|
Ngày 13 tháng 07 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG CÔNG THƯƠNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Tại Quyết định 849/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Hà Công Tuấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trước khi được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng, ông Hà Công Tuấn đảm trách Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Lâm nghiệp.
Ông Hà Công Tuấn có học vị Tiến sỹ, sinh năm 1961, quê ở tỉnh Thái Bình. (Chinhphu.vn 13/7)đầu trang(
Ngành lâm nghiệp hiện đang quản lý diện tích đất bằng một nửa tổng diện tích lãnh thổ cả nước, liên quan trực tiếp đến đời sống của 25 triệu người dân, thế nhưng giá trị GDP tạo ra quá thấp. Tuy tỷ lệ che phủ rừng ngày càng tăng thế nhưng 80% nguyên liệu của ngành chế biến gỗ vẫn phải nhập. Đời sống kinh tế xã hội của người dân làm nghề rừng còn rất nghèo.
Liên quan đến vấn đề này, Thời Báo Kinh Tế VN đã có cuôc phỏng vấn ông Hà Công Tuấn – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp.
Về việc, Việt Nam nhâp khẩu quá nhiều gỗ nhưng lại xuất khẩu dăm gỗ lớn nhất thế giới, ông Tuấn cho hay: Đúng là hiện nay, người dân trông rừng thường thu hoach khi cây còn non, nên giá tri rất thấp. Năm 2011, chúng ta khai thác cả rừng trồng tâp trung và phân tán khoảng 11 triệu m3, trong đó 82% xuất bán dưới dạng dăm gỗ. Xuất khẩu dăm gỗ thiết lâp kỷ lục với 5,4 triệu tấn trong năm vừa qua, đã đưa VN trở thành nước xuất khẩu măt hàng này lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, năm vừa qua cả nước cũng phải chi tới 1,3 tỷ USD nhập khẩu gỗ nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ. Trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu gỗ lên tới 714 triêu USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Hiên 80% nguyên liệu của ngành chế biến gỗ phải nhập khẩu. Cả ngành chế biến gỗ và ngành sản xuất giấy đã cùng lo ngai viêc ô ạt xuất khâủ dăm gỗ sẽ càng làm tăng áp lực thiếu nguyên liêu cho các ngành này.
Ông Tuấn cho rằng, chúng ta phải nhìn thấu đáo, thưc tế trong nhiều năm qua, nếu không xuất bán dăm gỗ thì người dân rất khó trong việc tiêu thu sản phẩm rừng trồng. Mặt khác, người trồng rừng thiếu vốn, họ cần thu hoạch nhan, thời gian canh tác ngắn để quay vòng nhanh, để có tiền trả nợ ngân hàng. Trong chiến lược được cụ thể hoá ở đề án tái cơ cấu ngàn, chúng tôi đang cố gắng giảm tỷ trọng khai thác gỗ non. Bán dăm gỗ chỉ được vài trăm nghìn đồng/m3. Chúng tôi đang hướng tới vận động nguời dân kéo dài thêm thời gian của rừng trồng để đường kính gỗ tăng lên, ít nhất nếu làm gỗ bóc thì giá cũng đạt 2 – 2,4 triệu/m3, và nếu để đường kín gỗ đạt 30cm để làm đuợc đô mộc thì giá bán sẽ lên tới hơn 200USD/m3.
Chúng tôi cũng đang đề nghị Nhà nước có chính sách hỗ trợ điều kiện để người trồng rừng được vay vốn ưu dãi, để kéo dài thời gian rừng trồng để gỗ đat đường kính đồ mộc. Mặt khác, chúng ta có thể có can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính vào việc hạn chế sản xuất và xuất khẩu dăm.
Nói về vai trò của chứng chỉ rừng đối với nghề rừng, ông Tuấn cho biết: Chứng chỉ rừng bền vững là khâu cuối cùng chứng nhận các tổ chức quốc tế về việc khu rừng đó đã đạt những tiêu chuẩn cuủ quản lý rừng bền vững. Để được chứng chỉ này không dễ phải vượt qua hàng trăm tiêu chí kỹ thuật rất ngặt nghèo về lâm sinh, giải quyết các vấn đề xã hôi, đời sống của người dân, bảo vệ môi trường.
Dù vậy, khi đạt được chứng chỉ này rồi, chủ rừng sẽ có lợi rất lớn. Một là thương hiêu và uy tín của họ tăng lên không chỉ ở trong nước mà cả ở thị trường quốc tế. Thứ hai là những sản phẩm được khai thác, được bán ra từ khu rừng chứng chỉ luôn được giá cao, hiên nay, trên thị trường thế giới, gỗ có chứng chỉ luôn được mua với giá cao gấp 1,3 – 1,5 lần sản phẩm không có chứng chỉ. Tôi cho rằng, sự chênh lệch này sẽ ngày càng tăng mạnh hơn bởi xu hướng của thị trường quốc tế là quản lý nguồn gốc gỗ hợp pháp. Khi cả thế giới quaảnlý tốt hơn nguồn gốc gỗ hợp pháp sẽ không còn cửa cho gỗ bất hợp pháp nữa.
Bàn về nguyên nhân vì sao triển khai chương trình đã nhiều năm nhưng đến nay diện tích rừng được cấp chứng chỉ quá ít ỏi, ông Tuấn nói: Đến nay, cả nước mới có 40 ngàn ha được cấp chứng chỉ rừng, trong đó, riêng các thành viên của TCty giấy VN có khoảng 16 ha. Tẩt cả các đơn vị có chứng chỉ rừng cho biết, để được cấp chứng chỉ này họ phải bỏ ra chi phí rất cao và có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và Bộ NN&PTNT.
Các tổ chức của nước ngoài kh cấp chứng chỉ rừng thường thu phí rất đắt. Vì vậy, chúng tôi đang cố gắng để tổ chức cấp chứng chỉ rừng của Việt Nam đủ tiêu chuẩn hoặc liên kết với tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc tế để giảm giá cho người được cấp chứng chỉ rừng. Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp từ nay đến năm 2020, chúng tôi đặt mục tiêu phải đạt 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ.
Liên quan đến vấn đề trọng tâm của ngành lâm nghiệp vẫn là làm sao để người dân làm nghiệp có thể sống được từ rừng, ông Tuấn cho biết: Đời sống kinh tế xã hội của người dân làm nghề rừng còn rất nghèo. Người xưa vẫn nói “rừng vàng, biển bạc” nhưng rõ ràng người dân ngồi trên “vàng” mà vẫn đói. Chúng tôi mong muốn rằng các nhà kinh tế cùng nhau đưa ra những giải pháp để biến ngành lâm nghiệp nước ta thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng. Vấn đề lớn và lâu dài trong việc hoạch định chính sách là phải tăng sự hưởng lợi cho người dân từ rừng nhưng phải làm sao cho người dân đừng nghĩ nhiều vào việc chia nhau gỗ ở trong rừng, mà tự trồng rừng, nâng cao giá trị của sản phẩm rừng trồng, đồng thời tăng nguồn lợi từ phi lâm sản. (Thời Báo Kinh Tế VN 12/7)đầu trang(
12-7, tại kỳ họp HĐND tỉnh Nghệ An, các đại biểu tập trung chất vấn hai vấn đề “nóng” của tỉnh: công tác bảo vệ rừng và nạn ô nhiễm môi trường.
Về rừng, câu hỏi của mười đại biểu xoáy sâu vào trách nhiệm của chủ rừng và cơ quan chủ quản khi để lâm tặc tàn phá vào tận vùng lõi, rừng phòng hộ và các khu bảo tồn thiên nhiên. Dưới đây là các câu hỏi chất vấn cụ thể của đại biểu:
“Vì sao gỗ lậu bị bắt nhưng là gỗ vô chủ quá nhiều?”; “Ngoài vụ lật xe chở gỗ lậu làm mười người chết ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, hiện có hay không một số cán bộ đã tiếp tay cho lâm tặc?”; “Vụ chặt bỏ 200ha rừng ở huyện Nghĩa Đàn để trồng keo, trồng mía đúng hay sai?”; “Hiện có 821/1.300 cơ sở chế biến lâm sản hoạt động cưa xẻ gỗ ngày đêm nhưng không có giấy phép?”; “Có nhiều cơ quan chức năng liên quan đến công tác bảo vệ rừng nhưng khi xảy vụ việc không thấy cơ quan nào chịu trách nhiệm chính?”...
Ông Hồ Ngọc Sĩ, người vừa nhận chức giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An được hơn một tháng, thật khó trả lời rành rọt những câu hỏi “nóng” như thế, nhưng ông thừa nhận: “Có buông lỏng quản lý, có người tiếp tay lâm tặc nhưng rất khó tìm ra”. Ông Sĩ hứa: “Ngay sau kỳ họp này, chúng tôi sẽ tăng cường hoạt động của các đoàn thanh tra liên ngành. Đặc biệt, chúng tôi sẽ trình UBND tỉnh kế hoạch rà soát toàn bộ lực lượng kiểm lâm. Nếu ai không đủ phẩm chất đạo đức thì phải loại ngay. Phải chọn người thật tốt để làm kiểm lâm. Đồng thời thực hiện luân chuyển cán bộ các hạt kiểm lâm trên các tuyến xung yếu”. (Tuổi Trẻ 12/7)
Là một tỉnh có diện tích rừng bao phủ lớn, từ nhiều năm qua, Lâm Đồng đã tích cực triển khai việc giao khoán quản lý BVR cho nhiều tổ chức, doanh nghiệp và hộ gia đình nhằm mục đích phát triển quỹ rừng một cách hiệu quả.
Tháng 9/2010, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2010 về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng DVMTR, Lâm Đồng đã nhanh chóng triển khai nhiều biện pháp đồng bộ trong đó bao gồm việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả DVMTR, thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, Hội đồng quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; tiến hành điều tra xác minh diện tích, hiện trạng tài nguyên rừng…
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng chủ yếu được hình thành từ sự chi trả của các đơn vị hưởng lợi từ tài nguyên rừng, từ việc khai thác du lịch, thủy điện, khai thác nước. Bên cạnh đó là việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến rộng rãi chính sách chi trả DVMTR, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ kỹ thuật có liên quan đến công tác thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong việc ứng dụng công nghệ GIS với các mô hình quản lý tài nguyên GMOD, mô hình quản lý lưu vực SWAT;
Hỗ trợ các thiết bị quan trắc và tập huấn kỹ năng theo dõi đánh giá chất lượng điều tiết nước, chống xói mòn; Xây dựng 4 trạm quan trắc giám sát môi trường để đánh giá rừng về số lượng, chất lượng nước cung cấp cho các nhà máy thủy điện, công ty cấp nước; Phối hợp với các địa phương, các đơn vị chủ rừng thống kê và rà soát các hộ gia đình, tổ chức, doanh nghiệp nhận khoán BVR…
Với việc triển khai đồng bộ nhiều biện pháp tích cực nên đến nay, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Lâm Đồng đã thực sự đem lại những hiệu quả đáng khích lệ cả về môi trường, kinh tế và hiệu ứng xã hội.
Trước hết, Quỹ BV và PTR đã thu hút được số tiền chi trả gần 180 tỷ đồng của các đơn vị như Nhà máy thủy điện Đại Ninh, Nhà máy thủy điện Đa Nhim, các đơn vị kinh doanh du lịch, Nhà máy nước Sawaco đồng Nai, các nhà máy thủy điện và các công ty nước sạch trên địa bàn tỉnh. Từ đó, hai năm qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã phối hợp với các địa phương, các hộ, đơn vị chủ rừng tổ chức nghiệm thu và thực hiện chi trả đầy đủ cho đối tượng nhận khoán BVR với số tiền gần 115 tỷ đồng trên diện tích gần 273 ngàn ha rừng.
Triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR hai năm qua đã có những tác động tích cực tới công tác quản lý BVR, tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng khai thác lâm sản trái phép giảm hẳn. Riêng trong năm 2011, số vụ vi phạm Luật BV và PTR giảm gần 36% và diện tích rừng bị mất do lấn chiếm đất rừng giảm hơn 34% so với năm 2010. Môi trường rừng từng bước được bảo vệ, làm tăng khả năng phòng hộ, điều tiết nước của rừng trên địa bàn Lâm Đồng.
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR không những bước đầu chi trả hợp lý công lao động cho các đối tượng nhận QLR mà còn giảm chi phí đầu tư từ ngân sách nhà nước cho công tác quản lý BVR cũng như đầu tư cho công tác trồng rừng do bước đầu làm tốt việc giữ rừng, tạo điều kiện để tập trung nguồn ngân sách đầu tư cho các công trình, dự án khác phục vụ an sinh xã hội.
Với diện tích nhận khoán BVR bình quân từ 25-30 ha/hộ và theo định mức chính sách chi trả DVMTR nhiều vùng tại các địa phương từ 300.000 đến 400.000 đồng/ha đã đưa thu nhập cho mỗi hộ trồng rừng tăng từ 2,8 đến 3 triệu đồng/năm trước đây lên 10,5 đến 12 triệu đồng. Mức thu nhập này đã thực sự góp phần ổn định và cải thiện đời sống kinh tế cho các hộ nhận khoán BVR, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiệu ứng của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR không những từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ rừng, nâng số hộ nhận khoán BVR từ trên 4.000 hộ với gần 100.000 ha năm 2009 lên gần 13.000 hộ với gần 300.000 ha rừng hiện nay, mà còn huy động được một nguồn nhân lực lớn cho công tác tuần tra bảo vệ rừng một cách thường xuyên. Từ đó đẩy mạnh công tác xã hội hóa nghề rừng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, an ninh chính trị và trật tự xã hội được ổn định, nhất là vùng đồng bào DTTS. Thực hiện chính sách chi trả DVMTR cùng với các chính sách đầu tư hỗ trợ khác của nhà nước đã góp phần tích cực giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. (Báo Lâm Đồng 12/7)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG CÔNG THƯƠNG
1/6/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 24 "Về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020" với tổng vốn đầu tư và vốn sự nghiệp từ ngân sách Nhà nước khoảng 5.500 tỷ đồng. Đây là tín hiệu vui, nhưng liệu có đủ bảo vệ tương lai rừng đặc dụng nước nhà xanh tươi bền vững hay không vẫn còn là vấn đề cần bàn thảo. Bởi dường như tiền mới chỉ là một trong các điều kiện cần cho rừng đặc dụng đang bị sói mòn…
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Đề án Quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2010 - 2015), tình trạng suy giảm rừng đang diễn ra với mức độ cao. Từ năm 2005 - 2009, có tới 328.379 ha rừng bị biến mất (bình quân mỗi năm 65.676ha), trong đó có 124.986 ha rừng tự nhiên.
Điều khiến người ta giật mình, là có tới 43,28% diện tích rừng bị mất (tương đương 142.129ha), là do chuyển đổi mục đích sử dụng, được cơ quan thẩm quyền Nhà nước phê chuẩn.
