|
Ngày 15 tháng 02 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Cuối tháng 12-2015, UNESCO đã trao công nhận Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang gồm vườn quốc gia Bidoup -
núi Bà và đỉnh Lang Biang đã trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới thứ chín của thế giới tại Việt Nam.
Thật ngạc nhiên khi ở đây có những loại cây thường sống trong rừng nhiệt đới hàng ngàn năm tuổi lại thấp lè tè
(cao 2 - 7m) và thân nhỏ tới mức có thể ôm trọn chỉ với đôi bàn tay chụm tròn.
Đèo Hòn Giao cao 1.948m là nơi chúng tôi chọn làm nơi xuất phát để đi xuyên Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng), tìm ra buôn của những người già dân tộc Cil.
Chúng tôi đi ở nơi chưa có đường, mây vờn qua tay và để đến được buôn lạ kỳ ấy, đoàn phải xuyên qua trảng rừng lùn độc đáo.
Chỉ tay về đỉnh núi đang ngập trong mây trắng, anh Phạm Hữu Nhân, trạm phó trạm kiểm lâm Hòn Giao, bảo chúng tôi hãy quyết định hướng đi. Anh Nhân “khiêu khích”: “Đi theo hướng chúng tôi hay đi tuần tra thì đi vào lòng mây, nếu muốn thư thả hơn cứ đi theo viền của những đám mây kia”.
Đêm trước, trên đường lên đèo Hòn Giao để ghé trạm kiểm lâm, chúng tôi bị mây vây khi trời vừa sập tối. Đi giữa đám mây trắng đặc, nếu không khéo nhìn vạch đường có thể sẽ bị mất phương hướng và việc lái xe trở nên nguy hiểm.
Ngồi trong xe không có cảm giác mưa nhưng thò tay qua cửa kính lòng tay ướt đẫm kiểu như đi qua một khối nước lơ lửng. Chính cảm giác sờ sợ khi đi qua đám mây đêm và sự tò mò sau lời “khiêu khích” của anh Nhân đã khiến chúng tôi chọn cung đường đi vào lòng mây.
Phủ kín chân bằng cách lồng quần vào trong đôi tất (vớ) dài, cả đoàn lên đường theo chân những kiểm lâm viên của trạm Hòn Giao. Chúng tôi đi vào khu rừng nguyên sinh có những cây cả ngàn năm tuổi nhưng chỉ cao chưa tới 10m. Ở đây nếu vào giờ trưa, ngước mặt có thể nhìn thấy bầu trời xanh một cách dễ dàng.
Điều này không thể thấy ở nhiều khu rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ to đến vài người ôm và tán rộng đan vào nhau. Đem câu chuyện hỏi kiểm lâm Nhân, anh cười bảo: “Không biết nói sao vì chưa có nghiên cứu nào cụ thể nhưng... mây đè thế thì cây nào lớn nổi”.
Rừng lùn trên đỉnh Hòn Giao là rừng nguyên sinh nhưng không có ghi nhận nào cho biết cây nào nhiều tuổi nhất ở cánh rừng này. Tuy nhiên, theo lời anh Nhân, có lần một cây sồi già mục thân ngã xuống. Những cán bộ nghiên cứu rừng của Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà cưa ngang thân để đếm vòng sinh trưởng.
Đếm hết những vòng chi chít trên thân cây cũng không dám khẳng định chính xác số tuổi cây “cổ thụ” chỉ to bằng bắp chân vì quá khó đếm. Do đó, nhóm nghiên cứu đã thống nhất ước lượng rằng cây sồi ấy đã già quá 1.000 tuổi.
Do những tính toán này mà Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà thể hiện trong một số báo cáo đa dạng sinh học rằng cánh rừng lùn trên đỉnh Hòn Giao còn nhiều cây hơn nghìn năm tuổi.
Ông Tôn Thất Minh, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới (Vườn quốc gia Bidoup - núi Bà), cho rằng những cây trong rừng lùn phát triển đến một mức độ nào đó rồi chựng lại, không lớn thêm nữa mà chỉ có già đi.
Ông Minh nói thêm có thể những cây nhiệt đới vốn cao to “chọn” cuộc đời èo uột, nhỏ thó để thích nghi với khí hậu lạnh ẩm, khắc nghiệt của Hòn Giao. Đấy cũng là điều bình thường.
Anh Đinh Bá Kha, trưởng trạm kiểm lâm Giang Ly, bảo: “Nghe mây phủ sương giăng, mưa phùn suốt ngày tưởng lãng mạn lắm nhưng khắc nghiệt vô cùng. Cây cối èo uột, cong queo”. Anh Kha lấy chuyện cây để kể chuyện người, anh bảo anh em giữ rừng ở đây xương cốt nhức hết, cái lạnh thấm theo mỗi bước chân đi len vào lòng mây.
Ở độ cao hơn 1.800m mưa gần như suốt ngày, độ ẩm thường xuyên trên 90% thì đất đá còn phải rã ra, anh Kha cười. Anh Kha và anh Nhân cho chúng tôi xem lòng bàn tay, những vết chai sần nổi đều lên theo những ngón tay. Không vết sần nào lành lặn, thậm chí nứt đôi ra. Anh Nhân kể đấy là dấu vết của những lần “dầm mây” đi tuần dài ngày trong rừng.
Anh nhấn mạnh chữ “dầm mây”. Làm gì có mưa vì mình đã đi vô lòng mưa, lòng của đám mây ôm Hòn Giao quanh năm. Nước nguyên khối lơ lửng, chạm vào người, đất và mọi thứ trong rừng. Đoàn người mặc áo mưa lần theo khe hở giữa hai cây đi theo hướng đã xác định. Phía trước mờ sương, nếu cách quá 5m sẽ khó thấy được nhau.
Chúng tôi thắc mắc về những chuyến đi tuần dài ngày vì rừng cây èo uột thế này ai thèm đụng vào. Anh Nhân bảo: “Hơn 20.000ha rừng lùn có 18 giống lan quý hiếm và hơn 60 loại cây nằm trong nhóm cấm khai thác như du san, pơ mu, bách xanh, thông năm lá, đỉnh tùng... Lơ là chút thôi lâm tặc cuỗm đi ngay”.
Một lý do khác khiến khu rừng lùn này trở nên hấp dẫn với lâm tặc là những thân cây nghìn tuổi chậm lớn người ta đồn rằng có chứa những điều siêu nhiên. Cũng vì tin vào cây rừng nghìn năm linh thiêng, cuối năm 2012 nhóm 19 “lâm tặc” ở vùng giáp ranh giữa Lâm Đồng và Khánh Hòa đã mang cưa máy vào rừng hạ cây và bị bắt quả tang.
Anh Nhân bảo: “Đoàn đi tuần tra rừng mang theo võng dù, thức ăn đủ dùng cho 10 ngày rồi lần bước đi”. Mỗi lần đi tuần là mỗi lần ăn đói do không thể mang theo nhiều thức ăn và việc nấu nướng ngay trong lòng mây cũng không phải là điều dễ dàng. Những kiểm lâm của hai trạm Giang Ly và Hòn Giao phải dùng tấm áo mưa che bếp rồi đánh lửa. Phải đánh hơn chục lần lửa mới bừng lên, mỗi người mỗi tay nấu thật nhanh kẻo lửa tắt lịm.
“Khổ nhất là chuyện ngủ, không phải chui vô võng là ngủ yên. Nước thấm theo dây võng chảy vào. Phải có cách thắt dây đặc biệt. Có lính mới vào nghề không biết cách cột võng, nửa đêm nước lạnh như băng chảy vào khiến giật mình rớt xuống đất” - anh Kha cười kể lối sinh hoạt đặc biệt của những người giữ rừng trên đỉnh Hòn Giao.
Những người đi tuần bảo vệ cánh rừng lùn đặc biệt kể không cần phải tắm khi hành quân, chỉ thay đồ là xong vì có lúc nào được khô ráo. Đi riết rồi những kiểm lâm viên biết cách nhai lá rừng để tránh một số bệnh do rừng lạnh gây ra. Đối với họ, vắt rừng là thứ quá thường. Anh Nhân tâm sự: “Đi không mong bắt quả tang lâm tặc, đi tuần để họ không vác cưa vào rừng. Đâu có mong cây ngã xuống rồi bắt người”.
Hướng dẫn chúng tôi lấy con vắt đang bám cứng vào ống chân sau khi chui qua được lớp vớ (tất) dày, anh Nhân bảo: “Ngồi nghỉ chút rồi hạ độ cao, xuống độ cao chừng 900m sẽ tìm đường đi vào buôn Dưng Iar Giêng”. Nghe anh nhắc, chúng tôi mới thoát ra khỏi câu chuyện rừng lùn, sực nhớ đến ngôi làng cô đơn giữa rừng. (Tuổi Trẻ 13/2) đầu trang(
Những ngày rét mướt cuối năm, người ta vẫn thấy PGS.TS Lê Xuân Cảnh - nguyên Viện trưởng Viện sinh thái Tài nguyên sinh vật vẫn cùng đoàn chuyên gia lặn lội trèo đèo vượt suối để nghiên cứu quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cho tỉnh Cao Bằng.
Hơn 30 năm làm công tác nghiên cứu, bảo tồn động vật, đặc biệt là các loài linh trưởng ở Việt Nam, cuộc đời ông vẫn luôn gắn với những chuyến đi băng rừng vượt núi, đôi khi chỉ để đuổi theo những dấu vết rất mơ hồ.
“Tôi vẫn nhớ cái lần đi làm nghiên cứu về voọc mũi hếch ở Na Hang- Tuyên Quang. Đặc trưng của loài này là ăn và nhảy trên đỉnh núi nên mình cứ phải đi theo nó từ sáng đến tối, nó leo lên đỉnh thì mình cũng lên đỉnh, nó nhảy ngọn cây thì mình cũng phải trèo lên mỏm đá cao gần đó để theo dõi. Chuyến đi kéo dài gần 3 tháng trời, ăn và ngủ trong rừng, đôi khi cảm thấy mình cũng chả khác gì… khỉ”- Chủ tịch Hội Linh trưởng Việt Nam hóm hỉnh kể lại.
TS. Lê Khắc Quyết, một trong những nhà linh trưởng học hàng đầu của Việt Nam cũng không giấu được xúc động khi kể về “chiến tích” là người đầu tiên phát hiện ra 2 quần thể voọc mũi hếch hiếm có ở Hà Giang. Để có được “quả ngọt” ấy, anh và các cộng sự của mình đã phải lang thang suốt cả năm trời, mò mẫm khắp các cánh rừng Tây Bắc.
Đi rừng nhiều, các chuyên gia dường như đã quá quen với cảnh “ăn đất nằm sương” trong rừng. Chưa kể các nguy hiểm khác luôn rình rập như rắn, vắt, muỗi rừng hay bệnh sốt rét…
“Đổi lại, công việc cho mình đam mê. Mỗi khi phát hiện ra một cá thể mới, cứu thêm được một con linh trưởng bị thương hay thậm chí chỉ là chụp được một tấm ảnh đẹp về chúng cũng bõ cái công mình lặn lội”- Tiến sĩ Quyết chia sẻ.
Nói đến công tác bảo tồn linh trưởng ở Việt Nam, không thể không nhắc đến “linh trưởng chúa” Tilo Nadler, tiến sĩ sinh học, chuyên gia Hội Động vật học Frankfurt CHLB Đức, là người thành lập và Giám đốc Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng nguy cấp Cúc Phương- Ninh Bình.
Ông đến Việt Nam với khát vọng bảo vệ loài voọc mông trắng mà thế giới vẫn tưởng chỉ còn được nhìn qua những tấm tem cũ. Từ khi thành lập vào năm 1993 đến nay, trung tâm của ông đã và đang cứu hộ, nuôi dưỡng khoảng 160 cá thể của 15 loài và phân loài sinh trưởng, phát triển tốt. Trung tâm cũng nhân nuôi thành công nhiều loài linh trưởng đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam. Đây cũng là cơ sở duy nhất trên thế giới đang chăm sóc tốt nhất cho 3 loài linh trưởng trong nhóm ngũ sắc là voọc chá vá chân nâu, chân xám và chân đen.
Ít ai biết, để có tiền xây dựng trung tâm này, Tilo đã phải bán cả cơ nghiệp của mình ở bên Đức. Do phải leo trèo nhiều trên các vách núi để nghiên cứu linh trưởng mà có lần vợ ông đã bị ngã và mất đi đứa con trong bụng. Hy sinh nhiều là thế nhưng “linh trưởng chúa”- tên gọi thân mật bạn bè dành tặng ông, vẫn chưa bao giờ có ý định từ bỏ con đường mình đang đi. Chính tiếng gọi của thiên nhiên núi rừng Việt Nam, tiếng kêu cứu của những con linh trưởng tội nghiệp và cả tình yêu với vợ ông - một cô gái ngườiViệt có chung niềm đam mê với linh trưởng đã níu bước chân ông ở lại cho đến tận hôm nay.
Và sau hàng chục năm cống hiến không mệt mỏi cho niềm đam mê đó, tiến sĩ người Đức 74 tuổi này đã nhận được Thư khen của Chủ tịch nước Việt Nam, Huân chương Lao động hạng Ba do Nhà nước Việt Nam trao tặng, giải thưởng danh dự hạng Nhất dành tặng các chuyên gia về lĩnh vực bảo tồn của thế giới.
Không phải là dân khoa học, nghiên cứu nhưng đạo diễn Nguyễn Hồng Quảng- Ban Khoa giáo- Đài THVN cũng đã có hơn 10 năm nặng tình với linh trưởng Việt Nam. Gắn bó với thể loại phim tài liệu khoa học, anh đã sản xuất được trên 50 phim về đa dạng sinh học, trong đó, phần lớn là phim về các loài linh trưởng ở trong nước. Nhiều tác phẩm của anh được giới làm nghề đánh giá là không thua kém gì những bộ phim của Discovery. Tuy nhiên, để đạt được những thành quả đó, không ít lần, anh đã suýt mất mạng.
Đó là chuyến đi ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh voọc mũi hếch Khau Ca- Hà Giang. “Phát hiện thấy người nên lũ voọc di chuyển rất nhanh. Mải mê đuổi theo đàn voọc gần 8 tiếng đồng hồ không ăn, uống… đến tối mịt thì chúng tôi mới quay trở lại lán để sạc pin cho máy quay.
Trời tối, nhiệt độ xuống thấp, vượt chừng 3- 4 dốc núi thì tôi ngã khuỵu vì đói khát. Người dẫn đường đi cùng bèn vơ lấy một nắm rau rừng mọc dại bên đường cho tôi ăn. Chính nhờ đám rau đó mà chúng tôi mới có đủ năng lượng để lết về tới lán”- Đạo diễn Hồng Quảng nhớ lại.
Rồi cả lần làm phim Bảo tồn Vượn Cao vít tại Trùng Khánh, Cao Bằng, nhóm của anh đã phải tác nghiệp trong những cơn mưa rừng tầm tã kéo dài suốt cả tuần liền. “Bao mệt mỏi, rét mướt đã tan biến hết khi chúng tôi quay được những hình ảnh sinh động về tình mẫu tử của một đàn vượn đang trú mưa gần đó. Vượn mẹ dùng thân mình che mưa cho các con, trong khi vượn đầu đàn vẫn đội mưa đứng cảnh giới bảo vệ sự bình yên cho gia đình nó. Hình ảnh này cứ ám ảnh tôi về trách nhiệm với gia đình bé nhỏ của mình”- anh Quảng chia sẻ.
Khi quay loài vượn đen má vàng, anh Quảng đã phải dậy sớm lần theo tiếng hót của chúng. Nếu chúng ngừng hót mà chưa nhìn thấy đàn vượn đâu thì coi như hôm đó mất công toi. Chính vì thế, mặc dù không phải là chuyên gia nghiên cứu nhưng khi xác định làm phim về động vật, đạo diễn Hồng Quảng cũng phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức sinh học sâu rộng để nắm rõ tập tính của mỗi loài.
Sự hy sinh hết mình cho đam mê đã mang lại những phần thưởng xứng đáng.Những bộ phim về linh trưởng của anh đã chinh phục nhiều giải thưởng ở các liên hoan phim lớn. (Báo Xuân Bính Thân 2016) đầu trang(
Rừng Bù Đốp đẹp, thu hút mọi người không chỉ ở giá trị của rừng khộp, rừng tái sinh mơn mởn mà còn bởi có dòng nước từ lòng hồ thủy điện Cần Đơn đổ về, tạo nên cảnh đẹp hữu tình. Ngoài cán bộ kiểm lâm thường xuyên tuần tra, cánh rừng này còn có một “robinson” thời hiện đại, cùng tham gia bảo vệ lá phổi xanh của nhân loại.
Đầu giờ trưa, xe chúng tôi men theo con đường nội bộ dẫn vào chốt trực đường sông của Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đốp. Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bù Đốp Nguyễn Văn Ách cho ca nô chở chúng tôi đi dọc một phần tuyến tuần tra bằng đường sông. Ở đây, đội đường sông gồm 5 người thường xuyên có mặt tại lán để làm nhiệm vụ. Nhưng điều thú vị không phải chuyện đi tuần tra cùng cán bộ kiểm lâm mà chúng tôi được tiếp cận người đàn ông vốn không phải là cán bộ kiểm lâm.
Đó là anh Nguyễn Văn Hiền, SN 1980, đang được hợp đồng bảo vệ rừng Bù Đốp khu vực nhánh suối Tưng. Ca nô chưa cập bến nhưng từ xa chúng tôi đã thấy những làn khói tỏa ra từ ngôi nhà đang lềnh bềnh trên mặt sông. Ca nô đến càng gần, căn nhà lại càng chòng chành theo làn sóng.
Căn nhà trên mặt hồ được anh Hiền giữ cố định bằng các ống tre, lồ ô kết bè đằm dưới nước. Từ các thanh lồ ô, anh khéo léo đan thành những tấm phên che gió bốn phía để ở. Đón khách, anh nhanh nhẹn kéo dây cột vào trụ nhà, một tay giữ đầu ca nô để chúng tôi bước lên. Anh nhanh nhảu chào mọi người với nụ cười tươi rói.
Sống tách biệt giữa rừng, anh được cấp một chiếc xuồng máy để tuần tra và đi lại cho thuận lợi. Cuộc sống lênh đênh trên nước, cá cua dưới sông, rau ăn hái trên rừng. Chỉ những thứ không sản xuất được như: gạo, nước mắm, bột ngọt, dầu ăn... anh Hiền phải nhờ anh em ở chốt trực bên ngoài mua giùm hoặc tranh thủ đợt nghỉ phép mang vào.
Năm 2012, anh được Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bù Đốp hợp đồng và giao nhiệm vụ tuần tra, phối hợp bảo vệ rừng ở tuyến đường sông, đoạn qua nhánh suối Tưng. Hằng ngày, không quản ngày đêm, anh chèo thuyền, lội bộ đi kiểm tra ở dọc tuyến. Phát hiện các đối tượng lạ mặt đến chặt phá rừng, khai thác tài nguyên, anh báo lại để cán bộ kiểm lâm xử lý theo quy định.
Là người con của xã Phước Minh, huyện Bù Gia Mập, lại lanh lợi và hoạt bát nên anh Hiền từng làm rất nhiều nghề để sinh sống. Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bù Đốp Nguyễn Văn Ách kể: Trước khi trở thành người tham gia bảo vệ lá phổi xanh, anh Hiền cũng một thời phá rừng.
Những năm 2010, 2012, anh cùng một nhóm người chuyên vào rừng khai thác tài nguyên trái phép. Trong chuyến đi năm 2012, anh bị cán bộ Hạt kiểm lâm Bù Đốp bắt giữ. Anh la lối, tỏ thái độ bất hợp tác. Thế nhưng, khi được Hạt trưởng Nguyễn Văn Ách phân tích việc làm của mình, về vai trò của người cha trong gia đình, anh đã trở thành một con người khác hẳn.
Hạt trưởng Nguyễn Văn Ách đã mời gọi anh cùng phối hợp đội tuần tra đường sông làm nhiệm vụ quản lý rừng. Không suy nghĩ nhiều, anh nhận nhiệm vụ ngay. Hạt kiểm lâm Bù Đốp đã kéo bè và giúp anh thả vài trăm con cá bống, cua, để nuôi tạo nguồn lợi thủy sản và phát triển kinh tế cho gia đình. 5 đến 7 ngày, anh lại về thăm vợ con và chuẩn bị thêm lương thực mang vào rừng.
Anh Hiền chia sẻ: Thời gian đầu tôi cũng buồn lắm, có khi cả tuần không được nghe tiếng người, chỉ toàn tiếng lá cây xào xạc, tiếng chim rừng. Giờ tôi quen rồi, về nhà được mấy tiếng đồng hồ lại nhớ rừng. Ngày tết, tôi chỉ về nhà mồng 1 rồi lại lên đây.
Chia tay chúng tôi, anh Hiền nói: “Tôi sẽ đem sức lực và lòng nhiệt tình để bảo vệ cánh rừng này. Rừng đẹp, thiên nhiên hữu tình, tôi trồng cây, nuôi cá để có thể cùng kiểm lâm Bù Đốp hướng đến xây dựng du lịch sinh thái trong tương lai”. (Báo Bình Phước 5/2) đầu trang(
UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang xem xét triển khai dự án làm đường Tây Bắc, nối Bến Đầm với Cỏ Ống, dài khoảng 14km, phá khoảng 40 héc ta rừng, gần 7000 cây rừng và 2000 m3 gỗ.
Về phía huyện Côn Đảo, ông Nguyễn Thành Chính - Chủ tịch UBND huyện Côn Đảo cho biết: "Huyện đang chờ đợi quyết định của Chính phủ cho đề xuất xin chuyển mục đích sử dụng đất rừng quốc gia Côn Đảo sang đất xây dựng.
Bởi vì, nếu muốn làm đường thì phải xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng quốc gia sang đất xây dựng, mới thực hiện được các dự án đường giao thông".
Trao đổi với Đất Việt trước thông tin trên, ông Nguyễn Vinh Hà - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết: "Chúng ta đã có quy định rõ ràng về việc, nếu các dự án đi qua rừng nguyên sinh, đặc dụng phá bao nhiêu héc ta rừng thì phải báo cáo với các cấp thẩm quyền có liên quan.
Đặc biệt, đối với một dự án làm đường đi xuyên rừng thì phải có hồ sơ, có đánh giá tác động môi trường, xem xét các yếu tố liên quan đế mục tiêu dự án".
Bên cạnh đó, ông Hà nhấn mạnh: "Phải làm đúng Luật, chứ không thể phá rừng một cách vô nguyên tắc.
Riêng về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang đất xây dựng, phải có hồ sơ cụ thể chuyển đổi vì mục đích gì, đánh giá tác động môi trường khi phá chuyển đổi sang đất xây dựng ra sao, lợi ích đem lại như thế nào".
Cũng đưa ra quan điểm về vấn đề này, bà Bùi Thị An - Viện trưởng Viện tài nguyên, môi trường và phát triển cộng đồng; Ủy viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết: "Các lãnh đạo tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nên cân nhắc lại xem giữa cái được và cái mất trong dự án này.
Rừng nguyên sinh là vô giá, rừng còn lại thì sẽ còn tất cả`, nó là vấn đề đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, không chỉ là chuyện hậu quả của phá rừng.
Bây giờ nếu đưa mục tiêu quốc phòng tôi không có ý kiến, nhưng còn tất cả các mục tiêu khác phải cân nhắc thật kỹ. Cứ thử xem, bao lâu mới trồng được một khu rừng, chưa kể rừng nguyên sinh, nó bao bọc, nó làm cho đất nước phát triển bền vững".
Vì thế, bà An đề nghị nên cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định triển khai dự án, chỉ ra rõ, cái được, cái mất khi triển khai dự án là gì, trong đó phải tính đến hiệu quả vô giá của rừng đem lại cho đất nước, cho tỉnh Vũng Tàu nói riêng.
Phải cân nhắc thật kỹ, rừng là vô giá, mất đi làm sao lấy lại được. Hơn nữa khi hệ sinh thái đặc trưng của Côn Đảo là kết nối rừng và biển.
"Thứ nhất, phải cân nhắc, đánh giá kỹ, bởi mục tiêu kinh tế ở đây sẽ phải cân đo đong đếm với biến đổi khí hậu gây hậu quả khó đặt lên bàn cân. Nói ngay như, nếu để rừng nguyên sinh có khi phát triển du lịch rất tốt, vì du khách hướng đến du lịch gắn liền với thiên nhiên, thay vì có nhiều sự can thiệp của bàn tay con người.
Thứ hai, tất cả các mục tiêu khác phải đánh giá rất cẩn thận vì nó đem lại cho đất nước nhiều yếu tố", bà An chỉ rõ.
Về mục tiêu khai thác quỹ đất hai bên đường, theo bà An, bà không tin tỉnh Vũng tàu sẽ làm như vậy bởi gần như hai bên đường phải không có nhà, nếu làm như vậy là khó chấp nhận.
Đây cũng là thực trạng ở các khu du lịch, khai thác, phát triển các khu bất động sản nghỉ dưỡng, không chỉ Côn Đảo, nên phải rút kinh nghiệm từ những bài học cũ, xem xét quy hoạch cẩn thận, tránh những hậu quả đáng tiếc. (Đất Việt 5/2) đầu trang(
Sáng 4/2, tại phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Hội đồng tiêu huỷ vật chứng tỉnh gồm: Chi cục Kiểm lâm, Viện Kiểm sát TP Hạ Long, Chi cục Thú y, Sở Tài chính tỉnh, Công an tỉnh và UBND phường Hồng Hà, TP Hạ Long đã tổ chức tiêu huỷ 19 cá thể tê tê Java, tổng trọng lượng nặng 78,7kg.
Trước đó, tại phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Phòng CSĐT tội phạm về chức vụ Công an tỉnh đã phối hợp với Công an phường Ninh Dương, TP Móng Cái, phát hiện và bắt quả tang 2 đối tượng là Đinh Văn Nghiệp, sinh năm1977, ở khu Hồng Kỳ, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái và Phạm Long, sinh năm 1971, chỗ ở phường Ninh Dương, TP Móng Cái, đang nuôi nhốt trái phép và sử dụng bơm đưa thức ăn dạng bột vào 19 con tê tê Java thuộc loài động vật nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Ngay sau khi phát hiện vụ việc, lực lượng chức năng đã bàn giao số tê tê này cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh để cứu hộ. Song do số tê tê này quá yếu nên đã chết, lực lượng chức năng buộc phải tổ chức tiêu huỷ số tê tê trên theo quy định của pháp luật. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 5/2) đầu trang(
Tỉnh Yên Bái có trên 416.145 ha rừng với nhiều khu rừng giàu tài nguyên, song do đặc thù khí hậu khô hanh, các huyện, thị phía Tây thường hay có gió Lào thổi khiến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) và quản lý bảo vệ rừng (BVR) gặp nhiều khó khăn.
Tôi đã có dịp theo chân các cán bộ kiểm lâm lách rừng, leo dốc để trải nghiệm gian nan, vất vả của những con người ngày đêm giữ rừng. Có thể nói, những năm gần đây, ý thức của người dân trong việc BVR được nâng lên nhưng không vì thế nhiệm vụ những người giữ rừng vơi bớt khó khăn bởi các thủ đoạn của các đối tượng khai thác, vận chuyển lâm sản ngày càng tinh vi và manh động.
Trước thực tế trên, để giữ rừng hiệu quả, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo hạt kiểm lâm các huyện, thị xây dựng kế hoạch bảo vệ 164.708 ha rừng phòng hộ, đặc dụng thuộc Dự án 5 triệu héc-ta rừng và thực hiện ký kết giao khoán bảo vệ 49.559 ha rừng tự nhiên sản xuất cho hộ và các nhóm hộ. Chi cục đã tăng cường lực lượng xuống cơ sở, bảo đảm 180 xã, phường đều có kiểm lâm địa bàn, tham mưu giúp chính quyền địa phương làm tốt công tác quản lý BVR, quản lý lâm sản và PCCCR.
Với tinh thần quyết tâm không khoan nhượng với “lâm tặc”, lực lượng kiểm lâm đã tổ chức thực hiện và phối hợp với các ngành chức năng truy quét ở các khu vực trọng điểm phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Năm 2015, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã phát hiện và xử lý 190 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 36 vụ so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, có 96 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 61 vụ chế biến, cất giữ lâm sản trái phép, 11 vụ khai thác, 13 vụ nương rẫy, 7 vụ cháy rừng, 2 vụ vận chuyển động vật rừng; tịch thu 71,835 m3 gỗ xẻ và 90,162 m3 gỗ tròn; bán hàng tịch thu, thu nộp ngân sách trên 747 triệu đồng. Các vụ vi phạm được xử lý nghiêm minh, đúng luật, có tác dụng giáo dục cao, góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Gian nan hơn cả là cuộc chiến chống “giặc lửa”. Vào mùa khô hanh, những cánh rừng ở các huyện, thị phía Tây của tỉnh như Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải như nằm trên “chảo lửa”. Mùa khô nơi đây kéo dài từ tháng 10 năm trước cho tới tận tháng 4 năm sau, cộng với gió Lào thổi suốt mùa khô, chỉ cần một tàn đóm là thiêu trụi cả cánh rừng hàng trăm héc-ta.
Để ngăn chặn việc đốt nương làm rẫy, Chi cục đã tăng cường cán bộ kiểm lâm địa bàn tại các huyện vùng thấp lên 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải; tổ chức hàng trăm hội nghị tuyên truyền về công tác PCCCR, in ấn phát tờ rơi, áp phích tuyên truyền tới tận người dân, tổ chức ký cam kết BVR và PCCCR tới 75.000 lượt người dân. Xây dựng 310 tổ xung kích chữa cháy rừng với 3.214 người tham gia.
Tổ chức các lớp tập huấn về PCCCR cho các tổ xung kích và các chủ rừng tham gia. Thực hiện việc “cưỡng chế” đốt nương rẫy vào ban ngày có sự giám sát của kiểm lâm để không để cháy lan vào rừng. Nhờ làm tốt công tác dự báo và chủ động triển khai quyết liệt các biện pháp PCCCR nên năm 2015, số vụ cháy rừng giảm 2 vụ và diện tích thiệt hại giảm trên 500 ha so với cùng kỳ năm trước.
Để giữ bình yên cho những cánh rừng, cùng với việc tuần tra, canh gác, các cán bộ kiểm lâm vẫn hàng ngày bám dân, bám bản để vận động bà con chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, quyết tâm bảo vệ màu xanh cho rừng.
Sự có mặt của các anh sẽ huy động được sức mạnh của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, giúp bà con có thêm niềm tin, động lực để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo từ rừng. (Báo Yên Bái 5/2) đầu trang(
“Tôi chưa từng thấy con vật nào có tính người hơn cả... con người như loài voọc chà vá chân nâu tại bán đảo Sơn Trà” - ông là Lê Phước Bảy - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Trà (Ðà Nẵng) tâm sự.
Ông Bảy về làm kiểm lâm ở vùng bán đảo Sơn Trà vào năm 1980. Cũng tại đây, ông được gặp loài thú tự nhiên có bộ lông 5 sắc đẹp nhất trong các loài thú mà ông từng chứng kiến, đấy là voọc chà vá chân nâu (Pygathryx nemaeus, thuộc nhóm động vật rừng nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ) - được giới nghiên cứu mệnh danh là “Nữ hoàng của loài linh trưởng”.
Sự tăng cường bảo vệ của các lực lượng chức năng, các tổ chức xã hội đã giúp cho đàn voọc Sơn Trà bình yên suốt hai thập niên qua. Bằng chứng rõ nhất là sự gia tăng số lượng voọc. Theo các nhà nghiên cứu, năm 2006, ở đây có 12 đàn voọc, với 194 cá thể; năm 2010 phát triển lên 18 đàn, 300 cá thể; hiện nay trên 20 đàn và trên 350 cá thể.
“Voọc đã thay đổi tập tính rất nhiều so với hồi tôi mới về” – ông Bảy nói. Theo ông Bảy, ngày trước, chúng xuất hiện ở những vùng địa hình cao (so với mặt biển), bây giờ, chúng xuống vùng thấp. Trước kia, chúng ăn cây cao 8m trở lên, bây giờ, chúng ăn từ 8m trở xuống. Trước kia, chúng ở suốt trên cây, bây giờ chúng xuống đất.
Có nhiều trường hợp, voọc ra khu nhà dân, vào khu resort. Nhưng sự dạn dĩ, tin cậy con người của chúng đã khuấy động trở lại tính ác của một số người. Ðó là lý do, đầu năm 2015 đến giờ xuất hiện hai vụ bắn giết voọc. Vụ thứ nhất, thợ săn bắn chết 3 con voọc một lúc. Vụ thứ hai (vào đầu tháng 9.2015), xót xa, một cô voọc non đã bị bắn (bằng đạn ghém), bị thương rất nặng. Nó xuống đất, máu me bê bết, lết ra đường nhựa, chờ con người cứu. Sau lưng nó, voọc mẹ và các thành viên trong đàn đau đớn chạy tới chạy lui.
“Khi tôi đến, đôi mắt nó nhìn tôi đã dại đi. Nó lại mất máu quá nhiều, đã kiệt quệ. Chúng tôi bất lực nhìn nó hấp hối và ra đi trên tay mình” – ông Bảy kể lại trong đau đớn.
Voọc con sau đó được công an giải phẫu tử thi, bổ sung hồ sơ để khởi tố vụ án. Bác sĩ Võ Hoàng Trung - Phó phòng Khoa học - Kỹ thuật hình sự Công an TP.Ðà Nẵng, người trực tiếp giải phẫu, tâm sự: Về mặt lý thuyết thì tôi đã biết nhưng đối diện với thực tế, tôi cũng không khỏi bàng hoàng về sự giống nhau gần như tuyệt đối của nội tạng voọc con và một em bé”. Ông Bảy bần thần suốt nhiều ngày sau đó... (Dân Việt 6/2) đầu trang(
Bắt đầu bằng một khu chuồng nuôi nhốt 2 cá thể Voọc mông trắng và Voọc Hà Tĩnh tịch thu được, trải qua nhiều chặng đường khó khăn, đầu năm 1994, Trung tâm cứu hộ Linh Trưởng nguy cấp (EPRC) Cúc Phương được xây dựng.
Là kết quả hợp tác giữa Việt Nam và Hội Động vật học Frank Furt (Đức), EPRC là trung tâm cứu hộ linh trưởng đầu tiên khu vực Đông Dương và Việt Nam. Hiện, EPRC đang trở thành một trong những nơi cứu hộ và nuôi dưỡng động vật hoang dã lớn nhất khu vực Đông Nam Á (ĐNA)…
Chúng tôi tới Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương vào một ngày cuối năm. Nằm dưới những tán lá rậm rạp của Vườn quốc gia Cúc Phương thuộc địa phận huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, EPRC được thành lập với mục đích chăm sóc, cứu hộ, bảo tồn các loài linh trưởng, giúp chúng sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt và nghiên cứu các đặc điểm sinh thái học để trả chúng trở về với môi trường sống tự nhiên. Khu nuôi nhốt của Trung tâm có diện tích khoảng 3,5 ha, được quản lý và chăm sóc bởi 3 chuyên gia nghiên cứu người nước ngoài và 28 nhân viên chăm sóc và cán bộ kỹ thuật.
Đón chúng tôi là bà Elke Schwierz – chuyên gia phụ trách chăn nuôi thú. Bằng giọng tiếng Việt lơ lớ, bà Elke giới thiệu với chúng tôi rất nhiều điều thú vị về nơi này.
EPRC được sáng lập bởi ông Tilo Nadler, một chuyên gia người Đức làm việc cho Tổ chức Hội Động vật học Frankfurt (Frankfurt Zoological Society - FZS) từ đầu những năm 90. Thời gian đầu, Trung tâm (TT) chỉ có 2 cá thể Voọc mông trắng và Voọc Hà Tĩnh. Đây là 2 cá thể kiểm lâm tịch thu từ những người săn bắt trái phép. Giờ đây, TT đã trở thành nơi tiếp nhận các loài linh trưởng bị buôn bán trái phép hoặc bị thương trên toàn quốc.
Cho tới nay, TT đã có khoảng 180 cá thể bao gồm Voọc, Vượn và Culi. Trong đó, có khoảng hơn 100 con Voọc. Chúng sinh trưởng và phát triển tốt, trong đó có 6 loài duy nhất được chăm giữ mà không nơi nào trên thế giới cứu hộ và nuôi nhốt các loài này, đó là: Voọc mông trắng, Voọc Hà Tĩnh, Voọc đen tuyền, Voọc Lào, Voọc Cát Bà, Voọc Chà Vá chân xám.
Làm việc tại TT đã được 8 năm, với sự tận tình, lòng say mê công việc bà Elke được đánh giá là rất giỏi trong việc cứu hộ và chăm sóc thú. Bà cho biết, hiện nay cả thế giới có khoảng 300 dòng linh trưởng, 25 dòng đang có nguy cơ tuyệt chủng, tại Việt Nam đã phát hiện 9 dòng trong số đó. Đặc thù khí hậu ở khu vực rừng núi Việt Nam rất tốt cho các loài linh trưởng phát triển, điều này khó có thể thực hiện được ở những Công viên Quốc gia nước ngoài. Trong TT có khoảng 50 chuồng trại nuôi nhốt. Ngoài ra, TT có khu nuôi thả bán tự nhiên gồm 7 ha diện tích đồi rừng nhằm giúp các cá thể linh trưởng thích nghi với môi trường sống tự nhiên trước khi được thả về nơi phân bố của chúng
Với đặc thù loài, Voọc chỉ ăn lá cây. Hàng ngày, các nhân viên chăm sóc tại đây phải cắt tới 300-400 kg lá cây của khoảng 100 loài cây. Nguồn thức ăn này được lấy từ khu vực rừng trồng và khu phục hồi sinh thái, như lá dâm bụt, lá phượng, lá mơ, lá keo…tùy theo mùa. Số lá này được bó lại thành từng bó nhỏ, treo lên hàng rào của mỗi chuồng nuôi. “Mỗi ngày, nhân viên ở đây phải thay đổi khẩu vị cho Voọc, thường là 8 loại lá mỗi ngày và sẽ chia thành 3 bó, treo ở 3 góc chuồng cho Voọc ăn”, bà Elke cho biết.
Bên cạnh đó, bà chia sẻ, đối với những con Voọc còn quá nhỏ, dưới 3 tháng tuổi, các nhân viên chăm sóc phải cho chúng uống sữa vì hệ tiêu hóa của chúng còn non nớt, chưa thể ăn lá cây được. Không khác gì những em nhỏ, mỗi ngày, những “bé Voọc” này phải uống sữa 12 lần, mỗi lần cách nhau 2 tiếng.
Trong TT còn có cả một khu dành cho các “bé Voọc” mà các anh chị em ở đây thường gọi là “trường Mầm non”. Khu “trường Mầm non” có 6 “bé Voọc” “theo học”, bao gồm cả Chà Vá chân xám và Chà Vá chân đỏ. Các bé được đặt tên là: Việt, Luna, Frida, Xám, Micheal và Hà Tĩnh.
Nhìn cách bà Elke và các nhân viên bế ẵm và cho các “bé” ăn, mới thấy hết được tình cảm mà nhân viên ở đây dành cho những chú Voọc này. Bà Elke vui vẻ khoe rằng, bà nuôi chúng từ bé, có bé khi đưa về mới được 3 ngày tuổi, bà thường xưng “mẹ” với các “bé” và coi những chú Voọc con này như những đứa con của mình.
Ngoài 6 “bé Voọc” được nuôi trong “trường Mầm non”, Elke còn dẫn chúng tôi tới thăm một “bé” khác được chăm sóc tại phòng đặc biệt. “Bé” còn rất yếu và tỏ ra sợ sệt khi nhìn thấy người.
Sau giai đoạn uống sữa, các “bé” sẽ được chuyển sang chế độ “ăn dặm” để làm quen với thiên nhiên. Thức ăn lúc này của các “bé” bao gồm táo, khoai lang và kèm thêm chút lá cây. Đồng thời, các nhân viên chăm sóc còn phải tập thể dục cho các “bé” để các “bé” dễ thích nghi với môi trường.
Theo chia sẻ của bà Elke, ngoài chế độ dinh dưỡng được tính toán tỉ mỉ, việc vệ sinh và chăm sóc sức khỏe cho những chú Voọc trong TT cũng được đặt ra khá chặt chẽ.
“Voọc rất hay bị ốm và khó nuôi. Thêm nữa, chúng hay bị stress nên phải luôn tạo cảm giác thoải mái cho chúng”, Elke nói. Đặc biệt, việc chăm sóc những con Voọc bé vô cùng vất vả. Đồ ăn thức uống của chúng phải thật sạch sẽ và phải tắm cho chúng thường xuyên. Trước khi cho Voọc ăn, các nhân viên chăm sóc phải rửa tay sạch sẽ vì sức đề kháng của các “bé” kém nên rất hay bị ốm.
Nếu Voọc mắc những bệnh thông thường như đau bụng, đi ngoài thì các nhân viên ở đây sẽ tự chăm sóc và cho chúng uống thuốc. Nhưng, nếu bị nặng hơn như có lần, Voọc bị gãy tay, TT phải đưa ra bệnh viện Nho Quan để chụp X-quang và bó bột. Có vài trường hợp vô cùng đáng tiếc, Voọc được cứu hộ và bị thương quá nặng nên không thể cứu chữa được, bà Elke chia sẻ.
Về công tác bảo tồn, bà Sonya Prosser – Quản lý Trung tâm EPRC cho biết, khi những con Voọc đã trưởng thành, TT sẽ cho ghép con đực và con cái để nhân giống hoặc thả chúng về với thiên nhiên. TT đã từng thả nhiều cá thể Voọc mông trắng tại Vân Long, Hà Tĩnh, Kẻ Gỗ, Phong Nha Kẻ Bàng và Voọc Chà Vá chân xám tại Kontum.
Bên cạnh đó, bà cho biết, Chà Vá chân xám là loài động vật vô cùng quý hiếm và rất phù hợp sống ở khu vực Gia Lai – Kontum. Vì thế, việc tìm kiếm và lựa chọn được nơi có môi trường sống phù hợp và được bảo vệ tốt cũng là một vấn đề được những chuyên gia hoạt động trong dự án cực kỳ quan tâm.
Tuy nhiên, quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc vất vả là thế, nhưng do nhận thức của người dân về việc bảo vệ, bảo tồn vẫn còn hạn chế, cộng với việc bảo vệ rừng và môi trường sống còn nhiều bất cập, nên khi được thả về rừng, những chú Voọc này có nhiều nguy cơ bị những kẻ săn bắn trái phép, đôi khi là cả người dân trong vùng bắt trở lại, bà Sonya cho biết.
Chính vì thế, bên cạnh việc chăm sóc, bảo tồn, xây dựng thêm chuồng trại sạch đẹp hơn, cố gắng để ngày càng nhiều cá thể Voọc được cứu hộ và thả về rừng. Bà Sonya mong muốn, Chính phủ Việt Nam cần phối hợp để nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bảo tồn loài Voọc sâu hơn, rộng hơn nữa, thông qua các phương tiện truyền thông. Bà đặc biệt quan tâm tới việc có thể đưa đề tài này vào các buổi nói chuyện với các em học sinh tại các trường học để nâng cao nhận thức cho các em về việc bảo vệ rừng, bảo vệ động vật, nhất là với các em nhỏ sống ở khu vực miền núi.
Hơn thế nữa, bà cũng mong muốn, Chính phủ Việt Nam cần đưa ra những luật lệ chặt chẽ hơn và có những chế tài xử phạt thích đáng để bảo vệ loài Voọc. Những khu vực rừng có Voọc sinh sống, cần nâng cao công tác bảo vệ, bảo tồn. Có như thế, những chú Voọc sau khi thả về rừng mới được sống an toàn. (Công Lý 6/2) đầu trang(
Ngày 3/2, UBND tỉnh ban hành Công điện khẩn số 05 /CĐ-UBND về việc phòng cháy, chữa cháy rừng.
Công điện nêu rõ: Thời gian vừa qua trên địa bàn tỉnh xảy ra rét đậm, rét hại, băng tuyết bao phủ cây rừng, thảm thực vật đã gây cháy lá, gẫy cành, ngọn làm tăng nguồn vật liệu gây cháy rừng trên diện rộng, đặc biệt tại một số khu vực của các huyện: Tam Đường, Sìn Hồ, Phong Thổ...
Để chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng (PCCCR), Chủ tịch UBND tỉnh Chủ tịch UBND các huyện, thành phố chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ và các phòng chức năng phối hợp chặt chẽ với UBND các xã, phường, thị trấn và các chủ rừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thực hiện tốt công tác PCCCR theo Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 29 tháng 1 năm 2016 của UBND tỉnh Lai Châu về việc tăng cường các biện pháp trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR;
Tổ chức thường trực 24/24 giờ; bố trí lực lượng canh phòng tại những khu vực trọng điểm bị băng, tuyết gây hại, trong thời gian trước, trong và sau tết Nguyên đán; chủ động phát hiện sớm điểm cháy và huy động các lực lượng, phương tiện tại chỗ để chữa cháy kịp thời. Khi có cháy rừng xảy ra phải báo cáo ngay tình hình về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh (qua số điện thoại trực của Chi cục Kiểm lâm: 0912.438.859 hoặc 02313.877.017).
Chủ tịch UBND các huyện, thành phố chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về công tác phòng cháy và chữa cháy rừng trên địa bàn. Các thành viên Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh căn cứ theo nhiệm vụ được phân công, thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình cháy rừng trên địa bàn để kịp thời phối hợp với cấp uỷ, chính quyền các địa phương khẩn trương chỉ đạo huy động lực lượng, phương tiện, hậu cần tại chỗ để tổ chức, triển khai thực hiện ứng cứu kịp thời khi cháy rừng xảy ra.
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin cháy rừng; chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn tham mưu cho UBND các xã, phường, thị trấn tăng cường tuần tra, kiểm tra phát hiện kịp thời và tổ chức chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra. Tổng hợp và báo cáo Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh khi có cháy rừng để chỉ đạo và huy động lực lượng chữa cháy rừng trong trường hợp cháy lớn.
Giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, Tổng Biên tập Báo Lai Châu chỉ đạo đơn vị phối hợp với các cơ quan chuyên môn thường xuyên cập nhật thông tin về diễn biến thời tiết, tăng cường thời lượng phát sóng, truyền tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để các địa phương biết và chủ động triển khai các biện pháp PCCCR. (Báo Lai Châu 4/2) đầu trang(
Đa dạng sinh học (ĐDSH) nói chung, và các hệ sinh thái (HST) tự nhiên nói riêng là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người.
Với những lợi ích to lớn mà ĐDSH mang lại, Hà Nội đã có những quyết sách quan trọng nhằm tạo hàng lang pháp lý cũng như đầu tư cho các mục tiêu ưu tiên về bảo tồn để Thủ đô ngày thêm xanh - sạch - văn minh - hiện đại và phát triển bền vững.
Trước hết phải kể đến ĐDSH của rừng Hà Nội. Riêng HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất độ cao trên 600m diện tích hơn 1.000ha. Qua khảo sát đã ghi nhận, HST này có 1.050 loài thực vật thuộc 146 họ của 5 ngành thực vật, chủ yếu cây có lá rộng.
Về động vật có 73 loài thú, chim 204 loài, bò sát 63 loài, ếch nhái 31 loài. Với HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất dưới độ cao 600, phân bố chủ yếu ở Vườn Quốc gia Ba Vì và rải rác ở các khu vực hồ Đồng Mô, hồ Suối Hai, Đầm Long, khu K9, các xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân (Thạch Thất), Đông Xuân, Hoà Thạch (Quốc Oai)..., diện tích 13.921,25ha. Thống kê, hệ thực vật này có 1.051 loài thuộc 162 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Hệ động vật có 73 loài thú, 204 loài chim, 63 loài bò sát, 31 loài ếch.
Hà Nội có HST rừng hỗ giao tre nứa xen cây gỗ cũng khá phong phú với hơn 207ha, hệ thực vật có 30 loài thuộc 4 họ của 1 ngành thực vật bậc cao, 9 loài thú, 184 loài chim, 36 loài bò sát, 25 loài ếch nhái như tê tê vàng, sóc bay trâu, lửng lợn, cầy vòi mốc, cầy vằn bắc, cu li lớn, cu li nhỏ, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, cú lợn lưng xám, cú lợn lưng nâu, chích chòe lửa, tắc kè, rắn cạp nong, rắn cạp nia bắc.
HST rừng trên núi đá vôi hơn 4.272ha, có 491 loài thuộc 91 họ, 4 ngành thực vật bậc cao có mạch thì 20 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Còn hệ động vật có 54 loài thú, 140 loài chim, 33 loài bò sát, trong đó nhiều loài có trong sách đỏ Việt Nam. Hà Nội còn có gần 3.100ha HST trảng cỏ, phân bố rải rác ở các xã An Phú (Mỹ Đức), Nam Phương Tiến, Tân Tiến (Chương Mỹ), Yên Bình, Yên Trung (Thạch Thất), Hồng Kỳ (Sóc Sơn) và ven sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống, sông Cà Lồ...
Theo ghi nhận của các nhà khoa học, SHT này có 875 loài thuộc 102 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Hệ động vật có 32 loài thú, 127 loài chim, 21 loài bò sát, 44 loài ếch nhái; chủ yếu là các loài thú nhỏ như chuột, sóc, chồn, chim chích, chích chòe, chào mào, bò sát, ếch nhái, rắn ráo, thằn lằn bóng đuôi dài, rắn nước...
Bên cạnh hơn 31.380ha HST đất ngập nước, với nhiều sông, hồ không chỉ cấp nước sinh hoạt, phục vụ sản xuất, điều hòa không khí, hệ thống sông, hồ còn mang nhiều ý nghĩa lịch sử…, Hà Nội còn có 4 HST nhân tạo, nguồn gen cây trồng quý hiếm, vật nuôi bản địa, chất lượng tốt và các khu bảo tồn…, cần được ưu tiên đầu tư bảo tồn.
Những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và tốc độ đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo những áp lực và hệ lụy đối với ĐDSH. Các HST tự nhiên bị thu hẹp, nhiều loài đặc hữu, quý hiếm trong tự nhiên có nguy cơ tuyệt chủng. Các nguồn gen cũng đang trên đà thoái hóa và mất dần. Xác định bảo tồn ĐDSH là một trong những điều kiện kiên quyết để giảm thiểu sự gia tăng của biến đổi khí hậu góp phần phát triển bền vững, Hà Nội đã có chương trình hành động phát triển bền vững.
Theo Quy hoạch bảo tồn ĐDSH thành phố Hà Nội đến năm 2030, thành phố đã đề ra mục tiêu, bảo tồn, phát triển 3 khu bảo tồn ĐDSH hiện có do trung ương quản lý trên địa bàn Hà Nội. Thành lập mới 7 khu bảo tồn và chuyển đổi rừng đặc dụng Hương Sơn thành khu bảo vệ cảnh quan cấp thành phố. Phối hợp bảo tồn và phát triển 6 cơ sở bảo tồn ĐDSH trên địa bàn thành phố do các cơ quan trung ương quản lý; củng cố và phát triển 5 cơ sở bảo tồn ĐDSH thuộc thành phố Hà Nội.
Bảo vệ và phát triển hơn 6.770 ha HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới cây lá rộng trên núi đất ở độ cao dưới 600m, hơn 675ha HST rừng trên núi đá vôi, hơn 15ha HST rừng hỗn giao tre nứa, gỗ; trồng rừng và cây phân tán để đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 7,7%. Bảo vệ và phát triển các HST tự nhiên trảng cỏ, cây bụi và đất ngập nước; giữ nguyên số lượng và tập trung cải tạo cảnh quan, chất lượng nước một số hồ tự nhiên, nhân tạo.
Ưu tiên bảo vệ và phát triển các nguồn gen quý hiếm, loài cây trồng vật nuôi đặc sản. Bảo vệ và phát triển ĐDSH HST đô thị đặc thù thành phố Hà Nội. Tăng tỷ lệ cây xanh lên 10-12m2/người. Ưu tiên trồng các loài cây bản địa có giá trị kinh tế, cảnh quan và cải tạo nâng cao chất lượng môi trường sống. Phấn đấu 100% các loài ngoại lai trên địa bàn thành phố được đưa vào danh mục kiểm soát và được cập nhật định kỳ theo ba nhóm danh mục và có các biện pháp quản lý phù hợp.
Duy trì và phát triển các khu vực bảo tồn tại chỗ và chuyển chỗ các nguồn gen quý hiếm, các loài cây trồng vật nuôi đặc sản thông qua các dự án, các mô hình xã hội hóa bảo tồn ĐDSH của cộng đồng.
Với những lợi ích to lớn mà ĐDSH mang lại, cùng với sự nỗ lực của thành phố, rất cần sự chung tay của cộng đồng, tổ chức quốc tế và Chính phủ, không chỉ quan tâm hỗ trợ về tài chính, khoa học, công nghệ mà còn tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch thì mới đạt kết quả cao. (UBND TP.Hà Nội 5/2) đầu trang(
Khỉ hầu còn gọi là linh trưởng (Primate), một trong những nhóm loài có hình thái, cấu trúc cơ thể và gene giống người nhất.
