Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 16 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Khoảng 20h30 ngày 13-6, trên Quốc lộ 1A đoạn chạy qua địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, lực lượng liên ngành gồm công an huyện Quỳnh Lưu, hạt kiểm lâm huyện Quỳnh Lưu phát hiện một chiếc xe tải không biển số nhưng được che chắn rất cẩn thận lưu thông theo hướng Hà Nội – TP.HCM với nhiều biểu hiện nghi vấn.
Ngay lập tức, cơ quan chức năng đã áp sát và ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Tuy nhiên, thay vì chấp hành hiệu lệnh, lái xe đã nhấn ga bỏ chạy. Thấy biểu hiện lạ, lực lượng chức năng đã quyết truy đuổi đến cùng chiếc xe tải nghi vấn. Do trời mưa, mặt đường trơn, trong khi người trên xe tải liên tục ném các vật cản ra đường nên gây rất nhiều khó khăn cho lực lượng chức năng trong quá trình truy đuổi.
Khi chiếc xe tải chạy đến địa bàn xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu, lái xe bất ngờ rẽ vào một con đường liên thôn rồi bỏ lại hai cá thể động vật trước khi tẩu thoát. Sau khi kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 2 cá thể động vật là 2 con hổ Đông Dương có trọng lượng từ 70-90kg đã bị tiêm thuốc gây mê.
Đến khoảng 23h cùng ngày, lực lượng chức năng đã quyết định dùng xe đặc chủng chuyển 2 con hổ về Trung tâm bảo tồn và chăm sóc động vật hoang dã vườn quốc gia Pù Mát đóng tại địa bàn huyện Con Cuông, Nghệ An để chăm sóc. Vụ việc đang được công an huyện Quỳnh Lưu khẩn trương điều tra làm rõ. (Khoa Học & Đời Sống + An Ninh Thủ Đô + Công An TPHCM 16/6; Sài Gòn Giải Phóng 15/6; Công An Nhân Dân + Giao Thông + Thanh Niên + Lao Động + Pháp Luật TPHCM + Pháp Luật & Xã Hội + Nhân Dân 14/6) đầu trang(
Ông Nguyễn Trí, Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) sông Thanh, kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (HKL) rừng đặc dụng Sông Thanh, cho biết, xã Đắc Pring (huyện Nam Giang, Quảng Nam) có 28 nghìn héc-ta đất lâm nghiệp. Trong đó, 23 nghìn héc-ta có rừng, với 7 tiểu khu thuộc vùng lõi Khu BTTN Sông Thanh.
Với diện tích rừng lớn, song lực lượng mỏng nên “vàng tặc” lợi dụng tổ chức khai thác dai dẳng trong Khu BTTN Sông Thanh. Liên tục từ năm 2012 đến nay, Ban Quản lý Khu BTTN Sông Thanh và và HKL rừng đặc dụng Sông Thanh đã tổ chức hàng chục đợt truy quét, đẩy đuổi, phá bỏ nhiều lán trại, máy móc, thiết bị khai thác vàng trái phép của “vàng tặc”, song qua những đợt truy quét, mọi chuyện lại như cũ…
Như Báo CAND đã phản ánh vấn nạn “vàng tặc” tàn phá núi rừng Khe Lên, tại xã Đắc Pring (Nam Giang), một điểm trong Khu BTTN Sông Thanh. Rời Khe Lên, nhóm PV tiến sâu vào rừng phát hiện “vàng tặc” ở Khe Nhiên cũng hoạt động nhộn nhịp không kém.
Tại đây, người dẫn đường cho biết, có hai “trùm” là Mai và Vinh (trú huyện Nam Giang) cầm đầu. Bọn chúng cho “đàn em” khai thác vàng trái phép theo hình thức “cuốn chiếu”. Chúng chọn khai thác những đoạn suối có địa hình tương đối phẳng, ít đá tảng; hai bên suối chủ yếu cát và đất; sử dụng máy múc công suất lớn, nhiều giàn đãi vàng, máy nổ… để khai thác vàng một cách triệt để hết đoạn suối này đến đoạn suối khác, sâu vào bên trong Khu BTTN Sông Thanh hàng chục cây số.
Khai thác xong, nhằm tránh những đoạn suối hẹp, nhiều đá tảng và hiểm trở, chúng đào phá cây rừng, múc hạ đất đồi núi thành đường lớn, di chuyển máy móc vào các đoạn suối mới tiếp theo. Những cánh rừng già xanh tốt ngút ngàn trong Khu BTTN Sông Thanh đã bị đào bới tan hoang, đất đá nham nhở như một bãi chiến trường. Suốt hơn 10 giờ đồng hồ nhóm PV mới lội hết được khu vực Khe Nhiên. Nhìn xung quanh đều một màu đất, nước đỏ quạch; cây rừng bị đào hạ ngổn ngang, la liệt...
Rõ ràng, với hoạt động rầm rộ của “vàng tặc” tại Khe Lên, Khe Nhiên… trong Khu BTTN Sông Thanh hiện nay như nhóm PV đã chứng kiến, trước hết là do sự buông lỏng trong công tác quản lý, thiếu trách nhiệm của Ban Quản lý Khu BTTN Sông Thanh và lực lượng Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng của huyện Nam Giang, chính quyền các xã Đắc Pring và Đắc Pre cũng không thể đổ thừa do lực lượng mỏng không thể kiểm soát hết được. Đề nghị chính quyền tỉnh Quảng Nam và huyện Nam Giang sớm có biện pháp chấn chỉnh để xử lý dứt điểm vấn nạn “vàng tặc” trong Khu BTTN Sông Tranh. (Công An Nhân Dân 15/6) đầu trang(
Trong khi phát đường băng cản lửa, một kiểm lâm bị chiếc máy cắt thực bì gãy lưỡi văng trúng chân. Lưỡi cưa sắc lẹm đã cắt lìa bàn chân của kiểm lâm này.
Ông Đào Huy Phiên, Giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) cho biết, vụ tai nạn đáng tiếc trên xảy ra vào ngày 10/6. Nạn nhân là anh Nguyên Anh Sơn, kiểm lâm viên thuộc Đội kiểm lâm cơ động.
Theo ông Phiên, vào sáng ngày 10/6, anh Sơn cùng nhiều nhân viên đội Kiểm lâm cơ động của Vườn Quốc gia Vũ Quang tham gia giọn thực bì, phát đường băng cản lửa phòng chống cháy rừng tại địa bàn xã Hòa Hải, huyện Hương Khê. Trong khi đang làm nhiệm vụ, máy cắt thực bì gãy lưỡi, văng trúng chân anh Sơn. Lưỡi cưa sắc, có độ xoáy mạnh đã cắt lìa bàn chân của anh Sơn. Nạn nhân đã bị ngất sau đó do chấn thương nặng và mất nhiều máu.
Ngay sau khi tai nạn xảy ra, đồng nghiệp đã nhanh chóng đưa anh Sơn tới Trung tâm y tế gần nhất sơ cứu, ướp đá phần chân bị lìa trước khi chuyển thẳng ra Bệnh viện Việt Đức cấp cứu.
Ông Phiên thông tin, ngay sau khi nhập viện, anh Sơn đã đã được các y bác sỹ tại Bệnh viện Việt Đức mổ, nối thành công bàn chân bị đứa lìa.
Hiện sức khỏe anh Sơn đang dần hồi phục. (Pháp Luật TPHCM 13/6) đầu trang(
Việc Công ty cổ phần (CP) trồng rừng Trường Thành cho người đến phá rừng của một số hộ dân nhận khoán của Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng (huyện Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc) đang gây mất an ninh trật tự trên địa bàn và gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân trong vùng dự án.
Được biết, từ năm 2001 đến năm 2008, có 28 hộ dân thuộc các xã Cư Klông và Ea Tam, huyện Krông Năng được Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng giao khoán 546 ha đất lâm nghiệp để trồng rừng. Việc giao khoán này thực hiện theo Quyết định số 661/QĐ-TTg, ngày 29-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu héc-ta rừng. Sau khi nhận khoán, các hộ này đã tiến hành trồng được 486 ha keo xen thông.
Trong số 28 hộ nhận khoán, có 12 hộ được Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng lập Hồ sơ giao khoán và Khế ước giao khoán đất lâm nghiệp vào ngày 16-6-2001 với thời gian là 50 năm. Thế nhưng, từ tháng 10-2008 đến nay, 486 ha rừng của 28 hộ dân đã xảy ra tranh chấp với Công ty CP trồng rừng Trường Thành. Nguyên nhân là do Quyết định số 2572/QĐ-UBND, ngày 3-10-2008 của UBND tỉnh Đắc Lắc về việc thu hồi 568,43 ha đất của Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để giao cho Công ty CP trồng rừng Trường Thành thuê đã chồng lấn lên toàn bộ 486 ha rừng trồng mà các hộ dân đã nhận khoán trước đây.
Được biết, trước khi ban hành quyết định trên, UBND tỉnh Đắc Lắc đã tổ chức đoàn liên ngành kiểm tra thực địa. Tại biên bản phúc tra “Báo cáo kết quả điều tra hiện trạng rừng và đất đai vùng dự án thuê đất trồng rừng của Công ty CP trồng rừng Trường Thành tại Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng”, ông Nguyễn Thế Anh Sơn trên cương vị Giám đốc Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng đã đề nghị: “Đối với diện tích đất đã giao khoán cho các hộ dân trồng rừng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ không thể giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Trường Thành để lập dự án đầu tư trồng rừng”.
Thế nhưng, không hiểu vì lý do gì, UBND tỉnh Đắc Lắc vẫn ban hành Quyết định số 2572/QĐ-UBND, ngày 3-10-2008 về việc thu hồi 568,43 ha đất của Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để giao cho Công ty CP trồng rừng Trường Thành thuê.
Việc UBND tỉnh Đắc Lắc giao toàn bộ 486 ha rừng trồng của dân cho doanh nghiệp mà không có phương án, không ban hành quyết định thu hồi, không đền bù cho dân, gây tâm lý bất bình trong dư luận ở địa phương này. Không ít người cho rằng, quyết định này đã vi phạm quy định của pháp luật, xâm phạm quyền lợi chính đáng của người dân. Chính vì vậy, 28 hộ dân trong dự án đang tiến hành các thủ tục pháp lý để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Trong khi đang xảy ra tranh chấp, thì vào ngày 5-5-2014, Công ty CP trồng rừng Trường Thành ban hành Quyết định số 12/QĐ-CT về việc chặt hạ, xử lý, dọn dẹp 50.000m² rừng thông tại tiểu khu 316, xã Ea Tam, huyện Krông Năng để trồng lại rừng trong năm 2014. Ngày 24-5-2014, Công ty CP trồng rừng Trường Thành đã cử 7 công nhân, do ông Uông Xuân Thu chỉ huy, sử dụng 2 cưa lốc vào rừng thông thuộc tiểu khu 316, xã Ea Tam để chặt hạ rừng. CCB Phan Khắc Văn, một trong những chủ nhân của cánh rừng bị hại trên ước tính tổng thiệt hại lên tới hơn 300 triệu đồng.
Theo biên bản hiện trường do Công an xã Ea Tam lập vào hồi 17 giờ ngày 24-5-2014, ghi rõ: “Tại tiểu khu 316, có khoảng 700 đến 800 cây thông trồng từ năm 2006 bị cắt thành từng khúc có chiều dài 2m. Thông bị cắt còn tươi, cây to nhất có đường kính gốc 27cm, còn đại đa số có đường kính gốc 13 đến 17cm, diện tích bị chặt 8.000 m²".
Sau khi Công ty CP trồng rừng Trường Thành tự ý cho người vào chặt phá rừng thuộc khu vực đang có tranh chấp, các hộ dân có rừng bị hại đã làm đơn tố giác tội phạm tổ chức xâm phạm và hủy hoại tài sản tới cơ quan chức năng để  bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Rất mong các cơ quan chức năng của tỉnh Đắc Lắc sớm có biện pháp xử lý dứt điểm vụ việc trên để giữ ổn định tình hình an ninh- trật tự trên địa bàn. (Quân Đội Nhân Dân 13/6) đầu trang(
Trong vòng hơn bốn năm qua, tại Ðồng Nai, đã có tám con voi rừng bị chết chưa rõ nguyên nhân và một người chết, hai người bị thương do voi gây ra. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Quyết định 733 phê duyệt kế hoạch khẩn trương bảo tồn voi hoang dã tới năm 2010 và ban hành Quyết định 940 về việc phê duyệt kế hoạch hành động khẩn cấp đến năm 2020 để bảo tồn voi ở Việt Nam, thế nhưng đến nay, tiến độ triển khai kế hoạch hành động khẩn cấp này vẫn "đủng đỉnh" như... voi.
Một đêm đầu tháng 5, ở khu dân cư ấp 4, xã Thanh Sơn (huyện Ðịnh Quán, Ðồng Nai), bỗng có những bước chân chạy rầm rập cùng tiếng gọi nhau í ới "voi về". Lại là một đêm không ngủ nữa của người dân nơi đây để giữ những gì còn sót lại sau nhiều tháng voi về phá hoại mùa màng.
