|
Ngày 13 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Hiện nay, đã bắt đầu bước vào mùa khô hanh với dự báo sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao. Chính vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) đã được các ngành chức năng đặc biệt quan tâm, chủ động phương án ứng phó, nhất là tuyến cơ sở.
Gia đình ông Má Văn Hoa, thôn Tân Hồ, xã Phú Nhuận (Bảo Thắng) có gần 1 ha rừng. Bước vào mùa khô hanh, ông Hoa đã chủ động phòng, chống cháy rừng bằng cách dọn lá khô, làm đường băng đề phòng trường hợp xảy ra hỏa hoạn từ khu vực lân cận. Việc nêu cao ý thức như ông Hoa đã góp phần bảo vệ an toàn các cánh rừng tại xã Phú Nhuận trước “giặc lửa” trong nhiều mùa khô hanh.
Theo thống kê, toàn xã Phú Nhuận có trên 1.200 ha rừng sản xuất. Việc triển khai công tác bảo vệ và PCCCR luôn được chính quyền địa phương coi trọng, trong đó có việc kiện toàn lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng, nhất là các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng.
Còn tại huyện Bát Xát, địa phương có gần 60.000 ha rừng, trong đó rừng trồng trên 12.000 ha, còn lại là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Ngay từ đầu mùa khô, công tác PCCCR đã được huyện Bát Xát và các chủ rừng quan tâm xây dựng phương án cụ thể, chuẩn bị các điều kiện như phương tiện, lực lượng tham gia ứng cứu nếu có cháy rừng xảy ra.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Bá Viện, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bát Xát cho biết: “Trong những ngày thời tiết khô hanh, chúng tôi sẽ tăng cường tuần tra, kiểm soát rừng, hướng dẫn người dân, chủ rừng thực hiện nghiêm các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Hiện, trên địa bàn huyện đã thành lập 24 tổ xung kích cấp huyện và cấp xã, 239 tổ quần chúng tham gia chữa cháy rừng ở thôn, bản gần rừng với gần 2.000 thành viên”.
Toàn tỉnh hiện có trên 418.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 1/3 diện tích là rừng sản xuất, số còn lại là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ. Theo đánh giá của Ban Chỉ huy PCCCR tỉnh, Lào Cai thường xuyên có trên 153.000 ha rừng có nguy cơ cháy khá cao, trong đó, rừng tự nhiên trên 118.000 ha, rừng trồng trên 40.000 ha, tập trung ở các khu vực: Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn và các huyện Bát Xát, Sa Pa, Mường Khương...
Thống kê của ngành kiểm lâm cho thấy, từ năm 2010 - 2015, trên địa bàn tỉnh xảy ra trên 100 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 950 ha. Thời điểm cháy rừng thường vào các tháng cao điểm mùa khô hanh (tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau). Về nguyên nhân, có 44% số vụ cháy rừng là do người dân phát, đốt dọn thực bì để làm nương gây cháy lan vào rừng.
Để công tác PCCCR trong mùa khô năm 2016 - 2017 đạt hiệu quả cao, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tham mưu cho UBND các huyện, thành phố kiện toàn ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ, PCCCR cấp xã và các chủ rừng.
Lực lượng kiểm lâm tăng cường huấn luyện nghiệp vụ, kỹ năng PCCCR cho các chủ rừng và lực lượng tham gia chữa cháy rừng ở địa phương. Tại những khu vực có nguy cơ cháy cao, vào thời gian cao điểm, tổ chức cán bộ trực 24/24 giờ để theo dõi, tiếp nhận thông tin cháy rừng, chủ động về lực lượng và phương tiện để sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra.
Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, được các đơn vị kiểm lâm tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện. Năm 2016, Chi cục Kiểm lâm và hạt kiểm lâm các huyện, thành phố đã triển khai 50 buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ và phát triển rừng, với trên 2.200 lượt người tham gia. Tổ chức 17 cuộc kiểm tra công tác PCCCR tại các địa phương, đồng thời tổ chức nhiều hội nghị về công tác này tại các xã có rừng.
Đến nay, mỗi thôn, bản trên địa bàn tỉnh đều thành lập tổ PCCCR tại chỗ có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tại những khu vực rừng có nguy cơ cháy cao trong mùa khô hanh, nhằm kịp thời phát hiện cháy và xử lý kịp thời.
Tuy nhiên, công tác PCCCR và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn một số khó khăn, như lực lượng kiểm lâm cơ sở còn mỏng; trách nhiệm của một số chủ rừng chưa cao; hệ thống đường giao thông vào rừng nhỏ, hẹp, nhiều khu vực không có đường đi lại, nên khi xảy ra cháy rừng, rất khó huy động người và phương tiện tham gia chữa cháy.
Trao đổi với chúng tôi, ông Vũ Hồng Điệp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Xác định nguyên nhân nhiều vụ cháy rừng xảy ra những năm trước là do người dân sử dụng lửa bất cẩn, nên Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân và chủ rừng về công tác PCCCR.
Chi cục phối hợp với các địa phương cử cán bộ xuống tận địa bàn để hướng dẫn nhân dân phương pháp đốt nương an toàn, chấp hành nghiêm quy định bảo vệ rừng; đồng thời, tập trung kiện toàn lực lượng chữa cháy rừng tại cơ sở, tổ chức luyện tập, diễn tập chữa cháy rừng và xây dựng phương án PCCCR theo phương châm “bốn tại chỗ”. (Báo Lào Cai 13/12) đầu trang(
Chỉ tính những vụ việc phản ánh thông tin trên Báo Quảng Ninh thì từ đầu tháng 12 đến nay, mới chỉ chưa đầy 2 tuần, đã xảy ra 3 vụ cháy rừng thuộc địa bàn TP Hạ Long và TX Đông Triều. Hẳn ai cũng biết, đang là mùa hanh khô và hơn bao giờ hết, thời điểm này rất dễ bị “hỏa tặc” tấn công nếu thiếu sự phòng ngừa nghiêm ngặt từ nhiều phía.
Hai vụ cháy mới nhất, một vụ tại tiểu khu 102, phường Hà Khánh, TP Hạ Long vừa xảy ra vào chiều ngày 10-12 và ngày hôm qua, 12-12 lại tiếp tục một vụ nữa tại thôn Hoàng Sơn, xã Hoàng Quế, TX Đông Triều. Các diện tích cháy rừng tuy không nhiều, chỉ từ 1 đến 2ha và về cơ bản đều được khống chế nhưng cũng đã khiến các lực lượng từ kiểm lâm đến Công an PCCC và các đơn vị phối hợp phải huy động nhiều vật lực, công sức.
Như vụ cháy ở tiểu khu 102, để dập tắt hoàn toàn thì lực lượng Công an PCCC và các đơn vị ngành Than đã huy động tới 10 xe cứu hoả. Được biết, vị trí cháy là rừng ngoài quy hoạch nhưng điều này không đồng nghĩa với việc các yếu tố liên quan đến công tác phòng chống cháy rừng bị “buông xuôi”.
Đáng chú ý, cả 2 vụ cháy nói trên đều có mồi lửa xuất phát từ đám cỏ thực bì phía chân rừng, sau khi gặp gió đã “liếm” rừng nhanh chóng. Đặc biệt, tại khu vực tiểu khu 102, trước đó, vào ngày 6-12 cũng đã bị cháy 2ha rừng sản xuất. Hiện cơ quan chức năng đang tập trung điều tra làm rõ nguyên nhân của 3 vụ cháy rừng nói trên.
Trong Công văn mà UBND tỉnh vừa ban hành mới đây (số 7207/UBND-NC, ngày 8-11) về việc triển khai thực hiện Công điện số 1926/CĐ-TTg ngày 2-11-2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng cháy, chữa cháy đã nêu rất rõ: Thời gian qua, công tác phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực; tuy nhiên, bước vào mùa hanh khô, tiềm ẩn nguy cơ số vụ cháy, nổ có chiều hướng gia tăng.
Trước đó, cuối tháng 10-2016, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-UBND về tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy trong mùa hanh khô 2016-2017. Theo đó, các ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp phải xác định công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên hàng ngày, chú trọng phòng cháy, sẵn sàng chữa cháy theo phương châm 4 tại chỗ.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, điều chúng tôi trăn trở ở đây chính là ý thức về phòng, chống cháy rừng của mỗi người dân. Chúng ta đều biết, chỉ cần một động tác sơ sểnh nhỏ tưởng chừng như vô ý của một cá nhân như vất một que diêm đang cháy hay vẩy một tàn thuốc ở chỗ dễ dàng bắt lửa như đám cỏ khô, lá khô thì hậu quả ra sao hẳn ai cũng đoán định được.
Chính vì vậy, công tác tuyên truyền trong nhân dân vẫn cần phải được đẩy mạnh và thường xuyên dưới nhiều hình thức mà trong đó cấp uỷ, chính quyền cơ sở cùng các lực lượng chức năng phải là nòng cốt để triển khai. Chúng ta đã thực hiện hiệu quả việc ký cam kết không đốt pháo nổ hay giữ gìn vệ sinh môi trường ở đường làng, ngõ phố vậy cam kết phòng, chống cháy rừng có thực hiện được không khi người dân là chủ thể chính. Điều này chắc chắn không khó. (Báo Quảng Ninh 13/12) đầu trang(
Đến xã Dân Chủ, ngoại ô TP Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình), chúng tôi vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi được chiêm ngưỡng rừng lim xanh cổ thụ. Ở nơi cận kề phố xá mà như được lọt giữa rừng sâu núi thẳm, để rồi càng trân trọng những con người nơi đây đã gắng công gìn giữ khối tài sản tự nhiên vô giá.
Khu rừng cổ thụ của xóm Bái Yên, xã Dân Chủ, san sát những cây lim đứng vững chãi, cây nào cũng xù xì to lớn đường kính cỡ trên dưới một mét.
Cây nọ nối tiếp cây kia tạo thành tán rừng râm mát, tàng cây dày đến độ những tia nắng mặt trời cũng không thể xuyên qua nổi tầng lá.
Ông Hoàng Văn Hon, trưởng xóm Bái Yên cho biết: “Cánh rừng này có từ thuở xa xưa. Mọi người dân trong xóm đều coi đây như là linh vật của trời đất và cha ông để lại. Cả khu rừng đã chở che, làm nên sự yên bình cho xóm làng. Có rừng là có nước, có thức ăn, có suối nguồn tuôn chảy. Ý thức được điều đó, nên người dân chúng tôi cùng bảo nhau không được phá rừng”.
Theo ông Hon, cách đây hơn 20 năm, “cơn sốt” gỗ quý bỗng nhiên nổi lên, lâm tặc rình rập những cây lim cổ thụ tuổi hàng trăm năm này. Cứ đêm đến, chúng dùng cưa cắt cây mang đi, và sáng hôm sau người dân phải chứng kiến những cành cây đổ ngổn ngang. Trước thực trạng đau lòng đó, trong xóm có 2 người đã đứng ra xin bảo vệ và phục hồi rừng lim cổ thụ, đó là ông Nguyễn Tiến Tý và ông Nguyễn Văn Nghiêm.
Từ năm 2001, ông Nguyễn Tiến Tý đã lập Dự án bảo vệ phát triển rừng kết hợp kinh tế trang trại nông - lâm tổng hợp tại xã Dân Chủ, trình lên xã và thị xã Hòa Bình (nay là TP Hòa Bình) và được lãnh đạo chính quyền ủng hộ.
Dưới những gốc lim cổ thụ, ông Tý say sưa kể cho chúng tôi nghe chuyện giữ gìn cánh rừng quý này. Sau khi đã được nhận bảo vệ và trồng rừng lim, hai ông Tý và Nghiêm đã chuyển nhà từ trong xóm đến gần rừng lim ở. Đêm nào lâm tặc cũng rình rập để chặt cây, nên 2 ông lúc nào cũng phải bám rừng “đi tuần” để kiểm tra.
“Mình ở đây thì chúng nó rút, mình rút thì chúng nó lên rừng. Những đối tượng này chủ yếu ở địa bàn khác đến, chúng có thể ngồi hàng ngày, hàng đêm để rình. Cứ có tiếng động lạ trong rừng hoặc có nguồn tin báo là phải tức tốc đi kiểm tra ngay. Bởi lẽ mỗi một cây lim bị lâm tặc hạ bệ chẳng khác nào một nhát dao chém vào mình vậy”, ông Tý tâm sự.
Trong suốt hơn 15 năm qua, 2 ông đã dốc sức bảo vệ tốt rừng lim, nhặt hạt cây tự ươm giống để trồng bổ sung cây lim xanh vào các khoảng trống đảm bảo mật độ 200 cây/ha theo mục tiêu dự án. Đến nay, rừng lim đã được mở rộng diện tích ra trên 50ha. Trong khu rừng hiện có hơn 300 cây lim cổ thụ được đánh số để bảo vệ.
“Theo tiêu chí của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, những cây sống trên 200 năm được coi là Cây Di sản Việt. Nếu xét theo tiêu chí này, rừng lim này có trên 200 cây được coi là Cây Di sản”, ông Tý cho hay.
Được biết, những năm gần đây, hiện trường 2 rừng lim do ông Tý cùng gia đình và bà con trong trong xóm nỗ lực bảo vệ tốt đã được Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) chọn là địa điểm thực hành các bài giảng về Biến đổi khí hậu và REDD+ cho các cán bộ của cơ quan Trung ương, các Viện nghiên cứu, trường đại học nông lâm nghiệp, các nhà báo, giới truyền thông và các tổ chức phi chính phủ.
