Sơn La. Trực tiếp ký kết hợp đồng với 4 nhà máy thủy điện có lưu vực trong tỉnh gồm: Thủy điện Nậm Lụng, Nậm Cát, Chu Va 12, Nậm Mở 3.
Đồng thời, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đẩy mạnh công tác xác định chủ rừng, tổ chức được giao quản lý rừng có diện tích được hưởng chính sách chi trả DVMTR trong lưu vực của từng nhà máy thủy điện phục vụ cho công tác chi trả tiền DVMTR. Diện tích được hưởng chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn toàn tỉnh thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Sơn La khoảng 437.000ha; đến nay, tổng số tiền đã chi trả cho các chủ rừng, tổ chức được giao quản lý rừng gần 140 tỷ đồng.
Tỉnh Lâm Đồng có hơn 336.702ha rừng được đưa vào giao khoán theo chương trình chi trả DVMTR thuộc các lưu vực Đa Nhim, Đại Ninh, Hàm Thuận, Đồng Nai và Serépok. Tại tỉnh Lâm Đồng có 16.131 hộ được hưởng lợi từ chính sách này, người dân trồng rừng rất phấn khởi khi họ có thêm nguồn thu từ việc trồng và bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng: Chính sách chi trả DVMTR là thành tựu nổi bật trong 4 thành tựu của ngành lâm nghiệp trong năm 2012. Chính sách này đã tạo ra nguồn lực lớn để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần cải thiện đời sống cho người dân, những người gắn bó với rừng.
Cùng quan điểm trên, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn nhìn nhận: DVMTR là chính sách mới góp phần giúp tăng thu nhập cho người trồng rừng, chúng ta là một trong những nước đầu tiên trên thế giới áp dụng chính sách mới này. Chính sách đúng đắn này tạo ra nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ và phát triển rừng. Người cung ứng dịch vụ là chủ rừng và người nhận khoán, cụ thể là người dân tham gia bảo vệ và trồng rừng được hưởng toàn bộ kinh phí này. Cho nên, tiền DVMTR có ý nghĩa rất lớn để bảo đảm kinh tế, an sinh xã hội cho người nghèo. Vì thế, tiền DVMTR không chỉ thành công ở trong nước mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, coi đây là bài học kinh nghiệm tốt để một số nước có thể nghiên cứu, học tập. (Quân Đội Nhân Dân 16/7)đầu trang(
Theo ông Hoàng Đức Doanh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 2 đối tượng phải thực hiện trả chi phí DVMTR là Công ty Cấp thoát nước và xây dựng Quảng Trị và 8 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đã và đang chuẩn bị đi vào hoạt động với tổng công suất khoảng 80 MW, trong đó Nhà máy thủy điện Rào Quán công suất lớn nhất (hơn 60 MW), còn các nhà máy khác là rất nhỏ.
Theo quy định chỉ những nhà máy thủy điện có công suất từ 30 MW trở lên mới thực hiện việc chi trả DVMTR. Như vậy, thực hiện NĐ99 CP, năm 2011 chỉ mới có Nhà máy thủy điện Rào Quán trả phí DVMTR, trên cơ sở lượng điện sản xuất được trong năm, với mức chi trả 20 đồng/kwh, đơn vị này đã chuyển cho quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh 5,8 tỷ đồng. Riêng Công ty Cấp thoát nước và xây dựng Quảng Trị theo quy định phí chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ phải thanh toán 40 đồng/mét khối nước thương phẩm.
Cũng theo ông Doanh, hiện nay số tiền phí thu từ DVMTR ở trong tỉnh vẫn đang nằm ở Quỹ BV và PTR mà chưa chi trả được cho các chủ rừng. Vì theo quy định, việc chi trả phải thực hiện theo nguyên tắc, lưu vực nào sinh ra nước cho nhà máy thì các chủ rừng ở đó mới được trả phí cung ứng dịch vụ, cụ thể các chủ rừng ở huyện Hướng Hóa sẽ được nhận tiền chi trả (chi ủy thác thông qua Quỹ BV và PTR) từ Nhà máy thủy điện Rào Quán.
Trong lưu vực có bao nhiêu chủ rừng thì phải chi trực tiếp cho bấy nhiêu chủ rừng đó. Vì vậy, Tổ kỹ thuật thực hiện NĐ 99 CP sẽ phải trực tiếp đi kiểm tra, đánh giá và xác định cụ thể diện tích, chất lượng rừng để chi trả một cách công bằng, đúng đối tượng, mà việc này cần phải có thời gian và kinh phí mới có thể triển khai được.
Dự kiến trong thời gian tới, với sự hỗ trợ của Trung ương, sự chỉ đạo của tỉnh, việc chi trả DVMTR sẽ được triển khai thực hiện, tạo động lực, cơ sở để quản lý tài nguyên rừng tốt hơn, đảm bảo cho người lao động lâm nghiệp có thu nhập cao hơn để tiếp tục duy trì hoạt động BV và PTR bền vững. (Báo Quảng Trị 15/7)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Cách trung tâm thành phố Bạc Liêu 7 km có một cánh rừng mang tên Vườn chim Bạc Liêu (thuộc phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu). Vườn có trên trăm năm tuổi, là cánh rừng ngập mặn nguyên sinh duy nhất giữa lòng thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long.
Ông Nguyễn Trung Chánh, Giám đốc Vườn chim, giới thiệu: “Vườn có diện tích gần 130 ha thì rừng chà là nguyên sinh đã chiếm đến 70%. Đó là khu rừng chà là nguyên sinh lớn nhất cả nước, không đâu có”.
Cùng với sự đa dạng sinh học gần như nguyên mẫu của rừng ngập mặn, bao gồm 150 loài động vật, 109 loại thực vật với hàng chục loài động thực vật thuộc Sách đỏ Việt Nam, Vườn chim Bạc Liêu mang một giá trị không thể đổi được bằng tiền. Thế nhưng mãi đến hôm nay, Vườn chim vẫn là nơi phục vụ miễn phí cho khách tham quan. Ông Chánh tâm sự: “Ở một khía cạnh nào đó, người ta vẫn nghĩ phải đầu tư “hoành tráng” thì thu tiền vé mới hợp lý, như nhiều nơi vẫn làm. Nhiều người chưa có cái nhìn sòng phẳng về giá trị của Vườn chim Bạc Liêu”.
Trăn trở của ông Chánh cũng như của gần 30 cán bộ Vườn chim Bạc Liêu không phải là số tiền lẽ ra thu được từ khoản bán vé mà là cái nhìn của xã hội với Vườn chim chưa công bằng. “Vì không thấy được giá trị thực của Vườn chim Bạc Liêu nên các mối xâm hại đối với vườn chim ngày càng gia tăng. Hiện chúng tôi đang gặp khó khăn lớn trong việc phòng chống trộm chim và xâm hại Vườn chim” - ông Chánh cho biết.
Theo ghi nhận của Viện Sinh học nhiệt đới, năm 2003, Vườn chim Bạc Liêu có khoảng 70.000 cá thể. Mười năm sau, cũng viện này về đo đếm lại thì chỉ còn khoảng 40.000-50.000 con chim các loài. Tức bình quân trong 10 năm qua, mỗi năm Vườn chim Bạc Liêu bị giảm đi 2.000 cá thể chim. Điều băn khoăn hơn cả là các tác nhân khiến đàn chim giảm sút ngày càng nhiều, bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh gây tiếng ồn quanh vườn chim, những kẻ trộm chim, các quán nhậu lấy chim cò làm đặc sản…
Đầu tháng 7, ông Chánh đã làm một báo cáo gửi Sở NN&PTNT tỉnh Bạc Liêu - đơn vị chủ quản để báo gấp về tình hình trộm chim. Ông cho biết: “Chỉ trong sáu tháng đầu năm đã có bảy vụ xâm phạm làm tổn hại Vườn chim và trộm chim. Đó là con số quá lớn so với những năm trước. Ngoài ra, các hoạt động dùng cơ giới nạo vét ao tôm của người dân trong khu vực vùng đệm cũng chưa có dấu hiệu dừng lại, quán nhậu có đặc sản chim cò ngày càng nhiều… báo động tình hình tổn hại Vườn chim sẽ ngày càng tăng”.
Tuy nhiên, điều khiến Ban Giám đốc Vườn chim Bạc Liêu lo lắng nhất lại là những kẻ trộm chim. Những cách thức bắt trộm chim như đặt bẫy, bắn bằng súng săn, móc ổ bắt chim non, soi đèn pin đập trực tiếp… sẽ khiến một số loài bỏ hẳn Vườn chim để tìm nơi cư ngụ mới. Để chống trộm, ông Chánh cho bố trí lực lượng trực đêm quanh năm nhưng nạn trộm chim gần như bất trị. Bởi sau khi bị bắt giao cho cơ quan chức năng, những kẻ trộm chim lại được thả và lại trở về với “nghề” trộm chim.
Đầu tháng 7, cán bộ vườn bắt được hai tên trộm cùng tang vật là 99 con chim non các loại. Điều oái oăm là dù họ đã dùng cây đánh lại làm rách mặt cán bộ vườn và làm thiệt hại 99 con chim nhưng cũng chỉ bị đưa ra kiểm điểm trước dân rồi… được tha. Trong khi đó 99 con chim là tang vật trong vụ trộm có thể bán ra thị trường được 3 triệu đồng, trên mức khởi tố hình sự.
“Rất nhiều vụ xâm hại đốn cây rừng, bắt chim nhưng khi chúng tôi giao cho cơ quan chức năng thì đều bị xử lý rất nhẹ, không khởi tố, dù có những vụ trộm đến mức xử lý hình sự. Điều chúng tôi băn khoăn là hiện vẫn chưa có quy định xử lý đặc thù khi người ta xâm hại vào khu vực vườn cũng như chính quyền địa phương chưa cương quyết trong việc xử lý những kẻ xâm hại vườn” - ông Chánh cho biết. (Pháp Luật TPHCM 16/7)đầu trang(
Theo Cục Kiểm lâm, ột số khu vực đã nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Các khu vực đang ở cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm, gồm Can Lộc, Nghi Xuân, Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Các khu vực ở cấp 4, cấp nguy hiểm, như Khánh Sơn, thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; khu vực Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ban chỉ đạo Trung ương phòng cháy, chữa cháy rừng yêu cầu các địa phương và chủ rừng thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Nhân Dân 16/7)đầu trang(
14-7, tại chân núi Thiên Ấn (thuộc thôn Ngọc Thạch, xã Tịnh An, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) xảy ra vụ cháy rừng.
Do gió lớn, lửa phát tán nhanh nhanh về hướng Tây – Bắc thuộc thôn Liên Hiệp 1, thị trấn Sơn Tịnh. Nhận được tin báo trên 60 cán bộ chiến sĩ Cảnh sát PCCC Công an tỉnh Quảng Ngãi và Công an huyện Sơn Tịnh đã kịp thời tổ chức chữa cháy.
Lực lượng Cảnh sát PCCC đã huy động 5 xe chữa cháy chuyên dụng liên tục phun nước vào đám cháy. Cho đến 15h, ngọn lửa đã bị khống chế và dập tắt. Hậu quả có khoảng 4 hec-ta rừng bạch đàn bị cháy rụi.