Anh Trần Chu Lai, Tổ trưởng tổ 6, ấp 4, xã Thanh Sơn, sau khi cùng thanh niên trong ấp xua đuổi voi, vội vàng về nhà tiếp tục chế tạo "bom xăng". Theo kinh nghiệm của anh, voi sẽ xuất hiện ở nơi khác để kiếm thức ăn cho đến khi trời tờ mờ sáng. "Ở đây, nhà nào cũng tự chế "bom xăng" để xua đuổi voi, bởi cuộc sống hầu hết các hộ ở đây gắn liền với sản xuất nông nghiệp", vừa đổ xăng vào chai nhựa, anh vừa nói.
Anh cũng cho biết, mới đây, khi chuẩn bị gọi thương lái vào thu hoạch xoài với khoảng bốn tấn, thì đàn voi có sáu đến bảy con ra phá, chỉ thu hoạch được hơn hai tấn. Nông dân ở các khu vực này vô cùng khốn đốn vì ban ngày vất vả đi làm, ban đêm thức xua đuổi voi khỏi phá các loại cây trồng. Tuy nhiên, đàn voi này vẫn xuất hiện liên tục để kiếm thức ăn cho dù người dân tự chế "bom xăng", mua khí đá tạo tiếng nổ, mua chế phẩm sinh học treo chung quanh vườn cây ăn trái tạo mùi hôi... đuổi voi nhưng đều vô dụng, thậm chí voi còn xuất hiện ngay tại khu dân cư phá nhà cửa.
Gương mặt phờ phạc sau một đêm thức trắng, ông Trần Minh Hoàng, tổ 8, ấp 4, xã Thanh Sơn nói với giọng nghẹn ngào: "Tôi có 3 ha xoài, trước kia mỗi năm thu hoạch hơn 70 tấn xoài, còn năm nay do voi phá chỉ thu hoạch được 18 tấn. Voi càn lướt làm gãy, lật gốc 120 cây xoài hơn mười năm tuổi, quả xoài rụng đầy cả vườn, thiệt hại là vậy nhưng chẳng thấy địa phương hỗ trợ được gì, đời sống gia đình càng gặp nhiều khó khăn".
Theo Chi cục Kiểm lâm Ðồng Nai, có bốn xã gồm: Mã Ðà, Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu); xã Tà Lài (huyện Tân Phú); xã Thanh Sơn (huyện Ðịnh Quán) với hơn 6.000 hộ nằm trong vùng ảnh hưởng của voi. Chỉ tính riêng tại xã Phú Lý, từ năm 2007 đến nay, thiệt hại do voi gây ra hơn 167 ha hoa màu, 1.677 cây ăn trái lâu năm bị gãy đổ, chưa tính thiệt hại nhà cửa do voi giật sụp đổ.
Anh Ðoàn Duy Hiển, nhân viên Hạt kiểm lâm huyện Ðịnh Quán, phụ trách khu vực xã Thanh Sơn cho biết: "Người dân ở đây rất bức xúc trước tình trạng voi liên tục ra phá hoại mùa màng, nhà cửa. Nhiều nhân viên kiểm lâm trực ở đây cùng nhân dân xua đuổi voi, đồng thời vận động người dân kiềm chế không có những hành động tiêu cực đối với voi. Ðã có trường hợp người dân dùng bom xăng ném vào lưng voi gây cháy, làm voi phản ứng rất dữ dội và càng phá hoại mùa màng, nhà cửa ngay tại khu dân cư". Bí thư Chi bộ
ấp 4, xã Thanh Sơn, Ðinh Võ Bắc kiến nghị: "Nhà nước cần tính toán như thế nào để hạn chế việc voi phá hoại mùa màng, đe dọa cuộc sống của người dân, đồng thời cần có chính sách hỗ trợ cho những người bị thiệt hại. Người dân ở đây đang "dài cổ" trông chờ dự án khẩn cấp bảo tồn voi suốt tám năm nay nhưng đến nay vẫn chưa thấy rục rịch gì, không hiểu vì sao?".
Theo các chuyên gia nghiên cứu về voi, trong 25 năm trở lại đây, quần thể voi hoang dã ở nước ta bị suy giảm nghiêm trọng do nạn săn bắn trái phép và sinh cảnh sống ngày càng bị thu hẹp. Chính vì các mối đe dọa này, cả nước hiện chỉ còn hơn 80 cá thể voi hoang dã tồn tại ở các khu vực biệt lập tại ba tỉnh Nghệ An, Ðác Lắc, Ðồng Nai. Ðây là sự suy giảm nghiêm trọng so với số voi rừng ước tính khoảng 1.500 đến 2.000 con vào năm 1990.
Tại Ðồng Nai, qua kết quả khảo sát, hiện tổng đàn voi có khoảng 12 đến 13 con, đây là đàn voi có cả con đực, con cái và voi con sống biệt lập trong lãnh thổ Việt Nam cần được bảo tồn, phát triển. Trong khi xung đột giữa voi và người ngày càng gia tăng thì dự án khẩn cấp bảo tồn voi được Chính phủ phê duyệt ở ba tỉnh là Ðồng Nai, Nghệ An, Ðác Lắc với tổng kinh phí 278 tỷ đồng (vốn đối ứng địa phương 20%, Trung ương 80%) đã kéo dài hơn tám năm nay vẫn "còn nằm trên giấy". Nếu cứ nhùng nhằng, kéo dài chuyện kinh phí thì dư luận không khỏi e ngại rằng, đến khi triển khai kế hoạch khẩn cấp này Ðồng Nai sẽ không còn voi để bảo tồn. (Nhân Dân 14/6) đầu trang(
Các nhàh khoa học Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ vừa công bố một loài ve sầu mới (họ Ciadidae, phân bộ Auchenorrhyncha, bộ Hemiptera).
Loài này có chiều dài cơ thể 32,8-33,4mm; cánh trước dài 43,1-44,6mm; chiều rộng của đầu 8,7-9,1mm…Mẫu vật nghiên cứu của loài mới này được lưu giữ tại VQG Kon Ka Kinh (Gia Lai). (Khoa Học & Đời Sống 13/6) đầu trang(
13/6, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, Đà Nẵng tạm giữ 61 phách gỗ xoan đào và kiền kiền tổng cộng 6,2m3 vốn chỉ có rừng đặc dụng Bà Nà Núi Chúa được vận chuyển trái phép. (Thanh Niên 14/6) đầu trang(
Kỳ tôm, sóc đen, gà lôi hông tía, cầy gấm vừa được Cục cảnh sát Môi trường cùng Chi cục Kiểm lâm TP HCM phát hiện tại hai nhà dân.
Cục cảnh sát Môi trường Văn phòng phía Nam cho biết, sáng 13/6, đơn vị này phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm TP HCM kiểm tra gia đình Trần Minh Thạch (36 tuổi, ở phường Thới An, quận 12) phát hiện một sóc đen, một kỳ tôm, 7 gà lôi hông tía (nhóm IB nghiêm cấm khai thác) và nhiều sản phẩm khác được cất trong một tủ lạnh. Ngoài ra còn có khoảng 27kg thịt gấu còn lông, một con chồn, một con dúi và một khối thịt heo rừng đã đốt lông.
Anh Thạch cho hay 7 con gà lôi hông tía đang nuôi nhốt trong nhà nhằm lấy trứng ấp nở để nuôi làm cảnh, các cá thể và sản phẩm động vật hoang dã còn lại được mua về để bán. Tuy nhiên tại nhà anh Thạch, cơ quan điều tra không phát hiện bất cứ phương tiện nào có khả năng được sử dụng làm dụng cụ ấp trứng; đồng thời điều kiện nuôi nhốt là tạm bợ, không phù hợp với hình thức nuôi vì mục đích làm cảnh.
Chiều cùng này, cơ quan điều tra cũng kiểm tra hộ Võ Quốc Quang (35 tuổi, ở ấp 3, xã Đông Thạnh, Hoóc Môn) và tịch thu một con cầy gấm. Theo tiến sỹ Hoàng Minh Đức, Viện phó viện Sinh thái học Miền nam "ở Việt Nam đây là loài cực kỳ hiếm".
Tất cả các cá thể động vật đã được cơ quan điều tra bàn giao cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi; các sản phẩm động vật hoang dã khác bị tịch thu.
Tháng 9/2013, Cục cảnh sát Môi trường Văn phòng phía nam đã bắt 340 cá thể động vật hoang dã tại Đắk Nông và được tổ chức bảo tồn quốc tế WCS đánh giá cao về ý nghĩa bảo tồn cũng như chất lượng công tác thực thi pháp luật. (Lao Động 16/6; Vietnamnet + VnMedia 15/6; VnExpress + Tuổi Trẻ 14/6) đầu trang(
Cơ quan CSĐT Công an huyện Bạch Thông vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam đối với Bùi Ngọc Bộ và Đàm Văn Thụ, cùng 29 tuổi và trú tại xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Theo tài liệu của cơ quan điều tra, ngày 27/4/2014, Thụ và Bộ đã lên khu rừng Lủng Páng thuộc thôn Vằng Bó, xã Đôn Phong huyện Bạch Thông chặt, xẻ trái phép 1 cây gỗ Xoan Mộc (thuộc nhóm 6) có khối lượng hơn 41m3. Đến ngày 7/5/2014 khi 4 người dân ở địa phương được Bộ và Thụ thuê vận chuyển số gỗ xẻ từ cây gỗ nói trên từ khu rừng Lủng Páng ra tập kết ở bờ suối thôn Vằng Bó thì bị tổ công tác của UBND xã Đôn Phong và kiểm lâm huyện Bạch Thông phát hiện, bắt quả tang gồm 9 hộp gỗ đã xẻ có khối lượng hơn 0,8m3 mỗi hộp có chiều dài 2,5 - 2,8m, rộng từ 40 - 50cm.
Rừng của huyện Bạch Thông được quy hoạch theo ba loại đó là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Trong đó nhiều xã như  Sỹ Bình, Vũ Muộn, Cao Sơn, Đôn Phong vẫn còn nhiều diện tích rừng đặc dụng với nhiều loại gỗ quý hiếm như sến, trai, nghiến có trữ lượng lớn. Do ít đất ruộng canh tác nên người dân ở các xã vùng cao này vẫn dựa vào rừng để khai thác lâm sản trái phép phục vụ nhu cầu sinh hoạt.
Bên cạnh đó, lợi nhuận từ việc buôn bán gỗ mang lại đã khiến cho tình trạng khai thác lâm sản trái phép ngày càng có chiều hướng gia tăng. Từ đầu năm đến nay, Công an huyện Bạch Thông đã làm rõ 4 vụ, khởi tố 6 vụ với 8 bị can, thu hơn 255m3 gỗ nhóm 2 và gần 200m3 gỗ nhóm 6.
Ông Trịnh Xuân Thành, Chủ tịch UBND xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông cho biết: Công tác quản lý bảo vệ rừng từ nhiều năm trước cũng như các năm gần đây đã được tăng cường nên việc khai thác xảy ra ít tuy nhiên trong thời gian cuối năm ngoái và đầu năm nay cũng xảy ra một vài vụ, các vụ việc khi xảy ra đã được cấp ủy chính quyền địa phương quan tâm và đồng thời được các ngành các cấp giúp đỡ cũng bắt được ngay và giao cho các cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với công tác tuyên truyền cấp ủy chính quyền rất quan tâm, hàng năm phối hợp với Hạt Kiểm lâm, Trạm Kiểm lâm và các đoàn thể tổ chức đi tuyên truyền ở các thôn có trữ lượng gỗ nhiều. Trong thời gian tới, xã sẽ tiếp tục phối hợp với Hạt Kiểm lâm cũng như Trạm Kiểm lâm xã Quang Thuận tăng cường công tác tuyên truyền đặc biệt chú trọng đến các thôn vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc để công tác bảo vệ rừng ở Đôn Phong được nâng lên.
Tình trạng khai thác lâm sản trái phép xảy ra ở các xã Cao Sơn, Vũ Muộn, Sỹ Bình, các đối tượng thường tiến hành xẻ gỗ vào ban đêm nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Mặt khác lợi dụng địa hình phức tạp, đường sá đi lại khó khăn, xa trung tâm, giáp ranh với các huyện Ngân Sơn, Na Rì, Chợ Đồn đều là những vùng còn nhiều gỗ quý hiếm nên việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn xảy ra với phương thức hoạt động tinh vi gây khó khăn trong việc kiểm tra ngăn chặn và xử lý. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm lại mỏng nên rất khó khăn trong việc tuần tra thường xuyên, vì vậy việc phát hiện các vụ việc xảy ra chưa được kịp thời.
