|
Ngày 14 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Đó là ý kiến chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Trần Công Chánh tại buổi làm việc với Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân (trung tâm) về tình hình triển khai các hoạt động của trung tâm từ đầu năm đến nay vào chiều ngày 11-8.
Tham dự buổi làm việc còn có ông Lữ Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND tỉnh, cùng các sở, ban, ngành có liên quan của tỉnh.
Từ đầu năm đến nay, Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân triển khai tốt các giải pháp trong phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ rừng; bảo vệ nguồn lợi thủy sản, động vật hoang dã, cũng như thực hiện trồng và khai thác rừng đạt theo yêu cầu. Đặc biệt, bảo vệ tốt 130 ha đất tại khu vườn chim và trồng thêm nhiều loại cây bản địa để tạo môi trường cư trú cho chim, đồng thời thuê Trường Đại học Cần Thơ thực hiện Đề án quản lý, bảo vệ và phát triển vườn chim.
Trung tâm đã phối hợp với Công ty Cổ phần đầu tư Du lịch Miền Nam (Công ty Miền Nam) thực hiện nâng cấp, mở rộng một số hạng mục công trình phục vụ du lịch như: mở rộng lối vào, đường lên tháp ngắm chim cho xe điện chạy, xây dựng thêm một nhà hàng, 2 tum nổi và 10 căn nhà nghỉ qua đêm. Bên cạnh đó, trung tâm còn liên doanh, liên kết, hợp tác với HTX Hiệp Phú trồng chanh không hạt được 15ha và trồng tràm kết hợp nuôi thủy sản được 47ha; phối hợp nuôi thủy sản với Công ty Cổ phần Thủy sản Đại Lộc được 31ha…
Phát biểu tại buổi kiểm tra, Bí thư Tỉnh ủy Trần Công Chánh đề nghị lãnh đạo Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân tiếp tục thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình trong thời gian tới. Trong đó, cần thường xuyên phổ biến cho người dân biết về lợi ích của việc bảo vệ và phát triển vườn chim, bảo vệ môi trường nhằm phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng, qua đây tạo điều kiện cho người dân hưởng lợi từ việc khai thác du lịch. Ngoài ra, trung tâm phải phối hợp tốt với Công ty Miền Nam trong việc phát triển du lịch tại đây và sớm hoàn thành các công việc, hồ sơ, thủ tục cổ phần hóa tại đơn vị.
Bên cạnh đó, Bí thư Tỉnh ủy Trần Công Chánh thống nhất với đề xuất của chủ nhiệm Đề án quản lý, bảo vệ và phát triển vườn chim là nghiên cứu quy hoạch lại việc sử dụng đất tại vườn chim theo hướng đảm bảo chỗ ăn, đậu, làm tổ của chim do số lượng loài và cá thể ngày một đông. Đồng thời, đề nghị chủ nhiệm sớm hoàn thành đề án và đánh giá tính khả thi nhằm phục vụ tốt cho công tác bảo vệ vườn chim tại trung tâm được hiệu quả trong thời gian tới…(Báo Hậu Giang 11/8) đầu trang(
Cùng với 24 vườn quốc gia của các nước Đông Nam Á, Kon Ka Kinh và 3 vườn quốc gia khác của VN được công nhận là Vườn di sản ASEAN. Song sự đa dạng sinh học của Kon Ka Kinh đang bị con người xâm hại.
Nằm ở phía đông tỉnh Gia Lai, cách TP.Pleiku hơn 50 km, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh có diện tích hơn 42.000 ha, trải dài qua các huyện Đăk Đoa, Mang Yang, Kbang (Gia Lai). Địa hình của vườn núi non trùng điệp, có ngọn Kon Ka Kinh cao 1.748 m. Đây còn là lưu vực của ba hệ thống sông lớn của khu vực Tây nguyên là sông Ba, Đăk Pne và Ayun.
Theo ông Nguyễn Văn Hoan, Giám đốc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, các công trình điều tra đa dạng sinh học tại Kon Ka Kinh cho thấy, đến tháng 8.2011, hệ động vật của vườn rất đa dạng và phong phú với tổng số 556 loài, thuộc 91 họ và 30 bộ; trong đó có 16 loài đặc hữu như voọc chà vá chân xám, khướu Kon Ka Kinh, hổ...
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, khu vực vùng đệm Kon Ka Kinh có 11 dân tộc sinh sống với hàng chục ngàn người. Đầu năm 2017, nhóm các nhà nghiên cứu của Hội Động vật học Frankfurt (CHLB Đức) tại VN, Trung tâm đa dạng sinh học Nước Việt Xanh và Trường đại học Sư phạm Đà Nẵng đã khảo sát, nghiên cứu tại khu vực hành lang kết nối Kon Ka Kinh và Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Nhóm nghiên cứu xác định tại tuyến kết nối, vùng đệm thuộc các xã Đăk Roong, Sơn Lang, H.Kbang có 82 loài, trong đó có 14 loài thú, 38 loài lưỡng cư... Trong số này có đến 19 loài, đang bị đe dọa tuyệt chủng (10 loài ghi trong Sách đỏ VN, 14 loài trong Danh lục đỏ của thế giới), như: voọc chà vá chân xám, ếch cây kio, rắn sọc dưa, rắn cạp nong, rùa bốn mắt, khỉ mặt đỏ, cu li lớn, cu li nhỏ...
Phong phú như vậy nên Kon Ka Kinh đã trở thành nơi hấp dẫn của những kẻ chuyên đi bẫy thú rừng, của nạn xâm lấn, phá rừng từ vùng đệm.
Cả ngày chúng tôi lội vào sâu trong rừng rậm Kon Ka Kinh, đi về những vùng đệm của Kon Ka Kinh. Tại khu vực giáp ranh giữa Kon Ka Kinh và lâm phần của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Roong, H.Kbang, chúng tôi thấy nhiều người dân chặt củi, chở gỗ từ phía rừng ra. Nhiều cây rừng bị chặt hạ trái phép, gỗ bị cưa thành phách. Một số vườn cà phê “mọc” lên từ sự lấn chiếm trái phép này của người dân và cả sự quản lý lỏng lẻo của chủ rừng.
Người dân đã làm rẫy, phá rừng và lấn sát Kon Ka Kinh. Vùng đệm của Kon Ka Kinh đang bị con người can dự ngày càng tăng với những hoạt động xâm lấn, phá rừng làm nương rẫy. Một cán bộ của Kon Ka Kinh nói: “Có vùng ngày xưa gọi là bãi nai, có rất nhiều nai ra kiếm ăn ở vùng đệm. Nay khu vực này trở thành rẫy của người dân. Đàn nai từ đấy vắng bóng”.
Một số người dân ở đây cho biết có những nhóm người chờ sự sơ hở của lực lượng chức năng là xâm nhập vào rừng sâu của Kon Ka Kinh để bẫy thú, đốn hạ những loại gỗ quý. Theo những nhân viên kiểm lâm ở đây, chỉ cần một dây phanh xe đạp đơn giản cũng trở thành một cái bẫy thú lợi hại. Hàng trăm chiếc bẫy thú như thế này đã bị phát hiện, thu giữ. Tình trạng buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã vẫn lén lút diễn ra.
Mới đây, kiểm tra tiệm tạp hóa của vợ chồng bà Đặng Thị N.D (48 tuổi) và ông Nguyễn Văn T. (47 tuổi, xã Ayun, H.Mang Yang), lực lượng chức năng phát hiện nhiều cá thể động vật hoang dã đã được cấp đông trong hai tủ lạnh của quán. Qua trưng cầu giám định tại Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ VN), trong số cá thể động vật hoang dã chứa trong tủ đông có 4 voọc chà vá chân xám, 2 mèo rừng, 1 khỉ mốc, 1 khỉ mặt đỏ, 2 khỉ vàng, 1 khỉ đuôi lợn và 7 sóc đen. Nhiều khả năng số động vật hoang dã này có xuất xứ từ Kon Ka Kinh.
Ông Nguyễn Văn Hoan, Giám đốc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, cho biết: Từ danh lục thực vật mới cập nhật, danh lục các loài thực vật quý hiếm và quan trọng cho công tác bảo tồn được thiết lập với 22 loài bị đe dọa ở cấp độ quốc gia (Sách đỏ VN 2007) và toàn cầu (IUCN 2010). Trong đó, ở cấp độ đe dọa toàn cầu có 1 loài cực kỳ nguy cấp, 1 loài nguy cấp và 6 loài sẽ nguy cấp; ở cấp độ quốc gia có 2 loài cực kỳ nguy cấp, 9 loài nguy cấp và 8 loài sẽ nguy cấp.
Liên quan đến công tác bảo tồn, phát huy giá trị của Kon Ka Kinh, UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo các sở, ngành, cơ quan chuyên môn cũng như tại Kon Ka Kinh và Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng tổ chức xây dựng kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng trên địa bàn. Theo đó, ngoài công tác tuyên truyền, điều tra, nghiên cứu, khảo sát về bảo tồn các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các quần thể linh trưởng đặc hữu, quý hiếm, nguy cấp, tỉnh chỉ đạo các đơn vị xử lý nghiêm các hành vi xâm hại đến động vật hoang dã.
Tuy vậy, ông Nguyễn Văn Hoan thừa nhận: “Vẫn còn tình trạng người dân mang theo súng, bẫy lén lút vào rừng săn bắn động vật hoang dã. Với diện tích rộng, tiếp giáp nhiều huyện nên việc kiểm soát khó khăn dù lực lượng chúng tôi luôn tổ chức tuần tra, kiểm soát, thu giữ hàng trăm chiếc bẫy đặt trong rừng. Việc thu giữ những khẩu súng săn tự chế, súng quân dụng là điều không hiếm”.
Tiến sĩ sinh thái học Hà Thăng Long, Trưởng đại diện Hội Động vật Frankfurt tại VN, nói: “Kon Ka Kinh đang đứng trước những tác động tăng dần từ hoạt động khai thác trái phép của con người. Những loài động thực vật thường xuyên chịu sức ép khai thác quá mức từ các cộng đồng dân cư sống xung quanh vườn quốc gia. Các loài nguy cấp và cực kỳ nguy cấp thì càng dễ tổn thương và có nguy cơ bị tuyệt chủng cục bộ cao. Bởi vì các loài này thường có số lượng quần thể nhỏ, loài đặc hữu và có vùng phân bố hẹp. Đối với loài voọc chà vá chân xám, đây là loài đặc hữu của VN, chỉ phân bố ở một số tỉnh miền Trung và Tây nguyên. Loài nằm trong Sách đỏ VN và là loài cực kỳ nguy cấp. Do vậy, cần có những ưu tiên đặc biệt trong chương trình bảo vệ các loài nguy cấp và cực kỳ nguy cấp nhằm tránh nguy cơ bị tuyệt chủng cục bộ”.
Tiến sĩ Hà Thăng Long, người đã có những chuyến lội rừng sâu Kon Ka Kinh nghiên cứu về voọc chà vá chân xám, cho biết: “Loài này phân bố hẹp ở 5 tỉnh thuộc khu vực Nam Trung bộ và Tây nguyên (từ Quảng Nam đến Gia Lai). Do nhiều nguyên nhân tác động khiến vùng phân bố của loài voọc chà vá chân xám ngày càng bị thu hẹp, trở nên phân tán, tách biệt. Hiện Kon Ka Kinh là một trong những điểm phân bố đặc trưng và quan trọng của loài này, chiếm đến 1/4 số lượng cá thể của loài với khoảng 300 - 350 cá thể. Đây là loài linh trưởng đặc hữu và quý hiếm, được các nhà nghiên cứu quốc tế liệt vào danh sách 25 loài thú linh trưởng có nguy cơ bị tuyệt chủng cao nhất trên thế giới”.
Trước đó, với luận án thạc sĩ và tiến sĩ tại Đại học Cambridge (Anh), nhà nghiên cứu Hà Thăng Long đã được đánh giá cao về những nghiên cứu về voọc chà vá chân xám, đặc biệt ở Kon Ka Kinh. (Thanh Niên 13/8) đầu trang(
Tiến sĩ Trần Văn Miều, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho rằng bảo tồn, vinh danh cây di sản là hình thức truyền thông vận động có hiệu quả, đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo vệ môi trường.
Phát động sáng kiến vinh danh cây di sản từ năm 2010, đến nay Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã công nhận được trên 2.600 cây thuộc hơn 100 loài thực vật ở 52 tỉnh, thành phố. Đặc biệt trong năm 2015-2016, nhiều quần thể, tập đoàn cây với số lượng lớn đã được công nhận là cây di sản, như quần thể Pơmu huyện Tây Giang (Quảng Nam), quần thể chè Shan tuyết Suối Giàng (Yên Bái), tập đoàn cây Nghiến ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ), quần thể cây Kơnia ở rừng B58 do Hội Cựu chiến binh tỉnh Bình Phước quản lý, quần thể cây Đa trên đảo Dấu, Đồ Sơn (Hải Phòng)…
Một số cây di sản có tuổi đời cao, dáng hùng vĩ, kỳ thú thuộc nguồn gen quý hiếm như hai cây Táu ở Thiên Cổ Miếu (Việt Trì, Phú Thọ) có tuổi trên 2000 năm; cây Nghiến nghìn tuổi ở Bắc Hà (Lào Cai); cây Sa mu dầu ở khe Bu (Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An) cao tới 73m, đường kính thân tới 4,5m; cây Đỗ Quyên cành thô Phan Xi Păng (Vườn Quốc gia Hoàng Liên Sơn) là loài cây đặc hữu, chỉ có ở Việt Nam.
Sự kiện vinh danh cây di sản Việt Nam không chỉ nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, mà còn khẳng định những dấu tích lịch sử vinh quang lâu đời của dân tộc như cây Me trong khuôn viên chùa Tả Quan (Dương Quan, Thủy Nguyên, Hải Phòng) trên 200 tuổi, gắn với câu chuyện tương truyền về nhà Tây Sơn khi thất bại có một danh tướng về chùa Tả Quan “xuống tóc đi tu mai danh ẩn tích”.
Nếu chứng minh được giả thiết cho rằng có mối quan hệ với cây Me, quả là một khám phá bất ngờ và đóng góp lớn cho lịch sử. Hàng Duối ở xã Đường Lâm, (Sơn Tây, Hà Nội) là nơi buộc voi và ngựa chiến của vua Ngô Quyền. Hai cây Táu ở Thiên Cổ Miếu (Việt Trì, Phú Thọ) là nơi thờ thầy giáo có công dạy các con của Vua Hùng.
Ông Đoàn Văn Tạo, Trưởng Ban Quản lý Cụm di tích lịch sử văn hóa làng Lưỡng Quán (Trung Kiên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc) cho biết: Đoàn công tác của tỉnh Vĩnh Phúc, trước khi ra thăm quần đảo Trường Sa đã đến xin đất ở cụm cây Đa-Gạo là cây di sản Việt Nam mang ra đảo để trồng cây lưu niệm.
Việc xét duyệt, vinh danh, gắn bia công nhận cây di sản Việt Nam góp phần phát huy vai trò và ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn gen thực vật quý hiếm, tôn vinh giá trị nhân văn, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, đồng thời tạo dấu ấn quan trọng mang ý nghĩa khoa học trong xây dựng đạo đức bảo vệ môi trường cho người dân địa phương.
Đặc biệt, sự kiện này góp phần làm cho cộng đồng biết tri ân các bậc tiền nhân đã dày công bảo vệ, chăm sóc các cây cổ thụ. Sự kiện bảo tồn cây di sản còn có tác dụng giáo dục lịch sử, bảo vệ chủ quyền quốc gia khi vinh danh những cây đứng ở cột mốc biên giới, ở vùng biển - đảo như cây Sấu ở bản Nà Sác (Hà Quảng, Cao Bằng) trùm lên cột mốc 651biên giới Việt-Trung; Mù U, Phong Ba, cây Bàng vuông ở quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa)…
Sự kiện vinh danh cây di sản đã lan tỏa rộng khắp về ý thức bảo vệ cảnh quan môi trường trong các cộng đồng ở nông thôn và thành thị, tiến sĩ Trần Văn Miều nhấn mạnh.
Bởi lễ công nhận cây di sản Việt Nam được cộng đồng địa phương tổ chức độc lập và tự quản, lồng ghép với lễ hội của địa phương, gắn với Ngày Đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam, tạo không khí trang trọng, vui tươi, thu hút nhiều người tham gia. Hầu hết, chính quyền địa phương nhận thức rõ trách nhiệm nên đã thành lập Ban bảo vệ cây di sản kết hợp với bảo vệ đa dạng sinh học. Các đoàn thể nhân dân, những người có uy tín trong cộng đồng tham gia là điều kiện tốt để thực hiện công tác truyền thông, vận động cộng đồng chung tay bảo vệ môi trường.
Sự kiện này không chỉ được thông tin trong nước mà còn được đưa ra nước ngoài bằng nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc… Mỗi ngày, lượng bạn đọc truy cập websits của Hội lên tới 17.000 lượt/ngày cả trên trang tiếng Việt và tiếng Anh.
Cụm từ “cây di sản Việt Nam” đã nhanh chóng được định hình, trở nên quen thuộc với người dân. Các chuyên gia trong và ngoài nước không những chỉ quan tâm truyền thông, còn nhiều đóng góp có giá trị về tư vấn chăm sóc, chữa bệnh cho cây di sản, đặc biệt các bạn nước ngoài còn góp phần kinh phí để Hội in cuốn sách “Cây di sản Việt Nam”.
Tiến sĩ Trần Văn Miều cho rằng, những ý tưởng truyền thông vận động phải xuất phát từ nhiệm vụ chung về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên thiên nhiên và phòng chống thiên tai.