Được biết, núi Thiên Ấn được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Việc kịp thời ngăn chặn dập tắt lửa là rất cần thiết để không để ảnh hưởng đến chùa Thiên Ấn, mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng và nhiều cây gỗ cổ thụ trăm năm tuổi. (An Ninh Thủ Đô 15/7)đầu trang(
Huyện Tĩnh Gia có 17.014,4 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 14.297,4 ha rừng. Nhận thức được ý nghĩa to lớn của rừng đối với đời sống con người và môi trường, cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành chức năng, chủ rừng và người dân trên địa bàn huyện Tĩnh Gia đã chủ động thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Ngay từ đầu năm 2013, Hạt Kiểm lâm Tĩnh Gia đã tham mưu cho chính quyền các cấp trong huyện thành lập ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng quy chế hoạt động, phương án BVR, PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ) cho 22 xã trọng điểm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong ban chỉ đạo.
Ngoài lực lượng nòng cốt và các phương tiện phục vụ BVR, PCCCR ở cấp huyện, ở cấp xã và các chủ rừng đã thành lập 91 tổ, đội với 1.124 người tham gia PCCCR. Kiểm lâm viên địa bàn đã tham mưu cho chính quyền các cấp phối hợp với các đoàn thể bằng nhiều hình thức tuyên truyền như tổ chức hội nghị, phát tin trên hệ thống loa truyền thanh, tuyên truyền cơ động trên xe ô tô, băng zôn, biển báo, vv... phổ biến các quy định của Nhà nước về BVR, PCCCR. Đến nay, đã có hơn 3.000 hộ dân các xã có rừng cam kết thực hiện các quy định về BVR, PCCCR.
Ban Quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia là chủ rừng Nhà nước được giao quản lý, phát triển, bảo vệ 6.163,9 ha rừng, trong đó có 2.500 ha rừng thông thuần loài. Để bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có, hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ cháy rừng trong mùa nắng nóng, ban đã thành lập lực lượng BVR, PCCCR với 263 thành viên, bố trí thành 50 đội bảo vệ từng khu rừng; trong đó các đội chủ động triển khai các biện pháp BVR, PCCCR, nhất là làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân để mọi người, mọi nhà chủ động PCCCR.
Nhờ đó, từ đầu năm 2013 đến nay, ban đã vận động được 670 hộ dân sống ven rừng ký cam kết chấp hành các quy định về BVR, PCCCR. Ban Quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia đã tập trung phát thực bì tạo ra hơn 67,3 km đường băng trắng cản lửa và đường cơ động tuần tra, chữa cháy rừng tại các khu rừng thông thuần loài, khu vực trọng điểm dễ cháy…(Báo Thanh Hóa 15/7)đầu trang(
Thị xã Hồng Lĩnh có 1.837 ha đất lâm nghiệp chiếm khoảng 31% diện tích tự nhiên, chủ yếu là cây thông nhựa rất dễ cháy. Vì vậy, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng xẩy ra, nhất là trong thời điểm nhiệt độ trên 40 độ C, thị xã đã có nhiều giải pháp nhằm chủ động phòng, chống cháy rừng khi có sự cố xảy ra.
UBND thị xã Hồng Lĩnh đã chỉ đạo Hạt kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ phối hợp với các ngành chức năng làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân về công tác bảo vệ và PCCR, tổ chức ký cam kết với hơn 3.000 hộ dân và đoàn viên thanh niên cấm không được mang lửa vào rừng. Đồng thời, tổ chức lực lượng thường trực 24/24 giờ trong ngày để kịp thời phát hiện và dập tắt các điểm phát lửa để có phương án xử lý.
Bên cạnh đó, Thị xã đã chỉ đạo các phường, xã có rừng củng cố, kiện toàn lại Ban chỉ đạo, thành lập 8 tổ xung kích với hơn 200 thành viên, bố trí lực lượng trực, tuần tra canh gác tại các địa bàn trọng điểm. Thị xã đã huy động các chủ rừng và đoàn viên thanh niên trong toàn thị tu sửa gần 30 km và làm mới 3,5 km đường băng cản lửa, thu gom và xử lý 70 ha thực bì, tu sửa 9 biển tường và trang bị đầy đủ các dụng cụ phương tiện phòng cháy, chữa cháy với mục tiêu không để xẩy ra cháy rừng. (Honglinh.gov.vn 14/7)đầu trang(
Cách trung tâm T.P Sóc Trăng (hướng về tỉnh Bạc Liêu) khoảng 60 km có vườn cò Tân Long trải rộng trên diện tích 2ha, tọa lạc tại xã Long Bình (Ngã Năm – Sóc Trăng) của ông Huỳnh Văn Thỏ (Mười Thỏ) làm chủ gần 40 năm qua. Đây là điểm du lịch sinh thái thu hút rất nhiều du khách trong và nước đến tham quan chiêm ngưỡng.
Ông Mười kể: "Đất này do tôi khai phá, hồi chiến tranh bom đạn của Mỹ cày nát hết. Nhưng cả gia đình tui vẫn ở đây bám trụ làm lúa, còn một phần đất rừng khoảng 1ha bị bọn đồn bắt đốn sạch. Năm 1975 thống nhất đất nước tui lên liếp bao ngạn trồng dừa, tre để lấy củi và tận dụng đất rừng trồng dừa nước chủ yếu lấy lá lợp nhà… Không ngờ đám dừa nước phát triển xanh tốt, bỗng dưng từng đàn, rồi từng đàn cò đông dần”. Người ta đồn nhau vườn ông Mười đất lành…cò đậu. Được vài năm cò sinh sản đông thêm, ông Mười mở rộng thêm vườn cò bằng cách liên liếp trồng cây trên đất trồng lúa mở rộng vườn cò.
Ở tuổi xưa nay hiếm, ông Mười sang cái tuổi 75, nhưng ngày ngày ông âm thầm động viên con cháu bảo vệ vườn cò, lặng lẽ trồng thêm dừa nước phía ngoài trồng thêm tre gai…Vì ở tầm thấp cò ngủ êm hơn, ít bị đong đưa như trên tàu dừa. Với 2ha đất ông chỉ trồng cây mắm, dừa, dừa nước, tre cho cò ngủ. Sau mùa sinh sản vườn cò Tân Long có khoảng từ 15 - 20 ngàn con. Có những lúc nhiều người với những chiêu phá và bắt cò ông muốn phá vườn cò để lấy đất trồng lúa, lên liếp vườn trồng cây ăn trái cho thu nhập khá hơn nhưng lại không đành. Cách đây ít ngày có một công ty nước ngoài muốn mua vườn cò để khai thác du lịch với giá hơn 2 tỷ đồng, ông Mười từ chối ngay.
Ngày nào thú săn bẫy chim trời chỉ dành cho phút giây tiêu khiển thì giờ đây đang trở thành một nghề của nhiều người sống gần các vườn cò, họ tìm mọi cách săn bắt triệt để các loài động vật quý hiếm để đáp ứng nhu cầu thưởng thức các món ăn đặc sản miền quê là nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ các vườn cò có nguy cơ bị xóa sổ.
Ngoài yếu tố thiên nhiên gây đổ, ngã cây (bão và áp thấp nhiệt đới) thì sự tác động của con người là nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ vườn chim ở miền Tây (trong đó có vườn cò Tân Long) có thể biến mất, do nạn săn bắt trái phép diễn ra thường xuyên. (Đại Đoàn Kết 15/7)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
12/7, UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN (VRG) tổ chức lễ ký kết bàn giao Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Phước Sơn Quảng Nam sáp nhập vào Cty TNHH MTV Cao su Quảng Nam, thuộc VRG.
Nội dung ký kết ghi rõ, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Phước Sơn sẽ bàn giao nguyên trạng tổ chức bộ máy, lao động, tài sản, công nợ. Đặc biệt, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Phước Sơn bàn giao sang Cty TNHH MTV Cao su Quảng Nam với diện tích 803 ha, trong tổng diện tích 9.355 ha (số diện tích này dựa theo kết quả rà soát của Cty TNHH MTV Cao su Quảng Nam và Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Phước Sơn, diện tích có khả năng phát triển trồng cao su thuộc lâm phận Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Phước Sơn).
Ngoài ra, số diện tích còn lại gồm đất rừng phòng hộ, đặc dụng, tự nhiên sẽ bàn giao lại cho địa phương, các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng để quản lý, sử dụng.
Phát biểu tại buổi bàn giao, ông Lê Xuân Hòe, PGĐ VRG nói: “VRG xác định Quảng Nam là một trong những vùng trọng điểm phát triển cây cao su của khu vực Duyên hải Nam Trung bộ. Trong tương lai, Quảng Nam trở thành một khu vực phát triển cao su khu vực miền Trung. Lợi nhuận từ cao su tại Quảng Nam đem lại, VRG sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng diện tích và các hạng mục khác”.
“Hiện ở Quảng Nam, VRG đã xây dựng nhà máy Chế biến Cao su Hiệp Đức giai đoạn I đưa vào hoạt động 1 năm với công suất 1.000 tấn/năm. Trong thời gian tới, VRG sẽ đầu tư giai đoạn II và nâng công suất 3.000 tấn/năm”, ông Hòe nói. (Nông Nghiệp VN 15/7)đầu trang(
Ngày 15/7, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, Tỉnh đoàn Quảng Ninh phối hợp với Tổ chức JICA cơ sở Nhật Bản và Đại học Osaka đã tổ chức trồng rừng ngập mặn tại khu vực hang Đầu Gỗ, Vịnh Hạ Long.
Tham gia hoạt động này có hơn 50 tình nguyện viên là các sinh viên trường Đại học Osaka, sinh viên Trường Cao đẳng y tế Quảng Ninh và cán bộ Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, Đoàn Thanh niên tỉnh Quảng Ninh.
Mặc dù thời tiết không thuận lợi, nhưng với sự nhiệt tình, hăng hái, các tình nguyện viên đã trồng được hơn 1.500 cây sú, đước và vẹt. (VietnamPlus.vn 16/7)đầu trang(
Hiện nay, phần lớn gấu nuôi nhốt trong các trang trại đều không đảm bảo về sức khỏe, trong khi quy trình chích hút mật không được vô trùng, nhiều cá thể gấu đã nhiễm bệnh nặng nên mật bị nhiễm khuẩn... Vì vậy, việc uống mật gấu của không ít người dễ mang lại nguy cơ.
Điều tra của Bộ NN&PTNT vào năm 2000, cả nước mới có khoảng 400 cá thể gấu nuôi nhốt thì hiện tại đã có 3.567 cá thể đang bị “giam cầm” tại các trang trại ở khắp các vùng miền. Tại Hà Nội, nhiều cơ sở nuôi nhốt công khai chích hút mật gấu. Tại Hạ Long (Quảng Ninh), mật gấu nuôi nhốt được bán cho du khách nước ngoài.
Ở khu vực nội thành Hà Nội, nhiều nơi treo biển “bán mật gấu” hoặc “mật gấu chất lượng cao”. Cùng với mật, trong các nhà hàng và hộ gia đình còn có cả bàn tay, bàn chân gấu ngâm rượu trong các bình lớn. Theo các chuyên gia y tế, gần đây người ta còn phát hiện có cả mật gấu trong các sản phẩm như dầu gội đầu, nước soda, kem đánh răng và rượu...