Ông Phùng Đức Chi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông cho biết, huyện Bạch Thông có diện tích đất trên 50.000ha, đất lâm nghiệp hơn 48.000ha trong đó quân số đơn vị có 25 đồng chí nếu chia bình quân mỗi đồng chí kiểm lâm quản lý gần 5.000ha, có những xã chỉ có 1 đồng chí phụ trách nên cũng khó khăn trong công tác tuần tra. Tại 1 số xã có gỗ quý hiếm do trình độ người dân còn hạn chế, họ có nhu cầu tách hộ và làm nhà ở, đặc biệt các đối tượng sử dụng cưa lốc nên chặt hạ rất nhanh.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Hạt Kiểm lâm đã tiến hành kiểm kê và ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ quý hiếm làm nhà ở và tiến hành giao khoán bảo vệ rừng tại 3 xã có nhiều gỗ quý hiếm, tuy nhiên khó khăn là trách nhiệm của UBND một số địa phương chưa thực sự vào cuộc do ngại va chạm bởi là người cùng địa phương.
Thực tế. quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an và Kiểm lâm huyện đã triển khai và thực hiện, công tác tuyên truyền các văn bản pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng đã được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vai trò tác dụng của rừng. Tuy nhiên tình trạng khai thác rừng trái phép tại Bạch Thông vẫn xảy ra. (Công An Nhân Dân 14/6) đầu trang(
Đoàn cán bộ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR) phối hợp với các nhà nghiên cứu Vườn thú Cologne (CHLB Đức) mới tìm được 10 chú cá cóc hiếm hoi.
Những chú cá cóc được 3 cô gái gom lại, tất cả là 10 chú. Mona và Marta lôi từ trong chiếc ba lô của 2 người ra đủ thứ dụng cụ, máy móc lỉnh kỉnh và một “phòng thí nghiệm di động” đã được dựng lên ngay tại chỗ.
Đầu tiên, Marta đội lên đầu chiếc camera nhỏ để ghi lại hình ảnh trong khi làm việc, rồi cẩn thận đo lại các số liệu kích cỡ, cân nặng của từng con bằng một chiếc thước đo điện tử khá lạ mắt và một chiếc cân điện tử tiểu ly (loại mà các cán bộ ngành Công an hay dùng để đo số lượng trong các vụ bắt ma tuý). Kết quả của mỗi lần đo đều được Mona ghi ngay lập tức vào một bản báo cáo số liệu và đọc lại để ghi luôn vào chiếc máy ghi âm đeo trước ngực.
Riêng việc đo lại tỉ mỉ từng chú cá cóc cũng đã ngốn hơn một tiếng đồng hồ. Sau đó là một loạt các công đoạn khá phức tạp, tỉ mẩn khác. Lúc này đã giữa trưa, ai cũng hơi đói nhưng công việc phải được ưu tiên lên hàng đầu. Ba cô gái say sưa, quên cả đói và nắng nóng. Họ lấy ra một đoạn ống cao su dài, một đầu có gắn vào một chiếc bơm kim tiêm đựng đầy nước sạch để bơm vào ruột của từng chú cá cóc để thu mẫu thức ăn của chúng.
Marta nhẹ nhàng cầm một chú cá cóc đã trưởng thành lên lấy một chiếc bông thu mẫu vi sinh vật trên da (nhìn giống hệt mấy cái bông ngoáy tai) trải nhẹ khắp toàn thân con vật khiến chú cá cóc khẽ run lên vặn vẹo. Khi lấy mẫu trứng để thí nghiệm họ cũng chỉ lấy một phần rất nhỏ vừa đủ để nghiên cứu chứ không lấy hết cả đàm trứng. Sau đó là mẫu nước, mẫu lá cây, mẫu đất trong đầm lầy... cũng được cẩn thận lấy lại. Mata bảo làm vậy là để có thể đánh giá một cách tổng quát nhất về đặc điểm sinh học và sinh thái của loài cá cóc Việt Nam tại môi trường sinh sống trong khu bảo tồn này.
Không khí làm việc nghiêm túc, khẩn trương và theo một trình tự bài bản. Từng mẫu vật lấy được đều được phân loại và đựng trong các ống nghiệm riêng, có ghi chú rõ ràng về thời gian, địa danh cụ thể… Kết thúc công việc, đồ đạc lại được cất gọn vào trong những chiếc ba lô chống va đập, có khoá chống nước hẳn hoi, cẩn thận đến thế là cùng…
Khi PV hỏi sao không mang mấy chú cá này về nhà nghiên cứu có hơn không, Hằng bảo: “Không được đâu! Đây là những loài sinh vật đang có nguy cơ mất dần, phải cho chúng tồn tại nơi chúng đang thích nghi chứ!”. Hỏi 2 cô bạn người nước ngoài, họ cũng gật đầu xác nhận điều đó. Họ bảo, họ được dạy rằng phải coi trọng việc bảo vệ động vật, dù có nghiên cứu chúng thì cũng phải làm tại chỗ và sau đó là thả chúng về với môi trường tự nhiên, hạn chế tối đa việc làm ảnh hưởng tới môi trường sống tự nhiên và các tác động lên loài vật...
Lúc đã cùng nhau ngồi nghỉ ngơi và đánh chén bữa ăn dã chiến ngay tại chỗ, PV hỏi Hằng rằng nghe nói loài cá cóc này nếu ngâm rượu còn có công dụng “một người uống hai người vui” phải không, cô bạn cười, bảo: “Ở các tỉnh vùng cao phía Bắc, em thấy đồng bào dân tộc trên đấy cũng nói như vậy! Chẳng biết có đúng không? Hay anh thử xem sao!”.
Tuy chỉ là chuyện vui nhưng khi Hằng dịch lại cho Mona nghe thì cô bạn nhăn mặt: “Tuyệt nhiên không được rồi! Cá cóc Việt Nam là loài động vật tự nhiên cần phải được bảo vệ, đừng vì những món ăn hay thứ thuốc do con người ngộ nhận là có công dụng đặc biệt nào đó mà ra tay bắt chúng mà làm ảnh hưởng tới hệ sinh thái nói chung và nguồn gen quý để nghiên cứu. Các bạn hãy bảo vệ và bảo tồn mới là những hành động hữu ích cho sau này!”. PV phải giải thích mãi rằng đó chỉ là đùa thôi, nét mặt cô bạn người nước ngoài mới hết vẻ cáu giận…
Không chỉ có ý thức trong việc bảo vệ các loài sinh vật trong tự nhiên, tôi còn để ý thấy rằng những vỏ đồ ăn, chai rỗng... luôn được 2 cô bạn Marta và Mona thu gọn và cất vào ba lô vốn đã đủ thứ lỉnh kỉnh của mình. Không có bất kỳ một thứ đồ dùng gì sau khi sử dụng, kể cả mẩu giấy lau, mà các cô vứt lại tại chỗ. Đến cả những mẩu tàn thuốc lá Marta cũng có riêng hẳn một cái lọ như ống nghiệm để bỏ vào vì cô bảo thứ đó mình quăng bừa bãi sẽ rất dễ gây nguy cơ cháy rừng. Họ khiến PV nhận ra rằng muốn bảo vệ một thứ gì đó, nhất là về vấn đề môi trường thì sự nâng cao ý thức, văn hoá ứng xử nơi công cộng một cách văn minh là điều mấu chốt và hết sức quan trọng.
Sau khi giải quyết cơn đói và nghỉ ngơi cho đỡ mệt, cả đoàn lại đi tiếp tới một đầm lầy nữa nằm giữa khu vực khe Kẻng và khe Trại. Các con đường mòn mà cả đoàn đang đi đã thuộc dạng dễ đi nhất mà vẫn phải chật vật mới vượt qua. Đoạn đường tiếp theo này mọi người phải xuyên tiếp qua một cánh rừng tre dày đặc, ban ngày mà muỗi bay vo ve, đốt khắp người. Rồi còn phải trèo lên một đoạn dốc gần như dựng đứng.
Có lúc trên đầu PV là gót chân của người đi trước, hai tay bám cành cây, còn hai chân mượn những gốc tre mọc choãi ra mà đạp vào lấy đà đu lên. Thế nhưng khi phờ phạc tới được điểm có cái đầm trên đỉnh dốc thì lại chẳng thu hoạch được gì. Thật chán! Thế mới biết, công việc đôi khi còn cần cả sự may mắn nữa. Vậy nên chỉ có kiên trì, nhẫn nại thì mới tới được thành công…(Soha.vn 16/6) đầu trang(
Diễn đàn “Bảo tồn thiên nhiên và văn hóa vì phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long” lần thứ 6, diễn ra ngày 13/6, tại thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Diễn đàn với chủ đề “Cải thiện công tác quy hoạch thông qua lồng ghép các vấn đề môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và khuyến khích các mô hình sinh kế thích nghi với biến đổi khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.”
Các nhà khoa học, nhà quản lý và chuyên gia trong và ngoài nước, lãnh đạo các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trao đổi, thảo luận xoay quanh các vấn đề về tổng quan quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long, quản lý tài nguyên thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, hướng dẫn lồng ghép các vấn đề môi trường trong xây dựng và triển khai các chiến lược, quy hoạch.
Các đại biểu cũng trao đổi, thảo luận về lồng ghép phương pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu vào quá trình xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và kiến nghị chỉnh sửa các quy hoạch liên quan…
Phó giáo sư, tiến sỹ Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các cấp, các ngành, các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cùng mỗi người dân đẩy mạnh truyền thông về ý nghĩa, vai trò, giá trị và phương pháp quản lý, khai thác, sử dụng bền vững các dịch vụ hệ sinh thái vùng đất ngập nước nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khi hậu.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng đề nghị cần điều tra, thống kê, đánh giá tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên sinh học tại các vùng ngập nước; đề xuất xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh; khoanh vùng bảo tồn các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia và địa phương.
Các địa phương trong vùng cũng cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường nói chung và bảo tồn, phát triển các vùng đất ngập nước nói riêng, sử dụng có hiệu quả các nguồn hỗ trợ quốc tế cho công tác bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.
Đồng bằng sông Cửu Long thuộc hạ lưu sông Mekong, là đồng bằng lớn nhất của Việt Nam, trong đó diện tích đất ngập nước có khoảng 3,9 triệu ha. Đây là nơi sinh sống của trên 17 triệu người thuộc 13 tỉnh, thành phố phía Nam của Việt Nam, giàu có về đa dạng sinh học, lưu giữ nhiều giống loài và nguồn gen quý hiếm; nơi cung cấp trên 50% sản lượng lương thực, 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước.
Ngoài ra, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn là nơi trồng và đánh bắt thủy sản lớn, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong các nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới. Những năm gần đây, diễn biến phức tạp của thời tiết và khí hậu đã trở thảnh những trở ngại đối với sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội, các hệ sinh thái tự nhiên gắn liền với sinh kế truyền thống của người dân ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, diễn đàn này nhằm xác định và tháo gỡ những khó khăn trong công tác quy hoạch cũng như thúc đẩy các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng thời, Diễn đàn sẽ giới thiệu Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng Một năm nay. (Vietnam+ 13/6) đầu trang(
Theo ghi nhận của UBND huyện Lạc Dương, trong năm 2013 trở về trước, hiện tượng bà con dân tộc thiểu số (DTTS) nhận khoán quản lý bảo vệ (QLBV) rừng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng vẫn xảy ra khá phổ biến trên địa bàn huyện với các hành vi như phá rừng, khai thác lâm sản ngay trên diện tích rừng do mình nhận QLBV hoặc phát rừng làm nương rẫy sang diện tích rừng của các hộ khác nhận khoán.
Trước thực trạng này, ngành lâm nghiệp huyện đã cùng chính quyền địa phương từ cấp huyện đến cấp xã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm làm chuyển biến nhận thức của người dân nhận khoán đất lâm nghiệp để QLBV. Nhờ đó, tình hình đã có những chuyển biến tích cực trong thời gian gần đây.
Ngày 13/6, kết thúc đợt nghiệm thu công tác QLBV rừng trên địa bàn, Ban Quản lý (BQL) dự án Phát triển lâm nghiệp huyện Lạc Dương cho biết: Trong 6 tháng qua, cơ quan chức năng không phát hiện hộ nhận khoán QLBV rừng có sai phạm trong công tác QLBV rừng trên diện tích rừng nhận khoán; và đặc biệt, không còn hộ vi phạm lâm luật như những năm trước đây.
Từ kết quả này, BQL dự án Phát triển lâm nghiệp huyện Lạc Dương đã phối hợp cùng với 3 đơn vị chủ rừng là BQL rừng đầu nguồn Đa Nhim, BQL rừng phòng hộ Tà Nung và BQL Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà tiến hành chi trả toàn bộ hơn 5,3 tỷ đồng tiền nhận khoán QLBV rừng theo kế hoạch cho bà con DTTS nhận khoán.