Mọi hoạt động truyền thông phải hướng về cơ sở, là hoạt động cộng đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng tự quản tổ chức thực hiện, đảm bảo quyền tiếp cận môi trường của cộng đồng. Các hoạt động truyền thông, vận động phải được lồng ghép với phong trào quần chúng và xây dựng mô hình cộng đồng chung tay bảo vệ môi trường. Cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các hội quần chúng với cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường; giữa các hội quần chúng với chính quyền địa phương và các chủ thể xã hội khác và giữa các hội quần chúng. (Tin Tức 12/8) đầu trang(
Mất rừng đã được chỉ ra là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến các trận lũ lớn gây hậu quả nặng nề ở các tỉnh miền núi (và cả miền xuôi) từ nhiều năm nay, mà mới đây nhất là ở Yên Bái và Sơn La.
Một phóng sự ảnh trên trang VietNamNet ngày 4-8 vừa qua đã mô tả cận cảnh 4km chiều dài của hồ tích nước thủy điện tại xã Mồ Dề (huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái) biến thành “hồ củi” với khối lượng cực lớn. Chỉ trong vài giờ đồng hồ, bất cứ người nào cũng có thể vớt được hàng khối củi.
Liệu có phải trận lũ ống lịch sử xảy ra trước đó một ngày đã phơi bày hết những tổn thương của các khu rừng, từ trước đó, nơi mọi loại cây đã bị chặt, bị cưa, bị đốn?
Dù khó có câu trả lời khẳng định hoàn toàn, nhưng mất rừng đã được chỉ ra là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến các trận lũ lớn gây hậu quả nặng nề ở các tỉnh miền núi (và cả miền xuôi) từ nhiều năm nay, mà mới đây nhất là ở Yên Bái và Sơn La.
Vào giữa thế kỷ 20, nhà dân tộc học người Pháp Georges Condominas đã viết về cuộc sống của người M’Nông Gar, một nhánh của tộc người M’Nông, trong tác phẩm Chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô.
Đó là đời sống của một làng M’Nông Gar theo chu kỳ năm nông nghiệp, nhưng lại không tính bằng ngày tháng mà bằng cách gọi tên khoảnh rừng làng đã khai phá để làm ra cái ăn trong năm nông nghiệp ấy, cái năm làng “ăn” khoảnh rừng đó.
Nếu theo cách tính này, liệu trong mấy chục năm qua, người Việt Nam chúng ta đã “ăn” bao nhiêu khoảnh rừng, bao nhiêu cánh rừng?
Thực ra, tỉ lệ che phủ của rừng trên toàn quốc vào năm 1943 là 43%; hơn 30 năm chiến tranh làm giảm xuống còn 33,8% vào năm 1976; giảm thấp nhất còn 28% vào các năm 1990-1995; sau đó tăng dần lên giữ ở mức trên dưới 40% vào những năm 2009-2015, như năm 2015 tỉ lệ che phủ của rừng trên toàn quốc là 40,8%.
Như vậy, nhìn trên bề mặt, màu xanh của rừng hiện giờ phủ gần như bằng năm 1943. Thậm chí ở Yên Bái năm 2015, độ che phủ của rừng đạt 62,2%, thuộc nhóm cao nhất nước.
Thế nhưng, hơn bảy thập kỷ trước, đó hoàn toàn là rừng tự nhiên. Chỉ có rừng tự nhiên với hệ thực vật đa dạng, nhiều loại cây đan chen nhiều tầng mới thật sự có tác dụng giữ nước, giữ độ ẩm giàu có cho đất, theo các mạch ngầm rỉ ra tiếp nước cho các dòng sông, cho các vùng đồng bằng hạ lưu, ngăn lũ.
Trong khi đó, hiện nay rừng tự nhiên không còn bao nhiêu. Số liệu chính thức cho thấy chuyển đổi mục đích sử dụng đất là nguyên nhân lớn nhất làm giảm diện tích rừng.
Cao su, sắn, cà phê, hạt tiêu dù mang lại lợi ích kinh tế nhưng thường không được đặt trong mối tương quan với những chi phí, thiệt hại kéo theo như: không thể thay thế rừng giữ nước, làm đất cằn cỗi, khô hạn, không cản được lũ.
Hoặc việc xây dựng thủy điện làm diện tích đất rừng bị thu hẹp, tác động đến môi trường sinh thái, đặc biệt là ảnh hưởng đời sống, văn hóa của đồng bào dân tộc miền núi gắn liền với thiên nhiên, gắn liền với rừng.
Bên cạnh đó, nhiều vụ phá rừng với quy mô lớn, các loại gỗ to, gỗ lâu năm, gỗ quý được vận chuyển ra khỏi rừng mang đi tiêu thụ mà không vấp phải sự ngăn chặn của cơ quan chức năng. Điều này khiến dấy lên những nghi ngờ rằng có nơi chính quyền bao che, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng.
Sau khi Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 được thông qua, đến năm 2016, hơn 120 văn bản dưới luật gồm nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng, thông tư của các bộ đã được ban hành ở trung ương nhằm hướng dẫn thi hành luật.
Không những thế, ở địa phương, HĐND và UBND cũng cho ra các văn bản về bảo vệ, phát triển rừng; cộng thêm nhiều quy định khác ở các lĩnh vực dân sự, hình sự, đất đai, môi trường, khai khoáng liên quan đến rừng.
Những văn bản này tạo hành lang pháp lý khá hoàn chỉnh để điều chỉnh các hành vi trong khai thác, bảo vệ, phát triển rừng.
Nhìn từ mặt khác, có thể nói mặc dù có một “rừng luật” nhưng việc bảo vệ rừng vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn.
Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) có đoạn: “Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế trong ngăn chặn tình trạng phá rừng, suy giảm rừng tự nhiên, lấn chiếm đất rừng còn diễn ra phức tạp”.
Trong việc bảo vệ rừng, bên cạnh pháp luật của Nhà nước còn có “luật của rừng”, luật tục - luật lệ linh thiêng của những người đã sinh ra và lớn lên trong rừng.
Luật tục Ê Đê, M’Nông, hay của nhiều bộ tộc khác ở Tây Nguyên, vùng núi phía Bắc, Trung Bộ cũng cho thấy rừng là môi trường sinh tồn, nuôi sống con người.
Người Ê Đê quan niệm “đất đai, sông suối, cây rừng là cái nong, cái nia, cái lưng của ông bà”; đó không phải là tài sản để buôn bán, giao dịch, “phát đất để làm ăn sinh sống nhưng không phải bán kiếm tiền”.
Đó là môi trường sống của cộng đồng, ở đâu rừng không còn thì ở đó nguồn nước cạn. Cho nên người Ê Đê, M’Nông khai thác rừng cẩn trọng theo cách “nuôi rừng” để “ăn rừng”.
Luật tục của họ quy định từ việc chặt rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ rừng thiêng, không xúc phạm thần núi, đất rừng - đất rẫy, tập tục làm rẫy, săn bắt thú rừng...
Các tộc người vùng Tây Nguyên như Ê Đê, M’Nông không phá rừng làm rẫy; rừng cây to không bao giờ dân dám tự tiện vào chặt cây, mà phải xin phép thần cây, thần rừng, phải cúng. Người ta chỉ đốt rừng, làm rẫy loại rừng cây nhỏ.
Người Ê Đê, M’Nông rất tuân thủ luật tục của mình về đất, rừng, sông suối, đây có thể là nguồn bổ trợ cho pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên như rừng.
Năm 2016, trong đợt lũ quét ở Lào Cai, Sải Duần là thôn duy nhất của xã Phìn Ngan không bị lũ quét nhờ những thân cây lớn đã che chắn.
Những cây rừng lớn lên được lại nhờ từ hơn 30 năm trước người dân đã giữ rừng, lập đội tuần tra, giữ tất cả những người vào chặt cây trong rừng và bắt nộp phạt.
Còn trên phạm vi toàn quốc, những cuộc khảo sát, nghiên cứu khác nhau đều chỉ ra cộng đồng dân cư địa phương đóng vai trò chủ chốt trong bảo vệ rừng, giống các chủ rừng nhà nước khác như ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp. Nhiều khi họ bảo vệ rừng còn tốt hơn ban quản lý.
Chính quyền địa phương ở một số nơi như Đắk Nông, Đắk Lắk, Thừa Thiên - Huế, Sơn La đã ghi nhận cộng đồng dân thôn bản bảo vệ rừng tốt hơn các chủ rừng nhà nước nhiều.
Thậm chí vào năm 2012, UBND tỉnh Đắk Nông đã thu hồi hơn 850ha rừng tự nhiên của một công ty lâm nghiệp để giao cho người dân thôn Bu Nor quản lý.
Thế nhưng, quyền của cộng đồng đối với rừng chưa đủ tạo động lực để tham gia hiệu quả vào việc bảo vệ rừng một cách bền vững.
Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, họ chỉ được coi là người sử dụng rừng chứ không phải chủ rừng, cho nên quyền ít hơn nhiều. Chẳng hạn, do không có quyền thế chấp, cho thuê, hoặc góp vốn kinh doanh từ rừng được giao, người dân đã không thể huy động được vốn để đầu tư vào rừng, nên không nhìn thấy bất kỳ phương án kinh tế khả thi nào để duy trì khu rừng cộng đồng của họ.
Tình trạng này, cùng với việc quyền khai thác bị hạn chế, tiền hỗ trợ từ Nhà nước quá nhỏ, không được hưởng lợi từ việc phát hiện, bắt giữ lâm tặc đã làm người dân mất đi động lực, bỏ bê tuần tra, bảo vệ rừng hoặc trả lại rừng được giao, thậm chí khai thác trộm ngay trong khu rừng họ quản lý.
Hơn nữa, trong số hơn 18.000 cộng đồng thôn bản sống trong hoặc quanh rừng mới chỉ có khoảng 10.000 có quyền pháp lý đối với rừng, mặc dù hầu hết họ đều nghèo và sống phụ thuộc vào rừng (theo Trung tâm vì con người và rừng - RECOFTC, năm 2016).
Dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng trình Quốc hội giữa năm nay đã đề xuất khắc phục điều này bằng cách đưa ra quy định: các cộng đồng địa phương được công nhận là chủ rừng hợp pháp.
Các quyền của họ đối với rừng phải được mở rộng, bao gồm khai thác lâm sản không những cho nhu cầu gia dụng mà còn cho mục đích thương mại nếu họ muốn phát triển các doanh nghiệp lâm nghiệp cộng đồng; quyền cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao.
Bên cạnh đó, ở những nơi các cộng đồng địa phương chưa được giao rừng, Nhà nước nên tiến hành giao rừng cho dân lấy từ diện tích rừng hiện thuộc trách nhiệm quản lý của UBND xã.
Điều này sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho UBND các xã vốn không có nguồn lực để quản lý rừng, đồng thời trao cơ hội cho các cộng đồng địa phương quản lý tài nguyên rừng và phát triển sinh kế một cách bền vững.
Ở phương diện xây dựng luật, chúng ta nên học hỏi các quốc gia như Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Brazil - những nơi đang nhấn mạnh tính bền vững trong bảo vệ, khai thác, sử dụng rừng.
Nguyên tắc khai thác rừng mà không làm suy giảm chức năng của rừng được coi là ưu tiên số một trong quản lý và sử dụng rừng.
Chính vì thế, luật cần quy định rõ ràng về việc gỗ và sản phẩm gỗ phải có nguồn gốc hợp pháp được xác định qua việc yêu cầu về chứng chỉ rừng. Cuối cùng, như nhà văn Nguyên Ngọc từng quan sát, đừng thấy rừng là gỗ, mà hãy thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng tự nhiên, là phụng dưỡng rừng. (Tuổi Trẻ 12/8) đầu trang(
Diện tích tự nhiên rộng, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn; lực lượng kiểm lâm mỏng, trình độ dân trí của một số bà con còn thấp… nên công tác quản lý, bảo vệ rừng ở huyện Tủa Chùa (Điện Biên) còn nhiều gian nan, vất vả...
Với 12 xã, thị trấn, Tủa Chùa có diện tích tự nhiên 68.374,8ha, trong đó diện tích rừng là 23.512,68ha; diện tích đất chưa có rừng là 34.330,97ha. Độ che phủ rừng đến hết năm 2016 của huyện là 34,4%.
Lời tâm sự của ông Lò Văn Sân - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa đã lý giải nhiều vấn đề: Địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn; đường giao thông chưa phát triển, rất khó khăn cho việc đi lại để tuyên truyền vận động bà con giữ rừng…
Nơi đây, bà con dân tộc chủ yếu sống dựa vào nương rẫy, du canh du cư, tình trạng di dân tự do vẫn còn, hiện tượng phá rừng làm nương trái phép gây ảnh hưởng lớn đến tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm còn thiếu tới gần 50% quân số hiện có; nguồn kinh phí phục vụ cho việc phòng chống, cháy rừng còn ít...
“Hạt chúng tôi phải được bổ sung thêm 13 kiểm lâm viên nữa mới đủ biên chế so với diện tích rừng ở Tủa Chùa. Nhưng dù còn khó khăn thì vẫn phải nỗ lực làm việc tốt hơn” – ông Sân bảo vậy.
Ông Sân cũng thật lòng cho biết: “Hiện, 4 xã phía nam (Mường Đun, Xá Nhè, Tủa Thàng, Huổi Só) còn khá nhiều cây nghiến bị lâm tặc đốn hạ từ năm 2007 – 2010 để lấy lu, mắt nghiến. Các đối tượng đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để khai thác, cất giấu, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép”.
Để khắc phục khó khăn cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn ở Tùa Chùa luôn tăng cường công tác tuyên truyền vận động để bà con hiểu và tham gia giữ rừng; tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở; phối hợp với dân quân tự vệ; dựa vào già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ… để nâng cao hiệu quả bảo vệ vốn rừng.
Trong 6 tháng đầu năm nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã triển khai tuyên truyền, học tập phổ biến pháp luật trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) cho 5.590 lượt người tham gia; tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR với 1.830 hộ gia đình và các chủ rừng cũng như với UBND cấp xã; thành lập 253 tổ, đội PCCCR ở các thôn, bản có rừng với 1.893 thành viên thường xuyên tuần tra ở những khu vực trọng điểm.
Không chỉ tăng cường công tác tuần tra, bảo vệ, xử lý vi phạm, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp tốt với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Điện Biên, tiến hành chi trả tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng đợt 2 năm 2016 cho 12 xã, thị trấn với tổng số tiền: 5.286 triệu đồng. “Tuy chỉ đạt mức chi trả hơn 200.000 đồng/ha/năm, nhưng số tiền ấy đã giúp người dân hiểu đúng hơn giá trị của rừng, có trách nhiệm hơn đối với rừng được giao khoán quản lý” – chị Giàng Thị Mảy- Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Sính Phình chia sẻ.
Nhờ sự đồng thuận ngày một cao của người dân, hiện tượng khai thác lâm sản bừa bãi ở Tủa Chùa đã giảm mạnh. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay trên địa bàn huyện không xảy ra vụ cháy rừng nào. Cũng trong 6 tháng đầu năm 2017, tại các xã Mường Báng, Xá Nhè, Sính Phình, Sín Chải… đã trồng được 182ha rừng với nhiều giống cây: Thông mã vĩ, keo, sa mộc, sơn tra… (Dân Việt 14/8) đầu trang(
Lực lượng kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế vừa giải cứu thành công một cá thể Voọc chà vá chân nâu tại khu vực đèo Phú Gia.
Chiều 13/8, nhận được tin báo, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Công an huyện Phú Lộc triển khai lực lượng làm rõ thông tin một người dân đang giữ 1 cá thể Voọc chà vá chân nâu.
Người giữ cá thể Voọc này là ông Nguyễn Quang (ở tổ dân phố Lập An, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc).
Theo thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Phú Lộc, ông Nguyễn Quang bước đầu cho biết, ông phát hiện cá thể Voọc này khi phát hiện thấy bị chó đuổi chạy vào nhà. Cá thể Voọc còn non, nặng khoảng 4-5kg, hiện đang bị thương ở chân.
Lực lượng chức năng tiếp tục làm rõ vụ việc, xem xét thẻ trạng của cá thể Voọc này đồng thời sẽ liên hệ với Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp Cúc Phương để có hướng xử lý tiếp theo.
Ông Nguyễn Đại Anh Tuấn- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: “Hiện tại, chúng tôi đang xem xét, lấy lời khai để xem họ bắt chỗ nào. Hướng xử lý của chúng tôi là từ lời khai sẽ điều tra ngược lại, không loại trừ khả năng giăng bẫy. Nếu giăng bẫy thì phải xử lý nghiêm”.
Theo ghi nhận của Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế, tại khu vực rừng đặc dụng bắc Hải Vân hiện có khoảng 3 đàn với hàng chục cá thể Voọc chà vá chân nâu.
Voọc chà vá chân nâu (hay còn gọi là Chà vá chân đỏ hoặc Voọc ngũ sắc) được tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế tôn vinh là “nữ hoàng” của các loài linh trưởng.
Loài này thuộc danh mục nhóm IIB ở mức nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới cũng xếp Voọc chà vá chân nâu vào danh sách các loài động vật cần được bảo vệ vô điều kiện.
UBND TP.Đà Nẵng cũng đã chọn Voọc chà vá chân nâu làm hình ảnh đại diện cho thành phố, nhân sự kiện APEC 2017. (VOV 13/8) đầu trang(
Điện trên hàng rào được phát đi theo hình thức phát - tắt trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ 1/3 giây, nên khi người đụng vào sẽ giật bắn ra, không nguy hiểm tới tính mạng. Tương tự, hàng rào điện cũng chỉ gây hoảng sợ khiến voi không dám lại gần. Tuy nhiên, hàng rào điện tử này vẫn “chống chỉ định” với trẻ em và vẫn có thể bị voi “qua mặt”.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai cho biết, hàng rào điện, hạng mục quan trọng của Dự án khẩn cấp bảo tồn voi trên địa bàn tỉnh này hiện đang trong quá trình vận hành thử nghiệm.
Hàng rào điện có chiều dài 50 km, đi qua địa bàn 3 xã: Mã Đà, Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) và xã Thanh Sơn (huyện Định Quán) thực hiện ngăn cách khu dân cư và nương rẫy của người dân với rừng tự nhiên, nơi voi thường ra tìm thức ăn, xung đột với người.
Hàng rào điện có độ cao 2,2 m, được xây dựng bằng các cột bêtông, trên gắn 4 sợi dây cáp dẫn điện kéo căng.