Nhóm loài khỉ hầu này cũng có những tình cảm mẫu tử và gia đình rất cảm động. Qua lời chia sẻ của ông Vũ Ngọc Thành, chuyên gia linh trưởng, nguyên cán bộ Khoa Sinh học, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã nhiều năm nghiên cứu và bảo tồn nhóm thú này đã cho chúng ta cái nhìn khách quan và hiểu rõ hơn về chúng.
Hiện nay, ông Vũ Ngọc Thành đang theo đuổi các dự án bảo tồn và chăm sóc voọc Chà Vá, một loài thuộc nhóm khỉ hầu. Nhưng là người tìm hiểu kỹ về chúng, ông Thành cho hay, tình mẫu tử loài nào cũng có nhưng với khỉ hầu được đánh giá là cao nhất, sau người, và khiến nhiều người nghiên cứu chứng kiến phải xúc động.
Ông chia sẻ, khỉ hầu có tập tính không bao giờ bỏ rơi con dù ở trong tình huống nguy hiểm nào. Một lần ông chứng kiến ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), khi đội kiểm lâm bắt và tịch thu của lâm tặc một số cá thể khỉ mặt đỏ. Trong quá trình thu nuôi họ phải cho vào chuồng rất bé, khiến chúng phải ngồi co ro, khó vận động.
Nhưng một hình ảnh khiến mọi người ấn tượng nhất là do ngồi lâu nên khỉ không thể đi lại. Khi khỉ mẹ cố gắng lắm mới lết ra được khỏi chuồng một đoạn, thì vẫn quay lại ôm cứu khỉ con. Bởi một điều đơn giản, khỉ con không thể đi nên đã kêu lên. Ai cũng biết, chuồng nhốt là nơi nguy hiểm đến tính mạng tất cả các con thú nhưng tình mẫu tử đã khiến khỉ mẹ bất chấp tất cả quay lại cứu con. Lúc đó, cả đoàn bảo vệ động vật lẫn kiểm lâm đã rất xúc động.
Hay câu chuyện khác mà ông Thành chứng kiến khi đi vào rừng chính là khỉ con bị mắc bẫy bằng dây thọng lọng quấn quanh cổ. Khỉ mẹ thay vì bỏ chạy vẫn xoay quanh bẫy, kêu lên để cố cứu đứa con nhỏ. Khi nghe tiếng kêu đấy, ông Thành đã đến tháo bẫy và trao con cho khỉ mẹ. Khỉ mẹ ôm lấy con, chạy một đoạn rồi ngoái lại nhìn ông.
“Khi một con thú bị sập bẫy, các con thú khác sẽ chạy tránh xa cái bẫy đó theo bản năng sinh tồn. Cũng tương tự, khi thấy người đến chúng cần tránh xa vì sợ gặp phải thợ săn. Nhưng khỉ mẹ vì con không bỏ chạy cho thấy tình mẫu tử có thể khiến người mẹ chấp nhận hy sinh để bên con mình. Ngoài ra, khỉ mẹ không bao giờ bỏ rơi con, lúc nào cũng ôm con nên con càng nhỏ càng trong vòng tay mẹ. Các nhà nghiên cứu đã lấy yếu tố này để đánh giá về độ lớn bé của khỉ”, ông Vũ Ngọc Thành nói.
Cũng thuộc nhóm khỉ hầu, tình mẫu tử của loài vượn đã được các chuyên gia tính toán rằng, để bắt được con vượn con thì có đến 25 cặp bố mẹ chết. Tại sao? Bởi vượn là loài thú của rừng già, chúng sống trên cao nên khi bị bắn rơi xuống chắc chắn là chết. Trong 25 đôi đó thì may ra mới có một con con may mắn còn sống. Với lại, khi thợ săn bắn thường nhắm vào vượn mẹ, nhưng vì tình cảm nên vượn bố chắc chắn sẽ quay lại cứu con và “vợ” mình, vì thế cũng sẽ bị bắn tiếp.
“Đến nay vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào chứng minh gene hay yếu tố nào quyết định bản năng bảo vệ con, tình mẫu tử của loài khỉ hầu. Cũng có những giải thích cho rằng, vì mỗi lứa chỉ sinh một con nên khỉ hầu thường bảo vệ con hơn khi có nhiều sự chọn lọc từ những đứa con khác. Hay khỉ hầu có thể không sinh con khi bị căng thẳng, lo lắng nên rất quý trọng tình mẫu tử cũng như sự duy trì nòi giống”, chuyên gia Vũ Ngọc Thành chia sẻ.
Ở góc độ xã hội, ông Vũ Ngọc Thành cho hay, khỉ hầu sống theo đànnhưng rất có thứ bậc trong xã hội. Trong đó có một con đực đầu đàn và chi phối các hoạt động, các con khác phải nghe lời con đầu đàn này. Nhưng trong gia đình, cũng như xã hội phong kiến cũ nước ta, một con khỉ hầu đực có thể có vài con cái. Các “bà vợ” khỉ này cũng luôn có các thứ bậc bà cả, bà hai… Nhưng trong đàn không bao giờ có hai con đực cùng quan hệ với một con cái…
Vì thế, các khỉ con giống đực khi trưởng thành đều bị khỉ bố đuổi đi để gia nhập đàn toàn con đực với nhau hoặc đứng ra lập đàn mới và đi tìm khỉ cái để giao phối. Hoặc, có những con đực đi cùng đàn nhưng không thuộc biên chế quan hệ với các con cái trong đàn.
Trong đàn khỉ không bao giờ có sự tranh giành con cái và tránh được tình trạng cận huyết thống. Nhiều người nuôi khỉ hầu trong chuồng không hiểu điều này nên đã giao phối các con khỉ đực cái cùng huyết thống với nhau , hậu quả là khỉ con sinh ra sức khoẻ rất kém.
Ông Vũ Ngọc Thành cũng cho hay, do phải khoẻ để đảm bảo việc bảo vệ đàn, tìm kiếm thức ăn và truyền giống nên con đực thường to gấp rưỡi con cái. Trong khi con cái luôn có xu hướng tìm con đực to để ghép đàn. Thậm chí, con cái cũng có những động tác như chải lông, ôm ấp, nhất là chủ động giao phối (đặc biệt là ở các loài khỉ đột, tinh tinh) để dụ dỗ bạn tình cũng như giảm stress ở con đực. Chỉ ở một số loài, con đực có thể ép buộc con cái quan hệ hoặc sinh con. Thậm chí, đôi khi con đực bắt ép con cái xa con để có thời gian sinh sản.
Thành viên trong đàn khỉ không bao giờ đánh nhau vì con, thậm chí khi khỉ mẹ chết thì khỉ bố chăm nuôi con rất chu đáo, hoặc bác, gì sẽ nuôi khỉ con giống như Việt Nam ta thường có câu “gà trống nuôi con” hay “sẩy cha có chú, sẩy mẹ bú gì”. (Kiến Thức 9/2) đầu trang(
Nhìn tấm thiệp chúc mừng năm mới Tết Nguyên đán Bính Thân 2016 của lãnh đạo TP Đà Nẵng, nhiều người không khỏi bất ngờ. Những năm trước đây, lãnh đạo TP sông Hàn thường lựa chọn hình ảnh hoa mai, hoa đào làm biểu tượng; hoặc những công trình xây dựng được xem là biểu tượng của TP như cầu sông Hàn, cầu Rồng, Trung tâm hành chính TP Đà Nẵng...
Năm nay, chủ tịch UBND TP Đà Nẵng lại lựa chọn hình ảnh một "Gia đình nhà Vọoc" và thông tin ngắn gọn về loài linh trưởng được tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế ví von là "nữ hoàng linh trưởng", đang tồn tại ở bán đảo Sơn Trà.
Nói về việc lựa chọn này, chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ cho biết: "Voọc Chà vá chân đỏ là loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ vô điều kiện. Những thông tin về loài Voọc Chà vá được in ngay trên tấm Thiệp chúc tết, tôi mong muốn gửi đến mọi người một lời chúc năm Bính Thân an khang, thịnh vượng".
"Đồng thời gửi thông điệp về việc chung tay bảo vệ loài linh trưởng quý hiếm này. Với danh hiệu “nữ hoàng” của các loài linh trưởng, Vọoc Chà vá hoàn toàn có thể trở thành một con vật biểu trưng của Đà Nẵng, giống như vượn cáo của Madagascar hay chuột túi ở Australia”, ông Thơ nói tiếp.
Từ hành động thiết thực này của người lãnh đạo TP Đà Nẵng, mong rằng Vọoc Chà vá - cũng là hình ảnh đại diện chú Khỉ của năm Bính Thân 2016 - sẽ được nhiều hơn có ý thức chung tay bảo tồn loài linh trưởng này.
Tổ chức GreenViet, các thành viên nhóm Quản lý đô thị cùng một số đơn vị cho ra đời trọn bộ 3 mẫu với khoảng 77.000 ngàn bao lì xì Tết Bính Thân 2016 độc đáo, gồm hình tượng cậu bé Đô và cô bé Thị ngộ nghĩnh với lời nhắn “Vì một Đà Nẵng văn hóa, văn minh”.
Trong đó có 55.000 mẫu có in hình những chú Vooc Chà vá chân nâu với dòng chữ “Chung tay bảo tồn đa dạng sinh học”. Tất cả đều được phát hành miễn phí. Chỉ trong vài giờ chia sẻ trên mạng facebook, toàn bộ số thiệp đã được đăng ký hết - để nói được sự trân trọng của người Đà Nẵng với "nữ hoàng linh trưởng" này.
Từ thời xa xưa, Sơn Trà là một hòn đảo gồm 3 ngọn núi nhô cao. Ngọn phía đông nam trông như hình con nghê chồm ra biển, nên gọi là hòn Nghê. Ngọn ở phía tây hình dạng như cái mỏ con diều hâu, nên gọi là ngọn Mỏ Diều. Ở ngọn phía bắc vươn về phía ngọn Ngự Hải bên kia cửa biển dài như cổ ngựa, nên gọi là ngọn Cổ Ngựa.
Qua thời gian dài, dòng nước biển chảy ven bờ đã tải phù sa đến bồi đắp dần lên tạo thành doi đất chạy từ đất liền ra đảo. Bán đảo Sơn Trà hình thành từ đó và trở thành "lá phổi xanh" cho Đà Nẵng bao đời qua.
Ngày nay ngay tại những ngọn này hình thành những khu du lịch nổi tiếng như Bãi Rạng, Bãi Đa, Bãi Bụt, hay khu nghỉ ngơi Đông Dương. Đặc biệt nơi đây có ngôi chùa Linh Ứng linh thiêng và những resort xinh đẹp nằm dọc bờ biển với hàng chục cây số.
Sự xuất hiện nhiều khu du lịch cũng ảnh hưởng cảnh quan, vệ sinh môi trường lẫn cả môi trường sống của 530 cá thể linh trưởng thuộc danh mục nhóm IIB ở mức nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam và tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới xếp vào danh sách các loài động vật cần được bảo vệ vô điều kiện.
Đáng nói số linh trưởng ở bán đảo Sơn Trà chiếm đến 83% số lượng Vọoc trong thiên nhiên được biết đến trên thế giới. Theo số liệu khảo sát nghiên cứu, theo dõi của Tổ chức bảo tồn Vọoc chà vá quốc tế và theo các nghiên cứu được công bố mới nhất của nhiều chuyên gia trong nước cho thấy.
Nếu ở nhiều nơi trên thế giới, loại linh trưởng này có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới, thì tại bán đảo Sơn Trà lại đang phát triển ổn định. Nguyên nhân từ hệ thống núi non của Hải Vân sơn ở phía bắc, bán đảo Sơn Trà ở phía nam vây lại thành hình cánh cung tạo nên một vịnh biển mang tên Vũng Sơn Trà, hay còn gọi bằng nhiều tên khác khá quen thuộc như Vũng Tiên Sa, Vũng Thùng, Vũng Hàn, Vịnh Ðà Nẵng.
Nhờ vậy, bán đảo Sơn Trà như một tấm bia che chăn mọi cơn bão hay áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào thành phố yên bình này. Bán đảo Sơn Trà có gần 4.000 ha rừng, trong đó một phần là đất đồi đang được phủ thêm loại cây công nghiệp.
Bán đảo Sơn Trà là nơi giao lưu giữa hai hệ động vật và thực vật tiêu biểu của hai miền Nam - Bắc, với núi Sơn Trà cao đến gần 700 mét được xem như đài khí tượng thiên nhiên của nhân dân quanh vùng.
Trong đó, Vọoc Chà vá chân đỏ chính là biểu tượng cho bán đảo Sơn Trà và cũng là một động vật nằm trong sách quý cần bảo vệ. Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Vooc Chà vá đã trở thành một phần đáng tự hào khi nhắc tới thiên nhiên phong phú, tươi đẹp nơi đây và cũng từ tấm thiệp đặc biệt của người lãnh đạo TP Đà Nẵng. (Người Đưa Tin 8/2) đầu trang(
Người dân thường gọi nơi đây với cái tên mộc mạc: Ðảo khỉ Cần Giờ dù rằng trên giấy tờ, nó có tên: Khu du lịch sinh thái Cần Giờ.
Khu du lịch nằm trong khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn thuộc huyện Cần Giờ - TPHCM. Ðây là khu sinh thái được đánh giá là một trong những khu rừng ngập mặn đẹp nhất Ðông Nam Á, được UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới” đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2000.
Những năm chiến tranh, vùng rừng sinh thái ngập mặn Cần Giờ là nơi trú quân của lực lượng Ðặc công rừng Sác. Hòng tiêu diệt lực lượng Ðặc công của ta, Quân đội Mỹ và chư hầu đã nhiều lần rải bom, rải chất độc hóa học xóa trắng rừng sinh thái ngập mặn này.
Theo số liệu tại UBND huyện Cần Giờ, bình quân mỗi hécta rừng ngập mặn nơi đây trong chiến tranh chống Mỹ phải gánh trên 60 lít hóa chất phát quang độc hại khiến gần như mọi sinh vật đều bị tận diệt. Vì thế sau năm 1975, rừng Sác chỉ còn là vùng đất chết khi không còn cây cối, không có nhiều động vật sinh sống.
Năm 1978, sau khi huyện Cần Giờ được chuyển giao từ tỉnh Ðồng Nai cho TPHCM quản lý, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (lúc đó đang còn là Bí thư Thành ủy (TPHCM) đã có một quyết định táo bạo: Trồng lại toàn bộ khu rừng ngập mặn này. Nhiệm vụ được giao cho lực lượng TNXP TPHCM.
Ông Nguyễn Văn Hóa - người đã tham gia trồng rừng ngập mặn những ngày đó nhớ lại: “Tôi chỉ biết rằng lãnh đạo thành phố đã giao cho chúng tôi nhiệm vụ làm lại lá phổi xanh cho thành phố. Ban đầu chỉ có 250 lao động thuộc TNXP, nhưng sau đó vì tính cấp bách và quan trọng của công trình, thành phố đã huy động thêm dân cư tại chỗ, có lúc lên đến 8.000 người. Ðể có nguồn giống cây trồng rừng, lãnh đạo thành phố phải xuống Cà Mau, thu mua các loại trái đước, vẹn, bầu, ô rô…
Ban đầu kế hoạch đưa ra là sẽ trồng khoảng 200ha/năm, nhưng sau đó, lãnh đạo thành phố đã quyết tâm vượt kế hoạch đẩy khối lượng công việc trồng rừng lên đến trên 4.000ha/năm. Chỉ vòng hơn 5 năm, đã có 20.000 ha rừng được trồng mới, hơn 11.000 ha được khoang nuôi tái sinh tự nhiên. Và theo thời gian, những nhánh cây bén rễ, hồi sinh lại vùng đất một thời chết chóc này để biến thành khu rừng sinh thái.
Năm 2000, nghĩa là chỉ hơn 20 năm sau chiến dịch trồng rừng ngập mặn, khu rừng Sác đã hoàn toàn hồi phục và được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam, nằm trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Ðây quả là một kỳ tích rất đỗi tự hào của người dân TPHCM, bởi trước năm 1975, 2 nhà khoa học Mỹ là Pfeifer và Wasting đã từng nghiên cứu khu rừng này và cho rằng nếu tổ chức trồng lại thì phải đến hơn 100 năm sau, khu rừng ngập mặn Cần Giờ mới có thể khôi phục lại hoàn toàn.
Theo những cư dân đã sống lâu ở Cần Giờ thì ngày xưa, vùng rừng ngập mặn Cần Giờ từng có rất nhiều khỉ. Nhưng sự tàn phá của chiến tranh môi trường sống của đàn khỉ bị mất đi, đàn khỉ vắng dần tưởng chừng như sẽ bị diệt vong như ở nhiều nơi khác.Tuy nhiên khi sự sống nơi đây hồi sinh, đàn khỉ đã trở lại.
Anh Nguyễn Hữu Trước- Ðội trưởng đội bảo tồn thuộc khu du lịch Cần Giờ cho biết, cách đây hơn 30 năm, khi cánh rừng ngập mặn mới được trồng lại thì đàn khỉ Cần Giờ chỉ có khoảng hơn 20 con. Là những người đầu tiên tham gia xây dựng khu Lâm Viên, anh Trước và đồng nghiệp được chỉ đạo phải giữ cho được đàn khỉ như là điều tiên quyết để khẳng định sự hồi sinh vùng đất này.
Anh Trước kể: “Chúng tôi rải thức ăn, tạo những bóng cây để khỉ tập trung về. Ban đầu khỉ rất cảnh giác không dám đến gần con người vì có lẽ chúng đã quá quen với môi trường hoang dã. Phải kiên trì cả năm, lũ khỉ mới quen dần với sự có mặt của chúng tôi. Lũ khỉ trở nên bạo dạn dần, không còn hoảng sợ khi thấy người, thậm chí chúng còn sán đến bên người đòi ăn hay giành thức ăn ngay từ trên tay người”.
Từ 1 đàn khoảng 20 con, tới nay đàn khỉ ở Lâm Viên đã lên tới 7 đàn với trên 1.500 con và sống tập trung trong khu quản lý Lâm Viên rộng 2.000ha. Môi trường bán tự nhiên cùng sự phát triển phong phú của nhiều loại thực vật, sinh vật rừng, loài khỉ thực sự phát triển bền vững.
Sự phát triển của quần thể khỉ ngay vùng ven thành phố đã khiến cho nhiều người chú ý và từ năm 2000, khi khu du lịch Cần Giờ được thành lập thì đảo khỉ đã trở thành điểm đến được nhiều người lựa chọn. Số liệu từ Ủy ban huyện Cần Giờ cho biết vào những ngày cao điểm, đảo khỉ Cần Giờ thu hút hàng ngàn du khách tham quan. Trong đó có cả những trường học tổ chức tua du lịch cho học sinh tìm hiểu về tự nhiên hay những người nước ngoài yêu thích môi trường thiên nhiên.
Một điều khá thú vị là những người làm việc tại đảo khỉ đều chưa qua trường lớp đào tạo nào về chăm sóc thú hoang. Như anh Trước khi đến với đàn khỉ thì anh học về ngành xây dựng. Khi được phân công, anh Trước đã phải tìm hiểu rất nhiều tư liệu từ sách vở cũng như học hỏi các chuyên viên từ sở thú. Nhưng anh cho biết cái quan trọng để làm tốt công việc chăm sóc đàn khỉ hoang không phải là từ kiến thức mà chính là thái độ, cũng như tình yêu với đàn khỉ. “Lũ khỉ tuy hoang dã nhưng chúng cũng biết thân thiện với con người, biết ghét những ai không thích chúng” - anh Trước giải thích.
Gần 20 năm chăm sóc đàn khỉ, những người như anh Trước phải lòng với chúng. Các anh gọi các đàn khỉ với những cái tên mộc mạc như đàn Chăn nuôi, đàn Khe Ðôi lớn, đàn Saki… Các đàn khỉ tuy sống hoang dã nhưng cũng rất có kỷ luật của bầy đàn. Thông thường một con đầu đàn chỉ được làm thủ lĩnh có 1 năm. Nhưng ở đàn Khe Ðôi lớn có con đã giành vị trí thủ lĩnh tới… 3 nhiệm kỳ nhờ năm nào đánh nhau cũng chiến thắng. Rồi mỗi khi có những con trong đàn khác lân la bò tới lãnh địa của đàn là lập tức cả đàn báo động, những con đầu đàn lao ra đánh nhau còn các con cái thì chạy quanh kêu gào cổ vũ…
Theo anh Lê văn Tân- Quản lý khu du lịch Ðảo khỉ Cần Giờ thì từ tháng 7/2015, khu du lịch Cần Giờ đã được chuyển giao cho Bộ chỉ huy quân sự TPHCM nhằm mở rộng khai thác khu Di tích lịch sử căn cứ địa rừng Sác. Nơi đây không chỉ có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp cùng đàn khỉ phong phú mà sẽ là nơi giáo dục truyền thống Cách mạng, là nơi mọi người có thể tìm hiểu đời sống cũng như những chiến công vang dội của những người Ðặc công rừng Sác năm xưa. “Ðó là cách phát triển bền vững mà chúng tôi đang hướng đến”, anh Tân cho biết.
Kể chuyện về đàn khỉ, anh Nguyễn Hữu Minh- người trực tiếp chăm sóc đàn khỉ cho biết, lũ khỉ đã quen với việc du khách ghé thăm và chúng thường lân la đi theo để xin thức ăn, thậm chí có lúc còn bạo dạn giật thức ăn trên tay người. Thậm chí nếu du khách hớ hênh có thể bi giật túi xách để tìm đồ ăn. Vì thế nên trong khu đảo khỉ có rất nhiều bảng cảnh báo du khách cần cẩn thận bởi rất dễ bị khỉ… trấn cướp. (Báo Tiền Phong Số Xuân Bính Thân) đầu trang(
Đeo chiếc bẫy chạy khắp núi rừng, chú voi rừng tên Jun chi chít vết thương, kiệt sức ở khu vực rừng biên giới
Trong một lần kiếm ăn, chú voi rừng tên Jun (khoảng 5 tuổi) dẫm phải bẫy cùm của thợ săn. Đeo chiếc bẫy chạy khắp núi rừng, đến ngày 7-5-2015, chú voi này chi chít vết thương, kiệt sức ở khu vực rừng biên giới Việt – Campuchia.
Trưa 14-5, sau nhiều ngày đêm băng rừng, lội suối, đội cứu hộ cùng với sự giúp đỡ của 2 chú voi nhà đã áp sát, bắn thuốc mê khống chế được Jun. Ngay sau đó, lực lượng cứu hộ đã lai dắt Jun về khu vực rừng thuộc lâm phần Trạm Kiểm lâm số 9, Vườn Quốc gia Yok Đôn (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk).
Chân trước bên trái của Jun đã dẫm phải bẫy có nhiều hình răng cưa cùm chân lại. Trong lúc di chuyển, các hình răng cưa càng ăn sâu vào chân khiến chân Jun gần đứt lìa, chiếc vòi dùng để gỡ bẫy cũng bị thương nặng. Lúc được giải cứu, những vết thương này đã lâu ngày, hoại tử, sưng mủ, nhiễm trùng khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn.
Trong năm qua, Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk phối hợp với các tổ chức bảo vệ động vật trong và ngoài nước đã mời nhiều chuyên gia, bác sĩ thú y về chữa trị vết thương và huấn luyện Jun, trong đó có bà Erin Ivory (người Mỹ) và bà Georgina Allen (người Anh).
“Dù nhiều chuyên gia nước ngoài đã tới điều trị, chúng tôi cũng đã dùng nhiều loại thuốc chuyên dụng nhưng Jun đang phải chịu đựng đau đớn vô cùng. Sau gần 1 năm điều trị, hiện vết thương ở vòi có dị tật đã lành, riêng vết thương ở chân vẫn còn nghiêm trọng, mủ chạy ra nhiều, có nguy cơ bị hoại tử” – bà Georgina Allen buồn rầu nói.
Với vết thương như vậy, Jun không thể tồn tại trong môi trường tự nhiên mà cần phải có sự hỗ trợ của con người. Do đó, song song với việc điều trị vết thương, Jun đang được thuần dưỡng, huấn luyện để sống trong môi trường có sự giám sát của con người.
Ông Đỗ Viết Thụ, Trưởng Phòng Voi hoang dã (Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk), phấn khởi cho biết: Được sự hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài, sau vài tháng huấn luyện theo “phương pháp huấn luyện tích cực” Jun đã trở nên thân thiện với con người. Hiện nay, Jun đã hiểu và thực hiện được rất nhiều yêu cầu của người huấn luyện như đưa chân vào chậu để ngâm thuốc, nhấc chân, há miệng để kiểm tra sức khỏe…
Chỉ tính riêng trong năm 2015, ở tỉnh Đắk Lắk đã có 4 con voi nhà chết, chủ yếu do bị sát hại, bệnh tật.
Theo bà Erin Ivory, công tác bảo tồn voi ở Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết bởi thời gian càng kéo dài, voi càng già thì khả năng sinh sản sẽ giảm. Quần thể voi hoang dã ở Việt Nam không còn nhiều, trong môi trường sống của voi đang nhanh chóng bị thu hẹp. Đối với voi nhà, qua khảo sát mới nhất thì hiện chỉ còn 12 con voi cái đang ở độ tuổi sinh sản.
Ở Việt Nam, điểm chung là voi bị bắt sống riêng lẻ từng cá thể. Người dân xích voi, không cho voi đi lại tự do và bắt voi phục vụ du lịch. Khi họ đưa voi vào rừng cho ăn, họ cũng xích vào cây khiến voi không có không gian, không có môi trường sống của riêng mình. Trong khi đó, phần lớn các nước trên thế giới voi được quản lý theo đàn, có sự tương tác theo quần thể gia đình nên việc bảo tồn rất thành công. Voi chỉ được bảo tồn khi voi được sống với chính bản năng của nó, sống bầy đàn, không phục vụ du lịch.
Hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân rất quan tâm đến công tác bảo tồn loài voi ở Việt Nam. “Chúng tôi đang kêu gọi các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hỗ trợ về tài chính, nhân lực giúp Việt Nam bảo tồn thành công loài động vật quý hiếm này” - bà Georgina Allen nói. (Người Lao Động 7/2) đầu trang(
Ngôi nhà nhỏ khiêm nhường của gia đình chị Khăntha Taly nằm giữa buôn Ea Rông (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn).
Chị là con út trong 4 con gái nuôi của bà Sao Thông Chăn, người phụ nữ ngày trước được ca tụng “đẹp như hoa hậu” trong hai bức ảnh chân dung treo trang trọng trong nhà. Theo chị Khăntha, nhiều khách du lịch đến nhà đều trầm trồ khi được giới thiệu đó là ảnh thời xuân sắc của mẹ chị, người đã mất ở tuổi 90 cách đây 3 năm.
Chị Khăntha lưu giữ được hầu hết kỷ vật cùng tư liệu, giấy tờ và cả những câu chuyện đặc sắc về buôn bán voi của mẹ chị lúc sinh thời. Bà Sao (tên thường gọi của Sao Thông Chăn) một thời nổi tiếng không kém những gru (dũng sĩ) săn bắt voi rừng của vùng Buôn Đôn như Ama Kông…
Đầu thập niên 1940, từ Lào, vợ chồng Sao Thông Chăn theo chân người bà con là tù trưởng Khun Jun Nốp (khi đó được tôn sùng là vua săn voi) đến vùng Buôn Đôn (huyện Buôn Đôn ngày nay) lập nghiệp. Trước đó, cô Sao được xem là hoa khôi vùng Chămpasăk bên Lào, trước khi lấy chồng có không ít chàng trai theo đuổi, tán tỉnh. Ở nơi quê mới, được vua voi hướng dẫn, cô Sao nhanh chóng nắm bắt nghề mua bán voi, rồi dần dần trở thành lái voi nức tiếng, giàu kinh nghiệm.
Vùng Buôn Đôn thời ấy nghề săn bắt voi rừng cực thịnh, từ đó sinh ra lớp người làm nghề chuyên tiêu thụ, mua bán voi nhưng chỉ có bà Sao là thành đạt với nghề lâu dài nhất. Ban đầu, bà Sao mua voi lẻ tẻ đưa về để chăm sóc, thuần dưỡng trước khi bán đi kiếm lời. Đến khi có vốn liếng, bà đầu tư chi phí cho hầu hết các chuyến săn voi trong rừng Yók Đôn để được độc quyền mua lại voi săn được.
Chị Khăntha Taly kể: “Tôi còn nhớ trong những chuyến đầu tư săn voi như vậy, sau khi cúng tiễn các đội săn vào rừng, mẹ tôi yêu cầu trong nhà kiêng cữ cẩn thận theo phong tục. Trước khi đội săn trở về, nhà luôn đóng cửa không tiếp khách lạ, phụ nữ trong nhà không tắm gội bằng xà bông để… tránh cho thợ săn khỏi trơn tuột khi bắt voi”.
Đến sau năm 1975, người dân Buôn Đôn mới biết bà Sao từng là một cơ sở cách mạng bí mật trong kháng chiến. Những chuyến buôn bán voi hợp pháp ngang dọc trong vùng và các tỉnh Tây nguyên đã giúp bà Sao tiếp tế nhiều vũ khí, lương thực, thuốc men cho cách mạng. Bà cũng hiến hai con voi để bộ đội vận chuyển đạn dược, thiết bị phục vụ chiến đấu; về sau hai con voi này bị chết khi tải đạn do đạp trúng mìn.
Nguồn lực tài chính dồi dào cùng tài kinh doanh khéo léo đã giúp bà Sao trở thành “đại gia” trong nghề buôn voi trên địa bàn Đắk Lắk. Chị Khăntha Taly kể bà từng bán nhiều con voi cho vua Bảo Đại để làm voi săn và có lần cùng các nài voi tham gia một chuyến hải hành, lênh đênh trên tàu biển gần 2 tháng trời để đưa một đàn voi được người Pháp mua và vận chuyển về nước Pháp.
Sau ngày giải phóng, hầu hết các thương vụ mua bán voi ở Đắk Lắk cũng đều tiếp tục qua tay bà Sao. Theo đơn đặt hàng, bà cung cấp voi cho Hà Nội, TP.HCM, cùng nhiều địa phương khác; có lần chọn mua một đôi voi tốt để Chính phủ tặng nước bạn Cuba…
Giờ đây nghề lái voi không còn, voi nhà đang trên đà suy giảm, chuyện buôn bán voi chỉ còn trong ký ức của người dân Buôn Đôn. Ông Nguyễn Trụ - chủ một doanh nghiệp du lịch đang ôm ấp ý tưởng lập một bảo tàng văn hóa voi, cho biết đang sưu tầm những hiện vật, câu chuyện về bà Sao Thông Chăn để tạo một góc hoài niệm về nghề buôn bán voi, một nghề đã góp phần làm vang xa danh tiếng của xứ sở săn bắt, thuần dưỡng voi Buôn Đôn. (Thanh Niên 7/2) đầu trang(
Bán đảo Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng được xem là một trong những “đảo Tề thiên” ở miền Trung, bởi nơi đây có rất nhiều loài khỉ.
Tại bán đảo này tập trung voọc chà vá chân nâu (thuộc họ khỉ), loại động vật đặc biệt quý hiếm trong Sách đỏ. Voọc chà vá chân nâu chân nâu có độ tinh khôn được xem là gần giống loài người nhất (96%), có vẻ đẹp mê hồn và được ví là “nữ hoàng linh trưởng”.
Đầu Xuân mới Bính Thân, báo Công an TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu đến quý bạn đọc loạt bài viết thú vị về loài “nữ hoàng linh trưởng” quý hiếm này.
Tại bán đảo Sơn Trà tập trung số lượng đông đảo, khoảng 200-300 cá thể voọc, hiếm nơi nào có vì đặc điểm của khu bảo tồn thiên nhiên này nằm ngay trong lòng thành phố Đà Nẵng.
Người dân, du khách có thể lên đảo, đi theo đường quy hoạch cũng có thể ngắm voọc chà vá chân nâu dễ dàng mà không cần phải trèo đèo lội suối vất vả như những khu rừng khác nhưng chưa chắc thấy được voọc. Chính vì điều này mà có một tổ chức chuyên nghiên cứu loài voọc đã ăn ngủ, theo dấu voọc chà vá chân nâu hàng năm trời, “sống chung” với loài voọc quý hiếm để nghiên cứu, tìm hiểu tập tính đời sống gần giống… loài người.
Sau vài lần hẹn, chúng tôi được anh Nguyễn Đức Vũ, Phó ban quản lý (BQL) bán đảo Sơn Trà và các bãi biển Đà Nẵng cử nhân viên hướng dẫn “tour ngắm voọc” (đang nằm trong ý tưởng) quanh BĐ Sơn Trà. Nguyễn Đức Bồi-nhân viên quản lý trật tự BĐ Sơn Trà chở chúng tôi trên chiếc xe máy mà hàng ngày vẫn đi một vài vòng để nắm tình hình an ninh trật tự, vệ sinh môi trường tại các điểm du lịch mà BQL đang khai thác.
Theo Bồi, để dễ thấy voọc nhất là vào thời điểm 6-8 giờ, khi đó các “cô cậu” ăn sáng, chiều khoảng 15-17 giờ, là thời điểm chúng ăn chiều, còn tối thì chúng nấp trên cây ngủ nên rất khó phát hiện. Chúng tôi không đi theo lộ trình khai thác các điểm tham quan trên BĐ Sơn Trà, mà đi ngược lại thì hiệu quả ngắm voọc sẽ cao hơn.
Theo kinh nghiệm mấy năm lòng vòng trên bán sơn địa này, Bồi cho biết, bản thân đã khá thân quen với mấy đàn voọc nên biết điểm nào thấy được voọc. Nếu chỉ riêng Bồi, chúng thấy cũng không bỏ đi mà cho mình ngắm thoải mái, thẩm chí “nói chuyện” qua lại bằng vài tín hiệu.
Khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi vòng lên phía tây bắc BĐ Sơn Trà, gần phía cảng Tiên Sa đi lên bằng con đường trải nhựa hoặc bê tông (đường chiến lược vừa quốc phòng an ninh- du lịch dân sinh) rộng khoảng 5m bao vòng tròn quanh bán đảo. Đi được khoảng vài km, Bồi bảo dừng lại, vì điểm này thường có voọc.
Cảnh sắc trên này khá tuyệt, nhân lúc chờ ngắm voọc, chúng tôi chụp vài bức hình kỷ niệm. Nhưng, chưa làm được kiểu nào thì Bồi “nghe” và nói voọc sắp ra.
Quả thật, ngước lên vượt tầm mắt phía những cành cây cao thì có vài ba con voọc “nhô” ra. Chúng chuyền từ cây này qua cành kia, có con thì cứ ngồi yên nhìn xuống chúng tôi. Bồi đưa tay kiểu như chào, không thấy chúng bỏ chạy mà ngồi lại “nắm tình hình”. Chắc thấy chúng tôi lạ nên chúng ngó nghiêng, bay nhảy cũng cầm chừng, với vẻ thăm dò.
Lần đầu tiên thấy cảnh tượng này, chúng tôi cầm máy ảnh bấm lia lịa. Chắc ngợp với máy ảnh của người “là lạ” nên khoảng 5 phút, chúng kéo nhau vào trong rừng sâu.
“Có lần em thấy đàn voọc cách chỉ chừng 5 m, thế mà chúng không bỏ chạy, trái lại còn leo lên cây nhỏ ngay trước mặt, thấy em cầm điện thoại ra, chúng còn “làm dáng” để em chụp thoải mái. Chúng thấy ai thân quen rồi thì thân thiện lắm”, Bồi chia sẻ kỷ niệm vui.
Theo Bồi, trên đảo có khoảng 8-10 điểm hay gặp voọc. Đó là những điểm mà BQL và một phụ nữ người Đức yêu voọc làm tiểu dự án nhỏ làm cầu cho voọc qua bên kia đường để ra… ngắm biển.
Đến nay để chứng minh được voọc có đi trên cầu khỉ không thì chưa ai giám chắc. Nhưng điều Bồi giám khẳng định là tại điểm có cầu thường hay có voọc xuất hiện nhất bởi “người phụ nữ Đức này là người chuyên nghiên cứu về voọc, bà đã ở lâu với BĐ Sơn Trà”. Giờ hết dự án bà phải về lại quê nhà, thỉnh thoảng mới qua lại thăm voọc chà vá chân nâu ở Sơn Trà cho đỡ nhớ.
Chúng tôi tôi lòng vòng quanh đảo, qua một số điểm tham quan. Do trời gần trưa nên Bồi nói gặp voọc hơi khó. Khi đến đoạn rẽ nhánh định đi qua phía cây đa di sản, đang đi tà tà, với kinh nghiệm của mình, Bồi bắn tín hiệu “có voọc”.
Chúng tôi tức tốc nhìn lên cành cây lớn thì thấy 2-3 con voọc, có cả con khỉ đang rượt đuổi nhau. Máy chúng tôi chỉ ghi lại một vài hình ảnh lờ mờ vì chúng làm náo động cả khóm rừng. Đứng một lúc, không thấy xuất hiện nên chúng tôi đi ngắm cây đa di sản.
Khi đi về, gần điểm lúc nãy, chúng tôi thấy xuất hiện một đàn voọc khoảng 4-5 đang “bay lượn, vui đùa”. Đứng ngắm một lúc, lấy máy ảnh ra chụp vài kiểu ưng ý thì có hai vị khách người nước ngoài đi qua, thấy chúng tôi đứng xem, chụp hình cũng dừng lại xem. Nhưng vị khách kia sơ ý không tắt máy nên khi vừa dừng lại, chúng nghe tiếng máy nổ to nên nhảy sâu vào trong rừng, vượt xa tầm mắt của chúng tôi.
“Kinh nghiệm đi ngắm voọc là tới các điểm thường hay có voọc là phải tắt máy, sau đó đi bộ hoặc đẩy xe máy tới. Voọc không nghe tiếng động, có không gian yên hòa thì chúng hay ra phía ngoài đường, trên những cành cây cao để tận hưởng ánh sáng nên chúng ta dễ bề quan sát”, Bồi đúc rút kinh nghiệm.
Theo Bồi, bản thân ngày nào đi cũng gặp voọc. Đã dẫn rất nhiều đoàn đi ngắm voọc nhưng để chuyến đi nào cũng gặp thì không chắc lắm. “Có lần sếp giao em có nhiệm vụ đi “tiền trạm” trước để dẫn đoàn lãnh đạo sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch Đà Nẵng đi ngắm voọc để nắm tình hình thực tế, có phương án bảo vệ, khai thác du lịch một cách hiệu quả. Em phải đi trước cả cây số, tới điểm nào có voọc, tắt máy, đi bộ lại “điểm hẹn” thì thấy được voọc, sau đó gọi điện cho người dẫn đoàn đi vào cùng ngắm, ai cũng thích thú.
Bản thân nhiều lần dẫn đoàn đi “ngắm voọc” ai cũng cho rằng “ở Sơn Trà quả thật thú vị, dễ gì ở nơi nào ngắm được nữ hoàng linh trưởng một cách…nhẹ nhàng như ở chốn này”, Bồi pha chút hài hước. (Công An TP.HCM 8/2) đầu trang(
Tại bán đảo Sơn Trà, có một nhóm nghiên cứu ăn ngủ cùng voọc và họ đã có nhiều dấu ấn khó quên về loài “nữ hoàng linh trưởng” có độ tinh khôn bậc nhất trong các loài động vật này.
Năm 2006, nhóm bảo tồn linh trưởng thuộc Hội Động vật học Frankfurt (Đức) do anh Hà Thăng Long đại diện tại Việt Nam có ý tưởng bảo tồn không gian xanh, hợp tác với các tổ chức nước ngoài nên đã lập nên tổ chức Nước Việt xanh (GreenViet) do anh Trần Hữu Vỹ làm giám đốc, Lê Thị Trang làm phó giám đốc.
Khi thành lập, GreenViet thực hiện chương trình bảo tồn voọc chà vá chân xám ở khu bảo tồn Kon Ka Kinh (tỉnh Gia Lai).
Theo chị Trang, tại Việt Nam có 3 loài voọc chà vá đó là chân xám (khu vực cao nguyên), chân đen (miền Nam) và chân nâu (từ Quảng Nam đến Hà Tĩnh). Do bán đảo (BĐ) Sơn Trà có đặc thù riêng nên không có chỗ nào dễ quan sát voọc như ở Đà Nẵng, là lợi thế, cũng là nguy cơ không hề nhỏ.
Từ những nỗi niềm đó, năm 2012, GreenViet thực hiện chương trình tại BĐ Sơn Trà. Bởi đây là khu vực đoạn cuối của núi Hải Vân nằm tách biệt, cắt sinh cảnh, cộng với sự phát triển kinh tế xã hội ảnh hưởng đến môi trường nên nguy cơ tiệt chủng loài voọc chà vá chân nâu rất cao.
Là người hơn mười năm “đắm đuối” với voọc, chị Lê Thị Trang cũng như nhiều cộng sự nắm rất nhiều kiến thức về loài voọc chà vá chân nâu quý hiếm này.Theo dự án nghiên cứu của GreenViet, hiện tại BĐ Sơn Trà có khoảng 200-300 cá thể voọc chà vá chân nâu. Loài voọc chuyên ăn thực vật, chỉ sống nơi hoang dã, sống theo gia đình. Trên giống phả hệ, loài voọc này có 96% giống con người.
Cấu trúc đàn 5 đến 11 cá thể, trong đó cá thể đực (bố) là đầu đàn, bởi vậy, nếu con bố chết thì đàn voọc đó rất dễ bị tuyệt tự. Voọc bố thường ăn nhanh, chỉ ăn một nửa chùm lá cây phía trên rồi giục đi, sau đó leo lên cây cao nhất để canh chừng, nếu thấy đàn khác tới hoặc ai tấn công thì voọc bố đứng ra bảo vệ hoặc dọa đàn khác bỏ đi, nếu chúng không đi thì voọc bố sẽ đưa cả đàn đi chỗ khác.
Còn voọc mẹ, voọc con (cái) thì ăn nhởn nhơ, luôn trong tâm thế được chở che. Loài voọc này 2-3 năm mới sinh một lần, mỗi lần 1 con, nguồn thức ăn của voọc sơ sinh cũng là sữa mẹ.
Con đực được voọc bố trang bị… bản lĩnh ngay từ nhỏ, khi lớn lên 2-3 năm lại ra ở riêng, lập đàn mới. Rồi lại sinh sôi nảy nở ra một gia đình mới. Tuy nhiên, theo anh em nhóm nghiên cứu GreenViet cũng chứng kiến một số đàn toàn con đực suốt ngày chọc phá nhau làm náo loạn cả khu rừng, chúng thường ăn nhanh để đi đùa nghịch với đàn khác.
Tập tính sinh hoạt của chúng thường ăn lá cây, ngủ trên cây (vì có bộ lông dày nên không sợ mưa). Khoảng 4-5 giờ sáng khi mặt trời gần lên là chúng đã dậy, ăn ở trên cây sau đó tản dần đi ăn những cây khác.
Đến 11-12 giờ thì chúng ngồi nghỉ, sau đó dậy ăn đến khoảng 17 giờ 30 chiều lại nghỉ. Theo nghiên cứu, 1 năm chúng không đi quá trong vòng bán kính 1 km. Sở dĩ chúng ta dễ có cơ hội thấy voọc như ở BĐ Sơn Trà, là bởi có đường bao quanh, và sở thích của voọc là đứng ở cây cao nhất, hướng ra phía ánh sáng, thoáng đãng.
Nhóm nghiên cứu về voọc chà vá chân nâu của GreenViet gồm Bùi Văn Tuấn, trưởng phòng nghiên cứu, Nguyễn An Tâm, cán bộ nghiên cứu của GreenViet. Ngoài ra, có Jonathan B.Clayton hỗ trợ và PhD.Minnesota đang nghiên cứu tiến sĩ.
GreeViet muốn tìm hiểu tập tính, thu mẫu để nghiên cứu sâu về ADN của 5 đàn, phải mất gần một năm trời làm quen. Trong đó 6 tháng nhận diện chọn đàn, 6 tháng nhóm nghiên cứu cứ lẻo đẻo đi theo. Ban đầu chúng trốn tránh bỏ đi, lâu không thấy làm hại chúng nên mưa dầm thấm lâu, chúng không còn xa lánh nữa mà thân thiện hơn.
Từ đó “thân” nhau thì chúng mới cho lại gần (cách khoảng 10m). Nhóm nghiên cứu chỉ tập trung vào 5 đàn, trong đó đặt tên cho 5 voọc bố theo đặc điểm dễ nhận biết của chúng như sẹo phải, sẹo trái, mặt xấu, đàn học tập…
Chị Trang cho biết: Sang năm thứ hai, chúng đi đâu, ăn, ngủ như thế nào thì nhóm nghiên cứu đều ở phía dưới thu nhặt từ mẫu thức ăn thừa, mẫu nước tiểu, phân… để nghiên cứu, phân tích. Thức ăn mà chúng thích nhất là lá cây chò (ngư dân thường hay lấy mũ để quét lên thuyền để không cho nước tràn vào nên nguy cơ người dân lấy mủ không đúng cách gây hư hại loài cây này thì voọc chà vá chân nâu cũng mất đi nguồn thức ăn ưa thích).
Anh em nhóm nghiên cứu hầu như ở dài ngày trong rừng, phải cử người đưa thức ăn đến tại chỗ, nhiều lúc ngủ trong rừng cả tuần liền mặc cho rắn rít, vắt, sâu bu bám khắp người.
Theo anh Tuấn, voọc chà vá chân nâu có nhiều đặc tính giống con người: khi voọc mẹ sinh ra chăm con cũng tương tự như con người vậy, cho voọc con bú ti mẹ, tỉa long, “nói chuyện”…
Anh Tuấn kể lại: “Chiều trước khi đi ngủ, thấy cảnh hai anh em voọc con đùa nghịch, nhảy ra ngoài cành, có một con rơi xuống đất, voọc bố nhào xuống ôm voọc em lên rồi gằm gừ (la mắng) voọc anh, con này sợ bị đánh nên lủi thủi với vẻ mặt rất tội nghiệp.Có lần chúng ngủ ở trên cành, còn dưới này anh em đang say sưa thì chúng tè ngay trên mặt, khiến ai cũng giật mình, nhưng thấy vui”.
“Có một số tình tiết thú vị và cả những điều chưa rõ do thời gian nghiên cứu mới một vài năm chưa thể nói hết điều gì. Trong quá trình nghiên cứu thu nhận được, như đàn xấu xí con đực có 5 vợ, nhưng nó lấy vợ ở đâu, đàn nào, hoặc là lấy con cái trong đàn?
Con đực lớn 2-3 tuổi đã tách đàn còn con cái lớn liệu có tách đàn hay lấy bố thì nhóm nghiên cứu đang tìm hiểu, phân tích từ gen mới biết được. Đây là quá trình lâu dài chứ không phải ngày một ngày hai. Mới nghiên cứu hơn 2 năm nay, hiện đang hết kinh phí và tiếp tục tìm nguồn để thực hiện quá trình nghiên cứu tiếp”, chị Trang chia sẻ.
“Ước mơ, ý tưởng lớn của PhD.Minnesota là muốn xây dựng ngân hàng ADN về linh trưởng trên toàn cầu với mục đích phục vụ khoa học, đối chứng gen, phát hiện, so sánh, tìm hiểu loài. Càng nghiên cứu, càng “sống chung” với loài voọc chà vá chân nâu ngày càng thấy yêu thương chúng, coi chúng như người bạn”, chị Trang tâm sự.
Ngoài PhD.Minnesota bảo vệ xuất sắc nghiên cứu sinh tiến sĩ về voọc chà vá chân nâu, với chiến dịch bảo tồn loài voọc chà vá chân nâu, Lê Thị Trang (28 tuổi, trú quận Liên Chiấu u, TP Đà Nẵng) đã nhận giải thưởng quốc tế Nhà bảo tồn trẻ xuất sắc thế giới- Future For Nature Award 2015.
Nhiều anh em của GreenViet được ghi nhận, khen thưởng xứng đáng với công việc nghiên cứu, bảo tồn loài voọc chà vá chân nâu tại BĐ Sơn Trà. (Công An TP.HCM 9/2) đầu trang(
Để bảo tồn và phát triển loài voọc chà vá chân nâu cực kỳ quý hiếm trên bán đảo Sơn Trà ,cơ quan chức năng, những người yêu voọc luôn đau đáu, ưu tư. Cần những giải pháp nào để “nữ hoàng linh trưởng” luôn được đứng ở vị trí… xứng tầm?
Trong năm 2015, có hai vụ giết voọc chà vá chân nâu đã gây phẫn uất trong dư luận nhân dân, đặc biệt với những người yêu quý “nữ hoàng linh trưởng”.
Ông Trần Văn Thanh- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn, ngày 30-3-2015, khi ông chuyển về làm hạt trưởng đúng ngày đầu tiên thì phát hiện nhóm đối tượng quê Nghệ An xâm nhập vào rừng bẫy bắt voọc chà vá chân nâu.
Tang vật thu giữ gồm 3,1 kg xương động vật hoang dã. Sau đó, đơn vị trưng cầu giám định tại Viện Sinh thái Tài nguyên sinh vật, kết quả cho thấy đó chính là xương của voọc chà vá chân nâu, loại động vật đặc biệt quý hiếm.
Với trọng lượng như thế gồm bao nhiêu cá thể thì không thể biết được, vì chỉ xương chi rất nhỏ, nhưng ít nhất là của hai cá thể voọc chà vá chân nâu. Hạt khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ, đối tượng cho công an quận Sơn Trà điều tra làm rõ.
Vụ thứ hai xảy ra vào ngày 2-9-2015, đơn vị nhận thông tin người dân cung cấp có một cá thể voọc bị bắn trọng thương. Đơn vị bố trí lực lượng tiếp cận hiện trường, tiếp nhận một cá thể voọc chà vá chân nâu bắn bị thương. Do vết thương quá nặng nên cá thể voọc này không qua khỏi. Hạt phối hợp với đơn vị kỹ thuật hình sự CATP. Đà Nẵng và cơ quan chức năng khám nghiệm tử thi voọc cho thấy bị bắn, đa chấn thương do rơi từ trên cao xuống đất.
Trưng cầu giám định Viện Sinh thái Tài nguyên xác định là cá thể voọc chà vá chân nâu- động vật nhóm 1B-ưu tiên bảo vệ. Hạt cũng đã khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ cho công an quận Sơn Trà điều tra làm rõ.
Theo ông Thanh, tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà thì loài voọc chà vá chân nâu là đối tượng ưu tiên bảo vệ số một. Bởi vậy, đơn vị luôn tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng cho người dân. Bên cạnh đó hạt cũng tăng cường phối hợp với cơ quan chức năng thường xuyên tuần tra kiểm soát, răn đe, xử lý nghiêm những ai có dấu hiệu, hành vi phá rừng, săn bắn động vật quý hiếm.
“Hiện bán đảo Sơn Trà có nhiều đơn vị cùng tham gia trên đảo, như BQL Sơn Trà khai thác các tour, tuyến du lịch tham quan, khám phá và người dân được tự do lên đây tham quan, hơn nữa trên bán đảo có nhiều đơn vị, trong đó có an ninh quốc phòng nên công tác quản lý gặp nhiều vướng mắc.
Lực lượng mỏng, dự án thì không có nhiều nên gặp không ít khó khăn”, ông Thanh phân trần.
“Người dân, du khách chỉ đi ngắm theo tuyến giao thông hiện tại, không đi vào rừng, không có hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt với loài voọc chà vá chân nâu sẽ bị xử lý nghiêm”, ông Thanh khuyến cáo.
Vấn đề đặt ra hiện nay, là Đà Nẵng có một khu bảo tồn thiên nhiên là bán đảo Sơn Trà tuyệt đẹp, quý hiếm ngay trong lòng thành phố như vậy thì việc bảo vệ và khai thác lợi thế này như thế nào, đặc biệt với loài voọc chà vá chân nâu, là điều khiến địa phương, cơ quan chức năng hết sức lưu tâm, dường như chưa có lời giải tối ưu.
Theo GreenViet, cần thực hiện dự án tuyên truyền, bảo vệ voọc chà vá chân nâu vì nguy cơ tuyệt chủng rất cao như sống tách biệt, quá trình phát triển kinh tế xã hội, vấn đề vệ sinh môi trường… Nhưng trái lại, công tác tuyên truyền người dân bảo vệ loài voọc cực kỳ quý hiếm này rất thuận lợi vì không có chỗ nào dễ quan sát, có điểm nhấn như ở Sơn Trà.
“Sứ mệnh của chúng tôi bảo tồn đa dạng sinh học, gìn giữ bền vững nên chọn Đà Nẵng, có khu rừng ngay trong lòng phố sẽ thuận lợi hơn rất nhiều cho công tác truyền thông, giáo dục. Khi thành công thì hiệu ứng rất cao cho những điểm bảo tồn khác”, chị Trang nhấn mạnh.