Hiện tại, trên địa bàn huyện Lạc Dương có 2.706 hộ đồng bào DTTS nhận khoán hơn 84.577ha rừng để QLBV. Trong đó, BQL rừng đầu nguồn Đa Nhim đã giao 37.735ha cho 1.312 hộ, BQL rừng phòng hộ Tà Nung giao gần 1.973ha cho 64 hộ và BQL Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà giao hơn 44.869ha cho 1.330 hộ. (Báo Lâm Đồng 13/6) đầu trang(
Theo tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Ia Pa, bên cạnh công tác tuyên truyền, vận động và phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng đến từng thôn, buôn để người dân hiểu, phối hợp tốt hơn trong việc gìn giữ, bảo vệ rừng thì Hạt thường xuyên phối hợp tổ chức chốt chặn, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép góp phần tích cực trong việc quản lý, bảo vệ rừng trên toàn huyện.
Theo đó, qua tuần tra, truy quét đã phát hiện 6 vụ vận chuyển lâm sản và mua bán, chế biến, cất giữ lâm sản trái phép với 10 khối gỗ xẻ (nhóm 2-7) gồm các loại căm xe, gáo, chiêu liêu, kơ nia cùng 1.000 kg gỗ trắc (nhóm 1) bị tịch thu. Tổng số tiền phạt vi phạm hành chính và bán lâm sản tịch thu gần 71 triệu đồng.
Ông Trần Tất Đắc-Phó Hạt trưởng-Hạt Kiểm lâm huyện Ia Pa cho biết: Dù lực lượng chuyên trách cùng các Ban quản lý rừng trên địa bàn thường xuyên tổ chức tuần tra, bảo vệ, truy quét nhưng người dân vẫn tìm cách vào rừng ở khu vực sâu chặt phá làm nương rẫy hay vận chuyển gỗ trái phép làm nhà.
Với tình hình trên, hạt tiếp tục phối hợp các xã tuyên truyền, vận động người dân không xâm hại rừng; đồng thời đôn đốc các đơn vị chủ rừng tăng cường biện pháp giữ rừng; tập trung lực lượng, phương tiện, công cụ hỗ trợ cho việc truy quét tại các điểm nóng. (Báo Gia Lai 12/6) đầu trang(
11-6-2014, ông Phạm Hồng Thái, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp -PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết đã có văn bản số 575/KL/PC-TT gửi cho UBND tỉnh báo cáo kết quả việc dừng phương tiện đường sắt để kiểm tra lâm sản theo quy định  và hoàn thiện hồ sơ để tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý số lâm sản không có nguồn gốc hợp pháp được vận chuyển bằng đường sắt trên toa hàng số hiệu 131454 thuộc đoàn tàu hàng mang số hiệu 342-T1 mà Báo Quảng Bình đã phản ánh ở bài “Lợi dụng “kẽ hở” của quy định: Vận chuyển gỗ lậu quý hiếm!”.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh thì trước đó, vào ngày 23-5-2014 Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp nhận thông tin về việc lâm sản được vận chuyển trái pháp luật trên toa hàng số hiệu 131454 thuộc đoàn tàu hàng mang số hiệu 342-T1 đang dừng tại ga Đồng Hới. Ngay khi nhận được tin báo này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với Phòng Cảnh  sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh, Chi cục Quản lý thị trường và ga Đồng Hới tiến hành kiểm tra theo quy định.
Qua kiểm tra ban đầu thì hồ sơ vận chuyển lâm sản được Hạt Kiểm lâm thành phố Kon Tum xác nhận cho vận chuyển lâm sản bằng đường bộ trên xe ô tô biển kiểm soát 82K – 3847 và 82K – 4128 từ thành phố Kon Tum đến tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, số lâm sản trên lại được vận chuyển bằng đường sắt. Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì hồ sơ trên không đúng quy định của pháp luật.
Được  sự can thiệp của UBND tỉnh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với ga Đồng Hới tiến hành cắt toa hàng nói trên và kiểm tra lâm sản theo quy định. Kết quả kiểm tra cho thấy: về hồ sơ  vận chuyển toa hàng nói trên có hoá đơn giá trị gia tăng (hoá đơn gửi hàng) số 0016694, ngày 21-5-2014  của ga Quảng Ngãi lập, kèm theo hoá đơn trên có bảng kê lâm sản (bản phô tô) có xác nhận của Hạt Kiểm lâm thành phố Kon Tum vận chuyển bằng đường bộ như nói trên; thời gian vận chuyển từ  ngày 9-5-2014 đến ngày 14-5-2014 và lâm sản ghi trong 2 bảng kê là 20 tấn.
Về lâm sản qua kiểm tra thực tế có tổng trọng lượng 18,28 tấn, trong đó: gốc, rễ cành nhánh trắc chưa qua sơ chế là 13,263 kg; gốc, rễ, cành nhánh trắc đã qua sơ chế  2.790 kg; gỗ trắc xẻ 2 hộp, khối lượng 0,017 m3; gỗ trắc tròn 2 lóng, khối lượng 0,117m3; gốc, rễ, cành nhánh trắc 2.790 kg; cẩm lai xẻ (nhóm IIA) 30 hộp, khối lượng 0,592m3; gỗ cẩm lai tận dụng 885 kg và gỗ hương xẻ 9 hộp, khối lượng 0,360m3.
Sau khi có kết quả kiểm tra trên, ngày 26-5-2014 Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 đã ra quyết định số 001411 tạm giữ toàn bộ lô hàng trên và hồ sơ vận chuyển kèm theo để xác minh làm rõ vụ việc.
Cùng ngày bà Nguyễn Thị Thảo – chủ của số lâm sản nói trên đến làm việc tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh và xuất trình hồ sơ gốc liên quan đến lâm sản. Tuy nhiên, bà Thảo không giải trình được vì sao Hạt Kiểm lâm thành phố Kon Tum xác nhận cho vận chuyển số lâm sản nói trên bằng đường bộ (xe ô tô) nay lại được vận chuyển bằng đường sắt.
Trước sự việc này, để có cơ sở xử lý vụ việc, ngày 2-6-2014 Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo Phòng Thanh tra – Pháp chế và Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 tiến hành xác minh các tình tiết liên quan đến lô gỗ trên tại Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR Quảng Ngãi và ga Quảng Ngãi xác nhận số lâm sản nói trên được vận chuyển trên 2 xe ô tô biển kiểm soát 82K – 3847 và 82K- 4128 và đã bốc lên toa hàng số 131454.
Trên cơ sở kết quả xác minh, đối chiếu với hồ sơ gốc và gỗ thực tế thì có một số gỗ không phù hợp với hồ sơ, không có nguồn gốc hợp pháp. Cụ thể gồm: gỗ quý hiếm nhóm IIA có gỗ trắc xẻ 2 hộp với khối lượng 0,017m3; gỗ trắc tròn 2 lóng khối lượng 0,117m3; gốc, rể, cành nhánh trắc có trọng lượng 2.790 kg; cẩm lai xẻ 30 hộp khối lượng 0,592m3; gỗ cẩm lai tận dụng có trọng lượng 885kg. Gỗ không thuộc loại quý hiếm có gỗ hương xẻ 9 hộp  với khối lượng 0,360m3.
Qua việc làm rõ được số gỗ không có nguồn gốc hợp pháp này, ngày 5-6-2014, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 đã lập biên bản vi phạm hành chính số 0001413/BB-VPHC đối với và Nguyễn Thị Thảo (SN 1965, trú tại 128 đường Hùng Vương, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum) về hành vi mua bán lâm sản trái với quy định của Nhà nước theo Điều 23 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP, ngày 11-11-2013 của Chính phủ.
Với hành vi mua bán lâm sản trái với quy định của pháp luật nói trên của bà Nguyễn Thị Thảo, hiện Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã hoàn thiện hồ sơ tham mưu để trình cấp có thẩm quyền ra quyết định để xử phạt hành chính đối với bà Thảo theo quy định của pháp luật.
Qua kết quả kiểm tra, xác minh nói trên của các lực lượng chức năng tỉnh ta, nhất là lực lượng Kiểm lâm một lần nữa cho thấy rõ nếu lực lượng chức năng của tỉnh ta không quyết tâm, cương quyết và quyết đoán trong việc kiểm tra, xác minh làm rõ thông tin tin báo về việc vận chuyển gỗ lậu bằng đường sắt nói trên thì một lượng lớn gỗ lậu thuộc loại quý hiếm đã được vận chuyển trót lọt. (Báo Quảng Bình 13/6) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Sim, được giao quản lý, bảo vệ 5.200 ha, trong đó có 3.200 ha thuộc rừng phòng hộ, 2.000 ha thuộc đất rừng sản xuất.
Để làm tốt nhiệm vụ bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (BVR, PCCCR), ngay từ đầu năm 2014 BQLRPH Sim phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Như Thanh và chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân trong vùng tự giác thực hiện các quy định BVR, PCCCR trong các ngày nắng nóng; tổ chức cho 669 hộ dân ký cam kết BVR, PCCCR.
Ngoài ra, ban  thành lập được 18 tổ xung kích PCCCR với 360 người tham gia; chỉ đạo xử lý thực bì, đốt trước vật liệu có nguy cơ cháy cao ở khu vực trọng điểm.
Cùng với đó, ban đã giao cho các hộ nhận khoán xử lý vật liệu cháy trên 300 ha rừng thông có nguy cơ cháy cao; đồng thời, thường xuyên có mặt tại vị trí rừng nhận khoán để giám sát người ra vào rừng, nhắc nhở mọi người không đốt lửa trong rừng, ven rừng và phát hiện sớm cháy rừng để huy động lực lượng dập ngay, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Báo Thanh Hóa 13/6) đầu trang(
Các nhà nghiên cứu thực vật vừa phát hiện một loài lan mới ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa.
Loài hoa lan mới có tên Miguelia cruenta, xuất phát từ la tinh “cruentum”, nghĩa là máu, do cánh môi hoa của loài có màu đỏ như máu.
Chúng có thân leo trườn, mọc trên đá hoặc trên cây. Lá của chúng có cuống ngắn. Hoa có đường kính 6-7 cm, và nở hai bông một lần, website sinh vật rừng cho biết.
Lan Miguelia cruenta thường được tìm thấy trong rừng nguyên sinh cây lá rộng xanh ẩm, trên sườn núi và vách đá granit độ cao 1.500 m so với mực nước biển.
Đây là loài lan thứ hai được phát hiện ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà trong ba năm trở lại đây, và theo dự báo của nhà khoa học thì còn rất nhiều loài ở đây cần được khám phá và công bố. (VnExpress 14/6) đầu trang(
Nhắc đến địa danh Ngọc Linh, Mường Hoong, thứ làm người ở xa dễ nhớ nhất là sâm. Nơi đây từng được ví như “rốn sâm” Ngọc Linh với công năng thần kỳ được ủ dấu trên độ cao 2.500m, trải qua hàng triệu năm mây mù và những đợt mưa ẩm ướt kéo dài.
Mùa lúa chín vàng, trở lại vùng sâm Ngọc Linh để hỏi về thứ thuốc quý mà người dân địa phương gọi với nhau là “củ dấu”, “củ đắng”, tất cả mọi người chúng tôi bắt gặp đều lắc đầu. Qua những người bạn từng quen biết trước ở vùng sâm này, tất cả cùng chung một kết quả: “Làm gì có sâm nữa mà tìm?”.
Bây giờ còn sâm nữa hay không? Câu trả lời là còn, nhưng cũng giống như người nông dân khi vừa canh tác xong một luống khoai, những củ khoai ngon được thu hoạch hết, ruộng khoai nhẵn trắng và bằng phẳng. Tưởng chừng như chẳng còn sót lại thứ gì trên đó. Thế rồi đến mùa cày ải, người nông dân đem cày ra cải tạo lại miếng đất, khi lật lên thỉnh thoảng lại bắt gặp những củ khoai nhỏ còn sót dưới mặt đất. Rồi mảnh ruộng được cày xới, trồng lúa. Trên mặt ruộng xanh tốt ấy, khi cây lúa vừa nhú lên thì cũng xuất hiện những mầm khoai mới.
Cách ví von ấy của một thương lái buôn sâm đã có mặt ở vùng Mường Hoong, Ngọc Linh từ những ngày cây sâm nổi sóng đã khẳng định một điều rằng: sâm Ngọc Linh chưa bị tận diệt, nhưng số lượng cũng không còn nhiều nữa. Thương lái này kể rằng có những năm mỗi ngày ông có thể mua được cả tạ sâm, sâm nhiều như khoai lang vào vụ, bày bán khắp các đường ra xã, ra huyện. Thế nhưng năm bảy năm trở lại đây, sâm hiếm như vàng. “Mà cái thứ đó giờ so sánh với vàng là khập khiễng, mỗi lượng sâm tươi 3-5 triệu đồng, anh có tiền cũng không có mà mua” - người thương lái nói chắc như đinh.