Hàng rào điện lấy điện từ năng lượng mặt trời và tích vào bình ắc quy 24V, các bình ắc quy này đặt tại 10 trạm dọc theo hàng rào, các trạm cách nhau 5km. Sau đó thông qua bộ phát xung nâng điện thế rồi phát vào dây rào điện.
Thiết bị phát xung điện mang tên M2800i là thiết bị phát xung cấp xung điện cho suốt dây thép hàng rào. Xung điện gây giật, choáng cho động vật nhưng là gây sốc an toàn, không làm nguy hiểm đến động vật; phù hợp với quy tắc an toàn của quốc tế và được sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế.
Khi có lỗi trên hàng rào và thiết bị phát xung điện, hệ thống sẽ tự động gửi tin nhắn điện thoại báo động lỗi trên hàng rào đến số điện thoại người nhận (người vận hành, giám sát hàng rào điện).
Tuy nhiên, theo Chi cục kiểm lâm vẫn đưa ra cảnh báo về hàng rào điện, cần tránh tiếp xúc cơ thể vào dây thép hàng rào. Không trèo qua hoặc chui qua khe hở hàng rào. Đi qua tại các cổng chính hoặc cổng phụ; Không làm bị vướng mắc vào dây thép hàng rào. Đặc biệt, tất cả khu vực có trẻ em cần được giám sát bởi người lớn, do không nhận thấy được sự nguy hiểm của hàng rào điện; không cho trẻ em chơi đùa với hàng rào điện.
Hàng rào điện là hệ thống lưới rào được cung cấp xung điện áp cao nhằm gây giật, choáng đối với động vật, sau khi bị giật động vật sẽ học được phải cách xa hàng rào. Hàng rào điện ngăn voi không xâm nhập vào vùng dân cư sinh sống, nhưng voi là động vật rất thông minh, do dó sẽ tìm cách phá hàng rào bằng cách dùng vòi quấn cây đập vào hàng rào hoặc đẩy cây lớn ngã vào hàng rào để có lối đi qua.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 14 cá thể voi thuộc một đàn sinh sống trên diện tích rừng trên 52.000 ha, phân bố ở các huyện Vĩnh Cửu, Định Quán và Tân Phú.
Thực hiện dự án khẩn cấp bảo tồn voi giai đoạn 2014 - 2020, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành xây dựng hệ thống hàng rào điện dài 50 km (30 km cố định và 20 km di động) cùng với 20 km đường tuần tra cặp theo hàng rào cố định để bảo vệ voi và hạn chế xung đột giữa người và voi. Tổng vốn đầu tư là 85 tỷ đồng. (Lao Động 11/8) đầu trang(
Liên quan tới việc chặt hạ, dọn dẹp hơn 60 gốc thông tại khu vực liền kề Trường Trung học Cơ sở Hoàng Văn Thụ (xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông), trao đổi với phóng viên TTXVN, ông Đỗ Ngọc Hiếu, Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn thừa nhận sai sót thuộc về đơn vị chủ đầu tư.
Theo quy định, đơn vị chủ đầu tư chỉ được thực hiện khi được sự đồng ý của các cơ quan chức năng, cụ thể là UBND tỉnh Đắk Nông.
Cũng theo ông Đỗ Ngọc Hiếu, việc chặt hạ, dọn dẹp thông tại khu vực này nhằm mục đích xây dựng một số hạng mục của Trường Tiểu học Quảng Sơn. Ban đầu, theo thiết kế của công trình, đơn vị dự kiến chặt khoảng 40 gốc thông, tuy nhiên, khi tiến hành phải mở rộng để đảm bảo đủ diện tích cho việc xây dựng công trình, cũng như điều kiện an toàn cho việc thi công và sử dụng sau này.
“Việc triển khai chặt phá, dọn dẹp thông tại khu vực này chỉ nhằm mục đích nhanh chóng có mặt bằng sạch giao cho đơn vị thi công xây dựng 4 phòng học và một phòng hiệu bộ cho Trường Tiểu học Quảng Sơn. Chúng tôi nhận sai khi thực hiện không đúng quy trình, nóng vội và xin nhận trách nhiệm về vấn đề này”, ông Đỗ Ngọc Hiếu giải thích.
Trước đó, TTXVN tại Đắk Nông nhận được phản ánh của người dân về việc hàng chục gốc thông liền kề sân Trường Trung học Cơ sở Hoàng Văn Thụ, xã Quảng Sơn bị chặt hạ, dọn dẹp khi chưa được sự đồng ý, chấp thuận của cơ quan chức năng. Theo Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G’Long, tổng số thông bị chặt phá tại diện tích nêu trên là 63 gốc, trên diện tích gần 800 mét vuông, tại lô 5, khoảnh 6, tiểu khu 1659, thuộc địa giới hành chính xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long. Diện tích đất này đã được UBND tỉnh Đắk Nông giao về cho địa phương quản lý theo Quyết định số 1402/QĐ-UBND, ngày 02/10/2008 của UBND tỉnh Đắk Nông.
Ông Lê Văn Hà, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G’Long cho biết, cán bộ kiểm lâm phát hiện sự việc vào ngày 25/7, tức khoảng 2 - 3 ngày sau khi thông bắt đầu bị đốn hạ. Hiện phần lớn gỗ thông đã được tạm giữ tại Trạm Kiểm lâm liên xã Quảng Sơn với khối lượng gần 10m3 gỗ tròn. Ông Hà thừa nhận việc phát hiện, ngăn chặn sự việc là chậm trễ và cho rằng nguyên nhân là cán bộ kiểm lâm địa bàn mới nhận công tác nên chưa thông thạo tình hình thực tế tại địa phương. Theo ông Trần Nam Thuần, Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk G’Long, việc chặt hạ rừng thông như trên là sai quy định, UBND huyện sẽ triệu tập các bên liên quan để kiểm tra, chấn chính, xử lý theo đúng các quy định về chuyển đổi mục đích sử dụng đất, việc chặt hạ, thu gom, xử lý số gỗ thông. Mặc dù khu đất vừa bị chặt hạ thông đã được quy hoạch xây dựng các công trình phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa xã hội nhưng việc chưa xin phép đã tiến hành dọn dẹp thông, xây phòng học là sai quy định.
Ông Trần Nam Thuần nêu lên thực tế là mấy năm gần đây, mỗi năm xã Quảng Sơn và một số khu vực lân cận đều tăng khoảng 300 em học sinh, nên áp lực về trường lớp dạy học rất lớn. (Tin Tức 11/8) đầu trang(
Sau khi báo Người Đưa Tin đăng tải bài viết “Cận cảnh rừng phòng hộ Buôn Đôn bị “bức tử””, ngày 7/8, PV đã liên hệ làm việc với UBND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
Trao đổi với PV, ông Dương Văn Xanh, Phó Chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn cho biết đã nắm được vụ việc thông qua báo chí: “UBND huyện đã chỉ đạo đoàn Kiểm tra liên ngành 1280 (đoàn Kiểm tra ngăn chặn, xử lý các vi phạm về lâm luật) phối hợp với hạt Kiểm lâm của huyện kiểm tra những tiểu khu mà báo chí đã thông tin để xác minh, nắm bắt tình hình.
Đồng thời, UBND huyện cũng yêu cầu đoàn liên ngành, ban Quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn tăng cường kiểm tra trên tuyến Quốc lộ 29 và tỉnh lộ 1 để ngăn chặn tình trạng vận chuyển lâm sản”.
Cũng theo ông Xanh, rừng phòng hộ Buôn Đôn có địa hình phức tạp, giáp ranh với 2 huyện Ea Súp và huyện Cư M’gar (tỉnh Đắk Lắk) nên nhu cầu về gỗ và củi của người dân rất lớn.
Trong khi đó, lực lượng quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) lại quá mỏng nên rất khó khăn trong việc ngăn chặn lâm tặc.
Tại buổi làm việc, PV đã cung cấp thêm nhiều hình ảnh, video ghi nhận trước đó về thực trạng rừng phòng hộ Buôn Đôn đang bị tàn phá tàn khốc. Tại tiểu khu 436, lâm tặc ngang nhiên khai thác gỗ cách trạm Quản lý bảo vệ rừng số 4 khoảng 500m nhưng không thấy dấu hiệu ngăn chặn.
Sau khi xem những hình ảnh và video trên, ông Xanh bức xúc điện thoại chỉ đạo lãnh đạo hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn phải nhanh chóng tiếp cận các tiểu khu 454, 436, 453 kiểm tra, xác minh và báo cáo về huyện trong thời gian sớm nhất.
“Trách nhiệm chính trong việc để các đối tượng lâm tặc ngang nhiên vào rừng khai thác gỗ thuộc về chủ rừng. Chúng tôi sẽ làm việc với ban QLBVR Buôn Đôn, đồng thời, giao cho hạt Kiểm lâm của huyện tham mưu báo cáo lên sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk để có hướng xử lý”, ông Xanh nói.
Trước tình trạng lâm tặc ngang nhiên đưa xe chuyên dụng, cưa máy khai thác gỗ tại tiểu khu 436 gần trạm QLBVR số 4, PV đặt câu hỏi có hay không việc cán bộ QLBVR tiếp tay cho lâm tặc.
Trả lời vấn đề này, ông Xanh khẳng định: “Chúng tôi sẽ điều tra xác minh, nếu phát hiện cán bộ quản lý bảo vệ rừng có hành vi tiếp tay cho lâm tặc sẽ chuyển sang cho cơ quan CSĐT Công an huyện Buôn Đôn xử lý theo quy định của pháp luật”.
Trong khi đó, bà H’Lan Niê, Hạt phó hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn cho biết: “Hiện nay, lâm sản là một trong những vấn đề nóng tại địa phương.
Rừng phòng hộ nằm trên địa bàn xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) và đơn vị cũng đã phân công 2 cán bộ kiểm lâm địa bàn phối hợp với ban QLBVR phòng hộ để ngăn chặn, xử lý các tình trạng vi phạm về lâm luật. Để xảy ra tình trạng mất rừng, đơn vị chủ rừng là người chịu trách nhiệm chính”.
Cũng theo bà H’Lan, căn cứ số liệu báo cáo của ban QLBVR phòng hộ Buôn Đôn, từ đầu năm đến nay, đơn vị này đã bắt được 4 vụ khai thác trái phép lâm sản với tổng khối lượng 5,29m³ gỗ, giao về cho hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn xử lý.
“Đơn vị cũng đã nhận được chỉ đạo khẩn của UBND huyện và bố trí lực lượng cùng đoàn 1280 vào khu vực mà báo chí phản ánh để kiểm tra xác minh. Nếu phát hiện sai phạm, Hạt sẽ báo cáo lên UBND huyện để xin hướng xử lý”, bà H’Lan cho biết thêm.
Trước đó vào ngày 3/8, PV báo Người Đưa Tin đã bí mật thâm nhập rừng phòng hộ Buôn Đôn để ghi nhận thông tin về tình trạng rừng bị “bức tử”. Tại tiểu khu 454, PV đã phát hiện nhiều bãi tập kết gỗ của lâm tặc. Trên đường PV đi qua có thể đếm được hàng trăm cây gỗ dầu đường kính từ 15-20cm bị lâm tặc “hạ sát”.
Tại tiểu khu 436 cách trạm QLBVR số 4 chưa đầy 500m, nhiều cây gỗ lớn, nhỏ bị “hạ sát” không thương tiếc. Các đối tượng lâm tặc ngang nhiên đưa xe chuyên dụng vào rừng, cưa cây hạ gỗ không một chút sợ sệt. (Người Đưa Tin 11/8) đầu trang(
11-8, tại Hà Nội, Đại sứ quán Hoa Kỳ đã tổ chức buổi tọa đàm nhân Ngày Voi thế giới (12-8) với chủ đề "Hãy sống tốt với voi", kêu gọi hãy quan tâm đến những sinh vật to lớn này và điều kiện sinh tồn khó khăn của chúng, đặc biệt là trao đổi về những cách thức để có thể bảo vệ 100 cá thể voi hoang dã cuối cùng ở Việt Nam.
Buổi tọa đàm có sự tham gia của bà Nguyễn Đào Ngọc Vân và bà Alegria Olmedo đến từ Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới WWF, bà Rose Indenbaum đến từ TRAFFIC, và bà Nguyễn Thị Phương Dung đến từ Tổ chức Giáo dục Thiên nhiên - Việt Nam.
Đại sứ Ted Osius phát biểu trong phần khai mạc, nhấn mạnh, tất cả chúng ta đều cần phải đóng một vai trò và nhiệm vụ đó không dễ dàng. Không một quốc gia đơn lẻ hoặc một cá nhân đơn lẻ nào có thể một mình chấm dứt được nạn buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã. Nhưng chúng ta có thể cùng nhau ngăn ngừa các tội phạm về động vật hoang dã và bảo vệ loài voi trong nhiều thế kỷ tới.
Các đại biểu tham dự tọa đàm đã hiểu thêm về cách họ có thể đương đầu với những mối đe dọa với loài voi bằng cách tình nguyện tham gia các tổ chức động vật hoang dã, hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn và truyền bá nhận thức về cuộc đấu tranh sinh tồn của loài voi.
Trước đó, Đại sứ quán Hoa Kỳ cũng chiếu phim Ivory Game vào ngày 10-8, bộ phim tài liệu về hoạt động buôn bán ngà voi bất hợp pháp từ thời điểm săn trộm voi ở châu Phi đến thời điểm bán ngà voi bất hợp pháp ở châu Á. (Nhân Dân 11/8) đầu trang(
Đưa ra kết quả khảo sát, đánh giá cụ thể về tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng dừa nước xã Bình Phước, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), các nhà nghiên cứu khuyến nghị lãnh đạo các cấp tỉnh này xem xét cẩn trọng trước khi đưa ra quyết định cho phá rừng dừa nước để làm dự án nhà máy Bột - Giấy VNT19 (gọi tắt là D.A NM giấy).
Trong thư khuyến nghị gửi các cấp lãnh đạo Quảng Ngãi, đại diện nhóm nghiên cứu-giảng dạy "Môi trường và Tài nguyên sinh vật" Đại học Đà Nẵng (DN-EBR) và Trung tâm bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) nêu rõ: "Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy hệ sinh thái tự nhiên của rừng dừa nước Bình Phước rất đa dạng và độc đáo, có vai trò quan trọng đối với lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và tiềm năng rất lớn trong phát triển du lịch cộng đồng".
Đại diện DN-EBR và GreenViet còn nhấn mạnh hệ sinh thái rừng dừa nước có vai trò duy trì sự đa dạng sinh học cho cả khu vực phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, góp phần đảm bảo an ninh sinh thái, môi trường cũng như an ninh quốc phòng trong những thời điểm lịch sử đặc biệt. Rừng dừa nước Bình Phước vừa là "lá phổi" vừa là "quả thận" đối với môi trường trong khu vực.
Với sự hình thành và phát triển suốt hơn 100 năm qua, rừng dừa nước đã gắn với đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây; cung cấp sinh kế quan trọng cho cộng đồng người dân địa phương. Từ đánh bắt cá cho các hộ gia đình mức thu nhập trung bình từ 150.000 - 300.000 đồng/ngày, khai thác lá dừa khoảng 340.000 đồng/ngày...
Từ những kết quả nghiên cứu bước đầu và nhận định khoa học, đại diện DN-EBR và GreenViet khuyến nghị lãnh đạo các cấp ngành Quảng Ngãi 6 nội dung cụ thể đối với rừng dừa nước Bình Phước. Thư khuyến nghị có đoạn "Trong thời gian qua, vì chưa thật sự chú trọng đến thiên nhiên, môi trường cũng như các lợi ích chung của cộng đồng nên nhiều tỉnh đã để xảy ra sự cố đáng tiếc như Formosa (Hà Tĩnh), NM giấy Lee&Man (Hậu Giang)... Đây là những bài học quý giá cho các địa phương chủ trương phát triển công nghiệp như Quảng Ngãi. Chúng tôi khẩn thiết khuyến nghị các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cần sớm xem xét, cân nhắc cẩn trọng trước khi quyết định đối với hệ sinh thái dừa nước tại xã Bình Phước...". (Dân Việt 11/8) đầu trang(
Cả nước đang hướng về miền phía Bắc, về Mù Cang Chải (Yên Bái) – nơi chịu nhiều tổn thất nhất từ trận lũ quét, lũ ống hồi đầu tháng. Những nỗ lực của chính quyền và hành động thiện nguyện “lá lành đùm lá rách” sẽ giúp bà con nơi đây dần vực lại cuộc sống.
Song tổn thất này một lần nữa nhắc nhở về trách nhiệm bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ thiên nhiên để đổi lại được sự bảo vệ, chở che của tự nhiên nhằm giảm thiểu nguy cơ cũng như sự tàn phá của thiên tai, nhất là lũ và sạt lở đất.
Theo các chuyên gia khí tượng thủy văn, sự hình thành của lũ quét có liên quan mật thiết đến cường độ mưa, điều khí hậu,. đặc điểm địa hình, các hoạt động của con người cũng như điều kiện tiêu thoát nước. Các nguyên nhân gây lũ quét gồm mưa lớn tập trung trên lưu vực nhỏ miền núi, hẻo lánh nhưng điều kiện tự nhiên hầu như vẫn giữ nguyên hoặc trên các lưu vực có độ dốc lớn có hoạt động của người mạnh mẽ, phá vỡ cân bằng sinh thái làm biến đổi lớp phủ, mặt đệm thay đổi chế độ dòng chảy, thay đổi khả năng trực nước của đất, đất dễ xói mòn, sạt lở. Nguyên nhân nữa gây ra lũ quét là do phá rừng khai thác gỗ, cây cối cùng với đá sỏi, rác rưởi bị cuốn trôi tạo thành các barie ngăn nước tạm sau bị đổ vỡ tràn xuống gây lũ với sức tàn phá tăng lên gấp bội.