Hiện tại, cách nuôi gấu chủ yếu vẫn là nhốt trong lồng, cũi sắt. Mỗi lần hút mật phải “bắn” thuốc mê bằng phương pháp gây mê trái phép (thường là dùng chất ketamine), rồi dùng kim tiêm dài hơn 10cm chọc vào ổ bụng gấu dò tìm túi mật. Các bác sỹ thú y cho rằng, cách hút mật như vậy thường dẫn đến sự rò rỉ của mật vào cơ thể cùng bệnh viêm màng bụng của gấu. Mặc dù việc nuôi nhốt gấu lấy mật là bất hợp pháp từ năm 1992 nhưng sau hơn 20 năm, việc thi hành luật và ngăn chặn vẫn khó khăn.
Nếu cứ đà nuôi nhốt và khai thác mật như hiện nay, chẳng bao lâu nữa loài gấu sẽ tuyệt chủng. Bởi vậy, cả chuyên gia về bảo tồn động vật hoang dã và bác sỹ y học cổ truyền đều thống nhất, cần phải có giải pháp để bảo tồn loài gấu. Trong đó, nhiều bác sỹ đông y cho biết, mật gấu có thể được thay thế dễ dàng bởi thảo mộc.
BS. Đặng Văn Dương, Trưởng Khoa Bệnh học tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) khuyên người tiêu dùng nên sử dụng thảo dược thay thế cho mật gấu sau khi thực hiện các xét nghiệm y khoa trên túi mật bị hư hại, lấy từ 3 cá thể gấu được cứu hộ về Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam (Tam Đảo-Vĩnh Phúc). Theo đó, BS Dương phát hiện thành túi mật bị dày lên đáng kể, hậu quả của quá trình hút mật. Sau xét nghiệm này, BS Dương cho biết, uống mật gấu có thể mang lại tác dụng ngược khi sử dụng mật lấy từ những cá thể mắc bệnh.
Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam đã thực hiện cuộc khảo sát kéo dài 3 năm (từ 2010-2012) để có cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng sử dụng mật gấu làm thuốc đông y tại Việt Nam hiện nay. Câu hỏi khảo sát đã được gửi tới 1.240 bác sỹ đông y, đại diện cho 10.168 bác sỹ đông y ở 9 tỉnh, thành trong cả nước như Hà Nội, Hà Nam, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Bình Dương, Bình Thuận. Theo đó, có 60% người khẳng định không sử dụng mật gấu trong các bài thuốc của mình, 17% trả lời đã từng sử dụng và 23% không trả lời.
“Điều đáng chú ý, không phải các bài thuốc y học cổ truyền tạo ra niềm tin về tác dụng của mật gấu mà là chính các trang trại nuôi gấu lấy mật đã tạo ra cơn sốt về mật gấu, làm nảy sinh nhu cầu mật gấu”, TS Tuấn Bendixsen Giám đốc Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam nhận định.
Còn theo Phó Chủ tịch Trung ương Hội Đông y Việt Nam, Phạm Hinh thì mật gấu có tên đông y là “hùng đảm”, tuy nhiên xưa nay chỉ được dùng để chữa một số chứng bệnh có biểu hiện như chấn thương, trật đả, xung huyết... chứ ít được dùng để uống: “Ở Việt Nam đã từng có những trường hợp tử vong do uống mật gấu, vì dùng quá liều có thể gây các triệu chứng bất lợi như tổn thương gan và thận, vàng da, chán ăn, cơ thể đau nhức, mệt mỏi, mắt đỏ, làm tăng hồng cầu trong nước tiểu”.
Hơn nữa, quy trình chích hút mật gấu ở những cá thể nuôi nhốt thường không đảm bảo tiêu chuẩn vô trùng, trong mật gấu nuôi nhốt thường ẩn chứa một lượng vi khuẩn cao. Do đó, nếu uống mật gấu không cẩn thận là uống luôn mầm bệnh vào cơ thể. (An Ninh Thủ Đô 15/7)đầu trang(
Thời gian qua, cùng với các địa phương khác ở huyện Phù Cát, xã Cát Hanh đã triển khai thực hiện có hiệu quả Dự án (DA) trồng rừng WB3, góp phần tăng độ che phủ của rừng, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhiều hộ nông dân ở địa phương.
Qua 7 năm (2007 - 2013) triển khai DA trồng rừng WB3, toàn xã Cát Hanh có 70 hộ dân tham gia, trồng được hơn 100 ha rừng, tập trung ở các thôn: Mỹ Hóa, Vĩnh Trường, Khánh Lộc, Hòa Hội và Vĩnh Long, với 2 loại cây chủ yếu là bạch đàn và keo lai.
Nhằm tạo thuận lợi cho việc trồng và chăm sóc rừng, các hộ tham gia DA WB3 đã được Ban thực hiện DA huyện hỗ trợ kịp thời về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, được giới thiệu những đơn vị cung cấp cây giống, phân bón có uy tín, chất lượng. Bên cạnh đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ tham gia trồng rừng cũng được quan tâm, tạo thuận lợi cho việc vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện để đầu tư trồng và chăm sóc rừng có hiệu quả.
Đến nay, có 66 hộ trồng rừng WB3 ở Cát Hanh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích gần 100 ha; được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện giải ngân cho vay hơn 1,4 tỉ đồng, trong đó mỗi ha rừng trồng từ năm 2007 - 2008 được vay 10 triệu đồng với lãi suất 0,5%, và từ 2009 đến nay được vay 15 triệu đồng/ha, lãi suất 0,65%.
Ông Nguyễn Tẫn, Phó Chủ tịch UBND xã Cát Hanh, cho biết: “Qua 7 năm thực hiện dự án, bước đầu đã đem lại hiệu quả tích cực. Việc trồng rừng WB3 giúp giải quyết việc làm cho phần lớn lao động ở địa phương, nâng cao thu nhập cho nhiều hộ dân, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương ngày càng phát triển. Rừng WB3 góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường. Nhờ thích hợp với điều kiện đất đai ở địa phương, đến nay diện tích rừng trồng trên địa bàn xã đều phát triển tốt, nhất là cây keo lai. Một số hộ trồng rừng ở những năm đầu đã thu hoạch rừng trồng, bán được với giá từ 70 - 100 triệu đồng/ha”.
Ông Phạm Anh Thạch, ở thôn Vĩnh Long, tham gia trồng rừng WB3 từ năm 2007 với diện tích 5,6 ha, trồng keo lai. Ông vừa thu hoạch rừng, mỗi ha cho thu nhập trên 80 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi trên 40 triệu đồng/ha. Ông Thạch cho biết: “Tham gia trồng rừng theo DA WB3 đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho gia đình tôi, qua khai thác lần đầu năm 2012, mặc dù do bão lụt gây gãy đổ một số diện tích rừng nhưng cũng đem lại cho gia đình tôi một nguồn thu nhập đáng kể. Hiện nay, diện tích rừng trồng đang phát triển rất tốt và triển vọng cho thu nhập cao, tôi rất phấn khởi”.
Năm 2013, xã Cát Hanh có 4 hộ tham gia trồng rừng theo DA WB3 với diện tích gần 10 ha. Đến nay, mọi công tác chuẩn bị trồng rừng đã cơ bản hoàn tất. Xã đã phối hợp với Ban thực hiện DA tổ chức tập huấn kỹ thuật chăm sóc, quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng; hướng dẫn bà con thủ tục vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi để bà con trồng rừng đạt kế hoạch. (Báo Bình Định 15/7)đầu trang(
Theo Sở NNPTNT Bình Định, trong vụ trồng rừng thu đông năm nay, toàn tỉnh sẽ triển khai trồng 8.500ha rừng; trong đó, trồng rừng phòng hộ và môi trường cảnh quan 250ha; rừng sản xuất 8.250ha.
Đến thời điểm này, các đơn vị, địa phương đã chuẩn bị quỹ đất được 4.388ha; tiến hành thiết kế để chuẩn bị trồng rừng 1.615ha. Đồng thời, các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp đã tổ chức ươm, nhân giống được 40 triệu cây giống các loại. Để đảm bảo diện tích trồng đạt kế hoạch đề ra, mới đây, ngành nông nghiệp tỉnh đã có văn bản đề nghị chính quyền các địa phương, các đơn vị trồng rừng rà soát lại những diện tích đất còn trống, đất đồi gò, đất trồng cây công nghiệp kém hiệu quả để chuyển sang trồng rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 15/7)đầu trang(
6 tháng đầu năm nay, các địa phương, đơn vị đã trồng được 8.375 ha rừng/ kế hoạch 15 ngàn ha, đạt 53% kế hoạch.
Trong đó, trồng rừng phòng hộ được gần 353 ha; trồng rừng đặc dụng thực hiện 10 ha/ 30 ha đạt 33,3% kế hoạch; trồng rừng sản xuất thực hiện 8.011 ha/14.400 ha, đạt 55,6% kế hoạch.
6 tháng đầu năm, Nghệ An cũng đã sản xuất được gần 20 triệu 838 ngàn cây giống các loại.
Hiện nay, tại các địa phương, đơn vị, chủ rừng đang tiếp tục chuẩn bị hiện trường, đào hố và cây giống các loại để trồng rừng vụ thu đảm bảo chất lượng, phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2013 đã được UBND tỉnh phê duyệt. (Đài PT- TH Nghệ An 15/7)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa vừa tổ chức hội nghị sơ kết công tác Kiểm lâm, và hoạt động Công đoàn 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2013.
Hội nghị đánh giá 6 tháng đầu năm, an ninh rừng trên địa bàn toàn tỉnh cơ bản ổn định, các huyện miền núi không để xảy ra cháy rừng; công tác chống buôn lậu lâm sản được tăng cường, các hoạt động nghiệp vụ được triển khai đồng bộ, trong đó trồng rừng theo dự án 147 đạt trên 60% kế hoạch; công tác cập nhật diễn biến rừng và đất lâm nghiệp thực hiện theo đúng tiến độ; công tác cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh;
Thực hiện nghiêm qui định “03 không” trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân; thực hiện ISO 9001: 2008 đúng quy trình; công tác thi đua khen thưởng có bước đổi mới toàn diện và hiệu quả. Phát huy kết quả đạt được lực lượng Kiểm lâm Thanh Hóa quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2013. (Kiểm lâm Thanh Hóa 13/7)đầu trang(
Những năm qua, cấp ủy Đảng, chính quyền từ cấp tỉnh đến cơ sở đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; các sở, ngành có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; đạt nhiều kết quả khích lệ, vốn rừng được giữ vững và phát triển.