Bên cạnh niềm vui, ông Tý cũng kể cho chúng tôi nghe về nỗi buồn - một “nỗi oan” của riêng ông. Đó là việc ông bị xử phạt về vụ việc phát 2.500m2 rừng tại lô 2 khoảnh 4 trong diện tích dự án, và hiện đang bị đình chỉ trồng cây trong khu rừng được giao.
Theo đó, trước tháng 4/2014, lô 2 khoảnh 4 có diện tích khoảng trên 5.000m2 hiện trạng rừng rất ít cây gỗ tái sinh thực bì, chủ yếu là cỏ dại. Ông Tý thuê ông Bùi Văn Bời (người ở huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) đến để phát cỏ cây trong khu rừng.
“Mục tiêu tôi phát cây cỏ tại khu đất để trồng bổ sung cây có giá trị kinh tế và trồng xen một số loài cây dược liệu dưới tán. Từ ngày 2/6 đến ngày 12/6/2014 do tôi không giám sát cụ thế đã để ông Bùi Văn Bời và con trai ông Bời không hiểu rõ việc luỗng phát, nên 2 người này đã phát hết dây leo, cây bụi trên diện tích 2.500m2. Ngay sau khi phát hiện sự việc phát rừng trắng tôi và gia đình đã tự giác mang cây keo trồng và đào hố trồng cây bản địa với mục đích khắc phục lại diện tích rừng thiệt hại trên”, ông Tý khẳng định.
Khi sự việc phát trắng cây bụi xảy ra, thì cán bộ kĩ thuật Hạt Kiểm lâm được nhà nước giao trách nhiệm giám sát thực hiện dự án bảo vệ rừng lim là ông Nguyễn Xuân Hùng đã lập biên bản ghi rằng phá rừng với diện tích được ghi vống lên 2,6ha.
Ông Tý kể: “Tôi đã nhiều lần kiến nghị lên cơ quan chức năng đề nghị kiểm tra thực trạng, phần diện tích rừng bị phát trắng, nhưng không được họ quan tâm. Trong thời gian đầu năm 2015, tôi trồng bổ sung cây vào khu đất trống, nhưng cán bộ Hạt Kiểm lâm không kiểm tra đánh giá tại hiện trường nên không biết tôi đã trồng cây gì.
Đến ngày 24/6/2015, đoàn Hội đồng nhân dân thành phố đi kiểm tra không có số liệu làm cơ sở đánh giá việc thực hiện trồng bổ sung.
Tại hội nghị đánh giá tại hội trường UBND xã Dân Chủ sau khi đi hiện trường, tôi nói rằng Hạt Kiểm lâm tham mưu cho UBND TP phạt hành chính áp vào khung loại rừng IIa là chưa phù hợp vì cơ sở xác minh thực tế ngày 24/9/2014 diện tích luỗng phát để trồng bổ sung là rừng nghèo kiệt. Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm trả lời rằng việc xác minh hiện trường vào năm 2014 không có giá trị. Tôi bị oan mà chẳng biết kêu ai”.
Suốt gần 2 năm qua, ông Tý và gia đình đã chấp hành đúng các yêu cầu thông báo tạm đình chỉ của UBND xã Dân Chủ.
Ông Tý khẩn thiết bày tỏ: “Tôi nhận trách nhiệm do không giám sát để người khác phát trắng một phần diện tích trong khu rừng. Tôi và gia đình nhận khắc phục lại diện tích rừng trên bằng biện pháp trồng mới cây bản địa và chăm sóc, xúc tiến tái sinh tự nhiên đảm bảo theo mục tiêu dự án đề ra, thế nhưng Hạt Kiểm lâm địa phương không cho, và đình chỉ mọi hoạt động trồng cây gây rừng của tôi.
Suốt 15 năm qua, tôi và gia đình đều thực hiện các bước theo mô hình xây dựng lâu dài và thường xuyên báo cáo với địa phương theo dõi và chỉ đạo, chỉ vì vụ việc trên mà khi cán bộ hạt kiểm lâm khi kiểm tra không đánh giá khách quan mà cho là phá rừng là không thực tế.
Nay xin cho tôi được tiếp tục triển khai trồng rừng theo dự án. Tôi cũng kính đề nghị được hỗ trợ theo chính sách về lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng theo QĐ/178 về hưởng lợi từ rừng của chính phủ nay theo Hướng dẫn 657/TCLN-KHTP ngày 10/5/2013 của Tổng cục Lâm nghiệp, vì từ khi nhận khoán rừng đến nay tôi chưa được hưởng chính sách gì”. (Nông Nghiệp Việt Nam 12/12) đầu trang(
Phòng Cảnh sát Kinh tế, Công an tỉnh Đắc Lắc vừa phát hiện, xử lý 1 xe tải chở nhiều gỗ lậu từ huyện Ea Súp ra TP Buôn Ma Thuột.
Trong quá trình làm nhiệm vụ tại tỉnh lộ 1, đoạn qua phường Thành Nhất – TP Buôn Ma Thuột, Công an tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện xe tải biển số 51C-178.81 do tài xế là Nguyễn Văn Trung cùng hai phụ xe là Đinh Trung Hiếu và Đinh Văn Thu, điều khiển có nhiều nghi vấn.
Qua kiểm tra, tổ công tác xác định trên xe chở 3.190 thanh gỗ thành phẩm thuộc nhóm III đến nhóm VII, với tổng khối lượng quy tròn gần 13 m3 và 45 lóng gỗ tròn khác có khối lượng gần 17,9 mét khối. Tất cả các lóng gỗ tròn đều không có dấu búa của kiểm lâm.
Tại thời điểm kiểm tra, lái xe Nguyễn Văn Trung cũng không xuất trình được một thứ giấy tờ gì chứng minh nguồn gốc hợp pháp của toàn bộ số gỗ chở trên xe.
Bước đầu, tổ công tác đã làm rõ: sau khi được một đối tượng thuê, Trung và hai phụ xe chở 26 m3 gỗ này từ huyện Ea Súp ra TP Buôn Ma Thuột, nhưng đến đoạn đường trên thì bị phát hiện. (ANTV 12/12) đầu trang(
Sáng 12/12, UBND tỉnh Đắk Nông vừa có công văn chỉ đạo yêu cầu Công an tỉnh, Công an huyện Cư Jút khẩn trương điều tra làm rõ hành vi của nhóm lâm tặc có hành vi đe dọa, tấn công lực lượng kiểm lâm để cướp tang vật.
Theo đó, vào tối 21/11, lực lượng Hạt kiểm lâm huyện Cư Jút gồm ông Trần Ngọc Thịnh và Nguyễn Phước Thành trong quá trình tuần tra kiểm soát thì phát hiện 2 đối tượng điều khiển xe máy mang BKS 48 F6-8901 và 47L5-4153 vận chuyển trái phép 9 phách gỗ xẻ, chủng loại gỗ mật, thuộc nhóm IIA.
Tổ công tác cùng lực lượng hạt kiểm lâm huyện quyết định đưa tang vật vi phạm về trạm xử lý. Tuy nhiên, khi chuẩn bị đưa tang vật cùng phương tiện vi phạm đi thì có 5 đối tượng cầm dao đến chặt dây thừng buộc gỗ để cướp lại 2 xe máy, đồng thời cầm gậy đe dọa lực lượng đang thực hiện nhiệm vụ.
Trong 5 đối tượng này, lực lượng chức năng xác định có Nguyễn Phương Duy (trú xã Nam Dong, huyện Cư Jút). Duy là người dí dao vào cổ một cán bộ kiểm lâm huyện Cư Jút đe dọa, trong khi các đối tượng khác dùng gậy uy hiếp các thành viên của tổ công tác, ngăn cản không cho đưa gỗ tang vật về trạm.
Sau đó các đối tượng này còn kéo đến gia đình ông Phạm Ngọc Tùng (cán bộ kiểm lâm huyện) chửi bới, đe dọa người trong gia đình ông Tùng. Khi có lực lượng công an xã Đắk D’rông và người dân can thiệp đám người này mới bỏ đi.
Ông Trần Văn Giảng, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Cư Jút (Đắk Nông) cho biết, ngay sau khi bị 5 đối tượng lạ mặt dùng dao và gậy đe dọa, cướp lại xe tang vật, đơn vị đã báo cáo Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông. Đến ngày 29/11, đơn vị này có báo cáo, đề nghị cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, xử lý vi phạm. (Dân Trí 12/12) đầu trang(
Mới đây, Phòng GD-ĐT huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) phối hợp với Vườn quốc gia Yok Đôn tổ chức sân khấu hóa cuộc thi “Tìm hiểu về bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Yok Đôn”.
Cuộc thi được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 10-12, cho bốn khối học sinh Trường THCS Lê Hồng Phong, tại UBND xã Ea Huar (huyện Buôn Đôn). Theo thể lệ cuộc thi, mỗi lớp sẽ cử một đội gồm 10-15 học sinh, với tên mỗi đội gọi theo một loài cây hay một loài động vật (như Xà Nu, Voi Con, Nai Cà Tông...).
Các bạn học sinh sẽ trải qua các vòng thi kiến thức, lựa chọn gói câu hỏi với nội dung liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Yok Đôn. Các câu hỏi sắp xếp theo các chủ đề: lịch sử, hệ động vật, thực vật của Vườn quốc gia Yok Đôn...
Điều đặc biệt của cuộc thi là ngoài việc tìm hiểu kiến thức, các học sinh ở mỗi đội sẽ nhập vai vào các nhân vật như kiểm lâm, trưởng thôn, bí thư Đoàn, và cả... lâm tặc, để thực hiện các tiểu phẩm với thông điệp tuyên truyền về việc bảo vệ rừng. Toàn bộ kịch bản đều do học sinh tự soạn và tập luyện dưới sự hướng dẫn của giáo viên từ nhiều tuần trước.
Thầy Lê Thanh Dương, phó hiệu trưởng Trường THCS Lê Hồng Phong, cho biết cuộc thi là cơ hội để các học sinh được trình bày những hiểu biết, mối quan tâm của mình về rừng và vai trò của rừng đối với cuộc sống.
“Sau cuộc thi, mỗi em học sinh Trường THCS Lê Hồng Phong cũng có thể trở thành một tuyên truyền viên nhí trong trường học, gia đình và cộng đồng về bảo vệ môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, đây cũng là cơ hội để học sinh vận dụng kiến thức liên môn, giải quyết các tình huống thực tiễn” - thầy Dương nói.
Ông Trần Đức Phương, phó giám đốc Trung tâm giáo dục môi trường và dịch vụ Vườn quốc gia Yok Đôn, cho biết: “Những năm trước, việc tuyên truyền kiến thức cho học sinh chỉ qua lý thuyết và giảng dạy bằng hình ảnh trên máy chiếu. Năm nay, chúng tôi cho các em tự tìm hiểu kiến thức, dựng kịch bản và nhập vai vào các nhân vật. Dự kiến, sắp tới chương trình sẽ tổ chức thêm các cuộc thi tương tự tại năm điểm trường ở Đắk Lắk”. (Tuổi Trẻ 13/12) đầu trang(
Phát hiện 13 loài và chi mới chỉ trong 13 năm, tốc độ khám phá đó của thạc sỹ (ThS) Phạm Văn Thế có lẽ một phần nhờ vào thói “nghiện” cây cỏ đến quên trời quên đất. Gặp một loài hoa đẹp, anh có thể loay hoay ngắm nó một cách háo hức, mải mê hàng tiếng đồng hồ.
“Nếu người hướng dẫn khoá luận tốt nghiệp đại học cho tôi không phải là TS Nguyễn Tiến Hiệp của Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam thì có lẽ bây giờ tôi là nhân viên kiểm lâm theo đúng ngành học ở Đại học Lâm nghiệp” - ThS Thế chia sẻ. “Hồi đó chú Hiệp dặn ra trường, nếu chưa tìm được việc thì đến làm dự án với chú”.
Và Thế đến thật. Công việc đầu tiên của anh với tư cách nhà thực vật học là điều tra đa dạng sinh học trên các đảo ở Hạ Long, gồm xác định tình trạng của loài, số cá thể, quần thể và rủi ro mà chúng đối mặt.
“Chúng tôi lấy cả mẫu các loài sống cùng loài đó để xác định hệ sinh thái mọc cùng cây chính. Khi cần nhân giống, các nhà khoa học sẽ dựa vào báo cáo, tìm địa điểm tương tự để trồng. Nếu phát hiện loài chưa từng được công bố, chúng tôi sẽ mô tả và đặt tên” - anh hào hứng.
Từ chỗ mê mẩn vẻ đẹp nguyên sơ của vùng vịnh Hạ Long, Phạm Văn Thế bị cuốn hút vào thế giới bí ẩn, thiên hình vạn trạng của cây cỏ, không rứt ra được. Chàng “kiểm lâm hụt” bước ngày một sâu hơn vào khu rừng khoa học, loáng cái đã 13 năm.
Là nhà khoa học, nhưng thời gian ThS Thế lang thang trong rừng nhiều hơn trong phòng lab. Mỗi chuyến đi của anh thường kéo dài từ 2 tuần đến 2 tháng, hết thu mẫu ở thực địa đến nhốt mình trong lab để phân tích.