Tỷ lệ này chỉ thấp hơn chút ít việc mất rừng tạm thời do khai thác theo kế hoạch năm là 44,72%. Còn rừng mất do khai thác, chặt phá trái phép chiếm 8,15%, cháy rừng mất 3,58% và mất do sâu bệnh là 0,27%.
Mất rừng là mối quan tâm, luôn gây nhức nhối trong dư luận. Người ta đã nói nhiều đến việc chuyển đổi rừng sang các mục đích làm đường giao thông, thủy điện, thủy lợi, khai thác khoáng sản…nhưng ít ai nghĩ rằng, diện tích rừng bị mất do việc chuyển đổi hợp pháp này lại cao đến như vậy. Điều đặc biệt nguy hại là việc chuyển đổi này không chỉ làm mất rừng nhiều nhất , mà phần lớn trong số đó là các khu rừng tự nhiên bị mất vĩnh viễn, làm suy giảm chất lượng rừng một cách nghiêm trọng.
Thực tế cho thấy, mất rừng đặc dụng do thủy điện đang là mối nguy cơ lớn nhất. Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Việt Nam - VUSTA), sau khi tiến hành nghiên cứu thực địa, phỏng vấn các Khu bảo tồn, vườn quốc gia, thu thập số liệu, cho thấy 47 khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn quốc đang bị 119 dự án thủy điện lớn nhỏ tác động. Bình quân mỗi Khu bảo tồn, Vườn quốc gia đang phải "cõng" khoảng 2,5 dự án. Trong đó có tới 7.277,5 ha rừng tại 29 khu rừng đặc dụng bị chặt phá để xây dựng các nhà máy thủy điện và 275.889 ha diện tích đất bị ngập nước và đất có rừng bị mất thêm cho công tác tái định cư.
Theo một Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lâm Đồng, 25 công trình thủy điện đã và đang triển khai trên địa bàn đã làm mất 15.000 ha rừng tự nhiên của tỉnh. Còn theo Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, từ năm 2006 đến tháng 7/2010, tỉnh đã chuyển đổi 202,9 ha đất lâm nghiệp cho 11 dự án thủy điện, trong đó có 95,5ha rừng đặc dụng.
Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật bảo vệ Phát triển rừng đều thống nhất rằng, rừng đặc dụng là đối tượng được bảo vệ nghiêm ngặt. Ngay tại khoản 1, Điều 1 Quyết định 24/2012 "Về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2012" vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 1/6/2012, cũng khẳng định rằng, "Rừng đặc dụng là tài sản quốc gia. Bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội". Nhưng vì sao rừng đặc dụng lại dễ bị cơ quan chính quyền "xẻo" nhanh và nhiều đến như vậy?
Trong báo cáo "Phát triển thủy điện và hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam", Trung tâm Con người và Thiên nhiên cho rằng, áp lực công nghiệp hóa, áp lực thiếu điện và tư duy nhiệm kỳ đang là nguyên nhân thúc đẩy việc chuyển hóa rừng đặc dụng sang mục đích phát triển thủy điện. Các phân tích cho rằng, mục tiêu phát triển kinh tế được xem là mục tiêu hàng đầu trong nhiệm kỳ của các nhà lãnh đạo cấp tỉnh. Điều này phù hợp với tốc độ tăng trưởng cao của lĩnh vực công nghiệp trong ngắn hạn (từ 15 -16%/năm, thậm chí tới 20 - 25%), có thể gấp từ 4 tới 6 lần so với tăng trưởng khu vực nông nghiệp chỉ từ 3 -4%.
Hơn thế, việc chuyển đổi này còn được luật pháp bảo hộ mạnh mẽ . Theo Điều 36 Luật Đất đai 2003, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được phép chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục đích khác. Điều 28 Nghị định 23/2006 Hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ Phát triển rừng còn cho phép rõ ràng hơn "Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển mục đích sử dụng toàn bộ hoặc một phần khu rừng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác lập". Như vậy, các quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ của lãnh đạo cấp tỉnh nằm trong khuôn khổ pháp luật.
Điều duy nhất có thể nói, chính là những quyết định luật pháp về sự cho phép này lại mâu thuẫn với chính các quy định về bảo vệ rừng đặc dụng trong chính các văn bản pháp luật.
Không khó để tạo nên sự thống nhất trong các điều khoản qui định của pháp luật về bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, trong đó có rừng đặc dụng. Bởi chỉ cần thêm 8 chữ " Không được chuyển đổi mục đích sử dụng" diện tích Vườn quốc gia, Khu bảo tồn vào các quy định pháp luật ngoại trừ khi có nhu cầu cấp thiết phục vụ an ninh quốc phòng, công trình trọng điểm quốc gia. Vấn đề chỉ ở chỗ, liệu cấp có thẩm quyền đã thực sự quan tâm tới công tác bảo tồn, phát triển bền vững đối với hệ thống 164 khu rừng đặc dụng của nước nhà hay chưa mà thôi. (Tài Nguyên&Môi Trường)đầu trang(
Cùng với việc thiếu hành lang pháp lý nhất quán đối với việc bảo vệ rừng đặc dụng, còn một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng đó là cho đến nay vẫn chưa có tiêu chí cho việc đánh đổi rừng đặc dụng lấy thủy điện. Mới chỉ có những đánh giá hết sức cơ học rằng, để tạo ra 1 MW điện phải "đổi" ít nhất 10 -30 ha rừng và để có 1.000ha làm thủy điện sẽ phải san bằng 1.000 - 200 ha đất rừng thượng nguồn.
Có một thực tế trong khi việc tính toán lợi ích kinh tế, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng đóng góp GDP của từng dự án và cả hệ thống thủy điện không mấy phức tạp; việc lượng hóa giá trị rừng đặc dụng lại rất khó khăn.
Tuy nhiên, giá trị và lợi ích dịch vụ sinh thái đem lại cho con người và xã hội đã được xác định thông qua việc cung cấp thực phẩm, nguồn nước, nguồn gen, củi; khả năng điều tiết khí hậu, điều tiết nước, phòng chống dịch bệnh, lọc nước; hỗ trợ quá trình hình thành đất, chu trình dinh dưỡng, sản xuất sơ cấp; và giá trị văn hóa thông qua du lịch sinh thái, giải trí, giáo dục, tín ngưỡng, di sản. Trong đó có việc cung cấp và điều tiết nguồn nước cho các nhà máy thủy điện, thậm chí còn có thể quyết định tới sự tồn tại của hệ thống thủy điện ở Việt Nam. Nhưng để tính toán giá trị hữu hình và vô hình của các dịch vụ này không đơn giản và trên thực tế quy hoạch phát triển thủy điện ở nước ta, tất cả giá trị này chưa được tính toán để cấp thẩm quyền cân nhắc nên hay không nên đánh đổi trong từng dự án cụ thể.
Trong khi đó, việc quy hoạch phát triển thủy điện hiện đang thực hiện theo cách từ trên xuống, đơn ngành và theo tiềm năng. Hầu hết các quy hoạch thủy điện nhỏ và vừa ở các địa phương đều do Sở Công Thương chủ trì, thuê một cơ quan tư vấn khảo sát và tư vấn quy hoạch và chỉ lấy ý kiến của các ban ngành cùng cấp liên quan trực tiếp tới công tác qui hoạch. Thậm chí, ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Nam, Đồng Nai cũng không được tham gia quy hoạch thủy điện ngay từ đầu. Riêng Đồng Nai, lưu vực được đánh giá có tiềm năng thủy điện thứ 2 tại Việt Nam sau sông Đà, đã hình thành hệ thống thủy điện bậc thang dày đặc, hồ tích nước dưới "chạm" hồ trên, nhưng Sở Tài nguyên và Môi Trường, Chi cục Bảo vệ môi trường không hề được mời tham gia hay tham khảo ý kiến khi quy hoạch.
Do việc quy hoạch thủy điện dựa trên tiềm năng lưu vực sông, chưa chú ý tới các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường liên quan khác, dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Chẳng hạn, trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của Lào Cai giai đoạn từ 2006 đến 2020 đều khẳng định phát triển du lịch là một trong những định hướng quan trọng; không hề nhắc tới phát triển thủy điện.
Nhưng trên thực tế, Lào Cai lại là một trong các địa phương "loạn" thủy điện tốp đầu với 110 dự án vừa và nhỏ. Huyện Sapa điểm du lịch nổi tiếng quốc tế có hẳn 19 dự án và riêng xã Bản Hồ "gánh" 3 dự án cho dù Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lào cai kịch liệt phản đối. Thực tế cho thấy, khách du lịch tới Bản Hồ giảm từ 18.313 lượt khách lưu trú năm 2006, chỉ còn 3.197 lượt khách vào năm 2009 và 80 lượt khách trong 3 tháng đầu năm 2010, giảm 92,3% so với cùng kỳ năm trước.
Thậm chí, rất nhiều quy hoạch thủy điện theo đề xuất của chủ đầu tư thay vì sự thảo luận của các ban ngành, làm cho việc quy hoạch thủy điện trở nên rời rạc và tình trạng bổ sung liên tục các dự án đã xảy ra phổ biến tại các địa phương. Tại Quảng Nam, từ ngày 12/1/2006 đến 25/2/2009, UBND tỉnh đã bổ sung tới 20 dự án theo đề xuất của nhà đầu tư; có 7 dự án được đề xuất liên tục trong các ngày 8/1, 13/2,19/5 năm 2008.
Cách làm quy hoạch thiếu ổn định, rời rạc, phụ thuộc vào "ý muốn" của chủ đầu tư này, đã khiến cho các dự án thủy điện xâm hại nghiêm trọng các khu rừng đặc dụng, thậm chí nằm cả trong vùng lõi các Vườn Quốc gia vốn được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Vườn Quốc gia Chư Yang Sin (Đắk Lắk là "nạn nhân" điển hình của tình trạng này. Với quyết định từ cấp tỉnh, Giám đốc Vườn Quốc gia chỉ còn cách ký vào biên bản bàn giao rừng để xây dựng dự án Thủy điện Krong Kmar 12MW. Ngay sau đó, Vườn còn phải tiếp nhận thêm dự án Đắk Tua với nhiều tranh cãi. Vườn còn bị đe dọa từ một dự án thủy điện liên tỉnh khác chặn dòng sông Krong Nô được Bộ Công Thương phê duyệt tháng 5/2008, đang được đề xuất nâng công suất từ 18 MW lên 30 MW. Nếu việc này êm xuôi, sẽ có 165ha rừng của Vườn Quốc gia Chư Yang Sin và Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) bị mất vĩnh viễn.
Ngoài những lý do chủ quan, liên quan tới lợi ích nhóm dẫn đến việc quy hoạch thủy điện thiếu đồng bộ, không ổn định, còn có những lý do khách quan khiến việc phát triển thủy điện lấn lướt rừng đặc dụng.
Đáng lưu ý nhất là quy định trái chiều đối với vấn đề quy hoạch ngành. Một mặt, Nghị định 92/2006 của Chính phủ quy định "quy hoạch phát triển ngành thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng được gọi là quy hoạch "cứng" có thời gian định hướng 20 năm hoặc xa hơn và có tính ổn định lâu dài, tính ràng buộc cao", nhưng Quyết định 55/2008, Bộ Công Thương lại cho phép "Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định sửa đổi, bổ sung Quy hạch công nghiệp thuộc thẩm quyền phê duyệt của UBND tỉnh sau khi có thỏa thuận của Bộ Công Thương". Đó là những kẽ hở pháp luật cho các dự án thủy điện vừa và nhỏ luồn lách. (Tài Nguyên&Môi Trường)đầu trang(
Các mục tiêu, chiến lược phát triển rừng đặc dụng luôn bị "yếu thế" và phải lùi bước trước sức mạnh của những quyết định phát triển thủy điện. Sự yếu thế còn nằm ở cả nội lực bảo tồn, quá trình triển khai Luật và cả trong quy định văn bản pháp luật liên quan tới bảo tồn.
Hiện nay cả nước mới có 88/164 Ban quản lý rừng đặc dụng có Hạt kiểm lâm. Nhưng già nửa số đó (46) được gọi là Hạt kiểm lâm, nhưng thực chất là lực lượng bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng.
Theo kết quả phỏng vấn 184 cán bộ tại 7 Khu bảo tồn, 3 Chi cục Kiểm lâm và phiếu trả lời của 37 Khu bảo tồn, Chi cục Kiểm lâm do tổ chức GIZ tiến hành gần đây cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn còn khá trẻ, trình độ học vấn cao và được đào tạo năng lực hàng năm. Tuy nhiên phần lớn cán bộ quản lý từ giám đốc, trưởng phó phòng ban, tới cán bộ kiểm lâm, cán bộ hiện trường, đều rất ít tự tin vào năng lực của mình, đặc biệt ở các lĩnh vực liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học và các chức năng mới của Khu bảo tồn.
Tương tự như vậy, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Con người và Thiên nhiên trong quá trình phỏng vấn sâu các Ban quản lý Vườn quốc gia, Khu bảo tồn cũng nhận thấy năng lực hiểu biết những tác động của xây dựng thủy điện tới đa dạng sinh học từ việc mất rừng còn hạn chế; chưa đưa ra được những lý lẽ thuyết phục về bảo tồn.
Đại diện lãnh đạo Vườn quốc gia Cát Tiên thẳng thắn thừa nhận "năng lực thương thảo đánh đổi giữa bảo tồn và phát triển của bản thân Vườn quốc gia cũng hạn chế, cần có sự tham gia của nhiều chuyên gia và các cơ quan trong và ngoài nước". Hiện nay tại Vườn quốc gia Cát Tiên, Hoàng Liên và Khu bảo tồn sông Thanh, đều không có cơ sở dữ liệu đề giám sát loài, nên rất khó khăn có thể đưa ra bằng chứng và cơ sở cho thương thảo. Thậm chí, ngay cả Văn phòng WWF Việt Nam, một tổ chức bảo tồn hàng đầu cũng không còn lưu trữ các tài liệu liên quan đến Khu bảo tồn sông Thanh, nơi tổ chức này thực hiện dự án gần 20 năm qua.
Nhưng cho dù năng lực còn hạn chế, Ban quản lý các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn luôn ý thức được trách nhiệm trong việc bảo vệ các tài sản tự nhiên vô giá và nhận diện được nguy cơ mất mát đa dạng sinh học trước thảm trạng mất rừng. Đáng tiếc, họ thường bị "đứng ngoài" quá trình lập quy hoạch thủy điện trên lưu vực. Ban quản lý các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn tỉnh Đồng Nai, Quảng Nam đều không biết, không được tham vấn trong quá trình qui hoạch thủy điện trên sông Đồng Nai, sông Thanh.
Nhiều ý kiến cho rằng, khi Vườn quốc gia, Khu bảo tồn, Chi cục Kiểm lâm dưới sự chỉ đạo của UBND thì rất khó để có ý kiến trái chiều hay phản đối các dự án thủy điện nằm trong ranh giới Vườn quốc gia, Khu bảo tồn. Kể cả ý kiến phản đối cũng không có "hiệu lực".