Người Xê Đăng ở Ngọc Linh không gọi thứ thuốc quý là sâm Ngọc Linh mà gọi là “củ đắng” hoặc “củ dấu”. Cái tên gọi “củ đắng” xuất phát từ việc người thợ rừng trong một lần lạc rừng đói lả, thấy chú chim sà xuống ăn thứ hạt cây màu đỏ hồng, người thợ săn đã lấy hạt ăn và phát hiện dưới tán lá những chùm củ mọng nước, có vị đắng như thuốc độc. Người thợ đã ăn và ngay lập tức tỉnh táo hẳn, chân tay như được tiếp thêm sức lực. Những cư dân của vùng sâm Ngọc Linh đã phát hiện ra vùng sâm từ rất sớm.
“Nhưng hồi đó chẳng ai biết thứ củ ấy lại có công năng thần diệu như thế, mãi cho tới sau này khi vùng rừng núi có bàn chân của cán bộ người Kinh” - chủ tịch xã Ngọc Linh nói.
Người Xê Đăng ở Ngọc Linh, Mường Hoong vẫn còn nhớ như in đợt trúng sâm năm 2006. Câu chuyện được bắt đầu từ hai người đàn ông ở Mường Hoong tên là A Tích và A Biêng trong một ngày đi rừng bẫy thú đã tình cờ đạp lên khu rừng củ đắng bạt ngàn. Thuở ấy, sâm dù rẻ nhưng cũng đã được coi là của quý nên hai người giấu bặt không cho ai biết. Đều đặn hằng ngày A Biêng cùng A Tích mang gùi lên khu rừng củ dấu hái về đem bán. Bán được tiền, A Biêng và A Tích uống rượu say suốt ngày. Trong cơn say, khi người làng hỏi thì A Biêng chợt buột miệng rằng “tìm được kho báu củ dấu”.
Thung lũng Mường Hoong dậy sóng, lớp lớp người lũ lượt kéo nhau lên khu rừng. Mọi thứ bị xới tung. Thương lái khắp nơi tìm lên Ngọc Linh chọn làm đất đậu. Thương lái ngầm thỏa thuận với nhau chê ỏng chê eo. Củ dấu được bán với giá thấp nhưng cũng là nguồn tiền dễ kiếm để người dân có thể mở hội no say. Chủ tịch xã A Hen nói rằng thời điểm đó dân làng đi ông cũng đi, mỗi lần xuống núi lại mang theo cả gùi về bán dọc đường. Chẳng thể ngờ chỉ mấy năm sau, thứ củ đắng đó cạn dần và trở thành một món hàng có giá.
Người Xê Đăng kể lại về vùng củ đắng của mình trong sự tiếc rẻ. Núi Ngọc Linh này do người Xê Đăng chinh phục, thung lũng Mường Hoong này có chỗ nào người Xê Đăng chưa đặt chân tới. Cây sâm ở trên đỉnh núi cũng là của người Xê Đăng, củ đắng nằm đó bao đời nay như kho báu được cái lạnh buốt và thần sấm trên đỉnh Ngọc Riêu che chở. Vậy mà người Xê Đăng vẫn nghèo. Kể cả A Tích và A Biêng đã từng đạp lên cả kho báu nhưng giờ đây vẫn phải từng ngày đi cuốc đất nuôi vợ nuôi con. (Tuổi Trẻ 15/6) đầu trang(
29.5.2014, UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ cây ươi trên địa bàn tỉnh. Theo đó, việc thu mua hạt ươi phải được chính quyền sở tại xác nhận rõ nguồn gốc, có xuất xứ rõ ràng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, theo chu kỳ khoảng từ 3 - 4 năm, cây ươi mới ra hạt một lần, mùa gần nhất là vào năm 2011 và đến năm nay loại cây này mới ra hạt lại. Vì ươi phân bố rải khắp và phân tán ở nhiều huyện miền núi như Phước Sơn, Bắc Trà My, Tây Giang… nên không có con số thống kê chính thức diện tích. Những ngày qua, đi dọc khu vực lòng hồ thủy điện Đắc My (Phước Sơn) rồi vòng Nam Giang, Đông Giang, đâu cũng đỏ rực màu cây ươi mọc xen trên những cánh rừng.
Ươi ra hạt tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số có thêm nguồn thu nhập từ việc đi nhặt ươi bay (ươi đã chín và rụng). Tuy nhiên, theo người dân, thời điểm này chưa thấy thương lái đến hỏi mua nên có rất ít người đi nhặt loại hạt này. Vào thời điểm này năm 2011, từ việc lượm hạt ươi, nhiều người có của ăn của để. Nhìn ươi rụng đầy dưới chân rừng, ông Hồ Văn Don (46 tuổi, xã Phước Đức, Phước Sơn) cho biết, ươi năm nay cho hạt nhiều gấp đôi so với cách đây 4 năm.
“Hồi truớc mỗi ngày đi lượm tôi thu được tiền triệu. Loại cây này nếu biết bảo vệ đúng cách thì mỗi khi tới mùa ra hạt, dân bản địa chúng tôi lại có thêm nguồn thu nhập kha khá” - ông Don nói. Tuy nhiên, điều mà ông Don canh cánh là liệu đến lúc thương lái ào ạt đến thu mua thì tình trạng chặt phá cây ươi để lấy hạt có tái diễn?
Theo tìm hiểu, tại một cơ sở thu mua loại hạt này ở phường Trường Xuân (TP.Tam Kỳ), vì đầu ra cho sản phẩm này còn bị “tắt” nên thương lái dè chừng, không dám mua nhiều; giá ươi khô hiện nay là 250 nghìn/kg.
Thị trường hạt ươi trầm lắng nên dọc các cánh rừng chưa xuất hiện tình trạng cây ươi bị khai thác, chặt phá. Có một số người dân bản địa tranh thủ lượm nhặt loại hạt này về đem cất chờ có người tới mua. Thời gian tới, nếu hạt ươi được giá, người dân sẽ có thêm một nguồn thu nhập đáng kể, nhưng đồng thời sẽ kéo theo “sức nóng” khi dân khắp nơi đổ về những cánh rừng này để triệt hạ cây ươi thu hạt.
Nhằm khắc phục tình trạng chặt hạ cây ươi ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, đồng thời để bảo vệ và khai thác một cách bền vững nguồn lợi do cây ươi mang lại, ngày 29.5.2014, UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ cây ươi trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, việc thu mua hạt ươi phải được chính quyền sở tại xác nhận rõ nguồn gốc, có xuất xứ rõ ràng. Tại xã Phước Hiệp (Phước Sơn), công tác truy quét, bảo vệ rừng ươi được triển khai ngay từ khi cây ươi mới bắt đầu đơm hạt.
Bà Nguyễn Thị Bích Xinh - Chủ tịch UBND xã Phước Hiệp cho biết đến nay địa phương đã thành lập 2 tổ và phân thành nhiều nhóm nhỏ để tham gia công tác quản lý, bảo vệ. “Một tổ được phân công thường xuyên vào rừng để giám sát, truy quét việc chặt phá cây ươi; một tổ khác làm nhiệm vụ chốt chặn tại các cửa ngõ ra vào các thôn. Qua kiểm tra, ngày 10.6, chúng tôi phát hiện và tịch thu một chiếc cưa lốc ở bìa rừng, tuy nhiên chưa phát hiện cây ươi nào bị đốn ngã” - bà Xinh nói.
Hạt Kiểm lâm huyện Phước Sơn cũng vừa ban hành công văn gửi đến các UBND xã, thị trấn và đơn vị chủ rừng để đẩy mạnh việc quản lý, kiểm soát việc kinh doanh, mua bán hạt ươi trên địa bàn huyện; kịp thời ngăn chặn các hành động “căng cây” (lột vỏ xung quanh gốc cây để cây ươi chết đi) để tận thu hạt. Các trạm kiểm soát liên ngành thôn 4, thôn 5 (xã Phước Đức), Trạm kiểm lâm địa bàn số 1 (xã Phước Xuân), Trạm kiểm lâm Phước Hiệp… tăng cường các biện pháp quản lý người dân đưa phương tiện, công cụ vào rừng. Tại huyện Tây Giang, lực lượng kiểm lâm địa bàn cũng đã tham mưu với các địa phương sở tại để củng cố lực lượng, có chế tài xử phạt nặng nếu phát hiện trường hợp vi phạm.
“Chúng tôi tích cực phối hợp với các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân chung sức bảo vệ cây ươi. Đồng thời vận động, hướng dẫn người dân khai thác hạt ươi theo đúng quy định nhằm bảo tồn bền vững sản phẩm của loại cây này” - ông Ria Trao, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Tây Giang cho biết.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, năm nay việc tiêu thụ hạt ươi sẽ được quản lý nghiêm ngặt hơn. Các ban ngành, địa phương vẫn khuyến khích người dân vào rừng lượm nhặt hạt ươi để tăng nguồn thu nhập. Tuy nhiên, sản phẩm hạt ươi này phải được các xã, thị trấn phối hợp với lực lượng kiểm lâm địa bàn xác nhận, kiểm duyệt trước khi mang đi tiêu thụ.
Ngày 11.6, ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Sau khi có chỉ thị của UBND tỉnh, chúng tôi đã chỉ đạo kiểm lâm các địa phương tổ chức rốt ráo công tác bảo vệ, chốt chặn, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng”. (Báo Quảng Nam 13/6) đầu trang(
Một thanh niên ở vùng cao Bắc Trà My (Quảng Nam) đã bị đâm thủng ruột, phải chuyển cấp cứu sau vụ va chạm, tranh giành “lãnh địa” để khai thác lâm sản.
13.6, Công an xã Trà Giác (huyện Bắc Trà My, Quảng Nam) xác nhận đã xảy ra vụ đánh nhau tại địa bàn thôn 5 vào chiều tối qua 12.6, hậu quả khiến 1 người bị đâm thủng ruột.
Nạn nhân là Trần Xuân Hiệp (30 tuổi), trú tại tổ Đàn Nước, thị trấn Trà My. Bước đầu, Công an xã Trà Giác xác định nghi can đâm anh Hiệp trọng thương chính là Trần Văn Hướng, người dân tộc Cadong, trú tại thôn 1, xã Trà Giác.
Hiệp được chuyển cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Bắc Trà My, nhưng do vết thương quá nặng phải chuyển xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam (đóng tại thành phố Tam Kỳ) để mổ khẩn cấp ngay trong tối qua, và hiện đang tiếp tục đươc theo dõi diễn biến sức khỏe.
Giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Bắc Trà My, bác sĩ chuyên khoa 1 Phạm Thanh Bình, cho biết anh Hiệp bị đâm bằng vật sắt nhọn làm lủng tạng rỗng ở ruột.
Những thông tin khai báo ban đầu của nạn nhân Hiệp với cơ quan chức năng cho biết anh từ thị trấn Trà My lên vùng rừng núi thôn 5 xã Trà Giác để làm nấm, sau đó xảy ra mâu thuẫn với Hướng.
Tuy nhiên, theo phản ánh của người dân địa phương, Hiệp lên khu vực này để khai thác ươi rừng (ươi bay), một loại quả dùng làm nước giải khát có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa ho khan và nhuận tràng.
Do mâu thuẫn tranh giành “lãnh địa” nơi có ươi rừng với một số người dân địa phương nên xảy ra vụ xô xát.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ. (Thanh Niên 13/6) đầu trang(
Lâm Đồng là tỉnh được đánh giá có nguồn đa dạng sinh học cao với hệ gen phong phú. Tỉnh cũng đã có chương trình hành động bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2008 - 2020. Song nếu chậm trễ triển khai, nguồn đa dạng sinh học này đang đứng trước nhiều thách thức suy giảm.
Lâm Đồng có 60,3% diện tích tự nhiên là rừng với nhiều kiểu thảm thực vật. Tại đây đã xác định được 3.490 loài thực vật rừng và 393 loài nấm, trong đó có 131 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam, 45 loài trong danh mục đỏ của tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Các nhà khoa học đã ghi nhận trong rừng Lâm Đồng có sự hiện diện của 85 loài thú, 686 loài côn trùng, 301 loài chim, 102 loài bò sát - lưỡng cư.
Tuy nhiên nguồn đa dạng sinh học ở tỉnh Lâm Đồng đang đứng trước nguy cơ suy thoái, thể hiện qua các cấp độ: giảm chất lượng và các chức năng của hệ sinh thái; nhiều loài đang bị đe dọa tuyệt chủng, suy giảm quần thể. Trong một số trường hợp, đa dạng gen của quần thể các loài trọng tâm cũng đang bị suy thoái do mất nơi sống và chia cắt manh mún sinh cảnh làm cô lập các quần thể này.
Mối đe dọa đối với tính đa dạng sinh học của Lâm Đồng bao gồm các đe dọa trực tiếp như khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ; săn bắt động vật hoang dã và khai thác bừa bãi nguồn lợi thủy sản; phá rừng lấy đất sản xuất; chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng với quy mô lớn; cháy rừng; khai thác khoáng sản.