“Với người khác, nhịp điệu đó có thể chậm rãi, tẻ nhạt; nhưng tôi sung sướng mỗi khi hít thở không khí trong rừng. Gặp loài hoa đẹp, tôi dành hàng tiếng đồng hồ ngắm nghía, chụp ảnh, trước để khoe bạn bè, sau dùng làm tư liệu. Loài nào lạ, tôi cắt một cành hoa mang về, đêm lôi ra cắt, rạch, đo đếm và chụp ảnh các chi tiết nhỏ của hoa” - ThS Thế cười.
Đồng nghiệp của anh - nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Khang - tỏ vẻ không lạ gì thói mê cây của anh: “Chuyện anh Thế ngắm một cái cây suốt nhiều giờ thì tôi chứng kiến nhiều rồi. Tôi nhớ hồi năm 2013, chúng tôi sang Lào điều tra đa dạng sinh học ở một khu núi đá vôi hiểm trở đến mức dân bản địa cũng không chịu dẫn đi. Vậy mà hai anh em vẫn đi bằng được để khám phá các loài cây ở đây”.
Vì vậy ở tuổi 36, gia tài khoa học của anh đã khá bề thế với 11 chi và loài thực vật mới ở Việt Nam, 2 loài mới ở Lào được anh và đồng nghiệp phát hiện, mô tả. Tên anh đã được đặt cho 1 chi thực vật mới là Theana và 3 loài mới là phong lan Thế Việt Theana vietnamica, tỏi rừng Thế Tupistra theana và địa lan Thế Gastrodia theana.
“Loài mới đầu tiên được tôi phát hiện và mô tả là Cẩm cù lộc - loài đặc hữu của Thừa Thiên - Huế với hoa màu trắng ngà, mùi sôcôla đậm đặc, sống bám trên các cành cây, hốc cây trong rừng rậm nguyên sinh mùa mưa nhiệt đới ở độ cao 1.000m. Tôi lấy tên người thầy đáng kính - GS-TS Phan Kế Lộc - để đặt cho nó” - anh tâm sự.
Bên cạnh niềm phấn khích khi phát hiện loài mới, thực tế công việc cũng đem lại cho ThS Thế nhiều trăn trở về mối đe doạ từ sự khai thác quá mức của con người đối với đa dạng sinh học. Vì vậy, bảo tồn, phát triển gene quý là công việc anh tâm đắc.
“Chuyện bảo tồn và nhân giống chúng ta đã làm tốt, nhưng bảo vệ cây trước sự khai thác của con người vẫn đang là bài toán nan giải. Ở nước ngoài, khi nhà khoa học công bố một loài lan đẹp mới, cơ quan chức năng lập tức có biện pháp bảo vệ tuyệt đối. Việt Nam chưa có cơ chế nhanh và mạnh như vậy. Khi loài mới được công bố, chỉ trong thời gian ngắn, dân buôn lan đã thu mua hết các cá thể trong khu vực, như lan hài cảnh, người ta ra giá cả nghìn USD một cây” - ThS Thế xót xa về sự khai thác theo kiểu tận diệt, có thể đẩy nhiều loài vào ngưỡng tuyệt chủng.
“Loài hoàng đàn ở Hữu Lũng, Lạng Sơn rất quý, nhưng bị khai thác quá mức nên giờ chỉ còn khoảng 30 cá thể. Điều đáng lo là chúng tôi hầu như không phát hiện cây con tái sinh. Ở Hà Giang, loài bách vàng cũng rơi vào tình trạng này”.
Nếu không tìm được cách tái sinh cây con, những loài này có thể biến mất hoàn toàn. Cùng với các đồng nghiệp tâm huyết, ThS Thế đang nỗ lực góp sức mình để chống lại viễn cảnh đó. Dự án nhân giống cây bách vàng ở Hà Giang do TS Nguyễn Tiến Hiệp chủ trì có sự tham gia của anh.
“Chúng tôi thu cành non, ươm cho ra rễ và trồng trong khu nhà dân để bảo tồn. Việc nhân giống loài hoàng đàn ở Hữu Liên cũng đạt kết quả tốt với 70-80% số cành đâm rễ và phát triển khỏe mạnh” - ThS Thế chia sẻ. Nhà khoa học trẻ đang tập trung vào mục tiêu tăng khả năng tái sinh tự nhiên và nhân giống từ hạt cho những loài cây bị đe dọa tuyệt chủng, góp phần làm dày thêm danh sách những loài quý hiếm được bảo tồn ở Việt Nam. (Khoa Học Phát Triển 13/12) đầu trang(
Liên quan sự việc người dân thôn Đông Cốc (xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) ẩu đả ngay tại cuộc họp triển khai phương án khai thác cây sưa 200 tuổi, lãnh đạo Sở VH-TT&DL Bắc Ninh cho biết việc bán đấu giá đã được các cấp ngành chức năng chấp thuận. Phía Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã có văn bản xác định rằng cây sưa này đã chết.
Chia sẻ với PV Báo GĐ&XH, ông Nguyễn Văn Khuyến (SN 1960, trú thôn Đông Cốc) – người đã dồn nhiều tâm huyết cho hành trình “đòi quyền lợi về cho thôn Đông Cốc” cho biết: “Ngay từ đầu, người dân trong thôn đã không đồng ý với cách giải quyết của chính quyền xã Hà Mãn và huyện Thuận Thành. Thế nên mọi việc cứ bị lần nữa mãi không giải quyết được”.
Theo lời ông Khuyến, trong khuôn viên đình Đông Cốc nằm trên địa phận thôn có 3 cây sưa đỏ quý hiếm, niên đại lần lượt là khoảng 50 tuổi, 200 tuổi và 400 tuổi. Trước đây do đình xuống cấp, nên vào năm 2008, người dân địa phương đã đồng thuận bán đi cây sưa 50 tuổi có dấu hiệu bị mục và một cành nhỏ của cây sưa 200 tuổi cho một người đàn ông tên Hải, một chủ gỗ có tiếng ở Bắc Ninh.
Đầu năm 2013, ông Hải mang theo một người đàn ông Trung Quốc quay lại thôn Đông Cốc đặt vấn đề khảo sát để mua tiếp cây sưa 200 tuổi. Trưởng thôn Đông Cốc thời ấy là ông Nguyễn Văn Ngư đã tiếp 2 vị khách và đưa họ vào khoan lõi, xem cây có bị mục rỗng hay không.
Đến năm 2014, một vị khách khác là bà Nguyễn Thị H., sau khi khảo sát đã quyết định trả giá 49 tỷ đồng cây sưa trên. Tuy nhiên việc mua bán này đã lập tức bị UBND tỉnh Bắc Ninh “tuýt còi” dù người dân thôn đều tỏ nguyện vọng muốn bán cây, lấy nguồn kinh phí nâng cấp cơ sở hạ tầng.
Kể từ đó, mâu thuẫn xung quanh cây sưa cổ này ngày một gay gắt. Trong khi người dân thôn Đông Cốc mặc định rằng cây sưa là “lộc” do tổ tiên để lại và họ có toàn quyền trong việc định đoạt cũng như sử dụng nguồn tiền bán cây thì chính quyền sở tại lại có phương án khác. Theo đó, do cây sưa đỏ thuộc sở hữu của đình Đông Cốc – một di tích cấp quốc gia nên việc khai thác di sản phải được sự cho phép, chứ không có chuyện ban quản lý đình, hay lãnh đạo thôn tùy tiện rao bán.
Cũng trong thời gian này, do cây có dấu hiệu chết nên mong muốn bán cây lại càng mạnh mẽ. Sau nhiều đơn thư qua lại, đầu năm 2016, UBND tỉnh Bắc Ninh cũng ban hành văn bản số 157 cho phép thôn Đông Cốc tự hạ giải cây sưa, giao UBND huyện Thuận Thành và xã Hà Mãn giám sát và hướng dẫn. Thế nhưng, khi niềm vui còn chưa trọn thì họ bất ngờ nhận được thông báo của xã với nội dung: Cây đã được bán cho một thương lái ở Hà Nội với giá 24,5 tỷ đồng.
“Chúng tôi không ai chấp nhận việc đó nên ngày 10/8 đã tiếp tục tổ chức cuộc họp. Theo đó, 100% các cụ đều không nhất trí bán với giá 24,5 tỷ đồng nên phải hoãn lại. Đến ngày 30/11, tại phiên họp dân, chúng tôi tiếp tục phản đối bởi cây của thôn mà mua bán lúc nào chúng tôi không được thông báo, không được biết, không được thống nhất”, ông Khuyến bức xúc phản ánh.
Bên cạnh đó, ông này cũng nói rằng người dân Đông Cốc mong muốn số tiền bán cây phải được giao lại để thôn tự quyết. Chính vì những bức xúc đó, nên ngày 7/12 vừa qua, hội nghị triển khai kế hoạch hạ giải cây sưa 200 tuổi nói trên đã xảy ra ẩu đả ngay khi chỉ định thư ký ghi biên bản là người làm công tác thủy lợi của UBND xã Hà Mãn. Theo ghi nhận, có ít nhất một người đã bị toạc da đầu, máu chảy đầm đìa khắp mặt.
Liên quan sự việc ẩu đả tại đình thôn Đông Cốc, ông Nguyễn Văn Đáp - Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa (Sở VH-TT&DL Bắc Ninh) cho biết: “Việc bán cây sưa 200 tuổi là địa phương đề nghị, sau đó tỉnh cũng có báo cáo lại với Bộ VH-TT&DL. Bà Đặng Thị Bích Liên - Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL đã có văn bản đồng ý giao cho tỉnh xử lý”. Cũng theo ông Đáp, phía Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã có văn bản xác định rằng cây sưa 200 tuổi này đã chết.
Ông Nguyễn Xuân Đương - Phó Chủ tịch UBND huyện Thuận Thành cũng cho biết, để ổn định tình hình địa phương, UBND huyện đã ban hành quyết định tạm dừng khai thác cây sưa cổ quý hiếm này. Bên cạnh đó, UBND huyện cũng chỉ đạo Công an huyện điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm pháp luật, ẩu đả, gây rối tại hội nghị họp dân.
Trước thông tin người dân bức xúc về việc có người ký hợp đồng mua cây sưa trên với thôn trả giá gần 50 tỷ đồng mà tại sao xã bán đấu giá chỉ được 24,5 tỷ đồng? Ông Đương khẳng định: Trước đó Ban quản lý thôn không xin phép, tự ý ký hợp đồng mua bán với bà H. giá 49 tỷ đồng. Tuy nhiên đây là hợp đồng “xí chỗ” vì mấy năm nay bà H. chưa nộp một đồng nào. Khi chính quyền xã Hà Mãn được các cơ quan chức năng cho phép bán đấu giá cây thành công, bà H. đã đến và nói “đây là cây sưa của tôi, tôi đã hợp đồng mua rồi”.
Bên cạnh đó, vị Phó chủ tịch UBND huyện cũng khẳng định, chủ trương từ đầu của chính quyền là sẽ giao xã quản lý tiền bán cây nhưng phải đầu tư 100% về hạ tầng và cuộc sống của người thôn Đông Cốc chứ không mất đi đâu cả. Mọi việc chi tiêu sẽ có biên bản cụ thể để toàn dân theo dõi, đảm bảo tính minh bạch. Trả lời câu hỏi tại sao mục đích như vậy vẫn không được người dân đồng thuận thì ông Đương cho rằng, nội bộ thôn đang có dấu hiệu chia rẽ nên chưa thể có sự nhất trí 100%. Hiện tại, chính quyền huyện Thuận Thành vẫn chưa thống nhất được ngày mở lại hội nghị hạ giải cây sưa 200 tuổi này.
Được biết, đình Đông Cốc nằm bên bờ con sông Dâu cổ thuộc địa phận xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Đình thờ Phật Pháp Vũ, một trong Tứ Pháp linh thiêng khởi nguồn trung tâm Phật giáo Thuận Thành, Bắc Ninh. Nhờ những giá trị lịch sử, văn hóa, và những cổ vật còn lưu giữ, năm 1992 ngôi đình đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia.
Những năm gần đây, cơn sốt gỗ sưa nóng đến mức nhiều gia đình còn tháo dỡ cả bàn thờ, hoành phi, câu đối làm bằng gỗ sưa để đem bán. Có luồng tin còn cho rằng, các đại gia Trung Quốc dùng gỗ sưa để ướp xác sau khi tạ thế. Theo thạc sĩ Từ Vũ, một nhà nghiên cứu Trung Quốc, gỗ sưa Hải Nam của Trung Quốc rất quý hiếm nhưng đã bị khai thác cạn kiệt. Gỗ sưa Việt Nam không có hương thơm nhưng lại có vân giống hệt gỗ sưa Hải Nam.
Người Trung Quốc thu mua gỗ sưa Việt Nam để làm giả gỗ sưa Hải Nam, thậm chí họ làm giả đồ gia dụng của vua chúa ngày xưa để kiếm lời bạc tỷ. Sau thời gian thị trường Trung Quốc náo loạn bởi các sản phẩm gỗ sưa, giờ họ nhận ra rằng các sản phẩm gỗ sưa có mặt ở Trung Quốc phần lớn đến từ Việt Nam chứ không phải từ Hải Nam, do đó giá gỗ sưa giờ đã giảm nhiều so với đỉnh điểm năm 2007... (Gia Đình Và Xã Hội 12/12) đầu trang(
Ngày 12/12, Ban quản lý VQG Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết, các nhà khoa học vừa phát hiện một loài dương xỉ mới, sống trong hang động, cực kỳ quý hiếm với ngành thực vật học.