Điển hình là vụ việc Vườn quốc gia Hoàng Liên phản đối Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai thông qua qui hoạch thủy điện (2004), trong đó có thủy điện Séo Chong Hô nằm trong ranh giới của Vườn. Nhưng cuối cùng Ban quản lý Vườn cũng phải đồng ý ký vào văn bản đề nghị Bộ Nông nghiệp- Phát triển nông thôn chuyển đổi một phần diện tích rừng thuộc phân khu phục hồi sinh thái cho thủy điện, sau khi "được UBND tỉnh mời ra họp, phân tích các khía cạnh lợi hại về kinh tế, xã hội và môi trường".
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là "rào cản" pháp lý bảo vệ rừng đặc dụng. Theo đó, ĐTM các dự án thủy điện dù lớn hay nhỏ đều phải tiến hành đồng thời với nghiên cứu khả thi của dự án. Nhưng thực tế, các ĐTM của công trình thủy điện thường thực hiện rất muộn, thậm chí sau khi đã khởi công xây dựng. Thủy điện Nậm Toóng, xã Bản Hồ (Sapa) khởi công từ tháng 7/2007, đến 3/2008 mới triển khai ĐTM. Thủy điện Hương Sơn (Hà Tĩnh) thi công từ 2002, hai năm sau mới có ĐTM. Tệ hơn là thủy điện Rào Quán liên quan đến Khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa đi vào hoạt động mới bắt đầu thực hiện làm báo cáo ĐTM.
Kết quả khảo sát tại 3 tỉnh Lào Cai, Quảng Nam, Đồng Nai của Trung tâm Con người và Thiên nhiên, cho thấy nội dung đánh giá và báo cáo ĐTM của các dự án thủy điện liên quan đến rừng đặc dụng thường bỏ qua hoặc ít khi chú ý tới các loài có giá trị toàn cầu; chỉ chú ý đưa ra các số liệu về ô nhiễm không khí, tiếng ồn, chất thải.
Chẳng hạn, ĐTM của thủy điện A Chò nằm ngay trong vùng lõi của Khu bảo tồn Đăk Rông, nơi loài Gà lôi lam đặc hữu tại khu vực có ý nghĩa quan trọng toàn cầu, chỉ được liệt kê 6 dòng mô tả hiện trạng; không hề phân tích về tác động của thủy điện đối với chúng. Mặc dù con tê giác Java cuối cùng của Vườn Cát Tiên đã chết, đánh dấu sự tuyệt chủng của loài này tại Việt Nam, nhưng trong ĐTM của hệ thống các thủy điện trên sông Đồng Nai nằm cạnh Vườn quốc gia, rất ít nghiên cứu, phân tích tác động thủy điện tới tê giác cũng như tác động liên quan tới khu Ramsar đất ngập nước Bàu Sấu.
Cá biệt, kết luận ĐTM thủy điện Đắk mi 4 (Quảng Nam) cho rằng "bằng việc chủ đầu tư cam kết xây dựng 2 đập sau hồ ở hạ lưu đập chính để bổ sung dòng chảy mùa khô cho sông Đắk mi, việc chặn toàn bộ dòng Đắk mi là có thể chấp nhận được", trong khi thực tế việc nắn dòng lại đưa nước chảy vào sông Thu Bồn để phát điện mà không chuyển trả nước cho sông Vu Gia, đã tạo ra xung đột môi trường cấp địa phương nặng nề nhất giữa thành phố Đà Nẵng và UBND tỉnh Quảng Ngãi.
Đó là chưa kể những bất cập do Luật Bảo vệ môi trường 2005 chỉ quy định đánh giá môi trường chiến lược đối với đối với quy hoạch điện cấp quốc gia, cấp vùng, còn quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ do cấp tỉnh phê duyệt, không phải đánh giá môi trường chiến lược. (Tài Nguyên&Môi Trường)đầu trang(
Theo số liệu thống kê của Cục kiểm lâm về mất rừng từ 2007 -2010 cho thấy tình trạng báo động về mất rừng ở nhóm các tỉnh có nhiều thủy điện. Đứng đầu là Bình Phước (2.689,23ha), thứ hai là Đắk Nông (1.688,14ha), thứ ba là Lâm Đồng (1.294,68ha), thứ tư là Sơn La (577,69ha). Dưới đó là Kon Tum (365,56ha), Gia Lai (242,65 ha), Quảng Nam (205,87ha), Phú Yên (218,54ha), ĐắkLắk (197,71ha) và Tuyên Quang (108,24ha).
Rừng đặc dụng vẫn đang đứng trước nguy cơ suy thoái về chất lượng, mất mát về số lượng, bởi theo Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010 định hướng đến 2020, trong vòng 20 năm tới sẽ xây dựng hầu hết các nhà máy thủy điện tại những nơi có khả năng xây dựng. Nhiều ý kiến cho rằng, đã đến lúc phải “khoanh” 2 triệu ha diện tích rừng đặc dụng như “khoanh” diện tích trồng lúa, thì rừng đặc dụng mới có thể được bảo tồn, được phát triển bền vững.
Để chống lại nguy cơ “xâm thực” của thủy điện, khai thác khoáng sản, một trong những khó khăn nhất chính là việc lượng hóa giá trị đa dạng sinh học do mất rừng, kết hợp với những mất mát về sinh kế cộng đồng, hạ tầng cơ sở để so sách “được mất” với phát triển thủy điện.
Nhưng thực tế cho thấy, nếu quyết tâm thì cũng có thể thực hiện được. Năm 2006, khi UBND tỉnh Quảng Nam và Bộ Công Thương phê chuẩn quy hoạch phát triển thủy điện trên sông Vu Gia – Thu Bồn, người ta nhận thấy nguy cơ tác động từ 50 đập thủy điện tới lưu vực và sự tiếp cận của người nghèo đối với tài nguyên nước.
Với tài trợ của Ngân hàng châu Á (ADB), một thử nghiệm đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) đối với quy hoạch này đã được thực hiện. Sau khi thực hiện tham vấn các bên liên quan về 80 vấn đề môi trường và xã hội, các chuyên gia tư vấn trong nước và quốc tế đã xác định được 15 nhóm vấn đề quan tâm.
Ở bước đánh giá cuối cùng, ĐMC tập trung vào 4 vấn đề lớn giữa môi trường và phát triển, bao gồm cung cấp nước, phát triển kinh tế tỉnh, tính nguyên vẹn của hệ sinh thái và tác động tới đồng bào dân tộc ít người. Từ đó đi đến kết luận mức độ và qui mô của các thủy điện qui hoạch không thể bền vững và đưa ra nhiều vấn đề đáng quan tâm – sự thay đổi chế độ thủy văn của lưu vực và tác động tới môi trường, hệ sinh thái thủy sinh và cung cấp nước.
Kết quả này được đem ra thảo luận, xem xét tại Hội thảo quốc gia có sự tham gia của các Bộ liên quan và lãnh đạo tỉnh. Chủ tịch UBND tỉnh thừa nhận quy hoạch và chiến lược phát triển thủy điện được xây dựng mà không xem xét bức tranh toàn cảnh, các dự án thủy điện có thể sẽ gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường. Nhiều kiến nghị của ĐMC đưa ra đã được thực hiện : Loại bỏ tất cả 5 thủy điện nằm trong Khu bảo tồn Sông Thanh; Cục điều tiết điện Việt Nam thử nghiệm cơ chế chia sẻ lợi ích từ thủy điện; tái tổ chức bộ máy quản lý lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và xây dựng kế hoạch cho lưu vực.
Năm 2009, ADB tiếp tục thực hiện đánh giá ĐMC Quy hoạch điện VI, nhận định rủi ro tới đa dạng sinh học rất trầm trọng vì các đập thủy điện đều nằm gần các vùng đa dạng sinh học cao và nhạy cảm. Nhất là các khu rừng đặc dụng được xác định có mức độ rủi ro cao với đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài nguy cấp như Hổ (Mường Nhé), Tê giác (Cát Tiên), Linh trưởng và nhiều loài chim, thực vật và động vật có tầm quan trọng toàn cầu.
Theo ĐMC Quy hoạch điện VII, có trên 25.000 ha bị ngập với giá trị sinh thái thiệt hại khoảng 74 triệu USD và 61.500 người bị di chuyển. Riêng diện tích rừng bị mất do xây dựng đường truyền tải điện đã lên tới 14.000ha và hệ sinh thái ở 39 khu vực có đa dạng sinh học cao và 59 khu vực bảo tồn có nguy cơ bị phá vỡ và bị chia cắt.
Khó khăn lớn thứ hai chính là “chinh phục” ý chí của “cấp có thẩm quyền ra quyết định”. Bởi xét cho cùng, từ việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển chuyên ngành, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, cấp đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, thực hiện công tác bảo vệ môi trường; đều nằm trong tầm tay của người ra quyết định.
Không thể bao biện được cho những quyết định phát triển thủy điện của UBND các tỉnh Đồng Nai, Quảng Nam, Lào Cai đã lấy đi 819,51 ha rừng vùng lõi và 1.347 ha rừng vùng đệm của Vườn quốc gia, Khu bảo tồn nổi tiếng như Cát Tiên, Hoàng Liên, Sông Thanh; bất chấp ở đó có những loài động vật quý hiếm bị đe dọa như tê giác, bò tót, mang trường sơn, hổ, gấu, sao la, cá trình hoa; để đổi lấy 3.052 MW điện.
Những quyết định đó còn gây ra xung đột giữa thủy điện với du lịch, với bảo tồn đa dạng sinh học, xung đột trong xử dụng nước. Đặc biệt là xung đột giữa thủy điện với sinh kế của người dân, điển hình là thủy điện sông Tranh 2 làm ngập khoảng 2.500ha đất, di dời hơn 1.200 hộ dân, sau 5 năm tái định cư, đời sống của bà con vẫn chưa ổn định, dẫn tới thiếu đói, phá rừng; khiến cho UBND huyện đưa ra yêu cầu không xây thêm thủy điện. Cá biệt, có xung đột gây hại cho chính chủ đầu tư, như trường hợp dự án thủy điện Nậm Xây Noong 1 mất trằng 7 tỷ đồng triển khai dự án, nhưng bị đình chỉ xây dựng vì nằm trong Khu bảo tồn Hoàng Liên Văn Bàn.
Chỉ khi nào “cấp có thẩm quyền” nhìn nhận được giá trị trường tồn đa hữu ích từ rừng đặc dụng, thì rừng mới có thể mãi là báu vật trời ban cho cuộc sống con người. (Tài Nguyên&Môi Trường 12/7)đầu trang(
Liên quan đến vụ một công ty kiện Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình về việc ra quyết định xử phạt trái phép 608 con ba ba của doanh nghiệp này, ngành kiểm lâm, thuỷ sản khẳng định UBND tỉnh Quảng Bình sai.
Liên quan đến vụ Công ty TNHH Tiền Hậu (TP.HCM) kiện Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình về việc ra quyết định xử phạt trái phép 608 con ba ba của doanh nghiệp này, ngày 12.7, trao đổi với phóng viên NTNN, ngành kiểm lâm, thuỷ sản khẳng định UBND tỉnh Quảng Bình sai.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình ra quyết định xử phạt Công ty Tiền Hậu với lý do lô hàng này thuộc loại động vật hoang dã (loại động vật lưỡng cư), có nguồn gốc lâm sản. Loài ba ba này đã được xác định là ba ba trơn, có tên latin là Trionyx sinensis.
Quyết định xử phạt của tỉnh Quảng Bình đã khiến người nông dân nuôi ba ba ở nhiều địa phương bức xúc. Trong ảnh, nông dân Đồng Tháp xuất bán ba ba.
Về vấn đề này, ông Dương Tiến Thể - Phó Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản, thuộc Tổng cục Thủy sản (Bộ NNPTNT) khẳng định: "Ba ba có tên latin là Trionyx sinensis thuộc loài ba ba hoa, là đối tượng được nuôi và sản xuất thông thường theo Quyết định 57 của Bộ trưởng Bộ NNPTNT ngày 2.5.2008 về Danh mục giống thủy sản được phép sản xuất, kinh doanh".
Theo danh mục này, ba ba hoa được xếp vào nhóm B (nhóm các đối tượng nuôi nước ngọt), mục IV (giống các loài lưỡng cư), cùng với ba ba gai, ba ba Nam Bộ… là những giống thủy sản được phép sản xuất, kinh doanh.
Ông Thể cho biết: "Với loài ba ba trên, khi vận chuyển, chủ hàng chỉ cần có giấy kiểm dịch (của thú y-PV) là được. Ngoài ra, không cần thêm bất cứ loại giấy tờ nào, vì đây không phải là loài động vật quý hiếm".
Ông Thể bức xúc: “Đích thân chúng tôi là cơ quan quản lý loài ba ba này và tôi xin khẳng định việc xử phạt của UBND tỉnh Quảng Bình là sai hoàn toàn”. Theo ông Thể, ở đây có thể do tỉnh Quảng Bình không cập nhật các văn bản quy định của Bộ NNPTNT.
Cũng về vấn đề này, ông Đỗ Danh Tùng- Phó Giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam (cơ quan Quản lý của Việt Nam thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp) khẳng định: "Ba ba trơn là loài được tự do nuôi nhốt, tiêu thụ, mà không chịu bất kỳ một sự quản lý nào. Chỉ có ba ba đầu đinh mới là loài động vật hoang dã cần được bảo vệ và cấm nuôi, tiêu thụ".
Do đó, theo ông Tùng, ba ba trơn được tự do lưu thông, không cần bất cứ một loại giấy tờ nào của kiểm lâm. Còn việc UBND tỉnh Quảng Bình ra quyết định xử phạt đối với Công ty Tiền Hậu như thế là hoàn toàn không được, việc áp dụng mức xử phạt như vậy cũng không đúng với quy định.
Trong một diễn biến khác, ngày 12.7, trao đổi với phóng viên NTNN, ông Trần Đình Quyết - Giám đốc Công ty TNHH Tiền Hậu cho biết: "Có khoảng trên 500 hộ nuôi ba ba trơn nằm rải rác ở các tỉnh Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu… cung cấp cho công ty ông. Riêng Tây Ninh, khu vực gần hồ Dầu Tiếng tập trung khoảng gần 100 hộ.
Điển hình như hộ ông Trần Văn Tư (Tư Lùn), hộ ông Tám Toại ở tổ 9, ấp Phước An, xã Phước Ninh, Dương Minh Châu, Tây Ninh với tổng sản lượng tiêu thụ trung bình hàng năm của Tiền Hậu khoảng 350 - 400 tấn".