Trước hết, về công tác trồng rừng: Đến hết năm 2012, toàn tỉnh trồng 74.551 ha, chiếm tỷ lệ 8% diện tích rừng toàn tỉnh; trong đó, các đơn vị chủ rừng thuộc hệ thống quản lý của Nhà nước trồng trên 41.784,6 ha. Cây trồng chủ yếu là thông 3 lá, keo, cây cao su và một số loài cây trồng thử nghiệm như xoan, mắc ca, ngân hoa…
Trong năm 2013, kế hoạch trồng rừng của Lâm Đồng phân bổ từ các nguồn vốn (ngân sách tỉnh, ngân sách Trung ương, chương trình hỗ trợ dự án Flitch) trên 2.052,5 ha. Trong đó, nguồn ngân sách tỉnh phân bổ cho các Ban Quản lý rừng (trồng rừng trên đất trống, đất lấn chiếm sau giải tỏa) hơn 2.052,5 ha.
Kinh phí trồng rừng gồm: Nguồn ngân sách tỉnh phân bổ cho các Ban Quản lý rừng trồng gần 73 ha, hỗ trợ trồng rừng sản xuất cho Chính sách 30a gần 666,7 ha; nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ trồng rừng sản xuất các dự án bảo vệ và phát triển rừng trên 140,8 ha; nguồn kinh phí dự án Flitch hỗ trợ dân, doanh nghiệp tư nhân, các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp trồng rừng 1.145 ha. Tính đến nay, các đơn vị đã đào hồ trồng rừng được 478,4 ha, xử lý thực bì trên 728 ha…
Theo ngành nông nghiệp – phát triển nông thôn: Diện tích rừng đã trồng đến hết năm 2012 đạt 74.551 ha, làm tăng độ che phủ trên địa bàn tỉnh lên khoảng 12,4%. Tài nguyên rừng trồng thuộc rừng sản xuất cung cấp gỗ nguyên liệu để các đơn vị chủ rừng thuộc Nhà nước phát triển sản xuất ổn định, tạo thu nhập, tái tạo rừng, phát triển quỹ đất và quỹ rừng hợp lý.
Các doanh nghiệp ngoài Nhà nước trồng gần 12.345 ha rừng, góp phần phát triển vốn rừng, đa dạng hóa cơ cấu cây trồng. Bên cạnh đó, tỉnh từng bước đa dạng hóa loại cây trồng kinh tế, góp phần đa dạng nguyên liệu phục vụ ngành chế biến ra các sản phẩm hàng hóa, nhất là vai trò của cây cao su được Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các bộ, ngành, Tổng Công ty cao su Việt Nam đánh giá cao.
Cùng với chú trọng trồng rừng, tỉnh còn quan tâm đẩy mạnh phong trào trồng cây và trồng rừng phân tán. Tính từ năm 2010 đến năm 2012, trồng được trên 3.785.000 cây. Năm 2013, dự kiến tổng kinh phí phục vụ trồng cây, trồng rừng phân tán trên 5,2 tỷ đồng với khoảng 631.000 cây. Trong đó, trồng cây phân tán chừng 180.000 cây trên các tuyến đường giao thông, khu đất xung quanh các cơ quan, công sở; trồng rừng phân tán khoảng 451.000 cây trên diện tích đất nông nghiệp bạc màu. 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh trồng 40.270 cây phân tán các loại.
Dự kiến, năm 2013 trồng 488.000 cây, năm 2014 trồng 473.300 cây và năm 2015 trồng 461.700 cây. Để thực hiện kế hoạch này, ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ 100% cây giống hoặc gieo ươm cây giống được bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của các cấp theo phân cấp (khoảng 6.722,8 triệu đồng), nhân dân đóng góp công trồng, chăm sóc, bảo vệ (12.097 triệu đồng), doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí gần 748 triệu đồng.
Lâm Đồng cũng tích cực triển khai công tác khoán quản lý bảo vệ rừng. Chính sách được người dân đồng tình hưởng ứng do phù hợp với nhận thức, tập quán của cộng đồng dân tộc Tây Nguyên. Hiện tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đang giao khoán quản lý bảo vệ rừng 368.609 ha (chiếm 64% diện tích đất có rừng), giải quyết thu nhập cho 10.995 hộ (16.386 hộ dân tộc thiểu số).
Tuy đạt một số kết quả tích cực thế nhưng công tác trồng rừng ở Lâm Đồng vẫn gặp một số khó khăn, vướng mắc. Đó là: Việc chuyển đổi mục đích từ đất lâm nghiệp sang đất chuyên dùng (không phải đất lâm nghiệp) để bố trí đất cho xây dựng các công trình, rừng trồng bị cháy, bị phá, bị lấn chiếm trái phép dẫn đến giảm diện tích rừng trồng.
Đơn giá ngày công lao động phổ thông trồng rừng và chăm sóc rừng trồng còn thấp, vì vậy việc huy động người dân tham gia trồng rừng, trồng cao su gặp nhiều khó khăn… nên cần có những chính sách hỗ trợ nhằm tăng nguồn thu cho người dân. Diện tích rừng trồng phân bố không tập trung nên không thuận lợi cho việc phát triển cơ sở chế biến gỗ gắn với vùng nguyên liệu.
Các giải pháp đốt trước là giải pháp tình thế, về lâu dài cần lồng ghép với các cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái để có nguồn thu xử lý bằng biện pháp không đốt trước, góp phần tôn tạo cảnh quan và hạn chế phát thải cac – bon, hạn chế mức độ xói mòn do duy trì ổn định thảm thực vật rừng, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học. Điều cần khắc phục nữa là công tác giải tỏa, trồng rừng sau giải tỏa còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc trồng lại rừng từ nhiều nơi gặp phải sự chống đối, ngăn cản, nhổ bỏ cây đã trồng của các đối tượng bị giải tỏa cây trồng. (Báo Lâm Đồng 15/7)đầu trang(
Quảng Trị có diện tích tự nhiên gần 474 ngàn ha, trong đó diện tích có rừng hơn 226 ngàn ha. Diện tích rừng không lớn so với các tỉnh trong vùng nhưng được đánh giá là khu vực có đa dạng sinh học cao về nguồn gen, thành phần loài và hệ sinh thái. Chính vì vậy cùng với việc tích cực mở rộng diện tích, tỉnh đã chỉ đạo triển khai nhiều biện pháp quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học .
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị cho biết: Một trong những biện pháp quan trọng để bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học là tỉnh đã thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, Khu bảo tồn thiên nhiên Hướng Hóa, Đường Hồ Chí Minh và Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ. Tỉnh đã chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên môi trường, nhờ vậy người dân không chỉ được nâng cao nhận thức mà còn tích cực tham gia bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm phối hợp với các ngành chức năng thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra truy quét vào rừng, các tụ điểm buôn bán lâm sản trái phép, phát hiện và xử lý các vụ vi phạm.
Đặc biệt tỉnh Quảng Trị đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người dân sống gần rừng, sống ở vùng đệm của các Khu bảo tồn có việc làm, có thu nhập để không phá rừng cũng như săn bắt động vật hoang dã như triển khai chương trình trồng rừng thay thế nương rẫy, trồng mây và các loại lâm sản ngoài gỗ.
Tuy nhiên so với yêu cầu, việc quản lý, bảo vệ các Khu bảo tồn, các khu rừng cảnh quan ở Quảng Trị đang đặt ra một số vấn đề đáng quan tâm. Ông Hoàng Ngọc Tiến, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông cho biết: Khu bảo tồn có diện tích hơn 40 ngàn ha, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở đây có 597 loài thực vật, 45 loài động vật, trong đó có 4 loài thú, 4 loài chim đặc hữu duy nhất có ở Việt Nam, đây là một trong những khu vực quan trọng nhất về đa dạng sinh học của Việt Nam.
Từ khi thành lập đến nay, Ban quản lý đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho người dân thấy được lợi ích của Khu bảo tồn, phối hợp với nhiều tổ chức đánh giá tình trạng quần thể của một số loài có giá trị bảo tồn cao, xác định các nguy cơ đe dọa và các khu vực ưu tiên bảo tồn cho loài hoặc nhóm loài cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học.
Bên cạnh đó tăng cường công tác bảo vệ và đã thực hiện một số dự án giúp người dân sống ởvùng đệm phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. Tuy nhiên do nhu cầu dùng gỗ ngày càng cao và giá trị của các loại gỗ cũng như động vật hoang dã lớn nên tình trạng phá rừng vẫn còn xảy ra. Mặt khác lực lượng bảo vệ mỏng, số cán bộ biên chế và hợp đồng chỉ có 29 người, dụng cụ, trang thiết bị thiếu thốn, rừng lại ở địa bàn hẻo lánh, hiểm trở nên việc tuần tra, bảo vệ rất khó khăn.
Ông Hoàng Ngọc Tiến đề xuất các sở, ban, ngành liên quan, đặc biệt UBND tỉnh cần phải quan tâm đầu tư, hỗ trợ hơn nữa về mặt kinh phí hàng năm để Khu bảo tồn thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học, tăng biên chế cho lực lượng đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới. Các ngành chức năng như Công an, Quân sự, Bộ đội Biên phòng và đặc biệt là chính quyền địa phương các xã cần phối hợp tích cực hơn nữa trong công tác đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng, xâm hại đến bảo tồn đa dạng sinh học.
Để giảm thiểu sự suy thoái của đa dạng sinh học và hướng đến việc thiết lập một mô hình quản lý bền vững tài nguyên rừng cũng như bảo tồn đa dạng sinh học, tỉnh Quảng Trị đang tiếp tục triển khai nhiều hoạt động.
Ông Nguyễn Trường Khoa, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: “Trước hết chúng tôi tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền về pháp luật cho người dân, đặc biệt là những vùng có rừng, các khu bảo tồn, quan tâm hơn nữa về mặt đời sống cũng như các trang thiết bị kỹ thuật cho đội ngũ quản lý, bảo vệ rừng. Tăng cường nghiên cứu về đa dạng sinh học nói riêng và vấn đề rừng nói chung, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn tài nguyên, đặc biệt nghiêm cấm những hành vi liên quan đến chặt phá cũng như đánh bắt động vật quý hiếm, làm tốt công tác giao đất, giao rừng cho hộ gia đình cũng như các Ban quản lý rừng.
Bên cạnh những biện pháp trên, tỉnh Quảng Trị chỉ đạo phải hướng đến cộng đồng, cung cấp cho người dân kiến thức, kỹ năng quản lý hiệu quả tài nguyên rừng và các hoạt động sinh kế bền vững, hỗ trợ chính quyền địa phương xây dựng và tăng cường các chính sách và phương thức quản lý rừng và bảo tồn sự đa dạng sinh học. (Báo Quảng Trị 14/7)đầu trang(
Hơn một năm trước đây, các đơn vị chuyên môn của Quảng Ninh đã đề xuất biện pháp xử lý thu hồi diện tích đất được giao, thuê để phát triển rừng của một loạt các doanh nghiệp.
Điển hình như Công ty CP Đầu tư và Phát triển kinh tế trang trại thuỷ hải sản Thành Tín, Công ty CP Thương mại và Đầu tư Việt Mỹ, Công ty CP XNK Hà Nội, Công ty CP Đức Phát…
Mới đây, Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục đề xuất thu hồi một phần diện tích của 10 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp. Đó là các công ty lâm nghiệp của Hoành Bồ, Vân Đồn, Đông Triều, Ba Chẽ, Bình Liêu; Công ty CP Chè Đường Hoa, Công ty CP Giống vật nuôi và Cây trồng Đông Triều, Công ty TNHH Innogreen.