Đây là kết quả nghiên cứu của phòng khoa học và hợp tác quốc tế VQG Phong Nha - Kẻ Bàng với các nhà thực vật thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN), Vườn Thực vật Mitsuri (Hoa Kỳ). Các nhà khoa học đã rất bất ngờ khi phát hiện một loài dương xỉ sống trong hang động, ở độ cao 120m, trong điều kiện ẩm ướt và thiếu ánh sáng.
Hiện nay loài này có 2 quần thể ở hang Dơi và hang So Đũa. Loài dương xỉ mới này được đặt tên Polystichum quangbinhense, được xếp vào mức độ bảo tồn cực kỳ nguy cấp CR trong sách đỏ IUCN theo hướng dẫn của Tổ chức bảo tồn quốc tế năm 2015. (Tiền Phong 13/12) đầu trang(
Đề tài “Bảo tồn 4 loài cây đặc hữu, quý hiếm gồm: chai lá cong, sao lá tim, dầu Côn Đảo và gõ biển tại bán đảo Cam Ranh” do Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Cam Lâm thực hiện góp phần bảo tồn và phát triển các loài cây này trước nguy cơ tuyệt diệt.
Kỹ sư Nguyễn Phước Bảo Cảnh - Trưởng bộ phận kỹ thuật BQLRPH Cam Lâm, chủ nhiệm đề tài cho biết, việc bảo tồn và phát triển 4 loài cây này trở nên cấp thiết do tình trạng chặt phá rừng bừa bãi nhiều năm qua đã thu hẹp phạm vi phân bố của các loài cây đặc hữu, quý hiếm. Bên cạnh đó, sự phát triển các khu dân cư và các dự án đã chia cắt và làm suy giảm hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài này.
Chai lá cong (Shorea falcata J.E.Vidal, có tên khác là Chai lá phảng hoặc Sưng) là loài đặc hữu của Việt Nam, phân bố rất hẹp, chủ yếu tại bán đảo Cam Ranh, ngoài ra còn có ở tỉnh Phú Yên. Hiện nay, quần thể này chỉ tìm thấy ở Khánh Hòa. Đây là loài cây gỗ lớn, cứng, đường kính gốc đến 1m, thích hợp cho xây dựng và đóng tàu, thích nghi điều kiện khô hạn và đất cát. Do bị tàn phá nên mật độ còn rất thưa thớt, phần lớn là cây chồi. Cây được xếp vào mức độ bảo tồn rất nguy cấp theo Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế.
Sao lá tim (Hopea cordata J.E.Vidal) chỉ còn phân bố tại bán đảo Cam Ranh, rải rác dạng cây gỗ nhỏ ở xã Cam Hải Đông. Gỗ Sao lá tim rất cứng và nặng, thích hợp cho xây dựng. Đây là loài có khả năng sống ở vùng đất cát khô cằn, nhưng sinh trưởng rất chậm; được xếp vào mức độ bảo tồn rất nguy cấp theo Danh lục đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế.
Gõ biển (Sindora maritima Pierre) phân bố rải rác ở một số tỉnh miền Trung, thích nghi với đất cát ven biển. Cây lớn, đường kính khoảng 0,8m, gỗ cứng tốt, lõi màu nâu sậm, nhóm I, sử dụng đóng đồ gia dụng, mộc mỹ nghệ. Tuy được xếp mức độ ít nguy cấp nhưng loại cây này rất cần được bảo tồn vì thu hẹp vùng phân bố.
Dầu Côn Đảo (Dipterocarpus condorensis Pierre, tên khác là Dầu cát) là loài đặc hữu của Việt Nam, phân bố chính ở Côn Đảo. Ngoài ra, quần thể còn mọc rải rác dọc bờ biển từ tỉnh Bình Thuận đến Bà Rịa - Vũng Tàu, song đã bị tàn phá mạnh, chỉ còn lại những mảnh rừng nhỏ. Tại Khánh Hòa, chỉ tìm thấy ở thị trấn Cam Đức (huyện Cam Lâm) khoảng 30 cá thể, phạm vi 1.000m2. Thân cây cung cấp nhựa để trét ghe, gỗ được dùng trong xây dựng. Cây chịu hạn tốt, mọc tự nhiên trên đất cát, khả năng tái sinh hạt tốt. Loài này cần nhanh chóng được bảo tồn vì nguồn giống rất hạn chế.
Đề tài tiến hành triển khai các nội dung: điều tra tình trạng phân bố; nhân giống, gây trồng; xây dựng chương trình bảo tồn. Để điều tra và đánh giá tình hình phân bố, các cán bộ của BQLRPH Cam Lâm đã phải tiến hành điều tra, mở các tuyến đường ngoại nghiệp, điều tra cấu trúc rừng trong ô tiêu chuẩn (200m2/ô), định vị và khoanh vẽ bản đồ phân bố.
Việc nhân giống và gây trồng, thu gom hạt giống, tiến hành trồng rừng thực hiện trên 6ha, mật độ 500 cây/ha… Kết quả, nhóm thực hiện đề tài đã điều tra sơ thám 520ha, lập tuyến điều tra 20km, lập 20 ô tiêu chuẩn, xây dựng bản đồ phân bố, thu hái quả, hạt, hom, giống 4.000 cây/4 loài, nuôi dưỡng trong vườn ươm 18 tháng, trồng và chăm sóc 6ha rừng, nhân giống 3.000 cây/4 loài, lập 4 báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng kết nhiệm vụ.
Kỹ sư Cảnh cho hay, quá trình thực hiện đề tài gặp nhiều khó khăn như: vùng phân bố nằm trong khu quân sự thuộc Vùng 4 Hải quân nên việc đi lại mất nhiều thời gian, thủ tục; vùng phân bố ngày càng thu hẹp nên thiếu cây mẹ đủ điều kiện để thực hiện việc chọn giống, nhân giống. Sau thời gian nhân giống, các loài cây bảo tồn được trồng trên Đại lộ Nguyễn Tất Thành và Trường Trung cấp Nghề Cam Lâm.
Ông Mai Văn Thắng - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho biết: đề tài bảo tồn 4 loài đặc hữu tại bán đảo Cam Ranh có ý nghĩa thực tiễn; đã bám sát mục tiêu, phương pháp thực hiện, bảo đảm kỹ thuật chuyên ngành, sản phẩm cũng như tiến độ thực hiện. Đề tài được xếp loại khá, có khả năng nhân rộng. UBND tỉnh cũng đã phê duyệt kết quả nghiệm thu đề tài và giao các sở, ngành triển khai công tác quản lý, ứng dụng, tiếp tục bảo tồn 4 loài cây đặc hữu của địa phương. (Báo Khánh Hòa 13/12) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Xuân Lộc cho biết sau nhiều năm được khoanh vùng chăm sóc, bảo vệ, đến nay có khoảng 40 hécta trong tổng số 2 ngàn hécta rừng cây lá buông do đơn vị quản lý đã được phục hồi lại gần như nguyên sinh so với trước kia.
Chiều cao cây tầng trên trung bình từ 3-5m, mật độ che phủ khá dày đặc… Theo đó, tại xã Xuân Hòa, cùng với những địa điểm tham quan, như: suối nước lạnh, miếu Ngũ Hành, chi khu Bình Khánh, khu Chuồng Trâu - Đá Lớn, hầm bí mật, buôn làng Chơro... thì rừng lá buông cũng là điểm hấp dẫn thu hút khách tham quan đến để trải nghiệm, tìm hiểu lịch sử về Khu căn cứ Rừng Lá. (Báo Đồng Nai 12/12) đầu trang(
Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi buộc phải thất hứa với nhóm người bạn K'ho ở Lâm Đồng bởi những việc các thợ săn làm quá rùng rợn, tàn nhẫn,
Có những con thú đã chết, cũng có những con còn sống sót cố vùng vẫy tìm lối thoát trong cơn đau đớn, tuyệt vọng, đứt từng thớ thịt; rồi có con thú dính bẫy nhưng vẫn còn lành lặn... tất cả chúng sẽ phải chết vì chủ các quán nhậu đã đặt hàng nhóm người đi săn...
Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi buộc phải thất hứa với nhóm người bạn K'ho ở Lâm Đồng. Tôi không thể giữ kín cuộc hành trình săn thú của các bạn như đã thỏa thuận lúc đầu. Bởi những việc các bạn thợ săn làm quá rùng rợn, tàn nhẫn, vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật rừng.
Hôm đó, nhìn con nhím mắc bẫy, treo ngược chân lên trời, rách toác từng thớ thịt đỏ au nhưng vẫn chưa chết, tôi cảm nhận được sự đau đớn, tuyệt vọng trong ánh mắt của nó! Rồi cảnh bạn dốc ngược con cheo chọc tiết vẫn luôn ám ảnh tôi đến tận bây giờ. Và rồi cảnh chủ một quán nhậu cầm búa đinh, choảng liên tiếp vào đầu con cầy hương ở phố thị Đà Lạt mà tôi có lần vô tình chứng kiến trước đó lại hiện về, ám ảnh.
Tôi buộc phải có trách nhiệm lên tiếng để cảnh tỉnh các bạn. Dẫu biết, những việc bạn làm chẳng qua chỉ là kiếm sống đắp đổi qua ngày nhưng có nhiều người đang làm giàu trên sự phạm pháp của bạn, Ha Nai, K'Hiên và Ha Thìn ạ!...
Sau nhiều lần xin theo chân nhóm bạn người K'ho ở huyện Đạ Tẻh (Lâm Đồng) vào rừng săn thú, mãi đến một ngày cuối tháng 11-2016, tôi được các bạn chấp nhận. Ha Nai cho biết, sau những ngày mưa tầm tã, trời nắng đẹp sẽ là lúc thú ra khỏi hang phơi nắng và kiếm ăn. Đi săn vào những ngày này thường hạ gục được những con thú nhiều hơn bình thường. Giữa đêm khuya, từ Đà Lạt tôi bắt xe khách vượt gần 200km tìm tới nhà bạn khi trời đã rạng sáng.
Buôn của Ha Nai sinh sống nép bên bìa rừng lâu nay vẫn nghèo như lần đầu tôi tới, trong những mái nhà thường xảy ra đói kém vào mùa giáp hạt. Cuộc sống cả buôn đều dựa vào rừng, từ mớ nấm, củ măng, lá rau rừng, con thú nhỏ đặt bẫy bắt được. Mấy năm qua, bạn khoe bữa cơm gia đình 6 người ăn có phần no đủ hơn vì có người ngoài thị trấn đặt bạn vào rừng săn bắt thú, bất cứ con gì, dù sống hay đã chết đều mua với giá cao.
Từ khi có đầu ra ổn định, hầu như ngày nào Ha Nai cùng nhóm thanh niên trong buôn cũng vào rừng đặt bẫy, săn thú, công việc đồng áng giao lại cho vợ con.
Bạn tôi chia sẻ, trước đây họ toàn săn được thú lớn, kể cả bò tót trong vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên, còn bây giờ tìm hoài cũng chẳng thấy dấu tích đàn bò tót đâu nữa. Những con heo rừng với chiếc răng nanh hung dữ sẵn sàng lao vào tấn công đối thủ cũng biệt vô âm tín. Rồi tê tê, gấu ngựa… chẳng biết bây giờ phiêu dạt về đâu, có còn hay đã hết? Chỉ biết rằng, lâu lắm rồi họ chưa bắt gặp những con thú to lớn đó. Bây giờ, vào sâu trong rừng chỉ còn lại nhím, cheo cheo, dúi, cầy hương, chuột… nhưng với tốc độ đặt bẫy tràn lan, cạnh tranh săn bắn mạnh như hiện nay, bạn tôi thừa nhận rừng sắp hết thú rồi.
Để chuẩn bị cho buổi đi săn, từ chiều hôm trước, Ha Nai đã ra ngoài trung tâm huyện mua hai thanh chì về cắt nhỏ, ép thành những viên đạn tròn bằng đầu đũa tra vào khẩu súng kíp tự chế. Những viên đạn kim loại này sẽ hạ gục bất cứ con thú nào mà chúng tôi phát hiện trong cuộc đi săn lần này. 6h sáng, nhà Ha Nai có thêm hai thanh niên là K'Hiên và Ha Thìn, trên vai mỗi người là một khẩu súng kíp tự chế, tương tự như súng của Ha Nai.
Mấy năm qua hai thanh niên này là cộng sự đáng tin cậy của bạn tôi trong những chuyến đi săn thú rừng. Buổi sáng nơi đây đậm đặc sương mù. Nhà Ha Nai cách rừng chỉ vài chục mét nhưng tuyệt nhiên tôi không nghe tiếng động của chim muông, vạn thú. Thấy tôi băn khoăn, K'Hiên thật thà giải thích: "Bây giờ muốn nghe tiếng chim, tiếng thú thì phải vào rừng sâu...".
Chốn núi rừng chẳng có khái niệm ăn sáng, tôi lên đường theo nhóm thợ săn với cái bụng trống rỗng từ tối qua. Ha Nai trấn an, yên tâm đi, mình có đem theo hộp quẹt, cơm gói đây rồi, vào trong đó kiếm được con gì thì nướng ăn luôn, không đói đâu mà lo...