Phụ trách mảng truyền thông, từng đưa nhiều đoàn học sinh lên ngắm voọc, tìm hiểu về voọc nên chị Trang nhận thấy khi các em học sinh, sinh viên tiếp cận, hiểu hơn về voọc thì trong tâm tính của các em đã thay đổi cách suy nghĩ, có ý “hướng thiện” nhiều hơn. Không chỉ thế, kể cả người lớn cũng đã nghĩ khác sau khi thấy được “nữ hoàng linh trưởng”.
“Có lần, bác tài xế chở các em đi ngắm voọc, đang trên đường đi, bác ấy cứ hay đề cập, hỏi đến chuyện về giá trị con voọc như thế nào, xương voọc có nấu cao được không, hiệu quả không? Đến khi thấy voọc bác ấy lại òa lên: Tui ở Đà Nẵng hàng chục năm, có nghe nói về loài voọc này, không ngờ nó lại đẹp thế này, được tận mắt chứng kiến thấy thật thú vị. Và, trên quãng đường về, bác ấy không còn nói đến những câu chuyện như trên đường đi, và luôn miệng khen voọc đẹp, voọc thú vị.
Chính việc tận mắt chứng kiến voọc chà vá chân nâu đã thay đổi cách suy nghĩ của bác ấy. Đó cũng chính là đích đến của GreenViet”, chị Trang nói.
Tuy nhiên, điều mà GreenViet đang rất âu lo là việc ý thức vệ sinh môi trường của người dân, du khách khi đi tham quan bán đảo Sơn Trà vẫn còn rất hạn chế. Nhiều người còn vứt rác bừa bãi, thức ăn thừa không bỏ vào thùng rác mà “thả” khắp nơi chính là nguồn cơn lây bệnh cho các loài động vật nói chung, trong đó lây lan cho loài voọc là không thể tránh khỏi. Không những thế, nó còn “lây” ngược lại cho con người.
GreenViet đã tổ chức nhiều đợt nhặt rác, tuyên truyền nâng cao ý thức vệ sinh môi trường, kể cả phía BQL cũng có đội ngũ thường xuyên đi nhắc nhở du khách bảo vệ, giữ gìn vệ sinh môi trường nhưng ý thức vẫn chưa nâng cao. Đây là vấn đề âu lo không hề nhỏ.
Ông Nguyễn Đức Vũ, Phó BQL BĐ Sơn Trà và các bãi biển Đà Nẵng cũng rất trăn trở về việc khai thác du lịch như thế nào cho hiệu quả tại BĐ Sơn Trà, đặc biệt với loài voọc chà vá chân nâu nhưng phải đảm bảo vấn đề bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm này.
“Nhiều lúc chúng tôi cũng đã suy nghĩ, đề cập đến việc mở “tour ngắm voọc” nhưng phải hết sức thận trọng. Liệu khai thác tour đó có ảnh hưởng đến sinh thái, môi trường sống, tâm tính… của voọc hay không là vấn đề đang bàn. Ở đây việc khai thác du lịch chưa nói đến vấn đề lợi nhuận, nhưng thông qua đây để tuyên truyền bảo vệ loài voọc quý hiếm này cũng là một kênh khá tốt”, ông Vũ đề cập.
Theo ông Vũ, trước mắt phối hợp với cơ quan chức năng, tổ chức bảo vệ, tuyên truyền mọi người chung tay bảo vệ, giữ gìn bán đảo Sơn Trà. Khi vấn đề về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường được đảm bảo, có cơ chế chính sách phù hợp thì sẽ tính đến việc khai thác “tour ngắm voọc” như thế nào cho hiệu quả nhất”, ông Vũ nhấn mạnh.
Vấn đề đặt ra, cần tìm giải pháp trung hòa giữa bảo tồn và phát triển (khai thác du lịch) về voọc chà vá chân nâu tại Đà Nẵng. Điều đặc biệt Đà Nẵng giữ được BĐ Sơn Trà, một khu rừng tuyệt đẹp trong lòng thành phố thì voọc cũng được “ăn theo”. (Công An TP.HCM 10/2) đầu trang(
Chiều 7-2, một khu rừng tại xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã bị cháy. Vụ cháy bắt đầu từ 13g, sau đó tàn lửa bay sang khu rừng phần đường bên kia, gây cháy cả hai bên.
Nhận được tin báo, lực lượng xã đội, công an xã Gành Dầu, kiểm lâm Phú Quốc đã nhanh chóng có mặt tham gia chữa cháy. Đồng thời lực lượng PCCC công an huyện Phú Quốc cũng xuất phát từ thị trấn Dương Đông nhanh chóng tiếp cận hiện trường cùng lực lượng tại chỗ nỗ lực dập lửa.
Sau đó, lực lượng bộ đội từ tiểu đoàn 860 cũng được điều động đến hỗ trợ cùng các lực lượng khác chữa cháy.
Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ tại hiện trường, đến hơn 16g30 cùng ngày đám cháy cơ bản đã được dập tắt, chỉ còn những đám khói nghi ngút.
Hiện cơ quan chức năng vẫn đang điều tra tìm hiểu rõ nguyên nhân. (Tuổi Trẻ 7/2) đầu trang(
Từ rất lâu, trên chùa núi Châu Thới (Bình Dương) đã có cả bầy khỉ rừng sinh sống. Hiện nay, đàn khỉ sống nhờ nơi cửa Phật, tồn tại bằng cách ăn đồ cúng lễ của khách thập phương.
Chùa núi Châu Thới là một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất của tỉnh Bình Dương và vùng Đông Nam Bộ, được gìn giữ, tôn tạo và phát triển cho đến ngày nay. Ngôi chùa tọa lạc trên núi Châu Thới cao 82m, rộng 25ha, xung quanh là vùng đồng bằng, thuộc phường Bình An, thị xã Dĩ An.
Quần thể núi Châu Thới ở Bình Dương được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1989. Điều thú vị, nơi đây còn là khu vực cư ngụ của đàn khỉ rừng. Nơi đây có đàn khỉ rừng đuôi xám, mặt đỏ sinh sống chung quanh chùa Châu Thới từ lâu.
Mỗi lần đến thăm chùa Châu Thới, du khách sẽ cảm thấy thích thú khi được hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, ngắm những bầy khỉ mẹ bồng bế khỉ con vui nhộn chuyền cành, gọi nhau í ới.
Theo những người bán hàng lâu năm ở chùa, bầy khỉ này đã sống hoang dã ở trên núi từ hàng mấy chục năm nay. Sau đó, chúng sinh sôi nảy nở, thấy trong chùa có nhiều trái cây cúng lễ nên dần "dọn" về ở trong chùa.
Hiện nay, chùa Châu Thới đang là nơi "nương náu" của đàn khỉ khoảng 30 con. Chúng lang thang khắp ngóc ngách chùa tìm kiếm thức ăn. Nguồn trái cây đến chủ yếu do nhà chùa, du khách cung cấp…
Do một ngày có nhiều người viếng chùa nên lượng thức ăn cho chúng không bị thiếu. Tuy nhiên, cũng có khi bầy khỉ tự hú nhau cướp cả đồ lễ của khách. uy nhiên, dù là khỉ hoang dã nhưng do tiếp xúc nhiều với con người nên cả bầy cũng dạn dĩ, thân thiện với khách.
Nhiều người thích thú chụp lại ảnh bầy khỉ. Họ cho rằng, đây cũng là nét riêng của chùa Châu Thới. Con khỉ đầu đàn rất hung dữ, luôn cảnh giác với những người đến gần. Vì thế, có người mang khỉ lên chùa phóng sinh, thấy có con khỉ lạ nào xuất hiện, khỉ đầu đàn sẽ huy động cả bầy tấn công, không cho gia nhập đàn.
Với những người bán hàng lâu năm trên chùa, đàn khỉ không còn xa lạ gì. "Hiện nay, số lượng bầy khỉ giảm dần vì có nhiều người bắt trộm", người bán vé số chia sẻ. Một con khỉ bị bắt được bán ngay dưới chân núi Châu Thới. Trước đây, kiểm lâm tỉnh Bình Dương cũng đã có kế hoạch di dời đàn khỉ này về nơi khác đế tránh tình trạng săn bắt bừa bãi nhưng kế hoạch này không khả thi vì đàn khỉ đã quen với môi trường nơi đây.
Cho dù hiện tại đàn khỉ núi Châu Thới đang được nhà chùa và người dân trong vùng gắng công đùm bọc nhưng xem ra khó bề canh giữ vì vẫn còn nhiều kẻ xấu đang tiếp tục rình rập, chờ săn bắt trộm khỉ cả ngày lẫn đêm. (Afamily 8/2) đầu trang(
Những ngày Tết này trong lúc mọi người được sum vầy bên gia đình, người thân để đón mùa xuân mới thì ở những cánh rừng xa xôi của tỉnh, có những người phải tạm gác lại niềm vui sum họp để giữ gìn sự bình yên cho rừng. Họ là lực lượng kiểm lâm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai.
Sau khi tốt nghiệp đại học chính quy tháng 7/2015, anh Dương Thế Nghĩa rời quê hương Quảng Bình vào làm việc tại trạm kiểm lâm cơ động, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai. Do đặc thù công việc phải ứng trực tuần tra, bảo vệ rừng và phòng chống cháy vào mùa khô nên đây là cái tết đầu tiên anh Nghĩa đón tết xa nhà. Gác lại không khí được sum vầy bên gia đình, người thân đón tết cổ truyền, Nghĩa cũng như những kiểm lâm trẻ lần đầu tiên đón tết ở rừng cũng có những niềm vui riêng mà chỉ có niêm đam mê với nghề họ đã chọn mới có được.
Còn đối với ông Nguyễn Hữu Đạo - Hạt phó Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn đã có thâm niên gần 40 năm gắn bó với nghề giữ rừng. Trong khoảng thời gian đó, ông chỉ đón giao thừa với gia đình chỉ được vài lần còn lại những khu rừng, trạm kiểm lâm trong rừng trở thành ngôi nhà thứ hai mỗi dịp tết đến, xuân về. Ngoài sự cảm thông của gia đình thì một yếu tố quan trong để ông cũng như những kiểm lâm khác có thể trụ lại, hoàn thành nhiệm vụ được giao là tình yêu đối với rừng.
Với việc quản lý hơn 103.000 ha rừng, Khu Bảo tổn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai có 18 Trạm kiểm lâm với gần 200 kiểm lâm viên, được xem là Khu bảo tồn có lực lượng kiểm lâm đông nhất cả nước. Theo quy định, thời gian từ tháng 12 năm cũ đến tháng 5 năm sau tất cả cán bộ, nhân viên, kiểm lâm viên của khu bảo tồn đều không được nghỉ phép năm.
Do đó, đối với cán bộ kiểm lâm mùa khô cũng là mùa xuân. Vì vậy, khát vọng đoàn tụ gia đình trong những ngày tết của các kiểm lâm viên khu bảo tồn phải được gác lại. Tuy nhiên, tất cả anh em kiểm lâm đều xác định tinh thần trách nhiệm của mình và chấp hành nghiêm quy định.
Để những cánh rừng xanh bát ngát được ví như “lá phổi xanh” cho khu vực Đông Nam bộ, những động thực vật quý hiếm được bảo tồn và phát triển không bị xâm hại bởi bàn tay của kẻ xấu, những cán bộ kiểm lâm gác lại niềm vui sum vầy bên gia đình những ngày tết này để tăng cường tuần tra, ứng trực.
Và một điều ít ai biết được mặc dù cùng là lực lượng kiểm lâm nhưng kiểm lâm ở khu bảo tồn lại bị thiệt thoi hơn khi chưa được công nhận là công chức như kiểm lâm bình thường. Đây cũng là niềm trăn trở và nhiều lần kiến nghị từ nhiều năm nay của lãnh đạo Khu bảo tồn nhưng chưa được giải quyết. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đồng Nai 8/2) đầu trang(
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với hệ thống rừng xanh trên núi đá vôi trùng điệp nối dài như vô tận, là môi trường sống lí tưởng nhất cho các loài linh trưởng, với 10 loài và phân loài linh trưởng được ghi nhận; các nhà khoa học còn ví Phong Nha – Kẻ Bàng như vương quốc của “hậu duệ lão Tôn”…
Theo tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu khoa học Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha – Kẻ Bàng, ở đây có 10 loài và phân loài linh trưởng, là nơi có sự đa dạng về các loài linh trưởng cao nhất trong các vườn quốc gia trên toàn quốc (cả nước có 26 loài và phân loài). Phong Nha – Kẻ Bàng nhiều loài linh trưởng đến độ, đi vào bất kỳ vùng núi đá vôi nào nếu không gặp được các loài khỉ khác thì cũng dễ dàng chiêm ngưỡng vẻ đẹp lộng lẫy của loài chà vá chân nâu, hay được nghe tiếng hót thánh thót gọi bầy của đàn vượn siki.
Tại các khu rừng của Phong Nha – Kẻ Bàng như Hung Dạng, Hung Lau, Trộ Mợng… là những điểm thường xuyên ghi nhận sự xuất hiện của các loài chà vá chân nâu và voọc gáy trắng (còn gọi là voọc Hà Tĩnh). Trong khi loài voọc gáy trắng thường xuyên xuất hiện ở khu vực Trộ Mợng - nơi có khu du lịch Suối nước Mọc và Hang Tối… thì loài chà vá chân nâu lại có rất nhiều ở Hung Dạng.
Tại đây, các chiến sỹ kiểm lâm ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng bắt gặp chúng hằng ngày với số lượng khoảng 3 đàn, mỗi đoàn khoảng 15 cá thể. Chà vá chân nâu với bộ lông có màu sắc rực rỡ, chúng được Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) đánh giá là "hoa khôi" trong thế giới loài khỉ.
Trong một đàn chà vá chân nâu có một con đực làm chủ đàn. Khi di chuyển, con đực đi đầu, chà vá cái ở giữa và chà vá non đi sau cuối. Khi có biến, chúng thường rút lui lặng lẽ nhưng nếu bị bắt gặp bất chợt chúng có thể kêu hú inh ỏi, leo trèo nháo nhác làm náo động cả một khu rừng. Các chiến sỹ kiểm lâm ở đây kể rằng, đã nhiều lần nhờ sự báo động của các đàn chà vá chân nâu mà họ đã kịp thời ngăn chặn được những cuộc đánh bắt trái phép của các tay thợ săn xâm hại rừng…
Trong khi đó, rừng U Bò, nằm trên đường Hồ Chí Minh nhánh Tây là nơi được ghi nhận là một quần thể vượn siki (người dân địa phương gọi là vượn hót) lớn nhất Việt Nam. Tại đây các nhà khoa học và các kiểm lâm viên ghi nhận có khoảng 41 đàn vượn siki với hàng trăm, hàng ngàn cá thể. Từng đàn vượn siki chiếm cứ lấy một khu vực làm lãnh thổ riêng biệt. Các chiến sỹ kiểm lâm chứng kiến chúng tồn tại hằng ngày qua những tiếng hú vang vọng cả khu rừng.
Tiếng hú riêng lẻ là của những chú vượn đực trưởng thành tìm bạn, mời gọi bạn tình. Còn những tiếng hú nối tiếp nhau, đôi khi những chú vượn siki con cũng phụ họa thêm tạo thành một làn sóng âm thanh âm vang cả núi rừng thì đó là những tiếng hú phô trương, thông báo khu vực lãnh thổ chiếm hữu…
Khu Phong Nha-Kẻ Bàng có một quần thể hơn 300 hang động lớn nhỏ phong phú, kỳ vỹ. Ngoài những hang động nổi tiếng được đưa vào khai thác du lịch như hang Sơn Đoòng, Thiên Đường, hệ thống hang Phong Nha – Tiên Sơn… thì hàng trăm hang động khác nằm ẩn mình dưới những rặng núi đá vôi hùng vĩ trong rừng sâu đang là nơi trú ngụ lý tưởng của các loài khỉ, được nhiều người ví là những “thủy liêm động”.
Một lần được theo chân già làng người A Rem Đinh Rầu vào các hang đá nơi người A Rem “tiền sử” từng sinh sống, chúng tôi đã được chứng kiếm một trong những “thủy liêm động” như thế. Ở khu vực Rục Cà Roòng, nơi trước đây người A Rem sinh sống và bây giờ là nơi họ làm rẫy trồng sắn, bắp và lúa, người A Rem gọi cái hang đá đó là hang khỉ, bởi bên trong hang có hàng trăm con khỉ mặt đỏ (một loài khỉ quý hiếm có tên trong Sách đỏ) chiếm cứ và sinh sống hàng trăm năm qua.
Già làng Đinh Rầu dẫn chúng tôi đến cửa hang nhưng không dám dẫn vào sâu trong hang vì ông sợ đàn khỉ sẽ tấn công. Bản thân ông, trong một lần xua đuổi đàn khỉ khi chúng phá hoại rẫy bắp của mình đã bị chúng đánh xa xẩm mặt mày.
Đinh Rầu kể lại, một buổi sáng mùa bắp chín năm 2010, ông vào thăm rẫy bắp coi nó đã chín hết chưa để thu hoạch thì tá hỏa khi thấy một đàn khỉ mặt đỏ khoảng 30 con đang bứt dây bìm bịp quấn nhiều vòng quanh thân mình và bẻ những trái ngô nhét vào vòng dây bìm bịp. Thấy thế Đinh Rầu xua 2 con chó đi theo đến xua đàn khỉ. Phát hiện có người, một con khỉ to lớn nhất đang đứng ở mỏm đá đầu rẫy hú lớn báo động.
Cả đàn khỉ bèn kéo nhau chạy về cái hang đá gần đó. Tiếc rẫy ngô đã đến kỳ thu hoạch bị bẻ trộm, Đinh Rầu dẫn 2 con chó chạy theo vào hang, thấy một đóng bắp lớn đang chất ở hốc đá. “Miềng định bụng lại lấy bỏ vào gùi để mang về.
Mới đầu miềng chỉ thấy mấy con khỉ nhỏ bỏ chạy khỏi đống bắp, sau thì con đầu đàn ở đâu xuất hiện trên mái đá, nó hú vang báo động, cả đàn khỉ mặt đỏ hàng chục con hung tợn lao vào tấn công miềng chảy máu, 2 con chó săn của miềng cũng bị chúng đánh chạy đâu mất. May có cây đuốc mang theo miềng châm lửa hua hua, chúng mới tản ra nhưng vẫn đứng canh ở cửa hang. Đang lo thì miềng thấy có đống củi khô chắc do lũ năm trước đưa vào, miềng đến đốt, khói bốc lên, mấy anh em đi rừng cạnh đó thấy mới đến cứu mình, không thì khỉ mặt đỏ đánh chết mất” – Đinh Rầu kể lại.
Với những đồn thổi về giá trị thần kỳ từ các bộ phận của các loài khỉ, vượn khiến loài này ngày càng bị săn bắt và tàn sát dã man. Ông Đinh Huy Trí – Phó Giám đốc VQG Phong Nha – Kẻ Bàng cho biết, được mạnh danh là “vương quốc của các loài linh trưởng”, trong những năm qua VQG Phong Nha – Kẻ Bàng rất vất vả trong việc bảo vệ các loài linh trưởng khỏi những kẻ săn trộm. Theo ông Trí, một trong những đặc tính làm cho chúng dễ tìm kiếm và phát hiện nhất, đó là chúng thường đùa hót vang cả khu rừng.
Đặc biệt, chà vá còn rất… dại dột, khi gặp người chúng không bỏ chạy mà bẻ cành để che mình. Chúng cứ tưởng không nhìn thấy người thì người cũng không thấy chúng và cứ ngồi yên trên cây. Nếu gặp thợ săn, súng nổ đùng đoàng, đồng loại trúng đạn rơi xung quanh nhưng chúng vẫn thản nhiên, không chạy. Vì thế nhiều lúc các tay thợ săn hạ gục cả bầy chà vá…
Cũng theo ông Trí, thời gian qua VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã tăng cường nhiều biện pháp mạnh nhằm ngăn chặn nạn săn bắt và buôn bán động vật rừng, trong đó có các loài linh trưởng. Các vụ Hạt kiểm lâm của vườn bắt được đều bị xử phạt rất nặng, nhiều vụ đã khởi tố vụ án chuyển cơ quan điều tra.
Mới đây nhất Hạt kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã bắt phát hiện 2 đối tượng lạ mặt đi từ rừng ra mang theo hai bao tải, khi thấy lực lượng kiểm lâm chúng đã vứt lại và bỏ chạy. Kiểm tra 2 bao tải, kiểm lâm thu được 12 cá thể linh trưởng đã bị giết, lấy nội tạng, não và đã sấy khô. Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã khởi tố vụ án, chuyển cơ quan công an tiếp tục điều tra làm rõ…
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng cũng thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền, vận động người dân không vào rừng săn bắt các loài động vật rừng, trong đó có các loài linh trưởng.
Theo ông Lê Thúc Định – Giám đốc Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, từ khi thành lập (2004) đến nay, Trung tâm đã cứu hộ 152 lượt cá thể linh trưởng, trong đó chủ yếu là các loài thuộc nhóm khỉ, một số khác thuộc các nhóm cu li, vượn, chà vá chân nâu. Nhiều người dân trong vùng cũng đã tự nguyện giao nộp lại cho vườn hàng trăm cá thể linh trưởng để thả lại rừng… (Dân Việt 9/2) đầu trang(
Voọc gáy trắng là loài động vật hoang dã nằm trong danh mục loài nguy cấp, quý hiếm ưu tiên bảo vệ có trong Sách Đỏ thế giới IUCN và Việt Nam.
Ngoài Hà Tĩnh thì Quảng Bình được xem là nơi lý tưởng cho loài Voọc sinh sống. Điều đặc biệt, ở vùng Thạch Hóa xa xôi có những con người tình nguyện bảo vệ loài Voọc và chúng đã trở thành người bạn thân thiết với nhiều người dân nơi đây.
Trong khi các loài động vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng vì sự tàn phá của con người thì chắc hẳn sự gắn bó giữa con người và loài vật sẽ làm nhiều người hoài nghi. Nhưng khi đến với xã Thạch Hóa, huyện Minh Hóa (Quảng Bình) sẽ làm cho chúng ta ngộ ra nhiều điều.
Ở một nơi tưởng chừng như xa xôi ấy lại có những con người thật văn minh và biết nhìn ra giá trị đích thực mà thiên nhiên ban tặng cho họ. Họ luôn nâng niu trân trọng, tìm cách bảo vệ, quyết tâm duy trì đến cùng để Voọc và người cùng tồn tại mãi mãi.
Từ trung tâm tỉnh Quảng Bình, phải mất hơn 1 tiếng đồng hồ chúng tôi mới đến được với xã Thạch Hóa. Địa hình nơi đây phần lớn là núi đá vôi, với cây cối còn khá um tùm, người dân chủ yếu dựng nhà và sản xuất ngay dưới chân núi.
Một cán bộ kiểm lâm cho hay, chính điều kiện thiên nhiên như thế là nơi lý tưởng để loài Voọc gáy trắng sinh sống. Tại đây, khi biết chúng tôi đến tìm hiểu về loài Voọc này, cụ Nguyễn Văn Đông (80 tuổi), một người dân xã Thạch Hóa hồ hởi giới thiệu với dáng vẻ say sưa và tự hào.
Cụ Đông cho biết: “Cách đây 20 năm, loài Voọc đã chọn sinh sống ở đây rồi. Lúc đó tới giờ, mọi người cứ gọi là vượn thôi chứ không biết là Voọc gáy trắng đâu. Mỗi lúc tôi ra sau vườn để sản xuất là bọn Voọc nó xuống như để trò chuyện với tôi ấy. Có khi nó còn xuống quấn lấy chân tôi luôn. Điều hay là ở đây chúng tôi trồng nhiều ngô, khoai, sắn, lạc nhưng chưa khi nào bị chúng phá phách hay lấy trộm cả”.
Ánh mắt đầy tự hào và say sưa của cụ Đông cũng đã giải đáp được phần nào thắc mắc về sự gắn bó giữa người dân Thạch Hóa và loài Voọc này. Có lẽ sự quý trọng loài Voọc của cụ Đông đã tiếp thêm ý chí và sức mạnh cho người con trai Nguyễn Thanh Tú trở thành người đi đầu trong công tác bảo vệ loài linh trưởng đặc biệt quý hiếm này.
Vốn là một chiến sỹ biên phòng khi được về nghỉ chế độ, ông Tú mới có nhiều thời gian quan tâm đến loài linh trưởng hiền lành này. Ông Tú tâm sự: “Trước đây, khi đang đi làm nhiệm vụ của chiến sỹ biên phòng tôi đã từng được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình mời đi tập huấn để nhận biết và bảo vệ các loài linh trưởng. Rồi khi trở về quê hương lại nghe mọi người nói là ở Thạch Hóa có vượn chứ không hề biết là Voọc đâu.
Trong một lần tình cờ đi làm rẫy, trong lúc mắc võng nằm nghỉ, tôi thấy có tiếng gì sột soạt trên ngọn cây rồi thấy con gì giống con vượn. Đến khi chúng xuống gần thì tôi thấy có cái gáy trắng, còn đuôi thì dài. Sau đó, tôi gọi cho tổng đài của nơi bảo vệ động vật quý hiếm nhưng mãi không có hồi âm. Lúc đó là vào năm 2012.
Một thời gian sau, biết tin có nhiều cá thể voọc đã bị người dân giết hại, tôi đã báo với lực lượng kiểm lâm và được Chi cục kiểm lâm Quảng Bình ra tay kịp thời".
Ông Tú cho biết thêm, sau khi lực lượng kiểm lâm chứng kiến sự có mặt của nhiều cá thể Voọc, họ cũng khuyến khích ông bảo vệ đàn Voọc nếu thực sự có tâm huyết. Thế là như được tiếp thêm sức mạnh, không có một đồng tiền lương hay trợ cấp nào, ông Tú hàng ngày lầm lũi vào những nơi có Voọc sinh sống để kiểm tra xem có điều gì bất thường không, rồi đi vận động bà con không giết hại Voọc.
Nhiều người thấy ông tâm huyết và say mê với loài Voọc nên cũng tình nguyện vào tổ cộng đồng của ông để cùng nhau bảo vệ. Hiện nay, tổ cộng đồng của ông đã có 9 người tình nguyện bảo vệ Voọc. Bất kể vào thời gian nào và hễ có động tĩnh gì nơi đàn Voọc sinh sống là mọi người tự giác có mặt ngay. Vì thế cho nên cái tên Tú “Voọc” cũng gắn ông từ đó. Đến nỗi khi ông bước ra đường thì câu đầu tiên hàng xóm hỏi ông là câu “Đi lên thăm Vọoc hả chú?”. Mỗi lần nghe hỏi điều này, cũng làm ông Tú rất đỗi xúc động và có phần tự hào.
“Lúc đầu, nhiều người thấy tôi làm việc này họ cũng buồn cười vì họ cho là tôi ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, nhưng sau đó có cơ quan chức năng vào cuộc, tuyên truyền, vận động nên người dân nơi đây đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ loài Voọc rồi!", ông Tú vui vẻ nói.
Loài Voọc gáy trắng được công bố khoa học đầu tiên vào năm 1970. 25 năm sau mới được ghi nhận và phát hiện lại ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (năm 1995). Và vào đầu năm 2015, các nhà khoa học và cơ quan chức năng đã vào cuộc, xác nhận loài Voọc gáy trắng đang có mặt ở xã Thạch Hóa và Đồng Hóa, huyện Tuyện Hóa.
Đây là phát hiện mới về phân bố có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo tồn loài Linh trưởng quý hiếm này trong bối cảnh các quần thể Voọc gáy trắng tại các khu vực khác đang bị suy giảm về số lượng.
Tuy nhiên hiện nay, khu vực mới phát hiện này đang bị đe dọa bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như: săn, bắn, xâm lấn sinh cảnh, khai thác đá, khai thác củi… Tất cả những yếu tố trên là nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng đến công tác bảo tồn quần thể Voọc gáy trắng. Vì vậy, việc xây dựng phương án bảo tồn khẩn cấp loài Voọc gáy trắng tại các xã Thạch Hóa, Đồng Hóa, huyện Tuyên Hóa trở thành nỗi trăn trở của những người làm công tác kiểm lâm.
Ông Phạm Hồng Thái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình cho hay, việc bảo tồn Voọc gáy trắng phải được tính toán kỹ lưỡng và phù hợp với điều kiện hiện nay. Vì thế, sau khi quần thể Voọc gáy trắng được phát hiện, các cơ quan chuyên môn và chính quyền các cấp tại tỉnh Quảng Bình đã ban hành và chỉ đạo thực hiện các giải pháp tạm thời nhằm bảo vệ quần thể Voọc gáy trắng khỏi nguy cơ tác động tiêu cực của con người.
Đặc biệt, Chi cục đã kết hợp với các nhà khoa học trong và ngoài nước, chuyên gia Linh trưởng Việt Nam và tổ chức bảo tồn linh trưởng thế giới tiến hành nhiều đợt điều tra, khảo sát và hội thảo về quần thể Voọc gáy trắng tại địa bàn hai xã Thạch Hóa và Đồng Hóa nhằm xây dựng phương án bảo tồn quần thể Voọc gáy trắng.
Ông Thái cho biết thêm: “Việc quy hoạch và xây dựng đề án bảo tồn loài và sinh cảnh đối với quần thể Voọc gáy trắng là hết sức cấp bách và cần phải làm ngay. Trong đó lưu ý đến việc đưa bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc gáy trắng vào quy hoạch của tỉnh, xây dựng đề án thành lập khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc gáy trắng, xây dựng các bước điều tra cụ thể tạo cơ sở khoa học để thành lập khu bảo tồn”.
Hiện số lượng đàn Vọoc gáy trắng được ghi nhận khoảng 10 đàn với số lượng khoảng 115 cá thể bao gồm con non và con trưởng thành sinh sống trên diện tích 175 ha thuộc 2 xã Thạch Hóa và Đồng Hóa.
Và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đang đề xuất thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc gáy trắng nhằm có chiến lược bảo vệ tốt hơn cho loài Voọc gáy trắng này. Đồng thời, với những gì đã cống hiến không mệt mỏi cho việc bảo vệ loài Voọc, cá nhân ông Nguyễn Thanh Tú đã vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen trong công tác bảo vệ rừng. (Đời Sống Và Pháp Luật 9/2) đầu trang(
Khi những vòng quay cuối cùng của chiếc kim đồng hồ báo hiệu thời khắc chuyển giao năm mới, ai ai cũng háo hức về nhà sum họp bên mâm cơm gia đình, gửi lời chúc đón mừng Xuân sang, thì vẫn có những người phải ở lại giữa núi rừng để chăm sóc cho hàng trăm cá thể tê tê - loài “sách đỏ” của đất nước.
Một trong số đó là Trần Quang Phương, quản lý Chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê (một chương trình hợp tác giữa Vườn Quốc gia Cúc Phương và Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã), nhằm bảo tồn các loài động vật hoang dã quý hiếm khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng.
Chiều Đông, những luồng gió se sắt của núi rừng thổi mạnh vào ngôi nhà nhỏ nằm lọt thỏm giữa Vườn Quốc gia Cúc Phương thêm phần buốt giá, những vạt cây thay nhau gầm rú như “hăm dọa” những con người nhỏ bé ở giữa núi rừng. Ấy nhưng, vượt qua tất cả, những cán bộ bảo tồn vẫn vững chí chăm sóc cho “đàn con” của rừng.
Khi chúng tôi đến, anh Trần Quang Phương đang cùng các nhân viên khác dọn dẹp “nhà” cho những cá thể tê tê đang được chăm sóc tại đây. Mặc dù công việc đơn giản, nhưng lại cần sự khéo léo như khe khẽ để “lũ con” yên giấc ngủ ngày.
Sau khi xong việc, anh bước ra khỏi “ngôi nhà” nhỏ, hồ hởi tiếp đón chúng tôi bằng ngôn ngữ tiếng Anh lưu loát như tiếng mẹ đẻ, rồi dẫn đoàn đi khám phá “biệt phủ” của hàng trăm cá thể tê tê đang được chăm sóc tại đây. Chờ đến lúc mọi người đang mê mẩn với loài “sách đỏ,” tôi kéo anh Phương lại làm quen.
Trong câu chuyện với tôi, anh Phương bảo, anh dành tình yêu cho động vật hoang dã từ hồi còn rất nhỏ. Cũng vì tình yêu ấy, chàng trai quê Ninh Bình đã nuôi ước mơ lớn lên trở thành một cán bộ kiểm lâm, làm công tác bảo tồn các loài thú quý, hiếm khỏi các hành vi săn bắn, đưa thú ra khỏi rừng.
Quyết tâm theo đuổi, cuối cùng ước mơ của anh cũng thành hiện thực và sau đó vào làm việc tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Tuy nhiên, đến năm 2005, anh mới chính thức được cấp trên phân công quản lý Chương trình cứu hộ thú ăn thịt nhỏ từ năm, khi những cá thể tê tê đầu tiên được cứu hộ tại Việt Nam.
“Thật sự mà nói là, tê tê-nó cũng như những người bạn, người con của mình, đặc biệt là những cá thể do chính tôi nuôi bộ, từ ngày chúng còn mới lọt lòng. Hơn nữa, chúng cũng là những cá thể sống, một phần của đa dạng sinh học, của thiên nhiên, cần được sống và bảo vệ,” anh Phương trải lòng.
Thông thường, một ngày làm việc của anh Phương bắt đầu từ lúc 7 giờ sáng và kết thúc vào lúc đêm khuya, bởi đặc thù của loài tê tê chủ yếu hoạt động về đêm.
“Công việc của bọn mình thường ngày là dọn dẹp chuồng vào ban ngày và cho tê tê ra ngoài ăn vào ban đêm. Trong quá trình ăn đêm, mình phải theo dõi sát sao xem tê tê có ăn hay không, nếu bỏ ăn thì phải kiểm tra sức khỏe ngay để còn cứu chữa,” anh Phương chia sẻ thêm.
Hiệp sĩ giải cứu tê tê cũng cho biết, sau hơn 15 năm gắn bó với công việc chăm sóc tê tê, đến nay, hàng trăm cá thể tê tê có tên trong “sách đỏ” (như tê tê Java và tê tê vàng - hai loài tê tê quý, hiếm của Việt Nam) đã được anh cứu sống, đưa về Vườn quốc gia Cúc Phương chăm sóc, phục hồi sức khỏe rồi tái thả chúng về tự nhiên.
Chỉ tính riêng trong năm 2015, hơn 200 cá thể tê tê đã được cứu hộ, chăm sóc ở Chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê (Vuờn quốc gia Cúc Phương). Và cũng trong năm qua, nhờ sự chăm sóc của anh Phương và các nhân viên tại đây, hơn 60 cá thể tê tê đã được thả về với môi trường tự nhiên.
Mặc dù đã có công lớn trong việc cứu hộ hàng trăm cá thể tê tê thoát khỏi các vụ buôn bán động vật bất hợp pháp trên cả nước, đưa về chăm sóc tại “ngôi nhà tê tê” ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, song anh Trần Quang Phương vẫn luôn trăn trở vì đâu đó trên đất nước, thi thoảng vẫn còn xảy ra những vụ buôn bán tê tê trái phép.
Theo anh Phương, trong bối cảnh động vật hoang dã đang bị đe dọa sự sống như vậy, Chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê được thành lập đã cam kết đảm bảo tương lai cho các loài thú ăn thịt nhỏ và tê tê đang bị đe dọa tại Việt Nam khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng.
Đối với những cá thể tê tê sau khi cứu hộ sẽ được các bác sĩ chăm sóc, phục hồi sức khỏe. Một số cá thể đủ điều kiện tái thả về tự nhiên sẽ được trung tâm thả ở Vườn Quốc gia Cúc Phương. Tại đây, chúng sẽ được gắn chíp và theo dõi bằng sóng radio để xác định thêm những thông tin về các loài này trong tự nhiên cũng như mức độ đe dọa của tình trạng săn bắn.
“Là cán bộ bảo tồn, chúng tôi luôn đặt mục tiêu là làm việc để tăng sự hiểu biết, quý trọng các loài động vật quý hiếm và môi trường sống của chúng cũng như thúc giục người dân hành động để bảo tồn chúng,” hiệp sĩ giải cứu tê tê nói.
Anh Phương cũng cho biết, khi làm việc cho Chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê, anh luôn dành thời gian làm việc chủ yếu với các vấn đề bảo tồn loài, bao gồm các hoạt động bảo tồn thực thế như chương trình nâng cao nhận thức, thực đại, đào tạo cho lực lượng kiểm lâm, công an môi trường, bộ đội biên phòng và sinh viên…
Đặc biệt hơn là, ngoài công tác bảo tồn, anh Phương còn triển khai và quản lý các chương trình nhân giống bảo tổn ưu tiên đối với các loài thú ăn thịt nhỏ và tê tê bị đe dọa toàn cầu.
“Với tôi, mỗi con vật và mỗi loài vật đều có tính cách riêng và câu chuyện đặc biệt về việc chúng đến trung tâm phục hồi như thế nào. Tất cả chúng đều đóng vai trò đặc biệt trong hệ sinh thái. Để duy trì sự cân bằng trong hệ sinh thái và giúp cuộc sống của con người bền vững hơn, chúng ta cần dừng phá hoại môi trường và các loài động vật hoang dã và bắt đầu bảo vệ chúng,” anh Phương nói.
Chiều cuối năm, cái lạnh như ngấm sâu vào da thịt, khi những bóng dáng những vị khách thích thú với việc khám phá núi rừng có phần vắng hơn vì ai ai cũng đang hướng tới bữa cơm Tết niên, thì anh Trần Quang Phương và những cán bộ đồng hành vẫn miệt mài với công việc chăm sóc cho “đàn con” của núi rừng, đảm bảo tương lai cho loài “sách đỏ” quý, hiếm. (Vietnam + 9/2) đầu trang(
Thông tin từ Sở NN&PTNT tỉnh Lào Cai cho biết, đến 3h sáng 11/2, đám cháy tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã được khống chế thành công.
Trước đó, vào hồi 13h chiều 10/2, đám cháy đã bùng phát tại khu vực rừng thuộc địa bàn giáp ranh giữa 2 thôn Tả Van Giáy và Séo Mí Tỷ của xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, thuộc phần rừng đệm của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, có độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển. Đây cũng là khu vực đã từng xảy ra cháy trên diện rộng vào tháng 3/2014.
Ngay sau khi đám cháy xảy ra, lực lượng khoảng 200 người tại địa phương đã lập tức được huy động để dập lửa theo phương châm 4 tại tại chỗ, không để cháy lan rộng.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lào Cai, tính đến thời điểm khống chế được đám cháy có khoảng 8 ha rừng bị thiệt hại. Diện tích cháy chủ yếu là rừng loại 1C, gồm cây rừng tái sinh, thảo quả và cây bụi. Đây là diện tích rừng có nhiều cây chết khô do bị tuyết phủ lấp hồi tháng 1 vừa qua, cộng thêm điều kiện thời tiết hanh khô và gió thổi mạnh nên dễ bắt lửa.
Hiện tại, các lực lượng cơ bản đã rút hết, chỉ còn lại bộ phận kiểm lâm vẫn ở lại trong rừng, tiếp tục dùng các biện pháp để dập tắt phần than còn lưu lại, ngăn ngừa nguy cơ bắt lửa trở lại. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 11/2) đầu trang(
Những kẻ săn trộm bảo ông là khắc tinh, người làng nói ông bị ma ám, những nhà bảo tồn động vật hoang dã xem ông như đồng nghiệp, chính quyền cho ông là điển hình... Còn ông, hằng ngày vẫn lặng lẽ luồn rừng dõi theo đàn voọc quý, xua đuổi kẻ săn trộm, trồng cây tạo thêm không gian sống, hay gùi từng thùng nước lên núi giải khát cho voọc, khỉ trong những ngày hè đỏ lửa.
Xã Thạch Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình), đẹp như tranh thủy mặc. Những nóc nhà nhỏ nối nhau ẩn mình dưới làn sương mờ ảo tỏa ra từ dãy núi đá vôi cao vút. Không khó để tìm thấy ngôi nhà nhỏ của ông Nguyễn Thanh Tú, với biệt danh “người chăn voọc”.
Vợ ông Tú, bà Nguyễn Thị Thanh Tâm từ sau vườn chạy ra đón khách. “Ông ấy đi rồi, đi từ tờ mờ sáng. Nghe ông ấy nói có con voọc non bị thương hôm qua, đêm cứ trằn trọc không ngủ, gà vừa gáy đã gọi tui dậy nấu cơm để mang đi. Ông ấy có dặn lại, mấy chú mà lên, cứ vào rừng là gặp nhau”. Thấy chúng tôi có vẻ ái ngại, bà Tâm trấn an: “Yên tâm đi, có ai vào rừng mà qua được mắt ông ấy đâu. Mấy chú cứ vào rừng kiểu chi cũng gặp ông ấy. Vào nhà uống ly nước rồi tui chỉ đường cho mà đi”.
Vừa rót nước mời khách, bà Tâm vừa tâm sự: “Ðời tui e không ai khổ bằng. Từ ngày lấy nhau đến giờ, một tay tui lo lắng gia đình, nuôi con ăn học, còn ông ấy cứ đi biền biệt. Ngày còn trai trẻ, lính biên phòng nên quanh năm ông ấy ở vùng biên giới. Ðến khi về hưu, tưởng vợ con được đỡ đần, ai ngờ ông ấy suốt ngày luồn rừng theo mấy con voọc, nói kiểu chi cũng không được. Những ngày đầu, người làng còn đồn là ông ấy bị ma rừng ám, khuyên tui mời thầy về cúng để đuổi ma, làm tui hoang mang lắm. Nhưng giờ thì ai cũng hiểu và ủng hộ việc ông làm, không tìm cách bắt voọc về làm thịt, nấu cao nữa”.
Vùng Thiết Sơn là một khối núi đá vôi độc lập, nằm ở thượng nguồn sông Gianh, cây rừng rậm rạp, lối mòn khá hiểm trở. Ðang loay hoay tìm đường lên núi, bất ngờ một cụ ông chừng 70 tuổi từ dưới chân ruộng bước lên chắn ngang đường, nhìn soi mói vào mấy chiếc ba lô chúng tôi mang trên vai với vẻ cảnh giác: “Mấy chú đi mô?”. Cụ ông cười khà sảng khoái khi biết lí do chúng tôi tìm đường lên núi. “Nhìn mấy chú lạ quá, không phải là người làng, tui cứ tưởng là bọn đặt bẫy trộm. Ði, tui dẫn lên gặp chú Tú”.
Ðã ở vào tuổi “thất thập” nhưng cụ ông Nguyễn Văn Ðồng vẫn nhanh nhẹn và hay chuyện. Vừa dẫn đường, cụ vừa kể: Ngày xưa ở vùng núi Thiết Sơn này rất nhiều thú, nhưng nhiều nhất vẫn là voọc, chúng sống hòa thuận với người làng chứ không phá phách như loài khỉ. Mùa hè thiếu nước, loài voọc thường kéo nhau xuống cánh đồng làng, thậm chí vào đến giếng làng tìm nước. Những lúc chúng đánh nhau, tranh giành vị trí đầu đàn, con bị thua kiểu gì cũng chạy về làng cầu cứu...
Theo cụ Ðồng, loài voọc có một đặc tính rất lạ là thích nghe nhạc. Ngày xưa, hễ trong làng có đám cưới, mở nhạc xập xình là kiểu gì cũng có vài chú voọc mò về nằm trên ngọn cây lim dim thưởng thức nhạc. Có con nổi hứng còn hò hét nhảy múa theo điệu nhạc, khiến đám cưới vui càng thêm vui.
Vào cuối thập niên 90, phong trào ăn “đặc sản”, uống cao để bồi bổ sức khỏe rộ lên, khiến cho đàn voọc hàng nghìn con ở Thiết Sơn cứ hao hụt dần. Từ chỗ sống với nhau như bạn bè, voọc và người trở thành kẻ thù. Người làng thi nhau đặt bẫy, săn bắn, tìm mọi cách bắt voọc. Loài voọc ngày một rời xa dân làng, chỉ còn lại vài con ẩn mình trong những hang hốc hiểm trở nhất của vùng Thiết Sơn.
Cụ Ðồng nắc nỏm khi nhắc đến ông Tú: “May mà có chú Tú, nếu không giờ làng tui không còn một con voọc để mà nhìn ngắm. Mà cũng chỉ có chú ấy mới làm được. Ai đời bỏ tiền nhà ra mua cây giống vác lên rừng trồng để cho voọc có nơi sinh sống; rồi gùi từng thùng nước lên rừng đổ vào hốc đá cho voọc uống trong cả mùa hè.
Giờ thì người làng không còn ai nghĩ đến chuyện bắt voọc để giết thịt. Chỉ thi thoảng có vài tên săn trộm từ nơi khác đến, nhưng cũng không làm chi được vì chú Tú canh cả ngày. Có nhóm săn trộm cứng đầu đã từng bị chú ấy quật ngã nháo nhào, chạy mất dép”.
Chúng tôi trèo đến lưng chừng núi thì ông Tú cũng xuất hiện trong bộ quân phục biên phòng quen thuộc. Cụ Ðồng “bàn giao” chúng tôi cho ông Tú, rồi thoăn thoắt xuống núi, cụ nói phải tranh thủ về tháo khô nước trong ruộng để ngày mai gieo mạ.
Ngồi trên tảng đá phẳng lì giữa núi rừng Thiết Sơn, ông Tú kể cho chúng tôi nghe những ngày tháng “chăn” voọc của mình. Năm 2012, rời quân ngũ về lại làng, ông cứ có cảm giác thiếu vắng cái gì đó trong cuộc sống như chứng “nghiện rừng” của người lính biên phòng.
Sau một đêm trằn trọc vắt tay lên trán suy nghĩ, ông nhận ra, làng thiếu bóng dáng những đàn voọc hàng ngày lũ lượt kéo nhau xuống đồng uống nước, thiếu tiếng muông thú gọi bầy mỗi sáng mai thức dậy. Gà vừa gáy sáng, ông bật dậy quyết định vào rừng tìm nguyên nhân.
Ông thực sự sửng sốt, khi phát hiện hàng ngàn cái bẫy giăng mắc khắp Thiết Sơn. Có những gia đình voọc ôm nhau chết gục bên những hầm bẫy khiến lòng ông đau nhói. Ông lặng lẽ gỡ từng chiếc bẫy mang đi tiêu hủy. Ðến nay, tự tay ông đã gỡ bỏ hàng ngàn cái bẫy, đẩy đuổi hàng trăm nhóm săn trộm ra khỏi rừng Thiết Sơn. “Với ai, chắc là bị họ trả thù, đánh cho nhừ tử, nhưng với tôi, họ không dám vì nghĩ tôi bộ đội biên phòng nên có võ” - ông Tú cười xòa nói.
Cứ thế, ông vượt hết ngọn núi này qua ngọn núi khác gỡ bẫy. Sau mấy tháng trời ông mới phát hiện một vài con voọc nấp trong những hang đá hẻo lánh. Ông nhẹ nhàng tiếp cận, nhưng chúng cứ lẩn tránh mỗi khi nhìn thấy ông. Sau gần một năm lặng lẽ tiếp cận, ông cũng thống kê được đàn voọc Thiết Sơn chỉ còn lại 30 con.
Ông lên mạng tìm hiểu và nhận ra đây đích thị là voọc Hà Tĩnh, một loài linh trưởng đặc hữu, chỉ có duy nhất ở Việt Nam, đang nguy cơ bị tuyệt chủng. Ông đã viết một báo cáo chi tiết gửi lên Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình. Ngay lập tức, Chi cục Kiểm lâm cử người về đo vẽ, lập ra một không gian sinh tồn cho loài voọc sinh sống gần 200 ha và xem ông như một điển hình về bảo vệ và phát triển rừng.
“Giờ áp lực bảo vệ đàn voọc không còn lớn như trước, mọi người đã hiểu và có ý thức hơn rồi. Từ chỗ chỉ còn 30 cá thể voọc, giờ phát triển lên đến 115 cá thể và chia thành nhiều đàn. Ðiều làm tôi mừng nhất là đàn voọc đã bắt đầu thân thiện với người làng, thi thoảng ra cánh đồng làng uống nước, chơi đùa. Giờ tôi chủ yếu vào đây chơi với chúng” - ông Tú nói.
Ông Tú chỉ tay về phía một ngọn núi gần nhất, nói đó là đỉnh Dàn Vượn, nơi đang có một đàn voọc sinh sống và rủ chúng tôi đến “chơi với voọc”. Trèo lên đến gần đỉnh núi ông Tú móc chiếc điện thoạitrong túi ra mở nhạc.
Chỉ trong chốc lát, tiếng rào rào từ xa vọng lại, tiếng hú hét của đàn vượn gọi bầy chuyền cành lao tới. Chỉ tay về phía một con mẹ đang ôm voọc con trước ngực, ông Tú nói đó là một con non mới 3 tháng tuổi. Hôm qua không biết chơi đùa bất cẩn thế nào nên bị thương ở chân. Ðó là lí do sáng nay, dù đã hẹn chúng tôi nhưng ông lại vào rừng sớm. Ông tâm sự, đang hướng cậu con trai học phổ thông thi vào ngành sinh vật để sau này có thể thay ông trông nom đàn voọc, một báu vật của quê hương. (Tiền Phong 10/2) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có văn bản yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ động vật hoang dã; khuyến khích người dân thông báo các vi phạm liên quan đến động vật hoang dã cho cơ quan chức năng hoặc qua đường dây nóng miễn phí 18001522.
UBND tỉnh cũng lưu ý, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân không tiêu thụ động vật hoang dã dưới mọi hình thức, không nhận quà biếu là sản phẩm từ động vật hoang dã, không sử dụng động vật hoang dã trong các buổi tiệc, liên hoan.
Các ngành chức năng tăng cường công tác thực thi về bảo vệ động vật hoang dã tại địa phương; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
UBND các huyện, thị xã, thành phố thường xuyên chỉ đạo, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo vệ động vật hoang dã tại địa phương.
Các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền, phổ biến các thông điệp kêu gọi không buôn bán, sử dụng động vật hoang dã. (UBND Tỉnh Phú Yên 3/2) đầu trang(
Việt Nam sẽ là nước chủ nhà của hội nghị giải quyết tình trạng buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã (IWT) sắp tới tháng 11/2016 tại Hà Nội và Anh quốc với tư cách là nước chủ nhà đầu tiên của IWT cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc bảo vệ động vật hoang dã.
Hướng tới Hội nghị Quốc tế giải quyết tình trạng buôn bán bất hợp pháp các sản vật từ động vật hoang dã (Illegal Wildlife Trade - IWT) lần thứ ba sẽ được tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam vào tháng 11/2016, Anh quốc với tư cách là nước chủ nhà đầu tiên của hội nghị IWT 2014 ở London đã bày tỏ cam kết mạnh trong việc bảo vệ động vật hoang dã. Hội nghị IWT lần đầu tổ chức ở London xây dựng và củng cố giải quyết tình trạng buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp. Hội nghị IWT thứ 2 tổ chức ở Boswana giúp duy trì động lực cho các cam kết này.
Trong một buổi họp báo mới đây, Đại sứ Anh quốc tại Việt Nam Giles Lever cho biết tại hội nghị London, hơn 40 quốc gia đã cam kết sẽ đảo ngược tình trạng buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây thông qua tăng cường luật và cải thiện điều kiện sống bền vững cũng như phát triển kinh tế để giảm tình trạng săn bắn động vật hoang dã.
Anh quốc rất tự hào Việt Nam sẽ là nước chủ nhà của hội nghị sắp tới vào tháng 11 và Anh quốc đã và đang hỗ trợ Việt Nam, thông qua quan hệ Đối tác Chiến lược và hỗ trợ kỹ thuật cũng như tài chính cho Việt Nam về vấn đề bảo vệ động vật hoang dã.
Nhiều năm qua, chính phủ Anh đã tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ quốc tế để chống lại các hoạt động buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp, nâng cao nhận thức thông qua facebook, tịch thu động vật hoang dã bị buôn bán trái phép ở Hải Phòng và giúp bảo tồn loài khỉ langour ở Cát Bà. Tuy nhiên, để cứu giúp loài tê giác và tê tê trên toàn thế giới, chúng ta cần phải hành động nhanh chóng.
Đại sứ Anh cũng hy vọng, hội nghị lần tới tổ chức tại Việt Nam sẽ tạo khuôn khổ toàn diện cho việc giải quyết tình trạng buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp. Hy vọng rằng Việt Nam trong một phần ứng phó toàn cầu sẽ đẩy nhanh việc thực hiện Chỉ thị 3 về vấn đề này để hiện thực hóa cam kết ở London và Boswana.
Ở mức độ LHQ, nghị quyết đầu tiên của Đại hội đồng về giải quyết tình trạng buôn bán động vật hoang dã và kế hoạch hành động EU về vấn đề này cùng với hội nghị tổ chức tại Hà Lan sẽ diễn ra vào tháng 3 năm nay.
Anh quốc đã tài trợ cho một số dự án mang tính sáng kiến, chủ yếu thông qua Quỹ giải quyết tình trạng buôn bán động vật buôn bán hoang dã bất hợp pháp trị giá 10 triệu USD hoạt động tại 15 quốc gia. Cho tới nay, Anh quốc đã tài trợ cho 19 dự án phi chính phủ ở 15 quốc gia nhằm bảo vệ nhiều chủng loại động vật hoang dã. Ở Việt Nam, Anh đã hỗ trợ tài chính cho Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên (Wildlife Conservation Society) Quỹ cứu loài tê giác quốc tế (Save the Rhino International) và Tổ chức nhân đạo quốc tế (Humane Society International). (Sức Khỏe Và Đời Sống 5/2) đầu trang(
Lần đầu tiên ngay tại Việt Nam, du khách được trải nghiệm phong cách du lịch “khám phá xa xỉ” giữa không gian khoáng đạt của một trong những hòn đảo du lịch đẹp và hoang sơ bậc nhất.
Phú Quốc được mệnh danh là hòn đảo ngọc phía Tây Nam Tổ quốc. Quần đảo Phú Quốc có nhiều bãi biển đẹp trải dài từ phía Bắc đến phía Nam và tương truyền có tới 99 ngọn núi. Đất rừng Phú Quốc chiếm 62% tổng diện tích.
Vì vậy, không ngạc nhiên khi một dự án mang tầm vóc khu vực - vườn thú bán hoang dã đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam đến thời điểm hiện tại chọn Phú Quốc làm nơi tọa lạc. Mới ở giai đoạn 1, Vinpearl Safari đã có diện tích lên tới 380ha, chăm sóc và bảo tồn tới 3.000 cá thể thuộc 150 chủng loại động vật. Đây là bộ sưu tập động vật đồ sộ nhất Việt Nam với các loài thú quý hiếm như hổ Bengal, linh dương sừng xoắn, vượn cáo trắng đen... cùng những đàn có số lượng cá thể lớn chưa từng có như hồng hạc, tê giác, hươu cao cổ...
Ngoài ra, tại đây còn có bệnh viện thú ý lớn nhất Đông Nam Á với đội ngũ chuyên gia động vật hoang dã, bác sĩ thú ý giàu kinh nghiệm tới từ Úc, Ấn Độ... Ông Richard Edward Champion - Phó tổng quản lý phụ trách động vật Vinpearl Safari Phú Quốc cho biết: “Khí hậu và thổ nhưỡng Phú Quốc cũng khá tương đồng với quê hương của chúng. Để chăm sóc tốt, chúng tôi có các chế độ đặc biệt giúp động vật thích nghi tốt hơn”.
Công viên được chia thành hai khu khác biệt: khu vườn thú mở (open zoo) dành cho du khách đi bộ tham quan, nơi động vật được chăm sóc trong các khu chuồng mở; khu bán hoang dã (safari) nơi khách đi bằng xe chuyên dụng, trong khi động vật được sinh sống tự do. Đây là những trải nghiệm vô cùng độc đáo và mới mẻ với du khách trong nước - một trải nghiệm “hoang dã xa xỉ” gần trong tầm tay.
Những hành trình khám phá thế giới “một cách hoang dã” luôn được đánh giá là kiểu du lịch thượng lưu đối với thế giới phương Tây. Đơn giản bởi người ta không thể đưa cả vùng đất hoang sơ với những đồng cỏ rộng mênh mang, những đàn thú nhẩn nha dạo bước... đặt giữa không gian chật hẹp của đô thị. Những công viên bán hoang dã (safari) nổi tiếng nhất thế giới tại Nam Phi, Ấn Độ, Úc... đều là “đặc sản” từ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá còn được bảo lưu.
Đó cũng là nguồn tài nguyên báu vật được cất giữ tại Phú Quốc. Đặc biệt, năm 2006, Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang - trong đó có Phú Quốc - được UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”.
Bởi vậy, không chỉ là điểm đến du lịch không thể bỏ lỡ của Phú Quốc, Vinpearl Safari còn mang ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực giáo dục và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá tại Phú Quốc cũng như khu vực. Công viên Chăm sóc và bảo tồn động vật Vinpearl Safari nằm trong quần thể siêu dự án du lịch - nghỉ dưỡng Vinpearl Phú Quốc tại xã Gành Dầu, cực bắc Phú Quốc. (Người Đô Thị 5/2; Pháp Luật TP.HCM 7/2) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau vừa có chuyến đến kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trước, trong và sau Tết Nguyên đán tại các đơn vị trực thuộc.
Sau khi nghe báo cáo, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm lưu ý các đơn vị tăng cường tuần tra, bảo vệ rừng, đặc biệt là phòng cháy rừng khu vực rừng tràm U Minh Hạ trong những ngày Tết.
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo các hạt phân công lực lượng trực Tết phải đảm bảo quân số, đón Tết với tinh thần vui tươi, an toàn và tiết kiệm, bảo vệ tốt tài sản cơ quan và tham gia giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn đóng quân. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 9/2) đầu trang(
Hôm 11.2, do ảnh hưởng của vùng áp thấp nóng phía tây phát triển và mở rộng, làm nhiệt độ các khu vực trong tỉnh tăng dần, trời không mưa, ngày nắng, độ ẩm các khu vực đều giảm thấp gây ra khô hanh.
Lúc 13 giờ ngày 11.2, nhiệt độ không khí đo được tại các trạm khí tượng: Đồng Văn 19,8 độ C; Hoàng Su Phì 25,6 độ C; Bắc Mê 23,1 độ C; Bắc Quang 21,2 độ C; TP Hà Giang 21,4 độ C. Độ ẩm tại các khu vực phổ biến 60- 70%, riêng khu vực phía tây của tỉnh là 45-50% .
Đài Khí tượng thủy văn tỉnh dự báo: Thời tiết ấm và khô hanh khả năng còn kéo dài đến hết ngày 14. 2, nhiệt độ các khu vực tiếp tục tăng, độ ẩm tiếp tục giảm thấp. Do thời tiết hanh khô, độ ẩm giảm thấp, nên nguy cơ hỏa hoạn và cháy rừng tăng cao, đặc biệt là ở khu vực phía tây của tỉnh. Vì vậy trong sinh hoạt và trong sản xuất, nhân dân các địa phương trong tỉnh cần cẩn thận khi sử dụng điện, ga, củi lửa và các nguồn dễ gây cháy khác, để đề phòng hỏa hoạn và cháy rừng rất dễ xảy ra. (Báo Hà Giang 12/2) đầu trang(
Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai đang phát đi tin cảnh báo hanh khô và không mưa kéo dài rất dễ gây cháy rừng sau khi huyện Sa Pa khống chế thành công đám cháy rừng ở vùng đệm rừng quốc gia Hoàng Liên ngày 10/2 vừa qua.
Theo thông báo từ Đài khí tượng thủy văn tỉnh Lào Cai, từ ngày 10/2 trở đi trên do ảnh hưởng của vùng áp thấp nóng phía tây phát triển và tăng lên, tăng mạnh hơn là khu vực phía tây Bắc Bộ trong đó có địa bàn tỉnh miền núi Lào Cai.
Do đó tỉnh Lào Cai trời không mưa, ngày nắng kéo dài khiến nhiệt độ gia tăng, độ ẩm đồng loạt giảm thấp, trời khô hanh.
Đặc biệt, huyện vùng cao Sa Pa nơi vừa xuất hiện vụ cháy rừng quốc gia Hoàng Liên ngày 10/2 có gió núi Ô Quý Hồ nổi lên. Gió núi Ô Quý Hồ với bản chất ấm khô, độ ẩm thấp, tuy không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hỏa hoạn nhưng khi xuất hiện gió Ô Quý Hồ làm nguy cơ cháy nổ, cháy rừng tăng cao.
Dự báo thời tiết hanh khô, trời không mưa ở Lào Cai khả năng kéo dài đến hết ngày mùng 8 tết Bính Thân 2016( ngày 14/2). Nhiệt độ các khu vực trong tỉnh tiếp tục tăng cao, độ ẩm giảm thấp hơn, gió Ô Quý Hồ ở Sa Pa thổi mạnh thêm càng tăng thêm nguy cơ cháy rừng nếu không quản lý, bảo vệ rừng tốt.
Vì vậy Đài khí tượng thủy văn tỉnh Lào Cai phát tin cảnh báo thời tiết cực đoan kể trên và đề nghị các cấp chính quyền, lực lượng kiểm lâm, chủ rừng, cùng người dân các huyện trong tỉnh Lào Cai và thành phố Lào Cai cần tăng cường cao nhất công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng trong thời gian này.
Biện pháp tốt nhất là tăng số lần tuần tra, quan sát cháy trong ngày, nhất là khu vực rừng quốc gia Hoàng Liên, các cánh rừng thường hay xảy ra cháy,treo biển cấp báo động cháy hàng ngày nơi cửa rừng để mọi người qua lại được biết, nghiêm cấm triệt để việc đốt rừng để làm nương rẫy, sử dụng lửa trong rừng.
Tại cuộc họp rút kinh nghiệm sau khi tổ chức dập thành công vụ cháy rừng quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa ) ngày 11/2, ông Nguyễn Hữu Thể, Ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy Lào Cai, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai đã yêu cầu cơ quan chức năng của huyện Sa Pa và tỉnh Lào Cai khẩn trương điều tra làm rõ nguyên nhân, thủ phạm làm cháy rừng ngày 10/2 tại xã Tả Van để xử lý theo quy định pháp luật.
Tiếp đó ông Nguyễn Hữu Thể, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai cùng các cơ quan chức năng đi thị sát công tác phòng chống cháy rừng ở huyện vùng cao Văn Bàn là nơi có nguy cơ cháy rừng cao của tỉnh Lào Cai.
Ngày 11/2 trên mạng thông tin điện tử của Cục Kiểm lâm phát tin cảnh báo cháy rừng và bản đồ chụp các điểm cháy từ vệ tinh hồi 13 giờ 40 phút trên địa bàn tỉnh Lào Cai có tới 9 điểm cháy tại một số huyện như Văn Bàn có tới 5 điểm cháy ở xã Nậm Chày, ,huyện Mường Khương có 2 điểm cháy ở xã Dìn Chin và xã Lùng Vai, huyện Bát Xát 1 điểm ở xã Dền Sáng, huyện Bảo Yên có 1 điểm cháy ở xã Vĩnh Kiên và yêu cầu chi cục kiểm lâm tỉnh Lào Cai phối hợp với chính quyền cơ sở kiểm tra các điểm báo cháy, nếu là cháy rừng phải tổ chức cứu chữa ngay. (Tài Nguyên Và Môi Trường 12/2) đầu trang(
Xác định thời điểm Tết cổ truyền của dân tộc trùng với thời điểm mùa khô, nguy cơ cháy rừng tràm có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã triển khai nhiều giải pháp chủ động phòng chống cháy rừng.
Vườn Quốc gia U Minh Hạ hiện đang quản lý hơn 8.500 ha rừng tràm, đây là một phần của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau, vì lẻ đó công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được thực hiện nghiêm ngặt, nhất là thời điểm mùa khô.
Để chủ động phòng chống cháy rừng, đơn vị đã cho bố trí mạng lưới trạm, chốt, phân công lực lượng túc trực 24/24h; đắp các đập giữ nước; tổ chức xây dựng lực lượng Quản lý bảo vệ rừng – Phòng cháy chữa cháy rừng; thường xuyên kiểm tra trang thiết bị thông tin liên lạc, máy móc phòng cháy chữa cháy; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường giao thông, phát dọn cỏ, lau sậy để phương tiện dễ lưu thông phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Đồng thời, đơn vị cũng ra sức tuyên truyền, vận động nhân dân sinh sống xung quanh khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia nâng cao nhận thức, phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Theo nhận định của Ban Giám đốc Vườn Quốc gia, mùa khô năm nay dự kiến khắc nghiệt hơn mọi năm do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino kéo dài. Thời điểm này, một phần diện tích rừng trong Vườn Quốc gia đang ở mức báo động cháy cấp 2. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 12/2) đầu trang(
Toàn huyện Bác Ái có trên 102.728 ha đất có rừng, chiếm gần 50% diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh.
Đây là vùng rừng phòng hộ quan trọng của tỉnh ta, nơi thượng nguồn sinh thủy của dòng sông Cái Phan Rang. Cấp ủy, chính quyền và các ngành chức năng địa phương huy động các nguồn lực xã hội tích cực tham gia tăng cường phòng cháy rừng và quyết liệt chống phá rừng mùa khô năm 2016.
Trở lại huyện Bác Ái trong dịp Tết Nguyên đán Bính Thân, chúng tôi gặp lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Sắt tuần tra bảo vệ và phòng chống cháy ở các vùng rừng trọng điểm thuộc xã Phước Đại, Phước Chính. Đây là thời điểm “lâm tặc” thường xuyên khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Chỉ tay vô 11 lóng gỗ có đường kính 60- 80 cm, anh Lê Thanh Bích, kiểm lâm viên xã Phước Chính cho biết:” Ngày 5-2, lực lượng tuần tra phát hiện, thu giữ 1,4 m3 gỗ nhóm 5 khai thác trái phép tại vùng rừng giáp ranh Phước Đại- Phước Chính. Kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền cơ sở đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân về công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng mùa khô 2016”.
Diện tích rừng trên địa bàn huyện Bác Ái đã giao cho các đơn vị và cộng đồng dân cư nhận khoán quản bảo vệ 10.168 ha. Bác Ái là địa bàn có nguồn tài nguyên rừng phong phú thu hút các đối tượng phá rừng đến khai thác lâm sản trái phép và thường xảy ra cháy vào những tháng mùa khô.
Trong năm 2015 vừa qua, tuy thời tiết khô hạn khốc liệt nhờ thực hiện tốt công tác chủ động phòng chống cháy nên toàn huyện chỉ xảy ra 13 vụ cháy rừng trên diện tích 8,7 ha. Các địa phương huy động các tổ đội bảo vệ rừng và nhân dân kịp thời tham gia dập lửa nên tránh được tình trạng cháy lan. Toàn huyện phát hiện, xử lý 194 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tịch thu 241 mét khối gỗ và 61 chiếc xe máy; thu nộp ngân sách trên 1.414 triệu đồng.
Điều đáng lo ngại trong công tác bảo vệ rừng hiện nay ở Bác Ái là tình trạng khai thác lâm sản trái phép diễn ra trên phạm vi rộng thu hút nhiều đối tượng tham gia. Lãnh đạo địa phương chỉ đạo các ngành chức năng nâng cao tinh thần trách nhiệm quyết liệt giữ rừng mùa khô 2016.
Toàn huyện đã thành lập Ban chỉ huy bảo vệ rừng cấp huyện gồm 36 thành viên phân công phụ trách địa bàn 9 xã xây dựng 43 tổ đội với 548 đội viên tham gia phòng chống cháy rừng mùa khô theo phương châm “4 tại chỗ”. Các địa phương đã tiến hành phát ranh cản lửa, chủ động đốt chặn ở các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng. Do thời tiết năm nay mưa muộn nên đến trung tuần tháng 2 trên địa bàn huyện dự báo cháy rừng ở cấp II, cấp trung bình; giảm 2 cấp so với cùng thời điểm năm 2015.
Đồng chí Trần Thanh Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bác Ái cho biết theo dự báo tình hình khô hạn năm 2016 tiếp tục kéo dài nên các vùng rừng thuộc địa bàn huyện Bác Ái có nguy cơ cháy cao.
Lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng và chính quyền các xã tăng cường công tác bảo vệ rừng, tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Đồng thời thường xuyên tuần tra, kiểm soát tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại tài nguyên rừng trong mùa khô 2016. (Báo Ninh Thuận 11/2) đầu trang(
Là khu Ramsar thứ 2.227 của thế giới nhưng thật lạ lùng, Láng Sen vẫn chưa được đánh dấu trên bản đồ của Google map, bởi dân du lịch rất ít “check in” vùng đất này. Và có lẽ đó là một sự may mắn, giúp Láng Sen vẫn còn hoang sơ, trở thành “tổ chim” khổng lồ của Đồng Tháp Mười.
Gần như mùa lũ năm nào chúng tôi cũng có những chuyến đi dọc ngang Đồng Tháp Mười. Và dù từng đặt chân nhiều lần dọc tuyến kênh 79 qua Láng Sen ở các xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Vĩnh Châu A thuộc huyện Tân Hưng, Long An nhưng chúng tôi đều... lướt qua và chọn Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), cách đó hơn 30km, làm điểm dừng chân.
Bởi Láng Sen chỉ là một khoảng xanh chiếm chưa tới 20% diện tích của Tràm Chim. Sự quên lãng ấy kéo dài cho đến khi Láng Sen được công nhận là khu Ramsar, chúng tôi mới tìm về vùng bồn trũng này.
5g sáng, chúng tôi vượt ngang kênh 79 bằng một chiếc xuồng chèo nhỏ, rừng tràm vẫn còn tối mịt, bắc tay hú một tiếng, bờ bên kia anh Nguyễn Linh Em - nhân viên khu bảo tồn Láng Sen - đang chờ sẵn, giật máy chiếc vỏ lãi sang đón khách. Trời mờ sương, chiếc vỏ lãi được Linh Em điều khiển thuần thục xé nước đi vào giữa rừng tràm bạt ngàn.
Linh Em vừa gạt tay máy, vừa tranh thủ giới thiệu: “Toàn bộ Láng Sen được chia làm 12 tiểu khu với tổng diện tích 4.802 ha. Khu vực chúng ta đang đi vào là vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt, có diện tích khoảng 2.000 ha...”.
Đi chừng 3km, khi cả nhóm bắt đầu... nản vì thỉnh thoảng chỉ gặp vài con cò hay gà nước, điên điển bị động bay lên, thì Linh Em cho dừng lại ở một cánh đồng xanh bạt ngàn. “Đồng lúa ma đó các anh, cả vườn có khoảng 50ha lúa ma như thế này.
Đến mùa, ở đây có cho người dân vào thu hoạch theo cách thức truyền thống” - Linh Em giải thích. Có tiếng người, một đàn vịt trời quang quác bay lên từng vòng trên trời rồi lại đáp xuống. Dường như cả vùng đồng xanh bao la phía trước chỉ có một vài đàn vịt trời và mấy con chim bói cá mà phải quen mắt như Linh Em mới thấy được.
“Có lẽ chim bay đi ăn hết rồi” - Linh Em nói tỉnh bơ, như trêu các ống kính máy ảnh của chúng tôi đang lăm lăm chờ chụp chim. Lại lên vỏ lãi đi tiếp. Đi tiếp một đoạn, bỗng Linh Em cho ngừng máy vỏ lãi rồi hỏi: “Các anh nghe thấy gì không?”. Vỏ lãi tắt hẳn, lúc này chúng tôi mới để ý, một mớ âm thanh hỗn độn, rầm rì, xao xác từ phía bên kia rừng tràm vọng lại. Linh Em đưa chúng tôi lên bờ đê cao khuất tầm mắt, nhìn về nơi xuất phát của mớ âm thanh kia.
“Tổ chim 200ha đó, rất ít ai vào được” - Linh Em chỉ tay về phía trước. Cả một lũng trấp ngấp nghé nước, những vạt rừng tràm mọc hoang dại một cách tự nhiên hiện ra trước mặt chúng tôi. Và trên những ngọn tràm đó đều phủ kính đủ loại màu sắc trắng, xám, đen... của chim, cò.
Những âm thanh mà chúng tôi đang nghe đích thị là âm thanh của cả một “cộng đồng chim” phía trước mắt. Hàng ngàn con chim thản nhiên bay lên bay xuống, rợp cả một vùng. Từng đi rất nhiều vườn quốc gia, từ Núi Chúa, Nam Cát Tiên đến Tràm Chim, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Mũi Cà Mau... chúng tôi chưa bao giờ thấy được một cảnh tượng chim tụ tập nhiều đến vậy.
Để chúng tôi lại ngay bờ đê, Linh Em một mình chống vỏ lãi vào gần những bầy cò đang đậu trắng cả một vùng tràm. Linh Em đập mái chèo xuống nước, cả bầy cò dáo dác bay lên, đảo một vòng, rồi quay về chỗ cũ.
Linh Em cười ha hả: “Tụi nó quen hơi em nên chỉ em vào tụi nó không sợ, người lạ vào là tụi nó cảnh giác liền”. Linh Em cho biết rừng tràm này cũng là nơi đầu tiên các nhà nghiên cứu thực vật thấy được cò ốc làm tổ. “Thỉnh thoảng báo chí hay đưa tin hàng ngàn con cò ốc về Tràm Chim. Nhưng chúng chỉ về đó ăn, tới bây giờ chỉ có Láng Sen là nơi duy nhất ở Việt Nam tìm thấy cò ốc làm tổ” - Linh Em nói thêm.
Tiến sĩ Lê Phát Quới , Viện tài nguyên và môi trường (ĐH Quốc gia TP.HCM) nói: “Nếu Tràm Chim là sân chim thì có thể nói Láng Sen là tổ chim của Đồng Tháp Mười. Láng Sen còn là khu vực trung tâm mang tính đặc trưng và đa dạng về sinh học nhất của cả vùng Đồng Tháp Mười”.
Là một trong những người lập bản đồ sinh học cho nhiều vườn quốc gia như Tràm Chim, U Minh..., ông Quới cho biết Láng Sen có đặc trưng mà nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long không có được, vì đây là một bồn trũng có cao độ chỉ từ 0,42-1,8m so với mực nước biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long, được tiếp nước chủ yếu do các kênh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long như kênh Hồng Ngự - Long An, kênh 79, kênh 28 và sông Lò Gạch, đầu nguồn sông Vàm Cỏ Tây...
“Có nhiều nơi ngập quanh năm như rạch Cá He, Cái Nổ, bàu trũng Láng Sen... có nhiều con cá trong Sách đỏ thế giới như tra dầu, được xem là thủy quái của đồng bằng sông Cửu Long” - ông Quới nói thêm.
Không chỉ thế, qua khảo sát, hiện tại Láng Sen được thống kê có đến 156 loài thực vật, 149 loài động vật có xương sống (không kể lớp cá)... Trong đó có 13 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 10 loài nằm trong Sách đỏ thế giới.
Ông Quới hồ hởi nói: “Việc ghi nhận sẽ còn tiếp tục, tuy nhiên có thể nói ở Láng Sen có điều đặc biệt hơn các nơi khác là cò ốc, quắm đen, quắm trắng đều có làm tổ. Những loài chim quý như già đẫy, diệc lửa, diệc xám, cò ma, cò lông trĩ chân xanh, trích, còng cọc, giang sen, chim suốt, vịt trời, le le, dòng dọc, điên điển, bói cá... nơi khác khó thấy chớ vào đây quần quần một hồi là thấy liền”.
Cách đây hơn hai tháng, trong lúc đang đi công tác, ông Qưới nhận được một bức ảnh của Linh Em gửi sang làm ông “mừng hết biết”. Đó là bức hình chụp một chú mèo cá ngay khu vực phía sau nhà trung tâm của khu bảo tồn. Đây là một trong những loài mèo quý hiếm được Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế xếp vào tình trạng bị đe dọa, rất hiếm thấy.
Lúc trở về nhà trung tâm của khu bảo tồn, chúng tôi được Linh Em cho đi qua một con lạch đặc rền bèo tấm, ngang qua những vườn sen bạt ngàn. Đi cung đường này, cứ một đoạn lại gặp từng đàn điên điển, cò ốc bị động vụt bay lên huyên náo cả góc rừng. Mùa sen đã qua nhưng vườn sen nơi đây vẫn lác đác bông. “Sen ở khu vực này tuyệt đối không cho bất cứ ai đụng vào, nên cứ nở, tàn tự nhiên” - ông Trương Thanh Sơn, giám đốc khu bảo tồn Láng Sen, khẳng định.
Thỉnh thoảng thấy một vài xác cá tra to bằng bắp chân người nổi lềnh bềnh trên nước. Một tiếng quẫy “tùm” gần đó khiến tất cả chúng tôi giật mình, vỏ lãi chênh chao. Ông Sơn lại giải thích tiếp: “Ở đây, cá tra, cá lóc bông to trên 20kg còn rất nhiều. Những con chết nổi là do bị con lớn hơn tấn công. Chúng tôi vẫn để tự nhiên như vậy”.
Dù hoàn toàn để tự nhiên trong khu vực 2.000 ha với hơn 12 trạm bao quanh có người túc trực thường xuyên, nhưng ông Sơn cho hay việc bảo vệ cũng không ít khó khăn khi gần 2.000 ha còn lại của khu bảo tồn lại là lâm trường đang được cho khai thác. “Vùng đệm xung quanh rút nước thì trồng lúa, nước lên thì đơn vị quản lý là Lâm trường Vĩnh Lợi lại cho khai thác đánh bắt thủy sản. Do đó hễ chim, cá vượt ra khỏi phạm vi 2.000 ha canh gác của chúng tôi là... khó sống” - ông Sơn nói.
Cũng theo ông Sơn, một trong những lý do để Láng Sen không thể trở thành vườn quốc gia bởi diện tích thật sự bảo tồn không đủ chuẩn. Những vùng như khu “tổ chim 200ha” có đường biên giáp với khu dân cư xung quanh cũng là một thách thức không nhỏ cho những người làm công tác bảo tồn.
Trong khi đó, ông Sơn cho biết ngoài kinh phí được cấp hằng năm vừa đủ để trả lương cho cán bộ, các hoạt động bảo tồn khác chủ yếu dựa vào nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ. Năm 2015 vừa qua, một nguồn vốn khoảng 30.000 euro được sử dụng cho đề án xây dựng các mô hình chăn nuôi, trồng thủy sản xoay vòng đối với 120 hộ dân xung quanh vườn. Hiện còn rất nhiều điều phải làm để khu này không bị đe dọa.
Nói thêm về câu chuyện này, tiến sĩ Lê Phát Quới nhận định: “Loài chim có giác quan rất mạnh trong cảm nhận sự an toàn. Hiện tại chúng vẫn làm tổ ở đây vì an toàn. Một mùa làm tổ thường gây tổn hại đến cả một rừng tràm vì ngọn tràm bị gãy, suy tàn do chim đậu. Chúng lại di chuyển vòng quanh sang khu tràm mới, loanh quanh trong khu vực 200 ha”.
Nhưng 2.000 ha là rất ít so với thực trạng sinh nở của các giống loài hiện có nơi đây. Ông Quới lo ngại đến khi các loài chim, cò phải mạo hiểm rời “khu vực an toàn” đi tìm thức ăn xung quanh. “Do đó việc mở rộng vùng đệm cách ly để các giống loài thuận lợi hơn nữa trong việc sinh sôi sớm muộn cũng phải tính tới” - ông Quới kết luận. (Tuổi Trẻ 13/2) đầu trang(
Tết Nguyên đán là dịp mọi người nghỉ ngơi, hương khói tổ tiên, thăm viếng người thân, bạn bè..., thế nhưng, vì sự bình yên của những cánh rừng, các cán bộ, nhân viên kiểm lâm, bảo vệ rừng vẫn làm việc, ngày đêm lặng lẽ tuần tra, canh trực.
Biết lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Hòa Vang có chuyến chúc Tết và kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng tại các trạm trực thuộc vào sáng mồng 2 Tết, chúng tôi tranh thủ “bám càng”. Và chuyến ngược núi ngày đầu năm mới này giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về nhiệm vụ và sự gian nan của những người giữ rừng.
Sáng mồng 2 Tết, Trạm Kiểm lâm Hòa Bắc vẫn đông đủ đội hình 4 cán bộ nhân viên, trong đó một nhân viên hợp đồng là người Cơ Tu. Khi chúng tôi đến, tổ tuần tra vừa về đến trạm chừng dăm phút, xe máy vẫn còn bám đầy bùn đất.
Anh Trần Hữu Vinh, kiểm lâm viên phấn khởi cho biết, trước Tết có sự tăng cường của Hạt, trạm phối hợp cùng lực lượng địa phương mở nhiều đợt tuần tra, truy quét nên tình trạng khai thác lâm sản trái phép trong dịp này hầu như không còn.
Việc tuần tra, canh trực chủ yếu ngăn chặn vận chuyển lâm sản trái phép trên đường sông, đường bộ. Liên tục mấy ngày nay, qua tuần tra, kiểm soát, không phát hiện dấu hiệu rừng bị xâm hại và lâm sản được vận chuyển trái phép về xuôi.
Đã 5 năm là cộng tác viên đắc lực cho Trạm Kiểm lâm Hòa phú, anh Đinh Văn Như, Bí thư chi bộ thôn Giàn Bí rất có kinh nghiệm trong nắm bắt mọi động tĩnh về hành vi phá rừng tại địa phương.
Anh cho biết, những kẻ phá rừng theo dõi khá chặt mọi hoạt động của kiểm lâm. Mấy ngày qua, nhận thấy việc tuần tra canh trực của kiểm lâm rất nghiêm ngặt, những người có ý đồ vào rừng khai thác gỗ trái phép đành chịu thúc thủ. Hơn nữa, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ rừng với quy ước, ai tham gia hoặc tiếp tay cho lâm tặc phá rừng sẽ không được nhận đất lâm nghiệp để trồng rừng đã phát huy tác dụng. Đến nay có thể lạc quan khẳng định, số người tiếp tay cho lâm tặc là người địa phương khác đến ở Tà Lang, Giàn bí không còn.
Qua kiểm tra và tìm hiểu trong nhân dân, ông Lê Đình Thám, hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa vang rất hài lòng với tinh thần và trách nhiệm tuần tra, canh trực trong mấy ngày Tết của các trạm cửa rừng. Ông cho biết: năm 2015, mặc dù công tác bảo vệ được tăng cường, song vẫn xảy ra một số vụ phá rừng khá nghiêm trọng. Hạt đã nghiêm túc kiểm điểm và rút kinh nghiệm. Năm nay, hạt đề ra mục tiêu không để tình trạng phá rừng xảy ra trên lâm phận được giao.
Có mặt tại Trạm Kiểm lâm Hòa Phú, theo ghi nhận của chúng tôi việc canh trực tại đây rất nghiêm túc. Ông Huỳnh Đình Quế, trạm trưởng cho biết: trạm chỉ 4 cán bộ, nhân viên, nhưng lúc nào cũng có 3 người, 1 người trực tại barie, 2 người đi tuần tra dọc tuyến ĐT 604. Mấy ngày Tết năm nay rất bình yên, tuyệt nhiên không hề có tình trạng vận chuyển gỗ lậu từ rừng về xuôi.
Điều tương tự cũng diễn ra tại các trạm của Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa. Ông Phan Tiến Dũng, Trưởng ban Quản lý bảo vệ rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa cho biết: lâm tặc thường lợi dụng dịp Tết để khai thác vận chuyển lâm sản trái phép. Tết năm nay, cả 5 trạm đều duy trì quân số 3-4 người, liên tục tuần tra, canh trực. Đến nay, chưa có trạm nào phát hiện có dấu hiệu tác động vào rừng và vận chuyển lâm sản trái phép về xuôi. (Báo Đà Nẵng 13/2) đầu trang(
Lần đầu tiên ở Việt Nam, các chuyên gia thuộc Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) phát hiện vượn đen tuyền – loài linh trưởng nguy cấp nhất trên thế giới, hiện có hàng trăm cá thể ở rừng Tây Bắc.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào chụp được ảnh của loài vượn đen tuyền thuộc khu vực hiểm trở này. PV Báo LĐ&XH đã nhập cuộc và may mắn chụp được hai bức ảnh về vượn đen tuyền.
Theo báo cáo sơ bộ của FFI, chỉ còn khoảng 1500 cá thể vượn đen tuyền, chúng phân bố rải rác ở các nước Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Trong đó, Việt Nam là nơi cư ngụ của nhiều cá thể vượn đen nhất Đông Nam Á. Đó là khu bảo tồn Mù Cang Chải, với những cánh rừng rộng tiếp giáp với rừng phòng hộ của huyện Mường La (Sơn La) tạo cho loài vượn đen tuyền một “vương quốc” riêng biệt để có thể sống và tồn tại.
Ông Sòi Ngọc Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La hào hứng cho biết: “Nhiều chuyên gia một thời từng nhầm lẫn giữa vượn đen tuyền với những loài vượn đen thông thường khác. Ngay cả dân bản, những người sống với rừng cũng chẳng biết đó là loài vượn gì. Tiếng hú của chúng là “linh hồn” rừng già, nếu ai may mắn được nghe tiếng hú ấy mới có thể cảm nhận được hết những kỳ thú của thiên nhiên”.
Ông Quàng Văn Toàn, Tổ trưởng Tổ tuần tra bảo vệ rừng thuộc xã Ngọc Chiến (huyện Mường La) là người gắn bó với rừng phòng hộ từ khi còn trẻ và cũng là người tâm huyết trong việc khảo sát và bảo vệ vượn đen tuyền cho biết thêm: “Ngày xưa, khi rừng chưa bị tàn phá, ngoài các loại thú như hổ, báo, nai, hoẵng, gấu thì những con vượn đen luôn là bí ẩn với dân bản.”
FFI khẳng định, loài vượn đen tuyền là “của trời cho” vùng Tây Bắc. Còn ông Sòi Ngọc Dũng cho rằng, đó là “vàng đen” của Việt Nam. Các thành viên trong nhóm Tuần tra bảo vệ rừng nhẩm tính số lượng vượn đen tuyền phải trú ngụ trong rừng lên tới hàng trăm con.
Ông Sòi Ngọc Dũng tiết lộ: “Loài vượn đen tuyền rất tinh khôn, chúng có thể cảm nhận “mùi nguy hiểm” cách xa hàng cây số. Cho nên để “tận mục sở thị” được loài vượn này là rất khó. Các chuyên gia bảo tồn của FFI đã nhiều lần kết hợp với nhóm tuần rừng của ông Quàng Văn Toàn đi khám phá “vương quốc” của vượn đen tuyền, nhưng hầu hết các chuyến đi đều thất bại.
Ông Trần Ngọc Huệ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường La cho biết, trước đây vượn đen tuyền từng bị “xẻ thịt” một cách không thương tiếc. Các chuyên gia bảo tồn sau khi đến Mường La đã thấy những xương cốt, sừng vuốt của thú rừng treo trên tường nhà và đã phải bật khóc cho những con thú bị săn bắt.
Trong chuyến “săn ảnh” linh trưởng quý trong rừng, đoàn chúng tôi gồm ông Quàng Văn Toàn, anh Lò Văn Đoàn, người dân tộc Thái, anh Lường Văn Hoàng dân tộc La Ha, anh Sùng A Giạng dân tộc Mông và tôi.
Cuộc khởi hành bắt đầu từ 7 giờ sáng. Trên lưng các thành viên lỉnh kỉnh chăn màn, xoong nồi, gạo nước và thịt hun khói. Những con dốc phải leo qua ở vùng đệm của khu rừng không khó đểchinh phục. Nhưng vào đến vùng trong thì phải cực khoẻ và dẻo dai thì mới không bị khuỵ ngã. 12 giờ trưa, chúng tôi nghỉ ngơi bên bờ con suối nhỏ vắt ngang khu rừng. Mọi người ăn xôi nếp đã nấu sẵn kèm theo lạp xường ướp mặn hun khói cùng một ít rau dại.
Tại đây, chỉ còn cách khu ở của vượn đen chừng hơn 10 cây số. Thế nhưng, 10 cây số đó cũng là thách thức khủng khiếp nhất với những người đi rừng. Theo ông Toàn, năm ngoái một chuyên gia của FFI đã ốm liệt 3 ngày sau khi vượt qua 10 km ấy. Sau mấy chục lần nghỉ ngơi lấy sức, đúng 5 giờ chiều, chúng tôi mới đến được “lõi rừng” cách nơi vượn ở chừng 2 cây số. Trưởng nhóm quyết định hạ trại nghỉ ngơi.
Đúng 3 giờ sáng hôm sau, chúng tôi lại “hành quân” đến nơi vượn ở để “phục kích”, nhằm chụp được bức ảnh về loài linh trưởng này. Nơi vượn ở, cách chúng tôi hạ trại chỉ 2km, nhưng phải mất 3 tiếng đồng hồ hì hục trườn bò, luồn lách qua lớp đá trơn trượt và đống gai rừng. Khoảng 6 giờ sáng, chúng tôi đến nơi và tiếp tục trèo lên một cây dẻ cao gần 20 mét để nhìn ra xa. Đúng 6 giờ 15, tiếng hú của vượn cái đánh thức muôn vật trong khu rừng.
Tiếp đó là tiếng một con đực hú theo, và tiếp nữa là tiếng vượn con. Nhưng không ai nhìn thấy chúng đâu. Sau những sốt ruột, cuối cùng 3 con vượn này cũng xuất hiện cách chúng tôi khoảng 1 cây số ở độ cao 1700m. Anh Lò Văn Đoàn đem máy định vị ra đo, ở đúng 3300 Bắc. Vượn đực màu đen, vượn cái màu vàng nhạt ôm theo vượn con đang nhảy nhót trên các cành cây.
Chúng hú gọi nhau chào buổi sáng và phải rất khó khăn, chúng tôi mới chụp được hai bức ảnh về loài vượn đặc biệt này. Chỉ 5 phút sau, gia đình vượn phát hiện bị theo dõi nên hú nhau chạy vào rừng sâu. Kiểm tra ảnh, chúng tôi hơi thất vọng vì ảnh mờ và xa. Chỉ thấy những chấm đen và chấm vàng đang đu đẩy trên cây. Tuy nhiên, ông Toàn vui mừng: “Như vậy đã là thành công rồi, chưa có ai chụp được ảnh chúng đâu”.
Thu xếp đồ đạc, chúng tôi lại xuôi những dốc đá cheo leo ra phía bìa rừng. Sự mệt mỏi hằn rõ trên những khuôn mặt đầy nắng gió. Nhưng trong những ánh mắt ấy, lộ rõ những niềm vui khôn tả. Rồi đây, rừng phòng hộ Mường La sẽ được công nhận là khu bảo tồn. Loài vượn đen sẽ được bảo vệ, cả thế giới sẽ biết điều đó.
Vượn đen tuyền, danh pháp khoa học là Nomascus concolor có hình dáng thon mảnh, chân tay dài, không có đuôi. Con đực trưởng thành màu đen tuyền, cái con màu vàng nhạt. Vượn đen tuyền chỉ kiếm ăn trên cao, rất ít khi xuống đất. Chúng sống theo đàn, mỗi đàn từ 2 – 5 con. Hiện ở khu bảo tồn Mù Căng Chải và Mường La tồn tài khoảng dưới 100 cá thể. Vượn đen tuyền được xếp vào nhóm nguy cấp trong sách Đỏ thế giới.
“Loài vượn đen tuyền có mặt ở nước ta là một điều may mắn. Tuy nhiên, công tác bảo vệ cần phải được quan tâm tối đa nếu không rất có thể loài vượn quý hiếm này sẽ tuyệt chủng. Trải dài từ khu bảo tồn Mù Căng Chải sang tận các xã của huyện Mường La, nên các thành viên nhóm Tuần tra phải rất vất vả leo đồi lội suối để bảo vệ loài linh trưởng này”, ông Sòi Ngọc Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La cho biết. (Dân Sinh 12/2) đầu trang(
Nhiều lần cất công ra Ninh Vân (Ninh Hòa, Khánh Hòa) để tìm xem đàn voọc chà vá chân đen trên dãy Hòn Hèo, nhưng chưa lần nào tôi được mãn nguyện. Vì thế, lần này tôi lại khoác ba lô lên đường…
Vầng đông vừa hé, tôi cùng anh Phạm Văn Trung (người dẫn đường) có mặt ở bìa rừng, rồi men theo con đường mòn hướng về thùng (thung lũng nhỏ) Cây Trang, nơi người đi rừng nhiều lần bắt gặp loài voọc chà vá chân đen quý hiếm. Đường đến thùng Cây Trang càng lúc càng khó đi, những bụi gai nhọn kết thành từng mảng, những con dốc dựng đứng như thách thức quyết tâm của chúng tôi.
Theo lời kể của anh Trung, khi đi rừng tìm cây cảnh, anh đã từng nhìn thấy đàn voọc lên đến hàng chục con. Anh nói: “Đàn voọc này sinh hoạt có giờ giấc lắm! Khoảng từ 9 -10 giờ sáng chúng chuyền cành đi tìm thức ăn (các loại lá như: ngũ gia bì, lá cóc, trái say...), đến trưa ngủ vắt vẻo trên các cành cây cao, rậm lá rất khó quan sát. Muốn thấy voọc phải đến được thùng Cây Trang khi chúng đi kiếm ăn”.
Hơn 3 giờ đồng hồ vượt rừng, đến được thùng Cây Trang, đôi chân tôi căng cứng, hơi thở phì phò. Chúng tôi ngụy trang và im lặng “mật phục” trên một gộp đá, căng mắt quan sát gần 1 tiếng đồng hồ khắp các sườn núi nhưng không thấy dấu hiệu của voọc chà vá chân đen. Đang uể oải, bất chợt anh Trung bảo: “Tôi thấy có động ở phía bên kia sườn núi. Hình như đàn voọc đang di chuyển qua mấy tảng đá”. Đảo mắt xung quanh, tôi không thấy voọc mà chỉ thấy mấy con dê hoang đang nhởn nhơ gặm lá bên vách núi.
Hòn Hèo mùa này, những cơn mưa rừng cứ đỏng đảnh, chợt đến, chợt đi. Chờ mãi chẳng thấy, tôi chán nản, định bỏ cuộc thì anh Trung reo lên: “Voọc kìa! Voọc kìa, một đàn luôn!”. Nhìn về phía anh Trung chỉ, tôi tận mắt chứng kiến đàn voọc quý ở Hòn Hèo, với đặc trưng là chiếc đuôi dài, trắng tinh và tứ chi một màu đen tuyền. Thế nhưng, mất cả ngày trời để chỉ nhìn thấy những con voọc bé như con sóc nhảy nhót trên ngọn cây xa tít, tôi không cam lòng.
“Có cách nào tiếp cận với chúng không?”, tôi hỏi. Anh Trung bảo tôi kiên nhẫn đợi, ngụy trang thật khéo, thế nào chúng cũng di chuyển từ dưới thung lũng lên phía trên đỉnh núi và sẽ đi qua những cây trang cách chúng tôi chừng hai, ba trăm mét.
Và rồi... những con voọc di chuyển lên đỉnh núi Cây Trang một lúc một nhiều, khoảng hơn 50 con. Còn chúng tôi cứ mải mê đuổi theo đàn voọc từ thùng Cây Trang sang thùng Cây Cừa cho đến khi chiều nhạt nắng, những làn gió biển từ đầm Vân thổi vào mát rượi.
Đêm ở làng chài thôn Đông êm ả, lũ trẻ con chơi trò đuổi bắt trên bãi biển, tiếng sóng vỗ bờ hòa cùng tiếng gió. Trò chuyện với lãnh đạo và người dân xã Ninh Vân, chúng tôi được nghe họ kể nhiều câu chuyện về loài voọc.
Bà Trà Thị Bông Sen - Chủ tịch UBND xã Ninh Vân chia sẻ: “Ngày xưa, rừng Hòn Hèo có rất nhiều voọc, hàng chục bầy. Chỉ tính riêng bầy voọc sống ở mũi Hòn Cỏ gần làng còn nhiều hơn số dân trong xã”. Từ khi cánh thợ săn lên núi Hòn Hèo lùng bắn voọc về nấu cao thì đàn voọc bị đe dọa dữ dội, số lượng cá thể giảm sút nghiêm trọng. Đàn voọc “biến mất” trong một thời gian dài! Bây giờ đàn voọc đã quay trở lại, ngày một nhiều hơn. Hiện ở Ninh Vân có 5 đàn voọc, 2 đàn ở mũi Đá Chồng - thùng Cây Trang, 2 đàn ở thùng Ba Dao - suối Cát, 1 đàn ở mũi Cỏ, số lượng cá thể mỗi đàn khoảng 50 - 60 con.
Tìm hiểu thêm về voọc chà vá chân đen, tôi lại được nghe câu chuyện thú vị về “ông Tây kiểm lâm” có tên là Syvio Lamarche, người Canada; hiện là chủ của Khu du lịch Jungle Beach (Ninh Tịnh, Ninh Phước, Ninh Hòa), nằm ngay dưới chân Hòn Hèo.
Nhiều lần bắt gặp cánh thợ săn đi đánh bẫy về, mang thú rừng đi ngang nhà, ông Syvio Lamarche đều hỏi mua bằng được và đưa chúng thả lại vào rừng. Năm 2007, chính ông là người đã phát hiện Hòn Hèo là nơi cư ngụ của loài voọc chà vá chân đen có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Ông từng viết thư gửi Tỉnh ủy, UBND tỉnh và không ít lần lên tiếng kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ loài linh trưởng quý hiếm này. Ông cũng từng cùng các chuyên gia thuộc Trung tâm Cứu hộ thú linh trưởng (Hội Động vật Frankfurt - Cộng hòa Liên bang Đức) ở Vườn Quốc gia Cúc Phương tiến hành khảo sát, đánh giá tình trạng của loài voọc chà vá chân đen nhằm tìm cách bảo vệ. Thậm chí, ông từng đề nghị Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa cấp đồng phục để tham gia bảo vệ voọc chà vá chân đen.
Cùng với tâm huyết của “ông Tây kiểm lâm” và những người yêu động vật hoang dã, sự vào cuộc của cơ quan chức năng, sự nghiêm minh của pháp luật khi trừng trị những kẻ săn voọc mà đàn voọc ở Hòn Hèo đã trở về và sinh sôi trở lại.
Ông Nguyễn Khương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Voọc chà vá chân đen (tên khoa học là Pygathrix nigripes) tại Hòn Hèo phân bố chủ yếu ở địa phận 3 xã Ninh Phước, Ninh Vân và Ninh Phú với số lượng hàng trăm cá thể. Đây là loài động vật hoang dã thuộc nhóm nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ. Hiện nay, số lượng cá thể và bầy đàn của quần thể voọc chà vá chân đen ngày càng phát triển nhờ được bảo vệ tốt hơn, môi trường sống được cải thiện”.
Trên đường rời Ninh Vân, ngang qua mũi Cỏ, tôi lại may mắn bắt gặp đàn voọc chà vá chân đen. Chúng nhảy nhót trên những cây cóc, cây say để kiếm ăn. Một số người dân Ninh Vân thấy vậy cũng dừng lại xem đàn voọc. Có người thốt lên: “Lâu lắm rồi đàn voọc mới trở về. Hy vọng, đàn voọc quý sẽ phát triển trở lại!”. (Báo Khánh Hòa 12/2) đầu trang(
Hàng chục các thể linh trưởng quý hiếm đang được Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp Đảo Tiên lựa chọn để chăm sóc, giúp các cá thể này đủ khả năng để tái hòa nhập với môi trường tự nhiên.
Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp Đảo Tiên, Vườn Quốc gia Cát Tiên được thành lập từ năm 2008 do tổ chức phi chính phủ Cứu hộ Monkey World Ape (Vương quốc Anh) phối hợp với Trường đại học Pingtung, Đài Loan và Vườn Quốc gia Cát Tiên tài trợ.
Hiện nay, hơn 30 ha diện tích Đảo Tiên đang được Trung tâm lựa chọn để chăm sóc hàng chục cá thể linh trưởng và giúp các cá thể này đủ khả năng để tái hòa nhập cộng đồng. Từ 2008 đến nay, Trung tâm đã trả về rừng tự nhiên thành công gần 40 cá thể linh trưởng quý hiếm. Hiện tại, Trung tâm đang chăm sóc hàng chục cá thể linh trưởng quý hiếm.
Tất cả những cá thể linh trưởng trên đều được đưa về từ các tỉnh Tây Nguyên, Hà Nội, TP.HCM, Bình Thuận và Đồng Nai. Ngoài chăm sóc các loại linh trưởng bị thương và giúp chúng tái hòa nhập với rừng, Vườn Quốc gia Cát Tiên cũng quyết định lấy trung tâm này làm điểm du lịch để thu hút khách tham quan.
Hai cá thể vượn đen má trắng tên “Trảng Bom” (bên trái) và “Biên Hòa” (bên phải) đang được chăm sóc chuẩn bị chuyển qua quá trình nuôi bán hoang dã giúp chúng làm quen lại với cuộc sống trong tự nhiên. “Trảng Bom” được lực lượng Kiểm lâm huyện Trảng Bom (Đồng Nai) phát hiện khi bị các đối tượng buôn bán trái phép vận chuyển trên đường đi tiêu thụ, trong khi “Biên Hòa” được các lực lượng chức năng phát hiện khi chú đang bị một nhà hàng trên địa bàn Tp. Biên Hòa (Đồng Nai) nuôi nhốt để làm cảnh.
Tất cả các cá thể vượn được về trung tâm đều bị thương và rất hoảng sợ do quá trình vận chuyển, nuôi nhốt để làm cảnh. Đặc biệt nhiều cá thể khi được đưa về trung tâm bị thương rất nặng do trúng đạn, bẫy của thợ săn. Chính vì vậy, khi tiếp nhận các cá thể vượn đều được chăm sóc, chữa trị và phục hồi trong các chuồng nuôi cá biệt để phục hồi. Tại đây, chúng được cách ly rất nghiêm ngặt với con người nhằm tránh hoảng sợ và tránh việc chúng quen “hơi người” gây khó khăn cho quá trình tái hòa nhập tự nhiên về sau.
"Để đảm bảo cho vượn có thể tự mình kiếm ăn khi thả về tự nhiên, thức ăn hằng ngày của vượn đều là các loại thực vật tự nhiên. Chúng tôi phải quan sát các cá thể vượn trong tự nhiên ăn những loại thực vật nào rồi sau đó đem về trồng để làm thức ăn hằng ngày cho vượn”, Anh K’ Thanh Hoài, nhân viên Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp Đảo Tiên cho biết. (Dân Trí 12/2) đầu trang(
Mới đây nhất, loài trăn này bị người dân Quảng Nam bắt giữ trong tình trạng đang nuốt gọn cả một con bò.
Theo Wikipedia, trăn gấm là một loại rắn lớn, thuộc họ Pythonidae, lớp có vẩy sống ở vùng Đông Nam Á. Trăn gấm có đầu dài, nhỏ, màu vàng nhạt hay nâu, có một vệt xám đen mảnh chạy dọc chính giữa từ mõm tới gáy nối liền với vết trên lưng.
Một vệt đen khác tứ sau mắt chạy xiên xuống góc mép. Trên thân và đuôi có các đường xám đen nối với nhau tạo thành dạng mắt dưới nổi trên nền màu vàng nâu. Bụng vàng nhạt đôi khi đốm sáng nhạt. Chiều dài cơ thể tới 6m.
Trăn gấm sống ở rừng thưa, gần các sông suối, hoạt động về đêm. Chúng có thể leo cây và cuốn mình vào những cành cây rồi chờ con mồi ngang qua để tấn công.
Ở nước ta, trăn gấm cư trú ở một số nơi như: Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Bình Định... Đây là loài động vật nằm trong sách đỏ Việt Nam. (Tri Thức Trẻ/ Soha News 12/2) đầu trang(
Với diện tích rộng hơn 72.000 ha trải dài qua phạm vi hành chính 3 tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai, thêm dòng sông Đồng Nai dài hơn 620 km chảy uốn lượn quanh các cánh rừng già cây gõ đỏ cổ thụ đã tạo cho Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên một sinh cảnh đặc trưng mang tính chuyển tiếp từ dãy Trường Sơn trước khi hòa nhập vào vùng đồng bằng Mê Kông.
Thiên nhiên hài hòa, môi trường sống đa dạng nên hệ động - thực vật của Cát Tiên rất phong phú, quy tụ nhiều loài quý hiếm, một trong số đó là các loài linh trưởng.
Theo ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc VQG Cát Tiên, hiện có hơn 130 cá thể thuộc 5 loài linh trưởng khác nhau là khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, voọc chà vá chân đen, vượn đen má vàng và cu li, đều thuộc nhóm 1B (động vật nguy cấp, quý hiếm). Các chuyên gia về sinh thái cho hay phần lớn các VQG tại Việt Nam chỉ ghi nhận 1, 2 loài linh trưởng đặc trưng của khu vực nhưng Cát Tiên tập hợp được nhiều loài linh trưởng của cả ba miền.
Vọoc chà vá chân đen là loài ăn lá đặc hữu của Việt Nam và Campuchia, thuộc loại bị đe dọa theo phân cấp của Sách đỏ thế giới. Không linh hoạt như các loài khỉ khác, voọc chà vá chân đen dễ bị động khi có biến động (thường ngồi yên và lấy hai tay che mặt trước các tác động bên ngoài nên được xem là loài “mắc cỡ” nhất trong các loài linh trưởng), vì thế loài này rất dễ gặp nạn.
Theo TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, vượn đen má vàng là loài có nguy cơ tuyệt chủng cao, ở mức nguy theo Sách đỏ thế giới. Đây là loài có tập tính bảo thủ về lãnh thổ rất cao, nghĩa là nếu vùng sống của bầy bị thu hẹp hay chia cắt, chúng vẫn sẽ tiếp tục ở đó cho dù có nguy cơ cao thay vì di chuyển đi nơi khác. Vượn rất nhạy cảm với những thay đổi của môi trường nên chúng thường được chọn làm loài chỉ thị (là các loài sinh vật mà sự hiện diện và thay đổi số lượng các loài chỉ thị cho sự ô nhiễm hay xáo trộn của môi trường) trong các giám sát về đa dạng sinh học.