Theo ông Quyết, nếu nơi nào cũng xử lý như UBND tỉnh Quảng Bình, thì các hộ chăn nuôi ba ba hết sức khó khăn. Ngoài ra, nếu cứ áp dụng quy định khi vận chuyển và buôn bán ba ba phải có giấy của kiểm lâm thì không siêu thị nào dám tiếp tục đưa ba ba của nông dân lên kệ hàng, nông dân hết đường tiêu thụ sản phẩm". (Nông Thôn Ngày Nay 13/7) đầu trang(
Từ năm 2008 đến nay, trên địa bàn tỉnh trồng được 30.411 ha rừng, trong đó diện tích trồng rừng năm 2008 là 2.839 ha; năm 2009 trồng hơn 5.205 ha; năm 2010 trồng 12.610 ha; năm 2011 trồng 6.807 ha và 6 tháng đầu năm 2012, toàn tỉnh trồng mới được 2.950 ha.
Diện tích rừng nói trên được người dân các huyện miền núi trong tỉnh trồng và thực hiện theo Quyết định 147/QĐ-TTg ngày 10-9-2007 của Thủ tướng Chính phủ. Nhìn chung, phong trào trồng rừng sản xuất những năm qua đã, đang phát triển rộng khắp và bước đầu đem lại những kết quả khả quan, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động nông thôn, đồng thời nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ làm nghề rừng, góp phần đưa độ che phủ của rừng từ 36,3% năm 1999 lên 49,1% năm 2011, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế thiên tai lũ lụt, điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Kết quả nêu trên mới là bước đầu, mục tiêu phương án trồng mới và cải tạo rừng sản xuất tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2008–2015 đề ra là toàn tỉnh sẽ trồng mới và trồng lại rừng bằng phương pháp thâm canh 119.586 ha. Trong đó, trồng cây gỗ lớn, gỗ nhỡ 37.086 ha; trồng cây gỗ nhỏ 68.400 ha, trồng luồng 14.100 ha. Đưa độ che phủ của rừng tăng thêm 6%, góp phần giảm thiểu xói mòn và thoái hóa đất, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ ống, lũ quét, bảo vệ môi trường sinh thái. Giải quyết căn bản tình trạng phá rừng làm nương rẫy, hạn chế nguy cơ cháy rừng, góp phần bảo vệ cảnh quan thiên nhiên trong khu vực.
Đặc biệt, với vùng nguyên liệu mới và ổn định trên, toàn tỉnh sẽ có khoảng 5.563.000 m3 gỗ lớn; 8.208.000 m3 gỗ nhỏ; 8,4 triệu cây luồng nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy, doanh nghiệp chế biến lâm sản. Đồng thời, đưa tổng giá trị lâm sản tăng so với trước khi thực hiện phương án khoảng 11.374,6 tỷ đồng, trong đó giá trị của loại gỗ lớn là 6.675 tỷ đồng, gỗ nhỏ là 4.515 tỷ đồng, luồng 84,6 tỷ đồng. Làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở miền núi thông qua việc hình thành các vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp tập trung, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần tăng thu ngân sách tích lũy để tái đầu tư phát triển rừng. Đặc biệt, nguồn lợi từ rừng còn giải quyết việc làm cho khoảng 60.000 hộ dân, với 150.000 lao động tại 25 huyện, thị xã nằm trong vùng quy hoạch trồng rừng.
Để công tác trồng rừng theo Quyết định 147 của tỉnh tiếp tục tạo ra những con số ấn tượng, hiện nay ngành lâm nghiệp, các đơn vị được giao triển khai đang tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mới.
Trước hết, 25 huyện, thị xã nằm trong vùng quy hoạch tiến hành rà soát lại việc giao đất, giao rừng, thu hồi và xử lý những trường hợp sử dụng sai mục đích; tiếp tục giao đất, giao rừng, cho thuê rừng đối với diện tích UBND xã đang tạm quản lý. Quy hoạch các nguồn giống, hệ thống vườn ươm bảo đảm đủ giống chất lượng cao phục vụ trồng rừng; các vùng nguyên liệu giấy, ván dăm, đồ mộc...
Đặc biệt, trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy. Mặt khác, đối với những diện tích rừng trồng mới và cải tạo, cần đồng bộ trong việc thực hiện trồng rừng theo phương thức thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng. Ưu tiên phát triển các cơ sở chế biến có quy mô lớn, công nghệ cao để tiết kiệm tài nguyên và không làm ô nhiễm môi trường. Khuyến khích phát triển các làng nghề, tổ hợp, HTX sản xuất, chế biến lâm sản như: đồ mộc, thủ công mỹ nghệ, cót ép, ván luồng...
Trong chuỗi những giải pháp ấy, giải pháp về vốn vẫn là “bài toán” khó đối với các địa phương. Bởi, ngoài nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước theo kế hoạch hàng năm, thì việc tự cân đối các nguồn thu từ bán cây đứng, thuế tài nguyên... để thực hiện hỗ trợ công tác trồng rừng cho các hộ dân xem ra chưa có “lời giải”. Đồng thời, việc tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi của các hộ dân tại các Ngân hàng Chính sách xã hội là rất khó khăn.
Trong khi đó, đa phần người dân tham gia trồng rừng là đồng bào các huyện miền núi, đời sống kinh tế gia đình đang còn nhiều khó khăn nên huy động nguồn vốn tự có gần như là không thể. Vậy là, giải pháp về vốn hỗ trợ trồng rừng cho các hộ dân vẫn rất cần bàn tay can thiệp của Nhà nước. (Báo Thanh Hoá 12/7)đầu trang(
Sau khi báo Lao Động số 128 ra ngày 5.6 đăng bài viết: “Dự án nông - lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao Vĩnh Phúc: Thật, giả lẫn lộn” phản ánh về việc cấp đất cho dự án này sai thủ tục, gây thiệt hại cho địa phương, ngày 15 và 29.6, Cty TNHH nông - lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao Bình Xuyên (Cty Bình Xuyên) đã gửi tới Báo Lao Động công văn số 53 và 56/CV-NLNCNC, cho rằng bài báo không đúng sự thật.
Nhằm làm rõ các vấn đề mà Cty Bình Xuyên phản ứng, PV Báo Lao Động đã làm việc với lãnh đạo thường trực Tỉnh ủy (TTTU) tỉnh Vĩnh Phúc xung quanh chủ trương cấp đất thực hiện Dự án (DA) nông - lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên.
Trả lời câu hỏi TTTU tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản nào chấp thuận cấp đất cho DA nông - lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Cty Bình Xuyên, lãnh đạo TTTU Vĩnh Phúc khẳng định: “TTTU không có một văn bản nào chỉ đạo giao đất cho Cty Bình Xuyên”. Được biết, theo quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc: Tất cả các việc giao đất, cấp đất ngoài khu, cụm công nghiệp có diện tích từ trên 1ha trở lên thì Ban Cán sự UBND tỉnh phải báo cáo với TTTU xem xét và quyết định.
Trong DA nông - lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại thị trấn Gia Khánh, sau khi có ý kiến phản ánh của người dân và của dư luận báo chí, TTTU đã giao cho Thanh tra tỉnh xem xét và nghe báo cáo nên đã nắm được tình hình xung quanh vụ việc này. TTTU xác nhận UBND tỉnh có tờ trình xin giao đất cho Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống sản phẩm cây trồng và phân bón quốc gia trực thuộc Cục Trồng trọt - Bộ NNPTNT.
Trên cơ sở đó, TTTU tỉnh Vĩnh Phúc đã đồng ý giao cho UBND tỉnh nghiên cứu các thủ tục pháp lý cần thiết để giao 9,9ha đất cho trung tâm này thực hiện DA. Vào thời điểm đó, TTTU không được nghe báo cáo nên cũng không hề có một văn bản nào nói về việc giao đất cho Cty Bình Xuyên.
Về việc Cty Bình Xuyên cho rằng Cty này có quyền tiếp cận với địa phương và xin đất thực hiện DA theo đúng Luật DN, lãnh đạo TTTU Vĩnh Phúc cho biết: Muốn được như thế, Cty Bình Xuyên phải làm thủ tục xin thuê đất, cấp đất cho DA như bất cứ một DN nào khác, phải được UBND tỉnh cho chủ trương rồi giao cho Sở Xây dựng và các ngành liên quan thẩm định DA... trình lại với UBND tỉnh để cơ quan này trình với TTTU xem xét, nếu được chấp thuận, DN này được cấp đất theo quy định của pháp luật. Với những thông tin nêu trên cho thấy, việc UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp 12,59ha đất cho Cty TNHH Bình Xuyên, TTTU không hề biết.
Về việc UBND tỉnh Vĩnh Phúc lấy 12,59ha đất của Cty TNHH một thành viên nông - công nghiệp Tam Đảo (Nông trường Tam Đảo) để cấp cho Cty Bình Xuyên có đúng hay không, phía lãnh đạo TTTU tỉnh Vĩnh Phúc cho biết: Đất của Nông trường Tam Đảo là đất của DN nhà nước quản lý và sử dụng.
Theo quy định, không thể lấy đất của chủ sở hữu này giao cho chủ sở hữu khác được, mà theo nghị định của Chính phủ về vấn đề này, khi muốn lấy đất loại này giao cho chủ sở hữu khác thì phải được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu. Việc địa phương thu hồi đất của nông trường rồi đem giao cho Cty Bình Xuyên mà không qua đấu thầu, địa phương sẽ kiểm tra lại; bởi triển khai việc này do UBND tỉnh thực hiện.
Được biết, lô đất 12,59ha giao cho Cty Bình Xuyên thuê 49 năm mà chỉ tốn kinh phí bồi thường hơn 3,76 tỉ đồng, trong đó bồi thường tiền đất là 1,31 tỉ đồng. Theo giá thị trường khu vực lân cận tại thời điểm đó, diện tích tích đất giao cho Cty Bình Xuyên phải có giá trị hơn trăm tỉ đồng(?). Nếu đúng như vậy, Cty Bình Xuyên đã chiếm được khoản tiền chênh lệch vô cùng lớn do việc không đấu thầu sử dụng đất theo quy định.
Về việc Cty Bình Xuyên cho rằng TTTU Vĩnh Phúc đã đồng ý với các việc làm của Cty - thể hiện trong bản thông báo kết luận của TTTU số 431-TB/TU ngày 5.12.2011 – phía lãnh đạo TTTU cho biết: Với nội dung của bản kết luận thanh tra, chúng tôi chỉ đạo thanh tra tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, UBND tỉnh phải tiếp tục chỉ đạo làm rõ các hồ sơ vụ việc...
Với những vấn đề nêu trên, việc giao đất cho Cty TNHH Bình Xuyên đúng là đang có vấn đề. (Lao Động 12/7)đầu trang(
Ngày 20.5, một con bò tót nặng gần 100kg được phát hiện chết tại khoảnh 2, tiểu khu 377 thuộc ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi (huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước). Đây là loài động vật hoang dã quý, hiếm, có tên trong Sách đỏ Việt Nam cũng như Sách đỏ thế giới. Từ vụ bò tót bị chết, cộng với thông tin bò tót liên tục phá hoa màu, thậm chí đã tấn công người, phóng viên đã tìm về huyện Đồng Phú để ghi nhận về sự việc này.
Có mặt tại địa phương ngày 6.7, sau khi nghe tin ít ngày trước, bò tót đã ăn mất bốn sào bắp vừa ra trái của gia đình ông Sáu Xệ và chuyện con bò tót gần 100kg bị chết cách nay hơn một tháng, nằm trong khu vực nông trường Tân Lập. Ở đây, có nghịch lý là trong khi người dân tìm cách xua đuổi chúng, lại có một lực lượng phải mất ăn mất ngủ để bảo vệ loài động vật trong Sách đỏ này…
Anh Trịnh Hoàng Nghĩa, dân quân thường trực xã Tân Lợi, chỉ cho phóng viên một khoảnh bắp nhà ông Sáu Xệ vừa bị bò tót phá, trong khi chủ rẫy đang lui cui sửa lại chòi để kịp tối còn canh bò.
Ông Sáu Xệ (tên thật là Dương Văn Tài) với mái tóc bạc cùng khuôn mặt đẫm mồ hôi vừa khệ nệ chở nước uống vào chòi canh, kể: “Hồi nào tới giờ, bò tót hay về phá khoai mì, bắp nên tui làm chòi để canh. Bình thường, chúng hay ra ăn vào chập tối, tui canh đến cữ khuya không thấy động tĩnh gì nên đi ngủ. Vậy mà sáng ra, thấy nguyên khoảnh bắp bị bò ăn và đạp gãy hết”. Rẫy của ông Sáu Xệ nằm sát với đồi Xương Rồng, địa điểm bò tót thường sinh sống.
Khai hoang và canh tác ở đây từ năm 1985 đến nay, ông Sáu Xệ khẳng định: đàn bò có khoảng 18 – 20 con. Mọi năm, vào mùa mưa, chúng ít ra phá hoa màu, nhưng năm nay, chuyện bò ra liên tục, lại vào mùa mưa là chuyện lạ, nên ông đã thuê ông Thạch Cửa cùng với mình dựng lều canh cả ngày lẫn đêm. Căn cứ vào dấu vết của bàn chân bò tót còn in lại trên rẫy bắp, vị chuyên gia động vật đi cùng đoàn với phóng viên, cho rằng có ít nhất ba con bò tót đã tham gia vào vụ tàn phá này.
Nóng ruột vì hoa màu bị phá, ông Sáu Xệ đã làm một cái chòi mới cách đồi Xương Rồng khoảng 20m. Buổi tối, hai người đốt lửa và thay nhau đập nồi inh ỏi hòng xua đàn bò. Gặp ông Nguyễn Văn Cảnh, xã Tân Lợi, khi biết phóng viên tìm hiểu về bò tót, lão nông này chặc lưỡi: “Năm rồi, bò tót ăn mất của tôi ba mẫu mấy mì, năm nay thì hết ba sào rồi. Chúng khôn dữ lắm, không ăn lá mà chỉ moi củ ăn. Nếu không làm chòi canh là chúng phá hết”. Theo ông Cảnh, càng ngày bò tót càng dạn, nhiều khi đứng cách 50m, chúng vẫn không chạy. Còn ông Liêu Văn Thanh, người cùng xã, canh tác ở đây từ năm 1996, cho biết: “Hồi mới tới, tui đã thấy đàn bò tót sống ở đây rồi. Hồi đó tầm tháng 2 tháng 3, chúng hay ra bìa rừng, nhưng nay thì liên tục, chó nhà rượt sủa, chúng còn quay lại húc. Có lần tôi đếm được cả thảy có 11 con”.
Ở tiểu khu 377 có khoảng 20 hộ dân, đi đến đâu cũng nghe kể về việc bò tót phá hoại cây trồng của họ. Điều khá lạ là loài động vật hoang dã này còn ăn cả lá cao su. Ông Thanh cho biết: “Trước đây, rừng còn rậm, còn bây giờ phá rừng trồng cao su, canh tác hoa màu, chỗ ở của đàn bò bị thu hẹp, nên chúng dạn hơn, ra phá rẫy nhiều hơn. Có lần, đàn bò tót phá hết cả mẫu cao su năm tuổi trong nông trường, có hai mẫu gần đường lộ đến nay vẫn là bãi đất trống vì cứ trồng cao su là bò tới phá”.