Lối mòn vào rừng buổi sáng mùa đông vẫn còn ướt đẫm hơi sương. Ha Nai, đi đầu, tiếp đó là K'Hiên, rồi Ha Thìn, cuối cùng là tôi. Với kinh nghiệm 3 năm theo chủ đi săn, con chó nhanh nhảu nhà Ha Nai làm nhiệm vụ "tiền trạm".
Cánh rừng hôm nay chúng tôi đi "kiếm ăn" cách vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên khoảng 6km. Theo Ha Nai, nơi đó vẫn còn thú lớn. Dọc đường, Ha Nai kể nhóm của anh ngoài việc bao vây săn bắn các loại thú còn có khoảng 30 cái bẫy đã được đặt khắp các cánh rừng, những nơi xác định là có thú thường di chuyển qua.
Công việc đầu tiên trong mỗi cuộc đi săn là tới kiểm tra những chiếc bẫy, vốn là "án tử" cho những con thú xấu số chẳng may dính phải. Sau gần 2 tiếng vượt rừng, chúng tôi bắt đầu đi vào khu rừng già với nhiều gốc cây cổ thụ đã bị cưa hạ, gốc bắt đầu mục hoại.
Bỗng phía trước, con chó nhà Ha Nai sủa inh ỏi, cùng lúc đó Ha Thìn nói "có thú dính bẫy rồi". Quả không sai, đó là một con nhím khoảng 1,2kg. Bên chân dính bẫy bị thắt chặt bởi sợi dây thép sắc lạnh, treo ngược lên cao.
Thấy chúng tôi, con nhím không còn đủ sức để vùng vẫy bởi nó đã phải gánh chịu nỗi đau quá sức. Phần chân dính bẫy bị sợi thép cứa đứt từng thớ thịt, đỏ au, những con ruồi rừng lao vào bu quanh thưởng thức "bữa tiệc" miễn phí trên chân con nhím.
Với con mắt tinh tường của người nhiều năm đi săn, Ha Nai nói đây là con nhím cái sắp trưởng thành, nhất định vùng này vẫn còn ít nhất một con nhím đực to lớn nữa.
Cái bẫy được cả nhóm thống nhất giữ nguyên vị trí. Họ chặt những cành cây cắm xuống đất, chỉnh trang lại vùng đặt bẫy để dụ con thú đi vào lối mòn đã được đặt bẫy chắn ngang.
Cái bẫy thứ hai được nhóm đặt bên cạnh một gốc cây cổ thụ to lớn, vẫn còn nguyên vẹn. Tôi thầm nghĩ cũng may chưa có con vật xấu số nào trở thành nạn nhân của chiếc bẫy quái ác kia.
Tiếng chó lại sủa phía trước, nhưng lần này chẳng thấy bóng dáng một con thú nào. Dù vậy, theo kinh nghiệm của người đi rừng, nhóm bạn của tôi quả quyết vùng này chắc chắn sẽ có cầy hương lui tới nên con chó đã đánh hơi...
Ha Thìn nhận nhiệm vụ tháo gỡ chiếc bẫy để chuyển sang đặt tại một vị trí khác. K'Hiên, Ha Nai dùng dao chặt những cành cây rừng, cắm thành hàng rào chạy dài tới vài chục mét, sắp đặt theo hình chữ V. Điểm ở giữa họ để lại một lối qua, nhưng đó chính là "cửa tử". Chiếc bẫy dây bằng sợi thép nhỏ dùng để kết thành phanh xe đạp đã được đặt ở vị trí này.
Kiểm tra hơn chục chiếc bẫy nhưng không thu được thêm con thú nào, nhóm bạn tôi phàn nàn gần đây tỉ lệ bẫy dính được thú rất ít. Điều đó đồng nghĩa với việc các loại thú trong khu rừng này ngày càng khan hiếm. Tôi hỏi: Sao không chuyển bẫy sang cánh rừng khác mà đặt xem có dính nhiều thú hơn không? Ha Nai giải thích điều đó không thể được vì những cánh rừng khác cũng đã có người đặt bẫy, đi săn rồi. "Mình chuyển tới đó phát sinh tranh chấp, mất đoàn kết lắm!".
Gần xế bóng nhưng nhóm thợ săn chưa phát hiện ra con thú nào, những viên đạn chì vẫn nằm im trong họng các khẩu súng kíp lạnh lùng. Băng qua một khe suối, nước rừng chảy trắng muốt, cả nhóm quyết định dừng lại nổi lửa, làm thịt con nhím vừa dính bẫy lấy nội tạng nấu ăn với cơm, còn phần thịt đem bán.
Lúc này, bỗng tiếng chó lại sủa lên inh ỏi. Trên lùm cây ngã ra bờ suối, một con cầy hương co người lại trốn trong khóm lá. Thật tội nghiệp, nó không qua được con mắt của chú chó và nhóm thợ săn lành nghề. Không thể xuống đất vì chú chó đã đứng dưới chờ, cũng không còn chỗ để leo cao hơn được nữa, con vật tội nghiệp kia có lẽ chỉ sống thêm được vài phút nữa.
Nhanh như cắt, Ha Nai ra hiệu cho tôi đứng im tại chỗ, Ha Nai, K'Hiên và Ha Thìn nhanh nhẹ tỏa ra 3 hướng di chuyển gần hơn về phía con cầy hương xấu số. Sau tiếng nổ, con cầy hương rơi nhào xuống đất, loạng choạng như bản năng của sự sống thôi thúc nó bỏ chạy. Dĩ nhiên, nhiệm vụ kết liễu đời con cầy hương lúc này dành cho chú chó ranh mãnh, lành nghề kia.
Cắn chết con cầy, con chó ngoan ngoãn kéo xác con vật về phía chúng tôi. Bữa trưa hôm đó nó được chủ trả công hậu hĩnh, ngoài những thứ con người không thể ăn, con chó này còn được thưởng thêm mấy miếng lòng cầy.
Sau bữa cơm trưa, nhóm thợ săn tiếp tục hành trình đi kiểm tra những chiếc bẫy còn lại. Bao giờ cũng vậy, dọc đường đi săn, con chó làm nhiệm vụ tiên phong dẫn đường và đánh hơi các con vật. Với cái mũi thính và nhiều kinh nghiệm học được từ những chuyến đi săn thú rừng lâu năm với chủ, con chó tỏ ra tinh quái.
Cứ chạy được vài chục mét nó lại khịt khịt, chúi mũi vào bất cứ chỗ nào khả nghi để đánh hơi. Chưa lúc nào tôi thấy căm ghét loài chó đến thế dẫu biết rằng nó chẳng hề có tội tình gì. Cái bẫy tiếp theo không đặt trong rừng rậm mà tại một khu vực cỏ bụi. Lần này, "nạn nhân" là con chim trĩ mái, nặng hơn 1kg đã chết.
Nhóm bạn của tôi cho biết, trước đây mỗi lần đi săn họ bắt được rất nhiều thú dính bẫy hoặc bị bắn chết. Có ngày số lượng thịt rừng thu về tới vài chục kilôgam. Heo rừng, gấu ngựa, tê tê… lọt vào tay nhóm thợ săn này không phải là hiếm. Thế nhưng, bây giờ mỗi lần đi săn kiếm được 5-7kg thịt thú rừng đã trở nên hiếm hoi.
Những năm gần đây thịt thú rừng được các đầu nậu tranh nhau mua, đến từng buôn đặt hàng, cho ứng tiền trước để mua súng, đạn. Vì thế, chỉ tính riêng buôn nơi bạn tôi sinh sống đã có 4 nhóm, mỗi nhóm từ 3-4 người chuyên sinh sống bằng nghề săn bẫy thú rừng. Ha Nai quả quyết: "Vài năm nữa thôi, chẳng còn thú rừng nữa đâu mà săn bắn!...".
Buổi đi săn hôm đó nhóm chúng tôi còn bắt thêm được một con cheo cheo vừa dính bẫy, đang còn hoàn toàn khỏe mạnh. Khi về tới nhà Ha Nai, một người đàn ông to lớn với gương mặt chẳng mấy thiện cảm đã chờ đợi sẵn để lấy thịt rừng sau khi nhận được cú điện thoại báo tin của nhóm…
Tôi bất ngờ đến sửng sốt, gần 7kg thịt thú rừng gồm cheo cheo, cầy hương, nhím, chim trĩ nhưng nhóm bạn tôi chỉ được người đàn ông kia trả vẻn vẹn 1,2 triệu đồng, thậm chí khi giao tiền gã còn viện lý do đường xa, xin thêm 50.000 đồng đổ xăng. Thế mới biết, đánh đồng tất cả, mỗi kilôgam thịt thú rừng nơi đây được bán với giá chỉ nhỉnh hơn giá thịt gà, heo ngoài chợ nuôi theo kiểu công nghiệp.
Chắc chắn nhóm bạn của tôi trong đời chưa bao giờ bước vào những nhà hàng sang trọng ở thành phố, nơi đó những món thịt thú rừng như cheo cheo, dúi, nhím… họ đã bán với nửa triệu đồng một đĩa mà không ai dám chắc rằng đó là những miếng thịt rừng đúng nghĩa.
Ha Nai, K'Hiên, Ha Thìn ơi, hãy nghe lời tôi, đừng giết hại thú rừng nữa!... (Người Lao Động 12/12) đầu trang(
Theo phản ánh của người dân TP Tuy Hòa (Phú Yên), nhiều đối tượng chở đầu bò, đầu linh dương đi bán phao tin rằng, việc mua đầu thú về chưng Tết có tác dụng trấn phong thủy, "chiêu tài, trừ tà", đem lại vượng khí cho gia chủ; vững chắc quyền hành, bề thế kinh doanh...
Để tìm hiểu thực hư nguồn gốc các loại đầu thú, chúng tôi đóng vai người mua hàng. Tại ngã tư giao nhau giữa đường Hùng Vương và Trần Phú (TP Tuy Hòa), chúng tôi tiếp cận người bán tên Minh đến từ Nghệ An vào Phú Yên bán đầu thú khoảng nửa tháng nay.
Theo anh Minh, các đầu thú được gia đình anh gia công và không phải ai cũng làm được. Các cặp sừng thật 100%, được nhập từ châu Phi về, sau đó anh thực hiện công đoạn lắp ráp gắn đầu bò thật vào. Giá mỗi đầu thú từ 3,5- 8 triệu đồng tùy loại. Những đầu có cặp sừng dài, to, nhìn oai vệ giá cao hơn.
Tôi hỏi, làm sao phân biệt đâu là đầu bò thật và giả? Anh này bảo: "Không có chuyện giả. Nếu người trong nghề nhìn là biết ngay". Tôi hỏi tiếp, bữa nay anh bán hàng chạy không? Anh đáp:" Cũng tùy ngày. Đợt trước, chở vào bán sạch, nhiều người hỏi mua mà không có hàng để bán!?".
Chiều ngày 5/12, chúng tôi có mặt tại cây xăng trên QL1A, thuộc địa bàn xã Bình Kiến (TP Tuy Hòa) chứng kiến hàng chục đầu bò, đầu linh dương vừa được xe tải bỏ xuống cho 2 người nhận hàng. Tại đây, 2 người này buộc các đầu thú lên xe máy mang biển số 37.
Hai anh này cũng giới thiệu đến từ Nghệ An. Hiện hàng này được các anh bán rất chạy, nên người nhà mới chuyển vào để bỏ cho khách. Qua quan sát, việc bán đầu thú rất thu hút những người tò mò. Nhiều người ngạc nhiên hỏi người bán đây là đầu gì.
Khi sờ vào hiện vật nhiều người cũng không phân biệt được thật hay giả? Tuy nhiên có người cho rằng, đó là hàng thật.
Trao đổi NNVN về việc các đầu thú rao bán có nguồn gốc từ châu Phi, ông Lê Văn Bé, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Phú Yên khẳng định: “Mấy đầu thú đó là đồ giả”.
Theo ông Bé, Chi cục đã chỉ đạo Hạt KL Tuy Hòa kiểm tra, xác nhận. Qua lời khai của các đối tượng, sừng này không phải sừng thật, mà được “phù phép” từ sừng trâu xay nhuyễn ra trộn với bột keo sau đó đổ lại thành sừng thú quý hiếm. Còn đầu bò được làm bằng gỗ, lấy da bò đắp vào. Vì vậy, Chi cục khuyến cáo người dân không nên tin và mua phải hàng dỏm. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn khó khăn, nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP (Nghị định 05) về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV và PTR) và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP (Nghị định 99) về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Đây là hai nghị định quan trọng, cùng hướng tới mục đích chung là huy động các nguồn lực của xã hội, đặc biệt của các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR để bảo vệ và phát triển rừng gắn với việc xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa.
Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong khu vực châu Á thực hiện chính sách mới này. Đến nay, quá trình tám năm tổ chức thực hiện Quỹ BV và PTR gắn với hơn năm năm triển khai chính sách chi trả DVMTR đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, có tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực.
Ngay sau khi Nghị định 05 và Nghị định 99 được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan tạo lập được khuôn khổ, hành lang pháp lý khá toàn diện cho việc hình thành hệ thống Quỹ BV và PTR, gắn kết chặt chẽ với chính sách chi trả DVMTR bằng việc ban hành các thông tư, quyết định và nhiều quy định, hướng dẫn cụ thể góp phần thúc đẩy, sớm đưa chính sách vào thực tiễn.