Đây có thể nói là một động thái mạnh tay và cần thiết của tỉnh đối với các dự án lâm nghiệp “treo”, “chậm” trên địa bàn. Bởi thực tế hầu hết các đơn vị trên đều diễn ra tình trạng được thuê đất, thuê rừng nhưng không thực hiện đầu tư hoặc đầu tư không đúng mục đích, trong trường hợp có đầu tư thì cũng cầm chừng, tiến độ chậm so với kế hoạch đã được phê duyệt… dẫn đến lãng phí đất. Một số khác quản lý, sử dụng đất đai không chặt chẽ, hiệu quả, sai mục đích, không tuân thủ đúng thủ tục pháp luật… dẫn đến chồng chéo, bị lấn chiếm…
Thực tế đơn cử như Công ty CP Đầu tư và Phát triển kinh tế trang trại thuỷ hải sản Thành Tín được tỉnh cho thuê 5.225ha đất rừng trên địa bàn 2 xã Hải Lạng và Tiên Lãng (Tiên Yên) để trồng măng tre xuất khẩu, song trong suốt hàng chục năm qua, đơn vị mới trồng được 550ha, thấp gần chục lần so với dự án được phê duyệt. Đáng buồn hơn toàn bộ số diện tích còn lại gần 4.700ha đơn vị đều bỏ hoang, trong khi đó người dân trên địa bàn không có đất để phát triển kinh tế rừng.
Theo tính toán của giới chuyên môn, thì vô hình chung đơn vị này đã gây lãng phí đất trong hơn 1 chu kỳ rừng với giá trị khổng lồ, gần 1.000 tỷ đồng. Anh Bùi Văn Sang, một hộ dân thôn 3, xã Tiên Lãng bức xúc cho biết: “Chẳng hiểu doanh nghiệp này làm ăn kiểu gì, măng thì không trồng, đất đai thì bỏ phí. Nếu như Nhà nước giao đất đó cho chúng tôi sử dụng, khéo chúng tôi đã thu được khoản tiền lớn mà Nhà nước thì chắc chắn có rừng”.
Tương tự như vậy, đối với Công ty TNHH Innogreen (diện tích được giao trải dài cả Tiên Yên, Móng Cái), hiện phần lớn diện tích được giao của đơn vị không triển khai các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Nói về nguyên nhân của việc này, mặc dù lý do mà đơn vị đưa ra là trong tổng diện tích được giao có đến gần 50% là đất không trồng được rừng, là đất rừng tự nhiên hoặc diện tích đang bị lấn chiếm mà không giải quyết được (chủ yếu trên địa bàn huyện Tiên Yên) thì vẫn thể hiện rõ sự thiếu năng lực và trách nhiệm của đơn vị.
Riêng Công ty CP Giống vật nuôi và Cây trồng Đông Triều được giao gần 600ha rừng, trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai diễn biến rất phức tạp, lộn xộn. Cụ thể Công ty giao đất lại cho cán bộ công nhân viên tự sản xuất kinh doanh rồi nộp lại % cho đơn vị. Đấy là chưa kể trong hơn 100 cán bộ, nhân viên được Công ty giao đất đến nay chỉ còn 77 người nằm trong biên chế. Điều này thật sự khó cho công tác quản lý. (Báo Quảng Ninh 15/7)đầu trang(
Tình trạng phá rừng ở các khu rừng giáp ranh giữa hai tỉnh Bình Phước và Đắk Nông thời gian vừa qua rất đáng báo động. Người dân cho biết, có những vụ lâm tặc phá rừng giữa ban ngày. Nhiều cây gỗ đường kính lớn đã bị hạ, thậm chí lâm tặc ung dung xẻ gỗ thành phách giữa rừng rồi mới vận chuyển về nhưng vẫn không ai hay biết.
Tháng 10-2010, Sở NN&PTNT hai tỉnh đã ký kết quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ rừng, kiểm tra, truy quét, ngăn chặn các hành vi vi phạm rừng tại các vùng giáp ranh. Sau gần 3 năm thực hiện công tác tuyên truyền cùng với hàng chục đợt truy quét, tuần tra, di dời các hộ dân lấn chiếm đất rừng..., nhưng hiệu quả thu được vẫn chưa cao.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Bình Phước trình tại kỳ họp thứ 7 HĐND tỉnh (khai mạc ngày 10-7), từ đầu năm đến nay, số vụ vi phạm lâm luật là 381 vụ, tăng 35 vụ so cùng kỳ năm 2012. Trong đó vi phạm về phá rừng là 52 vụ, thiệt hại trên 54 ha, giảm 7 vụ so cùng kỳ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng trên 32 ha; vi phạm về quản lý lâm sản là 329 vụ, tăng 42 vụ so cùng kỳ, ngành chức năng đã xử lý vi phạm 322 vụ. Do thời tiết hanh khô kéo dài, trên địa bàn tỉnh xảy ra 18 vụ cháy rừng, thiệt hại hơn 93 ha.
Hiện nay, trên địa bàn xã Đắk Nhau và Đường 10 có lâm phần của Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng tiếp giáp với lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín, Công ty Lâm nghiệp Nam Tây nguyên (tỉnh Đắk Nông) và Ban quản lý rừng phòng hộ Thác Mơ (xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông).
Ngoài ra, Tiểu khu 184, 188 thuộc Nông lâm trường cao su Đồng Nai, xã Phú Sơn (Bù Đăng) cũng là khu vực giáp ranh với xã Đắk Ru, huyện Đắk Glấp, tỉnh Đắk Nông. Đặc biệt, lâm phần của Công ty Lâm nghiệp Nam Tây nguyên có nhiều tiểu khu giáp ranh với Vườn quốc gia Bù Gia Mập...
Những năm qua, khu vực giáp ranh nói trên là địa bàn diễn ra tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép, săn bắt thú rừng rất phức tạp. Qua theo dõi của kiểm lâm cho thấy, chủ yếu là người dân tộc thiểu số xã Quảng Trực lén lút xâm nhập vào Vườn quốc gia Bù Gia Mập để khai thác các loại gỗ nhóm IIA, săn bắt động vật. Người dân cư ngụ trên địa bàn giáp ranh hai tỉnh trực tiếp tham gia phá rừng, lấy đất làm rẫy; móc nối với nhau để khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ, động vật rừng trái phép. Lâm sản khai thác chủ yếu trên địa bàn có rừng của tỉnh Đắk Nông và được đưa về các xã Đắk Nhau, Đường 10, Thọ Sơn... để tiêu thụ.
Tại khu vực giáp ranh giữa Vườn quốc gia Bù Gia Mập của tỉnh Bình Phước với tỉnh Đắk Nông, tình hình khai thác lâm sản trái phép cũng diễn biến khá phức tạp. Kiểm lâm Bù Đăng cho biết, nhiều đối tượng xâm nhập và khai thác lâm sản cách ranh giới của vườn quốc gia chỉ 20-50m nên nguy cơ cây rừng của vườn quốc gia bị mất là rất cao.
Giữa tháng 2-2013, tại Tiểu khu 24, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, giáp với lâm phần Công ty Lâm nghiệp Nam Tây nguyên (Đắk Nông) có hai cây sao đen, khối lượng trên 36m3 bị khai thác trái phép, sau đó chuyển về hướng tỉnh Đắk Nông tiêu thụ. Hiện trong số gỗ tịch thu được đang để tại xã Đắk Nhau, người ta nghi ngờ có khoảng 70m3 đã khai thác trái phép trong Vườn quốc gia Bù Gia Mập. (Báo Bình Phước 15/7)đầu trang(
Bắt đầu từ năm 2003, khi có Chỉ thị 28 của Bộ Chính trị về bảo vệ và phát triển rừng, trong suốt mười năm qua, Chính phủ đã quyết liệt vào cuộc và người được phân công theo dõi công việc này là Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh. Nhưng đi sâu vào công việc giữ rừng mới thấy bao điều trăn trở, nào là nạn lấn chiếm rừng trái phép của người dân địa phương, nào là lâm tặc khai thác gỗ lậu, rồi nạn săn bắt động vật hoang dã, quý hiếm...
Các ban quản lý rừng phòng hộ thì thiếu kinh phí, lực lượng mỏng không thể quán xuyến hết diện tích được giao. Đặc biệt là các lâm trường, các công ty lâm nghiệp vừa phải lo kinh doanh để có lợi nhuận, vừa phải lo bảo vệ diện tích rừng được giao.
Làm việc với ông Nguyễn Thành Chung, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đắk Tô (Kon Tum), những băn khoăn về sứ mệnh giữ rừng càng thêm nhức nhối, rừng ở đây được cấp chứng chỉ rừng bền vững. Đây là chứng chỉ đầu tiên của Hội đồng quản trị rừng quốc tế về gỗ có kiểm soát đối với rừng tự nhiên tại Việt Nam (Forest stewardship council, gọi tắc là FSC).
Dự án được hỗ trợ bằng Chương trình Lâm nghiệp Việt - Đức do Tổ chức Hợp tác phát triển Đức GIZ thực hiện dưới sự ủy nhiệm của Bộ Hợp tác và Phát triển kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức. Thế nhưng đơn vị đang gặp nhiều khó về vốn, nguồn nhân lực, cơ chế chính sách và nạn lấn chiếm, tranh dành đất của người dân địa phương.
Trong những năm qua, Công ty cố gắng duy trì kinh doanh trong điều kiện hết sức khó khăn, do cơ chế giao đất. Hiện, Công ty không thể dùng diện tích đất để thế chấp vay ngân hàng, không thể dùng đất liên doanh, liên kết với các đơn vị khác để tạo vốn kinh doanh do bị ràng buộc bởi khoản 2, Điều 109 của Luật Đất đai năm 2003. Lực lượng bảo vệ rừng của Công ty không được trang bị các trang thiết bị cần thiết để tự vệ và tấn công lâm tặc.
Từ những ràng buộc của cơ chế, chính sách mà sự nghiệp giữ rừng của nhiều chủ rừng hiện đang gặp nhiều khó khăn. Mong sao các cơ quan chức năng tìm cách tháo gỡ từng bước những vướng mắc của các đơn vị cơ sở. Ví dụ như về đất đai nên phân ra nhiều loại và cấp đất với nhiều hình thức để doanh nghiệp có thể thế chấp hoặc liên doanh, liên kết tạo vốn kinh doanh. (Kinh tế Nông thôn 15/7)đầu trang(
Người dân thiếu đất để trồng rừng nguyên liệu, nhưng các công ty nông, lâm nghiệp ở Quảng Ngãi nhận đất Nhà nước giao lại bỏ không hàng ngàn ha gây nên nỗi bức xúc của người dân về sự lãng phí tài nguyên đất trồng rừng. Đây là một thực tế xót xa xảy ra ở nhiều địa phương từ nhiều năm nay.
Thực hiện Nghị định 170/2004/NĐ- CP và Nghị định 200/2004/NĐ - CP của Chính phủ, năm 2004, UBND tỉnh đã giao cho 5 đơn vị nông, lâm trường quản lý hơn 23.140 ha rừng. Trong đó có trên 14.390 ha đất để trồng rừng sản xuất và đất phi nông nghiệp, nhưng các nông, lâm trường (sau này chuyển thành các công ty nông, lâm nghiệp) chỉ trồng rừng đạt tỷ lệ khoảng 36,3% diện tích đất được cấp.