Cũng như nhiều nông dân khác đang đối phó với bò tót, ông Thanh lập chòi canh và chuyển sang trồng những loại cây bò ít phá như: bí đỏ, mãng cầu, dưa leo… Hiện nay, nhiều người dân lo lắng là việc đàn bò tót trở nên hung dữ và quay lại tấn công người. Có mặt tại chốt kiểm lâm liên xã Tân Hoà – Tân Lợi, ông On, một người dân địa phương, kể cách nay ít tháng, ông Tư Mẫn đi soi cá chập tối, bị bò tót tấn công, nhưng may mắn trèo lên cây nên thoát được. Hay trước đó, một người dân thấy bò tót con đẹp, định bắt về nuôi đã bị bò tót mẹ rượt đuổi chạy trối chết. May là chưa có thiệt hại về người, nhưng trước những vụ bò tót tấn công, người dân đã chủ động rỉ tai nhau tránh những nơi bò tót hay xuất hiện.
Trong khi người dân tìm cách xua đuổi đàn bò tót phá rẫy, lại có những người vì canh loài động vật có tên trong Sách đỏ này mà mất ăn mất ngủ. Chốt kiểm lâm liên xã Tân Hoà – Tân Lợi thường xuyên có hai kiểm lâm địa bàn, gồm ông Phạm Thanh Chính và ông Lý Văn Việt và ba dân quân nằm trong ban bảo vệ rừng của xã hỗ trợ kiểm lâm, đặc biệt là bảo vệ đàn bò quý hiếm này. Thời gian gần đây, công việc của họ nặng nề hơn khi liên tục nhận được các phản ánh của người dân có đất trồng cao su, khoai mì trong các tiểu khu 375, 377, nông trường Tân Lập bị bò tót phá hoại cây trồng, hoa màu với tần suất ngày càng nhiều hơn.
Ông Nguyễn Văn Cao, hạt trưởng hạt kiểm Đồng Phú, cho biết: “Đàn bò tót ra kiếm ăn ở vườn cao su, rẫy khoai mì… vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối. Việc chúng dạn dĩ, xuất hiện thường xuyên phá hoại cây trồng của dân là điểm bất lợi cho công tác bảo vệ đàn bò, vì đây là yếu tố có lợi cho các đối tượng săn, bẫy trái phép. Việc hai con bò tót bị giết hại trong năm 2010 và 2012 tại vùng rừng tiểu khu 377 (khu giao đất cho công ty cổ phần Rạng Đông), đã chứng minh điều đó”. Ngoài ra, theo ông Cao, việc người dân phun thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ để bảo vệ hoa màu, nếu không may bò tót ăn phải thì rất nguy hiểm…
Cũng vì lý do trên mà theo ông Việt: “Cuộc họp nào, lãnh đạo hạt kiểm lâm cũng nhắc anh em phải canh rừng, canh bò 24/24 giờ. Có lần, mấy anh em địa phương điện thoại đùa, bảo bò chết mà tụi tôi dựng đứng người. Bình thường chạy xe vô địa bàn mất 15 phút, nhưng nghe tin đó, năm phút là chúng tôi có mặt”. Thông thường, kiểm lâm và dân quân sẽ đi tuần tra rừng từ 4 – 5 lần/tuần, ban đêm thì 7 giờ lên đường đến khuya mới về chốt. Đó là chưa kể lực lượng thường trực tại chốt sẽ kiểm tra xe cộ qua lại, nếu nghi chở gỗ lậu hay vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm.
Anh Trịnh Hoàng Nghĩa, dân quân xã Tân Lợi, cho biết: “Mỗi lần nghe tiếng súng nổ là mấy anh kiểm lâm sẽ điều động tụi tui cùng bảo vệ nông trường chặn ở các ngã ba đường, còn lại lập tức truy lùng trong rừng và các khu trồng cao su. Mới đây, tụi tui thu được hai khẩu súng chế, nhưng tiếc là chưa bắt được người đi săn”. Không lên lịch trước, lực lượng hạt kiểm lâm liên tục tổ chức cắt rừng để gỡ bẫy thú, bẫy bò tót. Mới đây, một cuộc càn quét như vậy, kiểm lâm đã thu được hơn 60 cái bẫy, nhưng chủ yếu là bẫy thú nhỏ.
Có mặt ở huyện Đồng Phú hai ngày, nhưng chúng tôi không may mắn tận mắt thấy bò tót ra bìa rừng. Mấy anh kiểm lâm nói, họ có cơ sở vệ tinh là những người dân đã tình nguyện tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ đàn bò tót. Ông Việt nhận định: “Nhiều người dân trở thành mạng lưới thông tin của kiểm lâm, khi phát hiện người lạ vào địa bàn, khi nghe tiếng súng nổ, tiếng máy cưa, họ đều báo ngay cho kiểm lâm, hoặc họ cung cấp thông tin mới nhất về bò tót”. Điều đáng chú ý là, tại mỗi nhà dân, thường có một tấm ảnh bò tót rất lớn, treo ở tường. Theo giải thích của dân, điều đó nhắc nhở tinh thần bảo vệ thiên nhiên như kiểm lâm tuyên truyền. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, họ nhận ra việc người dân phá rừng của bò thì bò phá lại mình, họ chỉ mong sao giữ được đàn bò quý cho Nhà nước, còn bản thân thì được yên ổn làm ăn.
Nghịch lý của câu “ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”, là vậy! (Sài Gòn Tiếp Thị 12/7)đầu trang(
Vườn quốc gia Yók Đôn được thành lập ngày 29-10-1991, có diện tích 115.545ha. Vườn có nhiệm vụ bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng khộp mang đặc trưng của rừng nhiệt đới Đông Nam Á; bảo tồn nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo tồn danh lam thắng cảnh; khai thác du lịch sinh thái kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường...
Được ví như lá phổi xanh của khu vực Nam Tây Nguyên, nhưng những năm gần đây Vườn quốc gia Yók Đôn bị "lâm tặc" tấn công từ nhiều phía. Có thời gian chúng ngang nhiên dựng lán trại, sử dụng các phương tiện cơ giới để khai thác gỗ quý một cách trắng trợn. Hiện nay một số tiểu khu có trữ lượng lớn gỗ quý hiếm đã bị "lâm tặc" khai thác trắng.
Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý của chủ rừng lỏng lẻo. Sau khi có phản ánh của dư luận, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cùng chính quyền tỉnh Đắc Lắc thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ rừng. Trong đó, việc quan trọng nhất là sắp xếp, bố trí lại cán bộ, tăng cường thêm lực lượng, lập thêm các trạm kiểm lâm cơ động ở những vị trí xung yếu...
Ngay sau đó Vườn được tăng thêm 100 biên chế, tổ chức thành 1 hạt và 16 trạm kiểm lâm, trong đó có 2 trạm cơ động. Nhờ vậy, thời gian gần đây, nạn phá rừng ở đây đã có dấu hiệu giảm. Tại các "điểm nóng" đã tổ chức các chốt kiểm lâm cơ động và đội kiểm lâm liên ngành, tổ chức chốt chặn suốt ngày đêm. Từ khi thực hiện các biện pháp quyết liệt này, tại các "điểm nóng" như bến sông Sê-rê-pốc, nằm ở buôn Trí, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đắc Lắc), hoạt động của "lâm tặc" không còn công khai như trước, gỗ lậu đã bị chặn đường vận chuyển, bến sông đã bình yên trở lại.
Hay như ở khu vực Bến Cát nằm sâu trong rừng, nơi còn nhiều gỗ quý hiếm và là địa điểm người dân hay lợi dụng việc đi đánh bắt cá trên sông để vào rừng khai thác lâm sản trái phép cũng đã được ngăn chặn. Điều đó cho thấy, một số biện pháp của các cơ quan chức năng và của Ban lãnh đạo Vườn quốc gia Yók Đôn đã bắt đầu phát huy tác dụng.
Tuy nhiên, công tác giữ rừng ở Vườn quốc gia Yók Đôn còn nhiều áp lực, trong đó phải kể đến là xung quanh vùng đệm của vườn hiện có tới 9 nghìn hộ với hơn 40 nghìn nhân khẩu sinh sống. Trong số đó, còn không ít hộ sống chủ yếu bám vào rừng để khai thác lâm thổ sản, săn bắt động vật quý hiếm trái phép.
Thậm chí, còn có cả một buôn định cư ngay trong vùng lõi của vườn. Mặc dù năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đầu tư hơn 13 tỷ đồng xây dựng cho bà con buôn Đrang Phốk hồ đập thủy lợi, bảo đảm nước sinh hoạt và nước tưới cho 70ha lúa nước hai vụ nhằm tạo điều kiện để bà con gắn bó với cây lúa, giảm bớt tình trạng đi rừng khai thác gỗ trái phép. Thế nhưng hiện nay, nhiều hộ dân ở buôn Đrang Phốk vẫn công khai đi rừng đốn gỗ, bẫy thú để bán cho các đầu nậu. Thậm chí một số hộ dân còn ngang nhiên bao chiếm hàng chục héc-ta rừng để làm đất sản xuất và... sang nhượng cho các hộ khác.
Sáng 28-6, khi chúng tôi cùng lãnh đạo Vườn quốc gia Yók Đôn đi kiểm tra rừng đã phát hiện người dân buôn Đrang Phốk sử dụng xe cày "vô tư" vào rừng đốn gỗ trái phép. Không những thế, ngày 5-8-2008, UBND huyện Buôn Đôn còn ban hành Quyết định số 2089/QĐ-UBND về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch khu dân cư mới tại buôn Đrang Phốk.
Theo quyết định này, đến năm 2020, khu dân cư này sẽ có 250 hộ dân với 1.320 nhân khẩu. Chúng tôi cho rằng, việc quy hoạch khu dân cư mới tại buôn Đrang Phốk nếu được thực hiện càng làm tăng thêm áp lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng ở Vườn quốc gia Yók Đôn và vi phạm khoản 1, Điều 54 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Bên cạnh đó, từ cuối năm 2011, việc xây dựng Quốc lộ 14C với 62km ngang qua vườn, mà suốt dọc tuyến đường này không hề đặt chốt, trạm kiểm lâm nào đã khiến cho công tác bảo vệ rừng ở đây thêm phần khó khăn, phức tạp, đồng thời tạo kẽ hở cho lâm tặc lợi dụng.
Vì vậy để bảo đảm cho việc giữ rừng tại Vườn quốc gia Yók Đôn có hiệu quả thì nhất thiết UBND huyện Buôn Đôn cần phải điều chỉnh lại Quyết định 2089/QĐ-UBND theo hướng khoanh vùng, giữ nguyên số hộ hiện tại ở buôn Đrang Phốk tiến tới đưa toàn bộ số dân cư này ra khỏi vùng lõi của vườn. Tăng cường thêm lực lượng cơ động để quản lý chặt chẽ đoạn Quốc lộ 14C chạy ngang qua vườn. Như vậy mới hy vọng giảm áp lực trong việc giữ rừng quốc gia Yók Đôn. (Quân Đội Nhân Dân 12/7)đầu trang(
Lần theo thông tin người dân cung cấp, PV tìm về rừng Cái Lim thuộc xã Vạn Yên, Vân Đồn, Quảng Ninh. Nơi khu rừng còn giữ được nhiều cây gỗ và động vật quý hiếm. Nhưng không hiểu sao, thời gian gần đây xuất hiện một con đường mở dài chừng 4-5km được xuyên qua thung Trà Thần. Nếu tính riêng gỗ ươc thiệt hại hàng tỷ đồng, chưa kể đến thảm thực vật sinh thái hàng triệu năm đang bị “giết chết”...
Nhóm các nhà báo đã có mặt tại tuyến đường đang mở thuộc rừng Cái Lim, đảo Ba Mùn (thuộc vườn quốc gia Bái Tử Long) vào buổi chiều tháng 7, để chứng kiến những cây gỗ quý ở đây bị đốn hạ tràn lan dọc 2 bên đường rộng chừng 5-7m. Chúng tôi luôn bị chững người bởi cảnh tượng nhiều loại cây gỗ quý đã bị đốn hạ, nhiều cây chỉ còn lại gốc, nhiều cây bị chặt ngọn còn nguyên mùi gỗ, nhiều cây bị đánh dấu bằng mực đỏ mà chưa kịp khai thác?
Chưa kể, nhiều bãi trúc như bức tranh thủy mặc có giá trị cao cũng bị phạt ngang, nằm ngổn ngang bên đường. Lúc chúng tôi vào, đơn vị thi công tuyến đường này có lẽ bị động nên đã.. rút quân, chỉ còn lại những thùng phi lăn lóc với mấy chú cậu công nhân đang cọ rửa, ăn uống bên những tán lều.
Vết tích mở con đường đã giết chết những thảm thực vật sinh thái vô giá hàng triệu năm. Để có được con đường như thế này phải dùng đến xe cơ giới trong nhiều ngày mới phá được những tảng đá cứng để san thành đường
Con đường mới mở này được UBND Tỉnh Quảng Ninh ký mở thành tuyến đường Tuần tra - Du lịch nhưng có lẽ cũng không tính đến thực trạng thiệt hại hàng tỷ đồng các cây gỗ quý. Cũng như chưa kể đã “giết chết” hệ sinh thái hàng triệu năm và vô tình “để” tiếp tay cho Lâm tặc khai thác gỗ quý? Dư luận đang đặt tính nghi ngờ của con đường này.
Theo một số người dân, con đường rộng 5-7m này đã gây thiệt hại về giá trị gỗ quý lên tới hàng tỷ đồng chưa kể đến nguy cơ hệ sinh thái bị tàn phá vốn bàn tay con người gây dựng lên hàng triệu năm nay.
Những cây gỗ quý chưa kịp vận chuyển đang được dấu dưới lớp lá mây khô còn ngổ ngang bừa bộn. Nhiều loại như Lim, Táu, cây cảnh.. có giá một vài chục triệu đã được ai đó đánh dấu để chờ ngày khai thác.
Đặc biệt, những khóm trúc như bức tranh thủy mặc cũng bị phạt ngang ngửa mà thiên nhiên ban tặng cho nó những cũng bị chính con người hủy diệt. Mà lẽ ra nó phải được sống hòa mình với núi rừng khi được tạo hóa ban tặng. Đoàn các nhà báo mỗi bước đi đều chững lại bởi vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng rồi lại chững lại bởi sự xót xa mà chính con người lại tàn phá nó.
Có những cây gỗ quý to trị giá vài ba chục triệu đến cả trăm triệu đồng có đường kính trên 1m với tuổi thọ hàng trăm năm cũng được đánh dấu mực đỏ để chờ ngày...triệt hạ. Ông Lê Đức Long giám đốc Công ty du lịch sinh thái Yến Long cho biết: “Từ xưa tới nay, cánh rừng này vốn là nơi nghiên cứu của các đoàn chuyên gia trong nước và nước ngoài. Còn chủ yếu nó chỉ điều hòa hệ sinh thái môi trường thiên nhiên chứ nó không phải là nơi tham quan hay du lịch để phát triển về kinh tế. Đó là điều mà bất cứ ai cũng dễ dàng nhận thấy...”