Khoa học đã chứng minh, hệ sinh thái rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hạn chế lũ quét, sạt lở đất. Cách đây 7 năm, nghiên cứu của TS.Vũ Thị Thanh Minh (Trưởng khoa Quản lý nhà nước về công tác dân tộc, Trường Cán bộ dân tộc) đã chỉ rõ, tài nguyên rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc đang bị suy thoái nặng nề, độ che phủ rừng đã giảm sút đến mức báo động. Nhưng khảo sát của các chuyên gia, đến năm 2016 độ phủ rừng còn rất thấp, chỉ đạt 30-40%. Báo cáo của Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận, tốc độ tàn phá rừng lớn hơn nhiều lần tốc độ trồng rừng. Rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đầu nguồn cũng bị tàn phá.
Hậu quả của “đất trống đồi trọc” là lũ quét, lũ ống, sạt lở đất và đó cũng là một trong những yếu tố làm suy giảm môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi. Sau vụ sạt lở đất ở huyện Yên Châu (Sơn La), tại bãi vàng Mà Sa Phìn (Văn Bàn, Lào Cai) năm 2016, các nhà khoa học đã cảnh báo, tình trạng sạt lở đất nghiêm trọng diễn ra trên diện rộng này “mạnh nhất trong 10 năm qua” do phát triển thiếu quy hoạch. Trong đó nổi lên là tình trạng phá rừng và khai thác khoáng sản tràn lan đã đẩy nhanh quá trình sạt lở đất vốn tiềm ẩn tại khu vực này, nhất là khi có mưa lớn kéo dài.
Không những thế, việc phát triển ồ ạt các thủy điện nhỏ trong 10 năm qua (như Hà Giang và Cao Bằng đã quy hoạch trên 100 dự án thủy điện) đã biến nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất rừng thành hồ chứa, làm thay đổi các dòng chảy, ảnh hưởng đến chế độ thủy văn, môi trường và tiềm ẩn nguy cơ gây thảm họa cho con người.
Vì vậy, nhận định tình hình chung cho thấy, những năm gần đây, lũ quét, sạt lở đất có xu hướng ngày càng tăng về số lượng và sức tàn phá do nhiều tố, mà nguyên nhân chủ yếu là do việc phát triển dân số, kinh tế ở khu vực miền núi, việc chặt phá rừng đầu nguồn, do xây dựng các công trình chắn ngang dòng chảy, làm tắc nghẽn các đường thoát lũ. Các tỉnh nằm trong vùng nguy hiểm sạt lở là Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Kạn, Nghệ An, Kon Tum, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Thuận. Dự kiến năm 2020 mới có bản đồ chi tiết quy hoạch vùng sạt lở. Vì thế cho đến lúc đó, cuộc sống của hàng nghìn người dân vẫn luôn bị tình trạng sạt lở và lũ khi có mưa lớn đe dọa.
Đánh giá của các tổ chức quốc tế cảnh báo, thiệt hại do thiên tai (mưa lũ, sạt lở đất) ở Việt Nam “vào loại lớn nhất trên thế giới” nhưng tình trạng phá rừng vẫn chưa được ngăn chặn triệt để, thậm chí rừng còn bị tàn phá nặng nề, ngang nghiên vì “thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật bảo vệ và phát triển rừng không nghiêm”.
Trận lũ quét tại miền núi phía Bắc vừa qua, nhất là tại Yên Bái, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu… được nhận định là “trận lũ quét lịch sử”. Tổng hợp từ Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống thiên tai, đã có 23 người chết, 16 người mất tích, 64 người bị thương, 228 căn nhà bị cuốn trôi, 377 hộ dân phải đi sơ tán và hơn 288 ha lúa, 128 ha ngô, lạc , 5 ha đất ruộng bị sạt lở, 144 công trình thủy lợi và 2.000 m kè bờ suối thuộc huyện Mường La (Sơn La) bị thiệt hại…
Cuộc sống của nhiều người dân ở mấy tỉnh miền phía Bắc đã trôi theo dòng nước khi những trận lũ quét, lũ ống chạy qua. Giờ tang thương vẫn đang bao trùm những ngôi làng tan hoang và hằn sâu trong ánh mắt khắc khoải của những người sống sót. Khắc phục hậu quả sau lũ, các địa phương lưu ý dọn vệ sinh, bảo đảm môi trường, phòng chống dịch bệnh khu vực xảy ra thiên tai.
Tuy nhiên, đó chỉ là những giải pháp trước mắt trong ngắn hạn để nhanh chóng ổn định cuộc sống của người dân sau thiên tai. Còn về lâu dài, cần khắc phục triệt để những nguyên nhân gây lũ ống, lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền núi để mỗi khi mưa lớn, tập trung có thể hạn chế tối đa những dòng nước lũ, cũng như giảm được sự tàn phá của nước lũ khi đi qua xóm làng, đồng ruộng.
Đó là khơi thông dòng chảy, mở rộng diện tích rừng trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý để giữ đất, ngăn lũ, giữ nước và tránh làm cạn kiệt nguồn nước. Tiếp tục rà soát, di dời các hộ ở vùng sạt lở đến nơi an toàn, tránh xa các nơi có nguy cơ lũ quét cao, cũng như đẩy tăng cường tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng và triển khai có hiệu quả các hoạt động quản lý rủi ro, phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng theo phương châm “4 tại chỗ”.
Như Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng – Trưởng Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng chống thiên tai đã cảnh báo, còn tình trạng chủ quan khi ứng phó với thiên tai. Thực tế, Bộ TN&MT đã cảnh báo về những điểm có nguy cơ sạt lở đất tại 10 tỉnh miền núi phía Bắc nhưng “nhiều địa phương còn chủ quan, một bộ phận người dân thì bất cần” nên khi thiệt hại xảy ra, dù cứu trợ, cứu nạn rầm rộ cũng không còn tác dụng. Tăng cường hiệu quả công tác cảnh báo thiên tai, cả trước và sau bão. Nhiều vụ lũ quét, sạt lở đất diễn ra do ảnh hưởng của hoàn lưu sau bão khiến lực lượng chức năng và người dân “trở tay không kịp” do yên tâm vì “bão đã qua”.
Đồng thời, xây dựng hệ thống cảnh báo đối với những khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất; rà soát quy hoạch sử dụng đất lồng ghép với yêu cầu phòng chống thiên tai. Nâng cao đời sống của người dân vùng miền núi, khó khăn để hạn chế các hoạt động du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy. (Pháp Luật VN 13/8) đầu trang(
Ngày 12/8, Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy (PCCC) TP.Đà Nẵng, cho biết đơn vị vừa tiến hành chữa cháy rừng thông ngay gần khu vực sân bay Đà Nẵng.
Trước đó khoảng 18h ngày 11/8, tại khu vực rừng thông gần sân bay Đà Nẵng (phía sau địa chỉ 555 đường Trường Chinh, phường Hòa Thuận Tây, quận Thanh Khê) đã xảy ra cháy. Ngay sau đó, lực lượng dân phòng tổ chức dập lửa nhưng bất thành nên báo Cảnh sát PCCC TP. Đà Nẵng.
Nhận tin báo, Cảnh sát PCCC TP Đà Nẵng đã điều động lực lượng chữa cháy từ Phòng Cảnh sát PCCC số 2 đến hiện trường. Do đám cháy nằm trong khu vực có nhiều bom mìn, nên lực lượng chữa cháy chỉ có thể đứng từ xa để phun nước.
Nhận định đám cháy nằm trong khu vực sâu, chiều tối, nguy cơ lan nhanh diện rộng, Cảnh sát PCCC TP. Đà Nẵng đã điều thêm các xe chuyên dụng cùng hàng chục cán bộ chiến sỹ từ các phòng Cảnh sát PCCC số 1 và Phòng CC&CNCH đến hỗ trợ dập tắt đám cháy.
Theo thông tin Cảnh sát PCCC TP. Đà Nẵng cho biết, khu vực xảy ra cháy được giao cho Công ty hàng không Ngôi Sao Việt quản lý và sử dụng, nằm gần kho bom cũ nên lực lượng chữa cháy chỉ có thể đứng từ xa để phun nước dập lửa
Đến 21h giờ,cùng ngày, đám cháy được dập tắt, chất cháy chủ yếu là thực bì có diện tích khoảng 3.500 m2. Trước đó, khoảng 17h chiều 10/8 tại khu vực rừng thông cách đó 500 m, cũng đã xảy ra cháy và được lực lượng Cảnh sát PCCC số 2 dập tắt. (Môi Trường & Cuộc Sống 12/8) đầu trang(
Hà Tĩnh đang trải qua đợt nắng nóng gay gắt nên nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) không thể chủ quan, lơ là. Dù quản lý một diện tích rừng không lớn nhưng nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao nên đơn vị chủ rừng phòng hộ Hồng Lĩnh đã đồng loạt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để PCCCR...
BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh quản lý, bảo vệ 10.000 ha rừng. Khu vực này tiềm ẩn khá nhiều nguy cơ xảy ra cháy rừng. Toàn bộ diện tích rừng tại 19 xã, thị trấn thuộc 4 huyện, thị: Nghi Xuân, Can Lộc, Lộc Hà và TX Hồng Lĩnh được bao bọc bởi nhiều khu dân cư nên chỉ một sơ suất nhỏ do ý thức của người dân cũng khiến “bà hỏa ghé thăm”. Đặc biệt, nơi đây còn có hàng chục di tích văn hóa, tâm linh như: Chùa Thiên Tượng, chùa Hương, chùa Cực Lạc…, hàng ngày có nhiều người vào ra thăm viếng nên khả năng gây cháy rất lớn.
Trưởng BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh Hồ Sỹ Quát cho rằng: Điểm khác biệt giữa rừng phòng hộ Hồng Lĩnh với các khu rừng khác trong tỉnh là khu vực này hiện còn sở hữu 1.500 ha rừng thông rất dễ bắt lửa. Trong khi đó, lực lượng chủ chốt của ban chỉ vẻn vẹn có 14 người, 9 người trực ở văn phòng ban và 5 người thường xuyên “cắm” tại 5 chòi canh.
Ông Quát hài hước nói thêm “lính chiến xông trận” có 14 người, kể cả trưởng ban, trong khi vòng ngoài ứng cứu lại có gần 50 người thuộc 4 hạt kiểm lâm. Đây là bất cập lớn trong công tác bảo vệ rừng trong cả nước nói chung, Hà Tĩnh nói riêng. Kinh phí bảo vệ, PCCCR năm 2017 lại giảm xuống 3/4, chỉ còn lại 350 triệu đồng nên mọi hoạt động rất khó khăn”.
Trước những bất cập trên, xác định trong 2 nội dung “phòng”, “chống” cháy rừng thì “phòng” vẫn là phương án tối ưu, lâu dài. Ngoài xây dựng phương án bảo vệ, PCCCR trên lâm phần được giao, BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, phối hợp với đài truyền thanh - truyền hình các huyện, thị xây dựng các chuyên mục, phóng sự tuyên truyền bảo vệ, PCCCR trên kênh truyền hình (mỗi tuần phát 3 lần liên tục từ tháng 4 đến nay).
Bên cạnh duy trì “Câu lạc bộ Xanh” ở các trường trên địa bàn để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho học sinh về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; phát động tham gia cuộc thi “Rừng là cuộc sống của tôi”, BQL còn xây dựng quy chế phối hợp bảo vệ rừng với các đơn vị đứng chân trên địa bàn như: BQL các khu di tích chùa Hương, chùa Thiên Tượng, công an các huyện, thị, Đồn Biên phòng Cửa Sót, Lạch Kèn…
Cùng với việc tổ chức ký cam kết cho hàng ngàn hộ dân tại các huyện, thị, ký hợp đồng trực cháy tại 45 điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, BQL còn thường xuyên cử người trực 24/24h tại các chòi canh để phát hiện và xử lý kịp thời những vụ cháy rừng, không để lan rộng. Ngoài việc thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát, phát hiện những đối tượng sẻ phát, đốt rừng trái phép, BQL còn trích nguồn kinh phí khá lớn để tu bổ 154 km đường băng các loại; tu sửa 5 chòi canh; viết 500 khẩu hiệu, 14 biển tường; mua sắm nhiều trang thiết bị chữa cháy rừng…
Những giải pháp phòng ngừa được triển khai quyết liệt từ đầu năm nên liên tục 10 năm lại nay, tại khu vực thuộc chủ rừng Hồng Lĩnh quản lý chưa xảy ra 1 vụ cháy rừng lớn. Đó cũng là nét nổi bật nhất khiến năm nào BQL rừng phòng hộ đều nhận được bằng khen của UBND tỉnh. (Báo Hà Tĩnh 14/8) đầu trang(
Đồn BP Đăk Ka, BĐBP Bình Phước đang tạm giữ người và tang vật trong vụ vận chuyển lâm sản trái phép để tiếp tục điều tra xử lý.
Trước đó, vào lúc 0 giờ 25 phút ngày 10-8, trong lúc tuần tra, mật phục tại khu vực Cống Hộp, thuộc địa bàn quản lý của Đồn BP Đăk Ka, tổ tuần tra của đơn vị đã phát hiện và bắt giữ 1 vụ/3 đối tượng gồm: Nguyễn Xuân Hòa (SN 1989), Võ Huy Chương (SN 1992) và Phan Duy Phúc (SN 1986), cùng trú tại xã Đăk Ơ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, đang vận chuyển lâm sản trái phép.
Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm 1 xe ô tô bán tải Toyota hiệu Hilux mang biển kiểm soát 93C - 139.69 và 0,5m3 gỗ cẩm lai. (Biên Phòng 11/8) đầu trang(
Đó là lời khẩn cầu của bị can Trần Thị Dung cũng như các bị cáo khác, tại phiên toà xét xử vụ án Công ty TNHH MTV Ngọc Hưng “buôn lậu” 535,8m3 gỗ trắc.
Trong hai ngày 8-9/8/2017, quá trình tranh luận tại tòa diễn ra hết sức sôi nổi, gay cấn. Các bị cáo và các luật sư đều thống nhất đưa ra quan điểm là bị cáo Trương Huy Liệu và các công chức hải quan không phạm tội “Buôn lậu” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Điều đặc biệt quan tâm là trong quá trình tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố đã đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ một số nội dung mà tại phiên tòa sơ thẩm chưa được làm rõ và đại diện Viện Kiểm sát không thể tranh luận với luật sư về những vấn đề nóng hổi mà luật sư đưa ra.
Theo luật sư Đỗ Pháp, Đoàn Luật sư TP.Đà Nẵng: “Việc đề nghị của vị đại diện giữ quyền công tố trước tòa là không có cơ sở bởi lẽ những vấn đề luật sư và bị cáo đưa ra chỉ để làm sáng tỏ những căn cứ mà luật sư cho rằng cáo trạng đã chứng minh và viện dẫn không đúng pháp luật. Mặt khác, trong vụ án này, TAND TP. Đà Nẵng đã 2 lần trả hồ sơ yêu cầu Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) làm rõ những yêu cầu của tòa án nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ Công an và VKSNDTC chỉ lòng vòng, quanh co không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào thỏa mãn được yêu cầu của tòa án.
Mấu chốt của vụ án này là không có dấu hiệu tội phạm nên chứng cứ đưa ra để truy tố các bị cáo phạm tội là không đúng pháp luật. Trong lúc đó, vật chứng là lô hàng 535,8m3 gỗ trắc không còn nữa, bởi đã bị cơ quan tố tụng bán đấu giá không đúng quy định pháp luật.
Còn luật sư Trường Thành, Đoàn Luật sư Cần Thơ khẳng định, trong 5 vấn đề vi phạm tố tụng và 5 sự thật đã được chứng minh như trên, chúng ta có thể kết luận được rằng, vụ việc hoàn toàn không có dấu hiệu hình sự, việc khởi tố bắt tạm giam, truy tố đối với các bị cáo về tội buôn lậu và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là không có căn cứ pháp luật, là hình sự hóa các quan hệ kinh doanh thương mại quốc tế, không có lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp (DN), không có lợi cho quan hệ thương mại Việt - Lào, quan hệ thương mại Việt - Trung, trái với đường lối và chủ trương của Chính phủ hiện nay là cải cách hành chính thủ tục hải quan và thuế, tạo điều kiện cho DN hoạt động kinh doanh phù hợp với chuẩn mực quốc tế. “Do vậy, tôi trân trọng đề nghị HĐXX tuyên tất cả các bị cáo không phạm tội như cáo trạng VKSNDTC truy tố, khôi phục quyền lợi hợp pháp cho họ theo quy định pháp luật”.
Đó là lời khẩn cầu giữa tòa của bị can Trần Thị Dung cũng như các bị cáo khác, bởi vụ án đã quá dài. Trong 6 năm trời họ liên tục kêu oan vì bao hệ lụy đè lên. Họ chỉ mong, nếu tìm ra đúng tội lỗi thì tuyên có tội, còn không có bằng chứng phạm tội thì tuyên vô tội, trả lại danh dự và những mất mát cho họ theo đúng quy định pháp luật.
Luật sư Đỗ Phát (Đoàn Luật sư Đà Nẵng), bào chữa cho bị can Trương Huy Liệu, cho rằng, quá trình tố tụng, Cơ quan cảnh sát điều tra và VKS liên tục vi phạm nghiêm trọng tố tụng, đặc biệt không đưa ra được những căn cứ pháp lý nào để truy tố các bị cáo. Việc giám định các lô hàng không tuân thủ quy định của pháp luật, các cơ quan giám định không có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Những căn cứ mà cáo trạng nêu ra chỉ mang tính suy diễn một chiều theo hướng bất lợi cho bị cáo, không căn cứ vào hồ sơ và bản chất vụ án.
VKS được ủy quyền công tố không thể tranh luận với luật sư và bị cáo được bởi vị KS này cho rằng mình chỉ là người được ủy quyền nên không thể trực tiếp trả lời những yêu cầu của bị cáo và tranh luận của các vị luật sư. Một điều gây bức xúc là cái chết của ông Trần Đình Quang vẫn chưa được làm sáng tỏ, phản ánh không đúng sự thật của vụ án. Phần thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm sau khi các bị cáo nói lời sau cùng đã kết thúc. (Kinh Tế Nông Thôn 11/8) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội vừa triển khai thực hiện kết luận của Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Nguyễn Văn Sửu tại cuộc họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm về công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn thành phố.
Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội cho biết, đơn vị được giao quản lý được giao quản lý 2.095ha rừng phòng hộ và đất lâm nghiệp ở huyện Sóc Sơn. Cùng với những diễn biến phức tạp của thời tiết của mùa hè năm 2017, địa hình cao dốc, thực bì dưới tán rừng và lớp thảm mục dày chủ yếu là tế guột, cỏ lau, cỏ tranh tốt và rậm rạp nhiều năm chưa làm vệ sinh rừng.
Ngoài ra có nhiều khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nên thu hút du khách thập phương đi lễ, tham quan… Cùng với sự bùng nổ của các mô hình leo núi, du phượt tự phát đã làm tăng số lượng lượt học sinh sinh viên ra vào rừng… nên tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao, khó lường trước.
Được sự quan tâm đầu tư của nhà nước, đời sống người làm lâm nghiệp trong nhiều năm qua được nâng cao. Rừng được bảo vệ phát triển tốt, cành lá khô cũng như thảm thực bì nhiều và tốt cho nên khi cháy rừng xảy ra thường rất khốc liệt, diễn biến phức tạp. Trong tháng 6 năm 2017, do thời tiết khắc nghiệt, nhiệt độ tăng mạnh, dẫn đến việc xảy ra cháy rừng trên diện rộng và khó kiểm soát.
Để khắc phục và hạn chế thiệt hại khi có cháy rừng xảy ra trong trường hợp thời tiết xấu và phức tạp như hiện nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội đề xuất Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép tổ chức thi công các tuyến hạ cấp vật liệu cháy với chiều rộng 20m ở những vùng trọng điểm như khu quân sự và nơi có nguy cơ cháy rừng cao với diện tích là 52,16ha gồm 20 tuyến.
Năm 2017, Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao kế hoạch hạ cấp vật liệu cháy 109,32ha, trong đó trên diện tích rừng phòng hộ 104,32ha, rừng đặc dụng 5ha với dự toán kinh phí được phân bổ hơn 4 tỷ đồng. Tính đến thời điểm hiện nay đã hoàn thành 80% khối lượng hạ cấp vật liệu cháy.
Các tuyến hạ cấp vật liệu cháy còn lại đang thi công dở dang. Do lực lượng công nhân của ban nhận lương từ nguồn kinh phí tự chủ và khối lượng diện tích hạ cấp vật liệu cháy giao cho chủ nhân khoán bàn giao với đơn giá không bao gồm các khoản bảo hiểm xã hội, y tế, tai nạn, kinh phí công đoàn nên kinh phí được cấp trong nghiệp vụ hạ cấp vật liệu cháy năm 2017 còn dư 1,25 tỷ đồng.
Ban Quản lý rừng phòng hộ – đặc dụng Hà Nội đề xuất Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho chuyển phần kinh phí còn dư trên sang kinh phí thực hiện 52,16ha hạ cấp vật liệu cháy đối với các tuyến trọng điểm quân sự trong năm 2017.
Đồng thời cho tu sửa các tuyến đường phòng cháy chữa cháy rừng, đường lâm nghiệp để phục vụ cho các lực lượng tham gia chữa cháy rừng, xe cứu hỏa có thể tiếp cận được đám cháy khi có cháy rừng xảy ra; kế hoạch thực hiện năm 2018-2019. Đầu tư các trang thiết bị cần thiết cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng…(Môi Trường & Cuộc Sống 13/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 11.8, tại Trụ sở VPQH, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội thảo góp ý dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng chủ trì Hội thảo.
Tham dự có đại diện Thường trực các Ủy ban Kinh tế; Ủy ban Về các vấn đề xã hội; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ; đại diện lãnh đạo Bộ NN và PTNT cùng các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp.
Phát biểu tại Hội thảo, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng nêu rõ, việc sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng lần này là mốc đổi mới quan trọng trong công tác lâm nghiệp, nhằm mục tiêu thể chế hóa quan điểm, đường lối Đổi mới của Đảng và Nhà nước về lâm nghiệp trong tình hình và bối cảnh mới. Trong đó, tập trung vào bảo vệ tốt vốn rừng hiện có trên toàn quốc với trên 14,1 triệu ha, đặc biệt là diện tích rừng tự nhiên và chủ trương đóng cửa rừng; bảo đảm tăng độ che phủ của rừng; phát huy các chức năng của để bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, góp phần phát triển bền vững đất nước. Phát triển kinh tế lâm nghiệp phù hợp với năng lực sản xuất trong nước và yêu cầu hội nhập quốc tế; đẩy mạnh khai thác giá trị môi trường rừng ngoài giá trị lâm sản như: giá trị phòng hộ, bảo vệ nguồn nước, cảnh quan, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ cacbon; bảo đảm ổn định đời sống, tăng thu nhập cho người dân sống bằng nghề rừng, đặc biệt người dân miền núi, khu vực biên giới...
Để góp phần hoàn thiện dự thảo Luật, Chủ nhiệm UB Phan Xuân Dũng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ về phạm vi điều chỉnh và tên gọi của Luật. Về chính sách phát triển lâm nghiệp (gồm đầu tư, tài chính, KH và CN trong trồng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến và thương mại lâm sản…); các vấn đề về sở hữu rừng, giao đất, giao rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng; quyền nghĩa vụ chủ rừng; các vấn đề về tổ chức quản lý rừng, đặc biệt là rừng đặc dụng, phòng hộ;
Đa số đại biểu cho rằng, dự thảo Luật đã được cơ quan thẩm tra tiếp thu tối đa ý kiến đóng góp của các ĐBQH tại Kỳ họp thứ 3; đã có những quy định đổi mới căn bản trong nội dung, phương thức quản lý rừng theo hướng bền vững, xác định rõ quyền, trách nhiệm chủ rừng, cơ quan quản lý nhà nước; nâng cao giá trị của rừng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, đối với quy định về cộng đồng dân cư, nhiều đại biểu cho rằng, giải thích như dự thảo Luật - cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán còn có phần hạn chế, không bao hàm được cộng đồng dân cư rộng hơn, như xã, hoặc nhiều thôn bản.
Nhiều đại biểu đề nghị cần mở rộng phạm vi cộng đồng dân cư trong dự thảo Luật; bổ sung điều kiện cộng đồng dân cư là khi có cùng lợi ích và mối quan tâm đến rừng.
Về phân loại rừng, dự thảo Luật quy định gồm có rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất. Tuy nhiên, một số đại biểu cho rằng, quy định như vậy mới đề cập đến phân loại rừng theo mục đích sử dụng rừng thuần túy về kỹ thuật của ngành lâm nghiệp, mà chưa lồng ghép được với một số tính chất sử dụng đặc thù của rừng gắn với chủ thể, chủ rừng là cộng đồng dân cư, các dân tộc. Ví dụ như rừng tâm linh tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước, khu vực rừng biên giới có vai trò bảo vệ an ninh quốc gia.
Trong khi đó, tiêu chí phân loại rừng đặc dụng tại Điểm d, Khoản 1, Điều 5 chỉ quy định chung là rừng văn hóa, tín ngưỡng song chưa gắn với chủ thể quản lý là cộng đồng dân cư. Rừng cộng đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội và bảo vệ phát triển rừng. Do vậy, cần quy định rõ rừng tâm linh tín ngưỡng cộng đồng dân cư các dân tộc vào dự thảo luật. (Đại Biểu Nhân Dân 11/8) đầu trang(
Một trong những phần việc đầu tiên, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp thuộc tỉnh quản lý hiện nay là việc lập, thẩm định và trình phê duyệt phương án sử dụng đất. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phần việc này hiện đang chậm 6 tháng so với kế hoạch đề ra.
5 công ty thực hiện đổi mới, sắp xếp lần này là các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp: Chiêm Hóa, Tuyên Bình, Yên Sơn, Sơn Dương, Nguyễn Văn Trỗi. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện nay mới có Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình bổ sung, hoàn chỉnh phương án sử dụng đất theo nội dung báo cáo thẩm định của sở. Các công ty còn lại chưa hoàn chỉnh.
Bà Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương cho biết, sau khi đo đạc lại đã xác định được diện tích đất công ty là 5.028,56 ha, trong đó diện tích đất công ty đang sử dụng là 3.982,32 ha; diện tích trả về địa phương là 1.046,24 ha. Mặc dù đã chủ động các nội dung công việc từ cách đây 2 năm, trong đó công ty đã rà soát, đo đạc lại toàn bộ diện tích đất, tuy nhiên do không lường trước được hết những đầu mục công việc phải hoàn thành nên tiến độ thực hiện bị chậm.
Bà Hồng cho biết, sau khi hoàn thành đo đạc, lập phương án sử dụng đất để Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định, Công ty phải bổ sung, chỉnh sửa những nội dung còn thiếu sót như: Bổ sung các văn bản làm căn cứ cho việc lập phương án sử dụng đất; Phối hợp với UBND 20 xã có đất của Công ty rà soát cụ thể, thống nhất diện tích đất giữ lại, diện tích đất trả ra trên địa bàn xã, nhất là diện tích đất các công ty đang quản lý, sử dụng nhưng chưa được UBND tỉnh cho thuê đất. Kết quả sau khi đo đạc, rà soát phải được lập thành biên bản, có danh sách thửa đất kèm theo để bổ sung vào hồ sơ trình UBND tỉnh phê duyệt. Hiện đơn vị đang tiếp tục biên tập, in thu gọn bản đồ theo khu vực có đất của công ty; rà soát chỉnh sửa bổ sung, cập nhật, hoàn thiện một số nội dung thể hiện trên bản đồ phương án sử dụng đất còn thiếu sót.
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường, qua đo đạc đã xác định được tổng diện tích 5 công ty lâm nghiệp đang quản lý là 18.511,78 ha; trong đó diện tích đất dự kiến tiếp tục quản lý sau sắp xếp là 14.843,99 ha, còn lại là diện tích giao về cho địa phương quản lý. Bên cạnh việc bổ sung, chỉnh sửa các đầu mục công việc, một trong những nguyên nhân nữa ảnh hưởng đến tiến độ này là do số xã các công ty phải phối hợp để rà soát cụ thể, thống nhất diện tích giữ lại, trả ra trên địa bàn nhiều.
Cụ thể, Công ty lâm nghiệp Chiêm Hóa 14 xã; Công ty lâm nghiệp Yên Sơn 6 xã; Công ty lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi 10 xã; Công ty lâm nghiệp Yên Sơn 20 xã. 2 đơn vị là Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi, Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn chưa hoàn thiện bản đồ quản lý sử dụng đất, do đó chưa lập được biên bản thống nhất với UBND các xã.
Ngoài ra còn một số nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến độ công việc, như việc rà soát, lập phương án sử dụng đất, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, lập bản đồ địa chính theo Thông tư số 07/2015/TT-BTNMT gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do các công ty đã được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, hồ sơ mốc giới chưa được thực hiện.
Quá trình rà soát để lập phương án sử dụng đất thì hiện trạng và diện tích trên bản đồ giao đất có sự sai khác so với hiện trạng thực tế. Phương án sử dụng đất có nhiều nội dung phải chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện theo nội dung Thông báo kết quả thẩm định của Sở Tài nguyên và Môi trường nên mất rất nhiều thời gian để chỉnh lý...
Để đẩy nhanh tiến độ lập phương án sử dụng đất, UBND tỉnh yêu cầu các công ty lâm nghiệp phối hợp với đơn vị tư vấn hoàn thiện các nội dung, công việc theo hợp đồng đã ký để khẩn trương hoàn thiện phương án sử dụng đất. Ngành Tài nguyên và Môi trường cũng tập trung đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty lâm nghiệp theo Quyết định 595/QĐ-UBND ngày 6-6-2017 của UBND tỉnh. (Báo Tuyên Quang 11/8) đầu trang(
Những năm qua, ở Quảng Ngãi, ngành chế biến dăm gỗ xuất khẩu phát triển mạnh. Ngành này mang lại lợi nhuận cao, nên nhiều doanh nghiệp (DN) đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất dăm gỗ. Tuy nhiên, do năng lực tài chính yếu, vùng nguyên liệu thiếu, cộng với thị trường xuất khẩu ngày càng thu hẹp... nên nhiều DN nhỏ phá sản.
Những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu gỗ dăm của Quảng Ngãi giảm. Lượng dăm gỗ xuất qua cảng chỉ còn tập trung ở một số DN lớn. Hàng loạt DN chế biến gỗ dăm, ván thanh công suất nhỏ đã đóng cửa hoặc cho DN khác thuê cơ sở để sản xuất. Nợ ngân hàng của hầu hết các DN nhỏ hoạt động trong lĩnh vực này đều rơi vào “nợ xấu”. Dù xoay xở đủ kiểu, song nhiều DN vẫn không thể tiếp tục duy trì sản xuất, đành phải rao bán nhà xưởng, máy móc. Giá bán cũng chỉ dao động từ 20 - 50 tỷ đồng/nhà máy, nhưng việc “bán được giá” cũng không phải dễ.
Một ngân hàng đã cho 4 DN chế biến gỗ dăm, ván thanh vay khoảng 90 tỷ đồng đầu tư nhà xưởng. Hiện các DN này đều đang rao bán nhà máy, để trả nợ ngân hàng. Có DN đầu tư 2 – 3 nhà máy, đều hoạt động thua lỗ, hàng tháng phải trả cho ngân hàng vài trăm triệu đồng, trong khi nhà máy không còn hoạt động. Một chủ DN cho hay: “Tôi có hai nhà máy chế biến dăm gỗ, nhưng đang rao bán một nhà máy ở Dung Quất để lấy tiền trả nợ ngân hàng”.
Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh gỗ dăm, ván thanh xuất khẩu tại Quảng Ngãi, các DN lớn “nghiên cứu” kỹ tình hình tài chính của đối tác, để việc mua dăm gỗ có lợi nhất. Ngoài ra, các DN lớn còn lên phương án mua đứt các nhà máy chế biến gỗ dăm, để thâu tóm thị trường xuất khẩu.Công ty TNHH MTV Hào Hưng là DN lớn, hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ dăm xuất khẩu. Mặc dù là DN có kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ dăm lớn, song công ty này hoàn toàn không có vùng nguyên liệu để phục vụ chế biến, xuất khẩu bền vững. Vì vậy, cách đây không lâu, DN này đã xin phép UBND tỉnh cho lập “trạm thu mua keo” nguyên liệu ở một số địa phương trong tỉnh.
Tuy nhiên, mục tiêu mở rộng nguyên liệu đầu vào của Công ty Hào Hưng đã vấp phải sự phản ứng của chính quyền địa phương. Chính vì thế, việc các DN nhỏ kinh doanh ngành hàng chế biến dăm gỗ gặp khó khăn, phải bán nhà máy là cơ hội để Công ty Hào Hưng mua lại các nhà máy.Hiện Bộ NN&PTNT và UBND tỉnh không cấp phép thành lập mới DN chế biến gỗ dăm. Vì thế, muốn mở rộng sản xuất, các DN lớn hoạt động trong lĩnh vực này chỉ còn cách mua lại các nhà máy đang thua lỗ. Kể cả các DN có ý định đầu tư vào lĩnh vực này, thì việc bỏ tiền mua các nhà máy phá sản cũng là cách duy nhất để dự án được chấp nhận. Đó cũng là điều kiện tốt để tăng giá cạnh tranh chuyển nhượng các nhà máy chế biến gỗ keo đang rao bán.
Hiện tại, một nhà máy chế biến gỗ keo ở KKT Dung Quất đang được ít nhất 4 DN lớn trả giá để mua. Và mức giá chênh lệch dao động từ 2 – 4 tỷ đồng. Đây cũng là cơ hội tốt để các DN nhỏ có thể bán được nhà máy hoạt động thua lỗ với số tiền đúng giá trị thực, có thể thanh khoản các khoản nợ cho ngân hàng. (Báo Quảng Ngãi 11/8) đầu trang(
Sáng 11/8, Ban Chỉ huy quân sự huyện Phú Lộc (Thừa Thiên- Huế) cho biết, chủ đầu tư dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô (đang xây dựng tại thôn Phú Hải, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc) đã xin cấp nhiều diện tích đất có giá trị cấp độ 1 về quốc phòng an ninh cho dự án này.
Cụ thể, chủ đầu tư dự án là Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Phong Phú Lăng Cô xin cấp 40ha trong tổng số khoảng 200ha đất có giá trị cấp độ 1 về quốc phòng an ninh ở khu vực ven biển thôn Phú Hải để điều chỉnh quy hoạch dự án.
Thượng tá Trần Quốc Khánh, Phó chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự huyện Phú Lộc cho biết: Việc Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Phong Phú Lăng Cô xin cấp diện tích đất trên đã được các cơ quan liên quan nhất trí, trong đó có Cục Tác chiến của Bộ Quốc phòng.
Theo thượng tá Khánh, mặc dù được các cơ quan liên quan nhất trí nhưng để chủ đầu tư được cấp đất thì phải có sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ.
Thượng tá Khánh cho biết thêm, nếu được cấp diện tích đất trên để thực hiện dự án thì Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Phong Phú Lăng Cô cũng không được xây dựng các công trình trên đất này. Nguyên nhân là bởi đất có giá trị cấp độ 1 về quốc phòng an ninh không được thay đổi hiện trạng, không được xây dựng các công trình kiên cố, theo Dân Việt.
Trong tổng số diện tích đất cấp cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô (253ha) có tới 63,9ha là rừng dẻ. Khu rừng dẻ này là rừng phòng hộ đã được UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế giao cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ.
Người dân xã Lộc Vĩnh từng bày tỏ sự bức xúc trước tình trạng khu rừng dẻ có tuổi đời hàng trăm năm được cấp cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô, dẫn tới nguy cơ rừng bị phá.