Thực hiện Dự án "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" (dự án 327), Nhà nước đã giao đất cho các công ty nông, lâm nghiệp sử dụng với diện tích hơn 110.943 ha. Đến năm 2004, thực hiện chủ trương rà soát sắp xếp đổi mới các Công ty nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị định 170 và Nghị định 200 của Chính phủ, Quảng Ngãi đã thu hẹp diện tích quản lý của các nông, lâm trường xuống còn 23.147 ha. Trong đó, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tô được giao quản lý 7.347 ha, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ: 6.752 ha; Lâm trường Trà Bồng: 1.977 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trà Tân: 6.144 ha và Công ty TNHH MTV Nông - Lâm nghiệp 24/3 quản lý 922 ha.
Được Nhà nước giao đất, lẽ ra các công ty này phải đầu tư vốn để trồng rừng thật hiệu quả. Nhưng các công ty đã bỏ hoang nhiều diện tích, gây lãng phí tài nguyên đất.
Theo thanh tra của Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) thì Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tô được Nhà nước giao hơn 7.347 ha, trong đó diện tích đất trồng rừng sản xuất và rừng phòng hộ quy hoạch chuyển đổi sang đất rừng trồng sản xuất hơn 3.107 ha. Thế nhưng, công ty chỉ mới đầu tư trồng rừng trên diện tích 632 ha, chiếm 20,2% diện tích đất được giao. Số còn lại chưa trồng rừng hoặc bị dân lấn chiếm.
Công ty Nông-Lâm nghiệp Ba Tơ được giao diện tích đất trồng rừng sản xuất hơn 3.479 ha, nhưng chỉ trồng được 2.839 ha. Diện tích còn lại cũng bỏ hoang hoặc bị dân lấn chiếm. Công ty lâm nghiệp Trà Tân còn lãng phí hơn nhiều, khi chỉ trồng 900 ha/6.144 ha được giao, chiếm 14% tổng diện tích. Số còn lại rơi vào tình cảnh tương tự như các công ty khác.
Qua số liệu thanh tra, kiểm tra của Sở TN&MT, 5 đơn vị mới sử dụng khoảng 5.228 ha trong tổng số diện tích 14.393 ha tỉnh giao để trồng rừng (36,32%). Nhìn dưới góc độ kinh tế, một ha đất rừng trồng cây nguyên liệu gỗ keo sau chu kỳ từ 5-7 năm, thu hoạch được từ 80 đến 120 m3 gỗ, thì những công ty này đã lãng phí hàng trăm tỷ đồng trong những năm qua.
Cắt nghĩa nguyên nhân dẫn đến tình trạng lãng phí này, các công ty nông, lâm nghiệp đều cho rằng có nhiều nguyên nhân mà đáng chú ý nhất là do việc vay vốn trồng rừng gặp nhiều khó khăn, biên chế của các công ty còn hạn chế. Đây là những nguyên nhân không mấy thuyết phục. Bởi nếu như năng lực về vốn của các công ty quá yếu, sao các công ty này không báo với cấp trên để có hướng giải quyết, mà “âm thầm” bỏ đất hoang .
Một vấn đề khác là, sau khi nhận đất của Nhà nước giao, các Công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã buông lỏng quản lý đất rừng, chưa phân định rõ ranh giới đất công ty quản lý với đất của người dân, dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai, gây mất trật tự trên địa bàn.
Ông Nguyễn Ngọc L - thôn Nam Lân xã Ba Động (Ba Tơ) kể: "Năm 2009, khi giá cây keo nguyên liệu lên cao, nhiều gia đình bán keo có nguồn thu nhập. Nhà nghèo khó lại đông anh em nên gia đình thấy khoảng đất rừng tự nhiên ở Đồng Lớn và Dốc Đứng gần nhà mà không có cắm mốc ranh giới, tôi tưởng đất bỏ hoang, liền đến phát dọn trồng keo. Thế là Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ đã cử cán bộ công nhân đến nhổ keo dẫn đến mâu thuẫn. Tôi mất trắng trên 20 triệu đồng tiền công mua cây giống và tiền thuê phát dọn thực bì.
Ông Phạm Văn Hiền - Chủ tịch UBND xã Ba Tô (Ba Tơ) giãi bày: "Bình quân mỗi khẩu trong xã có khoảng 0,6 ha đất nông, lâm nghiệp. Trong đó, đất màu chiếm diện tích rất ít, nguồn nước tưới lại bấp bênh, năm được, năm mất mùa. Còn lại là đất rừng sản xuất, với diện tích mỗi hộ cũng chỉ vài sào mà trồng cây nguyên liệu, sau một chu kỳ thu hoạch cũng mất 6-7 năm nên tính ra cuộc sống bà con cũng khá chật vật. Khi thấy các mô hình trồng mía, mì, keo trên đồi có hiệu quả bà con thấy những mảnh đất trống, cỏ cây lu lấp thì tiếp tục phát trồng, xâm phạm vào đất trồng cây lâm nghiệp của công ty. (Báo Quảng Trị 12/7)đầu trang(
Trong khi các Công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được Nhà nước giao hàng chục nghìn ha nhưng lại bỏ không hàng nghìn ha thì người dân thiếu đất để trồng rừng. Họ đành đi làm thuê và hợp đồng với các công ty để trồng rừng. Cuộc sống cứ nghèo khổ triền miên nên họ "khát đất" trồng rừng hơn bao giờ hết.
Nhiều lao động miền núi tụm năm, tụm ba ven đường chờ các công ty nông, lâm nghiệp, các tổ chức, cá nhân sở hữu nhiều diện tích đất đến "tuyển" đi phát thực bì, đào hố, dồn đất vào bao ươm keo giống chuẩn bị trồng cây. Hành trang mang theo của họ chỉ cây rựa và vài bộ quần áo. Họ chờ đợi, đến khi chủ rừng mặc cả xong giá thì kéo nhau thành tốp lên rẫy. Một số chị em phụ nữ có con nhỏ, nhưng cuộc sống khó khăn quá cũng đành để con ở nhà cho đứa con lớn chăm sóc.
Một ngày làm thuê đào hố, đàn ông được trả 120 nghìn đồng, đàn bà 100 nghìn đồng. Anh Phạm Văn Nhia ở xã Ba Tô chia sẻ: "Xuống đây làm cả tuần mới về. Để có tiền về mua gạo, mua cây giống, mình chẳng dám tiêu pha gì, ngoài mua gạo, muối". Khi nghe hỏi chuyện sao không hợp đồng với công ty lâm nghiệp để trồng rừng, nhiều bà con cho biết: "Hợp đồng với công ty lâm nghiệp khó lắm. Không phải ai cũng được công ty hợp đồng đâu".
Không có đất để trồng rừng phải đi làm thuê kiếm sống là quá khổ. Nhưng hợp đồng với công ty lâm nghiệp để trồng rừng cũng chẳng khá gì. Ông H ở xã Ba Động (Ba Tơ), bộc bạch: "Nhà diện hộ nghèo, con đông nên được xã xét vào diện được Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ cho hợp đồng 1 ha đất rừng để trồng keo. Qua 7 năm, phát dọn thực bì, trồng và chăm sóc, đến ngày thu hoạch, bán chia cho công ty theo cách hoàn trả 100% vốn đầu tư, số tiền lợi nhuận còn lại chia đều cho đôi bên, nên tính ra mình còn chẳng bao nhiêu".
Anh Trần N, thôn Nam Lân, xã Ba Động (Ba Tơ) cho biết: "Theo hợp đồng, công ty đầu tư 100% giống cây trồng, phân bón và công trồng chăm sóc. Sau 7 năm thu hoạch, phải nộp sản phẩm 80m3 gỗ keo cho công ty". Thấy khoán nặng quá, anh sợ làm không đủ giao nộp sản phẩm nên đành phải để người khác làm. Anh N thở dài: "Họ khoán kiểu này, nông dân "thở" không nổi”.
Ông Huỳnh Hoàng - Phó Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ cho biết: Công ty đã hợp đồng với 1.962 hộ dân để trồng 2.186 ha keo. Đa số họ là hộ nghèo và cận nghèo. Từ năm 2004 đến năm 2010, Công ty đầu tư 100% vốn, sau khi thu hoạch công ty thu lại vốn, lợi nhuận còn lại chia đều".
Nhưng nhiều hộ dân vẫn “khóc ròng" vì họ cho rằng công ty "ngồi mát ăn bát vàng", trong khi đó họ trực tiếp trồng và bảo vệ rừng thì thu nhập quá ít. Chính vì vậy, từ năm 2010 đến nay công ty chuyển hình thức đầu tư 100% vốn, nhưng sau khi thu hoạch, công ty sẽ thu 80m3 gỗ, còn lại của người trồng rừng.
Công ty lâm nghiệp Ba Tô những năm qua cũng hợp đồng với 300 hộ dân trồng khoảng 300 ha rừng keo, hình thức hợp đồng cũng như Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ. Các công ty nông, lâm nghiệp còn lại cũng có hình thức hợp đồng tương tự. Với cách làm này, nhiều người dân cho rằng, công ty lâm nghiệp chẳng khác gì một tổ chức được Nhà nước giao đất rồi đem hợp đồng với lao động địa phương để trồng rừng kiếm lợi nhuận. Trong khi đó, người dân địa phương thì thiếu đất sản xuất.
Anh Phạm Văn Năm ở xã Ba Dinh phân tích: "Ngày xưa, đồng bào mình chưa biết trồng rừng nên nhờ có lâm trường ươm cây giống, phổ biến kỹ thuật trồng rừng nên vai trò của các Công ty nông, lâm nghiệp là rất lớn. Còn bây giờ, bà con biết cách ươm giống, trồng rừng theo đúng quy trình kỹ thuật chẳng còn phải nhờ vào các công ty lâm nghiệp nữa. Bà con chỉ mong muốn Nhà nước sớm kiểm tra thu hồi đất của các công ty lâm nghiệp để lãng phí giao cho bà con trồng rừng phát triển kinh tế giảm bớt khó khăn trong cuộc sống". (Báo Quảng Trị 14/7)đầu trang(
Tình trạng phá rừng làm rẫy, vận chuyển gỗ trái phép đang diễn ra ngày càng phức tạp tại huyện miền núi Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, nhất là các khu rừng giáp ranh Quốc lộ 25 đoạn qua xã Kroong Pa, Tiểu khu 213, thuộc núi Mò O, khu vực Gò Dông, sát với Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Krông Trai.
Đến hết tháng 6/2013, hơn 2.500 ha rừng bị khai thác, lấn chiếm trái phép, thế nhưng lực lượng kiểm lâm huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên mới lập biên bản được trên 90 vụ vi phạm, tịch thu hơn 150m3 gỗ các loại.