Nhiều người dân ở đây cho rằng khi con đường chính thức xuyên qua rừng được mở xong thì khả năng sẽ phá hỏng nhiều loại gỗ quý hàng trăm tỷ đồng thì cánh rừng chẳng còn là rừng quý nữa để lôi kéo khách du lịch tới tham quan.
Có lẽ, từ sự phản kháng của dư luận khiến cơ quan chức năng Tỉnh Quảng Ninh lấy đó để nghiên cứu lại chăng? (Tầm Nhìn 13/7)đầu trang(
Chưa thể thu giữ, tập kết ra vị trí thuận lợi nên UBND huyện Tây Giang, Quảng Nam đã chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Công an huyện "mượn đất" của xã Zuôih, huyện Nam Giang, dựng lều gần suối Lăng để phòng ngừa lâm tặc và người dân tẩu tán 11m3 gỗ lậu trị giá hàng tỷ đồng.
Trong chuyến thực địa kiểm tra tình hình khai thác lâm - khoáng sản trên địa bàn đầu tháng 1/2012, đoàn công tác liên ngành huyện Tây Giang phát hiện hàng chục gốc lim xanh trên đồi Cha Na thuộc xã Lăng bị đốn hạ. Kiểm đếm cho thấy, số gỗ lim mà lâm tặc bỏ lại rừng tổng cộng là 117m3.
Hạt Kiểm lâm huyện Tây Giang đã khởi tố vụ án khai thác lâm sản trái phép, sau đó chuyển giao Công an huyện tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền. Do chưa thể thu giữ, tập kết ra vị trí thuận lợi nên UBND huyện Tây Giang đã chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Công an huyện "mượn đất" của xã Zuôih, huyện Nam Giang, dựng lều gần suối Lăng để phòng ngừa lâm tặc và người dân tẩu tán số tang vật trị giá hàng tỷ đồng.
Từ thời điểm đó đến nay, gần 10 CBCS Công an và Kiểm lâm phải luân phiên túc trực trong rừng sâu, nước độc với điều kiện làm việc, sinh hoạt hết sức thiếu thốn, khó khăn.
Ông Briếu Quân - Chánh văn phòng UBND huyện Tây Giang cho biết, đến nay, lãnh đạo huyện vẫn chưa có quyết định cuối cùng về việc xử lý số gỗ lim khai thác trái phép nói trên. Theo ông Quân, muốn đưa số gỗ trên ra khỏi đồi Cha Na phải mở đường vận chuyển với kinh phí khoảng 300 triệu đồng. Tuy nhiên, khó có thể lấy số tiền này từ ngân sách. Cũng đã có đề xuất bán số gỗ trên ngay tại rừng cho doanh nghiệp với mức giá thấp hơn 30% so với khung giá quy định của Nhà nước. Nhưng chỉ có một doanh nghiệp quan tâm tìm hiểu và… rút lui sau khi đi khảo sát thực địa.
Chỉ còn 1-2 tháng nữa là đến cao điểm mùa mưa bão của miền Trung. Đến lúc đó nước sông lớn và chảy xiết, càng không thể chuyển số gỗ này ra khỏi rừng. Một hướng giải quyết khác cũng đã được tính tới là tiêu hủy tại chỗ số gỗ lim do lâm tặc khai thác trái phép. Nhưng đến nay, lãnh đạo huyện vẫn chưa có quyết định cuối cùng. (Công An Nhân Dân 13/7)đầu trang(
Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Đặng Viết Thuần cho rằng, dù quyết liệt truy quét, nhưng buôn lậu gỗ nghiến có lợi nhuận ngang ma túy, nên chặt phá rừng vẫn còn là vấn nạn ở địa phương này.
Cũng như Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ và Vườn Quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng thuộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) đang phải đương đầu với nạn khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật hết sức phức tạp.
Dẫn chúng tôi thực tế “đại bản doanh” của lâm tặc, anh Hứa Văn Tiến – Tổ trưởng tổ kiểm lâm cơ động và phóng cháy chữa cháy rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng cho biết, không ít lần, lực lượng kiểm lâm đối đầu với sự chống trả quyết liệt của lâm tặc.
Anh Tiến kể, nhớ nhất trong hai năm làm nghề này là vụ chống người thi hành công vụ ngày 5-4-2012.
“Nhận tin ba đối tượng đi trên ba xe máy đang vận chuyển gỗ từ trong rừng ra xóm Bản Trang, mỗi xe chở 5 thanh gỗ, tổ công tác kiểm lâm cơ động bí mật theo dõi, rồi bất ngờ chặn lại. Ba đối tượng vứt xe và gỗ bỏ chạy".
"Chưa đầy 5 phút sau, trong lúc tổ công tác đang lập biên bản, thì ba đối tượng trên kéo theo một đoàn khoảng 40 người, mang dao, gậy, gạch đá xông đến lăng mạ, chửi bới, giằng co với lực lượng kiểm lâm,cướp xe, gỗ. Một đối tượng dùng dao chặt đứt dây buộc gỗ trên xe, cướp đi một chiếc xe máy" - Anh Tiến nhớ lại.
Theo anh Tiến, trước tình hình đó, đồng chí Vũ Thế Cường – Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thần Sa – Phượng Hoàng phải nổ súng chỉ thiên. Nhưng, đối tượng Trịnh Văn Được (ở xóm Bản Trang) tiếp tục liều lĩnh nhảy vào cướp xe khác.
Ông Ngô Hồng Văn trong tổ công tác nổ súng cảnh cáo lần nữa nhưng người này vẫn lao vào, buộc anh Văn phải bắn vào chân đối tượng. Hoảng sợ, đồng bọn của tên Được vội vàng tháo chạy.
Ngay sau đó, tổ công tác mời chính quyền địa phương, công an huyện và các đơn vị khác đến, lập biên bản xử lý hiện trường, đưa đối tượng Được đi sơ cứu ở trạm xã.
n cũng cho biết, dù đã chuyển hồ sơ sang công an huyện, nhưng kết thúc điều tra, đối tượng Được cũng chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.
“Do xử phạt chưa nghiêm, chưa triệt để nên chỉ khoảng nửa tháng sau, đối tượng này lại huy động khoảng chục thanh niên tới ném gạch đá vào trạm kiểm lâm, hiện vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật” – anh Tiến nói.
Theo kiểm lâm nơi đây, Ban quản lý và Hạt kiểm lâm khu bảo tồn thiền nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng có 38 cán bộ, chiến sĩ. Trong đó, tổ kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng chỉ có năm người, được trang bị một khẩu AK, một khẩu đạn cay, gậy điện, bình xịt, xe máy cá nhân, bảo vệ hơn 17.000 ha rừng đặc dụng.
Trong khi đó, các “chim lợn” của lâm tặc luôn bám sát nhất cử, nhất động của kiểm lâm. Chúng thường sử dụng loại xe hoán cải không giấy tờ, không biển kiểm sát để vận chuyển gỗ lậu. Bên thành xe, chúng để sẵn con dao quắm. Khi bị truy đuổi, chúng sẽ chặt đứt dây thừng buộc gỗ, tháo chạy.
Lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên cho biết, gỗ được khai thác trong khu vực rừng đặc dụng, thuộc Khu bảo tồn Thần Sa – Phượng Hoàng, rồi lâm tặc vận chuyển theo nhiều đường khác nhau.
Chẳng hạn, tại khu vực xã Thần Sa, gỗ được khai thác và vận chuyển trái phép bằng ngựa, xe máy ra hướng xã Như Cố - Chợ Mới (Bắc Kạn); tại khu vực xã Thượng Nung, lâm tặc vác gỗ ra ngoài, sau đó vận chuyển vào hướng Sảng Mộc qua đèo Sang - Nghinh Tường đi Tân Tri, Bắc Sơn (Lạng Sơn);
Tại xã Nghinh Tường, gỗ được vác bộ xuống đường, sau đó lâm tặc vận chuyển bằng xe máy đi Tân Tri, Bắc Sơn (Lạng Sơn); số khác được vác bộ và chuyển bằng ngựa đi đường rừng, men theo xã Tân Hòa - Bình Gia về Tân Tri - Bắc Sơn (Lạng Sơn)...
Tính đến thời điểm này, cơ quan chức năng địa phương chưa có con số thống kê cụ thể về số lượng gỗ nghiến bị tàn phá trong khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng, mới chỉ có số liệu báo cáo về kết quả bắt giữ gỗ và các phương tiện vi phạm từ những đơn vị kiểm lâm, nhưng cũng ở mức độ rất nhỏ lẻ.
Ông Đặng Viết Thuần - Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên cho biết: “Với quan điểm quyết liệt đấu tranh với lâm tặc, nhiều năm qua, Thái Nguyên liên tục có nhiều biện pháp như luân chuyển cán bộ kiểm lâm, mở nhiều đợt truy quét lâm tặc, nhưng do việc buôn lậu gỗ nghiến tại đây có lợi nhuận ngang với ma túy, nên chặt phá rừng trái phép vẫn còn là vấn nạn dai dẳng…”.
Ông Nguyễn Xuân Hải - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên cũng thừa nhận thực trạng phá rừng đang xảy ra ở Thái Nguyên.
Ông Hải cho biết: “Trong vài năm trở lại đây, do sự truy quét quyết liệt của các lực lượng chức năng, những đầu nậu gỗ từng làm mưa làm gió tại Thái Nguyên như Hiếu "khỉ", Sơn Viễn, Phương Thủy… đã phải từ bỏ việc tiếp tay cho lâm tặc. Hiện chỉ còn những đầu nậu gỗ nhỏ lẽ. Các đầu nậu này bỏ tiền thuê những đối tượng cộm cán, côn đồ, nghiện hút… luồn sâu vào lõi rừng lập lán, triệt hạ những cây quý rồi vác bộ đến điểm tập kết bí mật. Gỗ được vận chuyển bằng nhiều phượng tiện…”.
Nhiều vụ cán bộ kiểm lâm thiếu tinh thần trách nhiệm, thậm chí “bắt tay” lâm tặc phá rừng cũng đã bị xử lý.
Tại điểm nóng "nghiến tặc" hoành hành ở xã Nghinh Tường, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Nghinh Tường Ngô Hồng Văn đã bị luân chuyển sang khu vực khác.
Hai cán bộ kiểm lâm bị xử lí tại Trạm kiểm lâm Sàng Mộc gồm: Trạm trưởng Nguyễn Công Thông bị khiển trách, cán bộ kiểm lâm Đinh Văn Thông bị cảnh cáo.
Trước đó, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Hợp Tiến Phạm Văn Cường, thuộc Hạt Kiểm lâm Đại Từ, cũng bị cách chức vì thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng. (Tiền Phong 13/7)đầu trang(
“…Có bao nhiêu vụ lâm tặc được lực lượng kiểm lâm trực tiếp phát hiện? Bao nhiêu vụ bắt giữ khi đi tuần? Bao nhiêu vụ do kiểm lâm tổ chức đánh án? Lực lượng kiểm lâm thừa nhận không có vụ nào!” - Phó Chủ tịch tỉnh Thái Nguyên, Đặng Viết Thuần trăn trở.
Suốt một thời gian dài, khu bảo tồn Thần Sa Phượng Hoàng tại huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) là điểm nóng của nạn phá rừng khiến chính quyền địa phương đau đầu và dư luận bức xúc. Làm việc với PV Dân trí, ông Đặng Viết Thuần - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên - cho biết: “Hiện rừng đặc dụng tại huyện Võ Nhai vẫn đang là điểm nóng trên địa bàn tỉnh. Do việc buôn bán gỗ lậu mang lại lợi nhuận ngang với thuốc phiện nên các đối tượng hết sức manh động, liều lĩnh và trắng trợn. Quan điểm của UBND tỉnh Thái Nguyên là làm quyết liệt, không dung túng với bất cứ một đối tượng phá rừng nào”.
Theo ông Thuần, tình trạng lâm tặc hoành hành được lãnh đạo Tỉnh ủy tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo giải quyết rất quyết liệt. Một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên đã đích thân đi kiểm đếm tất cả những cây gỗ bị đốn hạ trong rừng. UBND tỉnh đã thành lập ban thu hồi số gỗ bị đốn hạ do Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên làm trưởng ban. Số gỗ thu hồi được tổ chức bán đấu giá công khai.
“Giải pháp được chúng tôi thực hiện mấy năm nay là bố trí cán bộ, điều kiểm lâm từ những vùng ít “nóng” hơn lên rừng. Đến khi khu vực “nóng” cảm thấy đã “thỏa mãn” về nhân lực mới thôi. Nếu như còn mất rừng nữa, khi đó chúng tôi sẽ xử lý lực lượng kiểm lâm”, ông Thuần khẳng định.
Tuy nhiên ông Thuần thừa nhận một thực trạng đáng buồn: “Trong buổi họp cách đây 1 năm, tôi đã yêu cầu lực lượng kiểm lâm báo cáo làm rõ có bao nhiêu vụ lâm tặc được lực lượng kiểm lâm trực tiếp phát hiện, bao nhiêu vụ bắt giữ khi đi tuần và quan trọng là bao nhiêu vụ do lực lượng kiểm lâm tổ chức đánh án...? Cuối cùng lực lượng kiểm lâm thừa nhận không có một tin báo nào từ cán bộ.
Điều đó là sự thật. Tôi quán triệt ngay giữa cuộc họp rằng cả một lực lượng lớn như vậy mà không báo được một cái tin nào. Hay là các đồng chí báo tin qua dân, sợ không dám nói thật? Tôi lưu ý với lực lượng kiểm lâm rằng nếu mà cứ như thế này chúng ta cứ nói là mất rừng, mất ở đâu? Mất chính là ở chỗ chúng ta chưa làm tốt việc này”.
Một khó khăn trong công tác bảo về rừng ở đây là người dân sống ngay giữa rừng, đời sống nghèo nạn, dân trí thấp nên việc phá rừng là đương nhiên. Nhưng di dời dân ra khỏi khu bảo tồn Thần Sa Phượng Hoàng là điều không thể. Bởi vậy, cùng với việc tuyên truyền, biện pháp trước mắt của UBND tỉnh Thái Nguyên là hỗ trợ đời sống cho người dân.
Lãnh đạo tỉnh cũng vừa ban hành văn bản yêu cầu ngành kiểm lâm tham gia thực hiện việc đưa tất cả các xưởng chế biến lâm sản ra khỏi rừng. Địa bàn nào có “đầu nậu” gỗ, kiểm lâm phải kê khai hết. Nếu kiểm lâm không báo cáo, trách nhiệm sẽ thuộc về chính lực lượng kiểm lâm. (Dân Trí 13/7)đầu trang(
8-9/7, khoảng 300 người dân ở xã Ea Nam, huyện Ea Hleo vào tiểu khu 105 thuộc lâm phần Công ty TNHH Thuần Mẫn. Hậu quả là 21ha rừng trồng năm 1995 (gồm các loại cây sao, dầu) đã bị chặt phá.