Đại diện Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng cho biết, số vụ vi phạm lâm luật trong 5 năm ở Lâm Đồng (từ 2008 - 2012) do ngành kiểm lâm xử lý là 3.325 vụ với 1.409 ha rừng; khai thác lâm sản trái phép 2.743 vụ, thiệt hại 11.386 m3 gỗ tròn, hơn 7,7m3 gỗ xẻ; từ năm 2001 đến 2012, toàn tỉnh bị 453 vụ cháy rừng với hơn 1.186 ha... Còn các mối đe dọa gián tiếp là: ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, xâm nhập của động thực vật ngoại lai gây hại, phát triển du lịch thiếu kiểm soát.
Việc quản lý bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, bảo vệ thiên nhiên và sử dụng một cách bền vững tài nguyên thiên nhiên trong cả nước nói chung và Lâm Đồng nói riêng đều đang gặp rất nhiều khó khăn. Đó là cơ chế, chính sách, luật pháp về quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên còn nhiều bất cập; năng lực bảo tồn còn hạn chế; nhận thức chưa đầy đủ về các giá trị của đa dạng sinh học.
Đại diện Sở Tài nguyên & Môi trường Lâm Đồng cho biết ở tỉnh, từ 5 năm nay, lực lượng thiếu, bỏ lửng 3 - 4 năm trong triển khai kế hoạch hành động đa dạng sinh học. Điều này cho thấy, những số liệu về đa dạng sinh học được nêu ở trên chỉ là sự kế thừa, nếu được điều tra đầy đủ, chắc chắn số lượng các loài động, thực vật được ghi nhận ở Lâm Đồng sẽ còn phong phú hơn nhiều; đồng thời sự suy thoái, thậm chí tuyệt chủng cũng “báo động đỏ” hơn nữa.
Đã đến lúc phải “hành động” ngay là cảnh báo của các chuyên gia, các nhà quản lý về đa dạng sinh học. Chương trình hành động bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2008 - 2020 của Lâm Đồng đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đa dạng sinh học; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên đa dạng sinh học và bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học.
Theo kế hoạch, ngành Tài nguyên & Môi trường đã đề xuất tổng kinh phí dự kiến 12,7 tỷ đồng, bao gồm 3 dự án về thu thập thông tin, điều tra, đánh giá, hiện trạng tài nguyên; hiện trạng công tác quản lý và khai thác; xây dựng Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020. (Tuổi Trẻ 13/6) đầu trang(
Trà Vinh hiện có gần 350ha rừng phi lao phòng hộ ven biển, nằm trên địa bàn các xã: Trường Long Hòa, Hiệp Thạnh (huyện Duyên Hải) và Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang.  Điều đáng lo ngại là do ảnh hưởng khí hậu, nước biển dâng, sâu bệnh…, cả trăm ha rừng phi lao bị nước biển cuốn trôi và bị chết.
Từ đầu năm 2014 đến nay, khoảng 26ha rừng phi lao đã bị chết vì sâu bệnh, nước biển xâm thực gây sạt lở, cuốn trôi, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, sinh hoạt của cư dân ven biển.
Gắn bó với vùng đất ven biển ấp Bào, xã Hiệp Thạnh, huyện Duyên Hải từ nhỏ, anh Trần Công Lập cho biết vào năm 1990, rừng phòng hộ phi lao ven biển có bề ngang cả trăm mét và nước biển cách rừng cũng từng ấy. Nay mỗi khi nước thủy triều dâng là sóng biển đánh qua cả vạt phi lao. Trước đây, gia đình anh Lập có hơn 5 công đất (1 công = 1.000m2) nay bị sóng biển nuốt mất 4 công, nên đời sống gia đình hiện gặp rất nhiều khó khăn.
Theo Ủy ban Nhân dân xã Hiệp Thạnh, rừng phòng hộ phi lao có vai trò rất lớn trong việc chắn gió, sóng biển…bảo vệ sản xuất cư dân vùng ven biển. Nhưng từ năm 1997 đến nay, do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bờ biển xã Hiệp Thạnh bị sạt lở nghiêm trọng, một số đoạn bị lở sâu từ 500m-2.000m, xâm thực vào đất liền khoảng 200 ha, trong đó có hàng chục ha rừng phi lao. Riêng tuyến đê biển từ ấp Chợ, ấp Bào đến khu vực Rạch Cạn, mặc dù mới thi công năm 2012 với kinh phí đầu tư 75 tỷ đồng, nhưng năm 2013 đã có hơn 2km bị sạt lở…(Vietnam+ 13/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
13/6, Bộ NN&PTNT có văn bản đề nghị các địa phương tăng cường quản lý các cơ sở chế biến gỗ để bảo vệ rừng.
Theo cơ quan này, có tình trạng một số chủ cơ sở chế biến gỗ lợi dụng điều kiện gần rừng để chế biến gỗ bất hợp pháp, sau đó hợp thức hóa để tiêu thụ.
Ngoài ra, một số cơ sở chế biến gỗ, nhất là loại nhỏ lẻ, hình thành tự phát, sử dụng nguồn gỗ trôi nổi, gây thất thu thuế cho ngân sách, khó khăn cho hoạt động quản lý lâm sản.
Bộ NN&PTNT cũng đề nghị các địa phương tăng cường kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kiên quyết các cơ sở chế biến gỗ trái phép. (Đại Đoàn Kết + Vietnam+ 16/6; Pháp Luật TPHCM + Tiền Phong 14/6; Chính Phủ + Kinh Tế & Đô Thị + Thanh Tra 13/6) đầu trang(
Sáng 14-6, đông đảo đoàn viên, thanh niên trên địa bàn TP Đà Lạt đã hưởng ứng trồng cây tại khu vực rừng thuộc thôn Măng Line (P.7, TP Đà Lạt) do Tỉnh đoàn Lâm Đồng khởi phát động.
Ngay sau lễ hưởng ứng, hơn 500 đoàn viên, thanh niên các trường ĐH, CĐ, lực lượng vũ trang trồng 1.500 cây mai anh đào quanh khu vực đồi Ma, đoạn đường dẫn vào vào các khu du lịch của Đà Lạt.
Cây mai anh đào là loại cây đặc trưng, tạo nên nét đẹp cho không gian phố của Đà Lạt nên được du khách rất yêu thích khi đến đây tham quan.
Trước đó, hàng trăm du khách và người dân TP Đà Lạt đã cùng nhau trồng 3.500 cây mai anh đào và thông quanh khu C công viên Trần Quốc Toản, cạnh hồ Xuân Hương. (Tuổi Trẻ 14/6) đầu trang(
Năm 2014, tỉnh Bắc Kạn phấn đấu trồng mới 10.000 ha rừng, tính đến thời điểm hiện tại đã thiết kế được trên 11.100 ha, đạt 111% kế hoạch.
Song song với việc thiết kế rừng trồng, các địa phương trên địa bàn tỉnh cũng đã tổ chức gieo ươm được hơn 21 triệu cây giống với cơ cấu giống chủ yếu gồm: Mỡ, keo tai tượng, xoan ta, lát hoa, quế, trám, thông. Hiện nay, các địa phương đã xử lý thực bì được trên 6.500 ha rừng trồng tập trung, đạt 80% kế hoạch; Diện tích rừng đã trồng đạt 14% theo kế hoạch đã đề ra.
Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, trong 5 tháng đầu năm, công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng tiếp tục được các cấp, ngành trên địa bàn tỉnh quan tâm chú trọng. Nhờ thực hiện tốt các giải pháp đồng bộ, những năm trở lại đây, nông người dân trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến rõ rệt về nhận thức trong công tác trồng rừng và chú trọng hơn đến công tác quản lý và bảo vệ rừng. Không những thế nhiều gia đình còn biết kết hợp gắn phát triển kinh tế với việc chăm sóc, bảo vệ rừng, từ đó góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. (Đài PTTH Bắc Cạn 12/6) đầu trang(
UBND huyện Di Linh, cho biết: Nhằm đẩy mạnh công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng gắn với chăm lo, nâng cao đời sống người dân sống gần rừng” trên địa bàn, từ đầu năm 2012 đến nay các đơn vị chủ rừng, các doanh nghiệp, các hộ gia đình trong huyện đã trồng được trên 1.000ha rừng, đạt trên 200% kế hoạch.
Bên cạnh đó, toàn huyện cũng trồng được 35ha rừng cao su, 142.000 cây phân tán, tương đương với 65ha và trồng được 14ha rừng trên đất lấn chiếm. Theo kế hoạch, trong năm 2014, huyện Di Linh phấn đấu trồng trên 90 ngàn cây phân tán và trên 330ha rừng tập trung, chủ yếu là thông 3 lá.
Hiện đã bước vào mùa mưa, Hạt kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện nhằm thực hiện trồng rừng, trồng cây phân tán đạt và vượt kế hoạch đề ra. (Đài PTTH Lâm Đồng 14/6) đầu trang(
Anh Phạm Văn Trí, sinh năm 1962 – thôn Phú Sơn, xã Thuý Sơn, huyện Ngọc Lặc là cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng huyện Ngọc Lặc không chỉ là một lương y gương mẫu, nhiệt tình trong công việc mà anh còn được mọi người kính nể bởi tinh thần đi đầu trong công tác phát triển rừng và phát triển kinh tế gia đình tại địa phương.
Bên cạnh thời gian làm việc tại cơ quan, thời gian còn lại của anh Trí là ở trang trại và nghiên cứu, học hỏi thêm các mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình qua sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng.
Anh cho biết: Gia đình anh được giao 30,0 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có trên 10,0 ha rừng tự nhiên (rừng nghèo IIIa1) và 20,0 ha là đất nương rẫy canh tác lâu năm, anh Trí tâm sự “20 ha nương rẫy là đất cằn cỗi, trồng ngô, trồng sắn lời lãi không đáng bao nhiêu, không may gặp mưa bão còn lỗ và có khi mất trắng”; vợ anh buôn bán nhỏ ở chợ thu nhập chỉ đủ sinh hoạt cho gia đình, còn đồng luơng của anh phải chi phí vào việc ăn học của 2 con nên chi tiêu của gia đình rất eo hẹp.
Với quyết tâm vượt khó, làm giàu trên chính mảnh đất ông cha để lại, năm 2008 được hỗ trợ của Dự án 147 anh đã trồng được 13,0 ha Keo; đồng thời anh đã mạnh dạn vay thêm 80 triệu đồng tại Ngân hàng chính sách huyện để xây dựng chuồng trại chăn nuôi trâu, bò, dê, cá, gà,…
Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, anh đã từng bước khắc phục khó khăn, sau nhiều năm phấn đấu lao động, đến nay gia đình anh đã có nguồn thu nhập cao, ổn định: Duy trì bảo vệ, phát triển, sử dụng hiệu quả 10,0 ha rừng tự nhiên; 13,0 ha Keo đến tuổi khai thác, cho thu nhập ước đạt 120-170 triệu đồng/ha; diện tích ao cá 600m2 với các loài cá như cá trôi ta, cá trôi Ấn Độ và cá mè Vinh cho sản lượng đạt 3-3,5 tạ cá/năm, thu nhập bình quân trên 20 triệu đồng/năm; diện tích trại Dê 25m2, duy trì thường xuyên trên 30 con, sản phẩm xuất chuồng đạt 10-15 con/năm, thu nhập bình quân trên 30 triệu đồng/năm; diện tích trại gà 20m2, duy trì thường xuyên trên 100 con, sản lượng xuất chuồng mỗi năm đạt trên 3 tạ, cho thu nhập trên 30 triệu đồng/năm; hiện tại thu nhập bình quân hàng năm của trang trại trên 150 triệu đồng.
Từ việc đem lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình, anh đã cùng với Ban thôn và Kiểm lâm địa bàn tuyên truyền, vận động nhân dân trong thôn hưởng ứng tham gia công tác BVR, PTR và lấy điển hình của gia đình mình làm mô hình vận động nhân dân trong thôn học tập noi theo; anh đã tích cực hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật cho bà con nhân dân trong việc phát triển rừng, hỗ trợ giống Dê, Cá,… cho các hộ gia đình có nhu cầu xây dựng kinh tế trang trại rừng. Từ việc làm trên anh đã góp phần vào công tác BVR&PTR của thôn, hầu hết trên địa bàn thôn không còn đất trống, đồi núi trọc, cơ bản nhân dân đã tự đầu tư trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng nên an ninh rừng luôn mang tính ổn định và bền vững. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 12/6) đầu trang(
Hiện nay, tỉnh có diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp là 934.039 ha, chiếm 65% diện tích tự nhiên và chiếm 40% diện tích rừng của 4 tỉnh vùng Tây Bắc. Từ năm 2008, Sơn La là một trong hai tỉnh của cả nước được thực hiện chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Theo chính sách của Chính phủ tỉnh đã chi trả tiền DVMTR cho 158 xã, phường của 9 huyện và thành phố với tổng diện tích được xác định là 422.000 ha rừng, qua đó tỉnh cũng xác định được 2 loại dịch vụ chi trả là dịch vụ điều tiết, cung ứng nguồn nước và bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ. Chính sách đã gắn kết lợi ích giữa người sử dụng dịch vụ và người bảo vệ rừng, tạo mối liên kết kinh tế mang tính bền vững giữa người sử dụng và người cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Thông qua việc chi trả DVMTR tại cơ sở, hầu hết các địa phương đều đánh giá các chủ rừng, nhất là người dân rất phấn khởi, kết quả công tác trồng rừng, bảo vệ rừng được ghi nhận và bước đầu được hưởng lợi từ chính sách này. Tại xã Tà Xùa - một xã cao của huyện Bắc Yên, người dân đa số sống dựa vào rừng là chủ yếu, nên tình trạng phá rừng làm nương, khai thác trái phép đã làm cạn kiệt tài nguyên rừng. Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân Tà Xùa đã có công việc ổn định hơn, không tự ý chặt phá rừng bừa bãi.
