|
Ngày 15 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Mới đây tại TP.HCM diễn ra hội thảo “Hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua cập nhật quy định về bảo vệ động, thực vật hoang dã và nhận biết cách che giấu các sản phẩm này trong vận chuyển”.
Đây là hoạt động thuộc Dự án giảm thiểu nhu cầu sử dụng động, thực vật hoang dã trong đó có sừng tê giác tại Việt Nam do Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tài trợ, do Mạng lưới giám sát động, thực vật hoang dã - Tổ chức TRAFFIC phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam tổ chức.
Tại hội thảo, hơn 80 đại biểu đại diện cho 33 doanh nghiệp vận tải và hậu cần và cán bộ Cục Hải quan, Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, TP.HCM và Hiệp hội Vận tải và Ô tô Việt Nam tham gia trao đổi về vai trò quan trọng của việc bảo tồn các giống loài hoang dã và lồng ghép các nội dung về bảo vệ thiên nhiên hoang dã vào chính sách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và bộ quy tắc ứng xử của doanh nghiệp mình. (Nông Nghiệp VN 15/8) đầu trang(
Đó là mục đích của Hội thảo do Mạng lưới giám sát động, thực vật hoang dã - Tổ chức TRAFFIC phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam tổ chức tại Đà Nẵng.
Hội thảo có hơn 80 đại biểu đại diện cho 33 doanh nghiệp (DN) vận tải và hậu cần và đại diện Cục Hải quan, Chi cục Kiểm lâm và Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh: Bình Dương, Tây Ninh, TP HCM và Hiệp hội Vận tải và Ô tô Việt Nam.
Hội thảo nhằm nâng cao năng lực đấu tranh phòng chống tội phạm, nỗ lực giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ động, thực vật hoang dã cho lãnh đạo các DN, đơn vị hoạt động vận tải, hậu cần và các cơ quan thực thi pháp luật.
Tại Hội thảo, các đại diện đã trao đổi về vai trò quan trọng của việc bảo tồn các giống loài hoang dã và các hình thức bảo tồn thiên nhiên hoang dã lồng ghép trong công tác chuyên môn của các đơn vị.
Hội thảo cũng “Hỗ trợ DN thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua cập nhật quy định về bảo vệ động, thực vật hoang dã và nhận biết cách che giấu các sản phẩm này trong vận chuyển”. Thông qua Hội thảo, các DN có cơ hội tìm hiểu và lồng ghép các nội dung về bảo vệ thiên nhiên hoang dã vào chính sách trách nhiệm xã hội và bộ quy tắc ứng xử của mình.
Theo Bà Madelon Willemsen, Trưởng Đại diện Tổ chức TRAFFIC tại Việt Nam: "Việt Nam được xem là một trong những điểm trung chuyển và tiêu thụ động, thực vật hoang dã trên thế giới. Trong chuỗi vận chuyển và buôn bán hàng hóa, hoạt động vận tải và hậu cần luôn đóng một vai trò quan trọng và cũng vẫn được thể hiện rõ ngay cả trong các hoạt động vận chuyển hàng hóa trái phép. Hội thảo lần này hy vọng sẽ đem đến những kiến thức và kỹ năng cần thiết nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vận tải và hậu cần trong việc giảm thiểu rủi ro có thể gặp phải khi liên quan đến chuỗi vận chuyển và buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã. Sự tiên phong và cam kết của các DN trong ngành vận tải và hậu cần là chìa khóa tạo nên những thay đổi và tác động tích cực trong việc đấu tranh chống lại các hoạt động vận chuyển và buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã trong bối cảnh cần tiếp tục nâng cao hiệu quả của các hoạt động thực thi pháp luật."
Các đại biểu đã được tìm hiểu về các phương pháp che giấu động, thực vật hoang dã nguy cấp trong vận chuyển hàng hóa, các quy định pháp lý trong việc quản lý và bảo vệ động, thực vật hoang dã, trong đó có các quy định của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) và đặc biệt là chuyến tham quan khảo sát thực tế tại Trạm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi.
Ông Đinh Hữu Thạnh, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Bee Logistics cho biết: "Chúng tôi rất vui mừng vì hội thảo đã mang lại nhiều thông tin và kiến thức về bảo tồn thiên nhiên hoang dã, đặc biệt là việc bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã. Cùng với chúng tôi, các DN vận tải và hậu cần có thể tham gia và ký cam kết thể hiện thái độ không khoan nhượng đối với tội phạm về động, thực vật hoang dã để qua đó chúng ta có thể mở rộng hơn nhiều cơ hội nhằm giảm thiểu những hành vi buôn bán và vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã tại Việt Nam".
Ông Thái Truyền, Phó Giám đốc Cơ quan quản lý CITES Việt Nam cho biết: "Các DN vận tải và hậu cần là những nhân tố quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm về động, thực vật hoang dã. Chúng ta cần nỗ lực khuyến khích các DN này tham gia và áp dụng những công cụ cần thiết để ngăn chặn các hoạt động vận chuyển và buôn bán động, thực vật hoang dã trong và ngoài biên giới Việt Nam. Nhân viên của các DN này cũng cần tích cực phối hợp các cơ quan thực thi pháp luật để nâng cao năng lực và kiến thức về bảo vệ thiên nhiên hoang dã cũng như các vấn đề liên quan đến vận chuyển và buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã ". (Thanh Tra 15/8) đầu trang(
Chính phủ đã có quy định nghiêm cấm, xử phạt việc đánh bắt, vận chuyển, buôn bán trái phép các loại động vật hoang dã thuộc lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản; lực lượng kiểm lâm, quản lý thị trường, Công an … đã ra quân kiểm tra, bắt giữ, xử lý không ít trường hợp đánh bắt, vận chuyển, mua bán trái phép các loại động vật hoang dã, nhưng thực trạng này vẫn ngang nhiên xảy ra, giữa thanh thiên bạch nhật, đến mức đáng báo động!
Tại thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An chúng tôi rất dễ tìm thấy các loại động vật hoang dã như: rắn, rùa, chim, cò, trích, diệc, giang sen… các loại được bày bán thường xuyên, công khai. Nhiều con chim, cò còn sống được nhốt trong chuồng, lồng sắt cùng với các con chim cò sống hay chết được treo lủng lẳng và khi người mua có như cầu thưởng thức thịt chim, cò… tại chỗ thì người bán sẵn sàng làm thịt, nhổ lông chim, chế biến thức ăn ngay tại chỗ.
Những người chuyên bán rắn, rùa, chim, cò… ở khu vực trung tâm thị trấn Thạnh Hóa này cho biết: Các loại động vật này do những thợ săn chuyên nghiệp đánh bắt được và đem bỏ mối cho chúng tôi rồi chúng tôi bán lại cho người tiêu dùng hoặc bán lại cho chủ nhà hàng, quán nhậu… Giá bán mỗi ký rắn còn sống từ 150.000đ trở lên tùy loại lớn-nhỏ; chim, cò, trích một ký từ 150.000đ đến trên 200.000đồng. Nổi bật, chim két xanh có giá 150.000đ/con, chim Hoàng Yến giá 150.000đ/cặp, Le le có giá 500.000đ/cặp, bìm bịp một con từ 150.000 đồng trở lên tùy loại…
Điều 21 Nghị định 99/2009/NĐCP quy định: cá nhân, tổ chức có hành vi mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh trái phép các loại động vật thuộc lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản sẽ bị xử phạt hành chính tùy theo mức độ từ 3 triệu đến 500 triệu đồng! (Nông Nghiệp VN 15/8) đầu trang(
Quan Sơn, Thanh Hóa: Tăng cường phòng cháy, chữa cháy rừng
Huyện Quan Sơn hiện có trên 82.000 ha rừng, trong đó có gần 68.000 ha rừng tự nhiên, 13.451ha rừng trồng.
Hạt Kiểm lâm huyện Quan Sơn đã tham mưu cho UBND huyện tuyên truyền, vận động các chủ rừng, người dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở 13/13 xã, thị trấn; tham mưu cho chính quyền địa phương cách thức phối hợp, huy động lực lượng chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”; phát mới, tạo đường băng cản lửa tại những khu vực xung yếu; đặt bảng cấm lửa ở những vùng rừng trọng điểm dễ cháy, khu vực người dân hay qua lại, khu vực biên giới, khu vực có đông đồng bào Mông sinh sống ở xã Sơn Thủy, Na Mèo. Tăng cường phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội và lực lượng bảo vệ rừng với 2 huyện Sầm Tớ, Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (Lào)...
Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên trên địa bàn huyện được thực hiện tốt đã mang lại hiệu quả rõ rệt, nhiều loại cây có giá trị kinh tế đã sinh trưởng và phát triển trở lại, tạo thành rừng có tính đa dạng về sinh học và khả năng phòng hộ tốt, tăng thu nhập cho người dân, góp phần nâng độ che phủ rừng lên 83,9%. (Báo Thanh Hóa 12/8) đầu trang(
Liên tục trong thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã có rất nhiều vụ cháy rừng và rất nhiều vụ tai nạn chết người do đốt thực bì trên nương rẫy trong mùa nắng nóng gây ra. Nguyên nhân là do người dân khi đốt thực bì đã không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định khi đốt thực bì gây ra nhiều vụ tai nạn đáng tiếc.
Những vụ đốt thực bì gây cháy rừng, chết người cứ lặp đi lặp lại trong mùa nắng nóng. Chỉ tính riêng từ đầu năm 2016 đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã xảy ra 5 vụ cháy rừng do người dân đốt thực bì gây thiệt hại hơn 7 hecta rừng. Đặc biệt, xảy ra 4 vụ tai nạn làm 5 người chết, 1 người bị thương do đốt thực bì gây ra.
Ông Nguyễn Đại – Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi : Hầu như các vụ cháy rừng xảy ra dẫn tới cháy lan, gây ra các vụ tai nạn là do sự bất cẩn chủ quan của người sử dụng lửa, cứ cho rằng mình kiểm soát được lửa nhưng khi mà khi nó đã cháy lên thì không kiểm soát được. Và khi mà để cháy lan sang các khu rừng khác thì sợ là hậu quả để lại rất lớn sẽ đền cho nên cố gắng cứu chữa nhưng khi mà đã cháy rồi thì không kiểm soát được dẫn tới ngạt thở, có người rơi vào đám cháy thì cái này cũng rất là đáng buồn.
Một thực tế hiện nay là người dân khi đốt thực bì trên nương rẫy trong mùa nắng nóng luôn rất chủ quan, không tuân thủ các quy định về phòng chống cháy rừng cũng như không có các biện pháp bảo hộ lao động an toàn. Việc chuẩn bị các khâu trước khi đốt thực bì như làm đường ranh, huy động người canh lửa, chuẩn bị phương tiện dập lửa, báo cáo việc đốt thực bì cho kiểm lâm địa bàn và chính quyền địa phương, thì hầu như rất ít khi người dân chấp hành. Chính đều này đã dẫn tới nhiều vụ cháy gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
Theo ông Nguyễn Đại, đốt thực bì đối với diện tích rừng sau khai thác thì phải làm đường ranh đảm bảo an toàn, ít nhất là phải từ 2m trở lên để khi cháy thì lửa không vượt qua băng. Khi đốt thì phải đủ người để mà kiểm soát và đốt vào lúc sáng sớm, chiều tối hoặc lúc gió nhẹ, đặc biệt không đốt vào lúc trưa nắng.
Thứ 2 nữa là khi đốt thì phải đốt từ trên dốc đốt xuống, phải đốt lùi, tức là không được đốt tràn lan để khi cháy rồi là không kiểm soát được. Và một việc hết sức quan trong là trước khi đốt thực bì là phải báo trước cho xã về thời gian địa điểm để chính quyền địa phương giám sát được, khi có cháy thì phải báo để kiểm lâm với chính quyền địa phương hỗ trợ để mà dập tắt.
Quảng Ngãi vẫn đang trong mùa nắng nóng. Và, nguy cơ cháy rừng và tai nạn chết người từ đốt thực bì vẫn luôn rình rập khi mà người dân còn thờ ơ trước các biện pháp đảm bảo an toàn khi đốt thực bì. Do vậy, việc thực hiện nghiêm các quy định khi đốt thực bì trong lúc này là hết sức cần thiết để có thể ngăn ngừa được các vụ cháy rừng, đồng thời bảo vệ được tính mạng của chính mình và những người xung quanh khu vực đốt thực bì. (ANTV 13/8) đầu trang(
Dù đang là mùa khô, nhưng tại lâm phận do Chi nhánh lâm trường Vĩnh Long (Công ty TNHH MTV lâm công nghiệp Long Đại, Quảng Bình) quản lý vẫn diễn ra.
Diện tích bị đốt gần 4 ha, thuộc tiểu khu 364 (xã Vĩnh Ninh, H.Quảng Ninh) được tổ chức rất quy mô, có cả máy móc san ủi. Tình trạng chặt phá rừng, đốt rừng tiếp diễn tràn lan tại khu vực này từ tháng 4 đến nay, với những vạt rừng lớn bị cưa đốt có cây đường kính từ 30 - 40 cm, khói cháy âm ỉ cả khu vực (ảnh).
Điều đáng nói, diện tích rừng trên lại là của chính cán bộ của Chi nhánh lâm trường Vĩnh Long. Trả lời về tình trạng đốt, phá rừng vẫn tiếp diễn, ông Đặng Thanh Cương, Giám đốc Chi nhánh lâm trường Vĩnh Long thừa nhận: “Là do một số cá nhân được giao khoán rừng từ năm 2015 thực hiện và một số người dân vào đốt rừng để lấy than. Sợ cháy rừng nên chi nhánh đã nhờ một số đơn vị đưa phương tiện cơ giới vào khu vực nói trên để san ủi làm đường ranh cản lửa”.
Lời giải thích này khiến nhiều người bức xúc, bởi lẽ ra Chi nhánh lâm trường Vĩnh Long phải thực hiện trách nhiệm ngăn cấm người đốt chứ không phải bỏ kinh phí ra làm đường ranh ngăn lửa. Cử tri trên địa bàn đã nhiều lần phản ánh tình trạng xâm hại rừng ở địa phương nhưng không được giải quyết thấu đáo. (Thanh Niên 13/8) đầu trang(
Dù Thủ tướng Chính phủ đã tuyên bố kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên nhưng chỉ sau thời gian ngắn, liên tiếp có các vụ phá rừng nghiêm trọng xảy ra. Điển hình là vụ gỗ Pơ Mu ở Quảng Nam, vụ lòng hồ Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 5 (huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng), rồi gần nhất là vụ chuyển rừng nghèo thành dự án chăn nuôi ở huyện Bù Đăng (Bình Phước) với 575ha rừng đã và sắp bị đốn hạ…
Điều đó nói lên rằng, chuyện tàn phá tài nguyên rừng âm ỉ và dai dẳng bởi nhiều nguyên nhân. Ngoài việc phá rừng để lấy đất sản xuất ở các tỉnh miền núi, phá rừng lấy gỗ mua bán lâm sản trái phép; còn có nguyên nhân từ chính chủ trương chuyển rừng nghèo thành rừng sản xuất, từ rừng tự nhiên thành rừng cao su. Đây là kiểu “phá rừng có phép”.
Chưa ai thống kê từ khi Chính phủ cho phép chuyển đổi rừng nghèo thành “rừng cao su” để nhiều địa phương coi việc phát triển diện tích cao su, cà phê như hình thức nâng độ che phủ của rừng, đến nay đã có bao nhiêu diện tích rừng tự nhiên bị “phù phép” thành rừng nghèo, để rồi trở thành nguồn lợi béo bở cho không ít quan chức, đơn vị tận thu gỗ, thu lợi từ việc chuyển nhượng đất rừng?
Chỉ biết rằng, cái giá phải trả vô cùng lớn. Hậu quả trước mắt có thể thấy, đó là biến đổi khí hậu, mất đi khả năng đa dạng sinh học, làm hủy hại tầng nước ngầm, đảo lộn hệ sinh thái, bức tử nhiều sông, suối…
Ngay từ đầu, nhiều nhà khoa học đã kịch liệt phản đối quan điểm lấy đất rừng để trồng cao su vì giá trị của cao su thì tính được, còn giá trị của rừng tự nhiên là vô giá đối với môi trường và sự phát triển bền vững của con người. Thêm vào đó, rất khó để đánh giá tiểu khu nào hoàn toàn rừng nghèo; khi chỉ có rừng nghèo đan xen với rừng giàu, cây bụi xen lẫn cây gỗ quý.
Do đó rất dễ bị lợi dụng chủ trương để tàn phá rừng. Việc trước mắt nên làm là Bộ NN-PTNT chủ động đánh giá tiến độ thực hiện các dự án chuyển đổi rừng nghèo thành rừng sản xuất, rừng cao su; thống kê cụ thể số diện tích rừng trong kế hoạch chuyển đổi nhưng chưa kịp chuyển đổi để giữ lại những diện tích rừng này và phục hồi tính đa dạng sinh học để làm vốn quý cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững…
Đồng thời, Chính phủ cũng cần chỉ đạo các địa phương tạm dừng chủ trương kế hoạch chuyển đổi rừng nghèo thành đất trồng cây công nghiệp lâu năm, thành dự án nông lâm kết hợp trên phạm vi cả nước để rút ra bài học chung từ đó có kế hoạch phát triển rừng theo hướng bền vững mà người dân địa phương có thể làm giàu từ rừng nhưng vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái và tài nguyên rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 12/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, các lực lượng chức năng của tỉnh tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát nên các đối tượng lâm tặc thường xuyên sử dụng những loại xe khách, xe thùng kín để vận chuyển gỗ lậu với khối lượng nhỏ nhằm dễ qua mặt lực lượng chức năng; đồng thời nếu bị phát hiện thì cũng chỉ bị xử phạt hành chính chứ không phải bị tịch thu phương tiện.
Ông Nguyễn Văn Thanh - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Đại Hồng (huyện Đại Lộc) cho biết, từ đầu năm đến nay, đơn vị đã phát hiện và bắt giữ nhiều loại xe thùng kín chở gỗ lậu; thu giữ gần 50m3 gỗ các loại, 8 ô tô và 2 mô tô dùng để vận chuyển gỗ lậu. Phần lớn các xe tải thùng này đều xuất phát từ các tỉnh Tây Nguyên hay huyện Phước Sơn và điểm đến thường là TP.Đà Nẵng.
Gần đây nhất, vào cuối tháng 6 vừa qua, Tổ công tác của Trạm Kiểm lâm Đại Hồng đã phát hiện và tạm giữ xe tải BKS 47C-016.98 vận chuyển hơn 1,3m3 gỗ mít nài. Theo lời khai của tài xế, số gỗ này được vận chuyển từ Đắk Lắk xuống để mang đi tiêu thụ. Còn tại huyện Nam Giang, ông Đinh Anh Tuấn - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết, do đơn vị không có trạm barie kiểm soát lâm sản nên việc phát hiện, bắt giữ xe tải thùng, xe khách vận chuyển gỗ lậu rất khó khăn.
“Thông thường, chúng tôi phải có nguồn tin báo chính xác, mới có thể cho lực lượng ra tiến hành chặn xe kiểm tra được. Và nhờ tin báo của cơ sở mà ngày 16.6 vừa qua, chúng tôi đã chặn bắt được xe tải thùng kín BKS 92C-085.83 đang vận chuyển hơn 0,3m3 gỗ giổi từ Phước Sơn về Đà Nẵng tiêu thụ” - ông Tuấn cho biết thêm.
Ông Từ Văn Khánh - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho rằng, các đối tượng vận chuyển gỗ lậu bằng xe thùng kín, xe khách đã biết cách lách qua các quy định của Nghị định 157/NĐ-CP năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt các hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo quy định, các phương tiện vận chuyển gỗ thông thường trái phép với khối lượng từ 1,5m3 trở lên sẽ bị tịch thu gỗ, xử phạt hành chính đồng thời còn bị tịch thu phương tiện vận chuyển nếu là do chính chủ xe điều khiển. Do hiểu được quy định như vậy nên các đối tượng dùng xe thùng kín, xe khách vận chuyển gỗ lậu thường chở dưới số lượng này nhằm tránh bị tịch thu phương tiện khi cơ quan chức năng phát hiện.
“Quan điểm của chúng tôi là xử lý nghiêm tất cả phương tiện vận chuyển gỗ lậu. Khi phát hiện phương tiện vận chuyển gỗ lậu chúng tôi sẽ xử phạt về 2 hành vi là mua bán và vận chuyển trái phép lâm sản theo đúng tinh thần của Nghị định 157” - ông Khánh khẳng định. (Báo Quảng Nam 12/8) đầu trang(
Ngoài kết quả kiểm tra 8 tọa độ về tình trạng phá nát rừng tự nhiên ở huyện Vĩnh Linh mà Báo Lao Động nêu, báo cáo của UBND huyện Vĩnh Linh không đề cập gì đến việc "ai đó" đã đưa máy ủi vào san ủi đường để vận chuyển gỗ.
Sau khi Báo Lao Động khởi đăng loạt phóng sự "Quảng Trị, công khai đốn hạ gỗ trong rừng phòng hộ", phản ánh tình trạng phá rừng nghiêm trọng ở xã Vĩnh Hà và Vĩnh Ô thuộc huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị), địa phương này đã thành lập đoàn công tác liên ngành gồm 50 người đi kiểm tra, truy quét các đối tượng chặt phá rừng tự nhiên trái phép.
Đoàn liên ngành chia làm 2 tổ công tác, trong đó ở xã Vĩnh Ô do ông Nguyễn Long - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh làm tổ trưởng, ở xã Vĩnh Hà do ông Nguyễn Đình Quang - Đội trưởng Đội Cảnh sát kinh tế Công an huyện Vĩnh Linh làm tổ trưởng.
Theo đó, 2 tổ công tác chỉ tiến hành kiểm tra ở 8 tọa độ mà Báo Lao Động đã nêu trong bài viết. Kết quả thực tế kiểm tra tại hiện trường cho thấy, việc chặt phá rừng trái phép tại 4 tọa độ ở xã Vinh Ô là đúng. Trong đó 2 tọa độ chặt phá rừng trong phạm vi 1,72ha, có 5 điểm chặt hạ cây rừng trái phép với số lượng 14 cây có đường kính từ 22-36cm. Riêng 4 tọa độ chặt phá rừng X:693253-Y:1878254; X:693226-Y:1878163;X:693209 -Y1878252 và lán trại ở tọa độ: X:694059- Y:1879957 mà Báo Lao Động đã nêu trong bài viết, thì tổ liên ngành do ông Nguyễn Đình Quang làm trưởng đoàn không phát hiện thấy dấu hiệu của việc chặt phá rừng.
Từ kết quả kiểm tra, UBND huyện Vĩnh Linh đã làm báo cáo gửi UBND tỉnh Quảng Trị cùng các ngành chức năng. Tuy nhiên, ngoài kết quả kiểm tra 8 tọa độ báo nêu ra, báo cáo không đề cập gì đến việc "ai đó" đã đưa máy ủi vào san ủi đường để vận chuyển gỗ.
Những hình ảnh, clip về đoàn xe trâu chở gỗ dàn hàng ngang trên con đường mới mở với cơ man là gỗ khai thác trái phép cũng không thấy báo cáo đề cập đến. Và cũng có thể trên cơ sở này, UBND tỉnh Quảng Trị sẽ làm báo cáo gửi Chính Phủ, vì trước đó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có văn bản gửi UBND tỉnh yêu cầu làm rõ thông tin rừng bị tàn phá do Báo Lao Động nêu.
Trong lúc đó, ghi nhận của chúng tôi cho thấy, các nhánh đường mòn được mở nối với con đường Lò Than ở trong rừng phòng hộ thuộc lâm phần của Ban quản lý lưu vực sông Bến Hải đều có dấu vết phá rừng, những cây gỗ có đường kính khoảng 30cm trở lên là bị cưa trơ gốc. Vì vậy, việc chỉ kiểm tra 8 tọa độ mà chúng tôi đưa ra để đánh giá tình trạng phá rừng cho cả cánh rừng tự nhiên mấy nghìn hecta là đang "nói giảm, nói tránh".
Trước đó, ngay tại cuộc họp thông báo kết quả tình trạng phá rừng này, PV Báo Lao Động đã có ý kiến rằng, trong khuôn khổ những bài báo đã đăng tải, chúng tôi chỉ đưa vào một số tọa độ để chứng minh việc tàn phá rừng ở huyện Vĩnh Linh là sự thật. Việc cơ quan chức năng chỉ đi kiểm tra 8 tọa độ mà chúng tôi đã nêu, để rồi căn cứ vào đó để đi đến kết luận về tổng thể việc phá rừng ở huyện Vĩnh Linh là không toàn diện.
Cũng tại cuộc họp này, ông Thái Văn Thành - Phó Chủ tịch huyện Vĩnh Linh đã đặt câu hỏi rằng, chỉ 8 địa điểm Báo Lao Động nêu là có phá rừng, hay còn những địa điểm khác. "Vì thời gian và phương tiện giới hạn, nên chỉ kiểm tra mức độ như thế, chỉ có từng ấy diện tích hay còn nữa" - ông Thành, nhấn mạnh.
Cùng quan điểm này, ông Võ Văn Hưng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị - chủ trì cuộc họp, đề nghị cơ quan chức năng cần tiếp tục kiểm tra để có báo cáo tổng thể. "Chúng tôi tiếp thu thông tin báo nêu. Đề nghị Ban quản lý rừng phòng hộ và Hạt kiểm lâm tiếp tục kiểm tra, phát hiện những địa điểm khai thác rừng khác. Tìm ra những đối tượng vi phạm để truy tố, làm nghiêm khắc để làm gương cho những nơi khác" - ông Hưng, nói.
Để giúp cơ quan chức năng thuận lợi trong quá trình kiểm tra và có báo cáo thực tế, toàn diện về tình trạng phá rừng ở huyện Vĩnh Linh, ngoài những hình ảnh đã được đăng tải trước đó. (Lao Động 13/8) đầu trang(
Đoàn kiểm tra Chi cục kiểm lâm thành phố vừa tổ chức kiểm tra thực địa tại khu rừng ngập mặn ven biển tại xã Phù Long, huyện Cát Hải.
Qua kiểm tra các khu vực rừng ngập mặn Cái Viềng 1, Cái Viềng 2, khu Đồng Công, khu cửa Áng Dài và khu hòn Thoi Dê cho thấy hầu hết các khu rừng này được quản lý bảo vệ khá tốt. Một số khu rừng bị người dân nuôi trồng thủy sản chặt phá cách đây hơn 10 năm, nay được trồng mới, như khu đầm của gia đình ông Nguyễn Văn Tính khu Đồng Công; ông Phạm Văn Bình khu Thoi Dê; ông Lê Văn Thành khu cửa Áng Dài.
Theo ông Nguyễn Quang Thành, Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Cát Hải, từ năm 2002 đến nay, trong số 627 ha hệ thống rừng ngập mặn ven biển tại xã Phù Long, có 60 ha rừng được trồng mới. Do làm tốt công tác tuyên truyền nên người dân có ý thức hơn trong công tác bảo vệ rừng. Công tác bảo vệ rừng luôn được các cấp chính quyền, địa phương ở huyện Cát Hải chú trọng vì rừng ngập mặn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thủy sản, làm phong phú hệ sinh thái của Khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà. (Báo Hải Phòng 13/8) đầu trang(
Ngày 12-8, Công an tỉnh Phú Yên đã cử lực lượng phối hợp với Hạt Kiểm lâm và các ngành chức năng của huyện miền núi Đồng Xuân tổ chức giám định hiện trường hơn 70ha rừng bị phá, đốt thuộc vùng giáp ranh hai xã Xuân Long và Xuân Quang 2 để làm căn cứ xử lý.
Ngoài hơn 20ha rừng thuộc tiểu khu 110, xã Xuân Long bị tàn phá, các ngành chức năng của tỉnh Phú Yên còn phát hiện thêm hơn 50ha rừng tự nhiên đang trong thời kỳ tái sinh tại tiểu khu 120 và 121, xã Xuân Quang 2 (giáp ranh xã Xuân Long) cũng bị cạo trọc, đốt để làm than, sau đó trồng rừng kinh tế. Trong khu vực rừng này, có hơn 10 hầm lò than và nhiều xe ô tô tải ra vào tấp nập chở gỗ, củi tận thu.
Tại hiện trường, nhiều mảng rừng vẫn còn bốc cháy, tiếng cưa lốc gầm rú đinh tai, vang vọng cả núi rừng. Bên trong, hàng chục người tự do chặt phá rừng tự nhiên với những cây gỗ đường kính từ 20 đến hơn 40cm. Bà Phạm Thị Lan Anh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Xuân Long, huyện Đồng Xuân thừa nhận, việc ngăn chặn là quá chậm vì địa phương bận nhiều công việc, trong khi cán bộ lâm nghiệp chỉ có một người.
Trước tình trạng trên, ông Trần Hữu Thế, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên đã chỉ đạo các ngành chức năng làm rõ các đối tượng đứng đằng sau các vụ phá rừng trên. Theo ông Thế, những người dân nghèo không thể đầu tư thuê xe múc, máy ủi để mở đường vào phá rừng được. (Nhân Dân 12/8) đầu trang(
Thành lập từ đầu năm 2012 theo Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Ngòi Giành và Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa trực thuộc Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn) được giao quản lý, bảo vệ khoảng ba vạn ha rừng tự nhiên phòng hộ và phát triển diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Yên Lập, Cẩm Khê, Tân Sơn, Thanh Sơn.
Qua hơn 4 năm thành lập, cùng với những thành tích đáng ghi nhận trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, hoạt động của hai BQL đã gặp nhiều vướng mắc, trở ngại do lực lượng mỏng, địa bàn rộng, phức tạp và đặc biệt là trong triển khai dự án trồng rừng, tiếng là chủ rừng nhưng không được cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất…
Thực hiện nhiệm vụ được giao, dẫu chỉ có 7 biên chế nhưng các Ban quản lý đã nỗ lực vượt khó, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm và người dân trên địa bàn thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, phát triển diện tích rừng phòng hộ, đặc biệt là diện tích rừng tự nhiên. Trong 4 năm, trên địa bàn không xảy ra các vụ phá rừng, cháy rừng nghiêm trọng.
Mỗi năm, diện tích rừng phòng hộ trồng mới lại được nâng lên đồng nghĩa với tỷ lệ che phủ rừng được giữ vững. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về rừng được tổ chức thường xuyên với nhiều hình thức phong phú, sinh động, phù hợp đã phát huy hiệu quả tích cực. Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc giữ rừng phòng hộ, rừng tự nhiên có nhiều chuyển biến tích cực.
Từ đầu năm đến nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa đã rà soát, phát dọn thực bì, cuốc hố và trồng 142,62ha rừng đạt 216% kế hoạch; hoàn thành chăm sóc 105,6ha rừng trồng năm 2, 160ha rừng trồng năm 3, 151,8ha rừng trồng năm 4. Cán bộ, nhân viên Ban Quản lý thường xuyên phối hợp với Hạt Kiểm lâm Tân Sơn, Thanh Sơn tổ chức tuần tra, kiểm tra, bảo vệ 12.946,2ha rừng tự nhiên. Ban Quản lý đã tổ chức 10 lớp tập huấn các nội dung liên quan đến công tác bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng cho 350 cán bộ, người dân trên địa bàn.
Cũng trong thời gian trên, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Ngòi Giành đã bảo vệ hiệu quả 6.500ha rừng tự nhiên phòng hộ trên địa bàn huyện Yên Lập và 623,9ha rừng tự nhiên phòng hộ của huyện Cẩm Khê; ký hợp đồng tuyên truyền công tác phòng chống cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng qua 15 đài truyền thanh cơ sở và Đài truyền thanh huyện Yên Lập. B
an Quản lý phân công cụ thể cho từng cán bộ, nhân viên duy trì nghiêm chế độ trực phòng cháy chữa cháy rừng, dự báo cấp độ cháy rừng thường xuyên, kịp thời khi thời tiết thay đổi, hanh khô, nắng nóng kéo dài. Phối hợp với lực lượng kiểm lâm địa bàn và chính quyền địa phương, cán bộ, nhân viên Ban quản lý đã thực hiện tuần tra, kiểm tra rừng tự nhiên tại xã Trung Sơn, Xuân An, Mỹ Lương, Minh Hòa, Thượng Long, Đồng Lạc thuộc huyện Yên Lập và xã Tiên Lương, Văn Bán của huyện Cẩm Khê.
Qua đó đã phát hiện vụ phát nương, lấn chiếm 1.400m2 vào rừng tự nhiên phòng hộ và 3.700m2 vào rừng trồng phòng hộ tại xã Đồng Lạc, huyện Cẩm Khê, kịp thời báo cáo với cơ quan chức năng xử lý theo quy định pháp luật. Triển khai nhiệm vụ phát triển rừng, Ban quản lý đã trồng mới 500ha rừng sản xuất tại 15 xã, thị trấn của huyện Yên Lập; trồng mới 80ha rừng phòng hộ, đặc dụng; chăm sóc hơn 200ha rừng trồng phòng hộ 2-4 tuổi…
Phát huy tinh thần trách nhiệm, đảm bảo mục tiêu bảo vệ, phát triển bền vững diện tích rừng phòng hộ được giao, hai Ban quản lý đều đã xây dựng, triển khai kế hoạch tiếp tục chăm sóc rừng trồng phòng hộ lần 1 kết hợp với trồng dặm, phối hợp với UBND các xã đôn đốc, nhắc nhở các chủ hộ bảo vệ rừng thường xuyên tuần tra, kiểm tra, kiên quyết không để các vụ vi phạm lâm luật nghiêm trọng diễn ra trên địa bàn, giữ vững và nhân lên màu xanh trù phú của các cánh rừng phòng hộ, rừng tự nhiên, tích cực góp phần bảo vệ môi trường sống, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững…
Thế nhưng, cùng với khó khăn về nhân lực mỏng trong khi diện tích rừng được giao quản lý, bảo vệ lớn, địa bàn phức tạp, hai Ban quản lý rừng phòng hộ còn gặp nhiều trở ngại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến… thủ tục hành chính.
Được UBND tỉnh giao quản lý, bảo vệ khoảng ba vạn ha rừng phòng hộ nhưng cho đến thời điểm này các Ban quản lý mới chỉ nhận được quyết định giao đất mà chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vậy là danh chính nhưng chưa “chính chủ”. Đáng chú ý hơn, mùa trồng rừng năm nay, hai Ban quản lý đến gặp, liên hệ với người dân trồng rừng mà chưa thể ký được hợp đồng do… không phải chủ đầu tư. Vậy là cây giống, phân bón vẫn được chuyển về, người dân vẫn nhận và thực hiện hiện việc dọn thực bì, cuốc hố, trồng cây nhưng mọi thủ tục ký kết hợp đồng, thanh toán vẫn phải đợi!
Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Tuấn - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa cho biết: “Những năm trước, chúng tôi vẫn là chủ đầu tư ký hợp đồng với các hộ dân trồng rừng phòng hộ theo chương trình dự án phát triển rừng của hai huyện Tân Sơn, Thanh Sơn. Trong hai năm 2014 và 2015, Ban quản lý trồng mới 265,6ha rừng phòng hộ. Năm 2016, dự án phát triển rừng không còn, thay vào đó là dự án trồng rừng do Chi cục lâm nghiệp làm chủ đầu tư, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa được giao triển khai thực hiện 122,6ha, trong đó có 36,7ha rừng trồng thay thế. Để đảm bảo tiến độ mùa vụ, chúng tôi đã khảo sát hiện trường, liên hệ với 19 chủ hộ và tiến hành giao cây giống, phân bón cơ bản hoàn thành diện tích được giao. Tuy nhiên, do không phải chủ đầu tư, nên chúng tôi không thể ký kết hợp đồng mà phải chờ Chi cục Lâm nghiệp…”.
Chung hoàn cảnh trên, vụ trồng rừng năm nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Ngòi Giành được giao trồng 80ha rừng và đã hoàn thành 100% diện tích được giao. Tuy nhiên, chỉ có 24ha do UBND tỉnh giao (gồm 18ha rừng đặc dụng và 6ha rừng phòng hộ thay thế) đã hoàn tất thủ tục ký kết hợp đồng với người dân còn lại 56ha rừng phòng hộ sản xuất dù đã trồng xong vẫn đợi Chi cục Lâm nghiệp về ký hợp đồng cho… đúng quy trình với người dân..
Lý giải chuyện này, ông Phùng Văn Vinh - Giám đốc Chi cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: “Dự án Bảo vệ, phát triển rừng do UBND tỉnh làm chủ đầu tư hết năm 2015 đã kết thúc và chưa có dự án mới thay thế. Dự án trồng rừng phòng hộ không đủ kinh phí theo quy định dự án nhóm B trung hạn nên không thể giao cho hai Ban quản lý rừng phòng hộ làm chủ đầu tư. Để đảm bảo tiến độ mùa vụ trồng rừng, việc liên hệ, giao cây giống, phân bón đến các chủ hộ phải được thực hiện ngay để họ kịp cuốc hố, đặt cây. Đến thời điểm này, 146ha rừng phòng hộ đã trồng xong. Để giải quyết vấn đề thủ tục hợp đồng, Chi cục Lâm nghiệp sẽ thành lập Ban Quản lý dự án trồng rừng phòng hộ, sử dụng con dấu của Chi cục…”.
Vậy là sắp tới sẽ thêm một Ban quản lý được thành lập, thủ tục, hợp đồng trồng rừng sẽ hoàn tất… đúng quy trình. Vẫn biết đặc thù hoạt động trồng rừng của ngành lâm nghiệp đặc biệt coi trọng tính thời vụ và mục tiêu quan trọng nhất là bảo vệ, phát triển hiệu quả diện tích rừng phòng hộ.
Tuy nhiên, cách thức triển khai “tiền trảm hậu tấu” với nhiều nghi ngại về thủ tục đấu thầu đơn vị cung cấp cây giống, thời điểm ký kết hợp đồng… sẽ là vết gợn trong dư luận. Rất mong các cơ quan chức năng sớm có biện pháp xử lý, giải quyết triệt để giúp nâng cao hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng phòng hộ trên địa bàn… (Báo Phú Thọ 13/8) đầu trang(
UBND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái vừa có Công văn phúc đáp số 576/ UBND-TH đề ngày 6/8/2016 gửi Pháp Luật Plus.
Ngày 5/8/2016, UBND huyện Văn Yên nhận được nội dung phản ánh của Báo điện tử Phapluatplus.vn về việc phát phá rừng trái pháp luật, tại thôn Gốc Mít, xã Đông An, trước hết UBND huyện Văn Yên xin trân trọng cảm ơn quý Báo, đã kịp thời nắm bắt tình hình từ quần chúng nhân dân, phát hiện, thông tin để dư luận và đặc biệt là UBND huyện Văn Yên biết được vụ phá rừng, tại thôn Gốc Mít, xã Đông An.
Chúng tôi xin nghiêm túc nhận trách nhiệm và tiếp thu những nội dung phản ánh của quý báo để sớm chỉ đạo điều tra làm rõ, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của tập thể cá nhân thật nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật .
Tiếp đó ngày 9/8/2016, UBND huyện Văn Yên cũng có Công văn chỉ đạo số: 591/UBND-TH.
Nội dung công văn thể hiện: Ngày 5/8/2016, UBND huyện nhận được thông tin phản ánh, của Báo Phapluatplus.vn về việc phát phá rừng trái phép tại thôn Gốc Mít xã Đông An.
Sau khi nhận được phản ánh trên, UBND huyện Văn Yên đã thành lập đoàn công tác đi kiểm tra xác minh vụ việc. Theo báo cáo của Đoàn Kiểm tra UBND huyện, Hạt Kiểm lâm và báo cáo của UBND xã Đông An đều khẳng định việc phát phá rừng mà báo phản ánh là có thật.
Địa điểm rừng bị phát phá tại Tiểu khu 120, khoảnh 1, thôn Gốc Mít, xã Đông An, đối tượng rừng bị phá là rừng tự nhiên sản xuất, do UBND xã Đông An quản lý, không đủ tiêu chí để giao khoán cho cá nhân bảo vệ, diện tích rừng bị phá là 5,542 ha.
Theo đó, UBND huyện Văn Yên giao cho cơ quan Công an huyện, chủ trì phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện, các cơ quan chức năng có liên quan của huyện và UBND xã Đông An tiến hành xác minh, điều tra làm rõ danh tính, mức độ vi phạm của các đối tượng phát phá rừng trái phép, tại thôn Gốc Mít, xã Đông An, đồng thời phối hợp các cơ quan tố tụng, hoàn thiện hồ sơ để khởi tố vụ án.
Ngày 3/8, tại buổi làm việc giữa phóng viên với UBND xã Đông An, ông Lê Huy Quang - Phó Chủ tịch xã cho hay: "Hôm mùng 9/7 nhận được tin báo từ người dân thôn Gốc Mít, chúng tôi tiến hành kiểm tra thì bắt được 2 đối tượng đang đánh đường và phát phá rừng, đã lập biên bản để xử lý hành chính, ngay sau đó ngày 27/7 quần chúng nhân dân phát giác việc phá rừng lại đang diễn ra, đoàn kiểm tra của UBND xã Đông An lại bắt được chính các đối tượng vi phạm lần trước tiếp tục tái phạm, diện tích rừng bị phát trắng lần này vào khoảng 8 héc ta".
Qua quan sát thực tế tại hiện trường ngày 1/8/2016, những tài liệu liên quan và hàng chục m3 gỗ rừng các loại bị lâm tặc bỏ lại, có thể khẳng định, đây là một vụ phát phá rừng với quy mô lớn, gỗ, vầu, lâm sản phụ được vận chuyển ra khỏi rừng mang đi tiêu thụ mà không hề vấp phải sự ngăn chặn của cơ quan chức năng. Không chỉ vậy, các đối tượng đã ngang nhiên xây dựng nhà tạm, chăn nuôi gia súc trên đầu nguồn nước và trên đất vi phạm, đánh đường ô tô, kéo điện lưới, hoạt động lâu dài .
Hàng chục ha rừng tự nhiên sản xuất bị xâm hại nghiêm trọng, phát trắng, đốt cháy nham nhở, đường dây điện thắp sáng rải trực tiếp trên mặt đường, và qua nương rẫy của người dân, đã có trường hợp bị điện giật nguy hiểm tới tính mạng.
Đã vậy khi sự việc vỡ lở, chúng còn tỏ thái độ coi thường pháp luật, truy tìm đe dọa người tố cáo, gây hoang mang lo sợ cho nhân dân thôn Gốc Mít xã Đông An.
Hiện tại dư luận nơi đây đang dấy lên những nghi ngờ rằng chính quyền sở tại bao che, tiếp tay cho "lâm tặc" phá rừng, nhiều người đã không ngần ngại tỏ rõ thái độ về sự giàu có nhanh bất thường của vị Chủ tịch UBND xã Đông An , người vừa nhậm chức được hơn 1 năm qua.
Ngay sau khi Phapluatplus.vn đưa thông tin ngày 5/8/2016, đến ngày 6/8/2016, UBND huyện đã có công văn trả lời gửi về Tòa soạn, kèm theo đó là những con số thống kê đầy đủ từ diện tích đất đến các chủng loại kích cỡ gỗ, vầu... Việc làm chóng vánh này liệu có khách quan và chính xác hay không? (Pháo Luật + 14/8) đầu trang(
Liên quan đến phản ánh của Báo Thanh Niên, ngày 13.8, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49), Bộ Công an cho biết, qua điều tra, bước đầu C49 phát hiện một số sai phạm nghiêm trọng của cơ quan chức năng tại tỉnh Bình Phước.
Theo C49, Công ty TNHH MTV cao su Sông Bé (gọi tắt Công ty cao su Sông Bé) chưa thực hiện các thủ tục pháp lý về môi trường và lập dự án trình các cơ quan chức năng phê duyệt nhưng Sở NN-PTNT đã cấp phép khai thác rừng tự nhiên để khai thác tận dụng lâm sản tại khoảnh 1 tiểu khu 69, vi phạm về trình tự thủ tục cấp phép khai thác rừng theo quy định của pháp luật. Khi phát hiện sai phạm, C49 đề nghị Sở NN-PTNT dừng dự án, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan để làm rõ. Ngoài ra, C49 cũng sẽ tiếp tục làm rõ những vụ phá rừng trước đây tại Bình Phước.
Theo thông tin ban đầu, năm 2009, UBND tỉnh Bình Phước chấp thuận bàn giao cho Công ty Savibico (sau đổi tên thành Công ty CP đầu tư phát triển Sài Gòn - Bình Phước) thuê đất lâm nghiệp để thực hiện “dự án chăn nuôi và chế biến” trên diện tích 1.022 ha. Nhưng do Savibico chậm triển khai dự án nên năm 2013, UBND tỉnh Bình Phước thu hồi dự án.
Đến năm 2015, UBND tỉnh chấp thuận chủ trương giao 575,206 ha đất thu hồi từ Savibico cho Công ty cao su Sông Bé triển khai thực hiện dự án chăn nuôi kết hợp trồng cao su. Ngày 19.4.2016, Sở NN-PTNT Bình Phước ký quyết định cấp phép cho Công ty cao su Sông Bé khai thác tận dụng lâm sản trong khi công ty này chưa lập hồ sơ dự án chăn nuôi kết hợp trồng cao su.
Đáng chú ý, thời điểm này mặc dù Công ty cao su Sông Bé không có ngành nghề chăn nuôi nhưng cơ quan chức năng sở tại vẫn cấp phép cho công ty này thực hiện dự án.
Điều đáng nói, sau khi phát hiện sai phạm này, thay vì yêu cầu tạm ngưng thực hiện dự án thì ngày 5.8.2016, UBND tỉnh Bình Phước đồng ý cho Công ty cao su Sông Bé phối hợp với đơn vị khác có ngành nghề chăn nuôi, năng lực để thực hiện dự án và báo cáo UBND tỉnh xem xét giải quyết theo quy định (!?).
Đáng nói hơn, theo giấy phép cấp khai thác tận thu lâm sản từ ngày 19.4.2016 đến 30.6.2016 là chấm dứt nhưng Công ty cao su Sông Bé vẫn ngang nhiên khai thác đến đầu tháng 8.2016, khi Thanh Niên phản ánh thì mới chính thức tạm ngưng.
Ngoài ra, theo quy định, khi bàn giao dự án này cho Công ty cao su Sông Bé lẽ ra phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cho Bộ TN-MT phê duyệt mới được cấp phép triển khai.
Mặc dù Công ty cao su Sông Bé không xuất trình được báo cáo trên nhưng Sở NN-PTNT tỉnh Bình Phước vẫn “ưu ái” cấp phép cho công ty “phá rừng” bất chấp tuyên bố đóng cửa rừng của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. (Thanh Niên 14/8; Người Lao Động 13/8) đầu trang(
Hơn 100 ha rừng ở Bình Phước đã bị khai thác và san lấp trở thành đất trống, liệu có vì lợi ích kinh tế mà tàn phá thiên nhiên?
Chủ trương chuyển đổi hơn 575 ha rừng tại Tiểu khu 69, nông lâm trường Bù Đốp sang đất sản xuất không nhận được sự ủng hộ của người dân địa phương và đang gây bức xúc trong dư luận.
Hiện nay, hơn 100ha rừng trong dự án này đã bị khai thác và san lấp trở thành đất trống. Vấn đề đặt ra là Bình Phước có nên vì lợi ích kinh tế mà tàn phá thiên nhiên? Đến bao giờ thì những cánh rừng hàng trăm héc ta kia có thể hồi sinh?
Việc Công ty TNHH một thành viên Cao su Sông Bé chuyển đổi 575 hecta rừng tại Tiểu khu 69, Nông lâm trường Bù Đốp, huyện Bù Đốp sang chăn nuôi, đại diện Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước cho biết, đây là diện tích thu hồi từ Công ty cổ phần đầu tư phát triển Sài Gòn – Bình Phước vào tháng 10/2013.
Sau khi thu hồi, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước đã ký văn bản số 3008, ngày 28/9/2015 chấp thuận chủ trương giao toàn bộ diện tích đó cho Công ty TNHH một thành viên Cao su Sông Bé triển khai dự án chăn nuôi kết hợp trồng rừng.
Ngày 13/7/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước có văn bản thông báo kết luận của Chủ tịch tỉnh tại cuộc họp giải quyết kiến nghị của Công ty Cao su Sông Bé, cho phép đơn vị này tiến hành thực hiện dự án chăn nuôi, kết hợp trồng rừng trên diện tích hơn 575 hecta. Thế nhưng, việc chuyển đổi này đã khiến người dân bức xúc.
Anh Điểu Sang ở làng 10, xã Phước Thiện, huyện Bù Đốp nói: “Rừng của Nhà nước. Họ phá thì mình làm gì được. Mình có muốn giữ lại cũng đâu có cản được họ”.
Ông Điểu Đưa ở ấp Phước Tiến, xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, người sinh ra và lớn lên bên khu rừng này thì cho rằng: Rừng tự nhiên mà lại chuyển đổi sang trồng rừng tôi thấy là vô lý. Sao mình không giữ rừng mà lại chuyển sang? Trước khi người ta nói đồng bào phá rừng làm rẫy, còn nay thì lại đi ngược lại, tôi thấy bức xúc quá. Bà con ở đây mong rằng, bao nhiêu diện tích rừng còn lại, hãy để người dân chúng tôi cùng bảo vệ nó.
Gần 20 năm gắn bó với nghiệp bảo vệ rừng ở huyện Bù Đốp, ông Nguyễn Văn Ách, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bù Đốp cùng các đồng nghiệp đã không sợ hiểm nguy để bảo vệ cho 6.400ha rừng của huyện được an toàn.
Khi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước có chủ trương chuyển đổi hơn 575ha rừng ở Tiểu khu 69, ông Ách đã nhiều lần kiến nghị với cấp trên hãy giữ lại diện tích rừng tự nhiên này. Ông từng đưa ra nhiều dẫn chứng khoa học để chứng minh với lãnh đạo rằng, khu rừng này không phải rừng nghèo kiệt. Thậm chí, người cán bộ kiểm lâm già phải vào rừng nhiều ngày liền đợi voi, bò tót xuất hiện, chụp hình để cho mọi người thấy, rừng nơi đây vẫn còn là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã và quý hiếm.
Ông Nguyễn Văn Ách chua xót: “Tôi cảm thấy rất hổ thẹn vì là người lính giữ rừng, nhưng đứng nhìn rừng mất mà không có biện pháp gì có thể ngăn chặn được. Dù đó là phá hợp pháp hay bất hợp pháp thì tôi cũng cảm thấy có tội lớn lắm. Điều quan trọng nhất là nó phá vỡ khả năng quản lý, bảo vệ những khu rừng còn lại”.
Tại công văn số 2214, ngày 5/8/2016 về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án trồng cao su và dự án chăn nuôi kết hợp trồng rừng, do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước Huỳnh Anh Minh ký, nêu rõ: “Thường trực Tỉnh ủy đã thống nhất thực hiện dự án chăn nuôi kết hợp trồng rừng. Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Công ty TNHH một thành viên Cao su Sông Bé tiếp tục thực hiện dự án tại tiểu khu 69, Nông lâm trường Bù Đốp”.
Ông Nguyễn Đức Huy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phước Thiện nói: “Tôi không chỉ trích gì ai, nhưng tôi mong các cấp có thẩm quyền nên ngưng lại, đừng có chuyển đổi rừng qua đất sản xuất nữa. Bởi vì, diện tích rừng ở đây còn ít, mà đó là rừng phòng hộ của lòng hồ Cần Đơn. Tôi hãy khoanh nuôi nó lại, có thể mình trồng thêm. Thực tế, đây là miền biên giới, mà nếu mình cứ chuyển đổi hết thì ngay cả con cháu của mình ở xứ rừng này cũng sẽ không biết rừng tự nhiên là gì. Mà rừng tự nhiên thì sẽ đem lại rất nhiều lợi ích lâu dài”.
Sau khi báo chí phản ánh việc người dân địa phương phản đối việc chặt phá rừng ở Tiểu khu 69, Nông lâm trường Bù Đốp thuộc địa bàn xã Phước Thiện, huyện Bù Đốp, Cục Cảnh sát môi trường (C49) – Bộ Công an đã làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước. Ngay sau đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh này đã ra quyết định số 1294, tạm ngưng khai thác tận dụng lâm sản để đánh giá tác động đối với môi trường.
Ngày 11/8, Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đốp đã làm việc với đơn vị chủ rừng là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao su Sông Bé, di dời toàn bộ phương tiện, máy móc và người ra khỏi khu vực Tiểu khu 69. Hạt kiểm lâm huyện Bù Đốp cũng tiếp quản, giữ nguyên hiện trường và cấm mọi hoạt động khai thác gỗ. Tại hiện trường, khoảng 100ha trong 160ha rừng tại Khoảnh 1, Nông lâm trường Bù Đốp đã trở thành vùng đất hoang. Đối với hàng trăm cây gỗ có đường kính khoảng 20-30cm đã đốn hạ nhưng chưa chuyển ra bãi tập kết, lực lượng kiểm lâm không tổ chức nghiệm thu, giữ nguyên hiện trường để chờ xử lý của cơ quan chức năng.
Ông Huỳnh Anh Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước cho biết: “Áp dụng đối với 353ha, riêng khoảnh 1, đã tiến hành khai thác rừng rồi thì có chủ trương tiếp tục thực hiện trồng rừng kết hợp với chăn nuôi theo đúng mục tiêu của dự án. Cái này cũng phải có dự án cụ thể. Còn hai khoảnh còn lại, theo ý kiến của báo chí và người dân phản ánh thì chúng tôi sẽ thống nhất trong Thường trực Ủy ban nhân dân, sau đó báo cáo với Thường trực Tỉnh ủy sẽ giữ lại cái rừng đó”.
Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững cho biết, các nhà khoa học đều có chung quan điểm, không thể vì miếng cơm manh áo hay bất cứ nguồn lợi kinh tế, mục đích nào khác mà chấp nhận chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên.
Còn người dân ở vùng giáp biên giới, huyện Bù Đốp thì mong muốn lãnh đạo tỉnh Bình Phước hãy trả lại cho họ những cánh rừng tự nhiên. Nhiều người băn khoăn: không biết đến bao giờ, hơn 100ha rừng mới bị chặt phá ở Tiểu khu 69, Nông lâm trường Bù Đốp mới có thể hồi sinh?. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 13/8) đầu trang(
Ngày 12/8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết vừa phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh thành lập đoàn kiểm tra truy quét lâm tặc tại một số tiểu khu thuộc địa bàn huyện Di Linh (Lâm Đồng), giáp ranh với tỉnh Bình Thuận.
Sau khi bí mật ém quân trên 1 chiếc ô tô, đoàn di chuyển gần 150 km với nhiều đoạn giồng xóc ghê người, đoàn tiến sâu vào tiểu khu 727, nơi mà trinh sát đã phát hiện dấu vết lâm tặc.
Nhóm đầu tiên bị đoàn công tác đột kích tóm gọn trong lán trại gồm các đối tượng Nguyễn Văn Diên (42 tuổi), Lư Văn Đực (37 tuổi) và Nguyễn Văn Độm (39 tuổi, cùng trú tại xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận). Các đối tượng bị lập biên bản về hành vi khai thác rừng trái phép với tang vật là 11 phách gỗ quý hiếm nhóm 1 là hương và gõ, 3 xe máy độ chế không có biển số và 1 máy cưa xăng.
Tại tiểu khu này, một nhóm khác với 5 đối tượng ngụ ở huyện Bắc Bình, Bình Thuận cũng bị bắt giữ là Sì Dìn Phu (40 tuổi), Lê Văn Ly (19 tuổi), Ngô Hổ (43 tuổi), Nguyễn Văn Năm (42 tuổi) và Ngô Văn Thảo (36 tuổi) có hành vi. Đoàn đã thu giữ 6 phách gỗ căm xe, 4 xe máy độ chế không có biển số và 1 máy cưa xăng. Thảo sau đó đã bỏ trốn.
Ngoài ra đoàn còn phát hiện 8 đối tượng đốt than. Sau khi làm cam kết không tái phạm, các đối tượng đã tự tháo dỡ lán trại và di dời ra khỏi rừng.
Ông Võ Danh Tuyên, Chi cục phó kiểm lâm Lâm Đồng và là trưởng đoàn công tác cho biết tại khu vực này còn để lại dấu vết cưa xẻ và đường mòn kéo gỗ của các băng nhóm khai thác rừng trái phép. Khi đoàn kiểm tra tiếp cận, các đối tượng đã rút vào rừng sâu nên không bắt giữ được.
Đoàn đã bàn giao hồ sơ và 7 đối tượng vi phạm cho Hạt kiểm lâm huyện Di Linh để tiếp tục điều tra xử lý. (Tiền Phong 12/8) đầu trang(
Khi công an Lâm Đồng vây bắt 5 nghi can sát hại cán bộ quản lý rừng thì người dân quá khích bao vây, tấn công làm nhiều CSCĐ bị thương.
Sự việc xảy ra tại tiểu khu 243A, xã Phi Tô, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 14/8, Công an tỉnh Lâm Đồng cho biết đã khởi tố vụ án giết người, chống người thi hành công vụ xảy ra tại đây vào ngày 8/8.
Liên quan đến vụ án nghiêm trọng này, chiều 13/8, Công an tỉnh Lâm Đồng đã huy động Phòng An ninh xã hội (PA88), Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45), Công an huyện Lâm Hà, lực lượng dân quân tự vệ... tham gia bắt khẩn cấp 5 nghi phạm chính trong vụ trọng án này.
Cơ quan điều tra đã bắt khẩn cấp tại nhà riêng 4 nghi phạm gồm: MBon Ha Hoàng (40 tuổi), Liêng Hót Ha Long (17 tuổi, con Ha Hoàng); Liêng Hót Ha Jêk (21 tuổi) cùng trú tại thôn Hang Hớt, xã Mê Linh và Lơ Mu Ha Chăn (33 tuổi).
Riêng nghi phạm K’ Long Ha Hen (22 tuổi) đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú.
Tới 17h30 khi nghi phạm thứ 5 đang bị cơ quan công an truy bắt, một số đối tượng đã kích động nhiều trẻ em và người già lên khoảng 100 người vây lực lượng công an, CSCĐ và yêu cầu thả các nghi phạm và không cho xe lực lượng thi hành nhiệm vụ ra khỏi thôn.
Trước tình trạng trên, lực lượng CSCĐ buộc phải quây thành vòng tròn để bảo vệ lực lượng áp tải nghi phạm, di chuyển dần về phía UBND xã Mê Linh. Nhiều người quá khích dùng đá, ná cao su, ném, bắn về phía lực lượng chức năng làm nhiều chiến sĩ bị thương.
Ngay sau đó, Công an Lâm Đồng đã tạm giữ 4 đối tượng có hành vi ném đá, chống người thi hành công vụ. 15 cán bộ, chiến sĩ bị thương được đưa lên Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng khám, điều trị các vết thương.
Đến sáng 14/8, tình hình tại khu vực thôn Hang Hớt, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) cơ bản đã được ổn định.
Theo Công an tỉnh Lâm Đồng, hiện vẫn còn một số đối tượng có liên quan chưa ra trình diện trong vụ tấn công đoàn cán bộ bảo vệ rừng khiến 1 người thiệt mạng, hai người khác bị thương, làm hư hỏng 7 xe mô tô, trong đó có 1 xe đặc chủng của cảnh sát giao thông.
UBND tỉnh Lâm Đồng cũng vừa có công văn hỏa tốc yêu cầu các sở, ngành trong tỉnh khẩn trương ổn định tình hình, điều tra, làm rõ vụ việc chống người thi hành công vụ tại huyện Lâm Hà. Trong đó chỉ đạo các đơn vị liên quan khẩn trương sàng lọc, xác định đúng đối tượng vi phạm và đối tượng cầm đầu, củng cố chứng cứ để hoàn tất hồ sơ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Trước đó, sáng 8/8, người dân địa phương báo tin có khoảng 16 người đang chặt cây thông rừng, phát cây, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy tại tiểu khu 243A, xã Phi Tô.
Nhận được đề nghị hỗ trợ của trạm, xã Phi Tô đã điều động tổ công tác gồm công an xã, xã đội và Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Ban vào kiểm tra.Tuy nhiên khi tiếp cận hiện trường, một số người vi phạm luật đã gọi điện thoại kêu gọi hơn 100 người dân tại thôn Hang Hớt đến bao vậy hiện trường và hành hung các cán bộ thi hành nhệm vụ.
Hậu quả, ông Trương Ái Tĩnh (cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Ban) đã bị đánh tử vong tại chỗ. Anh Tân Khoa, nhân viên Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Ban và ông Triệu Vũ Hiệp, Phó Ban Lâm nghiệp xã Phi Tô, bị chém ở đầu, đa chấn thương; ông Lò Văn Quyền, Trưởng Công an xã Phi Tô, cán bộ y tế xã và một số công an viên bị nhóm đối tượng kích động bao vây, khống chế không cho đưa người bị thương đi điều trị và không cho rời khỏi hiện trường.
Ngoài ra, lực lượng chức năng bị mất 1 khẩu súng bắn đạn cao su, 7 xe của tổ công tác làm nhiệm vụ bị phá hỏng, trong đó có một mô tô của CSGT bị đập phá, hư hỏng nặng. (Đất Việt 15/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn Lâm Đồng đã xuất hiện tình trạng “lâm tặc” ngang nhiên phá rừng giữa “thanh thiên bạch nhật”, liều lĩnh tấn công, truy sát người thi hành công vụ, khiến dư luận không ít hoang mang...
Chiều 10/6 tại tiểu khu 259 (thuộc xã Đạ Đờng, huyện Lâm Hà) Tiến “nghiện” và Ngọc (ngụ thôn Tân Lâm, xã Đạ Đờng) là hai “lâm tặc” khét tiếng phá rừng đã chửi bới và thách thức tổ kiểm tra của Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà khi bị bắt quả tang đang phá rừng.
Sau đó, Tiến lao vào đánh anh Hoàng Trọng Thảo (Tổ trưởng) và anh Phan Đình Hòa (Kiểm lâm viên) rồi hất can xăng lên người anh Hòa và lấy hộp quẹt đuổi theo để đốt. May thay, anh Hòa kịp chạy nên lửa chưa bắt vào người. Sau đó, Tiến dùng dao nhọn phóng theo anh Hòa. Cùng lúc, Ngọc dùng dao nhọn rượt đánh ông Nguyễn Bá Oanh, đại diện chủ rừng.
Khi tổ công tác bỏ chạy về Hạt Kiểm lâm thì Tiến, Ngọc phóng xe máy đuổi theo, phóng dao nhọn trúng lưng anh Hòa. Tiếp đó hai lâm tặc này còn ngang nhiên xông vào Hạt Kiểm lâm để tiếp tục đánh anh Hòa. Đến khoảng 19h30’ cùng ngày, Tiến và Ngọc lại kéo thêm người mang dao xông vào Hạt Kiểm lâm, bắt Kiểm lâm viên Huỳnh Minh Thi quỳ xuống và đánh tới tấp cho đến khi Công an huyện Lâm Hà đến giải vây và bắt giữ Tiến.
Ngày 12/6, khoảng 4 đến 5 đối tượng vào văn phòng Phân trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Lang Hanh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Trung bộ và Tây Nguyên) tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) tấn công gây tương tích cho nhân viên của Trạm là anh Nguyễn Quốc Huy. Không dừng lại chúng còn trói tay chân anh Huy và cử người ở lại canh giữ, còn các đối tượng khác ra ngoài cưa cây gỗ trắc đen thuộc nhóm I, đường kính hơn 40cm, dài khoảng 16 mét để bán cho một người đặt hàng.
Sau đó, Công an huyện Đức Trọng đã bắt được 3 “lâm tặc” nói trên là: Thành (sinh 1992), Long (1985) thường trú xã Ninh Gia và Siêu (1975) thường trú tại tỉnh Đồng Nai.
Đỉnh điểm của nạn “lâm tặc” lộng hành, chống người thi hành công vụ là vụ lấn chiếm đất rừng và phá rừng xảy ra vào ngày 8/8 tại tiểu khu 243A, xã Phi Tô (Lâm Hà). Khi nhận được tin báo, Công an xã Phi Tô điều động 6 công an viên, 3 dân quân phối hợp với 10 cán bộ, nhân viên Ban Quản lý rừng (BQLR) Nam Ban đến hiện trường kiểm tra và ngăn chặn sự việc nói trên.
Tuy nhiên, hàng chục người ở thôn Hang Hớt (xã Mê Linh) đã cầm theo dao, rựa, mã tấu chặn đường, rượt đuổi, tấn công lực lượng thực thi công vụ, chém vào cổ anh Nguyễn Ái Tĩnh, cán bộ BQLR Nam Ban, khiến anh Tĩnh tử vong tại chỗ, anh Tân Khoa (21 tuổi) bị chém vào đầu, chấn thương sọ não phải mổ cấp cứu. Riêng Phó Ban Lâm nghiệp xã Phi Tô Triệu Vũ Hiệp, bị một đối tượng dùng mã tấu chém thẳng vào đầu, vỡ mũ bảo hiểm, chấn thương đầu.
Các đối tượng quá khích còn vây đánh và lấy đi một khẩu súng bắn đạn cao su của Trưởng Công an xã Phi Tô; đập phá, gây hư hỏng 7 xe mô tô, trong đó có một xe đặc chủng của cảnh sát.
Ngày 9/8, tại tiểu khu 161 BQLR Lâm Viên phối hợp với Hạt Kiểm lâm Đà Lạt cùng chính quyền xã Tà Nung huy động gần 40 người nhằm ngăn chặn và bắt giữ một nhóm “lâm tặc” khoảng 5 người đang ngang nhiên dùng cưa máy cưa hạ cây rừng, dựng xưởng cưa dã chiến để cưa xẻ gỗ trái phép tại khu vực rừng xã Tà Nung, giáp ranh với xã Mê Linh (Lâm Hà) thì bị Chữ Hồng Sáu (40 tuổi, ngụ thị trấn Nam Ban, Lâm Hà) liều lĩnh dùng bình xịt hơi cay xịt thẳng vào mặt ông Hoàng Đình Lãm cán bộ BQLR Lâm Viên, khiến ông Lãm choáng váng mặt mày.
Sau đó, Sáu đã bị bắt giữ, còn những “lâm tặc” khác bỏ trốn vào rừng. Tại hiện trường, cơ quan chức năng thu giữ tang vật gồm: 1 bình xịt hơi cay, 1 cưa máy và 3 xe gắn máy dùng để vận chuyển gỗ, 10 hộp gỗ dài trên 2,1m, dày 11cm và rộng khoảng 30cm.
Qua những sự việc kể trên cho thấy, tình trạng “lâm tặc” ở Lâm Đồng đang ngày càng lộng hành, liều lĩnh và manh động đến mức báo động. Nguyên nhân là do thời gian qua việc tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tại địa phương chưa tốt. Việc điều tra, truy tố, xét xử đối với hành vi huỷ hoại rừng và tội chống người thi hành công vụ còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe, dẫn đến “lâm tặc” xem thường pháp luật, sức khoẻ và mạng sống con người.
Mặt khác, do cuộc sống khó khăn, thiếu đất sản xuất, việc giao khoán bảo vệ rừng còn nhiều bất cập, nên một bộ phận dân cư địa phương “đói ăn vụng, túng làm liều” dẫn đến phá rừng và lấn chiếm đất rừng.
Chính vì vậy, mới đây, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành văn bản chỉ đạo Công an, Sở NN&PTNT, Huyện ủy, UBND huyện Lâm Hà khẩn trương ổn định tình hình, điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm vụ lấn chiếm đất rừng, phá rừng và chống người thi hành công vụ xảy ra tại tiểu khu 234A ngày 8/8/2016.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Huyện ủy, UBND huyện Lâm Hà chỉ đạo hệ thống chính trị của huyện, xã Mê Linh và Phi Tô tiếp tục thực hiện công tác vận động, tuyên truyền, phân tích cho người dân hiểu mục đích, ý nghĩa của công tác quản lý bảo vệ rừng, nhận thấy trách nhiệm mà một số người dân gây ra; vận động các đối tượng vi phạm ra đầu thú, nhằm tạo đồng thuận trong nhân dân; ổn định tình hình dân cư tại thôn Hang Hớt, xã Mê Linh và xã Phi Tô; nắm bắt tâm tư nguyện vọng, đề xuất của người dân để kịp thời giải quyết những vấn đề chính đáng, không để kẻ xấu lợi dụng tình hình gây mất an ninh trật tự, hoặc kích động gây mất đoàn kết, bức xúc trong khu dân cư, và tạo điểm nóng trên địa bàn.
Đồng thời, UBND tỉnh Lâm Đồng cũng giao cho UBND huyện Lâm Hà rà soát, nắm chắc tình hình sản xuất và đời sống của các hộ dân thôn Hang Hớt để kịp thời thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người dân trong khu vực về đất sản xuất, thủy lợi, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục, an sinh xã hội, nhận khoán bảo vệ rừng, nhằm tạo điều kiện cho người dân ổn định cuộc sống lâu dài, không phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, yên tâm sản xuất, không nghe kẻ xấu xúi giục.
Đối với các Sở, ngành liên quan, UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu khẩn trương phối hợp đều tra, làm rõ vụ việc, sàng lọc, xác định đối tượng vi phạm và đối tượng cầm đầu; hoàn thiện hồ sơ vụ việc, xác định rõ các sai phạm để xử lý nghiêm theo luật định. (Pháp Luật Việt Nam 14/8) đầu trang(
Chiều 12-8, ông Nguyễn Ngọc Xuân, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Cát Tiên cho biết, đơn vị đã tiền hành kỷ luật 3 cán bộ bảo vệ rừng vì để lâm tặc khai thác gỗ với số lượng lớn nhưng không phát hiện được.
Theo đó, đơn vị đã tiến hành kỷ luật cảnh cáo đối với ông Nguyễn Hữu Quế, phụ trách chốt đường sông; khiển trách các ông Hà Duy Linh và Nguyễn Doãn Thành, nhân viên chốt đường sông do thiếu trách nhiệm.
Liên quan đến vụ việc như trước đó Báo điện tử CAND đã thông tin, vào tháng 7-2016, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49B) Bộ Công an đã phối hợp với lực lượng công an các địa phương triệt phá băng nhóm lâm tặc do Lê Hồng Hà (tức “Hà đen”) cầm đầu khai thác gỗ trái phép tại vùng rừng khu vực hồ thủy điện Đồng Nai 5, thuộc xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Sau vụ bắt giữ với quy mô lớn này, những nghi vấn về việc rừng phòng hộ Nam Cát Tiên khu vực lòng hồ thủy điện Đồng Nai 5 (thuộc địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông) cũng bị băng nhóm lâm tặc này tàn phá cũng được đặt ra.
Từ nghi vấn này, Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Cát Tiên phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Đắk R’lấp, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông đã tổ chức kiểm tra thì phát hiện tại Tiểu khu 1604 do đơn vị quản lý có 12 cây Dái ngựa (tên khoa học là Swietenia mahagoni) có đường kính gốc từ 50-80cm bị chặt hạ sát hồ thủy điện Đồng Nai 5, tổng khối lượng gỗ thiệt hại hơn 44m3.
Tại hiện trường, lâm tặc đã lấy đi phần thân gỗ, chỉ chừa lại gốc cây và cành ngọn. Dù lâm tặc đã phá rừng và vận chuyển gỗ ra ngoài với khối lượng lớn như trên nhưng những cán bộ này được giao nhiệm vụ lại không phát hiện, ngăn chặn kịp thời.
Trách nhiệm này thuộc về tổ chốt chặn đường sông của Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Cát Tiên, cụ thể là các ông Nguyễn Hữu Quế, Hà Duy Linh và Nguyễn Doãn Thành. (Công An Nhân Dân 12/8, Tiền Phong 12/8, Công Lý 12/8) đầu trang(
Chiều 12-8, trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị (Cục Hải quan Lạng Sơn) cho biết, đơn vị đang phối hợp với lực lượng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74-Bộ Công an) tiếp tục kiểm tra thực tế lô hàng đồ thủ công mỹ nghệ có chứa gỗ cắt khúc.
Cụ thể, ngày 8-8, Công ty Mạnh Tiến Đạt (có trụ sở tại Từ Sơn, Bắc Ninh) đăng ký mở tờ khai hàng hóa xuất khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị. Theo doanh nghiệp khai báo, lô hàng trên là đồ thủ công mỹ nghệ được vận chuyển trên 7 xe ô tô.
Tuy nhiên, quá trình làm thủ tục, cơ quan Hải quan có nhận được thông tin nghi vấn về lô hàng xuất khẩu trên có chứa hàng hóa không khai báo hải quan và phối hợp với lực lượng C74 tiến hành kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng.
Theo kết quả kiểm tra bước đầu của lực lượng chức năng, trên các xe ngoài mặt hàng đồ thủ công mỹ nghệ như doanh nghiệp khai báo còn có chứa một số lượng lớn gỗ cắt khúc. Tính đến chiều ngày 12-8, lực lượng chức năng đã hoàn tất kiểm tra 2 xe ô tô và đang tiếp tục kiểm tra 5 xe ô tô còn lại.
Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị, sau khi hoàn tất kiểm tra thực tế hàng hóa, lực lượng chức năng sẽ phối hợp với cơ quan tiến hành giám định để có căn cứ xử lý. (Hải Quan 12/8, Năng Lượng Mới 12/8) đầu trang(
Là huyện miền núi ở cửa ngõ phía Tây của tỉnh Phú Yên, giáp ranh với tỉnh Gia Lai – nơi có tuyến Quốc lộ 25 đi qua, lợi dụng đặc điểm này, các đối tượng lâm tặc thường chọn địa bàn huyện Sơn Hòa làm nơi khai thác, tập kết, vận chuyển gỗ lậu về xuôi. Trước thực trạng trên, lực lượng Công an huyện Sơn Hoà đã vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt ngăn chặn hành vi này.
Sử dụng xe mô tô độ chế; xe tải, xe khách đã quá niên hạn sử dụng làm phương tiện vận chuyển gỗ lậu. Khi bị lực lượng chức năng phát hiện đón bắt, các đối tượng vận chuyển gỗ lậu ngoan cố chống trả, phóng xe bạt mạng để tẩu thoát hoặc cắt bỏ tang vật nhằm cản trở, gây nguy hiểm cho lực lượng làm nhiệm vụ và cuối cùng là “bỏ của chạy lấy người”, trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật. Đó là thực tế và cũng là chiêu thức đối phó của các đối tượng vi phạm hiện nay khi vận chuyển gỗ lậu qua địa bàn huyện Sơn Hòa.
Để góp phần giữ lá phổi xanh của rừng, trong những năm qua, Công an huyện Sơn Hòa đã triển khai nhiều lực lượng, phương tiện, kết hợp sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ để đấu tranh phòng, chống quyết liệt với loại tội phạm vận chuyển hỗ lậu. Kết quả, từ năm 2015 đến nay, trên 40 vụ vận chuyển gỗ lậu qua địa bàn huyện Sơn Hòa đã bị phát hiện, bắt giữ.
Trong đó, lực lượng Công an đã tạm giữ hơn 25m³ gỗ các loại, gần 2 tấn gỗ quý hiếm, tịch thu hàng chục ô tô, 215 mô tô độ chế và phương tiện thô sơ. Nhiều đối tượng đã bị khởi tố, điều tra, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Trước tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép qua địa bàn huyện Sơn Hòa đang có dấu hiệu diễn biến phức tạp, đối tượng ngày càng tinh vi và liều lĩnh, thiết nghĩ bên cạnh lực lượng Công an, các cơ quan chức năng và các cấp chính quyền cùng người dân địa phương cần vào cuộc với quyết tâm cao nhất để góp phần giữ vững ổn định ANTT địa bàn, phát triển kinh tế, xã hội địa phương. (ANTV 13/8) đầu trang(
Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn vừa xét xử vụ án “Hủy hoại rừng”, tuyên phạt 3 năm tù treo đối với bị cáo Phạm Văn Nhân, thôn Tú Trung 1, xã Quế Lâm (Nông Sơn).
Theo cáo trạng, tháng 6.2014, bị cáo Phạm Văn Nhân có hành vi chặt phá rừng trái phép tại khu vực Cán Dù thuộc khoảnh 2, tiểu khu 459, thôn Cấm La, xã Quế Lâm để trồng cây keo lá tràm. Diện tích chặt phá trái phép là 4.480m2, khối lượng gỗ bị thiệt hại là 9,050m3, trữ lượng gỗ bị thiệt hại là 4,977m3.
Ngoài bị phạt tù, bị cáo còn phải bồi thường cho UBND xã Quế Lâm số tiền thiệt hại trên 56 triệu đồng. (Báo Quảng Nam 13/8) đầu trang(
TAND huyện Vĩnh Thạnh vừa mở phiên tòa sơ thẩm xét xử lưu động và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hòa Nam (SN 1991, trú tại thôn An Điền Bắc 1, xã Cửu An, TX An Khê, tỉnh Gia Lai) 6 tháng tù giam về tội “Hủy hoại rừng”; đồng thời, buộc bị cáo Nam phải bồi thường hơn 121,8 triệu đồng cho đơn vị chủ rừng là Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn.
Theo cáo trạng, từ khoảng tháng 7.2015 đến ngày 13.9.2015, Nam đã lén phát trái phép 5.813 m2 rừng tại tiểu khu 226, xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh.
Tại tòa, sau khi nghe Hội đồng xét xử phân tích hành vi của mình là xâm phạm đến sự phát triển bình thường của rừng phòng hộ, vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ phát triển rừng, Nam lý giải: “Vợ chồng tôi mới tách riêng, ruộng đất không có nên cuộc sống khó khăn. Dù biết phá rừng là vi phạm pháp luật nhưng vì cái ăn nên làm liều. Chỉ mong Tòa xem xét xử nhẹ để tôi có điều kiện làm ăn, nuôi con nhỏ và có tiền khắc phục hậu quả mình đã gây ra”.
Được biết, đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh đã xảy ra 20 vụ phá rừng làm rẫy trái phép, làm thiệt hại hơn 8 ha rừng; trong đó, chủ yếu là rừng phòng hộ thuộc sự quản lý của Ban quản lý bảo vệ rừng huyện Vĩnh Thạnh.
Để nâng cao nhận thức của người dân cũng như ngăn chặn tình trạng phá rừng, huyện Vĩnh Thạnh đã tăng cường nhiều giải pháp, trong đó có việc nhanh chóng đưa các vụ việc phá rừng ra xét xử công khai để răn đe.
Tại tòa, Hội đồng xét xử không chỉ phân tích chi tiết hành vi của Nam là trái pháp luật, mà còn kêu gọi mọi người dân không nên phá rừng vì đây là hành vi vi phạm pháp luật.
Phiên tòa được xét xử công khai nên thu hút khá đông sự quan tâm theo dõi của người dân. Ông Đinh Văn Lin, một người dự khán, chia sẻ: “Tòa án xét xử như vậy là hợp lý, hợp tình; vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, vừa có tính chất răn đe, cảnh báo người dân không phá rừng làm nương rẫy để tránh bị đi tù”. (Nông Nghiệp VN 15/8; Báo Bình Định 13/8) đầu trang(
Trong ít năm gần đây, loại tội phạm về động vật hoang dã (ĐVHD) trên Internet gia tăng với tốc độ chóng mặt.
Trên các trang mạng xã hội, website, diễn đàn, nhiều loài ĐVHD từ sóc, nhím, trăn, rắn, kỳ đà, cá sấu, chuột đến những loài nguy cấp, quý hiếm như hổ, culi, rái cá… được rao bán ngày càng thường xuyên và công khai, thậm chí kèm theo đầy đủ thông tin của người bán.
Cần phải khẳng định, các câu chuyện liên quan đến vấn đề buôn bán ĐVHD và gây nuôi thương mại ĐVHD liên tục xuất hiện trên truyền thông, gây lo lắng cho nhiều người. “Đối tượng giết và buôn bán hổ trái phép được cấp phép nuôi hổ bảo tồn - Chuyện thật như đùa?” – đó là tít của nhiều bài báo nói về sự việc đang diễn ra ở Nghệ An.
Theo thông tin từ Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), tháng 4/2016, Cơ quan quản lý CITES (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) Việt Nam đã tiến hành kiểm tra để xác nhận điều kiện cơ sở vật chất chuồng trại của Vườn Động vật Sinh thái Hòn Nhạn (Nghệ An). Nếu đạt đủ điều kiện nuôi nhốt, Vườn Động vật Sinh thái Hòn Nhạn sẽ được phép nhập khẩu thêm 9 cá thể hổ để phục vụ mục đích nhân giống trưng bày và phục vụ giáo dục bảo tồn.
Sự việc sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như chủ cơ sở này không phải là vợ của Phạm Văn Tuấn, một đối tượng “khét tiếng” đã có 2 tiền án về tội phạm liên quan đến giết hại, buôn bán hổ cùng nhiều loài ĐVHD nguy cấp khác. Hiện nay, Phạm Văn Tuấn cũng đang bị nghi ngờ là đối tượng cầm đầu một đường dây chuyên buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD (bao gồm hổ, tê tê, ngà voi và sừng tê giác) xuyên biên giới Việt Nam – Lào –Thái Lan.
Trả lời chất vẫn của báo chí, cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An cho rằng việc cấp phép này cho vợ và không liên quan gì đến người chồng, nhưng liệu có ai dám chắc về điều đó?. “Cấp phép cho vợ Phạm Văn Tuấn gây nuôi hổ đồng nghĩa với việc các cơ quan này đã chính thức thỏa hiệp và tạo điều kiện cho đối tượng có cơ hội lợi dụng danh nghĩa cơ sở được cấp phép để tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD trong tương lai.” - bà Bùi Thị Hà-Phó Giám đốc ENV bày tỏ sự bức xúc.
Cũng theo bà Bùi Thị Hà, “ENV rất quan ngại về sự phát triển các trang trại hổ tại Việt Nam. Qua nhiều năm điều tra, ENV có thể khẳng định rằng hầu hết các trại nuôi hổ hiện nay không hoạt động vì mục đích giáo dục và bảo tồn mà thực chất là để hợp pháp hóa các hoạt động buôn bán hổ bất hợp pháp”.
Tại Việt Nam chỉ còn khoảng 30 cá thể hổ trong tự nhiên. Trong khi đó, các hoạt động buôn bán hổ trái phép tại Việt Nam đang phát triển dưới các loại hình kinh doanh hợp pháp. Theo điều tra của ENV, số lượng hổ bị nuôi nhốt trong các vườn thú và trang trại tư nhân trong những năm gần đây đã tăng vọt từ 81 cá thể (2010) lên tới 179 cá thể (2015).
Tiếp đó là câu chuyện nuôi Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cấp phép gây nuôi thương mại tê tê. Trong thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh đã cấp phép cho một số hộ dân tỉnh này gây nuôi thương mại tê tê - loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
Điều đáng nói là các cơ quan khoa học CITES (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) chưa hề xác nhận việc tê tê có khả năng sinh sản liên tiếp qua nhiều thế hệ trong môi trường nuôi nhốt hay nuôi sinh trưởng tê tê không ảnh hưởng tới việc bảo tồn loài này trong tự nhiên.
Để chứng minh tê tê là loài thích hợp để gây nuôi thương mại, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh đã viện bằng chứng cho rằng Vườn quốc gia Cúc Phương đã thành công trong việc nuôi tê tê sinh sản. Tuy nhiên, ông Trần Quang Phương, Chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê – Vườn quốc gia Cúc Phương cho biết:
“Kể từ khi được thành lập từ năm 2005 đến nay, chúng tôi mới chỉ ghi nhận 8 trường hợp sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt nhưng là trong hoàn cảnh cá thể tê tê mẹ đã có thai từ trong tự nhiên trước khi vào Trung tâm và sinh con trong quá trình được chúng tôi cứu hộ. Trong số 8 trường hợp trên chỉ có một trường hợp duy nhất tái thả thành công vào tự nhiên cùng với cá thể mẹ.”
Trong khi đó, qua điều tra của ENV tại trang trại của ông Nguyễn Văn Mỹ - một trong số nhiều cơ sở đã được Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cấp giấy phép gây nuôi thương mại tê tê, chủ cơ sở thừa nhận thường xuyên mua tê tê con bất hợp pháp để khai báo “tăng đàn”.
Ngày 21/6, TAND quận Tân Bình, TP HCM đã tiến hành xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt đối tượng Phan Huỳnh Anh Khoa hay còn gọi là Khoa Xì trum (sinh năm 1993, cư trú tại quận Gò Vấp) 5 năm tù, phạt bổ sung 50 triệu đồng cho hành vi buôn bán trái phép động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Khoa chỉ là một trong rất nhiều đối tượng nằm trong tầm ngắm của lực lượng chức năng đã và đang công khai quảng cáo rao bán ĐVHD trên mạng Internet thời gian qua. Trước đó, vào tháng 5/2015, một đối tượng khác chuyên rao bán ĐVHD trên mạng là Đinh Công Thành cũng đã bị cơ quan chức năng bắt giữ cùng tang vật là 44 cá thể rùa thuộc nhiều loài khác nhau.
Thành sau đó đã phải chịu mức án 13 tháng tù giam. Tháng 12/2015, Lê Đức Minh ở Hà Nội cũng đã bị tuyên phạt 27 tháng tù giam sau khi rao bán 3 cá thể cu li trên mạng.
Trong vài năm trở lại đây, loại tội phạm về ĐVHD trên Internet đang gia tăng với tốc độ chóng mặt. Trên các trang mạng xã hội, các website, các diễn đàn, nhiều loài ĐVHD từ sóc, nhím, trăn, rắn, kỳ đà, cá sấu, chuột đến những loài nguy cấp, quý, hiếm như hổ, culi, rái cá được rao bán ngày càng thường xuyên và công khai, thậm chí kèm theo đầy đủ thông tin của người bán.
Phòng Bảo vệ ĐVHD, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã ghi nhận vi phạm quảng cáo ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD trên Internet đầu tiên vào năm 2008. Tính đến tháng 6/2016, con số này đã lên tới 1.551 vụ việc vi phạm. Cá biệt trong năm 2014, số vụ buôn bán, quảng cáo ĐVHD trên Internet được ENV tiếp nhận và xử lí lên tới 855 vụ việc.
Như đã nói ở trên hiện nay các hoạt động buôn bán ĐVHD nói chung và hổ nói riêng trái phép tại Việt Nam đang phát triển dưới các loại hình kinh doanh hợp pháp và một trong những hình thức đó là gây nuôi thương mại. Từ thực tế này, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), đã tiến hành khảo sát 26 cơ sở gây nuôi thương mại ĐVHD lớn tại Việt Nam có quy mô lớn tại các tỉnh, thành phố bao gồm: Hà Nội, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Hồ Chí Minh, Đồng Tháp.
Kết quả khảo sát cho thấy, 100% cơ sở có dấu hiệu nhập lậu ĐVHD ở những mức độ khác nhau; 100% các cơ sở cho biết thường xuyên bổ sung các cá thể săn bắt từ tự nhiên; 89% các cơ sở cho biết không áp dụng bất cứ biện pháp nào để ngăn chặn giao phối cận huyết; một số vi phạm phổ biến như: khai báo không trung thực số lượng ĐVHD sinh mới/chết tại cơ sở; mua bán ĐVHD không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của ĐVHD; mua, bán, tái sử dụng giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của ĐVHD...
Đặc biệt, theo ENV sự cấu kết giữa các cán bộ kiểm lâm và chủ cơ sở gây nuôi là vấn đề nghiêm trọng trong hoạt động gây nuôi ĐVHD, ảnh hưởng tiêu cực tới nỗ lực bảo vệ ĐVHD và kích thích nhập lậu ĐVHD tràn lan tại các cơ sở này. Hiện tượng cán bộ kiểm lâm nhận những khoản thu bất hợp pháp từ chủ các cơ sở gây nuôi được ghi nhận tại 9 tỉnh thành được khảo sát, trừ Quảng Trị.
76% (14/18) những người được phỏng vấn tại 10 tỉnh thành cho biết cán bộ kiểm lâm có nhận những khoản thu bất hợp pháp từ họ. Phần lớn những khoản thu bất hợp pháp xuất phát từ việc mua bán giấy phép vận chuyển 80% (4/5) số người được hỏi cho biết lực lượng kiểm lâm thường báo trước các đợt kiểm tra sắp tới…
Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng – một trong những người trực tiếp đóng vai người có nhu cầu mở trang trại gây nuôi thương mại ĐVHD đi “học hỏi kinh nghiệm” tại các tỉnh thành cho biết, trong 2 năm anh và cộng sự đã thu thập được vô cùng nhiều bằng chứng chứng minh cho việc các cơ sở gây nuôi được khảo sát có dấu hiệu nhập lậu ĐVHD ở những mức độ khác nhau và luôn có sự tiếp tay của bộ phận kiểm lâm qua nhiều hình thức.
“Khi chúng tôi trưng bằng chứng ghi âm, ghi hình ra thì có ý kiến cho rằng những người trong băng ghi âm, ghi hình say rượu hoặc tâm thần nên mới nói năng hồ đồ và hùng hồn về việc buôn bán ĐVHD như thế (?!). Qua quá trình điều tra tôi khẳng định những chủ cơ sở gây nuôi thương mại toàn đại gia, kinh doanh lọc lõi thì lấy đâu ra tâm thần. Hoặc giả họ có say rượu thì chẳng lẽ cả 26 chủ cơ sở trên 10 tỉnh thành đều say rượu cả hoặc cơn say chẳng lẽ kéo dài đến tận 2 năm?” – nhà báo Đỗ Doãn Hoàng đặt câu hỏi.
Cũng theo Đỗ Doãn Hoàng, anh đã đến những trang trại khuếch trương thanh thế rằng trong vài ngày có thể xuất đi hàng tấn rùa được nuôi sinh sản ngay tại chỗ, “nhưng thực tế thì chỉ có một cái hố cát bẩn thỉu có hai con rùa sống, hai con rùa đã chết khô, được nuôi chung với cả lợn, gà. Thử hỏi cá thể rùa nào có thể sinh sản trong môi trường như thế và sinh sản như thế nào mà nhanh đến nỗi vài ngày là có cả tấn rùa, nếu không buôn bán ĐVHD?”.
Đó là quan điểm của bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc ENV vì theo bà Hà, tình trạng buôn bán ĐVHD trái phép đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của Việt Nam. Dù rằng hiện nay đang có nhiều ý kiến ủng hộ quan điểm hợp pháp hóa gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm vì cho rằng gây nuôi thương mại vừa là một giải pháp phát triển kinh tế vừa có giá trị bảo tồn.
Tuy nhiên, với thực tế như đã nói trên thì sự quan ngại về việc hợp pháp hóa hoạt động gây nuôi thương mại và buôn bán các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là con đường dẫn đến sự tuyệt chủng ngày càng rõ nét, bởi những chủ cơ sở gây nuôi luôn đưa lý do kinh tế lên trên tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài ĐVHD.
“Chúng tôi cho rằng gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý hiếm sẽ gia tăng nhanh chóng nguy cơ tuyệt chủng của những loài này. Việc đem tương lai của nhiều loài ĐVHD nguy cấp bậc nhất trên thế giới để đánh đổi lấy lợi nhuận của một nhóm người là vô cùng mạo hiểm”, bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc ENV nhấn mạnh.
Khi đọc bài báo nói trên, hẳn nhiều người sẽ đặt câu hỏi rằng pháp luật ở đâu khi tình trạng mua bán ĐVHD đang diễn ra tràn lan như vậy? Xin trả lời rằng tại hệ thống pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này tương đối đầy đủ như:
Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Luật Thủy Sản, và một loạt các Nghị định 160/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nghị định 32 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm...
Nhưng hiện nay các quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý hiếm được nhận định là đang chồng chéo, mâu thuẫn và không rõ ràng. Một số văn bản mở rộng cửa cho các hoạt động gây nuôi thương mại và buôn bán các loài ĐVHD nguy cấp quý hiếm.
Một số chính sách, văn bản pháp luật được triển khai mà không cân nhắc kỹ đến những hậu quả lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của đất nước do hoạt động gây nuôi thương mại và buôn bán các loài nguy cấp, quý, hiếm gây nên…, mà câu chuyện Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cấp phép cho một số hộ dân tỉnh này gây nuôi thương mại tê tê- loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP là một bằng chứng.
Mấu chốt vấn đề nằm ở chỗ các cơ quan khoa học CITES chưa hề xác nhận việc tê tê có khả năng sinh sản liên tiếp qua nhiều thế hệ trong môi trường nuôi nhốt hay nuôi sinh trưởng tê tê không ảnh hưởng tới việc bảo tồn loài này trong tự nhiên. Và theo Nghị định 82/2006/NĐ-CP, xác nhận bằng văn bản này của cơ quan khoa học CITES chính là một trong những điều kiện tiên quyết để đăng ký gây nuôi các loài động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp, quý, hiếm như tê tê.
Vậy nhưng, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh lại thẳng thừng tuyên bố với ENV rằng: “Về trình tự thủ tục cấp giấy, không quy định phải xin ý kiến bằng văn bản đối với cơ quan khoa học CITES Việt Nam. CITES Việt Nam phải có trách nhiệm nghiên cứu và xác nhận bằng văn bản các loài ĐVHD có khả năng nuôi sinh sản, sinh trưởng trong môi trường tự nhiên có kiểm soát”.
Trả lời câu hỏi của phóng viên báo Pháp luật Việt Nam rằng dưới góc độ khoa học có loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nào được phép gây nuôi và danh sách đó có nằm trong quy định pháp luật hay không, PGS – TS Lê Xuân Cảnh – Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật cho biết, các nhà khoa học đã đưa ra một danh sách có khoảng 40 loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nào được phép gây nuôi nhưng danh sách này chưa được luật hóa vì theo ông Cảnh “từ nghiên cứu khoa học đến chính sách pháp luật là cả một khoảng cách”.
Cũng theo ông Cảnh các nhà khoa học luôn sẵn sàng phối hợp với nhà làm luật để tạo ra được những quy phạm pháp luật có lợi nhất cho sự nghiệp bảo tồn ĐVHD ở Việt Nam, bởi Việt Nam đã là thành viên lâu năm của Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (Công ước CITES). “Tuy nhiên, vẫn có sự phối hợp chưa ăn ý giữa nhà khoa học và nhà làm luật nên mới có thực tế khó kiểm soát như hiện nay” – ông Cảnh nhấn mạnh.
Ở góc độ trực tiếp va chạm với thực tế gây nuôi thương mại ĐVHD, ông Khổng Trung – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cho rằng cái khó hiện nay là các cán bộ kiểm lâm thường không có cơ sở pháp lý để phân biệt giữa loài gây nuôi và loài có nguồn gốc hoang dã. Vì vậy, kiểm soát trại nuôi đang gặp khó khăn và đây cũng là kẽ hở để các đối tượng lợi dụng để nhập lậu ĐVHD vào các trang trại.
Ví dụ, khi tiến hành kiểm tra trại nuôi rắn, các cán bộ kiểm lâm hoàn toàn có thể nhận diện cá thể được nuôi nhốt lâu ngày (màu da sẫm hơn, chậm chạp) và cá thể mới bị săn bắt từ tự nhiên (bản tính hung hăng, di chuyển linh hoạt và nhanh nhẹn). Tuy nhiên, các cán bộ kiểm lâm hoàn toàn không có căn cứ pháp lý để đối chất với chủ cơ sở về nguồn gốc của các cá thể ĐVHD có dấu hiệu săn bắt từ tự nhiên nói trên.
“Trong khi chưa quản lý tốt cơ sở gây nuôi cũng như việc nỗ lực bảo vệ rừng chưa đảm bảo thì chưa nên cho phép gây nuôi loài ĐVHD nguy cấp, quí, hiếm vì hoạt động này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến quần thể tự nhiên của các loài này” – ông Trung đề xuất. (Pháp Luật Việt Nam 13/8) đầu trang(
Ông K. chưa bao giờ tưởng tượng được rằng mọi chuyện lại trở nên tồi tệ như vậy. Sau 3 năm dẫn đầu cuộc điều tra bí mật về vấn nạn buôn bán rùa biển tại Việt Nam, quê hương của ông, những nỗ lực ấy đã đưa ông đến trước cửa ba nhà kho tại khu ngoại ô nằm ngoài Nha Trang - một điểm đến nổi tiếng tại tỉnh Khánh Hòa.
Ngay sau khi cánh cửa được mở, điều đầu tiên ông K. thấy xộc lên mùi của nhiều loại hóa chất trộn lẫn với mùi hôi thối của xác chết. Tiếp theo là hàng ngàn con rùa biển xếp chồng lên nhau lên tận mái nhà. Hai trong ba nhà kho có cảnh tượng như vậy.
"Tôi cảm thấy sốc nặng khi nhìn thấy cảnh tượng này", ông K. cho biết (ông yêu cầu không để tiết lộ tên thật vì ông vẫn sẽ còn tiếp tục điều tra vụ việc này).
Một cuộc đột kích thứ hai vào tháng sau tại một trang trại gần đó, cũng đã phát hiện cảnh tượng tương tự. Cảnh sát phát hiện khoảng 7.000 con rùa biển, số lượng lớn chưa từng có từ trước đến nay.
Đó là vào tháng 11 năm 2014, và Việt Nam vẫn chưa bắt giữ hay có bất kỳ hành động truy tố hình sự nào, mặc dù cuộc điều tra của ông K cho thấy kẻ chủ mưu là một một doanh nhân địa phương giàu có.
Nhiều tháng và giờ đã hàng năm trôi qua, vụ việc vẫn đang tiếp tục bị đình trệ, các nhà bảo tồn coi đây như một sự thất bại của Việt Nam trong việc xử lý hoạt động buôn bán bất hợp pháp.
"Bạn có thể bắt giữ những tay buôn lậu nếu bạn muốn, nhưng để ngăn chặn việc buôn bán bạn sẽ phải bắt giữ kẻ chủ mưu", ông Douglas Hendrie, cố vấn kỹ thuật của nhóm phi lợi nhuận Giáo dục thiên nhiên Việt Nam (ENV), có trụ sở tại Hà Nội, nói. ENV đã phát động cuộc điều tra này và ông K hiện đang làm việc cho họ.
"Vụ này chỉ là phép thử của chúng tôi", Hendrie nói, "một cách để nói, Việt Nam, hãy cho chúng tôi thấy rằng, các vị nghiêm túc về việc triệt phá loại buôn lậu này như các vị nói".
Việt Nam là một mắt xích chính trong buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp, vừa đóng vai trò nguồn cung cấp, nguồn tiêu dùng và là nước trung chuyển động vật buôn bán bất hợp pháp từ Đông Nam Á vào Trung Quốc. Tuy nhiên vào đầu năm 2014, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố quyết định triệt phá đường dây buôn bán động vật quý hiếm bất hợp pháp.
Cuối năm 2014, rùa biển cùng với hổ, voi, gấu và tê tê được liệt vào danh sách các loài động vật cần được bảo vệ. Buôn bán bất kỳ loài động vật nào trong danh sách trên sẽ bị coi là phạm pháp, có thể bị truy tố và kết án tù lên đến 7 năm.
Ông K. đã tham gia vào vụ điều tra rùa biển từ năm 2011 khi một tàu cá Việt Nam bị bắt giữ tại Philippines, tại đó chính quyền phát hiện khoảng 200 xác rùa biển trên tàu. Trong những tháng tiếp theo cũng đã xảy ra những vụ việc tương tự tại Việt Nam cũng như Philippines, đều là mang xác rùa biển tới Sa Kỳ, một cảng biển ở Quảng Ngãi.
Vì thế, ông K cùng đồng nghiệp đã tới Quảng Ngãi, đóng giả làm các tay buôn, hay những sinh viên nghiên cứu, tra cứu thông tin về rùa biển. Họ đã phát hiện một nhóm thợ lặn chuyên bắt rùa biển, và bán chúng cho các tay buôn tại chợ đen.
Thay vì lập tức báo cáo chính quyền và khuyến khích việc truy tố những kẻ săn trộm, ông K. lại để mắt đến một người có vai trò cao hơn: một tay buôn được những tên săn trộm cho biết là người cầm đầu, và có thể còn hơn thế nữa.
Khi tạp chí National Geographic liên lạc với tên buôn này qua điện thoại, ông ta nói không biết gì cả. "Các ông gọi nhầm người rồi", ông ta nói trước khi gác máy.
Nhưng ông K. và ENV cho biết những bằng chứng từ các nguồn khác nhau đã đều dẫn đến ông ta, và y đã từng có những tiền án liên quan tới rùa biển. Vào năm 2009, chính quyền đã thu giữ gần 850 con rùa biển, và ông ta đã bị phạt 10 triệu đồng "xử phạt hành chính".
Ông K. cho biết, người dân địa phương tại vùng lân cận của nhà kho xác nhận những con rùa đó là của các tay buôn, trong khi chủ trang trại nơi nhóm rùa thứ hai được tìm thấy cho biết tay buôn bị tình nghi đã nhờ ông ta giữ những con rùa trong đó. Những thợ lặn, các tay buôn khác, và cả cảnh sát đã xác nhận sự liên quan của ông này.
Một số nguồn tin địa phương xác nhận sự tham gia của ông ta cho National Geographic, kể cả việc ông ta sở hữu những nhà kho đó và đồng thời là một tay buôn rùa có tiếng. Bùi Cao Pháp, phó chủ tịch xã nơi nhà kho được xây cũng cho biết nhà kho ấy thuộc về ông ta.
Trong khi đó, sau năm 2014, một người dân địa phương khác, Hoàng Tuấn Hải, đầu thú với cơ quan chức năng về hành vi của mình. Hendrie và ông K. tin rằng, Hải muốn bao che cho tay thương gia này.
Nhưng ngay cả Hải vẫn chưa bị bắt giữ hay truy tố, và không ai có vẻ như đang điều tra việc liệu anh ta có liên quan đến vụ việc này hay không. "Đã 2 năm trôi qua, nhưng tôi có cảm giác như đã lâu lắm rồi." Ông K. cho biết.
Các vụ bắt giữ trong năm 2014 được báo chí Việt Nam đăng tải đậm nét. Báo chí quốc tế cũng nhập cuộc. Theo như Hendrie, Chính phủ Việt Nam dường như đã có động lực để tiến hành truy tố. "Chúng tôi đã nhận được phản ứng từ phía trung ương cho biết họ cam kết sẽ khởi tố vụ việc này" - Hendrie cho biết.
Nhưng Việt Nam vẫn chưa truy tố một trùm sò buôn bán động vật bất hợp pháp nào, mặc dù những tên thợ săn, buôn lậu nhỏ thường xuyên bị bắt và trừng phạt.
"Nếu nhân vật chính trong vụ việc này chỉ là một người dân thường, có lẽ giờ anh ta đang ngồi tù rồi", Bùi Thị Hà, Phó giám đốc ENV và là trưởng nhóm chính sách và pháp lý của EVN nói. "Nhưng anh ta có ảnh hưởng lớn, anh ta giàu có".
Hà cho biết, đại diện tỉnh đã đảm bảo với bà rằng, họ đang theo đuổi cuộc điều tra ấy đến cùng, và việc chậm trễ là do "khó khăn trong việc áp dụng luật," như đã đề cập trong bức thư gửi Bộ Công an năm 2015 nói rõ khó khăn để xác định rùa biển thuộc danh mục nào.
"Thỉnh thoảng khi đọc về những vụ việc này bạn sẽ có cảm tưởng công an Việt Nam cứ như là cảnh sát trong phim Keystone Cops vậy, luôn luôn đến chậm trong khi thủ phạm đã biến mất từ lúc nào," Jake Brunner, điều phối viên chương trình Việt Nam của Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (IUCN) cho biết. "Nhưng điều đó không đúng. Chính quyền ở đây hoàn toàn có khả năng bắt giữ những ai mà họ muốn".
Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Thủy sản, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hoặc là từ chối trả lời phỏng vấn, hoặc đổ tại người khác.
"Chúng tôi không xử lý trường hợp này" - là một điệp khúc phổ biến. Ông Lê Đình Hoàn, Viện Kiểm sát Khánh Hòa, nói phóng viên National Geographic gọi điện thoại lại sau giờ nghỉ nhưng sau đó lại không nhấc máy. Còn ông Phạm Trọng Cường, Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa trả lời: "Tại sao các vị yêu cầu trả lời phỏng vấn qua điện thoại? Làm sao để tôi biết các vị là ai?".
Tuy nhiên, bà Hà khẳng định rằng, đại diện chính quyền ở các cấp cao hơn đã gửi công văn yêu cầu chính quyền tỉnh Khánh Hòa tiến hành khởi tố. Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cũng tích cực tham gia tìm kiếm giải pháp. Một nhóm chuyên gia rùa biển hồi tháng 4 đã gửi thư cho Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Phạm Quang Vinh đề nghị ông "khuyến khích các quan chức Việt Nam đóng vai trò nghiêm túc hơn".
"Tôi chắc chắn rằng có nhiều người trong Chính phủ Việt Nam muốn khởi tố vụ việc này, nhưng tôi cũng biết có những tội phạm buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam và một số nước khác dường như được miễn trừ hoặc không thể đụng đến" - Earl Possardt, điều phối viên Chương trình Rùa biển quốc tế tại Tổ chức Cá và Động vật hoang dã của Mỹ, nói. Tổ chức này hỗ trợ tài chính cho ENV để điều tra ban đầu.
Và những phóng viên viết về nạn buôn bán động vật hoang dã hay bị đe dọa. Phóng viên điều tra Đỗ Doãn Hoàng (của Báo Lao Động - PV) đã bị một số kẻ đánh trọng thương hồi tháng Ba. Hoàng nghi ngờ rằng những kẻ tấn công - đánh gãy ngón tay anh - muốn bịt miệng công việc điều tra của anh, mặc dù Hoàng cũng không chắc những kẻ tấn công có liên quan đến vụ điều tra về động vật hoang dã hay không.
Trong khi đó, bà Hà của ENV vẫn kiên trì muốn thấy vụ rùa biển được giải quyết. Hồi tháng Giêng, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao gửi công văn cho chính quyền tỉnh Khánh Hòa, nói rõ rằng, họ cần truy tố Hải. Trong công văn trả lời, tỉnh Khánh Hòa cho biết họ không thể làm như vậy vì chưa có lệnh của Tòa án Tối cao và Bộ Công an.
Bà Hà đang thúc đẩy một cuộc họp với các cơ quan chính phủ có liên quan, với hy vọng rằng, họ có thể một lần nói rõ với các quan chức tỉnh Khánh Hòa về nhiệm vụ của họ theo luật pháp Việt Nam. "Tôi nghĩ chúng tôi có thẩm quyền để khởi tố vụ án này. Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà chức trách có sẵn sàng thực hiện cam kết và làm gương cho thế giới hay không" - bà Hà nói. (Lao Động 13/8) đầu trang(
13 giờ 55 ngày 13-8, rừng keo lá tràm tại khu vực P. Hòa An (Q. Cẩm Lệ, Đà Nẵng) bất ngờ bốc cháy (chủ yếu là thực bì, lau sậy). Nhận được tin báo, Phòng CSPCCC số 5 và số 1 điều động tổng cộng 5 xe chữa cháy đến hiện trường dập tắt hoàn toàn đám cháy. Vụ cháy đã thiêu rụi 3.000m2 rừng. (Công An Đà Nẵng 15/8) đầu trang(
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Cảnh - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hiện nay ở các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Nông và Lâm Đồng có 675 loài động vật có xương sống trên cạn, bao gồm 169 loài thú, 412 loài chim, 64 loài bò sát và 30 loài ếch nhái. Đặc biệt, trong đó có 128 loài động vật quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ, gồm 58 loài thú, 39 loài chim và 31 loài bò sát, ếch nhái.
Các loài động vật có xương sống trên cạn ở Tây Nguyên chủ yếu tập trung nhiều nhất ở các Vườn quốc gia, như Yok Đôn, Chư Yang Sin (Đắc Lắc), Kon Ka Kinh (Gia Lai), Chư Mom Ray (Kon Tum), các khu bảo tồn thiên nhiên như Tà Đùng, Nam Nung (Đắc Nông), Nam Ca, Ea Sô (Đắc Lắc), Kon Cha Rắng, Chư Prông (Gia Lai), Ngọc Linh (Kon Tum)... Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, số lượng động vật có xương sống ở Tây Nguyên có nguy cơ ngày càng giảm, nhất là các loài thú lớn như voi, bò tót, bò rừng, trâu rừng, hổ, báo, beo lửa, hươu cà toong...
Bên cạnh việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ, xử lý nghiêm các đối tượng săn bắn, mua bán, vận chuyển, giết mổ các loại động vật hoang dã, các tỉnh Tây Nguyên cần sớm triển khai các biện pháp đồng bộ như xây dựng nhiều khu bảo vệ cấp tỉnh để bảo tồn nguyên vị hoặc đề xuất xây dựng các khu bảo vệ cấp quốc gia ở những nơi đa dạng sinh học cao. Đồng thời, các tỉnh Tây Nguyên cần nâng cao công tác bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế sự tác động đến vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn của các hệ sinh thái. (Công An Đà Nẵng 15/8) đầu trang(
Cả một khu vực rừng tự nhiên rộng lớn đầu nguồn sông Rào Nan đang bị cạo trọc để trồng keo. Lãnh đạo và người dân 10 xã vùng Nam thị xã Ba Đồn (Quảng Bình) cho rằng họ đang bị “điểm đúng huyệt tử”, vì sông Rào Nan là nơi duy nhất cung cấp nguồn nước từ sinh hoạt đến sản xuất, nuôi sống hơn 5 vạn dân phía dưới hạ du.
Dẫn đường cho PV Tiền Phong đến hiện trường phá rừng là ông Trần Ngọc Tiếp, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn và một cán bộ tư pháp của xã này. Theo ông Tiếp, khu vực rừng đang bị cạo trọc nằm ngay đầu nguồn sông Rào Nan, sát thôn Chay của xã này. Mặc dù không được đưa vào diện rừng phòng hộ, nhưng lâu nay trong tâm thức người dân Quảng Sơn đây là rừng phòng hộ, bảo vệ người dân vào mùa mưa lũ, bảo vệ nguồn nước cho 10 xã vùng Nam thị xã Ba Đồn.
Đi theo con đường liên huyện chạy dọc phía đầu nguồn bờ Bắc sông Rào Nan, ngay cột mốc chỉ dẫn Cao Quảng (Tuyên Hóa) 6km là một chiếc cổng sắt kiên cố chắn ngang con đường vào rừng rộng chừng 7m vừa mới mở. Ông Tiếp phân công: “Chú (anh cán bộ tư pháp xã) dẫn phóng viên đột nhập vào rừng, còn tui canh ngoài ni, để lỡ có chuyện chi thì ở đây còn có sóng điện thoại”.
Từ cổng đi chừng 1 km, hiện ra trước mắt chúng tôi là một vùng rừng rộng lớn bị cạo trọc trắng xóa, nhựa cây quyện vào không khí nồng nặc. Cây rừng bị đốn hạ đã được dọn sạch, chỉ còn trơ lại chi chít gốc có đường kính từ 20cm đến 50cm. Người dẫn đường cho biết, rừng ở đây bắt đầu bị phá chừng hơn 2 tháng. Chủ rừng thuê nhiều người, chia thành nhiều nhóm, với các phương tiện hiện đại nên họ phá rất nhanh, hàng chục ha rừng bị cạo trọc chỉ trong một thời gian ngắn.
Theo tiếng cưa máy vọng từ xa, chúng tôi len lỏi qua nhiều con đường nhánh mới tiếp cận gần hiện trường một nhóm đang khai thác. Ở đây có 3 chiếc xe gàu, vừa làm nhiệm vụ mở đường vừa nâng gỗ lên xe tải loại lớn để đưa về điểm tập kết. Sau những tiếng rít của cưa máy là cây rừng lại đổ ào ào. Tại những điểm tập kết gỗ vừa mới đốn hạ chưa kịp chuyển đi, nhiều cây có đường kính lên đến 50cm.
Nhác thấy bóng người lạ, một người đàn ông lao tới tri hô đòi bắt. Thấy động, chúng tôi quay đầu xe, luống cuống thế nào lại chạy lạc vào một con đường cụt. Khi định hướng được đường ra, cũng là lúc người đàn ông này bám ngay sau xe. Đuổi ra gần đến chiếc cổng sắt, ông ta dừng lại điện thoại báo cáo cho ai đó, đồng thời chỉ đạo khóa cổng sắt để bắt người.
Hai thanh niên lực lưỡng đứng chắn ngang đường, hai cánh cổng được khóa lại. Người đàn ông đuổi theo cũng kịp đến, yêu cầu giao nộp máy quay phim, chụp ảnh. Ông Tiếp ở ngoài chạy vào yêu cầu thả người nhưng họ không chịu, đòi bắt luôn ông Tiếp. Trong lúc hai bên đôi co, PVTiền Phong nhanh chân nhảy qua cái hào sâu bên hông chiếc cổng ra ngoài, cả 3 người lao theo chặn lại, đồng thời điện thoại cho ai đó yêu cầu “mang hàng đến để xử lý”.
PV Tiền Phong lập tức điện cho lãnh đạo thị xã Ba Đồn báo cáo tình hình và đề nghị, nếu biết chủ rừng thì điện cho họ yêu cầu thả người. Ông Tiếp cũng điện cho Công an xã lên giải cứu. Người đàn ông đuổi theo chúng tôi từ trong rừng ra lớn tiếng: “Ở đây rừng có chủ, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Bây điện cho huyện chứ điện cho ông trời tau cũng bắt”.
Chừng khoảng 20 phút sau, có thêm hai người đàn ông đi trên chiếc ô tô trờ tới, lớn tiếng dọa nạt, đòi PV giao nộp phương tiện tác nghiệp. Chỉ đến khi một người đàn ông mới đến nhận từ ai đó một cuộc điện thoại, họ mới miễn cưỡng mở cổng thả người. Trên đường về lại trụ sở xã Quảng Sơn, chúng tôi bắt gặp 3 chiếc ô tô 4 chỗ chạy ngược chiều, trên xe nhét kín người, dẫn đầu là chiếc Audi màu đen.
Ông Mai Trung Kiên, Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn cho biết: Khu vực rừng bị cạo trọc hiện đang tranh chấp giữa xã Quảng Sơn (thị xã Ba Đồn) và xã Văn Hóa (huyện Tuyên Hóa). Nguyên nhân của việc tranh chấp là do những người đo vẽ bản đồ đã chấm sai địa giới hành chính của 2 xã.
Ngay sau khi phát hiện ra sai sót này, chính quyền xã Quảng Sơn đã nhiều lần yêu cầu sửa đổi. Đã có nhiều cuộc làm việc giữa chính quyền 2 huyện Tuyên Hóa, Quảng Trạch, rồi tỉnh Quảng Bình vào cuộc nhưng không thành. “Chúng tôi không ham hố mấy trăm ha đất, ai quản lí cũng được, nhưng vùng đất đó hơn ai hết chúng tôi hiểu tính chất trọng yếu của nó. Chỉ cần rừng trên đó bị phá, xem như Quảng Sơn bị cạo hết tóc trên đầu, nhân dân 10 xã vùng Nam thị xã Ba Đồn bị hệ lụy” – ông Kiên phân tích.
Trước thông tin, việc phá rừng đầu nguồn nơi đang tranh chấp không phải những hộ dân được xã Văn Hóa cấp đất rừng mà là những “đại gia” đã thu gom số diện tích đất rừng nói trên, ông Đinh Xuân Thương, Chủ tịch UBND xã Văn Hóa khẳng định: Phá rừng trồng cây là của các hộ dân được cấp đất rừng chứ không có ai khác thu gom đất rừng.
Tuy nhiên, ông Hoàng Minh Đề, Chủ tịch UBND huyện Tuyên Hóa lại cho biết: Theo báo cáo nhanh của xã Văn Hóa, khu vực rừng giáp ranh với xã Quảng Sơn, thuộc Tiểu khu 197 đã cấp cho 40 hộ dân xã Văn Hóa. Hiện có 5 cá nhân, trong đó có 1 người ở xã Văn Hóa kết hợp với 4 người ở thị xã Ba Đồn thu gom đất của 40 hộ dân để trồng rừng. Hiện họ đã chặt được 40 ha trên diện tích 70 ha vừa mới được chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang rừng sản xuất kinh tế.
Ông Trần Xuân Hảo, Giám đốc Trung tâm quy hoạch thiết kế Nông lâm nghiệp Quảng Bình cho biết: Trung tâm trực tiếp điều tra và đề xuất chuyển đổi khu vực này từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang rừng sản xuất kinh tế theo yêu cầu của xã Văn Hóa. Việc điều tra làm đúng quy trình, có sự giám sát của các cơ quan chức năng. Tuy nhiên ông Hảo không trực tiếp điều tra, nên nếu có sai sót ông sẽ cho kiểm tra lại.
Theo lãnh đạo xã Quảng Sơn và quan sát của PV Tiền Phong thì họ đã cạo trắng hàng chục ha rừng không phải nghèo kiệt. Mật độ rừng tái sinh ở đây dày đặc, có đường kính từ 20cm đến 50cm. Từ khi khai thác đến nay, hàng đêm nhóm người này đưa từ rừng ra nhiều chuyến xe tải nặng chất đầy gỗ.
Theo tiết lộ của một người được thuê phá rừng, các đại gia đã mua lại của 40 hộ dân 400 ha rừng. Họ vừa chuyển đổi được 70 ha rừng và đang tiếp tục làm hồ sơ chuyển đổi để phá rừng trồng keo.
Lãnh đạo và nhân dân 10 xã vùng Nam thị xã Ba Đồn đang rất bức xúc, đề nghị UBND tỉnh Quảng Bình vào cuộc, dừng việc chặt phá rừng và xử lí những tổ chức, cá nhân đã biến tấu khu rừng tái sinh dày đặc cây cối thành rừng nghèo kiệt để tiếp tay cho phá rừng. (Tiền Phong 15/8) đầu trang(
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Cảnh - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hiện nay ở các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông và Lâm Đồng có 675 loài động vật có xương sống trên cạn, bao gồm 169 loài thú, 412 loài chim, 64 loài bò sát và 30 loài ếch nhái.
Đặc biệt, trong đó có 128 loài động vật quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ, gồm 58 loài thú, 39 loài chim và 31 loài bò sát, ếch nhái.
Tây Nguyên hiện có trên 3,354 triệu ha rừng, đất rừng, trong đó có 2,25 triệu ha rừng, với độ che phủ 45,8%, còn lưu giữ nhiều thảm thực vật nhiệt đới ẩm, nhiều loài động vật quý hiếm, trong đó có các loài thú như mèo gấm, beo lửa, báo gấm, báo hoa mai, hổ, voi, hươu cà toong, hươu vàng, mang lớn, mang trường sơn, bò tót, bò rừng, bò xám, trâu rừng…
Tây Nguyên cũng là nơi lưu trữ các nguồn gen thực vật, động vật quý hiếm lớn nhất của Việt Nam và của vùng Đông Nam Á. Các loài động vật có xương sống trên cạn ở Tây Nguyên chủ yếu tập trung nhiều nhất ở các Vườn quốc gia, như Yok Đôn, Chư Yang Sin (Đắk Lắk), Kon Ka Kinh (Gia Lai), Chư Mom Ray (Kon Tum), các khu bảo tồn thiên nhiên như Tà Đùng, Nam Nung (Đắk Nông), Nam Ca, Ea Sô (Đắk Lắk), Kon Cha Rắng, Chư Prông (Gia Lai), Ngọc Linh (Kon Tum)…
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, số lượng động vật có xương sống ở Tây Nguyên có nguy cơ ngày càng giảm, nhất là các loài thú lớn như voi, bò tót, bò rừng, trâu rừng, hổ, báo, beo lửa, hươu cà toong…
Bên cạnh việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ, xử lý nghiêm các đối tượng săn bắn, mua bán, vận chuyển, giết mổ các loại động vật hoang dã, các tỉnh Tây Nguyên cần sớm triển khai các biện pháp đồng bộ như xây dựng các khu bảo vệ cấp tỉnh để bảo tồn nguyên vị hoặc đề xuất xây dựng các khu bảo vệ cấp quốc gia ở những nơi đa dạng sinh học cao.
Đồng thời, các tỉnh Tây Nguyên cần nâng cao công tác bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế sự tác động đến vùng lõi của các khu bảo tồn thiên nhiên nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn của các hệ sinh thái… (Báo Thái Nguyên 13/8) đầu trang(
Khu rừng quý này là điểm đến hàng đầu ở Việt Nam dành cho những người có đam mê “xem chim” trên thế giới.
Một con chim gõ kiến đang bám vào cành cây cách chúng tôi 50 mét. Nó bám hai bàn chân chắc chắn theo dọc thân cây và mổ đều đều lớp vỏ tìm thức ăn. Sau vài nhát mổ nó nhảy lùi xuống dưới thấp hơn, cứ thế con chim vừa mổ vừa nhảy lùi say mê khoảng 1,5 mét dọc thân cây.
Đầu nó đeo cái mũ đỏ tươi bằng những sợi lông dài chuốt lên như cái mũ có nhiều tua rua trong lễ hội. Lưng phủ lớp lông vàng pha mấy chấm cam, phần ngực và bụng màu đen pha sọc trắng. Những chiếc lông đuôi dài xòe ra như chiếc quạt làm con chim bám vào thân cây một góc 25 độ.
“Đây là con common flameback, tên tiếng Việt là gõ kiến vàng nhỏ. Em để ý vạch lông đen trắng ở cổ vì khác một chút kẻ đen trên mặt và cổ đã là con chim khác rồi, flameback có nhiều loại”, Lương Hà, một người xem chim nhiều năm ở Việt Nam giải thích.
Chúng tôi thay nhau cầm ống nhòm ngắm con gõ kiến xinh đẹp. Trên cành cây đẫm sương buổi sớm, nó tự do múa vũ điệu của mình với cái mỏ đen nhọn, dày và chắc. Nó bắt được con côn trùng gì đó, húc hắc cái mỏ nuốt nạn nhân xong, khoan khoái ngó nghiêng xung quanh. Con chim không hề biết nó đã đem lại món quà tuyệt diệu cho mấy kẻ ngẩn ngơ đứng dưới đất đang chăm chú theo dõi mình.
Trên đường mòn của rừng xanh mướt, tưởng như mọi vật đều vừa mới được sinh ra trong lớp sương mỏng ban mai như rắc ngọc, chúng tôi thấy một con chim thon thả, đuôi dài, lí lắc phía cây cột sau gốc cây bằng lăng.
Con chim có đôi mắt tròn xoe ngơ ngác, cả mảng lông ngực và bụng của nó màu gụ đỏ, đầu và thân trên màu xanh lam tím. Đôi chân mảnh và dài màu hồng. Chiếc đuôi với sợi lông dài bằng cả phần thân thanh nhã màu đen xen trắng làm cho nó thật quý phái. “Chích chòe lửa là con này, nó thường tha thẩn ở bìa rừng, gần mặt đất”, Hà nói.
Chích chòe lửa được ví như ca sĩ opera. Giọng chích chòe lửa thường ngân dài, du dương, tha thiết, xen lẫn những đoạn rung lưỡi, ngắt nghỉ một quãng rồi khẽ khàng thầm thì làm người nghe bị cuốn theo.
Chúng còn có khả năng “mix” giọng, tức có thể bắt chước giọng hót của các loài chim khác hay các âm thanh mà nó nghe được vào giọng của riêng mình như tiếng mưa, tiếng suối chảy, tiếng mèo kêu... Giọng hót đặc biệt và bộ mã đẹp đã làm cho chúng trở thành loài chim bị nuôi nhốt và buôn bán phổ biến ở Việt Nam và một số nước châu Á.
Sáng nay chúng tôi sẽ đi tắc ráng khoảng hơn 20 ki lô mét dọc sông Đồng Nai. Đây là dòng sông hộ mệnh có đoạn dài khoảng 90 ki lô mét bao quanh Nam Cát Tiên, cũng có vai trò đắc lực cho việc bảo vệ khu rừng nguyên sinh quý hiếm này của Việt Nam.
Người điều khiển đò của chúng tôi là một nhân viên Trung tâm Giáo dục môi trường và dịch vụ, Vườn quốc gia Cát Tiên, anh cũng rất yêu rừng và các sinh vật. Chiếc tắc ráng đi chầm chậm giữa dòng sông Đồng Nai đỏ nồng phù sa và hùng vĩ. Một cành cây rung rinh trong lùm phía bên bờ, chiếc tắc ráng chậm lại.
“Bụi cây kia có hai con cao cát, mọi người muốn chụp hình không tôi xáp vô?”, anh hỏi. Đến gần chúng tôi nhận ra ba con cao cát bụng trắng với chiếc mỏ sừng trắng to cồ cộ đặc trưng đang nhảy múa dưới nắng mai. Cao cát bụng trắng (oriental pied hornbill) là một loài trong họ hồng hoàng (hornbill).
Loài chim này khá lớn, có thể nặng tới 1 ký, cặp mắt đen có viền trắng xung quanh, lưng và ngực xanh đen, phần dưới bụng và mặt dưới đuôi màu trắng. Mỏ của chúng dày và lớn, có thêm một miếng đắp thêm phía trên, chim càng lớn tuổi mỏ càng dày. Một lúc lâu cặp chim to hơn bay đi, để lại chú cao cát nhỏ hơn nhảy múa trên mấy cành tre.
“Ngọn tre kia có hai con bìm bịp lớn đang tắm nắng”, anh chỉ tay, giảm tiếng máy chạy. Chúng tôi tiến gần đến bụi tre, nơi hai chú bìm bịp say mê xòa đôi cánh màu nâu đỏ rộng mở như đang múa và nghiêng cái đầu với đôi mắt long lanh đen tuyền ngó nghiêng mấy kẻ lạ lùng dưới kia. Bìm bịp hiền hậu và tiếng kêu rất êm đềm, gắn với tâm hồn bao người từng sống ở thôn quê. Tôi thấy xót ruột khi nghĩ đến cảnh mới đây thôi, ở một chợ huyện, người ta lấy kéo cắt phăng bộ đuôi dài của nó và vặt lông nó bán chỉ với giá vài chục ngàn.
Trong nửa ngày chúng tôi đã xem được khá nhiều loài chim, gồm cu rốc bụng nâu, trảu lớn, bói cá nhỏ, bìm bịp lớn, đuôi cụt cánh xanh, mỏ rộng đỏ, chèo bẻo cộ đuôi bằng, chim khách, vàng anh Trung Quốc và một số loài chim cành cạch, hút mật, đớp ruồi và cu gáy phổ biến của khu rừng.
Ở Cát Tiên nếu có nhiều thời gian, đi vào rừng, bạn còn có cơ hội gặp thêm nhiều loài chim quý hiếm của thế giới và Việt Nam, như gà so cổ hung, gà tiền mặt đỏ, gà lôi hồng tía, hạc cổ trắng, cò quắm cánh xanh, ngan cánh trắng, niệc mỏ vằn, công, già đẫy Java, chích chạch má xám...
Với dân xem chim không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, Vườn quốc gia Cát Tiên là điểm nhất định phải đến vì đây là thế giới của 350 loài chim hoang dã, chiếm hơn một phần ba số lượng các loài chim của Việt Nam.
Trong đó có 3/10 loài đặc hữu của Đông Nam Á, nhiều loài chim có tên trong Sách đỏ.
Quanh năm trong khu bảo tồn này, người ta đều bắt gặp các nhóm xem chim người nước ngoài và hướng dẫn viên người Việt với ống nhòm, kính thiên văn, sách hướng dẫn và máy ảnh tối tân đi bộ “lang thang” và lặng lẽ quan sát.
Lương Hà cũng như nhiều người trẻ đam mê môn bird watching tại Việt Nam cũng có nhiều chuyến đi trong và ngoài nước với khao khát thấy được nhiều loài chim như vậy. “Ngắm con chim trong rừng, cảm giác thật bình yên, hạnh phúc, tự do, chỉ muốn đi mãi”, chị nói.
Nếu ai chưa từng xem chim ngoài thiên nhiên, khi thấy con chim trong lồng vẫn có thể thấy đẹp và thích. Còn khi đi xem ngoài thiên nhiên, cảm giác nói chung khó tả, đó là sự vui sướng, là sự thỏa mãn về cái đẹp, thích thú, hiểu biết được mở rộng, biết tôn trọng sự sống của mọi loài khác mình... và còn là sự chinh phục.
Vì sao lại phải chinh phục khi xem chim? Xem chim trong thiên nhiên rất khác với việc nhìn thấy chúng trong vườn thú, lúc nào cũng ở đó, mất bản năng sinh tồn và ca hát, thậm chí chúng còn ủ rũ thiếu sinh khí. Sinh vật hoang dã bị cầm tù thì coi như chỉ còn tồn tại chứ không còn sống theo đúng nghĩa.
Ở rừng, mình phải lắng nghe, phải dõi tìm, phải tập trung quan sát để xác định xem con chim đang ở đâu, có chim không để ngắm, rồi phải tranh thủ mà ngắm hay giữ lại các khoảnh khoắc đó qua máy chụp hình, ghi âm tiếng hót vì con chim có thể bay đi bất kỳ lúc nào. Luôn phải thật kiên nhẫn và yên lặng, không cử động bất chợt hay gây tiếng ồn. Nên việc xem chim, theo chị Hà, cũng giúp ta rèn luyện tính kiên nhẫn.
Xem chim còn phải tìm hiểu nhiều, thuộc nhận dạng, ghi nhớ tên và đặc điểm của các loài, phải tìm hiểu tập quán chim, tìm hiểu môi trường chim sống. Nhiều loài chim con trống và mái có hình dạng, màu lông khác nhau, mùa sinh sản thì lông có màu khác với mùa còn lại... nên chỉ cần nhìn nhầm một chút về màu lông thì con chim đã có tên khác. Xem được một loài chim mới, cảm giác rất khó tả nhưng thỏa mãn và rất sung sướng.
Trên đường đi dạo lúc nhập nhoạng tối, chúng tôi gặp Tằng A Pẩu, tác giả của nhiều bức hình đẹp về thiên nhiên Việt Nam. Anh đang đứng ngắm hai con cú trên cành cây thấp ngay gần đường đi, chỉ cách mắt người 20 mét. “Hai con này dạn quá, chúng tự nhiên nô giỡn với nhau một lúc lâu mà không sợ người”, anh nói và cho chúng tôi xem bộ máy ảnh đặc dụng chụp chim hơn 5 chiếc lúc nào cũng sẵn sàng, tùy cảnh huống mà sử dụng. Anh coi Nam Cát Tiên như ngôi nhà thứ hai của mình.
Ngoài nổi tiếng về các loài chim quý, Cát Tiên còn nổi tiếng về hệ động vật với 113 loài thú, 159 loài cá nước ngọt, 109 loài bò sát, 41 loài lưỡng cư và 450 loài bướm. Trong đó có tới 43 loài thú đang bị đe dọa tuyệt chủng trong nước và trên toàn cầu với 38 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam.
Đây là khu rừng nhiệt đới ẩm duy nhất còn sót lại tại miền Nam Việt Nam, nó đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết khí hậu cho vùng Tây Nguyên và Nam bộ. Vườn quốc gia Cát tiên là “báu vật” thiên nhiên của Việt Nam, đặc biệt khi còn là ngôi nhà của con tê giác Java một sừng cuối cùng của Việt Nam. Tháng 10-2011, loài tê giác Java đã chính thức tuyệt chủng tại Việt Nam.
Người ta tìm thấy nó khi xác đã bắt đầu phân hủy và bị cắt sừng, nay chỉ còn bộ xương trưng bày trong bảo tàng của khu bảo tồn. Anh nhân viên khu bảo tồn ngậm ngùi: “Chưa ai nhìn thấy nó ngoài hình ảnh chụp từ bẫy chụp hình của chuyên gia thế giới đặt trong rừng sâu, thế mà kẻ trộm cũng tìm ra nó và bắn chết được. Giống như khi anh chị đeo trên cổ viên kim cương hơn 1 tỉ đồng, số phận nguy hiểm khó lường”.
Những viên kim cương ít ỏi của rừng cũng đang bị dọa đánh cắp. Không chỉ tê giác, voi, hổ, tê tê và gấu, cu li, voọc... của Việt Nam cũng đang trong danh sách bị đe dọa tuyệt chủng.
“Loài vật cần được sống ngoài thiên nhiên hoang dã nơi chúng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và điều tiết sức khỏe của rừng. Nhưng kẻ thù lớn nhất của con vật là gì?” - anh Sơn, nhân viên ở đây hỏi đám trẻ đoàn chúng tôi - “Chính là con người”, chúng trả lời. Trên đường về, chúng bảo nhau: “Giá mà các con vật trong rừng đều giỏi võ để đánh lại thợ săn thì hay biết mấy!”. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 13/8) đầu trang(
Trong hai ngày 11 và 12-8, tại TP Hồ Chí Minh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cơ quan Quản lý Cites Việt Nam tổ chức Hội thảo “Hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua cập nhật quy định về buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp và nhận biết cách che giấu các sản phẩm này trong vận chuyển”.
Tại hội thảo, Cơ quan Quản lý Cites Việt Nam cho biết, trong năm 2015, có 1.175 cá thể tê giác đã bị giết hại trên toàn thế giới, tăng gấp nhiều lần so với con số 13 cá thể bị giết hại được ghi nhận năm 2007. Hiện, số tê giác châu Á, châu phi chỉ còn khoảng 29 nghìn cá thể.
Hội thảo còn cập nhật tình hình buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp tại Việt Nam và thế giới, tổng quan các quy định của Cơ quan Quản lý Cites, Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2015: bước tiến lớn trong việc bảo vệ động vật hoang dã, chia sẻ kinh nghiệm chống tội phạm buôn bán động vật hoang dã, các hình thức vận chuyển động vật hoang dã bất hợp pháp…
Các đại biểu dự hội thảo còn có một ngày đi thực tế tại Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi và tìm hiểu cách thức nhận diện các loại động vật hoang dã, quy trình xử lý vi phạm khi buôn bán động vật hoang dã theo pháp luật Việt Nam. (Báo Lai Châu 12/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Không những mập mờ trong việc giải quyết kê khai đất rừng cho gia đình ông Đặng Hoàng Chương (thôn Xuân Quý 2, xã Bình Quý), ông Phan Văn Sau nguyên Chủ tịch UBND xã Bình Quý còn “bật đèn xanh” cho hai người dân ở tỉnh khác phá hoại rừng keo của gia đình ông Chương. Mặc dù sau đó, UBND huyện này đã có chỉ đạo giải quyết, nhưng đến nay sự việc vẫn dậm chân tại chỗ, khiến người dân bức xúc.
Vừa qua Báo PLVN nhận được đơn của ông Đặng Hoàng Chương (thôn Xuân Quý 2, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), phản ánh về việc xã Bình Quý mập mờ trong việc kê khai đất rừng làm sổ đỏ cho gia đình ông. Ngoài ra xã còn “bật đèn xanh” cho hai người dân ở địa phương khác chặt phá rừng trồng của gia đình ông.
“Tôi có khu rừng tên gọi là rừng Mít, tọa lạc tại tổ 19, thôn Xuân Quý 2, xã Bình Quý với diện tích 16,285m2 tại thửa số 533, tờ bản đồ số 1 do ông cha để lại và từ năm 2005, tôi cải tạo trồng cây bạch đàn và cây keo. Đến năm 2008, Nhà nước có chủ trương chung là các chủ rừng lâu năm được kê khai để cấp sổ đỏ. Do đó, ngày 3/3/2008 được sự thông báo của UBND xã Bình Quý, nên tôi đi cùng đoàn đo đạc của huyện, xã và thôn đến địa điểm đất rừng của tôi để kiểm kê diện tích.
Hôm sau (4/3/2008), Chủ tịch xã Bình Quý, đoàn đo đạc của huyện cùng cán bộ địa chính đã xác nhận và lập hồ sơ với diện tích rừng cho gia đình tôi để cấp sổ đỏ. Đến ngày 10/3/2008, ông Trần Văn Thảo (trưởng đoàn đo đạc) đưa cho tôi xem một tờ giấy đề nghị xin kê khai rừng giúp ông Đặng Xuân Huấn và Đặng Xuân Dũng nào đó.
Tuy nhiên, không có nội dung và địa điểm kê khai rừng ở đâu, diện tích bao nhiêu, ở tờ bản đồ nào? Giấy này còn được ông Phan Văn Sau - Chủ tịch UBND xã Bình Quý xác nhận ngày 6/3/2008. Nghi ngờ, tôi hỏi lại thì ông Thảo nói cứ kê khai giúp, đây là khu rừng Mít”, ông Chương cho biết.
Cũng theo ông Chương, từ việc ông ký xác nhận kê khai rừng cho ông Huấn và ông Dũng, nên có thể đã “vô tình” xác nhận cho hai ông này vào đúng diện tích đất rừng của mình,, nên đến nay gia đình ông chưa được cấp sổ đỏ? Do đó, từ tháng 1/2013, ông Huấn và ông Dũng đã “vô tư” phá hoại rừng keo của gia đình ông.
Không những “mập mờ” trong việc kê khai đất rừng và làm sổ đỏ cho người dân, lãnh đạo xã Bình Quý còn “tiếp tay” cho hai người dân sống ở tỉnh khác để phá hoại rừng keo của gia đình ông Chương. Mặc cho huyện Thăng Bình đã nhiều lần có văn bản chỉ đạo giải quyết, nhưng đến nay lãnh đạo xã Bình Quý vẫn “phớt lờ”, khiến người dân không khỏi bức xúc.
Được biết, sau khi được ông Phan Văn Sau - Chủ tịch xã Bình Quý ký xác nhận giấy đề nghị kê khai rừng, ông Huấn và Dũng đã công khai chặt phá 11.600 cây keo của gia đình ông Chương từ tháng 1/2013. Mặc dù ngay sau khi sự việc xảy ra, ông Chương đã báo lên lãnh đạo xã Bình Quý, nhưng phải đến ngày 18/12/2013, mới có cán bộ xã xuống kiểm tra, nhưng lại không hê lập biên bản và xử lý .
Theo đó, ông Chương tiếp tục gửi đơn khiếu nại thì ngày 23/4/2014, UBND huyện Thăng Bình đã có Văn bản số 55/UBND-VP và số 212/UBND-VP, ngày 19/11/2014 đề nghị UBND xã Bình Quý giải quyết khiếu nại của ông Chương, báo cáo kết quả lên UBND huyện trước ngày 30/5/2014. Nhưng mãi ngày 5/11/2014, xã Bình Quý mới có biên bản giải quyết việc chặt phá rừng và hồ sơ đo đạc đất rừng để làm sổ đỏ cho ông Chương.
Ngày 4/12/2014, UBND xã Bình Quý ra Quyết định số 200/QĐ-UBND giải quyết đơn khiếu nại của ông Chương, tuy nhiên kết quả không đúng và không khớp với kết quả đo đạc năm 2008. Đồng thời nội dung quyết định còn đổ lỗi và cho rằng, lúc kê khai không có mặt ông Chương mà chỉ có mặt ông Huấn và ông Dũng đứng tên kê khai?
“Việc giải quyết của UBND xã Bình Quý là bất nhất, đã làm sai còn cố tình bảo vệ ông Huấn, ông Dũng và đổ lỗi cho tôi. Trong khi kết quả đo đạc trước đó, ông Sau là người kí xác nhận cho tôi”, ông Chương bức xúc nói.
Báo PLVN đề nghị UBND huyện Thăng Bình vào cuộc chỉ đạo giải quyết dứt điểm khiếu nại của ông Chương theo quy định của pháp luật, có hình thức xử lý đối với lãnh đạo xã Bình Quý khi để sự việc khéo dài.(Pháp Luật VN 15/8) đầu trang(
Vừa qua, tại Thanh Hóa, Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức hội thảo “Triển khai ứng dụng theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp (Formis) tại 25 tỉnh”.
Ông Tapio Lepannen, cố vấn trưởng dự án Formis II cho biết, dự án "Phát triển hệ thống thông tin quản lý ngành Lâm nghiệp tại Việt Nam giai đoạn II (Formis II) là hệ thống quản lý thông tin hiện đại, có quy mô tương tự như những hệ thống tiên tiến hàng đầu đang được áp dụng rộng rãi ở châu Âu, đặc biệt là khu vực Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan. Mục tiêu của Formis II là tiến tới xây dựng một hệ thống quản lý thông tin tích hợp hoàn thiện (Mis) nhằm phục vụ công tác quản lý tài nguyên lâm nghiệp, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo trong sự nghiệp phát triển KT-XH của Việt Nam.
Được biết, giai đoạn I của dự án Formis triển khai từ năm 2009 - 2013, giai đoạn II kéo dài trong 5 năm tiếp theo (2013 - 2018). Kinh phí thực hiện do Chính phủ 2 nước Phần Lan và Việt Nam tài trợ, Cty Niras Finland Oy chịu trách nhiệm tư vấn chính, liên danh cùng với Cty GFA và Green Field Development cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật. Sau 3 năm triển khai, dự án Formis II đã đạt được những kết quả khá khả quan, từng bước thay đổi nhận thức về xây dựng hệ thống thông tin lâm nghiệp xuyên suốt từ cấp Trung ương xuống từng địa phương. Dự án đã xây dựng thành công các quy trình, tiêu chuẩn và cơ chế trao đổi thông tin giữa các đơn vị trên phạm vi cả nước. Formis II đang thực hiện quá trình chuẩn hóa cơ sở dữ liệu toàn ngành lâm nghiệp để đưa vào dữ liệu chuẩn của hệ thống.
Bên cạnh đó, dự án sẽ tập trung triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ từ cấp cơ sở đến trung ương, từ đó giúp cho các đơn vị chủ động hơn trong công tác quản lý diễn biến rừng và đất lâm nghiệp. Năm 2015 tỉnh Đăk Lăk được Tổng cục Lâm nghiệp lựa chọn để triển khai thí điểm thực hiện phần mềm theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp. Nhờ vận dụng các yếu tố vượt trội của hệ thống mới, địa phương đã nhanh chóng rà soát chi tiết hiện trạng để làm cơ sở thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong những năm tiếp theo...
Phát biểu tại hội thảo, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Thanh Hóa, Hà Giang, Lai Châu hay Quảng Ninh đều đánh giá cao tính ưu việt của hệ thống quản lý, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp. Đến 31/5/2016, hệ thống Formis II đã tích hợp thành công dữ liệu kiểm kê rừng của các tỉnh Đăk Lăk, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Nông, Lâm Đồng, Cà Mau, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu và Kiên Giang. Dự kiến trong tháng 8/2016, sẽ tiếp tục triển khai tại 25 tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và khu vực duyên hải Bắc Trung bộ. Trong năm 2017 sẽ áp dụng thêm tại 20 tỉnh.
Kết luận hội thảo, ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp khẳng định, với tình hình hiện nay việc theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp bằng hệ thống phần mềm Formis là điều kiện bắt buộc, nhất thiết các địa phương đã được tích hợp dữ liệu rừng phải nhanh chóng áp dụng. (Nông Nghiệp VN 15/8) đầu trang(
UBND tỉnh vừa phê duyệt đơn giá trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh (Quyết định số 1409/QĐ-UBND ngày 12/8/2016).
Đơn giá này áp dụng cho các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác không phải lâm nghiệp nhằm mục đích kinh doanh như công trình thủy điện, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản, khu công nghiệp, nhà máy, du lịch sinh thái...
Định mức trồng và chăm sóc 01 ha là 53.590.000 đồng/ha gồm chi phí lâm sinh, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí quản lý. Tùy vào tình hình cụ thể lập địa nơi trồng rừng mà chọn loài cây trồng, mật độ trồng cho phù hợp. Nếu chi phí vật tư (cây giống, phân bón) tăng thì giảm chi phí nhân công và ngược lại, đảm bảo chi phí lâm sinh không vượt quá đơn giá nêu trên.
Đơn giá này là căn cứ để các chủ dự án lập dự toán trồng rừng thay thế trên địa bàn, hoặc xác định số tiền phải nộp về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh trong trường hợp không có điều kiện tự tổ chức thực hiện trồng rừng thay thế theo quy định.
Quyết định có hiệu lực từ ngày 12/8/2016. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lạng Sơn 12/8) đầu trang(
Ngày 26-5-2016, UBND tỉnh đã ra các Quyết định số 160, 162, 163, 164, 165/QĐ-UBND phê duyệt cho 4 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Chiêm Hóa, Tuyên Bình, Yên Sơn, Sơn Dương xây dựng phương án chuyển đổi thành Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, thời gian thực hiện năm 2016 - 2017; Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, thời gian cổ phần hóa doanh nghiệp năm 2016 - 2017.
Qua đánh giá của tổ chức FCS (Hội đồng quản trị rừng quốc tế) cuối tháng 5 vừa qua, cả 5 công ty lâm nghiệp này đều đủ điều kiện cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững với diện tích được cấp trên 11.000 ha và sẽ được cấp chứng chỉ vào tháng 9 năm nay.
Tuy nhiên theo các công ty lâm nghiệp, trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, đổi mới hoạt động, các đơn vị cũng đang gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Hầu hết các công ty chưa được đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, dễ phát sinh tranh chấp và gây vướng mắc cho công tác xác định giá trị doanh nghiệp.
Việc xác định giá trị rừng trồng, vườn cây để sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty gặp nhiều khó khăn vì bản thân các công ty khó xác định được giá trị tài sản hiện có đảm bảo theo đúng yêu cầu. Việc rà soát, lập phương án sử dụng đất, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, lập bản đồ địa chính cũng vướng mắc, do hiện tại các công ty đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, hồ sơ mốc giới lại chưa được thực hiện.
Thêm vào đó, chi phí để sắp xếp, chuyển đổi theo quy định không đáp ứng được công việc thực tế hiện nay; việc giải quyết diện tích đất bị lấn chiếm còn nhiều khó khăn.
Bà Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương chia sẻ, đề án sắp xếp đổi mới công ty đã được phê duyệt từ cuối tháng 5, tuy nhiên, hiện đơn vị đang gặp một số khó khăn như chưa hoàn thành đo vẽ, cắm mốc, xác định ranh giới giao đất trên thực địa; chưa hoàn thành kiểm kê từng lô rừng để xác định giá trị kinh tế... Đơn vị xác định từ nay đến hết năm, phần việc còn lại là rất nhiều, nhưng đơn vị sẽ dốc sức, tập trung hoàn thành các phần việc theo quy định.
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình được giao quản lý 1.850,2 ha đất lâm nghiệp. Sau khi được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Công ty đã xác định được ranh giới đất giữa đơn vị với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là với các hộ dân, thuận lợi cho việc xử lý các trường hợp lấn chiếm đất đai, tài nguyên rừng.
Từ năm 2006 đến nay, Công ty đã tổ chức khoán liên doanh trồng rừng sản xuất trên diện tích đất công ty được giao, được thuê với cán bộ, công nhân của công ty và người dân trên địa bàn với diện tích 1.253,6 ha. Việc liên doanh, liên kết trồng rừng sản xuất đã gắn được quyền lợi và trách nhiệm của công ty với người lao động đến sản phẩm cuối cùng. Sản lượng rừng trồng ngày càng được nâng cao, rừng đã có chủ thực sự, tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng trồng được hạn chế tối đa.
Bắt tay vào sắp xếp, đổi mới, công ty lựa chọn phương án sắp xếp, đổi mới thuộc loại hình 2 thành viên trở lên, vì mô hình này phù hợp với điều kiện thực tế cũng như đội ngũ cán bộ, công nhân đang làm việc tại Công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh để gắn kết phát triển vùng nguyên liệu và người dân trong vùng với phát triển chế biến và thị trường; đảm bảo quyền lợi của người lao động; huy động được nguồn vốn đầu tư của tập thể, cá nhân cùng góp vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Hiện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đã chốt phương án về ngành nghề sản xuất kinh doanh, đất đai, quản lý sử dụng rừng, vốn, lao động, việc ứng dụng khoa học công nghệ, thị trường và tổ chức bộ máy.
Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình - anh Nguyễn Hồng Thái cho biết, một trong những mục tiêu quan trọng của công ty trong thời gian tới là xây dựng phương án quản lý rừng bền vững với diện tích đất được giao, được thuê. Trong đó, Tuyên Bình lựa chọn loài cây keo là cây trồng chính, tập trung vào giống keo lai sản xuất bằng phương pháp giâm hom và phương pháp nuôi cấy mô để rút ngắn chu kỳ kinh doanh, hiệu quả kinh tế cao hơn.
Phấn đấu đến 2020, diện tích keo lai chiếm 80% diện tích rừng của công ty. Đồng thời, đơn vị phấn đấu cấp chứng chỉ rừng cho khoảng 1.000 ha và xây dựng diện tích này vào kinh doanh cây gỗ lớn kết hợp kinh doanh gỗ nguyên liệu.
Sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn then chốt. Quan trọng nhất, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xác định được mục tiêu trọng tâm là tăng giá trị, tăng thu nhập từ việc quản lý, sử dụng hiệu quả rừng và đất rừng, từ đó tạo bước chuyển về chất trong hoạt động sản xuất kinh doanh. (Báo Tuyên Quang 12/8) đầu trang(
Sau 3 năm triển khai Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự đồng thuận cao của nhân dân, do đó đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong công tác huy động nguồn thu ngoài Nhà nước và huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương, từng bước nâng cao nhận thức, thu nhập, chất lượng cuộc sống cho người làm nghề rừng.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 72 dự án thủy điện vừa và nhỏ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, tổng công suất 768 MW. Trong đó, có 22 nhà máy thủy điện đi vào hoạt động, công suất hàng năm khoảng 354 MW, mỗi năm đóng góp hơn 30 tỷ đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Tổng số tiền được ủy nhiệm chi từ năm 2013 đến 2016 trên 179 tỷ đồng, số tiền đã thanh toán cho các chủ rừng, cộng đồng, hộ nhận khoán bảo vệ rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng trên 132 tỷ đồng.
Việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có tác động rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi toàn tỉnh. Nhờ triển khai tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, thu nhập thực tế của các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng đã có những cải thiện rõ rệt, có những hộ thu nhập tiền dịch vụ môi trường rừng đạt từ 1-2 triệu đồng/năm, cá biệt có những hộ thu nhập 15 triệu đồng/năm.
Tại một số nơi, đơn giá chi trả bình quân trên 1 ha rừng đạt cao, cao hơn cả mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho công tác bảo vệ rừng là 200.000 đ/ha/ năm. Tiêu biểu như: Lưu vực nhà máy thủy điện Thái An, nhà máy thủy điện Nho Quế III có đơn giá chi trả đạt từ 260.000đ đến 439.0000đ/ha/năm. Nhờ triển khai tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, thu nhập thực tế bình quân của các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng đã có những cải thiện rõ rệt người dân đã gắn bó với việc bảo vệ và phát triển rừng hơn trước.
Qua đó, đã góp phần vào việc phát triển thêm diện tích rừng trên địa bàn tỉnh, và cải thiện cân bằng hệ sinh thái, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường sống. Có thể thấy, việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trong thời gian qua đã có tác động tích cực đến công tác quản lý bảo vệ rừng trên phạm vi toàn tỉnh nói chung và ở từng địa bàn, lưu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng nói riêng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 12/8) đầu trang(
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tổ chức sơ kết 3 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013- 2015; khen thưởng cho những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc.
Chính sách chi trả DVMTR là một chính sách tạo ra cơ chế dich vụ chi trả giữa những người sử dụng các DVMTR và những người cung ứng DVMTR, nhằm xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, phát huy các gia trị kinh tế của MTR trong hoàn cảnh nguồn tài nguyên gỗ rừng tự nhiên đã cạn kiệt và nguồn ngân sách Nhà nước hằng năm đầu tư cho công tác bảo vệ rừng còn hạn chế.
Qua 3 năm thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh, bước đầu đã tạo bước chuyển biến tích cực trong việc huy động các nguồn lực xã hội để phục vụ cho việc bảo vệ và phát triển rừng, góp phần cải thiện sinh kế cho người làm rừng ở khu vực miền núi.
Đến nay, đã thực hiện chi trả cho gần 19.000ha rừng được bảo vệ bằng nguồn vốn từ xã hội hóa, chiếm trên 20% tổng diện tích quản lý bảo vệ rừng toàn tỉnh.
Tạo điều kiện tham gia cung ứng DVMTR cho 140 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân; 19 chủ rừng là hộ dân cư; 5 chủ rừng là tổ chức Nhà nước và 1 chủ rừng là Công ty Lâm nghiệp, thực hiện giao khoán cho gần 14.000 hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng.
Khu vực chi trả cao nhất là 1,3 triệu đồng/ha/năm, tương ứng với mức thu nhập của 1 hộ gia đình tại khu vực này là 6,12 triệu đồng/năm (lưu vực Hà Nang); lưu vực cho đơn giá chi trả thấp nhất là 79.000 đồng/ha/năm, tương ứng với mức thu nhập của 1 hộ gia đình tại khu vực này là 1,1 triệu đồng/năm (lưu vực Nước Trong).
Việc thực hiện chính sách đã góp phần bảo vệ, phát triển rừng bền vững, tăng khả năng phòng hộ của rừng, điều hòa khí hậu, lưu giữ và cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện cũng như sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trên địa bàn tỉnh, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của từng địa phương.
Dịp này, Sở NN&PTNT đã khen thưởng cho 1 tập thể và 8 cá nhân cho thành tích xuất sắc trong việc thực hiện cung ứng DVMTR. (Báo Quảng Ngãi 13/8) đầu trang(
Từ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã mang lại hiệu quả thiết thực về kinh tế, môi trường, đặc biệt là công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn các xã vùng cao huyện Sìn Hồ.
Chính sách chi trả DVMTR góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Trước đây, công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ở các địa phương gặp rất nhiều khó khăn do nhận thức của người dân hạn chế, coi bảo vệ rừng là công việc của lực lượng kiểm lâm nên tình trạng chặt phá rừng lấy củi, đốt nương làm rẫy thường xuyên xảy ra.
Từ khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR, rừng được giao cho các nhóm hộ ở các bản trông coi, quản lý. Người dân dần hiểu lợi ích từ rừng và tự giác hơn trong công tác bảo vệ rừng. Đến nay, hầu hết các bản xây dựng quy ước, hương ước bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhờ đó, tình trạng phá rừng, cháy rừng giảm, tỷ lệ che phủ rừng ở khu vực các xã vùng cao của huyện Sìn Hồ duy trì ở mức 29%.
Tính đến thời điểm này, các nhóm hộ trên địa bàn các xã vùng cao của huyện Sìn Hồ nhận giao khoán, bảo vệ khoảng 23.640ha rừng. Năm 2015, Ban Quản lý rừng phòng hộ Nậm Na chi trả tổng số hơn 7.830 triệu đồng tiền DVMTR, trong đó: chi cho các nhóm hộ trên 6.390 triệu đồng; chi phí quản lý điều hành của Ban Quản lý rừng phòng hộ Nậm Na trên 1.440 triệu đồng.
Các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư ở các bản nhận khoán bảo vệ rừng cũng được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong những năm qua có tác động tích cực đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên phạm vi toàn huyện. Thu nhập bình quân hàng năm của các hộ từ nhận khoán bảo vệ rừng ổn định. Từ chi trả DVMTR góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện.
Anh Thào A Sự ở bản Seo Sáng (xã Tả Ngảo) nói: “Năm ngoái gia đình tôi được nhận 4 triệu đồng tiền DVMTR. Số tiền trên tôi dùng để mua lúa, ngô giống về gieo trồng, mua sách vở cho con đi học và các vật dụng sinh hoạt khác. Bây giờ cuộc sống của gia đình tôi và các hộ khác trong bản khá hơn trước. Giữ rừng là giữ nguồn nước, giữ nguồn sống cho chính người dân chúng tôi, lại được nhà nước trả tiền nên trong bản bây giờ không ai phá rừng, bản còn xây dựng quy ước bảo vệ rừng”.
Chính sách chi trả DVMTR tiếp tục mang lại hiệu quả thiết thực, ngoài Ban Quản lý rừng phòng hộ và lực lượng kiểm lâm, đã có sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền các xã trong công tác tuyên truyền. Qua đó, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các hộ, cộng đồng dân cư trong việc kiểm tra, kiểm soát, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Ông Lưu Anh Võ - Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Nậm Na cho biết: “Chính sách chi trả DVMTR đã đem lại hiệu quả thiết thực, đời sống của người dân được hưởng lợi từ rừng từng bước được nâng lên. Các nhóm hộ phối hợp tốt với Ban Quản lý rừng phòng hộ Nậm Na, Hạt Kiểm lâm huyện ngăn chặn nhiều trường hợp khai thác lâm sản, chặt phá rừng. Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng mới trồng đã được nghiệm thu (41,35ha trồng rừng phòng hộ và 122ha trồng rừng thay thế các công trình thủy điện). Phối hợp cùng lực lượng kiểm lâm huyện tuyên truyền tới các chủ nhận khoán bảo vệ rừng và chuẩn bị đất trồng rừng năm 2016 theo đúng kế hoạch”.
Ông Hoàng Ngọc Trung - Phó Chủ tịch UBND xã Sà Dề Phìn cho biết thêm: “Hiện xã có 2.100ha rừng, trong đó 1.610,3ha được Ban Quản lý dự án rừng phòng hộ Nậm Na chi trả tiền DVMTR. Sau 4 năm thực hiện chi trả DVMTR, người dân trong xã nâng cao ý thức trách nhiệm trong bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ chính sách trên mà tỷ lệ che phủ rừng của xã tăng từ 29% (năm 2011) lên 35% (năm 2016)”.
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã tạo bước đột phá trong bảo vệ và phát triển rừng ở các xã vùng cao của huyện Sìn Hồ, góp phần giảm thiểu việc mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, đặc biệt góp phần giữ nguồn nước cho các công trình thủy điện trên địa bàn. (Báo Lai Châu 12/8) đầu trang(
Bất cứ diễn biến rừng nào từ 1/1/2016 đến nay đều có thể cập nhật ngay vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Đến hết năm 2016, hoàn toàn có thể có dữ liệu hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp để công bố ngay vào đầu năm 2017.
Tại hội nghị “Triển khai ứng dụng theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp” do Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) tổ chức tại Thanh Hóa ngày 12/8, ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, việc triển khai phần mềm ứng dụng theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp mới này sẽ cho phép hằng ngày có thể cập nhật diễn biến rừng.
Bất cứ một diễn biến mới nào của rừng, một diện tích, một lô rừng nào thay đổi trạng thái do cháy rừng, phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng… đều có thể cập nhật trực tuyến.
Những năm vừa qua, việc cập nhật diễn biến rừng và đất lâm nghiệp thường được thực hiện vào năm sau đó. Các tỉnh nộp báo cáo lên Bộ NN&PTNT trước ngày 31/3 hằng năm. Bộ sẽ tổng hợp và công bố diện tích rừng của năm trước đó vào tháng 6 hằng năm.
“Với phần mềm mới này sẽ không còn công việc như vậy nữa. Bất cứ diễn biến rừng nào từ 1/1/2016 đến nay đều có thể cập nhật ngay vào cơ sở dữ liệu. Đến hết năm 2016, hoàn toàn có thể có dữ liệu hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của năm nay để công bố ngay vào đầu năm 2017”, ông Nguyễn Bá Ngãi nói.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, hiện đã có 40/60 tỉnh, thành phố với 5,63 triệu lô rừng của 830.000 chủ rừng đã được cập nhật vào hệ thống theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp. Trong năm nay sẽ cập nhật tiếp 20 tỉnh, thành phố còn lại.
Hệ thống theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp được xây dựng qua Dự án Phát triển hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam - giai đoạn II (FORMIS II) nhằm hỗ trợ Tổng cục Lâm nghiệp trong việc theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp.
Hệ thống sẽ lưu trữ, cũng như quản lý và khai thác hiệu quả dữ liệu điều tra kiểm kê rừng toàn quốc và các dữ liệu theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trong bộ cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng quốc gia.
Mọi diễn biến về rừng và đất lâm nghiệp như hoạt động, rủi ro, diễn biến sử dụng đất và quyền sở hữu rừng sẽ được cập nhập liên tục vào hệ thống cơ sở dữ liệu điều tra kiểm kê rừng toàn quốc; đưa ra thông tin cập nhật về tài nguyên rừng bằng cách cung cấp báo cáo về hiện trạng và diễn biến rừng.
Báo cáo này sẽ hỗ trợ cho mục đích thống kê, xây dựng chiến lược, kế hoạch cho phát triển rừng, bảo vệ tài nguyên rừng. (Chính Phủ 12/8) đầu trang(
“Chính quyền và lực lượng chức năng phải hỗ trợ nông dân sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ rừng trồng; không can thiệp quá sâu vào việc trồng và tiêu thụ lâm sản trên diện tích rừng kinh tế” – ông Vũ Đức Thuận- Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Sơn La, bảo vậy.
Đến với những cánh rừng mới trồng trong 3 năm trở lại đây thuộc 2 huyện Vân Hồ và Mộc Châu của tỉnh Sơn La, thấy cây rừng phát triển tốt, tỷ lệ sống rất cao và đặc biệt là người dân không còn xâm hại diện tích rừng nữa.
Nói về hiệu quả này, ông Đào Mạnh Phong-Hạt trưởng Kiểm lâm Mộc Châu, cho biết: Chúng tôi đã tuyên truyền để nông dân nhận thức được vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của nông dân khi tham gia bảo vệ và phát triển vốn rừng. Khi người dân ý thức được vấn đề thì họ chuyển từ hành động ép buộc sang tự giác nên hiệu quả cao và có tính bền vững.
Cách để Mộc Châu huy động sức dân trồng và bảo vệ rừng chính là trao quyền chủ động cho người dân trong việc trồng và sử dụng sản phẩm. Ông Lò Văn Quán, dân bản Ta Niết, bảo rằng: Khi hạt kiểm lâm huyện vận động chúng tôi giao lại đất lâm nghiệp mà chúng tôi đã chiếm dụng để làm nương thì họ không phạt mà chỉ hướng dẫn chúng tôi thực hiện trồng rừng và hỗ trợ chúng tôi cây giống.
“Cán bộ bảo ai trồng cây gì thì sau này hưởng lợi từ cây ấy, không ép chúng tôi về chủng loại cây giống, mật độ cây trồng và cách thức tiêu thụ sản phẩm. Nhà tôi cũng có hơn 3.000m2 đất nương nằm trong diện tích đất lâm nghiệp và tôi đã trồng hơn 200 cây xoan và hoa ban. Hoa ban tôi trồng ở gần nhà để làm đẹp, còn xoan thì chỉ sau 3 năm nữa là tôi được bán gỗ. Bán gỗ xong lại trồng tiếp. Vừa giữ được rừng, vừa có nguồn thu”.
Nói về cách huy động sức dân trồng và bảo vệ rừng của Mộc Châu, ông Vũ Đức Thuận, cho biết: Đó là cách làm đúng đắn và sáng tạo. Thực tế qua kiểm kê rừng vừa qua, toàn tỉnh Sơn La có tới 318.000ha đất lâm nghiệp chưa có rừng. Kiểm lâm đang tham mưu cho tỉnh chuyển diện tích đất này sang làm rừng sản xuất, giao cho nông dân trồng, quản lý, bảo vệ và khai thác sản phẩm.
“Có một thực tế là trong thời gian vừa qua, chính quyền can thiệp quá sâu vào quá trình trồng cũng như khai thác, sử dụng sản phẩm lâm nghiệp nên chưa thật sự khích lệ được người trồng rừng. Bây giờ sẽ phải thay đổi, chính quyền chỉ là người định hướng, hỗ trợ người dân trồng rừng và đưa ra những cảnh báo khi cần thiết. Còn nông dân chính là chủ rừng, họ có quyền quyết định trồng loại cây gì, mật độ ra sao, khai thác khi nào… Như vậy, họ mới thực sự là chủ rừng và quyền đó giúp họ yêu quý rừng hơn”.
Để nâng cao năng lực hỗ trợ, định hướng người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng, ông Thuận cũng cho biết: Chúng tôi đã xây dựng danh mục với 56 loại cây trồng có lợi ích kinh tế cao và phù hợp với điều kiện thực tế lâm nghiệp của Sơn La để người dân lựa chọn. Đồng thời chi cục cũng đã kiến nghị với tỉnh, với trung ương về việc tăng cường phụ cấp cho cán bộ lâm nghiệp cấp xã để nâng cao khả năng bám sát địa bàn và hiệu quả hoạt động của cán bộ lâm nghiệp ở cơ sở. (Dân Việt 13/8) đầu trang(
Từ ngày 19/8 đến ngày 31/8/2016 huyện An Lão bắt đầu thực hiện Kế hoạch kiểm tra, phân loại các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện.
Mục đích của việc kiểm tra lần này là đánh giá phân loại các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp theo Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trong đó, tập trung kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ giống cây trồng lâm nghiệp; các điều kiện pháp lý về sản xuất, kinh doanh giống cây trồng theo quy định của Nhà nước; nâng cao công tác quản lý Nhà nước của chính quyền các cấp về giống cây trồng lâm nghiệp; trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh cây giống trên địa bàn huyện trong việc cung ứng cây giống trên thị trường; giúp UBND huyện chỉ đạo chặt chẽ trong công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực giống cây trồng.
Yêu cầu của đợt kiểm tra là thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, đảm bảo chất lượng và đúng tiến độ quy định.
Được biết, hiện nay trên địa bàn huyện An Lão có 08 cơ sở và 05 hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp, tình trạng mua bán giống cây lâm nghiệp không rõ nguồn gốc vẫn còn diễn ra phổ biến. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Định 12/8) đầu trang(
Ông Vũ Đức Thuận, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La cho biết: Qua thống kê, trên địa bàn tỉnh có 318.668ha đất lâm nghiệp sử dụng không đúng mục đích. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm chủ yếu được sử dụng để trồng ngô, cà phê và các cây nông nghiệp khác.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm lấn rừng, đất lâm nghiệp chủ yếu do nhu cầu về đất ở, đất sản xuất tăng cao. Đặc biệt, tại những vùng đồng bào dân tộc, nhiều hộ sống phụ thuộc vào rừng như ở vùng cao các huyện Bắc Yên, Phù Yên, Mộc Châu, Thuận Châu, Mường La. Nhiều diện tích rừng ở những vùng này bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trong thời gian dài nên việc thu hồi gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận người dân.
Theo ông Nguyễn Văn Kỳ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mai Sơn, diện tích đất rừng bị xâm lấn để trồng cây công nghiệp, nông nghiệp tại địa bàn huyện Mai Sơn khá nhiều. Mai Sơn hiện có gần 36.000ha đất lâm nghiệp sử dụng không đúng mục đích. Đa phần diện tích bị xâm lấn là diện tích tồn đọng từ các năm trước, người dân xâm lấn để sản xuất nên việc thu hồi gặp rất nhiều khó khăn.
Tỉnh Sơn La đã quy hoạch 3 loại rừng với tổng diện tích trên 934.000ha, chiếm tỷ lệ 66% tổng diện tích tự nhiên của địa phương. Trong đó quy hoạch rừng đặc dụng trên 62.987ha; Quy hoạch rừng phòng hộ 423.992ha; Quy hoạch rừng sản xuất 447.06 ha. Như vậy tiềm năng về diện tích đất để đầu tư các dự án trồng và bảo vệ rừng tại tỉnh rất lớn.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh đang rà soát cụ thể biến động đất đai để có phương án xử lý phù hợp, đồng thời từng bước thu hồi đất lâm nghiệp đang sử dụng sai mục đích, góp phần tăng độ che phủ của rừng, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng. (Công An Nhân Dân 15/8) đầu trang(
Xung quanh việc hàng loạt biệt thự xây dựng không phép ở khu Điền Viên Thôn và những sai phạm tại khu nghỉ dưỡng Le Mont Bavi Resort & Spa Vườn Quốc gia Ba Vì, đến nay đã hơn 5 tháng sau ngày cơ quan chức năng ký quyết định thanh tra nhưng chưa công bố kết luận.
Ngày 12/8, trả lời câu hỏi của phóng viên vì sao quyết định thanh tra về quản lý đất đai, quản lý trật tự xây dựng khu Điền Viên Thôn, ở khu rừng Mu đã hơn 5 tháng nhưng chưa được công bố? Ông Bạch Công Tiến, Chủ tịch UBND huyện Ba Vì cho biết, vấn đề này là của thành phố, vì quyết định thanh tra do thành phố thực hiện.
“Theo tôi được biết, kết luận thanh tra về sai phạm tại khu Điền Viên Thôn chắc là đã được ký ban hành nhưng việc này phải báo cáo với Thường trực Thành ủy và UBND thành phố để thống nhất văn bản cuối cùng. Định hướng cụ thể là giao cho Sở TN&MT chủ trì, bàn bạc với huyện trong việc giải quyết hậu quả”, ông Tiến nói.
Ông Tiến cho biết, sai phạm cụ thể ở đây đã được chỉ rõ là xây dựng không phép, mua bán đất bất hợp pháp. Khu vực này vừa là đất ở, vừa là đất nông nghiệp, còn quy hoạch là đất ở nông thôn từ trước 2010. Trả lời câu hỏi liệu có đập bỏ gần 60 biệt thự xây dựng không phép tại khu Điền Viên Thôn không, ông Tiến cho hay, việc này sẽ do Sở TN&MT chủ trì. “Bây giờ nếu nó đúng quy hoạch rồi thì việc xử lý thế nào phải thêm một bước nữa, huyện sẽ chấp hành ý kiến chỉ đạo ở trên”, ông Tiến khẳng định.
Trước đó, ngày 8/3/2016, Thanh tra thành phố Hà Nội quyết định thanh tra việc chức trách, nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân có liên quan để xảy ra vi phạm các quy định về quản lý đất đai, quản lý trật tự xây dựng tại khu rừng Mu, thôn Chóng, xã Yên Bài (huyện Ba Vì).
Theo quyết định, đoàn thanh tra liên ngành gồm 12 thành viên, do ông Nguyễn An Huy, Phó Chánh Thanh tra thành phố làm trưởng đoàn. “Thời hạn thanh tra theo luật định là 45 ngày, chỉ tính những ngày làm việc, nhưng khối lượng công việc rất nhiều. Hiện đã có kết luận rồi nhưng chưa công bố”, một vị cán bộ Thanh tra thành phố cho hay.
Liên quan đến kết luận thanh tra khu nghỉ dưỡng Le Mont Bavi Resort & Spa xây không phép tại Vườn Quốc gia Ba Vì, đại diện Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho hay, đã có kết luận của vụ việc này, nhưng chưa thể công bố. “Dự thảo kết luận thanh tra đã gửi Ban cán sự Đảng Bộ NN&PTNT xin ý kiến. Lúc nào có ý kiến Ban cán sự thì chúng tôi thông báo công bố”.
Trước đó, tháng 3/2016, báo chí và dư luận phản ánh dự án Le Mont Bavi Resort & Spa do Công ty TNHH phát triển công nghệ (CFTD) làm chủ đầu tư, tọa lạc ở độ cao 600m (cốt 600) giữa Vườn Quốc gia Ba Vì (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì) xây khu nghỉ dưỡng 4 sao bề thế, với hàng chục khách sạn, biệt thự, bể bơi… không phép. Sau đó Bộ NN&PTNT đã công bố quyết định thanh tra ngày 4/3/2016, tổ chức thanh tra, kiểm tra làm rõ các công trình xây dựng không phép ở Vườn Quốc gia Ba Vì.
Lãnh đạo huyện Ba Vì cho biết, đang thành lập các đoàn kiểm tra rà soát những tồn tại vi phạm trước kia và đã có thống kê, phân loại cụ thể để xử lý theo mức độ. “Việc này huyện đang làm rất quyết liệt, đến nay Ba Vì đã ổn định và không để xảy ra việc sai phạm trong quản lý đất đai, hoặc vi phạm trật tự xây dựng”, lãnh đạo huyện Ba Vì nói. (Tiền Phong 13/8) đầu trang(
Sau khi bị UBND tỉnh yêu cầu đình chỉ thi công dự án hồ lắng lấy nước nuôi tôm ở huyện Thạch Hà vì xâm phạm đất rừng phòng hộ, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp Hà Tĩnh thừa nhận đây là sai sót của hệ thống, sẽ kiểm điểm cá nhân liên quan.
Tiểu dự án hồ lắng lấy nước nuôi tôm ở xóm Phúc Lộc, xã Thạch Khê (Thạch Hà, Hà Tĩnh) được lập hồ sơ quy hoạch năm 2014 trên khu đất rộng 4,7 ha. Công trình nằm trong dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh làm chủ đầu tư, với kinh phí hơn 5 tỷ đồng, nguồn vốn từ Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ.
Mục đích làm hồ chứa (gồm ao thải, ao lắng, hệ thống trạm bơm) là ở bên kia triền đê Hữu Phủ (xóm Phúc Lộc, xã Thạch Khê) có một vùng nuôi tôm của người dân với diện tích khoảng 12 ha. Hồ lắng sẽ lấy và xử lý nước từ lạch biển lên để cấp cho các hồ tôm ở phía trong đê.
Hai tuần trước, đơn vị thi công đã cho máy móc tới khu vực được quy hoạch để múc đất, cây cối. Người dân xung quanh đã phản ánh, bởi khu vực này có nhiều bãi đước. "Cây đước ở dưới khu rừng ngập mặn có tuổi đời vài chục năm, khi chặt hạ, mùa mưa lũ nước dâng cao ngập đê, gây nguy cơ ngập úng", ông Đào Viết Mai (61 tuổi, trú thôn Phúc Lộc) nói.
Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Thạch Hà Trần Đức Táo cho hay, cán bộ kiểm lâm đã kiểm tra và xác định khu đất đang làm hồ chứa nước nuôi tôm thuộc đất rừng phòng hộ (tiểu khu 285, khoảnh 2). Theo quy định, muốn làm thì phải chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất rừng phòng hộ sang đất sản xuất, sau đó chuyển đổi tiếp từ đất sản xuất sang đất nuôi trồng thủy sản mới được phép thi công.
"Chúng tôi đã lập biên bản đối với các bên liên quan vì vi phạm đất rừng phòng hộ", ông Táo nói và cho hay chủ đầu tư là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh lúc đó đã báo cáo do tính cấp thiết của dự án nên đốc thúc làm cho kịp tiến độ, chứ không hề biết vùng đất này thuộc đất rừng phòng hộ.
Hiện các đơn vị đã dừng thi công, đất đá được múc lên chất thành từng đống, những thân cây đước bị chặt trơ trọi, ngổn ngang.
Một lãnh đạo xã Thạch Khê thông tin, khi họp bàn thực hiện dự án, xã đã yêu cầu không được chặt cây đước, mà phải dời đi trồng ở vị trí khác trong khu vực đất ngập mặn, nhưng sau đó đơn vị thi công đã cho máy xúc múc và chặt cây đi. Tuy nhiên theo lãnh đạo huyện Thạch Hà và chủ đầu tư là Ban quản lý dự án ODA (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh) thì việc đốn hạ cây đước là do người dân chặt trộm, không liên quan đến đơn vị thi công.
Lý giải về việc này, đại diện các đơn vị liên quan cho hay, theo quy trình đề xuất xin dự án là đắp ao lắng, không hề tác động đến cây đước và đất thuộc rừng phòng hộ. Trong việc khảo sát này các bên đều sai, chứ không phải cố tình làm và có tư tưởng vụ lợi cá nhân.
Trao đổi với VnExpress, ông Lê Đức Nhân, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh cho biết, sau khi thấy thiếu sót, Sở đã báo cáo UBND tỉnh và được chỉ đạo dừng thi công để khắc phục.
"Cái này là lỗi sơ suất của cả hệ thống, do nhận thức đơn giản của nhiều bên cứ nghĩ là làm ao chứa nước để nuôi tôm đơn thuần, trong quy trình làm không hề phát hiện đó là đất rừng phòng hộ", ông Nhân nói và cho hay sắp tới tỉnh sẽ kiểm điểm trách nhiệm những cá nhân liên quan trọng việc này.
Sau khi tạm đình chỉ để làm rõ trách nhiệm các bên, nhà chức trách đang đưa ra hai hướng xử lý. Thứ nhất là sẽ trình UBND tỉnh Hà Tĩnh để xin phép cho chủ đầu tư tiếp tục khắc phục những thiếu sót, hoàn thiện dự án. Hướng thứ hai sẽ xin điều chỉnh thiết kế, không xây hồ lắng chứa nước để nuôi tôm để tránh ảnh hưởng đến diện tích rừng phòng hộ. (VnExpress/ Xây Dựng 13/8) đầu trang(
Với diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp chiếm 80% tổng diện tích đất tự nhiên, độ che phủ rừng trên 60%, tỉnh có tiềm năng, thế mạnh về phát triển lâm nghiệp và có sức cạnh tranh lớn về kinh tế rừng.
Để phát huy lợi thế về kinh tế rừng tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng. Đây cũng là một trong những bước triển khai thực hiện khâu đột phá phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa.
Tỉnh có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 470 nghìn ha, trong đó đất rừng sản xuất là 275 nghìn ha. Trung bình mỗi năm, toàn tỉnh trồng được gần 15.000 ha độ che phủ rừng luôn đạt trên 60%. rừng. Đây là những con số hết sức ấn tượng và Tuyên Quang được Chính phủ đánh giá là tỉnh dẫn đầu cả nước về thực hiện Chương trình 327, phủ xanh đất trống đồi trọc.
Trong 5 năm (2011-2015) sản lượng gỗ khai thác được 1.669,4 nghìn m3; tỷ trọng gỗ nguyên liệu cho chế biến đồ gia dụng, gỗ tinh chế chiếm khoảng 20%, bình quân khai thác 333,9 nghìn m3/năm. Hàng năm ngành lâm nghiệp thu hút khoảng 90.000 lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp, góp phần tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người làm nghề rừng.
Nhiều khu rừng có trữ lượng gỗ và lâm sản lớn, nhiều loại thực vật rừng quý hiếm, góp phần mang lại giá trị môi trường rất lớn cho xã hội, bảo vệ đa dạng sinh học, hạn chế thiên tai, lũ lụt, chống rửa trôi, bồi lấp sông hồ, giữ nước,...
Tuy là tỉnh có diện tích rừng lớn, nhưng đời sống của làm nghề rừng, người dân sống gần rừng, liền rừng còn nhiều khó khăn. Năng suất rừng trồng thấp, bình quân 70 m3/ha/chu kỳ 7 - 8 năm, lợi nhuận từ trồng rừng còn thấp, bình quân rừng keo khoảng 5 triệu đồng/ha/năm, 40 triệu đồng/chu kỳ 8 năm. Việc áp dụng các giống tiến bộ kỹ thuật có năng suất, chất lượng cao, các biện pháp thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng chưa được quan tâm đúng mức, chủ yếu mới chỉ dựa vào khai thác độ phì tự nhiên của đất.
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI với khâu đột phá phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, bền vững, mục tiêu của tỉnh trong thời gian tới mỗi năm tỉnh sẽ trồng mới trên 10.000 ha rừng tập trung, phấn đấu đến năm 2020 diện tích rừng trồng sản xuất trên địa bàn tỉnh đạt trên 140.000 ha, có trên 80% diện tích rừng được trồng bằng cây giống tiến bộ kỹ thuật, giống có năng suất, chất lượng cao và các giống lai được sản xuất bằng phương pháp vô tính chất lượng cao. Năng suất rừng trồng đạt bình quân trên 100 m3/ha/chu kỳ 7 năm vào năm 2020.
Đa dạng hóa sản phẩm rừng trồng, kết hợp giữa trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy, sản xuất dăm gỗ với cung cấp gỗ lớn phục vụ chế biến đồ mộc đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đẩy mạnh áp dụng các biện pháp quản lý rừng bền vững; phấn đấu đến năm 2020 có trên 9.000 ha rừng được cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC).
Nâng tỷ lệ gỗ khai thác từ rừng trồng đưa vào tinh chế, sản xuất đồ mộc (chiếm khoảng 28% sản lượng khai thác hàng năm); đảm bảo cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy giấy và bột giấy (chiếm 67,5% lượng khai thác hàng năm) và đảm bảo cho nhu cầu xã hội khác (khoảng 4,5% lượng khai thác hàng năm).
Ông Triệu Văn Khoa, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, để thực hiện được các mục tiêu trên thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu cho tỉnh xây dựng Đề án Nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng giai đoạn 2016-2020.
Trong đó thời gian tới tỉnh cần phải đẩy mạnh thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ gồm: Đẩy mạnh sản xuất giống theo phương pháp nuôi cấy mô và đưa cây mô vào trồng rừng đại trà; áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến, nâng cao giá trị rừng trồng; xây dựng các Dự án ưu tiên.
Đề án đã đưa ra 12 nhóm giải pháp cần phải thực hiện trong thời gian tới. Theo ông Khoa, trong các giải pháp mà Đề án đã nêu, bên cạnh những giải pháp về quy hoạch quản lý, cơ chế chính sách thì nhóm giải pháp tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quản lý giống và tái sản xuất kinh doanh rừng cơ bản được xem là khâu trọng yếu.
Qua nghiên cứu, thực tế tại nhiều địa phương có rừng cho thấy việc áp dụng giống cây được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô, cơ giới hóa trong đào hố trồng rừng và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh rừng góp phần quan trọng nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng có thể lên gấp 2, thậm chí gấp 3 lần so với các loại giống mà hiện nay chúng ta đang áp dụng.
Tuy nhiên để thực hiện được cần phải có vốn đầu tư ban đầu lớn, phải có đội ngũ cán bộ tâm huyết, được đào tạo bài bản, thời gian để tạo cây giống khá dài dẫn tới giá cây giống thường cao gấp 3 - 5 lần so với cây giống từ hạt hoặc tạo ra bằng phương pháp giâm hom.
Nhận thấy những ưu điểm của cây mô, Công ty cổ phần giấy và bột giấy An Hòa đã đề xuất xin tỉnh cho phép xây dựng cơ sở sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy mô để phục vụ trồng rừng nguyên liệu. Tổng công ty giấy Bãi Bằng từ năm 2015 đã chỉ đạo các Công ty thành viên phải trồng rừng từ cây giống được sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy mô. Trên địa bàn tỉnh, Trường Đại học Tân Trào đã được đầu tư phòng nuôi cấy mô có khả năng bước đầu sản xuất cây giống lâm nghiệp chất lượng cao theo phương pháp nuôi cấy mô để cung cấp cho trồng rừng sản xuất.
Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả rừng trồng là nhiệm vụ cốt lõi, ưu tiên hàng đầu trong sản xuất lâm nghiệp hàng hóa, là một trong những nội dung quan trọng, là động lực để thực hiện thành công tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. (Báo Tuyên Quang 13/8) đầu trang(
Mặc dù, phía Công ty MTV LCN Bắc Quảng Bình (Cty Bắc QB) và Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch (Lâm trường) đã cắt một phần diện tích đất để trả về cho địa phương để quản lý, giao cho các hộ dân trồng rừng, nhưng công tác bàn giao rừng đang thực hiện thì nhiều hộ vẫn tiếp tục vào lấn chiếm đất rừng, trồng cây và dựng hàng rào, lập lán trại để chống lại lực lượng Bảo vệ rừng (BVR) cũng như cơ quan chức năng.
Nhiều hộ dân một số thôn 8,9,10 ở xã Xuân Trạch trước đây lên sinh sống theo Quyết định di dân của Chi cục Điều động lao động của tỉnh Quảng Bình năm 1992. Những hộ dân được cấp đất sản xuất và diện tích đất trồng rừng dự án 327 và rừng tự nhiên khoanh nuôi bảo vệ.
Tuy nhiên, những hộ dân này chưa được cấp giấy chứng nhân QSD đất vì diện tích trước đây ghi trong giấy tờ không phù hợp với thực tế đo đạc hiện nay. (người dân giải thích vì trước đây địa chính đo tay, mà rừng rậm nên không sát, nên có ước chừng diện tích chứ không như bây giờ đo máy móc chính xác hơn). Khu vực rừng dự án 327 và 661 cũng như rừng tự nhiên khoanh nuôi bảo vệ của những hộ dân này chồng trong diện tích UBND tỉnh cấp cho Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch trước đó.
Ngoài rừng chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ được giao, nhiều hộ dân còn tổ chức trồng cây thông trên các khu đất lâm nghiệp sản xuất của Lâm trường. Để bảo vệ các cây thông đã trồng khỏi bị trâu bò phá hoại, người dân đã cùng nhau chôn cọc kéo dây thép gai làm hàng rào bảo vệ.
Tháng 2/2016, khi người dân trồng cây thì lực lượng BVR phát hiện và đẩy đuổi, họ chuyển sang trồng vào ban đêm. Lực lượng BVR phối hợ với chính quyền địa phương đã đẩy đuổi và thu được nhiều cuốc, dao và dụng cụ trồng cây khác.
Anh Nguyễn Văn Ngợi, thôn 10, Ngọn Rào cho rằng đây là khu vực đất đầu nguồn xung yếu, cần phải trồng cây lâu năm để chống rửa trôi đất và bảo vệ nguồn nước. Việc người dân trồng cây và làm hàng rào thì chính quyền không được phá vì đó là tài sản của dân, sau này có chia đất rừng hay giao cho ai quản lý thì tính giá tài sản trên đất để thanh toán.
Ngoài việc ngăn cản lực lượng vào phá dỡ hàng rào, người dân còn dựng lán trại trên rừng để vừa canh trâu bò và canh giới các đoàn vào cưỡng chế để kịp thời thông báo cho nhau lên ngăn cản.
Việc người dân vào lấn chiếm đất lâm nghiệp đã anh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh hưởng sản xuất của Lâm trường Bố Trạch; đồng thời làm khó khăn, phức tạp tình hình giao đất, giao rừng trên địa bàn xã Xuân Trạch.
Ông Nguyễn Cẩm Sâm- Giám đốc Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch cho biết “Toàn bộ số diện tích các hộ xâm chiếm trên điều nằm trong lâm phận Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch được UBND tỉnh, Công ty TNHHMTVLCN Bắc Quảng Bình giao CN Lâm trường quản lý, bảo vệ và sản xuất kinh doanh. Thời gian qua, nhiều vụ xâm chiếm đất rừng Lâm trường của người dân diễn ra làm cho tình hình quản lý, sản xuất của đơn vị gặp nhiều khó khăn”.
Gần đây nhất là ngày 8/7/2016, sau khi phát hiện các hộ dân ở thôn 9 và thôn 10 xã Xuân Trạch xâm chiếm đất rừng thuộc các tiểu khu 236 và 221 để trồng thông và keo. Lâm trường phối hợp với địa phương, kiểm lâm Trạm Trooc đã tiến hành tổ chức đi kiểm đếm và phá dỡ hàng rào.
Qua kiểm đếm số diện tích bị các hộ dân Nguyễn Văn Ngợi -xóm 10, Các hộ: Bà Lâm, bà Thời, bà Hòa, bà Hồng, bà Hương - xóm 10, hộ bà Nguyễn Thị Trường- xóm 9, xâm chiếm với diện tích 44,1 ha; đã trồng cây 39,1 ha; diện tích đã rào ngáng là 37,1 ha; chiều dài ngáng rào là 2.116 m. Trong đó cọc trụ có 1.125 cọc, tổng chiều dài dây thép gai là 5.145 m.
“Các hộ gia đình vào xâm chiếm rào ngáng, trồng cây là trái với quy định của pháp luật, trồng các loại cây không đạt tiêu chuẩn và không đạt mật độ cũng như không theo quy hoạch loại cây trồng trong việc trồng rừng phòng hộ và sản xuất kinh doanh của đơn vị. Phía đơn vị đã có báo cáo gửi UBND xã Xuân Trạch để phối hợp và Công ty bắc Quảng Bình để xin ý kiến chỉ đạo”.
Ông Cao Thế Vĩnh-chủ tịch UBND xã Xuân Trạch cho biết “Xuân Trạch là xã miền núi đặc biệt khó khăn,với hơn 80% diện tích đất có rừng. Người dân chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, trong đó lâm nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương”.
Nhu cầu về đất rừng sản xuất của người dân Xuân Trạch rất lớn trong khi đó trung bình chỉ có 3,5ha/hộ. Để đảm bảo cuộc sống cho những hộ dân địa phương, UBND tỉnh đã thực hiện các thủ tục thu hồi đất của Công ty TNHH MTV Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình đang sử dụng tại xã Xuân Trạch để giao cho UBND xã tiếp nhận, quản lý là 1.014,8 ha.
Trong khi địa phương đang làm phương án và thủ tục giao đất thì xảy ra tình trạng một số hộ dân tự ý lấn chiếm đất của Lâm trường. “Phần bóc tách đất rừng của Lâm trường chuyển về địa phương đã tiến hành giao đất đợt 1 được 135ha, nhưng nhiều hộ không hợp tác để giao đất. Thời gian tới địa phương tiếp tục tiến hành giao đất cho các hộ theo đúng thủ tục, đúng quy định. Những người dân vào xâm lấn đất Lâm trường là họ làm liều, khi xã và cơ quan chức năng vào kiểm tra, tháo dỡ thì không ai đứng ra nhận. Họ làm lén lút nên rất khó để phát hiện, xử lý” ông Vĩnh cho biết thêm.
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng và các địa phương tỉnh Quảng Bình cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị trong việc lập hồ sơ giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời làm chặt chẽ việc định giá rừng làm cơ sở để bàn giao vốn khi các chủ rừng bàn giao rừng về cho địa phương.
Về phía chủ rừng cũng cần thực hiện nghiêm túc việc cắm mốc ranh giới giữa các chủ rừng để công tác quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp được chặt chẽ hơn...để tránh tình trạng người dân tiếp tục vào xâm chiếm rừng ảnh hưởng đến đời sống-xã hội và hoạt động quản lý, trồng rừng, sản xuất kinh doanh của Lâm trường Bố Trạch. (Tầm Nhìn 15/8) đầu trang(
Từ một vụ cháy rừng xảy ra vào giữa tháng 5/2016 ở thôn Xuân Bình Nam, xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm huyện Phù Mỹ mới "tình cờ" phát hiện 20 ha đất lâm nghiệp do UBND xã Mỹ Thành quản lý đã bị chiếm dụng trồng bạch đàn từ rất lâu.
Theo tìm hiểu của phóng viên, từ năm 2008 đến nay, tại khoảnh 2, tiểu khu 182 đã có khoảng 20 ha đất lâm nghiệp do UBND xã Mỹ Thành quản lý, bị người dân chiếm dụng trồng bạch đàn từ lâu. Tuy nhiên, trong khi dập lửa vụ cháy rừng xảy ra vào ngày 16/5/2016, lực lượng kiểm lâm cùng chính quyền địa phương mới phát hiện ngoài diện tích rừng đã bị cháy (5,1 ha), diện tích còn lại đều đang được người dân canh tác bất hợp pháp.
Có mặt tại khoảnh 2, tiểu khu 182, chúng tôi ghi nhận hầu hết diện tích đều trồng bạch đàn. Có nơi đã thu hoạch đợt đầu, nơi chuẩn bị cho thu hoạch. Bà Đặng Thị Mỹ Loan, trú thôn Xuân Bình Nam (xã Mỹ Thành), trồng 1,3 ha bạch đàn, nói: “Năm 2009, tôi thấy người ta đổ xô lên phát, dọn thực bì rồi trồng cây nên gia đình cũng làm theo. Khi đó, người nào phát được chỗ nào thì trồng chỗ đó!”.
Ngạc nhiên ở chỗ, tuy đã trải qua ba đời chủ tịch xã, song việc lấn chiếm đất trồng rừng trái phép ở đây lại chưa được xử lý?. Và trong số 17 trường hợp lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép mà phóng viên hiện nay nắm được, có 5 người nguyên là lãnh đạo xã Mỹ Thành qua các thời kỳ.
Việc này được ông Ngô Chí, Trưởng thôn Xuân Bình Nam, xác nhận thêm: “Việc trồng bạch đàn trên quỹ đất ở khoảnh 2, tiểu khu 182 đã diễn ra khá lâu, song tôi thấy chính quyền địa phương không ai nói gì. Tôi nghĩ trường hợp nào sử dụng đất trái phép, chính quyền xã và ngành chức năng nên có biện pháp thu hồi để tạo sự công bằng cho người dân trong việc sử dụng đất; mặt khác, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật”.
Trao đổi với chúng tôi hướng giải quyết những trường hợp lấn chiếm đất, ông Huỳnh Trọng Đông, Chủ tịch UBND xã Mỹ Thành, nói: “UBND xã sẽ tổ chức kiểm kê, lập biên bản các trường hợp vi phạm, từ đó có hướng xử lý phù hợp. Có thể xã sẽ thu hồi lại toàn bộ diện tích đất mà các hộ dân đã bị lấn chiếm, sau đó địa phương có văn bản gửi UBND huyện Phù Mỹ xin ý kiến chỉ đạo để xét cấp hoặc giao quản lý cho các hộ dân thiếu đất hoặc hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn ở địa phương”.
Ông Lê Văn Phi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ, cho biết: Khoảnh 2, tiểu khu 182 trên địa bàn xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ thuộc vùng đất quy hoạch lâm nghiệp, nhưng hiện trạng là núi đá chỉ có cây bụi, dây leo nên ngành chức năng không đặt vấn đề giao đất, giao rừng để người dân sản xuất kinh doanh. Vì vậy, xã Mỹ Thành cũng lơ để cho dân tranh thủ lấn chiếm. Xét về mặt phân cấp quản lý thì vùng đất này thuộc sự quản lý của UBND xã Mỹ Thành nên chính quyền xã phải chịu trách nhiệm.
Ông Bùi Văn Thăng, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ, cũng khẳng định thêm: "Từ năm 2008 đến nay, tại khu vực này không có bất kỳ dự án trồng rừng nào được triển khai. Các trường hợp lấn chiếm đất ở đây không được cơ quan chức năng nào cho phép. Trường hợp cá nhân hay tổ chức nào viện lý trồng bạch đàn ở đây là do được ngành chức năng cho phép là không thể chấp nhận".
Tuy nhiên, ngoài trách nhiệm của chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ cũng có phần trách nhiệm vì chưa sâu sát trong quản lý để người dân tự ý lấn chiếm đất trong một thời gian dài. Báo Tài nguyên - Môi trường sẽ tiếp tục theo dõi vụ việc này để thông tin đến bạn đọc khi có thông tin mới.
Theo điều tra riêng của PV, 17 trường hợp lấn chiếm trên, hộ lấn ít khoảng 1 ha, hộ nhiều từ 2-3 ha; 16/17 trường hợp ở thôn Xuân Bình Nam.
5 trường hợp lấn chiếm là nguyên lãnh đạo xã Mỹ Thành, gồm: ông Đặng Văn Hợp, Chủ tịch UBND xã Mỹ Thành nhiệm kỳ (NK) 2005-2011; ông Lê Đình Đức, nguyên Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Thành NK 2005-2011, nay là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Mỹ Thành (trú thôn Xuân Bình Bắc); ông Ngô Hải, Chủ tịch xã Mỹ Thành NK 2011-2015, nay là cán bộ TB-XH xã Mỹ Thành; ông Nguyễn Đình Phúc, nguyên Trưởng Công an xã Mỹ Thành (nghỉ hưu từ 2014).
Các trường hợp khác là: bà Đặng Thị Mỹ Loan, các ông: Đặng Văn Khanh (em ruột ông Đặng Văn Hợp), ông Đặng Văn Ton, ông Đặng Văn Thụ, Đỗ Văn Đậu, Nguyễn Nhâm, ông Lê Đình Bầu, Trương Chí Hưng, Ngô Công Toại, Ngô Văn Thanh, Ngô Hằng, Ngô Thanh Bình. (Tài Nguyên Và Môi Trường 12/8) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (Công ty Đức Hòa) được giao quản lý bảo vệ hàng chục nghìn héc-ta rừng tự nhiên, đất lâm nghiệp, nhưng đã buông lỏng quản lý khiến cho hàng nghìn héc-ta rừng tự nhiên bị chiếm dụng, biến thành đất trồng cà-phê, hồ tiêu. Trong đó, có nhiều héc-ta đất rừng tự nhiên bị biến thành tài sản riêng của một số cán bộ, nhân viên công ty.
Mới đây, chúng tôi đã về xã Đác Môl, huyện Đác Song, tỉnh Đác Nông để tìm hiểu sự việc nhiều cán bộ, nhân viên thuộc Công ty Đức Hòa tiếp tay, bao che cho việc phá rừng, lấn chiếm đất rừng, sau đó mua lại chính diện tích đất này với giá rẻ mạt, biến đất rừng thành của riêng.
Qua tìm hiểu người dân tại xã Đác Môl, chúng tôi được biết, năm 2010, gia đình ông Nguyễn Văn Hải, trú tại xã Đác Hòa (Đác Song) sở hữu 4 ha đất ở vị trí khá gần với khu dân cư. Sau đó, gia đình ông Hải đã trồng cà-phê trên diện tích đất này. Đến năm 2012, cà-phê phát triển rất đẹp và bắt đầu cho thu hoạch. Theo giá thị trường thời điểm đó, 4 ha cà-phê của gia đình ông Hải có giá khoảng một tỷ đồng.
Thế nhưng, không hiểu lý do vì sao mà cuối năm 2012, gia đình ông Hải đột ngột chuyển nhượng toàn bộ 4 ha cà-phê cho ông Y Lê Na, cán bộ quản lý bảo vệ rừng của Công ty Đức Hòa, chỉ với giá 500 triệu đồng. Điều đáng nói là toàn bộ 4 ha đất mà ông Y Lê Na mua của ông Nguyễn Văn Hải đều có nguồn gốc từ rừng tự nhiên nằm trong tiểu khu 1119, thuộc lâm phần do Công ty Đức Hòa quản lý.
Một vụ mua bán đất rừng khác cũng diễn ra với cách thức tương tự là vào năm 2013 ông Hoàng Văn Đại, cán bộ văn phòng của Công ty Đức Hòa chỉ cần bỏ ra ba triệu đồng đã mua được 0,5 ha đất của một người dân ở xã Đác Môl.
Tất nhiên, người dân địa phương không bất ngờ trước giá đất rẻ như biếu ấy vì diện tích đất ông Đại mua cũng có nguồn gốc do phá rừng tự nhiên mà có, nằm trong tiểu khu 1112, thuộc lâm phần do Công ty Đức Hòa quản lý. Sau khi mua đất, ông Đại đã tiến hành trồng cà-phê và một số cây trồng khác.
Cùng thời điểm năm 2013, ông Bàn Văn Chẹ, trú tại xã Đác Môl bán 0,5 ha đất rẫy cho ông Nguyễn Trường Nhật, cán bộ quản lý bảo vệ rừng Công ty Đức Hòa chỉ với giá ba triệu đồng. Diện tích đất này cũng có nguồn gốc từ phá rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 1098, do Công ty Đức Hòa quản lý. Hiện nay, ông Nhật đã trồng cà-phê và một số cây trồng khác trên diện tích đất này…
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, không ngẫu nhiên mà nhiều cán bộ, nhân viên của Công ty Đức Hòa có thể mua được đất có nguồn gốc phá rừng từ người dân với giá bèo bọt như vậy. Một người dân trú tại xã Đác Môl cho biết, đầu năm 2004, gia đình ông đã mua 0,7 ha đất rừng từ một người dân trên địa bàn với giá 20 triệu đồng, để trồng sắn và hoa màu.
Thế nhưng, cuối năm 2004, một nhân viên của Công ty Đức Hòa đến gặp và thông báo với ông rằng, gia đình ông đã phá rừng, lấn chiếm đất rừng do Công ty quản lý, vì vậy sẽ bị cưỡng chế thu hồi. Để tránh bị truy cứu trách nhiệm, gia đình có ý định trả lại đất. Thế nhưng, một thời gian sau, nhân viên này lại “xuống nước” và đề nghị được mua lại 0,7 ha đất với giá chỉ 10 triệu đồng, bằng một nửa so với giá gia đình đã mua.
Khi chúng tôi tiếp cận với một số người đã từng bán đất có nguồn gốc phá rừng cho cán bộ, nhân viên Công ty Đức Hòa, phần lớn họ đều khẳng định rằng, trong quá trình người dân phá rừng và lấn chiếm đất rừng, hầu như không có sự can thiệp của đơn vị chủ rừng.
Thế nhưng, đến khi người dân đã “biến” rừng thành đất rẫy để canh tác thì lực lượng của Công ty Đức Hòa liền xuất hiện và yêu cầu xử lý. Đối với những khu vực rẫy có vị trí đẹp, thuận lợi về nước tưới thì được cán bộ Công ty Đức Hòa hỏi mua, nhưng với giá rất rẻ mạt. Mặc dù vậy, trước khi thực hiện việc mua bán, hầu hết người dân đều bị cán bộ của Công ty Đức Hòa đe nẹt, hù dọa sẽ thu hồi đất và xử lý về hành vi phá rừng, nên họ buộc phải bán đất rừng với giá rất thấp…
Theo thống kê của cơ quan chức năng, năm 2008, Công ty Đức Hòa được UBND tỉnh Đác Nông giao hơn 13.149 ha rừng và đất lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ. Trong số đó, có hơn 11.790 ha rừng tự nhiên và 98,25 ha rừng trồng. Đến nay, diện tích rừng tự nhiên đã bị phá là hơn 2.641 ha. Sau khi phá rừng, người dân đã chiếm dụng hơn 2.579 ha để sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, Công ty Đức Hòa cũng tự ý đem 17,2 ha đất lâm nghiệp giao khoán, liên kết với người dân để trồng cây nông nghiệp và thu phần trăm giá trị sản phẩm hằng năm.
Giám đốc Công ty Đức Hòa Phạm Đình Dũng cho biết, bước đầu đã xác định được 12 cán bộ, nhân viên của công ty có sử dụng đất từ nguồn gốc phá rừng tự nhiên để sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích hơn 12 ha. Trong đó, có một số người đã mua đất từ trước khi vào làm việc tại Công ty Đức Hòa. Riêng trường hợp ông Nguyễn Minh Thùy, cán bộ văn phòng Công ty Đức Hòa, năm 2010 đã tự ý khai phá 1,2 ha đất tại tiểu khu 1107 và hiện nay ông Thùy đã trồng cà-phê.
“Trong thời gian tới, Công ty Đức Hòa sẽ tiến hành xem xét, xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp này và thu hồi những diện tích đất đã bị chiếm dụng”, ông Dũng khẳng định. (Nhân Dân 14/8) đầu trang(
Trong vòng 3 năm trở lại đây, các nhà đầu tư liên tục “rót” vốn vào ngành công nghiệp sản xuất chế biến gỗ tại khu vực Miền Trung, đặc biệt tại địa bàn 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.
Các dự án được nhắm đến của nhà đầu tư chủ yếu ở nhóm ngành sản xuất gổ MDF và lĩnh vực sản xuất viên nén năng lượng (có nguồn nguyên liệu đầu vào từ gỗ). Đây là hai nhóm ngành được đánh giá có thị trường tương đối mở, đặc biệt khi các hiệp định thương mại như TPP, FTA… sắp sửa đi vào hiệu lực.
Tại Quảng Trị, song song với ngành sản xuất gỗ dăm giấy vốn có truyền thống từ lâu, ngành sản xuất gỗ MDF hiện nay cũng đang được các nhà đầu tư chú trọng đến. Điển hình nhất chính là 2 nhà máy sản xuất gỗ MDF số 1, số 2 của Công ty cổ phần Gỗ MDF VRG Quảng Trị tại KCN Quán Ngang và KCN Nam Đông Hà, tổng vốn đầu tư cả 2 nhà máy lên đến hơn 2.000 tỷ đồng. Với tổng công suất 180.000m3/năm, đây được xem là nhà máy sản xuất gỗ MDF lớn thứ 2 cả nước.
Ngoài ra, sau Hội nghị xúc tiến đầu tư và Quảng bá du lịch tỉnh năm 2016 diễn ra vào tháng 4 vừa qua, Quảng Trị đã có thêm một dự án mới về lĩnh vực sản xuất viên nén năng lượng tái tạo của Công ty CP Lộc Thiên Phú Quảng Trị tại cụm công nghiệp Hải Lăng (vốn đầu tư hơn 140 tỷ đồng).
Quảng Bình cũng nằm trong làn sóng đầu tư về lĩnh vực sản xuất chế biến gỗ với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn như Công ty TNHH XNK Công nghiệp Trường Thành (sản xuất gỗ MDF), LICOGI 13 và Tập đoàn Dohwa (Hàn Quốc). Trong đó LICOGI 13 với dự án sản xuất gỗ MDF 1.500 tỷ đồng tại KCN Tây Bắc Đồng Hới; Tập đoàn Dohwa với dự án sản xuất viên nén năng lượng tái tạo 240 tỷ đồng tại KCN Hòn La.
Tại Thừa Thiên Huế, với những lợi thế có sẵn, ngành chế biến gỗ đã phát triển từ rất sớm với những doanh nghiệp có thâm niên lâu năm như Công ty CP Chế biến gỗ Thừa Thiên Huế (HUWOCO), Nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu Ngọc Anh. Mới đây nhất là Dự án Nhà máy sản xuất viên nén năng lượng tái tạo Thiên Phú do Công ty cổ phần năng lượng tái tạo Vingo Huế làm chủ đầu tư với tổng vốn 106 tỷ đồng.
Ông Phạm Văn Năm, Trưởng BQL Khu kinh tế Quảng Bình cho biết: “Ngành công nghiệp sản xuất chế biến gỗ hiện nay không chỉ góp phần giải quyết đầu ra cho sản phẩm rừng trồng của người dân mà quan trọng hơn, ngành này còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương, giúp người dân chuyển đổi cơ cấu ngành nghề.”
Ông Nguyễn Thế Mai, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Gỗ MDF VRG Quảng Trị nhận định:“ Việt Nam đã ký kết những hiệp định thương mại như TPP, FTA… với các đối tác. Chắc chắn rằng trong thời gian tới các sản phẩm chế biến gỗ, đặc biệt là gỗ MDF sẽ có rất nhiều tiềm năng lớn về xuất khẩu nhờ những chính sách ưu đãi của các hiệp định này. Đặc biệt với Hiệp định TPP, các doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc nguồn gốc nội khối của nguyên liệu gỗ, đây là một ưu thế lớn đối với doanh nghiệp tại khu vực miền Trung khi khu vực có nguồn nguyên liệu gỗ khá dồi dào.”
Theo ông Lê Quang Hoà, Tổng giám đốc Công ty CP Năng lượng tái tạo Vingo Huế:“ Hiện nay tại Hàn Quốc, hàng trăm nhà máy nhiệt điện lớn nhỏ của nước này đang sử dụng viên nén năng lượng làm nguồn nguyên liệu chính thay cho than đá nhằm đảm bảo vấn đề môi trường. Tại Nhật Bản, 36 nhà máy nhiệt điện lớn nhất của họ cũng sử dụng viên nén năng lượng làm nguyên liệu chính. Có thể nói thị trường của sản phẩm này rất giàu tiềm năng”.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, hiện nay chỉ tính riêng 3 địa phương Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, tổng diện tích rừng trồng đã vượt con số hơn 140.000 ha, trong đó Quảng Bình 38.851 ha, Quảng Trị 90.000 ha, Thừa Thiên Huế 13.640 ha. Diện tích rừng trồng lớn đang là nguồn cung nguyên liệu dồi dào cho ngành công nghiệp sản xuất chế biến gỗ.
Tuy nhiên, theo nhiều nhà đầu tư hiện nay ở 3 địa phương Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế vẫn còn diễn ra tình trạng phát triển tự phát loại hình sản xuất dăm gỗ với tính chất thời vụ, nhỏ lẻ, manh mún khiến tình hình phát triển ngành công nghiệp sản xuất chế biến gỗ bị ảnh hưởng.
Ông Nguyễn Thế Mai cho rằng:“ Việc đầu tư ồ ạt và không có quy hoạch gỗ dăm sẽ ảnh hưởng đến đầu vào nguyên liệu, mà trực tiếp bị ảnh hưởng nhất chính là người dân. Các nhà máy dăm gỗ chủ yếu chỉ ‘ăn non’ khi thu mua gỗ keo người dân chỉ từ 3-4 năm tuổi, giá trị khá thấp. Trong khi đó các nhà máy sản xuất chế biến sâu thu mua gỗ 7-8 năm tuổi thì giá trị cao hơn nhiều.”
Đồng quan điểm trên, ông Lê Quang Hoà cũng cho rằng, dăm gỗ khi thu mua chỉ lấy một phần rất ít thân gỗ, trong khi đó sản xuất viên nén năng lượng thu mua và sử dụng toàn bộ cành, thân, lá, ngọn nên người dân bán được với giá trị cao hơn. “Thị trường dăm gỗ hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào Trung Quốc, thứ nữa, các nhà máy dăm gỗ chủ yếu đầu tư với công nghệ thấp, xuất thô sản phẩm nên thu ngân sách hầu như ít, tính bền vững không có. Nếu thị trường dăm gỗ có biến động thì sẽ ảnh hưởng rất lớn, mà đối tượng chịu thiệt hại trước tiên đó chính là người dân trồng keo.”
Ông Bùi Xuân Lịch, Trưởng đại diện Văn phòng Cục xúc tiến Thương mại tại Đà Nẵng thông tin, vừa qua Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cũng đã có đề xuất xin Chính phủ nâng thuế lên để hạn chế việc xuất khẩu nguyên liệu gỗ thô, tuy nhiên hiện nay Chính phủ chưa có ý kiến về việc này.
Trước đó, ngày 1/12/2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra Quyết định 5115/QĐ –BNN –TCLN về việc Phê duyệt Phương án Quản lý sản xuất dăm gỗ giai đoạn 2014-2020, trong đó nhấn mạnh: rà soát, sắp xếp các cơ sở sản xuất dăm gỗ gắn với vùng nguyên liệu nhằm đổi mới nâng cao hiệu quả trong sản xuất dăm.
Nhằm giảm lượng dăm gỗ sản xuất theo lộ trình đã đề ra, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiến nghị Chính phủ tăng thuế xuất khẩu dăm gỗ từ 0% hiện nay lên từ 5-10%. Áp mức thuế giá trị gia tăng là 10% và thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% đối với doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ. (Đầu Tư 13/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong bối cảnh nhiều vụ cháy rừng đang hoành hành tại California (Mỹ), Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp, đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc về giảm thiểu rủi ro thiên tai Robert Glasser đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa nạn cháy rừng và các hậu quả của hiện tượng biến đổi khí hậu.
Trong tuyên bố đưa ra ngày 11/8 tại Geneva (Thụy Sỹ), ông Glasser lưu ý: “Các vụ cháy rừng là một loại thiên tai phức tạp và khó khăn. Chúng ta có thể chờ đợi để chứng kiến thêm trong khi các làn sóng nhiệt và hạn hán đã ngày càng diễn ra thường xuyên và có cường độ mạnh hơn do biến đổi khí hậu và các nhân tố khác”.
Theo chuyên gia của Liên hợp quốc, năm ngoái đã là năm nóng nhất từng được ghi nhận và có số lượng các đợt nắng nóng và hạn hán cao hơn mức trung bình rất nhiều. Năm nay, chúng ta tiếp tục xu hướng tương tự với nhiều kỷ lục về nhiệt độ được xác lập mỗi tháng.
"Việc thiếu quản lý rừng, sự phát triển của các khu đô thị gần rừng và các vụ cháy do con người gây ra đều là tất cả các yếu tố nguy cơ cần được các cơ quan quản lý thảm họa giải quyết" – ông Glasser chỉ rõ. "Kịch bản đáng sợ nhất là các thành phố lớn đang bị đe dọa như chúng ta đã thấy trong tuần này là trường hợp của Funchal và Marseille".
Báo cáo đánh giá tổng thể công bố vào năm 2013 của Văn phòng Liên hợp quốc về Giảm nhẹ rủi ro thiên tai (UNISDR) đã từng nhấn mạnh tới tác động tàn phá của các vụ cháy rừng đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên.
"Các vụ hỏa hoạn ảnh hưởng đến nhiều dịch vụ sinh thái, trong đó có lưu trữ cacbon, hỗ trợ cho đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, giảm xói mòn đất, suy thoái đất và điều hòa khí hậu” – nghiên cứu của UNISDR chỉ rõ, đồng thời cho biết thêm các vụ cháy rừng hiện có thể dẫn đến thiệt hại cho các dịch vụ hệ sinh thái khoảng từ 146 – 191 tỷ USD mỗi năm.
Gần đây nhất, tại Pháp, cháy rừng bắt đầu bùng phát đêm 10/8, kết hợp với gió mạnh, ngọn lửa nhanh chóng lan ra nhiều khu vực rộng lớn ở vùng Provence – địa điểm du lịch hàng đầu của du khách châu Âu vào tháng 8, buộc nhà chức trách sơ tán hàng nghìn người dân. Nhiều tuyến giao thông đường bộ và hàng không bị ảnh hưởng nghiêm trọng; 2 tuyến đường cao tốc bị đóng cửa trong khi nhiều chuyến bay xuất phát từ sân bay Marseille cũng không thể cất cánh. Lực lượng cứu hỏa cho hay, đến nay đã có ít nhất 2.700 hecta đất bị lửa tàn phá, khoảng 20 – 25 ngôi nhà bị thiêu rụi.
Trong khi đó, tại Bồ Đào Nha, các đám cháy rừng dữ dội cũng khiến ít nhất 4 người thiệt mạng, hàng nghìn người buộc phải sơ tán và nhiều nhà dân bị thiêu rụi. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 12/8) đầu trang(./.
|
|||