Thực tế cho thấy chính sách được đánh giá triển khai có hiệu quả trên cả nước và nhận được sự đồng thuận rất lớn của các cơ quan ban, ngành trung ương, địa phương và mọi tầng lớp nhân dân. Đến nay, toàn quốc đã có 41 tỉnh thành lập Quỹ BV và PTR; trong đó có 38 Quỹ cấp tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức, đi vào hoạt động. Một số địa phương có nguồn thu lớn đã thiết lập hệ thống chi trả cấp huyện (Sơn La đã thành lập 11 chi nhánh Quỹ BV và PTR cấp huyện).
Chính sách chi trả DVMTR đã từng bước thúc đẩy, tạo lập cơ chế thị trường có sự định hướng và thể hiện vai trò điều tiết của Nhà nước; thể hiện mối quan hệ trong giao dịch kinh tế giữa một bên mua là bên sử dụng DVMTR (đối tượng thụ hưởng DVMTR) và bên bán là bên cung ứng DVMTR (chủ rừng). Tính đến ngày 30-6-2016, cả nước đã ký được 464 hợp đồng ủy thác tiền chi trả DVMTR với các cơ sở sử dụng DVMTR.
Trên cơ sở các hợp đồng ủy thác ký kết được, nguồn tiền DVMTR của cả nước hằng năm đạt hơn 1.000 tỷ đồng; lũy kế là hơn 5.744 tỷ đồng, từ ba nhóm đối tượng sử dụng DVMTR: cơ sở thủy điện là hơn 5.586 tỷ đồng (chiếm 97,25%), cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch là 149,680 tỷ đồng (chiếm 2,59%), cơ sở du lịch là 8,615 tỷ đồng (chiếm 0,16%).
Nguồn tiền DVMTR đã góp phần gia tăng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp, giúp làm giảm áp lực ngân sách nhà nước đầu tư cho công tác quản lý và bảo vệ rừng và đóng góp đáng kể vào tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng, cụ thể: Nguồn chi trả DVMTR chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho BV và PTR và tương đương với khoảng 80% vốn ngân sách trung ương hỗ trợ, đầu tư cho BV và PTR.
Đến nay, tiền DVMTR thu được đã được giải ngân cho chủ rừng và tổ chức không phải chủ rừng cùng hơn 500 nghìn hộ dân đạt tỷ lệ 86,71%, giúp cải thiện thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân làm nghề rừng. Đây là những hộ dân sống trong và gần rừng, phần lớn họ là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo.
Số tiền DVMTR mà hộ dân nhận được bình quân chung cả nước khoảng 2 triệu đồng/hộ/năm, một số hộ đã sử dụng nguồn tiền này để đầu tư sản xuất nông nghiệp, nuôi con ăn học, tạo sinh kế ổn định và nâng cao đời sống. Hiện tại, tiền chi trả DVMTR chưa hoàn toàn đáp ứng giá trị sức lao động và nhu cầu sống tối thiểu của người dân, nhưng đã thật sự có ý nghĩa, nhất là đối với những hộ nghèo, góp phần xoá đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới ở miền núi.
Bên cạnh đó, nguồn tiền chi trả DVMTR bình quân khoảng hơn 1.000 tỷ đồng/năm đã giúp giải quyết khó khăn về kinh phí hoạt động cho 199 ban quản lý rừng, 84 công ty lâm nghiệp, 650 chủ rừng là tổ chức và tổ chức không phải là chủ rừng và hàng trăm nghìn hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng trong bối cảnh Chính phủ có chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên; giúp các công ty nông, lâm nghiệp đứng vững, duy trì, khôi phục sản xuất, có kinh phí hoạt động và hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng trong thời gian thực hiện việc sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
Nguồn tiền DVMTR hằng năm đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ cho hơn 5 triệu ha rừng trong các lưu vực cung ứng DVMTR (chiếm tỷ lệ khoảng 38% tổng diện tích rừng hiện có), góp phần làm giảm 32,9% số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và 58,2% diện tích rừng bị thiệt hại trên toàn quốc so với giai đoạn trước khi thực hiện chính sách.
Mới đây, ngày 2-11-2016, Nghị định số 147/2016/NĐ-CP (Nghị định 147) về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99 được Chính phủ ban hành đã tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc nảy sinh thời gian qua như: Đơn giá chi trả tiền DVMTR được điều chỉnh tăng lên là 36 đồng/kw giờ điện thương phẩm đối với các cơ sở sản xuất thủy điện (so với mức quy định cũ là 20 đồng/kw giờ) và 52 đồng/m3 nước thương phẩm đối với các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch (so với mức quy định cũ là 40 đồng/m3).
Như vậy, với mức chi trả mới này, thu nhập của người dân từ DVMTR tăng lên trung bình từ 1,7-1,8 lần/ha/năm. Ngoài ra, Nghị định 147 cũng cho phép mở rộng đối tượng sử dụng kinh phí dự phòng, căn cứ tình hình thực tiễn để chủ động, linh hoạt điều tiết tiền DVMTR giúp giảm bớt sự chênh lệch mức chi trả giữa các khu vực... Nghị định 147 được ban hành đã thể hiện sự đồng thuận lớn của toàn xã hội đối với chính sách, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên liên quan được bảo đảm.
Không chỉ là việc gia tăng nguồn thu tiền DVMTR hằng năm mà số tiền người dân tham gia bảo vệ, cung ứng DVMTR nhận được hằng năm cũng tăng lên, góp phần nâng cao chất lượng đời sống, cải thiện thu nhập, sinh kế, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số nghèo miền núi; giúp họ có thêm động lực tham gia giữ rừng, bảo vệ rừng.
Năm 2016, lần đầu tiên chi trả DVMTR đối với cơ sở sản xuất công nghiệp và nuôi cá nước lạnh (nuôi trồng thủy sản) có sử dụng nguồn nước từ rừng đang được thí điểm tại tỉnh Lào Cai. Hiện tại, DVMTR đối với cơ sở sản xuất công nghiệp đang được nghiên cứu để thí điểm tại ba tỉnh miền trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh). Kết quả của việc thí điểm trên sẽ là cơ sở quan trọng để nhân rộng mô hình này trên phạm vi cả nước.
Trong thời gian tới, Quỹ BV và PTR Việt Nam tiếp tục tham mưu Bộ NN và PTNT đề xuất, trình Chính phủ cho phép nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách (Nghị định 05, các thông tư hướng dẫn, văn bản chỉ đạo liên quan sau khi Nghị định 147 được ban hành...); đồng thời tăng cường đôn đốc, chỉ đạo điều hành triển khai chính sách từ trung ương đến địa phương nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả thực thi chính sách chi trả DVMTR, đóng góp vào công cuộc bảo vệ và quản lý rừng bền vững ở Việt Nam nói riêng và bảo vệ môi trường trong bối cảnh toàn cầu nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu nói chung. (Nhân Dân 13/12) đầu trang(
Theo dự thảo nghị định về chính sách bào vệ và phát triển rừng gắn với chính sách xóa đói, giảm nghèo và hỗ trợ đồng bào dãn tộc giai đoạn từ nay tới năm 2020 do Bộ NN&PTNT được giao chủ trì xây dựng mới đây, Nhà nước cũng hỗ trợ trồng rừng sản xuất lấy gỗ và lâm sàn ngoài gỗ.
Nếu rừng trồng có loại cây khai thác chính sau 10 năm tuổi được hưởng mức 10 triệu đồng/ha; và cây khai thác chính dưới 10 năm tuổi được hưởng mức 6 triệu đồng/ha....
Việc giảm thiểu các rủi ro về nguồn gỗ nguyên liệu như trồng đúng kỹ thuật, đủ thời gian để đạt chất lượng... có vai trò quan trọng trong thực hiện Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về Thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (FLEGT) giữa Việt Nam và châu Âu (EU). Tuy nhiên, qua thực tế hiện nay, chu kỳ sản xuất dài, thiều vốn để sinh kế khiên người dân ngại trồng rừng bền vững. Vì vậy, Nhà nước cần hỗ trợ người trồng rừng về vốn, kỹ thuật...
Vừa qua, Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam đã tổ chức cuộc khảo sát đánh giá tác động của Hiệp định VPA/FLEGT tới người trồng rừng tại Bình Định và Gia Lai. Trong cuộc khảo sát, chia sẻ với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Mạnh Hùng, xã Ayun, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cho biết, khi trồng rừng điều lo ngại nhất là chu kỳ rừng trồng dài 6 - 10 năm, thậm chí 20 năm mới thu hoạch. Trong thời gian này, nhiều hộ gia đình không biết lấy nguồn thu ở đâu để duy trì cuộc sống. Đặc biệt, đối với đồng bào thiểu số (đông con) chắc chắn không đủ đế chi phí trong 1 năm. Do đó, nhiều hộ sẽ khai thác rừng trồng sớm, khoảng 6-7 năm đã thu hoạch, nên giá trị thu về không cao.
Ông Nguyễn Phúc Ánh, huyện Mang Yang cũng cho biết, mồi lần đến kỳ khai thác sản phẩm gỗ, khó khăn nhất là quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi khai thác đến nơi bán, do địa hình thiếu thuận lợi. Không những vậy, người dân còn bị các thương lái ép giá... Vì vậy, nhiều hộ dân ở đây không mặn mà với trồng rừng thâm canh.
Lý giải điều này, theo ông Nguyễn Ngọc Thắng, Quản lý dự án Flegty WWF Việt Nam cho rằng: “Người dân rất muốn trồng rừng thâm canh, nhưng thời gian khai thác từ 7 -10 năm, thậm chí 20 năm. Trong thời gian đó, người dân còn phải chi tiêu, sinh kế mà không biết trông đợi vào đâu. Đây là trở ngại lớn khiến người dân không muốn trồng rừng bền vững. Điều này cũng khiến Việt Nam thiếu những khu rừng trồng đạt yêu cầu của Hiệp định VPA/FLEGT. Trong khi đó, một trong những quy định quan trọng nhất để xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào EU là phải có nguồn gỗ hợp pháp từ các rừng trồng hợp pháp và đạt chứng chỉ FLEGT”.
Để hỗ trợ người dân trồng rừng thâm canh, có nguồn nguyên liệu gỗ đạt tiêu chuẩn VPA/FLEGT, đứng ở góc độ DN thu mua nguồn nguyên liệu sản phẩm gỗ từ rừng trồng trên địa bàn Gia Lai, theo đại diện Công ty MDF Vinafor Gia Lai, Nhà nước nên giao một quỹ cho vay vốn không tính lãi đế trồng rừng.
Vị đại diện này cho biết lý do: “Người dân chỉ trồng sắn 1 ha/năm đã thu từ 20 - 30 triệu đồng, trong khi nếu trồng rừng tốt cũng chỉ đạt tối đa 10 triệu/ha/năm. Ngoài ra, trồng rừng 6 - 7 năm mới cho thu hoạch, trong thời gian đó, người dân cũng cần sinh kế hàng ngày, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số không thể trồng rừng vói chu kỳ dài. Vì vậy, thời gian tới, Nhà nước có chính sách huy động động các quỹ trồng rừng và cho vay không tính lãi để khuyến khích người trồng rừng, tạo điều kiện sinh kế để họ đảm bảo cuộc sống trong quá trình trồng rừng”.
Cùng với sự hỗ trợ về vốn cho người dân, theo đề xuất của người dân là cần có sự hỗ trợ của chính quyền, địa phương và các tổ chức thì các hộ trông rừng mới có thể đáp ứng yêu cầu khắt khe kỹ thuật của hiệp định VPA/FLEGT.
Ông Nguyễn Phúc Ánh đề xuất: “Chúng tôi rất mong muốn tiếp tục được hỗ trợ kỹ thuật trồng rùng bởi tổ chức WWF Việt Nam để nâng cao chất lượng, giá trị rừng trồng và bán với giá cao. Tôi thấy mô hình trồng rừng keo tại Đông Hà (Quảng Trị) được trồng theo mô hình trồng tỉa (từ 4 - 5 năm tỉa cho cây thưa), trong 10 năm vườn cây này lớn thì cậy keo có thế bán 300.000/cầy, rất lãi”.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thắng, trong khuôn khổ của dự án WWF sẽ tiếp tục hỗ trợ nâng cao nhận thức cho người trồng rừng, hồ trợ người dân có đủ hồ sơ chứng minh giấy tờ để trình xuất nguồn gỗ hợp pháp khi DN thu mua. Đồng thời, hỗ trợ một số giải pháp về kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng, giúp người dân duy trì được cuộc sống và khi đó rừng mới được duy trì và khai thác đúng thời hạn, nâng cao giá trị rừng trồng... (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 12/12) đầu trang(
Sau khi Báo NNVN đăng 2 bài phản ánh tình trạng quản lý đất rừng lỏng lẻo tại Nghệ An, chúng tôi tiếp tục nhận được thông tin xung quanh việc chuyển nhượng chui đất rừng tại địa phương này.
Theo đó, nhiều huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An, tình trạng chuyển nhượng chui đất rừng và sử dụng trái mục đích đất lâm nghiệp diễn ra phổ biến.
Theo thống kê của cơ quan chức năng, những năm gần đây, tại huyện Quỳ Châu đã có trên 3,5 nghìn héc-ta đất rừng chuyển nhượng chui. Đi kèm với tình trạng trên là việc sử dụng đất rừng, đất lâm nghiệp sai mục đích. Nhiều cánh rừng, dù chưa được cấp thẩm quyền cho phép nhưng đã được chặt tỉa, làm nghèo dần, cạo trọc, đốt bỏ để trồng keo.
Ông Sầm Văn Thiết, Chủ tịch UBND xã Châu Hạnh (Quỳ Châu) cho biết, tình trạng chuyển nhượng chui đất rừng diễn ra chủ yếu tại các bản, như Kẻ Nính, Định Tiến, Pà Cọ, Tà Cô, Tà Sỏi…
“Tình hình chuyển nhượng chui qua nắm tình hình là rất nhiều nhưng chỉ bằng giấy tờ viết tay nên khó ngăn chặn. Khi nghe thông tin, chính quyền đến hỏi thì họ bảo chỉ là hợp tác làm ăn. Trong những đợt rà soát, giao đất rừng tiếp theo, chúng tôi đề xuất không giao đất rừng cho các hộ đã được giao trước đây nhưng nay đã chuyển nhượng cho người khác” – ông Thiết cho biết thêm.
Còn tại xã Châu Bình, theo thống kê của chính quyền địa phương, từ trước 2010, tình trạng chuyển nhượng chui đất rừng trên địa bàn xã đã xẩy ra. UBND xã thống kê được có 114 hộ chuyển nhượng chui với tổng số 500 ha. Giá chuyển nhượng thậm chí chỉ 200 nghìn đồng/ha.
Kết quả rà soát nắm bắt thông tin về việc chuyển nhượng chui đất rừng ở Quỳ Châu cho thấy, 11/12 xã trên địa bàn có tình trạng này với 510 hộ đã chuyển nhượng chui 3.533 ha đất rừng. Người nhận chuyển nhượng có đối tượng cư trú trong xã, có đối tượng cư trú ngoài xã, thậm chí từ các huyện khác. Về cơ bản, đây chỉ là những con số thống kê được, trên thực tế còn có thể lớn hơn rất nhiều.
Tại huyện Quế Phong, cơ quan chức năng phát hiện có 151 hộ chuyển nhượng chu đất rừng. Trong đó, nhiều hộ bán đất rừng với diện tích lên đến hàng chục héc-ta.
Đôn Phục, một xã vùng cao 135 của huyện Con Cuông, nạn mua bán, chuyển nhượng chui và những vụ việc chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất rừng cũng phổ biến. Qua rà soát, cơ quan chức năng xác định có 36 hộ dân chuyển nhượng chui đất rừng cho 8 đối tượng trong và ngoài huyện với diện tích trên 300 ha. Một số người nhận chuyển nhượng chui sau đó đã phát lộng rừng có trạng thái cây hỗn giao và một ít cây gỗ nhưng chưa thực hiện thiết kế làm giàu rừng, tái sinh rừng. Khi phát hiện sự việc này, xã đã đình chỉ và phối hợp Hạt Kiểm lâm xử lý.
Một số xã khác trên địa bàn huyện Con Cuông, người dân cũng đang rầm rộ chuyển nhượng đất rừng. Theo thống kê, xã Thạch Ngàn có 59 hộ chuyển nhượng gần 630 ha đất rừng, xã Môn Sơn có 25 hộ chuyển nhượng 133,5 ha đất rừng, xã Lục Dạ có 32 hộ chuyển nhượng gần 149 ha rừng…
Đáng lo nhất là tình hình chuyển nhượng chui tại xã Thạch Ngàn. Bởi đối tượng nhận chuyển nhượng đất rừng đa phần là người ngoài địa bàn huyện. Sau khi nhận chuyển nhượng, để thực hiện mục tiêu trồng rừng nguyên liệu, có dấu hiệu cho thấy một số đối tượng nhận chuyển nhượng đã tổ chức thuê người bản địa làm nghèo rừng bằng cách chặt tỉa cây gỗ, thực hiện hành vi đốt rừng.
Theo chính quyền một số xã, những con số thống kê diện tích, số hộ chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng chui thực chất chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Người nhận chuyển nhượng, ngoài hộ cá nhân còn có các doanh nghiệp. Câu hỏi đặt ra, động cơ thu gom đất rừng của các cá nhân, tổ chức là gì?
Theo cán bộ một số xã, nhiều cá nhân, tổ chức nhảy vào đầu cơ đất rừng với mục đích “đi tắt, đón đầu” thời cơ được bồi thường, giải phóng mặt bằng hoặc hưởng các dịch vụ về rừng nhờ việc triển khai các dự án. Ngoài ra, có cá nhân, tổ chức còn thu gom rừng, đưa máy móc thiết bị vào mở đường để phát rừng trồng keo. Công ty CP Nghệ An Xanh do ông Phan Bá Giang, trú tại xã Châu Bình (Quỳ Châu) làm Giám đốc là một ví dụ.
Theo Biểu tổng hợp tình hình mua bán đất rừng trái phép trên địa bàn huyện Quỳ Châu do UBND huyện lập tháng 8/2016 thì toàn huyện có 510 hộ chuyển nhượng chui trên 3,5 nghìn héc-ta đất rừng. Trong số này, ông Phan Bá Giang nhận chuyển nhượng của 48 hộ dân với tổng diện tích đất rừng gần 460 ha.
Ngoài ra, theo nguồn tin của PV, ông Giang còn thực hiện thu gom rừng tại một số xã như Thông Thụ, Đồng Văn của huyện Quế Phong. Sau khi nhận chuyển nhượng chui, tại một số khu vực thuộc xã Châu Hạnh, Châu Bình, ông Giang đã đưa máy móc, thiết bị mở đường vào các vùng rừng, thuê nhân công phát rừng trồng keo.
Cuối năm 2014, tổ công tác của Hạt Kiểm lâm Quỳ Châu đã thực hiện kiểm tra hiện trường, xác định khu vực Công ty CP Nghệ An Xanh mở đường, thực hiện xẻ phát và trồng keo thuộc Tiểu khu 175. Thời điểm chuyển nhượng “chui” từ khoảng năm 2008 đến 2011, với hai hình thức “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với thời gian 50 năm”; giá chuyển nhượng từ 380.000 đồng đến 6 triệu đồng/ha.
Ngoài Công ty CP Nghệ An Xanh của ông Phan Bá Giang, thì những diện tích đất rừng người dân chuyển nhượng chui ở Quỳ Châu cho đối tượng nào? Tìm điều tra của PV, một số diện tích đã lọt vào các cá nhân, tổ chức khác, trong đó, có cả những người đang là cán bộ Nhà nước. Và những tổ chức, cá nhân này, sau khi nhận chuyển nhượng chui, một số đã làm nghèo rừng, sau đó thực hiện mục tiêu trồng keo nguyên liệu mà chưa được các cơ quan chức năng cho phép.
Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng, từ đầu năm 2016 đến nay, Quỳ Châu đã xử lý 116 vụ việc xâm hại rừng; trong đó, có 3 vụ Công an huyện đang tiếp nhận hồ sơ để điều tra; một vụ đã đưa ra xét xử lưu động.
Mới đây nhất, vào trung tuần tháng 11, cơ quan chức năng huyện Quỳ Châu đã xử phạt hành chính 41 triệu đồng 2 đối tượng Vũ Thị Bằng, Trần Thị Hải Vân, cùng trú tại bản Kẻ Bọn, xã Châu Hạnh, về hành vi tổ chức chặt phá gần 2 ha đất rừng trạng thái 1c tại thửa 35, lô 1, khoảnh 5, tiểu khu 197 Na Pha Văng Đoọng, khu vực Nậm Pông, xã Châu Hạnh. Bà Vân là cán bộ thuộc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất của UBND huyện Quỳ Châu. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/12) đầu trang(
Ngày 12/12, UBND tỉnh Kon Tum, cho biết: đã ban hành Quyết định số 1396, về chấp thuận chủ trương đầu tư dự án trồng cây Việt quất dưới tán rừng, tại thôn Măng Đen, xã Đăk Long, huyện Kon Plông, do Công ty TNHH Kon Tum Bellest làm chủ đầu tư.
Diện tích hơn 105 ha trồng dưới tán rừng, tổng số vốn 30 tỷ đồng, thời hạn hoạt động 50 năm, thời gian thiết lập vùng trồng cây Việt quất sẽ bắt đầu từ quý IV/2016 đến quý II/2017. Thời gian thu hoạch từ tháng 8-2018. (Đại Đoàn Kết 13/12) đầu trang(
Năm 2009, nhiều hộ dân trên địa bàn xã Trung Thu, huyện Tủa Chùa, trong đó tập trung tại các thôn: Nhè Sua Háng, Trung Thu, Bản Phô, Háng Cu Tâu kiến nghị với UBND xã, huyện có nhu cầu trồng rừng thay thế những diện tích nương bạc màu, sản xuất kém hiệu quả.
Đáp ứng nhu cầu người dân, từ năm 2011 đến nay, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tủa Chùa đã khảo sát và cung cấp một số loại cây giống theo các chương trình trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán để người dân trồng rừng. Tuy nhiên, đến nay, các chương trình trồng rừng ở Trung Thu, tỷ lệ cây sống thấp, kém phát triển.
Năm 2011, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện hỗ trợ giống cây sa mộc theo chương trình trồng rừng sản xuất cho 11 hộ dân xã Trung Thu trồng trên diện tích 8,7ha. Tham gia dự án trồng rừng, các hộ dân được Nhà nước cấp cây giống, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ gạo trong 7 năm (mức hỗ trợ 350kg/ha/năm) để người dân yên tâm, tập trung chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng trồng. Sau 5 năm triển khai, hiện nay diện tích cây sa mộc trên địa bàn xã Trung Thu còn khoảng 4,3ha (giảm 4,4ha so với diện tích trồng ban đầu) với 9 hộ dân tha gia.
Lý giải nguyên nhân hiệu quả trồng rừng đạt thấp, bà Vũ Ngọc Ánh, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tủa Chùa cho biết: Do diện tích trồng sa mộc nằm rải rác ở các bản, xa khu dân cư, người dân không có phương án chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích rừng trồng, nhất là giai đoạn mới trồng. Do đó, cứ sau 1 vụ thu hoạch, những diện tích này đều bị gia súc phá, cây sống thì kém phát triển. Đến nay, qua kiểm tra, diện tích cây sa mộc còn lại rất ít.
Gia đình anh Mùa A Páo, thôn Nhè Sua Háng là một trong những hộ tham gia chương trình trồng rừng sản xuất thay thế nương bạc màu của xã Trung Thu. Năm 2011, anh Páo được Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tủa Chùa cấp phát khoảng 2.000 cây sa mộc với diện tích trồng trên 1ha. Song đến nay, diện tích giảm còn khoảng 5.000m2 với gần 1.000 cây.
Sau 5 năm trồng, những cây còn sống chỉ cao hơn 2m, thân cây to bằng cổ tay người lớn. Anh Mùa A Páo cho biết: Thời gian đầu mới triển khai trồng, vườn cây sinh trưởng phát triển rất tốt. Gia đình tôi đã dùng tre, nứa rào lại. Tuy nhiên, diện tích trồng sa mộc cách nhà quá xa, không thường xuyên lên kiểm tra, chăm sóc được. Sau vụ thu hoạch lúa, bà con thả trâu, bò lên nương, mình không bảo vệ tốt nên bị phá gần hết.
Trò chuyện với anh Páo, chúng tôi được biết, năm 2013, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục cấp cây sơn tra giống theo chương trình trồng cây phân tán. Gia đình anh Mùa A Páo được cấp khoảng 1.000 cây giống. Anh Páo trồng ở diện tích cây sa mộc đã bị chết. Nhưng đến nay diện tích cây sơn tra của gia đình anh Mùa A Páo đã bị trâu, bò phá gần hết.
Cũng như gia đình anh Mùa A Páo, các hộ gia đình tham gia chương trình trồng rừng đều không có biện pháp chăm sóc, bảo vệ rừng trồng nên đã để gia súc phá, hiệu quả trồng rừng đạt thấp. Như gia đình anh Mùa A Lầu ở thôn Trung Thu, đến nay diện tích trồng cây sa mộc còn sống chỉ cao khoảng 2m.
Ông Giàng A Phổng, Chủ tịch UBND xã Trung Thu cho biết: Xã đã phối hợp kiểm tra, rà soát diện tích rừng cây sa mộc trồng từ năm 2011. Hiệu quả trồng rừng thấp do công tác chăm sóc, bảo vệ của người dân kém. Sau đợt kiểm tra, toàn xã có 6/11 hộ bị cắt hỗ trợ gạo vì diện tích rừng không đảm bảo như cam kết khi tham gia chương trình.
Năm 2013, xã Trung Thu được Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cấp hơn 21.000 cây sơn tra theo chương trình trồng cây phân tán. Song đến nay, hiệu quả của chương trình cũng rất kém. (Báo Điện Biên Phủ 12/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các đơn vị địa phương có rừng và các hộ được giao khoán bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh đã tiến hành trồng mới được 220 ha diện tích rừng phòng hộ.
Việc mở rộng diện tích trồng rừng mới góp phần nâng độ che phủ của của rừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và đem lại giá trị kinh tế cho các hộ trồng rừng. Cùng với việc trồng mới, từ đầu năm đến nay các đơn vị, địa phương có rừng và các hộ được giao khoán bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh đã tiến hành chăm sóc cho hơn 50 ha rừng trồng, 100 ha rừng khoanh nuôi tái sinh.