Ông La Chí Tùng, Phó Chủ tịch UBND xã Krông Pa cho biết: Những vụ vận chuyển gỗ trái phép rất khó kiểm soát. Có những vụ được vận chuyển giữa đêm khuya trong thời gian rất nhanh, từ 5-7 phút. Ở Phú Yên có Quốc lộ 25 với nhiều đường rẽ nên lực lượng kiểm lâm không biết là những vụ vận chuyển đi theo hướng nào nên rất khó bắt được. (VOV 13/7)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều nhóm lâm tặc tham gia chặt phá rừng bừa bãi ở xã Minh Tân, huyện Vị Xuyên, khi bị truy đuổi, nhiều đối tượng chống trả quyết liệt. (Nhân Dân 14/7)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Tình trạng lấn chiếm đất rừng để trồng cây và xây dựng trái phép diễn ra phổ biến tại nhiêu xã ở huyện Vân Canh. (Nhân Dân 14/7)đầu trang(
Thông tin từ đường dây nóng báo Quân Đội Nhân Dân phản ánh: Hiện nay, trên địa bàn xác xã Thanh Thủy, tình trạng buôn bán và vận chuyển lâm sản trái phép diễn biến phức tạp. (Quân Đội Nhân Dân 14/7)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Võ Kim Cự vừa ký quyết định kỷ luật công chức đối với 2 lãnh đạo sở và 3 lãnh đạo UBND huyện do liên quan đến công tác bảo vệ rừng, vụ chặt phá rừng ở xã Sơn Hồng, cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép xây dựng một số dự án trên địa bàn.
Theo đó, kỷ luật khiển trách đối với ông Nguyễn Huy Lợi, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh do liên quan đến công tác bảo vệ rừng và vụ chặt phá rừng ở xã Sơn Hồng, huyện Hương Sơn; khiển trách ông Nguyễn Quang Thọ, Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Sơn do liên quan đến công tác bảo vệ rừng và vụ chặt phá rừng ở xã Sơn Hồng. Ngoài ra, ông Thọ còn liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng tại cổng B, Khu Kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo.
Kỷ luật cảnh cáo ông Hoàng Văn Sơn, Phó Giám đốc Sở KH-ĐT do liên quan đến cấp Giấy chứng nhận đầu tư Dự án “Nhà máy chế biến gỗ tiêu dùng, xuất khẩu Kỳ Anh” tại xã Kỳ Tân; cảnh cáo ông Trần Hữu Duyệt, Phó Chủ tịch UBND huyện Cẩm Xuyên do liên quan đến việc cấp giấy phép xây dựng cơ sở chế biến lâm sản và sản xuất nguyên liệu giấy tại xã Cẩm Minh; cảnh cáo ông Nguyễn Văn Việt, Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Khê do liên quan đến việc cấp giấy phép xây dựng Nhà máy sản xuất gỗ băm dăm của Công ty Hanviha. (Sài Gòn Giải Phóng 16/7; Thanh Niên 16/7)đầu trang(
15-7, ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, cho biết Chi cục đang tạm giữ phương tiện và tang vật trong vụ chở gỗ lậu vào sáng 14-7 để điều tra và xử lý theo pháp luật.
Theo ông Phạm Văn Đạo, Phó Trưởng đoàn Kiểm tra liên ngành số 2 (tỉnh Gia Lai), tin báo quần chúng cho hay có một xe ben chở gỗ chạy từ huyện biên giới Sa Thầy (tỉnh Kon Tum) qua huyện biên giới Ia Grai (tỉnh Gia Lai) vào sáng 14-7. Vì vậy, khi chiếc xe ben 61N-2257 vào đến địa phận TP Pleiku (Gia Lai), đoàn bất ngờ chặn đầu, đề nghị kiểm tra.
Hai thanh niên ngồi trên xe tải nhanh chóng mở cửa tháo chạy. Trên xe đang chở 14 hộp gỗ lớn có đường kính 40 cm đến 80 cm, dài 2-3 m; tất cả số gỗ trên đều là gỗ gõ, thuộc nhóm I. (Pháp Luật TPHCM 16/7)đầu trang(
Ngày 15/7, Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã bác kháng cáo kêu oan của Phan Công Anh, sinh năm 1964, ngụ tỉnh Bình Dương, đồng thời giữ nguyên mức án 1 năm tù treo đối với bị cáo này về tội “buôn lậu.”
Theo nội dung vụ án, Nguyễn Văn Coi (sinh năm 1964, quê Hà Nội) và Phạm Quang Hải (sinh năm 1967, Hà Nội) là nhân viên cửa hàng kinh doanh lâm sản của Công ty Thương mại lâm sản Hà Nội.
Cuối tháng 12/2002, Công ty Thương mại lâm sản Hà Nội ký hợp đồng mua bán gỗ xẻ với một công ty của Campuchia mua 2.000m3 gỗ xẻ nhóm 1. Trên cơ sở đó, đầu năm 2003, Bộ Thương mại hai nước Việt Nam và Campuchia có công văn đồng ý cho Công ty Thương mại lâm sản Hà Nội được nhập khẩu 1.500m3 gỗ đã qua chế biến từ Campuchia qua cửa khẩu Hoa Lư, tỉnh Bình Phước.
Do không đủ số lượng theo nhu cầu nên Hải đã thu mua trôi nổi trên thị trường thêm 68,644m3 gỗ xẻ nhóm I. Sau đó, Coi và Hải đã làm giả các chứng từ hàng hóa để hợp thức hóa số gỗ nhập khẩu.
Trên cương vị là Chi cục trưởng Chi cục hải quan cửa khẩu Hoa Lư, Phan Công Anh đã ký các giấy tờ cho phép Coi và Hải nhập số gỗ nói trên về Việt Nam, đồng thời Anh còn nhờ người mua giùm mình 7,642m3 gỗ xẻ nhóm I không có giấy tờ hợp pháp rồi nhập chung với số hàng của Hải và Coi.
Tại phiên sơ thẩm lần đầu, Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Phước đã tuyên phạt bị cáo Coi 5 năm tù giam, Hải 2 năm 6 tháng 20 ngày tù, còn bị cáo Anh được tuyên không phạm tội. Bản án này sau đó đã bị Viện Kiểm sát Nhân dân cùng cấp kháng nghị, đề nghị Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử bị cáo Anh theo hướng phạm tội “buôn lậu.”
Sau đó, Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao đã trả hồ sơ để cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại đối với bị cáo Anh, đồng thời tăng án từ 5 năm lên 6 năm tù đối với Nguyễn Văn Coi, giữ nguyên mức án 2 năm 6 tháng 20 ngày tù đối với Phạm Quang Hải.
Ngày 18/9/2012, tại phiên sơ thẩm lần hai, Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Phước đã tuyên phạt Phan Công Anh 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Cho rằng bản thân vô tội, bị cáo Anh kháng cáo kêu oan. (VietnamPlus.vn 16/7)đầu trang(
Ngày 15.7, cơ quan chức năng kiểm tra Cty Chu Việt (đóng tại Q.Tân Bình, TPHCM, nơi “nổi tiếng” về các loại rượu ngâm “vật lạ”). Tại đây, cơ quan chức năng phát hiện nhiều loại động vật quý hiếm ngâm rượu, trong đó có cả hũ rượu nghi ngâm hổ con.
Trưa 15.7, lực lượng Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (PC49) - Công an TPHCM phối hợp Chi cục Kiểm lâm TPHCM tiến hành kiểm tra hành chính đối với Cty cổ phần đầu tư tài chính Chu Việt - trụ sở trên đường Trường Sơn, phường 4, quận Tân Bình, TPHCM (gần sây bay Tân Sơn Nhất).
Cơ quan chức năng đã phát hiện phía trong trụ sở Cty Chu Việt tàng trữ và trưng bày trên kệ nhiều hũ rượu ngâm các loài động vật quý hiếm với số lượng lớn. Trong đó, có hũ rượu ngâm được ghi hẳn dòng chữ “hổ con ngâm rượu”. Toàn bộ số rượu ngâm bị lập biên bản, niêm phong để tiếp tục điều tra.
Bước đầu xác định, các loại động vật ngâm rượu tại Cty Chu Việt bị nghi là động vật thuộc nhóm IB, IIB của Công ước Cites về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp, thuộc dạng nghiêm cấm, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Hiện cơ quan chức năng đã lấy mẫu để trưng cầu giám định, nhằm có hướng xử lý cụ thể. (Lao Động 16/7)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Từ đầu năm đến nay, cái tên Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) được xuất hiện liên tục trên mặt báo. Chỉ tiếc một điều là mỗi khi xuất hiện, không phải là những thành tích hay chuyện vui gì, mà hầu như đều liên quan tới gỗ lậu(!)
Mới nhất là rạng sáng 13-7, lâm tặc chở gỗ lậu khi bị chặn bắt đã táo tợn ép xe làm 2 chiến sĩ công an bị thương. Để tẩu thoát, họ đã hất gỗ xuống đường, cản lực lượng truy đuổi. Số gỗ hất xuống khoảng 3,2m3, thuộc nhóm 2. Trên mạng, đầy nhóc những tấm hình chụp cảnh gỗ nằm ngổn ngang trên đường.
Ngược theo dòng thời gian, rạng sáng 20-4, lâm tặc chở gỗ lậu, khi bị phát hiện đã dùng bình cứu hỏa trên xe xịt vào lực lượng truy đuổi, sau đó trút gần 5m3 gỗ Pơmu xuống ruộng mía hòng chối tội.
Ngày 7-4, Đội liên ngành kiểm tra tại thôn Bố Lang, xã Sơn Thái phát hiện 150 hộp gỗ xẻ. Kiểm tra cửa hàng mỹ nghệ Bến Lội phát hiện hơn 3m3 gỗ nhóm 2, mở rộng kiểm tra, Đội còn phát hiện 13m3 gỗ giấu ở ven suối. Cửa hàng này do người nhà một quan chức của huyện đứng tên.
Mới đây, Công ty Lâm nghiệp Trầm Hương phát hiện rừng phòng hộ giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk do đơn vị mình quản lý bị phá mất gần 26ha. Hiện nay, các cơ quan chức năng đã ra quyết định khởi tố vụ án.
Khi tuyến đường Nha Trang - Đà Lạt đi vào hoạt động, lãnh đạo huyện đã hy vọng tuyến đường này sẽ tạo điều kiện thông thương, mở cho huyện cơ hội phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển chưa thấy đâu, chỉ biết con đường đã tạo cơ hội cho những kẻ phá rừng. Cách đây không lâu, kênh truyền hình VTV1 còn phát một phóng sự, cảnh người ta chở gỗ trên xe máy đi như đi chợ…
Một điều ai cũng hiểu là, lâm tặc có tổ chức như những vụ chở gỗ bị cơ quan chức năng truy đuổi kia, không tồn tại độc lập. Đằng sau họ chắc chắn phải có ai đó bảo kê. Không có sự chống lưng của quan chức, nhất là trong ngành bảo vệ pháp luật, lâm tặc không thể “làm ăn lớn” như vậy. Các vụ bị phát hiện, truy đuổi kia chẳng qua chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, là những vụ cụ thể, được mật báo nên cơ quan chức năng có điều kiện bắt quả tang.