Anh Mùa A Gia, trưởng bản Bẹ, xã Tà Xùa, khi nhận tiền chi trả DVMTR phấn khởi: Bản Bẹ nhận chăm sóc hơn 32ha rừng và được lĩnh hơn 7 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Bà con ai cũng vui và phấn khởi, vì công sức chăm sóc bảo vệ rừng đã được chi trả. Dự định là bản sẽ sử dụng một phần kinh tế để tu sửa nhà văn hoá, sửa đường ống dẫn nước sạch về bản và chi cho công tác bảo vệ rừng.
Còn bản Hịa, xã Mường Chanh, huyện Mai Sơn có hơn 30 chủ rừng. Diện tích rừng các chủ hộ và cộng đồng bản nhận chăm sóc bảo vệ là hơn 400 ha. Riêng năm 2013, bản đã được nhận số tiền trên 80 triệu đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh.
Ông Lò Văn Bó, Chủ tịch UBND xã Mường Chanh, thông tin: Các bản đều thống nhất thành lập các tổ quản lý bảo vệ rừng của bản để luân phiên tuần tra bảo vệ rừng và nhất trí sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc làm đường nông thôn liên bản. Cách sử dụng tiền chi trả DVMTR hợp lý là mô hình tốt để các bản khác trong xã học tập và làm theo. Giờ đây, con đường dẫn vào bản Hịa đã được bê tông hoá nhờ sức người, sức của và sự hỗ trợ một phần của Nhà nước; bộ mặt nông thôn mới của bản thay đổi đáng kể.
Nói về hiệu quả của thực hiện chính sách chi trả DVMTR, ông Hà Quyết Nghị, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, khẳng định: Chính sách chi trả DVMTR đã giải quyết nhiều vấn đề cơ bản, trọng tâm là môi trường, kinh tế và xã hội. Thông qua chính sách đã nâng cao chất lượng rừng, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của các nhà máy thuỷ điện, thuỷ lợi, nước sạch và du lịch sinh thái… Chính sách này đã tạo việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống người làm nghề rừng.
Chính sách chi trả DVMTR đã và đang phát huy hiệu quả; rừng có chủ, quyền lợi của người dân nhận khoán và bảo vệ rừng được bảo đảm; từng bước nâng cao nhận thức của người dân, nhất là trách nhiệm của các hộ gia đình trong bảo vệ rừng, ngăn chặn khai thác gỗ trái phép, phá rừng làm nương... Việc chi trả cho công tác bảo vệ rừng đã tạo việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống nhân dân vùng có rừng, giảm tiền đầu tư bảo vệ rừng từ ngân sách Nhà nước, góp phần từng bước ổn định đời sống nhân dân ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh... (Báo Sơn La 13/6) đầu trang(
Tính đến nay, toàn huyện Bảo Lâm có 62 tổ chức, cá nhân đăng ký nuôi nhốt động vật hoang dã, tăng 7 điểm so với cùng kỳ năm trước và tổng đàn là 1.119 con, số lượng đàn tăng lên gần 300 con.
chủng loại được người dân đăng ký nuôi nhiều nhất là hươu sao lấy nhung, heo rừng lai, dúi, nhím, các giống chồn, chim trĩ, rùa, ba ba, rắn…
Cơ quan chức năng huyện Bảo Lâm, cho biết: Việc nuôi nhốt động vật hoang dã ngày càng phát triển do thị trường tiêu thụ tăng, giá cả ổn định và cho giá trị kinh tế cao. Qua kiểm tra, các tổ chức và cá nhân nuôi nhốt động vật hoang dã đã thực hiện đăng ký đúng quy định của pháp luật, trong môi trường nuôi nhốt được chăm sóc cẩn thận giúp các loài động vật hoang dã  sinh trưởng và phát triển tốt. (Đài PTTH Lâm Đồng 13/6) đầu trang(
Với đặc thù của huyện miền núi, biên giới, kinh tế rừng có vai trò rất quan trọng đối với Văn Lãng. Thế nhưng trong vòng vài năm trở lại đây, mặc dù chỉ tiêu trồng rừng giao không cao nhưng Văn Lãng vẫn không thể hoàn thành.
Khi vụ trồng rừng 2014 đã đi quá nửa chặng đường, diện tích rừng trồng mới trên địa bàn huyện chỉ đạt ¼ kế hoạch và dự kiến kết thúc năm trồng rừng, Văn Lãng chỉ có thể hoàn thành hơn 50% so với chỉ tiêu kế hoạch giao.
Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Văn Lãng, hiện nay trên địa bàn huyện mới có 2 doanh nghiệp tư nhân đầu tư xưởng chế biến gỗ, nhưng việc khan hiếm nguồn nguyên liệu đầu vào là việc thường xuyên xảy ra. Từ năm 2010 trở về trước, khi một số dự án trồng rừng vẫn đang triển khai thì phong trào trồng rừng trên địa bàn huyện diễn ra khá mạnh mẽ. Có năm Văn Lãng trồng mới tới hơn 1.200ha rừng, xấp xỉ so với các huyện có phòng trào trồng rừng mạnh lúc bấy giờ. Qua đó đã nâng tổng diện tích có rừng của Văn Lãng lên hơn 30.000ha.
Thế nhưng từ năm 2010 đến nay, số diện tích trồng mới trên địa bàn huyện giảm nhanh, mặc dù chỉ tiêu trồng rừng của Văn Lãng có thể nói là thấp trong toàn tỉnh, nhưng không hoàn thành kế hoạch luôn là điệp khúc buồn của huyện này trong thời gian qua. Với đà này, dù chỉ có 2 xưởng chế biến gỗ thì việc thiếu nguyên liệu cũng không có gì là lạ.
Nhắc lại vụ trồng rừng năm trước, nguồn ngân sách cấp cho trồng rừng khá dồi dào. Thế nhưng Văn Lãng cũng vẫn không tận dụng được cơ hội này, kế hoạch trồng rừng hỗ trợ sản xuất mặc dù có vốn vẫn không đạt chỉ tiêu và phải điều chuyển để huyện Tràng Định gánh hộ. Năm nay, nguồn kinh phí ngân sách cho trồng rừng lại rất eo hẹp.
Ông Đinh Long Xuyên, Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện cho biết: năm 2014, Văn Lãng được giao chỉ tiêu trồng mới 470 ha rừng. Trong đó có 50ha rừng phòng hộ; 300 ha rừng hỗ trợ sản xuất và 120 trồng rừng phân tán. Phân tích cụ thể từng nội dung trồng rừng thì trong tổng số 50ha rừng phòng hộ, kinh phí ngân sách cấp chỉ đủ trồng 20ha. Còn lại 30ha huyện phải tìm các nguồn khác. Đối với Văn Lãng, rừng phòng hộ thường trồng hồi, với loại cây này thì Văn Lãng đảm bảo hoàn thành được 20ha có kinh phí. Còn lại 30ha là nhiệm vụ bất khả thi.
Nội dung trồng rừng hỗ trợ sản xuất càng khó khăn. Kế hoạch là 300ha nhưng với gần 350 triệu đồng kinh phí ngân sách cấp, Văn Lãng tính cặn kẽ chỉ trồng được chưa đầy 100ha. Trong nội dung trồng rừng này phải phân tích thêm là ở các xã vùng III của Văn Lãng, diện tích đất trồng rừng còn nhiều và tương đối tập trung. Nhưng với suất đầu tư đã được điều chỉnh lên 4,5 triệu đồng/ha ở vùng đặc biệt khó khăn, nếu thiết kế trồng nhiều ở vùng III, thì với nguồn kinh phí eo hẹp, diện tích trồng được sẽ rất ít. Bởi vậy mà cán bộ chuyên môn phải tính toán, thiết kế tới khoảng 70% diện tích trồng rừng hỗ trợ sản xuất ở vùng II, suất đầu tư ở vùng này thấp hơn, diện tích trồng sẽ được nhiều hơn.
Tuy nhiên, nếu trồng ở vùng II thì diện tích lại rất manh mún khó tìm hiện trường trồng rừng tập trung. Trong tất cả các nội dung trồng rừng thì chỉ có 120ha trồng cây phân tán là có đầy đủ nguồn ngân sách và việc chọn hiện trường cũng dễ dàng hơn và có khả năng hoàn thành cao nhất. Phân tích khái quát để thấy rằng cố gắng đến mức tối đa, Văn Lãng chỉ có thể hoàn thành được khoảng 240ha rừng, đây là phần có ngân sách hỗ trợ.
Ông Đinh Long Xuyên khẳng định: từ trước đến nay việc vận động nhân dân tự đầu tư trồng rừng là rất khó khăn, cho đến thời điểm này, trên địa bàn cũng chưa có hộ gia đình nào làm thủ tục xin vay vốn ưu đãi trồng rừng theo Quyết định 39 của UBND tỉnh. Nhìn một cách tổng quát có thể thấy rằng tỷ lệ xã hội hóa trồng rừng của Văn Lãng ở mức rất thấp. Công tác trồng rừng còn quá phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Theo dự kiến của lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện, vụ trồng rừng năm 2014 cố gắng ở mức cao nhất, toàn huyện cũng chỉ có thể trồng mới được khoảng 270ha rừng (trong đó cố gắng vận động nhân dân tự đầu tư trồng 30ha), tức là đạt khoảng 57% kế hoạch.
Không cần phải so sánh với các huyện xa như Lộc Bình, Đình Lập hay Hữu Lũng, chỉ cần nhìn sang huyện láng giềng là Tràng Định thì phong trào trồng rừng ở Văn Lãng cũng đã thua kém rất xa. Tại sao với điều kiện tương đồng và kinh tế rừng được xác định là rất quan trọng mà phong trào trồng rừng lại yếu kém hơn các huyện khác? Đây là câu hỏi cần được quan tâm, phân tích thấu đáo, để từ đó có hệ thống các giải pháp đồng bộ, đúng hướng để thúc đẩy phong trào trồng rừng trên địa bàn huyện Văn Lãng. (Báo Lạng Sơn + Đài PTTH Lạng Sơn 13/6) đầu trang(
Đắk Lắk: Rừng liên kết không phát huy hiệu quả
Trồng rừng liên kết được các công ty lâm nghiệp mà trước đây là các lâm trường, triển khai thực hiện từ năm 2002 với mục tiêu đẩy mạnh tiến độ trồng rừng, ổn định vùng nguyên liệu giấy, góp phần cùng địa phương tạo việc làm ổn định cho người dân, đặc biệt là người đồng bào dân tộc tại chỗ. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây các hộ dân được giao khoán rừng đã không còn mặn mà với việc trồng rừng bởi hiệu quả kinh tế mang lại không được như kỳ vọng.
Diện tích rừng keo trồng mới gần 100 hécta của công ty lâm nghiệp Krông Bông, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk từ năm 2002, khu vực này được lâm trường liên kết, giao khoán rừng cho 4 hộ người đồng bào tại chỗ trồng, chăm sóc và bảo vệ. Tuy nhiên, việc trồng rừng thâm canh chi phí đầu vào tăng cao, trong khi đó giá sản phẩm từ rừng không ổn định nên từ năm 2009 đến nay không còn hộ nào tham gia liên kết trồng rừng.
Ông Bùi Văn Hưng, Trưởng phòng trồng rừng – Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk cho biết, “Triển khai phương án trồng rừng liên kết từ năm 2002, nhưng sau khi triển khai đến năm 2007 thì phương án trồng liên kết không còn phù hợp nữa. Với lý do là trồng rừng liên quan đến mùa vụ, đến khi cần trồng hoặc chăm sóc thì người dân lại rơi vào thời điểm làm bắp, tỉa đậu, làm cỏ cho nên không kịp thời vụ”.
Do cây rừng trở nên kém hấp dẫn về hiệu quả kinh tế so với những cây nông nghiệp khác, các công ty lâm nghiệp đành thay đổi chiến lược để bảo đảm duy trì diện tích trồng rừng. Thay vì hình thức liên kết như trước đây, công ty lâm nghiệp Krông Bông đã thuê lại đất của người dân khoảng 8 triệu đồng trên 1 hécta, trong vòng 7 năm để tiếp tục duy trì trồng rừng. Từ việc thỏa thuận cam kết này không ít diện tích đất trống đồi trọc, đất bị hoang hóa để lãng phí trong dân đã được phủ xanh. Bên cạnh đó, giúp cho người dân địa phương và vùng lân cận vào làm ngày công, tăng thêm thu nhập trong những lúc nông nhàn.