Nguyên nhân do Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Thuần Mẫn giao diện tích rừng nói trên cho một số người ở địa phương khác, họ đã khoanh rừng để lấy đất làm gạch. Trong khi đó, nhiều người dân địa phương có nhu cầu nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng lại không được giải quyết nên bức xúc, dẫn tới phản ứng tiêu cực. (Nông Thôn Ngày Nay 13/7; Thanh Niên 13/7)đầu trang(
Không đất sản xuất, không có cái chữ phòng thân, cuộc sống khốn khó khiến nhiều thanh niên ở các huyện miền núi của tỉnh Phú Yên chỉ biết sống dựa vào nghề rừng. Đằng sau vẻ bất cần, bặm trợn được gắn mác "lâm tặc" là những phút giây suy tư, trăn trở của phận "tầm gửi" mưu sinh.
Trong năm 2011, trên địa bàn tỉnh Phú Yên đã xảy ra 279 vụ phá rừng trái phép, gây thiệt hại 117,4ha, tăng 62 vụ và 21ha so với năm trước. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá gia tăng là một thực trạng đáng lo ngại, nhưng điều đáng lo ngại hơn nữa là "lâm tặc" đã "chọc" thủng "lá phổi xanh" của Phú Yên ở những nơi cần phải bảo vệ nghiêm ngặt nhất.
Bằng chứng rõ nét là 77,6ha rừng đặc dụng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai đã bị tàn phá, chiếm 66% diện tích rừng bị thiệt hại trong tỉnh. Khi đề cập đến những con số, vụ việc cụ thể như thế, không ít người dân đặt câu hỏi liên quan đến trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương. (Kinh Tế Nông Thôn 12/7)đầu trang(
UBND tỉnh cho biết, 6 tháng đầu năm, qua công tác kiểm tra, tuần tra, truy quét, lực lượng kiểm lâm và các cơ quan chức năng các cấp của tỉnh đã phát hiện 226 vi phạm các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Từ kết quả kiểm tra, phát hiện, đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính 237 vụ (trong đó có 11 vụ chuyển từ năm 2011 sang) với số tiền phạt gần 1,7 tỉ đồng; tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước gần 380m3 gỗ các loại; khởi tố vụ án và chuyển cơ quan cảnh sát điều tra các cấp tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật đối với 9 vụ việc vi phạm. (Thanh Tra 12/7, Tr5) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều diện tích rừng tràm phòng hộ ở khu vực lòng hồ thuỷ điện Thác Mơ, thị xã Phước Long bị chặt phá bừa bãi. (Nhân Dân 14/7) đầu trang(
Hàng chục mét khối gỗ thủy tùng quý hiếm bị hỏng do phơi mưa nắng trong 5 năm qua, trong khi các ngành chức năng loay hoay chưa tìm ra cách giải quyết.
Ngay phía sau khuôn viên Trung tâm văn hóa - thể thao H.Krông Năng (Đắk Lắk), hàng chục khúc gỗ thủy tùng được chất thành đống, xung quanh cỏ dại mọc um tùm. Ông Đoàn Văn Hùng, người dân ở đây, cho biết đã chứng kiến đống gỗ này phơi mưa nắng mấy năm nay, nhiều khúc gỗ đã bị mục ruỗng mà không thấy ai xử lý hoặc có cách bảo quản tốt hơn. Theo một cán bộ Hạt kiểm lâm H.Krông Năng, mỗi tháng Hạt phải chi 300.000 đồng để thuê người canh giữ đống gỗ.
Thủy tùng (còn gọi là thông nước), có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường, số lượng quần thể còn khoảng 250 cây trong tự nhiên ở Đắk Lắk và có nguy cơ tuyệt chủng cao. Những năm qua, cơn sốt gỗ thủy tùng làm vật trang trí đã làm rộ lên nạn săn lùng, khai thác trái phép loài cây này. Theo một số cán bộ trong ngành lâm nghiệp, hiện nay gỗ thủy tùng trên thị trường được bán với giá hàng trăm triệu đồng/m3, nhưng khó tìm vì rất hiếm.
Ông Y Rít Buôn Yă, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk, cho biết số gỗ thủy tùng ở H.Krông Năng là do kiểm lâm tịch thu trong các vụ khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ trái phép, hiện chưa có nhà kho bảo quản, đành để tạm ngoài trời kéo dài từ năm 2007 đến nay. Cũng theo ông Y Rít, hiện trên địa bàn Đắk Lắk có 3 huyện thu giữ gỗ thủy tùng với tổng cộng hơn 77 m3 gồm: Krông Năng: gần 46 m3, Krông Búk: 17,1 m3 và Ea Hleo: 14,1 m3. Hầu hết số gỗ này có nguồn gốc khai thác tại khu vực hồ Ea Ral (H.Ea Hleo) và rừng đặc dụng Trấp Ksơr (H.Krông Năng).
Cũng theo ông Y Rít, các cơ quan chức năng còn khá lúng túng trong việc thanh lý số gỗ thủy tùng tịch thu nói trên, do loại gỗ này thuộc nhóm 1A, cực kỳ quý hiếm, theo quy định là cấm khai thác, mua bán, sử dụng. “Tháng 4.2012, Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk có văn bản đề nghị giao Sở VH-TT-DL Đắk Lắk gần 40 m3 gỗ thủy tùng ở H.Krông Năng về làm hiện vật trưng bày, trang trí nội thất tại bảo tàng tỉnh, tuy nhiên Sở VH-TT-DL từ chối sử dụng số gỗ này”, ông Y Rít cho hay.
Ông Trương Bi, Phó giám đốc Sở VH-TT-DL Đắk Lắk, lý giải trong thời gian xây dựng mới bảo tàng tỉnh, UBND tỉnh chỉ đạo sử dụng một lượng gỗ thủy tùng nhưng theo thiết kế ban đầu, không có hạng mục làm bằng gỗ thủy tùng nên bảo tàng tỉnh chỉ lấy một phách gỗ nhỏ trưng bày trong phòng đa dạng sinh học. Ông Bi nói thêm: “Cũng có ý kiến đề nghị sử dụng gỗ thủy tùng làm thành vườn tượng điêu khắc trong khuôn viên bảo tàng. Tuy nhiên, kinh phí khá lớn trong khi Sở không có tiền dành cho hoạt động này. Hơn nữa, vườn tượng gỗ quý để ngoài trời sẽ rất khó bảo vệ, quản lý; do đó Sở quyết định không nhận”.
Ông Bi cũng cho biết, mới đây Sở VH-TT-DL đã cùng một số đơn vị liên quan họp bàn và thống nhất bán đấu giá thanh lý hơn 77 m3 gỗ tịch thu nói trên để sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên còn phải chờ quyết định cho phép của UBND tỉnh Đắk Lắk. (Thanh Niên 13/7)đầu trang(
12/7, Công an Quảng Nam cho biết đã kết thúc điều tra chuyển Viện kiểm sát nhân dân truy tố đối tượng Nguyễn Kim Hoàng (trú tại xã Tam Dân, huyện Phú Ninh) về tội lừa đảo, bán cây huỳnh đàn giả với giá 4 tỷ đồng…
Theo kết quả điều tra, để lừa đảo bán cây huỳnh đàn giả này cho một nữ đại gia ở miền Nam, Nguyễn Kim Hoàng đã đi tìm mua 5 cây sưa vườn của một người dân tại huyện Phú Ninh.
Để biến cây sưa vườn thành cây huỳnh đàn, Nguyễn Kim Hoàng đã tìm mua một khúc gỗ huỳnh đàn thật rồi đem cấy vào một nhánh khô của cây sưa vườn.
Sau đó, Hoàng tìm môi giới là Hoàng Tiến Sỹ (trú tại huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị), người đang tìm mua cây huỳnh đàn cho một đại gia ở miền Nam và ra giá 3 tỷ đồng.
Sỹ đồng ý mua và yêu cầu khi Sỹ đưa nữ đại gia ra Tam Kỳ xem cây thì phải nâng giá lên 4 tỷ đồng và nói Sỹ đã đặt cọc trước 1 tỷ đồng.
Nữ đại gia đã đi từ Bình Dương ra Tam Kỳ để xem cây và đồng ý mua với giá 4 tỷ đồng. Bà Nga đặt cọc trước 500 triệu đồng và yêu cầu bứng cây đưa về Bình Dương.
Hoàng và Sỹ tiến hành bứng 5 cây sưa vườn đưa lên xe vận chuyển về Bình Dương. Bà Nga chuyển tiếp cho Hoàng 2,3 tỷ đồng và yêu cầu Hoàng lấy toàn bộ số rễ cây huỳnh đàn đỏ sau khi bứng gốc đưa về sẽ thanh toán tiếp số tiền còn lại.
Khi cây được chuyển vào Bình Dương thì bà Nga mới phát hiện chỉ là huỳnh đàn giả. Ngay lập tức bà Nga làm đơn tố cáo Hoàng với công an Quảng Nam đồng thời chuyển toàn bộ 5 cây sưa vườn nhà giao cho cơ quan công an.
Thấy việc lừa đảo bị bại lộ, Hoàng đã bỏ trốn. Cơ quan công an Quảng Nam ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh truy nã toàn quốc đối với Hoàng về hành vi lừa đảo.
Đến ngày 24/1/2012, Hoàng bị công an bắt giữ khi đang tổ chức đánh bạc tại xã Tiên lãnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo của mình, số tiền 2,8 tỷ đồng Hoàng đã tiêu xài cá nhân và đánh bạc. (Vietnamnet 13/7)đầu trang(
11/7, con cá tra dầu khổng lồ ở An Giang đã chết sau 6 ngày bị ngư dân đưa từ sông Hậu lên bờ rao bán. Cá nặng gần 72kg, dài trên 1,5m được một ngư dân tên Mẽ bán cho ông Huỳnh Thanh Hồng, Trưởng Công an xã Quốc Thái (An Phú, An Giang) với giá trên 11 triệu đồng.
Theo kế hoạch, ông Hồng sẽ nuôi con cá tra dầu này làm cảnh, nhưng đây là loài cá có tên trong Sách đỏ của Việt Nam nên ngành thủy sản tỉnh An Giang cử cán bộ xuống tận nơi để can thiệp, tìm cách chăm sóc cho cá khỏe lại rồi thả về sông Hậu.
Được biết, sáng 11/7, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang cùng với các cán bộ Chi cục Thủy sản tỉnh đến kiểm tra con cá tra dầu này. Trong trường hợp sức khỏe cá đủ đảm bảo thì đoàn sẽ đưa nó về và sau đó thả ra môi trường tự nhiên.
Tuy nhiên, khi đoàn đến tận ao kiểm tra thì phát hiện cá tra dầu “khủng” đã chết cứng từ lúc nào và đang bốc mùi hôi thối.
Nguyên nhân có thể do da cá bị lở loét vì trầy xước trong quá trình vây bắt, vận chuyển từ sông Hậu lên bờ nên cá không sống nổi. (Vov.vn 12/7; Thanh Niên 12/7)đầu trang(
Với mục tiêu tăng cường năng lực quản lý, sử dụng rừng và đất rừng cho tổ chức, cộng đồng và hộ dân; quản lý phát triển rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học; cải thiện sinh kế nhằm nâng cao thu nhập của người dân.
Dự án Phát triển lâm nghiệp cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên (FLITCH) do Ngân hàng châu Á (ADB) triển khai tại 2 xã Đắk D’rô và Nâm Nung là cơ hội để phát triển rừng và nghề rừng, lâm nghiệp cộng đồng ở huyện Krông Nô, Đăk Nông.
Là một trong những địa phương được hưởng lợi từ dự án, sau hơn 3 năm triển khai trồng rừng, xã Nâm Nung đã phủ xanh 55 ha đất trống, đồi trọc với 49 hộ dân tham gia. Phần lớn diện tích ở đây là đất đồi, ven rừng đã bị hoang hóa, bạc màu nên sản xuất nông nghiệp không mang lại hiệu quả.
Theo quy định mỗi ha rừng trồng, dự án đầu tư 500 USD, năm thứ nhất dự án cho tạm ứng 49% kinh phí để mua cây giống, phân bón, công chăm sóc. Năm thứ hai tạm ứng 27%, năm thứ ba 15% và năm thứ tư 9%.
Đối với hợp phần cải tạo vườn cây ăn quả với diện tích trên 500m2 được hỗ trợ 100 USD, dưới 500m2 được hỗ trợ 50 USD. Ngoài ra, mỗi xã được dự án đầu tư 20.000 USD, trong đó 4.000 USD dùng để mua sắm trang thiết bị tăng âm, loa đài, máy cát sét phục vụ ở các thôn, buôn; còn lại 16.000 USD dùng để thành lập quỹ phát triển của xã.
Theo ông Trần Văn Quảng, Chủ tịch UBND xã Nâm Nung, với sự hỗ trợ của dự án trong trồng rừng, ổn định kinh tế, thành lập quỹ phát triển xã cho các hộ dân vay vốn phát triển kinh tế ngắn và trung hạn, nâng cao năng lực sản xuất của nông dân đang tạo nhiều cơ hội cho hộ nghèo phát triển kinh tế, đồng thời góp phần bảo vệ, phát triển vốn rừng.
Những vùng đất đồi tưởng chừng như là vùng đất không thể canh tác bất cứ loại cây gì lại rất thích hợp với cây keo lai giâm hom. Tuy mới được người dân trồng 3 năm nhưng các vườn cây phát triển rất tốt.
Theo tính toán của những người dân nơi đây, sau chu kỳ 5-7 năm trồng và chăm sóc, 1 ha sẽ cho thu nhập gần cả trăm triệu đồng và chỉ trích lại 25% cho Dự án để đầu tư vào quỹ phát triển của xã. Suốt chu kỳ, người dân được dự án hỗ trợ hoàn toàn về kinh phí đầu tư, chỉ bỏ công chăm sóc. Hơn nữa, việc trồng rừng phù hợp với tập quán canh tác của người dân địa phương, cho nên dự án được chính quyền kỳ vọng sẽ là cơ hội tốt để nông dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số xóa đói giảm nghèo.
Theo đánh giá của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2008, với 4 hợp phần: phát triển và quản lý tài nguyên rừng bền vững; xây dựng năng lực thông qua các lớp đào tạo; quản lý dự án; cải thiện sinh kế, dự án bước đầu đã mang lại hiệu quả, nhất là đối với hợp phần quản lý, phát triển tài nguyên rừng.
Sau khi hoàn tất công tác đầu tư cơ sở vật chất cho Ban quản lý dự án, thực hiện công tác quy hoạch, lập kế hoạch quản lý tài nguyên rừng bền vững, năm 2009, dự án tiến hành triển khai công tác hỗ trợ trồng rừng cho 49 hộ gia đình ở xã Nâm Nung với diện tích 55 ha bằng giống keo lai dâm hom, năm 2010 triển khai trồng rừng cho 19 hộ dân tại xã Đắk D’rô với diện tích 16,3 ha bằng giống xoan.