Mới đây, vụ phá rừng Tà Gụ ở Khánh Sơn đã được đưa ra ánh sáng sau những nỗ lực không nhỏ của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và sự quyết liệt của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy. Nhiều cán bộ đã bị kỷ luật, tập thể Ban Thường vụ huyện ủy Khánh Sơn buộc phải kiểm điểm rút kinh nghiệm. Những kinh nghiệm này đã cho thấy nếu công tác kiểm tra Đảng được thực hiện kịp thời thì có thể ngăn ngặn những vụ phá rừng liên quan đến cán bộ, đảng viên…
Dù sao thì đống bùi nhùi khai thác, vận chuyển gỗ lậu cũng đã có vài đầu mối bị bung ra, đó là các vụ bị bắt quả tang. Hy vọng, từ những đầu mối này, những tang chứng và con người cụ thể, các cơ quan chức năng kiên quyết “phăng” cho ra cả một đường dây. Hoặc là tập trung kiểm tra quyết liệt các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn huyện…
Có như vậy, chút rừng còn lại của Khánh Vĩnh mới có hy vọng sống sót. (Báo Khánh Hòa 15/7)đầu trang(
Tôi nhớ, cũng đã lâu rồi, trong một chuyến công tác, tôi về một lâm trường ở biên giới. Buổi trưa, đang ngồi nghỉ ở nhà khách lâm trường thì... một ông ba mươi lững thững bước vào.
Cả nhóm nhà báo co rúm lại. Chả ai kịp hú hét, kể cả mấy chị đang buôn như pháo nổ. Ông làm một vòng quanh phòng rồi lại... lững thững ra. Sau mới biết, con hổ này được bắt từ hồi còn bé tí, được nuôi như nuôi chó và... hiền như mèo. Nó được dạy cho ăn cơm như... chó, thi thoảng mới có thịt, mà là thịt chín. Còn hồi mới bắt về, nó được nuôi bằng nước cơm và sữa đậu nành. Hồi tôi thấy, nó to bằng chừng con bê con, nhưng mà béo mẫm.
Sở dĩ tự nhiên tôi nhớ đến “ông” cọp này là vì năm nào đó, tại phường Bình San, thị xã Hà Tiên, con trăn khoảng trên hai chục kg, đẹp nhất trong đàn trăn nuôi nhà ông Nguyễn Việt Hồ, nguyên bí thư huyện uỷ Hà Tiên, đã vô cớ phóng tới lúc ông Hồ đang cầm con chuột, mở cửa chuồng cho nó ăn. Con trăn đã xiết cổ ông Hồ đến chết trong tư thế đứng dù đã được người nhà xông vào cứu nguy. Trăn là loại động vật rất hiền khi được nuôi. Hồi nhỏ tôi hay nghe bà ngoại kể chuyện trăn quấn chết người.
Những người đi rừng có kinh nghiệm thường dùng dây sắn dây cột vào người để đuổi trăn vì họ đồn rằng trăn rất sợ loại dây này. Còn khi bị trăn quấn hãy bình tĩnh đứng yên, chắp hai tay giơ lên trời tìm cách túm đuôi nó đưa lên mồm cắn thật mạnh nó sẽ thả mình ra. Người có kinh nghiệm hơn thì còn... trói trăn thành từng khoanh để bắt sống! Đấy là nghe kể chứ bao nhiêu năm ở Tây Nguyên, chưa bao giờ tôi nghe chứ đừng nói thấy trăn rừng quấn hoặc ăn thịt người...
Ông cọp tôi kể trên nếu còn thì giờ chắc nó một là ở trong vườn thú, và 2 là cũng thành... cao rồi. Cao cọp nghe người ta nói là... hoành tráng lắm, thú thật là tôi cũng đã được dùng rồi, chả “nghe ngóng” gì cả. Tôi đã từng được một anh bạn, “hàm” đại gia, cho thăm và nếm tất cả tủ rượu của anh ta. Hình như trên đời có con gì thì trong các hũ rượu của anh ta có con đó, từ con bổ củi, sâu chít, bò cạp, rết, chim rắn... đến trăn gấu cọp beo dái voi... con thì ngâm nguyên trạng, con thì nấu cao, con thì mật, con thì đuôi, chân, con thì bào thai, trứng, dạ dày, và kinh nhất là có cả huyết lình của khỉ...
Tôi cũng đã vào thăm vài trại nuôi gấu, phát hiện rằng, những con gấu nuôi cũng... hiền như trăn. Bởi thế nên tôi hết sức ngạc nhiên khi nghe tin một ông chủ trại gấu bị chính gấu của mình tát chết. Mới đây thì nghe ở Quảng Ninh người ta công khai tổ chức tour du lịch hút mật gấu, những con gấu bị nuôi nhốt, hút mật liên tục đã bị ung thư rồi, gan đã rã ra, thối lên, nhưng vẫn được hút bán cho khách. Những con gấu nuôi đang ngày một đần đi, đơn giản vì không ai nuôi không chúng để... chẳng làm gì cả. Mà nếu có nuôi không chúng cũng đã ngu đi, yếu đi, hèn đi, tàn tạ khủng hoảng đi, huống gì đây người lại nuôi lấy mật.
Ngày xưa có được một giọt mật gấu rừng thôi, cả làng cả tổng tròn xoe mắt... né, vì (nghe đồn) chỉ đứng gần giọt mật gấu rừng người đã rất nóng. Có người ngã, đầu sưng u như cái mũ, không dám xin mà chỉ... mượn cái lọ đựng mật xoa xoa bên ngoài, thế mà (nghe nói) khỏi hẳn. Bây giờ đi nhậu, một chai vodka Lò Đúc, 2cc mật gấu nuôi, mỗi người làm 2 chai, chả thấy xi nhê gì? không những thế, còn thấy... nhát gan hơn, hèn hơn, về nhà vợ chưa quát đã tồng tộc khai tuốt đồng đội đang... núp trong đống rơm?...
Rồi voi. Tôi cũng đã từng... cưỡi voi. Cưỡi với một nhân vật VIP là nhạc sĩ Trần Hoàn tại buôn Đôn. Cũng đã từng ngồi giữa đám đông hàng chục ngàn người ở sân vận động Đăk Lăk xem đua voi. Vừa xem vừa nghĩ dại: Lỡ mà một con voi trong bầy kia... tuột thắng (phanh), đang chạy không dừng lại được, cứ hùng hục tấm thân bồ tượng chục tấn thế đâm sầm vào khán đài, cả trăm mạng đi đứt chứ không ít. Thế mà rồi không việc gì. Nhưng rồi liên tiếp những năm vừa qua, mấy vụ voi quật chết người. Vụ đầu tiên là ở hồ Lăk. Con voi dùng vòi quấn anh hướng dẫn viên du lịch của Đà Lạt khi anh này đang đứng trước mặt nó chụp ảnh, tung lên rồi dùng chân đá.
Tất nhiên anh này chết ngay tại chỗ. Sau đó là vụ một con voi đực rất khôn ở khu du lịch Buôn Đôn quật chết chính chủ của mình, người đã yêu thương nuôi nấng chăm bẵm nó hơn cả nuôi... con suốt mấy chục năm qua... rồi chuyện voi rừng về phá làng phá rẫy cũng làm đau đầu nhiều cấp có trách nhiệm. Thực ra thì dân chả dám gọi là...
Voi đâu, mà là "Ngài", là "Ông"... "Ngài" về Bình Thuận thì Bình Thuận tan hoang, tốn rất nhiều đô la mời các chuyên gia người Mã Lai sang "thỉnh" ngài lên Buôn Đôn Đắc Lắc. Ngài ghé Quảng Nam, Quảng Nam kêu cứu, "Ngài" ngự ở Gia Lai, Gia Lai tan tác... Ấy là bởi chúng ta đã tận diệt môi trường sống của chúng, bằng nhiều cách. Phá rừng là một cách, săn chúng lấy ngà là một cách, và nhiều cách nữa, khiến chúng, vốn khá hiền lành, trở nên hung hăng khát máu...
Bây giờ thì người ta đang tìm hiểu nguyên nhân của việc các động vật đã thuần dưỡng, được người nuôi, thậm chí nuôi từ bé, từ khi còn đỏ hỏn, lại vô cớ tấn công, quật chết người? Câu hỏi tưởng khó mà lại vô cùng dễ: Chúng là thú. Mà là thú dữ. Người ta cho rằng nguyên nhân con trăn quấn chết ông Hồ là do nó đói, thực ra là nó quấn con chuột ông Hồ cầm trên tay kia? Còn con voi Buôn Đôn là do nó đang trong thời kỳ động đực. Voi mà đang "quan hệ" lỡ ai mà nhìn thấy là... coi như xong. Nó sẽ đuổi bằng được để giết. Con gấu là do nó... điên bất thần... Tất cả những lý do ấy là lý do trực tiếp, còn nguyên nhân sâu xa, chúng là thú dữ, ta nâng chúng lên hàng... tư duy như người.
Gấu thì không nói, nó dữ cả khi nó... hiền nhất. Còn các loại khác, bản năng thú vẫn hừng hực trong huyết quản. Nhìn cách con người đối xử với voi như với người mà tôi nghi ngờ. Người ta cúng cho chúng, người ta nói chuyện với chúng, điều hành chúng, xích chúng quanh năm ngày tháng. Cũng như thế, những con gấu hiên ngang dũng mãnh trong rừng, giờ ru rú trong cái chuồng mấy mét vuông, con nào chả cáu. Và chắc chúng đều biết thủ phạm “cầm tù” chúng là ai. Dẫu ngu như thú thì chúng cũng biết điều ấy...
Cứ đà này, những hung tin về việc thú nuôi giết chủ sẽ còn dài dài. Con người đã triệt hạ đường sống của thú, bắt chúng sống ở một cõi khác, hoàn toàn xa lạ với bản năng sống đã truyền đời của chúng. Văn chương chúng ta, vinh quang thay, từ rất lâu rồi, đã cảnh báo điều này. Bài thơ “Nhớ Rừng” của Thế Lữ chả nói điều này là gì? “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt/ Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua/ Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ...”. Từ khinh đến ghét, đến căm thù, rồi... vồ, chả là mấy.
Rõ ràng, lỗi từ phía con người đã cố tình bức tử môi trường thiên nhiên của thú... (VTC 15/7)đầu trang(
THẾ GIỚI
Năm quốc gia Đông Nam Á là Indonesia, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Brunei dự kiến sẽ tổ chức hội nghị cấp Bộ trưởng tại Kuala Lumpur (Malaysia) từ ngày 20-21 tháng 8-2013 thảo luận tình trạng khói mù.
Hội nghị nhằm tăng cường hợp tác giữa các quốc gia để khống chế tình trạng ô nhiễm không khí do khói bụi, và đưa ra giải pháp kiểm soát cháy rừng thông qua vệ tinh.
Do người dân đốt rừng canh tác tại đảo Sumatra (Indonesia) nên nhiều vùng của Malaysia và Singapore bị khói và tro bụi bao phủ dày đặc. Ô nhiễm không khí do khói đốt rừng là một vấn đề tồn tại từ lâu ở Indonesia, tháng 10-2006, 5 quốc gia trên đã tổ chức hội nghị bộ trưởng môi trường tại Indonesia, kêu gọi nước này nhanh chóng phê chuẩn “Hiệp định về ô nhiễm khói mù xuyên biên giới ASEAN”. (An Ninh Thủ Đô 16/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||