Ông Y Krưm Niê, buôn Jung xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk cho biết, “kêu anh em khó khăn vào làm cùng để lấy số tiền đó tạo điều kiện cho con cái đi học, còn những người làm rẫy, làm ruộng cùng lấy từ số tiền đó vừa làm việc nhà.”
Không thể phủ nhận việc thực hiện chương trình trồng rừng liên kết với các hộ dân trong thời gian qua cũng đã làm thay đổi nhận thức về sản xuất lâm nghiệp của người dân. Đặc biệt, việc trồng rừng trên đất khai hoang vốn đã bạc màu còn góp phần cải tạo đất, sau 1 đến 2 chu kỳ trồng keo đơn vị trả lại đất cho người dân tiếp tục sản xuất nông nghiệp và có thể trồng lại rừng.
Ông Bùi Văn Hưng, Trưởng phòng trồng rừng công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk cho biết, “những diện tích đất đồi dốc, đất xấu mà người dân trồng hoa màu không còn hiệu quả được công ty thuê và chính quyền địa phương xác nhận sự thỏa thuận giữa công ty với người dân.”
Ông Bùi Công Tuấn, Giám đốc công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk cho biết, “về lĩnh vực sản xuất kinh doanh phải phát triển mạnh về trồng rừng nguyên liệu. Trong đó thu hút nhiều nhất đối với lực lượng đồng bào tại chỗ để từ đó người ta có công ăn việc làm giảm đi áp lực đối với rừng.”
Do việc liên kết trồng rừng với người dân không hiệu quả, nên các công ty lâm nghiệp phải thuê lại đất của người dân để tiếp tục trồng rừng. Trong tổng số 1.800 hécta rừng trồng của công ty Lâm nghiệp Krông Bông, có đến 1.200 hécta diện tích rừng trồng thuê lại đất của hơn 500 hộ gia đình từng liên kết trồng rừng với đơn vị trước đây. Đây cũng chính là một trong những cách làm để thu hút người dân gắn bó với rừng, góp phần bảo vệ và phát triển rừng đạt hiệu quả. (VTV9 13/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
12/6, giới chức phụ trách rừng quốc gia Garamba tại Cộng hòa Dân chủ Congo cho biết những kẻ săn trộm đã giết 68 con voi trong vòng hai tháng, tương đương 4% tổng số voi tại khu bảo tồn.
Tình hình được đánh giá là "cực kỳ nghiêm trọng" và khu bảo tồn đang bị tấn công từ nhiều "mặt trận."
Theo thông báo của Viện bảo tồn thiên nhiên Congo (ICC) và Mạng lưới các khu bảo tồn châu Phi, rừng quốc gia Garamba đang phải đối mặt với "một cuộc tấn công liên hoàn chống lại loài voi."
ICC cho biết mặc dù các biện pháp chống săn trộm voi đã được tăng cường, nhưng việc thảm sát voi vẫn diễn ra nhiều hơn kể từ giữa tháng Năm và các đối tượng săn trộm voi ngày càng sử dụng những hình thức tàn bạo hơn, thậm chí sử dụng cả súng bắn voi từ trực thăng.
Ngoài ra, một số bảo vệ của khu bảo tồn cũng bị chúng tấn công bị thương bằng lựu đạn. ICC và Mạng lưới các khu bảo tồn châu Phi nhận định những đối tượng săn trộm voi có bốn loại, đó là những kẻ thuộc phiến quân vũ trang Uganda (LRA), những nhóm vũ trang Nam Sudan, những kẻ săn trộm từ trực thăng và cả một số thành viên thuộc quân đội Congo.
Rừng quốc gia Garamba nằm ở khu vực cực Đông-Bắc của Cộng hòa Dân chủ Congo, giáp biên giới với Uganda và Nam Sudan, đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) xếp vào danh sách di sản thế giới trong tình trạng nguy hiểm kể từ những năm 1990. (Vietnam+ 13/6) đầu trang(
Tổ chức Công ước quốc tế cấm buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ngày 13/6 cho biết một số quốc gia châu Phi đạt được những bước tiến vượt bậc trong việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động buôn lậu ngà voi, với số vụ thu giữ nhiều hơn cả châu Á, nơi được coi là điểm tiêu thụ ngà voi chủ yếu.
Theo công ước nói trên, nếu trước đây rất hiếm khi bắt được các vụ vận chuyển lậu ngà voi với số lượng 1/2 tấn trở lên thì trong vòng một năm trở lại đây, các vụ bắt giữ như vậy đã trở nên thường xuyên hơn.
Trước đây, từ năm 2009, 2/3 trong số 76 vụ tịch thu ngà voi buôn bán trái phép diễn ra ở châu Á, nơi nhu cầu tiêu thụ ngà voi cho mục đích làm thuốc chữa bệnh và trang trí lên tới hàng tỷ USD. Tuy nhiên, kể từ tháng 3/2013 đến nay, có nhiều vụ bắt giữ số lượng lớn ngà voi diễn ra ở châu Phi.
Theo báo cáo của CITES, "lần đầu tiên châu Phi vượt châu Á về số vụ tịch thu loại mặt hàng quý hiếm này trên quy mô lớn" và khoảng 80% số vụ tịch thu tại châu Phi được tiến hành tại ba quốc gia Kenya, Tanzania và Uganda.
Chỉ huy lực lượng thi hành công ước CITES tại Nam Phi, ông Ben Janse van Rensburg đánh giá cao kết quả đạt được trong hoạt động truy quét nạn buôn lậu ngà voi. Ông cho rằng số vụ tịch thu ngà voi sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Cùng với các quốc gia châu Phi, việc nhiều quốc gia ở các khu vực khác trên thế giới bắt đầu thực thi các biện pháp chống buôn lậu ngà voi sẽ góp phần "diệt tận gốc" vấn nạn này. (Vietnam+ 13/6) đầu trang(
Một trong những chú voi lớn nhất thế giới với cặp ngà khổng lồ, dài đến tận mặt đất vừa bị những tên trộm sát hại dã man tại Kenya.
Chú voi có tên là Satao, khoảng 45 tuổi. Satao được cho là biểu tượng của loài voi ở Kenya và cũng là một trong những con voi có cặp ngà khổng lồ cuối cùng của châu Phi.
Theo các nhà bảo tồn động vật tại Kenya, Satao bị đầu độc đến chết bởi mũi tên tẩm độc từ những kẻ săn trộm voi. Xác chú voi được tìm thấy tại rìa khu vực hoang vắng của khu bảo tồn quốc gia Tsavo, nơi chú voi di cư, tìm nước ngọt sau cơn bão gần đây.
Tại hiện trường, các nhà chức trách cho biết, khuôn mặt cùng cặp ngà hơn 45kg và phần thịt của Satao đã bị đánh cắp. Bốn chân của nó bè ra, phần còn lại chỉ là đóng xác thối cùng với lũ kền kền.
Mark Deeble - nhà làm phim tài liệu người Anh cũng là người quay phim Satao trong vài tháng gần đây cho biết: “ Satao luôn di chuyển từ bụi cây này sang bụi khác, dường như muốn dấu cặp ngà của mình trước sự dòm ngó của con người. Tôi tin rằng, nó cảm nhận mối nguy hiểm luôn rình rập xung quanh.”
Sự mất mát chú voi mang tính biểu tượng là điều đau lòng và phản ánh hiện trạng dễ thấy nhất về tấn bi kịch săn trộm thường xảy ra trên khắp lục địa này.
Theo dữ liệu về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã (CITES), có hơn 20.000 con voi châu Phi bị sát hại vào năm 2013. Trong năm nay hiện đã ghi nhận khoảng 97 con voi bị giết tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Kenya. Đầu tháng 6-2014, cảnh sát đã thu giữ hơn 200 ngà voi tại một kho hàng tại thành phố Mombasa, có trọng lượng hơn 1.996 kg. (Tuổi Trẻ + Vietnam+ 15/6) đầu trang(
Khủng long và các sinh vật thời tiền sử từ lâu có sức mê hoặc đối với công chúng. Điều đó đã khiến hoạt động buôn lậu hóa thạch ngày càng phát triển, hình thành nên một thị trường ngầm béo bở.
Nhà cổ sinh vật người Mỹ Eric Prokopi ngày 4-6 vừa bị tòa án thành phố New York tuyên 3 tháng tù vì tội buôn bán trái phép hóa thạch khủng long. Theo báo New Yorker, để thoát mức án 17 năm tù, ông này đã chấp nhận hợp tác, hé lộ cho nhà chức trách những ngóc ngách của thị trường ngầm buôn bán cổ sinh vật xuyên lục địa...
Eric Prokopi, còn được gọi là “nhà khoa học lái buôn”, bị bắt vào tháng 10-2012 với cáo buộc buôn lậu hóa thạch tiền sử, trong đó có bộ xương gần như hoàn chỉnh của một con khủng long Tarbosaurus bataar, một “bà con” với khủng long “bạo chúa” T-rex, sống cách đây 70 triệu năm trên sa mạc Gobi thuộc Mông Cổ.
Theo đài NBC, trong khoảng năm 2010-2012, “nhà khoa học” Prokopi đã khai man khi vận chuyển chuyến hàng hóa thạch xuất phát từ Mông Cổ. Số hàng này quá cảnh tại Anh và đến Mỹ thông qua Công ty chuyển phát UPS. Doanh nghiệp Everything Earth của Prokopi đã dám quảng cáo có thể bán xương khủng long “cho bất cứ ai có nhu cầu”.
Hàng hóa nhỏ được Prokopi bán với giá từ vài chục đến vài trăm USD. Các mẫu vật vô cùng phong phú từ móng vuốt thú ăn cỏ đến hàm voi, răng sói, xương khủng long... Gian hàng trên eBay của “nhà buôn” này nhận được đến 99,7% phản hồi tích cực từ người mua.
Báo New Yorker cho biết kho hóa thạch thu được từ Prokopi xuất xứ từ nhiều vùng miền của Mỹ như Florida, Alabama, Texas... và các quốc gia Trung Quốc, Nhật, Peru, Morocco, Argentina, Kazakhstan...
Để đổi lấy mức giảm án cao, Prokopi đã khai nhiều thông tin hữu ích giúp các nhà chức trách Mỹ mở rộng điều tra hoạt động buôn lậu hóa thạch, bao gồm việc cung cấp các chi tiết về mẫu vật, thời gian và địa điểm mua bán. “Có lẽ đến giờ chưa có cuộc truy tìm nào diễn ra mà không nhờ thông tin cung cấp từ Prokopi” - ông Martin Bell, trợ lý văn phòng luật sư Mỹ, nhận xét.
Ngoài bộ xương của con Tarbosaurus bataar, hơn 18 mẫu hóa thạch lớn khác đã được Mỹ thu hồi và trao trả cho Mông Cổ.
Hoạt động ăn trộm hóa thạch đã diễn ra từ lâu và không phải hiếm tại những quốc gia có nhiều di chỉ khảo cổ như Trung Quốc, Argentina hay Mỹ. Một mẫu hóa thạch rơi vào tay sở hữu cá nhân mà không ghi lại được những dữ liệu liên quan sẽ mất hết giá trị khoa học. Đây là lý do tại sao nhiều nhà nghiên cứu cổ sinh vật cực lực phản đối, thậm chí cả với việc mua bán hóa thạch hợp pháp. Ngược lại, giới khoa học làm kinh doanh như Prokopi lại tranh cãi rằng nếu không làm vậy, các hóa thạch trước sau gì cũng sẽ thành tro bụi.
“Trên thực tế đang tồn tại một thị trường toàn cầu chuyên mua bán những mẫu cổ sinh vật bất hợp pháp. Chúng ta đang nói về một ngành thương mại có giá trị hàng triệu triệu USD mỗi năm” - Robert Painter, luật sư đại diện cho Chính phủ Mông Cổ tại phiên tòa xử ông Prokopi, nhận định.
Thông qua luật sư Painter, Tổng thống Mông Cổ Tsakhia Elbegdorj cho rằng bản án đối với Prokopi “gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng những kẻ buôn lậu sẽ bị kết án và phải trả giá cao cho tội ác của mình”. Nhiều nước trên thế giới, trong đó có Mỹ và Mông Cổ, ra lệnh cấm hoặc giới hạn việc mua bán, sở hữu hóa thạch.
Dù vậy, trong một bức tâm thư công bố tại tòa, Eric Prokopi cảnh báo các chính phủ rằng nỗ lực của họ trong việc xóa thị trường chợ đen thực tế chỉ khiến thị trường này hoạt động kín hơn và cuộc chiến càng trở nên khó khăn. (Tuổi Trẻ 15/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang