|
Ngày 15 tháng 04 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo Bộ NN&PTNT, Bộ này vừa nhận được văn bản thông báo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ NN&PTNT khẩn trương hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ Đề án quản lý khai thác rừng sản xuất là rừng tự nhiên, chuẩn bị tốt các điều kiện để dừng khai thác rừng tự nhiên một thời gian từ năm 2014.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng yêu cầu UBND các tỉnh Tây Nguyên phải phối hợp với các Bộ tăng cường quản lý chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên, đột xuất các cơ sở chế biến gỗ; xử lý nghiêm, đúng quy định pháp luật, kiên quyết đình chỉ hoạt động cơ sở chế biến gỗ vi phạm các quy định của Nhà nước…(Công An Nhân Dân 12/4; Chinhphu.vn 12/4) đầu trang(
12-4, ông Trần Văn Thành, Quyền Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Đôn - Đắk Lắk cho biết, đã cấp khoảng 400 thẻ cho các hộ dân vào chăn thả gia súc và canh tác trên ruộng, rẫy cũ ở trong Vườn Quốc gia Yok Đôn từ trước tới nay.
Những người dân đã được cấp thẻ khi vào rừng phải mang theo, nếu không có thẻ thì không được phép vào rừng Vườn Quốc gia Yok Đôn. Trên thẻ có hình của người dân và ghi rõ những khu vực người dân được vào.
Đến đầu tháng 5, dự kiến Vườn Quốc gia Yok Đôn sẽ cấp khoảng 1.000 thẻ cho những người dân ở buôn Jang Lành, buôn Trí A, buôn Trí B, buôn Đrăng Phốk... của xã Krông Na, huyện Buôn Đôn.
Theo ông Thành, việc cấp thẻ nhằm ngăn chặn lâm tặc trà trộn vào người dân để khai thác gỗ trái phép trong Vườn Quốc gia Yok Đôn như trong thời gian vừa qua. (Sài Gòn Giải Phóng 12/4) đầu trang(
Trong hai ngày 11-12/4, Đoàn công tác của Ban Kinh tế Trung ương làm việc với tỉnh Thanh Hóa về thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh; giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường.
Thực hiện Quyết định số 138/2006/QĐ-TTg về "đề án sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa," tỉnh đã tiến hành chuyển các lâm trường và một Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn thành các Ban quản lý rừng phòng hộ. Đến tháng 12/2011, Thanh Hóa có 12 Ban quản lý rừng phòng hộ và một Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật lâm nghiệp.
Tỉnh cũng đã sắp xếp, chuyển đổi 2 nông trường thành một công ty ttrách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, 4 nông trường thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Bên cạnh đó, tỉnh đã bàn giao nguyên trạng lao động, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, vật tư, tiền vốn của 5 nông trường về Công ty cao su Thanh Hóa thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam; bàn giao 3 lâm trường khác về Công ty nguyên liệu giấy Thanh Hóa thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như: bất cập trong mối quan hệ giữa quản lý dân cư và quản lý tư liệu sản xuất; tình trạng tranh chấp ranh giới, xâm lấn đất đai giữa các nông, lâm trường với các địa phương; nguồn kinh phí phục vụ công tác chuyển đổi, sắp xếp các nông lâm trường, nhất là kinh phí đo đạc, xác định ranh giới, vẽ bản đồ… chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc 3 lâm trường đã bàn giao về Công ty nguyên liệu giấy Thanh Hóa, thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam, nhưng đến nay do dự án Nhà máy giấy Châu Lộc không được thực hiện, nên vùng nguyên liệu này không được đầu tư, gây lãng phí tài nguyên và khó khăn cho công tác quản lý.
Để tiếp tục phát huy hiệu quả việc chuyển đổi, sắp xếp các nông lâm trường, tỉnh Thanh Hóa đề nghị Trung ương có chủ trương yêu cầu các nông, lâm trường tiếp tục rà soát, xác định nhu cầu sử dụng đất và tiến hành thuê đất theo Luật đất đai; cấp kinh phí phục vụ công tác đo đạc, xác định ranh giới, vẽ bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có cơ chế chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào khu vực nông nghiệp nông thôn để phát huy tiềm năng đất đai và tài nguyên rừng. . (Vietnamplus.vn 12/4) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Định vừa phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu Bảo tồn thiên nhiên An Toàn nằm trên địa bàn huyện An Lão.
Theo đó, Khu Bảo tồn thiên nhiên An Toàn có tổng diện tích tự nhiên 22.450ha; bao gồm 24 tiểu khu. Cũng theo Quyết định được phê duyệt, từ nay đến năm 2020, từ nguồn vốn của các dự án sẽ đầu tư trên 50 tỉ đồng nhằm bảo vệ các loại động, thực vật có nguồn gen đặc hữu, quý hiếm và các loài đang bị đe dọa tại Khu Bảo tồn thiên nhiên An Toàn.
Đồng thời, triển khai bảo vệ, phục hồi môi trường, cân bằng sinh thái tăng độ che phủ của rừng; tăng chất lượng rừng để phát huy khả năng phòng hộ, cải thiện, nâng cao đời sống của người dân địa phương thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên An Toàn… (VietnamPlus.vn 15/4)đầu trang(
Năm 2013, tỉnh Bắc Kạn sẽ tiếp tục triển khai một số chính sách hỗ trợ trồng rừng nhằm giúp người dân yên tâm sản xuất và coi đây là một trong những giải pháp xoá đói, giảm nghèo bền vững.
Thời gian qua, ngành nông nghiệp đã triển khai một số chính sách hỗ trợ người trồng rừng như hỗ trợ chi phí, nhân công trồng và chăm sóc rừng sản xuất năm thứ nhất và năm thứ hai cho tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tham gia trồng rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể chủ rừng sẽ được hỗ trợ 500 nghìn đồng/1ha rừng trồng. Đối với diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng sẽ được hỗ trợ 15 triệu đồng/1ha, công bảo vệ là 170 nghìn đồng/1ha, khoán bảo vệ từ năm thứ hai trở đi là 200 nghìn đồng/1ha. Đối với rừng sản xuất sẽ được hỗ trợ cây con giống tương đương 4 triệu đồng/ ha, khảo sát thiết kế lập hồ sơ là 50 nghìn đồng /1ha…
Năm 2013, ngành nông nghiệp sẽ triển khai thêm một số chính sách mới nhằm hỗ trợ cho công tác trồng rừng trên địa bàn tỉnh. (Đài PT - TH Bắc Kạn 15/4)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
12/4, tại TP Cà Mau, Bộ tài ngyên và Môi trường phối hợp UBND tỉnh Cà Mau tổ chức diễn đàn với chủ đề: “Bảo tồn thiên nhiên và văn hóa vì sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL”.
Tham gia diễn đàn có gần 200 các nhà khoa học thuộc Tổng cục, viện nghiên cứu, quản lý của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ tài Nguyên và Môi trường; các nhà khoa học, chuyên gia của tổ chức WWF và những người làm công tác khoa học, quản lý các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Báo cáo của các khoa học thảo luận tại diễn đàn đã khẳng định: ĐBSCL có sự hiện diện của rất nhiều hệ sinh thái như: rừng ngập mặn; sông, ao hồ nội địa; giồng cát; rừng tràm-đồng cỏ ngập nước theo mùa. Mỗi hệ sinh thái đều mang lại những giá trị khác nhau về lợi ích kinh tế về sản xuất lúa gạo, vườn cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản…
Tuy nhiên, sự phát triển về kinh tế và gia tăng dân số luôn là áp lực lớn; cùng với những tác động do biến đổi khí hậu; hoặc quy hoạch không hợp lý đã và đang làm thay đổi, suy yếu hoặc phá hủy chức năng của các hệ sinh thái… Điển hình là rừng ngập mặn trước đây đã từng bao phủ hầu hết các tỉnh ven biển ĐBSCL, nhưng nay dần biến mất trên quy mô lớn; hiện diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 77 nghìn ha chủ yếu tại tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu
Theo các nhà khoa học tại diễn đàn lần này, trước những ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu đối với khu vực ĐBSCL, việc bảo vệ, phục hồi và duy trì sự khỏe mạnh của các hệ sinh thái là việc làm rất quan trọng về trước mắt cũng như dài lâu. Do đó, việc việc phục hồi, duy trì các hệ sinh thái phát triển bền vững đòi hỏi phải có những chính sách, sự phối hợp đồng bộ của các địa phương; đặc biệt là những chính sách liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân.
Ngoài ra, công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho cộng đồng cần được các địa phương quan tâm thường xuyên để giảm thiểu những hoạt động có tác động tiêu cực làm suy giảm hoặc phá hủy các hệ sinh thái. Tại diễn đàn lần này, các nhà khoa học, lãnh đạo các địa phương đã học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm về sự tăng cường vai trò quản lý, hoạch định chính sách liên quan đến khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo tồn, phát triển bền vững các hệ sinh thái vùng ĐBSCL. (Nhân Dân 13/4)đầu trang(
14-4, Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT) cho biết: Hiện diện tích rừng ở 7 tỉnh gồm: Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận, Ninh Thuận, Điện Biên, Gia Lai, Nghệ An có các khu vực đang có nguy cơ cháy rừng ở cấp 5 - cấp cực kỳ nguy hiểm.
Ngoài ra, có 3 tỉnh là Đồng Nai, Phú Yên, Tây Ninh có các khu vực đang có nguy cơ cháy rừng ở cấp 4 - cấp nguy hiểm.
Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan rất nhanh, rất khó cho công tác chữa cháy. Vì vậy, Ban chỉ đạo Trung ương phòng cháy, chữa cháy rừng yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 15/4)đầu trang(
Rừng ở Thừa Thiên - Huế, đặc biệt là rừng cảnh quan ở gần khu dân cư, ngoài việc đốt rừng làm nương rẫy, việc người dân vào rừng tìm kế sinh nhai, thắp hương, đốt vàng mã tại các khu vực nghĩa trang nằm xen lẫn trong các khu rừng ở phía Tây Nam thành phố Huế là những nguyên nhân gây cháy rừng nhiều nhất ở đây hiện nay.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế Lê Trường Lưu, năm 2013, các địa phương trong tỉnh phối hợp với lực lượng kiểm lâm cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; chú trọng công tác cảnh báo, dự báo cháy rừng vào mùa khô, mùa nắng nóng...
Lực lượng kiểm lâm chủ động phối hợp với các địa phương và lực lượng nòng cốt như quân sự, công an, biên phòng và lực lượng dân quân tại chỗ thường xuyên diễn tập để nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng. Công tác bảo vệ rừng, phòng chống chặt phá rừng gắn với công tác giao đất, giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn cũng như xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật lâm nghiệp.
Đến nay, Thừa Thiên - Huế cũng đã thành lập được 487 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng với trên 8.500 người tham gia. Lực lượng kiểm lâm các cấp cũng đã tăng cường lực lượng bám dân, bám rừng làm tốt công tác phòng chống cháy rừng.
Năm 2013, tỉnh thành lập thêm 2 trạm kiểm lâm ở các địa bàn nóng như Bình Điền và La Hy, chủ động trong công tác kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật lâm nghiệp. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống cháy rừng; việc thực hiện phương án "4 tại chỗ" và "4 sẵn sàng" trong phòng chống cháy rừng được triển khai thường xuyên, liên tục. (Tin Tức 15/4)đầu trang(
Khánh Vĩnh hiện có 83.000ha rừng và đất rừng, chiếm 71% tổng diện tích tự nhiên và là huyện có diện tích rừng lớn nhất tỉnh. Hiện nay, đang vào thời gian cao điểm mùa khô, đồng thời là mùa đồng bào phát nương đốt rẫy, vì vậy nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn là rất cao.
Để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại tài nguyên rừng, các ngành các cấp, các đơn vị chủ rừng và nhân dân trong huyện đang tăng cường nhiều biện pháp, chủ động, phòng ngừa, bảo vệ an toàn cho diện tích rừng trong cao điểm mùa khô năm nay.
Thời gian gần đây, nắng nóng và sự bất cẩn của người dân đã làm xảy ra 3 vụ cháy mía, thiệt hơn 24ha mía của bà con các xã Sông Cầu, Khánh Nam và thị trấn Khánh Vĩnh. Tuy chưa xảy ra cháy rừng, song trước tình hình hanh khô như hiện nay, cháy mía là hồi chuông cảnh báo về nguy cơ cháy có thể xảy đối với rừng nếu người dân còn chủ quan lơ là xem nhẹ công tác phòng cháy rừng. (Đài PT – TH Khánh Hòa 12/4) đầu trang(
Sau nhiều tháng hanh khô khiến hàng ngàn hécta cây trồng bị hạn nặng và hàng trăm hécta rừng đứng trước nguy cơ bị “giặc lửa” đe dọa, vào chiều tối 11/4 kéo dài đến chiều tối 12/4 tại Bình Định đã xuất hiện đợt mưa “vàng”.
Theo ngành nông nghiệp tỉnh Bình Định, đợt mưa này đã góp phần làm cho không khí dịu mát trở lại; tình trạng khô hạn trên địa bàn tỉnh đã bớt căng thẳng, nguy cơ xảy ra cháy rừng giảm. Tuy nhiên, do lượng mưa ít nên khả năng khô hạn sẽ vẫn còn tiếp diễn nghiêm trọng trong vụ hè thu này. (Công An Nhân Dân 13/4)đầu trang(
Những ngày gần đây, một số địa phương trên địa bàn tỉnh đã có mưa, nhờ vậy tình trạng khô hanh có phần giảm. Tuy nhiên, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) cần được tiếp tục triển khai thực hiện, bởi thời điểm này được xác định là cao điểm mùa khô.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xây dựng ban hành các kế hoạch, phương án bảo vệ rừng và PCCCR. Đồng thời, ban hành các văn bản về dự báo cấp cháy rừng, thành lập 3 tổ kiểm tra các đơn vị chủ rừng về công tác chống phá rừng, PCCCR. Các địa phương đã chủ động xây dựng nhiều phương án PCCCR, trong đó cấp huyện có 9 phương án, cấp xã có 50 phương án, các đơn vị chủ rừng xây dựng 26 phương án.
Ngoài ra, toàn tỉnh đã thành lập 588 tổ, đội PCCCR cơ sở, hơn 4.600 thành viên; các đơn vị chủ rừng còn chuẩn bị 173 xe cơ giới, huy động hơn 1.700 xe máy và gần 3.000 công cụ thủ công phục vụ công tác PCCCR. (Báo Bình Thuận 13/4)đầu trang(
Cùng với công tác tuyên truyền, vận động, lực lượng kiểm lâm huyện Lương Sơn đã tăng cường quản lý, bảo vệ góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (BVR& PCCCR).
Với nhiều biện pháp tuyên truyền tại cơ sở như mở hội nghị cấp xã, lồng ghép họp xóm, qua hệ thống phát thanh, truyền hình, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản về quản lý, bảo vệ, PCCCR đã được triển khai rộng khắp địa bàn KDC. Đến hết quý I, hội nghị cấp xã đã được tổ chức ở 19 xã, thị trấn có rừng lồng ghép 28 cuộc họp xóm với gần 6.000 lượt người được tuyên truyền, học tập. Các xã trọng điểm và ở các cửa lối vào rừng có đông người qua lại được cắm biển tuyên truyền công tác BVR&PCCCR.
Hạt kiểm lâm huyện đã chỉ đạo cán bộ kiểm lâm địa bàn làm tốt công tác tham mưu cho chính quyền cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng, hướng dẫn lập phương án BVR&PCCCR, xây dựng và củng cố tổ, đội quần chúng BVR&PCCCR, quy ước bảo vệ và phát triển rừng theo thông tư 70, đồng thời hướng dẫn và tham mưu về trình tự thủ tục khai thác vận chuyển lâm sản. Hiện tại, toàn huyện có 105 tổ, đội với 457 người tham gia. Các xã, thị trấn đã xây dựng xong quy ước bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Hòa Bình 12/4) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
13-4, Ban thư ký Công ước Ramsar thế giới trao bằng chứng nhận vườn quốc gia Mũi Cà Mau (VQGMCM) chính thức trở thành khu Ramsar thứ 2088 của thế giới. Đây cũng là khu Ramsa thứ 2 tại ĐBSCL và là khu Ramsar thứ 5 của Việt Nam.
VQGMCM thuộc địa phận huyện Ngọc Hiển (Cà Mau), tổng diện tích hơn 41.800ha, hệ sinh thái đa dạng với 93 loài chim, 26 loài thú, 43 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư, 233 loài thủy sản. Trong đó, có nhiều loài quý hiếm như bồ nông chân xám, giang sen, cò trắng Trung Quốc, rái cá, cầy giông đốm lớn, rùa hộp lưng đen, rùa răng, rùa ba gờ, rùa cổ bự…(Tuổi Trẻ 13/4; Người Lao Động 13/4; Thanh Niên 13/4; Chinhphu.vn 13/4)đầu trang(
Việc Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau trở thành khu Ramsar sẽ mở ra nhiều cơ hội để địa phương khai thác thế mạnh của vùng đất ngập nước, phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn nhiều loài động, thực vật quý hiếm
Ngày 13-4, Ban Thư ký Công ước Ramsar đã trao bằng chứng nhận khu Ramsar cho Vườn Quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau. Đây là khu Ramsar thứ 5 của Việt Nam và thứ 2.088 của thế giới.
Theo Công ước Ramsar thì một vùng đất ngập nước chỉ cần đạt 1/9 tiêu chí là đủ điều kiện để công nhận khu Ramsar. Trong khi đó, VQG Mũi Cà Mau thỏa mãn đến 5/9 tiêu chí.
VQG Mũi Cà Mau nằm trên địa bàn các xã Đất Mũi, Viên An, Đất Mới và Lâm Hải (thuộc 2 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển - Cà Mau), có vị trí quan trọng trong việc bảo tồn, sử dụng hợp lý vùng đất ngập nước của Việt Nam và thế giới. Vườn có tổng diện tích tự nhiên 41.862 ha, trong đó có 26.600 ha ven biển.
Đặc trưng của VQG Mũi Cà Mau là tính đa dạng sinh học với hệ động, thực vật rừng ngập mặn và diện tích mặt đất không ngừng mở rộng nhờ phù sa bồi tụ, lấn biển hàng chục mét mỗi năm. Đây là nơi cư ngụ của hơn 93 loài chim, 26 loài thú, 43 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư, 233 loài thủy sản.
Trong đó, nhiều loài quý hiếm như bồ nông chân xám, giang sen, cò trắng Trung Quốc, rái cá, cầy giông đốm lớn, rùa hộp lưng đen, rùa răng, rùa ba gờ, rùa cổ bự, ba ba Nam Bộ… Ngoài ra, còn có 60 loài thực vật bậc cao. Trong đó, có 26 loài cây ngập mặn với 2 loài đước đôi và quao nước nằm trong Sách đỏ Việt Nam.
Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc VQG Mũi Cà Mau, cho biết song song với những giá trị vật chất và tinh thần mà khu Ramsar có thể mang lại cho người dân Cà Mau, trách nhiệm giữ đúng Công ước quốc tế là hết sức nặng nề, nhất là trong điều kiện khu Ramsar quá rộng, đời sống dân cư trong khu vực còn nhiều khó khăn.
“Để bảo vệ khu Ramsar của thế giới, VQG Mũi Cà Mau cố gắng làm tốt hơn công tác lưu giữ, bảo tồn gắn liền với phát triển cộng đồng, nâng cao nhận thức, tạo sinh kế cho người dân. Ban giám đốc VQG kiến nghị Nhà nước cần tiếp tục đầu tư cải thiện đời sống, vật chất và tinh thần cho người dân địa phương; đồng thời, hạn chế di dân ngoài kế hoạch để giảm áp lực xâm hại tài nguyên thiên nhiên VQG...” - ông Tuấn kiến nghị.
Ông Lê Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, khẳng định việc VQG Mũi Cà Mau được công nhận là khu Ramsar mới của thế giới sẽ mở ra nhiều cơ hội để tỉnh đầu tư khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng đất ngập nước, phục vụ phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn nhiều loài động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ của Việt Nam và thế giới.
Chức năng chủ yếu của VQG Mũi Cà Mau là bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước, hạn chế xói lở, thúc đẩy quá trình bồi tụ bờ biển… Bên cạnh đó, VQG còn là nơi tổ chức các hoạt động tham quan, du lịch sinh thái, hợp tác quốc tế; thực nghiệm các mô hình bảo tồn, sử dụng bền vững tài nguyên rừng, phát huy giá trị và chức năng kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn…(Người Lao Động 15/4)đầu trang(
12/4, tổ chức Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN) đã có ý kiến nhận xét, phản biện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A.
Theo quy hoạch, hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A được xây dựng trên dòng chính của sông Đồng Nai do Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư với tổng công suất 240MW.
Khi xây dựng, hai nhà máy thủy điện này sẽ làm ngập một diện tích rừng rất lớn, trong đó đặc biệt chiếm dụng 170ha rừng thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên.
VRN khẳng định, hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nếu được triển khai xây dựng sẽ gây ra những tác động và tổn thất lớn cho môi trường và sẽ để lại hậu quả cho xã hội mà khó có thể khắc phục.
VRN đề nghị các bộ ngành trung ương và chính quyền địa phương khẩn trương rà soát lại quy hoạch thủy điện trên sông Đồng Nai và loại bỏ dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ra khỏi quy hoạch. (Tiền Phong 13/4; Chinhphu.vn 13/4;Lao Động 13/4) đầu trang(
Đã 8 năm trôi qua kể từ khi tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định đầu tiên của Chính phủ về việc phải hành động khẩn trương để bảo tồn voi, đến nay xứ voi vẫn chưa biết bao giờ nguồn kinh phí này mới được rót về, dù dự án bảo tồn voi đã 3 lần được phê duyệt và chỉnh sửa bổ sung …
Thực hiện quyết định số 733 ngày 16/5/2006 của Thủ tướng về việc phê duyệt kế hoạch hành động khẩn trương đến năm 2010 để bảo tồn voi tại Việt Nam, năm 2009 UBND tỉnh Đắk Lắk đã xây dựng và phê duyệt Dự án bảo tồn voi (DABTV) lần thứ 2, thay cho DABTV lần thứ nhất chỉ tập trung lo cho voi nhà, với mục tiêu được mở rộng, nâng lên thành “Quản lý bền vững quần thể voi hoang dã, phát triển đàn voi nhà của tỉnh và truyền thống lịch sử văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số gắn với Voi, góp phần phát triển văn hóa-xã hội-bền vững môi trường của tỉnh Đắk Lắk”.
Tổng mức đầu tư cho dự án giai đoạn 2010-2015 là 61 tỉ đồng, với số voi nhà đếm được lúc bấy giờ là 61 con, còn voi hoang dã ước khoảng trên dưới 10 đàn với khoảng110 con.
Chờ hoài chưa thấy Dự án của tỉnh được trung ương thông qua, voi rừng lẫn voi nhà đành… rỉ rả chết dần vì kiệt sức, vì không được chăm sóc và bị săn bắn trộm khắp các huyện thành có voi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Tháng 7/2012, Đắk Lắk tiếp tục nhận được quyết định số 940 của Thủ tướng phê duyệt kế hoạch hành động khẩn cấp đến năm 2020 để bảo tồn voi kèm theo công văn hướng dẫn thực hiện của Bộ NN&PTNT.
Chấp hành nghiêm lệnh, tỉnh Đắk Lắk đã rà soát lại DABTV để chỉnh sửa bổ sung, tăng tổng mức đầu tư lên gần bảy lăm tỉ rưỡi. Tháng 10/2012 tỉnh gửi tờ trình kèm biểu dự toán chi tiết ra cho Bộ NN&PTNT xem xét, thẩm định, báo cáo Thủ tướng phê duyệt.
Tờ trình ghi rõ: Trong 79,452 tỉ đồng này, tỉnh sẽ chi 6,86 tỉ để chăm sóc sức khỏe đàn voi nhà; Giáo dục, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống về voi; Đền bù thiệt hại hoa màu do voi phá, hỗ trợ cho các tổ bảo vệ voi hàng năm; Chi trả lương hành chính sự nghiệp cho cán bộ Trung tâm Bảo tồn Voi và một số vấn đề liên quan khác.
Phần ngân sách trung ương 63,902 triệu dành để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật cho Trung tâm Bảo tồn Voi, nghiên cứu cho voi nhà sinh sản, quản lý giám sát bảo tồn voi hoang dã, hạn chế xung đột giữa voi và người. Phần tài trợ của các tổ chức quốc tế 8,69 tỉ đồng để đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác bảo tồn voi …
Từ đó tới nay, lại nửa năm nữa đã trôi qua, tỉnh vẫn chưa nhận được hồi âm, trong khi voi nhà, voi rừng vẫn cứ tiếp tục chết.
Sau vụ đôi voi rừng bị kẻ gian bắn chết để khoét lấy ngà bị phát hiện từ tháng 8/2012 giữa đại ngàn gần biên giới Campuchia mà cơ quan chức năng bó tay, không dò ra manh mối thủ phạm, liên tục nhiều vụ tử nạn khác của voi hoang dã tiếp tục xảy ra trên địa bàn các huyện Buôn Đôn, Ea Súp.
Tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013, Trung tâm Du lịch Bản Đôn báo cáo: trong 6 ngày Tết, Trung tâm đã huy động 14 con voi nhà luân chuyển để phục vụ nhu cầu cưỡi voi của 27.000 lượt khách “đổ” về huyện Buôn Đôn, trung bình mỗi ngày thu khoảng 50 triệu đồng với mức giá 600.000 đồng/giờ/voi .
Rõ ràng những con voi chuyên “phục vụ du lịch” đã bị khai thác quá sức chịu đựng. Và cái giá mà những chủ voi và Trung tâm Du lịch phải trả đắt hơn nhiều so với những gì họ nhận được.
Bằng chứng là ngay mùng 2 tết, nàng voi H’Plõ 35 tuổi đã gục chết trong đêm rừng Krông Na không rõ nguyên nhân. Cũng trong một đêm như thế tại cánh rừng này, mới đây, ngày 11/4, bà voi Bun Nhang cũng qua đời sau nhiều ngày cõng khách băng qua những đoạn sông cạn lổm ngổm đá mùa khô. (Tiền Phong 12/4) đầu trang(
Theo thống kê đến đầu năm 2013 của Cơ quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites Việt Nam), tổng đàn voi nhà ở tỉnh Đắk Lắk còn 51 con. Nhưng chỉ 2 tháng qua, đã có 2 con voi đột ngột chết vì bị vắt kiệt sức làm du lịch.
Trước đó đã có nhiều voi, gồm cả voi nhà và voi rừng bị sát hại một cách dã man để cưa trộm ngà. Vì vậy, đàn voi ở nước ta đang sụt giảm đáng báo động, trong khi hoạt động bảo tồn vẫn gần như dậm chân tại chỗ. Đáng buồn hơn, không chỉ voi rừng bị săn giết trộm mà những con voi nhà đang được nuôi ở Đắk Lắk cũng đang dần kiệt sức vì phục vụ du lịch quá sức. Mới đây nhất là một con voi 63 tuổi có tên Buôn Nhang đã phải bỏ mạng.
Sáng 9-4, ông Y Glư Bkrông, ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk, vào Tiểu khu 485 thuộc lâm phần Vườn Quốc gia Yok Đôn để dẫn voi Buôn Nhang của mình về chở khách thì phát hiện voi chết từ lúc nào. Đây là con voi nhà thứ 2 chết trong vòng 2 tháng qua. Trước đó vào ngày 11-2, con voi 35 tuổi tên H’Plo (thuộc sở hữu của Trung tâm Du lịch Bản Đôn) cũng chết do phục vụ du lịch quá sức.
Ông Ngô Lê Trụ, chuyên viên của Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Bộ NN-PTNT) cho rằng, việc người dân ở Buôn Đôn dùng voi làm du lịch ảnh hưởng rõ tới sức khỏe cũng như mục đích bảo tồn voi nhà. Điều đáng buồn là các voi nhà, trong đó có cả voi già, đang phải gồng sức để “kiếm tiền từ du lịch” nhưng thu nhập từ việc dùng voi làm du lịch, chở khách thăm thú trong các buôn làng... cũng chẳng đem lại bao nhiêu lợi nhuận.
“Mặc dù các voi nhà ở Buôn Đôn đang phải làm việc quá sức, nhưng theo khảo sát của chúng tôi thì thu nhập từ việc dùng voi làm du lịch một năm cũng chỉ khoảng từ 13 - 16 triệu đồng/con (tính tất các khoản thu). Trong khi khẩu phần, chế độ chăm sóc cho voi lại rất hạn chế” - ông Trụ nói.
Cũng theo Cơ quan Quản lý Cites Việt Nam, bên cạnh 49 con voi nhà còn sống, cả nước vẫn còn khoảng 70 - 73 voi hoang dã, tập trung ở Đắk Lắk, Đồng Nai, Nghệ An. Tuy nhiên số liệu này cũng không chắc chắn vì những kẻ săn bắn voi luôn rình rập. Thời gian gần đây, việc bảo tồn voi mới được các địa phương có voi quan tâm sau khi hàng loạt voi bị chết, săn bắn trộm... Trong khi đó, từ năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo về việc bảo tồn voi, song các địa phương triển khai quá chậm.
Ông Trụ cho biết, những năm qua, hầu như chưa có dự án nào chính thức về bảo tồn voi, chỉ có các quyết định được ban ra và các “tiểu dự án” như chủ trương xây dựng hàng rào điện của tỉnh Đồng Nai để bảo vệ khu vực voi hoang dã sinh sống. Hoặc quyết định thành lập Trung tâm Bảo tồn voi để theo dõi, chăm sóc sức khỏe voi nhà của UBND tỉnh Đắk Lắk. Mặc dù các tỉnh đã lập dự án đề nghị bảo tồn, song sau đó lại không đi vào hoạt động vì không được cấp kinh phí.
Trước sự nguy cấp về bảo tồn loài voi, mới đây, Bộ NN-PTNT cùng với các bộ liên quan và địa phương có voi đã xây dựng đề án về bảo tồn voi trình Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, giải pháp ưu tiên là tập hợp các cá thể voi vào nơi tập trung để tiện theo dõi, đồng thời tạo cơ hội để voi nhà có thể sinh sản, tránh việc đi săn voi rừng về nuôi, làm du lịch.
Trong 49 con voi nhà còn tồn tại, có trên 60% là voi trưởng thành, trong đó khoảng 19 voi đực, sẽ tính toán làm sao chúng sinh sản tốt nhất. Đặc biệt, đề án đặt ra việc sẽ hỗ trợ cho voi sinh sản, chăm sóc voi. “Và sẽ hỗ trợ cho các chủ voi một phần kinh phí để họ không phải cho voi đi làm thuê hoặc khai thác du lịch một cách quá sức...” - ông Trụ nói.
Theo như đề xuất của 3 tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai và Nghệ An với Bộ NN-PTNT, kinh phí cần có để bảo tồn đàn voi từ nay đến năm 2020 khoảng 220 tỷ đồng. (Sài Gòn Giải Phóng 15/4)đầu trang(
Trong vòng 8 tháng qua, đã có ít nhất 2 con voi nhà và 5 con voi rừng chết do phục vụ du lịch quá sức và bị giết hại, trong khi công tác bảo tồn vẫn còn trên giấy!
Mới đây, dư luận hết sức quan tâm trước việc một con voi rừng bị giết chết, lột hết da, cắt nhiều bộ phận vào ngày 3-4 tại Lâm trường Minh Hóa, huyện Minh Hóa - Quảng Bình. Chưa đầy 1 tuần sau, ngày 9-4, voi cái Buôn Nhang, 63 tuổi, của 1 người dân xã Krông Na, huyện Buôn Đôn - Đắk Lắk, lại chết tại Vườn Quốc gia Yok Đôn.
Theo người dân Minh Hóa, voi bị xẻ thịt ngày 3-4 là con cái. Trước đây, rừng Quảng Bình chỉ có 2 con voi trưởng thành, 1 đực và 1 cái. Khoảng 2 năm trước, con voi đực đã bị một số kẻ săn trộm hạ sát lấy ngà. Người dân địa phương quả quyết voi cái bị sát hại mới đây là con cuối cùng ở Quảng Bình.
Trước đó, ngày 25-8-2012, người dân Đắk Lắk phát hiện xác 2 con voi rừng trưởng thành - 1 đực, 1 cái - đang trong quá trình phân hủy tại lâm phần Vườn Quốc gia Yok Đôn. Xác con voi đực đã bị xẻ lấy một phần xương mặt và một đoạn vòi. Ngay sau đó, lực lượng chức năng đã có mặt tại hiện trường điều tra nguyên nhân voi chết và khẳng định có kẻ sát hại chúng.
Những bộ xương của voi rừng đã được cơ quan chức năng tiêu hủy nhưng kẻ sát hại chúng vẫn còn ung dung ngoài vòng pháp luật. Đã gần 1 năm trôi qua, cơ quan chức năng vẫn chưa có manh mối gì về những kẻ sát hại 2 con voi rừng này để xử lý.
Đắk Lắk hiện còn 50 con voi nhà, tất cả đều đang phục vụ du lịch. Trong đó, 4 công ty du lịch, vườn quốc gia quản lý 15 con, các hộ dân nuôi, sử dụng 35 con. Trung bình mỗi ngày, voi phải chở khách du lịch liên tục 7 giờ; dịp lễ Tết có thể hơn nhiều khiến chúng kiệt sức.
Theo ông Nguyễn Công Chung, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, voi Buôn Nhang chết khi đang xích qua đêm trong rừng. “Mùa này thức ăn khan hiếm, không được chủ chăm sóc, trong khi Buôn Nhang đã già nên kiệt sức mà chết” - ông Chung nhận định.
Trước khi voi Buôn Nhang chết, tháng 2-2013, voi cái H’plo, 35 tuổi, thuộc sở hữu của Trung tâm Du lịch Bản Đôn và Công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu 2/9 Đắk Lắk, cũng chết khi xích ở Vườn Quốc gia Yok Đôn. Ông Y Bít Buôn Byă, người chăm sóc voi H’plo, cho biết: “H’plo chết là do kiệt sức vì không được nghỉ ngơi hợp lý”.
Trong biên bản làm việc, đại diện các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk cũng đều xác định Buôn Nhang và H’plo chết là do thiếu thức ăn, trong khi phải phục vụ du lịch quá sức. Thực tế, ban ngày, voi phải về các khu du lịch chở khách, tối đến mới được đưa vào rừng xích lại cho ăn. Trong khi đó, nguồn thức ăn, cây thuốc ngày càng cạn kiệt nên voi nhà không đủ chất dinh dưỡng.
Theo ông Nguyễn Đức, Trưởng Bộ phận Trung tâm Du lịch Bản Đôn, trung tâm có 4 con voi mua từ nhiều năm nay và hợp đồng với người dân 10 con để phục vụ du lịch. “Mỗi ngày, sau khi voi phục vụ du lịch, chúng tôi phải đưa chúng đi hàng chục cây số vào rừng sâu xích lại cho ăn. Bốn giờ sáng hôm sau, nài lại vào rừng đưa voi về trước 8 giờ để phục vụ du lịch. Do khoảng thời gian voi được xích trong rừng quá ít, trong khi thức ăn khan hiếm nên sức khỏe của chúng không thể bảo đảm” - ông Đức nhìn nhận. (Người Lao Động 13/4) đầu trang(
Chỉ trong vòng 2 tháng qua đã có 2 con voi ở Đắk Lắk bị chết đột ngột. Nguyên nhân không đến từ bệnh tật, già yếu mà do voi bị khai thác quá mức, vắt kiệt sức lao động.
Trao đổi về thực trạng này, ông Ngô Lê Trụ, chuyên viên về bảo tồn voi - Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Bộ NN&PTNT) cho rằng, việc người dân như ở Buôn Đôn dùng voi làm du lịch ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cũng như mục đích bảo tồn voi nhà. Đáng nói, những con voi nhà đang phải gồng mình để “kiếm tiền” nhưng thu nhập từ việc dùng voi làm du lịch, chở khách thăm thú trong các buôn làng... cũng chẳng đem lại bao nhiêu lợi nhuận.
“Dù các con voi nhà ở Buôn Đôn đang phải làm việc quá sức, nhưng theo điều tra khảo sát của chúng tôi, thu nhập từ việc dùng voi làm du lịch chỉ từ 13-16 triệu đồng/con/năm. Trong khi khẩu phần, chế độ chăm sóc cho voi lại rất hạn chế”, ông Trụ nói.
Ông Ngô Lê Trụ cho biết, những năm qua, hầu như chưa có dự án nào chính thức về bảo tồn voi, chỉ có các quyết định được ban ra và các “tiểu dự án” như chủ trương xây dựng hàng rào điện của tỉnh Đồng Nai để bảo vệ khu vực voi hoang dã sinh sống. Hoặc, quyết định thành lập Trung tâm Bảo tồn voi để theo dõi, chăm sóc sức khỏe voi nhà của UBND tỉnh Đắk Lắk. Nhưng, trung tâm bảo tồn này cũng chỉ được lập ra rồi sống “lay lắt” vì thiếu kinh phí. Còn tại các tỉnh, dù đã lập dự án đề nghị bảo tồn, song sau đó lại không đi vào hoạt động cũng vì thiếu kinh phí.
Trước sự nguy cấp về bảo tồn loài voi, mới đây, Bộ NN&PTNT cùng với các bộ liên quan và địa phương có voi đã xây dựng đề án về bảo tồn voi trình Thủ tướng Chính phủ. Trong 49 con voi nhà còn tồn tại, có trên 60% là voi trưởng thành, trong đó có khoảng 19 con voi đực, sẽ tính toán để cho chúng sinh sản tốt nhất, hỗ trợ chủ voi để giảm áp lực khai thác du lịch cho voi.
Theo như đề xuất của ba tỉnh gồm Đắk Lắk, Đồng Nai và Nghệ An vừa gửi lên Bộ NN&PTNT, chỉ cần 220 tỷ đồng cho việc bảo tồn voi từ nay đến năm 2020. (An Ninh Thủ Đô 14/4)đầu trang(
Kế hoạch 388 của UBND tỉnh Điện Biên ban hành việc thực hiện rà soát, hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lâm nghiệp giai đoạn 2013 – 2015.
Hiện nay, Điện Biên đang thực hiện rà soát lại toàn bộ những trường hợp giao đất, giao rừng còn tồn tại, bất cập của Nghị định 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ như: Được giao đất, thuê đất lâm nghiệp nhưng chưa thiết lập hồ sơ giao rừng, thuê rừng. Trường hợp đã được giao rừng, thuê rừng nhưng chưa được giao đất, thuê đất lâm nghiệp..
Trường hợp giao đất, thuê đất chưa có rừng thì được giao đất cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ. Những diện tích đã được giao đất, giao rừng thì cần xác định lại trạng thái rừng, trữ lượng rừng và các thay đổi về hiện trạng rừng; rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng phục hồi và phân loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Xác định nguồn gốc rừng, giữa rừng tự nhiên và rừng trồng cho các chủ rừng.
Đến năm 2015, Điện Biên hoàn thành việc rà soát, hoàn tất thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp; bao gồm cả giao rừng và cho thuê rừng gắn liền giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp lần đầu, dựa trên cơ sở giao đất, giao rừng theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP của Chính Phủ. Nội dung giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp và cấp GCNQSDĐ.
Hạn mức giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân không quá 30ha. Đối với hộ gia đình, cá nhân được giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản; được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất không quá 25ha. Trường hợp vượt quá hạn mức thì các hộ gia đình, cá nhân phải trả tiền thuê đất hằng năm tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất UBND tỉnh quy định, với thời gian 50 năm/lần thuê đất lâm nghiệp. (Tài Nguyên&Môi Trường 12/4) đầu trang(
Để từng bước phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn Long Thành, Đồng Nai đã quyết định đầu tư trên 3 tỷ đồng triển khai mô hình trồng rừng, tạo sự đa dạng sinh học về loài và tạo mật độ thích hợp cho rừng ngập mặn từ nay đến năm 2014.
Theo đó, Ban quản lý rừng phòng hộ Long Thành (BQLRPH )đã triển khai thực hiện mô hình trồng thử nghiệm một số cây bản địa rừng ngập mặn thuộc dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ. Mô hình được thực hiện trên khu vực có nhiều cây bụi, độ che phủ rừng thấp. Các loài cây được chọn trồng thử nghiệm với tổng diện tích trồng gần 70 hécta.
Đến nay, các cán bộ kỹ thuật của BQLRPH Long Thành đã tự nghiên cứu gieo ươm thành công 29.200 cây su, ổi, 7 ngàn cây gõ biển. Toàn bộ số cây giống này được thực hiện trong dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn phòng hộ Long Thành giai đoạn 2012 - 2014. (Báo Đồng Nai 14/4)đầu trang(
12-4, lãnh đạo Sở NN&PTNT báo cáo như vậy với với đoàn giám sát của Ban pháp chế HĐND tỉnh về tình hình chấp hành pháp luật trong bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Báo cáo của Sở NN&PTNN cho biết: Đến cuối năm 2012, toàn tỉnh có 178.030,9 ha đất quy hoạch lâm nghiệp, gồm ba loại rừng phòng hộ, đặc dụng, sản xuất; trong đó đất có rừng 115.756,6 ha, đất chưa có rừng 62.274,3 ha. Năm 2012 không xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên quý I-2013, toàn tỉnh đã có 16 vụ cháy rừng và 7 vụ cháy các trảng cỏ ven rừng; trong đó huyện Hớn Quản có 9 vụ cháy 48,63 ha.
Từ đầu năm 2012 đến hết tháng 3-2013, trên địa bàn tỉnh xảy ra 986 vụ vi phạm về quản lý và bảo vệ rừng, lâm sản. Cơ quan chức năng đã tịch thu 996,213m3 gỗ tròn, 658,083m3 gỗ xẻ, 338 con thú rừng sống… thu nộp ngân sách nhà nước 8,164 tỷ đồng. Hiện cơ quan chức năng đã xử lý 902 vụ, trong đó có 6 vụ xử lý hình sự, còn lại đang trong giai đoạn thẩm tra, xác minh.
Theo đánh giá của sở NN&PTNN, nguyên nhân chính để xảy ra tình trạng vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng, lâm sản diễn biến phức tạp là do dân di cư tự do xâm canh lấn chiếm đất, rừng; phối hợp giữa các lực lượng, huyện thị chưa đồng bộ, bất cập trong văn bản quy phạm pháp luật; quản lý còn chồng chéo giữa các cơ quan chức năng; chủ rừng chưa thực hiện hết trách nhiệm…
Tại buổi làm việc, các thành viên Ban pháp chế HĐND tỉnh cho rằng nạn phá rừng, xâm canh lấn chiếm đất rừng diễn biến phức tạp với nhiều hoạt động tinh vi, vì vậy cơ quan chức năng phải xử lý nghiêm minh. Nếu sở NN&PTNN phát hiện văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo, bất cập thì phải kịp thời tham mưu UBND tỉnh để thống nhất thực hiện. (Báo Bình Phước 12/4)đầu trang(
12/4, Sở NN&PTNT tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác lâm nghiệp năm 2012, triển khai kế hoạch và bàn biện pháp thực hiện kế hoạch sản xuất lâm nghiệp năm 2013; bàn công tác tổ chức thành lập ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng các cấp; xây dựng các dự án bảo vệ và phát triển rừng.
Năm 2012, mặc dù thời tiết diễn biến phức tạp, nguồn vốn ngân sách không đáp ứng đủ vốn đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp nhưng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng vẫn đạt kết quả tốt. Toàn tỉnh trồng mới được 8.736 ha đạt, 124,8% kế hoạch năm và 165.869 cây phân tán, bảo vệ rừng 75.000 ha.
Hội nghị đã triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2013 với các chỉ tiêu chủ yếu như: trồng mới 7.000 ha rừng (trong đó rừng phòng hộ 850 ha, rừng sản xuất 6.150 ha); bảo vệ rừng 75.000 ha; khoanh nuôi tái sinh 5.000 ha; duy trì độ che phủ rừng 46%.
Theo lãnh đạo Sở NN&PTNT, Sở sẽ tham mưu đề xuất UBND tỉnh thành lập các BQL dự án bảo vệ và phát triển rừng các cấp giai đoạn 2011-2020. Đồng thời đề nghị tỉnh cân đối nguồn vốn ngân sách địa phương hoặc đề nghị Bộ KH-ĐT, Bộ Tài chính bổ sung vốn ngân sách T.Ư để hỗ trợ đầu tư các công trình chuyển tiếp, công tác trồng rừng phòng hộ đặc dụng theo kế hoạch bảo vệ rừng bền vững tỉnh Hoà Bình năm 2013.
Đồng thời đề nghị UBND các huyện, thành phố có kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp thu hồi từ các doanh nghiệp trồng rừng không có hiệu quả; bố trí ngân sách huyện để hỗ trợ cây giống cho nhân dân trồng rừng. (Báo Hòa Bình 13/4) đầu trang(
13-4, thạc sĩ Lê Cảnh Nam - trưởng phòng nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng, cho biết sau thời gian nghiên cứu, trung tâm đã nhân giống và trồng thử nghiệm thành công các cá thể cây thông hai lá dẹt tại Lâm Đồng.
Hiện đơn vị đã phối hợp với vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà tiến hành trồng 3ha (trong đó 2ha dưới tán rừng, 1ha ở đất trống).
Thông hai lá dẹt là loài cây đặc hữu ở Việt Nam (tên khoa học là Ducampopinus krempfii, thuộc họ thông - pinaceae). Đây là loài thông cổ với đặc trưng có hai lá dẹt hình lưỡi kiếm, trên thế giới chỉ có độc nhất ở Việt Nam, phân bố hẹp ở Lâm Đồng (vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, huyện Lạc Dương), Khánh Hòa (khu vực Khánh Vĩnh, khu bảo tồn nhiên nhiên Hòn Bà) và Chư Yang Sin (Đắk Lắk).
Theo thạc sĩ Nam, thông hai lá dẹt sinh trưởng rất chậm, tăng trưởng đường kính khoảng 1mm/năm (nếu cây có đường kính 2,5m thì tuổi cây có thể đạt tới 1.000 năm), loài cây này thường gặp ở độ cao 1.200-2.000m. (Tuổi Trẻ 14/4)đầu trang(
Giữa tháng 3, hai chú gấu ngựa bé bỏng bị một kẻ hám lợi bắt trong khu rừng thảo quả của hắn ở Phong Thổ, Lai Châu, khi gấu mẹ nặng khoảng hai tạ đang mải kiếm mồi. Sau nửa tháng được lực lượng kiểm lâm nuôi dưỡng, hai chú đã về với Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam Nam đặt tại VQG Tam Đảo.
Chiều 12/4, hai chú gấu ngựa một tháng tuổi đã trải qua hành trình hai ngày một đêm từ Lai Châu về đến Tam Đảo. Hai chú gấu con tạm thời được đặc tên là Misty (Sương) và Raine (Mưa) để kỷ niệm hành trình cứu hộ của những nhân viên cứu hộ gấu.
Phó giám đốc Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Lai Châu Nguyễn Hữu Ái cho biết, dù chưa có các cuộc điều tra đầy đủ, nhưng qua những lần xâm nhập thôn bản, thì nhiều người dân cho ông biết một số khu rừng vẫn còn gấu như ở Sìn Hồ, Phong Thổ, Mường Tè và dãy Hoàng Liên...
Và nữa, trong mấy năm qua, đây không phải là chuyến cứu hộ gấu con đầu tiên của Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam, mà thi thoảng, ở Lai Châu, Sơn La, Điện Biên... lại có vài con gấu con lạc mẹ. Thường thì mẹ của chúng bị bắn hạ, còn chúng thì bị bắt mang bán. Và những con về được đến Trung tâm là do may mắn thoát được khi trên đường vận chuyển kẻ tội phạm bị bắt.
Tại Trung tâm, hiện có hẳn cả một nhà gấu con nơi hơn chục con gấu con vẫn đang sống, một số con lớn hơn đã chuyển sang khu dành cho gấu trưởng thành. Khu gấu con được cách ly rất chặt chẽ và cấm khách thăm quan đến gần. Đơn giản là những người cứu hộ nghĩ: gấu con rất yêu quý con người, vì con người thường gần gũi chăm sóc chúng từ bé. Nhưng nếu cứ để chúng suy nghĩ như vậy, chúng sẽ không phòng vệ khi con người tới gần, và nếu được tái thả về rừng, chúng sẽ dễ dàng bị bắt trở lại.
Theo các chuyên gia, gấu không sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt, chưa có trường hợp gấu con nào được phát hiện sinh ra trong các trại gấu. Vì thế, với những dấu hiệu về gấu tự nhiên ở Lai Châu, và với mật độ những con gấu con được cứu hộ vẫn đang dày lên, có thể nói rừng ở Lai Châu nói riêng, và rừng Việt Nam cũng như các nước láng giềng nói chung, có thể vẫn còn gấu.
Nhưng việc làm thế nào để điều tra khảo sát, để từ đó khoanh vùng bảo vệ gấu, để chúng phát triển trong tự nhiên, cũng như có thể thả thêm những cá thể gấu đã phục hồi bản năng về lại tự nhiên, còn đang là câu hỏi bỏ ngỏ đối với cả cơ quan quản lý cũng như các tổ chức bảo tồn. (Nhân Dân 13/4)đầu trang(
Ông Vương Đình Bơ, ngụ tại thị trấn Cần Thạnh (huyện Cần Giờ, TP.HCM) là cựu cán bộ biên phòng thuộc thế hệ đầu tiên có mặt ở "đảo khỉ" từ khi rừng phòng hộ Cần Giờ còn là một mảnh đất "chết" bởi bom đạn, chất độc hóa học của chiến tranh.
Ông là người có công trong việc tận dụng những phương pháp nhà binh và một số thủ thuật riêng để dẫn dụ khỉ ra khỏi rừng về sống gần gũi, thân thiện với con người.
Ông Bơ được ban quản lí giao nhiệm vụ phải lấy thức ăn cho bầy khỉ ăn. Từ khi có bầy khỉ, cuộc sống của những người chiến sĩ biên phòng Lí Nhơn cũng bớt buồn tẻ hơn. Chốt biên phòng của ông Bơ hàng ngày có lũ khỉ quây quần, nghỉ ngơi và chơi đùa nhưng khi thấy bóng dáng người lạ là bỏ chạy. Bởi khỉ sợ con người tìm cách sát hại bằng súng và săn bắt. Biết được đặc tính này của khỉ, ông tìm cách lánh mặt mỗi khi khỉ tới ăn. Qua quá trình quan sát, ông Bơ phát hiện ra rằng lũ khỉ này rất gần gũi và hiếu động nên trong đầu ông nảy ra ý định dụ bầy khỉ ra khỏi rừng.
Ông Bơ bèn bàn bạc với hai cộng sự của mình là anh Nguyễn Văn Tuấn và Đặng Văn Đức cách dụ khỉ ra khỏi rừng về sống gần gũi với con người. Và ông Bơ đi đến quyết định dùng món khoái khẩu nhất là các loại trái cây để dụ dỗ loài khỉ. Ông Bơ nói: "Ban đầu, chúng tôi để thức ăn tập trung ở một chỗ cho chúng có thói quen ăn tập thể. Sau đó, tôi treo lên cây và dải ở dọc đường đi. Cứ mỗi buổi chiều hôm sau, chúng tôi lại đi kiểm tra tình hình thấy hiện trường chỉ còn sót lại vỏ trái cây nên rất vui mừng. Cứ như thế anh em kiên trì dẫn dụ khỉ và chúng đã gần gũi với con người hơn".
Chưa dừng lại ở đó, ông Bơ lại sáng kiến ra cách dụ khỉ bằng tiếng kẻng như quân đội thường sử dụng để báo thức, hay báo động. Ông Bơ lí giải về điều này: "Khỉ là loài vật thông minh nên đưa chúng vào khuôn khổ sẽ dễ dàng hơn các loài vật khác. Để làm được điều này, mỗi khi rải thức ăn, chúng tôi lại đánh hồi kẻng. Chúng ngửi thấy mùi thơm của hoa quả nên tìm đến. Theo thời gian, tiếng kẻng trở thành kí hiệu riêng được khỉ ghi nhớ. Mỗi khi nghe tiếng kẻng vang một góc trời biết là có thức ăn, rồi chúng tự động tìm về đảo kiếm ăn". (Người Đưa Tin 13/4)đầu trang(
Tỉnh Điện Biên có tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế lâm nghiệp và nghề rừng. Nhưng thực tế, tiềm năng đó vẫn chưa được khai thác tương xứng. Cách nào thu hút doanh nghiệp trồng rừng hiệu quả vẫn là bài toán nan giải...
Đó là khẳng định của ông Nguyễn Đình Kỳ, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT khi trao đổi về vấn đề thu hút doanh nghiệp trồng rừng.
Lý giải điều này, ông Kỳ cho rằng: Hiện nay đã có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147/QĐ - CP của Chính phủ với mức từ 3 - 4 triệu đồng/ha (tùy thuộc vào việc lựa chọn trồng cây gỗ nhỏ hay gỗ lớn). Để được nhận hỗ trợ, doanh nghiệp phải đảm bảo các tiêu chí theo quy định, như: tỷ lệ cây sống phải đạt từ 85% trở lên, có đầy đủ thủ tục hồ sơ giao đất... Thiếu một trong số tiêu chí đó thì doanh nghiệp chưa thể nhận tiền hỗ trợ từ Nhà nước.
Đặc thù của tỉnh Điện Biên là, địa bàn trồng mới rừng hiện nay hầu hết nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, điều kiện thời tiết khắc nghiệt và xét ở một góc khách quan thì đất tốt, đất đẹp chưa được ưu tiên để trồng rừng mà còn dành cho những loại cây khác, như: cà phê, cao su... Chính vì vậy, đảm bảo được chỉ tiêu cây trồng sống theo quy định chẳng hề đơn giản.
Đó là chưa kể đến khó khăn về thủ tục hoàn thiện hồ sơ giao đất trồng rừng. Diện tích được quy hoạch trồng rừng chủ yếu vẫn nằm trong tay người dân. Do đó, dù doanh nghiệp thỏa thuận được với người dân liên kết góp đất trồng rừng mà diện tích đó chưa được cấp sổ đỏ thì doanh nghiệp cũng chưa có căn cứ để nhận hỗ trợ trồng rừng của Nhà nước.
Để làm thủ tục cấp sổ đỏ cho người dân có đất liên kết trồng rừng cũng còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Bởi để làm sổ đỏ cho người dân nhưng doanh nghiệp phải bỏ kinh phí để trả cho đơn vị rà soát, đo đạc với mức khoảng 1 triệu đồng/ha mà không có sự hỗ trợ nào khác.
Theo tính toán của cơ quan chuyên môn, phải cần hơn 30 triệu đồng để trồng 1ha rừng sản xuất; trong khi mức Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp trồng rừng như hiện nay là quá thấp. Do đó muốn “trồng rừng để thành rừng” thì phải gắn liền với quá trình chăm sóc, bảo vệ chứ không thể chỉ trồng và tính đủ tỷ lệ cây sống năm đầu tiên để được nhận hỗ trợ rồi để đó, bỏ qua khâu chăm sóc, bảo vệ những năm tiếp theo. Nhất là với cây rừng trung bình sau khi trồng từ khoảng 7 - 10 năm mới được khai thác, hay chí ít cũng dăm năm mới có nguồn thu.
Vì những lý do đó mà số doanh nghiệp dù đã được tỉnh cấp phép trồng rừng nhưng cũng khó để triển khai thực hiện. Đó là chưa xét đến vấn đề tiêu thụ, bao tiêu sản phẩm. Vì không phải doanh nghiệp nào đăng ký trồng rừng cũng có năng lực để triển khai xây dựng nhà máy, cơ sở sản xuất chế biến nguyên liệu làm ra... nên tâm lý vừa trồng vừa phấp phỏng âu lo!
Ông Nguyễn Đình Kỳ cho rằng, giải quyết vướng mắc đầu tiên để thu hút doanh nghiệp trồng rừng vẫn là cần chính sách đất đai hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế địa phương. Tiếp sau đó mới bàn đến chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Trong số 18 doanh nghiệp hiện đã được UBND tỉnh cấp phép trồng rừng, có những doanh nghiệp thực sự tâm huyết với trồng rừng, nghề rừng như: Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên hay Công ty Cổ phần rừng Việt Tây Bắc... (Báo Điên Biên 13/4) đầu trang(
Tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc doanh nghiệp là các giải pháp chính đang được nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ tập trung, để tự cứu mình.
Sai lầm trong quyết định dự trữ nguyên liệu từ cuối năm 2007 đang đẩy Công ty cổ phần Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) vào tình trạng khó khăn, do lượng hàng nguyên liệu tồn kho lớn (trước năm 2008, giá nguyên liệu tăng trung bình 18%/năm, trong khi lãi suất ở mức dưới 12%/năm, nên TTF đã đưa ra quyết định dự trữ nguyên liệu sau khi tăng vốn điều lệ vào cuối năm 2007).
Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, lãnh đạo TTF cho biết, thực ra, nguyên liệu chậm luân chuyển cần thanh lý chỉ xấp xỉ 400 tỷ đồng, còn lại là nguyên liệu mới đang được dự trữ cho các đơn hàng hiện tại. Do đặc tính ngành hàng, nguyên liệu cần phải được dự trữ, phục vụ công tác chế biến ban đầu (cưa xẻ - sấy) trong vòng 2 - 4 tháng. Vì vậy, để thực hiện những đơn hàng lớn, phải có lượng hàng dự trữ lớn.
Đại diện lãnh đạo TTF cho biết, trong năm 2012, Công ty đã thanh lý được gần 40 tỷ đồng nguyên liệu chậm luân chuyển cần thanh lý. Kế hoạch năm nay tối thiểu phải thanh lý được 100 tỷ đồng.
Việc thanh lý nguyên liệu nhập khẩu sẽ khiến TTF bị lỗ 20 - 30% so với giá nhập khẩu (tùy chất lượng và phân loại gỗ). Tuy nhiên, TTF vẫn phải thực hiện, để thu hồi vốn trong bối cảnh tài chính khó khăn. Mặc dù chưa có kết quả kinh doanh quý I, nhưng ông Võ Trường Thành, Tổng giám đốc TTF khẳng định, quý I/2013, Công ty không có sự tăng trưởng.
Sở dĩ có kết quả không khả quan này, theo ông Thành, là do TTF tập trung tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc doanh nghiệp. Công ty đã cơ bản tái cấu trúc thành công, nên trong quý II sẽ không phải điều chỉnh chiến lược kinh doanh và hy vọng kết quả kinh doanh sẽ được cải thiện.
Được biết, lũy kế cả năm 2012, lợi nhuận trước thuế của TTF đạt 15,2 tỷ đồng, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2011 và chỉ hoàn thành 20% kế hoạch. Tuy nhiên, ông Thành dự kiến, kế hoạch lợi nhuận năm nay của TTF có thể gấp đôi năm 2012, đó là chưa tính đến nguồn thu từ khai thác rừng (khoảng 40 tỷ đồng).
Cũng là doanh nghiệp lớn trong ngành chế biến và xuất khẩu đồ gỗ, Công ty Gỗ Đức Thành đã có một quý kinh doanh khá êm xuôi. Tổng doanh thu quý I/2013 của Đức Thành đạt 42 tỷ đồng, đạt 16% kế hoạch năm. Hiện tổng giá trị đơn hàng mà Công ty đã nhận được là 3,8 triệu USD, đạt 40% so với kế hoạch đề ra năm 2013. “Chúng tôi không phải điều chỉnh kế hoạch trong quý II và không ảnh hưởng đến kế hoạch cả năm”, ông Lê Hồng Thắng, Tổng giám đốc Công ty Gỗ Đức Thành cho biết.
Không gặp khó khăn về vốn, nhưng các loại chi phí như thuế thu nhập doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội, tăng lương cơ bản… mà Đức Thành phải gánh ở mức rất cao. “Chúng tôi đồng ý với việc tăng lương cơ bản của Nhà nước, nhưng đề nghị giảm tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội, để giảm bớt chi phí cho doanh nghiệp”, ông Thắng kiến nghị.
Không được suôn sẻ như các doanh nghiệp quy mô lớn, thiếu vốn đang là khó khăn lớn đối với nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ quy mô nhỏ và vừa. Đại diện Hiệp hội Chế biến Gỗ tỉnh Bình Dương cho biết, lãi suất vay vốn vẫn ở mức cao đang làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Thống kê cho thấy, quý I/2013, chỉ số tồn kho ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 28,4% so với cùng kỳ năm 2012 (đứng thứ hai sau ngành sản xuất xe có động cơ - 37,3%). Nguyên nhân, theo ông Trần Quốc Mạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (Hawa) là do doanh nghiệp chế biến gỗ gặp khó chồng khó.
Thứ nhất, điều kiện vay vốn ngân hàng khó hơn trước đây, khiến dòng tiền chảy vào doanh nghiệp chế biến gỗ thấp. Thứ hai, giá đơn hàng giảm, do tình hình kinh tế khó khăn, nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu giảm (ngoại trừ thị trường Mỹ). Thứ ba, giá nguyên liệu đầu vào tăng. Thứ tư, các gói hỗ trợ của Chính phủ vẫn chưa tới được doanh nghiệp ngành gỗ.
Ông Lê Hồng Thắng cho rằng: “Không có chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như năm 2012, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc lập kế hoạch dài hạn cho chiến lược kinh doanh”.
Theo Hiệp hội Chế biến Gỗ tỉnh Bình Dương, mặc dù trần lãi suất cho vay đã được điều chỉnh xuống 15%/năm, nhưng chỉ có 0,6% doanh nghiệp cho rằng, mức lãi vay này là tương đối phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Và nếu phải chấp nhận mức lãi suất 15%/năm, thì chỉ có 44,1% doanh nghiệp có khả năng chịu được trong thời gian dài.
“Rõ ràng, điều quan trọng nhất hiện nay đối với doanh nghiệp chế biến gỗ là tiếp cận vốn ngân hàng. Vì vậy, điều kiện cho vay cần phải nới lỏng hơn nữa”, ông Trần Quốc Mạnh đề xuất. (Đầu Tư 12/4) đầu trang(
Hiện nay, hàng nghìn héc-ta rừng trồng ở Đắk Lắk đã đến tuổi khai thác nhưng lại không tìm được đầu ra, dẫn tới nguy cơ phải bán lâm sản với giá thấp hơn giá thành sản xuất ra ngoài tỉnh.
Được biết, từ năm 2010, nhiều diện tích rừng trồng của huyện M’Đrắk đã bắt đầu cho khai thác. Cụ thể, năm 2010 toàn huyện đã khai thác 63.000m3 gỗ các loại. Sang năm 2011, số lượng khai thác đạt 30.900m3 và năm 2012 khai thác 86.000m3. Nhưng do trên địa bàn chưa có nhà máy chế biến lâm sản từ nguyên liệu rừng trồng, nên phần lớn lượng gỗ khai thác phải xuất bán ra ngoại tỉnh, với chi phí vận chuyển khá cao, làm giảm thu nhập của người trồng rừng.
Ông Vũ Hữu Nhân, Phó bí thư Thường trực Huyện ủy M’Đrắk nhấn mạnh: Cái lợi lớn nhất của công tác trồng rừng là môi trường. Nhờ các chương trình trồng rừng mà M’Đrắk nâng được tỷ lệ che phủ từ 49,2% năm 2008 lên 52% vào năm 2012. Việc trồng rừng còn góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước giảm tỷ lệ hộ nghèo.
Tìm hiểu công tác trồng rừng ở Công ty TNHH-MTV Lâm nghiệp M’Đrắk, chúng tôi được ông Phạm Thế Minh, Giám đốc công ty cho hay: Công ty hiện đang quản lý 25.000ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 15.000ha rừng tự nhiên. Trong những năm qua, đơn vị đã trồng được 3000ha rừng, chiếm gần 40% tổng diện tích rừng trồng toàn huyện M’Đrắk. Cái khó của rừng trồng hiện nay là vấn đề tiêu thụ sản phẩm vì giá quá thấp.
Cụ thể, năm 2012, đơn vị khai thác được gần 10.000m3 gỗ keo, xuất bán với giá 400.000 đồng/ster đôi. Bình quân mỗi héc-ta rừng trồng loại tốt khai thác được 60-80 ster đôi, sẽ thu được từ 24 đến 32 triệu đồng. Nếu là rừng xấu, sản lượng gỗ chỉ đạt 40 ster đôi, thì chỉ thu được 16 triệu đồng/ha.
Nhẩm tính sau từ 7 đến 10 năm cho chu kỳ từ khi trồng đến thời điểm khai thác, nếu là doanh nghiệp sẽ chi phí 22-25 triệu đồng/héc-ta, còn người dân chi 15-17 triệu đồng/héc-ta, thì rõ ràng về hiệu quả kinh tế của rừng trồng thấp, thậm chí nếu là rừng chất lượng kém thì thu không đủ bù chi. Cũng vì giá bán quá thấp mà nhiều cánh rừng trồng ở Đắc Lắc hiện nay đã quá chu kỳ (hơn 10 năm) người trồng không mặn mà với việc khai thác sản phẩm.
Khó khăn nêu trên của huyện M’Đrắk cũng là khó khăn chung của toàn tỉnh. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh Đắk Lắk đã trồng được hơn 84.000ha rừng, trong đó hàng chục nghìn héc-ta đã đến kỳ khai thác.
Ông Lương Vĩnh Linh, Giám đốc Dự án “Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên” tỉnh Đắk Lắk cho biết: Chỉ riêng dự án này từ năm 2007 đến 2014 sẽ hỗ trợ kinh phí trồng 3.862ha rừng sản xuất và 1.100ha rừng phòng hộ; tổ chức giao khoán bảo vệ hơn 334.000ha rừng cho hộ gia đình và các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, với tổng kinh phí đầu tư 11,64 triệu USD.
Cũng theo ông Linh, một dự án quy mô lớn như Dự án “Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên” được triển khai tại 60 xã thuộc 22 huyện của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng và Phú Yên, với mục tiêu quy hoạch 60.000ha đất lâm nghiệp để trồng rừng thương mại, trồng mới 30.000ha, khoanh nuôi tái sinh 14.000ha… nhưng cũng không tính đến đầu ra cho sản phẩm rừng trồng thương mại.
Theo tính toán, chỉ với diện tích rừng trồng thương mại hiện có ở tỉnh Đắk Lắk, để bảo đảm tiêu thụ sản phẩm cần đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lâm sản có công suất 400.000-500.000m3 gỗ/năm. (Quân Đội Nhân Dân 13/4)đầu trang(
Từ đầu năm 2013 đến nay, giá gỗ nguyên liệu giấy trên địa bàn tỉnh ta liên tục tăng, hiện đang ở mức 1,2-1,3 triệu đồng/tấn (tăng 200-300 ngàn đồng/tấn so với năm trước), nên người trồng rừng rất phấn khởi. Với mức giá như hiện nay, mỗi héc ta rừng trồng 5-6 năm, cho lãi 40-60 triệu đồng.
Ông Nguyễn Ngọc Đạo- Phó Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Côn (huyện Vĩnh Thạnh) - cho biết: “Nguyên nhân giá gỗ nguyên liệu giấy ở mức khá cao như hiện nay là do nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu dăm gỗ tăng khá mạnh trong thời gian gần đây. Hiện trên địa bàn các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên có hàng chục nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu nên cạnh tranh thu mua nguyên liệu rất quyết liệt.
Nhiều nhà máy cạnh tranh trong khi nguồn nguyên liệu có hạn nên giá gỗ nguyên liệu tăng khá cao. Có thời điểm, giá gỗ nguyên liệu giấy tại một số địa phương tăng lên trên 1,3 triệu đồng/tấn. Công ty hiện có trên 3.000 ha rừng trồng làm gỗ nguyên liệu ở các huyện Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Hoài Ân…, song sản lượng gỗ nguyên liệu khai thác hàng năm vẫn không đủ cung cấp cho các nhà máy chế biến dăm. Hiện nay, nhà máy chế biến dăm của Công ty thu mua mỗi ngày từ 500-600 tấn gỗ nguyên liệu giấy trong và ngoài tỉnh”.
Theo Sở NN-PTNT, tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có trên 100 ngàn héc ta rừng nguyên liệu giấy ở nhiều độ tuổi từ các chương trình trồng rừng. Do giá gỗ nguyên liệu thời gian gần đây ở mức cao nên người dân rất tích cực hưởng ứng chương trình trồng rừng. Mỗi năm toàn tỉnh trồng mới từ 8.000 - 10.000 ha rừng nguyên liệu giấy, góp phần tạo việc làm, đem lại thu nhập ổn định tại hầu hết các địa phương trong tỉnh.
Bên cạnh đó, việc phát triển trồng rừng còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực như: tăng độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, điều hòa nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp của địa phương, tránh được tình trạng ao hồ cạn kiệt trong mùa khô hạn… (Báo Bình Định 13/4) đầu trang(
Để đạt được mục tiêu trồng mới 2.050 ha rừng trong năm nay, huyện Hàm Yên đã chuẩn bị chu đáo các điều kiện thực hiện theo đúng kế hoạch. Hiện nay, các xã, thị trấn đang chỉ đạo bà con đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, đảm bảo theo đúng thời vụ để cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Năm nay, huyện Hàm Yên có kế hoạch trồng 2.050 ha rừng. Trong đó, rừng phòng hộ và đặc dụng là 100 ha, rừng phân tán 100 ha và rừng sản xuất 1.850 ha. Nhiều nhất là 2 lâm trường Hàm Yên, Tân Phong (200 ha), các xã: Yên Lâm 157,5 ha; Minh Hương 155 ha, Thành Long 124 ha…
Đến nay, toàn huyện đã tổ chức gieo ươm được 2.056.338 cây giống lâm nghiệp, trong đó có 1.353.300 cây keo, 210.000 cây mỡ, 293.040 cây lát hoa. Riêng Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Hàm Yên đã sản xuất 3.500 cây giống với 2 loại chính là keo hạt và keo lai, trong đó keo lai chiếm 80%. (Báo Tuyên Quang 13/4) đầu trang(
Chiều 11/4, ông Trần Đức Đại, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa (Gia Lai) xác nhận, trên địa bàn vừa xảy ra việc một kiểm lâm viên phụ trách xã bị côn đồ đánh trọng thương.
Theo lời kể của anh Nguyễn Tất Anh (44 tuổi, kiểm lâm viên tại tổ kiểm lâm địa bàn xã Krông Năng, huyện Krông Pa) thì, cả đêm không ngủ được vì thời tiết quá nóng nên đến khoảng 3 giờ sáng ngày 6/4, anh đã mang võng ra mắc ở hai gốc cây xoài trong khuôn viên Hạt Kiểm lâm để ngủ cho thoáng.
Trong lúc đang say giấc thì bất ngờ bị ai đó dùng đá phang mạnh vào đầu bên phải khiến dẫn đến bị chấn thương gây rách tai và móp sọ. Sau khi được các bác sĩ huyện Krông Pa sơ cứu vết thương, anh Anh được chuyển vào điều trị tại Khoa ngoại chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai. Các bác sĩ cho biết, hiện sức khỏe của anh Anh đã dần bình phục và sắp xuất viện.
Theo anh Anh, trước đó anh không có mâu thuẫn với ai, còn trong công việc thì mọi mối quan hệ đều bình thường. Được biết, tổ trực của anh Anh gồm 3 người. Hôm xảy ra sự việc 2 đồng nghiệp của anh đi vào rừng. Đến giờ này anh Anh vẫn không biết được ai đã đập mình.
Công an huyện Krông Pa đang điều tra làm rõ. (Nông Nghiệp VN 12/4; Lao Động 12/4) đầu trang(
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum cho biết: Trong quý I năm 2013, lực lượng kiểm lâm cùng chính quyền địa phương và cơ quan chức năng các cấp của tỉnh đã phát hiện 165 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 42 vụ so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó: Phá rừng trái pháp luật 40 vụ; vận chuyển lâm sản trái pháp luật 45 vụ; mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của Nhà nước 58 vụ; khai thác lâm sản trái pháp luật 9 vụ; vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng 5 vụ; vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng 3 vụ; vi phạm thủ tục hành chính 5 vụ.
Cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý hành chính 151 vụ, khởi tố vụ án 1 vụ, đồng thời thu giữ trên 538m3 gỗ các loại. (Thanh Tra 13/4) đầu trang(
Trong khi vào rừng, một người dân trú tại xã Sơn Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh đã bắt được một con rùa vàng nặng hơn 1,4 kg. Ông này cho biết đã bán được con rùa với giá trên 300 triệu đồng.
Nguồn tin trên được ông Lê Văn Trung, Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Lộc, huyện Can Lộc (Hà Tĩnh), xác nhận vào sáng 12.4.
Ông Trung cho biết, cách đây mấy ngày, một người dân ở xã Sơn Lộc trong khi vào khu vực rừng giáp ranh giữa hai xã Mỹ Lộc và Đồng Lộc, đã bắt được con rùa vàng cân nặng hơn 1,4kg. "Chúng tôi có nghe thông tin con rùa này đã được bán với giá trên 300 triệu đồng"- ông Trung nói.
Cũng theo ông Trung, đây là lần đầu tiên người dân bắt được rùa vàng tại khu vực này.
Được biết, rùa vàng còn gọi là rùa núi, sơn quy, là một con vật có thể chế biến thành thực phẩm và vị thuốc quý. Việc săn bắt quá mức của con người đã khiến rùa vàng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. (Dân Trí 12/4) đầu trang(
Lực lượng liên ngành tỉnh Nghệ An vừa thực hiện chiến dịch truy đuổi “vàng tặc” quy mô lớn.
Gần 200 cảnh sát, kiểm lâm... đã vào các khu rừng thuộc xã Cắm Muộn, H.Quế Phong chia thành 3 mũi đuổi khoảng 1.000 người đang khai thác vàng sa khoáng trái phép ra khỏi rừng. Lực lượng truy quét đã tháo dỡ hàng chục lán trại, thu giữ 25 máy nghiền đá, nhiều máy phát điện và 2.000 lít dầu diesel do những người đãi vàng cất giấu để phục vụ cho việc khai thác vàng. (Tiền Phong 13/4) đầu trang(
9/4, lực lượng kiểm lâm cơ động, Chi cục kiểm lâm Bắc Kạn đã phát hiện và tạm giữ một xe ô tô mang biển kiểm soát 97C 00301 vì có hàng vi vận chuyển gỗ lậu.
Lực lượng kiểm lâm đã phát hiện trên xe cất giấu 32 cục thớt nghiến, tương đương gần 0,7m3 gỗ nghiến.
Qua khai thác được biết chiếc xe chở gỗ lậu thuộc quyền sở hữu của Đồng Phúc Kiên, trú tại thôn Nà Mèo, xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn. Theo lời khai ban đầu, bằng hình thức này các đối tượng trên đã thực hiện trót lọt nhiều vụ vận chuyển gỗ lậu, trung bình 2 ngày chở 1 chuyến. (Báo Bắc Kạn 13/4) đầu trang(
12.4, TAND H.Phù Mỹ (Bình Định) tuyên phạt Lê Đức Long (40 tuổi, ngụ xã Cát Sơn, H.Phù Cát) 24 tháng tù về tội cố ý gây thương tích và bồi thường cho bị hại hơn 25 triệu đồng.
Tối 16.10.2012, Tổ công tác cơ động Hạt Kiểm lâm Phù Mỹ trên đường tuần tra bảo vệ rừng thuộc H.Phù Mỹ, phát hiện Long điều khiển xe máy chở gỗ trái phép. Tổ công tác ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra nhưng Long không chấp hành và lấy cọc tre đánh, ném làm kiểm lâm viên Nguyễn Thanh Tuyền bị thương. (Thanh Niên 13/4) đầu trang(
Hơn 20 doanh nghiệp chế biến dăm gỗ xuất khẩu ở Quảng Ngãi đang ngồi trên "đống lửa" vì sản phẩm ùn ứ ở nhà máy do các bến cảng Dung Quất vắng bóng tàu trọng tải lớn vào nhập hàng.
Những ngày này, ở các khu công nghiệp và Khu kinh tế Dung Quất, sản phẩm dăm gỗ ùn ứ tại các nhà máy cao như ngất ngưởng như núi. Nhiều doanh nghiệp sản xuất cầm chừng chờ đợi tàu cập bến tiếp nhận hàng nên trên các tuyến đường về cảng Dung Quất trở nên vắng vẻ lạ thường.
"Nếu như đến giữa tháng trước có đến 5 tàu trọng tải lớn cập cảng tiếp nhận sản phẩm dăm gỗ đưa đi xuất khẩu thì sang tháng 4 này, đến giữa tháng rồi mà mới chỉ có một tàu trọng tải 20.000 tấn cập cảng. Các doanh nghiệp cho rằng đối tác ép giá sản phẩm gỗ dăm quá thấp nên họ chưa chịu bán", ông Nguyễn Duy Ngọc, giám đốc Cảng Gemadept Dung Quất cho biết.
Trong khi đó, gần nửa tháng qua, chưa có tàu hàng nào cập bến cảng Dung Quất (PTSC) để tiếp nhận sản phẩm dăm gỗ xuất khẩu của các doanh nghiệp Quảng Ngãi. Ông Nguyễn Đức Hòa, Phó giám đốc Đại lý tàu biển cảng Dung Quất (PTSC) xác nhận, nếu như tháng trước giờ này đã có 5 tàu trọng tải lớn cập cảng thế nhưng sang tháng 4 này đến nay vẫn chưa có tàu nào cập cảng tiếp nhận sản phẩm gỗ dăm. Nhiều doanh nghiệp than thở cho rằng, họ càng xuất hàng càng chịu lỗ nên "cầm cự" sản phẩm tại nhà máy.
Ông Dương Văn Tô, giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Ngãi nhấn mạnh, trước tình trạng phá rừng trồng cây nguyên liệu, tranh giành mua nguyên liệu giữa các nhà máy, Sở đã đề xuất tỉnh chỉ đạo các địa phương cho phép khai thác "chừng mực" để đảm bảo độ che phủ rừng.
" Nếu không tuân thủ khai thác rừng keo nguyên liệu theo tỷ lệ cân đối với độ che phủ rừng đầu nguồn thì dễ làm xói mòn đất, mất vai trò giữ nước, sạt lở đất nghiêm trọng vào mùa mưa lũ, khó phát triển kinh tế bền vững", ông Tô lo ngại. (VnExpress.net 13/4) đầu trang(
Chuyện này đang xảy ra tại các huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa như Quan Sơn, Quan Hóa, Lang Chánh, Thường Xuân. Mỗi ngày có hàng trăm người vào các khu rừng tự nhiên để khai thác dược liệu bán sang Trung Quốc.
Ông Nguyễn Duy Vĩnh - hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Lang Chánh cho biết, trước kia việc quản lý, cấp phép cho người dân khai thác các loại lâm sản phụ (trong đó có dược liệu) thuộc thẩm quyền của UBND huyện nên số lượng người đi khai thác dược liệu không nhiều. Nhưng từ khi thông tư số 35 (ngày 20-5-2011) của Bộ NN&PTNT có hiệu lực, việc cấp phép khai thác dược liệu thuộc về UBND xã với cơ chế thông thoáng hơn. Người dân chỉ cần lập bản dự kiến sản phẩm khai thác, bản đăng ký khai thác lâm sản phụ rồi nộp về UBND xã.
Sau đó, UBND xã rà soát các loại lâm sản phụ bà con đăng ký khai thác. Nếu các loại lâm sản phụ này không thuộc danh mục cấm khai thác, UBND xã phải cấp phép cho người dân vào rừng khai thác lâm sản phụ như đã đăng ký. Đặc biệt, hiện nay ngành chức năng chưa có chế tài xử phạt và cách quản lý hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng bà con khai thác dược liệu quá mức, tận thu, tận diệt, ảnh hưởng đến an ninh rừng tự nhiên. (Tuổi Trẻ 13/4) đầu trang(
Ngày 14/4, Công an huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước) cho biết đã ký các quyết định tạm giữ hình sự 15 đối tượng để điều tra làm rõ hành vi chống người thi hành công vụ, phá rừng, cất giấu lâm sản trái phép.
15 đối tượng bị bắt, gồm Lâm Rươn, Lâm Ka, Lâm Hương (cả ba cùng sinh năm 1987), Lâm Hiếu, Lâm Riệm (cả hai cùng sinh năm 1988), Lâm Sát (sinh năm 1992), Lâm Thành (sinh năm 1993), Lâm Ken, Lâm Bách (cả hai cùng sinh 1981), Lâm Băng (sinh năm 1991, tất cả cùng trú tại ấp Chà Là, xã Lộc Thịnh, Lộc Ninh). Ngoài ra còn 5 đối tượng khác là Lâm Thươn, Lâm Mắp, Lâm Khánh, Lâm Tài và Nguyễn Văn Giàu.
Trước đó, 3/4, trong lúc tổ công tác tuần tra bảo vệ rừng gồm hai chiến sỹ bảo vệ rừng và hai chiến sỹ của tiểu đoàn 208 tại khu vực Mộ Ông Sư (gần đập nước khu vực di tích lịch sử Tà Thiết thuộc tiểu khu 215 - Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết, huyện Lộc Ninh) đã phát hiện hai đối tượng điều khiển hai xe gắn máy đang vận chuyển 4 lóng gỗ tròn trái phép. Khi bị phát hiện hai đối tượng đã nhanh chóng tẩu thoát.
Do phát hiện các đối tượng lâm tặc có nhiều đối tượng manh động nên lực lượng kiểm lâm gọi thêm anh Nguyễn Hữu Sử (sinh năm 1980), Phùng Tuấn Hưng (sinh năm 1960, cả hai là cán bộ kiểm lâm huyện Lộc Ninh) với anh Hùng (cán bộ đồn biên phòng 807) và anh Thiện (xã Đội phó Lộc Thành) cùng nhau chặn ở gần cầu dẫn lên đập nước Tà Thiết.
Tuy nhiên, khi phát hiện lực lượng kiểm lâm chặn đường, 15 đối tượng trên vẫn manh động, hò hét, truy đuổi, hành hung các chiến sỹ kiểm lâm và lực lượng hỗ trợ khiến anh Sự, anh Hùng và anh Thiện bị thương nặng.
Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan chức năng đã vào cuộc và qua quá trình điều tra, xác minh, sàng lọc, đến ngày 12/4 đã ra lệnh tạm giữ 15 đối tượng liên quan, đồng thời thu gom 91 lóng gỗ tròn, nhóm 3 đến nhóm 8, khối lượng trên 8,3m3 cùng một số vật chứng.(VietnamPlus.vn 14/4)đầu trang(
Sau nhiều năm yên ắng, thời gian gần đây, các đối tượng chuyên khai thác vàng trái phép đã tràn vào vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) sông Thanh nằm ở địa bàn hai huyện Nam Giang và Phước Sơn (Quảng Nam).
Không chỉ sử dụng máy nổ, máy hút cày xới sông suối để tìm vàng, những ông chủ bãi vàng trái phép còn sử dụng cả những chiếc xe đào, xe ủi hạng nặng để vào rừng sâu phá rừng, đào vàng.
Đặc biệt, để đối phó với cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra, truy quét, các chủ bãi vàng đã chôn lấp hàng ngàn lít dầu diezel, tẩu tán lương thực, cất giấu máy nổ...
Ban quản lý Khu BTTN sông Thanh, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng sông Thanh phối hợp với công an, bộ đội... liên tục truy quét trong vùng lõi Khu BTTN sông Thanh, đẩy đuổi hàng trăm phu vàng, tiêu hủy hàng chục lán trại, máy nổ, máy đào...
Tuy nhiên, khi lực lượng kiểm tra rút lui, thì hoạt động khai thác vàng trái phép ở Khu BTTN sông Thanh vẫn tiếp diễn. (Thanh Niên 14/4)đầu trang(
Tình trạng vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt chim chào mào đang diễn ra rầm rộ khắp các làng quê, trên đường phố. Nếu như các loài chim khác, người nuôi chơi cho thỏa thú vui, thì chim chào mào lại trở thành hàng hóa, bày bán tự do mà chưa thấy cơ quan chức năng nào “dòm ngó”.
Khoảng một năm trở lại đây, tình trạng buôn bán chim chào mào diễn ra rầm rộ hơn bao giờ hết. Một người bán chim chào mào ở xã Bình Ngọc, TP Tuy Hòa (Phú Yên), gần khu vực phía Bắc cầu Đà Rằng cũ cho hay, thời gian gần đây chim chào mào bỗng dưng được những người nuôi chim cảnh thích thú vì tiếng hót thánh thót, lạ và đẹp hơn các loài chim khác vì trên đỉnh đầu có mào, phần lông dưới đuôi có màu đỏ đẹp mắt.
Được biết, chim chào mào chủ yếu vận chuyển về Phú Yên từ các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, được các thương lái bán với giá từ 100.000-120.000 đồng/con. Trong khi đó, chim có xuất xứ từ các huyện miền núi của tỉnh Phú Yên có giá từ 500.000 đồng đến hơn 1 triệu đồng/con.
Theo những người chơi chim chuyên nghiệp, chào mào ở Phú Yên nổi tiếng vì dễ thuần, tiếng hót hay và hấp dẫn hơn chim ở các tỉnh khác nên có giá trị cao. Đặc biệt, nếu chim chào mào có bộ lông trắng, giá lên đến từ 30-40 triệu đồng/con, thậm chí cả trăm triệu đồng nếu có bộ lông trắng toàn phần, hoặc chỉ cần một cái móng chân chim màu trắng cũng có giá trên dưới 10 triệu đồng/con. (An Ninh Thủ Đô 13/4)đầu trang(
UBND tỉnh Kiên Giang đầu tư mở rộng đường Dương Đông - An Thới tại huyện đảo Phú Quốc với chiều dài 34 km, tổng vốn đầu tư trên 1.000 tỷ. Con đường đi ngang rừng phòng hộ, những hộ dân lấn chiếm trái phép đất rừng phòng hộ lại được chính quyền xác nhận, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng bồi thường cho hành vi vi phạm pháp luật này hàng tỷ đồng…
Ngày 30/1/2004, Ban Chỉ huy Quân sự huyện Phú Quốc (huyện đội Phú Quốc-HĐPQ) được UBND huyện Phú Quốc giao cho 35,64 ha rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 158B, tọa lạc tại xã Hàm Ninh- Phú Quốc. Trong quá trình bảo vệ rừng phòng hộ, Ban chỉ huy HĐPQ đã chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ bảo vệ tốt khu rừng được giao, đặt biệt đã phủ xanh diện tích đất trống trong khu rừng, tạo nên khu rừng phòng hộ khép kín.
Năm 2010, HĐPQ phát hiện khu rừng của mình bị người dân vào lấn chiếm phá rừng, cất nhà, làm rẫy. HĐPQ cùng với Hạt Kiểm lâm đã nhiều lần kiểm tra nhắc nhở các hộ dân lấn chiếm đất rừng này nhưng tình trạng này vẫn không được chính quyền chức năng sở tại giải quyết dứt điểm.
Ngày 13/3/2012, Thượng tá Huỳnh Tấn Phương - Phó Chỉ huy trưởng HĐPQ - ký công văn số 23/-BCH gởi UBND huyện Phú Quốc cùng các ban ngành liên quan thông báo việc lấn chiếm đất rừng của người dân. Công văn này kiến nghị UBND huyện, xã và các ban ngành liên quan phải có biện pháp chế tài với hành vi vi phạm pháp luật này.
Tháng 4/2012, Hạt Kiểm lâm Phú Quốc, Ban Quản lý rừng Phòng hộ, Chính quyền xã Hàm Ninh kiểm tra tình hình thực tế theo công văn nói trên. Kết quả, đoàn kiểm tra đề nghị UBND xã Hàm Ninh xử lý vi phạm về lãnh vực đất đai của 5 hồ sơ vi phạm, tổng diện tích 5 hộ này phá rừng tạm tính là 20.421m2 (gần 20,5ha) nhưng mọi việc sau đợt kiểm tra này… vẫn như cũ, và UBND xã Hàm Ninh không xử lý 5 hồ sơ này.
Thượng tá Phương nói: “Bảo vệ rừng phòng hộ cũng là bảo vệ an ninh quốc gia, chúng tôi là những người được giao rừng để bảo vệ, khi phát hiện rừng bị xâm chiếm nhưng HĐPQ không có thẩm quyền xử phạt nên chúng tôi đã có công văn gởi các cấp, ban ngành có thẩm quyền để biết mà xử lý. Đáng tiếc, vụ việc không được xử lý ngay từ đầu nên đến nay đã gây hậu quả nghiêm trọng”.
Sau khi dự án mở rộng nâng cấp đường Dương đông-An thới khởi động, con đường đi ngang qua khu rừng do HĐPQ quản lý, phần đất thu hồi để làm đường là phần đất của những hộ lấn chiếm rừng. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng công trình này được giao cho Trung tâm Phát triển Quĩ đất (TTPTQĐ) huyện Phú quốc đảm nhiệm.
Khi xác minh nguồn gốc đất của các hộ dân lấn chiếm này, TTPTQĐ phối hợp với chính quyền xã Hàm Ninh ký xác nhận nguồn gốc đất như sau: Trong biên bản xác minh nguồn gốc đất, năm xây dựng (sau thẩm định) của công trình Dương đông-An Thới ngày 17/8/2012 Hội đồng tư vấn xét duyệt thống nhất nguồn gốc đất không có hồ sơ. Tiêu chí nào để Hội đồng xét duyệt thống nhất nguồn gốc đất?. Nguồn gốc đất này thống nhất là của ai?. Do đâu mà có?. Đất do người dân làm chủ sở hữu lâu năm sao không có hồ sơ đất?
Những khuất tất đó dư luận đang đặt nghi vấn có hay không sự tiếp tay của chính quyền Phú Quốc vì chính quyền xã đã biết dân chiếm rừng nhưng không xử lý như đã nêu ở trên. Từ xác nhận nguồn gốc đất không rõ ràng, đất không có hồ sơ nhưng chính quyền xã và TTPTQĐ vẫn cho các hộ dân này nhận 70% tiền bồi hoàn với tổng số tiền hơn 1,5 tỷ. Trước tình hình đó, ngày 14/3/2013, Thượng tá Phương lại gởi công văn số 241/BCH-BTM cho Thường trực UBND huyện Phú Quốc và TTPTQĐ yêu cầu ngưng phát tiền bồi thường do những hộ dân lấn chiếm đất rừng này.