Từng trao đổi với Đất Việt hồi tháng 4/2017, ông Nguyễn Văn Thanh- Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Phú Lộc cho biết:
63,9 ha rừng dẻ tại thôn Phú Hải nằm trong dự án sân golf đều là đất rừng sản xuất và đã được UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế quy hoạch để thu hồi, phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
''Nếu đất rừng sản xuất dùng để xây dựng các công trình sân golf, khu nghỉ dưỡng Lăng Cô thì theo quy định không có gì vi phạm cả. Tuy nhiên do rừng dẻ này có tuổi đời lâu năm nên người dân cũng có gì đó tiếc nuối'', ông Thanh khẳng định.
Trước đó, vào tháng 2/2016, ông Hồ Trọng Cầu- Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Lộc đã có văn bản kiến nghị gửi đến Sở NNPTNT tỉnh Thừa Thiên- Huế phản ánh về vụ việc.
Văn bản nêu rõ, từ khi được giao quản lý rừng dẻ phòng hộ, cộng đồng dân cư thôn Phú Hải đã thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, nên đã phát huy tốt tính năng, tác dụng phòng hộ của rừng, kết hợp nâng cao giá trị cảnh quan môi trường rừng trên địa bàn xã Lộc Vĩnh nói riêng, của Khu kinh tế Chân Mây- Lăng Cô nói chung.
Trên cơ sở đó, UBND huyện Phú Lộc đề nghị Sở NNPTNT tham mưu UBND tỉnh giữ nguyên quy hoạch rừng phòng hộ đối với diện tích rừng dẻ này.
Tuy nhiên sau đó khu rừng vẫn được UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế điều chỉnh quy hoạch từ rừng phòng hộ thành rừng sản xuất để cấp cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô.
Trong khi đó, ông Lê Văn Tuệ, Nguyên nguyên Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, hiện là Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Kinh tế, công nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế khẳng định thông tin báo chí nêu không chính xác.
Ông Tuệ nhấn mạnh, khu vực ven biển thôn Phú Hải (xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc) không có rừng phòng hộ.
''Khu vực đó làm gì có rừng phòng hộ. Toàn bộ đều là rừng sản xuất. Ở đó lâu nay theo quy hoạch là rừng sản xuất và có quyết định của UBND tỉnh về vấn đề này'', ông Tuệ khẳng định.
Việc sử dụng đất ven biển thôn Phú Hải phục vụ cho dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf Lăng Cô, ông Tuệ cho biết nằm trong quy hoạch theo đúng chỉ đạo của Trung ương và không hề có sự chuyển đổi từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất như phản ánh của báo chí. (Đất Việt 11/8) đầu trang(
Trong quá trình được UBND tỉnh Đắk Lắk cho thuê gần 1.200 ha đất, rừng để thực hiện dự án, phía Công ty Anh Quốc đã để xảy ra nhiều sai phạm. Tuy nhiên, trong bản báo cáo của mình, công ty này lại nêu ra nhiều con số rất "đẹp".
12/01/2011, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 65/UBND, cho Công ty Anh Quốc thuê gần 1.200 ha đất với thời hạn 50 năm để sử dụng vào mục đích trồng rừng, trồng cao su và quản lý, bảo vệ rừng tại tiểu khu 293, xã Cư M’lan, huyện Ea Súp.
Trong đó, diện tích trồng cao su hơn 434 ha, diện tích trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng hơn 730 ha. Phía Công ty Anh Quốc được phép trồng thí điểm 100 ha cây cao su trên diện tích đất trống, rừng nghèo, cây thưa thớt. Sau đó, UBND tỉnh Đắk Lắk sẽ xem xét, đánh giá lại hiệu quả từ cây cao su, đồng thời đánh giá lại quy hoạch phát triển loại cây này trên địa bàn tỉnh rồi phía công ty mới được phép triển khai trên diện rộng.
Trong năm 2011, phía Công ty Anh Quốc đã trồng 92 ha cao su và 40 ha keo lai trên vùng dự án. Tuy nhiên, đến mùa khô 2013-2014, do thiếu nước tưới nên hai loại cây trên phát triển kém và phần lớn đều bị chết.
Do đó, cuối năm 2014, phía Công ty Anh Quốc có báo cáo gửi lên UBND tỉnh Đắk Lắk về việc chấm dứt trồng cao su và keo trên vùng dự án.
Đến tháng 12/2015, UBND tỉnh Đắk Lắk có Quyết định số 3443/QĐ-UBND gia hạn cho Công ty Anh Quốc được tiếp tục thực hiện dự án đến tháng 7/2016.
Sau đó, Công ty Anh Quốc có báo cáo gửi đến cơ quan chức năng, cho rằng đơn vị đã đưa máy móc san ủi, cày xới toàn bộ diện tích cây cao su đã chết, chuẩn bị triển khai trồng keo lai. Đồng thời, công ty tiếp tục chuẩn bị mặt bằng để trồng 13 ha keo lai, dự kiến đến tháng 8/2016 sẽ hoàn thành công việc.
Ngoài ra, Công ty Anh Quốc còn báo cáo: Trong quá trình thực hiện dự án, công ty đã triển khai công tác quản lý, bảo vệ diện tích đất được thuê rất nghiêm ngặt; không có tình trạng tranh chấp, lấn chiếm hay phá rừng xảy ra trong vùng dự án; chỉ có một số diện tích đất bị người dân xâm canh, lấn chiếm trước khi công ty được thuê đất.
Tổng diện tích đất bị lấn chiếm trong vùng dự án hơn 166 ha (tính đến năm 2015). Tuy nhiên, phía Công ty Anh Quốc cho rằng, thời điểm người dân lấn chiếm diễn ra từ năm 2009-2011, tức trước thời điểm công ty được thuê đất.
Theo Kết luận thanh tra số 1683/KL-STNMT ngày 13/9/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tỉnh Đắk Lắk, những báo cáo trên của Công ty Anh Quốc không đúng sự thật.
Theo đó, qua kiểm tra thực tế của lực lượng chức năng, sau khi được gia hạn, Công ty Anh Quốc không tiếp tục thực hiện dự án. Tại thời điểm kiểm tra, toàn bộ 92 ha cao su đã chết, chỉ còn lại 05 ha keo lai nằm rải rác.
Bên cạnh đó, phía UBND huyện Ea Súp và Hạt kiểm lâm huyện này cũng báo cáo rằng, phía Công ty Anh Quốc chưa thường xuyên phối hợp với địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; tình trạng khai thác gỗ, củi trái phép vẫn còn diễn ra trong vùng dự án khiến trữ lượng rừng bị giảm.
Cũng theo báo cáo của UBND huyện Ea Súp, trong quá trình triển khai dự án, phía Công ty Anh Quốc chưa tham gia đầy đủ các buổi họp do địa phương tổ chức về công tác quản lý, bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, công ty này cũng chưa xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương án được phê duyệt.
Tính đến năm 2015, trong vùng sự án của Công ty Anh Quốc đã bị người dân lấn chiếm gần 170 ha. Tuy nhiên, phía công ty này không tiến hành kiểm tra, rà soát số diện tích dân lấn, chiếm đất; chưa phối hợp với chính quyền địa phương để xây dựng phương án, kế hoạch giải toả nhằm trồng lại rừng theo mục tiêu của dự án và yêu cầu của UBND tỉnh Đắk Lắk.
Dựa trên những sai phạm đã nêu, Sở TN&MT tỉnh Đắk Lắk kiến nghị UBND tỉnh Đắk Lắk thu hồi lại gần 1.200 ha đất đã cho Công ty Anh Quốc thuê vào năm 2011. Đồng thời, cho lực lượng chức năng đánh giá lại hiện trạng rừng để báo cáo, xử lý trách nhiệm của chủ dự án trong việc để mất rừng.
Ngoài ra, Sở TN&MT tỉnh Đắk Lắk cũng kiến nghị UBND huyện Ea Súp tiến hành kiểm tra, làm rõ trách nhiệm của cá nhân, đơn vị trong việc để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất, rừng trong vùng dự án của Công ty Anh Quốc; có biện pháp xử lý những hành vi vi phạm và thu hồi lại đất bị lấn chiếm. (Infonet 14/8) đầu trang(
Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải tăng cường quản lý đất lâm nghiệp, phát hiện, xử lý kịp thời các vụ vi phạm pháp luật về đất đai; chấm dứt tình trạng mua, bán và "hợp thức hóa" quyền sử dụng đất do phá rừng trái pháp luật...
Chính phủ vừa ban hành Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Mục đích của Chương trình nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp trong Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động, nâng cao ý thức tuân thủ, tôn trọng pháp luật của toàn dân tích cực tham gia công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Đồng thời, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thời gian qua, đảm bảo thực hiện đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII của Đảng về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong đó có chuyên ngành lâm nghiệp, góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững.
Các nhiệm vụ mà Chương trình đặt ra là tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; điều tra, đo đạc, xây dựng hồ sơ quản lý, phân định, đánh mốc ranh giới các loại rừng; rà soát, đánh giá, kiểm soát chặt chẽ các quy hoạch, dự án phát triển kinh tế, xã hội có tác động đến diện tích, chất lượng rừng; tăng cường công tác phát triển rừng, nâng cao giá trị của rừng; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó, Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải tăng cường quản lý đất lâm nghiệp, phát hiện, xử lý kịp thời các vụ vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi toàn bộ đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật để trồng lại rừng; chấm dứt tình trạng mua, bán và "hợp thức hóa" quyền sử dụng đất do phá rừng trái pháp luật; thực hiện nghiêm túc việc dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên gắn với triển khai thực hiện các cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với hỗ trợ các doanh nghiệp và người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng; quản lý chặt chẽ tình trạng dân di cư tự do tại cả nơi đi và nơi đến...(Kinh Tế & Đô Thị 11/8) đầu trang(
Mở rộng thị trường gắn liền với những cam kết hợp tác quốc tế đang giúp các doanh nghiệp gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam có cơ hội vươn ra thị trường quốc tế, song cũng đứng trước thách thức lớn phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh…
Cùng với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hiện EU là thị trường xuất khẩu đồ gỗ lớn của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong năm 2016, ngành này đã đạt hơn 740 triệu đô-la Mỹ. Năm nay, triển vọng phát triển ngành gỗ và thủ công mỹ nghệ được dự báo sẽ tăng trưởng khả quan hơn nhờ tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực vào đầu năm 2018 và Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ (VPA/FLEGT) vừa được Việt Nam và EU ký tắt vào tháng 5-2017.
Đây là những điều kiện thuận lợi, giúp các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ. Triển vọng phát triển ngành này tại châu Âu trong năm 2017 được dự báo tăng trưởng khả quan hơn nhờ hoạt động xây dựng thị trường tại EU được đẩy mạnh. Tới đây, hầu hết các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và nội thất xuất khẩu từ Việt Nam sang EU sẽ được hưởng mức thuế 0% khi EVFTA có hiệu lực. Mức thuế này được áp dụng cho các sản phẩm gỗ chế biến và sản phẩm gỗ (mức thuế trước EVFTA là 3%); đồ nội thất bằng tre hoặc mây (mức thuế trước là 5,6%); ván ép gỗ (trước là 4%), đồ trang trí bằng gỗ (trước là 3%).
Cam kết này sẽ cải thiện hoạt động thương mại giữa Việt Nam và EU một cách đáng kể. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gỗ và sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống phải chủ động nắm bắt thông tin, kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu cũng như hoạt động sản xuất, chế biến để có thể tận dụng được lợi thế từ các cam kết trong quan hệ hợp tác.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, những tháng đầu năm nay, ngành lâm nghiệp cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ, các chỉ tiêu tăng trưởng ổn định. Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 6,6%. Giá trị kim ngạch xuất khẩu lâm sản phải đạt 7,5 tỷ đô-la Mỹ trở lên. Sản phẩm lâm sản xuất khẩu tăng hơn so với cùng kỳ năm 2016, việc chế biến ngày càng đa dạng về chủng loại, mẫu mã, đáp ứng yêu cầu mở rộng, thâm nhập thị trường nước ngoài.
Đến nay, đồ gỗ Việt Nam đã xuất sang hơn 100 nước và vùng lãnh thổ. Cùng với việc đầu tư nâng cao chất lượng sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp gỗ và chế biến lâm sản trong nước đang tích cực triển khai Đề án Phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp. Đến nay, đã có bốn mô hình hợp tác, liên kết giữa công ty chế biến, sản xuất sản phẩm đồ gỗ với người trồng rừng gỗ lớn, có chứng nhận quản lý rừng bền vững tại các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Trị. Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp các bộ, ngành rà soát văn kiện để ký kết thúc đàm phán Hiệp định VPA/FLEGT với EU. Đây là những tiền đề quan trọng để thúc đẩy ngành sản xuất gỗ và các sản phẩm gỗ phát triển ổn định, bền vững đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế.
Bên cạnh những thuận lợi, việc Việt Nam và EU thực hiện Hiệp định tự do thương mại cũng có những tác động gây khó khăn cho các doanh nghiệp gỗ trong nước, trong đó có việc truy xuất nguồn gốc hợp pháp chứng nhận cho các sản phẩm sản xuất từ gỗ. EVFTA sẽ không chỉ đơn thuần xóa bỏ thuế quan mà chú trọng nhiều đến việc giải quyết các rào cản kỹ thuật nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp; đồng thời tập trung bảo vệ các tiêu chuẩn xã hội và môi trường.
Theo các chuyên gia, mặc dù ngành gỗ Việt Nam đã tạo được chỗ đứng nhất định về mặt kỹ thuật, nhưng các nhà nhập khẩu châu Âu hiện đang quan ngại về vấn đề truy xuất nguồn gốc gỗ, việc sử dụng hóa chất trong sản xuất, tính bền vững và đặc biệt là việc tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Việc truy xuất nguồn gốc gỗ và các trách nhiệm xã hội đang là vướng mắc lớn của doanh nghiệp gỗ Việt Nam. Nhất là hiện nay, quy trình chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp còn phức tạp, kể cả các nguyên liệu gỗ trồng như: cao-su, tràm...
Cũng có quan điểm cho rằng, việc xuất khẩu gỗ của các doanh nghiệp thời gian tới sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là sau sự kiện các Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh (HAWA), Hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định (FPA Bình Định), Hiệp hội chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA) ra tuyên bố chung về việc sử dụng, sản xuất và kinh doanh các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ đồng thời ký cam kết nói không với gỗ bất hợp pháp.Việc loại bỏ các nguồn gỗ nguyên liệu có rủi ro cao là yêu cầu cấp bách giúp xây dựng và phát triển thương hiệu và hình ảnh của ngành gỗ, duy trì ổn định thị trường xuất khẩu đồng thời cũng là đòi hỏi bắt buộc đối với toàn ngành. Tuy nhiên, trước mắt, một số doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn nguyên liệu để sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn, từ đó gây ảnh hưởng đến mục tiêu xuất khẩu của toàn ngành gỗ và lâm sản.
Theo VIFORES, hiện nay, các doanh nghiệp đang đối mặt với ít nhất năm thách thức về nguồn cung nguyên liệu gỗ, đó là thách thức về thu mua nguyên liệu gỗ rừng trồng, cạnh tranh đối với các thương nhân nước ngoài vào thu mua gỗ rừng trồng của Việt Nam, thách thức về chất lượng gỗ rừng trồng trong nước, thách thức về gỗ có chứng chỉ FSC và thách thức về nguồn cung trong tương lai gần. Việt Nam hiện nay mua gỗ từ hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, việc tìm nhà cung cấp với gỗ có nguồn gốc hợp pháp cũng là một khó khăn. Với dự kiến đến năm 2020 đạt 10 tỷ đô-la Mỹ xuất khẩu thì nguồn cung gỗ nguyên liệu sẽ thêm 4 đến 5 triệu m3/năm.
Do đó, VIFORES đề nghị Chính phủ xem xét cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ hộp, gỗ xẻ thô,... như nhiều quốc gia trong khu vực đã làm, đồng thời đề nghị Bộ Tài chính xem xét hướng dẫn mức thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng gỗ. Cần tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế tham gia trồng rừng vay vốn dài hạn để duy trì rừng trồng đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. (Nhân Dân 12/8) đầu trang(
Dù Mỹ, thị trường tiêu thụ đố gỗ lớn trên thế giới, không tham gia vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), doanh nghiệp chế biến gỗ Trung Quốc vẫn đang tiếp tục đầu tư sang Việt Nam.
Thông tin này được lãnh đạo Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TPHCM (HAWA) và Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) chia sẻ với phóng viên tại cuộc họp báo tổ chức Hội chợ máy móc và Đồ gỗ nguyên liệu Việt Nam 2017 (VIFA Woodmac Vietnam 2017) ngày 11-8-2017, tại TPHCM.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM cho biết sự chuyển dịch đầu tư sang Việt Nam của doanh nghiệp chế biến gỗ Trung Quốc diễn ra được hai năm nay nhằm để hưởng lợi từ các hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên như TPP. Trước thông tin Mỹ không tham gia vào TPP, một số doanh nghiệp chế biến gỗ Trung Quốc vẫn dịch chuyển đầu tư sản xuất sang Việt Nam. Nguyên nhân, theo ông Hạnh, là do sản phẩm gỗ từ Trung Quốc đang bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá rất cao. Hiện nay, Trung Quốc là thị trường mà Mỹ nhập khẩu đồ gỗ nhiều nhất (thị trường đồ gỗ Mỹ trị giá khoảng 30 tỉ đô la Mỹ/năm).
Việc Mỹ áp thuế chống phá giá đối với đồ gỗ Trung Quốc sẽ khiến cho các đơn hàng từ Mỹ dịch chuyển sang các nước xuất khẩu gỗ khác ở khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam. Việt Nam đang là nước xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất ở ASEAN và cũng là đối thủ lớn của doanh nghiệp gỗ Trung Quốc.
Ngoài việc chuyển dịch đầu tư sang Việt Nam, còn có hiện tượng doanh nghiệp gỗ Trung Quốc áp dụng biện pháp tạm nhập hàng hóa ở Việt Nam và tái xuất để lấy xuất xứ Việt Nam nhằm xuất khẩu đi nước khác, trong đó có Mỹ. Ông Hạnh cho rằng điều này hoàn toàn không tốt cho ngành và ảnh hưởng đến doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam rất nhiều.