Riêng trong năm 2011, dự án đã đầu tư cải tạo vườn cây ăn quả cho 11 hộ gia đình với diện tích 10.722 m2. Theo kế hoạch năm 2012, Dự án tiếp tục hỗ trợ người dân 2 xã triển khai trồng mới thêm khoảng trên 30 ha rừng; cải tạo vườn cây ăn quả cho 87 hộ gia đình với diện tích 16 ha.
Thông qua hoạt động trồng rừng, dự án còn thành lập các quỹ phát triển xã nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất, tạo thu nhập, cải thiện đời sống, xây dựng và bảo dưỡng các công trình phúc lợi xã hội.
Có thể nói đây là dự án phát triển nghề rừng tương đối toàn diện, từ quy hoạch, trồng, giao khoán, bảo vệ rừng cũng như trong khai thác chế biến lâm sản, phát triển hạ tầng nông thôn, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái... (Báo Đăk Nông 12/7)đầu trang(
Ngành chế biến gỗ rừng trồng ở Quảng Trị được hình thành và phát triển chưa lâu nhưng đã trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, trong đó tập trung nhiều nhất ở huyện Triệu Phong.
Chưa kể các đơn vị thực hiện chế biến sâu, chỉ tính riêng các doanh nghiệp cưa, xẻ, hấp sấy gỗ rồi bán nguyên liệu cho các công ty ở các tỉnh, thành phố lớn cũng đang ăn nên làm ra, ngày càng mở rộng quy mô, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động, tạo nguồn thu khá cho ngân sách và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
Hiện nay toàn tỉnh có 16 doanh nghiệp và trên 50 xưởng đang hoạt động trong lĩnh vực cưa xẻ, chế biến gỗ rừng trồng. Từ năm 2010, một số doanh nghiệp đã đầu tư khâu chế biến sâu phục vụ cho xuất khẩu như: Công ty cổ phần MDF GERUCO Quảng Trị (đầu tư dây chuyền chế biến ván ghép thanh, đồ gỗ nội thất và dây chuyền 2 công suất 120.000 m3/năm), Công ty cổ phần kỹ nghệ gỗ Đại Thành Quảng Trị, Công ty TNHH Hoàng Đức Linh, Công ty TNHH Phước Lâm...
Hàng năm sản lượng chế biến khoảng 120.000 m3 gỗ thành phẩm (tương đương khoảng 300.000 m3 gỗ nguyên liệu), trong đó gỗ MDF 60.000 m3, gỗ cưa xẻ, ván ghép thanh 60.000 m3, đem lại doanh thu trên 500 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho gần 2.000 lao động trực tiếp (chưa kể lực lượng trồng rừng và khai thác gỗ).
Tuy nhiên, bước sang năm 2011 đến nay, một số doanh nghiệp sản xuất ván ghép thanh xuất khẩu trực tiếp gặp khó khăn về thị trường nên tình hình sản xuất có phần chững lại. Còn các doanh nghiệp trong lĩnh vực cưa, xẻ gỗ sơ chế nguyên liệu rồi bán cho các công ty xuất khẩu lâm sản ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Nam Định… vẫn hoạt động hiệu quả.
Sau hơn 2 năm đi vào hoạt động, Cụm Công nghiệp- làng nghề Ái Tử, huyện Triệu Phong đã thu hút 15 dự án vào đầu tư, trong đó có 9 dự án cưa xẻ gỗ nguyên liệu thô đã đi vào hoạt động ổn định, đưa cụm công nghiệp này trở thành tâm điểm trong lĩnh vực sơ chế gỗ rừng trồng của tỉnh.
Ông Nguyễn Châu Long, Trưởng Ban quản lý Cụm Công nghiệp- làng nghề Ái Tử, cho biết: Cụm công nghiệp làng nghề Ái Tử xây dựng theo chủ trương phát triển nền CN-TTCN của huyện, nhằm thu hút, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất có điều kiện phát triển lớn mạnh hơn, giải quyết vấn đề về môi trường ở các cơ sở cưa xẻ gỗ hoạt động trong khu vực dân cư...
Qua hơn 2 năm đi vào hoạt động, các cơ sở cưa xẻ gỗ tại đây đã phát huy được lợi thế, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm nhiều dây chuyền mới, thu hút hơn 600 lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập cho người lao động và nộp ngân sách cho nhà nước tăng cao...
Chỉ tính riêng trong năm 2011, các doanh nghiệp cưa xẻ gỗ ở đây đã sản xuất và tiêu thụ trên 46.000 m3 gỗ thành phẩm, đạt giá trị hơn 120 tỷ đồng, 9 doanh nghiệp chế biến gỗ nộp hơn 5 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, nâng tổng số tiền nộp vào ngân sách nhà nước của ngành chế biến gỗ toàn tỉnh vượt con số 25 tỷ đồng.
Hoạt động trong nghề cưa xẻ gỗ hơn 10 năm nay, anh Lê Văn Hưởng, Giám đốc DNTN Nguyên Phong ở Cụm Công nghiệp-làng nghề Ái Tử cho biết: "Việc sản xuất cưa xẻ gỗ không đòi hỏi nhiều về kỹ thuật song người lao động phải cần cù, chịu khó. Chủ doanh nghiệp thì phải biết đầu tư đúng hướng mới đạt được hiệu quả cao.
Trong điều kiện khó khăn về thị trường hiện nay, với quy mô sản xuất như các cơ sở của tỉnh thì đầu tư sản xuất thành sản phẩm xuất khẩu trực tiếp là rất khó, các doanh nghiệp chỉ sơ chế gỗ bán cho các doanh nghiệp lớn ở miền Nam và miền Bắc lại có hiệu quả hơn.
Vấn đề quan trọng là phải có vốn đầu tư. Sản phẩm chủ yếu là gỗ chế biến thô có qua hấp sấy của các cây rừng bạch đàn, keo, tràm, thông... Đầu năm 2010, DNTN Nguyên Phong đầu tư vào Cụm Công nghiệp- làng nghề Ái Tử với tổng mức vốn là 15 tỷ đồng. Nhờ xác định được đúng hướng đầu tư nên DNTN Nguyên Phong có quy mô và sản lượng đứng hàng đầu trong cụm, thu hút lao động có lúc lên tới 130 người.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNTN Nguyên Phong đã tăng lên nhiều lần, đến năm 2011 doanh thu đạt gần 20 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 1,6 tỷ đồng, thu nhập người lao động đạt bình quân 3- 6 triệu đồng/ tháng/người. Ngoài ra, doanh nghiệp còn áp dụng nhiều hình thức khuyến khích lao động trong công nhân nên đã động viên được nhiều công nhân gắn bó với doanh nghiệp lâu dài"...
Mặc dù còn dừng lại ở mức sơ chế, nhưng các cơ sở cưa xẻ gỗ rừng trồng đang hoạt động có hiệu quả trong khi một số đơn vị đầu tư chế biến sâu lại phải tạm thời dừng hoạt động do lúng túng tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm. Sở dĩ các cơ sở sơ chế gỗ hoạt động có hiệu quả bởi họ có cách đầu tư phù hợp với năng lực vốn, công nghệ, trình độ kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường.
Các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khá cao không chỉ mang lại lợi ích cho lao động trực tiếp mà còn mang lại nguồn thu không nhỏ cho lao động gián tiếp là người trồng rừng. Vì thế, trong thời gian tới định hướng phát triển của tỉnh là đẩy mạnh thu hút và kêu gọi đầu tư vào phát triển công nghiệp chế biến gỗ.
Đầu tư, đổi mới cải tiến trang thiết bị máy móc cho công nghiệp chế biến gỗ, nhằm đưa ngành chế biến gỗ tiếp tục phát triển hơn nữa. Để đảm bảo cho ngành chế biến gỗ phát triển, tỉnh cũng đã xây dựng kế hoạch phát triển rừng, đẩy mạnh công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, trong đó chú trọng phát triển rừng nguyên liệu cho khâu chế biến như rừng tràm, keo, bạch đàn, thông...
Tuy nhiên, trong thời gian tới tỉnh cũng cần có quy hoạch và định hướng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, tạo cơ chế chính sách, điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp thuận lợi trong vay vốn tín dụng, thuê mặt bằng để đầu tư và mở rộng sản xuất, hạn chế việc xuất bán gỗ chưa qua chế biến ra khỏi địa bàn tỉnh, từng bước đưa ngành chế biến gỗ của tỉnh phát triển. (Báo Quảng Trị 12/7)đầu trang(
Năm 2010, trạm Khuyến nông thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp triển khai mô hình thí điểm nuôi rắn hổ hèo với 02 hộ dân ở xã Mỹ Trà thành phố Cao Lãnh tham gia. Sau 2 năm, trạm KN đã tổ chức hội thảo đánh giá kết quả mô hình. Rất nhiều nông dân trên địa bàn thành phố tham quan đều có chung nhận định là mô hình dễ áp dụng và nhân rộng đại trà trên địa bàn vì chi phí thấp nên hộ nghèo cũng có thể nuôi.
Đánh giá về thành công mô hình này, ông Lê Thành Tính - trưởng Trạm Khuyến nông thành phố Cao Lãnh cho biết, mô hình phát triển mạnh là do dễ áp dụng và giá rắn thịt liên tục tăng. Hiện nay không ít hộ đã nuôi ếch Thái cho sinh sản và lựa những con không đạt chuẩn để chủ động nguồn thức ăn cho rắn. Vì vậy, nhiều hộ nuôi gần cả ngàn con rắn thịt.
Hàng năm, Trạm mở ít nhất 3 lớp tập huấn kỹ thuật nuôi rắn hỗ hèo. Đến nay, trạm phối hợp với các địa phương thành lập được 03 tổ nuôi rắn nhằm giúp cho các hộ nưôi nắm vững kỹ thuật và các quy định khi nuôi đối tượng này vì rắn hỗ hèo thuộc động vật hoang dã, khi nuôi phải đăng ký với Chi Cục Kiểm lâm.
Về lâu dài, ngành nông nghiệp thành phố Cao Lãnh cần có những biện pháp giúp cho các hộ nuôi nắm rõ về kỹ thuật cũng như cung cầu thị trường để tránh cung vượt cầu gây thiệt hại cho các hộ nuôi. Với giá rắn thịt hiện nay là 900.000 đồng/kg và sau khoảng 8 tháng nuôi có thể xuất bán, mô hình nuôi này sẽ ngày càng mở rộng. (Theo Khuyến Nông VN 12/7)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Một chú gấu trúc đực mới sinh được 6 ngày tuổi đã chết vì bệnh viêm phổi tại sở thú Ueno, thủ đô Tokyo, Nhật vào lúc 8 giờ sáng ngày 11/7 (giờ địa phương).
Theo tờ Japan Today, đây là chú gấu trúc mới được sinh tại một sở thú ở Nhật trong 24 năm qua. Sự chào đời của chú gấu trúc – chưa được đặt tên – mang lại niềm phấn khởi cho người dân đất nước Mặt trời mọc chưa được bao lâu thì nay lại phải chia buồn trước sự ra đi đột ngột của nó.
Các nhân viên sở thú Ueno cho hay đã phát hiện chú gấu trúc ngừng thở khi đang nằm trên ngực của mẹ gấu trúc. Nó đã chết một giờ trước đó và mọi nỗ lực cứu chữa đều không thành công.
“Trong khi mẹ gấu trúc Shin Shin – 7 năm tuổi – đang cho con bú thì dòng sữa đã vô tình lọt vào ống phế quản, dẫn đến việc gấu trúc con bị viêm phổi. Nó đã được giữ ấm trong lồng nuôi nhốt được 3 ngày trước khi đưa trở lại cho mẹ nó chăm sóc. Mới đêm qua thôi, nó vẫn bình yên. Nó ra đi quá đột ngột, thật đáng tiếc”, ông Yutaka Fukuda – người trực tiếp chăm sóc bé gấu trúc không kìm được nước mắt khi phát biểu trong một cuộc họp báo được phát sóng trực tiếp hôm 11/7.
Theo trang khoa học trực tuyến Phy.org, gấu trúc lần đầu tiên được sinh ra trong một sở thú là vào năm 1988 nhưng được thụ thai tự nhiên. Gấu trúc có tỷ lệ sinh thấp, gần đây thụ tinh nhân tạo ngày càng trở nên phổ biến trong các chương trình nhân giống gấu trúc.
Trung Quốc nổi tiếng là “ngoại giao gấu trúc” khi nước này thường sử dụng gấu trúc làm quà tặng trong các dịp ngoại giao với nước bạn. Mẹ gấu trúc Shin Shin được vận chuyển từ Trung Quốc sang Nhật Bản trước khi xảy ra động đất và sóng thần năm ngoái.
Các nhân viên sở thú Ueno sẽ dành một không gian riêng cho du khách đến đặt vòng hoa và cầu nguyện cho chú gấu trúc con xấu số này, trích thông tin trên trang Phy.org.
Hiện còn khoảng 1.600 con gấu trúc sống trong tự nhiên tại Trung Quốc, và khoảng 300 con khác tại các sở thú trên thế giới. (Vietnamnet 12/7)đầu trang(
Hơn 1.000 quận tại 26 tiểu bang của Mỹ đang phải đối mặt với thảm họa tự nhiên lớn nhất từ trước tới nay.
Các khu vực được ban bố thảm họa hạn hán bao gồm Tây Nam, khu vực bị ảnh hưởng bởi cháy rừng cùng Đông Nam và khu vực phía Đông và phía Nam vùng vành đai ngô, chủ yếu là Illinois và Indiana.
Tình trạng hạn hán khắc nghiệt bao trùm 53% khu vực miền Trung Tây, khu vực trồng trọt chính của Mỹ, đã đẩy giá cây trồng cùng 24 mặt hàng tăng cao nhất trong năm nay, chỉ số GSCI của Standard & Poor’s cho thấy.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Mỹ Tom Vilsack cho biết tuyên bố trên sẽ tạo điều kiện cho nông dân và chủ trang trại tại 1.016 quận có thể tiếp cận các khoản vay lãi suất thấp trị giá 4 triệu USD, giúp họ vượt qua hạn hán, cháy rừng và các thảm họa khác.
"Nông nghiệp vẫn là một điểm sáng trong nền kinh tế Mỹ" và "Chúng ta cần phải hiểu được thực tế rằng hạn hán cùng điều kiện thời tiết khắc nghiệt đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông dân trên khắp đất nước", Bộ trưởng Vilsack cho biết.
Bộ Nông nghiệp Mỹ cũng đang thay đổi các thủ tục cho phép ứng phó với các thông báo thảm họa nhanh hơn và giảm án phạt đối với các chủ trang trại chăn nuôi gia súc trên đất bảo tồn. (Theo Gafin 13/7) đầu trang(
Tại Trinidad, các công nhân xây dựng tại một thị trấn ven biển đã vô tình giết hại hàng trăm quả trứng và những con rùa mới nở của loài rùa lưng da. (An Ninh Thủ Đô 12/7)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||