Song song với việc trồng rừng, thời điểm này các đơn vị chuyên môn, địa phương và các hộ được giao khoán bảo vệ rừng đang tập trung các giải pháp phòng chống cháy rừng trong mùa khô hanh. Được biết, từ đầu năm đến nay, thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh về việc tiếp tục đóng cửa rừng không cho khai thác trong năm 2016, nên 11 tháng đầu năm nay không có sản lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên và rừng trồng, chỉ có sản lượng gỗ khai thác từ cây trồng phân tán. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hải Dương 12/12) đầu trang(
Với sự nỗ lực của các cấp, ngành và người dân, năm 2016, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã vượt chỉ tiêu trồng rừng tập trung hơn 1.000 ha. Nhiều huyện có diện tích trồng rừng lớn như: Con Cuông, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Tân Kỳ, Tương Dương cũng vượt chỉ tiêu giao.
Gia đình ông Nguyễn Như Thao ở bản Bãi Xa, xã Tam Quang (Tương Dương), năm nay trồng hơn 20 ha rừng nguyên liệu. Đây là một trong những hộ đi đầu, chủ yếu tự huy động nguồn vốn trồng rừng ở huyện Tương Dương. Dẫn chúng tôi tham quan vùng rừng mới trồng, ông Thao cho biết: “Gia đình tôi mạnh dạn trồng rừng diện tích lớn là bởi xã và huyện có thông báo đến tận hộ có Nhà máy Chế biến gỗ MDF Nghĩa Đàn sẽ bao tiêu sản phẩm”.
Được biết, năm nay huyện giao trồng 125 ha, nhưng Tam Quang đã trồng được hơn 408 ha, vượt hơn 300%. Trong đó có 113 ha trồng rừng theo nguồn vốn hỗ trợ 30a, còn lại là người dân tự bỏ vốn trồng rừng. Nguyên nhân trồng rừng nguyên liệu tăng đột biến là do năm nay huyện đã mời được Nhà máy Chế biến gỗ MDF Nghĩa Đàn để ký cam kết, bao tiêu sản phẩm cho người dân, vì vậy bà con đã tích cực trồng rừng. Xã khuyến khích hộ dân trồng rừng ở một số diện tích rẫy không phát huy hiệu quả, dọc các vùng đồi sát khe suối...
Qua trao đổi, ông Lô Khăm Kha - Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Tương Dương cho biết thêm: Năm nay huyện được giao trồng 1.000 ha, nhưng toàn huyện đã trồng được 1.470 ha, vượt 47%. Sở dĩ năm nay diện tích trồng rừng nguyên liệu vượt chỉ tiêu là năm đầu thực hiện Đại hội Đảng bộ huyện khóa 25, trong đó huyện đã xây dựng đề án trồng rừng.
Huyện cũng ban hành một số cơ chế chính sách hỗ trợ cho bà con như hỗ trợ thiết kế, hỗ trợ phân bón, cây giống cho người trồng rừng từ nguồn ngân sách huyện cho 1.000 ha với ngân sách hỗ trợ hơn 2 tỷ đồng. Đồng thời, để củng cố niềm tin cho bà con trồng rừng cũng như để nghề trồng rừng của Tương Dương phát triển bền vững, huyện Tương Dương đã mời Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm bàn các giải pháp phối hợp triển khai phát triển vùng nguyên liệu.
Trên cơ sở đó, một số thỏa thuận đã được thống nhất, công ty sẽ thực hiện một số cơ chế chính sách đầu tư vùng nguyên liệu và ký hợp đồng liên kết bao tiêu sản phẩm cho người dân. Song song với trồng rừng, huyện tập trung chỉ đạo làm tốt công tác bảo vệ rừng; lồng ghép các chính sách để bảo vệ rừng tốt hơn bằng cách giao khoán bảo vệ rừng cho người dân, tăng thu nhập cho bà con từ nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng.
Ở huyện Quỳ Châu, phong trào trồng rừng nguyên liệu cũng phát triển mạnh. Năm 2016, kế hoạch huyện Quỳ Châu trồng 1.600 ha rừng nguyên liệu, nhưng toàn huyện đã trồng được hơn 1.800 ha (vượt chỉ tiêu 200 ha). Từ đầu tháng 4/2016, huyện đã triển khai trồng rừng và kết thúc vào tháng 8/2016. Thực tế, những năm qua, huyện rất quan tâm đến công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng và trồng rừng, nên độ che phủ của rừng đã đạt 78%. Nhiều gia đình nhờ chính sách trồng rừng của Nhà nước, thông qua các dự án trồng rừng, đã trồng hàng chục ha rừng keo, mỗi năm đem lại nguồn thu khá cao.
Trước khi bước vào vụ trồng rừng, Phòng Nông nghiệp huyện tiến hành rà soát, kiểm tra các diện tích rừng trồng sản xuất của nhân dân và giao chỉ tiêu kế hoạch cho từng địa phương. Cùng đó, chỉ đạo các cơ sở sản xuất giống trên địa bàn huyện chủ động ươm cây giống đảm bảo chất lượng, phục vụ công tác trồng rừng. Kết quả đạt được nêu trên, bên cạnh nỗ lực của các ngành, yếu tố quan trọng là đồng bào đã nâng cao nhận thức về hiệu quả kinh tế của việc trồng, bảo vệ, chăm sóc rừng.
Qua kiểm kê các loại rừng (năm 2015), huyện Quỳ Châu đang còn 13.000 ha đất trống đồi trọc. Trên cơ sở đó, huyện đang xây dựng đề án trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP "về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020". Với việc có nhà máy sản xuất gỗ ép quy mô lớn trên địa bàn là yếu tố quan trọng để huyện xây dựng chiến lược phát triển rừng phù hợp, hướng tới bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Ông Đặng Xuân Minh - Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết thêm: Để công tác trồng rừng đạt kết quả cao, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ban hành các văn bản hướng dẫn cơ cấu cây trồng cho các vùng, phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương. Chi cục đã phân công cán bộ bám sát địa bàn, nắm bắt khó khăn, thuận lợi để giải quyết ngay tại cơ sở; tham mưu với UBND các huyện, thị chỉ đạo các địa phương tranh thủ thời tiết thuận lợi, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất.
Năm 2016, chỉ tiêu trồng rừng tập trung được UBND tỉnh giao 16.030 ha. Kết thúc vụ trồng rừng toàn tỉnh đã trồng được hơn 17.000 ha (vượt chỉ tiêu hơn 1.000 ha). Trong đó có 3.800 ha rừng được Nhà nước hỗ trợ cây giống, phân bón còn lại là do nhân dân tự bỏ vốn ra trồng. (Báo Nghệ An 13/12) đầu trang(
Theo Hạt Kiểm lâm huyện, năm 2016, Ðoàn công tác liên ngành đã phá bỏ 137,6 ha cây trồng trên diện tích lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Trong đó, nhiều nhất là các xã: Ðăk Mang 32 ha, Ân Tường Ðông 18 ha, Bok Tới 40,6 ha, Ân Tín 20,2 ha...
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện 23 vụ phá rừng gây thiệt hại trên 33,8 ha; tổ chức 227 đợt kiểm tra, truy quét, qua đó đã lập biên bản xử lý 40 trường hợp vi phạm nộp vào ngân sách Nhà nước trên 569 triệu đồng, tịch thu 42m3 gỗ các loại, 2 ô tô, 48 mô tô, 3 máy cưa xăng cầm tay.
Ông Nguyễn Thanh Tuyền, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, nhận định thời gian đến, tình hình lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng keo nguyên liệu giấy, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép sẽ còn diễn biến phức tạp.
Vì vậy, hiện nay Hạt Kiểm lâm tiếp tục phối hợp với các ngành chức năng, địa phương tập trung điều tra, xác minh đối tượng phá rừng, lập hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức chấp hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng và tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. (Báo Bình Định 13/12) đầu trang(
VN và Liên minh Châu Âu (EU) vừa chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi luật, quản trị rừng, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ (VPA/FLEGT) vào ngày 18.11.
Đây được xem là cơ hội lớn cho ngành gỗ VN trong đẩy mạnh xuất khẩu, xây dựng thương hiệu trên thị trường EU và toàn cầu.
Ông Trần Thiên, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Hòa (Bình Định) chuyên thu mua và nhập khẩu gỗ nguyên liệu về phân phối cho các doanh nghiệp (DN) chế biến, cho biết so với 10 năm trước, nhìn chung nguồn gỗ chế biến của VN hiện nay đã sạch hơn rất nhiều. “Đơn cử trước đây chúng tôi chỉ có 50% sản phẩm có chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) thì nay đã tăng đến 90%. Khi tham gia VPA/FLEGT, sản phẩm có chứng chỉ sẽ bán được giá cao hơn và không phải mất thời gian chứng minh nguồn gốc sản phẩm khi xuất hàng qua đó. Đây là thuận lợi rất lớn cho DN, là cơ hội để sản phẩm gỗ của chúng ta có vị thế cao và cạnh tranh tốt hơn trên thị trường EU nói riêng và thế giới nói chung. Các DN VN hoàn toàn có khả năng cạnh tranh trong sân chơi này", ông Thiên nhận định.
Công ty TNHH Trường Sơn (Bình Định) chuyên sản xuất sản phẩm bàn ghế gỗ ngoài trời phục vụ thị trường EU nên lãnh đạo DN này cũng quan tâm đến Hiệp định VPA/FLEGT từ rất sớm. Ông Bùi Bảo Tín, Phó giám đốc công ty, cho biết EU là một thị trường khó tính và yêu cầu cao về chất lượng. Bên cạnh đó, thị trường này còn hướng tới việc sử dụng các sản phẩm ít gây tác động đến môi trường và bảo đảm xu hướng phát triển bền vững. Họ chỉ chấp nhận những sản phẩm rừng trồng có nguồn gốc rõ ràng.
“Chúng tôi tin tưởng Hiệp định VPA/FLEGT sẽ tạo cơ hội cho sản phẩm gỗ VN vào EU thuận lợi hơn vì không phải mất thêm thời gian chứng minh nguồn gốc. Còn những DN chưa quen sẽ thấy khó khăn, vì có thể phát sinh thêm một số loại giấy tờ so với các thị trường khác”, ông Tín nói.
Cũng nhìn thấy được những cơ hội mà VPA/FLEGT mang lại, ông Phạm Văn Quế, Phó giám đốc Công ty MDF VINAFOR Gia Lai - một đơn vị sản xuất ván ép từ rừng trồng và sản phẩm trung gian của nhiều mặt hàng gỗ xuất khẩu của VN, cho biết nhà máy của công ty có công suất 54.000 m3 sản phẩm/năm, trong đó 50% sản phẩm có chứng chỉ FSC. Tuy nhiên, do giá bán cao hơn gỗ thường một chút nên rất khó có đầu ra, nhiều lúc công ty phải bán bằng giá với gỗ thường. Nay Hiệp định VPA/FLEGT sẽ là lối mở để thúc đẩy sản xuất mở rộng thị trường.
Để chuẩn bị cho Hiệp định VPA/FLEGT, từ giữa năm 2014 Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT), Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) và Trung tâm con người và thiên nhiên (PanNature) cùng tiến hành khởi động dự án “Tiếp cận chung tới tiến trình VPA tại VN”. Dự án nhằm hỗ trợ Chính phủ VN trong tiến trình đàm phán và góp phần đưa ngành chế biến xuất khẩu gỗ VN phát triển bền vững, phù hợp với quy định quốc tế.
Ông Nguyễn Ngọc Thắng, Giám đốc dự án thuộc WWF, nói: “Thị trường EU chiếm 13% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của VN. Hiệp định được ký kết sẽ giúp VN xây dựng thương hiệu gỗ không chỉ ở riêng thị trường châu Âu mà cả trên bình diện quốc tế. Đó cũng là một cam kết của VN về việc sản xuất và kinh doanh gỗ bền vững, đảm bảo vấn đề về môi trường. Đây là xu hướng của thế giới, vì không chỉ VN mà có đến 9 nước sản xuất gỗ lớn trên thế giới đàm phán với EU về vấn đề này. Trước VN, Indonesia là nước đầu tiên ký kết hiệp định với EU và vừa mới xuất những lô hàng đầu tiên sang thị trường này”.
Tất nhiên, bên cạnh những thuận lợi cũng có một số khó khăn. Theo nhận định của một số hiệp hội gỗ ở các địa phương, số DN hiểu về Hiệp định VPA/FLEGT chưa nhiều. Đại diện các hiệp hội cũng kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước cần có giải pháp để tránh phát sinh các loại giấy tờ, thủ tục gây phiền hà và phát sinh chi phí cho DN.
Báo cáo của Bộ NN-PTNT cho biết xuất khẩu gỗ tính đến hết tháng 11 ước đạt 6,2 tỉ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2015. Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc là 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của VN, chiếm 69% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Nhập khẩu mặt hàng này trong 11 tháng đạt 1,6 tỉ USD, giảm 17,3% so với cùng kỳ năm 2015. Thị trường nhập khẩu chính của mặt hàng này là Trung Quốc và Mỹ. (Thanh Niên 13/12) đầu trang(./.
|
|||