Ngày 19/3/2013, Phó Chánh văn phòng UBND huyện Phú Quốc Trần Minh Thuận ký công văn số 210/VP-KT thông báo ý kiến chỉ đạo của Thường trực UBND huyện như sau: Giao Phòng TN&MT, Trung tâm phát triển quĩ đất, Ban Quản lý rừng Phòng hộ, Ban chỉ huy Quân sự và UBND xã Hàm Ninh kiểm tra xác minh làm rõ, báo cáo Thường trực UBND huyện. Chỉ đạo này cho đến nay vẫn giẫm chân tại chỗ.
Việc Hội đồng tư vấn xét duyện bồi thường cho những diện tích đất rừng bị lấn chiếm này gây bức xúc cho cán bộ, chiến sĩ HĐPQ. Dư luận bất bình bởi các cơ quan chức năng và chính quyền đã xác minh qua thực tế là các hộ dân này lấn chiếm rừng. Hành vi này của chính quyền xã Hàm Ninh và TTPTQĐ gây thất thoát tiền tỷ của nhà nước. (Người Đưa Tin 13/4)đầu trang(
Lực lượng liên ngành tỉnh Nghệ An vừa thực hiện chiến dịch truy đuổi “vàng tặc” quy mô lớn.
Gần 200 cảnh sát, kiểm lâm... đã vào các khu rừng thuộc xã Cắm Muộn, H.Quế Phong chia thành 3 mũi đuổi khoảng 1.000 người đang khai thác vàng sa khoáng trái phép ra khỏi rừng. Lực lượng truy quét đã tháo dỡ hàng chục lán trại, thu giữ 25 máy nghiền đá, nhiều máy phát điện và 2.000 lít dầu diesel do những người đãi vàng cất giấu để phục vụ cho việc khai thác vàng. (Thanh Niên 13/4)đầu trang(
Chiều 13/4, thông tin từ Đồn biên phòng Cửa khẩu Thanh Thủy (huyện Thanh Chương, Nghệ An) cho biết, đơn vị này vừa kết hợp với lực lượng chức năng nước bạn Lào triệt phá đường dây khai thác gỗ lậu từ Lào vào Việt Nam.
18 đối tượng trước đó đã vào khai thác gỗ trái phép ở khu vực Nậm Lét (thuộc huyện Xay Chăm Phon, tỉnh Bôlykhămxay, Lào). Số người này hầu hết quê ở xã Môn Sơn (huyện Con Cuông, Nghệ An). Lực lượng chức năng đã tịch thu 5 máy cưa xăng, 200 tấm gỗ các loại, xử phạt 25 triệu đồng. (Tiền Phong 13/4)đầu trang(
Mấy tháng nay, trên dòng sông Krông Ana đoạn chảy qua huyện Krông Bông có hàng trăm người dân thuộc các xã Ea Trul, Hòa Lễ, Hòa Phong tập trung xuống sông trục vớt gỗ.
Người dân tụ tập thành từng nhóm 5-10 người dùng thuyền chạy dọc bờ sông dùng thanh sắt dài 5-7m để xăm dưới đáy sông tìm vị trí gỗ. Khi phát hiện gỗ, họ lặn xuống, đào bới lớp bùn phủ lên gỗ, luồn dây cáp buộc vào cây gỗ, sau đó dùng ròng rọc tời lên.
Ông Y Te, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Krông Bông cho biết, đây là những cây gỗ đã bị nước cuốn từ rừng và vùi lấp dưới lòng sông. Dù là gỗ nằm ở dưới lòng sông nhưng do đây là gỗ không có nguồn gốc nên nếu vận chuyển ra ngoài vẫn bị bắt và xử phạt theo quy định. (Tiền Phong 13/4)đầu trang(
Từ cuối năm 2012 đến nay, ông Triệu Văn Nhất (ở thôn 5B, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) đã nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan chức năng huyện Lâm Hà và tỉnh Lâm Đồng tố cáo một số cán bộ địa phương trong vụ việc giải tỏa đất rừng do ông lấn chiếm.
Ngày 28.3, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết đã có văn bản chính thức trả lời ông Triệu Văn Nhất về vấn đề này.
Trong các đơn thư của ông Triệu Văn Nhất, “nặng ký” nhất là lá đơn tố cáo ông Trần Văn Tự - Chủ tịch UBND huyện Lâm Hà - đã “chỉ đạo các cơ quan, ban ngành chức năng của huyện Lâm Hà bao che cho hành vi của một số đối tượng chặt phá cây càphê, hủy hoại tài sản của đồng bào dân tộc gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng”. Vậy, đâu là sự thật?
Kết quả xác minh của các cơ quan chức năng huyện Lâm Hà và tỉnh Lâm Đồng (trong đó có Thanh tra tỉnh Lâm Đồng) cho thấy: Từ năm 2009 đến 2012, ông Triệu Văn Nhất liên tục có hành vi chặt phá, lấn chiếm đất rừng tại lô d, khoảnh 1, tiểu khu 250 (huyện Lâm Hà, do Ban quản lý rừng phòng hộ Lán Tranh quản lý) để trồng càphê và hoa màu. Diện tích rừng mà ông Nhất lấn chiếm lên đến 5,5ha. Khoảng cuối năm 2011, các cơ quan chức năng huyện Lâm Hà đã tiến hành lập biên bản vi phạm đối với ông Triệu Văn Nhất.
Ngày 28.10.2011, UBND huyện Lâm Hà ra quyết định (số 3898/QĐ-XPHC) xử phạt hành chính đối với ông Triệu Văn Nhất với số tiền 6 triệu đồng; đồng thời, buộc ông Nhất phải tự di dời tài sản và hoa màu ra khỏi diện tích đất lấn chiếm. Thế nhưng, không những không chấp hành xử phạt mà ông Nhất còn tiếp tục vi phạm bằng việc không ngừng mở rộng diện tích lấn chiếm để trồng càphê và hoa màu.
Do vậy, ngày 7.9.2012, Ban quản lý rừng phòng hộ Lán Tranh phối hợp với các cơ quan chức năng huyện Lâm Hà và xã Phúc Thọ tiến hành giải tỏa cây trồng trên đất lâm nghiệp bị lấn chiếm đối với ông Triệu Văn Nhất. Sau khi bị giải tỏa, ông Triệu Văn Nhất đã có đơn gửi đến UBND huyện Lâm Hà khiếu nại việc cán bộ Ban Lâm nghiệp xã và công an viên xã Phúc Thọ “chặt phá càphê, nhà cửa gây thiệt hại và ảnh hưởng đến đời sống” của gia đình ông.
Ngày 28.12.2012, UBND huyện Lâm Hà đã có quyết định 3312/QĐ-UBND giải quyết vụ việc và không chấp nhận đơn của ông Triệu Văn Nhất.
Trong văn bản về việc “thông báo kết quả giải quyết tố cáo” của UBND tỉnh Lâm Đồng mới đây có nêu rõ: “Như vậy, việc Ban quản lý rừng (Lán Tranh) tiến hành cưỡng chế giải tỏa cây trồng trên diện tích đất lấn chiếm đối với ông Triệu Văn Nhất là phù hợp với quy định của pháp luật”.
Rất có thể ông Nhất sẽ không đồng ý với nội dung trả lời này của UBND tỉnh Lâm Đồng và có thể sẽ còn tiếp tục có đơn khiếu nại gửi đến cơ quan chức năng cấp cao hơn. Dĩ nhiên quyền công dân của ông Nhất được phát huy; song, vấn đề đáng nói ở đây là: Việc tố cáo sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự của một cán bộ đứng đầu huyện - ông Trần Văn Tự, Chủ tịch UBND huyện Lâm Hà - của ông Triệu Văn Nhất sẽ được xử lý như thế nào? (Lao Động 15/4)đầu trang(
Trong quý I/2013, lực lượng bảo vệ rừng trên toàn tỉnh đã phát hiện 129 vụ vi phạm về lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.
Các nội dung vi phạm bị xử lý bao gồm: phá rừng trái phép 4 vụ; mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 31 vụ; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 16 vụ; vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản khác 2 vụ; các vi phạm khác 76 vụ.
Các cơ quan chức năng đã tiến hành xử phạt hành chính 127 vụ vi phạm. Số tang vật, phương tiện vi phạm bị xử lý tịch thu gồm: 98,24 m3 gỗ tròn; 93,59 m3 gỗ xẻ; 4 xe máy; 2 ô tô, máy kéo; 12 công cụ, phương tiện khác và 41 kg động vật rừng. Tổng số tiền thu được qua xử phạt và bán lâm sản tịch thu là 711.900.000 đồng. Trong đó: tiền xử phạt là 246.000.000 đồng, tiền bán tang vật tịch thu là 465.900.000 đồng. (Báo Bình Thuận 13/4)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chức năng kiểm tra thường xuyên đối với 397 tổ chức và cá nhân nhận hợp đồng khoán bảo vệ rừng.
Trong quý I/2013, đã tổ chức tuần tra quản lý bảo vệ rừng, kiểm soát lâm sản 333 đợt. Qua đó, phát hiện và xử lý 16 vụ vi phạm làm thiệt hại 458m2 rừng đước, 50 cây đước và 115m2 rừng mắm, phạt tiền 6,4 triệu đồng.
Bên cạnh đó, ngành chức năng còn tổ chức 212 đợt tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng phòng hộ cho 1.300 lượt người. (Báo Bạc Liêu 15/4)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Bộ Môi trường Nam Phi cho biết, họ đã biến hai hòn đảo nhỏ ở phía nam Ấn Độ Dương trở thành khu bảo tồn thiên nhiên biển ngoài khơi đầu tiên trên thế giới.
Chương trình này nhằm bảo vệ cho các hòn đảo lộng gió Prince Edward, nằm cách 1.777 km từ lục địa Nam Phi, góp phần giúp cho loài cá răng cưa được phục hồi. Cá răng cưa được xem là “vàng trắng” trên đại dương, thường trở thành con mồi của các vụ đánh bắt cá bất hợp pháp và các món ăn được phục vụ trong nhà hàng, điển hình là cá vược Chile.
Nam Phi sẽ tăng cường kiểm soát vùng biển này, bao gồm một lệnh cấm đánh bắt cá trong vòng 12 hải lý chung quanh các đảo, hạn chế đánh bắt cá trong khu vực quy định ngoài bán kính này. Bộ trưởng Môi trường Edna Molwa ca ngợi động thái này là “một đóng góp đáng kể vào việc bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu”.
Các hòn đảo phía nam Ấn Độ Dương thu hút một quần chúng các giống vật nuôi, các loài chim, trong đó có ba loài hải cẩu, chiếm 22% lượng hải cẩu Nam cực trên thế giới. Ngoài ra, khu vực này cũng là nơi ở của bốn loài chim cánh cụt, năm loài hải âu và 14 loài cùng họ với hải âu khác. Các hòn đảo đón nhận khoảng 44% các loài chim biển di cư khác.
Đảo Marion có diện tích khoảng 290 km2. Nam Phi đã đặt ở đây một cơ sở nghiên cứu môi trường và thu thập dữ liệu thời tiết. Đảo Prince Edward nhỏ hơn, với diện tích 45 km2. Các hòn đảo này là những miệng núi lửa đã tắt, có nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 5 độ C và gió rất phổ biến.
Các thuyền ngư dân của Nam Phi được phép đánh bắt hạn chế các loài cá răng cưa Patagonia bên ngoài các khu bảo tồn mới vừa được xây dựng này. (Nhân Dân 12/4) đầu trang(
“Với tốc độ như hiện nay của mực nước biển, vào năm 2050 chúng ta sẽ mất gần 2.700 km2 diện tích đất và gần 9000 nhà cửa”, cảnh báo này được Giám đốc Cơ quan Môi trường Quốc gia Cuba (AMA), ông Tomas Escobar đưa ra tại cuộc hội thảo về chính sách môi trường Cuba hôm qua.
Theo báo cáo, khu vực ven biển Cuba đang đứng trước những nguy cơ do mực nước biển dâng cao, ảnh hưởng từ quá trình nóng lên của trái đất.
Ông Tomas Escobar, cho hay những thay đổi này “có thể gây ảnh hưởng hệ sinh thái và các khu dân cư ven biển, giảm năng suất đất nông nghiệp, các loại cây trồng, cây lâm nghiệp, đồng thời làm giảm chất lượng và nguồn nước.”
Cuba là một quốc đảo có diện tích 109.884 km vuông, trong đó có tới hơn 5.700 km đường bờ biển. Trước tình trạng mực nước biển dâng cao, Chính phủ Cuba đã đưa ra một chính sách dựa trên các biện pháp phòng ngừa, tập trung vào việc bảo tồn và khôi phục các hệ sinh thái ven biển như các rặng san hô, rừng ngập mặn và bãi biển; đồng thời triển khai các chương trình tại chỗ nhằm bảo vệ, phát triển các loài sinh vật đang bị đe dọa hoặc có tầm quan trọng thương mại, như mở thêm các trang trại nuôi hàu và triển khai các chương trình sinh sản nhân tạo cho bọt biển. (Nhân Dân 13/4) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||