Bên cạnh đó, việc Trung Quốc đóng cửa rừng, dẫn đến nguồn cung nguyên liệu gỗ cho sản xuất bị thiếu, cũng khiến doanh nghiệp gỗ nước này dịch chuyển đầu tư sang nước khác. Ngoài ra, chi phí nhân công cao cũng là nguyên nhân đưa doanh nghiệp Trung Quốc chuyển sang những nước khác có chi phí thấp hơn để cạnh tranh, trong đó có Việt Nam.
Bình Dương là một trong những địa phương mà doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư nhiều vào ngành chế biến gỗ. Tại cuộc họp báo, ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương cũng xác nhận thông tin này. Theo ông Thanh, trên địa bàn tỉnh có khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong ngành này thì doanh nghiệp Trung Quốc và Đài Loan chiếm khoảng 1/3...Tuy nhiên, theo ông Thanh, việc đầu tư mở rộng lĩnh vực này của doanh nghiệp Trung Quốc và Đài Loan có xu hướng chậm lại trong thời gian gần đây vì áp lực cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước.
Giới phân tích nhận định tình hình này có thể khiến các doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá nếu xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang Mỹ tăng quá nhanh.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong sáu tháng đầu năm nay đạt khoảng 3,66 tỉ đô la Mỹ, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sản phẩm gỗ xuất khẩu đạt 2,68 tỉ đô la Mỹ, tăng 14,8%. Xuất khẩu gỗ năm 2017 được kỳ vọng sẽ cán mốc 8 tỉ đô la Mỹ.
Hội chợ máy móc và Đồ gỗ nguyên liệu Việt Nam 2017 (VIFA Woodmac Vietnam 2017) sẽ diễn ra từ ngày 23 đến ngày 25-8-2017 tại Trung tâm Hội nghị triển lãm Bình Dương (BCEC), tỉnh Bình Dương, thu hút gần 110 doanh nghiệp đăng ký 420 gian hàng.
Trong số này có gần 80 doanh nghiệp nước ngoài đến từ 14 quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Áo, Canada, Pháp, Gabon, Đức, Ý, Malaysia, Ba Lan, Singapore, ... Trong đó, có hơn 50 doanh nghiệp đến từ Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan.
Hội chợ giới thiệu máy móc chế biến gỗ, gỗ nguyên liệu, phụ kiện ngành chế biến gỗ, dịch vụ …Đây là lần đầu tiên VIFA Woodmac Vietnam 2017 do Công ty cổ phần Thủ công mỹ nghệ gỗ Liên Minh (HAWA Corporation) và Công ty Pablo Publishing., Ltd (Singapore) phối hợp tổ chức.
Việc chọn Bình Dương là nơi diễn ra hội chợ này, theo Ban tổ chức, vì đây là địa phương tập trung các khu công nghiệp và là trung tâm sản xuất đồ gỗ lớn nhất của khu vực phía Nam.
Song song với hội chợ, Ban tổ chức còn tổ chức hội thảo "Chia sẻ kinh nghiệm nâng cao năng suất toàn diện trong ngành chế biến gỗ" và lớp hướng dẫn phân loại gỗ. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 12/8) đầu trang(
Một trạm trưởng quản lý rừng phòng hộ ở Nghệ An bị bắt do thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, gây hậu quả nghiêm trọng.
Sáng 11/8, thông tin từ Công an huyện miền núi Kỳ Sơn, Nghệ An cho biết, Cơ quan điều tra công an huyện này vừa khởi tố, bắt tạm giam Phạm Viết Tình, Trạm trưởng Trạm quản lý rừng phòng hộ Nậm Càn (thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn).
Được biết, Phạm Viết Tình (SN 1984, quê ở xã Cát Văn, huyện Thanh Chương, Nghệ An) bị bắt vì tội danh "Thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng”. (VTC News 11/8) đầu trang(
Nguyên Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre và Nguyên Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre sai phạm trong khai thác rừng đặc dụng đã bị đề nghị cùng mức án từ 3-4 năm tù.
Ngày 11-8, TAND huyện Thạnh Phú (Bến Tre), tiếp tục xét xử đối với Nguyên Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, Nguyên trưởng ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre cùng 3 bị cáo khác nguyên là cán bộ Sở NN&PTNT về tội “vi phạm các quy định về quản lý rừng”.
Sau hơn 1 ngày xét hỏi, Viện KSND huyện Thạnh Phú (Bến Tre) đề nghị tòa tuyên cùng mức án 3-4 năm tù đối với 3 bị cáo: Trần Văn Hùng (Nguyên phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre); Võ Văn Ngàn (Nguyên giám đốc ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre, hiện đã nghỉ hưu) và Nguyễn Văn Ðoàn (nguyên chi cục trưởng Kiểm lâm Bến Tre) cùng tội danh “vi phạm các quy định về quản lý rừng”.
Cùng tội danh trên, các bị cáo: Tiết Kim Chiêu (nguyên phó trưởng Phòng Khoa học-Kỹ thuật- Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, nguyên phó chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Bến Tre) và Nguyễn Ðức Dục (nguyên chuyên viên Phòng Khoa học-Kỹ thuật -Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, nguyên phó chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Bến Tre) bị đề nghị cùng mức án từ 2 – 2,5 năm tù (cho hưởng án treo).
Ngoài ra, đại diện VKSND giữ quyền công tố tại tòa còn đề nghị HĐXX buộc các bị cáo: Trần Văn Hùng và Võ Văn Ngàn phải liên đới bồi thường thiệt hại trên 412 triệu đồng cho Nhà nước. Đại diện Viện KSND xác định, trên cơ sở lời khai của các bị cáo, kết quả điều tra và các hồ sơ có liên quan đủ căn cứ để truy tố các bị cáo với tội danh trên là đúng người đúng tội.
Trước đó, trong phần thẩm vấn, bị cáo Trần Văn Hùng- Nguyên Phó GĐ Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre không đồng ý với tội danh như cáo trạng của Viện KSND huyện Thạnh Phú truy tố. Bị cáo cho rằng trong vụ án này bị cáo chỉ thiếu trách nhiệm về hành chính và đã bị xử lý. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét lại tội danh.
Trước đó, khi vụ việc bị phát hiện, ông Hùng và ông Ngàn đã bị kỉ luật cảnh cáo về mặt Đảng và chính quyền. Ông Hùng không được tiếp tục bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở, còn ông Ngàn bị hạ một bậc lương và xin về hưu.
Tại tòa, các bị cáo đều thừa nhận trước khi tiến hành khai thác đều có đến trực tiếp tại rừng để kiểm tra và phát hiện có hiện tượng sâu bệnh từ 16-31% mới xin chủ trương của UBND tỉnh cho khai thác. Và sau khi được chủ trương của tỉnh chấp thuận các bị cáo mới tiến hành khai thác. Các bị cáo đều thừa nhận không có văn bản hay quy định nào của pháp luật cho khai thác trắng diện tích rừng đặc dụng, nhưng theo các bị cáo dù trong công văn của UBND tỉnh cho chủ trương Sở NN&PTNT khai thác tận thu (khai thác những cây bị sâu bệnh) và trồng mới lại diện tích rừng. Nhưng trong khi thực hiện các bị cáo cho rằng việc khai thác trắng trồng lại rừng mới sẽ hiệu quả hơn. Các bị cáo đều thừa nhận hành vi khai thác trắng rừng đặc dụng là sai trái.
Mặt khác trong quá trình thực hiện việc khai thác rừng, thay vì đấu giá đơn vị thực hiện việc khai thác, các bị cáo lại chỉ định DNTN gỗ Tuấn An (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú) khai thác. Việc không đấu giá này đã dẫn đến gây thiệt hại thất thoát tài sản của Nhà nước…
Cáo trạng cáo buộc hành vi của 5 bị can Trần Văn Hùng, Võ Văn Ngàn, Nguyễn Văn Đoàn, Tiết Kim Chiêu và Nguyễn Đức Dục là trái pháp luật trong việc cho phép khai thác 21,86ha rừng đặc dụng, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng với số lượng gỗ là 2.842,5 m3; giá trị thiệt hại do bán chỉ định củi từ việc khai thác rừng trên 412 triệu đồng. Đối với diện tích rừng bị khai thác đã được trồng lại ngay sau đó bằng chính nguồn thu bán gỗ từ việc khai thác rừng nêu trên…
Phiên tòa sẽ tiếp tục xét xử vào ngày 14-8. (Pháp Luật TPHCM 11/8) đầu trang(
Công ty TNHH Thương mại Phúc An Phương không thực hiện đúng theo giấy chứng nhận đầu tư, sử dụng đất sai mục đích nhưng chưa bị xử lý. Nguyên nhân do đâu?
Ngày 29/11/2007, UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 19121000059 cấp cho dự án xây dựng Nhà máy lắp ráp linh kiện điện tử của Công ty TNHH thương mại Phúc An Phương (gọi tắt là Công ty Phúc An Phương) tại xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh (nay thuộc TP. Hà Nội). Tiếp đến, ngày 31/12/2007, tỉnh Vĩnh Phúc có quyết định phê duyệt địa điểm xây dựng nhà máy tại xã Thanh Lâm với tổng diện tích 6.930m2.
Ngày 18/3/2008, UBND tỉnh Vĩnh Phúc có quyết định cho phép công ty chuyển mục đích sử dụng 6.930m2 đã thỏa thuận bồi thường, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại xã Thanh Lâm giao cho công ty xây dựng nhà máy lắp ráp linh kiện điện tử theo giấy phép đầu tư đã được chấp thuận, thời gian thuê 49 năm. Yêu cầu công ty sử dụng đất đúng vị trí, ranh giới, mục đích và dự án được phê duyệt.
Tháng 1/2016, Công ty Phúc An Phương có văn bản gửi UBND TP. Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đề nghị thực hiện dự án đầu tư nhà máy sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Diện tích sử dụng đất là 6.217.1m2; công suất năm thứ nhất đạt 81.000m3 gỗ thành phẩm và các sản phẩm từ gỗ; năm thứ hai đạt 99.000m3; tổng vốn đầu tư 24 tỷ đồng.
Ngày 3/3/2016, Sở KH&ĐT có văn bản gửi các sở có liên quan về việc thẩm định hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Nhà máy sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ mà Công ty Phúc An Phương đề nghị.
Ngày 22/3/2016, UBND huyện Mê Linh có văn bản gửi Sở KH&ĐT cho biết, theo quyết định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã phê duyệt địa điểm và chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất cho Công ty Phúc An Phương xây dựng nhà máy lắp ráp linh kiện điện tử.
Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế Công ty không thực hiện dự án xây dựng nhà máy lắp ráp linh kiện điện tử theo phê duyệt của UBND tỉnh Vĩnh Phúc mà đang sản xuất gỗ, các sản phẩm từ gỗ. Việc sản xuất gỗ gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, gây bức xúc dư luận (thực tế Công ty Phúc An Phương cho Công ty CP VietDutch Quốc tế thuê để bóc gỗ, ép gỗ xuất khẩu - PV).
UBND huyện Mê Linh cho biết, vị trí Công ty Phúc An Phương đề nghị đầu tư nhà máy sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ không phù hợp để xây dựng dự án vì vị trí này được quy hoạch là đất nông nghiệp. Ngày 2/8/2017, phúc đáp đề nghị của báo Kinh tế nông thôn, Sở KH&ĐT Hà Nội cho biết, ngày 28/3/2016, sở này có văn bản gửi Công ty Phúc An Phương, trong đó có nội dung: “Sở chưa có cơ sở để tổng hợp, báo cáo UBND thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà máy sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ theo đề nghị của công ty”.
Như vậy, Công ty Phúc An Phương tự ý sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ gần 2 năm nay là không thực hiện đúng theo giấy chứng nhận đầu tư, sử dụng đất sai mục đích mà UBND tỉnh Vĩnh Phúc giao.
Việc Công ty Phúc An Phương tự ý sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ hai năm nay cho thấy công tác quản lý của UBND huyện Mê Linh, Sở TN&MT, Sở KH&ĐT Hà Nội còn lỏng lẻo, nếu không nói là buông lỏng quản lý.
Đề nghị Chủ tịch UBND TP. Hà Nội chỉ đạo làm rõ trách nhiệm của các tập thể, cá nhân UBND huyện Mê Linh khi không kịp thời phát hiện Công ty Phúc An Phương vi phạm; khi phát hiện vi phạm đã không có biện pháp ngăn chặn mà để kéo dài gần 2 năm nay.
Làm rõ trách nhiệm của các tập thể, cá nhân Sở KH&ĐT Hà Nội khi biết Công ty Phúc An Phương không thực hiện đúng theo giấy chứng nhận đầu tư, mặc dù UBND huyện Mê Linh đã đề nghị sở thành lập đoàn thanh tra về kiểm tra việc thực hiện dự án của công ty nhưng Sở này đã không thực hiện.
Làm rõ trách nhiệm của Sở TN&MT Hà Nội cùng các đơn vị liên quan khi biết Công ty Phúc An Phương sử dụng hàng nghìn mét vuông đất không đúng mục đích nhưng đã không có biện pháp ngăn chặn dẫn tới việc công ty sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ gây ô nhiễm môi trường.
Xử lý nghiêm vi phạm của Công ty Phúc An Phương. Xem xét di dời nhà máy đi nơi khác nếu không đủ các điều kiện theo quy định, tránh gây ảnh hưởng tới môi trường và cuộc sống của người dân địa phương. (Kinh Tế Nông Thôn 11/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Bộ công cụ tiếp cận HCS (High Carbon Stock) là hệ thống hướng dẫn do các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nhất trí xây dựng áp dụng cho các công ty dầu cọ nhằm thúc đẩy việc thực hiện các cam kết giải quyết nạn phá rừng do hoạt động sản xuất của các công ty này gây ra.
Nhu cầu dầu cọ trên thị trường tăng, việc sản xuất các mặt hàng từ dầu cọ thường đi liền với nạn phá rừng ồ ạt, hủy hoại môi trường tự nhiên, lạm dụng nhân quền và lao động. Hiện tượng này đã và đang xảy ra ở nhiều quốc gia, đặc biệt là tại Indonesia và Malaysia – công trường dầu cọ chính của thế giới.
Hàng loạt các công ty trong chuỗi cung ứng dầu cọ toàn cầu, từ các nhà sản xuất và kinh doanh đến các công ty sử dụng dầu cọ trong làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng khác, đã chấp nhận thực hiện Các Cam kết Không phá rừng (Zero Deforestation Commitments). Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, các công ty cam kết là một chuyện, còn việc biến các cam kết thành này hiện thực lại là một chuyện khác. Nhiều công ty cho rằng họ cần thêm hỗ trợ từ các chính phủ mới có thể biến các cam kết này thành hiện thực.
Bộ công cụ tiếp cận HCS mới có thể giúp giải quyết vấn đề này vì nó được thiết kể để tiêu chuẩn hóa biện pháp bảo vệ các khu rừng nhiệt đới và xác định các cảnh quan phù hợp để sản xuất dầu cọ bền vững.
Cuối năm ngoái, hai phương pháp được đưa ra cạnh tranh để xác định những nhân tố cấu thành một cảnh quan lưu trữ carbon cao (High Carbon Stock) và hướng dẫn chuyển đổi đất đai sang trồng cây cọ dầu một cách bền vững: Một là phương pháp tiếp cận HCS, được phát triển từ năm 2010 bởi một liên minh các doanh nghiệp và nhóm xã hội dân sự và công bố lần đầu tiên vào năm 2015; và Phương pháp HCS +, được đưa ra vào năm 2015 trong Bản tuyên ngôn về Dầu cọ Bền vững (SPOM).
Ra đời vào tháng 10/2016, Nhóm Làm việc Tập trung (Convergence Working Group) HCS, gồm các nhà sản xuất và kinh doanh dầu cọ chính, các nhà bảo tồn rừng, các tổ chức phi chính phủ về bảo tồn và nhân quyền, đã xem xét hai bộ công cụ và kết hợp hai phương pháp tiếp cận HCS và HCS+ với nhau.
Bộ công cụ tiếp cận HCS cập nhật đưa ra các yếu tố cơ bản của một phương pháp bảo tồn các khu rừng có trữ lượng carbon lớn và giá trị bảo tồn cao như các vùng đất than bùn. Không chỉ dừng lại ở mục tiêu Các Cam kết Không phá rừng, phương pháp tiếp cận HCS mới còn nhằm phát huy vai trò của rừng trong việc điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua tích lũy carbon; cùng với đó là thực hiện các nguyên tắc FPIC (Đồng thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện, báo trước và được cung cấp thông tin) đối với cộng đồng người dân bản địa gần rừng. Phương pháp mới này cũng đã giải quyết được sự bất đồng của hai phương pháp HCS và HCS+ về các vấn đề như phân vùng rừng, bảo toàn sinh khối dưới mặt đất và ra quyết định xung quanh việc tái sinh rừng thứ sinh.
Ông Grant Rosoman, nhà vận động bảo vệ rừng của Tổ chức Greenpeace, đồng chủ tịch Nhóm Điều hành HCS (High Carbon Stock Steering Group – một tổ chức thành viên đa bên được thành lập nhằm quản lý HCS Approach), cho biết bộ công cụ tự do nguồn mở này sẽ cung cấp những hướng dẫn kỹ thuật thiết thực và “mang tính khoa học mạnh mẽ” nhằm xác định và bảo vệ các khu rừng nhiệt đới.
Sau hai năm làm việc với phương pháp tiếp cận mới nhằm đưa Các Cam kết Không phá rừng trở thành hiện thưc, ông Rosoman cho rằng “Phương pháp HCS đã mở rộng các yêu cầu về mặt xã hội, mở rộng sự thừa nhận và tận dụng được các dữ liệu về trữ lượng carbon, kết hợp sử dụng các công nghệ mới như LIDAR (hệ thống được dùng để vẽ bản đồ địa hình từ trên không bằng tia laser), tối ưu hóa hiệu quả bảo tồn và sản xuất hàng hóa, đồng thời tăng khả năng thích ứng của các nông hộ nhỏ lẻ”.
Niềm hy vọng ở đây là hệ thống hướng dẫn này nhận được sự đồng thuận của cả các đơn vị sản xuất và các tổ chức xã hội trong việc áp dụng các biện pháp cần thiết để làm sạch chuỗi cung ứng dầu cọ toàn cầu.
Ông Rosoman chia sẻ: “Bằng việc cho ra đời công cụ mới này, chúng tôi đã thống nhất phương pháp tiếp cận sâu hơn đối với các chuỗi cung cấp các mặt hàng dầu cọ nhằm giảm nạn phá rừng nhiệt đới, đặc biệt ở các khu vực Châu Á Thái Bình Dương và Châu Phi. Phương pháp tiếp cận HCS đang giúp ngăn cản sự tàn phá hàng triệu ha rừng, đảm bảo tất cả các sản phẩm trên thị trường có thành phần từ dầu cọ hoặc từ giấy đều không góp phần gây nên nạn phá rừng, khai thác và bóc lột các vùng đất than bùn.”
Ông Rosoman bổ sung thêm rằng Nhóm làm việc của ông sẽ nỗ lực mở rộng quy mô và tầm ảnh hưởng của phương pháp tiếp cận HCS. Sự ủng hộ HCS tiếp tục gia tăng và mở rộng sang các mặt hàng khác như cao su, ca cao và sang cả lĩnh vực tài chính. Sắp tới, Nhóm điều hành sẽ tiếp tục giúp các hộ gia đình nhỏ làm quen với phương pháp tiếp cận HCS, kiểm chứng thực địa về các yêu cầu xã hội, đưa ước tính carbon HCS vào tính toán trữ lượng carbon cấp quốc gia và xúc tiến thực hiện Các Cam kết Không phá rừng tại những khu vực có rừng.
Hiện tại, bộ công cụ HCS Approach phiên bản 2.0 đã được đưa vào sử dụng. Nhóm điều hành HCS sẽ tập trung vào các sáng kiến thí điểm áp dụng phương pháp đã được chỉnh sửa này, nâng cao các yêu cầu về mặt xã hội đối với các hoạt động trồng trọt quy mô lớn cũng như các nông hộ nhỏ.
Bà Deborah Lapidus, Giám đốc chương trình của Tổ chức Mighty Earth, thành viên mới của Nhóm Điều hành HCS cho rằng phương pháp tiếp cận HCS hiện đang trở thành chuẩn mực cho hoạt động sản xuất có trách nhiệm. Với hơn 4.000 công ty dầu cọ lớn đã đăng ký áp dụng phương pháp tiếp cận HCS và những hướng dẫn cụ thể về tiến trình thực hiện dưới sự hỗ trợ của bộ công cụ, không có lý do nào để các công ty như POSCO Daewoo và Korindo tiếp tục phá hủy các khu rừng. Theo bà, việc tuân thủ các tiêu chuẩn của bộ công cụ tiếp cận HCS không những mang lại lợi ích cho các khu rừng, động thực vật hoang dã và người dân sống gần rừng mà còn có lợi đối với các doanh nghiệp, cũng như các nhà đầu tư và người tiêu dùng toàn cầu đang nỗ lực tìm ra các chủ thể trong chuỗi cung ứng có trách nhiệm và loại bỏ các chủ thể không đáp ứng được các tiêu chuẩn sản xuất bền vững.
Bà Lapidus cho hay Nhóm Điều hành sẽ tiếp tục thúc đẩy các nhà sản xuất và kinh doanh toàn cầu áp dụng các thành công của phương pháp HCS tại Đông Nam Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh nhằm đảm bảo công cuộc bảo vệ rừng toàn cầu và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Đồng thời, Nhóm cũng sẽ hối thúc Hội nghị bàn tròn về Dầu cọ Bền vững (RSPO – tổ chức chứng nhận lớn nhất thế giới trong ngành công nghiệp dầu cọ) xem xét áp dụng rộng rãi HCSA khi xem xét lại các nguyên tắc và tiêu chí chứng nhận của họ vào cuối năm nay. (Thiennhien.net 12/8) đầu trang(
13/8, hơn 3.000 lính cứu hỏa tại Bồ Đào Nha vẫn đang nỗ lực khống chế nhiều đám cháy rừng trên khắp đất nước, sau khi Lisbon yêu cầu các nước châu Âu hỗ trợ công tác dập tắt cháy rừng vốn đang có nguy cơ lan rộng khi thời tiết nóng ẩm được dự báo sẽ diễn ra trong những ngày tới. Thời tiết nắng nóng và khô hạn bất thường đã gây ra thảm họa cháy rừng nghiêm trọng nhất tại Bồ Đào Nha vào đầu mùa Hè năm nay, khiến 64 người thiệt mạng. Tuy nhiên, các đám cháy vẫn có nguy cơ bùng phát trong vài tuần nữa khi dự báo sẽ xuất hiện đợt nắng nóng mới. Theo Bộ trưởng Nội vụ Bồ Đào Nha Constanca Urbana de Sousa, nước này tối 12/8 đã đề nghị châu Âu hỗ trợ chống cháy rừng. Ông ed Sousa cho biết Bồ Đào Nha đã yêu cầu châu Âu gửi máy bay dập lửa và lính cứu hỏa tới hỗ trợ nước này theo như cơ chế hợp tác chống cháy rừng của châu Âu.
Cơ quan khẩn cấp Bồ Đào Nha thông báo trong ngày 12/8 đã bùng phát 268 đám cháy rừng, con số cao nhất trong một ngày trong năm nay. 6.500 lính cứu hỏa đã được huy động tới để dập tắt đám cháy.
Tuy nhiên, có lo ngại cho rằng nhiều các đám cháy có thể bùng phát lại từ tối 13/5 do gió mạnh và nhiệt độ tăng cao. Theo số liệu của Liên minh châu Âu (EU), hơn 140.000ha rừng ở Bồ Đào Nha đã bị thiêu rụi trong mùa Hè này, cao hơn ba lần so với mức trung bình của 10 năm qua. (Vietnam+ 13/8) đầu trang(
Một báo cáo đánh giá những nỗ lực hợp tác của khu vực tư nhân và các cơ quan chính phủ trong việc ngăn chặn nạn phá rừng ở hai quốc gia sở hữu các khu rừng nhiệt đới quan trọng là Brazil và Indonesia đã được hai tổ chức Environmental Defense Fund (EDF) và Forest Trends (FT) công bố cuối tháng trước.
Báo cáo bao gồm các nghiên cứu điển hình về cách thức các công ty đang hoạt động tại Brazil và Indonesia hợp tác với chính phủ hai quốc gia (chiếm gần 40% tổng diện tích rừng nhiệt đới bị phá trong năm 2014) để hạn chế nạn phá rừng, từ đó rút ra các bài học cho các quốc gia khác trên thế giới.
Theo thông tin do Sáng kiến Thay đổi chuỗi cung ứng (Supply Change Initiative) của Forest Trends, tính tới thời điểm tháng 3 năm 2017, 447 công ty đã thực hiện 760 cam kết loại bỏ nạn phá rừng trong chuỗi cung ứng của họ liên quan tới bốn mặt hàng nông nghiệp tác động đến phần lớn diện tích rừng bị mất ở các vùng nhiệt đới bao gồm: gia súc, dầu cọ, đậu nành và các sản phẩm gỗ (kể cả gỗ và bột giấy).
Cũng trong thời gian này, 80% trong số gần 200 quốc gia ký kết Hiệp định Khí hậu Paris (hồi tháng 12 năm 2015) đã cam kết tuân thủ các biện pháp hạn chế phát thải do mất rừng và hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng khác nhằm giúp đạt được các mục tiêu Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDCs).
Mặc dù những cam kết này được coi là các tín hiệu tốt cho thấy thế giới đang nỗ lực thực hiện để ngăn chặn nạn phá rừng nhiệt đới đang lan rộng cùng những nguy cơ khí hậu mà nó gây ra, nhưng việc phá rừng nhiệt đới phụ vụ sản xuất nông nghiệp hoặc các hoạt động khác của con người vẫn phải chịu trách nhiệm cho ít nhất 10% khí thải carbon toàn cầu.
Do vậy, nhóm tác giả báo cáo cho rằng sự hợp tác sâu rộng hơn giữa các tập đoàn, chính phủ và các bên liên quan khác là rất quan trọng để thực sự đáp ứng các mục tiêu giảm nhẹ biến đổi khí hậu,
Bà Breanna Lujan, chuyên gia phân tích chính sách về khí hậu toàn cầu của EDF, tác giả báo cáo giải thích lý do tại sao các nhà đầu tư tư nhân và các nhà chức trách phải tìm cách hợp tác để ngăn chặn nạn phá rừng rằng: “Các công ty cần một môi trường chính sách pháp luật phù hợp để có thể thực hiện các cam kết giảm phá rừng, trong khi các chính phủ có thể đáp ứng điều này; và các chính phủ sẽ được hưởng lợi rất lớn từ sự tham gia của các bên liên quan để đạt được mục tiêu phục hồi cảnh quan rừng theo cam kết NDC của họ”.
Bà Lujan và các đồng nghiệp đánh giá sức mạnh tổng hợp giữa NDCs của Brazil, Indonesia và các cam kết bền vững của các công ty hoạt động tại hai quốc gia này, từ đó đưa ra các khuyến nghị để các nước khác có thể học hỏi từ hai quốc gia này.
Tại Brazil, một số công ty áp dụng Cam kết không phá rừng (Zero Deforestation Commitments) cũng đang hợp tác với chính phủ và các tổ chức phi chính phủ thực hiện sáng kiến khác như Chương trình Sản xuất, Bảo tồn, Bao gồm (PCI) của bang Mato Grosso nhằm hạn chế phá rừng, thúc đẩy các nỗ lực tái trồng rừng, sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi bền vững hơn.
Các mục tiêu này trùng hợp với những mục tiêu NDCs của Brazil với mức cam kết giảm phát thải khoảng 37% vào năm 2025 và 43% vào năm 2030. Các cải cách về sử dụng đất và lâm nghiệp của chính phủ Brazil cũng nhằm đạt được các mục tiêu cam kết NDCs của Brazil với các kế hoạch chấm dứt hoạt động khai thác gỗ trái phép ở Amazon vào năm 2030 và khôi phục 12 triệu ha rừng nhiệt đới vào năm 2030.
Trong khi đó, Indonesia đã thông qua mục tiêu giảm phát thải 29% vào năm 2030 và mục tiêu này sẽ tăng lên 41% nếu nước này nhận được đầy đủ các trợ tài chính quốc tế thông qua các chương trình như Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng của Liên hợp quốc (REDD+). Quốc gia này cũng đã ban hành một số chính sách ưu tiên bảo tồn và phục hồi rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn.
Bà Lujan cho hay các mục tiêu về khí hậu và bảo vệ rừng của Indonesia khá trùng khớp với các cam kết Không phá rừng, Không than bùn, Không khai khẩn (No Deforestation, No Peat, No Exploitation – NDPE) của nhiều công ty trong nước: “Nhiều công ty đang hợp tác với các chính quyền địa phương để thực hiện các sáng kiến pháp lý, các sáng kiến đa phương nhằm đạt được mục tiêu chung là giảm nạn phá rừng”.
Bà Lujan cũng gọi Cam kết của Kalimantan về Dầu cọ bền vững (Central Kalimantan Jurisdictional Commitment to Sustainable Palm Oil) là một trong những hợp tác công tư tiên tiến nhất nhằm giải quyết nạn phá rừng và hạn chế phát thải ở Indonesia. Sáng kiến này thúc đẩy sự hợp tác giữa các nhóm dân tộc bản địa, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ, những người trồng cũng như thu mua cọ dầu và các nông hộ nhỏ xung quanh để nhận được chứng nhận bền vững cho tất cả dầu cọ được sản xuất tại tỉnh Kalimantan vào năm 2019.
Tất nhiên, các sáng kiến cấp quốc gia và cấp địa phương ở hai quốc gia này không phải là những ví dụ duy nhất trên thế giới. Các tác giả của báo cáo cũng dẫn ra một số hợp tác điển hình nhằm giảm thiểu nạn phá rừng và ô nhiễm môi trường như Tuyên bố của New York về Rừng (New York Declaration on Forests ) và Chiến lược Rừng Nhiệt đới năm 2020 (Tropical Forest Alliance 2020) của Liên hiệp quốc.
Các bài học từ Brazil và Indonesia cho thấy các cam kết không phá rừng của doanh nghiệp khi được hậu thuẫn bởi các chính sách mạnh mẽ của chính phủ và ủng hộ bởi các đối tác đa bên sẽ giúp các nước đạt được mục tiêu giảm nạn phá rừng và tăng cường phục hồi cảnh quan rừng. (Bảo Vệ Rừng & Môi Trường 11/8) đầu trang(
Nhằm cùng lúc bảo vệ rừng và đảm bảo sản xuất sinh khối rừng bền vững, lần đầu tiên một bản đồ toàn cầu về các khu rừng được cấp chứng chỉ đã được hoàn thành dựa trên cách tiếp cận có sự tham gia và tinh thần hợp tác.
Việc sử dụng các sản phẩm sinh khối rừng ( như gỗ, gỗ nhiên liệu, giấy) một cách bền vững mà không phá hủy nguồn tài nguyên rừng hoặc làm suy giảm đa dạng sinh học rừng đòi hỏi phải có sự minh bạch trong nguồn gốc và quản lý rừng. Để có thể tiến hành quản lý rừng bền vững, trước hết cần khoanh vùng khu vực rừng. Bằng cách chỉ ra các khu rừng đã được cấp chứng chỉ và mối liên hệ giữa chúng với đất rừng chưa được cấp chứng nhận và rừng nguyên sinh, một bản đồ toàn cầu lần đầu tiên được công bố vào tháng 6 năm 2017 cung cấp dữ liệu cơ sở nhằm hướng tới việc sử dụng tài nguyên bền vững.
Để khắc phục sự thiếu hụt các dữ liệu công khai về chứng chỉ rừng ở cấp địa phương, bản đồ toàn cầu cung cấp chi tiết đến độ phân giải 1km ở các diện tích rừng này.
Bản đồ được cung cấp trực tuyến trên trang Geo- wiki.org và được miêu tả chi tiết trong một bài báo của tạp chí Chính sách lâm nghiệp và Kinh tế, đồng thời bản đồ này được phát triển bởi các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Hệ thống Phân tích ứng dụng Quốc tế (IIASA) kết hợp Viện nghiên cứu Mercator về vấn đề toàn cầu và biến đổi khí hậu (MCC ) cùng với Đại học Khoa học Đời sống Na Uy (NMBU).
Bản đồ mới có sự kết hợp số liệu thống kê cấp quốc gia với các sản phẩm viễn thám hiện đại, mang tính ứng dụng cao cho cộng đồng. Phương pháp tiếp cận với độ phân giải cao được áp dụng cho chứng chỉ rừng và tính bền vững cho phép nhiều người sử dụng, bao gồm các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu, các tổ chức lâm nghiệp, các nhà đầu tư tư nhân và đại đa số công chúng có thể tra cứu khu vực rừng mà họ quan tâm. Đây cũng là một bước tiến quan trọng trong sự tín nhiệm và minh bạch.
Giám đốc chương trình quản lý hệ thống sinh thái IIASA kiêm trưởng ban dự án Florian Kraxner cho biết: “Đây là công cụ đầu tiên mà người sản xuất và khai thác rừng có thể tìm thấy những thông tin họ cần cho sự bền vững sinh khối rừng. Để xác định tiềm năng sinh khối âm thanh của môi trường, từ cấp địa phương cho đến toàn cầu, bản đồ này man tính quan trọng nhằm thể hiện sinh khối rừng có xuất phát từ việc quản lý bền vững hay không. Bản đồ mới này cũng là công cụ duy nhất cung cấp các thông tin liên quan đến rừng ở độ phân giải cao”.
Để hỗ trợ xác nhận dữ liệu, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nguồn tương tác trực tuyến Geo-Wiki như một công cụ lập bản đồ có sự tham gia và hợp tác của nhiều người sử dụng nhằm đưa ra những phản hồi để cải thiện bản đồ. Bản đồ chứng nhận rừng cũng có thể truy cập công khai trên nền tảng được xây dựng sẵn.
Nhà nghiên cứu của IIASA Dmitry Schepaschenko đồng thời là người thiết kế bản đồ trên Geo- Wiki cho biết: “Chúng tôi sử dụng dữ liệu theo quy mô quốc gia và tính toán sao cho độ phân giải giảm xuống còn 1 km. Sau đó, chúng tôi đưa bản đồ lên Geo-Wiki, qua trang web này, mọi người có thể giúp chúng tôi cải thiện các dữ liệu”.
Trước khi bản đồ chứng nhận độ phân giải cao này được phát hành, có rất ít số liệu thống kê có thể truy cập công khai, thay vào đó chỉ cho phép đánh giá tổng quát ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, bản đồ toàn cầu hoàn toàn phù hợp với các dữ liệu chứng nhận gần đây, ví dụ như Hội đồng Quản lý Rừng (FSC) và Chương trình Xác nhận Chứng nhận Rừng (PEFC) quy mô quốc gia.
Thêm vào đó, việc kết hợp dữ liệu rừng nguyên sinh với dữ liệu khu vực rừng được bảo vệ trên cùng một bản đồ với thông tin về các khu rừng được quản lý và chứng nhận góp phần chống nạn phá rừng và ngăn chặn sự xuống cấp của rừng. Điều này một lần nữa ủng hộ việc hoạch định chính sách hiệu quả, thể hiện trong việc phối hợp các hiệp định về môi trường lên các cánh rừng trên toàn thế giới.
Theo nhà nghiên cứu Sabine Fuss: “Chúng ta phải đảm bảo sinh khối được chuyển đổi thành các dạng năng lượng không tác động đến những nỗ lực giảm thiểu biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học. Bản đồ này là một công cụ được mong chờ từ lâu, đồng thời cũng là một biện pháp bảo vệ môi trường bền vững”. (Bảo Vệ Rừng & Môi Trường 13/8)đầu trang(./.
|
|||