Cu li nhỏ cũng có trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới. Đây là loài linh trưởng có kích thước nhỏ, chuyên sống về đêm. Cu li nhỏ thường sống trong các khu vực rừng tre nứa hoặc tre nứa xen gỗ. Đây cũng là loài thú dễ bị xâm hại vì bản tính hiền lành, cặp mắt to tròn. Không những vậy, nguy cơ đối với các loài này rất cao vì nạn săn bắn trộm khá nhiều.
Ông Diện cho hay lực lượng kiểm lâm VQG Cát Tiên đã bắt được khá nhiều vụ săn bắt trộm các loài linh trưởng này, có cá thể còn sơ cứu và tái thả được nhưng cũng có những cá thể bị các đối tượng giết hoặc thui tại chỗ.
Cụ thể, trong 2 năm, 2014- 2015, nổi lên khá nhiều vụ “khoe chiến tích” giết hại khỉ, voọc… trên các mạng xã hội khiến dư luận không khỏi nổi giận vì những hình ảnh quá tàn nhẫn.
Tuy nhiên, đó chỉ là một phần rất nhỏ trong vấn nạn săn bắt, giết hại nhóm thú linh trưởng đang diễn ra tại Việt Nam. Lực lượng chức năng cũng bắt quả tang được nhiều vụ, có xử phạt hành chính, có tuyên án tù… nhưng dường như chưa đủ sức răn đe và cảnh tỉnh cho những đối tượng đã và đang săn bắt trộm các loài linh trưởng. (Người Lao Động 13/2) đầu trang(
Đề tài nghiên cứu tính đa dạng nguồn gien di truyền và thành phần hóa học một số loài lá kim ở Tây Nguyên là đề tài đầu tiên trong 30 đề tài về lĩnh vực khoa học tự nhiên thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 đạt kết quả nghiệm thu xuất sắc.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã mang lại những đóng góp mới cho việc bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững 15 loài lá kim, là những loài thực vật có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, có giá trị kinh tế cao...
Tây Nguyên vốn được coi là “cái nôi” của các loài cây lá kim và có tính đa dạng vào hàng thứ hai của Việt Nam. Các loài lá kim có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, hầu hết chúng đều có giá trị kinh tế, khoa học cao và nhiều loài còn là nguồn dược liệu quý, điển hình như loài Thông đỏ nam (Taxus wallichiana). Tuy nhiên, do có giá trị kinh tế và dược liệu cao cho nên hầu hết chúng đang bị đe dọa tuyệt chủng bởi sự khai thác quá mức và mất môi trường sống như Thông Đà Lạt, Thông lá dẹt, Thông nước…
Vì vậy, từ năm 2014, Việt Nam là một trong mười điểm “nóng” nhất trên thế giới được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đề cập trong “Kế hoạch hành động bảo tồn thông”. Xuất phát từ tầm quan trọng nói trên, PGS, TS Đinh Thị Phòng, nguyên Trưởng phòng Phân loại thực nghiệm và Đa dạng nguồn gien, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đã cùng các đồng nghiệp triển khai Đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng nguồn gien di truyền và thành phần hóa học một số loài lá kim ở Tây Nguyên, đề xuất giải pháp bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững”.
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã ghi nhận 15 loài lá kim vẫn còn tồn tại ở Tây Nguyên là Đỉnh tùng, Pơ mu, Bách xanh núi đất, Thông nước, Du sam núi đất, Thông Đà Lạt, Thông ba lá, Thông nhựa, Thông lá dẹt, Thông nàng, Hoàng đàn giả, Kim giao núi đất, Thông tre lá dài, Dẻ tùng nam và Thông đỏ nam.
Điểm đáng lưu ý là đã phát hiện được thêm hai điểm phân bố mới của loài Đỉnh tùng ở Vườn quốc gia Kon Ka Kinh và Bách xanh núi đất ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, tỉnh Gia Lai. Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, dựa trên tiêu chuẩn của IUCN (năm 2013) thì tất cả 15 loài lá kim ở Tây Nguyên đều nằm trong tình trạng sẽ nguy cấp (VU), rất nguy cấp (CR) và nguy cấp (EN), nhất là các loài Pơ mu, Bách xanh núi đất và Thông đỏ nam.
PGS, TS Đinh Thị Phòng cho biết, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá khả năng tái sinh và tạo hạt tự nhiên cho bảy loài lá kim là Đỉnh tùng, Bách xanh núi đất, Hoàng đàn giả, Thông lá dẹt, Kim giao núi đất, Du sam núi đất và Thông Đà Lạt. Các loài này cũng được nghiên cứu tính đa dạng di truyền bằng chỉ thị ISSR và SSR. Kết quả, cả bảy loài đều có tình trạng chung là nảy mầm tốt vào mùa mưa. Tỷ lệ cây tái sinh ở ba cấp chiều cao không đồng đều.
Mật độ và tỷ lệ cây tái sinh ở vị trí ngoài tán cao hơn mật độ và tỷ lệ cây tái sinh ở vị trí trong tán. Tỷ lệ tạo hạt và tái sinh cây mạ đạt hơn 50%, nhưng chỉ có một tỷ lệ rất thấp cây có chiều cao hơn 1m, nguyên nhân chính là do cây mạ không phát triển thành cây vì rễ không nhận được dinh dưỡng bởi các lớp hổng của các tầng mùn tự nhiên hình thành. Theo PGS, TS Đinh Thị Phòng, việc mất môi trường sống cũng là nguy cơ giảm quy mô quần thể.
Kết quả đánh giá hiện trạng bảo tồn của 15 loài lá kim, mức độ suy giảm nguồn gien và khả năng tái sinh tạo hạt tự nhiên của bảy loài có nguy cơ tuyệt chủng cao là những cơ sở cho các nhà khoa học và quản lý hoạch định kế hoạch khai thác, bảo tồn và phát triển bền vững. Trong đó, cần chú ý ưu tiên bảo tồn ngay ba loài là Đỉnh tùng, Thông Đà Lạt và Bách xanh núi đất với lý do Đỉnh tùng hiện chỉ có hai quần thể ở Lâm Đồng và đều có tính đa dạng di truyền tương đối cao nhưng lại quá nhỏ về kích thước (không quá 20 cá thể/quần thể).
Loài Thông Đà Lạt còn sáu quần thể, nhưng có số lượng dưới 50 cá thể/quần thể và có hệ số giao phối cận noãn khá cao cho nên nguy cơ tuyệt chủng lớn. Loài Bách xanh núi đất hiện có ba quần thể cũng khá nhỏ về kích thước trong các mảnh rừng bị suy giảm, mức độ đa dạng di truyền tương đối thấp. Dựa trên những kết quả này, nhóm nghiên cứu đề xuất giải pháp cần phải quản lý chặt chẽ sự phát triển của cây giống tại chỗ. Vấn đề này cần có sự can thiệp của con người như giúp rễ cây mạ tiếp xúc liên tục với các tầng đất.
Bên cạnh đó, việc xây dựng một nguồn gien lõi tại chỗ cũng là biện pháp để duy trì và bảo tồn sự phát triển các nguồn gien. Điều này sẽ cho phép các hạt giống thu thập có thể làm tăng sự đa dạng di truyền trong mỗi vùng. Ngoài ra, tỉnh Lâm Đồng cần quan tâm xem xét thực hiện ngay việc thu thập hạt giống và ươm trồng cây giống cho ba loài này. Trong quá trình điều tra thực địa, nhóm nghiên cứu cũng đã thu được hai bộ mẫu tiêu bản khô để lưu trữ và trưng bày tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Bảo tàng Thiên nhiên Tây Nguyên.
GS, TS Lã Đình Mỡi (Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam) đặc biệt đánh giá cao kết quả nghiên cứu thành phần hóa học một số loài lá kim thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài đã chỉ ra giá trị khoa học của loài Đỉnh tùng, Kim giao núi đất và Thông lá dẹt. Đây là phát hiện mới, làm cơ sở cho nghiên cứu bán tổng hợp một số hoạt chất theo hướng làm thuốc. Tuy nhiên GS, TS Lã Đình Mỡi cho rằng, các nhà khoa học cần nghiên cứu sâu hơn nữa về hoạt tính sinh học để có đề xuất phát triển thuốc hỗ trợ cho điều trị một số bệnh ung thư.
Theo TS Nguyễn Đình Kỳ, Phó Chủ nhiệm kiêm Chánh văn phòng Chương trình Tây Nguyên 3, Đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng nguồn gien di truyền và thành phần hóa học một số loài lá kim ở Tây Nguyên, đề xuất giải pháp bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững” là đề tài đầu tiên trong 30 đề tài về lĩnh vực khoa học tự nhiên thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 đạt kết quả nghiệm thu xuất sắc.
Những kết quả của đề tài về nghiên cứu tính đa dạng nguồn gien di truyền, khả năng tái sinh từ hạt chính là những cơ sở quan trọng để bảo tồn tại chỗ đối với các loài lá kim. Đặc biệt, những kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học sẽ mang lại những lợi ích cho cộng đồng trong việc hỗ trợ chữa trị một số bệnh nan y. (Nhân Dân 13/2) đầu trang(
Rừng nghiến Cốc Ly trải dài trên diện tích hơn 400 ha thuộc 7 thôn của xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai). Với số lượng 898 cây nghiến và trai trên dưới 1.000 năm tuổi, khu rừng được xếp vào hàng 'độc nhất vô nhị' tại Việt Nam.
Ông Hồ Văn Xanh (73 tuổi), một người dân xã Cốc Ly, kể rằng từ lúc cha sinh mẹ đẻ, ông đã thấy rừng nghiến. Nhiều cổ thụ mà ông nhìn thấy hồi nhỏ giờ vẫn sừng sững. “Dân chúng tôi đã qua mấy đời người rồi mà bóng cổ thụ vẫn còn đó, xanh tươi như biểu tượng trường tồn của vùng đất cao nguyên ngàn năm gió núi”, ông Xanh tự hào.
Theo tài liệu nghiên cứu của Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam thì cây nghiến cổ lớn nhất tại rừng Cốc Ly nằm ở địa phận thôn Cốc Sâm, với đường kính lên đến 3,1 m, chu vi 9,6 m và cao 46 m.
Sau khi làm các bước kiểm tra như khoan tăng trưởng, so sánh đối chứng với những cây nghiến đồng dạng mọc liền kề, Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam và UBND tỉnh Lào Cai đã công nhận cây nghiến này sống ở đại ngàn Cốc Ly đã trên 10 thế kỷ. Ngoài ra, một số cây khác có đường kính nhỏ hơn cũng có độ tuổi 700 - 1.000 năm.
Ông Xanh tiết lộ: Thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, rừng Cốc Ly không chỉ có nghiến ngàn tuổi mà còn có cả cây lát hoa cổ thụ, đồ sộ đến 15 người ôm không xuể. Không những thế, rừng còn là nơi trú ngụ của rất nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, báo, cầy hương, rắn hổ chúa... và đó cũng là nguồn sống của cư dân ven rừng.
Nhiều người đến Cốc Ly đã không khỏi trầm trồ, thích thú với những cây nghiến to đến nỗi gần 10 người ôm không xuể. Rễ của một số cây nghiến ở thôn Cốc Sâm vươn xa đến 30 m, 3 người ôm không hết, quanh thân cây có các bìu nghiến lớn sùi ra. Theo tính toán của người dân địa phương thì chỉ riêng bìu nghiến của một cây đại thụ đã có giá trị hàng tỉ đồng.
Để rừng nghiến ngàn năm tuổi tồn tại cho đến ngày nay, chính quyền địa phương đã mất rất nhiều công sức trong việc ngăn chặn nạn chặt phá rừng. Bà Hồ Thị Đảm
(70 tuổi), ở xã Cốc Ly, kể lại thời điểm cách đây chừng 35 năm, dân địa phương đua nhau vào rừng chặt phá, ai có sức thì chặt cây to, yếu sức thì chặt cây nhỏ... Lúc bấy giờ, loại gỗ lát hoa đang được ưa chuộng, vì thế cây này bị khai thác đến cạn kiệt. Có những cây lát hoa cưa đến 6 ngày mới đổ. Dân lập lán trại, đi săn, nấu nướng trong rừng ồn ào như lễ hội. Được một thời gian, lát hoa dần vắng bóng, dân lại chuyển qua chặt nghiến.
Khoảng năm 1980, khi nhà nước cấm cửa rừng, người dân xã Cốc Ly được chính quyền địa phương hướng dẫn trồng lúa nước và bảo vệ rừng, đồng thời được trợ cấp gạo, tiền, đảm bảo cái ăn hằng ngày thì việc chặt phá rừng giảm hẳn. Nhiều người trước đó còn là lâm tặc thì nay trở thành bảo vệ rừng, được hưởng lương, gạo hằng tháng.
Ông Nguyễn Xuân Tuấn, Chủ tịch UBND xã Cốc Ly, kể: “Ban đầu, chúng tôi huy động người dân 7 thôn tham gia bảo vệ rừng. Giải thích cho họ thấy lợi ích của việc giữ rừng là sau này làm du lịch, có khách về thì dân sẽ bán được lúa gạo, bán được con gà, con lợn... và làm đường bê tông vào tận thôn, bản. Dần dần người dân cũng hiểu ra. Khách du lịch hiện nay tuy chưa nhiều nhưng điều đó khẳng định lời thuyết phục của chính quyền địa phương với người dân là đúng đắn. Dân thấy có lý, kiếm ra tiền nên tự khuyên nhau bảo vệ rừng”.
Một chính sách khác đã phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ rừng tại Cốc Ly, đó là ưu tiên hộ nghèo vào đội bảo vệ rừng. Ông Tuấn giải thích, từ trước đến nay, đối tượng tham gia chặt phá rừng chủ yếu là các hộ nghèo. Vì thiếu ăn nên họ phải vào rừng, chặt gỗ đem bán đổi lấy gạo khiến việc ngăn chặn rất khó khăn.
Chính quyền địa phương đã nghĩ ra cách thu nhận những người thuộc diện hộ nghèo vào đội bảo vệ rừng. Đổi lại, gia đình nào có người tham gia đội bảo vệ sẽ được trả công bằng gạo. Theo đó, mỗi khẩu trong gia đình có người tham gia bảo vệ được hưởng 15 kg gạo/tháng, gia đình nào 2 người thì 30 kg gạo, 4 người thì 60 kg...
Hiện 7 thôn có rừng nghiến ngàn tuổi tại xã Cốc Ly đều có một đội bảo vệ với lực lượng lên đến hơn 100 người, đó là chưa kể nhân viên kiểm lâm, công an địa phương thường xuyên tuần tra xung quanh và trong rừng. (Thanh Niên 12/2) đầu trang(
Tôi tìm gặp S để viết bài về bảo tồn vọoc chà vá chân đen, một loài linh trưởng có tên trong sách đỏ Việt Nam. Gần chục năm trước, người đàn ông Canada này xuất hiện trên báo với biệt danh "ông Tây kiểm lâm".
Ông là chủ một khu du lịch sinh thái dưới chân núi Hòn Hèo, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Trên ngọn núi này, đàn vọoc chà vá luôn đứng trước nguy cơ bị xâm hại, chuyện không lạ ở Việt Nam.
Đằng sau nguy cơ tuyệt chủng của một loài động vật quý hiếm là thậm thụt kín đáo, ồn ào khoe mẽ những lời truyền tai về thần dược bổ thận tráng dương dành cho giới đàn ông trung niên vốn thường bị liệt dương, chuyện không khó lý giải ở một nước uống bia hàng đầu thế giới.
Trái ngược với mong đợi của tôi, ông Tây già tỏ ra buồn bã và bực bội, liên tục lắc đầu khi nhắc lại chuyện voọc chà vá. Lửa nhiệt tình đã thành tro nguội bụi lạnh sau những nỗ lực không hồi đáp. Sau một số khảo sát ban đầu, chính quyền địa phương đã không lập khu bảo tồn, trong khi bán đảo hòn hèo đang dần mất đi vẻ nguyên sơ do xây dựng và công nghiệp hóa, không gian cho đàn voọc thêm một lần nữa bị thu hẹp.
Và khi đường lớn mở ra tiện cho việc xâm nhập vào rừng thì không biết rồi đây đàn voọc sẽ ra sao. Sau một hồi căng thẳng trách móc, ông Tây cảm thông: "Việt Nam vẫn còn nghèo, nhiều người không có gạo ăn, chính quyền cần lo cho con người trước". Điều ông bức xúc và lên tiếng, suy cho cùng cũng chỉ là một vấn đề nhỏ trong đất nước nơi ông đặt chân đến và chọn ở lại với nó. Sự mỏi mệt và buông tay của ông, có lẽ bởi ông đã nhận ra điều ấy.
Ngoài kia, "còn nhiều người không có gạo ăn", hàng nghìn người chết vì tai nạn giao thông mỗi năm, nông dân khóc ròng vì nông sản không có đầu ra, thực phẩm và không khí nhiễm độc, đám sinh viên ra trường thất nghiệp... Nhiều đến nỗi, người ta bão hòa với mọi vấn đề và không còn tìm được một hướng giải quyết nào. Và thật kì lạ, mỗi khi có ông Tây nào lên tiếng, tất cả bọn họ lại nhao lên như đã từng chú ý đến ông. Sau đó mọi chuyện lại như cũ.
Tất cả như một cái vòng lẩn quẩn. Những kẻ ít nhiều có học thường lên facebook ca thán. Nhiều người chọn cách làm việc, truyền cảm hứng, tất nhiên chúng tôi cũng tìm một ngọn hải đăng nào đó khi đang chơi vơi giữa biển. Câu chuyện của tôi và ông Tây xoay quanh những vấn đề thiên nhiên, là những gì chắc chắn nhất chúng ta có thể để lại cho thế hệ sau.
Nhưng có một chuyện bên lề khác ông Tây không kể, tôi nghe được từ trợ lý của ông. Người con gái đầu tiên ông kết hôn ở Việt Nam, khi ly hôn đã đòi dành hết tài sản, ông bỏ tiền mua về phía mình. Tất nhiên, tôi không hiểu chuyện hôn nhân của người khác, nhưng cái cách mà người con gái hành động, tôi thấy quen. Kể chuyện này với một người bạn lớn tuổi, anh bảo người mình sống coi trọng tiền bạc quá, sau đó là một tiếng thở dài...
Một bữa khác tôi tìm đến du lịch của S. Sau khi tắm biển về, ông rửa vết thương ở chân trước khi tiếp chuyện tôi. Nhìn cái chân rồi nghĩ đến chuyện ly hôn của ông, tôi chợt thấy thương cảm. Người ta bảo ông ở lại với Việt Nam vì tình yêu với thiên nhiên hoang sơ, nhưng ông đã chịu những phản bội từ con người.
S từng là một đông-ki-sốt đơn độc và giờ như một người lính già chịu di chứng của những thương tổn. Sau cuộc hôn nhân sóng gió, S đã yêu và kết hôn với một người con gái Việt Nam khác. Cuối tuần nào ông cũng chạy xe từ Ninh Hòa vào Nha Trang để gặp gia đình: hai đứa con và người vợ mới. Dù thế nào thì cuộc sống vẫn tiếp tục và con người luôn phải bước qua các thương tổn.
Nhưng cái cách ông gắn bó với Việt Nam thật lạ khi ông đã trải nhiều thương tổn từ nó nhưng không chịu rời đi. Người Việt Nam chúng tôi, vẫn thường nói yêu quê hương, nhưng nhiều người đã rời đi, nhiều người đang âm thầm vun vén chờ một chuyến khởi hành đến miền đất mới. (Lao Động 13/2) đầu trang(
Để tìm kiếm và dẫn dụ được đàn khỉ về đảo, ông Đức và hai đồng nghiệp của mình phải ăn ngủ ở trong rừng nhiều hơn ở nhà.
Có lúc, họ đối diện với sự phản đối của gia đình vì đi biền biệt hàng năm trời. Tuy nhiên, cuối cùng, những con người yêu thiên nhiên ấy đã đưa được hàng trăm con khỉ về đảo phục vụ cho công tác nuôi dưỡng, bảo tồn.
Nhiều năm nay, nhắc đến khu du lịch sinh thái Đảo Khỉ thuộc khu Rừng Sác (xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, TP.HCM) người dân địa phương lại nghĩ ngay tới hình ảnh người đàn ông hơn 20 năm sống chung với đàn khỉ.
Ông chính là Đặng Văn Đức (62 tuổi, ngụ thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ). Nói đến cái duyên với bầy khỉ hoang, ông Đức kể lại, năm 1987, ông được điều về phụ trách công tác nuôi trồng và bảo vệ rừng tại công ty Lâm Viên (hiện là khu du lịch sinh thái Lâm Viên, Cần Giờ). Trong một lần đi trồng rừng (năm 1994), ông Đức và hai kỹ sư nông nghiệp khác bất ngờ phát hiện vài con khỉ đi kiếm ăn ở khu vực Đảo Khỉ (một trong 24 tiểu khu của Rừng Sác).
Ngay sau đó, ông Đức cùng đồng nghiệp của mình là ông Vương Đình Bơ và Nguyễn Văn Tuấn đề xuất công ty Lâm Viên hỗ trợ để vào rừng đưa đàn khỉ về chăm sóc, bảo vệ. Tuy nhiên, ban lãnh đạo công ty Lâm Viên từ chối cấp kinh phí hỗ trợ bởi không ai tin rằng có khỉ ở khu vực Rừng Sác.
Trước sự hoài nghi của mọi người, ông Đức và các đồng nghiệp hạ quyết tâm phải đưa đàn khỉ về đảo cho bằng được. Ông Đức tự bỏ tiền túi mua lương thực, phương tiện vào rừng dụ đàn khỉ về đảo. Ngày đầu tiên trong hành trình đi tìm nơi trú ẩn của đàn khỉ, ông Đức mời vị lãnh đạo của mình đi, để chứng minh cho những gì ông và các đồng nghiệp đang thực hiện là có thật.
Thế nhưng, sau một ngày đánh vật với bùn sình, mọi người vẫn không thấy bóng dáng một chú khỉ nào. Sau 3 ngày ròng rã, làm bạn với muỗi, vắt trong Rừng Sác, ông Đức chứng minh cho lãnh đạo công ty Lâm Viên thấy việc khỉ xuất hiện trên đảo là có thật. Thế nhưng, việc đưa khỉ về đảo diễn ra không mấy dễ dàng.
Để đưa được đàn khỉ về đảo, ông Đức và hai đồng nghiệp phải lăn lộn trong Rừng Sác một năm trời. Suốt khoảng thời gian đó, họ phải ăn trong rừng, uống nước suối để gần gũi với từng con khỉ.
Thậm chí, nhiều đêm, ông thức trắng để chụp cho bằng được tấm hình khỉ đang hiện hữu trong khu Rừng Sác. Tuy nhiên, may mắn không đến với họ. Giữa đêm tối lạnh lẽo, chiếc máy ảnh chưa kịp đưa lên thì những con khỉ đã bỏ đi.
Ông Đức cho hay: “Đó là khoảng thời gian gian nan nhất đối với anh em chúng tôi. Không chỉ đối diện với hàng loạt khó khăn, thiếu thốn, bệnh tật, bản thân mỗi người còn đối diện với sự phản đối kịch liệt của gia đình. Mọi người cho rằng, chúng tôi đang đi làm một việc không có mục đích và kết quả. Trước tình hình này, anh em chúng tôi chỉ biết động viên nhau cùng cố gắng và vượt qua thử thách”.
Với quyết tâm và nỗ lực không kể ngày đêm, đến ngày 5/3/1995, ba kỹ sư nông nghiệp chính thức chụp được tấm hình khỉ đầu tiên. Giây phút ấy, ông Đức và hai đồng nghiệp xúc động đến rơi nước mắt.
Với những kết quả ban đầu này, ban lãnh đạo công ty Lâm Viên nhận lời kết hợp, hỗ trợ nhóm của ông Đức trong việc đưa đàn khỉ về đảo. Trao đổi với PV, ông Đức cho hay: “Ngay khi nhận được phản hồi từ công ty, chúng tôi tổ chức dẫn dụ khỉ từng đoạn đường một. Cứ khoảng vài chục mét, chúng tôi dừng lại để khỉ nghỉ ngơi, ăn uống, nhằm tránh tình trạng những con khỉ hiếm hoi lạc đường.
Sau 3 năm, chúng tôi đã đưa được khoảng 80 con khỉ về đảo chăm sóc, bảo tồn. Tuy nhiên, vì không quen với môi trường sống nơi đây, nên cứ vừa đặt chân tới đảo là đàn khỉ lại tìm cách bỏ đi”.
Thực tế này lại khiến ông Đức và hai đồng nghiệp của mình đau đầu. Để giúp cho đàn khỉ dần thích nghi với môi trường sống trên đảo, ông Đức đi khắp nơi sưu tầm sách vở. Ông chăm chú đọc từng trang sách để học cách chăm sóc cho từng con khỉ ngang bướng, cứng đầu.
Từ những kiến thức tìm hiểu được, ông Đức nghĩ ra cách học tiếng hú của khỉ để gọi chúng về trước mỗi bữa ăn. Từ đó, cứ nghe tiếng hú của ông Đức, đàn khỉ lại tập trung về để được chăm sóc. Chăm sóc kỹ lưỡng đàn khỉ là vậy nhưng khi chúng quậy phá, ông Đức rất nghiêm khắc.
Giải thích về điều này, ông cho hay: “Vì đã dạn người nên nhiều hôm, đàn khỉ còn xông vào lục lọi, ăn hết thức ăn của các nhân viên làm việc trong khu du lịch sinh thái. Không những thế, có con còn ngang nhiên cào cấu, xé rách, thậm chí giấu hết quần áo của anh em.
Ngoài ra, vào khoảng tháng 9 – 11 hàng năm, đàn khỉ bắt đầu vào mùa giao phối, cũng là lúc mọi người vô cùng lo lắng. Bởi vào thời điểm này, đàn khỉ cắn nhau thương tích đầy mình”.
Dẫn dụ, chăm sóc chúng đã rất khó khăn nhưng việc đếm số lượng đàn khỉ cũng khiến ông Đức đau đầu. Ông Đức cho hay: “Khỉ vốn tinh nghịch, ưa chạy nhảy, nên việc đếm số lượng đàn khỉ gặp nhiều trở ngại.
Để đếm được chính xác số lượng khỉ đang có mặt và sinh sống tại đảo, nhiều hôm chúng tôi phải chầu chực từ sáng tới tối để canh chúng đi ngủ. Thậm chí, không ít lần, chúng tôi còn ăn và ngủ chung với khỉ như một gia đình”.
Suốt 20 năm lăn lộn, vất vả đã chứng minh tình yêu thiên nhiên, động vật, đặc biệt là đàn khỉ hoang của người đàn ông này. Ông Đức chia sẻ: “Với công việc chăm sóc và bảo vệ đàn khỉ, thời gian đó tôi sống trong rừng nhiều hơn ở nhà. Thậm chí, mọi người còn đùa rằng, tôi chăm sóc đàn khỉ chu đáo hơn cả những đứa con của mình”. (Đời Sống Và Pháp Luật 12/2) đầu trang(
Được nghe giới thiệu nhiều lần về cây sanh 800 năm tuổi ở xã Hợp Hòa (Lương Sơn), chúng tôi quyết định về Hợp Hòa để “mục sở thị” cây cổ thụ đã đi vào truyền thuyết, được công nhận là cây Di sản Việt Nam.
Từ trung tâm thị trấn Lương Sơn theo con đường liên xã qua Tân Vinh, chúng tôi hỏi thăm đường vào thôn Suối Cốc, xã Hợp Hòa, người dân nhiệt tình chỉ đường không quên kèm theo câu hỏi: Vào làng có cây sanh đại thụ à? Quả là cây nổi tiếng, người trong, ngoài vùng ai cũng biết. Gần đến thôn, từ xa chúng tôi đã nhìn thấy tán cây sanh tỏa rộng, che phủ cả một vùng xanh mướt trông như một khu rừng nhỏ.
Càng đến gần các thành viên trong đoàn đều tỏ sự ngỡ ngàng, trầm trồ thán phục sự kỳ vĩ của cây đại thụ hàng trăm năm tuổi. ở giữa cánh đồng thôn Suối Cốc, sừng sững ngay đầu làng là cây sanh huyền thoại. ông Đinh Thanh Bình, Trưởng thôn Suối Cốc cho biết: Để đi vào làng chỉ có một con đường đó là qua cây sanh. Rất tự nhiên, rễ và thân cây kết lại làm thành chiếc cổng vào làng hết sức độc đáo.
Chẳng biết tự bao giờ người dân trong làng đã thấy có cây sanh sừng sững ở đó. Cây như một chứng nhân cho sự phát triển, sinh sôi của làng. Sự ngạc nhiên càng tăng lên khi chúng tôi đi qua chiếc cổng làng có một không hai, đứng dưới bóng cây sanh mà cảm giác như đang đứng giữa rừng xanh rậm rạp. Đó là bởi cây có rất nhiều thân rễ cắm thẳng xuống lòng đất, thoạt nhìn rất khó để nhận biết đâu là thân chính của cây, mỗi thân cây một dáng vẻ tạo nên những hình ảnh hết sức thú vị, tha hồ cho mọi người liên tưởng.
Theo ông Bình, trước đây cây có đến 100 nhánh, tán lá um tùm che kín hai bên đường, sà xuống ruộng, chỉ hở đúng một khe nhỏ để đi vào làng. Cô bạn tôi người ngoài thị trấn kể, ngày bé được theo bố vào chơi trong làng, trong trí nhớ của cô, để đi qua cây sanh vào làng phải len lỏi qua những nhánh cây một đoạn dài, đường rất tối do tán cây phủ kín ánh sáng không lọt được qua. Nhưng rồi trong quá trình vỡ ruộng bà con phá dần, một phần do trước đây chưa hiểu hết giá trị của cây nên việc quản lý cũng không chặt chẽ, cây bị chặt nhiều nhánh đến nay còn khoảng 60 nhánh.
Anh Bạch Công Sáu, người dân thôn Suối Cốc góp chuyện: Năm 1972, đất nước ta đang trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Khi đó tôi còn nhỏ nhưng vẫn nhớ đêm máy bay Mỹ rơi ở đồi Bù. Nghe tiếng máy bay rơi, tất cả mọi người già trẻ lớn bé trong làng đều chạy xuống gốc sanh trú ngụ, ở đó đúng 12 ngày đêm để tránh máy bay. Cây sanh như một mái nhà lớn vững chãi chở che cho dân làng, nắng mưa cũng không sợ vì tán lá dày ánh nắng không chiếu đến, mưa cũng chẳng thể lọt qua.
Anh Hoàng Văn Tân thêm lời: Nghe các cụ kể lại rằng, thời kỳ giặc Pháp xâm lược, chúng càn quét làng mạc, đốt nhà, đốt cây ở khu vực ngoài nhưng đến đầu làng có cây sanh thì lại quay trở ra. Cây như vị thần hộ mệnh đánh đuổi giặc giữ, bảo vệ sự bình yên cho làng.
Những câu chuyện nghe kể lại dẫu chẳng thể kiểm chứng đúng, sai nhưng có một điều chắc chắn với mỗi người dân thôn Suối Cốc, cây sanh cổng làng như một người bạn, một phần không thể thiếu của làng. Ngày ngày cây vẫn tỏa bóng mát để trẻ thơ nô đùa, để các cụ già ngồi trò chuyện, để các mẹ, các chị nghỉ chân khi đi làm đồng. Những ngày nắng nóng, mọi người trong làng cùng nhau tề tựu dưới bóng mát cây sanh râm ran chuyện trò, tình đoàn kết xóm giềng thêm gắn bó, bền chặt.
Ông Đinh Thanh Bình cho biết thêm: Bây giờ thì việc bảo vệ cây sanh được thực hiện rất tốt, từ các cháu nhỏ khi thấy người có biểu hiện xâm phạm cây đều đến báo ngay với Trưởng thôn. Nhất là sau khi cây được Hội Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường Việt công nhận là cây di sản Việt vào ngày 25/5/2012 thì bà con ngày càng có ý thức cao bảo vệ cây không để bị xâm phạm.
Đây là niềm tự hào của nhân dân vì cây sanh của làng được Nhà nước tôn vinh. Theo kết quả khảo nghiệm, phân tích của Viện Khoa học Bảo vệ môi trường Thiên nhiên Việt Nam, cây sanh hiện có 54 nhánh với tuổi thọ vào khoảng 800 năm. Đây là cây có chu vi gốc lớn nhất kể từ trước tới nay. Địa điểm cây sanh còn được nhiều đạo diễn chọn làm bối cảnh quay phim về làng quê Việt Nam như “Ma làng”, “Đàn trời”, “Ma làng 10 năm sau”... (Báo Hòa Bình 10/2) đầu trang(
Những ngày cuối năm, cái nắng của mùa khô đã bắt đầu trải vàng trên mọi vùng quê, chúng tôi lên Vườn quốc gia (VQG) Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập.
Khi mà rừng nguyên sinh trên địa bàn tỉnh không còn nhiều thì VQG Bù Gia Mập trở thành địa bàn phải luôn được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Cùng ăn, cùng ngủ, chúng tôi cảm nhận được khó khăn, phức tạp và gian nan của những người đang ngày đêm canh giữ khu rừng vàng cho đất nước.
Theo các nhà khoa học, tài nguyên rừng ở VQG Bù Gia Mập hiện còn quý hơn vàng. Bởi lẽ hiện cả vùng Đông Nam bộ chỉ nơi đây là khu rừng có mức độ đa dạng sinh học rất cao. VQG Bù Gia Mập là nơi bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài động, thực vật; các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm, đặc trưng cho sự chuyển tiếp từ vùng Tây Nguyên xuống vùng Đông Nam bộ. Đây còn là nơi bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn cho hồ chứa nước của các công trình thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn và Srok Phu Miêng; phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, công tác bảo tồn, đào tạo nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái...
Với tổng diện tích 25.788,6 ha, VQG Bù Gia Mập là nơi có nhiều loài động, thực vật có giá trị của Việt Nam và thế giới. Thống kê tại vườn, 17 loài thực vật có tên trong Sách đỏ Việt Nam, 19 loài thực vật nằm trong Sách đỏ thế giới, như: gõ đỏ, cẩm lai, trầm hương, giáng hương. Về động vật, với 36 loài thú có tên trong Sách đỏ Việt Nam, 32 loài có tên trong Sách đỏ thế giới như: voi, báo hoa mai, bò tót, gấu, sói đỏ, chà vá chân đen, vượn đen má vàng, khỉ mặt đỏ, cu li...
Chim có 10 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, 5 loài có tên trong Sách đỏ thế giới. Những con số trên cho thấy sự phong phú về các loài động, thực vật ở VQG Bù Gia Mập; đồng thời khẳng định tầm quan trọng của một khu rừng nguyên sinh trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Những năm trước đây, VQG luôn bị kẻ xấu xâm hại, chủ yếu là khai thác trộm gỗ quý, săn bắt động vật hoang dã và một số nơi bị người dân lấn chiếm đất làm rẫy. Sau 13 năm thành lập (27-11-2002 - 27-11-2015), đến nay VQG Bù Gia Mập đã cơ bản chấm dứt tình trạng này. Ban quản lý vườn vui mừng cho chúng tôi biết, năm nay trên địa bàn không xảy ra vụ việc vi phạm nào. Có được kết quả như vậy là nhờ sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, nhân viên vườn, đơn vị kiểm lâm và đặc biệt là các tập thể cư dân, quân đội nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng.
Hiện nay, vườn có 10 trạm kiểm lâm, trạm xa nhất giáp huyện Tuy Đức (Đắk Nông), cùng các chốt tạm thời bảo vệ những khu vực rừng dễ bị tổn thương, 1 tổ kiểm lâm cơ động, với tổng số cán bộ, nhân viên của Hạt kiểm lâm là 60 người. Ngoài ra còn có khoảng 300 người dân tham gia bảo vệ rừng đóng ở 10 chốt. Trang thiết bị phục vụ tuần tra phòng, chống cháy rừng đã được đầu tư khá đầy đủ như: máy định vị, xe chữa cháy rừng, hồ chứa nước.
Hệ thống đường giao thông phục vụ tuần tra bảo vệ rừng được xây dựng khá hoàn chỉnh. Đường ranh giới của toàn bộ rừng cấm đã được xác lập rõ ràng, góp phần thuận lợi cho tuần tra, bảo vệ. Vườn đã xây dựng dự án di dời và ổn định dân trong vùng lõi. Từ dự án này, đã tạo điều kiện ổn định về đất canh tác cho 212 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, với diện tích 294 ha.
Với lực lượng đủ mạnh như hiện nay đã đáp ứng được công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nhờ vậy, số vụ vi phạm về khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã ở VQG năm sau giảm so với năm trước cả về số vụ và mức độ vi phạm. Từ năm 2012 đến nay, vi phạm về lâm luật giảm đáng kể, chủ yếu các vụ nhỏ lẻ xâm nhập rừng trái phép và đã được ngăn chặn kịp thời.
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được vườn đặc biệt quan tâm. Năm 2004 và 2005, xảy ra các vụ cháy rừng trên diện rộng tới 40 ha, năm 2009 xảy ra 1 vụ trên diện tích 2 ha nhưng những năm gần đây nhờ làm tốt phòng cháy, chữa cháy nên các vụ cháy đã được phát hiện, khoanh vùng và dập tắt kịp thời, không ảnh hưởng đến rừng.
Từ năm 2003 đến nay, VQG đã thực hiện giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư và các lực lượng vũ trang, đồn biên phòng. Năm 2003, diện tích giao khoán 2.600 ha và chỉ có 2 đơn vị tham gia, đến nay diện tích giao đã là 25 ngàn ha với 13 đơn vị nhận khoán. Số hộ nhận khoán có thu nhập bình quân từ 1,7-2 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, theo chương trình hỗ trợ của Chính phủ, hằng năm, cộng đồng các thôn vùng đệm của vườn được trung ương hỗ trợ 40 triệu đồng để tu sửa nhà văn hóa, mua cây - con giống phát triển mô hình sản xuất tập thể.
Đến tham quan và tìm hiểu tại VQG Bù Gia Mập, chúng tôi nhận thấy, đời sống của những người giữ rừng nơi đây còn gặp nhiều khó khăn. Họ thường xuyên phải sống và làm việc trong rừng nên bệnh sốt rét và các bệnh do côn trùng xâm hại vẫn còn, ảnh hưởng đến sức khỏe rất lớn.
Phó giám đốc VQG Bù Gia Mập Vương Đức Hòa vạch áo cho chúng tôi xem dày đặc các nốt do ve rừng cắn khi anh đi tuần tra cùng anh em. Một kiểm lâm viên cho biết, vắt thì không đáng sợ, nếu gặp trúng một ổ ve cám coi như mấy tháng liền không chịu nổi các vết cắn của chúng. Vùng da bị ve cắn không thể nào lành, thỉnh thoảng lại tái phát ngứa ngáy rất khó chịu.
Bí thư chi bộ, Phó giám đốc VQG Bù Gia Mập Cao Ngọc Long cho rằng: Hiện nay do đời sống kinh tế người dân vùng đệm còn gặp rất nhiều khó khăn. Trình độ canh tác, sản xuất của nhân dân lạc hậu, hầu hết chỉ độc canh cây điều, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu nên khi mất mùa, họ lâm vào cảnh thiếu đói, từ đó phải vào rừng kiếm sống. Đây là một trong những khó khăn của đơn vị phải tìm cách giải quyết. Những năm qua, VQG đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, đồng thời phối hợp với địa phương hỗ trợ người dân giảm nghèo bền vững.
Đặc biệt, nhờ làm tốt tuyên truyền, nhiều đoàn viên, thanh niên là đồng bào dân tộc thiểu số đã hăng hái xung phong vào các tổ nhận khoán. Từ đó, lực lượng này được trẻ hóa, có sức khỏe, đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Anh Điểu Dương, một thành viên tổ nhận khoán thôn Bù Lư, xã Bù Gia Mập cho biết, khi đi tuần tra, nếu gặp trường hợp vi phạm, chúng tôi có biện pháp xử lý kịp thời. Bảo vệ rừng để rừng nuôi lại mình nên phải làm hết trách nhiệm.
Quản lý, bảo vệ tốt VQG Bù Gia Mập là bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá cho đất nước. Đó là nhiệm vụ, đồng thời cũng là trọng trách lớn lao của những người giữ rừng nơi đây. Mặc dù còn nhiều khó khăn, gian khổ nhưng cán bộ, nhân viên của vườn, hạt kiểm lâm và các tổ nhận khoán hiểu rất rõ công việc của mình trước khu rừng quý hơn vàng của quốc gia.
Với những thành tích đạt được, năm 2013, VQG Bù Gia Mập vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Nhiều năm liền vườn được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh tặng bằng khen, cờ thi đua. Giám đốc vườn vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba. (Báo Bình Phước 13/2) đầu trang(
Năm Bính Thân theo lịch phương đông, đó là năm con khỉ, một trong 12 con giáp gắn với từng năm. Loài khỉ là loài vật có nhiều đặc tính được con người yêu thích và đã gắn bó với đời sống văn hóa của dân tộc ta từ ngàn đời nay.
Song những năm gần đây, khỉ và một số loài cùng họ đang bị con người săn bắt đến gần tuyệt chủng, trong đó có loài Voọc mũi hếch. Bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống cho các loài động vật quý hiếm đang trở thành yêu cầu bức thiết của nhân loại.
Khu bảo tồn voọc mũi hếch Khau Ca là một trong 6 khu rừng đặc dụng của Hà Giang, có diện tích trên 2.000 ha, nằm trên địa bàn các xã: Tùng Bá, huyện Vị Xuyên; Minh Sơn, Yên Định, huyện Bắc Mê. Đây là khu rừng sinh sống của loài voọc mũi hếch, một loài động vật nằm trong danh sách cần được bảo vệ khẩn cấp.
Ngay sau khi phát hiện loài vật này tại Hà Giang, tổ chức Bảo tồn động, thực vật hoang dã quốc tế (gọi tắt là FFI) đã phối hợp với UBND tỉnh Hà Giang và Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tiến hành các hoạt động bảo tồn, hỗ trợ chính quyền và cộng đồng địa phương bảo vệ quần thể Voọc mũi hếch và sinh cảnh của chúng. Đồng thời, dự án còn chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân đối với việc bảo vệ các loài vật quý hiếm.
Từ đó, những hoạt động bảo tồn môi trường sống của loài voọc cũng được ngành kiểm lâm, chính quyền và Nhân dân xã Thái An huyện Quản Bạ, một trong những địa bàn vùng đệm của rừng đặc dụng Khau Ca, nơi loài voọc mũi hếch sinh sống quan tâm thực hiện. Hoạt động của tổ chức bảo vệ động vật hoang dã FFI đã góp phần nâng cao năng lực của chính quyền và nhận thức của người dân trong quản lý tài nguyên rừng, tại khu bảo tồn, tạo động lực thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho loài voọc và các loài động vật hoàng dã sinh sống và phát triển.
Ngày 18/8/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1377 về việc “Thành lập vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn tỉnh Hà Giang”. Trên cơ sở đó, Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn tỉnh Hà Giang được thành lập trên cơ sở sát nhập Khu bảo tồn thiên nhiên Du Già và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voọc mũi hếch Khau ca, với tổng diện tích tự nhiên lên tới 15.000 ha thuộc địa bàn 3 xã: Tùng Bá huyện Vị Xuyên; Minh Sơn huyện Bắc Mê; Du Già huyện Yên Minh. Đây là vườn Quốc gia thứ 31 được thành lập trong cả nước, với mục tiêu, nhiệm vụ: bảo vệ sinh thái rừng và các loài thực vật, động vật hoang dã quý, hiếm như: thông đỏ bắc, trai lý, sưa bắc,vọoc mũi hếch và sơn dương nâu...
Đàn voọc mũi hếch đang sống trong những cánh rừng già bình yên. Với sự nỗ lực của các nhà khoa học, của Tổ chức Bảo tồn động vật hoang dã và các ngành chức năng của tỉnh, rừng Hà Giang sẽ được bảo vệ, giữ gìn để đem tới một môi trường sống lý tưởng cho loài voọc mũi hếch quý hiếm cũng như nhiều loài sinh vật khác trên địa bàn toàn tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 11/2) đầu trang(
Một đàn khỉ được nuôi dưỡng đang sinh sôi nảy nở ở Nhơn Trạch. Ban ngày, chúng đi kiếm ăn khắp các cánh rừng, đến tối lại lội sông trở về gây náo động căn nhà có vài người đàn ông, là bạn của chúng.
Đàn khỉ hơn 40 con được Trạm Bảo vệ rừng giống (thuộc Ban Quản lý, bảo vệ rừng Long Thành- Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai) gầy giống và nuôi dưỡng từ gần chục năm nay. Đây là đàn khỉ đuôi dài (có tên khoa học là Macaca fascicularis), được ngành chức năng gầy dưỡng với mục đích làm sống lại sinh cảnh, giống động vật, sinh thái đã mất đi trong thời gian chiến tranh và cả quá trình phát triển.
Từ nhánh sông Thị Vải - thuộc hệ thống sông Đồng Nai - ở xã Phước An (huyện Nhơn Trạch- Đồng Nai), chúng tôi theo ghe len lỏi giữa bạt ngàn sông nước, giữa rừng đước xanh um, khoảng 30 phút thì đến Trạm Bảo vệ rừng giống Phước An (nằm trong bao la rừng Sác). Trong tĩnh mịch hoang vắng, gió lồng lộng, là căn nhà mới xây, màu vôi trắng lẻ loi giữa bốn bề rừng, nước.
Đón chúng tôi, hai thành viên của trạm đầy vẻ nhiệt tình khi biết phóng viên muốn tìm hiểu về đàn khỉ, những con vật gắn bó với họ từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, không phải đến là gặp ngay… khỉ.
Bọn khỉ đã vào rừng từ sáng sớm. Chúng đi khắp địa bàn rộng lớn này, có lúc vượt sông, kiếm ăn từ rừng này sang rừng khác.
Theo các nhân viên ở đây, thường đàn khỉ chỉ kéo về khi đã no say vào chập choạng tối, có khi do nước lớn chúng không muốn bơi qua thì ở lại bên kia sông. Tuy nhiên, cũng khá thất thường, có lúc giữa buổi chiều, chúng cũng bất ngờ trở về … quậy phá.
May mắn, khi chúng tôi đang hàn huyên về… khỉ thì vừa lúc nghe tiếng động lạ ở phía sau. Lúc này là khoảng 3 giờ chiều. Đã quá quen thuộc, nhân viên trạm giống vừa vội chạy ra xem vừa khẳng định: “chúng đã về”.
Chúng tôi vội nhào ra sau để mục sở thị những con vật đang được các cán bộ bảo tồn cưng chiều. Tuy nhiên, thoạt đầu, chỉ thấy một chú khỉ lẻ loi nhảy nhót nơi căn nhà hoang. Nhân viên trạm giống cho biết có thể đó là con đầu đàn hoặc con nào đó tách đoàn về trước để thăm dò. Đúng như lời, chỉ thoáng chốc, giữa cảnh rừng ngập mặn nguyên sơ, cả đàn khỉ trở về đã khiến cho cả cánh rừng bỗng trở nên náo loạn, sôi động.
Đàn khỉ lớn, nhỏ nhiều lứa tuổi nhảy nhót khắp nơi. Chúng tìm đến vòi nước - nơi dành nước ngọt để phục vụ khỉ. Nhân viên trạm giống rải những hạt bắp tung tóe ra bốn phía. Lúc đầu, vì thấy chúng tôi là người lạ, bọn khỉ còn dáo dác từ đằng xa nhìn ngó. Tuy nhiên, sau đó chúng dạn dĩ dần và thi nhau đến rất gần, nhặt ăn bằng hết những hạt bắp được rải xuống đất.
Đặc biệt, theo quan sát của chúng tôi, trong đàn có 3 con khỉ mẹ đang nuôi con mới đẻ. Chúng ẵm con ở dưới bụng nhưng vẫn chạy nhảy leo trèo lanh lẹ như thường. Thỉnh thoảng, có khỉ con rời bụng mẹ, lao ra chỉ cách khoảng vài gang tay nhặt lấy vài hạt bắp rồi lại nhanh chóng lao vào lòng khỉ mẹ để được bảo vệ, bao bọc.
Sau khi đã ăn uống đủ, do có người lạ và tiếng máy ảnh bấm lách tách, chúng không nghịch phá tự do như mọi hôm mà lao lên những nhánh cây, quậy ầm ĩ một góc rừng. Cũng có con dạn dĩ hơn, còn cố quay lại bám theo chúng tôi, làm trò chọc phá rồi nhăn răng cười...
“Chúng coi cả vùng này như là vương quốc của chúng. Sau khi đi khắp nơi, bọn này kéo về đây để tiếp tục ăn uống rồi leo lên rừng nghịch ngợm và ngủ, chẳng có chỗ nào cụ thể. Chúng muốn làm gì thì làm, chẳng ai làm gì chúng được cả…”- những nhân viên ở đây cười sảng khoái.
Nhận nhiệm vụ bảo vệ rừng và… làm bạn với khỉ ở đây là ba người đàn ông đã đứng tuổi. Thời điểm chúng tôi đến, ông trạm trưởng lên bờ đến trụ sở cơ quan để dọn dẹp chuẩn bị đón tết, còn lại hai nhân viên của trạm.
Ông Mẫn, tướng vạm vỡ như Võ Tòng, chở chúng tôi bằng ghe luồn lách trong rừng đước ghé thăm trạm; trạm là một cái “đảo” giữa sông và rừng, có căn nhà mới xây sau bao năm là cái nhà gỗ xập xệ. Nhân viên còn lại là ông Tùng, người gầy nhom, quê ở Quảng Ngãi, đều đã gắn bó với trạm rừng hàng chục năm. Họ ở đây, mỗi tháng được bốn ngày về với vợ con.
Trước đó, tiếp xúc với chúng tôi, anh kỹ sư Nguyễn Văn Khởi, người đầu tiên gầy giống khỉ ở đây, cho biết anh gầy dưỡng được đàn khỉ này từ cách đây hơn chục năm, khi vừa mới ra trường. Giống khỉ đuôi dài phù hợp với môi trường sinh thái rừng ngập mặn, từ 15 con ban đầu đã thích nghi rất tốt và dần sinh sôi nảy nở.
Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành- Nhơn Trạch thấy khả năng phục hồi đàn khỉ ở rừng Sác là rất khả quan nên đã xin cấp thêm từ ngân sách được 1,2 triệu đồng/ tháng. Số tiền này, cán bộ phục hồi giống dùng để mua gạo, rau cỏ, hoa quả làm thức ăn cho khỉ. Sau thời gian đầu nuôi nhốt, đàn khỉ được thả tự do ra môi trường tự nhiên. “Ban đầu nuôi rất khó khăn nhưng sau đó chúng dần hòa vào tự nhiên thích nghi nhanh đến không ngờ, thường đi theo đàn và có thể bơi qua sông, tự hái hoa quả và bắt tôm tép, mò cua ốc rất tài”, kỹ sư Khởi cho biết.
Còn hai ông nhân viên của trạm thì liên tục “kể tội” đàn khỉ với giọng rất vui vẻ. Căn nhà của trạm không bao giờ dám mở các cửa sổ vì sợ đàn khỉ về bất ngờ, leo vào đập phá. Những cây chuối, đu đủ và cả phi lao, tràm cũng bị khỉ bẻ gãy. Nhà có một chiếc ti vi để các nhân viên xem tin tức buổi tối xài bằng máy phát điện nhưng ăng ten vừa dựng lên cũng đã bị chúng xô đổ gục. Thậm chí, có hôm … tiền lương vừa nhận để trong túi áo cũng bị khỉ lấy cả áo cả tiền, đem treo tít trên ngọn cây.
“Kể tội” là thế nhưng các nhân viên của trạm nhắc đến khỉ đều nói với giọng rất trìu mến. Phần thức ăn, nước uống cho khỉ đều luôn được dành sẵn. Trong khi, ở nơi này, thức ăn của chính nhân viên của trạm cũng chỉ còn lèo tèo qua bữa.
“Nhà có cây ná dùng để dọa nó, nhưng không bao giờ dám bắn. Không làm cho chúng đau. Có chúng làm náo động nơi hoang vắng này, mình cũng đỡ cô đơn…”- hai vị “Robinson trên đảo khỉ” này tâm sự. (Người Lao Động 13/2) đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo các địa phương, doanh nghiệp, các chủ rừng thực hiện tốt biện pháp phòng chống để hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng trong mùa khô hanh.
Trong những ngày Tết và sau Tết Nguyên đán nắng nóng gay gắt, lực lượng kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức trực 24/24 giờ, phân công cán bộ chuyên môn về phối hợp với các địa phương vùng trọng điểm có diện tích rừng dễ cháy tuần tra canh gác, thực hiện nghiêm các quy trình phòng chống cháy rừng.
Các địa phương và chủ rừng còn tổ chức ký cam kết với các buôn làng, hộ đồng bào sinh sống gần rừng, củng cố các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng thực hiện tốt quy chế quản lý bảo vệ. Trong mùa khô hanh, các chủ rừng hướng dẫn đồng bào không được mang lửa, đốt lửa trong rừng, nhất là không được đốt tổ ong trong rừng để lấy mật dễ gây cháy.
Tỉnh cũng tuyên truyền về công tác phòng chống cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng hai thứ tiếng Kinh và Êđê. Trong các quy ước, hương ước của từng thôn, buôn làng, đồng bào cũng tự giác cam kết thực hiện tốt việc quản lý bảo vệ rừng.
Tỉnh Đắk Lắk đã đầu tư làm mới, sửa chữa hàng trăm km đường ranh cản lửa, chòi canh, biển báo, chuẩn bị đầy đủ các vật tư, phương tiện, máy bơm nước để sẵn sàng chủ động phòng chống cháy rừng khi có sự cố xảy ra.
Toàn tỉnh Đắk Lắk hiện có trên 507.000 ha rừng; trong đó có trên 300.000 ha rừng dễ cháy, chủ yếu là rừng khộp, tre, nứa, lồ ô tập trung ở các huyện M’Đắk, Ea Súp, Lắk, Ea H’Leo, Cư ‘gar, Buôn Đôn. (Tin Tức 13/2) đầu trang(
Đến thời điểm này có thể khẳng định công tác bảo vệ rừng (BVR) trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán đã được các cấp, các lực lượng chức năng và chủ rừng thực hiện đồng bộ, đạt kết quả tốt.
Từ việc chỉ đạo chung đến công tác xây dựng kế hoạch, triển khai lực lượng, phối hợp thực hiện và cụ thể hóa từng đầu việc phải làm... đều để lại dấu ấn.
Cán bộ BQL RPH Sông Tiêm và các lực lượng chức năng tuần tra, bảo vệ rừng tại dốc Đá Trụt thuộc Tiểu khu 247, nơi có độ cao gần 1000m so với mặt nước biển.
Là chủ rừng được giao quản lý diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất tỉnh, với gần 57 ngàn ha với 48 tiểu khu nhưng đến thời điểm này Vườn Quốc gia Vũ Quang đã thực hiện tốt mục tiêu: đấu tranh, ngăn chặn các hành vi khai thác, vận chuyển, tàng trữ, mua bán lâm sản trái phép; nghiêm cấm và hạn chế tối đa việc săn bắt, nuôi nhốt, giết mổ động rừng trái phép; không để xẩy ra cháy rừng.
Mặc dù lâm tặc luôn tìm cơ hội để vi phạm pháp luật, công tác BVR gặp nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm cao, tinh tthần chuẩn chuẩn bị tốt nên đơn vị đã làm luôn làm chủ được tình hình.
Giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang Nguyễn Danh Kỳ cho biết: Nhằm đảm bảo an toàn trên diện tích rừng được giao quản lý, đơn vị đã sớm chủ động xây dựng kế hoạch bảo vệ, trong đó đặc biệt chú trọng đến các vùng rừng nhạy cảm, các địa bàn phức tạp, bố trí cán bộ và phương tiện phù hợp. Với mục tiêu không để xẩy ra tình trạng bị động, bất ngờ, mất cảnh giác, ban giám đốc đã có công văn chỉ đạo, đôn đốc việc tăng cường các biện pháp cấp bách về BVR và được các phòng ban nghiệp vụ, các hạt, trạm quán triệt thực hiện tốt theo chức năng phân công.
Không kể ngày tết, cán bộ, lao động đã thay phiên nhau trực, luôn đảm bảo quân số trực gác theo quy định, các hoạt động như tuần tra, kiểm tra rừng tại gốc, tổ chức chốt chặn tại các điểm xung yếu hay rà soát, nắm rõ diễn biến hoạt động của các đối tượng cộm cán trên địa bàn để có biện pháp đấu tranh kịp thời... được duy trì thường xuyên. Nhờ vậy, trong dịp này trên lâm phần được giao đơn vị quản lý không để xẩy ra vụ việc vi phạm lâm luật nào, an ninh rừng được giữ vững.
Thực hiện nhiệm vụ BVR trong dịp tết nguyên đán năm 2016, ngoài các chủ rừng, còn có sự vào cuộc khá tích cực, đồng bộ, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng chức năng. Các huyện, thị có rừng đều xây dựng phương án, kế hoạch, cũng như các văn bản đôn, đốc chỉ đạo công tác BVR đối với các lực lượng chức năng, chủ rừng và các tầng lớp nhân dân, nhất là ở các khu vực gần rừng. Các văn bản, kế hoạch được xây dựng đều sát đúng với tình hình thực tiễn từng nơi, từng đơn vị và tinh thần chỉ đạo chung của tỉnh, Bộ NN&PTNT.
Đặc biệt, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng kiểm lâm đã phát huy tốt vai trò xung kích, “chủ công” của mình trong tham mưu, phối hợp, chỉ đạo và triển khai các biện pháp BVR. Dù là ngày nghỉ nhưng ngành vẫn luôn duy trì đủ quân số để trực, bám nắm cơ sở, sàng lọc đối tượng, chủ động nắm bắt tình hình, tích cực tuần tra, kiểm soát, chốt chặn và thực hiện các biện pháp nghiệp vụ khác. Nhờ vậy, rừng đã được bảo vệ khá hiệu quả, tình trạng vi phạm lâm luật đã được hạn chế tối đa.
Đi thực tế tại một số vùng được xem là “điểm nóng” ở Hương Khê, Kỳ Anh, Hương Sơn... trong dịp trước và sau Tết, chúng tôi nhận thấy tình hình khá yên ắng, các hoạt động liên quan đến khai thác, buôn bán, vận chuyển, chế biến, tàng trử, sử dụng gỗ và các loại lâm sản trái phép dường như không xẩy ra. Trong các khu dân cư, hầu như không còn tình trạng cất gỗ ven đường, các xưởng cưa ít hoạt động hơn. Tại các cửa rừng rất ít người qua lại, không vết chân trâu bò, các dòng suối không có dấu hiệu bị ngăn dòng để vận chuyển gỗ lậu.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong dịp trước, trong và sau Tết nguyên đán, tình hình cơ bản ổn định, trên địa bàn không để xẩy ra vụ cháy rừng nào, tình trạng sẻ phát, lấn chiếm chiếm rừng bất hợp pháp được ngăn chặn triệt để, việc săn bắt, chế biến động vật rừng cơ bản được hạn chế.
Lực lượng kiểm lâm cũng đã phối hợp, triển khai lực lượng đi tuần tra, kiểm soát và thu giữ được hơn 4,6 m 3 gỗ tròn do người dân cất giữ trái phép ở xã Sơn Kim II (Hương Sơn) và tạm giữ 55 phiến gỗ xẻ có khối lượng 6,4 m 3 từ nhóm 2 đến nhóm 8 (ở Hương Khê) không có giấy tờ nào chứng minh nguồn để điều tra xuất xứ... (Báo Hà Tĩnh 15/2) đầu trang(
Từ lâu, khu vườn nguyên sinh nằm giữa lòng đô thị tỉnh Tây Ninh (thuộc Nội ô Tòa thánh Cao Đài, huyện Hòa Thành) đã trở thành công viên khỉ tự nhiên lý thú của người dân.
Những ngày đầu năm Bính Thân, hàng ngàn lượt người dân địa phương lẫn khách thập phương tìm đến Tòa thánh Cao Đài ngoài cúng bái, tham quan Tòa Thánh còn để ngắm khỉ mừng tuổi.
Khu rừng rộng khoảng vài ha, được chia đôi trong Nội ô Tòa thánh về 2 hướng: trung tâm huyện Hòa Thành đầy sôi động và trục đường CMT8 hướng về TP.Tây Ninh, núi Bà Đen…
Hiện tại, khu rừng vẫn giữ được nét hoang sơ vốn có với thảm thực vật nguyên sinh, nhiều loại cây có giá trị như sao, dầu... vươn tầm cao vút và to đến 2-3 người ôm.
Theo lời những cụ già sống ở đây, khu rừng nguyên sinh đã có từ rất lâu nhưng khi ấy sinh vật rừng hầu như không còn bởi khu rừng nằm gọn giữa lòng đô thị.
Khoảng vài chục năm trước đây, ban quản lí Hội thánh Cao Đài phối hợp cùng Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh thả một số lượng khỉ vào rừng nuôi, chăm sóc. Từ sự xuất hiện chộn rộn của đàn khỉ bỗng thu hút khách tham quan và người dân.
Điểm đặc biệt là không phải đóng bất kỳ một khoản phí nào, người già hay trẻ nhỏ, người trong hay ngoại tỉnh đều có thể đến xem, cho đàn khỉ ăn cả trong lẫn bên ngoài hàng rào sắt.
Có người mang theo xoài, chuối, có người mang theo rau cho khỉ ăn như một thói quen. Có người chỉ muốn đến ngắm chúng đùa nghịch trong nắng.
Dưới cái nắng chiều tỏa vàng ươm trong lòng nội ô, anh Nguyễn Thanh Hải (ngụ TP.Tây Ninh) không ngại nhận xét: “Thú vị lắm, mỗi chiều đưa con đi học về tôi đều ghé qua đây cho con xem đàn khỉ chuyền cành rồi ngồi vắt vẻo trên ngọn cây”. (Thanh Niên 14/2) đầu trang(
Rừng nghiến Cốc Ly trải dài trên diện tích hơn 400 ha thuộc 7 thôn của xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai).
Với số lượng 898 cây nghiến và trai trên dưới 1.000 năm tuổi, khu rừng được xếp vào hàng 'độc nhất vô nhị' tại Việt Nam.
Ông Hồ Văn Xanh (73 tuổi), một người dân xã Cốc Ly, kể rằng từ lúc cha sinh mẹ đẻ, ông đã thấy rừng nghiến. Nhiều cổ thụ mà ông nhìn thấy hồi nhỏ giờ vẫn sừng sững. “Dân chúng tôi đã qua mấy đời người rồi mà bóng cổ thụ vẫn còn đó, xanh tươi như biểu tượng trường tồn của vùng đất cao nguyên ngàn năm gió núi”, ông Xanh tự hào.
Theo tài liệu nghiên cứu của Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam thì cây nghiến cổ lớn nhất tại rừng Cốc Ly nằm ở địa phận thôn Cốc Sâm, với đường kính lên đến 3,1 m, chu vi 9,6 m và cao 46 m. Sau khi làm các bước kiểm tra như khoan tăng trưởng, so sánh đối chứng với những cây nghiến đồng dạng mọc liền kề, Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam và UBND tỉnh Lào Cai đã công nhận cây nghiến này sống ở đại ngàn Cốc Ly đã trên 10 thế kỷ. Ngoài ra, một số cây khác có đường kính nhỏ hơn cũng có độ tuổi 700 - 1.000 năm.
Ông Xanh tiết lộ: Thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, rừng Cốc Ly không chỉ có nghiến ngàn tuổi mà còn có cả cây lát hoa cổ thụ, đồ sộ đến 15 người ôm không xuể. Không những thế, rừng còn là nơi trú ngụ của rất nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, báo, cầy hương, rắn hổ chúa... và đó cũng là nguồn sống của cư dân ven rừng.
Nhiều người đến Cốc Ly đã không khỏi trầm trồ, thích thú với những cây nghiến to đến nỗi gần 10 người ôm không xuể. Rễ của một số cây nghiến ở thôn Cốc Sâm vươn xa đến 30 m, 3 người ôm không hết, quanh thân cây có các bìu nghiến lớn sùi ra. Theo tính toán của người dân địa phương thì chỉ riêng bìu nghiến của một cây đại thụ đã có giá trị hàng tỉ đồng.
Để rừng nghiến ngàn năm tuổi tồn tại cho đến ngày nay, chính quyền địa phương đã mất rất nhiều công sức trong việc ngăn chặn nạn chặt phá rừng. Bà Hồ Thị Đảm
(70 tuổi), ở xã Cốc Ly, kể lại thời điểm cách đây chừng 35 năm, dân địa phương đua nhau vào rừng chặt phá, ai có sức thì chặt cây to, yếu sức thì chặt cây nhỏ... Lúc bấy giờ, loại gỗ lát hoa đang được ưa chuộng, vì thế cây này bị khai thác đến cạn kiệt. Có những cây lát hoa cưa đến 6 ngày mới đổ. Dân lập lán trại, đi săn, nấu nướng trong rừng ồn ào như lễ hội. Được một thời gian, lát hoa dần vắng bóng, dân lại chuyển qua chặt nghiến.
Khoảng năm 1980, khi nhà nước cấm cửa rừng, người dân xã Cốc Ly được chính quyền địa phương hướng dẫn trồng lúa nước và bảo vệ rừng, đồng thời được trợ cấp gạo, tiền, đảm bảo cái ăn hằng ngày thì việc chặt phá rừng giảm hẳn. Nhiều người trước đó còn là lâm tặc thì nay trở thành bảo vệ rừng, được hưởng lương, gạo hằng tháng.
Ông Nguyễn Xuân Tuấn, Chủ tịch UBND xã Cốc Ly, kể: “Ban đầu, chúng tôi huy động người dân 7 thôn tham gia bảo vệ rừng. Giải thích cho họ thấy lợi ích của việc giữ rừng là sau này làm du lịch, có khách về thì dân sẽ bán được lúa gạo, bán được con gà, con lợn... và làm đường bê tông vào tận thôn, bản.
Dần dần người dân cũng hiểu ra. Khách du lịch hiện nay tuy chưa nhiều nhưng điều đó khẳng định lời thuyết phục của chính quyền địa phương với người dân là đúng đắn. Dân thấy có lý, kiếm ra tiền nên tự khuyên nhau bảo vệ rừng”.
Một chính sách khác đã phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ rừng tại Cốc Ly, đó là ưu tiên hộ nghèo vào đội bảo vệ rừng. Ông Tuấn giải thích, từ trước đến nay, đối tượng tham gia chặt phá rừng chủ yếu là các hộ nghèo. Vì thiếu ăn nên họ phải vào rừng, chặt gỗ đem bán đổi lấy gạo khiến việc ngăn chặn rất khó khăn.
Chính quyền địa phương đã nghĩ ra cách thu nhận những người thuộc diện hộ nghèo vào đội bảo vệ rừng. Đổi lại, gia đình nào có người tham gia đội bảo vệ sẽ được trả công bằng gạo. Theo đó, mỗi khẩu trong gia đình có người tham gia bảo vệ được hưởng 15 kg gạo/tháng, gia đình nào 2 người thì 30 kg gạo, 4 người thì 60 kg...
Hiện 7 thôn có rừng nghiến ngàn tuổi tại xã Cốc Ly đều có một đội bảo vệ với lực lượng lên đến hơn 100 người, đó là chưa kể nhân viên kiểm lâm, công an địa phương thường xuyên tuần tra xung quanh và trong rừng.
Nắm bắt phong tục cúng rừng của người dân địa phương, tỉnh Lào Cai cùng các cơ quan bảo vệ môi trường đã họp với dân làng quanh đại ngàn Cốc Ly để khoanh vùng rừng cấm. Theo đó, những khoảnh rừng nào, cây gỗ nào được coi là cấm thì sẽ không một ai được phép chặt phá, dù chỉ là hái một chiếc lá. Bởi dân địa phương cho rằng, sau khi làm lễ cúng rừng, khu rừng đó sẽ là của thần linh, nếu ai xâm phạm thì sẽ bị trừng phạt.
Ông Hồ Chuẩn Vần, một cán bộ bảo vệ rừng tại thôn Cốc Sâm, cho biết nếu người nào cố tình vào rừng chặt cành nghiến thì người đó sẽ bị bắt đền theo hương ước làng. Lễ đền tội phải cúng thần rừng bằng mâm cỗ là một con lợn 60 - 70 kg, 100 con gà. Nếu vi phạm nghiêm trọng thì phải cúng trâu, bò và phải làm lễ mời cả làng đến khu rừng ăn uống.
Ngoài những hình phạt trên, người vi phạm còn bị xử phạt tiền gấp đôi giá trị cành gỗ ăn cắp được. Về mặt pháp luật còn phải chịu sự trừng phạt của nhà nước, nếu chặt trộm gỗ với khối lượng lớn thì có thể bị hình phạt tù. (Thanh Niên 12/2) đầu trang(
YoK Đôn, Sê Rê Pốk, Bo Heng là 3 đồn biên phòng cánh Nam Đắk Lắk thuộc huyện Buôn Đôn lần lượt được mang tên rừng, tên sông, tên suối bởi không gần một cụm dân cư nào.
Doanh trại của 3 đơn vị chìm lút vào trong khu rừng khộp khô khốc, nằm trọn trong vành đai của Vườn Quốc gia Yok Đôn, nơi duy nhất có hệ sinh thái rừng khộp đất thấp nổi tiếng của Đông Nam Á. Tôi trở lại Tây Nguyên vào cuối mùa khô, bướm trắng bay thành đàn rợp trong lòng những con suối cạn hệt như khung cảnh trong câu hát năm nào: “Nước khe cạn bướm bay lèn đá”.
Rừng khộp với các loại cây họ dầu lá rộng, thân thẳng, cây thưa và rụng lá vào mùa khô là hình ảnh thường được gọi tên là “rừng chết” gắn với vùng biên cương Đắk Lắk. Đỉnh điểm mùa khô ở đây, bình minh sớm và hoàng hôn muộn, cả tháng trời không một giọt mưa, các đơn vị biên phòng không khác gì nằm trên chảo rang.
Đại tá Lê Xuân Đáng - Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng Đắk Lắk - nói với tôi rằng, vào mùa khô đi giữa rừng mà tịnh không có một bóng mát nào. Những thân cây khộp sắt lại chống chọi với hơi nóng. Qua mùa đốt thực bì chống cháy rừng, quang cảnh càng bi tráng bởi hàng trăm hécta rừng cháy nóng đỏ rực, nham nhở, khói mù mịt và trơ khấc những cành khô trụi lủi.
“Vậy mà đồng đội tôi vẫn phải lội vào trong những mảng rừng cháy để đi tuần tra. Thời gian gần đây tái xuất hiện hiện tượng người dân tộc thiểu số bị các phần tử phản động móc nối vượt biên trái phép. Anh em càng phải tăng cường tuần tra, vắt kiệt sức vì nóng khô, thiếu nước sinh hoạt và phơi mình trong nắng bỏng” - Đại tá Lê Xuân Đáng tỏ ý lo lắng.
Đại tá Xuân Đáng mở đầu câu chuyện với tôi về việc ông lần đầu tiên đã thực hiện được một chuyến đi trù tính từ lâu, đó là đưa đoàn các chức sắc tôn giáo, già làng trưởng bản, người có uy tín của tỉnh Đắk Lắk đi thăm biên giới và các đồn biên phòng. Ông bảo, thực hiện nhiệm vụ đại đoàn kết dân tộc cũng là đoàn kết các tôn giáo.
Tôn giáo nào thì cũng yêu Tổ quốc, lấy lợi ích dân tộc là trên hết và đều phải có nhiệm vụ bảo vệ cương thổ quốc gia. Dù là tín đồ tôn giáo nào thì sâu thẳm trong lòng mỗi người, biên giới, cột mốc vẫn là thiêng liêng, vẫn là niềm khao khát được tới tận nơi, sờ tận tay lên cột mốc.
Dù đã nguyện ngàn lần những bài kinh cầu cho hòa bình thế giới và phổ độ chúng sinh, nhưng nhiều nhà sư, cha xứ, chức sắc Phật giáo, Công giáo chưa từng tới thăm biên giới, chưa từng đến gần các cột mốc cương thổ quốc gia. Lần đầu tiên, họ phơi mình dưới nắng cháy rừng khộp như bộ đội, thắp hương tưởng niệm liệt sĩ ngã xuống vì biên cương trên Đài tưởng niệm liệt sĩ ở các đồn biên phòng, thăm sông suối biên giới mùa khô cạn, có nơi dòng chảy mất tích vào trong đất, không biết đâu là đường biên giới nằm trên trung tuyến giữa sông.
Có vị không giấu nổi xúc động khi nhìn thấy cột mốc sừng sững trong rừng biên cương giữa tứ bề rừng khô như chết, sau khi đã đi trên những con đường ngầu bụi đỏ, tự thốt lên rằng sẽ chia sẻ giây phút đó với các tín đồ, giáo dân của mình khi trở về từ biên giới. Hơn lúc nào hết, đoàn kết dân tộc, tôn giáo lúc nào cũng là câu chuyện thời sự.
Ngồi giữa doanh trại Đồn biên phòng Sê Rê Pốk, tôi lặng ngắm mặt trời đỏ khuất sau tán rừng thưa gầy guộc. Mặt sân bê-tông của đơn vị còn xen vô số những thân cây dầu của rừng trơ khấc bốc hơi nóng. Bộ đội đang mướt mồ hôi chơi bóng chuyền. “Ở đây chẳng có một hoạt động tập thể nào lợi ích hơn việc chơi thể thao buổi chiều. Anh em trong đơn vị tập trung lao động vào sáng sớm cho đỡ nóng, tối tắt nắng mới ra sân chơi, và tối ngủ sớm” - Trung tá Lê Hồng Lam, Chính trị viên của đồn - cười hiền lành.
Cảm giác như doanh trại của đơn vị lẫn vào rừng trong cái nắng chói dễ gây ảo giác bởi nhìn đâu cũng thấy cây rừng và màu vàng đỏ khô khốc của tường nhà tiệp màu với lá khô. Đường biên giới cách doanh trại chừng chục cây số đường chim bay, nhưng cách xa cụm dân cư gần nhất về phía nội địa là 3 chục cây số. Chả có hàng rào nào mà anh em cán bộ chiến sĩ có mấy khi rời xa đơn vị nếu không thực hiện công tác tuần tra hoặc địa bàn. Trung tá Lam hóm hỉnh kể cho tôi nghe câu chuyện về thời trai trẻ của anh cũng đóng quân ở trên đồn biên phòng cánh Nam Đắk Lắk này.
Anh bảo hồi đó được về phép mấy ngày cũng cố gắng tán tỉnh cô hàng xóm mà mẹ anh đã cất công đánh tiếng từ trước. Vừa ngỏ lời yêu chưa kịp cho cô gái suy nghĩ gì, anh nói luôn: “Trả lời mau, mai tớ phải lên đồn rồi đấy. Vào là mấy tháng mới được ra, không có thời gian đâu”.
Đến mức cô hàng xóm chẳng dám õng ẹo làm cao, và rồi chưa kịp gật đầu thì anh đã khoác ba lô trở lại đơn vị. Yêu lính biên phòng là tình yêu tính bằng dăm ba ngày phép vậy đó. Chuyện này về sau thành giai thoại, cánh lính cứ truyền kể cho nhau mãi, cười mãi rồi ngậm ngùi, rồi lại kể, lại cười. Tiếng cười trên những hy sinh, cả hạnh phúc mà vẫn hồn nhiên, vẫn hào sảng giữa rừng.
Và người lính dù gian khó nào cũng không thể chôn vùi được những bài ca lãng mạn. Doanh trại nào cũng có những vườn hoa hồng trong lòng rừng, mặc dù những bông hoa hồng trồng trên đất bazal thắm màu nhưng còi cọc, bé tẹo cứ héo rũ đi vì nắng cháy. Gặp ở Đồn biên phòng Yok Đôn Phó Đồn trưởng Trần Văn Hưng - một thượng úy trẻ nguyên quán Hải Phòng, vốn là một cán bộ biên phòng tăng cường vào Tây Nguyên, sau đó anh tình nguyện ở lại Đắk Lắk và chuyển cả gia đình vào đây, tôi mới hiểu thế nào là hai tiếng “đất lành”.
Thượng úy Hưng nhỏ người, trên mặt còn nguyên nước da đen sạm vì nắng gió, và mai mái tái bởi đã trải qua 3 trận sốt rét rừng từ khi anh vào đây. Năm 2009, anh được tăng cường từ Sơn La vào Đắk Lắk và từ 2012, anh được đề bạt làm Phó đồn trưởng Đồn biên phòng Yok Đôn, vượt lên hẳn bạn bè cùng trang lứa với vị trí chỉ huy tham mưu quân sự của một đồn biên phòng đóng ở vị trí hiểm yếu nhất cánh nam Đắk Lắk.
Vậy là người lính này lựa chọn con đường gắn bó mãi với Tây Nguyên, dù ở đây anh không có bà con họ hàng thân thích. Anh thủ thỉ rằng dù đóng quân ở nơi này thiếu thốn trăm bề, nhưng tình đồng đội, đồng chí thì không nơi nào nồng hậu thế. Anh chuyển người vợ cùng quê với mình vào làm việc ở một doanh nghiệp tại TP. Buôn Ma Thuột. Và gia đình này trở thành một tế bào của lực lượng lao động thế hệ mới đang làm giàu cho Tây Nguyên.
Dọc con đường rừng vài cây số từ đồn dẫn ra phía đường biên giới, phía cột mốc 47/2 nằm bên cạnh con suối Đắk Đam, một chi lưu của sông Sê Rê Pốk, tịnh không có một màu xanh nào ngoài bóng quân phục của đội tuần tra. Mùi cỏ cháy khét lẹt và mùi mồ hôi dầu của đàn ông làm tôi ngộp thở. Thượng úy Hưng thoăn thoắt nhảy qua những phiến đá lớn trơ khấc giữa lòng suối cạn.
Anh chỉ tay qua bờ suối bên kia cho tôi thấy cột mốc đôi nằm trên đất bạn. Phút giây đó, dường như sải tay người lính ôm trọn rẻo sông này, không có nhất cử nhất động nào qua được đôi mắt tham mưu quân sự tinh tường ấy. Khe suối cạn này có đường mòn, vào mùa này chỉ vài giây là có thể băng qua suối sang Campuchia. Thượng úy Hưng nói, thường thì chỉ vài phút, nếu có nhiệm vụ đột xuất, các anh có thể áp sát địa điểm nhạy cảm này.
Quãng rừng thâm u hoang vu quanh Đồn biên phòng Yok Đôn là cái ổ sốt rét rừng mà Thượng úy Trần Văn Hưng đã 3 lần dính. Lính biên phòng Đắk Lắk nói rằng dù có quyết định dấu đỏ đóng vô mà sức không chịu đủ 3 trận sốt rét thì coi như chưa vượt qua thử thách để sống được trên miền rừng này. Dễ hiểu vì sao những vườn hoa hồng trong lòng rừng được những người lính cưng chiều nâng niu đến thế. (Lao Động 14/2) đầu trang(
Chẳng biết từ khi nào người ta liệt giống khỉ vào danh mục những món ăn khoái khẩu, bổ dưỡng. Vì lợi ích họ sẵn sàng lùng sục khắp rừng rú để săn những "đặc sản" này.
Chưa kể, hằng ngày những ngọn núi, cánh rừng bị con người sẻ thịt vì lợi ích kinh tế. Khi những chú khỉ hoảng sợ, lạc lõng, kêu gào thì sư cô Thích Diệu Mơ (trụ trì chùa Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) đã mang cả tính mạng mình bảo vệ chúng, chăm sóc chúng như con.
Phía Tây bên kia của núi Nhẫn người ta đang ngày đêm xẻ đá phục vụ cho cả chục nhà máy xi măng. Còn bên này, ngôi chùa Nhẫm Dương cổ kính vẫn lặng lẽ nằm nép mình như thể đang ẩn chứa những tâm tư. Ngày ấy, ngọn núi này bạt ngàn một màu xanh, chim muông kéo về rợp một góc trời.
Điều đặc biệt hơn cả, ở núi Nhẫm có rất nhiều khỉ, nhiều đến nỗi người ta còn gọi là núi khỉ. Lúc nào cũng có hàng chục đàn khỉ vàng, lên tới cả vài trăm con. Tuy sống hoang dã nhưng lũ khỉ rất quấn con người. Sư thầy lên núi tăng gia trồng ngô, sắn còn bị lũ khỉ trêu đùa, đào phá ruộng. Nhiều người lên đây còn bị lũ khỉ tinh nghịch ném đá, giật nón… Sư Mơ nhớ lại: "Đúng là nhiều khi rất bực mình nhưng thấy vui vì chúng rất thông minh, tình cảm".
Thế rồi người ta bắt đầu chặt cây, phá rừng, những chú chim, chú khỉ trở thành mồi nhậu. Cây cối thưa đi, lũ khỉ cũng mất dần chỗ ẩn náu, chim muông về đây ngày một ít. Sư cô còn nhớ như in cái ngày người ta về đây mở nhà máy xi măng. Họ cho máy móc vào đào núi lấy đá làm xi măng, lũ khỉ hoang mang. Hằng ngày phải nghe tiếng máy xúc, tiếng mìn nổ khiến lũ khỉ sợ hãi, đêm đến từng đàn lại kéo nhau bỏ đi đâu không ai rõ.
Nhìn về phía cánh rừng loang lổ, sư cô Thích Diệu Mơ tâm sự: "Loài khỉ chúng chẳng khác gì con người đâu, chúng bảo vệ và rất thương nhau. Có lần một người thợ săn đánh bẫy kẹp được mấy con khỉ. Thấy tiếng kêu cả đàn khỉ kéo nhau đến giải cứu, khi cứu được những con bị nạn là chúng cõng nhau lên rừng đắp thuốc. Còn một con đang được cứu thì gã thợ săn đến. Thấy vậy đàn khỉ lao vào tấn công, ông này sợ vác bẫy cùng con khỉ lùi dần xuống núi".
Sau khi chứng kiến cảnh đó, sự cô đã gặp người thợ săn khuyên nhủ. Từ đó ông này từ bỏ nghề bẫy khỉ luôn. Mãi sau này sư cô mới phát hiện con khỉ bị bắt là khỉ mẹ, có mấy đứa con nhỏ. Buổi sáng nào sư Mơ dậy sớm tụng kinh cũng thấy mấy chú khỉ con đứng gần tháp chuông nhìn về phía nhà ông thợ săn mà khóc. Tiếng khỉ con khóc ai oán, nỉ non khiến sư thầy không cầm được lòng mình.
Có những lần sư cô chứng kiến người ta giết khỉ man rợ, ăn óc, nấu cao mà người như chết điếng. Sư Mơ lặng lẽ kể: "Chứng kiến những việc mà người ta làm với bầy khỉ nên thầy mới ấp ủ mua hết những con khỉ gặp nạn về nuôi. Thầy chứng kiến những đàn khỉ bỏ đi nhưng đâu có nghĩ người ta bắt đi giết thịt, nấu cao. Loài khỉ sống tình cảm như con người vậy mà họ nỡ giết chúng".
Mong muốn gây dựng lại núi khỉ ngày một lớn, sư Mơ lặn lội đi khắp nơi mua những chú khỉ bị người ta rao bán. Rồi hằng ngày cần mẫn lên núi trồng cây những mong bầy khỉ sẽ trở lại. Cách đây cả chục năm sư Mơ đến một cơ sở chuyên nấu cao khỉ mua được 2 con, mỗi con giá lên tới 3 đến 4 triệu.
Đó là hai con đầu tiên mà sư Mơ mua về, được đặt tên là con Trố và Ngố. Mua hai chú khỉ về chùa và định thả ngay lên núi nhưng chẳng con nào đi được, chân còn không đứng vững. Sau mới phát hiện chúng bị bỏ đói lâu ngày, chân lại bị đau. Sư Mơ đã để chúng lại chùa và chăm sóc, sau 3 tháng chúng mới tự đi, tự đánh đu được…
Những chú khỉ được giải cứu về chùa đa phần đều đang bị thương hoặc rất hoảng sợ. Vì thế sư Mơ phải nuôi dưỡng, chăm sóc một thời gian đầu mới thả về tự nhiên. Thế nhưng khỉ vốn là loài sống tình cảm, nhiều con được thả lên núi cũng không chịu đi, chỉ quấn lấy chùa, lấy sư Mơ. Mỗi tiếng kêu, mỗi động tác của lũ khỉ là sư Mơ đều hiểu. Lúc thì có con đòi ăn, lúc lại có con đòi bế, đòi uống sữa…
Sư Mơ bảo, con Ngố là con nghịch ngợm nhất, không để ý là nó làm loạn ngay. Ngố nó tự vào điện ăn cắp đồ thờ, rồi vào bếp bốc vụng cơm nguội, trêu ghẹo phật tử. Còn con Trố thì tham ăn tục uống. Muốn bắt tay làm quen là phải cho nó ăn. Còn bắt tay mà không cho nó ăn là giơ nắm đấm ra dọa.
"Mỗi con một tính, mình phải hiểu mới chiều được chúng. Như con Đuôi Dài ấy, nó bị đánh bẫy nên gãy chân. Mỗi khi trở trời là khó tính lắm, ai hỏi đến là xông vào cắn ngay. Thầy chăm con Đuôi Dài hơn cả vì nó bị đau". Dứt lời sư Mơ chỉ về phía con Ngộ Không: "Con này thầy nuôi và cho ăn chay từ nhỏ, ai cho thịt là nó vứt đi ngay. Nhanh nhẹn, thông minh lắm nhưng có mỗi tội hay ăn cắp. Có khi đang nói chuyện, không để ý là thò tay vào túi lấy đồ của người ta ngay".
Sư Mơ bấy lâu coi lũ khỉ như con của mình. Năm trước thầy đã khóc mấy ngày khi con Chồn chết. Con Chồn được một phật tử đến lễ chùa tặng. Thầy quyết định đặt tên là Chồn vì có cái đuôi dài giống con chồn. Thầy xích Chồn ở cây chay đầu hồi, lạ người nên nó rất hay căn sư Mơ mỗi lần cho ăn. Cứ mỗi lần cắn thầy, thầy lại nhẹ nhàng nói với Chồn: "Sao Chồn lại cắn thầy? Thầy nuôi Chồn, cho Chồn ăn cơ mà. Thầy có đánh con đâu mà con cắn thầy đau thế". Cứ nhiều lần như vậy, Chồn cắn nhẹ hơn rồi không căn thầy nữa.
Sau này Chồn lại là con sống tình cảm nhất với thầy. Như một đứa trẻ con, mỗi lần muốn đi ngủ là đòi thầy bế và ru ngủ. Chạy nhảy khắp nơi, Chồn lại về đòi thầy uống sữa, bế quanh 3 vòng sân ru ngủ mới yên tâm leo lên cây nằm ngủ.
Nhiều hôm thầy có công chuyện đi xa, Chồn cứ đứng cả ngày ở cổng chùa ngóng thầy về. Thế rồi có hôm thầy mệt không bế, nó không đi ngủ cứ ngồi ở đầu hè khóc thút thít. Thương quá thầy cố gượng dậy bế Chồn 1 vòng hát ru sau mới chịu đi ngủ. Thầy Mơ rơm rớm nước mắt nhớ lại: "Con Chồn nó khôn và tình cảm lắm, buồn vì nó mất rồi. Cái hôm thợ đến sửa chùa có để lọ keo ở ngoài, nó tưởng hộp sữa thế là uống tất. Sáng hôm sau không thấy tiếng của nó, thầy đi tìm thì thấy nó đã chết ở gốc cây mít".
Chuyện cảm động giữa con Xích Lu và con Vâu cũng khiến sư Mơ không cầm được nước mắt. Xích Lu và Vâu được một phật tử cứu khi người ta chuẩn bị bán chúng sang Trung Quốc. Khoảng 3 năm về trước con Xích Lu đang có bầu, đi lại chậm chạp dưới sân chùa, có một phật tử quét sân không may va phải, Xích Lu tưởng mình bị đánh nên nhảy vào cào cắn.
Không may mắn, lúc đó một con chó đang nằm cạnh, nghĩ chủ mình bị khỉ đánh nên đã lao vào cắn đúng cổ, Xích Lu chết ngay tại chỗ. Con Vâu chứng kiến cảnh tượng đó vô cùng hoảng loạn, nó như phát điên. Ngay chiều hôm đó con Vâu đã lặng lẽ bỏ lên núi, thỉnh thoảng mới về cây thị ngủ vì nhớ chùa.
Chia tay chúng tôi sư Mơ nói với giọng đầy quyết tâm: "Thầy sẽ quyết giữ núi này cho bằng được. Thầy phải gây dựng cho kỳ được núi khỉ, rồi nơi đây sẽ có cả chục bầy khỉ sinh sống. Thầy mong chính quyền địa phương cùng chung tay, cùng bảo vệ những chú khỉ ngoài hoang dã, tạo điều kiện cho thầy nuôi dưỡng chăm sóc chúng". (Phụ Nữ News 8/2) đầu trang(
Ngay khi có thông tin về người công nhân trồng rừng Hoàng Văn An, ở thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh có dấu hiệu bị oan trong vụ án “hủy hoại rừng”, trưởng phòng Bạn đọc đã cử tôi đến huyện Bình Liêu để tìm hiểu vụ việc.
Nhắc đến cái tên Hoàng Văn An, người dân thị trấn hầu như ai cũng biết và bức xúc khi ông An bị khởi tố về tội “hủy hoại rừng”. Tìm đến nhà ông An, mở cửa cho tôi vào nhà là một cụ bà, sau tôi được biết đó là mẹ của ông An. Khi biết tôi là phóng viên (PV), cụ vui mừng và nghẹn ngào nói “con tôi oan quá chú ơi”. Rồi cụ kể: Nó chỉ xử lý thực bì để trồng rừng thôi chứ có phá rừng đâu, vậy mà họ vẫn bắt con tôi vào tù và định ép nó vào tội hủy hoại rừng nữa chứ!
Một người đàn ông đi từ tầng 2 xuống rồi ngồi cạnh tôi, đó là ông Hoàng Văn An. Ông An cảm ơn báo Pháp luật & Xã hội đã cử PV đến tận nơi để tìm hiểu vụ việc này. Ông bắt đầu nói về vụ án của mình, từ việc ông bị bắt đến việc ông bị tạm giam rồi được bảo lãnh ra ngoài.
Rồi ông diễn giải quy trình trồng rừng ra sao và ông đã thực hiện như thế nào. Tối hôm đó, tôi đọc lại hồ sơ và nghiên cứu những quy định về nông nghiệp có liên quan đến vụ án. Từ các tiêu chí xác định rừng đến quy trình trồng rừng, các phân loại rừng… Tôi nhận thấy, ông An có dấu hiệu bị oan!
Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra 20-5-2014, TAND huyện Bình Liêu đã khẳng định những căn cứ mà VKSND huyện Bình Liêu đưa ra chưa đủ sức thuyết phục để buộc tội “hủy hoại rừng” đối với ông An.
Những tài liệu, hồ sơ từ CQĐT, VKSND huyện Bình Liêu cung cấp cũng như diễn biến thực tế tại phiên tòa cho thấy ông An không phạm tội mà chỉ chưa thực hiện một số thủ tục trong việc xử lý thực bì đối với Cty lâm nghiệp Bình Liêu. Vấn đề này phải nằm trong một vụ án dân sự khác. Vì lẽ đó, HĐXX đã tuyên bố ông Hoàng Văn An vô tội, ông An sẽ được khôi phục lại danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại phiên tòa phúc thẩm, TAND tỉnh Quảng Ninh đã quyết định trả hồ sơ đề nghị điều tra bổ sung. Sau đó, CQĐT CA huyện Bình Liêu đã quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Ông Hoàng Văn An đã được minh oan. (Pháp Luật Và Xã Hội 15/2) đầu trang(
Rút kinh nghiệm sau hàng loạt vụ cháy cây tạp tại xã Lê Minh Xuân, đe dọa những cánh rừng phòng hộ lân cận vào đầu năm 2015, năm nay, huyện Bình Chánh tổ chức phòng ngừa cháy rừng trong mùa khô từ rất sớm.
Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016, hàng chục dân quân, đoàn viên thanh niên các xã Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai phối hợp cùng cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát PCCC huyện Bình Chánh tổ chức phát cỏ, đào hào, tạo ranh ngăn lửa quanh các khu rừng phòng hộ. Đồng thời xây đắp kè, tạo các ao tích nước quanh rừng, mở các đường nhỏ trong rừng, để khi có cháy xảy ra, lực lượng chữa cháy kịp thời dập lửa, không để cháy lan, cháy lớn.
Trong khi đó, thực hiện yêu cầu của UBND huyện Bình Chánh, ngay những ngày đầu năm mới, chủ đầu tư dự án Sing - Việt tiến hành rào chắn quanh khu đất 300ha đất bỏ hoang, gồm rừng phân tán, cây tạp tại xã Lê Minh Xuân, không để người dân ra vào đốt rừng lấy củi, dễ dẫn đến cháy lan sang những khu rừng lân cận.
Tại huyện Cần Giờ, diện tích rừng rộng, đa số là rừng ngập mặn, khi có cháy xảy ra, việc chữa cháy gặp nhiều khó khăn. Lường trước những bất cập này, ngoài các giải pháp phòng cháy trước đây, đầu năm 2016, địa phương đã đưa vào lắp mới, cố định thêm nhiều máy bơm ở các khu rừng có nguy cơ cháy cao; bố trí thêm lực lượng chốt trực, bảo vệ rừng, không để phát sinh nguồn lửa ngay từ khu vực ven rừng.
Theo Cảnh sát PCCC TPHCM, qua rà soát và thống kê, hiện thành phố có gần 37.000ha đất rừng và đất lâm nghiệp (chiếm khoảng 16% diện tích đất tự nhiên), chủ yếu là rừng phòng hộ môi trường. Trong số này, có hơn 8.738ha đất rừng cây lâm nghiệp trồng phân tán và các loại cây trồng khác nằm trong vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao, phân bổ tại 19 xã, phường thuộc các huyện Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn và quận 9.
Để phòng ngừa cháy rừng hiệu quả tại các địa bàn nói trên, từ cuối năm 2015, Cảnh sát PCCC TPHCM đã chỉ đạo các phòng cảnh sát PCCC trực thuộc phụ trách địa bàn tham mưu cho các quận, huyện có giải pháp phòng ngừa phù hợp với đặc điểm địa hình, từng loại rừng. Tất cả các giải pháp luôn đáp ứng, đảm bảo và bám sát vào phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện - vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ). (Sài Gòn Giải Phóng 13/1) đầu trang(
Theo Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp), một số tỉnh như: Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Gia Lai, Kon Tum, Tây Ninh hiện đang có nguy cơ cháy rừng cấp 5-cấp cực kỳ nguy hiểm, đây là thông tin tiếp tục được cảnh báo chiều ngày 10-2 (tức mùng 3 Tết)...
Ngoài ra, 7 tỉnh khác là: An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Long An, Lâm Đồng, Ninh Thuận có nguy cơ cháy rừng cấp 4-cấp nguy hiểm. Cũng theo Cục Kiểm lâm, trong trường hợp cháy rừng xảy ra, hầu hết các kiểu rừng này đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh, gây thiệt hại lớn cho rừng và khó khăn cho công tác chữa cháy rừng.
Vì vậy, Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, Uỷ ban nhân dân các cấp và chủ rừng thuộc các tỉnh trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 10/2) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, đến nay các địa phương đã xây dựng kế hoạch trồng cây, trồng rừng dịp Tết Bính Thân 2016.
Thời điểm phát động Tết trồng cây Xuân Bính Thân 2016 triển khai ở các tỉnh phía Bắc là vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc. Vì vậy, để tổ chức tốt Tết trồng cây không phô trương hình thức, Tổng cục lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề nghị các địa phương chuẩn bị tốt về chất lượng số lượng cây giống, địa điểm trồng phải là diện tích đất trống trong quy hoạch để trồng cây.
Thời gian tổ chức lễ phát động phải ngắn gọn nhưng phải đảm mọi tầng lớp nhân dân thấy rõ mục đích, ý nghĩa của phong trào trồng cây, để từ đó tự giác thực hiện, đồng thời sau khi phát động phải tổ chức kiểm tra rút kinh nghiệm và phải có khen thưởng kịp thời đối với những cá nhân và điển hình làm tốt.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: "Để Tết trồng cây hiệu quả thì kết quả Tết trồng cây phải được đưa vào trong kế hoạch phát triển rừng của các địa phương, sau khi trồng xong phải có giải pháp quản lý, bảo vệ và cây khi trồng phải sống và hàng tháng, các quý và hàng năm phải đi kiểm tra đánh giá, nếu cây nào chết phải trồng bổ sung ngay đúng quy định, tuân theo đúng quy trình về trồng rừng." (VOV Giao Thông 12/2) đầu trang(
Trong thời gian vừa qua cây mắc ca nổi lên như một hiện tượng về một loại cây trồng mới tại Việt Nam. Có thể nói chưa có một cây trồng nào nhận được nhiều sự quan tâm và gây tranh cãi nhiều như cây mắc ca.
Do đó, một bức tranh tổng thể về loại cây này là rất cần thiết để cho nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước (bốn nhà) có được một góc nhìn thống nhất, nhằm phát triển cây mắc ca một cách bền vững và hiệu quả.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 quốc gia trồng cây mắc ca. Tuy nhiên mới chỉ có khoảng 10 quốc gia cho sản lượng mắc ca đáng kể. Trong 11 quốc gia sản xuất mắc ca lớn nhất được thống kê thì năm 2014 quốc gia có sản lượng dẫn đầu là Nam Phi với tổng sản lượng hạt khô khoảng 44.111 tấn, xếp theo sau là Australia 40.766 tấn, Kenya đứng thứ 3 với 19.478 tấn, tiếp theo là Hoa Kỳ với 15.708 tấn.
Theo báo cáo của INC (International Nut and Dried Fruit Council Foundation) tính từ năm 2004 đến 2014 sản lượng hạt nhân mắc ca sản xuất trên thế giới tăng trung bình khoảng 6% năm. Cũng theo báo cáo của INC thì năm 2014 Hoa Kỳ là quốc gia tiêu thụ mắc ca lớn nhất thế giới.
Tổng sản lượng mắc ca người dân Hao Kỳ tiêu thụ trong năm 2014 lên đến 9.250 tấn, tiếp theo là Australia với 3.200 tấn, Nhật Bản 2.500 tấn. Tuy nhiên, Trung Quốc lại nổi lên là quốc gia có tốc độ tăng lượng tiêu thụ nhanh nhất thế giới.
Giá trị hạt mắc ca trên toàn cầu năm 2014 đạt khoảng 586 triệu USD (INC, 2015), mức thấp nhất trong những loại hạt quả khô phổ biến trên thế giới, do sản lượng mắc ca còn rất hạn chế so với các loại hạt quả khô khác.
Cũng theo nhận định của INC tại Hội nghị Mắc ca toàn cầu lần thứ 7 diễn ra tại Nam Phi vào tháng 08/2015, trong 10 năm tới, lượng cầu về mắc ca vẫn lớn hơn nhiều so với lượng cung mắc ca toàn cầu.
Tại Việt Nam, cây mắc ca sinh trưởng, phát triển rất tốt ở nhiều vùng sinh thái, đặc biệt sản lượng quả còn cao hơn ở vùng nguyên sản và nhiều nước khác.
Theo kết quả nghiên cứu thử nghiệm ở Việt Nam cây mắc ca cho quả sớm với sản lượng lớn hơn hẳn các nước khác, kể cả nước nguyên sản cây mắc ca, chỉ đứng sau Hawaii.
Như vậy, xét về điều kiện tự nhiên, cơ hội, và tiềm năng của thị trường thì việc phát triển cây mắc ca tại Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở, nhất là trong bối cảnh một diện tích lớn đất trồng cây lâu năm đang cần chuyển dịch cơ cấu cây trồng để đem lại hiệu quả cao hơn.
Tuy nhiên, việc phát triển cây mắc ca cần phải thận trọng, và có chiến lược, định hướng rõ ràng. Thứ nhất, cần phát huy sự liên kết bốn “nhà”. Trong thời gian qua, với sự tiên phong của Him Lam và LienvietPostbank, sự liên kết này đang dần được tạo ra.
Song vẫn cần được phát triển chặt chẽ hơn nữa để có được sự đồng bộ trong tầm nhìn về chiến lược phát triển; Và Nhà nước cần đóng vai trò trung tâm, thông qua các chính sách để định hướng sự phát triển ngành.
Thứ hai, việc phát triển cây mắc ca cần phải được quy hoạch vùng trồng một cách bài bản. Chỉ khuyến khích trồng tại những vùng đất được đánh giá là phù hợp nhất, tránh trường hợp phát triển tràn lan, nằm ngoài quy hoạch, đem lại hiệu quả thấp.
Đồng thời, công tác tập huấn, đào tạo kỹ thuật canh tác cần phải được chú trọng. Trong thời gian qua, việc này đã được Him Lam và chính quyền một số tỉnh triển khai.
Thứ ba, nên hạn chế việc phát triển cây mắc ca ngoài vùng quy hoạch, bằng sự tuyên truyền đến các hộ dân, và chính sách thắt chặt tín dụng với mục đích phát triển cây mắc ca tại các vùng này.
Thứ tư, cần có một chiến lược về sản xuất, chế biến, xuất khẩu, tiêu thụ, để đảm bảo về chất lượng và ổn định đầu ra cho sản phẩm mắc ca của Việt Nam. Để làm được điều này, cần phải có chính sách thu hút các doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính và quản trị tham gia vào ngành.
Có được sự liên kết - đồng lòng giữa bốn “nhà”, cộng với một chiến lược phát triển bài bản, kèm theo các chính sách hỗ trợ về vốn và kỹ thuật cho người nông dân, một ngành mắc ca phát triển bền vững tại Việt Nam không còn xa. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/2) đầu trang(
Sẽ có khoảng 60 tỉnh, thành phố trên cả nước triển khai thực hiện tích hợp dữ liệu kiểm kê rừng, đây là Dự án phát triển hệ thống thông tin quản lý lâm nghiệp Việt Nam, do Chính phủ Phần Lan hỗ trợ với kinh phí lên đến gần 10 triệu ơ rô.
Theo đó, Dự án phát triển hệ thống thông tin quản lý lâm nghiệp Việt Nam do Chính phủ Phần Lan hỗ trợ triển khai trong giai đoạn 5 năm từ 2013 đến 2018.
Trong đó 4 năm đầu là thời gian thực hiện và năm thứ 5 là năm chuyển giao kết quả. Giai đoạn 2 của dự án tập trung hỗ trợ cho ngành lâm nghiệp phát triển hệ thống quản lý thông tin lâm nghiệp và nhân rộng hệ thống này trên phạm vi toàn quốc với mục tiêu tổng quát là đảm bảo quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng dựa trên nền tảng thông tin cập nhật, góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
Đến nay, dự án đã tích hợp dữ liệu kiểm kê rừng của 15 tỉnh hoàn thành kiểm kê rừng năm 2013 và 2014 gồm: Bắc Kạn, Hà Tĩnh, Đắc Lắc, Kon Tum, Lâm Đồng, Gia Lai, Đắc Nông, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tiền Giang, An Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau, Long An. Đồng thời, chuẩn bị tiếp nhận để tích hợp dữ liệu kiểm kê rừng của 25 tỉnh hoàn thành kiểm kê rừng trong năm 2015.
Việc tích hợp và chia sẻ thông tin giúp các cơ quan lâm nghiệp, các chương trình, dự án có khả năng tiếp cận nhanh chóng tới nguồn dữ liệu hiện có của ngành, loại bỏ tình trạng đầu tư trùng lặp và “cát cứ” dữ liệu trong lĩnh vực lâm nghiệp: Các dữ liệu hiện nay chúng ta đang có nhưng không thể để vào các máy tính riêng rẽ được mà phải tập trung để đưa lên hệ thống đảm bảo tính minh bạch.
Thông tin trên hệ thống thường xuyên được cập nhật phục vụ công tác ra quyết định, xây dựng chiến lược trong lĩnh vực lâm nghiệp từ Trung ương đến địa phương. Đồng thời các chủ rừng, cơ quan đầu tư có thể truy cập để biết được hiện trạng rừng như thế nào, tình trạng ra sao để đầu tư, và các chủ rừng có thể kiểm tra diện tích rừng một cách nhanh chóng và chính xác. Về lâu dài giúp chúng ta minh bạch hóa và truy xuất nguồn gốc của rừng.
Dự kiến trong quý 1 năm nay, Tổng cục Lâm nghiệp hoàn thiện và trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành “Quy chế quản lý hệ thống thông tin ngành lâm nghiệp”. (Lao Động Thủ Đô 9/2) đầu trang(
Trước đây, ngày mồng 5 tết được các địa phương trong cả nước tổ chức trồng cây. Lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể từ Trung ương tới địa phương đều tham gia trồng cây với toàn dân. Nhưng mấy năm gần đây, việc phát động tết trồng cây có phần xao nhãng, không thấy rầm rộ như trước nữa.
Đã qua dịp nghỉ tết Nguyên Đán mà chưa thấy nơi nào tổ chức ra quân trồng cây cả. Có lẽ các quan chức bận nhiều việc quá, nhân dân thì mải lễ hội và lo kiếm ăn nên đã quên luôn tục lệ trồng cây đầu năm mới mà từ ngày 28/11/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động ngày “Tết trồng cây”.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có rất nhiều điều phải làm, trong đó có việc trồng cây, gây rừng mà Bác từng nhắc nhở toàn dân phải chăm lo “vì lợi ích 10 năm”. Bây giờ các địa phương quên trồng cây, gây rừng thì chứng tỏ đã quên lời Bác dạy và không học tập và làm theo Bác!
Sinh thời, mùa xuân Kỷ Dậu năm 1969, sức khỏe của Bác đã giảm sút, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề rất khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây.
Nhưng Bác rất kiên quyết. Người nói: “Đây là dịp kỷ niệm 10 năm ngày phát động Tết trồng cây nên các chú phải bố trí cho Bác trồng cây ở một địa phương nào đó có nhiều thành tích...”. Sau đó, Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là nơi có phong trào trồng cây tốt.
Đã từng thành tập quán, nhiều năm sau đó, mỗi độ Tết đến, Xuân về, Bộ NN&PTNT phối hợp với Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” theo chỉ đạo của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm nay, buổi lễ này dự kiến được tổ chức long trọng tại khu cách mạng tỉnh Tuyên Quang.
Ngay trong tháng 12/2015, Bộ NN&PTNT đã có văn bản chỉ đạo các địa phương cả nước phát động phong trào trồng cây gây rừng và tổ chức Tết trồng cây Xuân Bính Thân 2016 phù hợp, thiết thực, hiệu quả, coi như hoạt động có ý nghĩa chào mừng thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đây là cuộc thi đua “tốn kém ít mà hiệu quả nhiều”, “một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người, từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”. Tuy nhiên, không phải địa phương nào cũng thực hiện nghiêm túc. Hơn nữa, phải làm sao cho toàn dân tự giác tham gia phong trào chứ không chỉ làm lễ phát động rồi mấy vị lãnh đạo đến trồng mấy cây lưu niệm ở những khu di tích.
Cây xanh bảo vệ môi trường sống cho con người nên quốc gia nào cũng quan tâm đến trồng rừng và trồng nhiều cây xanh quanh môi trường sống. Ở nước ta, tình trạng phá rừng đầu nguồn, khai thác gỗ trái phép xảy ra ở nhiều nơi, ảnh hưởng nghiêm trọng tới thời tiết, khí hậu, gây lụt lội và lũ quét, thiệt hại rất lớn đến đời sống người dân.
Ở miền núi và trung du, nhiều diện tích đồi núi trọc chưa được phủ cây xanh, mất rừng. Ở nhiều đô thị và khu dân cư, tỷ lệ cây xanh cũng chưa đáp ứng nhu cầu cần thiết. Có thành phố còn thay thế cây bóng mát bằng loại cây cao vút, tán lá nhỏ. Vì thế, việc trồng rừng ở miền núi và trồng cây bóng mát ở đô thị vẫn là vấn đề cấp thiết lâu dài.
Trước tình trạng phá rừng bừa bãi, thiếu bóng mát cây xanh nơi đô thị và các khu công nghiệp, môi trường ngày một ô nhiễm, nếu không duy trì phong trào trồng cây, gây rừng thì đời sống con người ở đất nước gần 100 triệu dân còn tiếp tục bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Thế mà phong trào thi đua trồng cây, gây rừng lại bị nhiều nơi quên lãng là điều đáng báo động. Càng tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta càng phải có ý thức bảo vệ môi trường mà trồng cây xanh là nhu cầu không thể thiếu!
Cần khôi phục lại phong trào trồng cây gây rừng ngay từ mùa xuân này! (Năng Lượng Mới 14/2) đầu trang(
Năm 2015, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) gặp không ít khó khăn do giá cả thị trường biến động bất thường: Giá nhựa thông thấp, giá dăm không ổn định, trong khi giá vật tư, trang thiết bị và chi phí nhân công tăng cao... song nhờ có nhiều biện pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh nên Công ty đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu kế hoạch được giao.
Với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là trồng, chăm sóc rừng, khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ gỗ mỏ từ rừng trồng và quản lý bảo vệ rừng, thời gian qua Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Vân Đồn luôn xác định khai thác tốt tiềm năng, nguồn lực phục vụ sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Ngay từ đầu năm Ban giám đốc Công ty đã chỉ đạo các phòng ban kết hợp cùng các tổ, đội xây dựng kế hoạch cụ thể, rà soát, kiểm kê lại các suất rừng, xây dựng cơ chế khoán cho phù hợp, tổ chức phát dọn thực bì đảm bảo đúng yêu cầu, quy trình kỹ thuật, giảm tối đa các vụ cháy gây thiệt hại đến rừng.
Vì vậy, tuy trong năm mưa bão nhiều, kéo dài làm gẫy đổ nhiều diện tích thông đang khai thác nhựa, ảnh hưởng đến sản lượng nhựa nhưng Công ty đã khai thác được 267 tấn nhựa. Trong khai thác rừng trồng, đối với những diện tích rừng keo đã đến kỳ khai thác, Công ty tổ chức khai thác theo đúng quy trình kỹ thuật để cung ứng cho ngành Than theo hợp đồng đã ký kết và tạo được nguồn nguyên liệu ổn định cho khâu sản xuất gỗ giấy.
Riêng với diện tích rừng thông mã vĩ trồng từ nguồn vốn ngân sách đều đã quá tuổi và qua một thời gian trích nhựa dài, hiệu quả kinh tế đạt thấp, Công ty đã tổ chức khai thác theo đúng quy định, quy trình quy phạm, nhằm tận thu lượng gỗ phục vụ cho chế biến gỗ của Công ty. Tổng sản lượng gỗ Công ty khai thác trong năm 2015 đạt gần 5.700m3. Phần lớn diện tích đã khai thác đều được trồng lại bằng loài cây mới chu kỳ ngắn, giá trị kinh tế cao hơn.
Đặc biệt công tác trồng rừng được Công ty rất chú trọng. Từ năm 2011 Công ty đã thử nghiệm phương pháp nuôi cấy mô có nhiều ưu điểm vượt trội ươm cây giống bằng hạt. Nếu như giống cũ có chu kỳ khai thác từ 8-10 năm, mỗi cây chỉ lấy được 1 đoạn gỗ mỏ, với năng suất đạt 80-90m3/ha, thì cây nuôi cấy mô với chu kỳ khai thác chỉ từ 6-8 năm, mỗi cây lấy được từ 3-4 đoạn, đã cho năng suất từ 140-160m3/ha. Hiện Công ty đã trồng thử nghiệm giống ươm này trên 20ha, cây sinh trưởng và phát triển khá tốt.
Ngoài ra, đơn vị còn triển khai thực hiện dự án trồng gấc theo hợp đồng đã ký kết với Công ty VN PoFood trồng trên 5.000 gốc gấc. Đây là loại cây có ưu điểm dễ trồng, vốn đầu tư thấp, trồng một lần có thể duy trì thu hoạch trong khoảng 20 năm. Trong năm Công ty cũng đã trồng được 600ha rừng, nâng tổng số diện tích rừng đã trồng của Công ty lên trên 7.200ha, chiếm 82,5% tổng diện tích đất rừng quản lý.
Để đa dạng hoá các lĩnh vực kinh doanh từ rừng, tận thu được số gỗ của công ty cũng như tiêu thụ được gỗ cho nhân dân trên địa bàn, Đảng uỷ Công ty đã đề ra nghị quyết về mở rộng chế biến gỗ xuất khẩu.
Theo đó, Công ty đã huy động trên 10 tỷ đồng đầu tư xưởng chế biến gỗ, xây dựng và đầu tư một số máy móc như hệ thống sấy gỗ, máy cao tần để sản xuất gỗ ghép thanh có nhiều kích thước khác nhau cung cấp cho thị trường, sản xuất gỗ dăm cung cấp nguyên liệu làm giấy cho một số nhà máy sản xuất giấy. Đến nay xưởng chế biến gỗ đã ngày càng phát huy hiệu quả.
Ông Lê Đình Áng, Tổng Giám đốc Công ty cho biết: Với sự đoàn kết, sáng tạo, quyết tâm cao của toàn thể CBCN-LĐ trong Công ty, đơn vị đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Doanh thu đạt trên 45 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước trên 1 tỷ đồng, lãi sản xuất kinh doanh đạt gần 400 triệu đồng, đạt kế hoạch.
Công ty không những đảm bảo việc làm cho công nhân lao động với mức lương tăng từ 5,5 đến 5,8 triệu đồng/người/tháng mà còn tạo việc làm cho 200-300 lao động thời vụ tại địa phương với mức lương từ 5-6 triệu đồng/người/tháng. Đồng thời Công ty đã điều chỉnh kịp thời các định mức giao khoán, nâng lương, trợ cấp khó khăn cho các hộ gia đình trong các dịp lễ, tết, thăm hỏi và tặng quà khi có người ốm đau. Đây chính là những nhân tố quan trọng tạo động lực giúp Công ty vượt khó để phát triển. (Báo Quảng Ninh 13/2) đầu trang(
Trong những năm gần đây, công tác trồng và bảo vệ rừng của ngành lâm nghiệp nước ta có bước phát triển vượt bậc, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam.
Nhân dịp Tết trồng cây Bính Thân 2016, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trò chuyện với Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Hà Công Tuấn về công tác trồng và bảo vệ rừng...
Đã thành tập quán trong nhiều năm qua, mỗi độ Tết đến, Xuân về, Bộ NN&PTNT phối hợp với Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” theo chỉ đạo của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm nay, buổi lễ này dự kiến được tổ chức long trọng tại khu cách mạng tỉnh Tuyên Quang.
Ngay trong tháng 12-2015, Bộ NN&PTNT đã có văn bản chỉ đạo các địa phương cả nước phát động phong trào trồng cây gây rừng và tổ chức Tết trồng cây Xuân Bính Thân 2016 phù hợp, thiết thực, hiệu quả, coi như hoạt động có ý nghĩa chào mừng thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đây là cuộc thi đua “tốn kém ít mà hiệu quả nhiều”, “một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người, từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”.
Những năm gần đây, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng ngành lâm nghiệp nước ta đã chuyển mình mạnh mẽ, đạt được kết quả khá toàn diện, cụ thể: Sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng nhanh, ổn định, công tác bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng có nhiều tiến bộ; tình trạng vi phạm pháp luật, phá rừng trái phép giảm 70% trong 5 năm qua, độ che phủ rừng tăng từ 39,1% năm 2011 lên 40,72% năm 2015. Lâm sản hàng hóa gắn với thị trường và xuất khẩu; đời sống người dân lâm nghiệp được cải thiện.
Năm 2015, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt rất cao là 7,92%; sản lượng gỗ rừng trồng tăng 2,5 lần trong 5 năm qua; công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản phát triển mạnh với nhiều thành phần; xuất khẩu vào thị trường 110 nước và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,2 tỷ USD năm 2015. Nhiều mô hình người làm nghề rừng đã giàu từ rừng xuất hiện ở một số địa phương.
Chủ trương xã hội hóa nghề rừng được cụ thể hóa đầy đủ hơn; quản lý nhà nước có nhiều tiến bộ, chủ yếu sử dụng công cụ pháp luật, chính sách; nhận thức của xã hội về ngành lâm nghiệp nhất quán hơn.
Chính sách dịch vụ môi trường rừng đã, đang mang lại hiệu quả thiết thực về nguồn tài chính lâm nghiệp; nâng cao thu nhập người dân, góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Hợp tác quốc tế về lâm nghiệp tiếp tục phát triển cả chiều rộng và chiều sâu theo chủ trương đa phương, đa dạng hóa, nâng cao vị thế quốc gia và được bạn bè quốc tế đánh giá cao hơn.
5 năm qua, kim ngạch xuất khẩu gỗ, lâm nghiệp tăng bình quân hơn 12%/năm, từ 4,2 tỷ USD năm 2011 lên 7,2 tỷ USD năm 2015 và là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 6 toàn quốc, có tỷ trọng xuất siêu lớn.
Thành quả này xuất phát từ các yếu tố chủ yếu như: Chúng ta đã có cơ chế phát triển phù hợp để thu hút nguồn lực đầu tư của các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất, chế biến lâm sản; sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường, theo sát những biến đổi thị trường để thích ứng kịp thời cùng với hài hòa hóa các quy định quản lý nguồn gốc hợp pháp theo chuỗi sản xuất, không để tạo ra các rào cản thương mại phi thuế quan; gắn chế biến, tiêu thụ với phát triển vùng nguyên liệu, gỗ trong nước ngày càng đáp ứng nhu cầu chế biến, cơ cấu tỷ trọng gỗ rừng trồng trong nước đã đạt hơn 70%...
Bảo vệ và phát triển rừng là mục tiêu, nhưng chiến lược là phải bảo đảm phát triển bền vững. Đó còn là động lực và là giải pháp để nâng cao giá trị, sức cạnh tranh của ngành lâm nghiệp. Chúng ta đang tập trung cao độ để thực hiện kiềm chế, chấm dứt tình trạng phá rừng, cháy rừng; triển khai quyết liệt kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị rừng.
Giai đoạn hiện nay, chủ trương phát triển rừng phải đáp ứng cả hai yêu cầu: Vừa đẩy nhanh khôi phục, trồng rừng mới để đạt độ che phủ 42% vào năm 2020; nhưng quan trọng hơn là nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của lâm sản hàng hóa bằng các giải pháp tổ chức lại sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhất là trong quản lý giống và thâm canh chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành gỗ lớn.
Theo quy định và thông lệ quốc tế, xu hướng kiểm soát nguồn gốc gỗ hợp pháp là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ thương mại gỗ, đồ gỗ quốc tế. Trong những năm qua, hàng hóa của chúng ta cơ bản đáp ứng được các yêu cầu này, nên chúng ta ngày càng mở rộng thị trường, nâng cao sản lượng và giá trị xuất khẩu. Chúng ta đã chủ động hợp tác với các đối tác lớn như: Mỹ, EU, Nhật… thông qua trao đổi, hài hòa các quy định pháp luật, thực thi pháp luật và đàm phán các hiệp định về lưu thông hàng hóa trong lĩnh vực này.
Chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) là một loại tín chỉ trong quản lý rừng có uy tín quốc tế, tuy nó không thể thay thế các bằng chứng pháp lý, nhưng có ý nghĩa về niềm tin và thương hiệu, góp phần nâng cao uy tín quốc gia.
Nhận rõ những vấn đề này, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư 38/2014/TTBNN-PTNT ngày 3-11-2014 hướng dẫn về phương án quản lý rừng bền vững, nhằm khuyến khích việc phát triển các khu rừng đủ tiêu chí, triển khai thúc đẩy phát triển chứng chỉ quản lý rừng bền vững cả của quốc tế và Việt Nam, để đến năm 2020, khoảng 30% diện tích rừng sản xuất nước ta đạt tiêu chuẩn quản lý được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. (Quân Đội Nhân Dân 13/2) đầu trang(
Theo báo cáo của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, năm 2015 là năm gặt hái nhiều kết quả đáng khích lệ trong quá trình tổ chức, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), đặc biệt, chi trả DVMTR đã trở thành một trong 10 thành tựu nổi bật của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2010-2015...
Kết quả thu, chi tiền DVMTR, đến cuối năm 2015, nguồn thu tiền DVMTR trên cả nước đạt 1.327,7 tỷ đồng (đạt 101,5% kế hoạch năm) góp phần bảo vệ cho hơn 5,229 triệu ha rừng. Số tiền 1.260 tỷ đồng tiền DVMTR của năm 2014-2015 đã đến được tay các chủ rừng, hỗ trợ cải thiện sinh kế, động viên người dân yên tâm gắn bó với rừng, giúp 84 công ty lâm nghiệp đứng vững, khôi phục sản xuất, có kinh phí hoạt động trước tình hình Chính phủ có chủ trương tạm dừng khai thác chính gỗ từ rừng tự nhiên.
Một trong những thành quả đáng tự hào là tình hình nợ đọng tiền DVMTR đã giảm gần 50%, đến cuối năm 2015, các nhà máy thủy điện còn nợ 96 tỷ đồng so với thời điểm cuối năm 2014 là hơn 196 tỷ đồng. Kết quả này đã ghi nhận rất lớn sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của Ban Điều hành quỹ, sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ, kịp thời của các bộ, ngành, đơn vị, các bên liên quan.
Với sự chỉ đạo kịp thời của Chính phủ, các bộ, ngành, việc trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng đã được chú trọng, đặc biệt là sự chấp hành nghiêm túc của chủ đầu tư các công trình thủy điện. Tổng thu lũy kế đến cuối năm 2015 là 588,69 tỷ đồng, đạt 57,21%, đã giải ngân hơn 124 tỷ đồng để thực hiện trồng mới 9.972ha rừng.
Quỹ cũng đã phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan hướng dẫn, đôn đốc địa phương giải ngân kịp thời, giải quyết tình trạng nợ đọng tiền DVMTR... Bên cạnh đó, cùng với sự hỗ trợ tích cực của các đối tác, quỹ đã hỗ trợ tỉnh Lào Cai thí điểm cơ chế chi trả DVMTR đối với cơ sở nuôi cá nước lạnh, hỗ trợ tỉnh Cà Mau triển khai hoạt động nuôi tôm-rừng có chứng nhận quốc tế. Kết quả này là tiền đề, tạo nền tảng vững chắc để mở rộng DVMTR vào thực tiễn, đa dạng hóa nguồn thu tiền DVMTR trong tương lai.
Sau 4 năm thực hiện, đến nay có thể khẳng định cơ chế DVMTR là một sáng kiến mới, được các cấp, ngành, doanh nghiệp và người dân quan tâm thực hiện, mang lại hiệu quả có ý nghĩa bước ngoặt trong quản lý lâm nghiệp, được bạn bè quốc tế đánh giá như một điển hình đổi mới. Từ nguồn thu này đã góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống chủ rừng và người nhận khoán, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ, phát triển rừng; đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa phương.
Tuy vậy, nguồn thu này mới chủ yếu từ dịch vụ cung ứng nước, chống bồi lắng đất đối với các công trình thủy điện, một phần thu từ những cơ sở sản xuất nước sạch và dịch vụ du lịch sinh thái. Về cơ bản, nguồn thu từ các dịch vụ này là ổn định, vấn đề đặt ra là phải thực thi pháp luật để bảo đảm theo đúng, đủ, kịp thời, chi cho người làm ra dịch vụ đúng quy định của pháp luật, công bằng.
Để mở rộng nguồn thu DVMTR, Bộ NN&PTNT đang chỉ đạo tích cực triển khai nghiên cứu, thí điểm, tổng kết để ban hành cơ chế mở rộng dịch vụ khác, gồm: Dịch vụ hấp thụ CO2, giảm phát thải khí nhà kính thông qua giảm suy thoái rừng, mất rừng (REDD+); dịch vụ cho thuê môi trường rừng; dịch vụ cung ứng nước cho cơ sở nuôi trồng thủy sản. (Quân Đội Nhân Dân 13/2) đầu trang(
Vụ trồng rừng năm 2015, huyện Chợ Đồn trồng mới được trên 1.600ha rừng, đạt 135% kế hoạch tỉnh giao, tuy nhiên, việc trồng rừng năm 2016 dự kiến sẽ gặp nhiều khó khăn mặc dù diện tích người dân đăng ký trồng mới tăng.
Ngay từ đầu vụ trồng rừng năm 2016, người dân huyện Chợ Đồn đã đăng ký trồng mới được trên 1.700ha, tăng gần 400ha so với kế hoạch. Trong đó, đăng ký trồng rừng tập trung là gần 1.400 ha, số còn lại là đăng ký trồng cây phân tán. Tuy nhiên, đến thời điểm này, diện tích được thiết kế mới đạt 281ha. Theo khung thời vụ, chỉ còn khoảng 5 tháng nữa sẽ kết thúc vụ trồng rừng.
Vì vậy, việc chưa thiết kế và xử lý thực bì đạt thấp ở huyện Chợ Đồn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch trồng rừng năm 2016. Theo Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn, đến nay, việc cung ứng giống đã sẵn sàng, đáp ứng đủ diện tích trồng rừng như người dân đăng ký. Tuy nhiên, nếu người dân không trồng rừng như dự kiến sẽ lãng phí rất lớn về cây giống. Không chỉ vậy, kế hoạch trồng rừng năm 2016 sẽ rất khó hoàn thành theo mục tiêu đề ra.
Huyện Chợ Đồn hiện đang tiếp tục vận động, khuyên khích người dân trồng rừng. Bên cạnh đó, ngoài những nguyên nhân khách quan như diện tích trồng rừng mới đã bị thu hẹp, xa đường giao thông, một nguyên nhân khác đó là người dân mong muốn có thêm những hỗ trợ của Nhà nước như: Đầu tư đường lâm nghiệp; Có quy định phù hợp với người dân trồng quế - một loại cây được đánh giá là cho thu nhập cao ở huyện Chợ Đồn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 12/2) đầu trang(
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi dịp Xuân về, Tết trồng cây lại được tổ chức ở khắp các địa phương trong cả nước. Xuân Bính Thân này, Hà Nội hưởng ứng Tết trồng cây với nhiều điểm mới để thành phố xanh hơn từ khu vực nội đô đến các vùng ngoại thành.
Ngày 28-11-1959, nhân dịp thi đua lập thành tích mừng Đảng ta 30 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân cả nước: "Bên đợt thi đua ấy, chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày "Tết trồng cây". Việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều". Người đề nghị 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên ở miền Bắc trồng một hoặc vài ba cây và khẳng định nếu làm được như vậy, trong 5 năm từ 1960 đến 1965, "chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà".
Như vậy, việc trồng cây mang lại nhiều nguồn lợi kinh tế to lớn, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân ta. Bác Hồ cũng sớm thấy rõ mối quan hệ gắn bó giữa trồng cây, trồng rừng với bảo vệ môi trường, khí hậu. Chính vì vậy, Người động viên nhân dân cả nước ra sức trồng cây để "Chắn gió phục vụ thâm canh lúa, bảo vệ đê, chống xói mòn, chống cát bay…" và khẳng định: "Những dải rừng được trồng ở ven biển, dọc đường giao thông, trong thôn xóm, đã có tác dụng lớn".
Năm 1965, đế quốc Mỹ ném hàng vạn tấn bom đạn và rải chất độc hóa học xuống nhiều vùng rừng núi của nước ta nhằm hủy diệt môi sinh, phá hoại hàng triệu héc ta rừng của nước ta. Để sớm khôi phục những cánh rừng của đất nước, ngày mùng 1 tết Ất Tỵ năm 1965, Bác Hồ đã phát động Tết trồng cây.
Phát huy truyền thống đó, nhiều năm qua các bộ, ngành, địa phương và nhân dân cả nước đã hưởng ứng và tham gia tích cực phong trào trồng cây xanh và trồng, bảo vệ rừng. Qua đó đã phủ xanh được hàng triệu héc ta rừng, trồng mới được hàng chục nghìn héc ta cây ăn quả... thực sự mang lại nhiều lợi ích to lớn, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện môi trường sinh thái và trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc ta.
Hưởng ứng Tết trồng cây, tại Hà Nội, mỗi năm đã trồng được từ 800 nghìn đến 1,2 triệu cây xanh phân tán, cây ăn quả các loại. Theo ông Đào Duy Tâm, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, phong trào trồng cây đầu xuân được triển khai rộng khắp từ nội thành đến nông thôn. Mỗi năm, mỗi địa phương trồng mới từ 20 nghìn đến 50 nghìn cây xanh các loại. Đặc biệt, ngày mùng 6 Tết hằng năm đã trở thành ngày phát động "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ".
Những năm gần đây, diện tích rừng tại Sóc Sơn, Ba Vì ngày càng tăng, nhiều di tích lịch sử, khu đô thị mới đã được phủ xanh. Tuy nhiên, trên nhiều đường phố khu vực trung tâm đô thị vẫn còn một số khoảng trống chưa được bổ sung cây và vẫn thiếu những mảng xanh. Và ở một góc độ khác, có thể thấy phong trào Tết trồng cây ở khu vực nội đô vẫn thiếu sức lan tỏa.
Do vậy, năm nay, từ chỉ tiêu thành phố giao, các quận đã tính toán việc tăng mật độ cây xanh cho khu vực đô thị để mai đây Hà Nội sẽ có những thảm xanh trải từ khu vực trung tâm tới các vùng ngoại thành.
Cũng theo ông Đào Duy Tâm, năm 2016, TP Hà Nội giao chỉ tiêu cho các quận, huyện, thị xã trồng hơn 800 nghìn cây xanh phân tán, cây ăn quả các loại; trong đó triển khai phát động "Tết trồng cây" trong 5 ngày, từ ngày 13 đến 17-2 (tức từ mùng 6 đến mùng 10 tháng Giêng) và triển khai trồng cây tới hết mùa xuân 2016 và trồng cả ở khu vực nội thành và ngoại thành.
Tết trồng cây Xuân Bính Thân 2016 là năm thứ ba Hà Nội thực hiện Năm trật tự văn minh đô thị. Năm nay cũng là năm thành phố phân cấp mạnh việc quản lý vỉa hè, lòng đường, vườn hoa, cây xanh cho các quận, huyện. Trao đổi về vấn đề này, Chủ tịch UBND quận Hoàn Kiếm Dương Đức Tuấn cho biết: Hoàn Kiếm hưởng ứng Tết trồng cây cùng việc đón nhận phân cấp quản lý hơn 150 tuyến phố, hàng chục vườn hoa trên địa bàn. Việc phân cấp giúp quận chủ động trong việc chỉnh trang, thay thế, trồng bổ sung thêm cây xanh trên các tuyến phố, trường học, vườn hoa, tạo bóng mát và làm đẹp không gian đô thị.
Chủ tịch UBND quận Hoàng Mai Nguyễn Quang Hiếu cho biết: Hoàng Mai phát động Tết trồng cây vào ngày làm việc đầu tiên của năm mới Bính Thân (15-2), 14 phường cùng hưởng ứng. Đây là việc làm hết sức có ý nghĩa, được tổ chức hằng năm. Năm nay, Hoàng Mai chọn trồng những cây khỏe, phù hợp với đô thị nhằm tăng thêm các khoảng xanh, tạo môi trường cảnh quan.
Và quan trọng hơn là tạo ra nhận thức mới cho các cấp chính quyền và người dân về môi trường, đặc biệt là môi trường đô thị, trong đó có cây xanh. Trồng cây, chăm sóc cây xanh phải là việc làm thường xuyên của mỗi người dân, mỗi cộng đồng dân cư.
Theo Chủ tịch UBND huyện Phúc Thọ Hoàng Mạnh Phú, Tết trồng cây đã trở thành một nét đẹp văn hóa mang tính giáo dục cao. Đặc biệt, trong năm 2016, huyện Phúc Thọ có nhiều đổi mới trong triển khai Tết trồng cây như: Không tổ chức phát động trồng cây tại trụ sở UBND huyện mà tổ chức phát động đồng loạt tại các xã, thị trấn nhằm tạo ra không khí thi đua sôi nổi, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm.
Mỗi địa phương chọn nơi công cộng để trồng cây thành hàng hoặc vườn tập trung với số lượng tối thiểu là 50 cây xanh; đồng thời tuyên truyền tới toàn dân, nhất là học sinh, thanh thiếu niên tích cực tham gia chăm sóc và bảo vệ cây xanh. Mùa xuân 2016, nhân dân huyện Phúc Thọ phấn đấu trồng 40 nghìn cây xanh các loại.
Các địa phương như: Thạch Thất, Chương Mỹ, Quốc Oai, Sơn Tây, Ba Vì… đi đôi với kế hoạch trồng cây xanh, cây ăn quả, còn đẩy mạnh việc thực hiện đề án trồng rừng thay thế. Huyện Thạch Thất đã chuyển đổi được 42ha rừng keo, bạch đàn giá trị kinh tế thấp sang trồng rừng sinh thái kết hợp trồng cây ăn quả dưới tán rừng. Mục tiêu trong năm 2016, thành phố phấn đấu trồng thay thế và chuyển đổi được 100ha rừng, góp phần nâng độ che phủ rừng trên địa bàn thành phố và nâng cao giá trị kinh tế cho nhân dân các xã miền núi...
Nối dài những thảm cây xanh từ vùng lõi đô thị đến khu vực nông thôn không chỉ là mong muốn của các nhà quy hoạch. Với những điểm mới từ việc triển khai hưởng ứng Tết trồng cây Xuân Bính Thân 2016, hy vọng trong một tương lai không xa Hà Nội sẽ xanh hơn, đẹp hơn! (Hà Nội Mới 12/2) đầu trang(
Những quầng bụi khổng lồ từ khai trường ở độ cao trên 200m theo gió Bắc hùa hùa đổ xuống đô thị. Trận mưa lớn khiến núi xít Đông Cao Sơn chót vót sập xuống, cuốn theo dòng chảy, tạo lũ quét tàn phá phường Mông Dương làm 3 người tử vong, 95 ngôi nhà chìm sâu trong bùn đất.
Mỏ than Mông Dương dưới chân bãi thải này, toàn bộ đường lò ngập úng, 4.000 công nhân mất việc. Rồi một cơn mưa trái mùa chợt đến, cuốn trôi 2 người dân phường Cẩm Thạch. Vùng than Cẩm Phả nhiều trưa hè ngột ngạt, thèm cơn gió tươi thổi đến... Xuân mới về, ngẫm lại chuyện năm cũ mà kinh sợ.
Cẩm Phả tự hào là cái nôi thợ mỏ vùng than Đông Bắc - một đụn vàng đen khổng lồ chỉ bới lên mà bán, đồng tiền dễ làm ra. Nhưng hòn than moi lên mặt đất, bao cây rừng ngã xuống. Tổng Giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả, Quảng Ninh (gọi tên cũ là Lâm trường Cẩm Phả) Nguyễn Văn Bắc cho biết: Thập kỷ 60 của thế kỷ trước, lâm trường Cẩm Phả có trên 48.000ha rừng, nay co lại còn 12.328ha. Rừng teo đi phần do đô thị phát triển, phần do mở mỏ làm than. Ngày trước, tiểu khu Khe Tam, Bàng Lâu, Bàng Tảy rừng đại ngàn, nay đất phơi màu bãi thải, vừa mưa đã lũ, vừa nắng đã hạn.
Ông Giám đốc lâm trường dè dặt... còn tôi ít nhiều cũng hiểu vùng rừng “chìm nổi” này. Khi hòn than lên ngôi, nó đã bức tử dòng sông Diễn Vọng ở Quang Hanh. Một con sông nước ngọt trong xanh bỗng chốc trở thành suối cạn. Nhà máy nước Diễn Vọng công suất 60.000m3 ngày đêm cấp nước sạch cho TP Hạ Long và Cẩm Phả cháy vỡ nguồn khơi thủy đầu vào tại chỗ, phải vượt đường sang tận Hoành Bồ lấy nước hồ Cao Vân.
Rừng mất đi hệ lụy khôn lường. 40 năm về trước, Quảng Ninh cũng có trận đại thủy, lượng nước mưa tương đương với trận mưa hồi cuối tháng Bảy, đầu tháng Tám năm trước nhưng thương vong, thiệt hại không trầm trọng như vậy, bởi có thảm xanh điều hòa dòng chảy, rừng giữ đất, núi đồi không bị sạt lở.
Còn ông Nguyễn Văn Sự, thợ rừng kỳ cựu, xuân Bính Thân này chạm tuổi về hưu thì rầu rầu: Ngày xưa Bác Hồ bảo rừng là Vàng, ngày nay có vị đại biểu Quốc hội nói 1 ha rừng một năm không làm lợi được 2kg thóc. Nếu dựa vào nguồn thu nhập của nghề rừng, thì một đồi cây không bằng vài gầu than ra cảng. Ông Sự nhẩm tính: Bỏ giống vốn trồng 1ha rừng hết 20 triệu đồng, chu kỳ sinh trưởng của cây đến ngày thu hái là 7 năm. 1 ha trung bình mật độ 2.300 -2.500 cây lấy gỗ trụ mỏ, tương đương với 80m3 gỗ, thời giá hiện nay 900.000đ/m3.
Mỗi hecta ra rừng 7 năm chăm sóc bảo vệ, không sa xẩy cả gốc lãi thu được 40 triệu đồng. Tính chi li trừ giống, vốn, phân bón, bán gỗ ngay khi cây khép tán theo kiểu bán lúa non... chỉ còn 20 triệu đồng/ha rừng trồng. Một lao động chỉ đảm đương được 10ha rừng. Mỗi hecta rừng trong 7 năm, lợi thu được 20 triệu đồng.
Tính gộp 10ha thu được 200 triệu đồng, chia số tiền ấy cho 7 năm, mỗi năm có 12 tháng, thì mức thu nhập của người thợ rừng là 2,5 triệu đồng/tháng. Chưa kể rủi ro khi mưa bão, nạn cháy rừng trắng tay. Nghề rừng lại rất khó tiếp cận với vốn vay ngân hàng vì rừng chả có gì mà thế chấp. Nếu đặt phép tính so sánh, quả nghề rừng thu nhập thấp so với các ngành kinh tế khác trên địa bàn.
Bà Nguyễn Thị Ngà, nguyên Phó GĐ lâm trường không giấu giếm, nghề rừng ngày một bị thui chột. Lâm trường Cẩm Phả ngày trước có trên 1.000 lao động, nay còn chưa đầy 80 người. Lâm trường Hồng Gai tụt xuống thành Ban quản lý rừng, nay nhập vào phòng Kinh tế, không còn lâm trường nữa. Con cái thợ rừng chả ai nối nghiệp cha. Nghề rừng leo núi gập lưng, nhọc nhằn mà thu nhập thấp.
Còn ông Nguyễn Văn Bắc, Tổng GĐ Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp kể, nghề rừng tuy nghèo nhưng có hậu. Ônh Bắc cởi mở cho biết: Cùng trang lứa với bà Nguyễn Thị Ngà, cách đây 35 năm, họ cùng 1.200 nam thanh nữ tú rời quê lúa bên dòng sông Kinh Thày, đến với núi rừng vùng Đông Bắc xây dựng quê hương mới. Đội lâm nghiệp của họ ở Đồng Mỏ, nơi ngút ngàn cây xanh.
Nhớ lại ngày ấy, cũng dịp xuân về, trên cao, các anh thợ rừng đốn gỗ, tiếng rìu chát chúa như pháo nổ. Dưới thấp chị em phụ nữ ươm cây, phát băng trồng rừng, véo von tiếng hát. Đàn trâu ì ạch kéo gỗ, chim chóc gọi bầy, hoa rừng đua nở. Mùa xuân thường cũng là mùa cưới, những chàng trai cô gái miền xuôi kéo nhau lên miền núi xây tổ ấm gia đình.
Tính từ đôi vợ chồng anh Nguyễn Bá Nhất - chị Nguyễn Thị Ngà, nguyên là Phó giám đốc lâm trường trở xuống, thì thung lũng rừng này có trăm đôi nên vợ, thành chồng. Các cặp vợ chồng nay đã ở tuổi “tóc bạc răng long”. Rất thú vị, cả trăm đôi hòa thuận và cùng nặng lòng với núi rừng.
Nhiều thợ rừng về hưu nhưng không nghỉ, vẫn tha thiết với rừng, nhận đất trồng cây, nhận rừng bảo vệ. Vợ chồng bà Ngà, ông Nhất nhận 10ha rừng sản xuất. Phần tăng thêm thu nhập, phần đáp ứng thú vui lưu giữ kỷ niệm đầu đời đặt chân đến rừng. Dòng suối, bờ khe nơi đây như còn in dấn chân hai người hò hẹn. Xuân về thả hồn vào rừng, như sống mãi tuổi thanh xuân.
Đồng Mỏ, thung lũng rừng tiết xuân se lạnh mà ấm chuyện lứa đôi. Nghe hấp dẫn, tôi bèn vượt đường xa tìm đến nơi này. Quả thực, rừng núi ở đây cây cối tốt tươi, nhiều vạt rừng nom còn nguyên sơ, suối nước trong, nhìn tận đáy cá bơi. Trên cây, chim chóc làm tổ, gió đưa hương. Một vườn ươm lớn, đất sàng kỹ mịn màng, các cô sơn nữ tay tra hạt, tạo bầu, trông rất thạo việc.
Ai cũng nai nịt thủ rét, chỉ lộ đôi mắt “dao cau” và cơ thể rắn chắc, đôi bàn tay thì mền mại chăm sóc những mầm non. Tổng GĐ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả bảo, các đội tự sản tự tiêu cây giống. Xuân này Cẩm Phả trồng từ 1.450 - 1.500ha nối vụ và thay thế cánh rừng vừa thu hoạch trước Tết. Đất rừng không nghỉ, vạt rừng này cây khép tán, vạt kia cây ánh màu lá mạ; cây vừa xuống giống, cây đủ tuổi xuất cửa rừng... thợ rừng vắt đất ra gỗ.
Vị giám đốc lâm trường say sưa kể thiệt hơn nghề rừng, còn tôi thì mơ màng hóng chuyện lứa đôi hấp dẫn ở khu rừng này. “Khéo lái chuyện mới hay”, năm ngoái có 5 cặp thợ rừng vu quy. Đặc sắc nhất là anh Hoàng Văn Khoa, thanh niên người Tày lấy cô gái người Dao, Triệu Thị Hoài. Tình yêu của họ nảy mầm dưới tán lá cây rừng. Họ yêu nhau say đắm, vượt qua những hủ tục lễ giáo khác nhau như bức rào xưa nay khó vượt. Một đám cưới theo nếp sống mới, hài hòa với nghi lễ cưới hỏi của người Dao và người Tày vui vầy giữa đại ngàn rừng xanh.
Nhớ lại ngày họ mới yêu nhau, nhà nàng ở cạnh nhà tôi nhưng cũng phải “một con dao quăng” mới đến. Nhà không liền hiên, sát giọt tranh như làng mạc dưới quê. Khu Đồng Mỏ còn thưa dân, từ bản của người Dao đến bản người Tày khuất nẻo. Họ bảo xem được cái mặt, ngóng được cái lời, ăn phải bả của nhau nhờ mùa trồng rừng năm ấy. Khi xuống giống, thợ rừng ăn đụng làm chung như người miền xuôi cấy cày đổi công vậy. Lao động tập trung vừa đáp ứng được thời vụ, vừa là cầu nối tình làng nghĩa xóm. Lợi kép ấy, bở nhất là lũ làng chạm tuổi “cập kê”.
Khi tôi hỏi sau vụ trồng rừng, Đồng Mỏ có mấy đám cưới? Nguyễn Bá Khánh, đội trưởng đội lâm nghiệp Đồng Mỏ như vừa kích chuột vào bộ nhớ. Ồ! Thợ rừng mải mê việc trồng cây, tu bổ rừng, phát đường ranh cản lửa... chả ai để ý đến khát vọng của bọn trẻ ở vùng sơn cước đất rộng người thưa này. Mỗi một mùa xuân đến, mùa xuống giống, thợ rừng lao động đổi công là một dịp thanh niên nam nữ giao lưu kết bầu kết bạn.
Sau mỗi vụ trồng rừng, ít cũng là nhiều hơn một đôi nam nữ quen hơi-bén tiếng của nhau. Họ không kể là người dưới xuôi hay mạn ngược, người khác nhau ngôn ngữ... Lại một tổ ấm gia đình mới dựng lên ở bìa rừng. 580 hộ nhận khoán đất rừng, nhiều đôi vợ chồng trẻ đơm hoa kết trái từ mùa trồng rừng ngày Xuân.
Làng lâm nghiệp nay có khác xưa, lâm trường chủ yếu đóng vai trò bà đỡ, lo dịch vụ kỹ thuật, giống vốn, tiên thụ sản phẩm cho các hộ trồng rừng. Các hộ thu hoạch cây, chiết khấu 5% cho phụ mẫu quản lý bảo vệ rừng. Người thợ rừng hoàn toàn làm chủ đất rừng, kinh tế chẳng sa sảy đồng nào, rừng lại được bảo vệ, quanh năm xanh tốt.
Cẩm Phả nhìn đâu cũng thấy khai trương với những mỏ than lớn, thương hiệu hàng trăm năm như Đèo Nai, Mông Dương... Giữa vùng than lớn, một nghề ra đời sớm hơn nhưng như còn ẩn tích, đó là nghề rừng. Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả có diện tích đất rừng lớn nhất tỉnh Quảng Ninh. Nghề rừng thu nhập thấp, chưa ai làm giàu bằng nghề rừng được. Nhưng “rừng là vàng”, Cẩm Phả đang sở hữu một đụn vàng lớn - đụn vàng xanh không bới ra bán như vàng đen được.
Thảm xanh 12.328ha rì rào trong gió, xuân Bính Thân hoang thú bầy đàn làm tổ. Một cảnh quan sinh thái, tấm dậu ngừa thiên tai. Vòm xanh đưa gió tươi đến bao người, vậy mà còn không ít người chưa biết đến lá phổi xanh quý giá ở vùng than này. (Xây Dựng 12/2) đầu trang(
Thời điểm này các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tích cực mọi công tác chuẩn bị cho trồng rừng vụ xuân. Từ công tác ươm giống, kiểm định chất lượng giống, dọn thực bì, đào hố cây …
Trong năm 2016, toàn tỉnh trồng trên 16.030 ha (tăng hơn vụ trước hơn 1.000 ha), trong đó dự án bảo vệ và phát triển rừng 4.400 ha, trồng rừng sản xuất 10.810 ha, trồng rừng thay thế (rừng phòng hộ và đặc dụng) 760 ha, trồng rừng dự án Jiaca 2 là 60 ha. Riêng đó trồng vụ xuân 5.600 ha tập trung ở các huyện Tương Dương, Con Cuông, Đô Lương ... (Báo Nghệ An 7/2) đầu trang(
Những ngày cuối đông, nằm co ro trong chăn nghe mưa và gió thốc, lòng nôn nao nhớ “khu phố miền rừng” ở xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ.
Nơi đó, 35 năm rồi, “khu phố” có một không hai này vẫn tù mù ánh đèn dầu, mùa mưa đến ở nhà chỉ toàn đàn bà, con nhỏ. Cha đi trồng cây cơm đùm gạo bới ở lại giữa rừng mười ngày, nửa tháng mới về một lần, mẹ và lũ trẻ thui thủi quanh nhà mong sớm qua hết mùa mưa. Nơi đó, thế hệ công dân thứ ba lớn lên như cháu tôi học đến bậc THPT mà điện, ti vi, internet vẫn là những thứ xa xỉ, nhưng tình yêu nghề, yêu rừng của bố mẹ nảy lộc đâm chồi trong con trẻ, nên đi xa xao xác muốn về.
Năm tôi tròn một tuổi, đội công nhân trồng rừng của cha mẹ tôi chuyển từ km10 Quốc lộ 9 vào miền rừng xã Cam Tuyền sinh sống để thuận tiện công việc trồng rừng, phủ xanh đồi núi trọc.
Hồi đó, Phân trường Bắc sông Hiếu thuộc Lâm trường Đường 9 chỗ cha mẹ tôi công tác có hai đội sản xuất khoảng 200 công nhân, sống giữa vùng rừng trải dài vắt qua hai xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ và xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tất cả đều lấy hộ khẩu thường trú tập thể của lâm trường đóng tại khu phố 8, phường 5, Đông Hà, nên gọi là… khu phố miền rừng.
Cả phân trường toàn công nhân trẻ, ở khu nhà tập thể, người đóng bầu ươm giống thông, người phát thực bì, trồng cây thông nhựa, chăm sóc cây, phủ xanh đất hết khu rừng này đến khu rừng khác.
Thông nhựa có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt, gió bão, sinh trưởng và phát triển tốt trên các đất rừng nghèo, sỏi đá, dốc, đáp ứng cả chức năng kinh tế và phòng hộ, là loại cây chủ lực của các lâm trường trên địa bàn tỉnh trồng giai đoạn 1976- 2005. Khoảng 10 năm trở lại đây, thực hiện chủ trương chuyển đổi lâm trường thành Công ty TNHH MTV lâm nghiệp, tiến tới cổ phần hóa doanh nghiệp, các lâm trường bắt đầu chuyển sang trồng cao su, trồng rừng kinh tế như keo để khai thác bán gỗ dăm, hiệu quả thu nhập cao hơn.
Các đội sản xuất cũng được tổ chức lại theo từng công việc và địa bàn trồng cây cao su, trồng rừng kinh tế, khai thác mủ thông nhựa. Tuổi thơ tôi theo cha mẹ lớn lên gắn bó với núi rừng, không bạn bè, không bà con thân, vì những đứa trẻ đồng trang lứa với tôi đều được gửi về quê cùng ông bà nội, ngoại, xa ngái học hành.
Trong ký ức chi chít đòn roi tôi là chuỗi ngày buồn cha mẹ lên rừng trồng cây, còn tôi không chịu ngồi yên ở nhà như lời cha dặn, lang thang khắp các triền đồi tìm hái sim mua, hoặc theo những người rà tìm phế liệu chiến tranh nhặt nhạnh võ đạn đổi tiền mua kẹo ú. Những năm còn bao cấp, khẩu phần ăn của công nhân thường là bo bo, sắn độn cơm chan nước mắm mậu dịch.
Sản phẩm phụ ở rừng nhiều lắm, nhưng cơ chế hoạch toán bao cấp, công điểm trói chân công nhân kiếm thêm thu nhập khác từ rừng để cải thiện cuộc sống. Rồi đói. Rồi sinh ra đối phó. Đến cuối thập niên 1980, đời sống công nhân quá khó khăn, nhiều phụ nữ phản ứng lấy cớ ở nhà chăm con ốm để hưởng tiền phép, đến nỗi giám đốc lâm trường phải gắt gỏng điệp khúc “con ốm- mẹ ngủ, chính phủ trả lương, lâm trường bù lỗ”.
Nam công nhân lên rừng cũng đối phó trồng cây đúng kỹ thuật, trồng đều ở khu vực sát đường lô máy đã ủi, dễ kiểm tra, còn khu vực khe suối xa rất ít người đặt chân tới. Cha tôi tận dụng khoảng trống gần khe suối đó phát thực bì để trồng sắn cải thiện cái dạ dày đói, không may làm cháy hơn ba chục ha rừng, bị công an mời xuống Đông Hà làm việc mấy tháng trời. Nhiều năm sau, cứ mỗi lần nghe tiếng xe U oát của lâm trường lên thăm, anh em chúng tôi còn khóc thét lên sợ người ta bắt cha đưa đi cải tạo. Tôi nghe nói, nhờ ông nội tôi là liệt sĩ, thân nhân tốt, nên cha tôi mới không bị truy cứu tội phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa.
Cho đến ngày tôi biết vào rừng lấy củi bán kiếm tiền phụ giúp cha mẹ đầu thập niên 1990 lâm trường mới chuyển đổi cơ chế khoán cho công nhân, sản phẩm trồng rừng, chăm sóc cây quy ra thành tiền tính trên đầu héc ta. Những nơi cây thông lớn tuổi chia đều cho công nhân tận dụng khai thác mủ để bán ra thị trường dùng để chế biến tinh dầu thông, làm xà phòng, keo trong sản xuất giấy và một số ứng dụng công nghiệp điện, làm chất đốt..
Mùa mưa công nhân đi trồng rừng, mùa nắng thì khai thác mủ thông nhựa. Ở rừng, đồng lương công nhân trồng rừng của cha mẹ không đủ trang trải cuộc sống, nhờ những gánh củi thông ra chợ Phiên Cam Lộ đổi thành tiền bạc cho chúng tôi ăn học nên người.
Rừng thông khi khép tán có rất nhiều cành củi khô. Củi thông khô trên cây rất nhiều nhựa, dễ cháy, được nhiều thuyền từ Cửa Việt lên mua về dùng. Anh em tôi buổi sáng thức dậy thật sớm tranh thủ chở củi ra chợ bán trước khi đến trường, chiều về lại vào rừng kiếm củi, làm quần quật chẳng có thời gian nghỉ ngơi mà vẫn cung không đủ cầu. Những lúc mưa gió, củi ướt không ai mua thì chúng tôi hái rau má, các loại nấm ở rừng đem bán.
Nội tôi dưới biển Triệu Vân lên thăm than thở ở chi chốn “khỉ ho cò gáy”, cuộc sống tạm bợ, xa chợ đò, trăm thứ đều phải mua, trừ củi đun. Nhưng không có các phụ phẩm từ rừng đem bán thì anh em chúng tôi thất học hết. Thời kỳ đó chẳng mấy ai chọn cách làm giàu gian khổ từ rừng, cũng chẳng ai siêng năng cần cù ở rừng mà thiếu ăn.
Tôi còn nhỏ chưa hiểu giá trị công sức của công nhân trồng rừng giữ gìn lá phổi xanh sự sống, xa hơn là để ứng phó với biển đổi khí hậu đang tác động mạnh từng ngày thay đổi hành tinh này, chỉ biết rừng và chúng tôi cùng lớn lên, lộc ân của rừng hiện hữu trong từng bữa ăn, sách vở cho chúng tôi đến trường.
Thời gian thắm thoắt thoi đưa, thế hệ cha mẹ tôi đi công nhân gắn bó suốt đời trồng rừng làm công ăn lương đến khi về nghỉ hưu, không có khoảnh rừng nào của riêng mình, giờ thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp, nhà tôi có 3 anh em theo nghiệp cha đã có cổ phần từ rừng, sống tốt được với nghề rừng.
Nhưng mỗi lần thăm lại miền rừng thăm thẳm ấy, nhìn những đứa trẻ lớn lên côi cút, thiếu thốn đủ điều như chúng tôi ngày nào, lòng cứ chạnh buồn: Chẳng lẽ mấy chục năm trời rồi các hộ công nhân miền rừng này vẫn lạc hậu, leo lét đèn dầu giữa rừng, chẳng có cấp chính quyền nào quan tâm mãi sao? (Báo Quảng Trị 9/2) đầu trang(
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”, gần 60 năm nay, cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, các ngành, các địa phương, đơn vị, cơ quan đoàn thể và nhân dân cả nước lại tích cực hưởng ứng tham gia “Tết trồng cây”.
Đây không chỉ là nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trong những ngày đầu xuân, mà còn có ý nghĩa to lớn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện môi trường, giảm nhẹ thiên tai, hạn chế tác động của biến đổi khí hậu. Chỉ tính riêng năm 2015, các địa phương trong cả nước đã trồng được hơn 230 nghìn ha rừng và hơn 54 triệu cây phân tán; tổ chức khoán quản lý, bảo vệ hơn 6,6 triệu ha rừng; hơn 331 nghìn ha rừng được khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh.
“Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Thân năm 2016 được triển khai trong thời điểm toàn ngành lâm nghiệp đang triển khai thực hiện quyết liệt Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Vì vậy để “Tết trồng cây” thật sự mang lại hiệu quả thiết thực, các địa phương cần nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về vai trò, tác dụng, giá trị của rừng và công tác trồng cây, trồng rừng gắn liền với bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Từ đó xây dựng kế hoạch trồng cây, trồng rừng gắn với triển khai thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2016 và Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 và Kế hoạch trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác.
Trong đó cần chú ý đến đặc điểm địa hình, địa chất, điều kiện thổ nhưỡng của từng địa phương để chuẩn bị cây giống có chất lượng tốt, tranh thủ thời vụ và thời tiết thuận lợi để trồng các loại cây phù hợp. Nhất là tập trung phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Để cây trồng, rừng trồng phát triển tốt, có tỷ lệ sống cao, việc tổ chức trồng cây cũng cần lựa chọn thời điểm thời tiết thuận lợi, bố trí hợp lý ở những nơi đất trống trong các cơ quan, khu công nghiệp, đơn vị, trường học, bệnh viện, quanh nhà, quanh vườn, ven đường, dọc bờ sông, bờ kênh mương, hay trên các bờ vùng, bờ thửa, vùng đồi gò, đất trống, đồi trọc, vùng phòng hộ ngoài đê biển…
Cùng với việc phân công trách nhiệm trong chăm sóc, quản lý, bảo vệ cây trồng cụ thể, cần có biện pháp khen thưởng kịp thời những điển hình tổ chức, cá nhân làm tốt công tác phát triển rừng, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng bừa bãi, cũng như phòng, chống cháy rừng hiệu quả, có như vậy “Tết trồng cây” mới thật sự có ý nghĩa. (Báo Lạng Sơn 10/2) đầu trang(
Trước kia, nói tới buôn cây, nhiều người vẫn cứ nghĩ chỉ có các chợ cây cảnh hay lâu lâu lại lại lộ ra thương vụ mua bán với siêu cây cảnh lên đến hàng tỷ đồng, hàng chục tỷ đồng, song, ít ai biết rằng, gần 20 năm nay có một khu chợ buôn bán toàn những cây bóng mát cổ thụ.
Ngôi chợ này rộng hàng chục ha, nằm ngay trên con đường Láng Hòa Lạc (Hà Nội), cách trung tâm thành phố Hà Nội chưa đến 20km.
Anh Nguyễn Hồng Dương - một đầu mối chuyên buôn bán cây bóng mát ở khu chợ này cho biết, tại đây có tới hàng trăm dòng cây bóng mát khác nhau. Từ dòng cây phổ thông dáng thẳng đứng, tán rộng, nhiều bóng mát cho đến dòng cây cổ thụ có dáng độc, lạ, gỗ quý,... đều đủ cả.
Cũng chính vì lẽ đó, mà khu chợ nổi tiếng khắp cả nước, khách muốn mua loại cây gì chỉ cần đến đây là có thể tìm được ngay cây bóng mát theo đúng nhu cầu mình cần, kể cả những cây quý hiếm thuộc hàng sắp tuyệt chủng ở Việt Nam.
“Riêng nhà tôi, mỗi năm tôi mua bán hàng chục vạn cây bóng mát các loại. Trong đó có những cây bóng mát có tuổi thọ lên đến 200-300 năm. Có những cây khác thuộc hàng quý hiếm hầu như đã tuyệt chủng, số lượng những loại cây đó chỉ còn đếm trên đầu ngón tay”, anh Dương khoe.
Để có được những nhiều dòng cây như vậy, dân buôn bán cây tại khu chợ này cũng phải lặn lội khắp nơi, trèo đèo lội suối, từ Nam ra Bắc, từ miền ngược cho đến miền xuôi, chỗ nào có cây bán dân buôn đều tìm đến bất kể là vào thời điểm nào, miễn sao mua được cây khỏe, cây đẹp.
Để chứng minh cho lời mình nói, anh Dương chỉ tay ngay vào cây vối cổ thụ gần 100 năm tuổi có dáng huyền ngay trước mặt và nói: “Cây vối này được tôi mua về từ Yên Bái, nó đẹp cả về dáng thế lẫn độ tuổi. Lúc đến thấy cành vối xòe rộng, tán cây vối to khổng lồ nên cánh anh em là thợ đốn cây phải làm việc ngày đêm để làm cho dáng cây gọn bớt, thậm chí, thợ đốn cây còn phải dọn dẹp hẳn một con đường riêng mới đưa được ra khỏi khu vực nhà dân”.
Tuy nhiên, khi đặt vấn đề nguồn cây bán tại khu chợ này có phải lấy từ trên rừng xuống, anh Dương liền cười và chia sẻ, nhiều người thấy bọn anh buôn bán cây bóng mát, đặc biệt là cây bóng mát cổ thụ liền nghĩ ngay đến việc vào rừng đốn trộm cây cổ thụ, cây gỗ quý hiếm đem về bán. Song, ít người biết bọn anh làm nghề buôn cây này chỉ là làm đẹp cho đời, đem cây từ chỗ thừa đến cho những chỗ thiếu, giúp cho cây được trường tồn với thời gian.
Để có nguồn cây, bọn anh luôn phải có tai mắt ở khắp nơi để nắm bắt tình hình. Cứ chỗ nào làm nhà, làm đường, phá vườn tạp là người của anh có mặt, hỏi mua lại những cây có giá trị. Chủ cây đồng ý bán thì người của anh lập tức đánh gốc để vận chuyển về khu tập kết. Không bao giờ có chuyện lên rừng đốn trộm cây về đây bán như mọi người vẫn nghĩ, anh Dương khẳng định.
Chia sẻ về chặng đường buôn cây bóng mát suốt 15 năm qua, anh Nguyễn Hồng Dương cho hay, dân buôn bán cây bóng mát như anh thường chia cây ra làm hai loại. Loại thứ nhất là cây bóng mát phổ thông. Với loại cây này thị trường bán ra chủ yếu là cho những khu đô thị, công trình đường xá, trường học, công sở cần bóng mát nên loại cây này có giá khá mềm, nguồn cung cũng rất dồi dào. Khách muốn bao nhiêu có bấy nhiêu.
Tuy nhiên, loại thứ hai là cây gỗ quý hiếm, cây cổ thụ dáng độc. Với loại này thì thị trường chủ yếu là khách lẻ, các nhà vườn và người dân săn mua về trồng lấy bóng mát trong vườn nhà. Những loại cây như này có giá khá đắt đỏ, thường từ vài chục triệu cho đến vài tỷ đồng mà hàng không có nhiều, thu mua được đến đâu khách đặt mua hết đến đó.
Theo anh Dương, một số loại cây anh mua về được như cây gỗ hương, cây nhài nhật, cây chè vàng,... mặc dù có giá từ vài chục triệu cho đến hàng tỷ đồng. Song, vẫn được giới nhà giàu, đặc biệt là các đại gia cực kỳ chuộng mua để về trồng trong vườn.
“Với những vị đại gia, họ trồng cây xanh không chỉ để lấy bóng mát mà còn coi đó là tài sản, là của để dành cho con cháu sau này nên họ sẵn sàng chi vài tỷ, thậm chí có người còn bỏ ra chục tỷ để chơi cây”, anh Dương nói.
Anh Nguyễn Văn Thành - một đầu mối buôn bán cây bóng mát khác tại khu chợ cây trên đường Láng Hòa Lạc cũng chia sẻ, ngoài những khách hàng công ty, tổ chức cá nhân, cơ quan nhà nước đến mua cây thì còn có những khách VIP (dân giàu và đại gia) còn đem hàng chục tỷ đồng đến chợ cây này để đặt mua những cây bóng mát cổ thụ .
Những vị khách này thường chọn những cây cổ thụ có tuổi thọ cao, dáng đẹp, gỗ thuộc hàng quý hiếm và đặc biệt, khi chọn, họ cũng thường chọn những cây hợp với phong thủy để ngoài chuyện đem bóng mát vào sân vườn.
“Làm nghề này lâu rồi nên biết, vào những khu vườn nhà đại gia trồng cây cho họ thấy toàn những cây bóng mát quý hiếm. Có những vườn có cây vú sữa lên đến 60-70 năm tuổi, cây nhội lên đến 200-300 tuổi. Đi quanh khu vườn thấy có đến hàng chục cây, mỗi cây đều có giá từ vài trăm đến tiền tỷ”, anh Thành nói. (Tiền Phong 10/2) đầu trang(
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, qua hơn 2 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, bước đầu ngành đã đạt được kết quả tích cực, tuy nhiên, chất lượng rừng suy giảm ở một số địa phương, giá trị thu nhập trên 1ha rừng còn thấp,…vẫn là những khó khăn chưa thể khắc phục.
Cụ thể, qua hơn 2 năm thực hiện tái cơ cấu (2013-2015), các chỉ tiêu phát triển ngành lâm nghiệp tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt bình quân 6,57%/năm, cao hơn so với mức 5,03%/năm giai đoạn 2010-2012, vượt mục tiêu đề án đề ra là 5,5-6%/năm. Trong đó, năm 2015, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 7,92%, đây là mức tăng trưởng cao nhất của ngành từ trước đến nay.
Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng trưởng mạnh, gấp hơn 2 lần trong vòng 5 năm, từ khoảng 3 tỷ USD/năm giai đoạn 2010-2012 lên 6,2 tỷ USD/năm giai đoạn từ 2013 đến nay.
Năm 2015, trong bối cảnh thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, giá trị xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của nước ta bị suy giảm nghiêm trọng như cà phê, gạo, thủy sản. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khầu đồ gỗ và lâm nghiệp vẫn tiếp tục tăng, đạt 7,1 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2014.
Trên lĩnh vực trồng rừng, bình quân hàng năm cả nước trồng được 230 nghìn ha rừng tập trung, trong đó 90% là rừng sản xuất. Công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục có nhiều tiến bộ, tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm dần về số vụ vi phạm và mức độ thiệt hại.
Thêm vào đó, dịch vụ môi trường rừng thực sự trở thành nguồn tài chính quan trọng, bền vững của ngành lâm nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng, tăng thu nhập cho người dân làm nghề rừng. Đồng thời giải quyết khó khăn về kinh phí hoạt động của chủ rừng, giảm áp lực chi ngân sách nhà nước. Cụ thể, bình quân hàng năm, cả nước thu được khoảng 1.200 tỷ đồng, góp phần chi trả cho 2,8-3,4 triệu ha rừng.
Nhiều địa phương đã tích cực, chủ động triển khai công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, trồng rừng gỗ lớn theo hướng thâm canh, chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn. Tỷ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống có kiểm soát và chứng nhận nguồn gốc lô cây con đạt 85%, tăng 12% so với năm 2013.
Về thị trường, với mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT đã xây dựng và triển khai các hoạt động thực hiện kế hoạch thích ứng với yêu cầu mới về nguồn gốc gỗ của EU và Hoa Kỳ. Phối hợp với các đơn vị xây dựng, góp ý và phê chuẩn cho Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU, Hàn Quốc, Liên minh hải quan Nga, Belarus và Kazactan,…
Mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên, quá trình thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đang còn nhiều tồn tại và hạn chế. Cụ thể, đóng góp của ngành lâm nghiệp đối với phát triển kinh tế quốc dân chưa tương xứng với tiềm năng. Nghề rừng đang thể hiện tích cực vai trò sinh thái, môi trường trong khi vai trò kinh tế của rừng sản xuất chưa cao, tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp thấp, chỉ chiếm khoảng 3-3,3% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.
Trồng rừng cung cấp dăm giấy vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cây lâm nghiệp. Thêm nữa, đất đai manh mún và phân tán, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực, không áp dụng được các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, cơ giới hóa bị hạn chế, không tạo được quy mô sản xuất hàng hóa lớn dẫn tới tăng chi phí sản xuất và tiếp thị.
Những năm qua, mặc dù độ che phủ rừng tuy đã tăng, nhưng chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn còn suy giảm ở một số địa phương (80% diện tích rừng tự nhiên là rừng nghèo). Giá trị thu nhập trên 1 ha rừng trồng thấp, bình quân chỉ đạt khoảng 7-8 triệu đồng/ha/năm, đời sống của người dân làm nghề rừng còn thấp, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập của nông dân.
Diện tích, trữ lượng gỗ rừng tự nhiên tuy chiếm tỷ lệ lớn, nhưng khả năng cung cấp gỗ lớn cho công nghiệp chế biến còn hạn chế do tỷ lệ cây gỗ có đường kính lớn thấp, chủ yếu rừng tự nhiên là rừng nghèo và rừng non mới phục hồi, năng suất thấp.
Năng suất rừng trồng tuy được cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước, nhưng vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực, sản phẩm chủ yếu là gỗ nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Thêm vào đó, mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản, nhưng hiệu quả của sản xuất lâm nghiệp còn thấp so với khu vực và thế giới do quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, chưa được tổ chức trong liên kết theo chuỗi, kết cấu hạ tầng phục vụ chế biến như kho tàng, bến bãi,…còn kém phát triển, chưa phát triển mạnh thị trường nội địa.
Trong thời gian tới, nhằm đẩy mạnh hơn nữa tiến trình tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, theo Tổng cục Lâm nghiệp, ngành sẽ triển khai các giải pháp đồng bộ và thiết thực. Trong đó, tiếp tục thống nhất, quán triệt chủ trương tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, xác định việc quyết tâm lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp là công tác quan trọng.
Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát, hoàn thiện Đề án tái cơ cấu ngành, các địa phương hoàn thành xây dựng, phê duyệt đề án tái cơ cấu lâm nghiệp của tỉnh. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, làm rõ định hướng phát triển của cả nước và từng địa phương, gồm: cơ cấu 3 loại rừng theo hướng điều chỉnh, chuyển diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu sang phát triển rừng sản xuất; định hướng phát triển rừng sản xuất là rừng trồng; lựa chọn tập đoàn cây con chủ lực là lợi thế để đưa vào sản xuất, đáp ứng các tiêu chí, có thị trường tiêu thụ tốt, có thể sản xuất quy mô lớn với năng suất cao, giá thành hạ hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác giao đất lâm nghiệp cho dân, nhất là đồng bào dân tộc; khuyến khích doanh nghiệp trồng, chế biến, tiêu thụ lâm sản, hợp tác liên kết trong sản xuất.
Điều chỉnh việc nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ góp phần làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm theo yêu cầu định hướng của mỗi địa phương; nghiên cứu chọn tạo, nhập khẩu giống tốt, tổ chức sản xuất theo hướng công nghiệp hóa ngành giống, tăng cường công tác quản lý giống, phổ biến kỹ thuật thâm canh rừng trồng. Phát triển ứng dụng công nghệ cao trong lâm nghiệp, tổ chức đẩy mạnh mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ rừng quản lý rừng bền vững FSC và các loại chứng chỉ rừng khác.
Mặt khác, tăng cường nỗ lực bảo vệ rừng, đặc biệt là ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ, thông qua đẩy mạnh công tác truyền thông, giao đất, giao rừng, tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở, năng lực của kiểm lâm. Ưu tiên xây dựng, triển khai các cơ chế, chính sách bảo vệ phát triển rừng, rà soát, đề xuất chính sách thuế trong lâm nghiệp nhằm khuyến khích và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh lâm sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm sau chế biến.
Về phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu, chủ động mở cửa thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, tháo gỡ các rào cản kỹ thuật và ứng phó các biện pháp phòng vệ thương mại của thị trường quốc tế, chú trọng phát triển thị trường trong nước. Thực hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành thông qua đẩy mạnh đào tạo nghề cho công nhân chế biến gỗ, nông dân nòng cốt.
Ngoài ra, tiếp tục thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế, có biện pháp bảo vệ thị trường nội địa hợp lý, phát triển thị trường xuất khẩu lâm sản phù hợp với luật pháp quốc tế. Chủ động xây dựng quan hệ đối tác dựa trên lợi thế của từng tổ chức quốc tế và quốc gia, tổ chức vận động thu hút công nghệ và đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nói chung và lâm nghiệp nói riêng.
Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác tiếp thị thương mại, đàm phán các hiệp định kỹ thuật, mở rộng thị trường quốc tế. Thực hiện đổi mới trong quản lý lưu thông hàng hóa lâm sản đảm bảo nguồn gốc hợp pháp, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo hài hòa lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng, tạo động lực thị trường, thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp trong nước phát triển. (Dảng Cộng Sản Việt Nam 9/2) đầu trang(
Vĩnh Trường và Linh Thượng là hai xã miền núi nằm ở phía Tây huyện Gio Linh với tỷ lệ người dân tộc Vân Kiều chiếm khoảng 80%.
Với địa hình gò đồi bán sơn địa, dân trí chưa cao nên đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ủy, chính quyền cùng với người dân nơi đây đã trăn trở, tìm tòi hướng làm ăn mới để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống.
Xã Vĩnh Trường có tổng diện tích đất tự nhiên 871,29 ha, trong đó diện tích đất rừng trồng trên địa bàn là 310 ha, chủ yếu là diện tích rừng tràm với luân kỳ khai thác từ 5-6 năm mỗi đợt. Hiện nay, việc trồng rừng tràm mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định nên được người dân chú trọng, đầu tư vào công tác trồng, chăm sóc, quản lý và khai thác đi đôi với trồng mới.
Anh Hồ Văn Sâm, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Trường cho biết: “Trước đây, đời sống của bà con Vân Kiều gặp rất nhiều khó khăn vì địa hình đồi núi chiếm nhiều nên đất canh tác ít, bà con chỉ trồng lúa nước nhưng hiệu quả kinh tế mang lại không cao. Từ năm 2000 đến nay, diện tích rừng tràm trên địa bàn ngày càng được mở rộng và hiệu quả kinh tế tăng lên rõ rệt nhờ sự chuyển đổi cây trồng của bà con”. Theo chân anh Sâm, chúng tôi tìm về nhà anh Hồ Văn Xá (56 tuổi), Trưởng thôn Xóm Tre, một trong những người trồng rừng tràm sớm nhất tại xã Vĩnh Trường.
Anh Xá khoát tay về hướng rừng tràm bát ngát xanh của mình rồi nói: “Gốc gác của tôi ở xã Trung Hải. Trước đây, ông bà tôi lên vùng đất này định cư lập nghiệp. Tôi sinh ra và lớn lên ở Vĩnh Trường trong cảnh nghèo khó, túng thiếu trăm bề. Tôi cùng gia đình khai hoang 1 mẫu đất trồng lúa rồi chăn nuôi trâu bò nhưng kinh tế vẫn không khá hơn được. Năm 2000, có người lên đây bán giống cây keo lai nên tôi mua về trồng thử. Sau 5 năm, rừng keo lai đến kỳ khai thác và tôi thu được một khoản tiền kha khá. Từ đó, tôi chú trọng trồng rừng tràm để phát triển kinh tế cho gia đình. Đến nay, gia đình tôi có 15 ha rừng tràm, mỗi đợt khai thác sau khi trừ chi phí tôi thu lãi hơn 300 triệu đồng, đó là chưa kể tới 3 ha cao su và 1 mẫu ruộng”.
Trước đây, những người trồng rừng ở xã Linh Thượng và Vĩnh Trường thường mua giống keo lai ở Bình Định về trồng. Với giống keo lai này, sau 6-7 năm mới khai thác do cây sinh trưởng chậm, giá trị kinh tế không cao.
Sau một thời gian, có vài người trồng thử giống keo lai giâm hom (tràm hom) mới có nguồn gốc từ tỉnh Bắc Giang. Giống cây mới này chỉ trong vòng 4-5 năm là thu hoạch được, cây cao, ít cành, thân gỗ lớn, mọc thẳng hơn và cho khối lượng gỗ nhiều hơn giống keo lai cũ. Nhận thấy lợi thế của giống keo lai mới nên người dân đã chuyển đổi sang giống cây này vì hiệu quả kinh tế mà nó mang lại vượt trội hẳn so với giống keo lai cũ.
Rừng tràm hom đã đem lại luồng gió mới cho đời sống của người dân nơi đây. Những hộ gia đình có đất đai thì trồng rừng, khai thác bán cho các cơ sở chế biến gỗ, sản xuất giấy hoặc chất đốt… rồi tiếp tục trồng mới. Những hộ khác không có đất trồng rừng thì làm đất, chăm sóc cây cho chủ rừng. Rừng tràm không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập mà còn tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương.
Anh Hồ Văn Sơn ở thôn Xóm Tre, xã Vĩnh Trường vừa xây dựng được ngôi nhà mới khang trang và tậu thêm chiếc mô tô đời mới nhờ rừng tràm. Vừa nghỉ tay sau khi chăm sóc rừng tràm hom, anh Sơn cho hay: “Tôi và vợ đều là giáo viên. Ngoài giờ dạy ở trường, vợ chồng bỏ thời gian để chăm sóc rừng tràm. Giống cây này không cần phân bón cũng chẳng cần chăm sóc nhiều như cây cao su, chỉ cần lâu lâu làm cỏ, phát quang cành cây thôi.
Gia đình tôi có 22 ha rừng tràm hom, đã khai thác được 2 đợt rồi. Rừng mới vừa trồng được 3 năm. Đợt vừa rồi nhà tôi thu lãi gần 1 tỷ đồng từ rừng tràm. Cũng nhờ trồng rừng mà tôi mới có tiền để xây nhà và mua sắm phương tiện đi lại”.
Anh Sơn còn cho biết thêm, sau khi khai thác xong rừng tràm sẽ đốt hết lớp thực bì rồi đến 1-2 tháng sau gia đình anh thuê khoảng 20 nhân công ở địa phương đào hố trồng cây rồi trả công cho họ từ 170-200 ngàn đồng/ người/ ngày.
Khâu chọn cây giống được người dân chủ động tìm tòi và chọn lựa từ các cơ sở bán cây giống hoặc từ các tiểu thương với giá 1.000 – 1.200 đồng/ cây. Trên diện tích 1 ha, người dân sẽ trồng từ 2.000 – 2.200 cây tràm hom giống. Lợi thế của cây tràm hom là không cần phân bón hóa học hay bỏ công sức chăm sóc gì nhiều, vì thế tiết kiệm đáng kể công chăm bón.
Anh Nguyễn Văn Bình, trú tại thôn Khe Me, xã Linh Thượng chia sẻ: “Nhà tôi trồng cây tràm hom cũng được gần 6 năm rồi. Lúc trước trồng lúa rồi chuyển sang cao su, có nuôi thêm đàn gà, lợn, bò nhưng về thu nhập và giá trị kinh tế thì không bằng trồng rừng được. Sau khi khai thác, tôi tự tìm “mối ruột” rồi vận chuyển gỗ tràm đi khắp nơi để bán.
Cũng có vài người “khoán thẳng” cho các tiểu thương. Có nghĩa là các tiểu thương đến xem rừng tràm, trả tiền rồi tự giải quyết từ khâu khai thác đến khâu đầu ra cho sản phẩm. Trồng rừng tràm vừa tăng độ che phủ diện tích đất hoang hóa, góp phần bảo vệ môi trường vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, quỹ đất hạn hẹp nên không thể mở rộng thêm diện tích trồng rừng. Nhà tôi nuôi được các con ăn học đàng hoàng, nâng cao đời sống cũng nhờ cây tràm hom”.
Trao đổi với chúng tôi, anh Hồ Văn Truyền, Chủ tịch UBND xã Linh Thượng cho biết: “Chúng tôi luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để người dân phát triển trồng rừng. Công tác bàn giao đất, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng luôn được đầu tư chú trọng. Hàng năm, chúng tôi vận động, khuyến khích người dân trồng mới từ 50 – 60 ha rừng tràm”.
Việc trồng rừng ở các xã miền Tây huyện Gio Linh không chỉ nâng cao chất lượng môi trường, tăng thêm diện tích rừng, mà còn tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương, nâng cao thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân tộc Vân Kiều. (Báo Quảng Trị 5/2) đầu trang(
Làng Trung Phước (xã Quế Trung, huyện Nông Sơn) vốn nổi tiếng là nơi sản xuất trầm hương đưa ra nước ngoài bán.
Nơi đây, vào những năm 2010 được mệnh danh là “làng tỉ phú” bởi có hàng chục người nắm tiền tỉ trong tay nhờ buôn trầm hương. Khu vực chợ Trung Phước trở nên sầm uất, biệt thự mọc lên như nấm, cuộc sống người dân quê thay đổi hoàn toàn.
Thế nhưng, ai lên xứ trầm hương Trung Phước thời điểm này sẽ không còn chứng kiến cảnh nhà nhà làm trầm hương, người người làm trầm hương như trước. Thay vào đó, nhiều hộ kinh doanh trầm hương đã phải bỏ nghề, nhiều gia đình phải rao bán nhà để trả nợ, lao động ở địa phương đành quay lại thói quen “Nam tiến” để mưu sinh. “Trầm hương Trung Phước lãnh hậu quả như ngày hôm nay cũng chính vì những người làm trầm tự hại mình” - anh Nguyễn Văn T., một chủ cơ sở làm trầm hương tại làng, thốt lên.
Cơ sở của anh T. nằm ngay khu vực chợ Trung Phước, từ chỗ có đến hàng chục lao động nay chỉ còn vài người cố bám víu. Anh T. cho biết 2 năm nay, sản phẩm trầm hương Trung Phước bị người Trung Quốc tẩy chay nên nhiều hộ kinh doanh gặp khó.
Dù không công khai nhưng những người trong cuộc đều biết rằng không ít hộ kinh doanh trầm hương ở Trung Phước đều phải vay ngân hàng, thậm chí vay nóng bên ngoài với lãi suất cao để có tiền trang trải những chuyến buôn trầm sang Trung Quốc. Riêng số lượng trầm hương của anh T. chưa bán được phải gửi lại ở Trung Quốc có giá trị hàng tỉ đồng.
Trước đó, khoảng năm 2005-2010, khi sản phẩm trầm hương được ưa chuộng, người dân Trung Phước đã linh động chuyển đổi cách làm. Họ lên huyện Tiên Phước mua cây dó bầu (cây tạo ra trầm hương) đưa về chế tác thành nhiều sản phẩm mỹ nghệ đẹp mắt bán sang Trung Quốc. Cứ mỗi lần ở Trung Quốc tổ chức hội chợ, hàng trăm người kéo nhau sang bán trầm hương hoặc đưa đi bán dạo. Mỗi chuyến đi, người kiếm ít cũng vài trăm triệu, người nhiều kiếm tỉ đồng.
Vì làm trầm hương quá dễ và nhanh giàu nên không chỉ người dân ở Trung Phước mà người làng Đại Bình bên cạnh cũng tham gia làm trầm xuất ngoại. Lượng người làm trầm ngày một đông trong khi việc kiểm soát chất lượng không được chú trọng nên xuất hiện tình trạng dùng hóa chất bơm vào các sản phẩm giả trầm hương để bán với giá cao. Sau một thời gian, thông tin trầm hương bị làm giả đã khiến nhiều người quay lưng với trầm hương Trung Phước.
“Hiện nay, hầu hết các hộ làm trầm đều đang gửi sản phẩm tại nhà kho bên Trung Quốc. Hộ ít thì vài trăm triệu, hộ nhiều lên đến 2-3 tỉ đồng. Hai năm nay trầm hương không bán được nhưng mỗi lần có hội chợ, chúng tôi đều sang Trung Quốc với mong muốn bán hết hàng để lấy lại vốn nhưng càng đi càng bị lỗ” - anh T. chia sẻ.
Ông Lê Văn Kh. (ngụ làng Đại Bình) cho biết số lượng trầm hương mỹ nghệ ông đang gửi tại tỉnh Vân Nam có giá trị hơn 1 tỉ đồng. Hiện tại, mỗi tháng ông Kh. mất gần 3 triệu đồng tiền ký gửi. “Trước đây buôn bán rất dễ dàng, chuỗi hạt ở mình bán 1 triệu không ai mua nhưng sang đó có khi bán được 20-30 triệu đồng. Cũng do quá nhiều hộ tham gia, rồi do tham lam làm hàng giả nên bị người ta tẩy chay cũng đúng thôi” - ông Kh. thừa nhận.
Ông Đỗ Đình Thương, Phó Chủ tịch UBND xã Quế Trung, đọc tên hàng chục người ở làng Trung Phước được cho là tỉ phú và cho biết từ khi trầm hương không tiêu thụ được, nhiều tỉ phú nơi đây đã linh động chuyển nghề. Cụ thể, ông Trương Thanh Hiền đã chuyển sang kinh doanh dịch vụ vận tải, du lịch, ông Lưu Thanh Hùng đầu tư trang trại chăn nuôi, trồng rừng, ông Nguyễn Điền chuyển sang kinh doanh nhà hàng, khách sạn.
“Đa số những người bị thua lỗ, nợ nần đều là những người kinh doanh nhỏ. Với những người đã làm trước đó, họ vẫn còn giữ được nhiều tiền để chuyển sang nghề khác” - ông Thương cho hay.
Khi sản phẩm trầm hương không bán được, không chỉ người dân ở Trung Phước gặp khó mà nhiều cơ sở làm trầm tại huyện Tiên Phước và người trồng dó bầu ở huyện này cũng chịu cảnh tương tự. Hai anh em ông Trần Vũ Linh và Dương Quốc Trinh (cùng ngụ xã Tiên Mỹ) được biết đến là người đầu tiên đưa cây dó bầu từ rừng về trồng và trở thành tỉ phú.
Đến nay, khi cuộc sống sung túc, cả gia đình ông Linh đã chuyển sang Mỹ sinh sống, ở nhà chỉ còn lại người con trai đầu trông coi cơ nghiệp. Còn ông Trinh từ khi sản phẩm trầm bị rớt giá đã chuyển sang trồng tiêu, cây ăn trái. (Người Lao Động 5/2) đầu trang(
Năm 2015, đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển của lực lượng Kiểm lâm Việt Nam bằng việc kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực hướng đến xây dựng một lực lượng Kiểm lâm có chuyên nghiệp cao, tri thức và bản lĩnh.
Đây cũng là năm có bước tiến lớn về cải cách thể chế khi chủ trương sáp nhập Chi cục Lâm nghiệp cấp tỉnh vào Chi cục Kiểm lâm theo Thông tư 14 liên bộ Nội vụ và NNPTNT. Năm 2015 cũng để lại dấu ấn tốt đẹp với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo điều kiện cho người dân và cộng đồng địa phương tham gia mạnh mẽ vào công tác quản lý bảo vệ rừng. Cũng trong năm này, số vụ vi phạm lâm luật trên cả nước giảm 3.533 vụ so với cùng kỳ.
Sang năm 2016, nếu quá trình đàm phán Hiệp định FLEGT giữa Chính phủ Việt Nam và Liên minh châu Âu kết thúc và Hiệp định quan trọng này chính thức được ký kết thì sẽ hứa hẹn một thị trường lâm sản lớn lao tại các nước trong Liên minh châu Âu. Đây là điều kiện cần để Việt Nam có thể tăng nguồn thu từ lâm sản xuất khẩu đến các nước trong liên minh này, kể cả với các nước đối tác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương khi thực thi Hiệp định Đối tác Thương mại TPP.
Tuy nhiên, để sẵn sàng cho những bước hội nhập quan trọng sắp tới, ngành lâm nghiệp cần có một hệ thống chính sách quản lý phù hợp theo thông lệ quốc tế, đặc biệt, lực lượng Kiểm lâm phải tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch quản lý rừng bền vững, kế hoạch trồng rừng gỗ lớn, cấp chứng chỉ rừng FSC và thực hiện bằng được hoạt động giám sát nguồn lâm sản hợp pháp trên phạm vi cả nước, góp phần tăng tính minh bạch trong chế độ quản lý tài nguyên tại Việt Nam, đồng thời tăng giá trị xuất khẩu lâm sản, góp phần thực hiện thành công chương trình tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Nhìn về tương lai, muốn đảm đương tốt nhiệm vụ trong bối cảnh mới, đòi hỏi lực lượng Kiểm lâm phải thực sự thay đổi cả về chất lẫn lượng. Nhìn lại lịch sử phát triển của lực lượng Kiểm lâm Việt Nam, mặc dù thể chế quản lý có thể thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau nhưng lực lượng Kiểm lâm vẫn giữ được bản lĩnh riêng vốn có, đó là sự tận tụy với công việc ở những nơi gian khó nhất, biết chấp nhận thiếu thốn, vượt qua mọi khó khăn, đồng cam cộng khổ để hoàn thành nhiệm vụ.
Dù vậy, trong bối cảnh quản lý tài nguyên hiện nay, chừng đó bản lĩnh thôi vẫn chưa đủ mà phải xây dựng thành một lực lượng chuyên nghiệp, giỏi tham mưu ban hành hệ thống chính sách phù hợp thực tiễn và chỉ đạo tổ chức thực hiện các chính sách hiệu quả.
Hình ảnh cán bộ Kiểm lâm mang xắt cốt đến từng thôn bản vận động bà con trồng rừng, bảo vệ rừng ngày xưa, nay phải được thay thế hình ảnh của những cán bộ kiểm lâm địa bàn, giàu trí tuệ và năng lực cống hiến, biết làm chủ các công nghệ hiện đại để quản lý tài nguyên rừng hiệu quả.
Với công cụ ảnh viễn thám ngày nay, mỗi cán bộ Kiểm lâm có thể trở thành một “bác sỹ chuyên khoa rừng” thực thụ. Họ có thể ngồi tại văn phòng để “bắt mạch” và “chẩn đoán bệnh” cho từng khu rừng ở những nơi xa xôi, hẻo lánh.
Chia sẻ về việc áp dụng công nghệ này, Kỹ sư Đặng Ngân Giang – chuyên viên Phòng Quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên (Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế) không giấu nổi niềm vui: “Bây giờ bọn mình như bác sỹ, ngồi trước màn hình máy tính và chẩn đoán hình ảnh thì có thể biết được lô rừng cách hàng trăm km bị tác động như thế nào”. Có thể nói, việc giám sát quản lý tài nguyên rừng bằng công nghệ ảnh viễn thám đã mang lại những hiệu quả rất lớn, đặc biệt là giúp phát hiện các hoạt động xâm lấn rừng trái phép.
Thêm một điểm mới trong công tác quản lý tài nguyên rừng là trước đây, chúng ta chỉ chú trọng đến các cây gỗ quý thì hiện nay các loài côn trùng nhỏ bé cũng được cán bộ kiểm lâm đặc biệt lưu ý. Cùng tham gia đoàn khảo sát đa dạng sinh học của cán bộ kiểm lâm Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn Sao la Thừa Thiên Huế mới thấy niềm đam mê nghiên cứu khoa học của họ.
Họ có thể lặn lội từ sáng đến tối trong rừng để thực hiện thu thập mẫu vắt ở những vùng sinh cảnh của loài Sao la, từ đó các mẫu máu (vắt) này sẽ được họ cẩn thận phân loại và gửi đi giám định AND ở nước ngoài để xác định các loài thú phân bố trong khu vực nghiên cứu.
Hay trong những lần cứu hộ và thả lại thú vào rừng tự nhiên, tôi cũng chứng kiến những hình ảnh cảm động khi họ phải tạm “chia tay” các sinh linh bé nhỏ của rừng xanh sau nhiều tháng ngày trực tiếp chăm sóc chúng. Có thể nói rằng, sự trưởng thành của đội ngũ nghiên cứu khoa học bảo tồn đã góp phần làm nên sức vóc của một lực lượng Kiểm lâm vốn trước đây chỉ thuần về thực thi pháp luật lâm nghiệp.
Nghề Kiểm lâm vốn đối mặt với nhiều gian khó nhưng hẳn sẽ ít ai tưởng tượng được cảnh thiếu thốn triền miên ở các Trạm Kiểm lâm nằm đơn độc giữa chốn thâm sơn cùng cốc. Nếu không vững chí bền gan thì những kỹ sư mang sắc lâm hàm xanh khó mà trụ được. Cũng chính vì gắn bó với nghề mà rất nhiều cán bộ kiểm lâm chưa bao giờ được đón Tết trọn vẹn với gia đình. Thậm chí, có những cánh rừng còn thấm cả máu của những cán bộ chiến sỹ Kiểm lâm. Có người hy sinh khi còn rất trẻ. Họ thật sự là những người lính trên chiến trường bảo vệ màu xanh cho đất nước.
Một lần tôi đến thăm Trạm Kiểm lâm Khe Liềm nằm ở đầu nguồn sông Mỹ Chánh, vùng giáp ranh giữa Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, dù là người lạ nhưng cả đàn chó cứ ngoe nguẩy đuôi tỏ vẻ mừng rỡ. Lấy làm lạ, tôi hỏi anh Trạm trưởng: “Chó ở đây có vẻ hiền nhỉ?”. Anh trả lời: “Quanh năm ở đây có ai lai vãng đâu anh nên chó nó cũng thèm hơi người”. Câu nói ấy cứ ám ảnh tôi mỗi khi nghĩ về cái nghề “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết giành phần ai” – lời bài hát vận vào nghề như một định mệnh vậy.
Xuân đang về trên khắp mọi nẻo đường, những cánh rừng đang đâm chồi nảy lộc, những tiếng chim réo rắt đâu đây; tiếng nói cười của trẻ thơ vùng cao cũng thoáng chút vang vọng… Nhưng trên tất thảy, sự mường tượng của tôi vẫn đầy ắp hình ảnh về những cán bộ Kiểm lâm trẻ đang ngày đêm bám trụ núi rừng. Họ đã chọn gian khổ về mình để cho những cánh rừng mãi mãi xanh tươi. (Môi Trường Và Đời Sống 8/2) đầu trang(
Yên Bái là tỉnh miền núi có tiềm năng phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực lâm nghiệp, với tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp 469.858 ha, chiếm 68,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, ngành lâm nghiệp Yên Bái đã có những bước chuyển biến quan trọng từ lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội và là một trong những ngành có vị trí quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Do điều kiện địa hình chia cắt, hiểm trở, độ dốc lớn nên Yên Bái là tỉnh có tiềm năng lớn về phát triển thủy điện vừa và nhỏ, theo quy hoạch của Bộ Công thương, trên địa bàn tỉnh Yên Bái được quy hoạch 29 địa điểm thủy điện nhỏ. UBND tỉnh Yên Bái đã cấp chứng nhận đầu tư và chấp thuận đầu tư cho 23 dự án thủy điện với 28 nhà máy tổng công suất thiết kế đạt 347,6 Mw.
Ngoài ra, còn có 3 cơ sở sản xuất kinh doanh nước sạch với tổng công suất gần 3 triệu mét khối/năm. Ngày 24/9/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) nhằm huy động các nguồn lực tài chính để chi trả cho các chủ rừng có diện tích rừng cung ứng DVMTR góp phần nâng cao thu nhập cho người dân gắn bó với rừng, từng bước sống được bằng nghề rừng thông qua nhận khoán quản lý bảo vệ rừng ổn định lâu dài.
Năm 2012, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái được thành lập. Sau 5 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã từng bước đi vào cuộc sống; ý thức, trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức sử dụng DVMTR đã được nâng lên; người dân được hưởng lợi từ chính sách có thêm nguồn thu nhập, đời sống từng bước được nâng cao, người dân đã nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của rừng đối với đời sống và sản xuất của chính mình, thường xuyên đẩy mạnh công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng trên diện tích được giao khoán bảo vệ, rừng được bảo vệ tốt hơn, các vụ việc vi phạm lâm luật, khai thác lâm sản, phá rừng làm nương rẫy giảm hẳn, chất lượng tài nguyên rừng được nâng lên.
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, tính đến ngày 31/12/2015, Quỹ đã ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với 15 đơn vị có sử dụng DVMTR trong phạm vi nội tỉnh (12 cơ sở sản xuất thủy điện, 3 cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch), tổng số tiền ủy thác đã tiếp nhận từ Quỹ trung ương và thu nội tỉnh đạt trên 57 tỷ đồng, trong đó tiếp nhận từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam 35 tỷ đồng, thu ủy thác nội tỉnh 22 tỷ đồng (gồm truy thu tiền DVMTR năm 2011,2012,2013 trên 18,1 tỷ đồng (nội tỉnh 8,7 tỷ đồng; trung ương điều phối 9,3 tỷ đồng); thu trong kỳ kế hoạch là 39 tỷ đồng (nội tỉnh 13,3 tỷ đồng; trung ương điều phối 25,7 tỷ đồng).
Dự kiến số tiền đưa vào kế hoạch chi trả trong năm 2015 là 43,9 tỷ đồng, trong đó chi trả cho các chủ rừng là 36,5 tỷ đồng. Năm 2015, với tổng diện tích rừng có cung ứng DVMTR trên địa bàn tỉnh được chi trả trên 166.245 ha (diện tích chưa quy đổi) thuộc 3 lưu vực sông Đà, sông Hồng, sông Chảy trên địa bàn 8 huyện, thị xã.
Trong đó, diện tích rừng thuộc lưu vực sông Đà 51.861 ha, diện tích rừng thuộc lưu vực sông Hồng 67.927,3 ha, diện tích rừng thuộc lưu vực sông Chảy là 45.306,2 ha. Đơn giá chi trả DVMTR năm 2015 thuộc lưu vực sông Đà đạt mức 435.600 đồng/ha/năm, lưu vực sông Chảy 74.800 đồng/ha/năm; lưu vực sông Hồng 163.000 đồng/ha/năm.
Từ kết quả đó cho thấy, cùng với các nguồn thu nhập khác từ rừng, tiền DVMTR đã đóng góp một phần đáng kể trong tổng thu nhập của người dân, từng bước nâng cao ý thức người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Ông Kiều Tư Giang - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cho biết: “Thực tế cho thấy, hiện nay, người dân các địa phương có rừng trên địa bàn tỉnh đã ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng. Các chủ rừng là tổ chức đã tiến hành giao khoán rừng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình nên tạo sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ rừng với hộ gia đình và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép tại các khu vực rừng chi trả tiền DVMTR không còn xảy ra. Cụ thể, năm 2015, chính sách DVMTR đã góp phần làm giảm 23% số vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng so với năm 2014”.
Với những kết quả đạt được, năm 2016, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh xác định một số nhiệm vụ trọng tâm: thanh toán tiền DVMTR năm 2015 cho các chủ rừng bảo đảm đúng thời gian quy định; tăng cường công tác tuyên truyền bằng mọi hình thức về chính sách chi trả DVMTR để người dân hiểu rõ hơn về chính sách; thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả tiền DVMTR của các ban chi trả tiền DVMTR cấp huyện và việc sử dụng tiền DVMTR của các chủ rừng bảo đảm đúng quy định.
Đồng thời, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các sở, ban, ngành tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc thu nộp ủy thác tiền DVMTR đúng quy định; tổ chức từ 2 - 3 hội nghị tập huấn về công tác tuyên truyền, truyền thông chính sách chi trả DVMTR, xây dựng kế hoạch chi trả tiền DVMTR và nghiệm thu thanh toán theo quy định cho các đối tượng cán bộ kỹ thuật của các chủ rừng, ban chi trả tiền DVMTR cấp huyện…
Dự kiến năm 2016, nguồn thu ủy thác tiền DVMTR trên 50 tỷ đồng; trong đó, tiếp nhận từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam 35 tỷ đồng, thu ủy thác nội tỉnh 15 tỷ đồng. (Báo Yên Bái 5/2) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Năm hết Tết đến, chúng ta lại chuẩn bị nói lời chào tạm biệt với "chú dê" Ất Mùi và về với đội của "anh khỉ" Bính Thân và dưới đây sẽ là những sự thiệt tương đối hay ho mà chúng ta nên biết về loài khỉ - con giáp của năm 2016.
Không phải khỉ nào cũng là... khỉ: Rất nhiều người trong chúng ta có thói quen gọi bất cứ sinh vật nào thuộc họ linh trưởng là khỉ. Tuy nhiên, khỉ (monkey) chỉ là nhóm chiếm phần lớn trong họ này. Nhóm còn lại là vượn - ape - với đại diện là các loài như tinh tinh, đười ươi, khỉ đột.
Đặc điểm dễ phân biệt nhất giữa khỉ và vượn, đó là hầu hết khỉ có đuôi, còn vượn không có đuôi. Ngoài ra, trí thông minh của vượn cũng vượt trội so với khỉ.
Chúng ta đã nhầm về cách loài khỉ di chuyển: Từ trước đến nay, nhiều người vẫn quan niệm rằng loài khỉ di chuyển bằng cách đu cánh tay như hình dưới.Nhưng sự thật chỉ có các loài vượn là di chuyển theo cách đó. Hầu hết khỉ di chuyển bằng cách chạy trên các cành cây mọc đan xen nhau.
Có một loài khỉ tên là... nhện: Trái với cái tên nghe hơi "kinh dị", loài khỉ này có ngoại hình khá dễ thương. Sở dĩ chúng có cái tên này là vì... tay, chân và đuôi của chúng dài quá khổ, vượt cả chiều dài thân thể giống như trường hợp của loài nhện vậy.
Đây cũng là loài khỉ... ồn ào nhất thế giới. Tiếng kêu của chúng rất ầm ĩ với nhiều cung điệu khác nhau như hét, sủa, la ó cùng rất nhiều âm thanh khác - nghe chói tai không thể chịu nổi.
Không phải khỉ nào cũng sống trên cây: Hầu hết các loài khỉ đều sống trên cây nhưng không phải loài nào cũng vậy, ví dụ như loài khỉ Patas.
Khỉ Patas là loài vật bản địa thuộc châu Phi. Không giống như đồng loại, loài khỉ này tránh xa các khu rừng thẳm mà chọn sinh sống ở những đồng cỏ savan trống trải.
Các chuyên gia cho biết, do đặc điểm môi trường sống tương đối nguy hiểm, loài khỉ này đã tiến hóa để có một hệ thống... sinh lý rất mạnh, giúp tăng khả năng sinh sản nên về cơ bản, chúng không gặp nguy hiểm về vấn đề duy trì nòi giống.
Con khỉ bé nhất thế giới chỉ nặng 1 lạng: Pygmy Marmoset - sống tại khu rừng rậm Amazon huyền bí của Nam Mỹ là loài khỉ bé nhất thế giới. Loài khỉ dễ thương này chỉ nặng khoảng 120 - 140 gram khi trưởng thành, với chiều dài cơ thể không kể đuôi rơi vào tầm 11 - 15cm.
Còn con khỉ to nhất nặng tới 35kg: Đó là loài khỉ mặt chó - Mandrill - sống chủ yếu trong các khu rừng mưa nhiệt đới. Khỉ mặt chó đực thường nặng trên 30 kg, trong đó cá thể lớn nhất từng được ghi nhận là 35kg.
Khỉ cái thường chỉ nhẹ bằng một nửa, do đó chúng thường lựa chọn bạn đời dựa trên tiêu chí... cao to đen hôi, tức là bố khỉ nào càng to thì càng dễ cưa gái.
Khỉ là những sinh vật duy nhất giao tiếp gần tương tự với người: Các loài khỉ sử dụng biểu cảm gương mặt, ngôn ngữ cơ thể, thậm chí cả... giọng nói để giao tiếp với nhau. Đây được xem là những sinh vật có hệ giao tiếp vượt trội trong thế giới động vật.
Lý do khỉ thích ăn chuối là gì?: Không rõ từ khi nào, nhưng chúng ta đã luôn mặc định: khỉ thích ăn chuối, dù trên thực tế chúng ăn rất nhiều loại hoa quả khác nhau, thậm chí ăn cả hoa, côn trùng và cả... thằn lằn.
Tuy nhiên, đúng là khỉ rất thích ăn chuối. Nếu phải chọn giữa các loại hoa quả, khỉ sẽ chọn chuối. Theo các chuyên gia, nguyên nhân là bởi chuối thường mọc tại các khu rừng nóng và ẩm ướt - môi trường sống của khỉ. Hơn nữa, chuối có màu vàng khá bắt mắt, lại đem lại nguồn dinh dưỡng khổng lồ. (Trí Thức Trẻ/ Kênh 14 6/2) đầu trang(
Theo AFP, con báo hôm qua đi quanh một trường học ở Bangalore, vụ việc xảy ra vào chủ nhật nên trường học đóng cửa. Con báo đã cố vồ một cán bộ kiểm lâm, một nhà hoạt động động vật hoang dã và những người khác đến gần nó.
Ravi Ralph, quan chức quản lý động vật hoang dã ở bang Karnataka, cho biết con báo có vẻ đã vào trường từ một khu vực rừng lân cận bằng cách nhảy qua tường.
Con báo cũng tấn công một người đàn ông nằm trên mặt đất, người này dùng tay để cố bảo vệ mình. Con báo còn cào chân một người khác khi anh ta cố gắng leo lên cổng.
"Con báo bị bắt và nhốt sau một hoạt động kéo dài 4 giờ. Khi nó bị mắc kẹt trong một căn phòng, một nhân viên đã bắn thuốc mê qua lỗ thông gió", ông Ralph nói.
Nó được đưa đến sở thú Bannerghatta Bangalore để quan sát, và sau đó được thả về rừng. Các nạn nhân đang được điều trị vết thương.
Ấn Độ có khoảng 12.000 - 14.000 con báo, theo một thống kê quốc gia công bố hồi năm ngoái. Ngày càng có nhiều con đi vào khu vực dân cư vì môi trường sống của chúng bị thu hẹp. Một con báo đã giết một bé trai 5 tuổi trong sân nhà ở miền trung Ấn Độ năm 2014. (VnExpress 9/2) đầu trang(
Hơn nửa thế kỷ trước, những con khỉ hoang dã sống ở đảo Kojima (Nhật Bản) thu hút sự chú ý của du khách vì có thói quen rửa sạch khoai lang trước khi ăn. Nay chúng có thói quen mới: chỉ ăn cá.
Kojima là một hòn đảo không người ở, có diện tích khoảng 0,3 km2, cách thành phố Kushima khoảng 200 m.
Năm 2016 là năm Bính Thân, và những người dân địa phương ở thành phố Kushima (tỉnh Miyazaki), nơi có hòn đảo Kojima, đang nỗ lực thu hút du khách đến thăm đảo này để xem những con khỉ ăn cá, nhằm vực dậy ngành du lịch tại đây, theo hãng tin Kyodo (Nhật Bản).
Ông Nobuharu Kanchi (64 tuổi), người vận hành dịch vụ đưa du khách từ đất liền đến đảo Kojima bằng thuyền hơn 30 năm qua, nói: “Những con khỉ trên đảo rất thích ăn cá”.
Khỉ thường ăn các loại đậu, trái cây, không ăn cá hoặc thịt. Tuy nhiên những con khỉ trên đảo Kojima lại thích ăn cá trôi dạt vào bờ biển. Chúng dùng hai tay bắt cá và ăn.
Một phụ nữ từng đến thăm đảo Kojima hồi cuối năm 2015 cho biết bà rất ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy khỉ ăn cá.
Theo số liệu của chính quyền thành phố Kushima, có khoảng 110 con khỉ ăn cá sống ở Kojima.
Trong thập niên 1950, những con khỉ trên đảo Kojima được phát hiện có thói quen rửa sạch bùn đất trên khoai lang (do con người cung cấp) rồi mới ăn, điều này thu hút nhiều khách du lịch đổ xô đến đảo này. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Kyoto chịu trách nhiệm theo dõi loài khỉ này đã ngừng cung cấp khoai lang cho chúng cách đây ba năm do số khỉ trên đảo tăng cao.
Chính quyền thành phố Kushima cho hay, mỗi ngày có trên 800 du khách đến thăm Kojima trong thập niên 1990. Tiếc là những năm gần đây, số lượng du khách đến thăm đảo sụt giảm và đôi lúc chỉ có vài người đến thăm đảo mỗi ngày.
Theo các nhà nghiên cứu khoa học Nhật, họ đã phát hiện những con khỉ đảo Kojima ăn cá kể từ cuối thập niên 1970.
“Đây là loài khỉ sống ven biển biết ăn cá và là một hiện tượng hiếm thấy”, ông Akiko Takahashi, nhà nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu động vật hoang dã thuộc Đại học Kyoto, cho biết.
Ông Kanchi kỳ vọng thói quen ăn cá của những con khỉ này sẽ giúp vực dậy ngành du lịch ở hòn đảo. “Đảo Kojima giờ đây không chỉ nổi tiếng với loài khỉ ăn khoai lang rửa sạch. Tôi muốn nhiều người biết đến hòn đảo này với hình ảnh khỉ ăn cá”, ông Kanchi nói. (Thanh Niên 9/2) đầu trang(
Một con voi rừng chạy điên cuồng và húc đổ hàng loạt xe hơi, xe máy và xe đạp khi đi lạc vào một thị trấn nhỏ ở bang Tây Bengal - Ấn Độ hôm 10-2.
Đài NBC dẫn lời quan chức kiểm lâm rừng Baikunthapur, ông Basab Rai, cho biết con voi cái lang thang vào thị trấn Siliguri, sau đó không tìm được đường quay lại.
Nó hoảng sợ chạy quanh khu vực nhưng không tấn công người. Tuy nhiên, hàng chục chiếc xe hơi, xe máy và xe đạp bị húc đổ trên đường đi của con vật.
Rất đông người dân trèo lên ban công và mái nhà để theo dõi sự việc. Theo ông Rai, con voi đang đi tìm kiếm thức ăn nên mò vào thị trấn.
Cuối cùng, giới chức địa phương phải huy động một xe cần cẩu để chở con voi tới công viên sau khi bắn hạ nó bằng thuốc ngủ. Tại đây, con vật sẽ được thuần hóa để phục vụ người dân. (Người Lao Động 11/2) đầu trang(
Một con voi chuyên chở khách du lịch đã chết sau màn bắn pháo hoa giao thừa ở thủ đô Bangkok, Thái Lan. Theo điều tra ban đầu, nguyên nhân cái chết có thể do chú voi phải làm việc quá sức và bị sốc sau màn pháo hoa.
Samruai, con voi hơn 50 tuổi, từng liên tục chở khách xung quanh khu vực đền Pattaya, thủ đô Bangkok, Thái Lan, bất ngờ ngã gục và chết. Theo điều tra ban đầu, Samruai có thể bị bệnh sau cú sốc trong màn bắn pháo hoa mừng năm mới 2016 ở khu vực này cách đây vài tuần.
Theo tờ Coconuts Bangkok, trước đó Samruai từng có dấu hiệu của bệnh tật và mệt mỏi. "Dù con voi được các chuyên gia chăm sóc cho uống nước muối và thuốc kháng sinh và đưa tới cơ sở y tế tại tỉnh Surin để điều trị, nhưng vẫn chết bi thảm ngay trong đêm", trang báo này đưa tin.
Quỹ Bảo vệ Động vật Thế giới (WAP) đã miêu tả lại sự việc này như một "tình huống tuyệt vọng đau buồn". Sau đó, xác con voi xấu số được vận chuyển tới một nghĩa trang. Các nhà sư ở chùa Bang Lamung cũng có mặt trong lễ chôn cất.
"Voi vốn là động vật hoang dã, không thuộc lĩnh vực giải trí. Lẽ ra cả cuộc đời của nó nên được sống trong sự tự do cùng tự nhiên, khong phải chịu sự sợ hãi từ pháo hoa hay bất cứ môi trường bó buộc nào trong đô thị", phát ngôn viên của WAP chia sẻ.
Cũng theo WAP, hiện ít nhất 550.000 động vật hoang dã đang bị điều kiển dưới "bàn tay" của các điểm du lịch vô trách nhiệm trên thế giới. Thống kê này đến từ các nghiên cứu toàn cầu về bảo tồn động vật hoang dã của ngành du lịch thuộc trường Đại học Oxford và được ủy quyền bởi Quỹ Bảo vệ Động vật Thế giới.
Theo đó, danh sách 10 hoạt động vui chơi giải trí có sử dụng tới động vật hoang dã được liệt kê. Một trong những hoạt động chính bao gồm: cưỡi voi, xem biểu diễn cá voi, khỉ nhảy múa… Tổ chức này cũng dự tính khoảng 110 triệu người tới tham quan các khu du lịch có sử dụng động vật hoang dã, nhưng họ hoàn toàn không biết những hành vi này chính là lạm dụng chúng. (Dân Trí 11/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||